Daily Archives: September 22, 2016

TQ đang xây dựng đường dẫn đến thất bại?

TQ đang xây dựng đường dẫn đến thất bại?

Dù luôn bị phương Tây chỉ trích về các quy định khắt khe của chính quyền nhưng nếu nói đến lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng thì Trung Quốc có thể “đánh bại” tất cả các nền dân chủ giàu có. Tuy nhiên, cái giá phải trả cho sự phát triển này không nhỏ.

Những dự án như cây cầu kính này ở Trung Quốc được xem là quá lãng phí và vô tác dụng. 

Phải thừa nhận rằng, Trung Quốc đã đánh bại Mỹ hay nói cách khác là Mỹ đã tự bỏ cuộc. Cứ mỗi bốn năm, Hiệp hội Kỹ sư dân dụng Hoa Kỳ đều đặn xem xét lại tình trạng của trường học, các sân bay lớn, đường quốc lộ, các hệ thống đã quá hạn và đề nghị nâng cấp. Lần gần đây nhất là từ năm 2013.

Trong quãng thời gian đó, Trung Quốc đã nổi lên với tốc độ xây dựng “chóng mặt”. Vừa hoàn thành tuyến đường vành đai thứ 6 quanh Bắc Kinh, đội xây dựng của nước này đang tiếp tục xây dựng tuyến đường thứ 7, dài hơn 160 km, như một phần trong kế hoạch biến thành phố này thành một “siêu thủ đô” với 130 triệu dân, nhiều hơn cả dân số của toàn Nhật Bản.

Hệ thống đường sắt cao tốc quốc gia, vốn chưa tồn tại một thập kỷ trước, giờ đã rộng hơn cả Liên minh châu Âu và vẫn đang tiếp tục được mở rộng một cách nhanh chóng. Các con đập mới, những cây cầu, kênh, tàu điện ngầm mới đều là công việc hàng ngày của những nhà hoạch định kế hoạch của chính phủ.

Nhưng cái giá phải trả là gì? Một bản báo cáo của bốn viện hàn lâm thuộc trường Kinh tế Said Oxford đưa ra đã cho thấy một sự lãng phí khổng lồ. Theo đó, tất cả dự án xây dựng đã vượt qua con số 1/3 cột nợ trị giá 28,2 nghìn tỷ USD của Trung Quốc và nếu như Bắc Kinh không thu nhỏ quy mô xây dựng lại thì sẽ dẫn đến một cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính do cơ sở hạ tầng.

Khi kiểm tra 95 dự án đường sắt và đường quốc lộ, giới chức cho biết chi phí đã vượt quá mức tiêu chuẩn ở các nước phương Tây và mặc dù Trung Quốc đã giành chiến thắng về tốc độ xây dựng thì nước này đã phải trả giá về chất lượng, sự an toàn và môi trường sống. Hầu hết những tuyến đường đã hoàn thành không có nhiều xe lưu thông, nhưng một số ít đoạn đường lại thường xuyên kẹt cứng. Dù thế nào thì kết quả nhìn chung là kém hiệu quả. Trong trường hợp của Trung Quốc, cơ sở hạ tầng có lẽ chính là con đường dẫn đến sự thất bại.

Một số tranh luận cho rằng các khoản nợ đã trở thành “gót chân Asin” của nền kinh tế Trung Quốc khi chính phủ nước này thúc đẩy tăng trưởng bằng mọi giá, thậm chí tìm kiếm sự tái cân bằng kinh tế theo hướng dịch vụ và tiêu thụ. Công ty cố vấn McKinsey tính toán rằng từ năm 2000 đến 2014, Trung Quốc đã thêm vào phần dư nợ 26,1 nghìn tỷ USD, một con số còn lớn hơn cả GDP của Mỹ, Nhật, Đức cộng lại.

