Daily Archives: July 29, 2016

Campuchia hãy ra khỏi phòng họp!

Campuchia hãy ra khỏi phòng họp!

Đó là động từ mạnh mà giáo sư Carl Thayer từ Học viện Quốc phòng Australia dành cho đại diện Campuchia tại Hội nghị Ngoại trưởng 10 quốc gia ASEAN vừa qua  tại Vientiane, Lào. 

Thủ tướng Campuchia Hun Sen và Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị.

Giáo sư Carl Thayer nói: “Bằng cách phá hoại ASEAN, Hun Sen đang làm mất lòng hoặc nhiều hoặc ít đối với Singapore, Indonesia, Malaysia, Philippines và Việt Nam”. Cái mớ lý luận cùn của Thủ tướng Campuchia rằng, phán quyết trọng tài vụ kiện Biển Đông giữa Philippines và Trung Quốc không liên quan gì đến Phnom Penh, sẽ là miệng hố sâu có thể kéo Hun Sen xuống đó bất kể lúc nào. Bởi vì, nếu không liên quan thì ông ta nên im lặng, đừng có quấy rối. Hãy nói  một cách thẳng thắn và tuân theo các quyết định của số đông.

Trong khi tại Hội nghị Ngoại trưởng, hầu hết các thành viên đều nhất trí đưa nội dung kêu gọi các nước tôn trọng các tiến trình ngoại giao và pháp lý trong giải quyết tranh chấp Biển Đông, chống quân sự hóa Biển Đông vào dự thảo tuyên bố chung, thì Campuchia ngang nhiên bác bỏ mọi ý kiến liên quan đến phán quyết vụ kiện trọng tài Biển Đông giữa Philippines và Trung Quốc. Người phát ngôn chính phủ Campuchia  Phay Siphan nói với The Cambodia Daily: “Chúng tôi gần gũi với Trung Quốc, nhưng không có nghĩa là chúng tôi là một con rối của Trung Quốc, và chúng tôi cũng không thể là một con rối của Mỹ”.

Không thể chịu nổi thói đành hanh ấy, một nhà ngoại giao Indonesia lên tiếng: “Ngôi nhà chung của chúng tôi đang là một mớ hỗn độn”.

Không ai lạ gì cái sự “gần gũi” ấy. Chẳng qua nhiều năm nay , Trung Quốc với chính sách ngoại giao bằng những tấm séc đã “mua đứt bán đoạn” các nhà cầm quyền Campuchia. Mới đây nhất, hôm 15-7 Trung Quốc đã cam kết viện trợ gần 600 triệu USD cho Campuchia. Nhận được món tiền từ trên trời rơi xuống Hun Sen hí hửng cho hay, khoản tiền 600 triệu USD đó sẽ được dùng cho mục đích phát triển cơ sở hạ tầng giáo dục, y tế và bầu cử của đất nước. Đổi lại, Campuchia sẽ luôn ủng hộ Trung Quốc tại các diễn đàn quốc tế. Bởi không chỉ có bây giờ, Trung Quốc mới được xem là đối tác then chốt của Campuchia. Khoảng một thập niên trở lại đây, Trung Quốc đã viện trợ và đầu tư cho Campuchia hàng trăm triệu USD, miễn thuế hàng trăm mặt hàng thương mại và xóa nợ nhiều khoản kếch xù.

Biết thế cho nên bạn bè trong khối ASEAN chẳng ai lạ gì ông Hun Sen “bốn mặt”. Những tấm sẽ ấy không chỉ đổ sang Campuchia, mà còn sang Lào, khiến cho Lào cũng phải dễ dàng từ chối, đúng như ông Đặng Tiểu Bình đã dạy các đàn em: “Mèo trắng hay mèo đen cũng được, miễn là bắt được chuột”. Cứ có nhiều tiền, có “lợi ích cho dân tộc” thì người ta sẵn sàng bất chấp phải trái, giẫm đạp lên luật pháp quốc tế.

Lại nhớ về những trang lịch sử được viết bằng máu trong quan hệ Việt Nam- Campuchia.

Trong thế kỷ 20 nhân loại đã chứng kiến một chế độ tàn bạo nhất trong lịch sử Campuchia cũng như thế giới, đó là Campuchia Dân chủ, thường được gọi là Angkar (tổ chức) do Pol Pot đứng đầu.  Trong vòng hơn ba năm từ 1975-1978, Tập đoàn Pol Pot này đã giết hại hơn 2 triệu người dân Campuchia, bằng 1/3 dân số đất nước thời bấy giờ.  Người dân bị xử tử bất cứ lúc nào nếu bị nghi là phản động hay gián điệp. Nhiều hình thức tra tấn cực hình  như thời trung cổ được áp dụng.

Khi người dân Campuchia đang rên xiết, tuyệt vọng trong địa ngục trần gian do Angkar dựng lên, họ đã vô cùng hạn phúc được bộ đội Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia cùng quân tình nguyện Việt Nam đến cứu thoát khỏi “lưỡi hái tử thần”. Chiến thắng 7/1/1979 đã xóa bỏ chế độ diệt chủng. Nếu không có ngày 7/1 ấy, nhân dân Campuchia sẽ không có được  một Vương quốc như ngày nay. Không ai khác, Quân tình nguyện Việt Nam đã giúp Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, đem lại sự hồi sinh cho dân tộc này.

Bây giờ Việt Nam trong mắt của Hun Sen ra sao? Vẫn là những lời nói trên đầu môi chót lưỡi về tình hữu nghị thủy chung, nhưng phía sau là sự phản trắc. Ngồi ở bàn đàm phán Hun Sen nói:  quan hệ Việt Nam-Campuchia đó ngày càng phát triển bền vững theo phương châm đã được lãnh đạo hai bên thông qua là: “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài.” Còn ở bất cứ đâu ngoài Việt Nam, ngay cả trên Facebook cá nhân Hun Sen ngả hẳn về Trung Quốc, nghĩa là Biển Đông là của Trung Quốc, đương nhiên Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc. Trung Quốc tha hồ tôn tạo đảo, đá treenbieenr, tha hồ các hoạt động quân sự hóa trên biển. Các nước không nên làm phức tạp thêm tình hình…

Họ đã quên tình bạn rất nhanh khi mà có kẻ đang đổ tiền vào nhà mình. Hãy nghe Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị nói: “Trung Quốc vô cùng tán dương lập trường ủng hộ lẽ phải, duy trì chính nghĩa của Campuchia về vấn đề biển Đông”.Ông này cũng cho rằng, “lập trường của Campuchia là đúng đắn, có lợi cho sự duy trì đoàn kết, vị thế chủ đạo của ASEAN trong khu vực cũng như giúp ích trong mối quan hệ hợp tác với Trung Quốc”.

Kẻ tung người hứng. Nhưng ngó đi ngó lại vẫn chỉ có hai anh em nhà ấy.

Các nước khác phản đối kịch liệt.

Các nước khác, nhất là Nhật Bản, Indonesia, Philippines (đương nhiên)… cùng hô lớn: Campuchia hãy ra khỏi phòng họp!

Advertisements
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

CHÚNG TA ĐANG TÌM KIẾM CÁI GÌ?

CHÚNG TA ĐANG TÌM KIẾM CÁI GÌ?
Krishnamrti | Phạm Công Thiện dịch

Jiddu-KrishnamurtiHầu hết chúng ta đang đi tìm gì? Mỗi người trong chúng ta muốn được gì? Nhất là giữa thời thế tao loạn này, mọi người đều muốn tìm một thứ an bình nào đó, một thứ hạnh phúc nào đó, nơi trú ẩn nào đó, vì thế chúng ta cần phải tìm cho ra chúng ta muốn tìm kiếm gì trên cuộc đời này, điều ấy dĩ nhiên là vô cùng quan trọng, phải thế không? Chúng ta cần phải biết đang đi tìm cái gì, chúng ta đang cố gắng khám phá ra điều gì.

Có lẽ hầu hết tất cả chúng ta đều đang đi tìm kiếm thứ hạnh phúc nào đó, một thứ thanh bình nào đó; trong một thế giới hỗn loạn, xáo trộn, đầy chiến tranh phân ly, phân tán, tất cả chúng ta đều cần có một nơi trú ẩn để mà có thể tìm được một chút thanh bình nào đó. Tôi nghĩ rằng đó là điều tất cả chúng ta, hầu hết tất cả chúng ta đều muốn đạt tới. Vì thế chúng ta chạy tìm đuổi theo một người lãnh tụ này đến một người lãnh tụ khác, từ một tổ chức tôn giáo này đến một tổ chức tôn giáo khác, từ một bậc thầy này đến một bậc thầy khác.

Vậy thì có phải chúng ta đang tìm một thứ hạnh phúc hay là phải chăng chúng ta đang đi tìm một sự thỏa mãn nào đó để mong được hạnh phúc? Hạnh phúc và sự thỏa mãn hoàn toàn khác nhau. Các bạn có thể tìm hạnh phúc không? Có lẽ các bạn chỉ thấy thỏa mãn nhưng nhất định các bạn không bao giờ tìm ra hạnh phúc. Hạnh phúc chỉ là phụ thôi; nó xuất phát từ một cái gì khác.

