Daily Archives: July 18, 2016

Ngày 20/7/1954, Hiệp định Geneve đã công nhận

Ngày 20/7/1954, Hiệp định Geneve đã công nhận quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm dưới vĩ tuyến 17 nên thuộc quyền quản lý của chính quyền miền Nam Việt Nam.

Về tính liên tục của sự chiếm hữu thực sự, Tiến sĩ Trần Công Trục đưa ra một số mốc lịch sử hết sức cụ thể, có ý nghĩa: Với tư cách là đại diện Nhà nước Việt Nam về đối ngoại trong thời kỳ Việt Nam là thuộc địa của Pháp, Cộng hòa Pháp đã tiếp tục thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
 Tiến sĩ Sử học Nguyễn Nhã (bên trái) tặng bản vẽ lại An Nam Đại quốc họa đồ cho UBND huyện Hoàng Sa, TP Đà Nẵng.
Theo Hiệp ước Patenotre năm 1884, Chính quyền thuộc địa Pháp đã tiến hành các hoạt động đại diện cho Nhà nước Việt Nam trong việc tiếp tục bảo vệ, quản lý và khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Cụ thể, sau một thời gian tổ chức các cuộc nghiên cứu, khảo sát tại thực địa của các nhà khoa học và những cuộc trao đổi giữa những chính khách Pháp có liên quan đến quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, ngày 8/3/1925, Toàn quyền Đông Dương đã tuyên bố khẳng định, quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là bộ phận lãnh thổ thuộc địa của Pháp. Ngày 19/3/1926, Thống đốc Nam Kỳ cấp giấy phép nghiên cứu mỏ ở đảo Trường Sa cho Công ty Phosphat của Bắc Kỳ.
Ngày 13/4/1930, Thông báo hạm Malicieuse do thuyền trưởng De Lattre điều khiển ra quần đảo Trường Sa theo chỉ thị của Toàn quyền Đông Dương dựng bia chủ quyền, đóng giữ đảo Trường Sa và các đảo, đá, bãi phụ thuộc. Ngày 23/9/1930, Chính phủ Pháp gửi thông báo ngoại giao cho các cường quốc về sự kiện đóng giữ quần đảo Trường Sa theo đúng thủ tục. Ngày 31/12/1930, Phòng Đối ngoại Phủ Toàn quyền Đông Dương gửi báo cáo lên Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp về những hoạt động đóng giữ đảo Trường Sa và các đảo phụ cận, cũng như các tư liệu khảo cứu về pháp lý bảo vệ cho sự kiện đóng giữ này.
Ngày 4/1/1932, Chính phủ Pháp gửi Công hàm tới Công sứ Trung Quốc tại Paris khẳng định chủ quyền của Pháp đối với Hoàng Sa và đề nghị giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán hữu nghị hoặc bằng phương thức trọng tài quốc tế. Trung Quốc từ chối đề nghị này.
Ngày 18/2/1937, Pháp lại chính thức yêu cầu Trung Quốc áp dụng phương thức trọng tài quốc tế để xác định chủ quyền quần đảo Hoàng Sa; Trung Quốc lại khước từ.
Ngày 26/11/1937, Pháp phái kỹ sư trưởng J. Gauthier ra Hoàng Sa để nghiên cứu tìm địa điểm xây dựng đèn biển, bãi đỗ cho thủy phi cơ, nghiên cứu các điều kiện định cư ở quần đảo này. Năm 1938, Pháp phái các đơn vị Bảo an đến đồn trú trên các đảo và xây dựng một hải đăng, một trạm khí tượng được Tổ chức Khí tượng Thế giới cho đăng ký với số hiệu là 48859 ở đảo Phú Lâm, một trạm vô tuyến điện TSF trên đảo Hoàng Sa.
Ngày 15/6/1938, Pháp xây xong trạm khí tượng ở đảo Ba Bình, quần đảo Trường Sa. Ngày 30/3/1938, vua Bảo Đại ký Dụ số 10 sáp nhập Hoàng Sa vào tỉnh Thừa Thiên thay vì Nam Ngãi trước đây. Ngày 15/6/1938, Toàn quyền Đông Dương Jules Brevie ký Nghị định 156-S-V thành lập đơn vị hành chính cho quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên.
An Nam Đại quốc họa đồ của Giám mục Taberd xuất bản năm 1838 khẳng định Paracels (Cát Vàng, Hoàng Sa) nằm trong vùng biển Việt Nam. Ảnh: ĐNĐT.
Tháng 6/1938, một đơn vị lính Bảo an Việt Nam được phái ra đồn trú tại quần đảo Hoàng Sa. Một bia chủ quyền đã được dựng tại đảo Hoàng Sa có khắc dòng chữ: “Republique Francaise-Empire d’Annam-Achipel de Paracel 1816-Ile de Pattle 1938”.
Trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Nhật Bản tuyên bố sáp nhập các quần đảo trong Biển Đông vào các vùng lãnh thổ mà Nhật đã chiếm đóng. Ngày 4/4/1939, Chính phủ Pháp gửi Công hàm phản đối các quyết định nói trên của Nhật và bảo lưu quyền của Pháp tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngày 15/8/1945, Nhật thua trận phải rút khỏi Đông Dương và ngày 26/8/1945, quân đội Nhật phải rút khỏi quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.Sau khi Nhật rút đi, mở ra một thời kỳ mới vô cùng phức tạp.
Tiến sĩ Trục cho biết, trong hoàn cảnh lịch sử cuối năm 1946, đầu năm 1947, mặc dù Việt Nam đã tuyên bố độc lập ngày 2/9/1945, không còn ràng buộc vào Hiệp định Patenotre 1884, song Pháp cho rằng, theo Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1946, Việt Nam Dân chủ cộng hòa còn nằm trong khối Liên hiệp Pháp, về ngoại giao vẫn thuộc Pháp nên Pháp có nhiệm vụ thực thi quyền đại diện Việt Nam trong vấn đề chống lại mọi xâm phạm chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.
Theo Hiệp định ngày 8/3/1949, Pháp dựng lên chính quyền thân Pháp, gọi là Quốc gia Việt Nam do cựu hoàng Bảo Đại đứng đầu. Tuy nhiên, trong thực tế quân đội Pháp vẫn làm chủ Biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Cũng trong năm 1949, Tổ chức Khí tượng Thế giới đã chấp nhận đơn xin đăng ký danh sách các trạm khí tượng do Pháp xây dựng tại quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa vào danh sách các trạm khí tượng thế giới: Trạm Phú Lâm, số hiệu 48859, Trạm Hoàng Sa số 48860, Trạm Ba Bình số 48419.
Ngày 14/10/1950, Tổng trấn Trung phần Phan Văn Giáo đã chủ trì việc bàn giao quản lý quần đảo Hoàng Sa giữa Chính phủ Pháp và Chính phủ Bảo Đại.
Từ ngày 5/9 đến ngày 8/9/1951, Hội nghị San Francisco có đại diện của 51 nước tham dự để ký kết Hòa ước với Nhật. Tại phiên họp toàn thể mở rộng ngày 5/9, với 48 phiếu chống, 3 phiếu thuận, hội nghị đã bác bỏ đề nghị của Ngoại trưởng Gromyco (Liên Xô cũ) về việc tu chỉnh khoản 13 của Dự thảo Hòa ước, trong đó có nội dung: Nhật thừa nhận chủ quyền của CHND Trung Hoa đối với quần đảo Hoàng Sa và những đảo xa hơn nữa về phía Nam.
Ngày 7/9/1951, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng của Chính phủ Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu đã long trọng tuyên bố hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam. Không một đại biểu nào trong hội nghị này có bình luận gì về tuyên bố này. Ngày 8/9/1951, Hòa ước với Nhật được ký kết. Điều 2, Đoạn 7, của Hòa ước đã ghi rõ: “Nhật Bản từ bỏ chủ quyền, danh nghĩa và tham vọng đối với các quần đảo Paracel và Sprathly” (khoản f).
Ngày 20/7/1954, Hiệp định Geneve được ký kết đã công nhận một nước có nền độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất. Điều 1 của Hiệp định đã quy định lấy sông Bến Hải (vĩ tuyến 17) làm giới tuyến tạm thời để phân chia quyền quản lý lãnh thổ giữa hai miền Nam-Bắc của Việt Nam. Giới tuyến tạm thời này cũng được kéo dài bằng một đường thẳng từ bờ biển ra ngoài khơi (Điều 4). Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa nằm dưới vĩ tuyến 17 nên thuộc quyền quản lý của chính quyền miền Nam Việt Nam.
Tháng 4/1956, khi quân đội viễn chinh Pháp rút khỏi Đông Dương, quân đội Quốc gia Việt Nam, về sau là Việt Nam Cộng hòa, đã ra tiếp quản nhóm phía Tây quần đảo Hoàng Sa.Trước những hành động xâm chiếm một số đảo ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa do Trung Quốc tiến hành vào thời điểm giao thời này, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã lên tiếng phản đối. Ngày 24/5 và 8/6/1956, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa ra thông cáo nhấn mạnh, quần đảo Hoàng Sa cùng với quần đảo Trường Sa “luôn luôn là một phần của Việt Nam” và tuyên bố khẳng định chủ quyền từ lâu đời của Việt Nam.
Ngày 13/7/1971, tại Hội nghị ASPEC Manila, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa Trần Văn Lắm đã tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Từ ngày 17/1 đến 20/1/1974, Trung Quốc huy động lực lượng quân sự đánh chiếm nhóm phía Tây quần đảo Hoàng Sa. Trên mặt trận ngoại giao, Việt Nam Cộng hòa đã lên tiếng phản đối mạnh mẽ trước Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế.
Cũng trong thời gian này, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã tuyên bố nêu rõ lập trường của mình trước sự kiện này.
Theo Quân đội Nhân dân
Advertisements
Categories: Biển Đông | Leave a comment

Biển Đông: rắc rối chồng thêm

9192. Biển Đông: rắc rối chồng thêm

Posted by adminbasam on 17/07/2016

Financial Times

Tác giả: Geoff Dyer Tom Mitchell

Dịch giả: Song Phan

15-7-16

Trung Quốc đang xây đảo nhân tạo ở đảo chữ thập. Ảnh: Getty.

Trung Quốc đang xây đảo nhân tạo trên đảo chữ thập. Ảnh: Getty.

Thi hành phán quyết của tòa án quốc tế có thể đặt Bắc Kinh và Hoa Kỳ trên lối rẽ nguy hiểm trong một khu vực căng thẳng

Dù ai thay Barack Obama đều sẽ phải đối mặt với nhiều lựa chọn khó khăn nhưng có vẻ ít có lựa chọn nào khắc nghiệt như những lựa chọn ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Trong phán quyết 497 trang, dày đặc lý luận, tuần này, một tòa án quốc tế ở The Hague dẹp tan sự mơ hồ pháp lý từ lâu đã bao quanh yêu sách của Trung Quốc đòi kiểm soát phần lớn biển Đông – một trong những tuyến đường thương mại nhộn nhịp nhất trên thế giới.

Cách Nhà Trắng phản ứng với bản án trong những tháng tới sẽ giúp xác định quan hệ của Washington với Bắc Kinh trong nhiều năm, và ảnh hưởng đáng kể đến địa chính trị của khu vực.

Washington thấy phán quyết do Tòa Trọng tài Thường trực đưa ra, sau một khiếu nại của Philippines, là một chiến thắng cho điều mà một số quan chức Mỹ mô tả như là một trật tự của thế kỷ 21, dựa trên luật lệ đối với các mưu đồ thuộc thế kỷ 19 về vùng ảnh hưởng của Trung Quốc. Bằng cách bác bỏ rất nhiều giả định củng cố yêu sách của Bắc Kinh ở biển Đông, Tòa án đã đặt họ trong tình trạng khó giải quyết.

Nếu Trung Quốc tiếp tục chiếm các rạn đá và phát triển chúng thành các căn cứ quân sự tiềm năng – một tiến trình đã tăng tốc từ năm 2014 – thì sẽ hành động ra bên ngoài giới hạn của luật pháp quốc tế. Sau đó, Mỹ sẽ phải quyết định các bước tiếp theo của mình và quân đội sẵn sàng triển khai tới mức nào.

Ben Cardin, nhân vật cao cấp đảng Dân chủ, thuộc uỷ ban đối ngoại Thượng viện, nói: “Trung Quốc phải có quyết định – họ sẽ tuân thủ các quy tắc của pháp luật và hành động như một nước lãnh đạo thế giới với trách nhiệm hay họ sẽ đi theo lộ trình riêng của mình”. Tuy nhiên, ông nói thêm: “Có thể họ sẽ khẳng định chủ quyền qua việc xây thêm đảo hoặc qua hoạt động quân sự”.

Trong một cuộc phỏng vấn trước khi phán quyết được công bố, Max Baucus, đại sứ Mỹ ở Trung Quốc, cho biết, một trong những thông điệp của ông gởi cho các quan chức chính phủ ở Bắc Kinh là “chúng ta đang ở trong một chương hoàn toàn mới ở đây. . . Chương cũ là đàm phán là vì quyền lợi của đàm phán, đồng ý về việc không đồng ý”. Ông nói thêm: “Điều đó đã qua rồi. Chương mới là [về] hành động”.

Các đối thủ cạnh tranh nhau

Có rất nhiều đối thủ ở biển Đông và họ hành động trên hai cấp độ. Một loạt các đảo, đá và san hô đang do Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Đài Loan yêu sách, và các tranh chấp này kết hợp với quyền đánh bắt cá, tài nguyên tiềm năng, cùng lòng tự hào dân tộc.

Đối với Hoa Kỳ và Trung Quốc, biển Đông là một vấn đề mang địa chính trị về kiểm soát trên biển hơn. Hải quân Mỹ đã gìn giữ trật tự tuyến đường thủy quan trọng trên biển này gần như 70 năm qua, và tin rằng Trung Quốc muốn từ từ lấn họ ra khỏi các bộ phận quan trọng của Tây Thái Bình Dương. Một vị trí thống trị trong vùng biển Đông sẽ cung cấp cho Bắc Kinh một nền tảng để gây ảnh hưởng lớn hơn trong chính sách đối ngoại của các nước láng giềng và các điều kiện hợp tác kinh tế ở Đông Á.

Phán quyết The Hague đã giáng một đòn đáng kể vào dự án đó. Toàn thể ban trọng tài gồm năm thẩm phán, nhất trí phán quyết rằng Trung Quốc không có “quyền lịch sử” đối với các nguồn tài nguyên bên trong “đường chín đoạn” được dùng mô tả những yêu sách của họ đối với khoảng 85% của thủy lộ này.

Tòa án cũng nói rằng không có thể địa lý nào ở quần đảo Trường Sa – nằm ở trung tâm của Biển Đông – có thể được coi là đảo, mà theo luật pháp quốc tế sẽ cho chúng một “vùng đặc quyền kinh tế” 200 hải lý. Kết quả đó – mà Bắc Kinh thách thức – cắt bớt yêu sách pháp lý đòi kiểm soát của họ một cách mạnh bạo.

