Daily Archives: December 15, 2015

THỦ PHẠM KHIẾN THẬN TỔN THƯƠNG NGHIÊM TRỌNG

THỦ PHẠM KHIẾN THẬN TỔN THƯƠNG NGHIÊM TRỌNG
 
 
– Bác sĩ Eben Alexander
Giảng viên Đại Học Y Harvard
 
Inline image 1
 
KHÔNG UỐNG ĐỦ NƯỚC
Chức năng quan trọng nhất của thận đó là lọc máu và loại bỏ các chất độc cũng như các chất thải cặn bã. Khi bạn không uống đủ nước lọc trong ngày, các chất độc và chất thải cặn bã bắt đầu tích tụ và có thể gây hại nghiêm trọng cho cơ thể.
 
ĂN NHIỀU MUỐI
Cơ thể cần natri (hay chính là muối) để hoạt động một cách chính xác. Tuy nhiên, hầu hết mọi người đều hấp thụ quá nhiều muối, điều đó có thể làm tăng huyết áp và tạo ra nhiều áp lực lên thận. Giống như nguyên tắc của ngón tay cái, chỉ nên hấp thụ không quá 5 gram muối mỗi ngày.
 
UỐNG QUÁ NHIỀU NƯỚC NGỌT VÀ NƯỚC CÓ GA
Thận là cơ quan chính để điều chỉnh độ pH của cơ thể, vì thế khi mà cơ thể phải hấp thụ quá nhiều nước ngọt và nước uống có ga trong một thời gian dài sẽ làm tăng gánh nặng cho thận và làm tăng xác suất gây tổn thương thận.
 
UỐNG TRÀ ĐẶC SAU KHI UỐNG RƯỢC
Các chuyên gia đã chỉ ra rằng chất theophylline trong trà có tác dụng làm lợi tiểu và nó có thể ảnh hưởng khá nhanh đến thận. Rượu không có thời gian để phân hủy do đó gây ra kích thích ethanol làm ảnh hưởng nghiêm trọng cho thận.
 
NHỊN TIỂU
Nhiều người trong chúng ta thường nhịn tiểu bởi vì họ quá bận rộn hoặc muốn tránh phòng vệ sinh công cộng. Nhịn tiểu một cách thường xuyên làm tăng áp suất nước tiểu và có thể dẫn đến suy thận, sỏi thận và tiểu không kiểm soát.
 
THIẾU VITAMIN VÀ CÁC KHOÁNG CHẤT
Nhiều sự thiếu hụt có thể làm tăng nguy cơ bị sỏi thận hay suy thận. Chẳng hạn như vitamin B6 và magie là các chất cực kì quan trọng nhằm giảm bớt sỏi thận.
 
HẤP THỤ QUÁ NHIỀU PROTEIN ĐỘNG VẬT
Hấp thụ quá nhiều protein, đặc biệt là thịt đỏ làm tăng hàm lượng chuyển hóa trong thận. Vì vậy có nhiều protein trong chế độ ăn của bạn đồng nghĩa với việc thận phải làm việc nhiều hơn và theo thời gian điều này có thể dẫn đến tổn hại thận hay rối loạn chức năng.
 
ĂN RAU QUẢ KHÔNG PHÙ HỢP
Chúng ta đều biết rằng ăn nhiều rau quả có lợi cho sức khỏe. Kali có trong rau thường được coi là chất hỗ trợ tốt giúp giảm huyết áp tự nhiên, tuy nhiên nếu dùng trong thời gian dài nó lại có thể làm tổn thương thận đối với những người có vấn đề về chức năng thận.
 
THIẾU NGỦ
Tất cả chúng ta đều đã nghe nói về tầm quan trọng của một giấc ngủ ngon. Sự thiếu ngủ thường xuyên có thể dẫn tới nhiều căn bệnh và các bệnh về thận cũng nằm trong danh sách đó. Trong thời gian ban đêm, cơ thể hồi phục lại tế bào thận đã bị tổn thương, vì vậy hãy cho cơ thể thời gian để tự chữa lành và hồi phục.
 
UỐNG NHIỀU CÀ PHÊ 
Cũng giống như muối, caffein có thể làm tăng huyết áp và gây áp lực lên thận của bạn. Uống cà phê quá nhiều sẽ không tốt cho thận của bạn.
 
LẠM DỤNG THUỐC GIẢM ĐAU 
Có quá nhiều người dùng thuốc giảm đau mặc dù chỉ là những cơn đau nhỏ, trong khi đó lại có sẵn rất nhiều phương thuốc hoàn toàn từ tự nhiên mà lại an toàn. Sử dụng quá mức hay lạm dụng thuốc giảm đau có thể dẫn đến sự tổn hại nghiêm trọng cho gan và thận.
 
SỬ DỤNG THỨC UỐNG CÓ CỒN 
Đồ uống có cồn thật sự là một chất độc hợp pháp nhưng nó lại tạo ra nhiều sức ép lên thận và gan.
 
BÁNH MÌ NGỌT
Có một loại phụ gia thực phẩm được gọi là kali bromat trong bánh mì và bánh ngọt làm cho bánh mềm và thơm ngon hơn. Tuy nhiên, ăn quá nhiều chất này có thể gây ra tổn hại cho hệ thống thần kinh trung ương, máu và thận.
 