Vì thế, trước khi chúng ta để cả tâm trí vào một sự việc cần nhiều trang trọng, chú ý, tư tưởng, chăm sóc, phải chăng chúng ta cũng nên tìm hiểu chúng ta đang muốn tìm kiếm gì; có phải chúng ta đang tìm kiếm hạnh phúc hay chỉ là sự thỏa mãn. Tôi cho rằng hầu hết tất cả chúng ta đều tìm kiếm sự thỏa mãn. Chúng ta muốn được thỏa mãn, chúng ta muốn tìm được một cảm giác sung mãn tràn trề theo sau cuối con đường tìm kiếm của chúng ta.

Thực ra nếu chúng ta đi tìm thanh bình chúng ta có thể tìm thấy nó một cách quá dễ dàng, người ta có thể tự dâng hiến một cách mù quáng cho một lý tưởng nào đó và trú mình ẩn náu trong đó. Hiển nhiên nếu làm như vậy thì không giải quyết được vấn đề nào hết. Chỉ cô lập hóa mình trong một ý tưởng ràng buộc thì không thể nào giải thoát khỏi sự đụng độ va chạm. Phải chăng chúng ta cần tìm cho được mỗi người trong chúng ta đang muốn tìm kiếm gì ở bên trong tâm hồn cũng như ở thế giới bên ngoài.

Nếu chúng ta minh bạch khúc triết trong vấn đề này thì chúng ta không cần phải đi đâu cả, không cần phải đi tìm bất cứ một vị thầy nào, không cần phải đi vào bất cứ một nhà thờ nào và không cần phải tham dự bất cứ một tổ chức nào. Do đó, nỗi khó khăn nhất của ta hiện nay là làm thế nào minh bạch khúc triết trong tâm trí đối với ý định của mình, phải thế không? Chúng ta có thể nào minh bạch được không?

Phải chăng sự minh bạch ấy chỉ xuất hiện qua sự tìm kiếm, và sự tìm hiểu những gì người khác nói, từ một bậc đại sư cao siêu nhất cho đến một người giảng đạo thông thường nhất ở một giáo đường nào đó quanh đầu phố? Các bạn có cần đi đến một người nào đó để mà khám phá ra sự thực không? Phải chăng đó là điều chúng ta đang làm?

Chúng ta đọc quá nhiều sách, chúng ta tham dự quá nhiều cuộc hội thảo để tranh luận bàn tán, chúng ta gia nhập nhiều tổ chức khác nhau để mà tìm một phương thuốc trị liệu cho nỗi xung đột tâm tư, cho sự khốn cùng trong đời sống của chúng ta. Hoặc nếu chúng ta không làm thế thì chúng ta nghĩ rằng chúng ta đã tìm thấy sự thực, chúng ta nói rằng một tổ chức đặc biệt nào đó, một bậc tôn sư đặc biệt nào đó, một quyển sách đặc biệt nào đó đã thỏa mãn chúng ta; chúng ta đã tìm thấy tất cả sự thực mà chúng ta muốn đạt trong những thứ ấy; và chúng ta duy trì ứ đọng đóng nhốt tự mình trói buộc mình trong những điều mình tưởng như là thấy được sự thật.

Trải qua những sự hỗn loạn, có phải chăng chúng ta đi tìm một cái gì thường còn, một cái gì cố định tồn tại, trường tồn, một cái gì mà chúng ta gọi là thực tại, như Thượng đế, chân lý, hay muốn gọi gì thì gọi vì danh từ không quan trọng: hiển nhiên, chữ nghĩa không phải là sự vật. Chúng ta đừng để bị lôi cuốn trói buộc trong những lời, những tiếng, chúng ta hãy để điều đó cho những giảng sư nhà nghề. Có phải các bạn tìm kiếm một cái gì trường tồn trong tâm hồn một cái gì mà chúng ta có thể bám vào, đeo vào, một cái mang đến cho chúng ta sự bảo đảm, một miền hy vọng nào đó, một sự hăng say tin tưởng nào đó, một sự cố định trường tồn nào đó.

Bởi vì chúng ta cảm thấy bất an vô định trong tâm hồn. Chúng ta không tự hiểu chúng ta. Chúng ta biết rất nhiều về những sự kiện, về nội dung của sách vở; nhưng chúng ta không tự biết mình, chúng ta chẳng có một kinh nghiệm trực tiếp nào cả. Điều mà chúng ta gọi là trường tồn là cái gì? Điều ấy là điều gì mà chúng ta đang tìm kiếm, điều mà chúng ta mong rằng sẽ mang đến cho chúng ta sự cố định trường cửu? Có phải chúng ta đang đi tìm hạnh phúc trường cửu, sự thỏa mãn trường tồn, sự cố định trường cửu?

Chúng ta muốn một điều gì đó được trường tồn mãi mãi để vẫn làm thỏa mãn được chúng ta. Nếu chúng ta cởi bỏ những tiếng, những lời để nhìn thẳng vào điều ấy, đó chính là lòng thỏa mãn lâu dài là điều chúng ta muốn thể hiện. Chúng ta muốn cơn khoái lạc được trường tồn, sự thỏa mãn được lâu dài và chúng ta gọi đó là chân lý, Thượng đế hay là một danh hiệu nào khác.

Đúng thế, chúng ta muốn có được khoái lạc. Có lẽ điều ấy đã được trình bày một cách thô bạo như vậy, nhưng đó là lòng khát khao thực sự, chúng ta muốn có kiến thức nào mang đến cho chúng ta sự khoái cảm, kinh nghiệm nào mang đến cho chúng ta sự khoái lạc, sự thỏa mãn mà không phôi pha tàn phai với thời gian.

Chúng ta đã trải qua tất cả những sự thỏa mãn đa dạng và những sự thỏa mãn ấy, tất cả những sự thỏa mãn ấy đã tàn phai tiêu ma thế thì bây giờ chúng ta mong tìm được sự thỏa mãn trường tồn vĩnh cửu trong thực tại nào đó, chẳng hạn như trong Thượng đế. Dĩ nhiên đó là chính những gì mà tất cả chúng ta thường tìm kiếm: những kẻ khôn ngoan và những người khờ khệch, lý thuyết gia và con người thực tế, tất cả đều đang tìm kiếm đeo đuổi một cái gì đó. Có sự thỏa mãn nào vĩnh cửu hay không? Có sự thể nào mà vẫn trường tồn mãi mãi?

Thế mà nếu các bạn tìm kiếm một sự thỏa mãn trường tồn và gọi đó là Thượng đế hay Chân lý hay bất cứ một danh từ nào khác, (danh từ không quan trọng) chắc các bạn phải hiểu đó là điều các bạn muốn tìm, các bạn có nên hiểu thế không? Khi các bạn nói rằng ‘tôi đang đi tìm một sự hạnh phúc vĩnh cửu’ – Thượng đế hoặc Chân lý hay là bất cứ một danh từ nào khác, các bạn có nên tìm hiểu cái gì đang tìm kiếm, nghĩa là tìm hiểu chính kẻ tìm kiếm, người tìm kiếm?

Bởi vì có thể trên đời không có cái mà người ta gọi là sự an ninh vĩnh cửu sự hạnh phúc trường tồn. Chân lý có thể là một cái gì khác hẳn, hoàn toàn khác hẳn; và tôi nghĩ rằng chân lý thì hoàn toàn khác hẳn những gì các bạn có thể thấy, có thể ý niệm hội ý, có thể đặt hình tượng phương trình. Vì thế trước khi chúng ta tìm kiếm thực thể trường cửu, thực ra có cần thiết, vô cùng cần thiết, là phải tìm hiểu chính người tìm kiếm? Người tìm kiếm có khác sự việc mà hắn tìm kiếm?

Khi các bạn nói ‘tôi đang tìm kiếm hạnh phúc’ thì người tìm kiếm có khác đối tượng của sự tìm kiếm ấy không? Tư tưởng gia có khác tư tưởng không? Phải chăng cả hai đều là một hiện tượng liên kết duy nhất, chứ không phải là những tiến trình cách biệt? Do đó, phải chăng tìm hiểu người tìm kiếm là một điều chính yếu trước khi chúng ta tìm hiểu điều mà hắn đang kiếm tìm.

Vì thế đã đến lúc chúng ta phải tự hỏi một cách nghiêm trọng và sâu sắc rằng sự thanh bình, hạnh phúc, thực tại, Thượng đế hoặc một danh từ nào khác, có thể được mang đến cho chúng ta qua trung gian của một người nào khác hay không? Có thể nào sự tìm kiếm liên tục này, sự khát khao hoài vọng này đưa đến cho chúng ta hưởng thụ cảm giác về thực tại tuyệt vời, trạng thái sáng tạo của tâm hồn, mà những cảm trạng ấy thì chỉ có thể hiện đến khi chúng ta thực sự tự hiểu mình? Phải chăng sự tự hiểu biết chính bản thân mình chỉ thể hiện qua sự tìm kiếm, bằng cách đi theo gót một người nào khác, bằng cách gia nhập vào một đoàn thể nào đó, bằng cách đọc sách, vân vân?

