Daily Archives: September 6, 2016

Những gì đáng sợ hơn cái chết?

Những gì đáng sợ hơn cái chết?

Vũ Thạch

“Chết diễm phúc phải là chết già, trên giường, và có người chung quanh khóc ầm ĩ”.

Ít nhất đó là hình ảnh hầu hết người Việt chúng ta được dạy từ thuở nhỏ. Hơn thế nữa, chúng ta còn nghĩ hình ảnh “chết lý tưởng”, “chết êm ả” đó cũng là ước muốn chung của loài người. Chí ít cũng bao gồm mọi người thuộc văn hóa Đông phương.

Nhưng thật thế không?

Có ngay thí dụ: Một trong những điều giới võ sĩ đạo Nhật sợ nhất là phải chết già, chết trên giường. Họ tha thiết cầu Phật khấn Thần để đừng phải chết như vậy. Cảnh một samurai lưng còng, chân tay run rẩy, không cử động được theo ý muốn, ngay cả đi đứng cũng phải cậy dựa vào người khác là cơn ác mộng đối với họ. Rõ ràng viễn cảnh trở nên “vô dụng” đối với họ đáng lo hơn cái chết.

Và có thể nói hầu hết chiến binh phương Đông, từ Mông Cổ đến Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, đều khoái được “da ngựa bọc thây” hơn nằm giường.

Sang đến văn hóa phương Tây thì người ta lại càng không thích để lại hình ảnh chết già. Người càng có học, có tài, có tiếng càng muốn cả người thân lẫn công chúng chỉ nhớ tới thời điểm cực thịnh mà họ đẹp nhất, thành công nhất, quyền thế nhất, hay sáng chói nhất về trí tuệ. Rõ ràng họ quan tâm đến di sản họ để lại hơn cái chết rất nhiều.

Do đó, quan điểm ‘chết già là sướng’ chẳng đáng được điểm cao đến thế đâu. Và ngược lại ‘chết lúc chưa già’ cũng chưa chắc đáng sợ như ta vẫn nghĩ. Còn lắm thứ đáng sợ hơn cái chết nhiều.

Nhiều cán bộ lớn tuổi tâm sự điều mà họ sợ nhất vào cuối cuộc đời là phải nhìn lại những gì họ đã làm hay không làm trong những năm dài đã qua. Từ đó, họ sợ những nạn nhân đang chờ họ ở thế giới bên kia hơn sợ cái chết, vì chết chỉ là ngưỡng cửa bước qua trong khoảng khắc. Với thời đại Internet, chúng ta có thể thấy được khá nhiều lãnh đạo đảng đi qua giai đoạn cuối đời như vậy, kể cả những hung thần một thời như Tố Hữu, Lê Khả Phiêu,…

Cũng có lãnh đạo sợ phải đối diện những người bạn đang chờ họ bên kia thế giới hơn cả cái chết. Đó là những đồng đội mà họ từng phản bội hay bỏ rơi để giữ an toàn cho bản thân, kể cả những người đứng lên theo lời kêu gọi của họ. Chúng ta có thể thấy loại ân hận đó ở những ông Võ Văn Kiệt, Võ Nguyên Giáp,…

Và cũng có những lãnh đạo sợ phải thừa nhận mình đã sống qua cả một cuộc đời vô ích, vô nghĩa, vô vị. Vì quá lo an toàn cho bản thân mà chẳng để lại được gì, chẳng hoàn thành được gì. Mà cái chết, tức lằn ranh sau cùng của an toàn, vẫn đến, chẳng né tránh được. Hơn thế nữa, họ phải thừa nhận chính họ là một phần của cỗ máy đem lại điêu linh cho biết bao người khác. Chúng ta có thể nhận ra loại tâm tư này ở những ông Phạm Văn Đồng, Trần Quang Cơ, …

Trong tình trạng thê thảm của dân khí hiện nay, chúng ta khó còn cảm được lời dạy của cha ông: Chết vinh hơn sống nhục. Nhưng 5 chữ đó là kết tinh kinh nghiệm sống của biết bao cuộc đời. Một trong những lý do chết vinh hơn sống nhục là vì “sống nhục” chỉ được một thời gian ngắn rồi vẫn dẫn đến cái chết, mà luôn là “chết nhục”. Mọi hối tiếc vào lúc sắp “chết nhục” đều đã quá trễ.

Qui luật đó ứng dụng cho cả nhân loại chứ không riêng gì người Việt. Gần 80 năm trước, hàng triệu người Do Thái khi gần chết trong trại tập trung của Đức Quốc Xã mới quặn lòng hối tiếc đã không tham gia kháng chiến vì sợ chết; hối tiếc đã không mang thân ra hứng đạn cản đường cho vợ con chạy trốn vì sợ chết; hối tiếc đã riu ríu kéo cả nhà lên xe vào trại tập trung vì sợ chết,… để rồi giờ đây vẫn chết, chết riêng từng người, chết từng phần cơ thể vì kiệt lực, và chết với nhận thức từng người trong gia đình mình ở đâu đó cũng đang chết dần ở mức dưới hàng súc vật như mình. Đối với họ cái đau của hối tiếc lớn hơn cái đau của sự chết.