Và khoản nợ này tập trung ở các doanh nghiệp nhà nước, là những “chủ thầu” của hầu hết các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng. Tập đoàn đường sắt Trung Quốc đang sở hữu số nợ nhiều gấp đôi Hy Lạp. Trong khi đó, Trung Quốc vẫn dành ngân sách 120 tỷ USD để xây dựng thêm các tuyến đường sắt trong năm nay.

Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đều biết đến những mối nguy hiểm tiềm tàng này. Nhân dân Nhật báo hồi đầu năm nay từng trích lời một vị quan chức cấp cao cho biết: “Cây không thể mọc lên tới trời. Đòn bẩy càng cao thì sẽ càng tạo ra nhiều nguy cơ hơn”.

Những người theo chủ nghĩa hoài nghi tranh cãi xung quanh kết luận trong nghiên cứu của Đại học Oxford. Andrew Batson, giám đốc viện nghiên cứu Trung Quốc Gavekal Dragonomics, viết trên mạng xã hội rằng nghiên cứu đó “đã đưa ra những tuyên bố vĩ mô khi chỉ dựa trên những dữ liệu vi mô ở Trung Quốc”. “Nó cho thấy Bắc Kinh đã chắp vá những dự án cơ sở hạ tầng cá nhân giống như tất cả mọi người khác, nhưng lại không chỉ ra được rằng với quy mô đó thì chưa thể đe dọa đến mức gây ra một cuộc khủng hoảng kinh tế”, ông viết.

Barry Naughton, giáo sư kinh tế tại Đại học California, San Diego, cho rằng cách làm của Trung Quốc cũng có cái lợi, đó là xây dựng cơ sở hạ tầng trước khi có nhu cầu thực tế, thay vì chờ cho đến khi “vỡ trận” như Ấn Độ. Khi được hỏi về nghiên cứu nói trên của Oxford, ông trả lời rằng: “Việc xây dựng các cơ sở hạ tầng không hiệu quả cũng không phải là điều tệ hại nhất đối với nền kinh tế”.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nhiều ý kiến cho rằng các dự án xây dựng Trung Quốc đã vượt khỏi tầm tay. Nhiều chính quyền địa phương đã hết các dự án giá trị và đang dần chuyển sang thói quen tiêu tiền một cách “vô nghĩa”. Ví dụ như, mới đây tỉnh Hồ Nam đã cho ra mắt một cây cầu bằng kính giữa hai vách núi để thu hút khách du lịch với chi phí bỏ ra là 3,4 triệu USD; hay như một công ty ở Trường Sa đã xây một tòa nhà 57 tầng chỉ trong 19 ngày.

Scott Kennedy, một chuyên gia về chính sách công nghiệp Trung Quốc tại Trung tâm chiến lược và nghiên cứu quốc tế ở Washington, cho rằng Bắc Kinh nên tiếp tục chi tiêu vào cơ sở hạ tầng nhưng bằng những cách khác nhau. Ông phân tích, Trung Quốc cần đầu tư thêm vào các khu vực nông thôn để thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, cùng với đó là thiết kế thêm các trường học và bệnh viện tiêu chuẩn.

Một điều không thể chối cãi được rằng trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng, Trung Quốc dường như có quá nhiều thứ được cho là tốt đẹp. Tuy nhiên, việc quá nhiều đó đều đe dọa đến sự tăng trưởng lâu dài, sức khỏe con người và sự mỏng manh của nền kinh tế.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Dấu hiệu cảnh báo âm mưu đảo chính Philippines

Dấu hiệu cảnh báo âm mưu đảo chính Philippines

Thư ký truyền thông Văn phòng chính phủ Philippines Martin Andanar ngày 20/9 xác nhận chính phủ Philippines đã nhận được những thông tin “đáng tin cậy” về một âm mưu nhằm hạ bệ Tổng thống Rodrigo Duterte.

Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte. (Ảnh: Rappler)

Phát biểu tại một cuộc họp báo, ông Andanar cho biết, “các nguồn tin đáng tin cậy ở Mỹ” đã cung cấp cho phía Philippines những thông tin về âm mưu này. Trong một cuộc phỏng vấn trên radio trước đó, ông Andanar nói rằng, một thành viên nội các Philippines hiện ở New York đã nghe ngóng được kế hoạch nhằm lật đổ Tổng thống Duterte trước tháng 1/2017.

Ông Andanar cho biết, Văn phòng Tổng thống Philippines đang điều tra nghiêm túc thông tin về âm mưu đảo chính nói trên, song từ chối tiết lộ danh tính của những người bị nghi có liên quan đến âm mưu này với lý do vẫn cần thêm thời gian để xác minh.

“Chúng tôi biết họ là ai, chúng tôi đang nắm danh sách tên tuổi của họ, nhưng chúng tôi sẽ chưa công bố vì đang điều tra thêm”, ông Andanar nói.

Viên thư ký này cũng cảnh báo những người có liên quan đến âm mưu đảo chính nên suy nghĩ kỹ trước khi có ý định lật đổ Tổng thống Duterte. “Chúng tôi bảo vệ tổng thống bằng mọi giá”, ông Andanar nói.

Những đồn đoán về âm mưu lật đổ Tổng thống Duterte đưa ra trong bối cảnh ông Duterte tiếp tục đối mặt với những chỉ trích gay gắt vì chiến dịch chống tội phạm ma túy đẫm máu của mình. Chiến dịch mới triển khai chưa đầy 3 tháng kể từ khi ông Duterte nhậm chức song đến nay đã có hơn 3.000 người liên quan đến ma túy thiệt mạng.

Mặc dù vậy, ông Duterte mới đây tuyên bố ông cần kéo dài chiến dịch này thêm 6 tháng để truy quét tận gốc tội phạm ma túy, đồng thời để ngỏ khả năng kêu gọi quân đội tham gia vào chiến dịch.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Putin là ai?

Putin là ai?

Putin vốn là Trung tá KGB, lực lượng được nhà nước Liên Xô trước đây đặc biệt tin tưởng về sự trung thành. Nhưng Putin đã nhanh chóng phản bội, đứng về phía Ensin phá vỡ Liên Xô. Thái độ chống phá của Putin được Ensin tuyệt đối tin cậy và đưa Putin dần lên vị trí cao. Bản thân Putin cũng bằng mọi thủ đoạn chính trị để từ văn phòng Tổng thống leo lên thay Ensin là Tổng thống nước Nga.

Tổng thống Nga Vladimir Putin.

Nhưng cao tay hơn Ensin, Putin biết rằng thế hệ cao tuổi ở Nga vẫn còn nuối tiếc thời Liên Xô tốt đẹp nên Putin không xóa sạch thành tựu của cuộc chiến tranh vệ quốc chống Phát xít. Vì thế Putin được nhiều người ủng hộ.

Cũng hơn Ensin về khát vọng quyền lực, sau khi hết hai nhiệm kỳ Tổng thống, Putin tạm nhường quyền cho Medvedev để làm Thủ tướng. Và, chỉ một nhiệm kỳ sau Putin lại nghiễm nhiên trở thành Tổng thống. Sự đam mê quyền lực và quay quắt của Putin đến mức người bạn đời cũng không thể chịu nổi đành phải chia tay.

Dưới thời Putin, không việc gì ông ta không dám làm. Tranh thủ sự mâu thuẫn trong nội bộ Ukraine, Putin nhanh chóng chiếm Crimea, xúi dục dân Nga ở Ukraine biểu tình đòi ly khai. Từ một anh em trong Liên Bang Xô Viết, Putin đã đẩy Ukraine vào vòng hỗn loạn.

Nguy hiểm hơn, hành động chiếm Crimea của Putin đã mở đầu cho việc các quốc gia lớn hơn, mạnh hơn xâm chiến lãnh thổ của các nước nhỏ. Sau Nga, Trung Quốc bắt đầu gây sự quyết liệt ở Thái Bình Dương.

