Monthly Archives: June 2016

Dương Khiết Trì sang Việt Nam giữa lúc bộ quốc phòng động binh

Dương Khiết Trì sang Việt Nam giữa lúc bộ quốc phòng động binh

Hoàng Trần (Danlambao) – Uỷ viên quốc vụ viện Dương Khiết Trì vừa đến Việt Nam hôm 27/6/2016 giữa lúc Bộ Quốc phòng động binh khiến dư luận dấy lên nhiều câu hỏi về mục đích thật sự của chuyến viếng thăm lần này.

Theo thông báo chính thức, Dương Khiết Trì và phó thủ tướng kiêm bộ trưởng ngoại giao CSVN Phạm Bình Minh sẽ đồng chủ trì phiên họp lần thứ 9 của Uỷ ban chỉ đạp hợp tác song phương Việt-Trung.
Tuy vậy, các sự kiện trong quá khứ đều cho thấy rằng, mỗi khi Dương Khiết Trì sang Việt Nam đều mang đến những tín hiệu không mấy tốt lành đối với tiền đồ dân tộc.
Chấp thuận để Trung Cộng lập căn cứ tại Đà Nẵng 
Cũng xin được nhắc lại, vào năm 2014, giữ lúc bộ chính trị CSVN rúng động trước việc Trung Cộng hạ đặt giàn khoan HD-981 trong vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam, Dương Khiết Trì đã đích thân sang Hà Nội răn đe giới chóp bu Ba Đình.
Khi ấy, bộ chính trị CSVN do tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cầm đầu đã hoảng sợ và chấp nhận đầu hàng vô điều kiện. Truyền thông Trung cộng sau đó tỏ rõ thái độ hả hê khi gọi CSVN là “đứa con hoang đàng” và được Dương Khiết Trì sang “gọi về nhà”.
Lần này, nhiều khả năng một kịch bản cũ sẽ lại tiếp tục được tái diễn khi các tân lãnh đạo CSVN khoá 12 đều đã lộ rõ bộ mặt thân Tàu.
Sau cuộc họp giữa Dương Khiết Trì và Phạm Bình Minh hôm 27/6/2016, Trung Cộng tuyến bố sẽ tài trợ không hoàn lại cho CSVN số tiền 19,5 triệu đô để xây dựng cung hữu nghị Việt-Trung.
Đáp lại, CSVN sẽ phải chấp thuận để cho Trung Cộng thiết lập toà tổng lãnh sự tại Đà Nẵng – nơi những người Tàu giấu mặt đã mua đứt hàng trăm lô đất có vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng.
Ngoài ra, một thoả thuận hợp tác giữa bộ tư lệnh Cảnh sát biển CSVN và cục Cảnh sát biển Trung Cộng cũng đã được hai bên ký kết. Hành động này chẳng khác nào việc nạn nhân bị cướp lại đi hợp tác với kẻ ăn cướp.
Ngoài các chủ đề đã được thông báo chính thức, chuyến đi Hà Nội của Dương Khiết Trì còn liên quan đến những căng thẳng leo thang tại Biển Đông, đặc biệt là sự kiện toà Trọng tài Quốc tế sắp sửa đưa ra phán quyết về vụ Philippines kiện Trung Cộng.
Bộ Quốc phòng động binh?
Trước ngày họ Dương đến Hà Nội, người ta chứng kiến hàng loạt các diễn biến bất thường liên quan đến bộ quốc phòng CSVN.
Theo thông tin loan tải trên các mạng xã hội, ít nhất 50 xe bus chở các sỹ quan hải quân cũng đã được huy động về Hà Tĩnh – nơi có nhà máy Formosa trú đóng.
Tại Sài Gòn, xe thiết giáp quân đội rầm rập di chuyển giữa đêm. Trong khi đó, tại Tây Nguyên, pháo cao xạ và súng phòng không xuất hiện giữa đường phố Đắc Nông.
Pháo cao xạ và các khí tài quân sự xuất hiện hôm 27/6/2016 tại Đắc Nông – nơi có nhà máy bauxite Nhân Cơ của Trung Cộng trú đóng.
Việc động binh một cách công khai như trên không đơn giản chỉ là các cuộc diễn tập quân sự thông thường, vậy Bộ Quốc phòng CSVN đang toan tính điều gì?
Sau sự kiện hai chiếc máy bay Su 30 và CASA 212 tan xác trên biển, dư luận bắt đầu tỏ ra nghi ngờ về sự liên quan của Trung Cộng trong vụ việc dẫn đến cái chết của 10 sỹ quan không quân Việt Nam.
Lời giải thích của bộ quốc phòng CSVN cho rằng hai máy bay bị “tai nạn” do “thời tiết xấu” đã chẳng làm cho bất cứ ai tin tưởng. Hình ảnh những mảnh vỡ CASA 212 thu được tại khu vực đường phân chia Vịnh Bắc Bộ – nơi tiếp giáp với Trung Quốc, càng chứng tỏ rằng chiếc máy bay này đã bị bắn tan xác.
Thêm vào đó, CSVN đang phải đối mặt với tình thế tiến thoái lưỡng nan khi sắp phải trả lời trước nhân dân về nguyên nhân gây ra thảm hoạ cá chết miền Trung trong tháng 6/2016 – theo như lời cam kết trước đó.
Dự kiến, ngày 29/6/2016, bộ công an CSVN sẽ tổ chức họp báo công bố thủ phạm đầu độc biển miền Trung, mà ai cũng biết rõ là nhà máy Formosa.
Do đó, sự kiện bộ quốc phòng CSVN di chuyển khí tài quân sự là để đe doạ sự phẫn nộ của người dân, đồng thời cũng để bảo vệ cho các thế lực ngoại bang. Chuyến thăm của Dương Khiết Trì nhằm thúc ép CSVN thực hiện đúng những chỉ đạo này từ quan thầy Bắc Kinh.

27.01.2016

Advertisements
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Luận bàn giữa Trần Đình Sử và Hà Sĩ Phu

Luận bàn giữa Trần Đình Sử và Hà Sĩ Phu

 1. Nếu Việt Nam trở thành một khu tự trị của Trung Cộng thì sẽ ra sao?

Trần Đình Sử

(Giáo sư – Nhà giáo Nhân dân)

clip_image001
Trước hết tên nước bị xóa mất.
Dân Tàu tràn sang ta.
Chữ Hán là ngôn ngữ chính, tiếng Việt như tiếng Chuang bây giờ.
Người Việt sẽ bị di dời đi qua nhiều nơi hẻo lánh của Trung Quốc, bị phân tán triệt để để không còn tập trung, không có sức để khôi phục lại nước cũ.

clip_image002
Quân đội Việt Nam sẽ sang trấn thủ phía biên giới Ấn Độ, Pakistan, Duy Ngô Nhĩ, đánh nhau, chết ở đó, còn quân Tứ Xuyên, Quý Châu, Quảng Đông sang bảo vệ các thành phố lớn Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng,…
Các nhân sĩ yêu nước bị đàn áp.

Các sách vở quý hiếm trong Viện Hán Nôm sẽ bị thủ tiêu dần cho đến khi không còn dấu tích.
Lịch sử sẽ bị viết lại hoàn toàn. Các cuộc chiến tranh anh hùng của ông cha ta với các thống lĩnh như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi Quang Trung,… bị viết thành các cuộc nổi loạn chống lại trung ương. Bọn Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, Hoàng Văn Hoan là những nhà yêu nước vĩ đại, đâu đâu cũng có tượng đài của chúng.

clip_image003
Có một bọn văn nô viết bài ca ngợi: Lạc Việt lại trở về trong lòng Bách Việt. Bọn khác thì khảo chứng mối quan hệ thân thiết giữa vua Hùng với các hoàng đế Trung Hoa, rồi các mục trên báo “Chuyện bây giờ mới kể” nở rộ.

clip_image005
Dải đất hình chữ S vẫn còn mà giống người Việt, văn hóa Việt không còn nữa…
Thật đau lòng!
T.Đ.S.

Nguồn: https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=421463271372177&id=100005255232519

2. Dựng nước 4000 năm, xóa đi chỉ 4 tháng

TS. Hà Sĩ Phu

Tôi rất đồng ý với bác Trần Đình Sử (bạn đồng môn của tôi, ở Đại học Ngoại ngữ, học tiếng Nga để chuẩn bị đi Nga làm NCS, nhưng tôi lại chuyển sang đi Tiệp).

Một số bạn bè vẫn lên tiếng mạnh mẽ đã tâm sự với tôi: Biết rằng bây giờ dù có nói mấy cũng không ích gì nữa, ván đã đóng thuyền, “chơi cờ” với thằng Tàu, đi lầm một nước đã đủ chết huống chi “cố tình” đi nhầm từ đầu đến cuối hàng trăm nước cờ, không ai ngăn được, thì cứu cái nỗi gì? Ta lên tiếng bây giờ là để con cháu sau này biết rằng “thời ấy” không phải mọi người dân Việt đều ngu si hay đểu giả cả đâu. Tôi chỉ cười và bảo: Chút hy vọng được hậu thế đánh giá như thế cũng mong manh lắm, chắc gì?

Vì  NẾU:  VN thuộc Tàu thì ngay cả những Bà Trưng bà Triệu, Hưng Đạo -Nguyễn Trãi – Quang Trung… (tất nhiên không có HCM trong danh sách sẽ bị bôi xấu này) cũng bị liệt vào những tên GIẶC CỎ thiểu số một thời nổi lên chống lại Triều đình Trung ương Bắc Kinh…! Mất nước là mất hết gia phả. Chỉ còn một số tên đã có công giúp Bắc Kinh thu hồi giang sơn về một mối là được giữ lại cho hưởng chút cơm thừa canh cặn của Tàu thôi!

Xây dựng Tổ quốc thì 4000 năm chứ xóa thì chi chỉ 4 tháng là xong. Vậy làm thế nào để đập tan được chữNẾU ấy để nó không thành hiện thực?

Kính thư

H.S.P.

Tác giả gửi BVN

Categories: Nhan dinh | Leave a comment

. Phóng sự thảm họa cá chết Việt Nam rúng động Đài Loan

. Phóng sự thảm họa cá chết Việt Nam rúng động Đài Loan

Posted by adminbasam on 26/06/2016

Thanh Niên

Lucy Nguyễn

26-6-2016

Truyền hình Đài Loan vừa công chiếu phóng sự công phu về thảm trạng cá chết tại vùng biển miền Trung VN, gây chấn động dư luận vùng lãnh thổ này.

Phóng sự VN cái chết của cá dài gần 60 phút được phát sóng lần đầu vào tối 20.6, phát lại vào 11 giờ trưa 25.6 trên kênh truyền hình PTS (Đài Loan), đã làm dấy lên nhiều phản ứng dữ dội đối với vụ việc. Đặc biệt, nhiều ý kiến tại Đài Loan yêu cầu làm rõ vai trò của Tập đoàn Formosa, bị nghi là nguyên nhân số 1 gây nên loạt hiện tượng ô nhiễm biển nghiêm trọng tại VN thời gian qua.

“Đừng để nỗi đau lan sang VN”

Ngoài những hình ảnh cá chết trắng xóa dọc bờ biển 4 tỉnh miền Trung VN, nhóm thực hiện phóng sự của PTS cũng tiến hành phỏng vấn người dân VN về tình hình cá chết, ghi lại cảnh khổ sở của ngư dân xã Kỳ Phương (H.Kỳ Anh, Hà Tĩnh). “90% dân trong xóm này đều làm nghề biển” và cuộc sống của họ hiện đang rất lao đao. Trả lời phỏng vấn, người dân địa phương cho biết ngoài sinh kế bị ảnh hưởng trầm trọng, sau khi ăn phải cá trong vùng ô nhiễm, sức khỏe họ cũng ảnh hưởng.

Nội dung phóng sự nhấn mạnh vụ cá chết hàng loạt đã biến cuộc sống người dân Hà Tĩnh rơi vào cảnh khó khăn. Nhiều hộ kinh doanh nhỏ mất sạch vốn liếng do bỏ tiền mua cá, nay không dám ăn cá vì sợ nhiễm độc, cũng không thể bán, đành… cất lạnh để đó.

Những cảnh quay cho thấy rõ sự khốn khó trong các hộ gia đình ngư dân khi phải nằm bờ, chỉ biết trông chờ vào số gạo hỗ trợ từ nhà nước, trong khi thu nhập bình quân mỗi tàu cá trước kia có thể lên tới 200 – 300 triệu đồng/tháng trong vụ thu hoạch. Để làm nổi bật thêm tình hình, phóng viên PTS cũng cung cấp cho người xem Đài Loan thông tin về tầm quan trọng của nghề cá của VN với xuất khẩu thủy hải sản chủ lực nhiều nước và khu vực trên thế giới. Người xem cũng không thể không thấy nhói lòng trước những hình ảnh tay ngư dân bị lở ngứa bởi chất nhớt màu vàng bám dính vào lưới, biển vắng tanh không ai dám tắm hay những lời ngậm ngùi từ bạn lặn của người thợ lặn xấu số Lê Văn Ngày, làm việc tại cảng Sơn Dương đã tử vong đột ngột vào ngày 24.4.2016…

Trong phóng sự, nhiều người dân trả lời phỏng vấn đã cáo buộc: “Chính Formosa là nguyên nhân gây ra tai họa cho cái chết của cá”. Theo kênh PTS, Formosa Hà Tĩnh được đầu tư bởi Formosa Đài Loan (70%), China Steel (25%), Tập đoàn thép Nhật Bản JFE (5%). Phóng sự cũng đưa ra nghi vấn về thông tin thủy triều đỏ gây nên nạn cá chết và nhận định điều này chưa đủ sức thuyết phục.

Không chỉ thực hiện tại VN, phóng sự VN cái chết của cá còn phát hình ảnh những cuộc biểu tình tại Đài Loan yêu cầu chính quyền sở tại có động thái làm rõ và xử lý trách nhiệm nếu có liên quan đến vụ cá chết. Tham gia biểu tình có cộng đồng Việt tại Đài Loan và cả người bản xứ. Trong đó, nhiều người Đài Loan đòi chính quyền Đài Bắc phải đối diện giải quyết vấn đề ô nhiễm biển cho người dân VN. “Trước đây khi công ty Mỹ sang Đài Loan đầu tư đã gây ô nhiễm nghiêm trọng tới đất đai Đài Loan, khiến người dân xứ Đài phải chịu nhiều suy giảm sức khỏe nghiêm trọng. Chúng ta đã thấm thía nỗi đau đó, vậy đừng để nỗi đau này chuyển sang với người dân VN”, một thanh niên Đài Loan tham gia biểu tình thẳng thắn nói.

Bên cạnh đó, phóng sự cũng ghi lại cuộc họp báo ngày 16.6 tại Đài Bắc do một nhóm nghị viên thuộc đảng Dân Tiến cầm quyền (DPP) phối hợp với nhiều nhà hoạt động môi trường tổ chức nhằm kêu gọi chính quyền thắt chặt các quy định về môi trường đối với doanh nghiệp Đài Loan khi đầu tư ra nước ngoài đồng thời yêu cầu Formosa chịu trách nhiệm xã hội nếu bị chứng minh gây ô nhiễm biển ở VN.

H1

H1

H1

H1Một số hình ảnh trong phóng sự. Ảnh: PTS/Chụp từ clip

Ảnh hưởng chính sách

Trong phóng sự, PTS cũng đề cập quan ngại rằng nếu vụ cá chết không được giải quyết rốt ráo thì sẽ gây tác động xấu tới chính sách “Hướng nam mới” của lãnh đạo Thái Anh Văn. Chính sách này nhấn mạnh về chuyển đổi mô hình kinh tế Đài Loan nhằm phát triển hợp tác với ASEAN và 6 nước Nam Á, được bà Thái đề ra từ tháng 9.2015 và đặc biệt nhấn mạnh trong lễ nhậm chức ngày 20.5.2016.

Phóng sự dẫn lời nghị sĩ viên Tô Chí Phần của DPP nhận định, nếu chính quyền mới của Đài Loan không giải quyết một cách thận trọng trước bức xúc lan rộng của cộng đồng người Việt thì sẽ không thể khép lại hệ lụy. “Formosa không được xã hội tin tưởng chính vì Formosa không quan tâm tới trách nhiệm xã hội, phớt lờ những ngờ vực của người dân địa phương về vấn đề ô nhiễm công nghiệp, từ đó đã làm vấy bẩn cả hình ảnh của doanh nghiệp này,” bà Tô nói. Vị nghị viên cảnh báo thêm nếu không thận trọng đối diện với những nghi vấn của xã hội VN đối với ô nhiễm biển thì những chính sách của Đài Loan sẽ gặp nhiều trở ngại. “Chính quyền mới của Đài Loan cần chủ động đối mặt với sự kiện cá chết tại VN, thậm chí cần thúc giục Formosa và nhanh chóng thành lập đoàn điều tra nhiều thành viên”, bà Tô tuyên bố.

Trong khi đó, nghị viên Ngô Côn Dụ kêu gọi chính quyền Đài Loan thực hiện chính sách “láng giềng tốt” và cung cấp các hỗ trợ cần thiết để điều tra nguyên nhân ô nhiễm biển ở miền Trung VN. Ông khẳng định thêm rằng các công ty Đài Loan cần nghiêm khắc tự áp dụng các “tiêu chuẩn cao” trong sản xuất. “Formosa và China Steel cần có trách nhiệm xã hội, phải chủ động làm rõ việc Formosa Hà Tĩnh có liên quan đến hiện tượng ô nhiễm biển VN hay không”, ông Ngô nhấn mạnh.

Ngoài ra, Chủ tịch Hiệp hội Luật gia môi trường Đài Loan Trương Dụ Doãn cho rằng quá trình xem xét đầu tư của Đài Loan cần được sửa đổi để thúc đẩy các tập đoàn đang hướng về phía nam thực hiện trách nhiệm xã hội của mình và hành động như một phần của cộng đồng quốc tế tốt đẹp. Đồng thời ông cũng nhấn mạnh chính quyền Đài Loan cần can thiệp và đảm bảo rằng doanh nghiệp vùng lãnh thổ này đạt được các tiêu chuẩn quốc tế về môi trường, nhân quyền và lao động.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

. VIỆT NAM TỨ BỀ THỌ ĐỊCH – NẾU KHÔNG LIÊN MINH VỚI MỸ SẼ MẤT NƯỚC VỀ TAY TRUNG QUỐC TRONG NAY MAI

. VIỆT NAM TỨ BỀ THỌ ĐỊCH – NẾU KHÔNG LIÊN MINH VỚI MỸ SẼ MẤT NƯỚC VỀ TAY TRUNG QUỐC TRONG NAY MAI

Posted by adminbasam on 26/06/2016

FB Trần Mạnh Hảo

25-6-2016

Nước Nga của “đại đế” Putin đã chính thức ủng hộ Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông, như một mũi dao đâm sau lưng “bạn vàng Việt Nam” một thuở.

Chưa hết, hai “ông em ruột” của Việt Nam là Lào và Cămphuchia cũng đứng hẳn về phía Trung Quốc, gián tiếp ( ngầm) ủng hộ đường lưỡi bò của bọn giặc Trung cộng…

Than ôi, Việt Nam từng moi ông Hunsen từ trong túi quần của bè lũ Pôn Pốt để dựng ông này lên thành “lãnh tụ” hôm nay, hi sinh cả mấy vạn sinh mạng “bộ đội tình nguyện” và tiêu tốn hàng tỉ đô la cho chế độ bạn vàng Hunsen để hôm nay ông này thọc lưỡi dao Trung Quốc vào sườn tây nam đất nước.

Việt Nam cũng đã hi sinh nhiều vạn “bộ đội tình nguyện” và hàng tỉ đô la từ kháng chiến chống Pháp đến hôm nay cho nước Lào đỏ. Nay Lào miệng thì vẫn hô Việt Nam là ruột thịt số một, nhưng đứng hẳn về phía Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông, gián tiếp thọc lưỡi dao vào sườn Tây tổ quốc.

Nếu Trung Quốc phát động chiến tranh đánh cướp đảo và đất liền Việt Nam, chắc chắn hai “ông em ruột” Miên – Lào sẽ cho Trung Quốc mượn đất và hợp tác với giặc Tầu bao vây toàn diện nước ta, hòng cho Việt Nam vào rọ thép không đường thoát.

Như vậy , chiến lược ngoại giao của nhà nước Việt Nam : “ làm bạn với tất cả các nước, không liên minh với nước này để chống lại nước khác” đã hoàn toàn thất bại.

Chưa bao giờ Việt Nam bị cô lập như bây giờ, hoàn toàn không có “bạn vàng” hoặc ông lớn nào giúp đỡ bảo vệ khi Trung Quốc tiến đánh.

Cũng chưa bao giờ vận mệnh dân tộc, tổ quốc nguy nan, nghìn cân treo sợi tóc như hôm nay. Buộc người dân yêu nước phải lo lắng và lên tiếng.

Rằng đúng như lời ông Lê Duẩn ( kẻ chống Trung Quốc triệt để nhất) đã nói đại ý : Trung Quốc không chỉ là kẻ thù truyền kiếp của cha ông ta trong quá khứ mà còn là kẻ thù nguy hiểm nhất mãi mãi về sau vì nó không bao giờ bỏ mộng chiếm Việt Nam và toàn bộ Đông Nam Á…

Nhìn vào những diễn biến gần đây trên Biển Đông và trong nước, không cần nhậy cảm cũng có thể biết Trung Quốc sẽ tiến đánh Việt Nam trong nay mai, hòng chiếm tất cả các đảo Trường Sa của Việt Nam, cấm Việt Nam và thế giới bay vào vùng trời lưỡi bò của chúng vẽ ra, trong thời cơ thuận lợi Mỹ đang bận bầu cử tổng thống.
Ngày 17-2-1979 Trung Quốc đã mang hàng chục vạn quân bất ngờ đánh vào dọc tuyến biên giới phía Bắc nước ta nhưng bạn vàng Liên Xô ( ngầm ký kết liên minh quân sự với Việt Nam) vẫn bình chân như vại, không hề làm động tác giả động binh trên biên giới Xô – Trung.

Trong thời gian cuộc chiến tranh chống Trung Quốc xâm lược ấy, hàng trăm, thậm chí hàng nghìn bài báo chống Trung Quốc, vạch ra cơ man tội ác của bọn xâm lược phương Bắc với nước ta được in trên các báo : Nhân Dân, Quân Đội nhân dân, Công an nhân dân, Tiền Phong, Hà Nội mới, Sài Gòn giải phóng…

Rằng chính Trung Quốc đã phá hỏng cuộc kháng chiến chống Pháp của ta. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Pháp gần như phải hàng thì Trung Quốc ép ta ký hiệp định đình chiến Geneve, đến nỗi ngoại trưởng Phạm Văn Đồng phải vừa khóc vừa ký…Như vậy Việt Nam đâu phải quốc gia độc lập ? Độc lập sao được khi ta đã thắng giặc Pháp sau Điện Biên Phủ, Pháp sắp đầu hàng, lại phải khóc nghe lệnh Trung Quốc ký hiệp định Geneve chia đôi đất nước ?