ĂN NHIỀU ĐỒ ĂN CHẾ BIẾN SẴN 
Hàm lượng chất bảo quản thực phẩm có trong các đồ ăn sẵn là rất lớn, nhất là trong đồ hộp. Nếu ăn thường xuyên, các chất bảo quản tích tụ trong cơ thể ngày càng nhiều. Khi đó khả năng đào thải độc tố có trong các chất này của gan và thận sẽ trở thành “vô hiệu hóa”.
Categories: Kien-thuc Y-Khoa | Leave a comment

Ấn Độ, Nhật Bản tăng cường hợp tác quân sự và kinh tế

Tin tức / Thế giới / Châu Á

Ấn Độ, Nhật Bản tăng cường hợp tác quân sự và kinh tế

Thủ tướng Nhật Bản và Ấn Độ tại buổi  lễ ký kết thỏa thuận ở New Delhi, ngày 12/12/2015.

Thủ tướng Nhật Bản và Ấn Độ tại buổi lễ ký kết thỏa thuận ở New Delhi, ngày 12/12/2015.

Anjana Pasricha
Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe vừa kết thúc chuyến viếng thăm 3 ngày ở Ấn Độ, nơi ông ký một số các thỏa thuận trong những lãnh vực quan trọng. Từ New Dehli, thông tín viên Anjana Pasricha gởi về bài tường thuật.

Vào ngày 12/12, Ấn Độ và Nhật Bản đã nêu bật các mối quan hệ nồng ấm với một thỏa thuận cho phép Tokyo xây tuyến xe lửa cao tốc đầu tiên của Ấn Độ, ký những hiệp ước quốc phòng mở đường cho Nhật Bản bán vũ khí cho Ấn Độ, và những tiến bộ về một thỏa thuận hợp tác hạt nhân dân dụng.

Những thỏa thuận này được loan báo tiếp sau một cuộc họp giữa ông Abe và Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi tại New Delhi.

Hai nhà lãnh đạo chia sẻ một mối quan hệ thân thiết, và những sự hợp tác về kinh tế và chính trị giữa hai quốc gia đã được tăng tiến mạnh mẽ kể từ khi ông Modi lên cầm quyền vào năm ngoái.

Ông Abe mô tả những thỏa thuận là sự báo trước của một kỷ nguyên hợp tác mới giữa hai nước.

Ông Abe nói: “Một nước Ấn Độ hùng mạnh có lợi cho Nhật Bản và một nước Nhật hùng mạnh có lợi cho Ấn Độ, đây là niềm tin căn bản của tôi.”

Ông Abe nói: “Một nước Ấn Độ hùng mạnh có lợi cho Nhật Bản và một nước Nhật hùng mạnh có lợi cho Ấn Độ, đây là niềm tin căn bản của tôi.”Ông Abe nói: “Một nước Ấn Độ hùng mạnh có lợi cho Nhật Bản và một nước Nhật hùng mạnh có lợi cho Ấn Độ, đây là niềm tin căn bản của tôi.”

Nhật Bản sẽ cấp 12 tỉ đô la để xây tuyến xe lửa cao tốc nối liền thành phố Mumbai và Ahmedabad ở miền tây Ấn Độ. Ông Modi trông cậy vào Tokyo để bơm tiền vào hạ tầng cơ sở của Ấn Độ.

Ông Modi cho biết: “Việc này sẽ khởi động cuộc cách mạng hoả xa tại Ấn Độ và tăng tiến cuộc hành trình vào tương lai của Ấn Độ.”

Theo hai thỏa thuận quốc phòng được ký kết, hai bên sẽ chia sẻ công nghệ, trang bị và tin tức quân sự. Hai hiệp ước này sẽ giúp Nhật Bản bán cho Ấn Độ thủy phi cơ US-2, một thỏa thuận mà hai bên đã thương thuyết trong 2 năm. Nếu việc này được thực hiện, đây có thể là vụ bán vũ khí đầu tiên của Nhật Bản kể từ khi ông Abe thu hồi lệnh cấm xuất khẩu trang bị quốc phòng vào năm 2014.

Ông Modi nói hai thỏa thuận này sẽ làm cho những mối quan hệ quốc phòng giữa hai nước sâu rộng thêm.

Bản ghi nhớ về năng lượng hạt nhân dân sự vừa được ký kết cũng được xem như là Tokyo đã bỏ phiếu tín nhiệm đối với New Delhi, nhưng các giới chức nói thỏa thuận chung cuộc chỉ sẽ được ký sau khi những chi tiết kỹ thuật được hoàn tất. Nhật Bản rõ ràng hiện đang tìm sự bảo đảm không phổ biến vũ khí hạt nhân trước khi xuất khẩu những lò phản ứng hạt nhân cho New Delhi. Ấn Độ là nước không ký vào Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân.

Thủ tướng Ấn Độ nói: “Tôi biết tầm quan trọng của quyết định này đối với Nhật Bản và đảm bảo với Ngài rằng Ấn Độ tôn trọng quyết định này và sẽ tôn trọng những cam kết chúng ta cùng chia sẻ.”

Các nhà phân tích xem mối quan hệ ngày càng tăng giữa Ấn Độ và Nhật Bản nằm trong khuôn khổ của nỗ lực ngăn chặn Trung Quốc mà cả hai nước đều có tranh chấp lãnh thổ.

Ông Modi nói hai thỏa thuận này sẽ làm cho những mối quan hệ quốc phòng giữa hai nước sâu rộng thêm.Ông Modi nói hai thỏa thuận này sẽ làm cho những mối quan hệ quốc phòng giữa hai nước sâu rộng thêm.

