Monthly Archives: December 2016

TRUMP VÀ NHÓM “CONSIGLIERE” CHỐNG TÀU

. TRUMP VÀ NHÓM “CONSIGLIERE” CHỐNG TÀU

Posted by adminbasam on 23/12/2016

FB Mạnh Kim

23-12-2016

Việc thành lập Hội đồng thương mại quốc gia Nhà trắng (White House National Trade Council-NTC) và chọn Peter Navarro làm sếp NTC đã cho thấy ngày càng rõ đích ngắm của Donald Trump: Trung Quốc! Độc giả Việt Nam không lạ gì Peter Navarro, tác giả quyển “Death by China” (2011). Có bằng tiến sĩ kinh tế Đại học Harvard, Peter Navarro là một trong những nhà nghiên cứu chỉ trích Trung Quốc mạnh nhất vài năm gần đây. Trump chọn Peter Navarro một phần chính là quan điểm tương tự mà Navarro đã viết trong “Death by China”. Trump và Navarro chưa từng gặp nhau hoặc điện đàm, cho đến tháng 9 năm nay.

Bắc Kinh không thể không thấy bất an, sau bao nhiêu năm hưởng lợi, bắt đầu từ thời điểm Nixon-Kissinger mở cửa thế giới cho Trung Quốc. Phản ứng trước sự kiện Peter Navarro, tờ Global Times viết: “Trung Quốc cần đối mặt với thực tế rằng nhóm Trump vẫn duy trì thái độ cứng rắn với Trung Quốc. Cần phải vất đi tất cả ảo tưởng và sẵn sàng mọi chuẩn bị cho bất kỳ động thái tấn công nào của nội các Trump”. Tờ China Daily “bình tĩnh” hơn: bất cứ động thái nào làm tổn hại quan hệ Mỹ-Trung cũng đều mang lại tổn thất cho cả hai bên. Phát ngôn viên Hoa Xuân Oánh cũng có vẻ “tỉnh táo” một cách bất thường. Thay vì nhảy dựng lên đùng đùng như mọi lần, bà Hoa chỉ “nhỏ nhẹ”: “Hợp tác kinh tế và chính trị là quan trọng không chỉ cho hai nước (Mỹ-Trung) mà còn cho sự thịnh vượng toàn cầu”.

Trump đang chuẩn bị đánh quyết liệt Trung Quốc. Có lẽ điều này không còn nghi ngờ. Bộ máy của Trump qui tụ nhiều gương mặt không chỉ siêu diều hâu nói chung mà còn “rất diều hâu” đặc biệt với Trung Quốc. Wilbur Ross, người vừa được đề cử bộ trưởng thương mại, cũng có quan điểm chơi mạnh Bắc Kinh. Peter Navarro và Wilbur Ross từng đứng tên chung trong bài viết trên CNBC (29-7-2016) với nội dung rằng tất cả mô hình như NAFTA hoặc WTO đều không mang lại lợi ích cho Mỹ. Để đối phó Trung Quốc cũng như điều chỉnh lại chính sách thương mại Mỹ, hai tác giả nói: “Chúng ta cần một tay đàm phán cứng rắn như Trump”.

Trước đó, viết trên National Interest (28-6-2016), Peter Navarro nói rằng nếu Trump áp thuế 45% vào hàng xuất khẩu Trung Quốc thì vấn đề thâm hụt mậu dịch tự thân nó sẽ được giải quyết tức thời. “Khi giới lãnh đạo Trung Quốc nhận thức rằng họ không còn thấy một nguyên thủ yếu trong Nhà trắng, họ sẽ ngừng những hành vi mậu dịch không công bằng, và sự thâm hụt mậu dịch khổng lồ của Mỹ với Trung Quốc sẽ tái cân bằng một cách yên ả”.

Trả lời phỏng vấn Los Angeles Times (17-8-2016), Peter Navarro nhấn mạnh: “Trung Quốc không là lý do duy nhất khiến tăng trưởng nước Mỹ chậm lại mà còn là lý do chủ yếu… Từ khi Trung Quốc vào WTO năm 2001, hơn 70.000 nhà máy Mỹ phải đóng cửa… Đừng bao giờ quên rằng (Tổng thống) Reagan từng áp thuế 100% vào hàng bán dẫn của Nhật. Người ta cần hiểu rõ sự khác biệt giữa một nhà mậu dịch tự do như Reagan và Trump, những người áp thuế bảo hộ lên những kẻ dối trá bịp bợm, với chủ nghĩa bảo hộ như cách Trung Quốc làm… Hàng rào thuế không là giải pháp cuối cùng. Nó là công cụ thương lượng để buộc Trung Quốc ngưng chơi đểu”.

Ngoài Peter Navarro, nhóm “consigliere” của ông trùm Trump còn có Michael Pillsbury, nhà ngoại giao lão làng và là bậc thầy về Trung Quốc học. Pillsbury “thuộc bài” Trung Quốc đến mức ông có thể dẫn chứng, đối chiếu và phân tích các thủ đoạn chính trị đối ngoại Trung Quốc rút ra từ thời Chiến quốc. Quyển “The Hundred-Year Marathon: China’s Secret Strategy to Replace America as the Global Superpower” của ông là công trình nghiên cứu rất đáng tham khảo (lúc nào có thời gian, tôi sẽ giới thiệu các bạn quyển sách này, phát hành cuối năm ngoái).