Rằng trước ngày 30-4-1975, khi Sài Gòn bị Cộng quân bao vây tứ phía, Trung Quốc vẫn nhờ sứ quán Pháp móc nối với ông Dương Văn Minh, hứa nếu ông Minh lên tiếng yêu cầu, Trung Quốc sẽ cho triệu quân đổ bộ vào Sài Gòn cứu Việt Nam cộng hòa, đánh tan năm cánh quân Việt cộng đang bao vây đô thành…

Trung Quốc rất sợ Việt Nam thống nhất, chúng muốn bắt Bắc Việt làm lính đánh thuê cho chúng mãi mãi như lời Mao Trạch Đông : “ chúng ta sẽ đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”. Ông Lê Duẫn cũng từng nói toẹt ra : “Chúng ta đánh Mỹ cho Liên Xô và Trung Quốc”.

Chiến lược ngoại giao của đảng CS VN từ những năm 50 của thế kỷ trước dựa hẳn vào Liên Xô Trung Quốc, tự mình chui vào cái rọ của chúng, được chúng nuôi bằng quá nhiều tiền, dùng tiền để sai khiến, đưa máu Việt Nam ra làm phương tiện cho mục đích bá quyền của hai đế quốc Xô-Trung đã hoàn toàn thất bại.

Trung Quốc ngay từ thời “Trung Hoa Dân quốc” trước năm 1949 của Tưởng Giới Thạch đã vẽ bản đồ lưỡi bò, toan tính chiếm hết Biển Đông của mấy nước Đông Nam Á : Việt Nam, Philippin, Indonesia, Malaisia…

Năm 1949, Mao Trạch Đông chiến thắng Tưởng Giới Thạch, tiếp nhận bản đồ lưỡi bò của Tưởng, nhất quyết chiếm Biển Đông. Bọn Hán tặc mới này biết rằng nếu vẫn để Mỹ đứng chân ở miền Nam Việt Nam thì mãi mãi chúng không dám xía vào vùng biển mà chúng gọi là lưỡi bò này.

Phải tìm cách đuổi Mỹ đi nên Mao đã chọn Việt Nam làm con bài, chọn xương máu Việt Nam để thực thi ý đồ chiến lược của chúng là chiếm Việt Nam và chiếm toàn bộ Đông Nam Á, bằng cách bày ra trò “giải phóng miền Nam” để Việt Nam làm tiên phong trên bàn cờ bá quyền của chúng. Chúng viện trợ hết cỡ cho Việt Nam, bốc các ông lãnh đạo CS VN là anh hùng thời đại, dám đánh Mỹ cứu mình và cứu thế giới. Do đó Tố Hữu mới làm thơ như sau : “ Ta vì ta ba chục triệu người / Cũng vì ba ngàn triệu trên đời”, “Vui sướng bao nhiêu trên tuyến đầu diệt Mỹ”…

Năm 1973 Mỹ rút quân khỏi Nam Việt Nam. Năm 1974, Trung Quốc chiếm đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Lúc này Mỹ đã chơi con bài Trung Quốc để bao vây Liên Xô; vì Mỹ đã thua con bài Trung Quốc là Việt Nam : đánh mãi không thắng !

Không thực hiện được việc chia đôi đất nước Việt Nam vĩnh viễn, Trung Quốc vô cùng căm thù ban lãnh đạo Việt Nam dám thống nhất đất nước, bèn dùng bọn tay sai Pôn Pốt, Iêng xa ri , sai bọn ác ôn Cămpuchia này mở cuộc chiến tranh đánh vào sườn Tây Nam đất nước gây bao tang thương chết chóc cho nhân dân Việt Nam.

Trung Quốc dìm Việt Nam trong biển máu chiến tranh với Khơ me đỏ, để năm 1979 chúng tổng tấn công, đánh toàn diện biên giới phía Bắc gây ra núi xương sông máu cho nhân dân Việt Nam. May mà cuộc chiến tranh biên giới năm 1979, Việt Nam chống cự mãnh liệt, khiến Trung Quốc của Đặng Tiểu bình bị thiệt hại quá mức nên chúng phải rút.

Năm 1990, thấy tình hình cộng sản Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, Việt Nam bí mật “hàng” Trung Quốc bằng hiệp ước Thành Đô mờ ám…Trung Quốc chỉ dùng vũ khí có tên là chủ nghĩa cộng sản mà không cần dùng xương máu đã thâu tóm được Việt Nam trong cái thòng lọng có tên là “ bốn tốt và mười sáu chữ vàng”…

Năm 1988, Trung Quốc chiếm đảo Gạc Ma của Việt nam ( là một đảo lớn trên quần đảo Trường Sa của VN)…Đoạn, Trung Quốc liên tục chiếm các đảo đá ngầm bồi đắp đất làm các đảo nhân tạo trên vùng biển của Việt Nam, đưa máy bay và vũ khí ra các đảo mới chiếm tuyên bố sẽ mở vùng nhận dạng phòng không ( ADIZ) trên biển Đông, khóa hẳn đường ra biển của Việt Nam. Mối quan hệ hữu hảo giữa Việt Cộng và Trung cộng hiện nay chỉ bằng lỗ miệng, còn thực chất vẫn là chiến tranh ngầm, chiến tranh không tuyên bố…

Giờ đây, việc Trung Quốc sắp mở vùng nhận diện phòng không trên Biển Đông sẽ là lời tuyên chiến với Việt Nam.

Việt Nam không liên kết với Mỹ, sẽ mất nước trong nay mai. Nếu không có Mỹ liên tục đưa tàu đến Biển Đông để tuần tiễu, Việt Nam đã bị bạn vàng Thành Đô là bọn xâm lược Trung Quốc chiếm lâu rồi.

Sài Gòn ngày 25-6-2016

T.M.H.

H11- Con tem của Việt Nam 1954, chiến lược gắn kết VN với hai siêu cường cộng sản của đảng CS VN đã hoàn toàn thất bại, gây hiệu ứng ngược. Ảnh: internet

H12- hình Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng cùng với bạo chúa Giang Trạch Dân, Lý Bằng ký kết hiệp định Thành Đô 1990.

H13- Lời Mao Trạch Lươn quyết chiếm trọn biển đông và chiếm hết các nước Đông Nam Á.

_____

Người Buôn Gió

Tứ bề thọ địch

24-6-2016

Tại hội nghị Shangri-La vừa qua, ngay sau buổi họp song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc mà ông Nguyễn Chí Vịnh gọi là tốt đẹp hữu hảo, ngay sau khi bước ra khỏi buổi họp và công bố vậy. Ông Vịnh mới được biết Trung Quốc rải truyền đơn tố cáo Việt Nam xâm lược biển đảo của Trung Quốc.

Một cách trắng trợn, Trung Quốc đã đưa Việt Nam vào thế bẽ bàng, từ người bị xâm lược thành người đi xâm lược.

Tại hội nghị này, Việt Nam cũng không hề lên tiêng cáo buộc Trung Quốc xâm lược biển đảo của mình, không khẳng định mình là nạn nhân. Việt Nam kiên quyết theo đuổi đường lối 3 không, một đường lối khiến dư luận hoài nghi rằng, phải chăng có vấn đề gì đó giữa Việt Nam và Trung Quốc dẫn đến Việt Nam ôn hoà như vậy.

Hai nước đồng minh thân cận sát sườn của Việt Nam là Lào và Căm Pốt đã âm thầm quay sang ủng hộ Trung Quốc trong vấn đề biển Đông. Vì những món lợi riêng mà Trung Quốc bỏ ra mua chuộc hai quốc gia này, khiến họ ngoảnh mặt với thiệt hại của người anh em Việt Nam, hay từng là anh em.

Lào và Căm Pốt không có tranh chấp gì trên biển Đông, cái gì lợi cho quốc gia họ thì họ làm. Truyền thống quan hệ được ca ngợi là keo sơn, gắn bó, thuỷ chung son sắt như tay với chân chẳng hề có ở đây. Không ủng hộ Việt Nam đã đành, nhưng còn những điều đáng sợ khác xa hơn là có thể hai nước Lào , Căm Pôt sẽ cho Trung Quốc nhờ địa hình của mình để triển khai các áp lực khác vào Việt Nam. Bộ trưởng quốc phòng Việt Nam Ngô Quang Lịch đã phải bỏ hội nghị Shangrila để có chuyến đi cấp tốc sang Căm Pốt để ngỏ lời mong muốn Căm Pốt tiếp tục giữ truyền thống láng giềng tốt đẹp, không có những động thái bất lợi cho Việt Nam trên bộ. Có nghĩa Việt Nam chẳng còn hy vọng gì việc Căm Pốt ủng hộ Việt Nam ở biển Đông, chỉ mong sao không gây phiền toái gì trên bộ đã là may lắm rồi.

Với Căm Pốt hy vọng kéo lại gần Việt Nam gần như xưa đã tan tành mấy khói, rút kinh nghiệm bài học này. Trong vòng tháng 6, quan hệ Việt Lào được gia tăng bởi nhiều cuộc gặp cấp cao. Từ việc chủ tịch nước Trần Đại Quang sang thăm Lào, bộ trưởng quốc phòng Lào sang thăm Việt Nam và gặp TBT Nguyễn Phú Trọng, thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tiếp bộ trưởng đầu tư của Lào…một loạt các nhà lãnh đạo Việt Nam ra sức ve vãn, níu kéo Lào trên mọi phương diện từ kinh tế, chính trị, quân sự….tất cả động thái này xảy ra sau hội nghị Shangrila. Như thế, chứng tỏ Việt Nam bị thụ động và bất ngờ ngay từ phía đồng minh thân cận của mình. Khi thấy Lào ngả về Trung Quốc ở Shangrila mới choàng tỉnh chạy đua ve vãn Lào, kiểu nước đến chân mới nhảy.

Trong cuộc tiếp xúc với bộ trưởng quốc phòng Lào tại Việt Nam, chủ tịch nước Trần Đại Quang đã phải hạ giọng cầu khẩn Lào, nếu có phát biểu gì về biển Đông, xin hãy nói qua với Việt Nam trước.

Từ thái độ của hai nước Lào và Căm Pốt gần đây, dễ thấy hình ảnh Việt Nam đang bạc nhược , thụ động và lúng túng khi đối phó giải quyết các vấn đề quyền lợi của mình trong khu vực. Khẳng định chủ quyền của Việt Nam trở thành đơn độc bởi ba nước láng giềng tiếp giáp mà Việt Nam coi như là anh em , nay đã quay ngoắt lại không những chẳng ủng hộ Việt Nam mà còn có thái độ , hành động gây phương hại.

Và một khi Việt Nam đã ở cảnh như vậy, Trung Quốc còn chờ gì mà không gia tăng các hành động quân sự ở biển Đông để nhanh chóng đạt được tham vọng của mình. Hầu như trong khu vực đường lưỡi bò bây giờ, Trung Quốc chỉ lo ngại Phi Luật Tân bởi người đồng minh lớn của Phi là Hoa Kỳ đứng đằng sau hỗ trợ.

Phía Việt Nam hy vọng rằng Trung Quốc sẽ mạnh tay với Phi và sa lầy vào cuộc chiến với Phi và Hoa Kỳ. Nhờ đó Việt Nam sẽ bớt bị áp lực của Trung Quốc hơn.

Một hy vọng của những kẻ yếu hèn, trông chờ may rủi ngẫu nhiên.

Trung Quốc sẽ lợi dụng điều này, họ sẽ đưa nhiều tàu chiến, phi cơ, quân đội đến biển Đông với lý do đối chọi với Hoa Kỳ, mặt khác họ dùng ý thức hệ để ru ngủ Việt Nam rằng Hoa Kỳ là kẻ thù của Đảng CSVN, Hoa Kỳ đang muốn gây ảnh hưởng ở biển Đông và đó là mối nguy cho chế độ Cộng Sản.

Nhưng khi quân đội, tàu chiến, phi cơ của Trung Quốc tràn ngập biển Đông rồi, một cuộc chiến với Phi và Hoa Kỳ sẽ đưa họ đến đâu. Trong khi đó, đơn giản với điều kiện quân đội sẵn có trên biển như vậy, Trung Quốc quay ra làm gọn nốt những phần của Việt Nam mà Trung Quốc cho rằng Việt Nam đã xâm lược của họ. Thế chẳng phải dễ hơn không. Việt Nam không có đồng minh nào, lại bị các nước lân bang như Lào, Cam không ủng hộ.

Lúc như thế mà không thanh toán nốt Trường Sa thì lúc nào Trung Quốc mới thanh toán?

Việt Nam đang lại trong những khủng hoảng trầm trọng như nhiễm độc biển miền Trung, hạn hán Tây Nguyên, xâm nhập mặn Tây Nam Bộ, ngân sách cạn kiệt đối mặt với việc không có tiền trả nợ, trả lãi nợ công. Nội bộ suy yếu và chia rẽ bởi những cuộc thanh toán nhau  dưới cái gọi là ” xây dựng đảng ”…tinh thần dân tộc giữ chủ quyền bạc nhược đến nỗi ngay cả cán bộ cấp cao phát ngôn ” đời này không đòi được thì để đời sau con cháu ta đòi”. Khả năng chiến đấu tồi tệ đến mức phi cơ quân sự rụng liên tiếp không có lý do ngoài biển cả trên bờ.

Kịch bản đơn giản, Trung Quốc sẵn quân ngoài biển Đông như vậy, tiến hành cuộc tấn công chớp nhoáng lên Trường Sa. Tiêu diệt quân Việt Nam đóng ở đó như đã từng làm ở Gạc Ma, bắt sống số còn lại  mang về Trung Quốc làm tù binh. Chiếm đóng quân sự hết quần đảo Trường Sa mà Việt Nam giữ. Tất cả các tàu thuyền, phi cơ Việt Nam chớm có ý định từ ven biển Việt Nam ra đến khu vực đường lưỡi bò sẽ bị tiêu diệt.

Sau đó phủ dụ Việt Nam vào thế đã rồi, sa đà vào việc nhân nghĩa là đàm phán trao trả tù binh, đấu tranh trên mặt pháp lý, ngoại giao….đồng thời trợ cấp cho ĐCSVN một số tiền để họ trang trải , giải quyết khủng hoảng trong nước. Phần dư luận quốc tế thì rõ ràng Việt Nam đã bị cô lập, phần dư luận trong nước sẽ có ban tuyên giáo của đảng CSVN vỗ về đám dân chúng vốn đã quá bạc nhược và cơ hội. Lực lượng thứ tư nghiêng về Trung Quốc chính là ý thức hệ cộng sản nằm trong đảng cộng sản Việt Nam, quân đội Việt Nam.

Như vậy nói đất nước Việt Nam tứ bề thọ địch không ngoa, có thể liệt kê là Trung Quốc là kẻ thù chính, hai kẻ anh em phản lại mình là Lào và Căm Pu Chia, bọn thứ tư chính là đảng viên CSVN đang béo mẫm và sung túc muốn kéo dài sự yên bình để chúng hưởng thụ.

Một khả năng hình như đang xảy ra, là Việt Nam đã nhường toàn phần kiểm soát biển cho Trung Quốc từ đường lưỡi bò ranh giới phía Tây trở ra biển Đông và đường vĩ tuyến từ khoảng Tuy Hoà đổ lên phía Bắc. Nếu Trung Quốc không thoả mãn với sự nhường nhịn ngầm này của Việt Nam, không biết sự việc sẽ đi đến đâu?

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

NHỮNG LỜI TRAO ĐỔI CHÂN TÌNH

NHỮNG LỜI TRAO ĐỔI CHÂN TÌNH
của Cư sĩ Huỳnh Hình Trong


Th
ưa ông Thích Phước Tiến.

Lẽ ra tôi không thể xía vào chuyện nầy! Vì ông thuộc hàng xuất gia (mang dòng họ Thích). Nghe đâu ông có bằng tiến sĩ Phật học và hiện đang là một chức sắc khá quan trọng trong giáo hội Phật Giáo Việt Nam. Còn tôi với tục danh cư sĩ, chỉ là một tín đồ bình thường của đạo Phật Giáo Hòa Hảo, tôi không có một chức sắc nào trong Ban Trị Sự giáo hội Phật Giáo Hòa Hảo cả. Nhưng xét thấy giáo lý của Đức Phật Thích Ca luôn hàm chứa tinh thần từ bi và bình đẳng. Thuở Đức Phật còn tại thế, trong thành Tỳ Xá Ly có một người rất tinh thông Phật lý và hằng sùng kính Tam Bảo, đó là cư sĩ Duy Ma Cật. Khi nghe tin ông có bệnh, Đức Phật bảo các vị đệ tử lớn như các ông: Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, A Nan Đà, Ưu Ba Ly…đến thăm bệnh ông. Thế là cuộc gặp gỡ trao đổi, chia sẻ cho nhau về Phật lý rất hài hòa trong tinh thần cởi mở và bình đẳng giữa hai giới Tăng sĩ và Cư sĩ. Thế nên tôi xin được bình phẩm trong đề giải đáp của ông ít lời.
Vừa qua tôi có xem phần vấn đáp Phật pháp kỳ 25/2014 của ông tại Hoa Kỳ, với câu hỏi “ĐẠO HÒA HẢO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐẠO PHẬT KHÔNG ?”
Ông giải đáp với cử chỉ, ngôn ngữ và cặp mắt đảo trừng, khiến tôi vô cùng ngạc nhiên! Mình là hạng xuất gia mà! Là một nhà “Mô phạm” thì cần nên thể hiện đạo hạnh để treo gương từ tốn cho giới bạch y chớ! Ai làm ông bực mình mà biểu hiện thái độ thô kệch như thế?! Thật đúng là:
“Trong tâm vừa muốn mưa phiền
Thì là ngoại mặt cũng liền kéo mây”

Thanh Sĩ

Ông hãy để bầu trời tâm thanh lặng, sẽ thấy rõ nó là loại tâm thức nào. Do hướng nhìn biên kiến, kiến thủ mà ông đã bị rơi vào hang ổ của “Kiết sử phiền não” rồi. Tôi thuộc hạng cư sĩ tại gia, trong cuộc sống thường nhật ắt phải vất vả, tất bật hơn ông nhiều, luôn gặp phải những chướng duyên rắc rối, dễ sanh trái ý nộ lòng. Thế mà vẫn giữ được sự bình tĩnh, ôn hòa nhã nhặn đối với tha nhân là nhờ tôi biết kính vâng theo lời chỉ giáo của Đức Huỳnh Giáo Chủ:
“Ngôn từ đạo hạnh ý Thầy khuyên
Hạnh đức ân cần rán tập chuyên”
“ Lựa lời tiếng dịu dàng trong sạch
Khi thốt ra đoan chánh hiền từ”

Trở lại ý nghĩa trong lời giải đáp, ông nói rằng: “Hòa Hảo là Hòa Hảo, Phật giáo là Phật giáo… đó là chuyện của riêng họ”. Ông nên hạ giọng thấp xuống đi! thấp xuống nữa! ông lấy quyền gì mà thốt lối cao giọng ấy? Phật giáo chẳng của riêng ai. Chính Đức Thế Tôn đã từng bảo: “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh” kia mà. “Không có giai cấp khi giọt mồ hôi đều mặn và dòng máu cùng đỏ”. Thế nên, Đạo Phật không riêng gì của người Ấn Độ, mà được du nhập phổ truyền rộng khắp trên thế giới.
Đạo PGHH ảnh hưởng giáo lý đại thừa của Đạo Phật. Xem nhẹ hình thức, không chạy theo “âm thinh sắc tướng”. Đặc biệt chú trọng tâm linh, Đức Huỳnh Gíao Chủ đã dạy: “Sự đầu tiên của người hành đạo là cốt sửa những tư tưởng, tìm cách đánh đuổi tư tưởng xấu xa, đem thay vào những tư tưởng ôn hòa đạo đức”.

Dù có thờ Phật, lễ Phật (lễ Phật giả, kỉnh Phật chi Đức). Nhưng thờ đơn giản cho lòng tin trở lại tâm hồn, cũng không ỷ lại vào sự hộ trì của Ngài, mà trọng yếu là “Trong việc tu thân xử kỷ”. Đức Huỳnh Gíao Chủ đã bảo: “Sự lễ bái không đủ cho ta tỏ ra là một tín đồ chân thành của đạo Phật được”. Tại sao vậy ?
“Vì Đức Phật chẳng bao giờ ngỏ ý rằng, “các người hãy lạy thờ ta cho nhiều, rồi ta sẽ độ giúp các người” mà trái lại, Ngài dạy rằng: “Các người nên hiểu biết phận sự của con người phải làm gì trong kiếp sống và tìm kiếm chân tánh của mình”. Thiệt hành theo giáo lý của Ngài thì Ngài sẽ hướng dẫn và ủng hộ vậy.

Ta hãy đem đức tin trong sạch mà thờ kỉnh Phật và hãy đem lòng lành mà hành động y theo lời phán dạy của Phật.
Nếu ta cứ đem đức tin thờ phượng tôn giáo bằng cách sai lầm thì rất có hại cho đời mạng của ta. Như vậy chỉ tỏ ra một người mê tín. (Mặc dầu đạo của ta thờ là một đạo rất chánh đáng)”.
Thuở xưa, Đức Thích Ca Mâu Ni Phật ngồi thiền quán và chứng đạo dưới cội cây Bồ Đề, Ngài đã khám phá ra một sự thật vô cùng quan trọng mà trước kia chưa từng ai biết. Qua sự lược tả của Đức Huỳnh Giáo Chủ sau:
“Ngài bèn xét ở trong Phật chủng
Các chúng sanh đều có như ta
Bị vô minh vọng tưởng vạy tà
Nên quay lộn Ta Bà cõi khổ”.

Với tâm huyết của
Đức Huỳnh Giáo Chủ là:
“Ta quyết lòng nhắc lại tánh xưa”
“Nhàn thanh tìm kiếm kiếm nơi tâm,
Phật cũ ngày xưa hãy rán tầm”.