Đối với Hoa Kỳ, phán quyết cho họ cơ hội để chứng minh rằng kênh này là một thủy lộ quốc tế mà hải quân nước nào cũng có thể đi qua đó một cách hợp pháp – và có khả năng gia tăng chi phí cho Trung Quốc nếu họ mở rộng dấu chân quân sự của mình thông qua việc bồi đắp biển. Nhưng các quan chức hy vọng bản án cũng có thể cung cấp cơ sở cho một vòng ngoại giao mới của khu vực về các tranh chấp này.

Trong bốn năm qua, chính quyền Obama đã cố gắng tăng cường sự hiện diện của mình trong khu vực để ngăn chặn Trung Quốc – một chính sách gọi là “xoay trục”. Michael McDevitt, đề đốc hải quân đã nghỉ hưu, nói rằng, kể từ năm 2013 đã có hai tàu khu trục Mỹ ở biển Đông tại một thời điểm.

“Sự hiện diện của Mỹ đã tăng lên một cách đột biến”, ông nói.

Mỹ cũng đã hàn gắn lại các quan hệ quân sự của mình trong khu vực. Sau khi đuổi quân đội Mỹ ra khỏi nước vào cuối thời chiến tranh lạnh, năm nay Philippines lại mở 5 căn cứ cho máy bay Mỹ đến. Washington cũng đang thảo luận về việc đặt thiết bị quân sự lần đầu tiên sau 40 năm ở Việt Nam, tại một căn cứ ở Đà Nẵng.

Môi trường không rõ ràng

Đôi khi, việc xây dựng đảo của Bắc Kinh làm Mỹ rối rắm. Họ thấy khó để đối phó với chiến thuật “cắt lát salami” của Trung Quốc, trong đó các hành động của họ thay đổi sự kiện tại hiện trường là quá nhỏ để thu hút một phản ứng mạnh bạo, trái ngược với sáp nhập Crimea của Nga năm 2014.

Chính quyền Obama cũng thấy chính họ bị chia rẽ về việc họ cần đẩy lùi Trung Quốc mạnh tới mức nào, với Lầu Năm Góc – và đặc biệt là bộ chỉ huy Thái Bình Dương – ủng hộ hành động quân sự cứng rắn hơn để ngăn chặn việc bồi lắp biển thêm nữa. Tuy nhiên, nhiều lúc điều này lại mâu thuẫn với các mục tiêu khác, chẳng hạn như bảo đảm có được sự ủng hộ của Trung Quốc đối với thỏa thuận biến đổi khí hậu năm ngoái.

Trước khi có phán quyết, Trung Quốc hoạt động trong một môi trường pháp lý không rõ ràng lớn hơn nhiều. Khi Hải quân Mỹ bắt đầu loạt hoạt động về “quyền tự do đi lại”, được vạch ra để thách thức các yêu sách quá mức, một quan chức cấp cao cho biết Ashton Carter, bộ trưởng quốc phòng, đã họp “hàng chục giờ với các luật sư, nghiền ngẫm bản đồ”. Tuy nhiên, thậm chí sau đó, một số quan chức Mỹ tin rằng, các cuộc tuần tra tiếp sau đó của các tàu Mỹ đã gửi tín hiệu lộn xộn về pháp lý.

Được hậu thuẫn của phán quyết, Lầu Năm Góc có một cái nhìn rõ ràng hơn về tình trạng pháp lý của hầu hết các thể địa lý ở biển Đông để hướng dẫn các cuộc tuần tra của mình. “Phán quyết thổi gió vào buồm của những gì Mỹ đã và đang làm”, Timothy Heath, một chuyên gia về Trung Quốc tại Tổng công ty Rand nói.

Nhưng ông ta không dự đoán có bất kỳ sự thay đổi căn cơ nào. “Trung Quốc sẽ chẳng tự nguyện rời đi sớm vào một lúc nào đó và Mỹ cũng không muốn có đánh nhau về vấn đề này,” ông nói.

Có khả năng Mỹ sẽ khuyến khích các đồng minh trong khu vực, chẳng hạn như Úc và Nhật Bản, tiến hành các hoạt động tương tự để khẳng định rằng đây là vùng biển quốc tế. Các đồng minh châu Âu cũng có thể sẽ can dự vào. Anh và Pháp đã bày tỏ sự quan tâm trong việc thực hiện các sứ mạng ở biển Đông, mà họ có thể biện minh là để bảo vệ luật pháp quốc tế.

Quyết định của Hague trùng hợp với hội nghị thượng đỉnh ở Bắc Kinh giữa EU và Trung Quốc. Trong nhận xét chính thức lúc khai mạc vài giờ trước khi phán quyết được công bố, Donald Tusk, Chủ tịch Hội đồng châu Âu, nói tới “phán quyết quan trọng” đang sắp đưa ra và nói với Thủ tướng Trung Quốc, Lý Khắc Cường, rằng “trật tự quốc tế dựa trên luật lệ nằm trong lợi ích chung của chúng ta . . . Trung Quốc lẫn EU phải bảo vệ nó”.

“Họ rất bực tức vì Tusk nêu vấn đề công khai,” một người phổ biến tóm lượt về các cuộc đàm phán, nói. “Người châu Âu chưa bao giờ thấy phía Trung Quốc tức giận đến như vậy”. Một cuộc họp báo được lên lịch của ông Lý và ông Tusk đã bị hủy bỏ, chỉ báo trước một thời gian ngắn, khi phía EU nhấn mạnh rằng các nhà báo được phép đặt những câu hỏi mà các quan chức Bắc Kinh biết sẽ bị chi phối bởi việc tranh chấp lãnh thổ .

Cam kết của Mỹ

Phán quyết này đưa ra trong thời điểm chiến dịch tranh cử tổng thống Mỹ, đang tạo ra căng thẳng trong các đồng minh châu Á về độ tin cậy trong các cam kết của Mỹ, đặc biệt là về hiệp định thương mại Đối tác xuyên Thái Bình Dương.

Đối với nhiều nước trong khu vực, TPP là một cam kết một lần trong cả thế hệ của Mỹ – một bảo đảm rằng Washington thực sự thấy tương lai của mình gắn bó với châu Á. Chính vì lý do đó mà ông Carter đã nói rằng thỏa thuận này sẽ có “giá trị một tàu sân bay”.

Tuy nhiên, TPP bị cả hai ứng cử viên Hillary Clinton và Donald Trump của đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa phản đối. Ông Trump cũng đã nêu lên viển cảnh Mỹ rút quân khỏi Nhật Bản và Hàn Quốc và khuyến khích hai nước này tự mình phát triển hàng rào hạt nhân chống lại Bắc Triều Tiên – điều này sẽ cắt xén đáng kể vị thế của quân đội Mỹ nếu được thực hiện.

Ngoài ra còn có sự trớ trêu bất tiện là Thượng viện Mỹ vẫn chưa phê chuẩn Công ước Luật Biển của Liên Hợp Quốc, cơ sở cho The Hague phán quyết. Trong tranh luận hai năm trước đây, một số thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa đã cảnh báo rằng nó có thể được sử dụng để bác bỏ các yêu sách chủ quyền của Mỹ – đúng hệt điều phàn nàn mà Trung Quốc đang làm. Kết quả là Bắc Kinh từ chối không chấp nhận phán quyết dựa trên một thỏa thuận mà họ đã ký kết trọn vẹn, trong khi Mỹ lại kêu gọi cho việc thi hành một hiệp ước mà đã không chịu ủng hộ.

Trong ngắn hạn, đứng đầu danh sách những điểm nóng tiềm năng Trung – Mỹ là bãi cạn Scarborough, cách bờ biển Philippines khoảng 230 km, nơi Trung Quốc giành được quyền kiểm soát ba năm trước. Đầu năm nay, chính quyền Obama chuyển lời cảnh báo riêng tới Bắc Kinh, không được bắt đầu thực hiện một vụ bồi đắp mới. Mặc dù các quan chức Mỹ từ chối nói liệu bãi cạn Scarborough có được bảo đảm trong hiệp ước phòng thủ chung giữa hai nước này hay không, một số người ở Washington muốn có một tuyên bố chính thức để ngăn chặn Bắc Kinh.

“Tôi nghĩ chúng ta nên sẵn sàng cho hành động quân sự ở bãi cạn Scarborough” nếu Trung Quốc cố xây một đảo nhân tạo mới, Đô đốc Dennis Blair, cựu chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Thái Bình Dương của Mỹ nói. “Hãy vẽ một lằn ranh ở đó”.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Mấy cồn đá hoang toàn phân chim: kiện tụng chỉ hao công tốn của

Mấy cồn đá hoang toàn phân chim: kiện tụng chỉ hao công tốn của

Trần Thị Hải Ý (Danlambao)“Mấy cái đảo hoang ở ngoài khơi đó là của ai thì tôi cũng không rõ lắm, nhưng đó cũng chỉ là mấy cồn đá hoang toàn phân chim. Nếu các đồng chí Trung Quốc muốn thì cứ cho họ đi. Hoàng Sa-Trường Sa chỉ là bãi hoang chim ỉa! Chúng ta nên giao Hoàng Sa-Trường Sa đứt cho Trung Quốc, hay chí ít cũng là Hoàng Sa! Kiện tụng chỉ tổ hao công tốn của, hơn nữa làm sứt mẻ đại phân cục 16 vàng 4 tốt làm!”
*
Đường lưỡi bò 9 đoạn hay Đường chữ U do Trung cộng tự vẽ ra, trùm lên non 85% diện tích Biển Đông đã chính thức bị Toà trọng tài thường trực (Permanent Court of Arbitration / PCA) tại thành phố The Hague/La Haye, Hoà Lan chính thức bác bỏ hôm 12/07/2016. Nhưng “Tại sao đcs Việt Nam không làm tương tự như Philippines?” là câu hỏi đã được nhiều tác giả đặt ra và trả lời trên mạng theo lăng kính cá biệt.
Hậu bối HY em cũng mạo muội trình thưa quan điểm của mình, qua tài liệu sưu tầm được. Nội dung bài này chủ yếu gồm 10 trích dẫn nguyên văn từ phiá Việt Nam xã nghĩa.
Philippines là Philippines, Việt Nam xã nghĩa là Việt Nam xã nghĩa. Philippines vô phước không được độc đảng thống trị mà chỉ nhờ có một vị Tổng thống dân chủ giàu dũng khí và sáng suốt như Benigno Aquino III, kèm một ban lãnh đạo (nhiệm kỳ 6/2010-6/2016) và một ê kíp chuyên gia có tâm có tầm, tuyệt đối thượng tôn lợi ích quốc gia, song hành với một dân tộc không sợ cường quyền, nghèo nhưng không hèn; chuộng hoà bình nhưng khi hữu sự, chẳng hề sợ chiến tranh đối đầu với ngoại xâm bá quyền nước lớn. Toàn chữ S Việt Nam ta, từ hơn 41 năm qua, may mắn được thống trị bởi độc đảng cộng sản ‘đỉnh cao trí tuệ’, nghĩa là cái gì ‘đảng ta’ cũng tài cũng giỏi cũng vượt trội thiên hạ; may mắn có đến 24.300 Tiến $ĩ, hơn 9.000 Giáo $ư, 105.000 Thạc $ĩ… song hành với một dân tộc nghe nói anh hùng, thông minh… Tất cả đều nhờ Ma dzê in Việt Nam xã nghĩa.
Có điều, bởi là con đẻ của Nguyễn Tất Thành/ Hồ Chí Minh từ 1930, cho nên đến nay (07/2016), đảng cộng sản Việt Nam vẫn tâm tâm niệm niệm “lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam trong mọi hành động”, cụ thể là từ 1992 (1), do đó, liên quan tới 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông, theo HY em, chẳng bao giờ cộng sản Việt Nam đưa cộng sản Trung Quốc ra toà án quốc tế PCA để đòi lại chủ quyền, tương tự như Philippines đã làm trong vụ án bãi đá ngầm Panatag/ Hoàng Nham/ Scaborough reefs từ ngày 22/01/2013 và đã thắng kiện vang dội thế giới, ngày 12/07/2016. Tại sao? Ấy vì:
1-. Đồng chí cha đẻ đcs Việt Nam Hồ Chí Minh – Anh hùng bàn phím, Anh hùng dải phóng dân tộc, Doanh nhân văn hoá thế giới, sinh thời, đã có viễn kiến về Hoàng Sa và Trường Sa vốn thuộc chủ quyền của chữ S, thế nầy: “Mấy cái đảo hoang ở ngoài khơi đó là của ai thì tôi cũng không rõ lắm, nhưng đó cũng chỉ là mấy cồn đá hoang toàn phân chim. Nếu các đồng chí Trung Quốc muốn thì cứ cho họ đi”. (Hồi ký Hoàng Văn Hoan – Ủy viên BCT đcs Việt Nam, Phó chủ tịch QH Việt Nam xã nghĩa: Giọt nước trong biển cả) (2);
2-. Đồng chí Thứ trưởng Ngoại giao Ung Văn Khiêm, ngày 15/06/1956:
“Theo dữ liệu của Việt Nam, quần đảo Tây Sa [Hoàng Sa] và quần đảo Nam Sa[Trường Sa] về mặt lịch sử là một phần lãnh thổ của Trung Quốc.”
Trong sách “Cuộc tranh chấp Việt-Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” của tác giả Lưu Văn Lợi do Nxb Công an Nhân dân Hà Nội phát hành năm 1995, xác nhận tuyên bố nêu trên của đồng chí Ung Văn Khiêm:
“Việc nói Tây Sa là của Trung Quốc trong bản tuyên bố của chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong tuyên bố năm 1965 về việc Mỹ quy định khu vực chiến đấu của quân Mỹ hay câu nói của Thứ trưởng Ngoại giao Ung Văn Khiêm về Tây Sa [Hoàng Sa] là có thật.”
 
