Daily Archives: November 15, 2016

Đau xé lòng vì mất con, thỏ mẹ lao vào tử chiến với rắn hung ác

CÙNG CHUYÊN MỤC

Chuyện lạ về hai người từ thân phận ăn mày trở thành tiến sĩ Đại Việt!

Chuyện lạ về hai người từ thân phận ăn mày trở thành tiến sĩ Đại Việt!

Trong muôn vàn những chuyện lạ ở nước ta thì lạ lùng hơn cả là những người khốn cùng, khố rách áo ôm, từng làm nghề “bị gậy” mà học giỏi đỗ cao trở thành ông Tiến sĩ.

Na Uy chi mạnh 25 tỷ USD để xây dựng đường hầm dưới nước "cực khủng" cho ô tô

Na Uy chi mạnh 25 tỷ USD để xây dựng đường hầm dưới nước “cực khủng” cho ô tô

Theo dự kiến, công trình đường hầm dưới nước dành cho ô tô ở Na Uy sẽ hoàn thành vào năm 2035.

Xem theo ngày
Ngày
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31

Tháng
Tháng 1
Tháng 2
Tháng 3
Tháng 4
Tháng 5
Tháng 6
Tháng 7
Tháng 8
Tháng 9
Tháng 10
Tháng 11
Tháng 12

Năm
2016
2015
2014
2013
XEM

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Trump sẽ là Tổng thống Mỹ thông minh nhất?

Trump sẽ là Tổng thống Mỹ thông minh nhất?

Tổng thống đắc cử Donald Trump dường như có chỉ số thông minh cao hơn những người tiền nhiệm của mình như George H. W. Bush, Bill Clinton hay John F. Kennedy, nhưng thấp hơn nhiều so với John Quincy Adams.

Tổng thống đắc cử Donald Trump. (Ảnh: Telegraph)

Donald Trump là Tổng thống đắc cử của Mỹ sau cuộc bầu cử đầy kịch tính hôm 8/11 vừa qua. Ông chuyển sang làm chính trị sau khi nổi tiếng thế giới với vai trò một doanh nhân, một nhà sản xuất chương trình truyền hình.

Mặc dù không có bằng chứng xác minh Donald Trump đã tiến hành kiểm tra chỉ số thông minh (IQ), nhưng một số tờ báo ước tính chỉ số IQ của ông là 156. Điều này khiến Trump được xem là thông minh hơn 99,98% dân số Mỹ, trang Mirror đưa tin.

Con số trên được đưa ra dựa trên tấm bằng của Trường Kinh doanh Wharton thuộc Đại học Pennsylvania danh tiếng và những thành công mà ông đã gặt hái được.

Nếu quả thực chỉ số IQ của Donald Trump là 156 thì ông sẽ trở thành một trong những tổng thống thông minh nhất nước Mỹ theo thống kê của trang InsideGov.

1. George H. W. Bush

Chỉ số IQ của cựu Tổng thống George H. W. Bush là 130,1. Trước khi theo học Đại học Yale, Bush “cha” đã gia nhập Hải quân và phục vụ cho tới khi Thế chiến II kết thúc. Ông cũng từng gặt hái được thành công trong ngành công nghiệp dầu mỏ trước khi chuyển sang làm chính trị.

2. Richard Nixon

Nixon có lẽ là tổng thống nhiều bê bối nhất, song không có gì để nghi ngờ về sự thông minh của ông với chỉ số IQ là 131. Trước khi từ chức, ông đã hoàn thành được một số mục tiêu về chính sách ngoại giao và thúc đẩy các quy định về môi trường.

3. George Washington

Washington là tổng thống đầu tiên của Mỹ không có trình độ đại học. Ngoài tư duy chính trị nhạy bén, ông còn là một tổng tư lệnh tài ba. Chỉ số IQ của ông là 132,5.

4. Franklin D. Roosevelt

Franklin D. Roosevelt là Tổng thống Mỹ thứ 32 và là tổng thống duy nhất trong lịch sử đắc cử tới bốn nhiệm kỳ. Ông từng tốt nghiệp Đại học Harvard danh tiếng và có chỉ số IQ là 139,6.

5. Abraham Lincoln

Với chỉ số IQ ước tính là 140, Lincoln là một trong những tổng thống thông minh nhất nước Mỹ. Mặc dù không học đại học, nhưng ông vẫn trở thành một luật sư có tiếng tăm và một nhà hùng biện giàu kinh nghiệm.

6. Jimmy Carter

Jimmy Carter là người có chỉ số IQ cao (145,1). Trước khi trở thành ông chủ Nhà Trắng, Carter đã tốt nghiệp chuyên ngành khoa học tại Học viện Hải quân Mỹ và sau đó tham gia các khóa học về vật lý hạt nhân tại Đại học Union.

7. Bill Clinton

Clinton được bầu vào Hiệp hội Phi Beta Kappa tại Đại học Georgetown và giành được học bổng Rhodes ở Đại học Oxford, nơi ông theo học triết học, chính trị và kinh tế. Ông cũng nhận được bằng tốt nghiệp ngành luật tại Đại học Yale. Ông sở hữu chỉ số IQ là 148,8.

8. John F. Kennedy

John F. Kennedy, người có chỉ số IQ lên tới 150,7, là tổng thống trẻ nhất nước Mỹ. Ông từng theo học Đại học Harvard và đắc cử khi mới 43 tuổi. Mặc dù thường xuyên gặp phải các vấn đề về sức khỏe, Kennedy vẫn là một chính khách nhiều tham vọng.

9. John Quincy Adams

John Quincy Adams là tổng thống Mỹ thứ 6 và là con trai của tổng thống Mỹ thứ hai John Adams. Cũng giống như cha mình, ông trở thành một luật sư đáng kính sau khi tốt nghiệp Đại học Harvard.

Ông cũng là một nhà lãnh đạo xuất chúng, từng đàm phán một số hiệp ước quốc tế quan trọng. Đáng kể nhất là, ông có thể sử dụng ít nhất 4 ngôn ngữ và thường xuyên dịch tiếng Latin và ngôn ngữ Hy Lạp cổ. Chỉ số IQ của ông là 168,8.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Hệ quả của làn sóng di cư khỏi miền Tây

Hệ quả của làn sóng di cư khỏi miền Tây

Ảnh minh họa chụp tại Cai Lậy, Tiền Giang trước đây.

Ảnh minh họa chụp tại Cai Lậy, Tiền Giang trước đây.