Trước hết là Trung Quốc chiếm hàng loạt các đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam; Chiếm bãi cạn của Philippines; tuyên bố đường lưỡi bò nhằm độc chiếm đến 80% diện tích Biển Đông; tuyên bố chủ quyền đảo Điếu Ngư đang thuộc chủ quyền của Nhật bản ở Biển Hoa Đông.

Là quốc gia chỉ có 2 thứ xuất khẩu nổi tiếng là tài nguyên và vũ khí, trong khi tài nguyên chủ yếu là dầu và khí đốt đang bị tụt giá thảm hại, Putin chủ trương khoe sức mạnh vũ khí để cạnh tranh xuất khẩu vũ khí với các nước.

Trước hết, Putin cho máy bay tấn công IS vừa được tiếng chống khủng bố, vừa phô diễn sức mạnh của vũ khí, vừa răn đe Mỹ. Ngay sau đó nhiều nước đã tìm đến ký các hợp đồng mua vũ khí của Nga.

Putin cho rằng xung đột vũ trang, chiến tranh ở các khu vực là thời cơ để Nga bán vũ khí. Đồng thời Putin chơi trò hai mặt trên Biển Đông. Lợi dụng mâu thuẫn giữa Trung Quốc và Việt Nam, Putin ve vãn cả 2 nước, vừa bán tàu ngầm, tên lửa cho Việt Nam vừa bán cho cả Trung Quốc.

Mặt nạ cuối cùng của Putin đã bị lộ bỏ khi tại Hội nghị G20 tổ chức tại Trung Quốc, Putin tuyên bố ủng hộ Trung Quốc trong tranh chấp ở Biển Đông, không chấp nhận tuyên bố của Tòa Trọng tài.

Nhân dân Nga đang bị Putin đẩy vào thế cô lập với thế giới. Nhân dân nhiều nước đang bị Putin lừa dối. Hãy cảnh giác với Putin.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Samurai Nhật “tuốt kiếm” ở Biển Đông, Trung Quốc ngồi trên lửa

Samurai Nhật “tuốt kiếm” ở Biển Đông, Trung Quốc ngồi trên lửa

VietTimes — Nhật Bản tham gia vào Biển Đông thì tình hình phức tạp hơn nhiều so với việc Mỹ đơn phương ứng phó Trung Quốc. Hải quân Mỹ mạnh nhất thế giới không cần Nhật Bản giúp sức, ngược lại việc Nhật Bản xin nhập đội làm Mỹ rơi vào một hoàn cảnh chiến lược mới. Trung Quốc cảm thấy bị đe dọa, và xung đột có thể leo thang.
Đoàn Thanh – /Thứ Năm, ngày 22/9/2016 – 07:06
Nhật Bản sẽ can dự mạnh hơn vào Biển Đông bất chấp đe dọa của Trung QuốcNhật Bản sẽ can dự mạnh hơn vào Biển Đông bất chấp đe dọa của Trung Quốc

Biển Đông là tuyến đường hàng hải đặc biệt quan trọng với Nhật Bản, vì thế quay trở lại Biển Đông luôn nằm trong chiến lược lâu dài của Nhật Bản, theo đó Nhật Bản muốn cho thế giới biết: sau 70 năm thảm bại trước Mỹ trong cuộc chiến tại vịnh Leyte (10/1944), cuối cùng Nhật Bản đã trở lại.

Chắc chắn, tuyên bố “sẽ đẩy mạnh tuần tra chung với Mỹ tại Biển Đông” của nữ Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Tomomi Inada trong chuyến thăm Washington ngày 15/9 vừa qua đã gây áp lực lớn cho giới chức cấp cao Trung Quốc. Nhận định về sự kiện này, trong bài “Nhật Bản quay trở lại Biển Đông, thách thức trí tuệ Bắc Kinh” trên Bloomberg, tác giả Lâm Hằng Sinh cho rằng, động thái khá dè đặt của chức cấp cao Trung Quốc sau phát biểu của bà Tomomi Inada cho thấy Bắc Kinh đang đau đầu tính toán về những nguyên nhân phía sau hành động của Nhật Bản.