(tức Phật tánh).
Trở lại với Phật tâm, phụng vâng theo Phật ngôn, ứng dụng theo Phật trí, sống hòa nhập trong cuộc đời, đó là giáo lý Học Phật, Tu Nhân”
Công cuộc của
Đức Huỳnh Giáo Chủ là:
“Chấn hưng Phật giáo học đường
Dưới trên hòa thuận chọn đường qui nguyên”

Người tín đồ PGHH đã ý thức và tin chắc được pháp tu của mình và thực hành:
“Lấy tâm Phật đạo hành nhân đạo
Nhân đạo hoàn thành Phật đạo siêu”

Thanh sĩ

(Đây chỉ sơ lược về pháp Học Phật (khế lý) Tu Nhân (khế cơ). Còn về sứ mạng của Đức Huỳnh Giáo Chủ vâng sắc lịnh của Phật,Trời thì người tín đồ đạo PGHH ai ai cũng đều tin nhận)
Để đem đạo Phật ứng dụng vào cuộc đời, ĐứcThầy dạy: “Điều cần yếu là phải làm hết các việc từ thiện, tránh tất cả điều độc ác. Quyết rửa tấm lòng cho trong sạch”. Đây là những pháp tu thiết thực, rất vững chãi trên bước đường tự lợi, lợi tha gồm đủ ngũ thừa Phật Giáo:Tứ Ân,ThậpThiện,Tứ Diệu Đế,Thập Nhị Nhân Duyên, Tứ Vộ Lượng Tâm…v.v…
Trong kinh Đức Phật dạy:
“Chư ác mạc tác
Chúng thiện phụng hành
Từ tịnh kỳ ý
Thị chư Phật Giáo”

Lời của Đức Huỳnh Giáo Chủ rất đúng theo ý chỉ bài kệ nêu trên. Có điểm nầy Thích Phước Tiến nên xét rõ ra, nếu không thì ông chẳng thể thấy hết toàn thân của con voi đâu. Ông bảo rằng: “Riêng lấy câu niệm Phật Di Đà”, có ý phân biệt nhỏ nhen quá đáng! Ông phải chỉnh lại: “Chung lấy câu niệm Phật Di Đà” mới thật đúng tính cách đại đồng của Chư Phật. Bởi vì pháp môn Tịnh Độ do chính Kim khẩu của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật thuyết gồm có 3 kinh: Vô Lượng Thọ, nói về hạnh nguyện của Đức Phật A Di Đà. Quán Vô Lượng Thọ, quán niệm cảnh giới Tây Phương Tịnh Độ. A Di Đà Kinh Đức Phật thuyết rõ về Tín, Nguyện, Hạnh là Tông chỉ của môn Tịnh Độ, mà pháp thực hành trì danh niệm Phật lại rất khế cơ.
Thế nên trong kinh Đức Phật dạy: ‘Này Xá Lợi Phất! Nếu có gã thiện nam, người thiện nữ, nghe nói đến Phật A Di Đà, chấp trì Danh hiệu để niệm, hoặc 1 ngày, hoặc 2 ngày, hoặc 3 ngày..v.v…Đó là lời giáo hóa chung, không phân biệt nam nữ, trẻ già, tăng tục, trí ngu. Tóm lại Đạo Phật chẳng dành riêng cho ai cả.
“Học Phật phải rộng tình tế độ
Nói pháp cần phá bỏ chấp tâm
Phật riêng tế độ Phật lầm
Pháp còn có sự chấp tâm pháp tà”

Thanh sĩ
Như đã nêu trên, thì sự niệm phật, làm thiện phải cần nên khích lệ và hoan hỉ để cùng nhau chia sẻ công đức (tùy hỉ công đức). Ông nên biết rằng, họ niệm Phật là không để ý niệm vọng khởi tà quấy tức là “Tự Tịnh Kỳ Ý”. Họ làm từ thiện, là đúng nghĩa “Chúng Thiện Phụng Hành” đấy. Nếu đã làm thiện thì đâu có thân, khẩu, ý nào riêng làm việc ác được, thật đúng với câu “Chư Ác Mạc Tác”. Đó là điều ‘Thị Chư Phật Giáo” vậy.
Thích Phước Tiến, trong lời giải đáp ông nói: “Hòa Hảo chỉ mới đây thôi, khoản giữa đầu thế kỷ 20”. Rồi ông luận lòng vòng, sau cùng kết lại và nhấn mạnh với giọng nói khinh khỉnh: “Hòa Hảo nói mới chớ thật ra không mới gì cả”. Với giọng điệu đó cũng đủ thấy thâm ý của ông rồi ! Thôi thì sao cũng được do biên kiến cá nhân ông. Còn với tôi, nhìn theo trí Bát Nhã thì mới và không mới vốn không hai:
“Mới mà không mới
Không mới mà mới
Mới tức không mới
Không mới tức mới
Mới…
Không…
À! Vì nghe ông luận mới, không mới mà tôi chợt thấy ra việc này có liên quan đến ông. Tiện đây tôi xin hỏi ông tiến sĩ, có lẽ ông sẽ biết được.

Thuở Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật còn tại thế, chỉ có danh hiệu của Ngài là Thích Ca Mâu Ni Phật mà thôi. Các vị đại đệ tử“Thánh Tăng”,chẳng ai mang danh hiệuThích nầy,Thích nọ, chẳng thấy đâu ra được một người dù là Thích Mục Kiền Liên, Thích Ma Ha Ca Diếp, Thích A Nan Đà hay Thích Phú Lâu Na.v.v..

Trở lại PGVN hồi thời nhà Trần cũng thế. Phật Hoàng Trần Nhân Tông là sư tổ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử truyền pháp cho Pháp Loa, Pháp Loa truyền xuống Huyền Quang, lại chẳng thấy có Thích Pháp Loa hay Thích Huyền Quang nào cả. Vậy có phải Thích Phước Tiến là mới hơn các vị Thánh đệ tử hồi thời Đức Phật không? Thích Phước Tiến có phải mới hơn hồi phái thiền Trúc Lâm Yên Tử không?

Ngay cả giới bạch y hồi thời Phật cũng thế, một danh đức đã trải dài thời gian trên 25 thế kỷ mà gương sáng vẫn rạng ngời, đó là ưu bà tắc Tu Đạt Đa. Ông là một trưởng giả đại phú gia, lại có lòng nhân từ, thường xuyên cứu giúp những người cô độc, tật bệnh, nghèo nàn,..v.v…Được thời nhân tôn xưng hiệu danh là Cấp Cô Độc. Ông cũng là người đã trải vàng ra mua mảnh vườn của thái tử Kỳ Đà để cúng dường Đức Phật và chư Tăng, tạo nên ngôi tịnh xá Kỳ Hoàn. Thế mà, trọn đời ông chẳng thấy có một pháp danh nào khác.
Đến như ưu bà di, Mẫu Hoàng của vua A Xà Thế, được Đức Phật trực tiếp thuyết kinh Quán Vô Lượng Thọ, lại chẳng thấy pháp danh nào khác ngoài tên gọi Hoàng hậu Vi Đề Hy.
Này ông Thích Phước Tiến, ở đây tôi không luận mới hay không mới. Tôi thực lòng chỉ muốn tìm hiểu theo mốc thời gian từ Phật Hoàng Trần Nhân Tông, cho đến hiện thời là việc Thích Phước Tiến các tăng, ni được gắn danh họ “Thích” và đặt pháp danh cho Phật tử ở vào thời điểm nào ?

Tôi dẫn chứng dài dòng như thế để cho ông biết PGHH có liên quan gì đến Phật Giáo hay không. Tôi nói Phật Giáo chớ không phải PGVN. Nay Thích Phước Tiến mang họ “Thích” để mà lớn lối khinh miệt, xem thường Tông phái khác. Không nên đâu ông à!
Mời ông đọc bài thơ dưới đây để suy nghiệm.
PHẬT là giác ngộ cái chơn tâm
GIÁO đạo vô vi lý tuyệt trầm
HÒA hợp từ bi năng hỉ xả
HẢO cầu bác ái diệt thù thâm
NGUỒN tâm mãnh lực trừ tham ái
GỐC tánh oai hùng trị dục tâm
TỪ mẫn độ tha trong bá tánh
BI tràn lê thứ biết hồi tâm
Trong đề giải đáp của ông còn nhiều điều để nói lắm, nhưng tôi được nhớ ra một điều rất quan trọng, biết ông có nhớ hay không? Thôi thì để tôi nhắc lại. Trong Kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật bảo: “Mình đang tu một tông phái của Phật Giáo mà đã phá các tông phái khác là đang đi trên đường tà đạo”.
Lại nữa:
“Nói nhiều lắm xe lơi tình nghĩa
Chữ hiền lành trau triả cho xong”

Lời
Đức Huỳnh Giáo Chủ:

Đạo PGHH đã vượt qua bao ngổn ngang của lịch sử trước đây, hôm nay người tín đồ PGHH đang sống trong suối nguồn Từ Bi của chư Phật, sống vì tha nhân với tâm niệm:
“Tu không lợi ích thôn lân
Chữ tu ấy có ai cần làm chi”

Thanh sĩ
Trái lại, sống với học vị, lợi danh bản ngã lẫy lừng chồng chất mới không phải là Phật Giáo đấy, ông Phước Tiến ạ!.
Tôi rất tâm đắc về câu chuyện một vị Thầy khai ngộ cho đệ tử như sau: “Con đã tốt nghiệp ở trường nầy, trường nọ rất tốt. Nhưng có một trường mà không bao giờ con tốt nghiệp, đó là trường học làm người đấy con ạ!”
Này ông Phước Tiến, tôi xin được kề tai nói nhỏ với ông. Trong lời đáp ông nói có: “Một người nào đó”. Nghe qua rất là mơ hồ, điều đó chứng tỏ ông không biết gì về đạo PGHH cả. Tôi đề nghị ông nên về miền Tây Nam Bộ hỏi bất cứ người tín đồ PGHH già trẻ, nam nữ nào cũng đều được giải đáp ân cần cho ông hiểu rõ về vị Giáo Chủ siêu phàm khai sáng mối Đạo nầy. Hầu sau nầy có gặp những câu hỏi tương tự ông sẽ khỏi phải lúng túng, trái lại còn bình tĩnh giải đáp rõ ràng, đúng chánh pháp hơn, khi có đủ thông tin.
Đức Huỳnh Giáo Chủ đã giải thích cái khối tình Đạo Phật bao la vô ngằn mé như sau:
“Vả lại, cái tình ấy, nó không bến không bờ, không phân biệt màu da, không phân biệt chủng tộc, nó cũng không luận sang hèn và xóa bỏ hết các tầng lớp đẳng cấp xã hội, mà chỉ đặt vào một nhân loại chúng sanh”
Và Ông Thanh Sĩ cũng theo đó mà nêu cao và nhắc nhở mọi người:
“Phật Giáo vốn đại đồng nhơn loại
Hòa Hảo cùng thế giới năm châu
Đó là chơn lý đạo mầu
Xin đừng đem dạ chấp câu hẹp hòi”

Có qui ngưỡng và thực hành theo tinh thần quảng đại như thế, chúng ta mới mong đáp đền phần nào ơn Tam Bảo một cách thiết thực vậy. Mong thay!

Chào đoàn kết.

TP. Cần Thơ, ngày 01. 01. 2016
Huỳnh Hình Trong

Lần sửa cuối bởi TTT, ngày 01-14-2016 lúc 01:29 AM.

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ Không Hề Phản Quốc

ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ

Không Hề Phản Quốc

“KHÁNG LUẬN” quyển Tây Nam Bộ 30 năm kháng chiến (1945-1975) do Ban biên tập truyền thống Tây Nam Bộ xuất bản tháng 12 – 2000


Các bằng hữu thân mến!

Đọc lại di cảo của anh Nguyễn Văn Đon mà thấy lòng bùi ngùi chua xót quá! Vì có những tác phẩm gần 15 năm chưa có dịp ra mắt bạn đọc xa gần cùng đồng đạo khắp nơi đang ngưỡng mộ anh.
Nay chúng tôi hết sức cố gắng để cho ra đời những gì mà “con tằm đã nhả sợi tơ lòng” cống hiến cho đời, cho đạo, nay đã “an lòng theo số phận” ra đi về miền vĩnh cửu.
Mong rằng chúng ta sẽ đón nhận với tấc lòng cởi mở, khoan dung; mặc dầu có một vài điểm sẽ nghịch ý chúng ta. Là phàm nhân có ai hoàn hảo hết đâu, các bạn nhỉ!

Chúc các bạn thành công trên đường đời, đường đạo.

Cù Lao Ông Chưởng, đầu Xuân Bính Thân (2016).
Hoàng Thụy Như Liên

NGUYÊN VĂN QUYỂN TÂY NAM BỘ 30 NĂM KHÁNG CHIẾN (1945-1975)

TRÍCH MỤC 5- ( Y NGUYÊN VĂN).
* Dẹp bọn gây bạo loạn, phá hoại. “Sau khi khởi nghĩa thành công, Huỳnh Phú Sổ cầm đầu giáo phái Hòa Hảo ngang nhiên đòi Ủy Ban Nhân Dân Nam Bộ phải giao cho y 7 tỉnh miền Tây. Một số chức sắc Hòa Hảo ở Long Xuyên, Châu Ðốc, Cần Thơ cũng lên tiếng đòi được giữ chức vụ then chốt trong bộ máy chánh quyền mới.
Trước những đòi hỏi vô lý đó, ta đã giải thích chi họ cần phải góp sức xây dựng đất nước, ai xứng đáng sẽ được nhân dân bầu cử.
Huỳnh Phú Sổ có bọn phòng nhì mật thám cũ và mới góp sức, sử dụng tín đồ Hòa Hảo chống lại cách mạng, toan tính gây bạo loạn, cướp chính
quyền ở tỉnh Long Xuyên, Châu Ðốc, Cần Thơ. Vì nơi đây có đông đủ tín đồ Hòa Hảo.
Ngay cuối tháng 8 – 1945, khởi nghĩa thắng lợi vừa được vài ngày, bọn phản động cầm đâu Hòa Hảo ở Long Xuyên huy động hàng nghìn tín đồ từ Lấp Vò, Chợ Mới kéo vào thị xã, biểu tình tuần hành, bề ngoài lợi dụng danh nghĩa chào mừng cách mạng thành công, nhưng thực chất để cướp chính quyền.
Lực lượng tự vệ Long Xuyên có cộng hòa vệ binh tỉnh Châu Ðốc chi viện, đã kịp thời chận hành động của chúng, làm thất bại âm mưu bạo loạn của
bọn cầm đầu.
Sang tháng chín năm 1945, bọn phản động lại huy động tín đồ tiến hành biểu tình ở thị xã Châu Ðốc với mục tiêu như trên. Ta đã bố trí lực lượng vũ trang kịp thời giải tán.
Ngày 5-9-1945, Bộ tham mưu của Huỳnh Phú Sổ vạch kế hoạch cướp chính quyền ở thị xã Cần Thơ. Chúng huy động tín đồ mang theo cây roi, gậy gộc “đi rước Ðức Thầy” nhưng thực chất dùng lực lượng đông đảo tín đồ để cướp chính quyền tỉnh dự định vào ngày 9-9-1945. Các lực lượng vũ trang của chúng ở các tỉnh phía Bắc sông Hậu, tập trung tại Tổng hành dinh Cái Vồn. Số tín đồ phía Nam sông Hậu thì tập trung sớm ở thị xã Cần Thơ.
Ngày 07-9-1945, Tỉnh Ủy Cần Thơ đã nắm được kế hoạch nầy. Ta chủ trương kiên quyết trấn áp bọn phản động đầu sỏ, còn đối với tín đồ thì giáo dục, thuyết phục làm cho họ thấy được âm mưu và hành động của bọn cầm đầu phản động. Chúng đã dự định huy động 15.000 tín đồ tiến vào thị xã Cần Thơ ngày 9-9, nhưng chúng đã bị thất bại. Lực lượng
vũ trang của chúng ở Cái Vồn đã bị ta đánh tan khi chúng định vượt sông Hậu sang thị xã Cần Thơ. Ta bắt Nguyễn Xuân Thiếp (bút hiệu Việt Châu) người chuyên soạn thảo kinh sấm cho Huỳnh Phú Sổ, Trần Văn Hoành (con của Năm Lửa) Huỳnh Phú Mậu (em của Huỳnh Phú Sổ).
Ngay sau đó, Tòa án tỉnh Cần Thơ mở phiên tòa xét xử, lên án tử hình 3 tên chủ mưu, cầm đầu; giáo dục miễn tố cho tín đồ nhẹ dạ, cả tin.
Thành công của công tác dẹp bọn phản động đội lớp tôn giáo tạo bạo loạn chống lại chính quyền cách mạng, gây mâu thuẫn nội bộ dân tộc ta, đã tạo thuận lợi cho công tác chuẩn bị và tiến hành kháng chiến chống Pháp khi chúng tiến đánh miền Tây Nam Bộ”. (trang 84, 85,86)

II. SỰ PHẪN UẤT CỦA TÍN ÐỒ PHẬT GIÁO HÒA HẢO.

Đọc quyển ‘Tây Nam Bộ Kháng Chiến’do Ban Biên Tập truyền thống Tây Nam Bộ ‘xuất bản’ có đoạn liên quan đến Phật Giáo Hòa Hảo nhất là mục: 5- “…Dẹp bọn gây loạn phá hoại…”
(trang 84, 85) đã chỉ thẳng vào Đức Huỳnh Giáo Chủ. Chúng tôi là tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo vô cùng phẫn uất!!! Nhưng việc dĩ vãng ở Đốc Vàng Hạ (ngày 16-4-19470) hơn nhiều chục năm qua chúng tôi ý thức được lời Tôn Sư đã chỉ dạy:
“Thù riêng muôn vạn cho cam,
Cũng nên gác bỏ để làm nghĩa công.
Khắp Bắc Nam Lạc Hồng một giống,
Tha thứ nhau để sống cùng nhau”…
(Tiếng chuông cảnh tỉnh)

Hoặc là:
“Tha thứ kẻ lỗi lầm ngu xuẩn”
(Quyển Năm)
Đức Giáo Chủ còn dạy thêm:
“Bờ cõi vững lặng thân ta mới yên, quốc gia mạnh giàu mình ta mới ấm… Hãy tùy tài tùy sức nổ lực hy sinh cho xứ sở.”
Hay là:
“Ta dầu có cách thôn hương,
Vạn dân cứ chữ hiền lương mà làm”

(Dặn Dò Bổn Đạo)
Chấp hành theo lời nghiêm huấn của Đức Tôn Sư. Chúng tôi quên đi những gì trong qúa khứ! sẳn sàng đoàn kết với chính quyền, tùy năng lực mình đóng góp mọi công tác xã hội, thi hành nghĩa vụ công dân để kiến thiết quốc gia giàu mạnh và lo tu hiền chân chất.

Việc qua rồi đã chất chồng trên đầu cổ tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo chúng tôi. Nay, Ban Biên tập các ông còn dùng ngụy lý tạo cớ hạ nhục danh dự Ðức Giáo Chủ và đạo Phật Giáo Hòa Hảo chúng tôi thêm. Ðiều nầy trên thực tế đã chứng tỏ mọi việc trước sau gì cũng đều do các ông tạo mầm chia rẽ, gây hấn, không còn đổ tội cho ai được cả!

Một con người dù thất học cũng phải biết ít nhiều về “Tâm lý” để ứng xử cho tình chòm xóm được hòa vui và dễ nhìn mặt nhau khi hữu sự. Nay Ban Biên tập các ông với tư cách Cán bộ và Văn Nhân của nhà nước, lại dùng lời thô bỉ nặng nhẹ Thầy, Đạo chúng tôi bằng “Bọn này, bọn nọ…” gây oán, chác thù! Các ông có biết đó là cách ở đời không hiểu “tâm lý” và mất cách”lịch sự” chăng?

Chữ “tín” là cội rể con người, mất chữ tín không còn là ý nghĩa con người nữa. Ban Biên tập các ông không màng chữ tín, chuyện có nói không, chuyện không nói có, vu khống Ðức Giáo Chủ chúng tôi! Trên bình diện phụng sự quốc gia các ông là hạng người như thế đó ư?

Các sử gia xưa nói: Ðầu các Ngài có thể rơi được nhưng cây bút của các Ngài không thể viết sai sự thật được. Trái lại, Ban Biên tập các ông sử dụng cây bút điêu xảo để hạ nhục người vô tội. Các ông có thấy tự lòng mình hổ thẹn với người xưa chăng?
Kinh nghiệm cho biết: một con người ăn ở bất lương với kẻ khác, họ cũng không nhân đạo với ta! Ban Biên tập các ông dụng ác ý đối với Thầy, Đạo chúng tôi, làm thương tổn chánh sách đoàn kết của Nhà nước thì các ông đâu có tốt lành gì với Nhà nước! Các ông chỉ vì việc cá nhân hoặc vì bát cơm manh áo nên sử dụng cây bút bất chánh đó thôi!
Các ông nên biết: không có một nhà lãnh đạo hay một văn nhân sáng suốt nào dám mong tiêu diệt tôn giáo dù bằng hình thức sát hại, tù đày, hay bằng mọi cách chính trị lừa bịp, thâm độc. Bởi người dân đa số là có tôn giáo, chạm đến tôn giáo tức chạm đến lòng dân; chạm đến lòng dân là điều khó ổn cho việc bình định đất nước.
Chứng tích tội ác của Tần Thủy Hoàng đốt sách, sát hại sĩ phu, quyết đánh tan đạo Khổng. Chế độ độc tài gian ác của Ngô Ðình Diệm mong tiêu diệt tôn giáo và đạo Phật. Ðó là một bài học đắt giá cho những con người cầm vận mạng đất nước và những cây bút đóng góp tư tưởng lợi, hại cho nền văn hóa quốc gia.
Việc bênh vực tổ quốc mình khi bị xâm lăng giày xéo là trách nhiệm của anh hùng liệt sĩ. Bảo vệ thanh danh Thầy, Ðạo mình lúc bị ngoại nhân chà đạp là bổn phận của tín đồ trung nghĩa. Ðó là trách nhiệm và bổn phận thì không có công lý nào buộc tội và lịch sử nào bày bác được! Chúng tôi nói thẳng với Ban Biên tập các ông rằng: Ðầu chúng tôi có thể rơi nhưng không ai có thể giẫm nát trên danh dự của Tôn Sư chúng tôi được! Vì chúng ta đã trải qua bao thời kỳ binh lửa, trình độ dân trí không còn ấu trĩ như xưa. Và chúng ta vẫn là con người bằng xương, bằng thịt thì ai cũng như ai thôi!
Tác phẩm của một tác giả chân chính có lợi cho đời người ta mến mộ, lưu truyền, như: Sấm kinh Phật Giáo Hòa Hảo đã được các văn nhân, học giả trong và ngoài nước nghiên cứu, phiên dịch truyền bá trên thế giới. Trái lại, những tác phẩm đồng chí của các ông nói về tôn giáo, vừa thập thò ra đời, không được người mến mộ và giới trí thức công nhận mà vẫn bị bài bác, phản đối! Rồi nào là thu hồi, cáo lỗi và chết non, chết yểu, vì không che đậy được cái chân tướng quái xảo của nó! Thế mà thỉnh thoảng các ông cũng cho ra đời thứ tác phẩm thối nát ấy. Các ông có tự biết sĩ nhục chưa?
Sao các ông không nhớ: vì sự sinh sống và chỗ suy thịnh của quốc gia là việc lớn mà người Nhật phải lãng quên mối thù với nước Mỹ nên họ mới trở thành cường quốc như ngày hôm nay. Mọi hành động “vu khống”, đào thêm hố sâu thù hận, chia rẽ tình đoàn kết dân tộc, đặt nặng thành kiến cá nhân trên đại nghĩa quốc gia là hành động mù quáng! Các ông có xứng danh cán bộ chân chính và văn nhân sáng suốt không?
Tiền nhân ta phải đổ biết bao xương máu để gìn giữ dãy đất hình chữ “S” nầy! Nay chúng ta dù có khác tư tưởng, chính kiến nhưng vẫn là tình đồng bào chủng tộc. Lẽ ra chúng ta phải thật sự đoàn kết, thương nhau, xóa bỏ mọi tỵ hiềm để cùng lo giữ gìn vĩ nghiệp của tiền nhân hầu đáp lại phần nào công ơn của những người vì sự sống còn của chúng ta mà trước kia đã hy sinh xương máu! “Ban Biên tập tây nam bộ” các ông hành động trái lại, coi đồng chủng như kẻ địch thù, làm suy giảm tiềm lực bảo vệ đất nước! Các ông có tự biết lỗi mình đối với công ơn trọng đại của tiền nhân ta chăng?
Tác phẩm của các ông được tàng trử nơi Thư Viện, Trường Sở, xây đắp cho nền văn hóa nước nhà, đào tạo hậu tấn trong định kiến sai lầm, không khoát đạt thì còn gì là tương lai của giống dân Việt Nam, một giống dân đã có trên bốn ngàn năm văn hiến!
Mời “Ban Biên tập tây nam bộ” các ông nghe tiếp phần chúng tôi “kháng luận”.