Tựu chung, phải chăng đó là vấn đề chính yếu: khi mà tôi chưa hiểu được mình, tôi không thể có được căn bản để suy tư, và tất cả sự tìm kiếm của tôi chỉ là vô vọng hão huyền. Tôi có thể chạy trốn trong những ảo giác, tôi có thể chạy trốn sự khó khăn dày xéo, cơn quằn quại nội tâm; tôi có thể phụng thờ kẻ khác, tôi có thể tự cứu tôi qua trung gian một người khác. Nhưng khi mà tôi vẫn chưa hiểu được tôi, khi mà tôi không ý thức được tiến trình trọn vẹn của chính nội tâm tôi thì không thể nào tôi có được nền tảng để suy tư, để thương yêu lưu luyến, để hành động xử thế.

Nhưng đây là điều ít người muốn đạt tới: tự hiểu mình. Nhất định đó là nền tảng duy nhất mà chúng ta phải xây dựng. Nhưng trước khi xây dựng sáng tạo, trước khi chuyển hóa, trước khi chúng ta kết án hay phá hủy, chúng ta phải biết rằng chúng ta là gì. Đi tìm kiếm chân lý, thay đổi những đạo sư, thực hành Yoga, điều hòa hơi thở, chấp trì những nghi lễ tôn giáo, theo chân những bậc đại sư và tất cả những thứ đại loại như vậy đều hoàn toàn vô ích, phải thế không?

Những sự việc ấy không có ý nghĩa gì cả, ngay đối với cả những bậc thánh nhân khi họ nói với chúng ta rằng ‘hãy tự hiểu mình’ thì việc ấy cũng vô nghĩa, bởi vì chúng ta là gì thì thế giới là như thế ấy. Nếu chúng ta bần tiện, nhỏ nhoi, ghen tuông, phù phiếm tham lam, nếu đó là những điều chúng ta tạo ra chung quanh ta thì đó cũng là điều tạo ra xã hội mà chúng ta đang sống.

Theo tôi thì trước khi chúng ta lên đường để tìm hiểu Thực tại, để tìm thấy Thượng đế, trước khi chúng ta hành động, trước khi chúng ta có thể giao tiếp xử thế với nhau (nghĩa là sự giao tế trong xã hội) thì trước hết chúng ta phải cần hiểu chúng ta. Tôi cho rằng một người đứng đắn là một người hoàn toàn bận tâm về việc ấy trước hết, chứ không phải tìm cách đi tới một mục đích nhất định, bởi vì nếu các bạn và tôi không tự hiểu mình thì làm thế nào hành động của chúng ta có thể mang đến sự đổi thay cho xã hội, cho sự giao tế của xã hội hay cho bất cứ sự việc nào mà chúng ta thể hiện?

Khi tôi nói tự tìm hiểu mình thì không có nghĩa là chống đối, ly cách trong tương quan giữa mình với người khác. Điều ấy hiển nhiên không có nghĩa là đặt trọng tâm vào cá thể, vào bản thân để đối nghịch lại quần chúng đám đông, để đối nghịch lại với kẻ khác.

Vậy nếu mà không tự biết mình, nếu mà không hiểu đường lối tư tưởng của mình, không hiểu lý do tại sao mình nghĩ sự việc như vậy, không hiểu bối cảnh qui định của mình, không hiểu lý do tại sao mình đã có những tín ngưỡng đặc biệt nào đó về nghệ thuật và tôn giáo, về tổ quốc quê hương về kẻ láng giềng và về chính bản thân mình thì làm thế nào chúng ta có thể biết suy tư thật sự về bất cứ sự vật nào?

Nếu không biết bối cảnh của mình, không biết bản chất thực sự của tư tưởng mình, và duyên do của tư tưởng ấy thì nhất định sự tìm kiếm của các bạn chỉ là hoàn toàn phù phiếm vô ích, hành động của các bạn phải chăng không có ý nghĩa gì nữa? Dù là các bạn là người Mỹ hay người Ấn độ hay dù các bạn thuộc tôn giáo nào nữa thì việc ấy cũng vô nghĩa. Trước khi chúng ta có thể tìm hiểu cứu cánh mục đích của đời sống là gì, ý nghĩa của nó là gì như chiến tranh, những sự xung đột quốc gia, những sự va chạm, và tất cả những sự hỗn loạn ấy chúng ta phải bắt đầu tìm hiểu chúng ta, bắt đầu nơi bản thân mình phải thế không?

Việc ấy có vẻ như đơn giản nhưng nó thật vô cùng khó khăn. Muốn theo dõi mình, muốn thấy sự vận hành của tư tưởng mình, mình phải tỉnh thức một cách phi thường để mà khi mình bắt đầu ý thức mãnh liệt về những mê cung chằng chịt của chính tư tưởng mình và những đáp ứng và những cảm giác, mình bắt đầu đạt tới một ý thức bén nhạy hơn chẳng những ý thức về mình mà còn ý thức về kẻ khác mà mình đang giao tiếp. Tìm hiểu chính bản thân mình là tìm hiểu mình trong hành động, đó chính là tương giao.

Nỗi khó khăn của chúng ta là chúng ta quá nóng nảy, thiếu kiên nhẫn; chúng ta muốn đi tới một cách hấp tấp, chúng ta muốn đạt tới cứu cánh, vì thế chúng ta không để chúng ta có thời gian hay có dịp để học tập, để nghiên cứu. Thay vì thế chúng ta lao mình vào những sinh hoạt khác nhau như việc mưu sinh, việc nuôi nấng con cái, hay là đảm nhiệm những trọng trách của nhiều tổ chức; chúng ta lao thân vào những đường lối khác nhau bận bịu lo lắng và không còn thì giờ để suy tưởng bản thân, để quan sát, để khảo sát. Vì thế, thực ra trách nhiệm về phản ứng chúng ta là tùy vào chúng ta, chứ không phải vào người khác.

Khắp thế giới sự tìm kiếm đạo sư và hệ thống đạo lý của họ, việc đọc những quyển sách mới xuất bản về vấn đề này hoặc vấn đề khác vân vân, đối với tôi là hoàn toàn rỗng, hoàn toàn phù phiếm, vì các bạn có thể lang thang khắp địa cầu để tìm kiếm, nhưng rồi các bạn cũng phải trở về lại với chính mình. Vì hầu hết chúng ta đều hoàn toàn vô ý thức về chính bản thân mình, do đó thực là vô cùng khó khăn khi chúng ta bắt đầu tìm thấy, nhìn thấy rõ rệt biến trình của tư tưởng chúng ta, cảm giác và hành động của chúng ta.

Khi các bạn càng tự hiểu mình thì sự minh bạch khúc triết càng dễ xuất hiện. Sự tự tìm hiểu mình không có cứu cánh, các bạn không phải đi tới một sự tựu thành nào cả, các bạn không phải đi tới một sự kết luận nào cả. Chân lý là một dòng sông bất tận. Khi mình nhìn theo dòng sông, khi mình đi sâu vào sự thực thì mình cảm thấy thanh bình trong tâm hồn. Chỉ khi nào tâm trí được trầm lặng nhờ sự tự giác, chứ không phải nhờ vào một kỷ luật bản ngã ràng buộc, chỉ có lúc ấy, chỉ trong sự trầm tĩnh ấy, trong sự im lặng ấy thì Thực tại mới có thể thực hiện được.

Chỉ có lúc ấy mới có thể có sự ngây ngất xuất thần, chỉ có lúc ấy mới có thể có được hành động sáng tạo trác truyệt. Đối với tôi, nếu không có sự hiểu biết ấy, không có kinh nghiệm ấy mà lại đọc sách, đi dự những buổi nói chuyện, đi làm tuyên truyền thì thật là ấu trĩ: đó chỉ là một hành động vô nghĩa; trái lại nếu mình có thể hiểu mình thì mình mới có thể khơi dậy niềm hạnh phúc sáng tạo trác tuyệt, khơi dậy sự thể hiện vượt ngoài tâm trí, chỉ lúc ấy có lẽ mới thể hiện được sự chuyển hóa hoàn toàn trong mối giao tiếp giữa chúng ta và thế giới chúng ta đang sống.

 

J. KRISHNAMURTI

Phạm Công Thiện dịch

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

AI MUA XE RÁC (AI ĐÃ ĐẶT MUA XE PHÂN NÀY)

AI MUA XE RÁC
(AI ĐÃ ĐẶT MUA XE PHÂN NÀY)
Ajahn Brahm | Thích Trí Siêu chuyển ngữ
Nhà xuất bản Hồng Đức
Audio Book: Trung Tâm Diệu Pháp Âm | Diễn đọc: Huy Hồ & Kiều Hạnh
Nguyên tác: Who ordered this truckload of dung”

ai mua xe racAi Mua Xe Rác được Thượng tọa Thích Trí Siêu dịch thoát nghĩa từ tựa đề tiếng Anh “Who ordered this truckload of dung” của Hòa thượng Ajahn Brahm. Dịch sát nghĩa, tựa đề nguyên tác có thể chuyển ngữ trong tiếng Việt là “ai đã đặt mua xe phân này”.