Ngoài ra, còn có Randy Forbes (dự kiến được bổ nhiệm sếp Hải quân) hoặc tướng hưu Michael Flynn (bổ nhiệm ghế cố vấn an ninh quốc gia). Trong quyển “The Field of Fight”, Flynn (nguyên giám đốc Cơ quan tình báo quân đội Hoa Kỳ) đã đưa Trung Quốc vào danh sách “những kẻ thù của nước Mỹ”. Người không thể không kể nữa là tướng (“Chó Điên”) James “Mad Dog” Mattis. Được chỉ định ghế bộ trưởng quốc phòng, “Chó Điên” từng nhấn mạnh nhiều lần việc phải dồn quân lực vào khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Từng là một trong những tư lệnh thủy quân lục chiến dày dặn trận mạc nhất quân đội Mỹ từ sau Thế chiến thứ hai, “Chó Điên” chưa từng có vợ. Gia đình của ông là quân đội. Ông là điển hình của mẫu tướng trận “da ngựa bọc thây” thời Chiến quốc mà Michael Pillsbury nhắc đến trong quyển sách của mình.

Có một điều thấy rõ liên quan tiến trình “lắp nòng” để tấn công Trung Quốc của chính phủ Mỹ mới. Nhóm “consigliere” không chỉ thuần túy chống Trung Quốc. Họ là những người hiểu rất rõ Trung Quốc, hiểu thấu đáo lịch sử ngàn năm của Trung Quốc và hiểu rõ tâm lý giới lãnh đạo Trung Quốc. Trong “The Hundred-Year Marathon: China’s Secret Strategy to Replace America as the Global Superpower”, Michael Pillsbury có thuật một chi tiết rằng Bộ quốc phòng Mỹ đã lập ra hai nhóm, “quân xanh” và quân đỏ”, trong đó một bên qui tụ các chuyên gia cực giỏi về Trung Quốc và buộc phải tư duy như người Trung Quốc, để lập những trận chiến giả định. Không biết Trung Quốc có những nhóm như thế hay không. Có thể họ cũng đã có. Chiến tranh súng đạn thì chưa nhưng chiến tranh thương mại coi như đã bắt đầu khai hỏa rồi.
…..

– Consigliere là từ quen thuộc trong tiểu thuyết The Godfather của Mario Puzo, có nghĩa “cố vấn”.

– Link tập phim tài liệu “Death by China” của Peter Navarro

Advertisement
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Philippines phá hư thế trận Biển Đông

Philippines phá hư thế trận Biển Đông

  • 8 giờ trước
Tổng thống Rodrigo DuterteImage copyrightREUTERS

Trước chủ trương chiếm đoạt Biển Đông của Trung Quốc, các nước nhỏ trong tranh chấp không có thế trận nào khác hơn là đoàn kết. Sự đoàn kết đó là để vừa hỗ trợ lẫn nhau vừa cùng nhau vận động sự ủng hộ các nước khác, đặc biệt là của Mỹ.

Khó có thể vận dụng các quan điểm “Trường Sa là của Việt Nam”, “Kalayaan (tên Phi cho phần lớn quần đảo Trường Sa) là của Philippines”, vv…, để xây dựng sự đoàn kết nói trên. Do đó, hai cơ sở then chốt cho sự đoàn kết là chống lại các hành vi phi pháp, lấn lướt, gây hấn của Trung Quốc, và vận dụng Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) để chống lại yêu sách quá lố về biển của họ.

Thế nhưng trong 15 năm qua ứng sách của Philippines lại rất xáo trộn. Ông Rodrigo Duterte không phải là Tổng thống Philippines đầu tiên nghiêng về Trung Quốc.

Năm 2004, nhân cơ hội Mỹ và Philippines bị chia rẽ về chiến tranh Trung Đông và vì thông tin tình báo của Mỹ liên quan đến sự cáo buộc về gian lận trong chiến dịch tranh cử của Tổng thống Philippines Gloria Arroyo, Trung Quốc đã nhanh chóng tranh thủ Philippines bằng viện trợ, đầu tư và cho vay nợ. Bà Arroyo ngả về Trung Quốc. Trong năm đó, Philippines ký thỏa thuận khảo sát dầu khí với Trung Quốc cho khu vực Trường Sa và bãi Cỏ Rong.

Dù trước đó luôn luôn chống lại việc hợp tác với Trung Quốc cho khu vực này, Việt Nam đã đành phải tham gia thỏa thuận khảo sát dầu khí ba bên Trung-Phi-Việt năm 2005.

Năm 2009, Philippines nhận ra thỏa thuận đó là sai lầm, và chính họ lại là nước đầu tiên tuyên bố không gia hạn nó.

Nhưng cùng năm đó, cũng dưới chính phủ Arroyo, Philippines đã từ chối lời mời của Việt Nam và Malaysia về gửi đệ trình chung cho thềm lục địa lên Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa theo UNCLOS. Không những thế, họ còn phản đối các đệ trình của Việt Nam và Malaysia trong khi không phản đối công hàm với bản đồ “đường chữ U” Trung Quốc gửi cho Ủy ban.

Việt Nam ‘cải tạo Đá Lát’ ở Trường Sa

Chiến lược của

Duterte ‘gác lại’ phán quyết Biển Đông

Chính sách sai lầm của Philippines cho đến 2009 đã thuận lợi cho sự bành trướng của Trung Quốc.

Quyết sách của Benigno Aquino

Từ năm 2011 trở đi, dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Benigno Aquino, và một phần là do bị Trung Quốc dọa đâm húc tàu khảo sát tại bãi Cỏ Rong, Philippines bắt đầu tích cực chống “đường chữ U” và đoàn kết với Việt Nam hơn.

Năm 2011, họ gửi công hàm đến Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa phản đối công hàm “đường chữ U” của Trung Quốc. Từ đó cho đến năm 2016, Việt Nam và Philippines là hai nước đoàn kết nhất và chống sự bành trướng của Trung Quốc một cách tích cực nhất trong số các nước Đông Nam Á, và điều đó đã thuận tiện cho việc Mỹ tăng cường sự hiện diện tại Biển Đông.

Việc Trung Quốc chiếm đoạt bãi cạn Scarborough năm 2012 là giọt nước tràn ly cho Philippines. Năm 2013 họ tuyên bố đơn phương kiện Trung Quốc, và ngày 12/7/2016 Hội đồng Trọng tài UNCLOS ban hành phán quyết, với Philippines thắng kiện gần như hoàn toàn.

