Daily Archives: December 22, 2016

Philippines phá hư thế trận Biển Đông

Philippines phá hư thế trận Biển Đông

  • 8 giờ trước
Tổng thống Rodrigo DuterteImage copyrightREUTERS

Trước chủ trương chiếm đoạt Biển Đông của Trung Quốc, các nước nhỏ trong tranh chấp không có thế trận nào khác hơn là đoàn kết. Sự đoàn kết đó là để vừa hỗ trợ lẫn nhau vừa cùng nhau vận động sự ủng hộ các nước khác, đặc biệt là của Mỹ.

Khó có thể vận dụng các quan điểm “Trường Sa là của Việt Nam”, “Kalayaan (tên Phi cho phần lớn quần đảo Trường Sa) là của Philippines”, vv…, để xây dựng sự đoàn kết nói trên. Do đó, hai cơ sở then chốt cho sự đoàn kết là chống lại các hành vi phi pháp, lấn lướt, gây hấn của Trung Quốc, và vận dụng Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) để chống lại yêu sách quá lố về biển của họ.

Thế nhưng trong 15 năm qua ứng sách của Philippines lại rất xáo trộn. Ông Rodrigo Duterte không phải là Tổng thống Philippines đầu tiên nghiêng về Trung Quốc.

Năm 2004, nhân cơ hội Mỹ và Philippines bị chia rẽ về chiến tranh Trung Đông và vì thông tin tình báo của Mỹ liên quan đến sự cáo buộc về gian lận trong chiến dịch tranh cử của Tổng thống Philippines Gloria Arroyo, Trung Quốc đã nhanh chóng tranh thủ Philippines bằng viện trợ, đầu tư và cho vay nợ. Bà Arroyo ngả về Trung Quốc. Trong năm đó, Philippines ký thỏa thuận khảo sát dầu khí với Trung Quốc cho khu vực Trường Sa và bãi Cỏ Rong.

Dù trước đó luôn luôn chống lại việc hợp tác với Trung Quốc cho khu vực này, Việt Nam đã đành phải tham gia thỏa thuận khảo sát dầu khí ba bên Trung-Phi-Việt năm 2005.

Năm 2009, Philippines nhận ra thỏa thuận đó là sai lầm, và chính họ lại là nước đầu tiên tuyên bố không gia hạn nó.

Nhưng cùng năm đó, cũng dưới chính phủ Arroyo, Philippines đã từ chối lời mời của Việt Nam và Malaysia về gửi đệ trình chung cho thềm lục địa lên Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa theo UNCLOS. Không những thế, họ còn phản đối các đệ trình của Việt Nam và Malaysia trong khi không phản đối công hàm với bản đồ “đường chữ U” Trung Quốc gửi cho Ủy ban.

Việt Nam ‘cải tạo Đá Lát’ ở Trường Sa

Chiến lược của

Duterte ‘gác lại’ phán quyết Biển Đông

Chính sách sai lầm của Philippines cho đến 2009 đã thuận lợi cho sự bành trướng của Trung Quốc.

Quyết sách của Benigno Aquino

Từ năm 2011 trở đi, dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Benigno Aquino, và một phần là do bị Trung Quốc dọa đâm húc tàu khảo sát tại bãi Cỏ Rong, Philippines bắt đầu tích cực chống “đường chữ U” và đoàn kết với Việt Nam hơn.

Năm 2011, họ gửi công hàm đến Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa phản đối công hàm “đường chữ U” của Trung Quốc. Từ đó cho đến năm 2016, Việt Nam và Philippines là hai nước đoàn kết nhất và chống sự bành trướng của Trung Quốc một cách tích cực nhất trong số các nước Đông Nam Á, và điều đó đã thuận tiện cho việc Mỹ tăng cường sự hiện diện tại Biển Đông.

Việc Trung Quốc chiếm đoạt bãi cạn Scarborough năm 2012 là giọt nước tràn ly cho Philippines. Năm 2013 họ tuyên bố đơn phương kiện Trung Quốc, và ngày 12/7/2016 Hội đồng Trọng tài UNCLOS ban hành phán quyết, với Philippines thắng kiện gần như hoàn toàn.

Phán quyết này đã bác bỏ hoàn toàn cơ sở pháp lý của “đường chữ U” như một yêu sách về biển. Hội đồng Trọng tài đã bác bỏ lập luận “quyền lịch sử” và “Trường Sa được hưởng quy chế vùng đặc quyền kinh tế” mà phía Trung Quốc đã dùng để biện minh cho đường này. Việc Trung Quốc xây đảo nhân tạo và dùng tàu thuyền chấp pháp để đâm húc cũng bị lên án.