Dùng ẩn dụ xe chở phân, Ajahn Brahm đã kể 54 câu chuyện thiền theo phong cách “góp nhặt cát đá” biến chúng trở thành các giai thoại thiền có giá trị giáo dục ý nhị va sâu sắc. Bằng tài diễn đạt khéo léo, các câu chuyện đời thường ở phương Tây, dưới lăng kính thiền học ứng dụng, Ajahn Brahm đã hiến tặng cho đọc giả những câu chuyện triết lý, mà càng nghiền ngẫm, chúng ta không khỏi thán phục tác giả đã có tài biến hóa “cái khác thường” từ những “cái bình thường”.

Các câu chuyện trong cuốn sách này có thể chia làm ba nhóm: (1) Lấy con vật làm ẩn dụ, (2) lấy sự vật làm ẩn dụ, (3) lấy con người làm đối tượng phân tích.

Các câu chuyện ẩn dụ về con vật như con bò khóc, con rắn ác, con rùa nói nhiều, con dòi và đống phân… chứa đựng các triết lý mà thông qua việc phân tích nội hàm của ẩn dụ, chúng rút ra được nhiều bài học có khả năng kết thúc khổ đau. Các ẩn dụ liên hệ đến sự vật như đống phân bò, hay là thùng rác, đá quý, cái búa… có khi mang tính châm biếm ý nhị, có khi dạy đời sâu sắc, cung ứng cho người đọc các kỹ năng sống và ứng xử thông minh trong đời để khỏi rơi vào tình huống khổ đau hay dở khóc dở cười. Các câu chuyện liên hệ trực tiếp đến con người rất đa dạng và chiếm đại đa số như những kẻ tội phạm, đứa bé trong siêu thị, bà nói gà ông nói vịt, đổ lỗi kẻ khác… bắt đầu từ các câu chuyện có thật trong xã hội phương Tây, được sử dụng như các phương châm hóa giải nghiệp chướng và bất hạnh. Dù dưới hình thức ngụ ngôn hay các câu chuyện triết lý, tác phẩm Ai Mua Xe Rác được xem như túi khôn nhà thiền, mà người sở hữu nó nếu ứng dụng đúng tình huống có khả năng giải quyết các vấn nạn cá nhân, gia đình và xã hội.

Cái hay của Ajahn Brahm qua tác phẩm này là giới thiệu Phật giáo bằng các câu chuyện bình dị, khích lệ ứng dụng triết lý Phật giáo từ những cái bình thường, trên nền tảng đó nỗ lực xây dựng hạnh phúc bây giờ và tại đây.

Đọc Ai Mua Xe Rác như những câu chuyện cười, người đọc sẽ có những nụ cười ý nhị. Đọc tác phẩm này bằng tâm của người ứng dụng Phật pháp, các câu chuyện bình dị sẽ trở nên triết lý. Bằng nhãn quan tiếu lâm và triết lý, các câu chuyện chứa đầy uẩn khúc, oan trái, nghịch cảnh, nước mắt khổ đau… người thưởng nghiệm sẽ trở nên minh triết và thông thái trong cuộc sống.

Ai mua xe rác – Ajahn Brahm – Chương 01 – 06
Ai mua xe rác – Ajahn Brahm – Chương 07 – 13
Ai mua xe rác – Ajahn Brahm – Chương 14 – 18
Ai mua xe rác – Ajahn Brahm – Chương 19- 25
Ai mua xe rác – Ajahn Brahm – Chương 26- 31
Ai mua xe rác – Ajahn Brahm – Chương 32- 39
Ai mua xe rác – Ajahn Brahm – Chương 40 – 47
Ai mua xe rác – Ajahn Brahm – Chương 48 – 54
Categories: Tài-liệu Tu-Học | Leave a comment

ĐIỀU GÌ XẢY RA SAU KHI BẠN CHẾT?

ĐIỀU GÌ XẢY RA SAU KHI BẠN CHẾT?
Ajahn Brahm

Bài giảng cho đại chúng tại trung tâm Dhammaloka
Ngày 8 tháng Tư năm 2011, Perth, Úc.
Lược dịch: Một nhóm Phật Tử Bắc Mỹ.

Theo đề nghị của một bạn từ Melbourne, hôm nay tôi sẽ nói về “Điều gì xảy ra sau khi bạn chết”

Có một số cách để có thể biết được điều gì sẽ xảy ra sau khi bạn chết.

Trước hết là qua công phu thiền định của bạn. Công phu thiền định của tôi rất vững mạnh, đó không phải là trí nhớ, mà là sự hiểu biết cách vận hành của tâm và quan hệ tương giao giữa thân và tâm. Qua công phu hành thiền nhiều năm, bạn có thể có được sự hiểu biết quí báu này. Bạn biết chính xác điều gì sẽ xảy ra bởi vì bạn biết bản chất của tâm, bản chất của thân.

Loại thiền cụ thể mà bao năm qua tôi đã từng hướng dẫn, Thiền na (Jhanas), là loại thiền với những tầng định thâm sâu. Tôi cũng đã thẳng thắn trình bày những gì thực sự xảy ra trong những tầng thiền định đó. Chúng có thể giúp bạn biết được điều gì sẽ xảy ra khi bạn chết. Lát nữa tôi sẽ giải thích lý do tại sao.

Kế nữa, những câu chuyện dựa trên bằng chứng có thật của những người nhớ lại những gì xảy ra giữa các tiền kiếp của họ, và số người này không phải là ít. Một số người bỗng nhiên nhớ lại, số người khác nhờ được huấn luyện để nhớ lại.

Bằng chứng cuối cùng là những câu chuyện thú vị nhất và cũng vững chắc nhất, gọi là “kinh nghiệm cận tử”–near-death experiences–của những người bị tai nạn hoặc trên bàn mổ, hồn lìa khỏi xác, nhưng sau đó đã sống lại. Chủ yếu những câu chuyện cận tử này cho bạn thấy được chuyện gì xẩy ra sau khi bạn chết. Không phải chỉ là Phật Tử mà có cả những người với những niềm tin khác nhau nhưng khi “sống lại” đều có cùng những câu chuyện giống nhau.

Trong bài giảng này, tôi sẽ kết hợp tất cả những điểm trên đây, lấy chúng làm cơ sở để giải thích điều gì sẽ xảy ra sau khi bạn chết. Đây không phải là một điều không có dính dáng gì đến đời sống hàng ngày của bạn, mà thực sự, nó làm hiển lộ ra điều quan trọng nhất trong đời sống chính là thái độ sống của bạn, cách bạn phản ứng trước những gì bạn phải trải ngiệm khi này, khi khác.

Với những phương cách thực hành được giảng dậy ở đây, bạn có thể ứng xử tốt đẹp và tích cực trong mọi tình huống. Thế nào là cách ứng xử tích cực? Đó là đón nhận chúng (mọi tình huống) với một tâm bình an, tử tế và hiền hòa. Học hỏi từ chúng, chấp nhận chúng, không kháng cự, không khó chịu, không giận dữ, không sợ hãi. Tất cả những cảm xúc tiêu cực, mà các bạn đã từng chứng nghiệm ngay trong kiếp sống này, đều dẫn đến vô số vấn đề. Chúng cũng là những cảm xúc có thể gây ra vấn đề cho bạn một khi bạn “thực sự chết”.

Hãy kiểm lại xem những gì xảy ra trước khi bạn chết, nó sẽ cho bạn biết những gì sẽ xảy ra sau đó. Bởi vì sự sống là một cái gì liên tục, nó không thể thình lình thay đổi. Ban đêm bạn đi ngủ, sáng dậy bạn cũng không khác lắm, có thể già hơn chút xíu, nhưng gần như không khác, ít nhất là vẫn còn nhận ra được. Bạn không biến thành một cái gì khác. Khi bạn chết cũng vậy. Không có một sự chuyển đổi thình lình thành một cái gì hoàn toàn khác hẳn. Ở đây tôi đang nói đến những trường hợp chết chậm, vì bệnh tật, vì tuổi già, chứ không nói đến những trường hợp chết bất thình lình. Với những trường hợp chết chậm thì thể xác lịm đi từ từ cùng với năm căn: thấy, nghe, ngửi, nếm và sờ đụng.

Là tu sĩ, tôi từng phải ở bên cạnh những người đang hấp hối. Đó là một trong những nhiệm vụ của tôi. Chứng kiến sự chết xảy ra như một tiến trình. Cái người ta cho là sức sống (sinh lực- life force), thật ra chỉ là thể lực, lụi dần đi.

Rõ ràng không thể nói cái chết xảy ra ở điểm nào, giờ khắc nào. Bạn không thể nói một người chết vào lúc 8 giờ 9 phút. Đó là giờ theo chiếc đồng hồ ở đấy. Chết là một tiến trình kéo dài nhiều phút. Khi vị bác sĩ tuyên bố “xong rồi”, điều này có thể là ở một điểm nào đó giữa lúc nó bắt đầu và lúc nó thật sự chấm dứt. Đây là điều quan trọng cần phải hiểu. Cả cuộc đời là một tiến trình, không phải là một sự cố.