Khi đến Ấn Độ ngày 11/12 vừa qua, Thủ tướng Abe nhấn mạnh đến tầm quan trọng của những mối quan hệ an ninh ngày càng tăng giữa hai nước khi ông viết một bài xã luận trên báo Times of India nói rằng “để giữ được một vùng biển rộng mở, tự do và hòa bình, sự hợp tác giữa Nhật Bản và Ấn Độ, cũng như của cộng đồng quốc tế, trong đó có Hoa Kỳ, là một việc rất quan trọng.”

Năm nay, Ấn Độ đã mời Nhật Bản tham dự cùng với Hoa Kỳ trong những cuộc tập trận trên Ấn Độ Dương, bất chấp những phản đối của Bắc Kinh.

Khi được hỏi tại sao Ấn Độ đánh giá cao quan hệ đối tác chiến lược với Nhật Bản, ông Modi nói: “Không có nước bạn nào quan tâm nhiều đến những ước mơ kinh tế của Ấn Độ hơn là Nhật Bản và tôi không thể nghĩ đến một đối tác chiến lược có thể thực hiện những ảnh hưởng sâu rộng hơn trong việc hình thành tương lai châu Á và những mối quan hệ về những vùng biển hơn là giữa chúng ta.”

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

6135. Kêu gọi lãnh đạo ‘đổi tên đảng, tên nước’

6135. Kêu gọi lãnh đạo ‘đổi tên đảng, tên nước’

Posted by adminbasam on 13/12/2015

BBC

13-12-2015

H1Trong một động thái được cho là ‘vô tiền khoáng hậu’, hơn một trăm nhân sỹ, trí thức, cựu lãnh đạo trung cao cấp và các nhà hoạt động xã hội hàng đầu ở Việt Nam đã gửi thư ngỏ tới Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam yêu cầu đổi tên đảng, đổi tên nước, từ bỏ chủ thuyết Mác – Lênin và thay đổi triệt để vì ‘tương lai dân tộc’.

Bức thư ngỏ đề ngày 09/12/2015 gửi Bộ Chính trị, Ban chấp hành TW Đảng CSVN khóa XI, các đại biểu dự Đại hội 12 và toàn thể đảng viên của Đảng, được ít nhất 127 người ký tên, trong đó có các nhân vật như Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, Giáo sư Hoàng Tụy, Giáo sư Chu Hảo, Đại sứ Nguyễn Trung, Giáo sư Tương Lai, nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, ông Nguyễn Mạnh Can, nguyên Phó Ban Tổ chức Trung ương Đảng, bác sỹ Huỳnh Tấn Mẫm v.v…, kêu gọi:

“Đại hội XII là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam vừa có trách nhiệm, vừa có thẩm quyền đề xướng cuộc cải cách chính trị trong hòa bình, với tinh thần khép lại quá khứ, không hồi tố, phát huy dân chủ với tất cả sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc.

“Ý chí quyết tâm chuyển đổi thể chế chính trị của Đại hội XII cần được biểu thị bằng những hành động cụ thể như đổi tên đảng (không gọi là Đảng Cộng sản); đổi tên nước (không gọi là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa); trả lại tự do cho những người khác chính kiến đang bị giam giữ; chấm dứt sự trấn áp và ngăn chặn nhân dân thực hiện quyền tự do dân chủ theo Hiến pháp.

“Đó là những việc có thể làm ngay, quy tụ được lòng người, khơi dậy niềm tin và khí thế đồng tình ủng hộ của nhân dân đối với công cuộc đổi mới chính trị và kinh tế ở tầm cao hơn.”

Mạnh mẽ ‘chưa từng có’

Thư ngỏ 9/12 có những lời lẽ được công luận trong đó có dư luận mạng cho là mạnh mẽ, thẳng thắn ‘chưa từng có’, trong đó có đoạn nói về Đảng Cộng sản và việc lãnh đạo của đảng này ở Việt Nam.

“Sự phát triển của đất nước bị kìm hãm chủ yếu là do Đảng Cộng sản Việt Nam từ nhiều năm nay dẫn dắt cả dân tộc đi con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình Xô-viết dựa trên chủ nghĩa Mác – Lênin.

“Trên con đường đó, trong vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam bám giữ thể chế độc tài toàn trị với bộ máy cầm quyền hết sức nặng nề, thiên về dùng bạo lực và dối trá, vi phạm nhiều quyền tự do dân chủ và lợi ích chính đáng của nhân dân, tạo thuận lợi cho tệ tham nhũng, ức hiếp dân và sự thao túng của các nhóm lợi ích bất chính.

“Đường lối sai lầm theo ý thức hệ cùng với bộ máy cầm quyền nhiều khuyết tật cũng không dựa vào sức mạnh của toàn dân tộc để có đối sách đúng đắn bảo vệ độc lập, chủ quyền chống mưu đồ và hành vi bành trướng của Trung Quốc.

“Thực tiễn của nước ta cũng như trải nghiệm của nhiều nước trên thế giới đã cho thấy rõ sai lầm và thất bại của đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác – Lênin. Công cuộc đổi mới ở Việt Nam trong nhiều năm qua về thực chất đã từ bỏ những nguyên lý cơ bản về xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa theo chủ nghĩa Mác – Lênin.

“Vậy mà các văn kiện trình Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn nhấn mạnh lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng, kiên định theo con đường xã hội chủ nghĩa, đặt độc lập dân tộc, xây dựng nhà nước pháp quyền và nền kinh tế thị trường phải gắn với chủ nghĩa xã hội.”