Phán quyết này đã bác bỏ hoàn toàn cơ sở pháp lý của “đường chữ U” như một yêu sách về biển. Hội đồng Trọng tài đã bác bỏ lập luận “quyền lịch sử” và “Trường Sa được hưởng quy chế vùng đặc quyền kinh tế” mà phía Trung Quốc đã dùng để biện minh cho đường này. Việc Trung Quốc xây đảo nhân tạo và dùng tàu thuyền chấp pháp để đâm húc cũng bị lên án.

Chiến thắng pháp lý của Philippines là cơ hội vàng cho các nước Đông Nam Á trong tranh chấp: nó đã bênh vực các cơ sở then chốt cho sự đoàn kết và của việc kêu gọi sự ủng hộ của thế giới. Đặc biệt, với phán quyết, Mỹ có thể ủng hộ các nước Đông Nam Á một cách trực diện hơn.

Bước ngoặt Duterte

Đáng tiếc là cơ hội đó không trở thành sự thật vì trước đó hai tháng ông Duterte đã đắc cử Tổng thống Philippines.

Ông là người thù ghét Âu Mỹ, và đặc biệt là Mỹ, trên mọi phương diện: ý thức hệ, chính trị, văn hóa, lịch sử và cá nhân. Ngay từ khi trước khi ông đắc cử, đã dễ dự đoán rằng ông sẽ không chống sự bành trướng của Trung Quốc, cũng như sẽ không thân Mỹ, như người tiền nhiệm, ông Aquino.

Nhưng Duterte đã xoay trục Philippines từ Mỹ sang Trung Quốc với một tốc độ bất ngờ.

Chỉ trong nửa năm, ông đã tuyên bố “tách ra” khỏi Mỹ, vốn là đồng minh trong 60 năm qua, không tuần tra chung trên biển, sẽ chỉ tập trận với Mỹ một lần cuối, muốn quân đội Mỹ rời Philippines trong vòng hai năm, cộng với hàng loạt những lời đả kích và chế nhạo về Mỹ.

Ngược lại, ông ca ngợi Trung Quốc hết lời. Không chỉ ca ngợi các thành tích của Trung Quốc, ông còn tuyên bố rằng tuyên truyền thời Chiến tranh Lạnh đã làm người ta hiểu lầm về Trung Quốc, Trung Quốc “có tấm lòng tốt lành nhất trong mọi nước”, thậm chí Trung Quốc không hề chiếm một tấc lãnh thổ nào của Philippines.

Về phán quyết của Hội đồng Trọng tài UNCLOS, từ đầu ông đã tuyên bố là sẽ không đem ra trong đàm phán với Trung Quốc. Ông cũng tuyên bố là gác phán quyết đó sang một bên, không áp đặt bất cứ gì lên Trung Quốc “vì chính trị Đông Nam Á đang thay đổi”, và sẵn sàng khảo sát chung với Trung Quốc trong các vùng biển có tranh chấp.

Hiện nay, việc đòi hỏi Trung Quốc tôn trọng phán quyết bị hụt chân khi chính Philippines không đòi hỏi điều đó. Nếu chính Philippines lại ca ngợi Trung Quốc hết lời, cho rằng họ không chiếm tấc lãnh thổ nào của mình, trong khi phê phán sự hiện diện của Mỹ trong khu vực, đả kích Mỹ, thì Mỹ không còn động cơ “hỗ trợ đồng minh bị đe dọa” trong việc đối đầu với Trung Quốc.

Hai tuần sau khi ông Duterte thăm Bắc Kinh, tuyên bố “tách ra” khỏi Mỹ và ký kết một loạt các bản ghi nhớ về đầu tư, viện trợ và vay nợ tổng cộng trị giá 24 tỷ đôla, vào đầu tháng 11 Thủ tướng Najib Razak của Malaysia cũng đến Bắc Kinh ký các thỏa thuận thương mại tổng cộng trị giá 34 tỷ đôla, mua 4 chiến hạm của Trung Quốc, tuyên bố hợp tác hải quân với Trung Quốc, muốn giải quyết tranh chấp qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị, và kêu gọi “các nước cựu thực dân dừng dạy đời những nước họ từng bóc lột”.

Như vậy, thế trận duy nhất của các nước nhỏ trong tranh chấp bị phá vỡ từ khi còn phôi thai. Nửa năm sau phán quyết lịch sử về tranh chấp Biển Đông, sau cơ hội vàng cho các nước này, ông Duterte đã đưa Trung Quốc từ chiến bại pháp lý đến chiến thắng chính trị.

Việt Nam cô độc?

Ngược lại, với sự xoay trục của Philippines, Việt Nam trở thành nước đầu ngọn sóng gió.

Hình ảnh so sánh cho thấy quy mô cải tạo đảo Trường Sa Lớn của Việt NamImage copyrightCSIS/AMTI
Image captionHình ảnh so sánh cho thấy quy mô cải tạo đảo Trường Sa Lớn của Việt Nam

Việt Nam hiện đang đứng trước ba nguồn rủi ro. Nguồn thứ nhất là từ Trung Quốc: nước này sẽ gây áp lực để đập cái đinh còn nhô lên, và khi họ gây hấn thì Việt Nam sẽ lẻ loi hơn trong những năm qua.

Nguồn thứ nhì là từ Mỹ: hiện nay chưa rõ chính sách của chính phủ của ông Donald Trump về Biển Đông và Việt Nam sẽ là gì.

Nguồn thứ ba là từ chính mình: phái “đặt cầu hòa trên chủ quyền” sẽ gây thêm áp lực cho phái “bảo vệ chủ quyền” với lập luận “Philippines là đồng minh của Mỹ mà còn như thế”.

