Daily Archives: August 22, 2016

Nhật Bản lên kế hoạch phong tỏa lực lượng Hải quân Trung Quốc

Nhật Bản lên kế hoạch phong tỏa lực lượng Hải quân Trung Quốc

VietTimes — Nhật Bản đang phát triển kế hoạch tác chiến dựa trên cơ sở học thuyết “chống thâm nhập – ngăn chặn tiếp cận” (A2 / AD), kế hoạch này được một cựu quan chức Nhật Bản mô tả như một khái niệm mới với nội dung “thống trị mặt biển và chiếm ưu thế trên không” nhằm chống lại nguy cơ bị tấn công từ Hải quân Trung Quốc.
Trịnh Thái Bằng – /Thứ Ba, ngày 9/8/2016 – 06:48
Tổ hợp tên lửa hành trình chống tàu Type-88 của Nhật BảnTổ hợp tên lửa hành trình chống tàu Type-88 của Nhật Bản

Reuters đã mô tả sơ bộ kế hoạch chiến lược có ý nghĩa lâu dài, nhưng tập trung vào một số tư duy chiến lược dựa theo tư tưởng của học thuyết “chống xâm nhập – ngăn chặn tiếp cận” (Anti-Access / Area-Denial A2 / AD) bao gồm:

Tokyo sẽ triển khai tuyến phòng thủ trên biển Hoa Đông bằng các khẩu đội tên lửa chống tàu, tên lửa phòng không trên 200 hòn đảo thuộc quần đảo Ryukyu và các đảo khác trải dài 1.400 km (870 dặm) từ mũi đất quốc gia đến sát hòn đảo cuối cùng cạnh Đài Loan.

Vị trí và khoảng cách các đảo thuộc quần đảo Ryukyu Nhật Bản, lấy trung tâm xung đột là quần đào Senkaky
Vùng nước tranh chấp Trung – Nhật, cũng là khu vực mà hải quân Trung Quốc sẽ triển khai lực lượng đột phá theo hướng ra Thái Bình Dương

Việc triển khai một lực lượng binh lực lớn như vậy hoàn toàn không cần thiết phải giữ bí mật. Kế hoạch triển khai lực lượng phòng thủ không – biển này sẽ ngăn chặn và kiềm chế Trung Quốc trong vùng vịnh của Tây Thái Bình Dương và hình thành lên thành học thuyết “chống xâm nhập, ngăn chặn tiếp cận” phiên bản Nhật Bản.

Kế hoạch này tương tự như thuật ngữ quân sự “A2 / AD”, khái quát hóa tư duy chiến lược tầm xa mà Trung Quốc đang sử dụng để đẩy Mỹ và đồng minh ra khỏi khu vực Biển Đông, Hoa Đông.

Tư tưởng chiến lược của kế hoạch khá đơn giản. Các chiến hạm Trung Quốc, xuất phát từ bờ biển phía đông đất nước này phải vượt qua hàng rào phòng ngự bằng tên lửa của Nhật Bản để tiếp cận vùng nước Tây Thái Bình Dương.

Đây là hệ thống cánh cửa mà qua đó, Bắc Kinh tiếp cận với tuyến đường vận tải thương mại trải dài trên các đại dương thế giới, trong đó đặc biệt quan trọng là vùng biển Bắc Băng Dương, đồng thời có thể triển khai sức mạnh hải quân trên Thái Bình Dương, đe dọa bờ biển của nước Mỹ.

Triển khai lực lương phòng thủ bờ biển trên các đảo thuộc quần đảo Ryukyu nhằm hiện thực hóa sự hiện diện sức mạnh quân sự Nhật Bản trên không gian rộng lớn của biển Hoa Đông, hàng rào lửa ngăn chặn này sẽ khiến Bắc Kinh cảm thấy thực sự khó khăn khi muốn mở rộng các hoạt động hải quân ra Thái Bình Dương.

Trong 5 năm tới, Nhật Bản sẽ tăng cường thêm lực lượng phòng vệ trên quần đảo Ryukyu thuộc biển Hoa Đông khoảng một phần năm quân số, tương đương với 10.000 quân nhân.

Lực lượng phòng thủ hải đảo, các khẩu đội tên lửa và trạm radar, sẽ được yểm trợ và chi viện từ các đơn vị lính thủy đánh bộ trên đất liền, tàu ngầm công nghệ tàng hình, máy bay tiêm kích F-35, xe thiết giáp đổ bộ lưỡng cư, những tàu khu trục đổ bộ trực thăng có thể trở thành tàu sân bay lớn cho các máy bay F-35 và Hạm đội 7 Mỹ có trụ sở tại Yokosuka, phía nam Tokyo.

Kế hoạch này trên thực tế đã từng là ý tưởng được thảo luận nhiều  trong cộng đồng các thành viên an ninh quốc gia Mỹ cho vài năm nay. Toshi Yoshihara, một nhà phân tích của National Interest, giáo sư tại Trường đại học Chiến tranh Hải quân Mỹ, cũng đã trình bày một ý tưởng tương tự như một phần học thuyết quân sự A2 / AD có quy mô lớn hơn tại Trung tâm An ninh Mỹ (CNA ) trong bản báo cáo năm 2014.

Tuyền ngăn chặn và hướng tấn công chính của lực lượng hải quân Trung Quốc nếu xảy ra xung đột,các mũi tên màu xanh chỉ hướng phong tỏa hoạt động PLA của Hải quân Mỹ

Vị thế địa lý của quần đảo Ryukyu có thể hỗ trợ các lực lượng chống xâm nhập của Nhật Bản. Ví dụ, các đơn vị tên lửa chống tàu và tên lửa phòng không cơ động đặt trên xe vận tải chuyên dụng phân tán trên các quần đảo sẽ dựng lên một rào cản đáng sợ.

Trong chiến tranh, những hoạt động tác chiến đánh chặn hiệu quả buộc cơ quan chỉ huy quân đội Trung Quốc phải tập trung binh lực nhằm vô hiệu hóa lực lượng ngăn chặn. Các hình thái chiến thuật này tương tự sẽ làm suy giảm đáng kể năng lực tác chiến tập trung của Trung Quốc.

Do đánh chiếm các đảo không có nhiều ý nghĩa chiến lược nhưng không thể không chọc thủng tuyến phòng ngự nếu muốn tiến ra Thái Bình Dương, nguy cơ tổn thất lớn sẽ khiến các nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể không quyết định leo thang căng thẳng dẫn đến xung đột.

Vị giáo sư cũng giải thích: Trung Quốc không dễ dàng tiêu diệt các khẩu đội tên lửa hành trình chống tàu được bố trí trên các đảo nhỏ.

Các hoạt động tác chiến nhằm phá hủy các tổ hợp tên lửa hành trình (ASCM) của Nhật Bản sẽ buộc PLA phải mở mặt trận có chiều rộng đến 600 dặm. Một chiến dịch của Trung Quốc nhằm chế áp và vô hiệu hóa các tổ hợp tên lửa cơ động ASCM Nhật Bản sẽ liên quan đến việc phải chia sẻ sức mạnh không quân, tấn công ồ ạt bằng tên lửa đạn đạo và tên lửa hành trình.

Do một tổ hợp tên lửa chống tàu có thể gây tổn thất cho nhiều chiến hạm, nhưng để tiêu diệt một tổ hợp tên lửa. PLA buộc phải tiêu hao vũ khí trang bị, máy bay chiến đấu và lực lượng phi công. Kết quả sẽ rất vô nghĩa, tương tự như lực lượng liên minh do Mỹ dẫn đầu đã tiến hành các hoạt động quân sự “vô ích” truy tìm và tiêu diệt các tổ hợp tên lửa Scud trong cuộc chiến tranh Iraq năm 1990-1991.

Tấn công bằng phương pháp đổ bộ đánh chiếm đảo là cách chắc chắn nhất để vô hiệu hóa các đơn vị phòng không và tên lửa chống tàu, nhưng cũng là cách có nhiều rủi ro nhất do Hải quân Nhật Bản và Mỹ có lực lượng tàu ngầm hiện đại hơn, có khả năng nhanh chóng dìm các tàu đổ bộ PLA xuống biển trước khi lực lượng bộ binh có thể triển khai tấn công đảo.

Những lợi ích chiến lược của Nhật Bản

Các tổ hợp tên lửa Type 88, Type 12 và các tổ hợp tên lửa cơ động khác có số lượng lớn, khả năng sống còn cao, giá thành thấp, khi triển khai trên các đảo sẽ buộc Trung Quốc, khi tấn công sẽ phải tiêu hao các loại vũ khí có giá trị cao, số lượng nhỏ vào các hòn đảo không có nhiều ý nghĩa chiến lược nhưng lại không có được một kết quả chắc chắn là đột phá được cửa khẩu vào Thái Bình Dương.

Việc triển khai lực lượng phòng thủ này có chi phí đầu tư không lớn, nhưng có thể buộc lực lượng không quân hải quân Trung Quốc dàn mỏng trên chiến trường, giúp cho Nhật Bản có không gian tác chiến rộng lớn và hiệu quả.

Ngoài những lợi thế chiến thuật đạt được, tư duy chiến lược này cũng có hiệu quả to lớn đối với Nhật Bản. Lựa chọn giải pháp tăng cường các khẩu đội tên lửa chống tàu và các đơn vị tên lửa phòng không trên quần đảo Ryukyu trong một thời gian ngắn là minh chứng cho quyết tâm của Nhật Bản bảo vệ vùng nước chủ quyền, tăng cường năng lực hành động của Tokyo để đối phó hiệu quả với các nguy cơ khủng hoảng.

Lực lượng đánh chặn Nhật Bản sẽ hạn chế đáng kể phạm vi tấn công của các đơn vị quân đội Trung Quốc lên lãnh thổ Nhật Bản. Hình thành một khu vực an ninh không – hải tầm xa dọc theo quần đảo Ryukyu làm suy giảm khả năng leo thang xung đột và phù hợp với chiến lược phòng thủ theo định hướng chính sách của Tokyo, củng cố vị thế ngoại giao Nhật Bản trên trường thế giới.

Kế hoạch đưa vào thực tế học thuyết 2A/AD phiên bản Nhật Bản nhằm tăng cường khả năng phòng thủ quần đảo và hạn chế khả năng tự do hành động của Hải quân Trung Quốc, hình thành hàng rào phòng thủ biển đảo và phòng không là một tư duy chiến lược thông minh, đáp ứng nhu cầu duy trì an ninh biển Hoa Đông trong tình hình mới.

Mặc dù vậy, Tokyo đang đối đầu với nguy cơ bị tấn công bằng tên lửa đạn đạo đa tầm và phải tìm kiếm các giải pháp nhằm đối phó với những thách thức cấp bách này. Các tổ hợp tên lửa đạn đạo của Trung Quốc càng ngày gia tăng về số lượng và hoàn thiện hơn về chất lượng.

Những đầu đạn tên lửa đạn đạo của Bắc Kinh có thể tấn công vào các căn cứ của Nhật Bản và đồng minh, gây thiệt hại đáng kể về binh lực và phương tiện chiến tranh. Giáo sư Yoshihara trong bản báo cáo của mình, có đưa ra một số các giải pháp nhằm giải quyết các vấn đề này, ví dụ như triển khai hệ thống các chiến hạm Aegis Nhật Bản và sử dụng hệ thống cơ sở dữ liệu data – link chiến thuật của Hải quân Mỹ.

Chính phủ nâng cấp hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo, sẵn sàng đối phó với những tình huống chiến tranh – xung đột vũ trang.

Tác giả Harry Kazianis – cựu biên tập viên của The National Interest, chuyên viên cao cấp thuộc Trung tâm chính sách quốc phòng của NI và Viện chính sách Trung Quốc.

TTB

Tin liên quan

Advertisements
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Biển Đông: Mỹ có thể sử dụng căn cứ ở Trường Sa, Đài Loan muốn vứt bỏ “đường lưỡi bò“

Biển Đông: Mỹ có thể sử dụng căn cứ ở Trường Sa, Đài Loan muốn vứt bỏ “đường lưỡi bò“

VietTimes — Bà Thái Anh Văn muốn được bảo đảm an ninh từ Mỹ nên phải tính toán làm sao phù hợp với chính sách Biển Đông của Mỹ. Đặc biệt, có thông tin nói bà Thái Anh Văn có thể mở rộng cửa cho Mỹ sử dụng căn cứ quân sự tại đảo Ba Bình, giúp Mỹ đẩy mạnh chiến lược “tái cân bằng châu Á” từ Biển Đông.
Đoàn Thanh (biên dịch) – /Thứ Hai, ngày 22/8/2016 – 11:00
Đảo Ba Bình do Đài Loan chiếm đóng trái phép ở Biển ĐôngĐảo Ba Bình do Đài Loan chiếm đóng trái phép ở Biển Đông

Bà Thái Anh Văn lên cầm quyền Đài Loan đã gần ba tháng (từ 20/5), công việc quan trọng nhất mà bà phải xử lý là quan hệ giữa hai bờ và vấn đề Biển Đông. Sau phán quyết của Tòa Trọng tài Quốc tế The Hague về chủ quyền Biển Đông, nhà lãnh đạo Đài Loan này từng lên tiếng “không thừa nhận phán quyết của Tòa Trọng tài”. Liệu tuyên bố này có đồng nghĩa bà Thái Anh Văn sẽ theo quan điểm hoang tưởng của Trung Quốc đại lục về Biển Đông hay không?

Ngày 12/7, Tòa Trọng tài Thường trực Quốc tế The Hague chính thức công bố kết quả việc Philippines kiện Trung Quốc về vấn đề chủ quyền Biển Đông bác bỏ hoàn toàn yêu sách hoang tưởng của Trung Quốc, đến ngày 19/7 thì Đài Loan đưa ra 5 quan điểm về vấn đề Biển Đông, nhưng ngày 21/7 bà Thái Anh Văn lần đầu có tuyên bố kể từ khi lên nhậm chức rằng không thừa nhận “Nhận thức chung 1992”. Như vậy, nếu theo đuổi con đường “Đài Loan độc lập” thì chính sách về Biển Đông của Đài Loan như thế nào?

Mới đây, hai chuyên gia Trần Tương Sao và Trương Thư thuộc Viện Nghiên cứu Biển Đông của Trung Quốc đã có bài phân tích đăng trên tờ “Liên hợp tảo báo” của Singapore, theo đó cho rằng bà Thái Anh Văn sẽ theo đuổi chính sách “thoát Trung” trong vấn đề Biển Đông.

Vứt bỏ “đường chín đoạn”, độc lập với Trung Quốc

Hai tác giả nhận định, chính sách Biển Đông của đảng Dân tiến trong lịch sử là từng bước giảm bớt căng thẳng vấn đề chủ quyền ở Biển Đông, tiến đến tách khỏi chủ trương về Biển Đông của Trung Quốc đại lục, dùng chủ trương độc lập trong vấn đề chính sách Biển Đông để hỗ trợ cho con đường Đài Loan độc lập. Đảng Dân tiến lần đầu lên cầm quyền Đài Loan vào năm 2000, khi đó ông Trần Thủy Biển đã tiếp tục kế thừa chính sách Biển Đông của ông Lý Đăng Huy.

Chính sách trong vấn đề Biển Đông của ông Trần Thủy Biển quy về ba điểm: Một là từ bỏ hoàn toàn chủ trương “đường chín đoạn” trong vấn đề Biển Đông của Quốc dân đảng. Sau khi kế thừa tinh thần của ông Lý Đăng Huy dùng cảnh sát tuần tra biển thay cho quân đội trấn giữ đảo (đồn trú trái phép) ở Biển Đông. Đến năm 2003 thì ông Trần Thủy Biển từ bỏ “Cương lĩnh chính sách Biển Đông” ban hành năm 1993, đã lên tiếng công khai vứt bỏ “chủ trương “đường chín đoạn” trong vấn đề Biển Đông của Quốc dân đảng”.

Lính Đài Loan đồn trú trái phép trên đảo Ba Bình ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam
Lính Đài Loan đồn trú trái phép ở Ba Bình

Hai là đưa chủ trương Biển Đông của Đài Loan lùi lại đảo Đông Sa và Ba Bình (Đài Loan chiếm đóng trái phép). Đặc biệt, trong thực hiện chính sách cụ thể, chủ trương Biển Đông của chính quyền ông Trần Thủy Biển hạn chế ở đảo Đông Sa và Ba Bình, và cho rằng Hoàng Sa và Trung Sa (bãi ngầm Macclesfield) là “thủy vực nước ngoài”.

Ba là yêu cầu Trung Quốc đại lục thông qua con đường đàm phán song phương giải quyết tranh chấp Biển Đông, ông Trần Thủy Biển chủ trương “con đường pháp luật” giải quyết tranh chấp ở Biển Đông, không muốn theo chủ trương của Trung Quốc.

Bốn là nhấn mạnh Đài Loan cần có vai trò độc lập và bình đẳng tham gia đàm phán đa phương trong “Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông” và “Quy tắc hành động ở Biển Đông”.

Bà Thái Anh Văn muốn nhượng bộ, kết thân Đông Nam Á

Theo hai tác giả, chính sách của bà Thái Anh Văn trong vấn đề Biển Đông có thể quy về 5 điểm: một là không thừa nhận kết quả phán quyết của Tòa Trọng tài Quốc tế The Hague về Biển Đông; hai là Đài Loan muốn tham gia cơ chế giải quyết đa phương trong hòa bình; ba là chủ trương dựa vào “Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển”; bốn là chủ trương các bên liên quan có nghĩa vụ tôn trọng tự do hàng hải tại vùng Biển Đông; năm là công khai lên tiếng không chấp nhận nếu Trung Quốc thiết lập vùng nhận dạng phòng không tại Biển Đông, cho rằng hành động này sẽ làm cho tình hình khu vực căng thẳng leo thang.

Tổng kết lại hành động của bà Thái Anh Văn trong vấn đề Biển Đông cho thấy, tuy bà cho tàu chiến đi tuần tra Biển Đông để khẳng định vai trò quyền lợi, nhưng về chính sách tổng thể là “nhượng bộ”, thể hiện đặc điểm “rõ ràng” trong “mơ hồ” và “hư hư thực thực”.

Một mặt, bà Thái Anh Văn cố ý “mơ hồ” trong việc xử lý chủ trương đường chín đoạn tại Biển Đông thời Quốc dân đảng. So sánh với thái độ rõ ràng thời ông Mã Anh Cửu trong thì thái độ của bà Thái Anh Văn hư hư thực thực. Đồng thời, theo truyền thông Đài Loan đưa tin, bà Thái Anh Văn muốn né tránh nhắc đến chủ trương đường chín đoạn tại Biển Đông và vấn đề quyền lợi lịch sử, không  muốn Đài Loan bị cuốn vào quan điểm “đường chín đoạn” trong vấn đề Biển Đông.

Mặt khác, những động thái của bà Thái Anh Văn đối với vấn đề Biển Đông không khó để nhận thấy, đằng sau quan điểm “mơ hồ” ẩn chứa hàm ý Đài Loan độc lập rất rõ ràng. Một là bà Thái Anh Văn muốn theo “đường cũ” của thời ông Lý Đăng Huy và Trần Thủy Biển, muốn xử lý “khác biệt” với Trung Quốc đại lục

Nữ tổng thống Thái Anh Văn muốn thoát Trung về vấn đề Biển Đông và phát triển Đài Loan độc lập với Trung Quốc

trong vấn đề Biển Đông; đặc biệt trong vấn đề phán quyết của Tòa Trọng tài Quốc tế The Hague về Biển Đông, tuy bà Thái Anh Văn không thừa nhận phán quyết của trọng tài nhưng lại nhấn mạnh cần theo luật pháp quốc tế trong giải quyết tranh chấp.

Đồng thời, nhà lãnh đạo Đài Loan này cũng công khai lên tiếng không thừa nhận vùng nhận dạng phòng không nếu Trung Quốc thiết lập tại Biển Đông, lên án Trung Quốc làm gia tăng căng thẳng tại Biển Đông, muốn “phân rõ ranh giới” đối với Trung Quốc đại lục. Hai là chủ trương Đài Loan cần có địa vị “chủ quyền bình đẳng” trong tham gia đàm phán đa phương về vấn đề Biển Đông.

 Vai trò quyết định của Mỹ

Theo các tác giả, vào thời ông Mã Anh Cửu cầm quyền, chính sách Biển Đông của Đài Loan, đặc biệt phương diện hợp tác giữa hai bờ tại Biển Đông bị gặp cản trở lớn của đảng Dân tiến. Nhưng hiện chính sách về Biển Đông của Đài Loan hiện nay bị ảnh hưởng cả bên trong lẫn bên ngoài.

Về bên ngoài, vai trò của Mỹ tác động rất mạnh đối với Đài Loan. Mỹ không muốn hai bờ duy trì tính thống nhất trong chính sách này, đặc biệt về cái gọi là “đường chín đoạn”, Mỹ muốn chính quyền Đài Loan tách khỏi chủ trương “đường chín đoạn” tại Biển Đông của Trung Quốc đại lục. Vì thế, trong vấn đề “đường lưỡi bò” thì quan điểm của Mỹ và chính quyền bà Thái Anh Văn thống nhất với nhau.

Về bên trong, quan điểm Đài Loan độc lập của đảng Dân tiến đóng vai trò quan trọng trong điều chỉnh chính sách Biển Đông của Đài Loan. Bà Thái Anh Văn muốn được bảo đảm an ninh từ Mỹ và mở rộng ủng hộ của cộng đồng quốc tế nên phải tính toán làm sao phù hợp với chính sách Biển Đông của Mỹ. Đặc biệt, có thông tin cho rằng bà Thái Anh Văn có thể mở rộng cửa cho Mỹ sử dụng căn cứ quân sự tại đảo Ba Bình, giúp Mỹ đẩy mạnh chiến lược “tái cân bằng châu Á – Thái Bình Dương” từ Biển Đông. Ngoài ra, trong diễn thuyết ngày 20/5, bà Thái Anh Văn đã đặc biệt nhất mạnh Đài Loan cần đẩy mạnh “chính sách hướng nam mới”, từ “chính sách hướng nam mới” tăng cường quan hệ hợp tác với các nước Đông Nam Á.

Quan điểm của bà Thái Anh Văn trong vấn đề Biển Đông không đi ra khỏi bộ khung tổng thể chính sách của đảng Dân tiến. Đặc biệt, nữ tổng thống Đài Loan không thừa nhận “Nhận thức chung 1992” và “nguyên tắc một Trung Quốc”, vì thế con đường Đài Loan độc lập vẫn là hướng đi của bà, trong đó vấn đề Biển Đông sẽ tiếp tục trở thành yếu tố quan trọng hỗ trợ cho chính sách Đài Loan độc lập.

Hai tác giả kết luận, Đài Loan sẽ tiếp tục con đường “thoát Trung” trong vấn đề Biển Đông, sẽ áp dụng đối sách “mơ hồ” để tiến tới nhượng bộ, thỏa hiệp. Ngoài ra, nhà lãnh đạo Đài Loan sẽ sử dụng “chính sách hướng nam mới” để đẩy mạnh hợp tác mậu dịch với các nước Đông Nam Á, vì thế sẽ xúc tiến thỏa hiệp và nhượng bộ trong vấn đề Biển Đông.