 
3-. Đồng chí Thủ tướng Phạm Văn Đồng, ngày 14/09/1958, đã theo chỉ thị của đồng chí Hồ lãnh tụ, đồng phạm ấn ký Công Hàm tán thành bản Tuyên bố tự khẳng định chủ quyền trên Biển Đông của đồng chí Tổng lý (Thủ tướng) Tàu cộng Chu Ân Lai, rằng:
“Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tán thành và tôn trọng bản tuyên bố ngày 04 tháng 09 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển.” (Trích Công Hàm Phạm Văn Đồng 1958 và bản Tuyên bố Chu Ân lai).
4-. Đồng chí Bảy Vân Nguyễn Thụy Nga – cựu Phó ban Tuyên giáo tỉnh ủy An Giang, cựu Phó Tổng Biên tập báo Sài Gòn Giải Phóng, vợ thứ 2 của đồng chí Tổng Bí thư đcs Việt Nam Lê Duẩn, xác minh bản Công hàm Phạm Văn Đồng:
“Ngụy [Việt Nam Cộng Hoà] nó đóng ở ngoài đó. Cho nên giao cho Trung Quốc quản lý Hoàng Sa… Phạm Văn Đồng có ký tên…”https://www.youtube.com/watch?v=1dcHhZPUm7s
5-. Trong sách Giáo khoa Địa lý, lớp 9 Trung học phổ thông toàn tập do Nxb Giáo dục Việt Nam xuất bản năm 1974, có chương giới thiệu nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa: Từ các đảo Nam Sa, Tây Sa (3) đến đảo Hải Nam, đảo Đài Loan, các đảo Bành Hồ, quần đảo Châu Sơn…, các đảo này có hình vòng cung, tạo thành bức ‘Trường thành’ bảo vệ Trung Quốc đại lục.
6-. Đồng chí Ủy viên Ba Náo – chi bộ Thành Hồ, khẳng định lời dạy của lãnh tụ Hồ Chí Minh, rằng “Hoàng Sa-Trường Sa chỉ là bãi hoang chim ỉa!” (Theo cụ Tống Văn Công – nguyên Tổng biên tập báo Lao Động từ năm 1988 tới năm 1994, nay đã từ bỏ đcs Việt Nam);
7-. Đồng chí Đại tá Giáo $ư-Tiến $ĩ Trần Đăng Thanh: “Ta không quên họ [Tàu cộng] đã từng xâm lược chúng ta nhưng ta cũng không được quên họ đã từng nhường cơm xẻ áo cho chúng ta. Ta không thể là người vong ơn bội nghĩa, đấy là đối với Trung Quốc hai điều không được quên…”https://www.youtube.com/watch?v=HEQkyp–UUQ
8-. Đồng chí Thượng toạ nón cối Thích Chân Quang: “Trung Quốc là anh, Việt Nam là em… thì Việt Nam phải kính trọng anh (Trung Quốc). Từ xưa đến nay (cả mấy ngàn năm qua), người Việt Nam luôn có thái độ kính trọng người Trung Quốc đàng hoàng, không bao giờ mất cái lễ này, không bao giờ mất cái đạo lý của người em, tức là về phần người em mình đã làm đầy đủ bổn phận là luôn kính trọng người anh. Chỉ có một lần là Lý Thường Kiệt hơi hỗn, sau khi nghe tin ông anh sắp đánh mình, ông đem quân đánh trước, diệt hết tất cả những hậu cứ làm bàn đạp đánh sang Việt Nam như thành Châu U, Châu Ly, Châu Âm. Còn lại thì đa số ta đều bày tỏ lòng kính trọng với Trung Quốc”. (Thích Chân Quang: Biển Đông dậy sóng, từ phút 09: – video 1/2).
Video 2/2: https://Zoutu.be/5_F7EVvEGV8 (thay Z bằng Y).
9-. Bác $ĩ Huỳnh Phước Sang – Tổng dám đốc công ty Tư vấn & Đầu tư MEDIKA, thành Hồ:
9.1-. “Chúng ta nên giao Hoàng Sa-Trường Sa đứt cho Trung Quốc, hay chí ít cũng là Hoàng Sa! Tại sao vậy? Các bạn lắng nghe một người yêu nước nói, đừng vội chồm chồm lên nhé!”.
9-2-. “Chúng ta hành xử thế nào thì ngoài các lợi ích thông thường thì đừng quên một chuyện Quan Trọng là 6 tỷ người còn lại trên thế giới luôn Nhìn và Đánh Giá hành vi thái độ phẩm chất của chúng ta”.
9.3-. “Không xét lại lịch sử đúng hay sai, chỉ biết rằng Thế Giới đều biết một Sự Thật là Trung Quốc giúp Việt Nam trong chiến tranh và giành chiến thắng! Chưa kể đến những Công Hàm xác nhận, thì việc Việt Nam phải đền đáp Trung Quốc cho việc mình nhờ cậy là bình thường và phải phép”.
9.4-. “Vậy tại sao chúng ta không hy sinh đi một tài sản trước mắt để bù lại có được sự nể trọng của toàn thế giới này, có được hình ảnh một dân tộc trọng chữ Tín, điều đó tôi cho là lợi ích to lớn nghìn năm, lớn hơn nhiều so với mấy cái bãi san hô lìu tìu đó”. 
(Tất nhiên bài này đã bị lặng lẻ gỡ bỏ trên Facebook không lâu sau đó, nhưng chạy đâu cho khỏi nắng: dám đốc thì phải dám chịu: bút sa gà chết là vậy, thưa Huỳnh Bác $ĩ).
Nguyên văn bài viết trên FB của Bác $ĩ mồm lông Huỳnh Phước Sang
10-. Đồng chí Tổng Bí thư đcs Việt Nam Nguyễn Phú Trọng – ‘người miền Bắc, có lý luận’, Tiến $ĩ chuyên ngành xây dựng đảng, 19/07/2015: “Trong thời gian tôi giữ chức Tổng Bí thư từng hai lần đi thăm Trung Quốc, ba lần điện đàm với đồng chí Tổng Bí thư Tập Cận Bình, hai bên đã đạt được nhận thức chung rộng rãi về tiếp tục thúc đẩy quan hệ hai Đảng hai nước Việt-Trung phát triển, đã sâu sắc sự tin cậy lẫn nhau về chính trị, thể hiện quyết tâm và niềm tin với nhân dân hai nước và cộng đồng quốc tế về Việt-Trung phải đời đời hữu nghị với nhau…”.http://vietnamese.china.com/news/eastasia/810/20150719/421632.html (5).
*
 
Sơ kết: Qua những luận cứ ‘bất khả tư nghì’ thượng dẫn, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Hải Bình, ngay sau phán quyết của Toà án PCA (12/07/2016), đã lại một lần nữa karaoke điệp khúc “Việt Nam cương quyết khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”(4), nghĩa là ‘đảng ta’ và Niểng chính phủ tiếp tục ‘duy ý chí và kiên định chủ trương nhất quán của đảng’: Thà rúm ró trong cái bẫy đàm phán song phương Ma dzê in Chai Na, chứ noi gương Philippines kiện tụng ra quốc tế chỉ tổ to chuyện, hao công tốn của, nhất là làm sứt mẻ đại phân cục 16 vàng 4 tốt, thiên triều nổi khùng rút ống oxy thì hậu quả nhãn tiền là ‘đảng ta’ tắp lự đi xa theo ‘Bác’, đúng như cựu Tổng Bí thư đcs Việt Nam Nguyễn Văn Linh, trong quá trình Mật nghị Thành Đô 1990, có câu nói lưu xú đời đời: “Tôi cũng biết rằng, dựa vào Trung Quốc sẽ mất nước, nhưng mất nước còn hơn mất đảng!” (Theo tài liệu từ Thiếu tướng cộng sản Hà Thanh Châu – Chính ủy Tổng cục công nghiệp Quốc phòng Việt Nam, tỵ nạn chính trị tại Hoa Kỳ từ ngày 08/04/2013).
Một đảng phái với 4 triệu đảng viên, nắm tuyệt đối quyền cai trị trên mọi mặt trong xã hội mà coi trọng sự hiện hữu của mình quan trọng hơn đứt sự sống còn của non 90 triệu công dân bị trị thì cái đảng ấy đích thị là khốn nạn và hèn hạ. Non 90 triệu con người không là đảng viên đcs mà đăng đẳng cam chịu khom lưng, cúi đầu trước 4 triệu sai nha ưng khuyển thì mớ người đó có còn xứng danh 6 chữ dân-tộc-anh-hùng-thông-minh không? Hỡi ôi, “một dân tộc tìm cách tránh né chiến tranh bằng cái giá của sự nhục nhã thì cuối cùng sẽ nhận lấy đủ cả sự nhục nhã và chiến tranh/ A people who seek to avoid war at the cost of humiliation will eventually take all the humiliation and war” (Cố Thủ tướng Vương quốc Anh Winston Churchill).
Nếu bài này của HY em tiềm tàng điều gì sai… ý đảng thì chư vị Dư luận viên cần-phải-nên vận dụng sáng tạo đạo đức và tư tưởng Hồ Chí Minh phản biện rạch ròi vào từng điểm một, kèm chứng cớ không thể chối cãi, văn ngôn thể hiện đình cao văn hoá xã hội chủ nghĩa. Hoặc những gì HY em biên soạn là đúng, là không thể chối cãi thì quí vị DLV không cần tỏ lời cám ơn, đã đành, nhưng cũng nên chịu khó đọc kỹ và hiểu rõ hầu… rút kinh nghiệm như mọi khi, chẳng là sợi dây kinh nghiệm xã hội chủ nghĩa còn dài lắm, tha hồ rút, e đến tháng 7 năm 2020 chưa chắc đã dứt!
17.07.2016
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Thế chiến III: Mỹ chia nước Tàu ra từng mảnh để trị

Thế chiến III: Mỹ chia nước Tàu ra từng mảnh để trị

Nguyễn Vĩnh Long Hồ (Danlambao)Phán quyết PCA đặt Tập Cận Bình vào thế “trên đe dưới búa”, một sự lựa chọn khó khăn là: Nếu xem thường “luật pháp quốc tế”, tẩy chay phán quyết của Tòa Trọng tài PCA ngày 12/7/2016 bác bỏ yêu sách chủ quyền của TC ở Biển Đông. Họ Tập phải chấp nhận xung đột với Hải quân Mỹ + đồng minh Nhật, Ấn, Australia và khối ASEAN và cả thế giới nói chung. Còn nếu nhượng bộ Mỹ & đồng minh và ASEAN, họ Tập sẽ phải chịu áp lực từ dư luận và phong trào chủ nghĩa dân tộc cực đoan trong nước…
 