Khi đã hiểu cả cuộc đời là một tiến trình thì cũng phải hiểu tiến trình đó luôn tiếp diễn chứ không bất ngờ dừng lại. Cái dừng lại chỉ là năm giác quan: không còn thấy, ngửi, nếm, sờ đụng, cảm giác. Đây cũng chính là cách để biết một người còn sống hay đã chết. Kéo, giật, la lớn vào tai “Còn sống không?”, chờ xem coi có chuyển động nào trên thân họ không. Nhiều khi các vị y tá, bác sĩ, vạch mí mắt họ ra, chiếu đèn vào xem coi có phản ứng gì không.

Một trong những điều xảy ra khi bạn đạt đến mức định tâm sâu là sự biến mất của năm giác quan. Bạn thấy như tay, chân không còn có cảm giác, như thân thể đang biến đi. Tuy nhiên, trong thiền, bạn không chết, bạn sẽ trở lại hoàn toàn bình thường sau đó. Đối với người sắp chết thì khác, các giác quan của họ dần dần biến mất hẳn. Ít ra trong thiền, bạn kinh nghiệm được cái cảm giác đó (sự biến mất của thân thể) như thế nào. Thứ nhất, khi cơ thể biến mất, bạn thấy dễ chịu. Không biết các bạn thế nào, chứ tôi thì già rồi, năm nay đã 60 tuổi, trong người có đủ loại đau nhức và chắc là ngày càng trở nên tệ hại thôi. Vậy cho nên, thoát được ra khỏi thân này thì thật là dễ chịu. Khi thân bắt đầu biến đi từ từ, bạn có cảm giác khoan khoái tuyệt diệu của sự tự do. Không còn đau đớn, nhức mỏi. Cả mấy tuần qua, từ ngày đi Nam Dương về, cổ họng tôi thấy rất khó chịu. Hồi nãy, trong khi hành thiền, tôi thấy cảm giác khó chịu đó hoàn toàn biến mất. Thật tuyệt vời. Đây là điều xảy ra khi thân bắt đầu biến đi. Bạn thấy thoái mái tự do. Bạn không còn vướng bận với việc thấy, ngửi, nếm nữa. Thứ thường gây khó chịu cho bạn nhất trong khi hành thiền là âm thanh. Ví dụ như tiếng khóc của trẻ em bên ngoài hồi nãy, hay tiếng động, tiếng ho. Ngay cả Đức Phật cũng công nhận điều này, Ngài dạy âm thanh là thứ cuối cùng được nhận biết bởi năm giác quan. Cũng vậy, đối với người sắp chết, âm thanh là thứ cuối cùng được nhận biết.

Hiểu như thế thì, khi một người bị hôn mê (coma), nếu nghĩ là họ hấp hối, bạn nên nói chuyện với họ, bởi vì âm thanh là thứ cuối cùng họ có thể nghe được. Đừng mong họ nhận biết khi bạn lay giật hay sờ đụng thân họ.

Nhiều bạn đã kinh nghiệm được điều này khi hành thiền, khi năm giác quan bắt đầu biến đi, bạn cảm thấy thơ thới, nhẹ nhàng, bình an, bởi vì thể xác là thứ nặng nề khó chịu. Vậy, hãy tưởng tượng, khi bạn bệnh nặng và sắp sửa từ trần thì sẽ như thế nào? Đó là giai đoạn thực sự nặng nề. Cũng may là y học hiện đại đã giúp bạn chịu đựng được với thuốc mọt-phin (giảm đau). Có nhiều Phật tử hỏi tôi, ” Tôi muốn tỉnh táo vào giờ phút lâm chung, bởi vì đó là thời điểm quan trọng trong cuộc đời tôi, tôi không muốn ở trong trạng thái mê muội lúc đó”. Nhưng các bạn đừng lo, cứ dùng mọt-phin đi, bởi vì bình thường thì tâm thức (giác quan thứ sáu) của bạn nương nhờ vào não bộ, nhưng nó sẽ không cần đến não bộ nữa một khi cơ quan này ngừng hoạt động. Nói một cách khác, tâm bạn không còn cần đến não bộ nữa. Nó có thể thoát khỏi não bộ, và điều thực sự xẩy ra là vào một hai phút cuối cùng, có khi lâu hơn hoặc mau hơn, bạn trở nên sáng suốt.

Tôi đã kể về trường hợp mẹ tôi ở Luân Đôn, bà bị bệnh Alzheimer. Cách đây gần hai năm, khi tôi đến thăm, ngồi bên bà nói chuyện hai tiếng mà bà không nhận ra tôi, không biết tôi là ai. Thế rồi, tự nhiên, trong khi đang lẩm bẩm những lời không mạch lạc, bà bỗng thốt ra chữ “tu viện”. Thật lạ lùng. Rõ ràng đâu đó bà biết người đang ở trước mặt bà có dính dáng đến sự xuất gia.

Những người bị bệnh Alzheimer nặng, vào giây phút cuối của cuộc đời, họ sẽ sáng suốt, sẽ tỉnh ra, sẽ nhớ lại mọi điều, bởi vì đó là tính tự nhiên của tâm thức, nó xử dụng não bộ hầu như suốt cả cuộc đời, nhưng thực sự nó không cần đến não bộ. Trong vài phút cuối của cuộc đời, tâm thức tách rời khỏi não bộ.

Có một người thường hay đến đây, không biết hôm nay có họ ở đây không. Họ kể cho tôi câu chuyện về ông bố họ, ở thành phố Perth này. Ông bố sắp chết, hai chị em gái mỗi người ngồi một bên giường, nắm tay ông. Ông bị hôn mê, không nói gì đã nhiều giờ, hay nhiều ngày qua, tôi không nhớ.  Họ chỉ ngồi đó, nắm tay ông, chờ đợi giây phút cuối cùng của ông. Dĩ nhiên không ai biết giây phút đó sẽ xảy ra lúc nào. Tôi đã từng ở bên những người sắp chết, có khi phải chờ nhiều tiếng đồng hồ. Có khi tưởng hơi thở của họ đã lịm tắt nhưng bất ngờ họ thở trở lại. Trong trường hợp này, ông bố thở hơi cuối cùng, ông đã ngừng thở, nhưng rồi bỗng lại mở mắt ra. Ông nhướn người ngồi dậy, nhìn hai cô con gái. Hai cô tự động cùng thốt lên một lúc “chúng con thương cha”, thế rồi ông nhắm mắt lại và qua đời. Điều thực sự đã làm hai người con gái ngạc nhiên là, mặc dù bị hôn mê đã lâu, đáng lẽ cha họ không thể nhìn hay có cảm giác gì, vậy mà vào giây phút cuối ông đã có thể làm việc đó. Ông đã nhìn vào mắt họ và họ đã có thể nói lời cuối cùng với ông.

Có một ví dụ khác còn hay hơn nữa, đã được đưa lên tuần báo “TIME”, trong một bài viết về tâm thức con người. Trường hợp này nói về cái tâm lúc nó tách rời khỏi não bộ. Tôi còn giữ ở tu viện một bản của số báo TIME này, số tháng Giêng năm 2009 hay 2010 gì đó. Bài báo kể chuyện xảy ra bên Mỹ. Có một ông bác sĩ chữa cho một bệnh nhân bị một cục bướu thật to trong não. Bệnh nhân nằm hôn mê trong bệnh viện đã nhiều ngày và chỉ còn chờ chết, bởi vì cục bướu lớn đã xâm lấn những phần còn lại của não bộ. Theo nhận định của bác sĩ thì bệnh nhân sẽ không bao giờ ra khỏi cơn mê. Thế nhưng người này đã tỉnh dậy, mở mắt ra, ngồi lên, nói những lời chia tay cuối cùng với thân nhân trong vòng mười lăm phút, 15’ hoàn toàn tỉnh táo trước khi qua đời. Ông bác sĩ quá đỗi ngạc nhiên, điều đó không thể nào xảy ra được khi trong não bộ chẳng còn gì hoạt động cả. Vậy mà nó đã xảy ra.

Cách đây nhiều năm có lần tôi đã kể câu chuyện về một cậu thanh niên không có não bộ, của giáo sư John Lorber. Cậu thanh niên này là sinh viên Đại học Sheffield, đã đậu tốt nghiệp ngành toán học với hạng danh dự mặc dù cậu được sinh ra với một cái sọ hơi méo và, theo kết quả điện soi cho thấy, trong sọ của cậu tất cả chỉ hiện hữu có một phần trăm chất xám, ngoài ra không có gì nữa cả. Cơ bản, theo giáo sư Lorber, cậu ta không có não. Chỉ một số lượng chất xám nhỏ bé như thế thì không thể nào bù đắp nổi cho những gì thiếu sót. Vậy mà cậu thanh niên này là sinh viên đậu danh dự ngành toán. Thông minh, bình thường, có bạn gái. Không có gì để bạn nghĩ là cậu không có não. Làm sao như vậy được?