AFP

Tụt hậu về mọi mặt so với cả nước, làn sóng di cư rời bỏ đồng bằng sông Cửu Long đang đe dọa sản xuất nông nghiệp và đời sống xã hội của khu vực này.

Đồng bằng sông Cửu Long rộng 40.000 km2 dân số 18 triệu, từng có thời là miền đất hứa với lúa gạo, cây trái, tôm cá dồi dào và là nơi dễ sống. Thế nhưng sau những năm thường xuyên đóng góp 90%  tổng lượng gạo xuất khẩu và 60% sản lượng thủy sản xuất khẩu của cả nước, khu vực này đang chứng kiến điều gọi là một làn sóng tha hương mới.

Nông thôn và người già

Trong 20 năm từ 1994 tới 2014 đã có tới hơn 1.700.000 ngàn người di cư khỏi đồng bằng sông Cửu Long, riêng trong 5 năm gần đây từ 2009 tới 2014 số người rời bỏ khu vực gạo trắng nước trong là 544.000 người. Ngược lại số người nhập cư vào đồng bằng sông Cửu Long trong 5 năm này chỉ vỏn vẹn 97.000 người. Đây là các số liệu chính thức được công bố trong cuộc hội thảo khoa học “Phát triển kinh tế – xã hội vùng Tây Nam Bộ sau 30 năm đổi mới 1986-2015” do Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức ngày 28/10/2016 vừa qua tại Cần Thơ.

Chuyện di dân ở đồng bằng sông Cửu Long diễn ra khá phổ biến, biến đổi khí hậu chỉ là một trong những nguyên nhân thôi.
-PGS Lê Anh Tuấn

Trả lời Nam Nguyên vào tối 11/11/2016, từ Hà Nội Tiến sĩ Đặng Kim Sơn nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn nhận định về hệ quả của làn sóng di cư đã và đang xảy ra ở vùng  đồng bằng sông Cửu Long. Ông nói:

“Những năm gần đây với sức đẩy ra của nông nghiệp, mức độ cơ giới hóa tăng lên, giá ngày công cao. Trong khi đó việc làm và nhu cầu lao động ở các lĩnh vực phi nông nghiệp tăng cao, người dân nông thôn Việt Nam đã rời bỏ ruộng đồng đi ra làm việc ở các lĩnh vực phi nông nghiệp tăng lên rất nhiều, ở cả đồng bằng sông Hồng cũng như đồng bằng sông Cửu Long. Sự thay đổi trong cấu trúc xã hội là khá rõ rệt, phần lớn ở các địa phương vùng nông thôn chỉ có người già; còn người trẻ hoặc là chuyển đi ra ngoài hẳn, hoặc là họ đi làm theo thời vụ.

Tình hình này nó làm thay đổi kết cấu sản xuất, tức là ruộng đồng phải chuyển sang làm máy móc nhiều, trong khi đó kết cấu xã hội nông thôn cũng thay đổi rất mạnh mẽ, trong các gia đình thì phần lớn người trẻ phải ra đi. Đây là cả một thay đổi về xã hội lẫn về kinh tế mà trong quá trình phát triển nông thôn mới đang phải tính đến.

Ở đây một mặt nó thể hiện một quy luật bình thường trong quá trình công nghiệp hóa. Nhưng mặt khác nó cũng thể hiện việc bố trí lại dân cư diễn ra rất là nhanh và nó làm cho việc sắp xếp lại xã hội nông thôn là phải khởi điều chỉnh phải tính đến trong thời gian khá là ngắn.”

Nhiều chuyên gia đề cập tới vấn đề biến đổi khí hậu, xem đó là một trong những nguyên nhân của làn sóng di cư khỏi đồng bằng sông Cửu Long. Báo Thế giới Tiếp thị  dẫn số liệu của Trung tâm Theo dõi di trú trong nước (IDMC) cho biết năm 2015, Việt Nam có khoảng 135.000 hộ gia đình phải  di dời vì lý do môi trường.

xe-loi-622.jpg
Một người kéo xe lôi ở vùng ngoại ô thành phố Long Xuyên, An Giang. Ảnh minh họa. RFA PHOTO

Phó Giáo sư Lê Anh Tuấn, Phó viện trưởng Viện nghiên cứu biến đổi khí hậu Đại học Cần Thơ nhận định:

“Chuyện di dân ở đồng bằng sông Cửu Long diễn ra khá phổ biến, biến đổi khí hậu chỉ là một trong những nguyên nhân thôi. Ngoài ra còn những nguyên nhân khác thí dụ như đói nghèo hoặc là sự hấp dẫn của các đô thị hoặc do sự thay đổi của lớp trẻ họ không muốn gắn bó với nông thôn nữa.

Tuy nhiên trường hợp như năm ngoái khô hạn rất nghiêm trọng xâm nhập mặn làm cho sản lượng nông nghiệp sút giảm và nhiều đồng ruộng không canh tác được, thì hiện tượng sau thời gian đó thanh niên nông thôn bỏ lên thành phố kiếm việc làm rất nhiều. Tuy nhiên di dân ở đồng bằng song Cửu Long có người đi luôn bỏ hẳn nông thôn lên thành phố định cư, có người đi theo thời vụ, giai đoạn khó khăn không canh tác được thì họ đi làm thuê làm mướn ở đâu đó, khi mùa mưa về có đủ nước ngọt để canh tác thì một số người lại quay về nông thôn tiếp tục nghề nông. Đánh giá tình hình di dân ở đồng bằng sông Cửu Long ở nhiều dạng khác nhau.”

Cần quyết sách đồng bộ

Tình trạng di cư rời bỏ đồng bằng sông Cửu Long đánh động các nhà làm chính sách, bởi vì một khu vực nông thôn rộng lớn đối diện tình trạng dân số lão hóa nhanh, tình trạng thiếu lao động ảnh hưởng sản xuất nông nghiệp, thay đổi cấu trúc gia đình và xã hội. Di cư tự do ra thành thị với số lượng lớn cũng gây áp lực về an sinh xã hội cho các địa phương tiếp nhận người di cư.

Giới chuyên gia học giả và chính quyền đã tìm ra giải pháp nào để giải quyết tình trạng di cư rời bỏ đồng bằng sông Cửu Long. Tiến sĩ Đặng Kim Sơn, nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn nhận định:

Làm thế nào tạo được việc làm ổn định ở đô thị với các công việc dịch vụ, tức là trong lĩnh vực phi nông nghiệp, để người lao động ở nông thôn đi ra họ có một nghề nghiệp ổn định.
-TS Đặng Kim Sơn

“Mọi người đã bàn luận rất nhiều, chắc chắn trong thời gian tới phải điều chỉnh chính sách đất đai, làm thế nào trong điều kiện bớt lao động thì phải tich tụ đất tập trung qui mô lớn hơn, để những người ở lại sử dụng máy móc một cách thuận lợi.