Trước sự không thành của thế trận đoàn kết, có lẽ Việt Nam đối diện ba sự lựa chọn chính. Thứ nhất là theo bước Philippines quy phục Trung Quốc. Thứ nhì là tiếp tục với chính sách “ba không”, cho đến khi Trung Quốc hành động. Thứ ba là đẩy mạnh việc xây dựng quan hệ với Mỹ, tận dụng cơ hội Mỹ đang thấy Philippines không còn là đồng minh đáng tin cậy.

Bài phản ánh văn phong và quan điểm riêng của tác giả, nhà nghiên cứu hiện sống ở Anh.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Hoàng Sa và âm mưu 70 năm trước

Hoàng Sa và âm mưu 70 năm trước

16/12/2016 13:23 GMT+7

TTO – Đầu năm 1956, lợi dụng lúc Pháp vừa rút quân khỏi Đông Dương, các bên của Việt Nam bận rộn thực thi Hiệp định Genève, Trung Quốc bí mật đưa quân ra chiếm một số đảo phía đông quần đảo Hoàng Sa.

Hoàng Sa và âm mưu 70 năm trước
Khu nhà đồn trú của lính địa phương quân Việt Nam cộng hòa trên đảo Hoàng Sa năm 1959 – Ảnh tư liệu trong sách Kỷ yếu Hoàng Sa

Đó là sự thật, nhưng Trung Quốc thay trắng đổi đen bằng việc tổ chức cái gọi là “lễ kỷ niệm 70 năm thu hồi Hoàng Sa – Trường Sa”.

Sự thật này đã được các nhà nghiên cứu sử học nhắc lại tại hội thảo “Chủ quyền biển đảo Việt Nam trong lịch sử” vừa tổ chức ở Huế ngày 12-12 với những tư liệu đã được cả thế giới biết đến, nhất là tư liệu ghi lại diễn biến liên quan đến Hoàng Sa và Trường Sa giai đoạn sau khi Hiệp định Genève được ký kết (1954).

Sự thừa nhận mang tính pháp lý quốc tế

PGS.TS Trần Nam Tiến (Trường ĐH KHXH&NV – ĐH Quốc gia TP.HCM) cho biết vào năm 1938, Nhật đã chiếm ba đảo Phú Lâm, Lincoln và Hữu Nhật của quần đảo Hoàng Sa và đổi tên Hoàng Sa thành Hirata Gunto, mở màn cuộc “khủng hoảng Hoàng Sa” giữa Pháp – Nhật.

Chính quyền của Pháp tại Đông Dương (lúc đó là chủ thể đại diện Chính phủ triều Nguyễn trong việc quản lý toàn bộ lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam) đã phản ứng với những hành động đáp trả quyết liệt. Đến tháng 8-1945, Nhật thua trận và đầu hàng.

Toàn bộ lãnh thổ của các nước mà Nhật đã chiếm đóng, trong đó có Việt Nam, phải được phân định bằng một hiệp ước được ký kết tại hội nghị tổ chức ở thành phố San Francisco (Mỹ) từ ngày 4 đến 8-9-1951 với 52 nước tham gia (không có Trung Quốc).

Tiếp đó, khi Nhật Bản tuyên bố từ bỏ chủ quyền lãnh thổ đối với Hoàng Sa và Trường Sa, các quốc gia tham gia hội nghị cũng đã phủ nhận chủ quyền của Trung Quốc và mặc nhiên nhìn nhận chủ quyền đó thuộc về Việt Nam, do chính thể Quốc gia Việt Nam (của quốc trưởng Bảo Đại) đại diện đang có mặt tại hội nghị.

Cũng theo PGS.TS Trần Nam Tiến, ngày 7-9-1951 trong phiên họp toàn thể lần thứ bảy của hội nghị, thủ tướng kiêm ngoại trưởng Trần Văn Hữu – trưởng phái đoàn của Quốc gia Việt Nam – đã tuyên bố: “Chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa!”.

Tuyên bố đó không gặp một sự phản đối nào của đại diện 51 quốc gia có mặt tại hội nghị. “Việc 92% quốc gia đồng minh thành viên Liên Hiệp Quốc thừa nhận chủ quyền của Việt Nam tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là có giá trị pháp lý bắt buộc” – PGS.TS Trần Nam Tiến nhấn mạnh.

Kết quả của hội nghị cũng khiến tuyên bố “Trung Quốc có chủ quyền không thể xâm phạm đối với các đảo trên Biển Đông” của bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc Chu Ân Lai vào 20 ngày trước đó trở nên vô giá trị.

ThS Nguyễn Quang Trung Tiến (Trường ĐH Khoa học Huế) cho biết thêm đến Hội nghị Genève bàn việc lập lại hòa bình ở Đông Dương (năm 1954) với sự có mặt của các quốc gia và cả Trung Quốc, các nước tiếp tục tuyên bố tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa.

Cuộc xâm chiếm 
bí mật 1956

Theo ThS Nguyễn Đình Dũng (ĐH Phú Xuân – Huế), tháng 4-1956, khi quân Pháp vừa rút khỏi Đông Dương, quân đội Quốc gia Việt Nam và tiếp đó là quân đội Việt Nam cộng hòa (VNCH) ra tiếp quản quần đảo Hoàng Sa thì chỉ còn nhóm đảo phía tây.

Trước đó vào thời điểm đầu năm 1956, Trung Quốc đã cho người bí mật chiếm đóng nhóm đảo phía đông Hoàng Sa, trong đó có đảo lớn nhất là Phú Lâm và Lincoln.

Các nhà sử học cho rằng hành vi này của Trung Quốc vi phạm chính sự xác nhận của họ khi Trung Quốc là một trong những nước đã ký vào cam kết của hội nghị.