Bầu trực tiếp TBT

Về công tác nhân sự của Đại hội, bức thư ngỏ đề nghị Đại hội được bầu trực tiếp chức Tổng bí thư với các ứng cử viên ‘không chỉ một người’, bức thư viết:

“Công tác nhân sự tại Đại hội XII phải thật sự dân chủ. Các đại biểu Đại hội, với cương vị và trách nhiệm là thành viên của cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam cần làm đúng quyền hạn của mình, bãi bỏ những quy định của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về công tác nhân sự không đúng Điều lệ đảng dẫn tới sự chi phối, thậm chí áp đặt của cấp ủy sắp mãn nhiệm đối với nhân sự của cơ quan lãnh đạo nhiệm kỳ mới; yêu cầu Đại hội được bầu trực tiếp Tổng bí thư, và danh sách đề cử không chỉ có một người.

“Đại hội XII phải bầu được Ban Chấp hành Trung ương khóa mới đủ sức đưa đất nước vượt qua những khó khăn thách thức để phát triển nhanh hơn, bền vững hơn và bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia.

“Kiên quyết không giao phó trọng trách cho những người mang nặng tư tưởng bảo thủ, giáo điều, đặt lợi ích riêng lên trên vận mệnh dân tộc, tham nhũng hoặc tài sản giàu có bất minh, thiếu bản lĩnh, không có khả năng xử lý những vấn đề do thực tiễn của cuộc sống đất nước đặt ra.”

Đặc biệt, bức thư ngỏ kiến nghị viết lại ‘Báo cáo Chính trị’ dự kiến trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 12 mà theo kế hoạch có thể diễn ra vào tháng 1/2016 tới đây.

Thư ngỏ viết: “Tuy đối mặt với những thách thức mới rất gay gắt, nhưng với sự cổ vũ và bài học chuyển đổi thể chế độc tài sang dân chủ một cách hòa bình ở nhiều nước, đặc biệt là ở Myanmar mới đây, Đảng Cộng sản Việt Nam đang có cơ hội thuận lợi hơn bao giờ hết để đưa đất nước chuyển sang giai đoạn phát triển mới.

“Khi chuẩn bị Đại hội VI, dù thời gian họp đã cận kề, cơ quan lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam thời ấy đã kiên quyết viết lại báo cáo chính trị theo tinh thần đổi mới, mở đường cho đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội và có bước phát triển mới.

“Bài học đó cần được vận dụng để thay đổi cách chuẩn bị và tiến hành Đại hội XII đáp ứng được yêu cầu của đất nước và mong đợi của nhân dân. Đó là trách nhiệm của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI và toàn thể các đại biểu dự Đại hội XII trước vận mệnh của dân tộc,”bức thư ngỏ đề ngày 9/12 viết.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Thiền làm giảm viêm và bảo vệ tim

Thiền làm giảm viêm và bảo vệ tim

Cơ thể con người là một khối thống nhất. Một sự thay đổi sâu sắc trong ý thức sẽ phản ánh ra sức khỏe thể chất. Đó là lý do tại sao thiền định có lợi không chỉ cho não và tâm trí, mà còn cho tất cả các hệ thống và cơ quan nội tạng.
 

La méditation diminue l’inflammation et protège le cœur

Các học viên Pháp Luân Công đang thực hành thiền định bài công pháp số 5 “Thần Thông gia trì Pháp” (Ảnh: French Epoch Times)

Có thể chúng ta thường coi thiền định như một công cụ để hoàn thiện ý thức. Đôi khi rất khó để giải thích hành động của mình một cách khoa học. Tuy nhiên, hiện nay kỹ thuật hiện đại có khả năng nghiên cứu sâu về vấn đề này. Có khoảng ba ngàn nghiên cứu về thiền. Nhưng hầu hết trong số đó chưa giới thiệu ra công chúng nói chung.

Dưới đây là một số ví dụ về lợi ích của thiền đối với cơ thể:

Các bệnh về tim và cao huyết áp 

Thiền có thể làm giảm nhẹ các vấn đề về tim – không chỉ dừng ở mức độ liên đới, mà nó can thiệp vào hệ thống tim mạch để ngăn ngừa bệnh. Theo Viện Tâm thần học tại Bologna (Italy), một thí nghiệm ba tháng về thực hành thiền Zen đã chỉ ra rằng nó có thể làm giảm huyết áp cao.

Sự thư giãn dẫn đến sự hình thành oxit nitric, làm giãn nở các mạch máu và bình thường hóa huyết áp. Bên cạnh đó, những người có nguy cơ cao đối với bệnh cao huyết áp nên biết đến những tác động tích cực của thiền định.

Quảng cáo

Các nhà khoa học tại Đại học Maharishi về Quản lý đã theo dõi trong 5 năm đối với hai nhóm người, một nhóm thực hành thiền định và một nhóm không. Theo nghiên cứu này, nguy cơ đau tim, đột quỵ và tử vong đã giảm 48% ở nhóm người thiền định. Họ cảm thấy tốt hơn so với nhóm thứ hai là nhóm ăn kiêng và chỉ tập thể dục.

 Ti thể

Một nghiên cứu tại trường Y Harvard, cho thấy việc thực hành yoga và thiền định kích thích sản sinh năng lượng của ty thể. Tác dụng này hỗ trợ hệ thống miễn dịch và sức đề kháng với stress.