Tuy nhiên bài toán phức tạp hơn là phải làm thế nào tạo được việc làm ổn định ở đô thị với các công việc dịch vụ, tức là trong lĩnh vực phi nông nghiệp, để người lao động ở nông thôn đi ra họ có một nghề nghiệp ổn định và có một cuộc sống mà có thể điều chỉnh lại gia đình, chẳng hạn họ có thể đưa người già đi theo.

Hoặc nếu không thì họ phải có việc làm trong tầm có thể trở về nông thôn, theo kiểu gọi là ly nông bất ly hương. Cả hai việc này đòi hỏi cần có thời gian và có điều chỉnh vì nó không chỉ ở trong lĩnh vực nông nghiệp mà còn liên quan đến cả sự bố trí lại công nghiệp và kinh tế đô thị nữa.”

Tại cuộc Hội thảo ở Cần Thơ ngày 28/10/2016,  Phó Giáo sư Lê Thanh Sang, Viện trưởng Viện khoa học xã hội vùng Tây Nam Bộ nhận định là quá trình lão hóa dân số ở đồng bằng sông Cửu Long đang diễn ra rất nhanh do tình trạng di cư của lao động trẻ. Ông Viện trưởng cảnh báo một tương lai xám cho đồng bằng sông Cửu Long đó là dân số lão hóa và  ngày càng nghèo hơn.

Báo Người Lao Động dẫn lời Phó giáo sư Lê Thanh Sang, theo đó tỉ lệ phụ thuộc  của người cao tuổi sẽ tăng lên trong 2 thập niên tới. Kết hợp với nhiều yếu tố, đồng bằng sông Cửu Long sẽ đối mặt vấn đề trung hạn là dân số trở nên lão hóa cùng với tình trạng nghèo khổ, khi những lớp di dân nông thôn – thành thị đầu tiên không tham gia thị trường lao động thành thị và trở về nông thôn sinh sống.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

“Trung Quốc chưa thay đổi tham vọng ở Biển Đông thì tình hình khó dịu đi”

“Trung Quốc chưa thay đổi tham vọng ở Biển Đông thì tình hình khó dịu đi”

Chia sẻ

Dân trí “Nguồn gốc của căng thẳng thì chúng ta đã biết là tham vọng của Trung Quốc về Biển Đông không thay đổi. Cho nên chúng ta cũng không nên hi vọng rằng khi Trung Quốc chưa thay đổi thì có nghĩa là tình hình sẽ dịu đi”, PGS.TS Nguyễn Vũ Tùng, Giám đốc Học viện Ngoại giao, phát biểu.
 >> Căng thẳng ở Biển Đông chưa hạ nhiệt do vẫn còn va chạm trên thực địa
 >> Học giả Trung Quốc dự hội thảo quốc tế về Biển Đông tại Nha Trang

Trao đổi với báo chí bên lề Hội thảo khoa học quốc tế về Biển Đông lần thứ VIII, với chủ đề: “Hợp tác vì an ninh và phát triển khu vực”, tại TP Nha Trang, ngày 14/11, PGS.TS Nguyễn Vũ Tùng, Giám đốc Học viện Ngoại giao, cho rằng, sau phán quyết vụ kiện Biển Đông, một số nước đã tiến hành các hoạt động ngoại giao, điều chỉnh lập luận về mặt pháp lý để thích ứng với tình hình mới. Trung Quốc cũng bắt đầu mở ra một số tiến trình về ngoại giao, cũng đàm phán, cũng có một số các biểu hiện hòa dịu trong quan hệ, kể cả với Philippines.

– Có ý kiến đánh giá rằng, sau phán quyết của Tòa trọng tài về vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc thì tình trạng pháp lý tại Biển Đông sẽ thay đổi. Theo ông, sau phán quyết đó thì những vấn đề pháp lý gì còn tồn tại?

– Theo ý kiến riêng của tôi, vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc là một bước tiến rất lớn về mặt pháp lý vì phán quyết của tòa là phán quyết ràng buộc và cuối cùng. Điều đó có nghĩa rằng, chúng ta có rất nhiều cơ hội để làm cho các vấn đề pháp lý trước thì đang tranh cãi, bây giờ nó trở thành rất rõ ràng.

Ví dụ như “đường chín đoạn” thì bây giờ tòa đã bác bỏ giá trị của lời tuyên bố về “đường chín đoạn”. Nó sẽ mở ra những cơ hội cho các tiến trình ngoại giao và pháp lý.

Chúng ta sẽ thấy và đã thấy, ngay sau khi tòa ra phán quyết thì một số nước cũng đã xây dựng các lập luận của mình dựa trên các phán quyết của tòa và đã tiến hành một số các hoạt động ngoại giao, tiến hành một số các điều chỉnh lập luận về mặt pháp lý để thích ứng với tình hình mới. Chúng ta nhìn thấy những chuyển động, như là trong quan hệ giữa Philippines và Trung Quốc; trong quan hệ giữa Trung Quốc với các nước, trong đó có Việt Nam, Malaysia… cũng đang đi theo hướng đấy.

PGS.TS Nguyễn Vũ Tùng, Giám đốc Học viện Ngoại giao, trao đổi với báo chí bên lề hội thảo, ngày 14/11
PGS.TS Nguyễn Vũ Tùng, Giám đốc Học viện Ngoại giao, trao đổi với báo chí bên lề hội thảo, ngày 14/11

Quá trình này sẽ không suôn sẻ, không thẳng, trải qua nhiều diễn biển phức tạp vì có nhiều yếu tố khác chen vào, trong đó có yếu tố khó đổi là yếu tố về tham vọng của Trung Quốc, trong đó có yếu tố mới về chính trị Mỹ, chính trị Philippines và có những chuyển động khác ở trong khu vực về kinh tế, về chiến lược. Thế nhưng, phán quyết của tòa tạo ra một cơ sở rất tốt để chúng ta nhìn thấy những sự kiện tiếp tục chuyển biến.

– Trên thực tế, Trung Quốc vẫn đang củng cố vị thế của mình ở Biển Đông, vẫn tăng cường xây dựng các căn cứ quân sự cũng như dân sự ở Hoàng Sa, Trường Sa. Cùng với sự thay đổi Tổng thống mới của Mỹ, ông có nghĩ rằng căng thẳng ở Biển Đông sẽ bước sang một giai đoạn mới hay không và ông nhận định nó sẽ tiến triển theo hướng như thế nào?