Chiến thắng pháp lý của Philippines là cơ hội vàng cho các nước Đông Nam Á trong tranh chấp: nó đã bênh vực các cơ sở then chốt cho sự đoàn kết và của việc kêu gọi sự ủng hộ của thế giới. Đặc biệt, với phán quyết, Mỹ có thể ủng hộ các nước Đông Nam Á một cách trực diện hơn.

Bước ngoặt Duterte

Đáng tiếc là cơ hội đó không trở thành sự thật vì trước đó hai tháng ông Duterte đã đắc cử Tổng thống Philippines.

Ông là người thù ghét Âu Mỹ, và đặc biệt là Mỹ, trên mọi phương diện: ý thức hệ, chính trị, văn hóa, lịch sử và cá nhân. Ngay từ khi trước khi ông đắc cử, đã dễ dự đoán rằng ông sẽ không chống sự bành trướng của Trung Quốc, cũng như sẽ không thân Mỹ, như người tiền nhiệm, ông Aquino.

Nhưng Duterte đã xoay trục Philippines từ Mỹ sang Trung Quốc với một tốc độ bất ngờ.

Chỉ trong nửa năm, ông đã tuyên bố “tách ra” khỏi Mỹ, vốn là đồng minh trong 60 năm qua, không tuần tra chung trên biển, sẽ chỉ tập trận với Mỹ một lần cuối, muốn quân đội Mỹ rời Philippines trong vòng hai năm, cộng với hàng loạt những lời đả kích và chế nhạo về Mỹ.

Ngược lại, ông ca ngợi Trung Quốc hết lời. Không chỉ ca ngợi các thành tích của Trung Quốc, ông còn tuyên bố rằng tuyên truyền thời Chiến tranh Lạnh đã làm người ta hiểu lầm về Trung Quốc, Trung Quốc “có tấm lòng tốt lành nhất trong mọi nước”, thậm chí Trung Quốc không hề chiếm một tấc lãnh thổ nào của Philippines.

Về phán quyết của Hội đồng Trọng tài UNCLOS, từ đầu ông đã tuyên bố là sẽ không đem ra trong đàm phán với Trung Quốc. Ông cũng tuyên bố là gác phán quyết đó sang một bên, không áp đặt bất cứ gì lên Trung Quốc “vì chính trị Đông Nam Á đang thay đổi”, và sẵn sàng khảo sát chung với Trung Quốc trong các vùng biển có tranh chấp.

Hiện nay, việc đòi hỏi Trung Quốc tôn trọng phán quyết bị hụt chân khi chính Philippines không đòi hỏi điều đó. Nếu chính Philippines lại ca ngợi Trung Quốc hết lời, cho rằng họ không chiếm tấc lãnh thổ nào của mình, trong khi phê phán sự hiện diện của Mỹ trong khu vực, đả kích Mỹ, thì Mỹ không còn động cơ “hỗ trợ đồng minh bị đe dọa” trong việc đối đầu với Trung Quốc.

Hai tuần sau khi ông Duterte thăm Bắc Kinh, tuyên bố “tách ra” khỏi Mỹ và ký kết một loạt các bản ghi nhớ về đầu tư, viện trợ và vay nợ tổng cộng trị giá 24 tỷ đôla, vào đầu tháng 11 Thủ tướng Najib Razak của Malaysia cũng đến Bắc Kinh ký các thỏa thuận thương mại tổng cộng trị giá 34 tỷ đôla, mua 4 chiến hạm của Trung Quốc, tuyên bố hợp tác hải quân với Trung Quốc, muốn giải quyết tranh chấp qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị, và kêu gọi “các nước cựu thực dân dừng dạy đời những nước họ từng bóc lột”.

Như vậy, thế trận duy nhất của các nước nhỏ trong tranh chấp bị phá vỡ từ khi còn phôi thai. Nửa năm sau phán quyết lịch sử về tranh chấp Biển Đông, sau cơ hội vàng cho các nước này, ông Duterte đã đưa Trung Quốc từ chiến bại pháp lý đến chiến thắng chính trị.

Việt Nam cô độc?

Ngược lại, với sự xoay trục của Philippines, Việt Nam trở thành nước đầu ngọn sóng gió.

Hình ảnh so sánh cho thấy quy mô cải tạo đảo Trường Sa Lớn của Việt NamImage copyrightCSIS/AMTI
Image captionHình ảnh so sánh cho thấy quy mô cải tạo đảo Trường Sa Lớn của Việt Nam

Việt Nam hiện đang đứng trước ba nguồn rủi ro. Nguồn thứ nhất là từ Trung Quốc: nước này sẽ gây áp lực để đập cái đinh còn nhô lên, và khi họ gây hấn thì Việt Nam sẽ lẻ loi hơn trong những năm qua.

Nguồn thứ nhì là từ Mỹ: hiện nay chưa rõ chính sách của chính phủ của ông Donald Trump về Biển Đông và Việt Nam sẽ là gì.