Ngày nay, tại nước ta, cả dân tộc đang bị đẩy vào loại chọn lựa đó. Gần nhất là những bà con tại 4 tỉnh miền Trung đang sống dở chết dở vì thảm họa môi trường do Formosa gây ra. Nhiều người đang phân vân: đứng lên đấu tranh đòi tẩy rửa môi trường bây giờ có thể bị trấn áp nhưng dẫu có chết đi nữa thì vẫn hơn cảnh ngồi nhìn từng người trong gia đình nhiễm ung thư, đau đớn nhiều năm tháng, rồi lần lượt ra đi, kể cả bản thân mình. Cái đau của hối tiếc sẽ lớn hơn nhiều cái đau của sự chết. Còn nếu đứng lên đấu tranh giành lại môi sinh bây giờ, gia đình mình sẽ sống.

Dĩ nhiên câu hỏi lương tâm này cũng được đặt ra cho từng người chúng ta chứ chẳng riêng gì bà con 4 tỉnh miền Trung. Chất độc nay không chỉ có trong cá mà trong hầu hết mọi loại thực phẩm và không từ một ai trên cả nước. Liệu chúng ta có dám chấp nhận để đứng lên mạnh mẽ đòi nhà cầm quyền phải đóng ngay các cánh cửa dẫn chất độc vào Việt Nam? hay ngồi chờ ngày ung thư đến đón từng người trong gia đình ra đi?

Và còn nhiều quốc nạn khác nữa, đặc biệt là số phận của đất nước sau thời điểm 2020. Liệu chúng ta có dám chấp nhận để đứng lên bảo vệ chủ quyền đất nước ngay bây giờ, bất kể những kẻ cứ nhất định ôm chân quân xâm lược? hay ngồi chờ ngày “chết nhục” dưới chân chủ mới như dân tộc Tây Tạng? Đến lúc đó có muốn chọn lại cũng đã quá muộn.

oOo

Chẳng ai muốn tìm lấy cái chết nhưng nghĩ cho cùng chết có phải là chuyện khủng khiếp nhất chưa?

V.T.

Tác giả gửi BVN.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Hải cảng chiến lược Chân Mây sắp rơi vào vòng kiểm soát của Trung Quốc?

Hải cảng chiến lược Chân Mây sắp rơi vào vòng kiểm soát của Trung Quốc?

Posted by adminbasam on 06/09/2016

Blog VOA

Lê Anh Hùng

6-9-2016

Cảng Chân Mây và những vị trí xung yếu chung quanh. Ảnh: Lê Anh Hùng/ Google Map

Cảng Chân Mây và những vị trí xung yếu chung quanh. Ảnh: Lê Anh Hùng/ Google Map

Cảng Chân Mây là một cảng nước sâu nằm ở xã Lộc Vĩnh, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Nhờ được mũi Chân Mây Đông của dãy Hòn Dòn che chắn nên vùng nước xung quanh cảng biển với độ sâu tới 14m vốn kín gió và lặng sóng này đã trở thành nơi neo đậu an toàn cho tàu thuyền tránh trú gió bão.

Khu vực Chân Mây – Lăng Cô là một vị trí hiểm yếu về an ninh quốc phòng, bởi nó là một dải đất hẹp nằm dưới chân đèo Hải Vân, chưa kể trên tuyến quốc lộ 1A chạy qua địa bàn này còn có hai đèo núi hiểm trở khác là đèo Phú Gia và đèo Phước Tượng.

Là nơi tàu thuyền neo đậu an toàn nên vịnh Chân Mây rất thuận lợi cho tàu chiến đổ bộ. Ngoài ra, khu vực xung quanh đó còn là một địa bàn đặc biệt quan trọng về quốc phòng, khi chỉ một lực lượng quân đội vừa phải là đã có thể chia cắt đất nước thành hai phần. Vì thế, trong suốt hai cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1946-1954) và lần thứ hai (1954-1975) tại đây đã diễn ra nhiều trận đánh ác liệt giữa lực lượng đổ bộ với lực lượng chống đổ bộ của các bên tham chiến.

Năm 1966, tàu chiến cùng lực lượng thuỷ quân lục chiến và xe tăng Mỹ đã đổ bộ vào vịnh Chân Mây.

Ngày 19/1/1947, tàu chiến Pháp đã đổ bộ ở bãi biển Cảnh Dương. Được trọng pháo từ tàu chiến ngoài khơi yễm trợ, một lực lượng trên 5.000 quân Pháp đủ các quân binh chủng đã tiến vào càn quét toàn bộ khu vực.

Xa hơn, tháng Tư năm Tân Dậu (1801), Nguyễn Ánh đã đi thuyền ra đóng ở vũng Chu Mãi (tức Vịnh Chân Mây) để đại binh tiến đánh quân Tây Sơn qua cửa Tư Dung (Tư Hiền).