– Nguồn gốc của căng thẳng thì chúng ta đã biết là tham vọng của Trung Quốc về Biển Đông không thay đổi. Cho nên chúng ta cũng không nên hi vọng rằng khi Trung Quốc chưa thay đổi thì có nghĩa là tình hình sẽ dịu đi. Chúng ta cũng phải tiếp tục cẩn trọng, nhất là vẫn phải đề phòng cho những tình huống căng thẳng ở Biển Đông.

Nhưng nó có những yếu tố mà chúng ta cũng có thể tin tưởng rằng, căng thẳng đấy không quá mức như chúng ta lo ngại. Chúng ta cũng thấy rằng, Trung Quốc bắt đầu mở ra một số tiến trình về ngoại giao, đàm phán, cũng có một số các biểu hiện hòa dịu trong quan hệ, ngay cả với Philippines.

Trung Quốc cũng rất lo ngại về việc Tổng thống mới đắc cử ở Mỹ nhưng Trung Quốc cũng là một trong những nước đầu tiên gọi điện chúc mừng, và đặt vấn đề 2 bên có những biện pháp để quán triệt mối quan hệ Mỹ – Trung. Đấy là những tín hiệu tuy là ban đầu nhưng mà cũng để chúng ra nghĩ rằng, có thể tình hình nó sẽ không phát triển cực đoan.

Tuy nhiên, vấn đề chốt nhất vẫn là tham vọng của Trung Quốc. Cái này thì chúng ta tiếp tục theo dõi và tiếp tục cảnh giác.

– Theo ông, những giải pháp căn cơ nào hiện nay để duy trì hòa bình, an ninh, ổn định, tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông?

– Tôi nghĩ rằng, đối với Việt Nam thì biện pháp tốt nhất là biện pháp ngoại giao. Đây là nằm chung trong luồng tư duy của các nước nhỏ – ngoại giao bao giờ cũng là mặt trận hàng đầu để bảo vệ chủ quyền, bảo vệ quyền lợi của đất nước.

Biện pháp quân sự sẽ là biện pháp phiêu lưu. Biện pháp kinh tế thì chúng ta cũng phải chờ đến khi lực lượng kinh tế mạnh lên và chúng ta phải tạo được chỗ đứng trong phân công lao động khu vực và quốc tế.

Biện pháp ngoại giao, trong đó có biện pháp pháp lý và biện pháp đàm phán hòa bình, vẫn là biện pháp tốt nhất dành cho những nước nhỏ và là biện pháp khả thi nhất trong giai đoạn hiện nay.

Hội thảo khoa học quốc tế về Biển Đông lần thứ VIII, với chủ đề: “Hợp tác vì an ninh và phát triển khu vực”, tại TP Nha Trang
Hội thảo khoa học quốc tế về Biển Đông lần thứ VIII, với chủ đề: “Hợp tác vì an ninh và phát triển khu vực”, tại TP Nha Trang

– Thưa ông, trong phiên khai mạc ông có nói đến yếu tố tân Tổng thống Mỹ là một yếu tố bất ngờ. Hiện chưa rõ chính sách của ông ấy, nhưng theo ông sẽ tác động như thế nào đến Châu Á?

– Như chúng ta biết, sự có mặt của Mỹ ở khu vực trong giai đoạn gần đây là một yếu tố tạo nên sự ổn định. Sự có mặt này thì có mặt cả về kinh tế và có mặt cả về địa chiến lược. Lập trường của Mỹ về vấn đề Biển Đông cũng có giá trị rất tốt đối với việc làm giảm căng thẳng trên Biển Đông.

Chúng ta cứ tưởng tượng rằng, nếu không có những lập luận, những lời tuyên bố phản bác lại những hành động cực đoan của Trung Quốc thì tình hình cũng sẽ khác. Chúng ta cũng biết rằng, nếu Mỹ tiếp tục can dự về mặt kinh tế ở khu vực thì cũng tạo ra động lực về mặt phát triển kinh tế cho các nước trong khu vực, tất nhiên cũng tạo ra tăng trưởng ngay cả phía Mỹ.

Bây giờ còn quá sớm để phân tích xem là nước Mỹ sẽ chọn chính sách nào đối với Châu Á – Thái Bình Dương. Cái này chúng ta cần chờ thêm một thời gian nữa. Cá nhân tôi nghĩ rằng, lợi ích của nước Mỹ vẫn yêu cầu nước Mỹ có mặt ở khu vực, làm ăn với khu vực Châu Á – Thái Bình Dương – khu vực đang có tăng trưởng kinh tế nhiều nhất và cơ hội kinh tế cao nhất.

– Xin cảm ơn ông!

Viết Hảo (ghi)

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Donald Trump cứng rắn với Trung Quốc

DONALD TRUMP – NƯỚC MỸ NHÌN TỪ BÊN TRONG – KỲ CUỐI:

Donald Trump cứng rắn với Trung Quốc

15/11/2016 10:13 GMT+7

TTO – Ngày hôm nay, thế giới phải đối đầu với hai “phiên bản” của Trung Quốc. Trung Quốc “tốt” là Trung Quốc đã xây dựng những thành phố vĩ đại và cung cấp nhà ở lẫn giáo dục cho hàng triệu người.

Donald Trump cứng rắn với Trung Quốc
Ông Donald Trump luôn tự hào về khả năng kinh doanh và khả năng lãnh đạo của mình, cho rằng với khả năng này ông có thể giải quyết được vấn đề kinh tế của Mỹ hiện tại và “làm nước Mỹ vĩ đại trở lại”. Trong ảnh: tòa nhà Trump ở New York

Trung Quốc “tốt” cho phép công dân họ du lịch khắp thế giới để học tập, và giúp tạo ra một tầng lớp trung lưu ngày càng phát triển.

Trung Quốc “xấu” là Trung Quốc gần như bị giấu kín với người bên ngoài. Đó là chính quyền kiểm soát quyền tiếp cận Internet của người dân, giới hạn tự do cá nhân, phát động tin tặc tấn công trên mạng và sử dụng sức ảnh hưởng của họ trên khắp thế giới để thao túng các nền kinh tế. Và đồng thời trong suốt thời gian đó, họ đang củng cố sức mạnh quân sự của mình.