Washington đang tìm cách tạo cớ, gây chiến tranh Thế chiến III với Bắc Kinh trên Biển Đông để xé Tàu Cộng ra nhiều nước nhỏ để trị. Liệu Tập Cận Bình ngạo mạn có thoát được cái “bẩy chiến lược” do Mỹ giăng ra trên Biển Đông?…
*
Siêu cường là quốc gia thế nào?
Thuật ngữ siêu cường là một quốc gia đứng hàng thứ nhất trong hệ thống quốc tế và khả năng gây hưởng tới những sự kiện và phô trương sức mạnh trên phạm vi toàn thế giới; siêu cường thường được coi có mức quyền lực cao hơn cường quốc. Thuật ngữ này được sử dụng lần đầu tiên năm 1943 để chỉ Liên bang Xô Viết cùng Hoa Kỳ được coi là 2 siêu cường trong cuộc “chiến tranh lạnh”. Những đặc điểm của một siêu cường:
[1] Quân sự: Khả năng thể hiện sức mạnh trên thế giới. Trên thế giới hiện đại, điều nầy đòi hỏi không chỉ một lực lượng quân sự mạnh mà còn có khả năng lập cầu không vận nhanh chóng bằng đường biển, đường không để triển khai lực lượng quân sự và cung cấp tiếp liệu cho lực lượng quân sự đó, nhằm tăng cường lợi ích quốc gia cũng như được sự ủng hộ của dân chúng cho hành động đó.
[2] Văn hóa: Ảnh hưởng văn hóa mạnh mẽ, “quyền lực mềm”. Ảnh hưởng văn hóa ngụ ý một lĩnh vực triết học. âm nhạc, điện ảnh và ý thức hệ phát triển.
[3] Địa lý: diện tích lãnh thổ hay biển thuộc quyền kiểm soát của họ. Lãnh thổ cho phép một quốc gia khai thác tài nguyên và trồng cây nông nghiệp, tăng khả năng tự cung cấp. Đây là yêu tố quan trọng trong chiến tranh, bởi nó cho phép các khả năng như rút lui, tái hợp và tái tổ chức, cũng như đặt các trạm radar và bệ phóng tên lửa tầm xa, thậm chí một nước giàu nhưng có lãnh thổ nhỏ cũng dễ bị tổn thương hơn trong chiến tranh.
Hoa Kỳ: Được thế giới đánh giá là quốc gia có chủ quyền duy nhất, đạt đủ các yếu tố trở thành một siêu cường, nhờ vào các yếu tố sau đây:
– Địa lý: Hoa Kỳ là nước lớn thứ 3 thế giới theo diện tích lục địa sau Nga và Canada.
– Dân số: Với 313 triệu dân, chiếm khoảng 5% dân số thế giới, Hoa Kỳ là nước đông dân thứ ba. Nước này có tỷ lệ tăng trưởng dân số cao nhất trong các nước phát triển. Theo LHQ, Hoa Kỳ có chỉ số phát triển con người đứng hàng thứ 4 thế giới.
– Chính trị: Hoa Kỳ có nền chính trị “Dân chủ Cộng hòa” ổn định, đóng góp khoảng 22% ngân sách LHQ và là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo An LHQ với quyền phủ quyết. Lập trường của Hoa Kỳ về các vấn đề quốc tế thường được các quốc gia trên thế giới ủng hộ, đặc biệt như: Anh, Canada, Australia, Đức, Nhật, Ấn, Hàn, Israel…
Quân sự: Hoa Kỳ có mức chi tiêu quân sự lớn hơn cả 12 nước đứng tiếp sau họ cộng lại. Năm 2006, họ sở hữu kho vũ khí hạt nhân lớn thứ 2 thế giới và một số hệ thống vũ khí kỹ thuật tân tiến nhất hiện nay cùng khoản chi tiêu lớn cho phép triển khai quân đội tới bất kỳ địa điểm nào trên thế giới, đó là hệ thống HKMH của Hải quân Hoa Kỳ.
Hải quân Mỹ đang vận hành 13 chiếc tàu có thể được gọi là HKMH, nhưng chỉ gọi 11 chiếc là HKMH thực sự. Theo tạp chí The Diplomat, Hải quân Mỹ đưa vào biên chế tàu tấn công đổ bộ hạng nhất USS America và tàu cùng loại tên USS Tripoli. Khi hoạt động, USS America USS Tripoli sẽ có tới 20 chiếc chiến đấu cơ tàng hình cất cánh thằng đứng F-35B và đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì ưu thế trên không của hải quân Mỹ (USS America có kích thước và tầm cỡ tàu sân bay Charles De Gaulle của Pháp và INS Vikramaditya của Ấn Độ).
Ngoài ra siêu hạm USS Zumwalt sẽ được biên chế Hải quân Mỹ trong năm 2016 theo kế hoạch. Khiến Bắc Kinh không vui.
– Văn hóa: Văn hóa Mỹ có có tầm ảnh hưởng trên khắp thế giới, đặc biệt ở những vùng nói tiếng Anh như âm nhạc, điện ảnh, thể thao…
– Kinh tế & tài chính: Hoa Kỳ sở hữu nền kinh tế quốc gia lớn nhất thế giới với trị giá 15 ngàn tỷ USD. Hoa Kỳ chiếm 21% GDP của thế giới. Nước này thường có mức độ tăng trưởng kinh tế từ mức trung bình tới cao. Trong 20 năm qua, mức tăng trưởng kinh tế Hoa Kỳ trung bình chỉ hơn 3% mỗi năm.
Hoa Kỳ có mức GDP trên đầu người lớn hơn bất kỳ một siêu cường đang nổi lên và cao hơn hầu hết các nước công nghiệp phát triển khác, ở mức khoảng 48.000 USD/ năm.
Hoa Kỳ là nơi đóng trụ sở của tập đoàn quốc tế và các định chế tài chính. Các công ty Mỹ giữ vai trò hàng đầu trong nhiều lĩnh vực như vật liệu mới, điện tử và viễn thông, công nghệ thông tin, vũ trụ, năng lượng, công nghệ sinh học, dược phẩm, tin học sinh học (bioinformatics), cơ khí hóa chất (chemical engineering) và phần mềm. Nước này là nhà sản xuất hàng đầu về hàng hóa tiêu dùng và sản phẩm nông nghiệp, dù phải phụ thuộc vào dầu mỏ nhập cảng.
Hoa Kỳ có ảnh hưởng mang tính quyết định với các định chế tài chánh quốc tế như Quỹ tiền tệ quốc tế và Ngân hàng thế giới; đồng dollar Mỹ là đồng tiền tệ dự trữ và trao đổi quan trọng nhất trên thế giới.
Ngày 17/6/2016, TT Putin phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới tại St. Petersburg: “Mỹ là một cường quốc mạnh, có thể ngày nay là “siêu cường duy nhất”. Chúng tôi chấp nhận điều đó và sẵn sàng làm việc với Mỹ”. 
Tàu cộng:
Tàu Cộng thường được coi là một siêu cường đang nổi lên. Chưa cần tính số liệu kinh tế của Hồng Kông và Macao, Đại Lục hiện là nền kinh tế đứng thứ nhất thế giới và hiện được coi là một siêu cường đang nổi lên nhờ dân số đông đảo và mức độ tăng trưởng kinh tế rất nhanh với tỷ lệ bình quân hàng năm là 6.9%. Sở hữu các lực lượng vũ trang lớn nhất thế giới, Tàu Cộng hiện là một trong 5 thành viên thường trực Hội Đồng Bảo An LHQ.
“Giấc Mơ Trung Hoa”: Tham vọng đế quốc của Tập Cận Bình
Từ khi nắm quyền lãnh đạo ĐCSTQ hồi tháng 11/2012, các tham vọng vĩ đại của họ Tập đã trở nên nổi tiếng. Trong nước, họ Tập đã thúc đẩy mục tiêu lớn mà họ Tập gọi là “Trung Quốc mộng”: “Đại phục hưng dân tộc Trung Hoa”. Họ Tập gây ngạc nhiên cho hầu hết giới quan sát bởi tốc độ và hiệu quả trong việc củng cố quyền lực trong ĐCSTQ và QĐNDTQ. Giờ đây, Tập Cận Bình được coi là nhà lãnh đạo quyền lực nhất của Đại Lục sau Đặng Tiểu Bình, nếu không nói là sau Mao Trạch Đông.
Hai cột trụ chính của chính sách đối ngoại quyết đoán của họ Tập, gồm sự chủ động về mặt an ninh, chủ yếu trong lĩnh vực hàng hải và ngoại giao kinh tế qua cái gọi là chính sách “một vành đai, một con đường” (Nhất đới nhất lộ). Điều nầy cho thấy họ Tập không hài lòng với việc biến TC thành một cường quốc khu vực mà xa hơn, hắn ta còn muốn biến TC thành một thế lực hàng đầu và thậm chí chi phối các vùng trọng yếu của châu Á-TBD. Quả thật, là một người thích tìm hiểu lịch sử, họ Tập đang cố khôi phục vai trò TC trong hệ thống Đông Á đương đại ở tầm cao lịch sử như trong thời đại “Đế chế Trung Hoa (221 TCN – 1911).
Liệu TC của họ Tập có sẵn sàng giành lại vinh quang của tiên đế? Chúng ta có thể so sánh TC hôm nay với TQ sơ kỳ Minh Triều (1368-1424) vốn thủ đắc bá quyền một phần khu vực Đông Á. Về GDP, vị thế kinh tế của TQ triều Minh thời điểm đỉnh cao quyền lực mạnh hơn so với Mỹ hiện nay. Nhưng quyền bá chủ không chỉ liên quan đến vật lực mà đó sự kết hợp giữa tính vượt trội về vật lực và tính chính đáng xã hội, khả năng kiểm soát các kết quả quốc tế quan trọng và một mức độ ưng thuận và chấp nhận nhất định từ các quốc gia khác trong hệ thống.
Các lân bang của TQ sơ kỳ Minh Triều có 4 chiến lược chính trong phản ứng và ứng xử với triều Minh. Phân hạng theo mức độ hợp tác từ cao xuống thấp, bốn chiến lược đó là:
– Gắn chặt (identification).
– Thần phục (deference)
– Tiếp cận (access)
– Thoát ly (exit)
Hầu hết các lân bang của Tàu triều Minh thuận theo chiến lược thần phục, nhưng không nhất thiết phải chấp nhận tính chính đáng của hệ thống quan hệ quốc tế theo thứ bậc của Đế quốc Trung Hoa được biểu hiện qua sự triều cống.
Trong lịch sử, TQ được coi là một thế lực hiếu chiến, chủ nghĩa bành trướng của họ thể hiện qua các hoạt động quân sự và các chính sách ngoại giao là một nỗi lo ngại đáng kể của các nước lân cận. Bản chất của người Tàu cho ta thấy sự tự cao của họ, nước của họ là trung tâm quyền lực của thế giới loài người, nên đặt tên nước của họ là Trung Hoa là cái rốn của vũ trụ.
Trong thời kỳ XHCN, đối với các nước cùng một ý thức hệ như VN và Bắc Hàn cái nhìn kiểu mới về quan hệ “bá chủ – chư hầu” của TC là nền tảng của nền ngoại giao TC sau khi ĐCSTQ nắm chính quyền, đặc biệt trong quan hệ Việt-Trung. Thân phận chư hầu được Bắc Kinh dùng để đổi chác trên lưng dân tộc VN mang tính chiến lược với Mỹ.
Phát biểu tại buổi lễ Kỷ Niệm 95 năm ngày thành lập ĐCSTQ, Tập Cận Bình thẳng thắn tuyên bố (che giấu tham vọng): “TQ không hề muốn bá chủ thế giới, nhưng sẽ không bao giờ chịu khuất phục trước mối đe dọa của bất kỳ lực lượng quân sự nào”. Tuyên bố của họ Tập được đưa ra ngay trước thềm phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực về vụ kiện tranh chấp tại Biển Đông với Philippines vào ngày 12/7/2016.
“Hành động dằn mặt như vậy không phản ảnh sức mạnh thực sự và sẽ không thể ngăn chận bất kỳ ai”, họ Tập ám chỉ vào việc Mỹ điều tàu chiến tuần tra tại Biển Đông. Về phía các quốc gia láng giềng tại ven Biển Đông. Bắc Kinh đã ngang ngược tuyên bố chủ quyền ở hầu hết diện tích 80% Biển Đông, chồng chéo lên chủ quyền của Indonesia, Philippines, Brunei, Malaysia và Việt Nam. Bắc Kinh cũng đã ngang ngược đẩy mạnh xây dựng phi pháp các cơ sở quân sự tại 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Thế Chiến Thứ III: Mỹ chia Tàu Cộng ra từng nước nhỏ để trị:
Lịch sử thế giới chứng minh Hoa Kỳ đã đấu tranh quyết liệt để giữ vững vị trí siêu cường số 1 thế giới qua 2 cuộc thế chiến thứ I & II:
[1] Thế Chiến I:
Diễn ra từ tháng 6//1914 đến tháng 11/1918 là một cuộc chiến tranh quyết liệt, quy mô to lớn thứ nhì trong lịch sử nhân loại về quy mô và sự khốc liệt của nó, chỉ đứng sau thế chiến II. Cuộc chiến tranh có chiến trường chính bao trùm khắp châu Âu và Bắc Mỹ vào vòng chiến với số người chết trên 19 triệu người.
Đây là cuộc chiến giữa phe Hiệp Ước (Anh, Pháp, Nga và Hoa Kỳ) và phe Liên Minh (Đức, Áo, Hung, Bulgaria và Ottoman). Cuộc đại chiến mở đầu với sự kiện Hoàng tử Áo – Hung bị ám sát, dẫn đến Áo – Hung tuyên chiến với Serbia. Sự kiện nầy được tiếp nối bởi việc Hoàng đế Đức là Wihelm II truyền lệnh cho các tướng xua quân tấn công Bỉ, Luxembourg và Pháp theo kế hoạch Schlieffen. Hơn 70 triệu quân nhân được huy động ra mặt trận, trong số đó có 60 triệu người Âu châu, trong cuộc chiến tranh lớn thứ hai trong lịch sử. Thế chiến I, nước Anh suy yếu từ cường quốc thứ 2 thế giới, nhường ngôi cho Nga đứng nhì thế giới.
[2] Thế Chiến II:
Diễn ra từ 1/9/1939 – tháng 2/9/1945 giữa các lực lượng Đồng Minh và phe Trục theo chủ nghĩa Phát Xít. Hầu hết mọi lục địa trên thế giới đều bị ảnh hưởng của cuộc chiến tranh nầy. Cho tới nay, nó là cuộc chiến quy mô rộng lớn và thiệt hại nhất trong lịch sử nhân loại.
Các nguyên nhân cuộc chiến trong đó có Hòa ước Versailles, đại khủng hoảng, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa quân phiệt. Một số người cho rằng, đó là khi Đức xâm lược Ba Lan vào ngày 1/9/1939, một số người khác tính ngày Nhật Bản xâm lược Trung Quốc vào ngày 7/7/1937, còn một số khác thì tính vào Nhật Bản xâm lăng Mãn Châu vào năm 1931. Cũng một số người khác cho rằng 2 cuộc thế chiến thực ra chỉ là một và được chia ra bởi một cuộc ngừng bắn.
Các chiến sự đã xảy ra tại Đại Tây Dương, châu Phi, Bắc Phi, Trung Đông, Địa Trung Hải, Thái Bình Dương và phần lớn của Đông Á và Đông Nam Á. Cuộc chiến kết thúc tại châu Âu khi Đức đầu hàng vào ngày 8/5/1945, nhưng vẫn tiếp tục tại châu Á cho đến khi Nhật Bản đầu hàng vào ngày 2/9/1945.
Thế chiến II là một cuộc chiến tranh toàn diện, kể cả dân thường không ở mặt trận cũng bị đánh bom hàng loạt. Khoảng 70 triệu người đã bị chết do cuộc chiến này, kể cả các hành động tàn sát diệt chủng của Đức Quốc Xã (Holocaust). 60% người chết là thường dân, chết vì bệnh dịch, nạn đói, nạn diệt chủng và bom đạn. Thiệt hại nặng nhất là Liên Xô với 23 tới 27 triệu người chết. Kết quả, sau Thế chiến II Liên Xô suy yếu dần chỉ còn là cường quốc.
Năm 1991, Hoa Kỳ đánh Liên Xô, đệ nhị siêu cường vỡ ra từng mảnh. Lần đầu tiên, Hoa Kỳ triệt hạ một đệ nhị siêu cường mà không cần dùng đến hành động quân sự, như Tổng thống Kennedy tuyên bố: “Muốn diệt Cộng sản, không cần tốn một viên đạn. Mỹ dùng “chiến tranh Kinh tế” để tiêu diệt LX vỡ ra từng mảnh”.Nga nhường ngôi đệ nhị cường quốc cho Tàu Cộng.
[3] Thế chiến III: tại sao Mỹ phải đánh Tàu cộng vỡ ra từng mảnh trước năm 2020?
Theo các nhà phân tích: Tới năm 2020 nếu TC vẫn duy trì được đà phát triển như hiện nay, GDP của TC sẽ vượt mặt Mỹ và trở thành đệ nhất cường quốc thế giới thì Hoa Kỳ sẽ trở thành quốc gia hạng nhì sau Tàu Cộng. Tiếng nói của cường quốc hạng nhì sẽ không còn trọng lượng, trở thành lạc lõng giữa các cộng đồng quốc tế, chẳng còn ai muốn lắng nghe. Vì vậy, Mỹ phải đánh TC vỡ ra từng mảnh từ đây đến năm 2020 trước khi quá muộn.
Mấy ngàn năm về trước, chính trị của Hàn Phi Tử khả dĩ thu vào 2 điểm chủ yếu:
– Đối ngoại không gì hơn “thực lực”.
– Đối nội không gì hơn “quyền lực”.
Quan hệ giữa nước nầy với nước kia nếu không có thực lực thì lấy gì phát triển và tồn tại. Việc trong nước mà không có quyền lực lấy gì thống trị thì làm sao thay đổi cả đường lối sinh hoạt của nhân dân. Bởi vậy, ông phán một lời tuy ngắn ngủi nhưng rất minh bạch đã trải qua mấy ngàn, đến nay vẫn còn giá trị: “Lực đa tắc nhân triều, lực thiểu tắc triều ư nhân cố minh quân vụ lực” (Lực khỏe thì thiên hạ theo ta, lực yếu thì ta buộc phải phục tùng thiên hạ, cho nên một ông vua giỏi là phải kiến thiết lực mạnh).
Theo William C. Wohlforth – GS ĐH Dartmouth & Stephen G. Brooks Phó GS – Đánh giá nước Mỹ trong cuốn sách: “Nước Mỹ ngoài biên giới: Vai trò toàn cầu của Hoa Kỳ trong thế kỷ XXI” (Oxford University Press, 2016). Tóm tắt những điểm chính:
 
Sau hai thập kỷ rưỡi, vị trí siêu cường duy nhất trên thế giới của Hoa Kỳ sắp kết thúc?” Nhiều người đồng ý vì họ nhìn thấy một TC đang tăng trưởng nhanh và sẵn sàng bắt kịp hoặc thậm chí vượt Mỹ trong tương lai gần. Bằng nhiều thước đo, nền kinh tế của TC được nhận định là đang trên đường trở thành lớn nhất thế giới và ngay cả khi tăng trưởng chậm lại, nó vẫn sẽ vượt qua nền kinh tế Hoa Kỳ trong nhiều năm. Kho bạc của nước này đầy ắp tiền bạc, Bắc Kinh sử dụng sự giàu có mới của mình để thu hút bạn bè, ngăn chận kẻ thù, hiện đại hóa quân đội của mình và khẳng định tuyên bố chủ quyền ở ngoại vi của quốc gia này. Do đó, đối với nhiều người, vấn đề không phải là liệu TC sẽ trở thành một siêu cường hay không, mà chỉ là thời điểm nhanh hay chậm.
 