Theo như tôi biết, và cũng theo Phật giáo, tâm thức của con người, khả năng nhận biết, hình thành tư tưởng, sử dụng ý chí, không tùy thuộc vào thể xác. Đặc biệt là không tùy thuộc vào não bộ. Điều này được thể hiện vào những giây phút cuối của đời người. Tâm thức được giải phóng khỏi não bộ và thân thể để trở nên sáng suốt hơn. Điều này đã có nhiều tài liệu rõ ràng làm bằng cớ chứng minh. Vào giây phút cuối đời, bạn sẽ sáng suốt hơn.

Vậy bạn làm gì với những giây phút cuối đó? Đó là câu hỏi kế tiếp được đặt ra. Có rất nhiều người kể lại những kinh nghiệm cận tử (NDE: Near Death Experience) của họ. Một trải nghiệm thoát xác, nhưng vẫn có thể thấy và nghe được. Họ có cảm giác như họ đang có cái thân nhưng đồng thời họ lại thấy xác mình nằm trên bàn mổ, hay dưới gầm xe, hay bất cứ chỗ nào họ chết. Và dĩ nhiên, nhiều người đã được giúp hồi sinh và kể lại những kinh nghiệm họ vừa trải qua trước đó. Những người đó đi từ những văn hóa khác nhau trên thế giới chứ không phải chỉ những người theo đạo Phật.  Bạn nào muốn kiểm lại những gì tôi nói có thể vào trang mạng của Giáo sư Pim Van Lommel, ông này dạy y khoa ở Hòa Lan. Trong những công trình nghiên cứu của ông, giáo sư Lommel kể lại không biết bao nhiêu câu chuyện về kinh nghiệm cận tử.

Tuy nhiên, điều mà giáo sư Lommel quan tâm muốn biết là, về mặt khoa học, những câu chuyện này có thực hay không? Như đã tường thuật trên ấn bản tháng 12, năm 2001 của tờ Lancet (tạp chí y khoa), nghiên cứu của ông được tiến hành trong ba bệnh viện ở Hòa Lan. Với mỗi trường hợp bị hôn mê vì tai biến tim mạch được đưa vào bệnh viện và sau đó được hồi sinh, ông đưa cho họ một tờ giấy ghi nhiều câu hỏi để họ trả lời. Ông muốn biết xem họ có nhớ những gì đã xảy ra trong thời gian chờ được hồi sinh hay không? Trong thời gian họ “chết”.  Đồng thời, trong mỗi trường hợp, ông cũng ghi lại những gì xảy ra trong phòng cấp cứu, trong phòng mổ, để đối chiếu với những gì có thể được mô tả lại bởi người bệnh, xem trí nhớ họ có chính xác hay không. Kết quả nghiên cứu cho thấy, gần 10 phần trăm số người được hồi sinh đã có một hay nhiều kinh nghiệm cận tử điển hình. Lơ lửng bềnh bồng ngoài thể xác nhưng nghe được những gì xảy ra xung quanh. Khi kiểm lại, ông thấy chúng không phải là những ký ức do tưởng tượng mà đó là những ký ức thực. Những điều họ nói đã nghe, đã thấy, đều thực sự đã có xảy ra. Nhưng điều thú vị nhất trong kết quả nghiên cứu này là: những người được hồi sinh có não bộ đã chết. Và đó chính là điều phân biệt giữa những kinh nghiệm cận tử và những người không có kinh nghiệm cận tử. Não bộ ngừng làm việc là khởi điểm của những kinh nghiệm cận tử. Điều này chứng minh cho thấy: tâm thức, ý chí, ký ức, hoạt động khi não bộ đã hoàn toàn ngừng hoạt động. Và đây cũng là điều xảy ra khi bạn đạt định rất sâu.

Có câu chuyện của một thành viên ở đây, ông không có mặt hôm nay, nhưng ông đã cho phép tôi kể chuyện của ông trong cuốn sách tôi viết “Chánh Niệm, Giác Ngộ và Giải thoát”. Câu chuyện là, một bữa nọ, vào ngày cuối tuần, ông ngồi hành thiền trong phòng ngủ. Thấy ông ngồi lâu quá, bà vợ vào gọi ông nhưng ông vẫn bất động và không có dấu hiệu gì chứng tỏ ông còn sống. Hoảng sợ, bà gọi xe cứu thương và họ chở ông vào bệnh viện Sir Charles Gairdner. Ở đó, người ta đo điện tâm đồ và điện não đồ của ông nhưng trên cả hai màn ảnh chỉ thấy một đường thẳng.  Người ta cho điện giật người ông nhưng không có hiệu quả gì. Thật ra thì trong khi đó ông vẫn đang thiền. Và cuối cùng, ông xuất thiền! Ngay khi ông ta xuất thiền, cả hai máy điện tâm và điện não đồ đều chạy lại một cách hoàn hảo. Ông không hiểu tại sao mình lại ở trong bệnh viện? Sau khi được bác sĩ khám lại tổng quát và kết quả cho thấy ông vẫn bình thường, ông đã lội bộ về thẳng nhà. Trong suốt thời gian “chết”, ông vẫn hoàn toàn tỉnh táo, hoàn toàn tỉnh giác, nhưng không hay biết gì về thể xác của mình, hoặc về những gì xảy ra xung quanh. Ông nhập định thật sâu bên trong. Đó là một kinh nghiệm tuyệt vời nhất trong đời ông ta. Tôi kể câu chuyện này vì nó là kinh nghiệm của một người thường đến đây, là một ví dụ minh chứng những gì xảy ra khi não bộ ngừng hoạt động trong trạng thái thiền định rất sâu.

Khi não bộ ngừng hoạt động, đối với đại đa số, điều đầu tiên được cảm nhận là sự hoàn toàn thoải mái, an lạc. Vì sao? Vì thể xác này là một gánh nặng, cất bỏ được nó sẽ như được giải phóng. Đó là điều xảy ra khi bạn chết. Bạn hoàn toàn được giải phóng khỏi cái thân xác này. Hạnh phúc biết bao!

Sau khi có những kinh nghiệm cận tử, ai cũng nói: “Bây giờ tôi không sợ chết nữa, vì tôi đã biết nó như thế nào rồi”. Nó dễ chịu, ngập tràn hỷ lạc, tự do, an lạc. Biết được điều này, không những bạn không còn sợ chết mà bạn cũng sẽ không buồn khổ quá khi có người thân qua đời.

Tuy nhiên, không phải ai cũng hạnh phúc sau khi chết. Bạn biết vì sao không? Bởi vì không phải ai cũng hoan hỉ khi được hạnh phúc; có khi bạn cảm thấy mình không xứng đáng hưởng niềm hạnh phúc đó, có khi bạn cho như thế vẫn là chưa đủ.

Chính thái độ của bạn, cách phản ứng trước một việc xảy ra đã ảnh hưởng đến những gì xảy ra cho bạn sau khi chết. Ví dụ như ngay bây giờ, có thể bạn đang có những giây phút tuyệt vời, hạnh phúc, một ngày an bình, một cuối tuần tuyệt diệu. Nhưng có bao nhiêu bạn tự nghĩ: “Ta không xứng đáng hưởng niềm vui này! “ “Điều này không thể được: ta đang cảm thấy thích thú!” và họ để vuột mất hạnh phúc đó. Ví dụ này, có thể hơi qúa đáng, nhưng nó cho ta thấy làn sóng ngầm (ảnh hưởng ngầm) rất mạnh của bản chất con người, gọi là mặc cảm tội lỗi, thái độ tiêu cực, bới lông tìm vết.

Nếu trong đời này bạn luôn nuôi dưỡng những thái độ đó thì bạn sẽ tiếp tục mang theo và phát triển nó sau khi bạn chết. Bạn có được cơ hội tốt đẹp để hưởng hạnh phúc mà bạn chối từ nó. Tại sao vậy? “Tôi không xứng đáng, tôi là người xấu, tôi có tội lỗi!”. Chính thái độ tiêu cực, bới lông tìm vết, sẽ ngăn cản không cho bạn được tự do. Bản thân tôi đã bỏ ra không biết bao nhiêu thì giờ trong những buổi nói chuyện vào mỗi tối thứ Sáu như thế này về đề tài “khắc phục mặc cảm tội lỗi”. Hãy có cái nhìn tích cực về bản thân mình. Hãy buông bỏ những đau buồn trong quá khứ. Đừng làm tù nhân trong bất cứ lỗi gì bạn phạm phải. Đừng dán mắt vào hai viên gạch lệch mà quên nhìn 998 viên gạch đẹp còn lại trên bức tường! (1). Hãy chọn thái độ, không phải là tích cực, mà là công bằng, khi nhìn đời. Tôi không thích dùng chữ “thái độ tích cực”, bởi vì từ này đã bị lạm dụng qúa nhiều. Công bằng, hợp lý, đúng mực, đối với bản thân mình. Bạn không phải là một người xấu. Tôi chưa bao giờ gặp một người xấu trong đời tôi. Tôi đã từng gặp những kẻ giết người, những kẻ hiếp dâm, trong tù. Nhưng họ không phải là những người thích làm chuyện xấu. Họ không đáng bị ghét bỏ, bị trừ khử. Đó là điều tôi muốn nói, tôi chưa bao giờ thấy người nào đáng bị trừ khử. Trong họ, luôn có một cái gì đó thiện lành, tử tế, đẹp đẽ, và đó là một điều tuyệt vời để nhận ra.