Không còn nghi ngờ rằng việc giải quyết Trung Quốc, cùng với việc giải quyết nước Nga, sẽ tiếp tục là thách thức dài hạn lớn nhất của chúng ta.

Chúng ta đã thua cuộc

Chúng ta hiện cạnh tranh với Trung Quốc về kinh tế và chúng ta đã thua cuộc chiến này từ rất lâu. Trung Quốc đã trở thành đối tác thương mại lớn thứ ba của chúng ta, chỉ đứng sau hàng xóm của ta như Canada và Mexico.

Dẫu vậy, Trung Quốc nắm giữ nợ của nước Mỹ (hơn 1,5 ngàn tỉ đôla) nhiều hơn bất cứ quốc gia nào khác (dù Nhật Bản cũng gần sát).

Nhưng chúng ta đã chứng kiến vào mùa hè năm 2015 khi thị trường chứng khoán Trung Quốc sụp đổ, nền kinh tế hai nước bị buộc vào nhau theo một lối rất tiêu cực.

Chúng ta biết rằng chúng ta đã trở nên phụ thuộc vào thị trường đang nổi lên của Trung Quốc. Trong năm 2014, chúng ta nhập khẩu 17% hàng hóa Trung Quốc, nhiều hơn bất cứ nước nào trên thế giới.

Hong Kong, nay đã hoàn toàn thuộc về Trung Quốc, đứng thứ hai và Nhật Bản đứng xa thứ ba. Sức khỏe của nền kinh tế Trung Quốc dựa vào chúng ta. Họ cần thương mại của chúng ta hơn là ta cần họ.

Trong vòng vài thập niên qua, nền kinh tế Trung Quốc đã tăng trưởng thần kỳ 9 – 10% mỗi năm, mặc dù gần đây đã có dấu hiệu nguội đi.

Bất chấp những biến động gần đây, các nhà kinh tế học dự báo rằng trong thập niên tiếp theo Trung Quốc sẽ thay thế Hoa Kỳ giữ vị trí nền kinh tế lớn nhất thế giới.

Chúng ta đã làm gì để đảm bảo chúng ta sẽ có khả năng cạnh tranh với họ? Chúng ta đã làm gì để đánh bại họ? Tôi sẽ nói các bạn nghe chúng ta đã làm gì: Chúng ta cứ kệ để mọi việc diễn ra.

Kẻ thù

Hẳn sẽ có người mong tôi không nhắc đến Trung Quốc như kẻ thù của chúng ta. Song họ chính xác là như thế.

Họ đã hủy diệt toàn bộ những ngành công nghiệp bằng việc tận dụng lao động giá rẻ, khiến chúng ta mất hàng chục ngàn việc làm, do thám các doanh nghiệp của chúng ta, đánh cắp công nghệ của chúng ta, thao túng và hạ giá đồng tiền của họ, khiến cho việc nhập khẩu hàng hóa của chúng ta bị tốn kém hơn và đôi khi là bất khả thi.

Tôi biết rõ, bằng kinh nghiệm của mình, rằng đây là một vấn đề khó khăn. Người Trung Quốc là những doanh nhân rất khôn khéo và họ có lợi thế lớn so với những hãng sản xuất của chúng ta.

Chừng nào chúng ta còn chơi theo những điều kiện này, chừng đó các công ty Mỹ sẽ không có lựa chọn. Các quốc gia thuộc thế giới thứ ba có chi phí sản xuất căn bản thấp hơn. Họ có chi phí đầu người thấp hơn và trả lương công nhân ít hơn rất nhiều.

Là một doanh nhân, tôi có nghĩa vụ với tất cả nhân viên của mình, với người tiêu dùng và cổ đông, trong việc làm ra sản phẩm tốt nhất với giá thấp nhất có thể.

Tuy nhiên, trong vấn đề chính sách toàn cầu của Mỹ, chúng ta muốn tước đoạt lợi thế của Trung Quốc.

Năm ngoái, Tổng thống Barack Obama đến Trung Quốc và họ đã tổ chức một yến tiệc thịnh soạn đón ông. Trước khi lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình thực hiện chuyến thăm ngược lại đến Mỹ, Nhà Trắng đã thông báo kế hoạch tổ chức một bữa quốc yến phung phí.

Tôi đã phát biểu rằng việc tổ chức một bữa tối để vinh danh ông ta là điều tôi không bao giờ làm. Thay vào đó, tôi sẽ bảo ông ta rằng đã đến lúc chúng ta bàn chuyện làm ăn và chúng ta đi thẳng vào công việc.

Để “khai vị”, chế độ Trung Quốc cần ngừng hạ giá đồng tiền của họ vì làm thế khiến phần còn lại của thế giới khó cạnh tranh hơn.

Thực tế là Trung Quốc cũng cần một nước Mỹ mạnh về kinh tế y như chúng ta cần nền kinh tế của họ.

Ví dụ vào tháng 5-2015, cứ mỗi 5 đôla hàng hóa xuất khẩu của Trung Quốc trong tháng đó thì người Mỹ mua trị giá 1 đôla. Chúng ta mua tới 20% tổng giá trị xuất khẩu của họ, nhiều hơn đáng kể giá trị mua của EU – vốn là nơi tiêu thụ hàng hóa Trung Quốc lớn thứ hai.

Và với thực tế sức mua của Mỹ tiếp tục tăng mỗi năm, Trung Quốc ngày càng phụ thuộc vào người tiêu dùng Mỹ để trở nên thịnh vượng.

Sức mạnh quân đội 
và sức mạnh kinh tế

Vậy chúng ta cần làm gì đây? Chúng ta sẽ sử dụng đòn bẩy đang có để thay đổi tình hình sao cho có lợi cho đất nước và người dân Mỹ. Chúng ta phải bắt đầu bằng việc trở nên cứng rắn với người Trung Quốc.

Tổng thống Obama đưa ra những tuyên bố mạnh mẽ và hứa hẹn với chúng ta về những hành động quyết liệt nhưng rồi chẳng có gì xảy ra.

Khi làm ăn với Trung Quốc, chúng ta cần đứng thẳng trước họ và nhắc họ nhớ rằng việc lợi dụng khách hàng tốt nhất của họ là không tốt cho việc kinh doanh.

Và rồi chúng ta nên ngồi xuống và tìm cách để mối quan hệ này trở nên hợp tình hợp lý hơn. Không có một chính sách đối ngoại nào phù-hợp-cho-tất-cả.

Chúng ta cần làm cho niềm tin của mình trở nên thật rõ ràng và để chúng hình thành bộ khung cho chính sách của chúng ta.