Do tầm quan trọng về mặt an ninh quốc phòng của Chân Mây – Lăng Cô đối với Việt Nam như thế nên thật dễ hiểu khi Trung Quốc, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc, luôn tìm mọi cách để đặt được chân vào vùng đất này.

Ngày 8/10/2015, VOA đã đăng bài “Người Trung Quốc lại sắp lập căn cứ ở Lăng Cô – Thừa Thiên Huế?”, trong đó chúng tôi đã vạch trần âm mưu của tập đoàn Trung Nam Hải khi lập một công ty ma ở Singapore rồi lấy pháp nhân của doanh nghiệp ma này để đầu tư xây dựng một khu du lịch nghỉ dưỡng rộng hàng trăm ha ở đây.

Đặc biệt, mới đây chúng tôi còn phát hiện ra một công ty có bóng dáng của Trung Quốc đang thực hiện dự án đầu tư xây dựng bến số 3 cảng Chân Mây. Dự án có diện tích 12 ha, tổng mức đầu tư hơn 846 tỷ đồng, chiều dài cầu cảng trong giấy phép là 270m (nhưng chúng tôi tìm hiểu tại thực địa lại lên đến 400m), do Công ty TNHH Hào Hưng Huế làm chủ đầu tư, được khởi công xây dựng từ ngày 26/9/2015, dự kiến hoàn thành và đưa vào hoạt động tháng 9/2018. Đây là hải cảng tổng hợp, cung cấp các dịch vụ hậu cần cảng đảm bảo cho tàu và các phương tiện vận tải thủy trọng tải đến 50.000 DWT ra vào bốc dỡ hàng.

H1Dự án đang trong giai đoạn san lấp mặt bằng và đóng cọc thử. Ảnh: Lê Anh Hùng

Hào Hưng Huế là công ty con của Công ty TNHH Hào Hưng, một doanh nghiệp có trụ sở ở Quận 11, Tp Hồ Chí Minh. Điều đáng nói là mặc dù đã lọt vào TOP 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam, với hơn hai chục chi nhánh trên khắp cả nước, nhưng thông tin về Hào Hưng lại rất bí ẩn. Người ta chỉ biết đó là một công ty của người Hoa, do một người Hoa là Thang Văn Hoá làm Chủ tịch Hội đồng Thành viên kiêm Tổng Giám đốc, với khách hàng chủ yếu là từ Trung Quốc. Tháng 7/2015, một công ty con khác của Hào Hưng là Hào Hưng Quảng Ngãi đã mua một lúc 141 xe đầu kéo và xe tải do Trung Quốc sản xuất. Còn báoNông Nghiệp Việt Nam ngày 21/10/2015 thì viết rõ Hào Hưng là doanh nghiệp của Trung Quốc.

Không chỉ ở Chân Mây, từ năm 2012, thông qua Công ty TNHH Hào Hưng Quảng Ngãi, Hào Hưng còn đầu tư xây dựng một bến cảng chuyên dùng khác tại Dung Quất, Quảng Ngãi. Dự án với diện tích đất sử dụng khoảng 23ha và tổng vốn đầu tư trên 711,6 tỷ VNĐ này sắp sửa hoàn thành và đi vào hoạt động. Chưa hết, theo tìm hiểu của chúng tôi, Công ty TNHH Hào Hưng Hải Phòng đã có hệ thống bến bãi riêng ở Hải Phòng, còn Công ty TNHH Hào Hưng Long An thì đang xúc tiến đầu tư xây dựng bến cảng ở Cần Thơ.

Đầu tư vào hải cảng đòi hỏi vốn đầu tư rất lớn và thời gian thu hồi vốn kéo dài, lên tới hàng chục năm, và nguy cơ thua lỗ là rất cao. Vì thế, hầu như không một doanh nghiệp tư nhân nào mặn mà với việc đầu tư xây dựng hải cảng, nhất là trong bối cảnh ngân hàng không muốn cho vay do thời gian hoàn vốn quá dài. Việc Hào Hưng đầu tư xây dựng một loạt bến cảng lên đến hàng ngàn tỷ VNĐ như thế quả là một dấu hiệu không bình thường.

Chỉ mới mấy năm trước, Hào Hưng còn quảng cáo trên nhiều trang mạng là nhà cung cấp cát sông và dăm gỗ với tổng số nhân lực vỏn vẹn 5-10 người. Vậy nên, người ta phải dùng từ “thần kỳ” để mô tả tốc độ phát triển nhanh như tên lửa của họ. Không còn nghi ngờ gì, đằng sau sự phát triển đó chắc chắn phải là một thế lực siêu khủng.

