CẢM NHẬN VỀ SOẠN GIẢ VIỄN CHÂU QUA MỘT SỐ BÀI CA CỔ

CẢM NHẬN VỀ SOẠN GIẢ VIỄN CHÂU QUA MỘT SỐ BÀI CA CỔ

Đăng lúc: Thứ năm – 12/11/2015 09:08 – Đã xem: 187

SG Viễn Châu & NS Út Trà ÔnSG Viễn Châu & NS Út Trà Ôn

CLVNCOM – Thông tin về cuộc đời và con người soạn giả Viễn Châu đã được khai thác khá nhiều (điều đó cũng dễ hiểu, khi mà ông là cha đẻ của hàng ngàn bài ca cổ và tuồng cải lương). Trong phạm vi bài viết này xin dành vài dòng tản mạn để cảm nhận về một số tác phẩm của ông, nói chính xác hơn là cảm nhận về ông qua một những tác phẩm đó (Vì vậy bài viết không phải là bức tranh toàn cảnh và đầy đủ về tác giả và tác phẩm, chỉ là một góc nhìn rất cá nhân mà thôi).

1. Tm lòng dành cho thân phn con người bt hnh

Điều thiêng liêng nhất (và đôi khi cũng chính là điều bi kịch nhất) của người nghệ sĩ là sống trọn vẹn và hoà nhập vào nhân vật của mình. Viễn Châu sống với nhân vật của mình bằng tấm lòng và mối đồng cảm sâu sắc với từng số phận, từng cảnh đời. Đó không phải là lòng trắc ẩn của một người đi đường bất chợt thấy một người ăn xin mà dường như tấm lòng của ông tự tìm đến “lục lọi” từng ngõ ngách cuộc đời để tìm họ; đó không phải là cách người ta bố thí vài xu vì ông đưa nhân vật khốn khổ của mình lên một vị trí cao đẹp nhất – vị trí tâm điểm trong tác phẩm nghệ thuật. Ông đưa người nghe vào một chuyến xe bên cầu Bến Lức nghe em bé hát dạo cất “li ca tc tưởi gia cung su” bên cạnh một ông lão tật nguyền (Su vương ý nhc). Nghe bài ca này qua giọng ca “không có tuổi” của NS tài danh Minh Cảnh thì mấy ai mà chẳng thấy chạnh lòng thương cảm. “Chiếc đàn long phím tang thương như mt kiếp cơ hàn”, “đôi h mt sâu thăm thm như cha đng mt ni nim dĩ vãng xa xăm”, “ li ca ngây thơ vng di” của cô bé như một mối ám ảnh đối với ông. Ta có thể gặp lại hình ảnh đôi vợ chồng già hát rong mù loà lẻ loi giữa cảnh trời nước mênh mông trong một buổi chiều buồn trong Tiếng độc huyền. Tiếng hát gợi nhớ đến những giọng ca “bun còn hơn nhng điu đàn thiên c” hoà lẫn với âm thanh buồn tiếng độc huyền không chỉ làm tác giả rơi nước mắt mà còn làm người nghe cũng không khỏi se thắt lòng (chính giọng ca mê hoặc đầy cảm xúc của NS Tấn Tài khi thể hiện bài này càng tăng thêm chất tự sự buồn cho tác phẩm). Hình ảnh đó cũng gợi nên những tâm tư, những nỗi buồn của “nghịêp cầm ca” nơi chính ông. Ở ông không có chỗ cho sự “tự cao” của một “nghệ sĩ nổi tiếng” trước những người hát rong “tầm thường”, với ông “họ nhạc sĩ ta cũng là nhạc sĩ, đời của ai rày đây mai đó thì đời của ta cũng sương gió lâu rồi”, vì cùng chung “kiếp tằm nặng mối tơ vương” cùng mang cái đẹp đến cho cuộc đời.