Mọi thứ bắt đầu bằng một nền quân sự mạnh. Chúng ta sẽ có quân đội mạnh mẽ nhất trong lịch sử, và người của ta sẽ được trang bị vũ khí tốt nhất cùng sự bảo vệ tốt nhất hiện có.

Điều này đồng nghĩa với hệ thống tên lửa tốt nhất, chất lượng đào tạo và trang thiết bị tốt nhất phục vụ chiến tranh trên mạng, cùng với những binh lính được huấn luyện tốt nhất.

Và khi họ trở về nhà sau cuộc chiến, thương tích đầy mình, binh lính của chúng ta sẽ không phải chờ nhiều tháng để được chữa trị.

Vậy làm sao để chúng ta đảo ngược tình thế để bắt đầu chiến thắng trở lại? Như tôi đã nói, điều này bắt đầu bằng quân đội mạnh nhất và tối tân nhất thế giới, và cũng là quân đội cơ động nhất.

Chúng ta cần hạch toán một phần chi phí giúp biến chuyển chất lượng quân sự sang người Saudi Arabia, người Hàn Quốc, người Đức, người Nhật và người Anh. Rốt cuộc thì chúng ta đang bảo vệ họ và họ nên chia sẻ chi phí.

Tiếp theo, chúng ta cần hoạt động từ vị thế của sức mạnh kinh tế. Chúng ta có bộ máy tiêu dùng mạnh mẽ nhất thế giới. Chúng ta chỉ cần bắt đầu sử dụng nó sao cho có lợi nhất.

Chúng ta cần dùng sức mạnh kinh tế của thị trường Mỹ và người tiêu dùng Mỹ để hỗ trợ bạn bè của chúng ta, và nhắc nhớ kẻ thù chúng ta về những lợi ích của việc hợp tác.

Chúng ta cần chú ý đặc biệt đến người Trung Quốc. Thời kỳ họ phá giá chúng ta bằng những chính sách bảo hộ và gián điệp điện tử đã hết rồi.

Bình minh mới của nước Mỹ chỉ vừa bắt đầu.

Như Steve Forbes từng viết trong tạp chí của ông: “Tài sản của Trung Quốc trong Ngân khố Mỹ, vốn đạt mức kỷ lục trong năm 2013, đang rung lên những hồi chuông báo động. Không phải thế.

Chúng nhấn mạnh rằng Bắc Kinh đang trở nên phụ thuộc vào Mỹ và phần còn lại của thế giới để duy trì sức mạnh và thịnh vượng của họ”. Hãy nhớ: Người Trung Quốc cần chúng ta cũng nhiều như chúng ta cần họ. Thậm chí có lẽ còn nhiều hơn.

* Loạt bài này được trích từ cuốn sách Donald Trump – Nước Mỹ nhìn từ bên trong (Crippled America – How to make America great again) của ông Donald Trump, bản tiếng Việt do Công ty Nhã Nam và Nhà xuất bản Thế Giới ấn hành.

  • Từ khóa

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Tiến sỹ Úc nhận định về sức mạnh Hải quân – Không quân Việt Nam và khu vực Châu Á – TBD

Tiến sỹ Úc nhận định về sức mạnh Hải quân – Không quân Việt Nam và khu vực Châu Á – TBD

Nguyễn Bình | 15/11/2016 07:30

Tiến sỹ Úc nhận định về sức mạnh Hải quân - Không quân Việt Nam và khu vực Châu Á - TBD

Hải quân Việt Nam.

Theo Viện Nghiên cứu Chính sách chiến lược Australia (ASPI), hơn một thập kỷ qua, các quốc gia trong khu vực Châu Á-TBD tăng chi tiêu quốc phòng và gấp rút hiện đại hóa hải quân.

Đó là nhận xét chung trong Báo cáo đặc biệt mang tên “Crowded waters: Naval competition in the Asia–Pacific – Vùng biển nhộn nhịp: Cạnh tranh hải quân ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương” của Tiến sĩ Sheryn Lee – thuộc Viện Nghiên cứu Chính sách chiến lược Australia (ASPI).

Bài viết cho rằng, quyết định mua sắm vũ khí trong khu vực bị chi phối bởi nhiều yếu tố như quan hệ chiến lược cả đối ngoại cũng như đối nội. Sự bành trướng liên tục trên biển của Trung Quốc đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới những chương trình hiện đại hóa quân đội của các bên liên quan.

Theo đó, các quốc gia trong khu vực chú trọng tăng cường mua sắm khí tài trinh sát biển tầm xa và các hệ thống tình báo tín hiệu hiện đại, tàu chiến mặt nước có thời gian hành trình lâu hơn, được trang bị hệ thống tên lửa diệt hạm, cũng như mua sắm tàu ngầm và máy bay chiến đấu, trinh sát tầm xa.

Tiến sỹ Úc nhận định về sức mạnh Hải quân - Không quân Việt Nam và khu vực Châu Á - TBD - Ảnh 1.

Tàu hải quân Trung Quốc.

Có thể nói rằng, sức mạnh không quân và hải quân được các quốc gia chú trọng phát triển minh chứng rõ nét cho tình huống chiến lược ở khu vực, mặc dù trong một số trường hợp lục quân vẫn đóng vai trò quyết định, như ở Việt Nam, Philippines, Thái Lan, Myanmar và Campuchia.

Trong bối cảnh đó, báo cáo của tiến sỹ Lee đưa ra một số đánh giá cụ thể về xu hướng mua sắm vũ khí của một số quốc gia và vùng lãnh thổ tại khu vực Châu Á- Thái Bình Dương. Ở Đông Bắc Á bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan. Ở Đông Nam Á, báo cáo đề cập tới Indonesia, Singapore, Việt Nam, Philippines, Malaysia và Thái Lan.

Các phân tích được sử để đánh giá những tác động tiềm tàng tới vị trí chiến lược của Australia trong khu vực và tới Lực lượng vũ trang Australia.

Chi tiêu quốc phòng Đông Bắc Á tăng

Thống kê chi tiêu quốc phòng trong khu vực cho thấy có sự khác biệt giữa các quốc gia Đông Bắc Á với các nước ở Đông Nam Á.

Cụ thể, ở Đông Bắc Á, chỉ riêng Trung Quốc đã chiếm tới 51% tổng chi tiêu quốc phòng của khu vực trong năm 2013 khi chi tới 153 tỷ USD.