Một hoạt động không kém phần nguy hiểm nữa của Hào Hưng là họ đang thuê đất trồng rừng nguyên liệu ở nhiều địa bàn trên cả nước, đặc biệt là tại những vị trí nhạy cảm về an ninh quốc phòng. Chẳng hạn, theo Quyết định số 84/QĐ-UBND ngày 12/10/2015, UBND tỉnh Cà Mau đã cho Hào Hưng thuê hơn 63ha đất tại xã Khánh Bình Tây Bắc, huyện Trần Văn Thời, tức ngay bên bờ biển cực nam của Tổ quốc, trong thời gian 49 năm. Kiểm soát được vị trí đó, Trung Quốc có thể giám sát được mọi động tĩnh của quân đội Việt Nam cả trên đất liền lẫn trên biển ở xung quanh khu vực, đồng thời phối hợp với các dự án kinh tế trá hình khác mà họ đã và đang tìm cách thực hiện tại những vị trí xung yếu như Vĩnh Tân (Bình Thuận), Hồ Tràm (Bà Rịa – Vũng Tàu), Duyên Hải (Trà Vinh), Nhiệt điện Sông HậuNhà máy Lee & Man VN (Hậu Giang), v.v. để tạo thành một chuỗi căn cứ quân sự liên hoàn hòngbao vây và chia cắt Nam Bộ khi hữu sự.

Sống bên cạnh một người hàng xóm to xác, bẩn tính và chưa giờ nguôi tham vọng thôn tính mình từ hàng ngàn năm nay, Việt Nam cần phải luôn đề cao cảnh giác với đủ mọi mưu ma chước quỷ của họ. Vì thế, việc để cho một công ty mang bóng dáng Trung Quốc và đầy bí ẩn như Hào Hưng đầu tư vào những vị trí nhạy cảm về an ninh quốc phòng như Chân Mây, Dung Quất, Hải Phòng, Cần Thơ hay Cà Mau… tiềm ẩn những hiểm hoạ vô cùng nguy hại cho tương lai đất nước.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

. Ngày Độc lập, dân Việt vẫn mơ độc lập

. Ngày Độc lập, dân Việt vẫn mơ độc lập

Posted by adminbasam on 03/09/2016

VOA

Trà Mi

3-9-2016

Lễ diễu binh, diễu hành mừng 70 năm Cách mạng Tháng 8 và Quốc khánh 2/9 ở Hà Nội, 2/9/2015. Ảnh: AP

Lễ diễu binh, diễu hành mừng 70 năm Cách mạng Tháng 8 và Quốc khánh 2/9 ở Hà Nội, 2/9/2015. Ảnh: AP

Việt Nam hôm nay kỷ niệm 71 năm Ngày Quốc khánh, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Truyền thông nhà nước đăng bài viết của Chủ tịch nước Trần Đại Quang nhân Lễ Độc lập năm nay kêu gọi phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trước yêu cầu mới.

Ông Quang nói sức mạnh của đảng nằm ở mối quan hệ gắn bó với nhân dân. Ông thúc giục “mọi chủ trương, đường lối, chính sách của đảng, pháp luật của nhà nước phải hợp với lòng dân, xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của người dân” và, vẫn theo lời ông, phải “đi vào cuộc sống.”

Phát biểu được đưa ra trong lúc ngày càng xuất hiện nhiều chỉ trích và kêu gọi nhà cầm quyền lắng nghe tiếng nói và nguyện vọng của người dân để thực hiện những cải cách sâu rộng, cụ thể về nhiều mặt từ kinh tế, chính trị, đến đời sống xã hội và chính sách bảo vệ chủ quyền giữa những vấn nạn về tham nhũng, tai tiếng về nhân quyền của Việt Nam và mối đe dọa từ Trung Quốc.

Anh Nguyễn Đình Hà, một nhà hoạt động trẻ tại Hà Nội, chia sẻ cảm xúc nhân ngày Quốc khánh năm nay:

“Trong tiêu đề của Việt Nam rằng ‘Độc lập-Tự do-Hạnh phúc’, cả ba điều đó tại Việt Nam hiện nay gần như không đạt được điều nào cả. Quyền tự do của công dân thì bị xâm phạm. Độc lập của đất nước thì không thật sự toàn vẹn vì lãnh thổ bị xâm chiếm, kinh tế bị lệ thuộc nước ngoài. Còn về hạnh phúc thì đời sống người dân cơ cực-đau khổ, đặc biệt là người dân ở các tỉnh miền Trung hiện nay do thảm họa môi trường. Đời sống dân hết sức khó khăn mà chính quyền không có sự quan tâm đúng mức, cần thiết.”