Không chỉ “ưu ái” riêng cho những người “đồng nghịêp bất hạnh”, Viễn Châu dành trọn tình cảm của mình cho bất cứ con người khốn khó nào mà ông từng gặp trên đường đời. Như từng tâm sự với khán giả về hoàn cảnh ra đời của bàiTình anh bán chiếu, ông sáng tác bài ca đầy cảm xúc khi tình cờ bắt gặp hình ảnh một anh bán chiếu dừng lại nghỉ mệt bên vệ đường giữa buổi trưa hè. Tình anh bán chiếu là một món quà vô giá dành cho anh bán chiếu vô danh (và tất cả những người vất vả với nghề bán chiếu), một món quà cho “Ngã 7 Phụng Hiệp” và cho tất cả những ai yêu mảnh đất, con người Nam Bộ. Một mối tình đơn phương tuỵêt vọng xen lẫn với những nỗi nhọc nhằn của nhân vật tạo nên một tác phẩm tuỵêt đẹp – một nét đẹp thuần chất, tự nhiên không đến từ vẻ hào nhoáng, không đến từ sự thơ mộng điệu đàng mà từ những chất liệu cuộc sống. Có nhiều vở diễn dài mấy giờ, hàng chục nhân vật mà lại chẳng có nhân vật nào “sống” trong khi một bài ca cổ dài hơn 5 phút lại mang đến một câu chuyện, một số phận, một không gian sống động hoà quyện nhau một cách hoàn hảo (Sau này chính ông do vẫn “nặng nợ” với anh bán chiếu mà viết tiếp vở “Tình anh bán chiếu” nhưng không đặc sắc lắm, có lẽ bài ca này đã chắt lọc mọi tinh hoa câu chuyện rồi). Ai bảo người miền Tây hiền lành nhưng cục mịch, bộc trực nên khô khan? Viễn Châu cảm nhận được chất lãng mạn và thủy chung (đến “khờ khạo”) của anh chàng trai Nam Bộ khi yêu thương, suy nghĩ mông lung và chờ đợi vô vọng cô gái đặt mua chiếu, đan lát từng sợi chiếu như đang hoàn thành một kỉ vật tình yêu, còn trách hờn người ta đi lấy chồng (dù cô ấy chẳng hứa hẹn gì!). Cuộc sống nhọc nhằn khốn khó không ngăn được người ta biết yêu, biết hi vọng dẫu hi vọng có thể sẽ thất vọng “tôi vác đôi chiếu bông mà cõi lòng tan nác, bước chân đi như th xác không hn”. Nhưng sâu thẳm bên dưới nỗi buồn “thất tình” đó là nỗi cô đơn của một kiếp người cơ cực bị lãng quên “đến khi h ct bước sang ngang li ko mt li hi han t giã, đến đôi chiếu bông tôi đã b công ngi dt my ngày đêm ròng rã mà nay vn còn nm trơ dưới khoang thuyn”. Tình anh bán chiếu và NSND Út Trà Ôn dường như “sinh ra là để dành cho nhau vậy”, cùng mang một nét buồn xa vắng, đậm chất tự sự, chân phương và mộc mạc; đó là lý do mà dù bao nhiêu năm trôi qua vẫn không (và sẽ không) có một “anh bán chiếu” nào có hồn như “anh Út Trà Ôn”.

Ngoài những tác phẩm này, ông còn cóthể hiện tâm hồn nhạy cảm trước nỗi bất hạnh của con người như Em bé đánh giày (NS Minh Cảnh ca), Em bé vt lon bia (NS Minh Cảnh ca), Tình người cung n (NS Hồng Nga ca), Tiếng đàn trong ngc ti (NS Lệ Thuỷ ca), Dưới gc cao su (NS Dũng Thanh Lâm ca)… – thể hiện tình thương một cách chân thật, sâu sắc mà dung dị, như chính tính cách của ông.