Bắc Kinh đã mạnh tay tăng chi cho quân đội kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 và chi tiêu của họ tăng đột biến, vượt trội hơn so với phần còn lại gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, những nước và vùng lãnh thổ vốn chỉ có sự tăng nhẹ trong những năm gần đây.

Tiến sỹ Úc nhận định về sức mạnh Hải quân - Không quân Việt Nam và khu vực Châu Á - TBD - Ảnh 2.

Chi tiêu quốc phòng ở Đông Nam Á tăng, nhưng còn khiêm tốn

Ở Đông Nam Á, chi tiêu quốc phòng khiêm tốn hơn nhiều so với Đông Bắc Á, nhưng xu hướng chung vẫn tăng. Tuy nhiên, bức tranh ở khu vực này lại phức tạp hơn nhiều. Có thể thấy rằng, Biển Đông là yếu tố mang tính chiến lược chi phối xu hướng mua sắm vũ khí của các quốc gia tại đây, đặc biệt là tàu ngầm.

Về số chi tiêu quốc phòng tuyệt đối (quy đổi ra USD) của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á vẫn rất khiêm tốn so với Trung Quốc và các nước Đông Bắc Á. Tuy nhiên, có một điều quan trọng cần lưu ý là sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu (đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới tất cả các quốc gia Đông Nam Á, trừ Singapore và Indonesia), chi tiêu quốc phòng ở khu vực vẫn tiếp tục tăng.

Singapore vẫn đứng đầu với chi tiêu quốc phòng năm 2013 ước 12,3 tỷ USD, tương đương khoảng 5% GDP và chiếm chừng 23% tổng chi tiêu quốc phòng cả khu vực.

Trong khi đó, Malaysia và Thái Lan cũng tăng đáng kể ngân sách quốc phòng nhưng so với GDP thì vẫn ở mức thấp, chiếm chưa tới 1%, tương tự như Philippines.

So sánh chi tiêu quốc phòng và các chương trình mua sắm ở khu vực Đông Nam Á cho thấy có sự tăng liên tục cho tới năm 2011.

Tuy nhiên, từ năm 2012 trở đi, số lượng vũ khí mua sắm có giảm, trong khi tổng chi ngân sách quốc phòng vẫn tăng, cho thấy các quốc gia ở đây đầu tư ít hơn về số lượng, nhưng lại tập trung vào những loại hiện đại, uy lực mạnh hơn.

Mặc dù vậy, dù nỗ lực để hiện đại hóa quân đội, nhưng dường như các quốc gia Đông Nam Á (ngoại trừ Singapore) vẫn chưa phát triển được năng lực tự chủ sản xuất. Việc vận hành và bảo đảm khả năng hoạt động của những vũ khí tối tân cũng vẫn đang trong quá trình hoàn thiện dần dần.

Các quốc gia chi tiêu quốc phòng, mua sắm vũ khí như thế nào?

Trung Quốc

Định hướng chính của chương trình hiện đại hóa quốc đội là tăng sức mạnh chiến đấu để đối phó với sự can thiệp của Hải quân và Không quân Mỹ vào khu vực, đặc biệt là ở eo biển Đài Loan.

Bất chấp sự tác động mạnh mẽ của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, ngân sách quốc phòng của Trung Quốc vẫn giữ được mức tăng 2 con số gần như liên tục kể từ năm 1988 và đạt mức gấp 8 lần trong vòng 20 năm qua.

Trong tháng 3/2014, Bắc Kinh tuyên bố tăng 12,2% ngân sách quốc phòng, lên mức 132 tỷ USD. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình kêu gọi hiện thực hóa “những giấc mơ Trung Hoa” để biến nước này thành một siêu cường ngang ngửa với Mỹ.

Chương trình hiện đại hóa Hải quân Trung Quốc bắt đầu từ đầu thập niên 1990, tập trung vào một loạt dự án mua sắm vũ khí bao gồm tên lửa đạn đạo diệt hạm, tàu ngầm và tàu mặt nước. Hải quân Trung Quốc hiện có lực lượng tàu ngầm tấn công lớn nhất thế giới (62 chiếc), trong khi Hải quân Mỹ lại giảm xuống chỉ còn 53 chiếc vào năm 2009.

Tiến sỹ Úc nhận định về sức mạnh Hải quân - Không quân Việt Nam và khu vực Châu Á - TBD - Ảnh 3.

Tàu ngầm Trung Quốc.

Tuy nhiên, tàu ngầm Mỹ đều sử dụng động cơ hạt nhân thì hầu hết tàu ngầm Trung Quốc là loại diesel – điện. Hải quân Trung Quốc đang nỗ lực phát triển lực lượng tàu sân bay với số lượng tới 4 chiếc, đảm bảo trong bất cứ thời gian nào cũng có ít nhất 1 chiếc đang triển khai trên biển.

Nhật Bản

Tháng 7 năm 2014, Nội các của Thủ tướng Shinzo Abe tuyên bố một cải cách quan trọng đó là sửa đổi Điều 9 Hiến pháp, theo đó cho phép Lực lượng phòng vệ Nhật bản có quyền triển khai lực lượng ra nước ngoài và mở rộng định nghĩa “phòng vệ” bao hàm cả việc trợ giúp đồng mình hay còn gọi là phòng thủ tập thể.

Mặc dù chính quyền của tổng thống Mỹ Obama cam kết đảm bảo an ninh khu vực, nhưng dường như Nhật Bản vẫn lo xa khi quyết định mua sắm những vũ khí tối tân nhất, bao gồm tên lửa đánh chặn SM-3 trên hạm tàu, 42 tiêm kích tàng hình thế hệ 5 F-35A, hệ thống tác chiến phòng không Aegis và sẵn sàng đầu tư nhiêu hơn nữa.

Bất chấp kinh tế đình đốn, Tokyo vẫn giữ nguyên tỷ lệ chi ngân sách quốc phòng chiếm 1% GDP. Mặc dù tỷ lệ này không cao so với nhiều nước trong khu vực, nhưng có vẻ như Nhật Bản đã và đang sử dụng rất hiệu quả trong việc duy trì, nâng cấp hiện đại hóa và mua sắm mới.