Đây là cuộc xâm chiếm lén lút mà Trung Quốc cho rằng họ đã “thu hồi” quần đảo Hoàng Sa từ phía Việt Nam. Để rồi ngày 8-12-2016, họ đã tổ chức cái gọi là “lễ kỷ niệm 70 năm” thực hiện hành vi lén lút đó.

TS Nguyễn Nhã (TP.HCM) cho biết cũng với ý đồ như thế, 10 năm trước đó, tháng 12-1946 lợi dụng việc giải giáp quân Nhật thua trận, quân đội Trung Hoa dân quốc của Tưởng Giới Thạch cũng ra chiếm đóng trái phép nhóm đảo phía đông quần đảo Hoàng Sa, chính là nhóm đảo mà năm 1956 quân đội Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã bí mật ra chiếm đóng trở lại.

Cũng theo ThS Nguyễn Đình Dũng, suốt thời gian sau đó Trung Quốc liên tục khiêu khích và tìm cách xâm nhập các đảo phía tây Hoàng Sa mà quân đội VNCH đang trấn giữ.

Trong đêm khuya 20 rạng sáng 21-2-1959, Trung Quốc lén lút đưa ngư dân (thực chất là lính) bí mật đổ bộ lên các đảo Cam Tuyền, Duy Mộng, Quang Hòa của Hoàng Sa. Hải quân VNCH đã ngăn chặn quyết liệt.

Tàu Trung Quốc vẫn không rút lui, khiến hải quân VNCH phải nổ súng, bắt giữ 82 người và 5 thuyền đánh cá của Trung Quốc.

Sau sự kiện này, VNCH liên tục có các hoạt động mạnh mẽ về ngoại giao, hành chính, kinh tế nhằm bảo vệ chủ quyền trong tình trạng Trung Quốc đã trở nên hung hăng hơn. Và đỉnh điểm là cuộc cưỡng chiếm của Trung Quốc với toàn bộ quần đảo Hoàng Sa vào ngày 19-1-1974.

Đánh giá về sự kiện bí mật xâm chiếm năm 1956 và công khai cưỡng chiếm năm 1974 của Trung Quốc, TS Nguyễn Nhã đã dẫn lại kết luận của luật gia Monique Chemillier-Gendreau (người Pháp, giáo sư môn công pháp và khoa học chính trị của ĐH Paris VII) trong cuốn sách La souveraineté sur les archipels Paracels et Spratleys xuất bản tại Paris giữa những năm 1990:

“Các quyền của Việt Nam lâu đời hơn và vững chắc hơn, mặc dù các đòi hỏi của Trung Quốc đã được cụ thể hóa nhờ việc chiếm đóng bằng vũ lực cách đây 39 năm đối với một bộ phận quần đảo và cách đây 21 năm đối với bộ 
phận kia…”.

“Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử từ chính sử, châu bản, địa chí, các văn bản đứng đầu nhà nước từ thời chúa Nguyễn, Tây Sơn, các hoàng đế triều đình nhà Nguyễn đến các lãnh đạo chính quyền qua các thời kỳ lịch sử từ đầu thế kỷ XVII đến nay. Đã khẳng định: chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa cũng như các hải đảo khác hợp với luật pháp quốc tế, là chiếm hữu thực sự mang tính nhà nước, liên tục và hòa bình”…

(Trích quyết nghị của hội thảo “Chủ quyền biển đảo Việt Nam trong lịch sử” ngày 12-12-2016 tại Huế)

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Trung Quốc nắn gân Trump ở Biển Đông, có thể bị phản đòn

Trung Quốc nắn gân Trump ở Biển Đông, có thể bị phản đòn

TS TRẦN CÔNG TRỤC

10:19 20/12/16

(GDVN) – Nếu như chính quyền Barack Obama âm thầm giao thiệp với Bắc Kinh để đòi lại UUV, thì ông Donald Trump nói công khai: Mỹ không cần đòi lại, Trung Quốc cứ giữ.

South China Morning Post ngày 20/12 đưa tin, quân đội Trung Quốc dự kiến sẽ trả lại hải quân Hoa Kỳ chiếc tàu lặn không người lái (UUV) bị họ “tịch thu” khi đang hoạt động trên Biển Đông, một quan chức quốc phòng Mỹ cho hay.

UUV này sẽ được Trung Quốc trả cho tàu chiến Hoa Kỳ tại một địa điểm gần bãi cạn Scarborough, một tàu khu trục Mỹ đã cơ động đến điểm hẹn và việc bàn giao dự kiến sẽ diễn ra trong ngày hôm nay 20/12. Nguồn tin không cho biết thêm chi tiết. [1]

Tiến sĩ Trần Công Trục, ảnh do tác giả cung cấp.

Người viết cho rằng, vụ Trung Quốc “tịch thu” hay “bắt giữ” một chiếc UUV của hải quân Hoa Kỳ đang hoạt động hợp pháp ở Biển Đông là một phép thử liều lĩnh nhằm cứu vãn yêu sách “đường lưỡi bò” phi pháp.

Thứ nhất, Trung Quốc vẫn tiếp tục âm mưu bằng cách này cách khác để hiện thực hóa yêu sách đường lưỡi bò vô lý và phi pháp vốn đã bị Tòa Trọng tài thành lập theo Phụ lục VII, UNCLOS 1982 bác bỏ qua Phán quyết ngày 12/7/2016.

ĐIỀU 58, UNCLOS 198 quy định Các quyền và các nghĩa vụ của các quốc gia khác trong vùng đặc quyền về kinh tế:

“Trong vùng đặc quyền về kinh tế, tất cả các quốc gia, dù có biển hay không có biển, trong những điều kiện trong những quy định thích hợp của Công ước trù định, được hưởng các quyền tự do hàng hải và hàng không, quyền tự do đặt dây cáp ngầm nêu ở Điều 87, cũng như quyền tự do sử dụng biển vào những mục đích khác hợp pháp về mặt quốc tế và gắn liền với việc thực hiện các quyền tự do này và phù hợp với các quy định khác của Công ước, nhất là những khuôn khổ việc khai thác các tàu thuyền, phương tiện bay và dây cáp, ống dẫn ngầm.”