2. Tình yêu

Tất nhiên, một số lượng lớn trong bộ tác phẩm đồ sộ của ông cũng dành cho chủ đề muôn thuở của con người – tình yêu. Nổi tiếng và đi vào lòng người sâu đậm nhất là bài Võ Đông Sơ (gắn liền với giọng ca NS Minh Cảnh), Bch Thu Hà (qua giọng ca NSUT Lệ Thuỷ). Những câu ca “Biên cương lá rơi Thu Hà em ơi, đường dài mịt mùng em không tới nơi” đã trở nên quá quen thuộc với nhiều người mê cải lương, từ những giọng ca nghêu ngao trong các bữa nhậu đậm phong cách miệt vườn đến trên sân khấu (nhân vật hề trong vở Bàn thờ tổ một cô đào do NSUT Bảo Quốc thủ diễn cũng hát 2 câu này). Võ Đông Sơ và Bạch Thu Hà là nhân vật của nhà văn Tân Dân Tử trong tiểu thuyết “Git máu chung tình” (xuất bản năm 1954) về tư tưởng “Trai thời trung hiếu làm đầu/ Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình”. Thế nhưng, bằng tài năng của mình, ông đã thổi luồng gió trữ tình – bi tráng vào câu chuyện tưởng chừng như quá quen thuộc ấy: một sự chia li, một vẻ chết chóc nhưng không uỷ mị bởi những lời khiếp nhược hay nỗi sợ hãi. Người Nam bộ vốn tôn thờ hình ảnh một “anh hùng tử khí hùng bất tử” đầy vẻ hiên ngang nhưng nhất định phải nồng nàn tình cảm (âu cũng là triết lý duy tình của người Việt Nam). Chính vì vậy mà Võ Đông Sơ đã, đang và sẽ còn mãi một sức sống mãnh liệt, một vị trí đẹp trong lòng khán giả mộ điệu. Những câu đẹp nhất bài ca có thể kể đến “Rượu chia li ngày y tin anh đi, hoa lá bay theo gió nga phi”, “Lá rng rơi rng như mưa, phi chăng xây h nm m cho ta?”, “Máu đào tuôn đm ướt nhung bào, chí anh hùng vùi trong kiếm đao”… Ít gây “sốt” hơn, Bạch Thu Hà tuy là một bài độc lập nhưng gắn bó mật thiết và cùng với Võ Đông Sơ tạo nên một bức tranh đẹp với tình yêu đôi lứa, chí khí anh hùng, lòng trung trinh tiết liệt.