III. PHẦN KHÁNG LUẬN:


1. ÐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ KHÔNG CẦM ÐẦU GIÁO PHÁI HÒA HẢO ÐÒI LÀM CHỦ 7 TỈNH MIỀN TÂY.

Quyển “Tây nam bộ 30 năm kháng chiến” nói:
“Ngay sau khởi nghĩa thành công, Huỳnh Phú Sổ cầm đầu giáo phái Hòa hảo ngang nhiên đòi Uỷ Ban Nhân dân Nam bộ phải giao cho y cai quản 7 tỉnh miền Tây…” (trang 84).
Các ông kết tội người không đủ bằng chứng! Các ông nghe chúng tôi kháng luận:
a.- Nếu Ðức Huỳnh Giáo Chủ đòi cai quản 7 tỉnh miền Tây, tức đòi chia cắt lãnh thổ, thì Ðức Huỳnh Giáo Chủ đòi với Ủy ban Hành Chính Nam bộ hay với chính phủ Trung Ương? Trường hợp này xảy ra trong một phiên họp tại đâu và thời gian nào hoặc có văn kiện chi để chứng minh? Chẳng lẽ việc phân chia lãnh thổ mà đòi bằng cách “lôi thôi” như chuyện chia cắt thịt, cá ở đầu đường xó chợ? Và ngay khi đó với tư cách chính quyền đâu còn sợ ai! Sao chính quyền không có một biện pháp nào công khai đối với Ðức Huỳnh Giáo Chủ? Trần Văn Giàu âm thầm bao vây bắt Ðức Huỳnh Giáo Chủ tại Sài Gòn (đêm 9-9-1945) như thế? Lại nữa, các cơ quan tuyên truyền, báo chí của nhà nước ở đâu, sao không loan báo tin tức quan trọng nói trên cho cả quốc dân hay biết? Sau đó Ủy Ban Hành Chính Nam bộ mời Ðức Giáo Chủ tham gia vào Ủy Ban Hành Chính Nam bộ? Cho mãi đến hôm nay trên nữa thế kỷ, Ban Biên tập các ông mới đưa ra chuyện phi lý này? Lúc Ðức Giáo Chủ còn trực diện, với tư thế chính quyền sao không luận tội trước mặt, để khi Người vắng bóng mới kết tội sau lưng. Ðây là điều trái lẽ phải mà xưa nay công lý không cho phép.
b.- Khi thành lập “Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Ðảng” (21-9-1946), Ðức Huỳnh Giáo Chủ nhường chức vụ “Tổng bí thư” cho ông Nguyễn Bảo Toàn đảm nhiệm. Và trong Ban chấp hành Trung Ương Ðảng gồm có 9 người, hết 6 người ngoại đạo giữ chức vụ quan trọng. Ðức Huỳnh Giáo Chủ và 2 người nữa của Hòa Hảo chỉ giữ chức vụ có tính cách trợ giúp đảng đó thôi. Nếu Ðức Giáo Chủ có ý đồ nắm chính quyền 7 tỉnh miền Tây, củng cố địa vị vương bá thì ngay khi thành lập Ðảng, Ngài có ưu thế nhận chức vụ lảnh đạo tức Tổng bí thư và đặt các nhân vật thuộc tay chân của Giáo Chủ đảm nhiệm chức vụ then chốt trong Ðảng. Ðức Giáo Chủ đâu có để ông Nguyễn Bảo Toàn và những nhân vật khác giữ chức vụ quan trọng?
c.- Nếu nói Ðức Huỳnh Giáo Chủ có ý đồ nắm chánh quyền 7 tỉnh miền Tây, đương nhiên Ngài phải chuẩn bị đủ 3 cơ quan chủ yếu:
1./ QUÂN ÐỘI để làm chủ tình hình lãnh thổ.
2./ CẢNH SÁT để giữ gìn trật tự an ninh.
3./ HÀNH CHÍNH để ủng hộ về tinh thần và vật chất cho bộ máy chánh quyền.
Nhưng Phật Giáo Hòa Hảo thời gian đó (1945) không có tổ chức 3 cơ quan chủ yếu nói trên thì không thể nói rằng: Ðức Huỳnh Giáo Chủ đòi nắm giữ chánh quyền ở miền Tây Nanm bộ được!
d.- Ðức Huỳnh Giáo Chủ luôn luôn chủ trương đoàn kết và thống nhất lãnh thổ. Ngài nói:
“Từ Nam ra Bắc xa ngàn,
Nhưng lòng phải một mới toàn mưu hay”

Và khi tham gia vào Ủy ban hành chánh Nam bộ, Giáo Chủ công bố trên mặt báo QUẦN CHÚNG ngày 14-11-1946 trong bài “Vì sao tôi tham chánh”? Ngài cho biết:
“ 1.- Ðể tỏ cho quốc dân và chính phủ thấy rằng chúng tôi chủ trương thống nhất lãnh thổ và độc lập quốc gia.
2.- Ðể biểu dương tinh thần đoàn kết của dân tộc hầu mau đem lại thắng lợi cuối cùng.
3.- Ðể tỏ cho các đảng phái thấy rằng chúng tôi không khi nào có những tham vọng cao sang vương bá hay vì hiềm riêng mà hờ hững với phận sự cứu quốc”.
Nếu vừa qua Ðức Giáo Chủ có những hành động tham vọng vì quyền lợi riêng tư, Ngài không thể mạnh dạn công bố trên mặt báo trước chính phủ, các đảng phái, quốc dân và nhất là với Ủy Ban Hành chánh Nam bộ như thế!
Tóm lại, căn cứ vào những yếu tố nói trên, “Ban biên tập Tây Nam bộ”các ông cho rằng Ðức Huỳnh Giáo Chủ “đòi cai quản 7 tỉnh miền Tây” là hoàn toàn sai sự thật, bóp méo lịch sử tranh đấu của dân tộc ta trong thời kỳ kháng Pháp. Nhà cầm bút biết sỉ nhục không thể có những hành động gian trá này.

2.- SỰ MÂU THUẪN CỦA CÁC TÁC GIẢ.

Trong quyển “SƯ THÚC HÒA HẢO” tác giả Nguyên Hùng nói: “Huỳnh Phú Sổ đòi Việt Minh phải giao 4 tỉnh miền Tây cho Hòa Hảo” (hàng 24 trang 174).
Trong quyển “Tây nam bộ” lại nói: “ Ðức Huỳnh Giáo chủ đòi 7 tỉnh miền Tây”? Sao lạ vậy, tác giả này nói “7 tỉnh”, tác giả kia lại nói “4 tỉnh”?
Và trong quyển “Tây Nam bộ” nói: “ Huỳnh Phú Sổ có bọn phòng nhì, mật thám cũ và mới góp sức sử dụng tôn giáo kích động tín đồ Hòa Hảo chống lại cách mạng” (trang 84. Quyển “Về Tôn Giáo Tín Ngưởng Việt Nam Hiện Nay” lại nói: “Tháng tám năm 1945 cuộc tổng khởi nghĩa đã lôi cuốn cả dân tộc vào ngày hội lớn. Huỳnh Phú Sổ cũng tham gia cách mạng cùng các tín đồ Hòa Hảo. Nhưng Nam bộ bước ngay vào cuộc chiến. Ông Sổ được Ủy Ban Hành chánh Nam bộ mời làm Ủy viên đặc biệt. Có dấu riêng.”
Tại sao cũng đồng chí của các ông mà tác giả này nói thời gian sau khởi nghĩa “Huỳnh Phú Sổ chống lại cách mạng” Tác giả kia lại nói: Giáo Chủ tham gia cách mạng? Nếu đã tham gia cách mạng, tức là “đồng chí”, làm việc theo hệ thống thì đâu có chống lại cách mạng? Nếu chống lại cách mạng, tức là “địch thủ” thì đâu có tham gia cách mạng?
Ðiều này đủ chứng tỏ rằng các ông không cần sự nghiên cứu chính xác. Các ông cùng đồng chí, đồng nghiệp rồi đồng lõa cố tình “vu khống” tội người nên mới viết lu bu như thế! Các bậc lão thành tín đồ Hòa Hảo vẫn còn đây! Chính tích tranh đấu của Ðức Huỳnh Giáo Chủ vì quốc gia đại nghĩa đã sáng tỏ trên lịch sử đã vượt thời gian và không gian! Nay, Ban Biên tập Tây Nam bộ các ông không thể dùng cây bút vẽ vời theo chiều hướng cá nhân của các ông được. Bởi sự thật xưa nay vẫn thắng gian trá thôi!

3.- VẤN ÐỀ SOẠN THẢO KINH SẤM.

Ban Biên Tập “Tây Nam Bộ” cho rằng: “Việt Châu người chuyên soạn thảo Kinh Sấm cho Huỳnh Phú Sổ”. (hàng 2 trang 86).
Các ông cố ý tuyên truyền sai sự thật, mong làm giảm uy tín Ðức Giáo Chủ và Kinh Sấm Phật Giáo Hòa Hảo.
Các ông nông nổi quá, hãy nghe chúng tôi xác đính.
a.)- Những bài vở của Ðức Giáo chủ do Ngài ứng khẩu thành thơ hoặc chính tay Ngài viết ra đã được thư ký và những tín đồ hầu cận lưu giữ hẳn hòi, đâu phải ai muốn xen vào bài nào cũng được! Năm quyển Sấm Giảng Ðức Giáo Chủ đã viết xong hồi mùa Thu năm Tân Tỵ (1941). Thi sĩ Việt Châu mới theo về với Ðức Giáo Chủ trong dịp Giáo Chủ đi khuyến nông từ miền Tây về Sài Gòn vào ngày 28 tháng 7 năm 1945 ( Hè năm Ất Dậu). Nghĩa là Ðức Giáo Chủ viết xong Kinh Sấm trước khi thi sĩ Việt Châu theo về với Ðức Giáo Chủ là bốn năm. Như vậy làm gì có chuyện thi sĩ Việt Châu soạn thảo Kinh Sấm cho Ðức Giáo chủ được?
Hơn nữa, thi sĩ Việt Châu theo về với Ðức Giáo Chủ ngày 28 tháng 7 dl 1945. Giáo Chủ ủy nhiệm cho thi sĩ nhiều công tác quan trọng, nhất là đại diện cho Phật Giáo Hòa Hảo đi dự hội nghị Tân Trào với Tổng bộ Việt Minh ở Hà Nội và dự lễ thoái vị của Bảo Ðại ở Huế (24-8-1945).
Ở Hà Nội về không mấy ngày, thi sĩ Việt Châu lại phải lo giải quyết vụ biểu tình gay cấn ở Cần Thơ (8-9-1945). Nghĩa là từ ngày thi sĩ Việt Châu theo về với Giáo Chủ chỉ trong vòng hai tháng thì thi sĩ lâm nạn! Công cuộc đi hội nghị Tân Trào và dự lễ thoái vị cũng mất hết mười ngày. Còn lại thời gian 30 ngày, thi sĩ Việt Châu còn bận lắm việc công tác, nhất là việc biểu tình ở Cần Thơ rồi bị bắt và thọ tử
Như vậy, đâu còn dư thời gian nào nữa mà thi sĩ “soạn thảo” Kinh Sấm cho Ðức Huỳnh Giáo Chủ? Và sau thời gian thi sĩ thọ tử (7-10-1945 – đến ngày 16-4-1947) Ðức Giáo Chủ còn viết hằng trăm bài văn thơ nữa thì ai soạn thảo cho Ðức Giáo Chủ?
b.)- Trước khi quy y theo Ðức Huỳnh Giáo Chủ-trên đường từ miền Tây trở về Sài Gòn, thi sĩ Việt Châu trao cho Giáo Chủ tập thơ “Lông Ngỗng Gieo Tình” do ông sáng tác. Ðể thử tài văn thơ thi sĩ, Giáo Chủ bảo thi sĩ làm bài thơ tả cảnh. Thấy thi sĩ mãi nghĩ không ra thơ, Giáo Chủ liền ứng khẩu ngâm lên:
“Xe về chở theo chàng thi sĩ,
Bảo làm thơ mãi nghĩ không ra…”

Và cũng trong bài thơ nầy. Ðức Giáo Chủ nói:
“Theo dõi gót từ bi mấy bữa,
Phàm tâm kia có rửa hay chăng?”

Nếu nói thi sĩ Việt Châu là người chuyên soạn thảo Kinh Sấm cho Ðức Giáo Chủ, tức Ðức Giáo Chủ phải kính nể thi sĩ. Nhưng đọc hai câu:
“Theo dõi gót từ bi mấy bữa,
Phàm tâm kia có rửa hay chăng?”

Chúng ta thấy Ðức Giáo Chủ đâu có kính nể thi sĩ Việt Châu. Không kính nể thi sĩ… thì không thể nói thi sĩ là người chuyên “soạn thảo” Kinh Sấm cho Ðức Giáo Chủ được!
Và đọc hai câu:
“Xe về chở theo chàng thi sĩ,
Bảo làm thơ mãi nghĩ không ra”.

Ðiều này đủ chứng tỏ rằng, tài văn thơ của thi sĩ Việt Châu kém xa Ðức Giáo Chủ. Giáo Chủ hà cần thi sĩ “soạn thảo” Kinh Sấm cho Ngài mà chi?
c.)- Kinh Sấm của Ðức Giáo Chủ không như loại thi văn thường nhân. Nội dung hàm chứa giáo lý “thậm thâm vi diệu” của nhà Phật và tư tưởng siêu việt của Giáo Chủ. Dù cho thi sĩ Việt Châu hay bất cứ một thi sĩ thường nhân nào cũng không thể soạn thảo thay cho Ngài được.
Nói dễ hiểu hơn, quyển Sấm Kinh của Ðức Huỳnh Giáo Chủ đã trước tác: nơi, thời gian và trường hợp thi sĩ Việt Châu theo về với Ðức Giáo Chủ đã có ghi rõ trong quyển “Thi Văn Giáo Lý Toàn Bộ” của Ðức Huỳnh Giáo Chủ. Ban Biên Tập Tây Nam bộ các ông viết không đúng, tức các ông không tìm hiểu về Sấm Kinh Phật Giáo Hòa Hảo và thi sĩ Việt Châu. Ðã không tìm hiểu kĩ, các ông lại phê phán là điều bướng bỉnh sai lầm đáng tiếc! Chúng tôi kết luận rằng: Ðức Giáo Chủ Phật Giáo Hòa Hảo yêu mến thi sĩ Việt Châu vì thi sĩ là một đệ tử trung thành của Ngài. Kinh Sấm của Giáo Chủ, chính tay Giáo Chủ viết ra thôi. Ban Biên tập các ông múa rìu qua mắt thợ, thật là trơ trẻn vô cùng!

4.- TỔNG HÀNH DINH CÁI VỒN.

Trong quyển “Tây Nam bộ 30 năm kháng chiến” nói: “Cái lực lượng vũ trang của chúng ở các tỉnh phía Bắc sông Hậu tập trung tại Tổng hành dinh Cái Vồn …” (hàng 20 trang 85).
Tổng hành dinh là dinh trại của chủ tướng và bộ tham mưu chính yếu của một đạo binh. Thời gian tháng 9 năm 1945, Hòa Hảo chỉ có Bảo An đội (được tổ chức vào tháng 8 dl năm 1945) với vũ khí cây roi gậy gộc để giữ gìn an ninh trật tự trong thôn xóm. Ðến tháng 6 năm 1946, Hòa Hảo mới có tổ chức quân đội nhưng chỉ lưu động trong bưng biền rày đây mai đó để đánh giặc Pháp. Khi biến cố Ðốc Vàng Hạ (16-4-1946) Ðức Huỳnh Giáo Chủ vắng mặt, tình thế bắt buộc ông Trần Văn Soái phải ký Hiệp định Liên quân với Pháp vào ngày 18-5-1947. Từ đó, ôngTrần Văn Soái mới đặt tổng hành dinh tại Cái Vồn. Thời gian tháng 9 năm 1945, Phật Giáo Hòa Hảo không có quân đội mà có tổng hành dinh ở Cái Vồn.
Các ông thêu vẽ sai sự thật quá!

5.- CUỘC BIỂU TÌNH Ở CẦN THƠ (8-9-1945):

Trong Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ lúc này có lắm chuyện bất ổn về nội bộ, khiến cho các nhà ái quốc bất mãn, làm suy giảm tiềm năng kháng Pháp. Người công dân Hòa Hảo có bổn phận áp dụng quyền tự do dân chủ, tổ chức cuộc biểu tình tại tỉnh Cần Thơ. Tác giả Nguyên Hùng tường thuật vấn đề nầy trong quyển “Sư Thúc Hòa Hảo”, nguyên văn như sau :
“Ngày 8 tháng 9 Ba Dự đến trụ sở Phật Giáo Hòa Hảo làm việc với đại diện Hòa Hảo là Chung Bá Khánh, một địa chủ lớn ở Bạc Liêu và Tú tài Thiều, phó chủ tịch Ủy Ban nhân dân Cần Thơ. Tại đây, Việt Châu khoe vừa đi hội nghị Tân Trào về có ghé Huế dự lễ thoái vị của Bảo Ðại. Biết Ba Dự thuộc nhóm giải phóng, Việt Châu vui vẻ tiết lộ: Ngày mai, Phật Giáo Hòa Hảo sẽ biểu tình ở Cần Thơ với ba khẩu hiệu:
1. Ủng hộ chính phủ Trung Ương do chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo.
2. Tẩy uế những phần tử thối nát trong Ủy Ban Nhân Dân Nam Bộ.
3. Võ trang quần chúng…”(trang 175).
Ban tổ chức biểu tình có xin phép với Ủy Ban Hành Chính tỉnh. Nhưng đến ngày biểu tình Ủy Ban mở cuộc hợp tại dinh chủ tịch do chủ tịch Trần Văn Khéo chủ tọa và mời Ban đại diện đến thảo luận. Ủy Ban tỉnh yêu cầu giải tán đoàn biểu tình! Song Ban đại diện đưa ra lý do là cuộc biểu tình hợp pháp đã có xin phép và được sự đồng ý của chính quyền, lại là cuộc biểu tình ủng hộ chính quyền cách mạng thì không có lý do gì giải tán!
Cuộc bàn cãi chưa ngã ngũ, thình lình có tiếng súng nhả đạn vào đám quần chúng biểu tình không vũ trang và bắt trọn ba đại diện: Nguyễn Xuân Thiếp, Huỳnh Thạnh Mậu, Trần Văn Hoành…
Những yếu tố dưới đây chứng minh cho cuộc biểu tình hợp pháp; không phải tổ chức cướp chính quyền:
a.)- Trên bình diện chính trị, nếu Hòa Hảo có ý đồ cướp chính quyền thì phải cướp chính quyền Sài Gòn mới có uy lực với Pháp với đồng minh và các tỉnh. Cướp chính quyền tỉnh Cần Thơ đâu có lợi gì cho Hòa Hảo? Những yếu nhân của Hòa Hảo tất cũng thừa hiểu điều này.
b.)- Cướp chính quyền tức là đảo chính, đương nhiên Hòa Hảo phải trang bị vũ khí cho đoàn dân quân để chiến đấu. Chính quyền tỉnh Cần Thơ làm sao bắt trọn ba nhân vật đại diện cuộc biểu tình trong giây phút dễ dàng như vậy!
c.)- Ba khẩu hiệu biểu tình, khẩu hiệu thứ nhất: “Ủng hộ chính phủ Trung Ương do chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo”, tức đây là cuộc biểu tình để biểu dương lực lượng quần chúng ủng hộ chính quyền. Ðã nói là ủng hộ chính quyền thì không thể cho là cướp chính quyền được.
d.)- Trong quyển “Sư Thúc Hòa Hảo”, Nguyên Hùng cho biết:
“Ngày 8 tháng 9, Ba Dự đến trụ sở Phật Giáo Hòa Hảo. Tại đây, Việt Châu khoe vừa đi hội nghị Tân Trào về có ghé Huế dự lễ thoái vị của Bảo Ðại. Biết Ba Dự thuộc nhóm giải phóng, Việt Châu vui vẻ tiết lộ: Ngày mai Phật Giáo Hòa Hảo sẽ biểu tình ở Cần Thơ với ba khẩu hiệu” (trang 175).
Theo tài liệu nói trên, chính đồng chí của các ông làm nhân chứng, trước biểu tình một ngày, Việt Châu (Hòa Hảo) có thảo luận với Ba Dự (Việt Minh) về vấn đề này! Nếu Hòa Hảo định cướp chính quyền, thi sĩ Việt Châu phải giữ kín mọi việc, cớ đâu lại tiết lộ trước với Ba Dự làm cho bại lộ bí mật của mình?
e. Từ bán niên 1945 về trước, Phật Giáo Hòa Hảo chưa có thành lập một tổ chức nào cả. Ðến tháng 5 dl năm 1945, Phật Giáo Hòa Hảo mới có tổ chức Ban Trị sự để điều hành về tín điều trong phạm vi tôn giáo. Và tháng 8 năm 1945, Bảo An đội được thành lập để giữ gìn trật tự hương thôn (trong khi thay đổi chính quyền, nạn trộm cướp bạo hành). Bảo An đội chỉ có cây roi, tầm vông vạt nhọn không có vũ khí súng đạn làm gì nói đến chuyện cướp chính quyền?
Và trong quyển “Tây Nam Bộ…”, Ban biên tập cũng xác nhận: “Chúng huy động tín đồ mang theo cây roi gậy gộc đi rước Thầy, nhưng thực chất dùng lực lượng đông đảo tín đồ để cướp chánh quyền…”(hàng 17 trang 85).
Ðoàn biểu tình chỉ mang theo cơm ăn nước uống không có vũ khí. Dầu có mang “cây roi gậy gộc” như các ông nói đi nữa, cũng không ai dại gì dám kéo nhau đi cướp chính quyền. Bởi cướp chính quyền tức là “đảo chính”, đánh chiếm các cơ quan chủ yếu hành chính và các nơi doanh trại quân sự của chính quyền, trong khi chính quyền đã có bộ đội cộng hòa vệ binh trang bị súng ống phòng thủ.
Tóm lại, Phật Giáo Hòa Hảo tổ chức cuộc tuần hành ở Cần Thơ với mục đích: Áp dụng quyền tự do dân chủ đòi cải tổ lành mạnh Ủy Ban Hành Chính Nam Bộ, thể hiện tinh thần bất khuất của nhân dân miền Tây và ủng hộ chính phủ Trung Ương trong công cuộc cứu quốc. Ý nghĩa cuộc tuần hành rất minh bạch và hợp pháp. Nay, Ban Biên tập Tây Nam bộ các ông gán tội cho Hòa Hảo tổ chức cướp chính quyền là phi lý. Bởi không đủ “biện chứng” kết tội người trong vấn đề nầy!