Nhận ra cái tốt nơi bạn, bạn xứng đáng hưởng được hạnh phúc. Nếu bạn muốn biết câu trả lời ngắn gọn về ý nghĩa của cuộc đời thì đó chính là: bạn xứng đáng được hạnh phúc. Đó là ý nghĩa cuộc đời của bạn. Điều này có những hệ qủa rất lớn. Có nghĩa là bạn có thể buông bỏ được những nỗi khổ, niềm đau trong quá khứ, bạn có thể đạt đến hạnh phúc (2), đến sự bình an, sự vui sướng.

Như vậy, sau khi chết rồi, điều quan trọng nhất bạn cần phải làm là từ ái với chính bạn. Chấp nhận những gì xảy đến. Thông thường, cuộc sống của con người bị khống chế bởi sự sợ hãi. Một trong những lý do của buổi nói chuyện tối nay là để tháo gỡ nỗi sợ hãi của bạn. Một khi bạn biết chính xác những gì sẽ tiếp diễn, nhận thức rõ ràng là nó tiếp diễn, và thực sự là nó xảy ra như thế, bạn được chuẩn bị sẵn sàng. Thông thường người ta sợ những cái chưa biết. Khi sự chết được hiểu biết rồi thì nỗi sợ hãi không còn nữa. Nghĩa là bạn có thể thư giãn và thưởng thức toàn bộ tiến trình sau khi chết.

Người ta thường có lắm thứ dính mắc với thế gian này.  Dính mắc với người, dính mắc với vật, những thứ mà họ phải để lại đằng sau. Nhà Phật thường nói “Bạn phải buông bỏ những gì đã qua rồi, những thứ đó bạn không thể mang theo được”. Hiển nhiên là như vậy. Tuy nhiên, muốn làm được việc buông bỏ này bạn cần phải học hỏi, phải tu luyện, phải thực hành. Buông bỏ không có nghĩa là bạn không vui hưởng cuộc đời, không thương yêu những người xung quanh. Nhưng, ví như sau một ngày vui chơi, đến cuối ngày, đến giờ bạn cũng phải lên giường đi ngủ, chuẩn bị một ngày mới sẽ đến hôm sau.

Tôi có thể lấy trường hợp cái chết của cha tôi để làm một ẩn dụ tuyệt vời. Cha tôi mất lúc tôi mới mười sáu tuổi. Mặc dù vậy tôi đã không buồn, không tiếc, rằng ông chỉ sống ở bên tôi có mười sáu năm, bởi vì đó là mười sáu năm tuyệt đẹp. Tôi thấy tôi thật là may mắn. Một bản hoà tấu tuyệt vời. Nhưng buổi hoà tấu nào rồi cũng có hồi kết thúc. Khi một buổi hòa tấu kết thúc, có ai khóc lóc vì buồn khổ không? Dĩ nhiên là không, vì buổi hòa nhạc này hết thì sẽ có một buổi hòa nhạc khác vào tuần sau. Họ đến và đi. Đó là cái đẹp của cuộc đời, cuộc đời là một chuỗi những buổi hòa nhạc nối tiếp. Những giây phút hạnh phúc, những khoảnh khắc hân hoan, chúng ta đều biết sớm muộn gì rồi chúng cũng sẽ qua đi, nhưng chẳng phải vì thế mà chúng ta không thể vui hưởng những khoảnh khắc bên nhau. Ngược lại, chúng ta phải tận hưởng chúng. Và khi chúng kết thúc, chúng ta thấy biết ơn, chúng ta tạ ơn và rồi bước sang buổi hòa nhạc kế tiếp, bước qua một ngày mới, một cuộc đời mới.

Cố gắng thực hành như thế, kể cả trong lúc hành thiền, buông bỏ hoàn toàn những gì đã qua rồi. Buông bỏ chúng bạn mới có thể vui hưởng những gì xảy ra ở hiện tại và để cho tương lai xảy diễn ra sao thì ra. Thực tập buông bỏ trong khi hành thiền bạn sẽ có những buổi hành thiền tốt đẹp, tĩnh lặng, an vui. Tương tợ như thế, khi trút hơi thở cuối cùng, bạn buông bỏ quá khứ, không sợ hãi tương lai. Chấp nhận những gì xảy ra, từ ái, dịu dàng ngay trong phút giây hiện tại. Hãy nhớ kỹ điều này. Trong đời bạn đã trải qua nhiều kinh nghiệm vui sướng, nhiều điều buồn khổ. Nhưng khi bạn chết thì bạn phải bỏ lại tất cả. Bạn không cần đem qúa khứ vào hiện tại. Đây là một giáo lý tuyệt vời nhất trong đạo Phật. Bạn sẽ được tự do. Không ai có thể dày vò bạn vì những gì bạn đã làm, hoặc vì những gì người khác làm cho bạn. Chỉ có chính bạn tự dày vò mình mà thôi.

Một ví dụ hay về điều này, đó là câu chuyện được khắc lên đá mà tôi đã đọc được ở Borobudur, ngôi đền Phật giáo ở Java. Những hình thể khắc trên đá được trình bày như một hệ thống thế gian, phần dưới đáy giống cảnh giới ở địa ngục. Những gì khắc lên ở đó đã làm tôi chú ý. Tôi có thể nói rằng: “Đây thực sự là những gì diễn ra khi chết” (tiến trình của cái chết). Chuyện cổ tích Phật giáo này kể rằng: có một chàng thanh niên khá hiền lành nhưng anh ta đã làm một việc bất thiện, anh đã xô mẹ khiến bà bị thương. Anh bị dày vò bởi điều đó đến nỗi sau khi chết anh rơi xuống địa ngục. Ở đó anh ta thấy có một gã khác đang bị một bánh xe có lưỡi sắc nhọn cắt vào đầu, hắn bị bánh xe cắt liên tục nhưng rõ ràng là hắn vẫn sống. Hắn ta rất đau đớn, vừa trông thấy chàng thanh niên, hắn nói: “Chao ôi, ngươi đã tới rồi ư! Ta có cái bánh xe này trên đầu đã sáu trăm năm rồi vì ta đã gây thương tích cho mẹ ta. Ta được bảo rằng, sáu trăm năm nữa, sẽ có một gã khác đến đây vì đã đả thương mẹ hắn; khi hắn đến, bánh xe sẽ rời đầu ta để sang đầu hắn và ta sẽ được tự do. Đây là bánh xe cho ngươi! Vừa nói xong, gã ta biến mất và bánh xe truyền qua đầu chàng thanh niên và cắt đầu khiến chàng ta quằn quại đau đớn.

Tuy nhiên, chàng thanh niên này là người có những tư tưởng đầy từ bi, anh ta tự nhủ: “Ta sẽ chịu đựng bánh xe này không những sáu trăm năm mà là ba ngàn năm, để bốn, năm người sau ta sẽ khỏi phải chịu cực hình này. Ta sẽ nhận sự trừng phạt thay cho họ”. Lời nguyện vừa dứt thì chiếc bánh xe bể tan tành, chàng thanh niên thoát ra khỏi địa ngục và tái sanh nơi thiên đàng. Chỉ một tư tưởng thiện lành, từ bi đã làm được việc này.

Đây không phải là một huyền thoại mà là một ẩn dụ: chính thái độ của bạn đã tạo nên những gì bạn trải nghiệm. Thái độ của bạn là người sáng tạo, là người tạo ra ý niệm. Vì thế, khi bạn chết, xin đừng có những tư tưởng có tính tiêu cực. Bởi vì lúc đó chính là lúc bạn đang tạo ra thế giới của bạn. Đúng vậy, có những cõi thiên giới và có những cõi địa ngục, nhưng chính bạn đã tạo ra chúng, chính bạn tạo ra cảnh giới mà bạn nghĩ là (cho là) xứng đáng với bạn.

Nếu là người tiêu cực, nếu chỉ nghĩ đến những điều xấu mình đã làm và cảm thấy tội lỗi, không buông bỏ được, thì khi chết bạn sẽ nhớ lại, sẽ nghĩ mình là người xấu đáng bị trừng phạt. Bạn sẽ thiết kế mẫu hình phạt sao cho phù hợp với mình.