Viêm nhiễm

Một nghiên cứu tại Trung tâm Wiseman Hall (Đại học Wisconsin-Madison), cho thấy rằng việc thực hành thiền định có tác động đến gien và phân tử. Các nhà nghiên cứu đã quan sát thấy sự suy giảm trong hoạt động của các gien gây viêm. Điều đó có lợi cho sự phục hồi chức năng cơ thể. Nên biết rằng hoạt động của các gien gây viêm có liên quan với sự phát triển của nhiều bệnh mãn tính và viêm nhiễm.

Do đó, thiền có tác dụng chữa bệnh ở các bệnh nhân bị hen phế quản, viêm khớp dạng thấp và bệnh viêm ruột. Một nghiên cứu về thần kinh học tại Đại học Wisconsin-Madison đã ghi nhận, thiền định có hiệu quả hơn một chế độ ăn uống cân bằng, thể dục hoặc liệu pháp trị liệu bằng âm nhạc.

Alzheimer

Được đăng trên Tạp chí Behavior and Immunity, các nghiên cứu về bộ não nói rằng thực hành 30 phút thiền định mỗi ngày không chỉ làm suy yếu cảm giác cô đơn ở người lớn tuổi, mà còn làm giảm khả năng phát triển bệnh trầm cảm và bệnh Alzheimer.

 HIV và căng thẳng

Khả năng miễn dịch của người nhiễm HIV có một kẻ thù nguy hiểm: đó là căng thẳng. Căng thẳng làm tăng độc lực của virus, suy giảm miễn dịch và làm tăng tốc độ chết của các lympho CD4 (tế bào bảo vệ). Các nhà khoa học từ Đại học Tâm lý-Thần Kinh-Miễn dịch (psycho-neuro-immunology), Los Angeles, đã chỉ ra rằng thiền định có thể làm chậm sự tiến triển của HIV.

Họ yêu cầu 48 bệnh nhân thực hành thiền định và đánh giá số lượng CD4 trước và sau khi làm thí nghiệm. Sau tám tuần, đã có một sự suy giảm tốc độ chết của các tế bào CD4 so với các bệnh nhân khác.

Tuổi thọ 

Telomere là một phần không thể thiếu của các nhiễm sắc thể và ngăn ngừa sự mất mát của các vật liệu di truyền trong quá trình phân chia tế bào. Chiều dài của các telomere gắn liền với tuổi thọ. Thiền có thể có một tác dụng tích cực đối với chiều dài của telomere vì nó làm giảm căng thẳng, giảm viêm và cải thiện nồng độ hormone.

 

Chia sẻ bài viết này
Categories: Nhan dinh | Leave a comment

Nền kinh tế Mỹ: chiếc đũa thần giờ ở nơi đâu?

Nền kinh tế Mỹ: chiếc đũa thần giờ ở nơi đâu?

Nhà du hành vũ trụ Edwin E. Aldrin Jr. đang đi bộ trên mặt trăng trong chuyến du hành lên mặt trăng cùng tàu Apollo 11 vào ngày 20 tháng 7 năm 1969 (NASA/AFP/Getty Images)

Nhà du hành vũ trụ Edwin E. Aldrin Jr. đang đi bộ trên mặt trăng trong chuyến du hành lên mặt trăng cùng tàu Apollo 11 vào ngày 20 tháng 7 năm 1969 (NASA/AFP/Getty Images)

Sau Thế chiến thứ II, Mỹ trở thành nước thống trị toàn cầu về kinh tế. Sau cuộc thế chiến, thời gian đầu Mỹ, chỉ có Mỹ là có một nền kinh tế đáng kể khi mà họ không hoàn toàn trở thành đống đổ nát (như Đức, Nhật, Ý) hay là không bị huỷ hoại nặng nề bởi những hi sinh cho cuộc chiến (như Vương quốc Anh hay Nga).

Những hãng sản xuất lớn của Mỹ không bị hề hấn gì và họ đã sản xuất khối lượng lớn các vật liệu cho chiến tranh (như máy bay, xe cộ, thiết bị điện tử); tất cả những sản phẩm này đã nhanh chóng trở thành các loại hang hoá tiêu dùng đáp ứng nhu cầu người Mỹ cũng như người tiêu dùng toàn cầu. Đồng thời những đổi mới, phát minh về khoa học và kỹ thuật của Mỹ từ phương diện kinh tế lẫn văn hoá đã tạo ra một loạt những sản phẩm chuẩn mực cho sau này như: ti vi, máy bay thương mại xuyên lục địa, máy tính được phát triển nhỏ gọn từ những “cỗ máy to bằng cả phòng ngủ của bạn”, sử dụng ống chân không, tiền đề của những chiếc iPhone với khả năng điện toán tốt hơn những cỗ máy cồng kềnh sơ khai kia; ngoài ra còn là ngành nông nghiệp cách mạng xanh mà ở một vài thời điểm nó đã giúp cung cấp lương thực cho cả thế giới. Có lẽ đỉnh vinh quang nhất của sự thống trị bá chủ này là sự kiện đưa con người lên mặt trăng vào năm 1969, hơn nửa thế kỷ sau chuyến bay một người lái xuyên Đại Tây Dương được thực hiện bởi viên phi công trẻ Lindberg vào năm 1927.

Tuy nhiên sự huy hoàng này đã giảm dần đi. Nhiều nước khác đã phát triển những trình độ công nghệ tương đương (nhiều trong số những sự phát triển đó được khuyến khích bởi chính các hãng sản xuất của Mỹ, những hãng này đã thành lập các nhà máy ở các quốc gia đó để tận dụng lợi thế chi phí lao động thấp). Và Mỹ từ một nơi là xưởng sản xuất của thế giới trở thành thị trường tiêu dùng lớn nhất thế giới của các loại hàng hoá tiêu dùng được sản xuất từ nước ngoài.