Theo bài biết, thực tế, lực lượng hải quân thống trị thế giới của Mỹ hiện nay không cần Nhật Bản giúp sức, ngược lại chính Nhật Bản nhập cuộc đã kéo Mỹ vào một hoàn cảnh chiến lược mới, khiến tình hình Biển Đông phức tạp hơn nhiều so với việc Mỹ đơn độc kiềm chế Trung Quốc.

“Đường sinh mệnh” của Nhật Bản

Xưa nay phía tây và nam Thái Bình Dương đặc biệt quan trọng với Nhật Bản, người Nhật gọi khu vực này là “đường sinh mệnh”: tuyến đường hàng hải quan trọng để vận chuyển dầu mỏ và hàng hóa từ vùng Trung Đông đi qua eo biển Malacca vào Biển Đông, lên phía bắc vào biển Hoa Đông để đến Nhật Bản. Vì thế, thời Thế chiến thứ Hai, cùng việc tấn công Hong Kong, Nhật Bản cũng khống chế tuyến đường biển tại các nước Philippines, Malaysia và Singapore để quét mọi chướng ngại trong hoạt động vận tải thương mại đường biển.

Trong Thế chiến thứ Hai, chiến trường châu Âu là chiến trường của lục quân và không quân, còn chiến trường châu Á thì có thêm cả hải quân. Cuộc chiến trên biển là ván cờ giữa Mỹ và Nhật, từ trận Trân Châu Cảng cho đến trận Midway là những nước cờ quan trọng trong cuộc đọ sức Mỹ – Nhật thời Thế chiến thứ Hai.

Nhưng trận hải chiến khốc liệt nhất nằm ở vịnh Leyte vào tháng 10/1944. Trận chiến 3 ngày 4 đêm này bùng nổ từ phía đông đảo Luzon (Philippines) lan rộng trong phạm vi 600 – 1.000 hải lý, được xem là trận hải chiến quy mô lớn nhất trong lịch sử. Kết quả quân Mỹ đại thắng: 26 tàu chiến Nhật Bản bị phá hủy, trong đó có 4 hàng không mẫu hạm, 3 tàu chiến đấu, nhiều tàu tuần tra và khu trục, tử trận hơn 10.000 quân. Còn quân Mỹ cũng bị phá hủy 6 tàu chủ lực, 3 hàng không mẫu hạm, số lính tử trận khoảng 3.000 người. Sau trận đánh Mỹ đã thiết lập được vị thế tại nam Thái Bình Dương, dần áp sát những đảo chính của Nhật Bản, cuối cùng dùng hai quả bom nguyên tử hạ gục Nhật Bản, sau đó Mỹ hoàn toàn làm chủ tại Biển Đông.

Tàu sân bay Stennis của hải quân Mỹ và tàu sân bay trực thăng Izumo của Nhật Bản tập trận trên biển
Chiến hạm Hải quân Nhật Bản thăm cảng Cam Ranh của Việt Nam

Sau khi Mỹ đánh bại Nhật Bản đã trở thành siêu cường duy nhất thống trị tây và nam Thái Bình Dương, ngay cả Liên Xô hùng mạnh trong thời Chiến tranh Lạnh cũng không đám đụng vào địa bàn của Mỹ, chỉ có những động thái âm thầm với Ấn Độ tại Ấn Độ Dương.

Như vậy, nam Thái Bình Dương là vùng biển chiến lược quan trọng và tất yếu phải xảy ra tranh giành, lịch sử 70 năm trước đã thế và ngày nay cũng khó thay đổi!

Biển Đông nóng bỏng

Câu hỏi đặt ra: Đây là đề nghị đơn phương của Nhật Bản hay do Mỹ đứng sau? Lâm Hằng Sinh cho rằng, thực ra, mong muốn tuần tra chung với Mỹ tại Biển Đông đã được người Nhật đưa ra từ lâu, trước thời bà Tomomi Inada lên nắm quyền.