Khi chết, thể xác vật lý đã không còn nữa. Thể xác sau đó là thể xác do tâm thức bạn tạo ra. Bạn đi vào cảnh giới do tâm thức bạn tạo ra. Tâm thức là một cái gì rất mạnh mẽ, nó có khả năng tạo ra đủ thứ theo ý bạn muốn.(3)

Để minh họa, tôi xin kể ra đây một kinh nghiệm của tôi trong một buổi hành thiền nhiều năm trước. Hôm đó, khi đã đạt định sâu, khi thể xác đã biến mất, tôi thấy một con ác quỉ hiện ra trước mắt, tai nó thật lớn, mắt đỏ, răng nanh lòi ra khỏi miệng, máu tươi đỏ nhỏ giọt. Nó đeo một chuổi đầu lâu, trên đầu đầy gai nhọn, lưỡi thè dài. Nó hiện ra ngay trước mắt, trong khi tôi đang hành thiền. Nếu là bạn, bạn có sợ không? Phần lớn người ta sợ vì không biết phải làm gì. Tôi thì đủ sáng suốt, ngay cả thời đó, biết là tự tâm mình sáng tạo ra thế giới.

Ý thức được chính mình là kẻ sáng tạo, theo bản tánh, việc đầu tiên tôi làm là vẽ lên hai mắt con quỉ hình hai mặt trời. Rồi đeo lên đôi mắt lồi của nó cặp kính Ray Ban, xóa đen vài cái răng nanh, nhét điếu thuốc vào miệng nó theo kiểu một tên quái vật du thủ. Cuối cùng là đội lên đầu nó chiếc nón rơm có cài một cái hoa. Tôi đã tạo nên một con quái vật khôi hài, tôi cười lớn trong tâm và quái vật biến mất, không bao giờ trở lại nữa.

Bởi vì nếu mình đã tạo ra một thứ gì đó thì mình cũng có thể cải tạo nó bằng cái tâm tích cực, từ ái, khôi hài của mình. Thật vậy, cách đây nhiều năm, sự việc tương tự cũng đã xảy ra cho một người có lần đã đến ở trong tu viện vài tháng hay vài tuần gì đó. Anh ta cứ thấy từ mỗi viên gạch lót đường là hình một con quái vật hiện ra khiến anh ta muốn phát khùng. Tôi chỉ cho anh ta phương pháp tôi đã làm và ngày hôm sau đến gặp tôi, anh nói, “Tôi đã trải qua một ngày thật tuyệt. Đúng là mình có thể tạo ra những bức hình ngộ nghĩnh từ những con quái vật đó! Dĩ nhiên sau đó chúng biến mất!”.

Đó chính là sức mạnh của tâm sáng tạo trong việc hành thiền, nhất là khi tâm nhập vào định sâu. Và nó cũng gần giống như vậy khi bạn chết. Khi thể xác biến mất, tâm sáng tạo sẽ không còn bị nhiều cản trở bởi những yếu tố vật lý. Vì thế, khi chết, hãy nhớ học cách tạo ra những điều tích cực và tốt đẹp trong tâm bạn. Hãy phát triển một tâm hồn đẹp đẽ, từ ái, tử tế, bởi vì đó là những gì bạn sẽ tạo ra cho cảnh giới tương lai của bạn. Bạn có cơ hội để làm việc này.

Tôi biết có nhiều nơi các thầy được mời đến tụng kinh cho người mới qua đời, mục đích là để giúp cho tâm họ có được một trạng thái tích cực.

Tôi nhớ thời còn nhỏ, thỉnh thoảng tôi theo bạn bè vào các quán rượu, ở đó thường xảy ra những cuộc đụng độ khi người ta say. Họ đấm đá nhau bên ngoài quán, máu văng tung tóe. Tôi nghĩ, “Tại sao người ta tìm đến những quán rượu?” Lý do là vì họ thích đánh nhau. Họ tìm kiếm sự xung đột. Tôi nghĩ, “Tại sao những người này tạo ra những hoàn cảnh đã dẫn họ đến sự bạo động, sự tiêu cực, đau đớn?” Đó là vì họ muốn như vậy.

Vậy nên, tôi hỏi bạn, “Bạn muốn gì? Bạn thực sự muốn gì? Không phải bạn nghĩ bạn muốn gì, mà từ sâu thẳm trong lòng, thực sự bạn muốn gì?”

Hãy hun đúc một tâm hồn cao đẹp, một tấm lòng từ bi, một đức tính bao dung. Đó là cảnh giới bạn sẽ tạo ra. Bạn tạo ra nó ngay trong đời này. Tôi không biết có người nào trong số các bạn đang gặp khó khăn trong quan hệ tình cảm không? Đừng đổ lỗi cho người kia. Như tôi đã từng nhắc, chẳng phải lỗi của chàng, chẳng phải lỗi của nàng, mà là lỗi của hai chúng ta. Bởi vì cả hai đều ở trong cuộc, luôn luôn có những việc bạn có thể làm được.

Vậy thì thực sự bạn có thể tạo ra một cảnh giới tốt đẹp cho bạn, ngay trong kiếp sống này. Tuy nhiên, khi còn sống thì khó làm hơn, vì có qúa nhiều những hạn chế, những rào cản bởi yếu tố vật lý. Nhưng, mặc dù có những khó khăn như thế, trước giờ các bạn cũng đã làm được khá tốt rồi. Thử tưởng tượng, một khi được giải phóng khỏi thể xác này rồi, nghĩa là khi chết, bạn sẽ có biết bao cơ hội hơn nữa!

Vì thế, đừng tạo cảnh giới địa ngục cho bạn khi bạn qua đời. Làm thế nào để tránh được điều đó? Tha thứ, không mang mặc cảm tội lỗi, không trách mình, không trách người!

Phật giáo nhấn mạnh sự cần thiết phải tha thứ kẻ khác, và tha thứ cho chính mình. Đó là điều tối quan trọng khi bạn chết. Hãy tha thứ! Bởi vậy trong nhiều tang lễ, chúng tôi đã cử hành buổi lễ tha thứ, cho người ở lại, cho người vừa quá vãng. Tôi nói với người đã mất, thay mặt họ, xin người ở lại tha thứ cho những lỗi lầm mà họ có thể đã phạm phải về thân, khẩu, ý, vô tình hay cố ý. Thay mặt người chết, chúng tôi thực sự xin lỗi, xin tha thứ, xin bỏ qua, để không còn đau đớn, không còn mặc cảm tội lỗi, không còn ý muốn trả thù sau đó.

Chúng ta ai cũng có sai lầm. Ở đây tôi xin nhắc lại một ẩn dụ tôi đã có dịp nói tuần rồi. Đó là ẩn dụ về bài kiểm tra. Một bài kiểm tra mà thí sinh nào cũng đạt điểm 10/10, hoặc 1/10,  thì đó là một bài kiểm tra dở. Thời còn làm nghề thầy giáo, khi cho một bài kiểm tra, điều tôi nhắm đến là học trò đạt điểm 6/10, 7/10, 8/10, bởi vì mục đích của tôi là khuyến khích học trò nhưng đồng thời muốn biết các em yếu kém những mặt nào. Khi các em trả lời sai câu hỏi nào tôi sẽ biết để chú ý giảng kỹ hơn trong lớp học lần tới.

Trong cuộc đời cũng thế. Bạn được khích lệ để đạt được một số thành công. Có thành công bạn sẽ được thêm khích lệ, thêm phấn khởi. Nhưng những thất bại, lỗi lầm, cũng tốt, vì chúng chỉ cho bạn thấy mặt nào bạn còn yếu kém cần sửa đổi và làm cho tốt hơn, bạn sẽ có cơ hội để hiểu mình, hiểu đời hơn.

Nếu đạt được 6/10, 7/10, 8/10 thì đó là bài kiểm tra tối ưu trong đời và đại đa số con người là được như vậy. Hãy vui hưởng cuộc sống, nếu đôi khi gặp điều đau buồn hay thất vọng thì hãy xem như đó là một bài học thử thách, nên đón chào nó hơn là nhìn nó với cái nhìn tiêu cực. Đó là cách để học hỏi, trưởng thành, và khi cuộc sống chấm dứt thì cứ xem như đã học xong, hết phải làm bài kiểm. Có thể bạn chưa tốt nghiệp, bạn còn phải trở lại học năm sau, nhưng bạn cũng đã làm rất tốt rồi.

Thái độ tích cực đối với bản thân, thái độ sáng suốt trước những lỗi lầm và khổ đau của cuộc sống có nghĩa là bạn không tức giận, không nhìn chúng với cái nhìn tiêu cực. Do đó, vào giờ phút lâm chung, những thái độ tiêu cực không có mặt. Tâm thức bạn lúc đó sẽ bình yên và giai đoạn sau khi chết sẽ là một giai đoạn tốt lành. Bạn có thể tạo một cảnh giới thiên đàng cho bạn. Hay nếu muốn, bạn có thể trở lại làm người, sẽ tiếp tục học hỏi thêm, bởi vì nếu chỉ tu tập một đời thôi thì thường không đủ để thực sự phát triển từ tâm, sự hiểu biết, lòng bao dung tha thứ.

Vậy thì, hãy vui với bất cứ chuyện gì bạn phải làm trong cuộc sống. Đó cũng là thái độ bạn nên có lúc cuối đời. Rồi bạn sẽ được tái sanh tốt đẹp, thậm chí không còn tái sanh nữa nếu bạn có thể hoàn toàn buông xả.

Categories: Tài-liệu Tu-Học | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.