Từ vị thế là người cho vay của cả thế giới, chúng ta nay đã trở thành kẻ vay nợ lớn nhất thế giới.

Từ vị thế là người cho vay của cả thế giới chúng ta nay đã trở thành kẻ vay nợ lớn nhất thế giới. Chúng ta hình thành kỹ năng không ai bì được trong các thao túng tài chính, biến Phố Wall trở thành cái nôi của các công cụ tài chính, ví dụ như công cụ “giao dịch phái sinh” mà chỉ có một Thạc sĩ Quản trị kinh doanh (MBA) chứ không ai khác mới có thể hiểu được về nó.

Quảng cáo

Tuy nhiên những “chuyên gia” này có vẻ biết rõ mình đang làm gì, ai cũng có thể kiếm được tiền và những ai gọi giá cổ phiếu hay tài chính thế chấp là “kiểu tăng giá ngớ ngẩn” không hẳn là vì họ là những kẻ lỗi thời mà là do họ không “phù hợp” với thời đại của thế kỷ 21.

Và “thời kỳ vàng son” đó lan ra toàn cầu – ở một số nước thì thực thi tốt hơn những nước khác – nhưng họ có những bước tiến dài trong việc xoá bỏ đói nghèo trên toàn cầu và cải thiện cấu trúc kinh tế-xã hội.

Và rồi năm 2008 thị trường thế chấp của Mỹ sụp đổ, các ngân hàng “lớn đến nỗi tưởng như không bao giờ sụp đổ” cũng đồng loạt phá sản. Nếu không bị bắt buộc phải phá sản thì các ngân hàng đó đã bị thiệt hại đáng kể, quá trình phục hồi của nó (đó là chưa kể quá trình lấy lại niềm tin từ người tiêu dung) là một quá trình dài hơi.

Cùng lúc, thị trường chứng khoán bất ngờ lao dốc và những nhà đầu tư nhỏ lẻ phải chứng kiến giá trị các khoản danh mục đầu tư của mình cũng sụp đổ theo. Vì vậy câu bình luận mỉa mai “khoản hưu trí 401k của tôi giờ đã thành khoản 201k mất rồi” đã gắn liền với tỉ lệ thất nghiệp ở Mỹ tăng lên mức 2 con số. Mức tăng trưởng âm hàng quý trời càng khẳng định rằng sự sụp đổ này thực sự là một cuộc suy thoái, sự thâm sâu và thời gian kéo dài của nó đã khiến nó trở thành một Cuộc Đại Suy Thoái.

Không có gì bất ngờ khi Cuộc Đại Suy Thoái này đã chi phối tất cả các nền kinh tế nội địa và toàn cầu trong vòng 7 năm qua, đóng vai trò then chốt trong các cuộc bầu cử liên bang ở Mỹ vào các năm 2008, 2010, 2012 và 2014. Suốt thời gian đó luôn xuất hiện những lời bình luận đầy chua cay đổ lỗi qua lại cho nhau giữa các bên.

Về cơ bản có hai đường lối tư duy về việc làm sao để có thể đưa Mỹ (và cả thế giới) phục hồi nền kinh tế trở lại, đó là: chi tiêu tiền để thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng còn đường lối kia là cứ giữ nguyên như vậy và hạn chế chi tiêu phù hợp với mức thu nhập hiện có. Những người theo Đảng Tự do/Dân chủ thì muốn chi tiền – cho mọi thứ từ chăm sóc sức khoẻ cho đến hạ tầng vật chất. Đảng bảo thủ/ Cộng hoà thì lại muốn cắt giảm chi tiêu cho mọi thứ từ các khoản thuế cho đến chi tiêu của toàn chính phủ liên bang.

Vậy thì chúng ta đã bao giờ chi tiêu chưa nhỉ! Khoản nợ của nền kinh tế Mỹ đã vượt quá sự hiểu biết của những người dân bình thường.

Tuy thế các kết quả đạt được lại không được thuyết phục cho lắm. Tăng trưởng kinh tế còn cách quá xa với con số mong muốn là 3% hàng năm. Tỉ lệ thất nghiệp đã giảm xuống nhưng có rất nhiều người “có việc làm” lại đang phải làm việc ở những vị trí mà họ không hề thích và/hoặc được trả lương thấp. Chỉ có một phần tư dân số Mỹ cho rằng đất nước họ đang đi đúng hướng.

 

Phần đa số thì cho rằng thời kỳ thịnh vượng nhất đã đi qua rồi. Họ nhận thấy sự khác biệt cực lớn giữa thu nhập của những người nằm trong số “1% của thế giới” và “phần còn lại”. Khi còn ở thời kỳ thịnh vượng thì khoảng cách thu nhập không mấy liên quan; tuy nhiên khi không phải thời kỳ thình vượng thì sự ganh tị và so bì lại được dịp biểu lộ. “Hãy đánh thuế người giàu” (nhưng không được lấy đi bất cứ lợi ích nào của tôi. Hãy cắt giảm thuế (điều này làm cho người giàu thậm chí còn giàu hơn) nhưng đừng cắt giảm mạng lưới an sinh xã hội, mạng lưới này chiếm rất nhiều trong khoản nợ công của quốc gia.