Nhưng đây là suy nghĩ mơ mộng hay sợ hãi. Tăng trưởng kinh tế không còn được chuyển hóa trực tiếp vào sức mạnh quân sự như nó đã làm trong quá khứ, điều đó có nghĩa rằng bây giờ khó khăn hơn bao giờ hết cho những quyền lực mới nổi và có khả năng những quyền lực đã bị suy giảm và TC là nước duy nhất có khả năng để trở thành một đối thủ toàn cầu thực sự của Hoa Kỳ. Nhưng, TC còn phải đối mặt với thách thức khó khăn hơn các quốc gia tăng trưởng trước đó vì TC bị tụt hậu khá xa về công nghệ. Mặc dù sự thống trị kinh tế của Hoa Kỳ đã bị suy giảm từ đỉnh điểm, ưu thế quân sự tuyệt đối của nước nầy không vì thế mà suy giảm.Thay vì chờ đợi một sự chuyển đổi quyền lực trong bàn cờ chính trị quốc tế, mọi người nên bắt đầu làm quen với một thế giới trong đó Hoa Kỳ vẫn là siêu cường duy nhất trong nhiều thập kỷ tới. 
Trong dự báo về vị trí quyền lực trong tương lai của Tàu Cộng, nhiều thách thức của quốc gia này đã được nhắc đến: nền kinh tế chậm lại, môi trường ô nhiễm, tham nhũng tràn lan, thị trường tài chánh đầy nguy hiểm, không tồn tại mạng lưới an sinh xã hội, nhanh chóng lão hóa dân số và tầng lớp trung lưu bất ổn. Gót chân Achilles thực sự của TC trên sân khấu chính trị thế giới: công nghệ lạc hậu so với Hoa Kỳ. So với các thế lực đang lên trước đây, TC tụt hậu công nghệ với Mỹ lớn hơn… 
Một chỉ số nữa về khoảng cách công nghệ là số bằng sáng chế ghi danh tại Hoa Kỳ, Châu Âu và Nhật Bản. Trong năm 2012, gần 14.000 bằng sáng chế có nguồn gốc ở Hoa Kỳ, so với dưới 2.000 ở Tàu Cộng. Theo National Science Foundation cho thấy, tình trạng tương tự về giải Nobel về Vật lý, Hóa học và Sinh lý học và Y học. Kể từ năm 1990, 114 giải đã được trao cho các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, trong khi TC chỉ nhận được có 02. Có một điều, sự tàn phá môi trường ghê gớm ở Hoa Lục vì ưu tiên tăng trưởng GDP…”
Hoa Kỳ phải tấn công & triệt hạ Tàu cộng bằng mọi giá:
Về kinh tế: 
 
Theo Ruchir Sharma, tác giả bài viết “How China Fell Off the Miracle Path” (Phép mầu kinh tế China đang chấm dứt thế nào?” được The New York Times đăng, số ra ngày 03/6/2016. Xin tóm tắt những điểm chính:
– Những tác động chính đã định hình sự hưng thịnh và suy vong của các quốc gia kể từ sau cuộc khủng khoảng tài chánh năm 2008 và không có điều nào có lợi cho TC.
– Nợ đã tăng nhanh đến mức báo động ở các nước đang trỗi dậy, đặc biệt là TC. Tăng trưởng thương mại đã sụp đổ ở mọi nơi, một đòn đau với những nước xuất cảng hàng đầu, lại tiếp tục dẫn dắt bởi TC. Nhiều nước đã quay về đường lối cai trị chuyên chế trong một nỗ lực nhằm chống lại cuộc suy thoái toàn cầu và không ai làm đến mức tự hủy hoại chính mình như TC. Và vì những lý do không liên quan đến cuộc sụp đổ năm 2008, mức tăng trưởng nhân lực trong độ tuổi lao động đang chậm dần và thậm chí ở mức âm ở TC làm hao mòn nguồn nhân lực.
– Tăng trưởng ở mức 6% một năm là một điều rất khó khăn đối với bất kỳ một quốc gia nào. Trong nỗ lực vượt qua mục tiêu đó, TC đã bơm những khoản nợ vào những dự án lãng phí và đang tự đào cho mình một cái hố sâu tự chôn mình. Nền kinh tế giờ đang chậm lại và sẽ còn giảm tốc hơn nữa khi TC buộc phải giảm gánh nặng nợ và thậm chí là một cuộc khủng hoảng kinh tế, điều này sẽ đem đến những hệ quả toàn cầu bởi vì sự kích thích kinh tế đã biến nền kinh tế lớn thứ hai thế giới thành một gã khổng lồ bị bơm căng quá mức.
– Ở Bắc Kinh, sự tự tin đã lùi bước nhường chỗ cho những lo âu. Người dân địa phương thường nhận biết được rắc rối nhanh hơn các nhà đầu tư nước ngoài và sẽ là những người đầu tiên tháo chạy trước một cuộc khủng khoảng. Người TQ đã chuyển ra khỏi đất nước một số tiền kỷ lục ở mức 675 tỷ USD vào năm 2015 và một phần là để mua bất động sản ở nước ngoài, người dân Hoa Lục đổ xô mua những căn hộ siêu sang ở New York hay San Francisco. Bắc Kinh đang cố gắng một cách khó khăn để giữ đồng NDT đang dần suy yếu khỏi lao dốc thêm do đồng tiền mất giá sẽ làm người dân TQ càng mất tự tin và làm gia tăng nguy cơ khủng khoảng.
– Cơn sốt nợ của TC hiện đang ở mức lớn nhất trong các quốc gia mới trỗi dậy từ sau Thế chiến II. Sau khi giữ vững ở mức 150% GDP trong phần lớn giai đoạn tăng trưởng, nợ công và tư bắt đầu tăng từ khi Ôn Gia Bảo đổi hướng vào năm 2008, chạm mức 230% GDP vào năm 2014. Mức tăng 80% vượt mức tăng của Mỹ trước khi bong bóng vỡ vào năm 2008 gấp 3 lần. Kể từ đó, tỷ lệ của Mỹ trên GDP đã đứng vững. Cho dù nhiều người Mỹ vẫn nghĩ rằng đất nước họ vẫn bị nhấn chìm trong nợ nần, gánh nặng của Mỹ không đáng lo như của TC bởi vì nó ngừng tăng.
– Tổng số mức vốn ngoại rút khỏi nước nầy từ đầu năm đến tháng 11/2015 đã lên đến 669 tỷ USD. Bắc Kinh đã phát tín hiệu cho thấy, không để lượng vốn ròng kỷ lục rút khỏi nước nầy trong năm 2015 cản trở các cải cách thị trường vốn, theo hãng tin Bloomberg. Giới đầu tư đã rút 194 tỷ USD khỏi TC trong tháng 9, nâng tổng mức vốn rút khỏi nước nầy lên đến 669 tỷ USD.
– IIF cho biết, con số thoái vốn trong năm 2016 này giảm 1/5 so với khoản rút vốn 674 tỷ USD trong năm 2016, nhưng có khả năng sẽ tăng mạnh nếu xuất hiện những lo ngại về đồng NDT mất giá. Báo cáo IIF cho biết, sự suy giảm mạnh mẽ của đồng NDT có thể sẽ châm ngòi cho một cuộc tháo chạy vốn khổng lồ khỏi thị trường Hoa Lục. Mức dự trữ ngoại hối của TC đang giảm nhanh từ 4.000 tỷ USDtừ tháng 6/2014 xuống chỉ còn 3.200 tỷ USD vào tháng 2/2016.
 
Về quân sự:
Nếu dùng chiêu “kinh tế” mà đánh chưa sập được Tàu Cộng, thì bắt buộc Mỹ phải dùng chiêu cuối cùng là dùng sức mạnh “quân sự” chia nước Tàu vỡ ra thành nhiều nước nhỏ để cai trị. Triệt hạ được nước Tàu, Hoa Kỳ sẽ giữ vững vị trí siêu cường một thế kỷ nữa mà cũng có thể siêu cường cuối cùng duy nhất trên hành tinh này.
Theo Phó giáo sư Stephen Brooks – Học viện Dartmouth (Mỹ) – nhận định: “Vấn đề căn bản có liên quan đến tư duy chiến lược tổng thể đối với Tàu Cộng, trước hết Washington không nên quá lo ngại sự trỗi dậy của TC,” ông nói. “TC đang “trỗi dậy”, nhưng hoàn toàn không phải “đứng dậy”. Về kinh tế, Mỹ hoàn toàn không suy yếu. Chúng tôi cho rằng, trong vài chục năm nữa, Mỹ sẽ vẫn là siêu cường duy nhất. Trong khi đó, TC trỗi dậy sẽ chậm hơn nhiều so với các nước từng trỗi dậy trong lịch sử, chẳng hạn như Đức và Anh. Bởi vì, những nước này có thể sánh ngang với các nước lớn khi đó về khoa học công nghệ. TC hiện cơ bản không đuổi kịp Mỹ về khoa học công nghiệp.”
Theo Stephen Brooks đánh giá, thực lực kinh tế và khoa học công nghệ của Mỹ đủ để chống lại sự bành trướng của TC trong khu vực và ra bên ngoài thế giới, ngăn chận các sự kiện lớn xảy ra có thể làm lung lay vị thế siêu cường của Mỹ.
Ngày 05/7/2016, một tờ báo chính thống của TC cho biết Bắc Kinh cần sẵn sàng “đối đầu quân sự” với Washington ở Biển Đông. Phán quyết của Tòa Án Trọng Tài PCA về tranh chấp ở Biển Đông sắp được đưa ra và quân đội TC cũng bắt đầu tập trận ở vùng này.
Trang tin tức bình luận TC ngày 11/5/2016 vừa có bài viết nhận định rằng, hiện nay Mỹ đang triển khai “4 cuộc chiến” để đáp trả yêu sách bành trướng của TC ở Biển Đông và Hoa Đông. Theo tờ báo Hồng Kông, 3 chiến tuyến gồm:
– Cuộc chiến tấn công dư luận.
– Cuộc chiến răn đe quân sự.
– Cuộc chiến liên minh, liên kết.
Theo nhận định của giới quan sát, 3 cuộc chiến chưa có tiếng súng này chắc chắn sẽ khiến TC phải đối phó rất căng thẳng. Tin tức bình luận TC cho biết, trong lúc phán xét của Tòa Trọng Tài Thường trực ở The Hague sắp đến gần, cuộc đấu giữa các bên xung quanh tranh chấp Biển Đông sẽ ngày càng quyết liệt hơn.
Giới quan sát nhận định rằng, Mỹ sẽ dựa vào kết quả trọng tài để tạo ra một cuộc tấn công dư luận mạnh mẽ, mục tiêu là để chỉ rõ Bắc Kinh không tuân thủ các quy tắc luật pháp quốc tế. Chỉ chờ đến khi có kết quả trọng tài chính thức được công bố, Mỹ đã có đầy đủ lý do để sử dụng cho cuộc tấn công dư luận, nhằm bao vây cô lập Bắc Kinh.
Lực lượng Hải quân Mỹ sẽ tiếp tục có đầy đủ lý do để tiến hành tuần tra Biển Đông, tổ chức diễn tập quân sự liên kết bởi Washington nắm được con bài tẩy của Bắc Kinh chỉ dám ức hiếp, đe dọa các nước nhỏ như: Philippines, Indonesia, Malaysia, Brunei và VN, còn dùng vũ lực đối đầu với Mỹ trong cuộc xung đột, đồng nghĩa với “tự sát”. Chắc chắn đây cơ hội tốt cho các khu tự trị như Tân Cương, Nội Mông, Tây Tạng nổi dậy đấu tranh đòi “Độc lập – Tự do” cho dân tộc của họ. Tàu Cộng sẽ lâm vào thế “thù trong giặc ngoài”.
Theo Gwynne Dyer – một nhà báo độc lập – ngày 7/7/2016, bình luận trên tờ Bangkok Post: “Một cuộc đối đầu có kiểm soát nhằm thu hút sự chú ý của dư luận, Bắc Kinh có thể nổ ra trên Biển Đông với Mỹ và các đồng minh như Ấn, Nhật, Australia, Nam Hàn và ASEAN, có thể là sự lựa chọn “điên rồ” nhằm kích động “chủ nghĩa cực đoan” trong nước và tạo ra sự ủng hộ cho bộ máy cầm quyền. Nhưng, một khi dấn thân vào con đường xung đột đối đầu với Mỹ và đồng minh, Tập Cận Bình sẽ đưa Hoa Lục đi về đầu?”
Jerry Hendrix, một nhà phân tích từ Trung tâm An Ninh của Mỹ, cho biết: Sự hiện diện của các HKMH và tàu chiến của Hải quân Mỹ là nhằm bảo vệ Biển Đông trong thời điểm nhạy cảm, đồng thời cũng nằm trong kế hoạch hiện diện lâu dài của quân đội Mỹ ở Biển Đông. Nhất định Washington sẽ không để Tập Cận Bình côn đồ, hiếu chiến tự tung tự tác trước và sau khi PCA ra phán quyết.
Kết quả phán quyết của PCA:
Ngày 12/7/2016, Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) đã ra phán quyết trong vụ Philippines kiện Bắc Kinh, áp dụng sai, giải thích sai, vi phạm UNCLOS 1982 ở Biển Đông. Trước đó, Bắc Kinh tập trận, điều động lực lượng vũ trang ồ ạt xuống Biển Đông diễn võ dương oai… Hải quân TC đã bắt đầu cuộc tập trận từ ngày 5/7/2016 và dự kiến kéo dài đến ngày 11/7/2016 từ phía Đông đảo Hải Nam đến khu vực quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của VN để chuẩn bị ứng phó trước phán quyết của tòa PCA.
Sự kiện Tòa Trọng tài Thường trực La Haye LHQ (PCA) bác bỏ những tuyên bố chủ quyền của TC trên Biển Đông, nói rằng nước nầy không có “chủ quyền dựa trên yếu tố lịch sử” tại vùng Biển Đông. Cái gọi là “đường lưỡi bò 9 đoạn” đi ngược lại với Công ước Quốc tế về Luật Biển, ấn định ranh giới của một nước trong phạm vi 12 hải lý từ bờ biển của nước nầy, đồng thời được đặc quyền kiểm soát các hoạt động kinh tế trong phạm vi 200 hải lý tính từ bờ biển của nước đó và rằng các hoạt động bồi đắp, xây đảo nhân tạo của Bắc kinh trong thời gian gần đây làm tổn hại nghiêm trọng đến môi trường bãi san hô và vi phạm nghĩa vụ bảo vệ môi trường sinh thái biển.
Phản ứng của Bắc Kinh sau phán quyêt của PCA:
[1] Tẩy chay các thủ tụng tại Tòa, nói rằng Tòa Trọng tài Quốc tế không có quyền tài phán trong cuộc tranh chấp, đồng thời nhấn mạnh, họ sẽ không chấp nhận, công nhận hoặc thực thi bất cứ phán quyết nào về Biển Đông, bất chấp họ đã ký tên Công ước LHQ về Luật biển cùng với Philippines.
[2] Hãng tin Xinhua của TC nói rằng: “Tòa án La Haye lạm dụng pháp luật” đã công bố một phán quyết không có sơ sở vững chắc”. Bắc Kinh sẽ lựa chọn 3 phương án để thách thức phán quyết của Tòa án La Haye:
– Tiếp tục các hành động bành trướng hiện tại trên Biển Đông.
– Tuyên bố một khu nhận dạng phòng không – ADIZ trên Biển Đông.
– Lựa chọn mục tiêu thứ 3 là “bất hợp tác” hay trở thành một nước “bất hảo”, có nghĩa là Tập Cận Bình có thể càng gia tăng thêm áp lực trong khu vực.
[3] Phụ họa có Tướng hiếu chiến La Viện (về hưu) lập lại cái gọi là Bắc Kinh có quyền áp đặt vùng nhận diện phòng không ADIZ trên Biển Đông như đã thiết lập ở Hoa Đông và Mỹ không thể can thiệp. La Viện ngạo mạn, đặt câu hỏi: “Mỹ có thể phá hủy hệ thống vũ khí tự vệ mà TC triển khai trên các đảo nhân tạo hay không?” Hắn tự tin kết luận. “Mỹ không thể trục TQ khỏi Biển Đông”.
Kết luận:
Phán quyết PCA đặt Tập Cận Bình vào thế “trên đe dưới búa”, một sự lựa chọn khó khăn là: Nếu xem thường “luật pháp quốc tế”, tẩy chay phán quyết của Tòa Trọng tài PCA ngày 12/7/2016 bác bỏ yêu sách chủ quyền của TC ở Biển Đông. Họ Tập phải chấp nhận xung đột với Hải quân Mỹ + đồng minh Nhật, Ấn, Australia và khối ASEAN và cả thế giới nói chung. Còn nếu nhượng bộ Mỹ & đồng minh và ASEAN, họ Tập sẽ phải chịu áp lực từ dư luận và phong trào chủ nghĩa dân tộc cực đoan trong nước.
Theo Gao Cheng, một nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Châu Á – TBD (TQ) nói: “Nếu TQ chỉ tiếp tục dùng lời nói mà không có hành động cụ thể, không gây áp lực được với Philippines thì làm sao Bắc Kinh có thể ngăn các quốc gia khác tuyên bố chủ quyền chồng lấn ở Biển Đông theo phương pháp của Philippines đã kiện TQ?”.
Washington đang tìm cách tạo cớ, gây chiến tranh Thế chiến III với Bắc Kinh trên Biển Đông để xé Tàu Cộng ra nhiều nước nhỏ để trị. Liệu Tập Cận Bình ngạo mạn có thoát được cái “bẩy chiến lược” do Mỹ giăng ra trên Biển Đông? Xin hãy chờ xem!!!
Tổng hợp & nhận định:
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Chính trị Mỹ: suy tàn hay đổi mới?