6.- KHÔNG THỂ TIN SỰ TỐT LÒNG VÀ CÁCH DÙNG TỪ KHÔNG ÐÚNG NGHĨA.

Ban Biên tập Tây Nam Bộ nói: “Ngay sau tòa án tỉnh Cần Thơ mở phiên tòa xét xử, lên án tử hình 3 tên chủ mưu cầm đầu, giáo dục miễn tố cho tín đồ nhẹ dạ cả tin” (hàng 6 trang 86).
Các ông cho rằng năm xưa (1945), các ông đối xử tốt với tín đồ Hòa Hảo nhưng đến nay trên nửa thế kỷ, tình thế không còn căng thẳng như thời kỳ xô xát trước. Tại sao các ông còn hậm hực bươi xới lại chuyện cũ dụng ngụy lý để giẫm nát trên đầu cổ nhiều triệu tín đồ Hòa Hảo, gây mầm chia rẽ hận thù. Như vậy, không thể nói rằng năm xưa đang hồi gay cấn các ông tốt bụng với tín đồ Hòa Hảo được.
Quyển “Tây Nam Bộ” các ông nói: “Ta bắt Nguyễn Xuân Thiếp (bút hiệu Việt Châu), Trần Văn Hoành (con Năm Lửa) và Huỳnh Phú Mậu(em của Huỳnh Phú Sổ) (hàng 1 trang 86).
Nghiên cứu về Phật Giáo Hòa Hảo, các ông còn non nớt, cẩu thả quá! Ðức Ông Huỳnh Công Bộ có hai người con trai, thứ tư: Huỳnh Phú Sổ; thứ sáu: Huỳnh Thạnh Mậu. Ðức Ông không có người con trai nào tên Huỳnh Phú Mậu.
Và các ông dùng tĩnh từ “miễn tố”, ở đây cũng không đúng nghĩa. Miễn tố có nghĩa là tha cho người bị “tố cáo” sau khi tòa dự thẩm xét thấy bị cáo vô tội. Nhưng đoàn tuần hành này đã có xin phép hợp pháp và cũng không bị ai kiện tụng tố cáo về tội chi mà các ông nói được tòa án “miễn tố”.
Cách dụng từ bừa bãi, không hợp lý.

7.- VẤN ÐỀ ÔNG TRỊNH XUÂN GIỚI PHÓ BAN DÂN VẬN TRUNG ƯƠNG CỦA CHÁNH PHỦ CHO BIẾT.

Trong tập Hương Sen số 7, ông Bùi Văn Ðương thành viên Ban Ðại diện Phật Giáo Hòa Hảo nói: Ông Trịnh Xuân Giới tỏ ý vui mừng về chuyến đi thăm Thủ Ðô lần đầu tiên của Phật Giáo Hòa Hảo… Và ông Xuân Giới cho biết : “Hồ Chủ Tịch trước đây coi Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ là cố vấn của chính phủ”.
Hồ Chủ Tịch coi Ðức Giáo Chủ là “cố vấn của chánh phủ” nhưng Ban Biên tập Tây Nam Bộ cho rằng Ðức Giáo Chủ “gây bạo loạn, phá hoại, phản động…” Như vậy, ý ông Trịnh Xuân Giới và Bác Hồ đúng hay Ban Biên tập Tây Nam Bộ đúng? Nếu ban Biên tập đúng, tức hành chính bị đảo huyền, thượng hạ không còn gì là nguyên tắc hệ thống? Nếu ý ông Trịnh Xuân Giới và Bác Hồ đúng, Ban Biên tập Tây Nam Bộ chính là phần tử ngang nhiên phá loại chính sách “đại đoàn kết” của nhà nước, làm thương tổn cho đất nước đó!
Như vậy, luật pháp có nghiêm trị phần tử vi phạm chính sách Nhà nước chưa? Ðiều quái lạ này, chúng tôi xin nhường cho quốc dân, thế giới và những cây bút của bậc cao minh sau này xét xử!

8.- VẤN ÐỀ BỌN PHÒNG NHÌ.

Ban Biên tập Tây Nam bộ nói: “Huỳnh Phú Sổ có bọn phòng nhì, mật thám cũ và mới góp sức sử dụng tôn giáo kích động tín đồ Hòa Hảo chống lại cách mạng” (trang 84).
Chúng tôi xin nói rõ:
Ôn lại quá trình “lập giáo” và “cứu quốc” của Ðức Giáo Chủ Phật Giáo Hòa Hảo thời gian không đầy 8 năm (1939-1947), Ðức Giáo Chủ vắng mặt.
Khoảng 5 năm đầu, Ðức Giáo Chủ đã bị giặc Pháp đàn áp gắt gao, lưu đày đủ cách. Mặc dù Ngài được người Nhật giải cứu ít lâu nhưng Giáo Chủ vẫn phải sống trong vòng kềm kẹp luôn.
Tháng 9 năm 1945 bị Trần Văn Giàu khủng bố, Giáo Chủ phải đi sâu vào rừng Chà Là lánh nạn suốt năm. Còn lại không đầy 2 năm, Giáo Chủ vẫn tiếp tục trên đường chính nghĩa: chống thực dân Pháp. Và thời gian này (1946), Ðức Giáo Chủ ở chiến khu miền Ðông (khu 7), đóng quân gần với các nhà chỉ huy quân sự trong chiến khu Bình Xuyên.
Ðến thượng tuần tháng 4 dl 1947, do sự yêu cầu của Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ, Giáo Chủ phải từ miền Ðông (khu 7) trở về miền Tây (khu 9) để hòa giải sự xung đột giữa Hòa Hảo và Việt Minh. Sau đó, Ngài bị Bửu Vinh âm mưu ám hại tại Ðốc Vàng Hạ (16-4-1947), Ðức Giáo Chủ Phật Giáo Hòa Hảo vắng mặt.
Kể từ ngày Ðức Huỳnh Giáo Chủ khai sáng đạo Phật Giáo Hòa Hảo (18-5-Kỷ Mão) đến khi Ngài vắng mặt (25-2-nhuần Ðinh Hợi) trên 7 năm, không thời gian nào bên cạnh Ðức Giáo Chủ có bọn phòng nhì, mật thám giúp sức gây bạo loạn, chống cách mạng, phản quốc cả! Thậm chí cho đến ngày Ðức Giáo Chủ thọ nạn cũng vẫn làm việc theo hệ thống trên đường thi hành công vụ đó thôi!
*Nếu Ðức Giáo Chủ cấu kết với bọn phòng nhì, gây bạo loạn, phản quốc, Giáo Chủ không được các giới chính trị và quân sự uy tín bầu Ngài làm Chủ Tịch “Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp” và làm cố vấn Danh Dự “Việt Nam Ái Quốc Ðảng” đồng thời được giữ chức vụ “Ủy Viên Ðặc Biệt” trong Ủy Ban Hành Chính Nam Bộ.
*Nếu Ðức Huỳnh Giáo Chủ cấu kết với bọn phòng nhì phản quốc, mất uy tín, Ngài không được các tướng lãnh Bình Xuyên cảm tình nồng hậu và đóng quân chúng nơi chiến khu miền Ðông, một chiến khu rất quan trọng trong thời kỳ kháng Pháp!
*Nếu Ðức Huỳnh cấu kết với bọn phòng nhì, phản quốc, Trung Ương và Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ đã công khai xử lý Giáo Chủ. Và các cơ quan tuyên truyền, các báo chí của Nhà nước lúc đó không thể bỏ qua.
Còn chuyện quân đội Phật Giáo Hòa Hảo chống Việt Minh trong thời quá khứ là do một nguyên nhân khác. Chúng tôi sẽ trình bày khái lược trong một chương mục sau.
Tóm lại, thành tích lập giáo và tranh đấu của Ðức Huỳnh Giáo Chủ hơn 7 năm (1939-1947), không có một vết nhơ nào hoen ố trên lịch sử. Ban biên tập Tây Nam Bộ các ông dàn dựng câu chuyện phi lý để dối gạt những kẻ dại khờ, không hiểu sự thật diễn biến về lịch sử trong thời kháng Pháp đó thôi.

9.- SỐ NGƯỜI ÐỘI LỐT TÔN GIÁO.

Quyển “Tây Nam Bộ 30 năm kháng chiến” nói: Thành công của công tác dẹp bọn phản động đội lốt tôn giáo tạo bạo loạn chống lại chính quyền cách mạng. (hàng 9 trang 86 ).
Các ông dùng từ thô bỉ chỉ thẳng vào Ðức Huỳnh Giáo Chủ và những yếu nhân Phật Giáo Hòa Hảo “đội lốt tôn giáo”. Các ông chưa hiểu thế nào là đội lốt tôn giáo? Ðội lốt tôn giáo là số người gian dối, mượn hình thức tôn giáo, nương mình vào am tự, tịnh xá để sinh sống và tổ chức chính trị. Họ không thực chất là một tín đồ trung thành với đạo.
Số người ấy:
1.- Họ mang sắc áo tôn giáo, nương tựa nơi Thiền môn , bày ra mê tín dị đoan lợi dụng của bá tánh… Ðó là số người đội lốt tôn giáo để nuôi thân.
2.- Trên đường chính trị đôi khi bị thảm bại họ vào tôn giáo, chùa am để ẩn mình và làm nơi giao liên để tổ chức. Họ không cần biết đến trách nhiệm một tín đồ và trung thành với đạo. Vì tôn giáo đối với họ, hai lý tưởng vẫn khác nhau.
Khi thời thế thuận tiện, họ xuất đầu lộ diện là cán bộ nằm vùng. Ðó là số người cán bộ cộng sản đội lốt tôn giáo để làm chính trị. Nói rõ hơn số người thật sự của tôn giáo dù hoàn cảnh nào họ cũng trung thành giữ gìn căn gốc. Trái lại, số “người đội lốt tôn giáo” khi thời thế thay đổi, ăn trái xong họ chặt chồi nhổ gốc. Trường hợp Ðức Huỳnh Giáo Chủ và các yếu nhân của Phật Giáo Hòa Hảo, lúc nào họ cũng khép mình trong khuôn khổ đạo, lo phát huy và một lòng với đạo, trước sau như một. Họ khuất bóng, giáo sử vẫn sáng tỏ và tín đồ thờ kính luôn.
Ðành rằng trong căn nhà Phật Giáo Hòa Hảo cũng có một ít phần tử hành động sai giới luật đạo. Nhưng đó là lẽ đương nhiên mà bất cứ một trường sở, một đảng chính trị và một tôn giáo nào cũng không tránh khỏi; huống chi Ðức Giáo Chủ vắng mặt, vị lãnh đạo không được trực tiếp điều hành.
Về vấn đề Ðức Giáo Chủ và các yếu nhân Phật Giáo Hòa Hảo có ra làm chính trị, đây chỉ là phương tiện của chư Bồ Tát và trách nhiệm của công dân đối với đất nước lúc lâm nguy. Chớ không thể cho đây là số người đội lốt tôn giáo để làm chính trị được. Vì mưu đồ chính trị tức phải tiến đến việc củng cố chính quyền, lãnh đạo quốc gia. Ngược lại, trách nhiệm của người Phật Giáo Hòa Hảo chỉ làm theo đường lối cứu quốc như Ðức Giáo Chủ cho biết:
“Yêu nước bao đành trơ mắt ngó,
Thương đời chưa vội ẩn non cao.”

Và:
“Tăng Sĩ quyết chùa am bế cửa,
Tuốt gươm vàng lên ngựa xông pha.
Ðền xong nợ nước thù nhà,
Thiền môn trở gót Phật Ðà nam mô.”

Việc làm này không phải chỉ riêng Phật Giáo Hòa Hảo, các đại sư trong lĩnh vực Phật giáo xưa kia với tình yêu chủng tộc, cũng phải thế thôi.
Và các tướng lĩnh Phật Giáo Hòa Hảo đã làm vì suốt cả đời người, có phải là dù thăng trầm mấy lược cũng đeo đuổi theo chương trình Dân Chủ Xã Hội. Và lo bảo vệ đồng môn trong vùng đất đạo, cho đến ngày vùi xương nơi lòng đất lạnh, các ông không còn lưu lại sự nghiệp riêng tư nào đáng kể cho đời mình.
Còn một chuyện tưởng cũng nên nhắc lại: năm 1951, ông Trần Văn Soái Tổng tư lệnh quân đội Phật Giáo Hòa Hảo đến viếng chùa Tòng Sơn của Ðức Phật Thầy. Sau khi lễ bái, ông xem mớ tóc của Ðức Phật Thầy. Nhìn kỷ vật, nhớ đến công đức người xưa, ông Tổng tư lệnh chạnh lòng rơi lệ trước Ban Quản Tự và tất cả mọi người. Ðồng thời ông còn giúp đỡ mọi phương tiện cho nhà chùa. Và năm 1963, Thiếu tướng Nguyễn Giác Ngộ cũng đóng góp xây dựng khang trang ngôi chùa này và nhiều ngôi Thánh tích khác. Họ vẫn giữ “Một đời một đạo đến ngày chung thân”. Như thế, tướng lĩnh Hòa Hảo có phải số người đội lốt tôn giáo chăng?
Tóm lại, đường lối chính trị của Ðức Huỳnh Giáo Chủ chỉ vì lòng từ bi phương tiện của chư Bồ Tát cùng trách nhiệm công dân đối với quốc gia khi hữu sự. Ban Biên Tập Tây Nam Bộ các ông không thạo việc cổ kim thế giới và những gì về Phật Giáo Hòa Hảo nên sự phán đoán nông cạn, không biết thế nào là số người “đội lốt tôn giáo”. Ðầu óc một con người cán bộ và một nhà văn lại thiển cận như thế, biết bao giờ đồng bào ta thực sự đoàn kết kiến thiết quốc gia giàu mạnh cho tiền nhân ta hài lòng nơi chín suối.

10.- NGUYÊN NHÂN PHẬT GIÁO HÒA HẢO CÓ QUÂN ÐỘI TRONG THỜI QUÁ KHỨ.

Ban Biên tập “Tây Nam Bộ” dùng tiếng bọn phản động chỉ thẳng vào Ðức Huỳnh Giáo Chủ và đạo Phật Giáo Hòa Hảo là sai lầm, thô bỉ. Bởi“bọn” là danh từ chỉ cho số người mất dạy, tụ năm, tụ bảy, phá xóm, phá làng, sống ngoài vòng pháp luật đáng khinh… như đám côn đồ, lũ trộm cắp, bọn gian tham .v.v… Nhưng quân đội Hòa Hảo của chúng tôi là dân quân cách mạng. Tổ chức này từ trong dân chúng mà ra và hợp tình hợp lý.
Nhà nước lúc nào cũng kêu gọi toàn dân đoàn kết, coi đồng bào như anh em cốt nhục một nhà, song các ông cố tình chia rẽ.
Một cán bộ mang lấy quân hàm, một nhà văn bỉnh bút đầu óc hẹp hòi, làm việc quanh quẩn như thế ư ?
Trên bình diện giải phóng quốc gia khỏi ách nô lệ của ngoại xâm, chúng tôi xin nói rõ:
Giặc Pháp đánh chiếm Việt Nam ta trên 80 năm, tiền nhân ta đã hy sinh rất nhiều xương máu trong công cuộc cứu quốc.
Từ cương vực một vị Giáo chủ đang giảng dạy đạo lý giải thoát chúng sanh ở cửa Thiền lâm vì tình yêu tổ quốc, Ðức Giáo Chủ Phật Giáo Hòa Hảo phải rời am tự, bước chân trên vũ đài chính trị tranh đấu giành lại chủ quyền độc lập quốc gia.
Tháng 8 năm 1946 các nhà lãnh đạo quân sự triệu tập một phiên đại hội nghị quân sự tại Sài Gòn, quyết nghị thành lập bốn sư đoàn:
1.- Dân Quân Cách Mạng Ðệ Nhất Sư Ðoàn do cựu chiến binh Bình Xuyên đảm trách.
2.- Dân Quân Cách Mạng Ðệ Nhị Sư Ðoàn do Cao Ðài (tướng Nguyễn Thành Phương và Phạm Công Tắc) đảm trách.
3.- Dân Quân Cách Mạng Ðệ Tam Sư Ðoàn do Nguyễn Hòa Hiệp (cựu Ðảng viên Quốc Dân Ðảng) đảm trách.
4.- Dân Quân Cách Mạng Ðệ Tứ Sư Ðoàn do Phật Giáo Hòa Hảo đảm trách.
Ðây là chính nghĩa, chủ lực chống xâm lăng giữ gìn cương thổ. Nhưng vận nước chưa gặp hồi sáng tỏ, nạn ganh tài tranh vị lại xảy ra. Ít lâu, Trần Văn Giàu lợi dụng vị thế Chủ Tịch Ủy Ban Hành Chính Nam Bộ giải tán bốn sư đoàn. Riêng Ðệ Tứ Sư Ðoàn còn tồn tại là lực lượng quân đội Phật Giáo Hòa Hảo sau này. Ðó là nguyên nhân Phật Giáo Hòa Hảo có quân đội.

11.- LÝ DO QUÂN ÐỘI PHẬT GIÁO HÒA HẢO VÀ CÁC GIÁO PHÁI CHỐNG VIỆT MINH TRONG THỜI QUÁ KHỨ.

Sau vụ biến cố Bửu Vinh ám hại Ðức Giáo Chủ Phật Giáo Hòa Hảo tại Ðốc Vàng Hạ (16-4-1947), Ðức Giáo Chủ vắng mặt. Nam Bộ vô cùng phức tạp, làm suy giảm tinh thần kháng Pháp ở miền Nam. Phật Giáo Hòa Hảo như “rắn không đầu”, mặt trước, sau lưng đều thọ địch.
Ðứng trước tình thế rối beng lúc này, chẳng những riêng các tướng lĩnh Phật Giáo Hòa Hảo mà các nhà lãnh đạo tôn giáo, chính trị và quân sự cũng phải tự chọn cho mình một con đường sinh lộ: Tướng Lê Văn Viễn và số binh sĩ Bình Xuyên kéo ra thành hợp tác với chính phủ Trần Văn Xuân. Thiên Chúa giáo cũng hợp tác với Pháp để ủng hộ giáo dân. Cao Ðài cũng ra mặt với Pháp để bảo vệ Tòa Thánh Tây Ninh và chư tín đồ. Ông Trần Văn Soái (Hòa Hảo) cũng ký hiệp định “liên quân” với Pháp để đối phó với tình thế bất trắc nói trên, không có bọn phòng nhì nào góp sức “kích động tín đồ Hòa Hảo chống cách mạng” chi cả!
Nếu Ban Biên Tập Tây Nam Bộ cho rằng “bọn phòng nhì…. kích động tín đồ Hòa Hảo chống lại cách mạng” thì Trần Văn Giàu sát hại những nhà ái quốc, những yếu nhân Phật Giáo Hòa Hảo, khủng bố Ðức Huỳnh Giáo Chủ phải vào rừng sâu lánh nạn (1945) và Bửu Vinh ám hại Ðức Giáo Chủ Phật Giáo Hòa Hảo ở Ðốc Vàng Hạ (16-4-1947) cũng do nguyên nhân bọn phòng nhì “góp sức kích động” hay sao?
Thử hỏi, nếu Trần Văn Giàu và Bửu Vinh không gây những tội ác tày trời này và đưa tín đồ Hòa Hảo vào con đường tử lộ thì làm sao có chuyện quân đội Hòa Hảo liên quân với Pháp đánh lui Việt Minh ra khỏi vùng đất đạo để tự vệ cho đồng đội và đồng đạo của mình? Ðó là lý do quân đội Phật Giáo Hòa Hảo chống lại Việt Minh trong thời quá khứ.
Tóm lại, Phật Giáo Hòa Hảo có quân đội là vì trách nhiệm công dân đối với quốc gia khi hữu sự. Quân đội Phật Giáo Hòa Hảo chống Việt Minh trong thời ấy là điều bất đắc dĩ. Và đây là phương lược tự vệ. Người “tự vệ” (Hòa Hảo) đứng trước công lý không có tội. Kẻ “gây hấn” (Việt Minh) mới có tội. Chuyện ông Trần Văn Soái ký hiệp định liên quân với Pháp vì tình thế “ngộ biến” phải “tùng quyền”, dù cho bất cứ một đảng chính trị nào và thời chiến nào cũng không thể vạch cho mình một kế sách tiến, thoái khác hơn.