Nguồn thứ ba là từ chính mình: phái “đặt cầu hòa trên chủ quyền” sẽ gây thêm áp lực cho phái “bảo vệ chủ quyền” với lập luận “Philippines là đồng minh của Mỹ mà còn như thế”.

Trước sự không thành của thế trận đoàn kết, có lẽ Việt Nam đối diện ba sự lựa chọn chính. Thứ nhất là theo bước Philippines quy phục Trung Quốc. Thứ nhì là tiếp tục với chính sách “ba không”, cho đến khi Trung Quốc hành động. Thứ ba là đẩy mạnh việc xây dựng quan hệ với Mỹ, tận dụng cơ hội Mỹ đang thấy Philippines không còn là đồng minh đáng tin cậy.

Bài phản ánh văn phong và quan điểm riêng của tác giả, nhà nghiên cứu hiện sống ở Anh.

Advertisements
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Hoàng Sa và âm mưu 70 năm trước

Hoàng Sa và âm mưu 70 năm trước

16/12/2016 13:23 GMT+7

TTO – Đầu năm 1956, lợi dụng lúc Pháp vừa rút quân khỏi Đông Dương, các bên của Việt Nam bận rộn thực thi Hiệp định Genève, Trung Quốc bí mật đưa quân ra chiếm một số đảo phía đông quần đảo Hoàng Sa.

Hoàng Sa và âm mưu 70 năm trước
Khu nhà đồn trú của lính địa phương quân Việt Nam cộng hòa trên đảo Hoàng Sa năm 1959 – Ảnh tư liệu trong sách Kỷ yếu Hoàng Sa

Đó là sự thật, nhưng Trung Quốc thay trắng đổi đen bằng việc tổ chức cái gọi là “lễ kỷ niệm 70 năm thu hồi Hoàng Sa – Trường Sa”.

Sự thật này đã được các nhà nghiên cứu sử học nhắc lại tại hội thảo “Chủ quyền biển đảo Việt Nam trong lịch sử” vừa tổ chức ở Huế ngày 12-12 với những tư liệu đã được cả thế giới biết đến, nhất là tư liệu ghi lại diễn biến liên quan đến Hoàng Sa và Trường Sa giai đoạn sau khi Hiệp định Genève được ký kết (1954).

Sự thừa nhận mang tính pháp lý quốc tế

PGS.TS Trần Nam Tiến (Trường ĐH KHXH&NV – ĐH Quốc gia TP.HCM) cho biết vào năm 1938, Nhật đã chiếm ba đảo Phú Lâm, Lincoln và Hữu Nhật của quần đảo Hoàng Sa và đổi tên Hoàng Sa thành Hirata Gunto, mở màn cuộc “khủng hoảng Hoàng Sa” giữa Pháp – Nhật.

Chính quyền của Pháp tại Đông Dương (lúc đó là chủ thể đại diện Chính phủ triều Nguyễn trong việc quản lý toàn bộ lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam) đã phản ứng với những hành động đáp trả quyết liệt. Đến tháng 8-1945, Nhật thua trận và đầu hàng.

Toàn bộ lãnh thổ của các nước mà Nhật đã chiếm đóng, trong đó có Việt Nam, phải được phân định bằng một hiệp ước được ký kết tại hội nghị tổ chức ở thành phố San Francisco (Mỹ) từ ngày 4 đến 8-9-1951 với 52 nước tham gia (không có Trung Quốc).

Tiếp đó, khi Nhật Bản tuyên bố từ bỏ chủ quyền lãnh thổ đối với Hoàng Sa và Trường Sa, các quốc gia tham gia hội nghị cũng đã phủ nhận chủ quyền của Trung Quốc và mặc nhiên nhìn nhận chủ quyền đó thuộc về Việt Nam, do chính thể Quốc gia Việt Nam (của quốc trưởng Bảo Đại) đại diện đang có mặt tại hội nghị.

Cũng theo PGS.TS Trần Nam Tiến, ngày 7-9-1951 trong phiên họp toàn thể lần thứ bảy của hội nghị, thủ tướng kiêm ngoại trưởng Trần Văn Hữu – trưởng phái đoàn của Quốc gia Việt Nam – đã tuyên bố: “Chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa!”.

Tuyên bố đó không gặp một sự phản đối nào của đại diện 51 quốc gia có mặt tại hội nghị. “Việc 92% quốc gia đồng minh thành viên Liên Hiệp Quốc thừa nhận chủ quyền của Việt Nam tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là có giá trị pháp lý bắt buộc” – PGS.TS Trần Nam Tiến nhấn mạnh.

Kết quả của hội nghị cũng khiến tuyên bố “Trung Quốc có chủ quyền không thể xâm phạm đối với các đảo trên Biển Đông” của bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc Chu Ân Lai vào 20 ngày trước đó trở nên vô giá trị.