Chính trị Mỹ: suy tàn hay đổi mới?

Ý nghĩa cuộc Bầu cử Tổng thống 2016
Trần Ngọc Cư dịch
“Ý nghĩa đích thực của cuộc tuyển cử này là sau nhiều thập niên, thể chế dân chủ Mỹ rốt cuộc đang đáp ứng trước tình trạng bất bình đẳng và bế tắc kinh tế ngày một nghiêm trọng mà đại bộ phận dân chúng đang trải qua. Vấn đề giai cấp xã hội đang trở về vị trí trung tâm của chính trị Mỹ, bất chấp các phân hóa khác – như chủng tộc, sắc dân thiểu số, giới tính, khuynh hướng tính dục, địa lý – vốn khống chế chương trình nghị sự trong các cuộc bầu cử gần đây.”
Francis Fukyuyama
FRANCIS FUKUYAMA là một nhà Nghiên cứu Cao cấp tại Viện Nghiên cứu Quốc tế Freeman Spogli (FSI) và là Giám đốc Trung tâm Dân chủ, Phát triển, và Pháp trị của FSI tại Đại học Stanford.
Hai năm trước, tôi đã tranh luận trên tạp chí Foreign Affairs này rằng Mỹ đang lâm vào tình trạng suy đồi chính trị. Hệ thống kiểm soát và quân bình quyền lực của hiến pháp nước này, cùng với sự phân cực chính trị đảng phái và sự trỗi dậy của các nhóm lợi ích giàu có về tài chính, đã kết hợp lại để tạo ra cái mà tôi gọi là “chế độ phủ quyết” [vetocracy], một tình trạng trong đó các nhóm lợi ích dễ dàng ngăn chặn Chính phủ thực hiện các công việc hơn là sử dụng Chính phủ để thúc đẩy lợi ich chung. Các cuộc khủng hoảng ngân sách thường xuyên tái diễn, bộ máy thư lại gặp nhiều ách tắc, và việc thiếu sáng kiến chính sách là những biểu hiện đặc trưng của một hệ thống chính trị đang rối loạn.
Bề ngoài, cuộc bầu cử Tổng thống 2016 có vẻ nêu bật phân tích này. Đảng Cộng hòa từng dương dương tự đắc bỗng mất quyền kiểm soát tiến trình đề cử do sự soán đoạt quyền lực đầy thù nghịch của Donald Trump và nội bộ đảng đang đầy rẫy mâu thuẫn gay gắt. Trong khi đó, phía Dân chủ, Hillary Clinton, một nhân vật cực kỳ thân tín của đảng đã gặp phải sự cạnh tranh mạnh mẽ đáng ngạc nhiên đến từ Bernie Sanders, một ứng viên 74 tuổi tự xưng là người theo chủ nghĩa xã hội dân chủ (democratic socialist). Bất luận vấn đề là gì đi nữa – từ vấn đề nhập cư đến cải cách tài chánh đến mậu dịch đến vấn đề lợi tức đứng yên một chỗ – đông đảo cử tri của cả hai bên lăng kính chính trị Mỹ đã đồng loạt đứng lên chống lại cái mà họ cho là một giới quyền lực tham nhũng và cấu kết nhau; họ tập hợp chung quanh những nhân vật cực đoan nằm ngoài hệ thống (radical outsiders) với hi vọng thể hiện một cuộc thanh tẩy chính trị.
Nhưng trên thực tế, cuộc vận động tranh cử đầy sóng gió năm nay đã cho thấy rằng dân chủ Mỹ trong một số cung cách đang vận hành tốt đẹp hơn dự kiến. Dù ta có nghĩ gì về cách lựa chọn của cử tri đi nữa, lần lượt từ bang này sang bang khác họ đã lũ lượt đến các phòng phiếu và giành lấy quyền kiểm soát đường lối chính trị từ tay các nhóm lợi ích và các đầu sỏ chính trị [oligarchs]. Jeb Bush, con trai và là em ruột của hai vị Tổng thống Mỹ, một nhân vật từng được xem là lựa chọn tất yếu của Đảng Cộng hòa, đã rút khỏi cuộc đua một cách nhục nhã vào tháng Hai năm nay sau khi quyên góp hơn 130 triệu USD tiền vận động tranh cử (cùng với tiền do Ủy ban Vận động Chính trị ưu tú của ông). Trong khi đó, Sanders tự hạn chế mình trong những món tiền ủng hộ nhỏ bé và thề phanh thây mổ bụng giới tài phiệt đang ủng hộ đối thủ chính trị của mình [tức bà Clinton], đã quyên góp thậm chí nhiều hơn cả Bush và bám sát gót Clinton suốt cuộc tranh cử sơ bộ.
Ý nghĩa đích thực của cuộc tuyển cử này là sau nhiều thập niên, thể chế dân chủ Mỹ rốt cuộc đang đáp ứng trước tình trạng bất bình đẳng và bế tắc kinh tế ngày một nghiêm trọng mà đại bộ phận dân chúng đang trải qua. Vấn đề giai cấp xã hội đang trở về vị trí trung tâm của chính trị Mỹ, bất chấp các phân hóa khác – như chủng tộc, sắc dân thiểu số, giới tính, khuynh hướng tính dục, địa lý – vốn khống chế chương trình nghị sự trong các cuộc bầu cử gần đây.
Khoảng cách giàu nghèo giữa tầng lớp chóp bu [giới tinh hoa]1 và phần còn lại của xã hội liên tục gia tăng trong hai thế hệ vừa qua, nhưng mãi đến bây giờ nó mới nổi bật trên sân khấu chính trị quốc gia. Vấn đề cần được giải thích không phải là nguyên nhân tại sao các nhà chính trị dân túy [populists] có thể đạt được những thành quả như lần này mà là tại sao họ phải đợi quá lâu mới làm được như vậy. Hơn nữa, mặc dù nhận thức được rằng hệ thống chính trị Mỹ ít xơ cứng và ít lệ thuộc vào giới tài phiệt hơn nhiều người lầm tưởng là một điều tích cực, nhưng những phương thuốc vạn năng [nostrums] mà những nhà vận động dân túy đang rao bán là gần như hoàn toàn vô bổ, và nếu đem ra áp dụng, chúng sẽ bóp nghẹt tăng trưởng kinh tế, làm tồi tệ thêm căn bệnh xã hội, và khiến tình hình trở nên xấu hơn chứ không tốt hơn. Vì thế hiện nay khi giới chóp bu bị cú sốc đánh bật ra khỏi tâm thế kiêu căng tự mãn, thì đây cũng là lúc họ phải tìm ra những giải pháp hữu hiệu hơn cho các vấn đề mà họ không thể từ chối hay làm ngơ thêm nữa.
CƠ SỞ XÃ HỘI CỦA CHỦ NGHĨA DÂN TÚY
Trong những năm gần đây, càng ngày càng khó chối cãi rằng lợi tức của hầu hết công dân Mỹ tiếp tục bế tắc trong khi giới chóp bu thành công hơn bao giờ cả, tạo nên tình trạng bất bình đẳng ngày một nghiêm trọng khắp xã hội Mỹ. Một số sự kiện cơ bản, như phần tài sản quốc gia ngày một kếch sù nằm trong tay một phần trăm, nói đúng ra một phần ngàn, dân số ở chóp bu càng ngày càng quá rõ ràng. Điều mới lạ trong chu kỳ chính trị này là sự quan tâm của người dân bắt đầu chuyển hướng từ những thái quá của giới đầu sỏ chính trị đến hoàn cảnh khốn khó của những thành phần bị bỏ rơi đằng sau.
Hai cuốn sách xuất bản gần đây – cuốn Coming Apart [Tan rã] của Charles Murray và cuốn Our Kids [Con cái chúng ta] của Robert Putnam – đã trình bày thực trạng xã hội mới bằng những chi tiết rất nhức nhối. Murray và Putnam nằm ở hai đầu đối nghịch của lăng kính chính trị, một người có tư tưởng tự do bảo thủ chống lại sự can thiệp của Chính phủ [conservative libertarian] và người kia có tư tưởng tự do bình đẳng dòng chính [mainstream liberal], song những dữ liệu họ đưa ra gần như giống hệt nhau. Lợi tức của giai cấp công nhân đã sa sút trong thế hệ qua, tuột dốc nhanh chóng nhất ở người da trắng có trình độ trung học phổ thông hoặc thấp hơn. Đối với nhóm này, khẩu hiệu của Trump “Làm cho nước Mỹ vĩ đại như trước!” [Make America Great Again!] có ý nghĩa thật sự. Nhưng những căn bệnh mà họ mắc phải còn trầm kha hơn và được biểu hiện trong những dữ liệu về tội phạm, sử dụng ma túy, và gia đình có bố hay mẹ đơn thân [single-parent families].
Trở lại thập niên 1980, lúc bấy giờ có một cuộc thảo luận khắp nước Mỹ về sự xuất hiện một giai cấp hạ đẳng người Mỹ gốc châu Phi – nghĩa là, một khối người khiếm dụng và thiếu kỹ năng làm việc; sự nghèo khó của họ hình như tự nhân rộng vì cái nghèo của họ dẫn đến gia đình tan vỡ [broken families] không có khả năng truyền cho nhau những loại mẫu mực xã hội và lối ứng xử cần thiết để cạnh tranh trong thị trường công việc. Ngày nay, giai cấp công nhân da trắng cũng ở vào một hoàn cảnh tương tự như giai cấp hạ đẳng da đen lúc bấy giờ.
Trong thời gian dẫn đến cuộc bầu cử sơ bộ tại New Hampshire – một bang gần như có dân số da trắng và vùng quê như bất cứ bang nào trên nước Mỹ – nhiều người có thể ngạc nhiên khi biết rằng mối quan tâm hàng đầu của cử tri tại đó là nạn nghiện heroin. Trên thực tế, nạn nghiện thuốc phiện và methamphetamineđã lan tràn trong các cộng đồng da trắng ở vùng quê tại các bang như Indiana và Kentucky chẳng khác gì nạn nghiện cocaine trong các khu phố nghèo cách đây một thế hệ. Một nghiên cứu gần đây của hai nhà kinh tế Anne Case và Angus Deaton cho thấy rằng tử suất của đàn ông da trắng trung niên không phải gốc châu Mỹ La tinh tại Hoa Kỳ đã gia tăng giữa những năm 1999 và 2013, thậm chí khi tử suất của hầu như mọi nhóm dân số khác và tại các quốc gia giàu có khác đã giảm sút. Nguyên nhân của sự gia tăng này có vẻ là tự sát, ma túy, và rượu – gần nửa triệu người đã chết vì nghiện ngập trên con số đã dự kiến. Và tỉ số tội phạm trong nhóm này cũng tăng cực nhanh.
Rốt cuộc, thể chế dân chủ Mỹ đang có dấu hiệu đáp ứng tình trạng bế tắc kinh tế của tuyệt đại đa số dân chúng.
Tuy vậy, thực tế ngày càng đen tối này, hiếm khi được các tầng lớp chóp bu ghi nhận – hay không mảy may ghi nhận vì trong cùng thời kỳ nói trên, chính bản thân tầng lớp này lại rất thành công. Những người chí ít có trình độ đại học thấy mình khấm khá hơn nhiều trong những thập niên qua. Tỉ số li dị và gia đình có bố hay mẹ đơn thân đã giảm bớt trong nhóm này, tội phạm trong các khu láng giềng của họ liên tục xuống thấp, các đô thị được phục hồi cho giới trẻ chuyên nghiệp sống ở ngoại ô, và các công nghệ như Internet và mạng xã hội đã thúc đẩy sự tin cậy lẫn nhau trong xã hội cũng như các hình thức tham gia cộng đồng. Đối với nhóm này, sự giám sát và chăm sóc con cái quá đáng [helicopter parents] chứ không phải nạn bỏ bê con cái [latchkey children] mới là vấn đề
THẤT BẠI CỦA CHÍNH TRỊ MỸ
Căn cứ vào phạm vi to lớn của các chuyển biến xã hội đã và đang diễn ra, câu hỏi đích thực không phải là lý do tại sao ở Hoa Kỳ có chủ nghĩa dân túy trong cuộc bầu cử 2016, mà là tại sao xu thế này không diễn ra thật sớm hơn. Và ở đây thật sự có vấn đề đại diện người dân trong các định chế chính trị Mỹ: cả hai chính đảng đã không phục vụ tốt nhóm người đang sa sút kinh tế.
Trong những thập niên gần đây, Đảng Cộng hòa là một liên minh không mấy thoải mái giữa giới tinh hoa doanh nghiệp và giới bảo thủ xã hội, bên doanh nghiệp cung cấp tiền bạc và bên kia cung cấp phiếu bầu trong các cuộc tuyển cử sơ bộ. Giới tinh hoa doanh nghiệp, mà đại diện là trang xã luận của tờ The Wall Street Journal, là những người trên nguyên tắc cổ vũ chủ nghĩa tự do kinh tế: thị trường tự do, tự do mậu dịch, và chính sách nhập cư cởi mở. Chính các đảng viên Cộng hòa đã cung cấp phiếu để thông qua các đạo luật thương mại như Hiệp định Tự do Mậu dịch Bắc Mỹ [the North American Free Trade Agreement] và quyền thúc đẩy mậu dịch gần đây [the trade promotion authority] (được biết nhiều hơn bằng từ “fast track” [đường lối cấp tốc]). Những người hậu thuẫn doanh nghiệp phía Cộng hòa rõ ràng hưởng nhiều lợi lộc nhờ việc nhập khẩu lao động có kỹ năng cũng như lao động phổ thông từ nước ngoài, và một hệ thống thương mại toàn cầu cho phép họ xuất khẩu và đầu tư khắp thế giới. Phe Cộng hòa cũng thúc đẩy việc gỡ bỏ hệ thống các luật lệ điều tiết ngân hàng của thời kỳ Khủng hoảng Kinh tế 1930; hành động này đã dẫn đến tình trạng tan chảy nợ thứ cấp [the subprime meltdown] và cuộc khủng hoảng tài chánh 2008. Còn về mặt ý thức hệ, phe Cộng hòa luôn luôn cam kết giảm thuế cho giới nhà giàu, làm suy yếu quyền lực của các công đoàn, và cắt giảm các dịch vụ xã hội có lợi cho người nghèo.