Hiện nay cuộc chiến tranh Trung – Mỹ trên Biển Đông chưa thể nổ ra một phần vì hai nước hiện đều là cường quốc vũ khí hạt nhân, hai bên đều hiểu trong trạng thái “đối kháng hòa bình” hiện nay, nếu không có cơ chế đối thoại thường trực thì chuyện nhỏ sẽ dễ dàng biến thành chuyện lớn. Vì thế trong hơn thập niên qua, Trung – Mỹ đã nỗ lực xây dựng cơ chế kết nối liên lạc nhằm giảm thiểu hiểu lầm lẫn nhau khiến tình hình leo thang nguy hiểm. Trong vấn đề này, giữa Trung Quốc và Nhật Bản còn rất hạn chế, dễ rơi vào tình trạng căng thẳng nguy hiểm khó lường.

Eo biển Malacca là vùng biển từng có tàu cướp biển hoành hành, năm 2007 Nhật Bản đã cử tàu tham gia tập trận chống cướp biển cùng nhiều nước tại khu vực. Theo lý, nếu vừa qua Nhật Bản đưa ra ý kiến vì muốn bảo vệ tàu chở hàng hóa thì rất khó để các nước phản đối. Tuy nhiên, lực lượng tham gia trước đây là tuần duyên (Japan Coast Guard), còn hiện nay rất có thể là lực lượng phòng vệ biển/hải quân (Japan Maritime Self-Defense Force). Ở mức độ nhất định, việc hải quân Nhật Bản quay lại khu vực sau 70 năm hải chiến Thái Bình Dương mang ý nghĩa quan trọng, hoàn toàn khác chuyện tập đánh cướp biển.

Có thể nói, Biển Đông hiện nay đã trở thành khu vực nóng bỏng với sự tham gia của lực lượng nhiều nước: Mỹ, Trung, Nhật, Nga, cộng thêm những nước xung quanh vùng như Việt Nam, Malaysia, Singapore, Philippines.

Sau chiến lược xoay trục Châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ, Trung Quốc cũng tập trung tăng cường thế lực tại Biển Đông. Tình hình khiến nhiều người khẳng định “chiến tranh Trung – Mỹ là tất yếu”. Quả thực nếu suy tính xác suất thì đây là cuộc chiến khó tránh, vấn đề chỉ là khi nào xảy ra mà thôi. Hiện nay hai nước Trung – Mỹ đang tìm cách kiềm chế giằng co nhau, nhưng “điểm nhấn đen” với chuyến thăm Mỹ của bà Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Tomomi Inada khiến tình hình Biển Đông như thêm mây mù kéo đến trong cơn giông tố. Cho dù giới chức cấp cao của Mỹ hiện nay chưa tuyên bố công khai “tuần tra chung”, nhưng người phát ngôn hải quân Mỹ đã cho biết “hoan nghênh Nhật Bản mở rộng hoạt động tại Biển Đông”.

Đầu năm nay Nhật Bản sửa “Luật An ninh Hòa bình”, sau khi sửa gọi là “Luật An ninh mới”, theo đó Nhật Bản có “quyền tự vệ tập thể”. Với luật mới, cho dù Nhật Bản không bị tấn công, nhưng Nhật Bản có thể hỗ trợ quân sự cho đồng minh.

Như vậy, trong hoàn cảnh quan hệ Trung – Nhật hiện nay, một khi Nhật Bản tham gia vào Biển Đông thì tình hình phức tạp hơn nhiều so với việc Mỹ đơn phương ứng phó Trung Quốc. Thực tế, hải quân Mỹ mạnh nhất thế giới không cần Nhật Bản giúp sức, ngược lại việc Nhật Bản xin nhập đội làm Mỹ rơi vào một hoàn cảnh chiến lược mới: bị xem là “liên kết với Nhật Bản thách thức Trung Quốc”, tình hình có thể làm Trung Quốc cảm thấy bị đe dọa, và xung đột có thể leo thang.