Không may mắn được yêu và chết vì người yêu như Bạch Thu Hà, cô gái trongLá tru xanh chỉ có một tâm sự của người yêu rồi bị phụ bạc. Chuyện đơn giản và phổ biến tưởng chừng như sẽ nhàm chán. Ấy vậy mà bài Lá trầu xanh có một sức sống và sức hấp dẫn kì lạ. Có lẽ nhờ hình ảnh “trầu xanh” bàng bạc khắp bài ca – khi là gánh trầu cô gái bán mưu sinh hàng ngày, khi lại là trầu cau ngày cuới người yêu mà cô dâu không phải là mình. Nếu chỉ là một câu chuyện tình dang dở của một cô gái bình thường thì chưa chắc bài hát này đã dễ thương, dễ cảm đến vậy. Tác phẩm của Viễn Châu luôn gợi lên những hình ảnh gắn bó với cuộc sống, đặc biệt là cuộc sống miền quê Nam bộ với những khung cảnh non nước (lúc là chợ nổi, lúc là bến phà, lúc là bến sông đỏ rực ô môi…), những con người chân chất và đầy tình cảm, những công việc mưu sinh bình dị… Cái đẹp thô mộc, chân thật và tràn đầy tình cảm trong tác phẩm của Viễn Châu vì vậy mà đi vào lòng người một cách tự nhiên và sâu nặng. Nghe Lá trầu xanh mà buồn cho một cô gái nghèo (chả ai gánh trầu xanh ra chợ bán mà giàu cả!), cuộc sống mưu sinh nhọc nhằn tưởng chừng sẽ nhẹ nhàng hơn khi cô được hạnh phúc khi có một tình yêu trọn vẹn. Vậy mà trong “một ngày thu tàn hiu quạnh, khung trời mưa buồn buông lạnh” anh đã vui duyên mới. Mỗi một câu trong bài này đều toát lên vẻ u buồn nặng trĩu qua lăng kính của cô gái “mười tám xuân xanh đã mang mi tuyt tình”. Không hiểu sao mỗi khi lắng nghe tâm sự này, tôi cứ cảm thấy đây không chỉ là tâm sự của một cô gái bán trầu, mà là cách suy nghĩ, cách “thất tình” của bất cứ cô gái làm nghề gì, cùng độ tuổi, cùng một hoàn cảnh sống nghèo và đơn điệu, “đặt cược” khá lớn cho “canh bạc” tình yêu rồi bị “phá sản”. Dẫu có buồn đến mức “Mưa rơi lnh ướt khung tri/Anh ph em ri em còn biết tin ai” nhưng không tạo cảm giác yếm thế như kiểu thất tình rồi tự vẫn mà ta hay đọc được đâu đó trên báo. Thật không quá khi cho rằng Viễn Châu chia sẻ với đọc giả một tâm sự buồn trong sáng và “chính đáng”. Ta có thể tin vào lòng yêu cuộc sống của những con người mà Viễn Châu phản ánh vào tác phẩm của ông. Bài Mạnh Lệ Quân giữa bài, âm điệu trầm bổng, tràn đầy nỗi da diết, oán thán… như một điểm nhấn đầy cảm xúc và đáng yêu nhất của bài ca cổ. (Lần đâu tiên tôi được nghe NS Lệ Thuỷ trình bày bài này, chất giọng ngọt ngào, dễ thương và đậm đặc phong vị Nam Bộ của cô thực sự khắc một dấu ấn đẹp vào lòng tôi – có lẽ vì vậy mà dù nghe chỉ vài lần hồi bé mà tôi thuộc được cả bài Mạnh Lệ Quân này!)