Chương trình nghị sự này trực tiếp đi ngược lại lợi ích của giai cấp công nhân. Những nguyên nhân gây ra sự tuột dốc của giai cấp công nhân là phức tạp, có liên quan tới những chuyển đổi công nghệ cũng như những yếu tố chịu tác động của chính sách công. Tuy thế, ta không thể chối cãi rằng những thay đổi có lợi cho kinh tế thị trường mà giới chóp bu Cộng hòa ra sức cổ vũ trong những thập niên qua đã tạo sức ép đẩy lợi tức của giai cấp công nhân xuống thấp, vừa bằng cách buộc giới công nhân Mỹ phải trực tiếp đối đầu với sự cạnh tranh công nghệ và toàn cầu thô bạo hơn, vừa bằng cách cắt giảm các chế độ bảo hộ và lợi ích xã hội còn sót lại từ thời New Deal [Tân chính sách kinh tế xã hội]. (Những nước như Đức và Hà Lan, nhờ có nhiều nỗ lực hơn Mỹ trong việc bảo hộ công nhân của họ, đã không chứng kiến sự nghiêm trọng tương tự về bất bình đẳng kinh tế.) Vì vậy, ta không nên ngạc nhiên khi thấy rằng cuộc đấu tranh lớn nhất và đầy cảm tính nhất trong cuộc bầu cử năm nay chính là cuộc đấu tranh diễn ra trong nội bộ Đảng Cộng hoà, khi giới công nhân cơ sở của đảng bày tỏ một lựa chọn rõ ràng dành cho các chính sách kinh tế mang tính quốc gia chủ nghĩa hơn.
Về phần mình, các đảng viên Dân chủ có truyền thống tự coi mình là những kẻ tranh đấu cho quyền lợi người dân bình thường và vẫn còn khả năng dựa vào một cơ sở đang thu nhỏ gồm những thành viên công đoàn để kiếm phiếu. Nhưng họ cũng làm cho khối cử tri này thất vọng. Kể từ khi “đường lối thứ ba” [third way, cánh giữa, centrism] của Bill Clinton xuất hiện, giới chóp bu trong Đảng Dân chủ theo đuổi sự đồng thuận hậu-Reagan về lợi ích của mậu dịch tự do và chính sách nhập cư. Họ đồng lõa với Cộng hòa trong việc tháo bỏ những luật lệ điều tiết ngân hàng trong thập niên 1990 và ra sức mua chuộc thay vì hậu thuẫn phong trào công đoàn trong việc chống lại các hiệp định thương mại.
Nhưng vấn đề quan trọng hơn đối với Đảng Dân chủ là đảng này đã nhận loại chính trị căn cước [identity politics] làm giá trị cốt lõi. Đảng đã thắng các cuộc tuyển cử gần đây bằng các huy động một liên minh gồm nhiều bộ phận dân chúng: phụ nữ, người Mỹ gốc châu Phi, giới trẻ chuyên nghiệp sống ở ngoại ô, người đồng tính luyến ái, và các nhà tranh đấu bảo vệ môi trường. Duy chỉ có một nhóm mà đảng này mất hẳn quan hệ là chính cái giai cấp công nhân vốn là rường cột trong liên minh New Deal của Franklin Roosevelt. Giai cấp công nhân da trắng bắt đầu bầu cho Cộng hòa trong thập niên 1980 trên các vấn đề văn hóa như chủ nghĩa yêu nước, quyền giữ súng, phá thai, và tôn giáo. Clinton giành lại hậu thuẫn của họ đủ để được đắc cử hai lần trong thập niên 1990 (mỗi lần đều chiếm đa số phiếu), nhưng kể từ đó, giai cấp công nhân da trắng là khối cử tri đáng tin cậy hơn của Đảng Cộng hòa, mặc dù các chính sách kinh tế của giới chóp bu Cộng hòa xung khắc với lợi ích kinh tế của họ. Đó là lý do tại sao, trong một cuộc thăm dò của Đại học Quinnipiac vào tháng Tư, 80 phần trăm cử tri ủng hộ Trump được hỏi ý kiến nói rằng họ cảm thấy “Chính phủ đã đi quá xa trong việc trợ giúp các nhóm thiểu số,” và 85 phần trăm đồng ý rằng “nước Mỹ đã mất bản sắc của mình.”
Việc Đảng Dân chủ quá quan tâm đến bản sắc các nhóm thiểu số giải thích một trong những bí ẩn lớn của chính trị Mỹ đương đại – đó là lý do tại sao người da trắng thuộc giai cấp công nhân, đặc biệt tại các bang miền Nam hưởng được một số dịch vụ xã hội hạn chế, đã lũ lượt đi theo ngọn cờ của Đảng Cộng hòa mặc dù họ nằm trong thành phần thừa hưởng nhiều lợi ích nhất từ những chương trình xã hội mà Đảng Cộng hòa chống đối, chẳng hạn Đạo luật Cung cấp Y tế Giá rẻ của Obama [còn gọi Obamacare]. Một trong những lý do là, theo cảm thức của họ, Obamacare được thiết kế để phục vụ những người không phải là họ – một phần vì Đảng Dân chủ đã mất khả năng truyền thông với khối cử tri này (khác hẳn với thập niên 1930, khi người da trắng ở vùng quê là hậu thuẫn chủ yếu đối với những nỗ lực nhà nước phúc lợi của Đảng Dân chủ như Tennessee Valley Authority [một cơ quan liên bang chủ quản việc khai thác điện lực, đê điều, chống lũ lụt dọc dòng sông Tennessee, DG.]).
MỘT THỜI ĐẠI ĐÃ CÁO CHUNG?
Những tuyên bố chính sách của Trump là lúng túng và mâu thuẫn, phát xuất từ cửa miệng một nhân vật kiêu căng tự đắc biết lợi dụng phương tiện truyền thông mà không có một ý thức hệ nòng cốt rõ ràng. Nhưng chủ đề phổ biến giúp ông thu hút rất nhiều cử tri Cộng hòa trong các cuộc bầu sơ bộ là một chủ đề mà ở một mức độ nào đó ông đã chia sẻ với Sanders: một chương trình nghị sự kinh tế theo chủ nghĩa quốc gia được thiết kế để bảo vệ và phục hồi công ăn việc làm cho người lao động Mỹ. Điều này vừa giải thích việc ông chống đối người nhập cư – không những nhập cư bất hợp pháp mà cả những người lao động có kỹ năng đi vào nước Mỹ bằng thị thực H1B – vừa giải thích việc ông lên án các công ty Mỹ đưa hãng xưởng ra nước ngoài để tiết kiệm chi phí lao động. Trump không những chỉ trích Trung Quốc vì can thiệp vào thị trường ngoại hối mà còn chỉ trích các nước bạn như Nhật Bản và Hàn Quốc vì làm suy yếu cơ sở sản xuất của Hoa Kỳ. Và hẳn nhiên ông kiên quyết chống lại các nỗ lực thúc đẩy tự do hóa mậu dịch hơn nữa, như Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương tại châu Á (TTP) và Hiệp định Đối tác Thương mại và Đầu tư xuyên Đại Tây Dương với châu Âu.
Tất cả điều này hoàn toàn có vẻ dị giáo [heresy] đối với bất cứ ai đã lấy lớp cơ bản về lý thuyết thương mại cấp đại học, trong đó các mô hình, từ mô hình Ricardo về lợi thế tương đối đến lý thuyết Heckscher-Ohlin về việc cung cấp các yếu tố sản xuất, đều nói rằng mậu dịch tự do mang lại lợi ích cho mọi đối tác thương mại [a win-win], làm tăng lợi tức tổng thể trong từng nước. Trên thực tế, sản lượng toàn cầu đã gia tăng đột biến trong hai thế hệ vừa qua, trong khi thương mại và đầu tư trên thế giới được tự do hóa theo khuôn khổ rộng lớn của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại và sau đó là Tổ chức Thương mại Thế giới, gia tăng bốn lần từ năm 1970 đến 2008. Quá trình toàn cầu hóa đã đưa hàng trăm triệu người ra khỏi cảnh đói nghèo tại những nước như Trung Quốc và Ấn Độ và tạo ra những khối lượng tài sản không đo lường nổi tại Hoa Kỳ.
Tuy nhiên, sự đồng thuận về các lợi ích của việc tự do hóa kinh tế, được giới chóp bu trong cả hai chính đảng chia sẻ, không tránh được chỉ trích. Tiềm ẩn trong tất cả các mô hình mậu dịch hiện nay là cái kết luận cho rằng việc tự do hóa thương mại, mặc dù gia tăng lợi tức toàn bộ, nhưng sẽ có những hậu quả có tiềm năng xung khắc trong việc phân phối lợi tức – nói cách khác, nó sẽ tạo ra kẻ thắng người thua. Một nghiên cứu gần đây ước tính rằng sự cạnh tranh do hàng nhập khẩu từ Trung Quốc đã khiến từ 2 triệu đến 2,4 triều người Mỹ mất việc từ năm 1999 đến 2011.
Phản ứng có chuẩn mực từ các nhà kinh tế mậu dịch là tranh luận rằng những thành quả từ thương mại thừa sức đền bù cho những người bị thiệt hại, một cách lý tưởng là thông qua việc dạy nghề để trang bị cho họ những kỹ năng mới. Và do đó, mỗi một đạo luật thương mại quan trọng mà Quốc hội thông qua đã được kèm theo một loạt biện pháp tái dạy nghề [worker-retraining measures], cũng như đưa vào các điều lệ mới cho phép người công nhân có đủ thời gian thích nghi.
Tuy nhiên, trên thực tế, sự thích nghi này thường không trở thành hiện thực. Chính phủ Mỹ đã điều hành 47 chương trình tái dạy nghề không được phối hợp (về sau gộp lại khoảng một chục chương trình); ngoài ra, còn có vô số chương trình dạy nghề cấp tiểu bang. Nói chung, những chương trình này không đưa được đa số công nhân vào các công việc có kỹ năng cao hơn. Một phần là do thất bại trong việc thực hiện, nhưng còn do thất bác từ trong quan niệm: không ai biết được loại chương trình dạy nghề nào có khả năng chuyển đổi một công nhân dây chuyền (assembly-line worker) 55 tuổi thành một người viết chương trình điện toán [a computer programmer] hay một chuyên viên thiết kế website (website designer). Lý thuyết mậu dịch tiêu chuẩn (standard trade theory) cũng không xét đến khía cạnh kinh tế chính trị của việc đầu tư. Vốn [tư bản] là yếu tố sản xuất luôn luôn có những lợi thế cho hành động tập thể hơn lao động, vì nó dễ tập trung hơn và dễ phối hợp hơn. Đây là một trong những lý luận mà trước đây người ta đưa ra để bênh vực cho sự hiện hữu của phong trào công đoàn, một phong trào đã bị xói mòn nghiêm trọng tại Mỹ kể từ thập niên 1980. Và những lợi thế của vốn tăng theo mức độ cơ động cao của nó trong thế giới toàn cầu hóa ngày nay. Lao động cũng trở nên cơ động hơn [như xuất khẩu lao động], nhưng tính cơ động của nó bị hạn chế hơn vốn rất nhiều. Những lợi thế mặc cả của các công đoàn nhanh chóng bị làm suy yếu bởi các công ty có thể đe dọa dời nhà máy đến một bang có luật bảo vệ quyền không gia nhập công đoàn (a right-to-work state) hoặc dời đến một nước khác.
Hệ thống chính trị Mỹ sẽ không được chỉnh sửa nếu sự giận dữ của dân chúng không được đáp ứng bằng các chính sách hữu hiệu.
Mức chênh lệch về chi phí lao động giữa Hoa Kỳ và nhiều nước đang phát triển lớn đến nỗi khó tưởng tượng ra một loại chính sách nào nhiên hậu có thể bảo vệ được số công việc kỹ năng thấp [lao động phổ thông] tại Mỹ. Thậm chí cả Trump cũng không tin được rằng giày dép và áo quần cần phải tiếp tục được sản xuất tại Mỹ. Mọi nước công nghiệp hóa trên thế giới, kể cả những nước có quyết tâm hơn trong việc bảo vệ các cơ sở sản xuất như Đức và Nhật Bản, đều chứng kiến một sự suy giảm tương đối trong khu vực sản xuất vài thập niên qua. Thậm chí ngay cả bản thân Trung Quốc cũng bắt đầu mất công việc vì tự động hóa hoặc vì các nhà sản xuất rẻ hơn tại những nơi như Bangladesh và Việt Nam.
Tuy nhiên, kinh nghiệm của một nước như Đức cho thấy rằng con đường mà Hoa Kỳ đi theo không phải là con đường tất yếu. Giới ưu tú doanh nghiệp Đức không bao giờ tìm cách làm suy yếu sức mạnh của công đoàn; mãi đến ngày nay, mức lương công nhân được định khắp mọi khu vực kinh tế Đức thông qua các cuộc thương thuyết được Chính phủ bảo trợ giữa các công ty và các công đoàn. Do đó, chi phí lao động Đức cao hơn chi phí lao động Mỹ khoảng 25 phần trăm. Tuy vậy, Đức vẫn là nước xuất khẩu đứng thứ ba trên thế giới, và số công nhân trong khu vực sản xuất, dù có sút giảm, vẫn luôn luôn cao hơn Hoa Kỳ. Khác với Pháp và Ý, Đức không tìm cách bảo hộ công ăn việc làm hiện nay bằng một rừng luật lệ; theo những cải tổ năm 2010 trong chương trình nghị sự của Thủ tướng Gerhard Schroder, các công ty có thể sa thải số công nhân thặng dư dễ dàng hơn. Tuy nhiên, nước này đã đầu tư rất nhiều vào việc cải tiến kỹ năng của giai cấp công nhân thông qua chương trình tập sự và các can thiệp tích cực vào thị trường lao động. Đức cũng tìm cách bảo vệ chuỗi tiến trình sản xuất và phân phối một sản phẩm [supply chain] của quốc gia khỏi bị liên tục đưa ra nước ngoài, bằng cách kết nối các công ty nhỏ và trung bình nổi tiếng [fabled Mittelstand] với các đại công ty.