IV. PHẦN KẾT LUẬN.

1. HÀNH ÐỘNG CHÁNH ÐẠI QUANG MINH CỦA ÐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ.
Có nghiên cứu các tài liệu lịch sử của các đảng phái chính trị thời đệ nhị thế chiến ở Việt Nam ta, nhất là ở Nam Bộ, ta mới thấy rõ hành động “chính đại quang minh” của Ðức Huỳnh Giáo Chủ.
Dưới đây xin đơn cử một vài trường hợp.
a.- Cứu trợ nạn đói ở Bắc Kỳ.
Bởi đệ nhị thế giới chiến tranh, nạn đói làm thiệt hại hai triệu đồng bào miền Bắc. Ngay khi đó, (hè năm Ất Dậu 1945) Ðức Huỳnh Giáo Chủ đi khắp các tỉnh miền Tây vận động cứu trợ nạn đói cho đồng bào miền Bắc và khuyến khích dân chúng lo khuyếch trương nông nghiệp để tránh nạn đói lan diễn khắp nơi trên đất nước.
Trong bài “Khuyến Nông”, Giáo Chủ nói:
“Cả kêu điền chủ phu nông,
Ðứng lên đừng để ruộng đồng bỏ hoang.
Muốn cứu khỏi tai nàn của nước,
No dạ dày là chước đầu tiên.
Nam Kỳ đâu phải sống riêng,
Mà còn cung cấp cho miền Bắc Trung.”

b.- Bảo An đội.
Sau thời gian Ðức Giáo Chủ Phật Giáo Hòa Hảo đi khuyến nông khắp các tỉnh miền Tây trở về Sài Gòn (tháng 8 dl năm 1945) vì có chuyện thay đổi chính quyền. Trong lúc giao thời đó, việc kiểm soát không được chặt chẽ nên có nhiều địa phương, nhất là nơi hẻo lánh thường xảy ra lắm vụ cờ bạc, trộm cướp, giết người… Ðể cứu vãn tình thế nguy ngập này, Ðức Huỳnh Giáo Chủ cho thành lập Bảo An đội hầu giữ gìn trật tự hương thôn, bảo vệ mùa màng… Bảo An đội không có vũ khí súng đạn và không lưu động mà ở thôn xóm nào lo giữ gìn an ninh cho thôn xóm đó. Dù không được bảo đảm an ninh toàn diện các tỉnh miền Tây, nhưng cũng nhờ đây mà dân chúng tạm được yên ổn làm ăn .

c.- Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp.
Ngày 20-4-1946, một phiên đại hội đông đủ các giới chính trị và quân sự hợp tại Bà Quẹo, thành lập “Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp”. Ðức Huỳnh Giáo Chủ (biệt hiệu Hoàng Anh) được đại hội bầu cử giữ chức vụ Chủ tịch. Ông Vũ Tam Anh làm Phó chủ Tịch, ông Lê Trung Nghĩa làm Ủy viên thông tin và tuyên truyền…Các tướng lĩnh: Huỳnh Văn Trí, Lê Văn Viễn, Bùi Hữu Phiệt, Dương Văn Hà, Lại Hữu Tài, Bác vật Hồ Ngọc Chiếu… được tham dự vào ủy ban Quân sự Trung ương.
“Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp” là một mặt trận võ phòng cho công cuộc chống xâm lăng. Nhưng sau đó, Nguyễn Bình lợi dụng danh nghĩa chính quyền giải tán và khủng bố những người có tên trong mặt trận.

d.- Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Ðảng.
Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Ðảng gọi tắt là Dân Xã Ðảng không phải một đảng riêng của Phật Giáo Hòa Hảo mà do những nhà ái quốc cùng Ðức Huỳnh Giáo Chủ thành lập và công bố trước quốc dân ngày 21-9-1946.
Mục đích của Dân Xã Ðảng có hai phương lược: “cứu quốc” chống xâm lăng và chương trình “kiến quốc” theo đường lối tự do, dân chủ, đưa đất nước đến chỗ văn minh, cường thịnh.
Thành phần Ban chấp hành trung ương Dân Xã Ðảng nhiệm kỳ I, gồm có:
-Tổng Bí Thư: Nguyễn Bảo Toàn (Thiên Chúa – nhân sĩ).
-Ủy Viên ngoại giao: Nguyễn Văn Sâm (nhân sĩ).
-Ủy Viên chánh trị: Trần Văn Ân (nhân sĩ).
-Ủy Viên tuyên huấn: Lê Văn Thu (nhân sĩ).
-Ủy Viên: Lâm Văn Tết (nhân sĩ).
-Ủy Viên: Ðỗå Phong Thuần (nhân sĩ).
-Ủy Viên: Trần Văn Tâm (Phật Giáo Hòa Hảo).
-Ủy Viên liên lạc: Lê Văn Thuận (Phật Giáo Hòa Hảo).
-Ủy Viên: Ðức Huỳnh Giáo Chủ (Phật Giáo Hòa Hảo).
Trong số Ủy viên trung ương Ðảng 9 người chỉ có 3 người Phật Giáo Hòa Hảo (kể cả Ðức Huỳnh Giáo Chủ) giữ nhiệm vụ có tính cách yểm trợ. Các chức vụ trọng yếu đều do những nhân vật trí thức, không phải người của Phật Giáo Hòa Hảo đảm trách. Ðiều này làm cho các tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo lo ngại về việc trao trọn quyền điều khiển cho người ngoại đạo, Ðức Giáo Chủ cho biết: “Phàm hễ hợp tác thì nên thành thật. Ðã tín nhiệm thì phải giao phó nhiệm vụ, đặt để đúng chỗ, xứng với tài năng. Việc cứu nước là việc mình nên ủng hộ cho người ta làm, chớ đừng tỵ hiềm tranh giành địa vị mà hư việc lớn. Mình nên thật tâm đem khối quần chúng hùng hậu của Phật Giáo Hòa Hảo mà ủng hộ các chiến sĩ cách mạng tranh đấu cho đất nước”.
Dù Dân Xã Ðảng không được thành công, phải bị trở ngại như trường hợp TÂN PHÁP của Vương An Thạch (1068-1078) ở Trung Hoa và ý thức tiến bộ bản ÐIỀU TRẦN của Nguyễn Trường Tộ (1827-1871 ) ở Việt Nam ta. Nhưng công thức tiến bộ sáng suốt ấy vẫn là một bài học cần thiết cho những nhà lãnh đạo quốc gia trên khắp thế giới sau này.

g.- Ðức Huỳnh Giáo Chủ Tham Chánh (14-11-1946).
Dù là đối phương nhẫn tâm đối với Ðức Giáo Chủ, nhưng Ngài vẫn coi quyền lợi quốc gia quan trọng hơn hết nên Ngài xóa bỏ hiềm riêng, nhận lời mời tham gia vào Ủy Ban Hành Chính Nam Bộ hầu lo việc giải phóng đất nước.
Sau thời gian Ðức Huỳnh Giáo Chủ tham chính, Ngài đóng quân chung trong chiến khu miền Ðông (khu 7) cùng các tướng lĩnh : Huỳnh Văn Trí, Lê Văn Viễn, Bùi Hữu Phiệt (Trưởng trung đoàn 25) …và đã được sự cảm tình nồng nhiệt với liên quân Bình Xuyên trong những ngày gian nguy kháng Pháp ở chiến khu này.

2. NHỮNG THỦ ÐOẠN ÐEN TỐI CỦA ÐỐI PHƯƠNG.
Dù trước, sau gì Ðức Huỳnh Giáo Chủ cũng vẫn đối xử tốt, nhưng Trần Văn Giàu và Bửu Vinh dùng thủ đoạn man trá đối với Ðức giáo Chủ.
Xin kể lại một vài trường hợp:
a.- Ngày 2 tháng 9 năm Ất Dậu (07-10-1945 ), họ hành quyết các nhân vật tay chân của Ðức Huỳnh Giáo Chủ, như: Huỳnh Thạnh Mậu (bào đệ của Ðức Giáo Chủ), thi sĩ Việt Châu – Nguyễn Xuân Thiếp, Trần Văn Hoành (con ông Trần Văn Soái) tại Cần Thơ. Và tiếp đó, họ sát hại nhiều yếu nhân của Phật Giáo Hòa Hảo ở các tỉnh miền Tây.
b.- Ở Sài Gòn đêm mùng 4 tháng 8 năm Ất Dậu, Trần Văn Giàu bao vây trụ sở Phật Giáo Hào Hảo đường Sohier bắt nhiều cán bộ Phật Giáo Hòa Hảo, chỉ có Ðức Huỳnh Giáo Chủ thoát khỏi. Từ đó, Ðức Giáo Chủ phải di cư đến Biên Hòa, Bà Rịa và đi sâu vào rừng Chà Là để lánh nạn.
Trong một khu rừng thâm u quạnh quẽ, Ðức Giáo Chủ tự thán:
“Từ ấy lao mình vượt khổn nguy,
Băng rừng lội suối giả man di.
Ngày mong ải Bắc oan nầy giải,
Ðem sức ra nâng lá quốc kỳ.”

c.- Ðức Huỳnh Giáo Chủ Về Miền Tây Và Thọ Nạn.
Theo tài liệu trong quyển “Sư Thúc Hòa Hảo” của tác giả Nguyên Hùng cho biết:
“Nghiên cứu tình hình miền Tây, Ủy Ban Kháng Chiến Hành Chánh Nam Bộ thấy cách hay nhất là đưa Huỳnh Phú Sổ về miền Tây thuyết phục tín đồ dẹp bỏ hận thù để chung sức chống Pháp. Thư mời Ủy Viên Ðặc Biệt Nam Bộ được cấp tốc gởi Sổ… (hàng 20 trang 242).
Ðể thi hành công vụ hòa giải nên thượng tuần tháng 4 dl năm 1947, Ðức Huỳnh Giáo Chủ từ miền Ðông (khu 7) trở về miền Tây (khu 9) gần hai tuần lễ, Giáo Chủ về đến chợ Ba Răng, thôn Phú Thành (Long Xuyên).
Cũng trong tài liệu nói trên, Nguyên Hùng cho biết thêm:
“Ngày 15 tháng 4 năm 1947 Sổ nhận được thư mời của giáo sư Trần Văn Nguyên thanh tra chánh trị miền Nam mời hợp tại Ba Răng về vấn đề hòa giải vụ xung đột giữa Hòa Hảo và Việt Minh” (hàng 27 trang 148).
Y thư mời, lối 7 giờ sáng ngày 15-4-1947 Ðức Huỳnh Giáo Chủ xuống ghe đi tới chợ Ba Răng (rạch Ðốc Vàng Hạ) gặp giáo sư Nguyên. Sau 15 phút, Ðức Giáo Chủ đứng lên diễn thuyết kêu gọi đôi bên Hòa Hảo và Việt Minh xóa bỏ hận thù để chung lo vận mệnh đất nước. Ðồng thời, Ðức Giáo Chủ còn thảo ra nhiều tờ hiệu triệu bố cáo cho mọi người biết thượng cấp của hai bên đã bắt tay lo việc giải phóng quốc gia…
Hôm sau (16-4-1947) Ðức giáo Chủ nhận thêm một bức thơ của Bửu Vinh mời Giáo Chủ hợp tại văn phòng của y (nhà ông Mười Ðủ, rạch Ðốc Vàng Hạ, xã Tân Phú, tỉnh Long Xuyên). Nơi đây, Bửu Vinh bố trí cuộc mưu sát Ðức Huỳnh Giáo Chủ (vào lúc 7 giờ rưỡi tối). Phòng vệ của Ðức Giáo Chủ chết ba, còn một chạy về Phú Thành báo tin.
Tiếp được hung tin này, tất cả tướng binh của Ðức Giáo Chủ cương quyết đem hết toàn lực đi giải vây và báo thù. Nhưng khoảng 11 giờ khuya có một người tín đồ ở gần chỗ bạo hành đó phi ngựa đến Phú Thành trao cho ông Trần Văn Soái và ông Nguyễn Giác Ngộ một bức thơ chính thủ bút và chữ ký của Ðức Giáo Chủ. Và bức thơ này chính Ðức Huỳnh Giáo Chủ trao tận tay cho người đưa thơ. Trong thơ có đoạn Ðức Giáo Chủ viết: “Cấm chỉ kéo quân đi tiếp cứu… Phải triệt để tuân lệnh”.
Bởi có lệnh của Ðức Giáo Chủ cấm, nên binh sĩ của Ngài đành phải án binh bất động.
Qua quá trình tranh đấu của Ðức Giáo Chủ, đứng về phương diện khách quan nhận xét: Em ruột của Ðức Giáo Chủ và tay chân thân tín của Ngài bị đối phương sát hại. Chính bản thân Ðức Giáo Chủ cũng bị khủng bố, phải đi vào rừng sâu lánh nạn. Thậm chí chuyến đi công vụ hòa giải lần sau cùng do Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ yêu cầu, Giáo chủ cũng bị Bửu Vinh ám hại. Nhưng Ðức Giáo Chủ vẫn đối xử tốt, cấm binh sĩ của Ngài không cho “báo oán trả thù”.
Ðiều đáng nói hơn nữa là: Bửu Vinh, một Ủy viên quân sự cấp tỉnh, lại đi ám hại Ðức Huỳnh Giáo Chủ cấp Ủy viên Nam Bộ. Nhưng quân kỷ có thấy ai nói gì đâu?
Tưởng trang sử bi đát qua rồi được sóng lặng gió êm, không ngờ tiếp theo hằng loạt sách báo của cán bộ văn nhân nhà nước cho ra đời như:DÒNG SÔNG THƠ ẤU, SƯ THÚC HÒA HẢO, TƯỚNG PHƯỜNG TUỒNG NĂM LỬATÂY NAM BỘ 30 NĂM KHÁNG CHIẾN… vu khống, mạ lỵ Ðức Giáo Chủ đạo Phật Giáo hòa Hảo là: Bọn gây bạo loạn, cướp chánh quyền, phản quốc v.v… Trong khi trên các đài truyền thanh, truyền hình của nhà nước vẫn tuyên bố: Việt Nam tôn trọng nhân quyền, tôn giáo được tự do tín ngưỡng.
Tóm lại, Ban Biên Tập Tây Nam Bộ các ông cố tình bóp méo lịch sử dân tộc, ghi chép không đúng sự thật.
Chuyện rất tầm thường như: Huỳnh Thạnh Mậu (bào đệ của Giáo Chủ), các ông cho là Huỳnh Phú Mậu. Năm 1945, Phật Giáo Hòa Hảo chưa có quân đội và tổng hành dinh ở Cái Vồn, các ông cho rằng thời gian ấy Phật Giáo Hòa Hảo có tổng hành dinh ở Cái Vồn v.v… Ðiều này người dân có đôi phần học thức hoặc cao niên kỷ ở miền Tây Nam bộ ai mà chẳng biết. Nhưng các ông lại viết, nói sai sự thật theo chiều hướng của các ông, những gì khó hiểu hơn, quan trọng hơn làm sao các ông ghi chép, phán đoán cho đúng được?
Khi tìm xét kỹ thành tích tranh đấu của Ðức Huỳnh Giáo Chủ và hành động của đối phương, người kém trí đến đâu và nhận xét ngay thẳng cũng thấy rõ rằng: ai là người làm việc “chánh đại quang minh” theo nguyên tắc? Ai là kẻ bày trò dã man đen tối, mị dân? Ai thật sự đoàn kết, nhẫn nhịn lo đại nghĩa quốc gia? Ai lừa bịp chia rẽ và độc tài, gây hấn?
Ngày giờ nào trên đất nước Việt Nam ta, nhất là giới hữu trách và văn nhân nhà nước còn đóng khung trong cố định, chưa quên hết hận thù,chưa thật sự đặt quyền lợi quốc gia trên tất cả thì biết bao giờ đất nước ta mới được phú cường và đồng bào ta mới được chung sống với cảnh : Tự do, Hạnh phúc, Thanh bình?

Cố cư sĩ NGUYỄN VĂN ĐON

Lần sửa cuối bởi TTT, ngày 03-26-2016 lúc 06:43 AM.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

SỰ NHIỆM MẦU TỪ BIẾN CỐ ĐỐC VÀNG HẠ

SỰ NHIỆM MẦU TỪ BIẾN CỐ ĐỐC VÀNG HẠ

hh


Kính thưa: Chư quí Thân H
ữu, Đồng Đạo trong và ngoài nước.

Còn một vài hôm nữa là đến Lễ Kỷ Niệm lần thứ 69 ngày Đức Huỳnh Giáo Chủ Phật Giáo Hòa Hảo tạm thời ẩn ánh (25, th
áng 02 Âl nhuần, Đinh Hợi, 1947 – 25.2. Bính Thân 2016) từ biến cố Đốc Vàng Hạ, ngay trong đêm dự phiên họp bất thường do những người cùng chiến tuyến âm thầm tổ chức, nhằm triệt hạ Ngài Ủy Viên Đặc Biệt. Tạo nên một thảm họa “nồi da” đáng tiếc khắp miền lục tỉnh Hậu Giang, đã khiến cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, giờ lại có thêm cuộc xâu xé nội tình đầy dẫy tang thương, mà nạn nhân chính phải gánh chịu là những người cùng chủng tộc, phải tiếp tục đổ máu vô ích cho cuộc chiến phi nghĩa kéo dài hơn một thế hệ. Đã để lại rất nhiều hệ lụy nghi ngờ và cừu hận lẫn nhau, tồn tại dai dẳng hơn 40 năm sau ngày hòa bình mà vẫn chưa có cơ hội hóa giải cho ổn thỏa đôi đàng!


Đây là bài học lịch sử đắng cay đầy máu và nước mắt, nhằm nhắc nhở cho cả dân tộc về tác hại của sự độc đoán!!! Đấy là một vấn nạn lịch sử, đòi hỏi trách nhiệm của đoàn hậu duệ cả hai bên, đến lúc cần phải tỏ thiện chí ngồi lại để nhìn nhận đúng bản chất sự kiện, hầu tìm kiếm một giải pháp hóa giải ôn hòa, thẳng thắn, cho thật sự công minh nhằm thuyết phục công luận. Riêng đối với Đức Huỳnh Giáo Chủ là đấng siêu phàm đã hoàn toàn thoát ngoài vòng sinh tử một cách vô ngã tự tại… Không có loại kiến thức phàm phu nào có thể lý giải nỗi về sự sống chết của Ngài, cũng như không có bất kỳ một chướng ngại nào có thể ngăn trở được sứ mạng thiêng liêng và lòng đại nguyện của Ngài. Trái lại Ngài rất tự tại tùy thuận vào ra nơi cõi Ta Bà, để thể hiện rộng lớn lòng Từ bi và trí Bát nhã diệu mầu, hầu có phương tiện rộng bủa từ tâm cứu độ mọi tai kiếp cho đồng bào và nhân loại, thuận theo sắc lịnh Phật Trời, trong cơ biến chuyển bách cận của buổi hạ ngươn.

Năm nay nhân kỷ niệm ngày thiêng liêng này, là dịp để chúng ta tôn vinh công lao trời biển của Đức Huỳnh Giáo Chủ, trong cơ cuộc đại bi hoằng hóa suốt chặng đường lịch sử nhiễu nhương của đất nước trong những năm 1939-1947. Đặc biệt là biến cố Đốc Vàng Hạ, cũng cần làm sáng tỏ những tình tiết quan trọng mà bấy lâu vẫn còn tiềm tàng bí ẩn bất khả phân minh. Vốn là một thách thức to lớn đối với các sử gia, nhà nghiên cứu và học giả Đông Tây, không tài nào khám phá cho ra manh mối, bởi sự giới hạn của trí thức phàm phu. Tất cả những sử liệu trước đây, đã được công bố trong quốc nội, cũng như những hồ sơ tình báo được lưu trữ trong các văn khố quốc tế Anh, Pháp… xuất hiện gần đây đã gây dư luận xôn xao cho rằng Đức Huỳnh Giáo Chủ đã chết. Sự đồn đoán thiếu cân nhắc như thế là sự nhận định phiếm diện, ảnh hưởng màu sắc chính trị, tuyên truyền thiếu cơ sở.. họ cố giải thích một cách đơn điệu dựa vào những tư liệu ngụy tạo mà thời chiến nào cũng có không ít. Sự hữu hình mà còn không rõ thực hư, thì làm sao đủ sức khám phá cơ huyền, để hiểu nỗi cách quyền dụng thần kỳ đã vô hiệu hóa một âm mưu độc địa, trở thành một cơ hội để Đức Giáo Chủ tạm thời ẩn ánh an toàn, với đầy đủ lý do chánh đáng do đối phương tạo ra. Điều đáng ngạc nhiên nữa là Ngài dùng kế “Khổng Minh” tài tình ngăn chặn từ xa rất hữu hiệu cho một cuộc đụng độ nồi da mà sự diệt vong đang cận kề về phía bộ đội Hòa Hảo, nếu không khéo sẽ rơi vào hiểm họa. Mệnh lệnh “…Cấm chỉ việc kéo quân đi tiếp cứu… trong bức thư ngắn gọn, được thần tốc gởi đến doanh trại Hòa Hảo kịp thời là một minh chứng “Thần cơ diệu toán”, chỉ có đấng siêu phàm mới đủ diệu năng quán thông xuất thần như thế!

Để kích thích sự tò mò khám phá, chúng ta thử đặt vấn đề, có ai nếu không phải là bậc siêu nhân như Đức Huỳnh Giáo Chủ, mà có bản lĩnh dám thản nhiên chấp nhận lời mời, với phong thái không do dự, quyết thực hiện cuộc phó hội ban đêm, được tổ chức tận vùng đầm lầy trung tâm của chiến khu Đồng Tháp. Dù là trí thức thường nhân vẫn ước đoán được một hậu quả “Lành ít dữ nhiều” huống chi là bậc quán chúng như Ngài. Thế mà Ngài vẫn loại trừ các yếu tố nghi ngờ hoặc phòng thủ đối trọng tương xứng theo lực lượng sẵn có. Thậm chí có đủ lý do khước từ chánh đáng hoặc bàn chọn địa điểm thích hợp khác, tối thiểu là đề nghị một phiên họp vào ban ngày cho minh bạch…
Nhưng bản lĩnh của bậc siêu nhân không hề ngăn ngại. Vẫn một mình với đoàn tùy tùng 4 người phòng vệ và 2 phu chèo, trên một chiếc ghe mui cỡ nhỏ, thẳng tiến tròng trành trên dòng sông Ba Răng lạnh lẽo, khi ánh hoàng hôn ảm đạm mờ dần trong bóng đêm tịch mịch. Hai bên dòng sông um tùm lau sậy, không một bóng người hay nhà ở, ngoại trừ những trạm gác được bố trí đều đặn trên bờ sông rất nghiêm nhặt (Theo lời kể của Ông Mười Tỷ một phòng vệ còn sống sót).

Từ khi Pháp tái chiếm Việt Nam lần hai ngày 23/9/1945, Đốc Vàng Hạ đã trở thành vùng căn cứ địa kháng chiến của UB/KCHC Nam Bộ, là vùng cấm địa bất khả xâm phạm. Nay lại xuất hiện một chuyến thủy hành phó hội ban đêm, là đã báo trước một tiền đề ảm đạm, và điều nguy hiểm đã thật sự xảy ra một cách kinh hoàng, khi mà hai nhân vật chính đàm phán là ĐứcThầy và ông Bửu Vinh vừa ngồi vào bàn họp, thì từ bên ngoài gần đó, nhiều loạt tiểu liên chĩa vào phòng họp tiếp cận mục tiêu khai hỏa liên thanh, loạn xạ trong bối cảnh tối thui. Dự luận cho rằng “chỉ có Thánh mới thoát nỗi”. Nhưng rồi còn hơn ta tưởng “cả Thánh lẫn phàm (Bửu Vinh) vẫn còn sống tự nhiên, qua sự cho biết cấp thời trong đêm, từ lá khẩn thư viết tay (thủ bút của Đức Huỳnh Giáo Chủ) được trích như sau:“…Tôi vừa hội hiệp với ông Bửu Vinh, bỗng có sự sự biến cố, tôi và ông Vinh suýt chết, chưa rõ nguyên nhân còn điều tra…”. Lá thư viết xong lúc 9 giờ 15 phút đêm 16/4/1947 có chữ ký của Đức Huỳnh Giáo Chủ. Lúc bấy giờ 4 phòng vệ của Đức Thầy, thì 3 người đã bị sát thương bằng dao đâm và một người thoát nạn chạy về kể lại là ông Mười Tỷ.