Tiến sĩ Jay Batongbacal, một chuyên gia về an ninh hàng hải từ Đại học Luật Philippines lưu ý rằng, hoạt động nghiên cứu hải dương học của Mỹ ở khu vực này là hoàn toàn hợp pháp, đúng với quy định tự do hàng hải của UNCLOS 1982. [2]

Nhưng Yue Gang, một Đại tá quân đội Trung Quốc nghỉ hưu nói trắng ra rằng chiếc UUV đã tiến hành các hoạt động gián điệp trong phạm vi đường lưỡi bò (bất hợp pháp), và việc “tịch thu” nó là để tìm bằng chứng cho điều này. [3]

Điều này một lần nữa cho thấy, phía Trung Quốc dường như vẫn cố tình coi vùng biển nằm trong “ đường lưỡi bò” là nội thủy và lãnh hải thuộc chủ quyền của họ

Bởi vậy nếu không làm rõ khía cạnh pháp lý của câu chuyện, rất có thể đây là một cái bẫy Trung Quốc cố tình giăng ra hòng tìm kiếm một sự thừa nhận mặc nhiên về sự tồn tại của đường lưỡi bò bất hợp pháp ấy.

Thứ hai, Bắc Kinh muốn “dìm” uy tín của Washington trong mắt các đồng minh và đối tác trong khu vực.

Đặc biệt đáng lưu ý, Trung Quốc làm việc này trong bối cảnh ông Donald Trump chưa cầm chìa khóa Nhà Trắng, ông Barack Obama thì đang bận rộn chuẩn bị chuyển giao quyền lực.

Mục đích thứ hai này rất đáng lưu ý, bởi Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương, Hoa Kỳ – Đô đốc Harry Harris vừa mới phát biểu tại Australia:

“Chúng tôi sẽ không cho phép một vùng biển quốc tế vốn được sử dụng chung bị đơn phương đóng cửa, dù có bao nhiêu cơ sở (quân sự) được xây dựng trên đảo nhân tạo (bất hợp pháp) ở Biển Đông đi nữa.

Chúng tôi sẽ hợp tác khi chúng tôi có thể, nhưng chúng tôi sẽ sẵn sàng đối đầu khi buộc phải đối đầu.

Chiến đấu của Mỹ trong cuộc chiến tranh đầu tiên để giành độc lập cũng là để bảo vệ tự do hàng hải. Đây là nguyên tắc xuyên suốt, và là một trong những lý do lực lượng của chúng tôi sẵn sàng chiến đấu ngay cả tối nay”. [4]

Đảo nhân tạo ở Biển Đông không có giá trị tấn công thì Trung Quốc xây làm gì?

(GDVN) – Không có gì chắc chắn đảm bảo Trung Quốc sẽ sử dụng các đường băng này vào việc không kích các nước ASEAN.

Vị tướng đứng đầu lực lượng quân sự Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương nói chưa ráo miệng thì Trung Quốc bắt giữ UUV của hải quân Mỹ đang hoạt động hợp pháp ở Biển Đông ngay trước mắt thủy thủ đoàn tàu Mỹ.

Rõ ràng là Trung Quốc muốn chứng minh với các nước trong khu vực: Hoa Kỳ cũng chỉ là hổ giấy!

Tất nhiên, Trung Quốc thừa hiểu cả hai đều không muốn xung đột đối đầu, và hai siêu cường có nhiều kênh liên lạc để xử lý các tình huống chạm trán một cách hòa bình.

Nhưng trong cuộc chiến dư luận, rõ ràng Bắc Kinh đang lấn lướt Washington bởi những ngón đòn tương tự vụ bắt giữ UUV này.

Trước đó chính quyền Tổng thống Barack Obama càng mạnh miệng bao nhiêu, uy tín của Mỹ càng lung lay bấy nhiêu trước những ngón “đòn gió” của Trung Quốc. Nguy hiểm ở chỗ, những ngón đòn này chưa đủ độ để Mỹ làm to chuyện, nhưng lại quá đủ để giảm ảnh hưởng đến uy tín của Mỹ với khu vực.

Tàu không người lái của hải quân Hoa Kỳ bị hải quân Trung Quốc công khai “tịch thu” bất hợp pháp ngay trước mắt người Mỹ mà họ còn “chẳng làm gì được”, nói gì việc lo cho đồng minh và đối tác? Có lẽ đây là thông điệp và mục đích chính của người Trung Quốc.

Thứ ba, rất có thể Trung Quốc muốn thông qua động thái này nhằm “cảnh báo” Tổng thống đắc cử Hoa Kỳ Donald Trump sau những phát biểu mới nhất của ông về Biển Đông và chính sách “một Trung Quốc”.

Tuy nhiên cá nhân tôi cho rằng, nếu như Trung Quốc có thể đạt được mục đích thứ 2 là ở chừng mực nào đó, hạ uy tín của Mỹ trong mắt đồng minh và đối tác, thì mục tiêu thứ 3 này có thể sẽ phản tác dụng. Donald Trump không phải là Barack Obama.

Nếu như chính quyền Barack Obama âm thầm giao thiệp với Bắc Kinh để đòi lại UUV, thì ông Donald Trump nói công khai: Mỹ không cần đòi lại, Trung Quốc cứ giữ lấy nó!

Điều này một lần nữa cho thấy đầu óc “thực tế, doanh nhân” của Tổng thống đắc cử Donald Trump.

Keith B. Richburg, một cựu phóng viên tờ The Washington Post, Giám đốc Báo chí của Trung tâm Nghiên cứu Truyền thông Đại học Hồng Kông ngày 19/12 nhận định trên Nikkei Asian Review:

“Động thái táo bạo của Trump đối với Trung Quốc có thể mà một trong số ít những điểm sáng của nhiệm kỳ Tổng thống ông sắp đảm nhiệm”.