Một mối tình buồn và đầy tâm sự khác mà tôi rất yêu thích là câu chuyện của rặng ô môi, của một sư nữ tật nguyền, của “bác Sáu giăng câu” và của một đứa con xa quê trong bài Bên rng ô môi. Tôi “phải lòng” rồi đâm ra “nghiện” nặng giọng ca của Tấn Tài khi nghe ông hát bài này. Lời bài hát như những nét vẽ tuyệt vời và sống động cho một bức tranh quê hiền hoà và đẹp đến nhói lòng; mỗi câu chữ và giai điệu đều chở nặng tâm sự – tình yêu quê hương, sự bàng hoàng trước cảnh đổi thay xơ xác vì khói lửa, nỗi đau nhói lòng khi biết người yêu mình sau bao biến cố đã có chồng, vùi thân vào am tự rồi còn mất mát về thể xác. Dùng bài Lý con sáo để mở ra không gian buồn mênh mông, những câu vọng cổ độ dài vừa phải (giọng ca đẹp của những Tấn Tài, Út Trà Ôn, Minh Cảnh được phô diễn hoàn hảo khi nhả ra từng chữ một xoáy sâu tận lòng người) – nghe mà thấm, mà cảm được từng cung bậc cảm xúc một. Hãy nghe Tấn Tài cất câu vọng cổ đầu tiên “Bến nước năm xưa ch còn ci đa già chơ vơ rũ bóng, gió đông ơi lòng tôi đà n lnh sao gió đông còn thi làm chi cho bông ô môi rũ cánh rng tơi bi” – bầu trời lộng gió của sông Tiền, sông Hậu như đang ở quanh đây, từng cánh ô môi như đang rơi rụng trước mắt… Tình với cô gái chỉ cần qua câu “em đãi tôi ăn bát canh mng tơi vi ni cơm go mi ri chia tay t giã đ lên đường”, chiến tranh tàn khốc và số phận cô gái được gói gọn trong câu chuyện kể lại của một ông lão giăng câu hàng xóm “con Tư nó đã ly chng t 5 năm v trước nhưng s phn nó bc phước vô duyên, chng nó chết đi ri không ch ta nương nó bun kh vào chùa xin quy y thí phát, nhưng khói la vô tình không tha nơi pht t gi nó đã thành ra mt sư n tt nguyn”. Nếu ai đó đang phải xa vùng sông nước quê hương để lang bạt góc trời nào đó, một chiều quay về lại bến nước năm xưa, nhìn một bóng dáng thân thuộc trên chiếc xuồng giăng câu, nhìn cội đa già đứng đó một cách “chung thuỷ”, một cánh hoa dân dã rơi rơi trên sông, tìm kiếm lại một con người của ký ức…. ắt sẽ hiểu cảm xúc dạt dào và vô tận như thế nào. Bao nhiêu là cảnh, bao nhiêu là tình, ấy vậy mà Viễn Châu “gói” cả vào bài ca này tinh gọn như thế!
Tình yêu đôi lứa là chủ đề chiếm khối lượng tương đối lớn trong bộ tác phẩm đồ sộ của ông, ngoài các bài trên có thể kể đến Lan (Út Bạch Lan ca), Lan và Đip (Hồng Nga ca),Hoa trôi dòng nước bc (Kim Ngọc ca), Người yêu nay đã có chng (Tấn Tài ca)…