Nhật Bản muốn khẳng định “đã quay trở lại”

Thời Thủ tướng Nhật Bản Yasuhiro Nakasone thập niên 1980 đã nổi lên vấn đề “Quyết toán chính trị thời hậu chiến”, vì nhận thấy Nhật Bản bị Mỹ kìm kẹp sau phán quyết của Tòa án Chiến tranh Tokyo. Khi đó trong xã hội Nhật Bản nổi lên làn sóng kêu gọi Nhật Bản phải làm mới lại chính sách phòng vệ và ngoại giao theo hướng độc lập tự chủ. Năm 1991 nổ ra  cuộc chiến vùng Vịnh, Mỹ đưa nhiều quân tham chiến, khi đó thông tin chỉ ra Tổng thư ký Ichiro Ozawa của đảng LDP đã đến văn phòng của Thủ tướng Toshiki Kaifu và yêu cầu gửi quân tự vệ tham chiến.

Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Tomomi Inada có quan điểm cứng rắn với Trung Quốc

Năm 1993, trong kế hoạch cải cách Nhật Bản, ông Ozawa Ichiro lần đầu tiên đề nghị Nhật Bản phải trở thành một “quốc gia bình thường”, theo đó muốn sửa Điều 9 Hiến pháp Nhật Bản, ủng hộ quyền tự vệ hợp pháp của Nhật Bản. Vấn đề kéo dài đến thời của Thủ tướng Shinzo Abe hiện nay. Theo Lâm Hằng Sinh, kế hoạch “Mỹ – Nhật tuần tra chung” của Tomomi Inada hiện nay mang hình bóng quan điểm của Ichiro Ozawa, nhưng có phần cứng rắn hơn cả Yasuhiro Nakasone và Ichiro Ozawa trước đây.

Như vậy, kế hoạch này là toan tính từ lâu của người Nhật, một khi Nhật Bản tham gia vào Biển Đông sẽ không đơn giản tuần tra xong rồi đi về, vì Nhật Bản có lợi ích rất lớn tại vùng biển này, và đã bỏ rất nhiều công sức. Tại Hội nghị thượng đỉnh Đông Nam Á ở Lào vừa qua, Thủ tướng Abe đã hội kiến Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte, tuyên bố sẽ cung cấp cho Philippines hai tàu tuần tra cỡ lớn, đưa tổng số tàu mà Nhật Bản cung cấp cho Philippines lên 10 tàu. Hiện nay Nhật là nước cung ứng vũ khí chủ yếu cho Philippines. Ông Abe cũng nhấn mạnh, Nhật Bản đã “chuẩn bị hợp tác khu vực trên phạm vi rộng hơn”, cho thấy tham vọng của người Nhật tại đây luôn mạnh mẽ thường trực.

Lâm Hằng Sinh nhận định, việc giới chức cấp cao Trung Quốc khá dè đặt sau phát biểu của bà Tomomi Inada cho thấy có thể Bắc Kinh đang đau đầu về nguyên nhân phía sau hành động của Nhật Bản: một là, Nhật – Mỹ phối hợp để ép Bắc Kinh vào khuôn khổ; hai là, đây chỉ là hành động tự ý của phe cánh hữu Nhật Bản; ba là, Nhật Bản muốn dựa Mỹ để một lần nữa quay lại Biển Đông. Trong đó khả năng thứ ba là nguy hiểm nhất. Vì nếu trong hai trường hợp đầu thì mọi thứ nằm trong kiểm soát của Washington, còn trường hợp thứ ba nghĩa là việc quay trở lại Biển Đông nằm trong kế hoạch mang tính chiến lược dài hạn của Nhật Bản, theo đó Nhật Bản muốn cho thế giới biết rằng sau 70 năm cuối cùng Nhật Bản đã trở lại.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.