Từ Sài Gòn, nhà thơ Đỗ Trung Quân, một trí thức trong giới văn nghệ sĩ được nhiều người biết đến, nói Lễ Độc lập đối với phần lớn dân chúng nhìn chung chỉ là một ngày nghỉ, không mấy ai háo hức chờ đón trong ý nghĩa thiêng liêng của nó:

“Đối với tôi, ngày hôm nay như là một ngày bình thường. Chính quyền vẫn làm những buổi kỷ niệm tưng bừng. Còn người dân đa phần coi đây là một ngày được nghỉ để đi du lịch, thư giãn, giải trí. Trong tình hình đất nước như thế này, với bao nhiêu biến cố từ biển đảo cho đến vấn đề Formosa thì tinh thần người dân bị tổn thương, cuộc sống của họ bị ảnh hưởng. Lễ lạc phải đi kèm với một cuộc sống sung túc thì người ta mới đón nhận được. Còn bây giờ, trong hoàn cảnh này, người dân Hà Tĩnh vẫn xuống đường và họ vẫn bị đàn áp. Như thế, rất khó có một tâm trạng ‘vui chung’. Các vấn nạn xảy ra cho xã hội như thế, người dân không hoàn toàn tập trung vào lễ lạc được.”

Trong cảm xúc chia sẻ trên Facebook, anh Paulus Lê Sơn, một nhà hoạt động trẻ ở Nghệ An, viết rằng:

“Độc lập ơi độc lập,
Sao tên người cứ mãi xa xôi
Dân nước Nam bao giờ mới thấy
Dân chủ tự do như mấy anh Tây.”

Và anh kết thúc bài viết của mình với dòng thơ: “Ngày độc lập sao ta vẫn mơ độc lập?”

Nhà thơ Đỗ Trung Quân chia sẻ với hoài bão này:

“Đó không phải là tâm trạng của một tác giả đâu. Tôi cũng mơ như thế đấy. Tôi mơ một cái độc lập thật sự, chúng ta có một chủ quyền thật sự. Chiến tranh đã quá lâu rồi, lệ thuộc quá nhiều rồi.”

Người bạn trẻ tên Hà ở Hà Nội tiếp lời:

“Em mong muốn trong tương lai, đất nước mình được thật sự dân chủ, phát triển; người dân được thật sự độc lập, tự do, hạnh phúc, chứ không chỉ là những khẩu hiệu. Mọi mặt ở đây đều gắn liền với vấn đề chính trị. Phải dựa trên cải cách về chính trị. Chính quyền phải tôn trọng quyền tự do-dân chủ của người dân. Nền kinh tế phải được là kinh tế thị trường không có sự định hướng xã hội chủ nghĩa gì cả vì hiện nay nền kinh tế Việt Nam bị rối loạn bởi sự định hướng rất sai trái và quản lý không hiệu quả. Về mặt xã hội thì bị băng hoại bởi thực trạng giáo dục. Đạo bây giờ còn bị suy thoái. Em mong muốn những khẩu hiệu [độc lập-tự do-hạnh phúc] đó phải được thực hiện dựa trên những cải cách kinh tế, chính trị, xã hội.”

Bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc ngày 2/9/1945 nhấn mạnh đến một nước Việt Nam “độc lập-tự do-hạnh phúc”, sáu chữ vàng mở đầu các văn bản hành chánh chính thống và là tôn chỉ trong các khẩu hiệu tuyên truyền của đảng Cộng sản cầm quyền.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Biển Đông và chuyển biến khó lường

Biển Đông và chuyển biến khó lường

035_pbu475903_01.jpg

Bức ảnh lãnh thổ Trung Quốc trên một đường phố ở Trung Quốc, ngày 14 tháng 7 năm 2016.

AFP photo

 

Hội nghị ngành Ngoại giao Việt Nam lần thứ 29 được tổ chức tại Hà Nội vừa qua là cơ hội để giới quan sát nhìn lại và đánh giá tình hình Biển Đông vốn được xem là cốt lõi của chính sách ngoại giao Việt Nam.

Mặc Lâm phỏng vấn TS Đinh Hoàng Thắng, nguyên Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Hà Lan, nguyên Tổng biên tập tuần báo Quốc Tế thuộc Bộ Ngoại Giao để tìm hiểu thêm quan điểm của một nhà ngoại giao có quan tâm sâu sắc tới vấn đề này.

Quyết định lịch sử: không cần phải đồng thuận?

Mặc Lâm: Trong tuyên bố của Chủ tịch nước Trần Đại Quang tại Singapore có gợi ý là Việt Nam có thể sẽ xem xét lại sự đồng thuận của ASEAN, TS có ghi nhận gì về việc này?

TS Đinh Hoàng Thắng: Từ lâu, các chuyên gia cho rằng, đã đến lúc ASEAN cần phải thay đổi nguyên tắc đồng thuận nếu như không muốn khối này tan vỡ. Bởi vì không bao giờ có được đồng thuận tuyệt đối cả. Absolute Consensus không thể tồn tại. Chỉ có thể có một Majority Consensus, đồng thuận của số đông. Đồng thuận tuyệt đối là trái quy luật tự nhiên.