Đài Loan có thể là con bài chiến lược Trump ngăn Trung Quốc độc chiếm Biển Đông

(GDVN) – Tổng thống tiếp theo của Hoa Kỳ nếu mạnh dạn, sẵn sàng hành động thì luôn có những cơ hội ngăn chặn và đảo ngược xu thế bành trướng.

Dẫn lời một đồng nghiệp ở báo The Washington Post, John Pomfret, Richburg cho hay, nhiều năm qua Washington đã tin rằng, một Trung Quốc mạnh mẽ, ổn định sẽ là một Trung Quốc thân thiện hơn. Nhưng người Mỹ đã sai.

Pomfret lưu ý, những phát biểu mới của ông Donald Trump về Trung Quốc thực sự là một phần “mở rộng hợp lý” trong việc hiện thực hóa chính sách của Mỹ với Trung Quốc, mà cả hai đảng Dân chủ và Cộng hòa thời gian qua đã chưa làm tốt. [5]

Có lẽ đã đến lúc Hoa Kỳ ứng xử với Trung Quốc giống như bất kỳ một quốc gia nào khác, chính sách “một Trung Quốc” sẽ được Nhà Trắng dưới thời đại của Trump áp dụng một cách thực tế hơn.

Nói như Donald Trump, sẽ không có chuyện ông chấp nhận để cho Trung Quốc chỉ bảo mình phải làm gì và làm như thế nào.

Nói như Keith B. Richburg, Trung Quốc có thể công khai trải thảm đỏ đón Tổng thống Sudan Omar al-Bashir vốn đang bị Tòa án Hình sự Quốc tế truy nã vì tội diệt chủng, tội ác chiến tranh.

Vậy thì tại sao ông Donald Trump lại phải đắn đo lo sợ Bắc Kinh phật ý, khi nghe điện thoại chúc mừng thắng cử từ nhà lãnh đạo Đài Loan vừa qua, hay khả năng công khai tiếp nhà lãnh đạo Phật giáo Tây Tạng tại phòng Bầu Dục trong nhiệm kỳ Tổng thống?

Tôi cho rằng, nhận xét của Richburg và Pomfret khá sắc sảo. Không những là một sự hiệu chỉnh chính sách đối ngoại, mà đây còn là một con bài địa chính trị chiến lược của Donald Trump trong cuộc đua quyền lực với Trung Quốc ở châu Á – Thái Bình Dương.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Dự phóng chiến tranh Thái Bình Dương giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc

Dự phóng chiến tranh Thái Bình Dương giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc

LS Đào Tăng Dực (Danlambao) – Trong mấy ngày qua, tin tức cho biết hải quân TQ đã bắt giữ một tàu ngầm tí hon không người lái của Hoa Kỳ, khi tàu này đang nghiên cứu hải dương học tại một vùng Biển Đông cách Subic Bay 92 cây số. Hoa Kỳ phản đối và lập tức sau đó TQ đồng ý trao trả.
Theo quan điểm của tôi, tuy TQ là một quốc gia độc tài, nhưng không phải pháp trị nghiêm minh mà là căn bản trên những phe nhóm thế lực nội bộ đảng, giống như CSVN và các quốc gia CS khác.
Chính vì thế các sĩ quan tại chiến trường có thể ỷ lại phe nhóm của mình và hành động thiếu suy nghĩ. Bắt giữ một tàu ngầm từ một siêu cường mà khả năng quân sự vượt trội như thế, không có lợi gì cả. Trái lại còn phải bị nhục nữa.
Trong khi đó, Hoa Kỳ tuy là một xã hội dân chủ đa nguyên, nhưng pháp trị nghiêm minh. Các sĩ quan ngay tại trận tuyến, nếu hành xử sai trái, sẽ bị pháp luật hoặc quân pháp trừng trị. Vì thế các hành động khinh xuất ít có khả năng xảy ra hơn.
Chính vì thế, chúng ta không thể loại trừ xác xuất chiến tranh tại Biển Đông và Thái Bình Dương giữa Hoa Kỳ và TQ, vì những sơ xuất từ phía TQ.
Trong tình huống đó, tôi xin lược dịch một bài viết của Alex Lockie đăng trên tờ Business Insider ngày 15 tháng 12, 2016 tựa đề “Bằng cách nào Hoa Kỳ thắng TQ tại Thái Bình Dương” như sau đây.
Sau khi đọc tài liệu lược dịch này, chúng ta sẽ nhận thấy khả năng quân sự vượt trội của Hoa Kỳ và tính vượt thắng đặc biệt của các chiến đấu cơ thế hệ thứ 5 của Hoa Kỳ.
Chính vì thế tôi luôn chủ trương rằng, muốn ngăn chặn bá quyền và hiểm hoa TQ chúng ta phải:
1. Chấm dứt độc tài toàn trị
2. Xây dựng một nền dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên
3. Xây dựng kinh tế thị trường hùng mạnh
4. Trở thành đồng minh quân sự của Hoa Kỳ và sở hữu các vũ khí tối tân của Hoa Kỳ, nhất là chiến đấu cơ thế hệ thứ 5 hầu răn đe hữu hiệu TQ
Tài liệu này cũng được tác giả Alex Lockie viết căn cứ trên phúc trình của cơ quan Mitchell Institute for Aerospace Studies do Thiếu Tướng Jeff Harrigian and Đại Tá Max Marosko viết về khả năng chiến đấu của các chiến đấu cơ thế hệ thứ 5 của Hoa Kỳ trong một cuộc chiến với TQ.
“Phúc trình này bắt đầu bằng một cái nhìn tổng quát về khả năng tác chiến của các phi cơ này trong một cuộc chiến vào năm 2026.
 