Tại Hoa Kỳ, trái lại, các nhà kinh tế và các nhà nghiên cứu có uy tín trong dân chúng coi việc chuyển đổi từ một nền kinh tế sản xuất sang một nền kinh tế dịch vụ hậu công nghiệp là tất yếu, thậm chí là một điều được hoan nghênh và cần làm gấp. Họ nghĩ rằng cũng như những người làm roi ngựa ngày xưa [không còn được sử dụng khi xe hơi ra đời], những công nhân trong ngành sản xuất ngày nay phải tự học lại nghề mới, trở thành những người lao động tri thức [knowledge workers] trong một nền kinh tế mới mẻ, linh hoạt, có cơ sở sản xuất ở nước ngoài, và làm việc bán thời gian. Tuy nhiên, mặc dù thỉnh thoảng có những cử chỉ tượng trưng, cả hai chính đảng đều không nghiêm chỉnh chấp nhận chương trình nghị sự tái huấn luyện công nhân là một nỗ lực trung tâm của tiến trình thích nghi cần thiết. Cả hai đảng cũng không đầu tư vào các chương trình xã hội nhằm giảm sốc cho giai cấp công nhân khi họ cố gắng thích nghi. Vì vậy, người công nhân da trắng, cũng như người Mỹ gốc châu Phi trong những thập niên trước đó, phải tự lo liệu cho chính mình.
Lẽ ra thập niên đầu tiên của thế kỷ này có thể đã diễn ra rất khác. Trung Quốc ngày nay không còn dùng thủ đoạn tiền tệ để thúc đẩy xuất khẩu; có chăng, gần đây họ đã bắt đầu trợ giá cho đồng Nhân dân tệ để chặn đứng không cho vốn bay ra nước ngoài. Nhưng chắc chắn là họ đã dùng thủ đoạn tiền tệ trong những năm sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997-98 và cuộc suy sụp thị trường dot-com năm 2000-2001. Để đáp trả lại thủ đoạn này, việc Washington đe dọa, hoặc thực sự áp đặt thuế quan chống hàng nhập khẩu Trung Quốc vào thời điểm đó lẽ ra có thể khả thi. Một hành động như thế có thể kéo theo nhiều rủi ro: giá tiêu thụ có thể lên cao, và lãi suất sẽ tăng nếu Trung Quốc phản ứng lại bằng cách không mua công khố phiếu của Mỹ. Nhưng khả năng này đã không được giới chóp bu Mỹ xét đến một cách nghiêm chỉnh vì sợ rằng nó sẽ bắt đầu một cuộc tuột dốc vào chế độ bảo hộ mậu dịch. Do đó hơn hai triệu công việc đã bị mất đi trong thập niên sau đó.
MỘT ĐƯỜNG LỐI TIẾN TỚI PHÍA TRƯỚC?
Có thể Trump đã nắm bắt được một cái gì đó hiện thực trong xã hội Mỹ, nhưng ông là một công cụ cực kỳ không phù hợp để lợi dụng thời cơ đổi mới mà những sóng gió của cuộc bầu cử này biểu hiện. Không ai có thể xóa bỏ 50 năm tự do hóa mậu dịch bằng cách đơn phương áp đặt thuế quan hay truy tố hình sự các công ty đa quốc Mỹ đã đưa công ăn việc làm ra nước ngoài. Ở thời điểm này, kinh tế Hoa Kỳ đang kết nối sâu sắc với kinh tế phần còn lại của thế giới đến nổi những nguy cơ của một cuộc triệt thoái toàn cầu trở về lại chế độ bảo hộ thuế quan là rất hiện thực. Việc Trump đề nghị xoá bỏ Obamacare sẽ ném hàng triệu người Mỹ thuộc giai cấp công nhân ra khỏi bảo hiểm y tế, và việc ông đề nghị cắt giảm thuế sẽ cộng thêm hơn 10 ngàn tỉ USD vào thâm thủng ngân sách trong thập niên tới trong khi chỉ làm lợi cho giới giàu có. Đúng là nước này đang cần đến lãnh đạo mạnh, nhưng bởi một nhân vật muốn đổi mới cơ chế (an institutional reformer) có thể làm cho Chính phủ hoạt động thật hữu hiệu, chứ không phải bởi một nhà chính trị mị dân đầy ngã mạn (a personalistic demagogue) coi thường các luật lệ đã được củng cố.
Tuy nhiên, nếu giới tinh hoa có quan tâm thật sự về tình trạng bất bình đẳng và về giai cấp công nhân đang xuống dốc, họ cần phải duyệt xét lại một số lập trường cố hữu về vấn đề nhập cư, thương mại, và đầu tư. Một thách đố tri thức là liệu chúng ta có thể rút khỏi công cuộc toàn cầu hóa mà không hủy hoại cả kinh tế quốc gia lẫn kinh tế toàn cầu hay không, chỉ vì chúng ta muốn đánh đổi một ít lợi tức tổng thể của quốc gia để đem về tình trạng bình đẳng lợi tức lớn hơn ở trong nước.
Rõ ràng, một số thay đổi là hữu hiệu hơn một số khác, trong đó ta phải đặt ưu tiên hàng đầu cho vấn đề nhập cư trên danh mục khả thi về lý thuyết. Việc cải tổ toàn diện vấn đề nhập cư đã được dự trù hơn một thập niên nay nhưng gặp phải thất bại vì hai lý do. Một là, những kẻ chống đối bác bỏ “việc ân xá”, tức cho những người nhập cư thiếu giấy tờ [undocumented immigrants] một con đường tiến tới địa vị công dân. Nhưng lý do thứ hai liên quan tới việc thi hành luật: những người chỉ trích vạch ra rằng những luật lệ hiện hữu đã không được thi hành và những hứa hẹn trước đây về việc thi hành luật không được thể hiện.
Ý kiến cho rằng Chính phủ có thể trục xuất 11 triệu người ra khỏi nước, trong đó nhiều người có con là công dân Mỹ [vì sinh trên đất Mỹ, DG], gần như là điều bất khả thi. Vì thế một dạng thức ân xá nào đó có thể là một điều tất yếu. Tuy nhiên, những người chỉ trích vấn đề nhập cư có lý khi cho rằng Hoa Kỳ đã rất lỏng lẻo trong việc thi hành luật. Giải quyết vấn đề này một cách đúng đắn không cần đến một bức trường thành [giữa Mỹ và Mê-hi-cô], nhưng cần đến một hình thức như thẻ căn cước sinh trắc quốc gia [national biometric ID card], mạnh mẽ đầu tư vào hệ thống tòa án và cảnh sát, và, trên hết, có quyết tâm chính trị để trừng phạt những công ty nào vi phạm luật lệ [trong vấn đề thuê mướn công nhân]. Việc tiến đến một chính sách khắt khe hơn nhằm hạn chế số người nhập cư hợp pháp, trong đó có một hình thức ân xá cho người nhập cư [bất hợp pháp] đang sống tại Mỹ để đổi lấy các nỗ lực đích thực nhằm thực thi luật lệ mới và cứng rắn hơn, sẽ không có hậu quả thảm hại về kinh tế. Khi nước Mỹ làm việc này trước đây, vào năm 1924, trong một số phạm vi nào đó, con đường phía trước được chuẩn bị sẵn cho thời đại hoàng kim của bình đẳng kinh tế xã hội Mỹ vào những thập niên 1940 và thập niên 1950.
Thật khó khăn hơn để nhận ra con đường phía trước về thương mại và đầu tư, ngoài việc không phê chuẩn Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương – vì việc này sẽ không cực kỳ rủi ro. Thế giới đang ngày càng đầy dẫy những phần tử dân tộc chủ nghĩa về kinh tế [economic nationalists], và một cuộc đảo ngược đường lối bởi Washington, một chính quyền đã xây dựng và củng cố hệ thống quốc tế tự do hiện nay, rất có thể nhanh chóng đưa đến một cơn sóng thần những đòn trả đũa. Có lẽ một nơi để bắt đầu việc cải tổ là tìm cách thuyết phục các tập đoàn đa quốc của Mỹ, những công ty đang ngồi trên 2 ngàn tỉ USD tiền mặt nằm ngoài nước Mỹ, đem tiền về đầu tư trong nước. Mức thuế mà Hoa Kỳ đánh vào các tập đoàn kinh tế là mức thuế thuộc loại cao nhất trong những nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (the Organization for Economic Cooperation and Development); giảm mạnh những thuế này đồng thời loại bỏ hằng hà sa số các loại trợ cấp và miễn trừ thuế (tax subsidies and exemptions) mà các tập đoàn kinh tế đã và đang vận động cho chính mình là một chính sách có thể nhận được hậu thuẫn từ hai đảng.
Một sáng kiến khác là mở một chiến dịch rộng lớn để xây dựng lại cơ sở hạ tầng Mỹ. Hội Kỹ Sư Cầu Đường Hoa Kỳ ước tính sẽ mất đến 3600 tỉ USD để nâng cấp hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng Mỹ trước năm 2020. Hoa Kỳ có thể vay 1000 tỉ USD trong khi lãi suất thấp và sử dụng nó để tài trợ một sáng kiến cơ sở hạ tầng vĩ đại có khả năng tạo ra những số lượng công việc khổng lồ đồng thời gia tăng năng suất về lâu về dài. Hillary đề nghị chi tiêu 275 tỉ USD, nhưng con số này là quá khiêm nhường.
Những nỗ lực để đạt được cả hai mục tiêu nói trên sẽ vấp phải các rối loạn chức năng thông thường của hệ thống chính trị Mỹ, trong đó chế độ phủ quyết [vetocracy] luôn cản trở cả cải tổ thuế vụ lẫn đầu tư cơ sở hạ tầng. Hệ thống chính trị Mỹ tạo điều kiện quá dễ dàng cho các nhóm lợi ích có tổ chức chặt chẽ chặn đứng các dự luật và “chiếm đoạt” các sáng kiến mới vì mục đích vị kỷ của mình. Vì thế, việc sửa đổi hệ thống này để giảm bớt các chặng phủ quyết [veto points] và hợp lý hóa tiến trình làm quyết sách sẽ là một phần chương trình nghị sự của việc cải tổ. Những thay đổi cần thiết gồm có việc loại bỏ thủ thuật senatorial hold [một thượng nghị sĩ có quyền phản đối và trì hoãn việc thông qua một dự luật tại Thương viện] và thủ thuật filibuster [việc nói câu giờ để cản trở tiến trình của một dự luật tại Quốc hội]. Thay vào đó, phải giao việc chuẩn chi ngân sách và việc soạn thảo các dự luật phức tạp cho những nhóm nhỏ hơn và chuyên môn hơn, những nhóm có khả năng đưa ra trước Quốc hội các gói dự luật được viết khúc chiết [coherent packages] để biểu quyết từ trên xuống hoặc từ dưới lên.
Đây là lý do tại sao sự trỗi dậy bất ngờ của Trump và Sanders có thể báo hiệu một vận hội lớn trong nỗ lực cải tổ chính trị. Mặc dù có những sai lầm trong chương trình tranh cử, nhưng Trump mạnh dạn tách khỏi tính chính thống của Đảng Cộng hòa vốn đã thắng thế từ thời Reagan, một đường lối chính thống chủ trương giảm thuế, tạo các lưới an toàn nhỏ, có lợi cho các tập đoàn kinh tế hơn là cho người lao động. Trong một cung cách tương tự, Sanders đã huy động được sức quật ngược từ cánh Tả, một sức bật rõ ràng đã thiếu sót kể từ cuộc bầu cử 2008.
“Chủ nghĩa dân túy” là cái nhãn hiệu mà giới chóp bu [giới tinh hoa] chính trị gán cho những chính sách được giới bình dân ủng hộ mà họ không ưa thích. Tất nhiên, ta cũng không có lý do buộc cử tri đảng Dân chủ phải luôn luôn lựa chọn khôn ngoan, nhất là trong một thời đại mà công cuộc toàn cầu hóa làm cho các lựa chọn chính sách trở nên quá phức tạp. Nhưng giới chóp bu cũng không luôn luôn lựa chọn đúng đắn, và việc họ gạt bỏ các lựa chọn của giới bình dân thường che đậy sự trâng tráo trong lập trường của họ. Các cuộc vận động quần chúng vốn không xấu mà cũng không tốt; chúng có thể làm ra những điều kỳ vĩ, như trong Thời Tiến bộ [the Progressive Era của Theodore Roosevelt] và Chính sách New Deal [Chính sách Tân kinh tế xã hội của Franklin D. Roosevelt], nhưng chúng cũng có thể gây ra những thảm họa, như tại châu Âu trong thập niên 1930. Trên thực tế, hệ thống chính trị Mỹ đang suy tàn khá nghiêm trọng và sẽ không được chấn chỉnh trừ phi sự phẫn nộ của dân chúng được đáp ứng bởi một giới lãnh đạo thông tuệ và những chính sách hữu hiệu. Chưa phải là lúc quá muộn để điều này không thể diễn ra.
F. F.
Ghi chú của dịch giả:
1Elites: thường được dịch là “giới tinh hoa” hay “tầng lớp ưu tú” có khi một cách sai lầm để chỉ cả giới lãnh đạo ngu dốt độc tài, thiếu sự kính trọng từ người dân. Để giữ một ý nghĩa trung lập, chúng tôi xin dịch từ này là “giới chóp bu” và chỉ dịch là “tinh hoa” hay “ưu tú” khi thấy phù hợp.
Dịch giả gửi BVN.
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Blog at WordPress.com.