Thưa quí Thân H
ữu,
Đồng Đạo,

Qua lá thư Đức Thầy gửi về cho ông Trần Văn Soái và ông Nguyễn Giác Ngộ, được một người (không phải ông Mười Tỷ) không rõ căn tích, mang về tới doanh trại PGHH khoảng 11 giờ trong đêm ấy. Cộng thêm lời kể của ông Mười Tỷ về cái chết của 3 phòng vệ. Đã đủ chứng lý để khẳng định Đức Huỳnh Giáo Chủ thoát nạn an toàn, sau sự biến cố nã súng trực diện cự ly gần. Nếu cách ám hại chính xác đúng mục tiêu định trước như vậy, mà Đức Thầy vẫn không chết. Vậy thì Đức Huỳnh Giáo Chủ có thể chết được trong trường hợp nguy hiểm nào hơn nữa đây, xin hỏi hết công luận Đông Tây hãy trả lời dùm?

Thế mà đến giờ nầy vẫn có người cho rằng Đức Thầy đã chết. Nhất là hiện nay người ta lôi ra những tài liệu mật vụ tình báo từ văn khố Pháp thì có đủ tin không? Dù Pháp hay Anh, Mỹ hoặc Việt Nam… cũng đâu có sử gia hay nhà chính trị nào là Thánh đâu mà biết được “việc Thánh chết hay còn sống”, chúng ta chớ vội cả tin?
Nếu căn cứ theo nghiên cứu khoa học hay suy luận duy lý thì không tài nào giải thích cụ thể được những câu hỏi có liên quan về biến cố Đốc Vàng Hạ được.


Chẳng hạn:
1.- Nếu Đức Thầy chết thì ai đã viết lá thư ấy? Nếu cho rằng Bửu Vinh mạo lá thư ấy thì với mục đích gì? Phải chăng nội dung lá thư là cấm không cho kéo quân tiếp cứu? Nếu Bửu Vinh sợ lực lượng Hòa Hảo thì đâu dám tổ chức ám hại Giáo Chủ PGHH, chỉ cách địa điểm đóng quân của doanh trại Hòa Hảo chỉ hơn 10 cây số?
Nên nhớ Bửu Vinh lúc bấy giờ (1947) đã có thừa lực lượng hơn Hòa Hảo rất nhiều. Khi họ cố tình hại lãnh tụ Hòa Hảo, tức nhiên là họ đã dự trù sẵn kế hoạch bao vây lực lượng Hòa Hảo kéo quân vào chiến khu tiếp cứu, để diệt gọn không còn manh giáp, chứ ngăn lại làm gì cho mất cơ hội. Một lần nữa khẳng định, chính Đức Huỳnh Giáo Chủ đã viết lá thư ấy nhằm cứu sống sĩ binh Hòa Hảo một cách an toàn. Vậy ý kiến cho rằng Bửu Vinh viết mạo thư ấy là sai… Vả lại thủ bút ấy của Đức Thầy chính luật sư Mai Văn Dậu và hầu hết trí thức thân cận Đức Thầy đã xác định rất chính xác, cho đến bây giờ vẫn không ai có ý kiến tranh cãi.

2.- Người đưa thư trong đêm ấy họ tên gì? Và 3 người phòng vệ tử thương ngoài phòng họp, đến nay có aibiết thành phần, lai lịch và địa chỉ gì chăng? Theo nguyên tắc quân sự thì trước khi được chọn làm phòng vệ cho Đức Thầy, bổn phận các tướng lãnh phải chọn người thích hợp theo đơn vị cụ thể từ tiểu đội, trung đội, đại đội… Vậy mà cho đến 69 năm nay vẫn không ai biết 3 vị phòng vệ quan trọng ấy tên gì, không làm lễ giỗ, không xây miếu đài tôn thờ linh vị, không báo tử đến thân nhân, nói chung họ đã trở thành chiến sĩ vô danh hết sức vô tình, thậm chí người cùng đi với 3 người này là ông Mười Tỷ mà cũng không biết họ là ai. Vậy xin hỏi tiếp các tài liệu tình báo nổi tiếng được lưu trữ trong các văn khố Pháp, Mỹ, Anh và VN có giải thích nỗi điều này chăng? Hay cũng bó tay? Nếu việc nhỏ như vậy mà không thể biết thì chớ khá tham vọng lạm bàn đến việc sống chết của Đức Huỳnh Giáo Chủ vốn là đấng siêu nhân, ẩn chứa đầy cơ mật diệu huyền làm sao trí phàmvới tới?

3.- Đã tin chắc rằng ĐứcThầy viết lá thư ấy sau sự cố xảy ra khoảng từ 8 giờ đến 9 giờ 15 phút đêm như đã chứng minh trên, chúng ta còn cần phải suy luận thêm coi, Ngài viết dưới ánh đèn bằng cách nào và nơi nào cho an toàn sau khi đã thoát nạn, mà không bị phát hiện? Vì sau vụ nổ kinh hoàng ấy thì toàn khu vực xung quanh đương nhiên phải bị truy lùng gắt gao? và người tín đồ đưa thư không phải là người tùy tùng theo đoàn phó hội, xuất hiện cách nào để tiếp nhận thánh thư ấy từ tay Đức Thầy?. Và từ ấy Đức Thầy đã ẩn ánh một cách kỳ bí hoàn toàn, ngoài sự hiểu biết của phàm nhân, không bất kỳ ai kể cả Pháp, Việt Minh và lực lượng hay tín đồ PGHH đều không còn biết thêm gì nữa cả.

Nếu như đã tận dụng tột đỉnh kiến thức phàm phu mà không sao lý giải thấu đáo nỗi những hiện tượng bí ẩn chung quanh câu chuyện lịch sử ĐốcVàng Hạ được, thì chỉ còn cách dựa theo niềm tin “Thiên cơ và Đạo lý” hy vọng có thể khám phá có phần khả quan thuyết phục hơn đôi chút.
Vì Đức Huỳnh Giáo Chủ là đấng siêu phàm, được thể nghiệm trong nhiều lĩnh vực và nhất là trong giáo lý, Ngài đã nhiều lần tiết lộ cơ huyền, nêu rõ về sứ mạng, về sự tiên tri và cách hành xử đối ứng rất chu toàn và hữu hiệu trong mọi tình thế.
Ngài đã tiên liệu được chiến tranh thế giới lần hai, khởi đầu năm nào và kết thúc năm nào một cách chính xác (1939-1945) bằng sự ẩn dụ mười hai con giáp. Biết “Nhựt Bổn ăn không hết nửa con gà”… Vậy đối với diễn biến trong nước Việt Nam đối với Ngài, nào có chi phải khó khăn ngăn ngại. Đọc lại lịch sử dấn thân của Ngài chúng ta sẽ thấy sức linh hoạt thần kỳ ngoài năng lực dự đoán phàm phu, Ngài đã từng biến nghịch hoán chuyển thành thuận lợi, biến họa thành phước, biến nguy ra an… Rồi đây trong tương lai gần còn biến loạn ra trị, khi mà thế giới lâm chiến!

Chẳng hạn:
Ngài mở đạo năm 1939, ngay trong thời điểm chiến tranh thế giới lần hai khởi chiến khốc liệt, thế mà Ngài đã thâu nhận gần hai triệu tín đồ trong thời gian rất ngắn trước sự hà khắc cực đoan của thực dân Pháp; Khi bị Pháp lưu cư nhiều nơi, Ngài biến các nơi bị quản thúc của Pháp, thảy đều trở thành diễn đàn truyền đạo có tấp nập tín đồ.
“Càng đi càng biết nhiều nơi
Càng đem chân lý tuyệt vời phổ thông”


Khi lánh nạn miền Đông thì: – Ngài giáo dục tinh thần kháng chiến cho Bình Xuyên. – Khi xảy ra nạn đói Bắc Kỳ thì Ngài đi khuyến nông. – Khi Nhật đảo chánh Pháp, – Ngài thành lập Ban trị sự các cấp, và lực lượng gìn giữ hương thôn. – Và tổ chức phong trào Độc Lập Vận Động Hội, đòi Nhật trao trả độc lập. Khi Pháp tái chiếm Việt Nam lần hai (23/9/1945) – Ngài thành lập quân đội Bảo An để đương đầu với Pháp. Tháng 9/1946 khi Pháp đàn áp mạnh ở các đô thị, các lực lượng kháng chiến rút vào bưng biền thì – Ngài thành lập Đảng Dân Chủ Xã Hội, để huy động hầu hết các tổ chức trí thức yêu nước tại Sài Gòn, nhằm củng cố lực lượng kháng Pháp. Tháng 10/1946 do nhu cầu tăng cường thống nhất lực lượng dân tộc, khi được lời mời Ngài liền tham gia UB/KCHC/NB, với chức vụ rất khiêm tốn là Ủy Viên Đặc Biệt, với chức năng vừa hòa giải mọi xung đột hai bên, vừa hợp tác thành lập các khu kháng chiến, nhằm lập kế lâu dài cho vận hội dân tộc.
Đầu năm 1947. Do tiên liệu đến giai đoạn
“Ta dừng tay chờ đợi lịnh Thiên”. Ngài chấp nhận vào cuộc, nhân biến cố Đốc Vàng Hạ rất thuận duyên để Ngài thể hiện sự chấp hành kỷ luật tổ chức hành chánh và tận tình thực thi nghĩa vụ với non sông, vừa cứu nguy cho đoàn thể sinh tồn bằng một lá thơ “Thần kỳ” đồng thời vận dụng cơ huyền tạm thời qui ẩn chờ lịnh Hoàng Thiên. Sự khế hợp nhuần nhuyễn viên dung lý sự, về sự thoát nạn nhiệm mầu như vậy là một thông điệp Thiên cơ khắc sâu niềm tin cho tín đồ yên tâm “Kiên trinh gìn mối đạo” và hứa hẹn Ngài sẽ trở lại khi cơ Trời thuận lợi. Đúng như lời dặn dò trước đó:
“Ít lâu ta cũng trở về,
Khuyên trong bổn đạo chớ hề lãng xao”


Có nhiều người không hiểu cho rằng, vì sao Đức Huỳnh Giáo Chủ nổi tiếng là một nhà Thánh triết tiên tri lại phải “thọ nạn Đốc Vàng” để phải kết thúc sớm sự nghiệp hoằng hóa, khiến đoàn thể PGHH rơi vào cơn Pháp nạn dai dẳng gần 70 năm.


Xin thưa, nếu nhìn ở góc độ phàm phu, thì không thấy hết sự thành công vĩ đại của Đức Huỳnh Giáo Chủ trên 3 lãnh vựcTôn giáoChính trịQuân sự. Nhưng xét theo Thiên lý sẽ thấu đáo được rằng: Đức Thầy lâm phàm trong thời kỳ Mạt hạ tức thời tận diệt, mọi cộng quả, cộng nghiệp của nhân loại đều nằm trong bộ máy lọc lựa để tuyển chọn người hiền đức, đưa sang thế giới Tân Ngươn Thánh Đức.
Nên việc đào tạo phải thích nghi sự dịch chuyển tuần hoàn từ hạ sang thượng, điều ấy phải thuận theo sự thăng tiến nghịch chiều. Vì lẽ đó, Đức Huỳnh Giáo Chủ xây dựng nền tảng Giáo lý, chú trọng việc đào luyện tín đồ các đức tính: Trung, hiếu, hiền, lương trên cơ sở đền trả tứ ân. Tục ngữ có câu: “Nhà nghèo mới hay con thảo, nước loạn mới biết tôi trung”. Thế nên trong môi trường gian khổ đầy thử thách. Người tín đồ mới có nhiều cơ hội vừa nhẫn nhục đền trả oan khiên, vừa đáp đền tứ đại trọng ân và tự rèn đúc ý chí kiên trinh theo lẽ đạo, để đi đến trọn sáng trọn lành. Ngài đã từng cảnh báo thói thường của hạng giả tu.
“Tu mà ham cho được giàu sang
Với quyền tước là tu dối thế”


Thực tế 77 năm qua, tín đồ PGHH do hấp thụ nền chánh đạo vô vi của Đức Huỳnh Giáo Chủ, hằng triệu triệu tín đồ chân chính, đều có cơ hội rèn luyện và thực hành, đạt rất nhiều thành tựu từ nhiều góc độ và nhiều lãnh vực siêu tuyệt khác nhau, nếu so với các tôn giáo khác, cùng đồng hành trên thế giới, thì PGHH có nhiều nét nổi trội hơn hẳn về những đức tính căn bản chủ yếu nêu trên.

1./- Về Tôn Giáo: Sau hơn một ngàn năm Phật Giáo thất truyền Phật Giáo đang bị “Thế tục hóa” toàn diện. Ngài xuất hiện kịp thời đưa ra nền giáo thuyết “Học Phật Tu Nhân” nhằm vãn hồi đạo Nhân và chấn hưng Phật Giáo, rất phù hợp mọi căn khí chúng sanh. Trên thì có giáo pháp thắng diệu cao siêu, hạp với hạng thượng căn thắng sĩ, dưới thì dùng cách phổ cập trung đẳng, giúp đại chúng dễ dàng nương tựa thực hành để trở nên Hiền Đức Hiếu Trung.

2./- Về Chính Trị: Đương nhiên tín đồ cư sĩ tại gia phải có nhiệm vụ đáp đền ơn Đất nước trong lúc Quốc gia nghiêng nghèo. Nhất thiết phải cần có một đường lối chính trị thích hợp nhân tâm đạo đức nhà tu, vừa có qui củ đánh đuổi ngoại xâm vừa có kế sách an dân và lộ trình kiến thiết Quốc gia công bằng nhân đạo và văn minh giàu mạnh. Nền chánh đảng“Việt Nam Dân Chủ Xã Hội” là đường lối trung hòa hoàn toàn phù hợp xu thế dân chủ lúc bấy giờ và mãi mãi không lạc hậu với thì tương lai. Giúp cho người tín đồ có năng lực và ý chí giúp đỡ quê hương tương xứng với tiềm năng có thể của mình, mà vẫn giữ được phong cách nhà tu chân chánh.

3./- Về Quân Sự: Tính chất quân sự của PGHH hoàn toàn khác hẳn mục tiêu Quân sự quốc gia. Ngoài việc tham gia kháng chiến chống ngoại xâm, gìn giữ an ninh làng xóm và bảo vệ đạo pháp, lúc nước nhà đang bị nô lệ, nền đạo còn sơ khai. Quân đội của PGHH không có mục đích cát cứ vùng miền, hoặc bạo lực cướp chính quyền hay thành lập quốc gia như các lực lượng chính qui quân với hình thức tổ chức quân đội quốc gia. Khi đất nước thanh bình, đương nhiên quân đội PGHH tự giải thể để trở về đời sống tu hành.

Đó chính là mục tiêu cố định của quân đội Hòa Hảo. Đúng như lời Đức Huỳnh Giáo Chủ đã bày tỏ ý chí và trách nhiệm với Non sông:
“Tăng sĩ quyết chùa am bế cửa,
Tuốt gươm vàng lên ngựa xông pha.
Đền xong nợ nước thù nhà,
Thuyền môn trở gót Phật Đà Nam Mô”


Điển hình là tháng 10/1946 khi Đức Thầy tham gia vào UB/KCHC/NB với chức vụ Ủy Viên Đặc Biệt, Ngài liền đem lực lượng quân sự PGHH sáp nhập vào chính qui quân của chính phủ Việt Minh, không bảo lưu thẩm quyền biệt lập.
Tóm lại Đức Huỳnh Giáo Chủ có chủ trương rõ ràng minh chánh và rất thành công trên 3 lãnh vực Tôn giáo – Chính trị – Quân sự, từ nền tảng triết lý, cũng như trực tiếp treo gương và hướng dẫn thực hành, rất chu đáo và hợp pháp rất thí chứng nhân tâm và Đạo lý, là nền tảng kim chỉ Nam cho hầu hết tín đồ nương theo mà lập công bồi đức để trở thành tín đồ chơn thành và công dân ưu tú, từng bước tiến đến trọn sáng trọn lành đạt đến cứu cánh giải thoát.
Tuy nhiên trong tình hình đất nước nhiễu nhương thời binh lửa, không sao tránh khỏi một số ít ngoại đạo gia nhập lợi dụng đi ngược chủ trương, nhưng cũng chỉ là nhỏ lẻ mà thôi.

Kết luận: Chúng ta khẳng định biến cố Đốc Vàng Hạ là một chứng tích lịch sử hiển nhiên không thể đảo ngược, được diễn ra trong bối cảnh phức tạp, ẩn chứa nhiều tình tiết bí ẩn cơ huyền, ngoài sức lý giải của phàm nhân. Nếu không dựa vào chánh tín để cảm thụ “Thiên cơ đạo lý” thì không sao thấu đáo ý nghĩa cơ mật tiềm tàng. Là tín đồ PGHH chúng ta tuyệt đối tin Đức Huỳnh Giáo Chủ là Phật lâm phàm với nhiều sắc chỉ thiêng liêng, có sứ mạng trọng đại trong cõi Ta Bà thời mạt pháp, chứ không riêng VN. Vậy hiện nay địa cầu đang biến chuyển nghiêm trọng, mà công cuộc tận độ của Ngài vẫn còn dang dở nửa vời, tất nhiên Ngài không thể không xuất hiện trở lại để hoàn tất theo Thiên mệnh. Nên Ngài cũng không thể chết (Tịch diệt) trong mọi trường hợp để tái kiếp. Tin chắc điều ấy, vì trong câu cuối bài “Sứ Mạng” Đức Thầy đã thổ lộ là kiếp cuối cùng“Kiếp chót nầy đây há lại tiếc chi thân phàm tục, song vì tình cốt nhục tương thân, cũng ủng hộ chở che cho xác phàm bớt nỗi cực hình” .

Vậy sự cố Đốc Vàng Hạ đối với Ngài là một việc rất nhỏ so với đại cuộc nhân loại. Chỉ cần Ngài cử động nhẹ cây “Trần Phất” cũng đủ tự tại“Một Thầy ba Tớ hết buồn lại vui”. Nếu như trong quyển một Sấm Giảng, Đức Huỳnh Giáo Chủ đã mô tả cảnh “Một Thầy ba Tớ đi dạo lục châu” biến hóa thần kỳ thoạt đó thoạt đây, đủ hình đủ dạng tục, tiên. Thì tại sao chúng ta lại không tin “Một Thầy ba Tớ dùng hóa thân” để đi giải nạn Đốc Vàng Hạ, cho thuận cơ ẩn ánh tạm thời, và cứu tín đồ khỏi họa diệt vong. Đến như vấn đề bức thư khẩn cũng đầy thần bí. Người đưa thơ đã được gặp Đức Thầy lúc nào, sao không báo sự an nguy của Đức Thầy lúc ấy ra sao, lại cũng không lưu lại doanh trại cho an toàn.Vị nầy còn có vẻ bí ẩn thần diệu hơn nhiều, nửa đêm lại dám hối hả xông vào bản doanh soái tướng… rồi lại ra đi đột ngột.

Chúng ta thử đặt ra tình huống ngược lại, nếu Bửu Vinh đã quá nghi ngờ và cố tâm triệt hạ, mà Ngài không ẩn ánh, chẳng lẽ Ngài phải đương đầu cho rơi vào thảm họa “nồi da”. Thánh nhân xưa nay không bao giờ tham dự trong cảnh ngộ đồng chủng tương tàn. Nhiều lần Ngài lánh nạn ở miền Đông chẳng qua cũng vì lẽ ấy!
Đức Thầy là đấng Đại Bi vô ngã, không vướng hiềm riêng mà lúc nào cũng bao dung với từ tâm rộng độ. Vậy bổn phận tín đồ PGHH chúng ta. Còn trong địa vị phàm phu cứ tùy theo thời kỳ, có thể ứng xử hay nhận định lý giải cách nào về vụ ĐốcVàng Hạ cũng đều chánh đáng cả, tùy theo căn tánh và môi trường sao sao cũng tốt, miễn cho thích hợp theo từng giai đoạn lịch sử lúc thắt lúc mở, đều có thể dễ đồng cảm được nhau về mặt tương đối. Tuy nhiên trong giai đoạn này, thế giới đầy biến động, VN cũng không ngoại lệ, chúng ta cần có cách nhận định theo lẽ cơ huyền, thuận lý Thiên cơ, nhằm làm dịu dần đi bao nỗi bất bình, cho thần trí nhẹ nhàng thanh thản, hầu rảnh rang trau dồi thân tâm an lạc, củng cố niềm tin Đức Thầy trở lại, mà nỗ lực xây dựng tình đoàn kết đệ huynh, tương trợ lẫn nhau trong quan, hôn, tang, tế và dìu dắt nhau tiếp bước tu hành, cho đủ Đức, đủ Công, đủ điều kiện gặp lại Chơn sư như đã hằng mong đợi. Đồng thời tạo thêm hòa khí,vốn đã tốt ngày càng tốt hơn, đối với nhân sinh và các giới ngoại đạo. Nhất là, làm sao linh động phương cách tổ chức các ngày Đại lễ kỷ niệm, cho được an toàn êm thắm và nhân rộng lan tỏa khắp nhà nhà, mà vẫn thể hiện đầy đủ ý nghĩa tôn kính từ hình thức lẫn nội dung hành lễ, không kém gì các hình thức tổ chức nghi lễ tập trung, mà phải thường xuyên vất vả với nhiều chướng ngại khách quan, rất khó suôn sẻ như ý vậy.

Chân thành kính chúc quý đồng Đạo quốc nội cũng như hải ngoại được hưởng nhiều phúc lạc trong các mùa đại lễ an lành, dưới sự hộ trì của Đức Phật, Đức Thầy tôn kính!

Trân Trọng,

Châu Lang
TP Sa Đéc 22/02 năm Bính Thân (2016)

Last edited by Buile; Hôm nay at 07:15 AM.
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Tình cảnh tín đồ PGHH hiện nay!

Tình cảnh tín đồ PGHH hiện nay!

Thanh Quang,
phóng viên RFA

2013-01-29

Trong khi người tù lương tâm thuộc Đạo Phật Giáo Hoà Hảo Nguyễn Văn Lía tiếp tục cảnh lao lý, thì có lẽ câu hỏi cần được nêu lên là tình cảnh của ông hiện đáng ngại như thế nào?
Sức khỏe sa sút
http://www.rfa.org/vietnamese/in_dep…p3/inline.html
(xin nhấp vào phần video để nghe toàn bộ bản văn)


Tín đồ PGHH Nguyễn Văn Lía

Sau khi trải qua cảnh tù đầy gần 2 năm cho án tù 4 năm rưỡi mà Toà án An Giang áp đặt hồi tháng 3 năm ngoái, ông Nguyễn Văn Lía, tín đồ lão thành, kỳ cựu và uyên bác của Đạo Phật Giáo Hoà Hảo, tác giả của nhiều sách Giáo lý PGHH, hiện tiếp tục sa sút sức khoẻ, như người con gái ông, cô Nguyễn Thị Lụa, kể lại ngay sau chuyến thăm cha ở trại tù K3, Xuân Lộc, Đồng nay, trở về:

Cha tôi bây giờ bệnh nhiều, hay lên máu, trong khi thuốc men thì không có đủ, mà lại không cho uống đều đặn. Cho nên sức khoẻ của cha bây giờ yếu lắm, người xanh xao. Thuốc gia đình đem ra cho cha thì họ giấu bớt, không cho uống hết; thuốc bổ tôi đem ra cho cha để uống trong 8 tháng thì họ giữ lại còn chừng 4 tháng. Còn đồ ăn, đồ uống thì tụi nó cũng cắt xén bớt của cha tôi.