Các dự án hạ tầng cơ sở lại nhắc những người hoài nghi nhớ đến các dự án khổng lồ như dự án “xây công trình vĩ đại” ở Boston, chi phí ban đầu của nó là 2.8 tỉ đô la tuy nhiên giá thành cuối cùng dự tính là khoảng 22 tỉ đô la sau 16 năm xây dựng. Vậy thì ở đây có vấn đề tham nhũng không nhỉ?

Những năm gần đây, đâu đó “khẩu hiệu” đầy lạc quan “chúng ta có thể làm được” ở Mỹ và bầu nhiệt huyết của nó đã dần biến mất. Trên toàn cầu chúng ta đang đi xuống và rõ ràng là chúng ta không còn sẵn sàng hi sinh tính mạng và công sức cho sự phục hồi nữa. Đây là kỷ nguyên mà ở đó chúng ta đã quá quen thuộc với các sự kiện như trên và cuối “đường hầm” không có tia sáng rõ ràng nào cả.

Không có câu trả lời nào thoả đáng cả.

David T. Jones. (Courtesy of David T. Jones)

Tác giả David T. Jones (hình được cung cấp bởi chính ông)

David T. Jones là quan chức dịch vụ đối ngoại cấp cao của Bộ Đối ngoại Mỹ, người đã xuất bản vài trăm cuốn sách, bài báo, tin bài và bình luận cho các vấn đề song phương và chính sách đối ngoại nói chung của Mỹ. Trong sự nghiệp hơn 30 năm của mình ông đã tập trung vào các vấn đề chính trị-quân sự, là cố vấn cho hai Tham mưu trưởng lực lượng quân đội. Một trong các cuốn sách ông đã viết là “Một Bắc Mỹ hoàn toàn khác: Canada và Mỹ có thể học hỏi được gì từ nhau.”

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Sự thật chết người về nỗi cô đơn

Sự thật chết người về nỗi cô đơn

(rclassenlayouts/iStock)

(rclassenlayouts/iStock)

Hầu như tất cả chúng ta đều đã từng nếm trải sự cô đơn tại một số thời điểm. Đó là nỗi đau mà chúng ta đã cảm thấy sau một cuộc chia tay, có lẽ là sự mất mát của một người thân yêu, hoặc đi đâu đó xa nhà. Chúng ta rất dễ bị tổn thương bởi cảm giác cô đơn ở bất kỳ thời điểm nào trong cuộc sống của chúng ta.

Sự cô đơn thường được sử dụng để mô tả một trạng thái cảm xúc tiêu cực khi người ta thấy có sự chênh lệch giữa các mối quan hệ mà người ta muốn có và những điều người ta cảm nhận mình đang có.

Những cảm giác khó chịu của sự cô đơn là chủ quan; các nhà nghiên cứu đã phát hiện rằng sự cô đơn không có liên quan đến khoảng thời gian một người dành cho người khác hay ở một mình. Nó có liên quan nhiều hơn đến chất lượng của các mối quan hệ, chứ không phải số lượng. Một người cô đơn cảm thấy những người khác không hiểu được mình, và có thể không nghĩ họ đang có các mối quan hệ đầy ý nghĩa.

Một người cô đơn cảm thấy những người khác không hiểu được mình.

Đối với một số người, sự cô đơn có thể là tạm thời và được khuây khoả đi một cách dễ dàng (chẳng hạn như một người bạn thân chuyển chỗ, hoặc người vợ/chồng trở về sau một chuyến công tác). Đối với những người khác, sự cô đơn không thể dễ dàng được giải quyết (ví như cái chết của một người thân hoặc sự tan vỡ cuộc hôn nhân) và có thể rất dai dẳng khi một người không có kết nối với những người khác.

Quảng cáo

 

Từ một luận điểm về tiến hóa, chúng ta phải dựa vào các nhóm xã hội để đảm bảo sự tồn tại của chúng ta như là một loài. Do đó sự cô đơn có thể được xem như một hiệu lệnh để kết nối với những người khác. Điều này làm cho nó khác biệt chút ít với cơn đói, khát hay nỗi đau thể xác, vốn là những dấu hiệu cho thấy cần phải ăn, uống hoặc tìm kiếm sự chăm sóc y tế.

Tuy nhiên, trong những xã hội hiện đại giàu có, việc tắt đi các tín hiệu báo động sự cô đơn lại trở nên khó khăn hơn việc thỏa mãn cơn đói, khát hoặc sự cần thiết phải đi khám bệnh. Đối với những người không được nhiều người xung quanh quan tâm, sự cô đơn có thể tồn tại dai dẳng.

Các nhà nghiên cứu đã phát hiện sự cô lập với xã hội là một yếu tố nguy cơ gây bệnh tật và tử vong sớm. Những khám phá của một bài phê bình tổng hợp gần đây đã chỉ ra rằng sự thiếu kết nối xã hội đặt ra một nguy cơ gây chết sớm tương tự như các dấu hiệu về thể chất – như bệnh béo phì.

Cô đơn là một yếu tố nguy cơ gây ra nhiều trở ngại về sức khỏe thể chất, từ khó ngủ, chứng mất trí nhớ đến khả năng làm việc của tim mạch kém đi.

(David Hodgson/Flickr/CC BY)

Một số cá nhân có thể dễ bị tổn thương về mặt sinh học do cảm giác cô đơn. (David Hodgson / Flickr / CC BY)

Ngoài ra một số cá nhân có thể dễ bị tổn thương về mặt sinh học do cảm giác cô đơn. Bằng chứng từ các nghiên cứu về các cặp sinh đôi cho thấy sự cô đơn có thể một phần do di truyền.