Chính vì vậy tại đối thoại Singapore 38 ở Viện nghiên cứu Đông Nam Á ngày 30 tháng 8, Chủ tịch Trần Đại Quang có đưa ra 2 tuyên bố hoàn toàn mới, mà từ trước tới nay một chủ tịch nước, một trong tứ trụ của định chế quyền lực nhất Việt Nam chưa từng nói như thế bao giờ. Thứ nhất nếu để xẩy ra xung đột vũ trang thì không có người thắng, kẻ thua, mà tất cả cùng thua, xin lưu ý tất cả cùng thua này đây là cảnh tỉnh cho những cái đầu nóng. Thứ hai khả năng xét lại quy tắc đồng thuận trong ASEAN. Hơn 40 năm tồn tại đồng thuận là quy tắc vàng. Nguyên văn: “Với sự phát triển mới của tình hình, chúng tôi có thể xem xét và bổ sung nguyên tắc (đồng thuận) bằng các cơ chế khác”.

Hàng ngàn năm trước đây, chưa có toàn cầu hóa, chưa có ASEAN, cha ông chúng tôi vẫn kiên cường. Ngày nay, không có lý do gì để biện minh cho việc Việt Nam phải nhân nhượng nhiều hơn nữa!
– TS Đinh Hoàng Thắng

Theo dõi từ khi Campuchia làm chủ tịch ASEAN năm 2012 cho đến hội nghị đặc biệt của ASEAN mới đây tại Lào thì thấy tình hình không thể duy trì như cũ, nếu duy trì sẽ dẫn đến sự tan đàn xẻ nghé của tổ chức này.

Đặc biệt là nếu ta chú ý đến bài xã luận trên báo Đảng Cộng sản Trung Quốc gần đây nhất Trung Quốc đã đi xa tới mức không cần phải che dấu một sự thật trần truồng: “Hun Sen và Campuchia có thể giữ vững lập trường (ủng hộ Trung Quốc), hiển nhiên không phải vì các bên đều bỏ tiền mua chuộc, nhưng Bắc Kinh đã trả giá cao nhất. Tất cả đủ nói lên nhu cầu cấp bách cần phải thay đổi nguyên tắc hoạt động của ASEAN.

Mặc Lâm: Rõ ràng Trung Quốc đang lấy Campuchia, Lào để bao vây Việt Nam trong vấn đề Biển Đông thế nhưng cho tới nay vẫn không thấy Việt Nam chính thức lên tiếng, tại sao?

TS Đinh Hoàng Thắng: Trung Quốc không bao giờ từ bỏ chính sách chia để trị, chia để phá nát ASEAN.

Việt Nam chưa chính thức lên tiếng thì cũng không hoàn toàn chính xác. Tuyên bố của Chủ tịch Trần Đại Quang ở Singapore là một cú phản đòn khá mạnh Việt Nam nhận thức rất rõ những thách thức mới và chủ động đề nghị sẽ có những điều chỉnh về nguyên tắc đồng thuận.

Giới quan sát cho rằng tuyên bố trên đây là một bước ngoặt, một khúc quanh khá cơ bản trong nhận thức và hành động, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam luôn bị Trung Quốc o ép, bị Trung Quốc dùng láng giềng của Việt Nam để chống lại Việt Nam. Bước ngoặt này chứng tỏ trong tương quan lực lượng ngày nay, các nước nhỏ có thể đứng trên đôi chân của mình, không nhất thiết phải quy phục bất cứ thế lực nào, dưới bất cứ danh nghĩa gì.

Trước đây, khi bình luận về tình hình bê bối trong ASEAN, tôi có nói đã đến lúc Việt Nam phải thay đổi chính sách của mình. Bị nước lớn bắt nạt đã đành, nhưng để cả những đối tác mình có quan hệ đặc biệt cũng gây khó cho mình thì rõ ràng là chính sách của mình có vấn đề. Thì nay, như chúng ta đã thấy, Việt Nam tuyên bố sẽ thay đổi và tôi nghĩ Việt Nam sẽ không dừng lại ở đây nếu tiếp tục bị bắt nạt, nếu tiếp tục bị chèn ép. Vì Việt Nam vốn là một dân tộc quật cường. Hàng ngàn năm trước đây, chưa có toàn cầu hóa, chưa có ASEAN, cha ông chúng tôi vẫn kiên cường. Ngày nay, không có lý do gì để biện minh cho việc Việt Nam phải nhân nhượng nhiều hơn nữa!

Chơi với lửa sẽ bỏng tay mình

000_C84L2.jpg-400.jpg
Bộ trưởng Ngoại giao Campuchia Prak Sokhonn (trái) và Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh tại Hà Nội vào ngày 22 tháng Sáu năm 2016. AFP photo

Mặc Lâm: Việt Nam và Campuchia có trở thành đối nghịch sau khi hơn 5.000 kiều bào bị đuổi chạy về Việt Nam trong vài ngày qua nhất là thái độ của Hun Sen về vấn đề Biển Đông?

TS Đinh Hoàng Thắng: Ý đằng sau câu hỏi của nhà báo là muốn thăm dò khả năng người ta có chơi lại ván bài cũ, ván bài Khơ me đỏ đối với Việt Nam từ những năm 90 của thế kỷ trước hay không? Tôi nghĩ, bổn cũ ấy dù được cải biên dưới bất cứ hình thức nào thì cũng khó mà lặp lại.