Trong khi đó, tù nhân lương tâm Nguyễn Văn Lía bị cai ngục hành hạ thêm dưới những hình thức khác, mà cô Nguyễn Thị Lụa mô tả như sau:


Bây giờ họ chuyển cha tôi sang ở chung với 80 người. Cha tôi nằm chỗ bề ngang có 5 tấc. Cha già, lớn tuổi rồi mà họ để cho cha tôi nằm ngay chỗ TV ồn ào tối ngày sáng đêm nên sức khoẻ cha tôi ngày càng yếu thêm. Cha tôi xin dời chỗ khác thì họ không cho. Cha tôi nói là mỗi lần tới lui đâu đều có người theo dõi hết, rất là bất tiện.

Được biết trong cảnh lao tù, giới điều hành trại giam bắt ông Nguyễn Văn Lía ký đơn để xin giảm án, ghi rõ 3 điều kiện: Thứ nhất là nhận tội; thứ hai là xin nhà nước khoan hồng; và thứ ba gọi là học theo gương Hồ Chí Minh. Nếu ông làm đơn viết 3 điều kiện như vậy, thì họ nói sẽ cho ông được giảm án, để Tết này về. Nhưng ông đã cương quyết từ chối. Cô Nguyễn Thị Lụa cho biết:

Cha tôi không đồng ý, nói là từ khi bị vào trại tù này, “mấy ông bắt tôi không học tập ngày nào cả; thứ hai là tôi không có tội, thì mấy ông bắt tôi nhận tội là tội gì ? Mấy ông tự động bắt tôi rồi kêu án, rồi nhốt tôi vô đây – ở chỗ chỉ có 5 tấc như vậy, rồi kêu tôi nhận tội là tội làm sao ?”, “ Nếu mấy ông thương tình thì mấy ông giảm án, còn nếu không thì thôi, chứ tôi phải viết đúng sự thật, không thể nói láo với mấy ông được”. Nên cha tôi viết là “tôi không có tội. Mấy ông bắt tôi vào đây thì lòng vòng chỉ có lý do như vậy thôi”. Trong danh sách 198 người được giảm án mà họ đưa ra thì có cha tôi trong đó. Nhưng họ chỉ đưa ra danh sách vậy thôi.
Dù thể chất tiếp tục bị hành hạ, nhưng tinh thần của tín đồ PGHH trung kiên này luôn vững mạnh. Con gái ông mô tả tiếp:

Khi tôi đi ra thăm cha thì thấy là dù trong điều kiện tù đày rất khắc nghiệt, nhưng tinh thần cha tôi lúc nào cũng cứng rắn, cương quyết, một mực không nhận tội, cho dù thế đi nữa cũng không nhận tội. Tôi nói với cha là một phần lớn do tác động bên ngoài, thời gian qua, đã hết lòng giúp đỡ cha tôi, gia đình chúng tôi, thì cha tôi nói là rất mang ơn quý chú, quý bác bên kia vì trong thời gian cha tôi nằm trong tù mà có nhiều người hết lòng giúp đỡ, lên tiếng ủng hộ. Chúng tôi mong mỏi cha được sớm trở về với gia đình, bởi vì bọn họ ngày nào cũng đến trấn áp tinh thần, theo dõi, làm đủ chuyện. Nhưng thấy tinh thần cha tôi lúc nào cũng cứng rắn. Điều tôi rất lo hiện giờ là sức khoẻ cha tôi không có, vì trong tù đó nó quá khắc nghiệt.

Theo ông Phil Robertson, Phó Giám đốc đặc trách Á Châu của tổ chức nhân quyền Human Rights Watch, thì việc nhà cầm quyền VN đàn áp tôn giáo, giam cầm một người già cả bệnh tật như trường hợp ông Nguyễn Văn Lía hiện giờ chỉ vì ông vận động ôn hoà cho tự do tín ngưỡng, là hành động vô nhân đạo.


M
ột trong hai tín PGHH bị oan án cách đây gần hai năm

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Tóm tắt tiểu sử của cố đồng đạo Nguyễn Văn Ba (tự Tấn)

Tóm tắt tiểu sử của cố đồng đạo Nguyễn Văn Ba (tự Tấn)


Cố đồng đạo Nguyễn Văn Ba (tự Tấn)


-Thời gian đã thắm thoát trôi qua như giấc mộng, đã ngót 43 lần thu rơi lá đổ, hình bóng người Tu sĩ thân quen trong làng đạo PGHH của chúng ta, đã vắng bóng nghìn thu!!! không còn hiện hữu trên cõi đời nữa đó là ông: Nguyễn Văn Ba tên thường gọi là Ba Tấn, ông sinh năm Tân Mùi (1931) tại xã Thới Long, huyện Phong Phú, tỉnh Phong Vinh nay là phường Long Hưng, quận Ô Môn, TP Cần Thơ, ông sinh trong một gia đình bần nông, con của ông Nguyễn Văn Chơn và bà Huỳnh Thị Trâm, vì hoàn cảnh gia đình nghèo thiếu trước hụt sau… thương cha mẹ già ngày đêm cực khổ, để tìm kiếm sinh nhai, mưu sinh trong cuộc sống ông phải rời khỏi mái trường xưa của tuổi ấu thơ, khimới học được lớp 3 trường làng nhưng ông cũng thấy đủ để nhận thức về cuộc đời. Năm 1947 TD Pháp thất bại nặng nề trên bán đảo Đông Dương, là người con của dân tộc VN ông cũng tham gia vào kháng chiến để giành lấy nền độc lập tự do cho nòi giống, rạng rỡ trước năm châu lúc đó ông vừa tròn 17 tuổi. Ông chiến đấu rất kiên cường và dũng cảm đến năm 1954 Ngộ đình Diệm mở chiến dịch tiêu diệt giáo phái, ông đã ngán ngẫm kiếp phù sinh đau khổ thế pháp quy-y, nhất tâm tu-hành, từ bỏ lợi danh, xa lìa tình ái, rài đây mai đó học hỏi Kệ kinh và Giáo lý để áp dụng vào đời sống tu hành..
Đến năm 1963 sau khi chế độ độc tài Ngô Đình Diệm bị lật đổ, cơ cấu giáo hội được phục hưng trở lại, đến năm 1967 ông đã đắc cử trưởng Ban Phổ thông Giáo lý PGHH huyện Phong Phú, tỉnh Phong Vinh (Cần Thơ). Ông hăng sai mở nhiều khóa học đào tạo Giảng viên truyền bá Gíáo lý PGHH, lúc bấy giờ bước chân ông đi theo tiếng gọi thiêng liêng của sứ mạng mà đấng từ Tôn sai khiến.. vì nghiệm xét cuộc đời đầy nguy biến, thấy chúng sanh chìm đắm chơi-vơi trong bể trầm luân khổ ải ông đã hy sinh thân, cao cả giúp đời, đem Đuốc-huệ sáng-soi toàn thế giới, cuộc sống tu hành của ông rất đơn giản:

“Một ngày nọ đói no ai hiểu thấu,
Gọi xả thân cầu đạo chẳng màn chi.
Mặc trong mình võn vẹn bộ tam y,
Không chất chứa những điều chi cái khó.
Đầu đội trời mới thành người sĩ khó,
Chân đạp đất mới thành kẽ bằng tăng.
Gương hi sinh cao cả mấy ai bằng,
Dầu sống thác dầu gian lao chẳng kể”.

– Ông đã nói lên gương hạnh và tâm nguyện của mình:
“Đầu đội trời đội cả muôn loài,
Chân đạp đất đập tan phiền não.
Đội sanh chúng khỏi vòng sanh lão,
Đạp cho tan địa ngục trần gian.
Đội sinh linh đến cảnh niết bàn,
Đạp cho hết xích xiềng thế tục.
Dầu gặp cảnh gian truân câu hút,
Chẳng sờn lòng trên bước hóa duyên”.

-Trên bước đường truyền bá chánh pháp của Đức Tôn Sư, ông không ngại sự gian khổ nhưng nay số phận đã an bài trên hành trình dâng-du hóa- chúng, chẳng mai ông bị tai nạn giao thông rất nặng nề, nhưng vì lòng từ bi sẵn có nơi cõi lòng ông, ông không làm khó dễ cho người gậy tai nạn, lúc đó ông về nhà dưỡng bệnh.. tháng giêng năm Tuất Hợi (1971) trong lúc ông đang thuyết giảng:– trả lời nghi vấn giáo lý PGHH tại xã Tân Phước – huyện Đức Thành – tỉnh Sa Đéc nay thuộc huyện Lai Vung – tỉnh Đồng Tháp, ông phải cáo lỗi trên diễn đàn và ngất sỉu trước công chúng! Bệnh tình của ông lúc bấy giờ trở lại nặng thêm hơn, ông được đồng đạo đưa vào điều trị tại bệnh viện Long Xuyên, các Y Bác sĩ tận tình điều trị nhưng hỡi ôi lực bất tồng tâm trước căn bệnh ngặt nghèo nguy hiểm của ông.
– Đồng đạo đưa ông về nhà an dưỡng, ông rất tỉnh táo và cho mời hết đồng đạo và các ban phổ thông giáo lý trực thuộc
dưới quyền ông về họp mặt vào ngày 24 tháng giêng năm Tuất hợi (1971) và cũng chính ngày ấy đối với người tín đồ PGHH là trăm năm đeo vết thương lòng nơi đây.
Ông đã trút hơi thở cuối cùng! chấm dứt cuộc đời ở cõi thế gian, lúc đó đúng vào giờ Ngọ ngày 24 tháng giêng năm 1971, trước khi lâm chung ông đã đọc lên hai câu giảng của Đức thầy:

“Đến lâm chung quả lành đâu mất,
Cõi Tây phương chư phật đợi chờ”.

– Giờ đây thân xác của cố đồng đạo Nguyễn Văn Ba (tự Tấn) đã vùi sâu nơi lòng đất lạnh, nhưng hồn thiêng của ông đã an lành nơi cõi phật đúng như lới Đức Huỳnh Giáo Chủ cho biết :

“Mãn kiếp hồng trần sanh lạc quốc,
Thưởng công niệm phật rất yên lành”.

– Đoàn hậu tấn chúng ta hãy noi theo gương ấy, để đạt được thành quả cuối cùng của cuộc đời tu hành:

“Kẻ chết đã yên rồi một kiếp,
Người sống còn tái tiếp noi gương”.

– Ngày hôm nay nhằm ngày (24 tháng giêng năm Qúy Tỵ) là ngày kỷ niệm lần thứ 42, ngày cố đồng đạo Nguyễn Văn Ba (tự Tấn) đạo hiệu “Giác quan” vãng sanh về cõi phật. Xinđồng đạo chúng ta hãy dành chút thời gian mật niệm về ông và cầu nguyện cho ông tăng thêm phần phẩm vị nơi cõi cực lạc, trời Tây.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam Mô A Di Đà Phật”.

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

TIN NÓNG CÔNG AN CỘNG SẢN ĐÀN ÁP PHẬT GIÁO HOÀ HẢO – NGUYỄN QUANG DUY

Cụ Lê Quang Liêm vừa thông tin ngày hôm nay 21-3-2014 công an đặc nhiệm đã tràn vào nhà của ông Nguyễn Văn Vinh một tín đồ Phật Giáo Hoà Hảo, năm nay 82 tuổi, ở ấp Long Hoà , xã Long Giang, Chợ Mới, An Giang bắt tất cả những người đang hiện diện tại đây.
Cả ba căn nhà của ông đều đã bị công an phá tan tành, đồ đạc trong nhà đều bị tịch thu. Cụ Liêm được bà con địa phương báo tin bọn công an đặc nhiệm rất ác ôn, mất cả tính người.
Được biết gia đình ông Nguyễn Văn Vinh hiện đang sửa sọan tổ chức đại lễ Tưởng nhớ Ngày Đức Huỳnh Phú Sổ Thọ Nạn ngày 16-4-1947, nhằm ngày 25-2 Âm Lịch.
Quay lại lịch sử năm 1945 khi Việt Nam vừa giành lại độc lập, đảng Cộng Sản thay vì xây dựng tình đòan kết dân tộc lại chủ trương tiêu diệt những lực lượng quốc gia để từng bước độc quyền lãnh đạo. Lần lượt nhiều lãnh đạo lực lượng quốc gia đã bị Việt Minh Cộng sản thủ tiêu hay ám hại: Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Lý Đông A, Trương Tử Anh, nhóm Tự Lực Văn Đoàn, và rất nhiều những chiến sỹ quốc gia.
Trong khi ấy lực lượng Dân Xã do Đức Hùynh Phú Sổ sáng lập lại chủ trương tòan dân chánh trị và chống độc tài bất cứ hình thức nào. Cũng vì hai chủ trương khác biệt một theo dân chủ xã hội một theo độc tài cộng sản đã xẩy ra nhiều xung đột vũ trang giữ lực lượng dân xã và Việt Minh Cộng Sản.
Ngày 16-4-1947, theo lời mời của Việt Minh Cộng sản Đức Hùynh Phú Sổ đã đến làng Tân Phú (tức Đốc Vàng Hạ) thuộc tỉnh Long Xuyên để họp bàn về việc hòa giải hai lực lượng thì bị mất tích từ đó đến nay.
Trước năm 1975 ngày 25-2 Âm Lịch hằng năm đều được tổ chức long trọng để tưởng nhớ đến vị Giáo Chủ một tôn giáo lấy Tứ Ân đề cao ân đất nước làm căn bản.
Nhưng từ sau 1975 cộng sản đã cấm hòan tòan việc các tín đồ Hòa Hảo tửơng niệm Ngày Đức Thầy Thọ Nạn. Việc cấm đóan này nằm trong chủ trương tiêu diệt Phật Giáo Hòa Hảo. Nhưng càng ngăn cấm thì tín đồ Hòa Hảo càng nêu cao tinh thần theo Thầy giữ Đạo giữ Nước.
Cụ Lê Quang Liêm cho biết cuộc đấu tranh của đồng bào Hòa Hảo sẽ tiếp tục cho đến ngày Việt Nam có tự do dân chủ. Xin kính chuyển quý vị lá thư Tuyệt Mệnh của ông Nguyễn Văn Vinh.
Nguyễn Quang Duy
21-3-2014
Melbourne Úc Đại Lợi.

PHẬT GIÁO HOÀ HẢO
NIÊN ĐẠO 75
TUYỆT MẠNG THƯ
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
 NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
Kính thưa chư quý đồng đạo, đồng bào trong nước và ở hải ngoại.
Kính thưa các nhà đấu tranh cho tự do dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam.
Kính thưa các tổ chức  bao vệ tự do dân chủ, nhân quyền trên thế giới.
Kính thưa quý đài truyền thông
Kính thưa các tôn giáo bạn.
Kính thưa toàn thể quý vị.
Tôi tên Nguyễn Văn Vinh là tín đồ Phật Giáo Hoà Hảo,năm nay 82 tuổi,  hiện cư ngụ ỏ ấp Long Hoà , xã Long Giang, Chợ Mới, An Giang.
Xin viết lại đôi dòng tâm sự qua tuyệt mệnh thư dể quý vị hiểu và ủng hộ việc làm của chúng tôi.
Chính quyền Cộng sản Việt Nam thường rêu rao trên Báo chí, đaì phát thanh truyền hình từ trước đến nay là đã thực thi dân chủ nhân quyền, tư do tôn giáo. Đó là những quảng bá ở cửa miệng, nầm trên giấy của bọn sâu dân mọt nước, lừa đảo , xảo ngôn, mưu đồ dôc tâm làm nô bộc cho Tàu cộng.
  Thưa quý vị: đã gần 40 năm kể từ sau ngày CS cưỡng chiếm Miền NamViệt Nam . Tất cả những người có lý tưởng vì sự tự do dân chủ ,nhân quyền và tự do tôn giáo; Đều bị sách nhiễu,đàn áp, tù đày thậm chí hy sinh cả tánh mạng, nhiều không thể kể hết. Đối với PGHH , nhiều gia đình phải ly tán,con xa cha, vợ xa chồng lang thang đói rách cũng vì chế độ độc tài CS mà ra.
  Xin cho  phép tôi được đặt ra vài ví dụ: sau gần 40 năm CSVN độc tài lãnh đạo đất nước ta như thế nào? Nước ta là nước nằm trong tốp nghèo nhất thế giới, sự nhận thứccủa người dân về  một vấn dề có xác thực không? Tình hình dân trí có đồng đều mở  mang không ? V…v…( thật là tồi tệ). Trong khi tất cả nguồn tài trợ cuả những nước giàu có trên thế giới dổ vào dể giúp đỡ  Việt Nam trên nhiều lĩnh vực. Thân nhân kiều bào ta, người đi làm viêc nước ngoài,thậm chí cô dâu Việt Nam gã đi các nước cũng gởi tiền về. Vậy thì số tiền đó đi về đâu? Trong nước, các công ty xí nghiệp lớn nhỏ, doanh nghiệp tư nhân, người làm nông nghiệp, thuỷ hải sản,những thương hồ lớn bé,, có người nghèo khổ bán hang rong…cũng đều bị đánh thuế và lấy thuế.Vậy số tiền này đi về đâu? Có phải đi vô túi những trùm maphia tập đoàn CS độc tài tham nhũng, dể nuôi bọ côn đồ (Công an CSVN), chuyên đi hà hiếp đánh đập người vô tội, những người bất đồng chánh kiến; đòi hỏi quyền con người, yêu cầu tôn trọng nhân quyền  dân chủ …ở VN mà nhà cầm quyền CSVN đã hứa với Quóc tế nhưng không thực hiện( thật là ghê tởm).
  Đó là thành tích nổi trội của của Đảng CSVN. Trong khi Miền Nam VN trước bi CS
cưỡng chiếm,  được  ví như con Rồng Đông Nam Á, tức là những nước đứng đầu trrong khu vực, còn  bây giờ thì sao? Là những nước đứng sau khu vực. Nạn nghèo đói vẫn còn khắp nước, tệ nạn xã hội thì vẫn lan tràn, không có biện pháp ngăn chặn,đạo đức suy đồi, tâm linh tín ngưỡng  văn hoá lần lần mai một,cơ sở chùa  chiền nhà thờ bị cưởng chiếm không trả lại… Tóm lại chế độ độc tài CSVNchỉ biết củng cố quyền lực và xây dựng ĐCSVN thành một bức tường thép để chỉ đạochế độvơ vét mồ hôi nước mắt ủa toàn dân. Không cần thiết suy nghỉ phải đưa đất nước đi  lên sánh vai cùng thế giới .
Thưa quý vị: Không sao kể hết những gì mà nhà độc tài CSVN đã làm và đối xử tồi tệ đói với người dân và những người bất đòng chánh kiến trong nước. trên đây tôi chỉ dẫn chứng một ít sự việc mà tập đoàn tham nhũng CSVN đã làm đối với dân tộc  Việt Nam.
  Riêng đối với tôn giáo PGHH, CSVN luôn lúc nào thời gian nào cũng có dã tâm tiêu diệt bốn chữ PGHH,phá huỷ hết những di tích PGHH,  sang bằng chùa chiền ,độc giảng đường,tu viện, hội quán…Lừa bịp xảo trá dư luận cho in ấn những tác phẩm nhầm bôi nhọ Đức Huỳnh Giáo Chủ , nhục mạ tín đồ PGHH như Quyển Sư Thúc Hoà Hảo của Nguyên Hùng, Dòng  Sông Thơ Áu, Đất lửa của tên văn nô NGuyễn Quang Sáng, Gần đây là quyển luận văn tốt nghiệp Thực chất Đạo Hoà Hảo  của tăng sinh Nguyễn Văn Huệ (một người mượn đạo tạo đời, do bàn tay CS dựng lên để nhầm tiêu diệt PGHH.
   Trước 1975, PGHH có 3 ngày lễ trọng đại 18/5,25/11,25/02 . còn bây giờ ngày  lễ 25/02 bị cấm đoán một cách nghiệt ngã.
  Cho nên đến ngày Lễ  25/02 ngươi tín đồ PGHH luôn luôn trăn trở và lo toan, không biết phải làm sao để đến điểm lễ, ngày lễ nam nay có tổ chức được trọn ven không…làm cách  nào người  tín đồ làm tròn bổn phận với Thầy với Đạo.
Vì bởi nhiều lý do: Trước  ngày lễ CS dều phát giáy mời để trấn áp không cho dự lễ, tiếp đến là bao nhà chặn đường. Rồi thì đánh đập. Tức là họ không chừa bất cứ thủ đoạn nào miễn sao không cho người tín đồ PGHH về dự lễ 25/02 .( Năm nào cũng vậy)
  Năm nay Giáp Ngọ 2014 cũng vậy.
Ngày  18/02 al, một phái đoàn gồm hơn 20 người gồm Công an tinh An Giang, công an an Huyện Chợ Mới, cán bộ Xã Long Giang…đến nhà tôi (nơi dự định tổ chức ngày lễ 25/02 năm nay),hăm doạ, cấm không cho  chức ngày lễ 25/02. Và hôm nay19/02al khoảng 200 công an bao nhà tôi, đóng chốt hai đầu đường.
  Chúng tôi quyết tâm tổ chức ngày đại lễ này. Nếu như CSVN có dã tâm đàn áp không cho tổ chức tôi sẽ nguyện đem thân này thấp lên ngọn lửa hồng để cho chế độ CSVN thức tỉnh hồi đầu. cho chế độ CSVN biết rằng; không phải dàn áp dánh đập , lừa bịp dư luận, xảo trá điêu ngoa là mạnh là anh hùng. Những chuyện làm này tất phải trả một giá rất đắc.
  Tôi tin rằng một ngày không xa với nổ lực của những người dân, của những nhà bất đồng chánh kiến ,các tổ chức dân chủ, những tôn giáo… trong nước cũng như ở hải ngoại. buộc Dảng CS độc tài phải trả lại những gì mà họ đã cưỡng chiếm dân tộc Việt Nam ta mấy mươi năm qua.
  Cuối cùng rất mong quý vị ủng hô việc làm của chúng tôi. Kính chúc quý vị đươc  nhiều sức khoẻ, đoàn kết, cùng chung đấu tranh, để dân tộc ta thoát khỏi ách độc tài toàn trị của đảng CS và chế độ tham nhũng cường hào CSVN.
                                           An Giang, ngày 19 tháng 02 năm Giáp Ngọ (2014)
                                                       Người viết tuyệt mạng thư
                                                                  ( Đã Ký)
                                                            Nguyễn Văn Vinh
CSVN.DanAp.TonGiao
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.