ThS Nguyễn Quang Trung Tiến (Trường ĐH Khoa học Huế) cho biết thêm đến Hội nghị Genève bàn việc lập lại hòa bình ở Đông Dương (năm 1954) với sự có mặt của các quốc gia và cả Trung Quốc, các nước tiếp tục tuyên bố tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa.

Cuộc xâm chiếm 
bí mật 1956

Theo ThS Nguyễn Đình Dũng (ĐH Phú Xuân – Huế), tháng 4-1956, khi quân Pháp vừa rút khỏi Đông Dương, quân đội Quốc gia Việt Nam và tiếp đó là quân đội Việt Nam cộng hòa (VNCH) ra tiếp quản quần đảo Hoàng Sa thì chỉ còn nhóm đảo phía tây.

Trước đó vào thời điểm đầu năm 1956, Trung Quốc đã cho người bí mật chiếm đóng nhóm đảo phía đông Hoàng Sa, trong đó có đảo lớn nhất là Phú Lâm và Lincoln.

Các nhà sử học cho rằng hành vi này của Trung Quốc vi phạm chính sự xác nhận của họ khi Trung Quốc là một trong những nước đã ký vào cam kết của hội nghị.

Đây là cuộc xâm chiếm lén lút mà Trung Quốc cho rằng họ đã “thu hồi” quần đảo Hoàng Sa từ phía Việt Nam. Để rồi ngày 8-12-2016, họ đã tổ chức cái gọi là “lễ kỷ niệm 70 năm” thực hiện hành vi lén lút đó.

TS Nguyễn Nhã (TP.HCM) cho biết cũng với ý đồ như thế, 10 năm trước đó, tháng 12-1946 lợi dụng việc giải giáp quân Nhật thua trận, quân đội Trung Hoa dân quốc của Tưởng Giới Thạch cũng ra chiếm đóng trái phép nhóm đảo phía đông quần đảo Hoàng Sa, chính là nhóm đảo mà năm 1956 quân đội Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã bí mật ra chiếm đóng trở lại.

Cũng theo ThS Nguyễn Đình Dũng, suốt thời gian sau đó Trung Quốc liên tục khiêu khích và tìm cách xâm nhập các đảo phía tây Hoàng Sa mà quân đội VNCH đang trấn giữ.

Trong đêm khuya 20 rạng sáng 21-2-1959, Trung Quốc lén lút đưa ngư dân (thực chất là lính) bí mật đổ bộ lên các đảo Cam Tuyền, Duy Mộng, Quang Hòa của Hoàng Sa. Hải quân VNCH đã ngăn chặn quyết liệt.

Tàu Trung Quốc vẫn không rút lui, khiến hải quân VNCH phải nổ súng, bắt giữ 82 người và 5 thuyền đánh cá của Trung Quốc.

Sau sự kiện này, VNCH liên tục có các hoạt động mạnh mẽ về ngoại giao, hành chính, kinh tế nhằm bảo vệ chủ quyền trong tình trạng Trung Quốc đã trở nên hung hăng hơn. Và đỉnh điểm là cuộc cưỡng chiếm của Trung Quốc với toàn bộ quần đảo Hoàng Sa vào ngày 19-1-1974.

Đánh giá về sự kiện bí mật xâm chiếm năm 1956 và công khai cưỡng chiếm năm 1974 của Trung Quốc, TS Nguyễn Nhã đã dẫn lại kết luận của luật gia Monique Chemillier-Gendreau (người Pháp, giáo sư môn công pháp và khoa học chính trị của ĐH Paris VII) trong cuốn sách La souveraineté sur les archipels Paracels et Spratleys xuất bản tại Paris giữa những năm 1990:

“Các quyền của Việt Nam lâu đời hơn và vững chắc hơn, mặc dù các đòi hỏi của Trung Quốc đã được cụ thể hóa nhờ việc chiếm đóng bằng vũ lực cách đây 39 năm đối với một bộ phận quần đảo và cách đây 21 năm đối với bộ 
phận kia…”.

“Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử từ chính sử, châu bản, địa chí, các văn bản đứng đầu nhà nước từ thời chúa Nguyễn, Tây Sơn, các hoàng đế triều đình nhà Nguyễn đến các lãnh đạo chính quyền qua các thời kỳ lịch sử từ đầu thế kỷ XVII đến nay. Đã khẳng định: chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa cũng như các hải đảo khác hợp với luật pháp quốc tế, là chiếm hữu thực sự mang tính nhà nước, liên tục và hòa bình”…

(Trích quyết nghị của hội thảo “Chủ quyền biển đảo Việt Nam trong lịch sử” ngày 12-12-2016 tại Huế)

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Blog at WordPress.com.