Đâu chỉ có tình yêu nam nữ, ông còn dành nhiều bài ca ngợi tình cảm gia đình như Ngày gi nh cha (Tấn Tài ca), Tình mu t (Ngọc Giàu ca), Chim vt kêu chiu (Hữu Phước, Hương Lan ca), Nh m (Ngọc Giàu ca), Cha v cõi Pht(Lệ Thuỷ ca), Hương sen quê ngoi (Lệ Thuỷ, Minh Phụng ca)… Có khi, ông dành tình yêu của mình cho chính những đồng nghiệp trót mang “nghiệp cầm ca”, tiêu biểu nhất có thể kể đến Em yêu người ngh sĩ (Lệ Thuỷ ca).

3. N cười hóm hnh

Nghe ngần ấy nỗi lòng, tâm sự buồn mênh mang ta cứ ngỡ Viễn Châu trầm và buồn như chính các tác phẩm đó. Nhưng ông có nét hóm hỉnh, duyên dáng của một “ông già Nam bộ” mà ta có thể thấy qua nhân vật huyền thoại Bác Ba Phi hoặc bất cứ ông cụ vui tính nào đó mà ta có thể gặp trong đời thực. Những giai điệu vui, dí dỏm nhưng không kém phần sâu sắc đó ông “đặt trọn niềm tin” vào giọng ca của “quái kiệt” Văn Hường. Lúc thì đả kích thói sính Tây trưởng giả trong “V tôi nói tiếng Tây”, lúc thì cười vào “giọng ca karaoke” của cô vợ ưa ca hát trong “V tôi mê tân nhc”, lúc là niềm tự hào đáng yêu của ông chồng dành cho bà vợ “V tôi đp ác”, lúc thì châm biếm thói phóng nhanh vượt ẩu trong “Tai nn Hon-đa” (mang tính thời sự đến tận hôm nay), lúc thì vui tưng bừng với mấy “ông già gân” Tư Ếch, Ba Râu… Nếu bạn biết rằng Viễn Châu rất duyên & hóm khi ông sử dụng nhiều kiểu nói, những câu hát nhại vui rất “thời thượng” thời bấy giờ, ví dụ như “Có cô gái Đ Long lc bu cua, lc 1 cái lên 3 con gà mái. Ôi hết tin, thua hết tin”, “Em đang đi trên câu Bông, té xung sông ướt cái qun ni lông. Dzô đi em, dù tri khuya anh vn đưa em v”, “chy (xe) cho hết hn L Thu xanh mt M Châu, Hoành Oanh kêu lính bt…”, “siết (ga) cho Tn Tài thua bc, siết cho Thanh Hi a gan… Trường Xuân co trc, Thanh Vit đ râu…”. Rồi ông cũng dành nhiều bài hát vui để Văn Hường “réo” tên nhiều nghệ sĩ thân yêu như Lệ Thuỷ, Mỹ Châu, Bạch Tuyết, Phượng Liên, Tấn Tài, Trường Xuân, Thanh Hải, Út Hiền, Thanh Việt… Những cuộc hội ngộ của Tư Ếch, Ba Râu gợi lại những không khí gia đình, tình làng nghĩa xóm “dzui tưng bừng” ở miền quê. Thậm chí tích truyện nghiêm túc như Quan Công tha Tào vẫn có chỗ cho Văn Hường chọc cười khán giả! Nghe ca cổ mà cứ phải cười nghiêng ngửa như thế, vì vậy mà khi xưa trong những ngày lễ tết, đám cưới, những bài ca cổ vui này thường được khán giả vặn lên tạo không khí (nhà tôi cũng là một trong số đó). Mấy chục năm mà nghe lại những bài ca này vẫn thấy vui và những câu nói, những kiểu đùa ngày nào vẫn được “bảo tồn”! Nếu ai chưa từng cười khi nghe ca cổ, hãy thử nghe Viễn Châu – Văn Hường thử xem có… nhịn cười nổi không!

Vài dòng chưa điểm hết được những nét đặc trưng, những nội dung chủ yếu trong hàng ngàn tác phẩm của ông, hơi “tư lợi” một chút vì tôi điểm những bài hát mà tôi yêu nhất trong nhiều bài của Viễn Châu mà tôi thích! Trong một bộ phận lớn của ông, ta luôn cảm nhận được cái tình, cái cảnh và cuộc sống của vùng sông nước phương Nam – như một lời giới thiệu cho khách phương xa và chia sẻ tình yêu với những tâm hồn Nam bộ, dù đang ở quê hay xa xứ. Ông cũng mang đến nhiều tâm sự của nhân vật trong tích Tàu (vốn quá quen thuộc với người Việt Nam) như Hng Võ bit Ngu Cơ (Tấn Tài, Lệ Thuỷ, Điền Tử Lang ca), Bàng Quý Phi (Tấn Tài), Tôn Tn gi điên (Út Trà Ôn ca), Đào Tam Xuân (Út Bạch Lan ca), Hn Kinh Kha (Tấn Tài ca), Trang T th v (Hữu Phước ca), Hng Võ S Bá Vương (Hà Bửu Tân ca)… hoặc những nhân vật “Made in Vietnam” nhưTrng Thu M Châu (Ngọc Giàu ca), Người điên yêu trăng (Minh Cảnh ca), Tâm s Mng Cm (Tấn Tài, Phượng Liên ca)… hoặc triết lý sâu sắc của nhà Phật trong Thích Ca tm đo (Út Trà Ôn ca), Tu là ci phúc (Minh Cảnh ca)…