Khuấy động cho thiên hạ đại loạn, thiên hạ đối nghịch nhau để một mình mình đại trị, hưởng thái bình, kế sách này quá đát rồi. Nhân loại giờ đây không khờ khạo như nhiều người nghĩ. Hơn nữa, người dân Việt Nam và người dân CPC là những dân tộc yêu hòa bình, chán chiến tranh. Nếu ai đó, vì những mục tiêu thiển cận, muốn phục vụ cho một ý đồ xấu nào đấy, tôi nghĩ cũng khó thực hiện. Vì đằng sau khu vực Đông Nam Á ngày nay chúng ta còn có cả thế giới tự do.

Phải nhìn bức tranh Việt Nam-Đông Nam Á trong một khuôn khổ rộng lớn như vậy Việt Nam mới phát huy được mọi ưu điểm để làm tốt hơn nữa, quyết liệt hơn nữa chính sách liên kết khu vực, đường lối đa dạng hóa, chủ trương hội nhập toàn diện để đề phòng mọi bất trắc. Nói thế nào cũng không thể chủ quan, thuốc súng luôn luôn phải giữ khô. Phải cảnh tỉnh những ai muốn chơi với lửa thì phải đề phòng bị bỏng tay!

Nếu Việt Nam có một hậu phương vững chắc, hậu phương ở đây hiểu theo nghĩa rộng hệ thống đối tác chiến lược, toàn diện triển khai tốt. Trong nước dân chủ hóa về mọi mặt, thì có thể kiên trì đấu tranh về pháp lý đối với những ai vi phạm chủ quyền, toàn vẹn lanh thổ. Nếu Việt Nam kết nối với phần còn lại của thế giới một cách toàn diện và sâu rộng, thì có thể đối phó với các thách thức.

Triển khai vũ khí: một quyết định thức thời?

Mặc Lâm: Trung Quốc và Mỹ đều đã có phản ứng khi Việt Nam triển khai vũ khí tại khu vực Trường Sa, Theo TS tại sao Việt Nam lại triển khai vũ khí trong giai đoạn này?

TS Đinh Hoàng Thắng: Trước hết tôi nghĩ, tin này cần được kiểm chứng, vì khi được hỏi câu này thì người phát ngôn Bộ ngoại giao nói tin Việt Nam đưa vũ khí ra Trường Sa là không hoàn toàn chính xác. Vậy ta cứ cho là nó đúng một nửa đi, đúng 50% đi, thì đây có thể là một động thái Việt Nam khẳng định quyết tâm làm chủ tình hình trong hoàn cảnh mới… Sau phán quyết PCA Việt Nam có 3 chủ trương: thứ nhất, trong khi Trung Quốc không chấp nhận phán quyết của Liên Hiệp Quốc, coi đó chỉ là “tờ giấy lộn”, có những hành động, tuyên bố quyết liệt hơn thì Việt Nam phải lo chuẩn bị đối phó vói mọi tình huống, mặc dầu biết nổ ra xung đột thì không ai có lợi, tất cả sẽ cùng thua.

2a83448f-a2f6-48af-a5af-9b8aa3a50555.jpg-400.jpg
Sĩ quan quân đội Úc, quân đội Mỹ, Thủy quân lục chiến Mỹ và Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc tại Úc hôm 29/8/2016. AFP

Hai nữa Việt Nam tận dụng môi trường thuận lợi, chuẩn bị cho đấu tranh pháp lý, vì PCA thu hẹp khoảng cách tranh chấp, mở rộng lãnh địa pháp lý; thứ ba, thúc đẩy vai trò trung tâm của ASEAN bằng cách tăng cường kết nối và có những điều chỉnh nguyên tắc hoạt động khi cần.

Tuy nhiên, để hiểu động cơ thực sự của Việt Nam, tôi muốn nhắc lại một thành ngữ mới của Nam Bộ: “Nói dzậy mà không phải dzậy?”  Phản ứng của Trung Quốc và của Mỹ là hai loại phản ứng khác nhau về chất. Nếu vì mục đích để phòng thủ, Việt Nam có thể triển khai hệ thống hỏa tiễn ngay trên bờ còn an toàn hơn nhiều. Khi Mỹ phản ứng với Việt Nam, chắc Hoa Kỳ đã có những thông tin tình báo về động cơ thực sự đằng sau “cái gọi là” Việt Nam triển khai vũ khí ra Trường Sa.

Mặc Lâm: Mới đây Trung Quốc đã hứa sẽ cho phép ngư dân Phi được đánh cá tại khu vực Scaborough khi TT Phi có những tuyên bố rất khó đoán định lúc mạnh lúc hòa hoãn. Theo Tiến sĩ thì lý do nào Trung Quốc xuống nước? hành động của Phi hay phán quyết của tòa trọng tài PCA?

TS Đinh Hoàng Thắng: Tôi e rằng, đây không phải là việc Trung Quốc xuống nước. Ý đồ chiến lược của Trung Quốc đối với cả Mỹ, chứ không chỉ đối với Phi là không thay đổi, kể cả sau phán quyết của PCA thì Trung Quốcvẫn xây đắp khu vực Scaborough.

Tuy nhiên, tình hình hậu PCA buộc Trung Quốc phải tính đến việc điều chỉnh một số động thái thuộc về sách lược, về chiến thuật. Cụ thể Trung Quốc sẽ lợi dụng chủ trương khó đoán định của Phi để xoay xở sao cho không mang tiếng mình là kẻ đứng ngoài luật pháp quốc tế,  chống lại luật pháp quốc tế, bị mang hình ảnh xấu… cho nên cố ép Phi ngồi lại nhưng phải bỏ qua phán quyết. Phi ngược lại cũng biết tận dụng tính pháp lý của phán quyết, tuyên bố có tính hai mặt, khi nhu khi cương để giảm thiểu rủi ro…

Hơn nữa, vừa qua, Trung Quốc chưa muốn mạnh tay trước Hội nghị G20. Tới đây, Bắc Kinh vẫn sẽ bác phán quyết, nhưng chắc chắn không thể bác hoàn toàn (Ít nhắc tới đường lưỡi bò, ít nhắc nhưng vẫn ngấm ngầm hiện thực hóa ADIZ). Tình trạng mập mờ này sẽ được cả Trung Quốc lẫn Phi duy trì trong một thời gian nữa, vì lợi ích của mỗi bên…

Cuộc chiến sẽ bùng nổ?

Mặc Lâm: Tiến sĩ có tin vào cuộc chiến giữa Mỹ và Trung Quốc có thể xảy ra tại biển Đông hay không khi mà giới chuyên gia quân sự Mỹ ngày càng cảnh giác lớn hơn về khả năng này? Nhất là cuộc tập dượt PLAN của Trung Quốc nhằm đối phó với nguy cơ nổ ra chiến tranh với Mỹ trên Biển Đông và Hoa Đông.

Quyền lợi hai nước Trung Quốc – Mỹ dính chặt, không phải từ bây giờ, mà từ năm 1949. Tuy nhiên việc đụng độ ngoài biển là hơi khó tránh.
– TS Đinh Hoàng Thắng

TS Đinh Hoàng Thắng: Vâng, vài hôm trước đây vào ngày 30 tháng 8, cựu Phó Thứ trưởng Hải quân Hoa Kỳ Seth Cropsey đã viết một bài xã luận đại diện cho Viện nghiên cứu Hudson, một think-tank về nội trị và ngoại giao của Hoa Kỳ, dự đoán rằng xung đột giữa hải quân Mỹ với hải quân Trung Quốc là không thể tránh khỏi.

Nhưng đối với phần đông giới phân tích chiến lược, đối với những đầu óc tỉnh táo từ cả 2 phía, giữa Trung Quốc – Mỹ khó có thể xẩy ra chiến tranh. Quyền lợi hai nước Trung Quốc – Mỹ dính chặt, không phải từ bây giờ, mà từ năm 1949. Tuy nhiên việc đụng độ ngoài biển là hơi khó tránh. Mỹ có ưu thế vũ khí, Trung Quốc chủ nghĩa cực đoan, mù quáng nghĩ họ sẽ chiến thắng cho nên cũng khó kìm nén một khi Trung Quốc gây sự với Mỹ hay các nước đồng minh của Mỹ. Nhưng chiến tranh quy mô lớn khó xẩy ra.

Cuộc tập dượt nhà báo nhắc đến tôi cho chỉ là một đòn nắn gân giữa các cường quốc Trung-Nhật-Mỹ. Tôi cho rằng ở đây các nước đang hành động theo tinh thần của minh triết Latinh đó là “nếu muốn hòa bình, hãy chuẩn bị cho chiến tranh”.

Tuy nhiên, chủ nghĩa dân tộc trong khu vực những năm qua bị đẩy lên khá mạnh, đặc biệt là dân tộc đại hán. Đây là một công cụ của lãnh đạo Trung Quốc nhằm để ổn định nội bộ và tiếm quyền cho một cá nhân, một phe phái nào đó. Khi cần Trung Quốc rất dễ đẩy cái dân tộc quá khích này ra bên ngoài. Đây là nhân tố khó lượng định nhất. Bởi vì không chỉ có một Trung Quốc, trong lãnh đạo Trung Quốc cũng có nhiều phe phái, người đứng đầu phải cân bằng giữa các bên, nhất là những đòi hỏi của giới quân sự (PLAN).

Một điểm nữa, các cường quốc họ không thể tỏ ra yếu thế trước các thách thức mới xuất hiện. Nước nhỏ có thể nhân nhượng, chứ đường đường hai lớn mà nhân nhượng quá nhiều, người ta cứ sợ chiến tranh vẫn đến kèm theo nhiều nỗi nhục khác, cho nên họ dóng trống mở cờ là chuyện có thể giải thích được.

Mặc Lâm: Xin cám ơn ông.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Blog at WordPress.com.