Nhiều nghiên cứu đã tập trung vào việc liệu sự cô đơn có thể là kết quả kết hợp của những loại gen nhất định với các yếu tố xã hội hay môi trường cụ thể (chẳng hạn như hỗ trợ của cha mẹ).

Sự cô đơn phần lớn bị bỏ qua và không được xem như là một điều kiện cần quan tâm đối với tình trạng sức khỏe tâm thần. Các nhà nghiên cứu vẫn chưa hiểu đầy đủ về mức độ ảnh hưởng của sự cô đơn đến sức khỏe tâm thần. Hầu hết các nghiên cứu về sự cô đơn và sức khỏe tâm thần chỉ tập trung vào việc cô đơn liên quan đến trầm cảm như thế nào.

Mặc dù cô đơn và trầm cảm có phần nào liên quan, nhưng chúng khác nhau. Sự cô đơn có quan hệ một một cách cụ thể đến những cảm xúc tiêu cực của thế giới có tính xã hội, trong khi trầm cảm được quy vào một tập hợp tổng quát hơn của những cảm xúc tiêu cực.

Theo một nghiên cứu trong khoảng thời gian năm năm đo lường sự cô đơn ở người lớn tuổi, sự cô đơn có thể dẫn đến trầm cảm, nhưng không phải là ngược lại.

Giải quyết vấn đề cô đơn

Sự cô đơn có thể bị nhầm là một triệu chứng trầm cảm, hoặc có lẽ người ta giả định rằng sự cô đơn sẽ biến mất một khi giải quyết xong các triệu chứng trầm cảm. Nói chung, những người “cô đơn” được khuyến khích tham gia vào một nhóm hoặc chơi với một người bạn mới, dựa trên giả định rằng sự cô đơn sau đó sẽ biến mất.

Social isolation is a risk factor for disease and premature death. (Christopher Furlong/Getty Images)

Cô lập về mặt xã hội là một yếu tố nguy cơ bệnh tật và tử vong sớm. (Christopher Furlong / Getty Images)

Trong khi việc tạo ra những cơ hội để kết nối với những người khác đã cung cấp một nền tảng cho sự tương tác xã hội, xoa dịu nỗi đau từ những mối quan hệ xã hội không phải là đơn giản như vậy. Những người cô đơn có thể nghi ngại về tình trạng xã hội và kết quả là có những biểu hiện thái độ không chấp thuận. Những người này có thể bị hiểu sai là không thân thiện, và mọi người xung quanh cá nhân cô đơn cũng hành xử tương tự. Từ đó sự cô đơn có thể trở thành một chu kỳ liên tục.

Một nghiên cứu đã thẩm tra tính hiệu quả của các loại phương pháp điều trị khác nhau nhằm chữa trị sự cô đơn. Kết quả cho thấy những phương pháp điều trị tập trung vào việc thay đổi suy nghĩ tiêu cực về người khác có hiệu quả hơn phương pháp cung cấp cơ hội giao tiếp xã hội.

Các bằng chứng khoa học ngày càng làm nổi bật những hậu quả tiêu cực của sự cô đơn đối với sức khỏe thể chất và tinh thần có thể không còn bị bỏ qua.

Một cách để giải quyết đầy hứa hẹn đối với vấn đề cô đơn là nâng cao chất lượng các mối quan hệ, đặc biệt bằng cách xây dựng sự thân mật với những người xung quanh chúng ta. Sử dụng một phương pháp tâm lý tích cực, tập trung vào việc tăng cảm xúc tích cực trong các mối quan hệ xã hội hoặc gia tăng các hành vi xã hội, có thể khuyến khích các kết nối sâu sắc hơn và có ý nghĩa hơn với những người khác.

Thật vậy, ngay cả những người đã từng bị chẩn đoán mắc bệnh tâm thần nghiêm trọng đã báo cáo những tiến triển về tình trạng sức khoẻ và các mối quan hệ của họ, sau khi chia sẻ những cảm xúc tích cực và thực hiện nhiều hoạt động tích cực hơn những người khác. Tuy nhiên, nghiên cứu sử dụng phương pháp tâm lý tích cực để điều trị sự cô đơn vẫn còn trong giai đoạn trứng nước.

Chúng tôi tiếp tục đánh giá thấp khả năng sự cô đơn có thể dẫn đến chết người và là một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng. Các công cụ hiện đại như phương tiện truyền thông xã hội, trong khi tưởng như thúc đẩy sự kết nối xã hội, lại ưa chuộng các tương tác ngắn gọn với nhiều người quen biết, hơn là phát triển những mối quan hệ tuy không thường xuyên hơn nhưng có ý nghĩa hơn. Trong xu hướng này, điều thách thức là giải quyết vấn đề cô đơn và tập trung vào việc xây dựng những mối quan hệ ràng buộc có ý nghĩa với những người xung quanh chúng ta.

Các bằng chứng khoa học ngày càng làm nổi bật những hậu quả tiêu cực của sự cô đơn đối với sức khỏe thể chất và tinh thần có thể không còn bị bỏ qua.

Michelle H Lim, giảng viên tâm lý học và lâm sàng, đại học công nghệ Swinburne. Bài viết này ban đầu được công bố trên The Conversation.

Categories: Nhan dinh | Leave a comment

Blog at WordPress.com.