Cũng xin lan man thêm tí xíu với một số giọng ca tuyệt vời gắn bó với các bài hát của Viễn Châu. Bài hát của Viễn Châu hay, điều này không có gì phải phủ nhận. Nhưng những giọng ca “tê tái lòng người” là cầu nối, là kênh chuyển tải, là sự thể hiện cái đẹp của từng câu chữ, từng giai điệu trên giấy, tạo nên những bông hoa thơm ngát trong hoa viên cải lương. Đó là một Út Trà Ôn – tinh hoa của những nét đẹp mộc mạc, tinh khiết nhất. Đó là Tấn Tài với cách nhả chữ khi xuống vọng cổ làm tê tái lòng người và một chất giọng buồn xa vắng. Đó là Minh Cảnh ngọt ngào, truyền cảm (nói chung, cả ba NS này tôi đều yêu chất giọng chân phương, đầy cảm xúc cả). Đó là một Lệ Thuỷ trẻ trung, dễ thương và trong sáng; một Ngọc Giàu dịu dàng và da diết, một sầu nữ Út Bạch Lan với chất giọng “buồn còn hơn những điệu đàn thiên cổ”… Trong số đó, tôi xin trân trọng nhắc đến một người, tuy còn ít người biết đến, tuy không “hồng nhan” nhưng lại bạc phận – đó là NS Hà Bửu Tân (ông mất khá sớm nên để lại không nhiều tác phẩm). Lần đầu tiên nghe ông hát Xuân đất khách của Viễn Châu mà tôi ngỡ ngàng đến sung sướng. Chất giọng sang trọng nhưng vẫn gần gũi, trau chuốt nhưng vẫn tự nhiên, không điệu đàng, khoáng đạt mênh mông mà vẫn tinh tế, dịu dàng.

Tuy không phải là người nghiên cứu văn hoá chuyên nghiệp lại có phần hơi võ đoán, tôi trộm nghĩ những bài ca của Viễn Châu dễ đi vào lòng người miền Nam vì những bài buồn nẫu ruột và cũng vì những bài vui thật vui đó. Người ta dễ nhận thấy người miền Nam hiền hoà, phóng khoáng (chơi thì “xả láng”, nhậu “quắc cần câu”) và rất lạc quan yêu đời nên họ “khoái” những bài ca cổ hài thật dễ hiểu. Vậy còn những bài buồn? Cảnh tình sông nước đẹp nhưng buồn, người miền Nam tuy hào sảng đó nhưng cuộc sống thực sự vẫn vô vàn khó khăn. Từ khi khẩn hoang, chiến đấu với thiên nhiên khắc nghiệt và cuộc sống lao động vất vả, họ luôn phải lạc quan để sống nhưng không phải dửng dưng và hời hợt mà không biết buồn biết khổ. Rồi tâm lý dễ mềm lòng, muốn chở che những mảnh đời bất hạnh, đồng cảm với những con người khốn khó… Tất cả những điều đó làm cho những bài ca buồn, những nghịch cảnh éo le trong tác phẩm của Viễn Châu đi vào lòng họ một cách tự nhiên nhất. Kiểu vui, kiểu buồn, kiểu yêu, kiểu ghét trong bài ca của Viễn Châu đích thị là những kiểu rặc Nam bộ: cười vui lạc quan về cuộc sống, buồn vì góc tối cuộc đời nhưng có khi chạnh lòng chỉ vì cảnh tình sông nước, cô gái thì thuỷ chung chờ đợi, chàng trai thì nhút nhát âm thầm, ghét những thói trưởng giả và giả tạo, yêu những điều tốt đẹp không đo bằng thước đo vật chất… Cuộc sống đang biến đổi, tâm tình con người cũng khác đi nhưng những giá trị tinh thần ấy vẫn mãi là những nét đặc trưng đáng yêu của vùng đất phương Nam “coi dzậy mà hổng phải dzậy” – thoáng trông như đơn giản mà có vô vàn điều thú vị chờ ta khám phá… Hi vọng rằng cơn bão vật chất và làn sóng đô thị hoá sẽ không làm mất đi những giá trị tốt đẹp của nông thôn, cụ thể là vùng đất phương Nam. Hi vọng và tin tưởng thế. Vì không còn cái đẹp thì cuộc sống có còn là cuộc sống đâu?

Sài-Gòn,
12.11.2015.
Petrus Trần

Image

Petrus Trần

Nguồn tin: FB Petrus Trần
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Post navigation

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: