Daily Archives: August 25, 2016

Biển Đông: Đối thủ có thể “nghiền nát” đảo TQ bằng tên lửa hoặc không kích

Biển Đông: Đối thủ có thể “nghiền nát” đảo TQ bằng tên lửa hoặc không kích

Những căn cứ  trên đảo nhân tạo Trung Quốc xây dựng phi pháp không tự phòng thủ được. Chúng không có nguồn lực để tự duy trì cuộc sống bền vững, cũng không có địa thế phòng thủ tự nhiên. Đối phương có thể nghiền nát những đảo nhân tạo Trung Quốc bằng đòn tấn công tên lửa và không kích hoặc phong tỏa, chuyên gia Mỹ James Holmes nhận định.

Mỹ đã lần đầu tiên điều cả 3 loại máy bay ném bom chiến lược B-2 Spirit, B-1 và B-52 tới Guam canh chừng Biển Đông

Tại sao Trung Quốc lại cải tạo các bãi đá và rạn san hô trên Biển Đông? Theo chiến lược gia Mỹ James Holmes, Trung Quốc luôn khao khát kiểm soát toàn bộ Biển Đông. Nước này đã vẽ phứa ra cái gọi là “đường chín đoạn” trên bản đồ bao trọn phần lớn Biển Đông, gồm cả vùng nước thuộc về các nước láng giềng theo luật pháp quốc tế. Và Bắc Kinh đã ngang nhiên tuyên bố “chủ quyền không thể tranh cãi” trong đường chín đoạn, có nghĩa là sự kiểm soát thực tế (phi pháp) toàn bộ khu vực này trong ranh giới “đường lưỡi bò” trước tất cả các nước còn lại.

Trung Quốc triển khai tàu thuyền và máy bay gần những điểm căng thẳng nơi quân đội nước ngoài có thể tranh giành những gì mà Bắc Kinh gọi là “không thể chối cãi” theo quan điểm sai trái của họ. Bồi lấp và xây dựng đảo nhân tạo phi pháp có thể cung cấp các tiền đồn nhằm kiểm soát vùng biển và vùng trời mà Trung Quốc yêu sách chủ quyền một cách ngang ngược. Tư lệnh Thái Bình Dương Mỹ ước tính các kỹ sư Trung Quốc đã cải tạo được 600 ha đất chỉ trong vòng hơn một năm. Cơ sở hạ tầng như sân bay, các kho hậu cần bắt đầu hoạt động trong năm 2015, giúp Trung Quốc triển khai sự hiện diện thường trực trên biển Đông Nam Á.

Hải cảnh, hải quân và lực lượng không quân Trung Quốc có thể xuất hiện trong khu vực được trang bị lực lượng vượt trội và đóng quân tại đây. Vậy nên chủ quyền trên các vùng không gian địa lý đang được Bắc Kinh dần củng cố một cách nguy hiểm. Trung Quốc áp dụng luật pháp của riêng nước này, bất chấp luật pháp quốc tế. Nếu Trung Quốc tiến hành những hành động chấp pháp trên Biển Đông và triển khai đủ lực lượng để thực thi, điều đó sẽ làm thay đổi trật tự khu vực. James Holmes cảnh báo.

Tồi tệ hơn, chính sách của Trung Quốc chống lại các nước Đông Nam Á, ghen tị vì lợi ích và đặc quyền ngoài khơi của họ. Các quốc gia ven biển có thể tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) trải dài 200 hải lý từ đường cơ sở. Với vùng đặc quyền kinh tế này, các nước sẽ được hưởng độc quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên (gồm cá,  dầu khí,vv…) từ vùng biển hoặc đáy biển nằm trong vùng đặc quyền kinh tế.

Theo chuyên gia Holmes, khẳng định quyền tài phán trên vùng thềm lục địa của các quốc gia ven biển khác chẳng khác gì tranh giành tài nguyên thiên nhiên. Điều này tạo ra một tiền lệ nguy hiểm. Nếu Trung Quốc có thể coi thường luật biển vì nước này muốn thế và nếu không nước nào ngăn chặn Trung Quốc thì điều gì sẽ ngăn chặn các cường quốc trong tương lai không cướp biển và tài nguyên của những nước láng giềng yếu hơn?

Hành động của Trung Quốc cũng khiến nước này đi ngược lại với tất cả các quốc gia đi lại trên biển khác, đặt tự do hàng hải trên thế giới vào tình trạng nguy hiểm. Không có chủ quyền đối với biển. Luật biển chỉ định vùng biển và không phận cách đường cơ sở ngoài 12 hải lý là khu vực chung. Tự do hàng hải được thực thi tại đây. Bất kỳ hải quân, cảnh sát biển, tàu buôn hay công ty vận tải nào  cũng có thể sử dụng khu vực chung này cho giao thương hoặc mục đích quân sự.

Chuyên gia Holmes khẳng định, không quốc gia nào có thể hạn chế quyền đi lại tự do trong khu vực chung, cho dù Trung Quốc đang cố làm như vậy trong phạm vi cái gọi là “đường chín đoạn”. Thực thi quyền tài phán trên một khu vực chung rộng lớn làm vô hiệu hóa quyền tự do hàng hải trong phạm vi rộng. Và lại một lần nữa, nó tạo nên một tiền lệ xấu. Nếu Trung Quốc làm được như vậy ở Biển Đông, không có lí do gì mà Nga không làm vậy ở Biển Đen, biển Baltic hay thậm chí là Bắc Băng Dương.

Cận cảnh một phần Đá Vành Khăn đã bị Trung Quốc bồi lấp, xây đảo nhân tạo trái phép

Người ta thường nghe nói về những tranh chấp hàng hải châu Á đối với những bãi đá không người sinh sống ít giá trị, không đáng để mở rộng nguồn lực hoặc gặp nguy cơ rủi ro để bảo vệ. Các lãnh đạo Mỹ và châu Á phải tự hỏi mình: Liệu họ đã chuẩn bị để xóa sổ luật tự do trên biển – nguyên tắc nền tảng cho trật tự tự do hàng hải tạo nên sự thịnh vượng toàn cầu –  vì lợi ích hữu nghị với Bắc Kinh hay chưa?

Nếu câu trả lời là rồi thì một thế giới ảm đạm, nơi sức mạnh tạo ra luật lệ, đang chờ đón. Robert Haddick mượn lời nhà kinh tế, chiến lược gia Thomas Schelling, ví chiến lược của Trung Quốc trên Biển Đông giống như “cắt lát salami”. Đó là chiến thuật Trung Quốc chiếm dần từng chút một, không cho đối thủ động lực để phản ứng đáp trả mạnh mẽ, sau đó lại chiếm thêm một ít và cuối cùng sẽ nuốt trọn miếng salami.

Nếu miếng salami là nguyên tắc quan trọng cơ bản, giống như tự do hàng hải, thì những chủ nhân của nó có thể cho phép kẻ săn mồi hưởng bao nhiêu trước khi nguyên tắc biến mất? Câu hỏi đó đang đặt ra thách thức đối với Mỹ, nước đã duy trì trật tự trên biển từ năm 1945 và muốn tiếp tục duy trì vô thời hạn.

Hiện nay, Trung Quốc sẽ làm gì với các vị trí cố thủ trên đảo nhân tạo xây trái phép của mình? Vài năm gần đây, James Holmes đã đưa ra khái niệm “ngoại giao cây gậy nhỏ”, một phần của chính sách “cây gậy lớn” của cố tổng thống Mỹ Theodore Roosevelt. Ý nghĩa của nó là nếu Trung Quốc muốn khẳng định quyền tài phán trên Biển Đông, nước này sẽ cư xử như là quốc gia có chủ quyền ở đây, tự đặt ra luật lệ cho vùng lãnh thổ mà mình yêu sách một cách ngang ngược, bất chấp luật pháp quốc tế. Nước này tự ứng xử trên thực tế như vậy hơn là thừa nhận có tranh chấp. Và quả thực, đó là điều mà Trung Quốc đã làm trong những năm gần đây.

Điều đó có nghĩa là các công cụ thực thi pháp luật, cơ bản là lực lượng hải cảnh Trung Quốc, là công cụ được Bắc Kinh chọn lựa. Phần lớn hải quân các nước Đông Nam Á quá yếu để đương đầu với thậm chí chỉ là tàu hải cảnh Trung Quốc. Soái hạm của Hải quân Philippines thực chất là một tàu tuần duyên cũ đóng từ kỷ nguyên 1960, do lực lượng bảo vệ bờ biển Mỹ chuyển giao. Nhưng Trung Quốc vẫn thủ sẵn cây gậy lớn là sức mạnh quân sự dự trữ và lực lượng quân sự vượt trội so với bất kỳ đối thủ nào ở Đông Nam Á.

Theo ông Holmes, kết quả cuối cùng là việc xây đảo nhân tạo trái phép của Trung Quốc ở Biển Đông có khả năng cung cấp hỗ trợ hoặc trực tiếp đón nhận các đơn vị hải cảnh cũng như các chiến hạm và máy bay quân sự. Nếu vậy, tàu thuyền và máy bay tuần tra trên vùng biển và vùng trời mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền – sẽ là viên cảnh sát bước đi với cây gậy tuần. Binh lính hoặc thủy thủ chỉ triển khai các khẩu đội hạng nặng như phương sách cuối cùng để bảo toàn trật tự khu vực.

Sự sắp xếp đó cũng giống như việc thực thi pháp luật trong nước. Cảnh sát giải quyết những vụ vi phạm pháp luật trong khi lực lượng quân đội hỗ trợ nếu hoàn cảnh vượt ngoài tầm kiểm soát. Hãy nghĩ đến Cảnh vệ quốc gia Mỹ triển khai tới New Orleans sau khi cơn bão Katrina phá hoại khu vực và khiến các nhà chức trách địa phương bất lực. Khi cây gậy nhỏ thất bại thì hãy sử dụng cây gậy lớn. Nói cách khác nếu lực lượng hải cảnh không kiểm soát được thì quân đội sẽ vào cuộc.

Người ta chỉ ra rằng những căn cứ trên đảo nhân tạo phi pháp do Trung Quốc bồi lấp, xây dựng trái phép ở Biển Đông không tự phòng thủ được và vì thế nó không có nhiều giá trị. Và điều đó là sự thật. Những hòn đảo nhỏ rải rác khắp Biển Đông, và chúng không hề có nguồn lực để tự duy trì cuộc sống bền vững tại đây, cũng không có địa thế phòng thủ tự nhiên. Kẻ địch trên biển có thể nghiền nát những hòn đảo nhân tạo của Trung Quốc bằng đòn tấn công tên lửa và không kích hoặc phong tỏa chúng bằng cách ngăn không cho tiếp tế từ bên ngoài. Và chúng sẽ như chùm nho khô héo trên cây.

Nhưng xem xét tình hình trong bối cảnh chính trị và chiến lược lại cho chúng ta một câu chuyện khác. Một mối đe dọa là sản phẩm của khả năng và dự định. Nếu các nhân tố này đều bằng không thì sẽ không tồn tại mối đe dọa. Rõ ràng khả năng của các chiến hạm Mỹ có thể đánh bại hoàn toàn các tiền đồn của Trung Quốc trên Biển Đông. Và một vài lực lượng khác ở châu Á cũng có thể làm như vậy.

Tuy nhiên, ai dám tấn công một căn cứ thuộc về một cường quốc sở hữu vũ khí hạt nhân và đang cố kiểm soát những khu vực mà nước này coi là “lãnh thổ hợp pháp” và đã triển khai các lực lượng tới bảo vệ các căn cứ đó? Điều này đặt ra một cục diện phức tạp. Về mặt quân sự, những tiền đồn phòng thủ nhỏ lẻ sẽ rất dễ bị tổn thương. Song cho dù không phải là một cuộc chiến tranh mở, cũng không chắc là ai sẽ nỗ lực và đánh liều gây hấn với hạm đội tàu vỏ trắng của Trung Quốc.

Chuyên gia Holmes kết luận, thăm dò bản chất của các bên cạnh tranh và cố gắng dự đoán đối thủ có thể làm thất bại nỗ lực của chúng ta như thế nào sẽ hình thành những tính toán chiến lược. Mỹ phải nhận thức sâu sắc mọi mối đe dọa ở Đông Nam Á và quyết định xem mức giá phải trả ra sao đối với tự do hàng hải trên biển, mối quan hệ của Mỹ với các nước đồng minh trong khu vực cũng như phân bổ nguồn lực để duy trì lợi ích và mục đích của mình. Sau đó, Mỹ có thể tạo ra chiến lược răn đe của riêng mình.

Advertisements
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Cái chết rình rập trên từng mâm cơm gia đình Việt Nam

. Cái chết rình rập trên từng mâm cơm gia đình Việt Nam

Posted by adminbasam on 25/08/2016

Người Việt

24-8-2016

Bình nhớt thải dùng tưới rau muống ở huyện Củ Chi, Sài Gòn. (Hình: VnExpress)

Bình nhớt thải dùng tưới rau muống ở huyện Củ Chi, Sài Gòn. Hình: VnExpress

HÀ NỘI (NV) – Các loại thực phẩm tại Việt Nam từ thịt cá đến rau đậu, trái cây, cà phê, đều có những hóa chất độc hại gây ung thư và các loại bệnh nguy hiểm khác.

“Cái chết đang rình rập trên từng mâm cơm gia đình, thậm chí ngay trong từng bữa ăn của trẻ nhỏ,” Ông Hoàng Đình Chân, giám đốc bệnh viện ung bướu Hưng Việt phát biểu tại buổi Diễn Đàn “Đón sóng thực phẩm sạch” diễn ra sáng 23 tháng 8 năm 2016 và được tường thuật trên tờ Dân Trí.

Người ta từng thấy có những lời kêu ca trên mặt báo trong nước là người Việt Nam đang tự đầu độc chính mình. Tuy lời kêu gào khẩn thiết này dù đã được lập lại nhiều lần, vẫn có vẻ như ném đá ao bèo. Nhà cầm quyền với đủ mọi bộ ngành ban bệ xuống tận từng ngõ ngách của xã hội nhưng lại tỏ ra bất lực.

Tại diễn đàn nói trên, ông Hoàng Đình Chân cho biết, “Đối với ngành thực phẩm, chúng ta thấy có 40/120 mẫu rau chứa tồn dư thuốc bảo vệ thực vật vượt mức cho phép; 455/ 735 mẫu thịt gia súc, gia cầm không an toàn cho người sử dụng.”

Ông Chân cũng dẫn báo cáo của Cục Bảo vệ Thực vật, “Hơn 2,000/11,000 cơ sở sản xuất và buôn bán thuốc kém chất lượng; hơn 2,500/11,000 cơ sở sản xuất và buôn bán vi phạm quy trình chuẩn sử dụng thuốc bảo vệ thực vật,” nguồn tin trên kể lại.

“Việc tham gia vào quản lý, sử dụng các sản phẩm sạch sẽ rất quan trọng vì điều đó quyết định tới sức khỏe, nòi giống, tương lai của chúng ta. Bởi chỉ chưa tới 30% mắc ung thư là do kém may mắn còn lại là tỉ lệ người mắc ung thư do sử dụng thực phẩm bẩn chiếm khoảng 35%, kế đến là hút thuốc lá 30%. Trước chỉ thấy ở người già, trên 45 tuổi mắc ung thư, giờ trẻ hóa, như vậy không còn là yếu tố về tuổi tác nữa, nó liên quan rất nhiều tới yếu tố môi trường.” Lời ông Chân được báo trên dẫn lại.

Dịp này, đại diện phía doanh nghiệp, bà Thái Hương – chủ tịch Tập Đoàn TH nhấn mạnh, minh bạch là nguồn gốc của mọi vấn đề trong xã hội và là cội nguồn của bất kỳ nhà sản xuất nào.

Dẫn số liệu của Bộ Y Tế, bà Thái Hương cho biết, mỗi năm Việt Nam có hơn 75,000 người chết vì ung thư, nghĩa là trung bình một ngày có 250 người chết. Bộ Y Tế cũng thống kê, chỉ với 6 loại ung thư phổ biến: ung thứ vú, ung thư gan, ung thư đại tràng, ung thư khoang miệng, ung thư dạ dày, tổng chi phí trực và gián tiếp đã lên tới gần 26,000 tỷ đồng, chiếm 0.22% GDP của Việt Nam (năm 2012).

Đầu tháng 5, 2016 vừa qua, ông thủ tướng mới Nguyễn Xuân Phúc chỉ thị “ngay trong năm 2016 phải tạo chuyển biến rõ nét trong quản lý nhập khẩu, sản xuất, sử dụng các hóa chất bảo vệ thực vật, thuốc thú y và xử lý dứt điểm việc sử dụng salbutamol, vàng ô, kháng sinh trong sản xuất, chế biến thực phẩm. Người đứng đầu bộ ngành, địa phương phải chịu trách nhiệm về vấn đề này.”

Nếu có “chuyển biến rõ nét,” các báo tại Việt Nam đã được lệnh đồng ca rầm rộ về các thành tựu đã đạt được và không có lời kêu gào ai oán “Cái chết đang rình rập trên từng mâm cơm gia đình.”

Ngày 12 tháng 7, 2016 vừa qua, Hội Tiêu Chuẩn và Bảo Vệ Người Tiêu Dùng Việt Nam vừa công bố bảng báo cáo khảo sát cà phê trên thị trường một số tỉnh và thành phố trong thời gian qua. Sau 3 đợt khảo sát từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2016, trên các mẫu cà phê bột và cà phê nước tại Hà Nội, Sài Gòn, Bình Dương, Sóc Trăng và Lâm Đồng, kết quả cho thấy “tổng cộng có tới 9 mẫu cà phê hoàn toàn không phát hiện hàm lượng caffeine.”

Chúng chỉ là bột bắp, bột đậu nành rang cháy pha thêm hương liệu hóa chất độc hại để đánh lừa vị giác của khách hàng.

Hồi giữa tháng 11 năm ngoái, một đại biểu quốc hội sau khi nghe ông Bộ Trưởng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Cao Đức Phát điều trần đã kêu rằng “Có thể nói con đường từ dạ dày đến nghĩa địa của mỗi người chúng ta chưa bao giờ lại trở nên ngắn và dễ dàng đến thế!”

Ông Cao Đức Phát báo cáo rằng tình trạng lạm dụng thuốc trừ sâu, sử dụng chất cấm trong chăn nuôi không những không giảm mà còn có chiều hướng gia tăng về số lượng và mức độ nguy hiểm,

Năm ngoái, nhiều báo đã có những bản tin, ký sự khá dài về tình trạng sử dụng các loại chất cấm trong chăn nuôi, đặc biệt là “thuốc tạo nạc” giúp cho thị heo nhiều nạc ít mỡ đế bán được nhiều tiền hơn dù người ta biết đây là chất bị cấm, độc hại cho con người vì dẫn đến các chứng bệnh nguy hiểm, đặc biệt là ung thư.

Nông dân trồng rau đậu hoa quả sử dụng những loại thuốc bảo vệ thực vật rất độc, trái cây ngâm trong các thùng hóa chất, kể cả thuốc trừ sâu. Người bán thịt ở chợ dùng một ít bột hóa chất “không rõ nguồn gốc” biến thịt ôi thiu thành thịt “xịn,” biến thịt heo sề thành thịt bò “xịn” để lừa người tiêu thụ. Những tin loại này không hiếm trên báo chí tại Việt Nam. (TN)

Categories: Uncategorized | Leave a comment

Trung Quốc ngày càng tự kiêu, mục tiêu hạ bệ hàng đầu là Mỹ

Trung Quốc ngày càng tự kiêu, mục tiêu hạ bệ hàng đầu là Mỹ

VietTimes — Quan hệ Trung – Mỹ hiện nay đang trong trạng thái nguy hiểm, đe dọa hòa bình thế giới, đặc biệt trong bối cảnh Trung Quốc bành trướng muốn độc chiếm hơn 80% diện tích Biển Đông… Giới nghiên cứu chỉ ra, bối cảnh quan hệ Trung – Mỹ hiện nay rất giống bối cảnh quan hệ Nhật – Mỹ sau thời Nhật Bản trỗi dậy từ Minh Trị Duy tân (1868).
Đoàn Thanh – /Thứ Năm, ngày 25/8/2016 – 09:06
Chiến đấu cơ xuất kích từ tàu sân bay MỹChiến đấu cơ xuất kích từ tàu sân bay Mỹ

Với tham vọng trở thành bá chủ thế giới, phát xít Nhật từng bất ngờ tấn công quân Mỹ tại Trân Châu Cảng, trở thành bước ngoặt của Thế chiến thứ Hai khi người Mỹ thay đổi hoàn toàn chính sách đối ngoại…

Theo phân tích của học giả Đinh Đương (Đại học Truyền thông Bắc Kinh) trên trang thông tin Đa Chiều, sau khi Trung Quốc thực hiện cải cách mở cửa, với khát vọng trỗi dậy của Trung Quốc, quan hệ căng thẳng Trung – Mỹ đã nhiều lần xảy ra, nhưng khi đó vị thế Trung Quốc còn yếu nên tình hình không thể phát triển đến mức nghiêm trọng như hiện nay. Mối quan hệ Trung – Mỹ luôn được giới truyền thông quan tâm đặc biệt, nhưng nổi bật vẫn là giới học thuật Trung Quốc, theo đó hàng loạt những tác phẩm bàn về chiến tranh Trung – Mỹ đã được xuất bản.

Năm 1997, hai ký giả nổi tiếng của Mỹ (Richard Bernstein và Ross H.Munro) đã nhận định trong cuốn “Chiến tranh Trung – Mỹ đang đến gần” (The coming conflict with China). Cuốn sách nhìn từ góc độ xung đột kinh tế, chính trị… toàn cầu cho rằng cuộc chiến tranh Trung – Mỹ là khó tránh khỏi. Khi đó, với cao trào chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc, học giới Trung Quốc cũng xuất bản nhiều sách phân tích ý đồ của Mỹ và thái độ cứng rắn của Trung Quốc, theo đó Trung Quốc chủ trương con đường sức mạnh vũ trang, tiêu biểu như các cuốn “Bối cảnh yêu ma hóa Trung Quốc”(của Lý Hy Quang và Lưu Khang), “Trung Quốc có thể không nói ra” (của Tống Cường và Kiều Biên),“Con đường Trung Quốc dưới bóng mát toàn cầu hóa” (Phòng Ninh, Vương Tiểu Đông và Tống Cường)…

Dù quan hệ Trung – Mỹ từng xảy ra nhiều vấn đề căng thẳng trực diện (năm 1999 Mỹ đánh trúng Đại sứ quán Trung Quốc trú tại Nam Tư khiến Trung Quốc bùng lên phong trào chống Mỹ; năm 2000 máy bay trinh sát của Mỹ va chạm với máy bay Trung Quốc trên đảo Hải Nam làm Trung Quốc bị thương vong, và trào lưu chống Mỹ lại trỗi dậy)…, nhưng cuối cùng đều hòa giải thành công. Quan hệ Trung – Mỹ dần ổn định: về kinh tế, Trung Quốc được Mỹ ủng hộ gia nhập WTO; về chiến lược, Mỹ chủ trương thân thiện, không có ý làm khó dễ Trung Quốc; còn Trung Quốc cũng chủ trương trỗi dậy trong hòa bình. Trong bối cảnh này, ván cờ cạnh tranh Trung – Mỹ không leo thang, không thấy có dấu hiệu xảy ra chiến tranh.

Mỹ có kế hoạch duy trì thường xuyên hai cụm tác chiến tàu sân bay ở châu Á do tình hình phức tạp ở Biển Đông

Nhưng qua hơn 10 năm, tình hình Trung Quốc và Mỹ trên trường quốc tế hiện nay đã thay đổi nhiều, dù hai nước không tiếp diễn những xung đột trực tiếp như trước, nhưng những người chủ nghĩa dân tộc cực đoan Trung Quốc vẫn cho rằng trong hàng loạt vấn đề quốc tế (đảo Điếu Ngư, Đài Loan, Biển Đông…) tác động đến Trung Quốc luôn có bóng dáng Mỹ. Còn với Mỹ, trong vai trò bá chủ thế giới có địa bàn lợi ích bao trùm khắp nơi, Mỹ khó tránh khỏi va chạm với Trung Quốc trong nhiều vấn đề quốc tế.

Với Trung Quốc, nhiều vấn đề đối ngoại quan trọng cũng luôn liên quan đến Mỹ. Đi theo nền kinh tế Trung Quốc lớn mạnh vươn lên đứng thứ hai thế giới, khuynh hướng cứng rắn của giới lãnh đạo mới và tình trạng bùng nổ chủ nghĩa dân tộc cực đoan, người Trung Quốc ngày càng tự kiêu, trong xu thế này, mục tiêu hàng đầu mà Trung Quốc muốn nhắm vào, hạ bệ chính là Mỹ.

Theo phân tích của học giả Đinh Đương và giới sử học nói chung, bối cảnh quan hệ Trung – Mỹ kể từ sau khi Trung Quốc cải cách mở cửa (từ 1978) rất giống bối cảnh quan hệ Nhật – Mỹ kể từ sau Minh Trị duy tân (1868).

Với Nhật Bản: Năm 1895 Nhật toàn thắng Trung Quốc, vươn lên làm bá đã bùng nổ. Nhưng Nhật gặp đối thủ lớn nhất khi đó là Mỹ. Trước Thế chiến Hai, hoạt động trao đổi thương mại giữa Nhật và Mỹ đã xảy ra nhiều va chạm cạnh tranh, bên cạnh đàm phán thì Nhật Bản cũng đồng thời đẩy mạnh trang bị quân sự, cuối cùng quyết định dùng chiến tranh để giải quyết với trận Trân Châu Cảng mở đầu.

Với Trung Quốc hiện nay: Tổng sản lượng của nền kinh tế Trung Quốc hiện đã vượt các cường quốc châu Âu, chiếm luôn vị trí thứ hai của Nhật, và hiện đang muốn vươn lên đứng đầu thế giới. Nghiên cứu sử học mới chỉ ra, bối cảnh Nhật Bản tăng cường chạy đua vũ trang chuẩn bị cho chiến tranh với Mỹ trong quá khứ khá tương đồng bối cảnh chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc hiện nay, cả hai cùng lấy danh nghĩa yêu nước, chỉ khác nhau về khẩu hiệu.

Đế quốc Nhật ngụy biện là “Đại Đông Á cùng thịnh vượng”, còn Trung Quốc hiện nay là luôn tuyên truyền về cái gọi là “phục hưng dân tộc Trung Hoa vĩ đại”, theo ngôn từ dùng của chính quyền là “trỗi dậy hòa bình”, nhưng thực tế tâm thức của người dân là ý định phục thù. Thực hiện khẩu hiệu này, Trung Quốc cần có những tiêu chí làm nền tảng, trong đó hai tiêu chí quan trọng nhất là thống nhất với Đài Loan và bành trướng tại Biển Đông đều đang gặp trở ngại lớn từ phía Mỹ.

Cận cảnh Đá Subi bị Trung Quốc bồi lấp, xây đảo nhân tạo trái phép với đường băng và các công trình quân sự ở quần đảo Trường Sa

Theo phân tích của học giả Đinh Đương, bối cảnh Nhật Bản trước đây và Trung Quốc hiện nay không chỉ giống về đối ngoại mà còn giống trong chính trị quốc nội. Cải cách mở cửa ở Trung Quốc rất giống Minh Trị Duy tân ở Nhật Bản: chỉ thay đổi theo cách đi học kỹ thuật tân tiến của đối phương sau đó dùng chính những kỹ thuật này đe dọa đối phương, không thay đổi gì về quốc thể và chính thể. Vấn đề tập trung quyền lực của Trung Quốc hiện cũng tương tự như Nhật Bản trước đây.

Theo giới học giả phân tích, con đường này nhất thời có thể phát huy hiệu quả cao trong thống nhất ý chí từ trên xuống dưới, qua đó dùng chiến tranh bên ngoài để xoa dịu những bất ổn kinh tế và mâu thuẫn trong nước. Trong bài học của Đức và Nhật trước đây, bộ máy tập quyền thường điên cuồng và không thể dừng lại cho đến lúc bị diệt vong.

Trái với quan điểm của nhiều người cho rằng không có khả năng xảy ra cuộc chiến tranh Trung – Mỹ, vì đời sống người dân Trung Quốc hiện nay khấm khá, Trung Quốc lại có nhiều “con tin” đang sống ở Mỹ. Tác giả Đinh Đương cho rằng quan điểm này khó đứng vững, vì nhìn lại quá khứ của Nhật Bản trước đây, số “con tin” của Nhật sống ở Mỹ cũng tương tự, cuối cùng đều bị Mỹ nhốt vào trại tập trung, và chiến tranh vẫn nổ ra. Với Trung Quốc hiện nay, vấn đề kiểm soát khát vọng tập quyền dâng cao là vô cùng khó khăn.

Nhưng vấn đề đáng quan tâm, theo Đinh Đương, chiến tranh sẽ dẫn đến cách mạng: tiêu biểu như Công xã Paris hình thành do chiến tranh Pháp – Phổ, Cách mạng tháng Mười do Thế chiến thứ Nhất, hay nội chiến và chuyển giao quyền lực ở Trung Quốc sau cuộc chiến tranh kháng Nhật… Vấn đề là Trung Quốc có thắng nổi không hay lặp lại thất bại như Nhật và Đức trước đây?

Tin liên quan

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.