Trong vòng 4 năm tới, lực lượng tàu ngầm Nhật Bản sẽ tăng từ 16 lên 22 chiếc, Lực lượng phòng vệ Nhật Bản cũng mua thêm 13 máy bay tuần tra săn ngầm nội địa Kawasaki XP-1 để thay thế các máy bay P-3C hết niên hạn và bắt đầu từ năm tài chính 2015, Nhật Bản sẽ triển khai máy bay không người lái Global Hawk,…

Vùng lãnh thổ Đài Loan

Đài Loan hiện đại hóa lực lượng vũ trang của mình với trọng tâm là để đối phó với Trung Quốc. Mặc dù Mỹ tiếp tục khẳng định sẽ bảo vệ Đài Loan trước mọi cuộc tấn công nhưng những động thái quanh eo biển Đài Loan ảnh hưởng rất mạnh tới an ninh khu vực.

Mục đích hiện đại hóa của Đài Loan là để sẵn sàng cho một cuộc chiến phi đối xứng với Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc.

Báo cáo Quốc phòng năm 2013 của Đài Loan đã chỉ rõ sự tác động của sức mạnh ngày càng tăng của Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc tới nỗ lực đảm bảo an ninh của Mỹ cho Đài Loan một khi Bắc Kinh quyết định sử dụng vũ lực.

Báo cáo này nhận định rằng tới năm 2020, Trung Quốc có thể sẽ phát động tấn công Đài Loan, nhưng bất ngờ là trong khi Trung Quốc mạnh tay chi tiêu quốc phòng thì vùng lãnh thổ này lại có xu hướng giảm, ngân sách hàng năm duy trì ở mức thấp, chỉ khoảng 2% GDP trong năm 2014, còn xa mới đạt tới mức mong muốn là 3%.

Yêu cầu thay thế 2 tàu ngầm có từ thập niên 1960 bằng 6 tàu ngầm diesel-điện vẫn chưa thể thực hiện.

Để tuần tiễu biển, hiện lực lượng này đã sở hữu 12 chiếc P-3C Orion có thể mang tên lửa diệt hạm. Đài Loan cũng tiếp tục bày tỏ mong muốn nâng cấp các máy bay tiêm kích F-16A/B già cỗi lên chuẩn F-16C/D và tuyên bố mục tiêu dài hạn là đặt mua tiêm kích tàng hình F-35B, bất chấp việc Washington không sẵn lòng chuyển giao.

Việt Nam

Việt Nam đang hiện đại hóa hải quân và không quân để tăng cường khả năng bảo vệ chủ quyền trước nguy cơ những diễn biến bất lợi trên Biển Đông. Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng trong thập kỷ qua, cho phép Việt Nam có điều kiện đầu tư nhiều hơn cho quốc phòng.

So với các nước láng giềng Đông Nam Á, tiềm lực quốc phòng Việt Nam đã có sự chuyển biến mạnh mẽ hơn. Tháng 12/2013, Hải quân đã tiếp nhận chiếc đầu tiên trong tổng số 6 tàu ngầm Kilo-636 đặt mua từ Nga và dự kiến sẽ nhận đủ theo hợp đồng vào năm 2016.

Tháng 8/2013, Việt Nam ký hợp đồng đặt mua thêm 12 chiếc tiêm kích đa năng Su-30MK2, bổ sung thêm máy bay hiện đại có thể mang tên lửa chống tàu cho lực lượng không quân.

Tiến sỹ Úc nhận định về sức mạnh Hải quân - Không quân Việt Nam và khu vực Châu Á - TBD - Ảnh 4.

Tiêm kích Su-30MK2 của Không quân nhân dân Việt Nam. Ảnh: Báo PK-KQ.

Ngoài ra, Việt Nam cũng đặt hàng thêm 2 tàu hộ vệ tên lửa lớp Gepard, nâng tổng số lên 6 chiếc. Trong số 4 chiếc đã có thì 2 chiếc dường như có khả năng tiến công mặt đất và 2 chiếc còn lại có khả năng chống ngầm.

Việt Nam cũng có thể đang cân nhắc một số lựa chọn nhằm mục tiêu thay thế 11 tàu chiến và 5 tàu khinh hạm có từ thời Xô Viết đã đến cuối vòng đời. Trong một diễn biến khác, Nhật Bản tuyên bố cung cấp cho Việt Nam 6 tàu tuần tra.

Sức mạnh của các tàu chiến thế hệ mới của Hải quân Việt Nam được đảm bảo bởi tên lửa diệt hạm Kh-35 của Nga.

Tuy nhiên, việc thay thế, hiện đại hóa lực lượng này cần thêm một thời gian nữa để hoàn thành.

Philippines

Quốc gia này phải đối mặt với những vấn đề an ninh nội địa nghiêm trọng khiến họ phải chú ý đầu tư cho lục quân và thủy quân lục chiến. Tuy nhiên, sức ép ngày càng gia tăng của Trung Quốc ở Biển Đông buộc Quân đội Philippines phải được ưu tiên mạnh hơn và khỏa lấp những yếu kém hiện hữu.

Ngân sách quốc phòng của Philippines có sự tăng trưởng ấn tượng từ mức 2 tỷ USD năm 2010 lên mức 2,9 tỷ USD. Tuy nhiên, tỷ lệ so với GDP lại giảm, từ mức 1,2% năm 2010, xuống còn 0,73% năm 2014.

Tiến sỹ Úc nhận định về sức mạnh Hải quân - Không quân Việt Nam và khu vực Châu Á - TBD - Ảnh 5.

Tàu hải quân Philippines.

Không quân Philippines dường như không tồn tại. Lần xuất kích huấn luyện cuối cùng của một chiếc máy bay chiến đấu phản lực (F-5) là vào năm 2005, kể từ đó trở đi, không có bất cứ chiếc máy bay chiến đấu nào còn bay được.

Không những chưa có kinh nghiệm thực chiến, phi công Philippines cũng vấp phải vấn đề nghiệm trọng trong huấn luyện do thiếu tiền. Nhận thức được vấn đề, gần đây quốc gia này đã đặt mua 12 chiếc máy bay chiến đấu hạng nhẹ FA-50 và 8 trực thăng vũ trang Bell 412. Tuy nhiên, các loại máy bay này vẫn chủ yếu dùng cho mục đích huấn luyện.

Hải quân Philippines ở trong tình trạng tồi tệ, không có tàu ngầm và tàu mặt nước hiện đại nhất là tàu khu trục đã qua sử dụng từ thế chiến thứ II của Mỹ.

Hiện nay, Hải quân Philippines chỉ có một số tàu tuần tra cỡ nhỏ mua của Hàn Quốc và Nhật Bản. Tuy vậy, nươc này vẫn nuôi tham vọng đặt mua 2 tàu ngầm diesel-điện, 2 khinh hạm, 2-3 tàu tuần tra tốc độ cao cùng 8 tàu đổ bộ.

theo Thời đại

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.