Tin liên quan

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Làm gì để lấy lại lòng tin?

Làm gì để lấy lại lòng tin?

Posted by adminbasam on 20/08/2016

“Để có niềm tin từ dân chúng, hãy làm việc, những việc đàng hoàng, thực sự nghiêm túc, nghiêm minh, minh bạch, bằng luật pháp công bằng. Nếu không, mỗi lời nói ra, mà lại không thể làm được hoặc làm không ra gì, thì dần dà sẽ chỉ khiến người ta vơi cạn niềm tin và rồi chiếc lá Bồ Đề cuối cùng mang tính quyết định cũng sẽ rụng xuống. Không thể nào khác được”.
____

FB Luân Lê

NGÀN LỜI CUỐI

20-8-2016

Phim "Ngàn lời cuối" do Eddie Murphy thủ vai Jack McCall. Ảnh: internet

Phim “Ngàn lời cuối” do Eddie Murphy thủ vai Jack McCall. Ảnh: internet

Nếu ai đó đã xem bộ phim hài lãng mạn “A thousand Words” (tạm dịch: ngàn lời cuối) do nam tài tử da đen Eddie Murphy thủ vai với tên gọi Jack McCall trong phim. Đây là một tay bán hàng lém lỉnh và láu cá, nói quá nhiều và thường là không có giá trị.

Sau đó, anh ta đã gặp một tiến sỹ tâm linh tên Sinja và bỗng dưng bị gắn vào một lời nguyền, ở vườn sau nhà sẽ mọc lên một cây Bồ đề mà chỉ có 1.000 chiếc lá, và mỗi khi Jack McCall mở miệng một từ là một chiếc lá rụng xuống. Và chiếc lá cuối cùng lìa cành thì sinh mệnh anh ta cũng chấm dứt. Và vì thế, anh ta phải kiệm lời, hoặc phải im lặng cho đến suốt phần đời còn lại.

Anh ta đã không tin điều đó nên vẫn nói liên hồi những ngày đầu tiên. Và khi nhận ra lời nguyền đó đang hiện hữu, tất cả cuộc sống của anh ta bỗng đảo lộn, từ gia đình, công việc, quan hệ bạn bè, đồng nghiệp,… Kể từ khi ấy anh ta đều phải cân nhắc thật kỹ lưỡng trước khi thốt ra một từ nào đó.

Tuy nhiên, khi anh ta ít lời đi thì anh ta phải suy nghĩ nhiều hơn, tích cực hơn và từ đó lại làm được nhiều việc có ý nghĩa hơn cho những người xung quanh. A ta lo đến cái chết sẽ cận kề khi chỉ còn vài chòm lá nhỏ, vì vậy anh ta càng ngày càng sống có ý nghĩa, bắt tay vào làm việc chăm chỉ, tích cực và đàng hoàng hơn. Anh ta không nói như trước và cũng hầu như không ai cần nghe anh ta nói, mà chỉ nhìn anh ta làm.

Và rồi, trước khi chiếc lá cuối cùng rụng xuống, anh ta đã làm được việc mà trước kia anh ta luôn cứ hứa lèo và khất lần mãi với người vợ mà chưa làm được, đó là mua một ngôi nhà mới thực sự khang trang, đẹp đẽ, và anh ta cùng người đàn bà đó đã hàn gắn được hạnh phúc đang trên bờ vực thẳm mà chăm sóc những đứa con của mình một cách chu đáo và hết mực.

Vì vậy, để có niềm tin từ dân chúng, hãy làm việc, những việc đàng hoàng, thực sự nghiêm túc, nghiêm minh, minh bạch, bằng luật pháp công bằng. Nếu không, mỗi lời nói ra, mà lại không thể làm được hoặc làm không ra gì, thì dần dà sẽ chỉ khiến người ta vơi cạn niềm tin và rồi chiếc lá Bồ Đề cuối cùng mang tính quyết định cũng sẽ rụng xuống.

Không thể nào khác được.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Blog at WordPress.com.