Vị trí của chiến trường rõ ràng là tại miền Tây Thái Bình Dương và đối thủ là TQ với những khả năng cao về phi đạn và radar.
 
Vì cuộc chiến giả định xảy ra 10 năm trong tương lai, nên tác giả cũng giả định các khuyết điểm hiện tại của các chiến đấu cơ F35 và F22 đã được khắc phục.
 
Giai đoạn mở đầu của cuộc chiến Hoa Kỳ sẽ tản rộng các phi cơ F35 và F22 đi các căn cứ tại TBD trải dài trên đại dương này từ các đồng minh của Hoa Kỳ.
 
Làm như thế, TQ sẽ không có khả năng tiêu diệt một lượt tất cả hoặc phần lớn các phi cơ này.
 
Vào thời điểm đó, các chiến đấu cơ thế hệ thứ 5 này đã có khả năng tự tìm kiếm các phi trường cho chính mình và không cần sự trợ giúp của các kiểm soát viên hàng không trên đất nữa. Điều này giúp các phi cơ có thể tản đến những nơi ít khả năng trở thành mục tiêu.
 
Thêm vào đó, những đồng minh như Úc Đại Lợi, cũng sử dụng F35, sẽ có thể trám vào chỗ trống cho Hoa Kỳ. Các chiến đấu cơ F35 có thể đáp tại Úc và được bảo trì y như tại Hoa Kỳ.
Với toàn bộ TBD đầy những mạng lưới F35 và F22 thì TQ có thể cố gắng sử dụng khả năng chiến tranh điện tử của họ, nhưng các nhà quân sự Hoa Kỳ cho rằng, các chiến đấu cơ thế hệ thứ 5 này sẽ vượt thắng.
“Các lực lượng Hoa Kỳ có thể phải đối diện với những sự nhiễu sóng giao thông và radar nghiêm trọng, nhưng các chiến đấu cơ thế hệ thứ 5 vẫn ưu thắng qua mạng lưới kỹ thuật đa dạng và tìm mục tiêu chính xác để nhận diện các phi cơ địch, trong khi củng cố một chiến lược chung qua một khung sường giao thông và trao đổi dữ kiện.” Các chuyên gia Không Quân cho biết.
Trong khi đó, những căn cứ chiến đấu cơ F16, F18 và F15 sẽ tạo thành một bức tường phòng thủ gần lục địa Hoa Kỳ hơn. Khả năng lớn của TQ trên phương diện hỏa tiễn địa-không đủ sức làm cho các phi cơ dễ nhận diện hơn này phải né các trận địa tiền tuyến, cho đến khi các phi cơ F35, F22, B2 và B21 sắp đến, hoàn tất công việc.
 
Các chuyên viên công nhận nhu cầu các chiến đấu cơ thế hệ thứ 5 phải công kích nhanh và rút khỏi các không phận xung đột. Sự thiêu hủy nhiều căn cứ quân sự Hoa Kỳ và đồng minh có thể xảy ra, tuy nhiên tính đa dạng của các chiến đấu cơ thế hệ thứ 5 sẽ tiếp tục thay đổi vị trí, trong khi TQ tiêu hao số trữ lượng đầu đạn từ lục địa cũng như từ các tàu ngầm và chiến hạm.
Rất nhiều giàn phi đạn SAM của TQ di chuyển bằng đường bộ. Vì thế các chiến đấu cơ thế hệ thứ 5 sẽ phải sử dụng các khả năng nhận diện địa dư và chiến tranh điện tử để tìm và tiêu diệt.
 
Các bộ phận tìm kiếm trên các phi cơ thế hệ thứ 5 sẽ cung cấp nhiều dữ kiện quan trọng để các chiến đấu cơ có thể quyết định ngay trong lúc hoạt động.
Phúc trình ghi rõ:
 
“Các phi cơ cất cánh với rất ít thông tin- Không hơn một mục tiêu tổng quát có thể ngoài 1000 dặm. Trên đường đến mục tiêu, các chiến đấu cơ thế hệ thứ 5 nhận những thông tin tối thiểu về tiếp liệu, sự hiểm nguy và mục tiêu tác chiến, tuy nhiên đủ cập nhật để có thể tổng hợp, nhận diện và thanh toán mục tiêu trước khi trở lại căn cứ.”
Thiệt hại của Hoa Kỳ và đồng minh sẽ xảy ra đương nhiên trong một cuộc chiến như thế. Tuy nhiên các lực lượng thống nhất và sử dụng cùng các bệ phóng và họ có thể hổ trợ cho nhau trong trường hợp thiệt hại.
Trong thời gian đó, các F35 và F22 gậm nhấm phòng tuyến của TQ, từ từ giảm thiểu tính đe dọa từ cấp cao đến cấp trung bình. Sau đó, chủ lực của không quân Hoa Kỳ- các phi cơ truyền thống chủ lực- có thể hoạt động trên các không phận với một mức độ sống còn khả dĩ.
Sự thể là như vậy. 
 
Một khi các chiến đấu cơ F16 bay lượn trên bầu trời Bắc Kinh, thì cuộc chiến cơi như ngã ngũ. Trên những không phận tranh chấp cấp trung bình, các chiến đấu cơ thế hệ thứ 5 có thể nối kết hệ thống dữ kiện với với các phi cơ truyền thống và sử dụng chúng như những phi cơ hạm đội, sử dụng khả năng tăng trưởng này để thi hành những dịch vụ hủy diệt toàn bô khả năng phòng không của Trung Quốc.”
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Chút tâm tình của người hòa hảo

Chút tâm tình của người hòa hảo


CHÚT TÂM TÌNH CỦA NGƯỜI HÒA HẢO


K
ính,
Người Hòa Hảo đa phần là nông dân, việc tu học Phật pháp cũng may được Đức Thầy chỉ dẫn bằng những lời thi ca mộc mạc, chân tình, dễ hiểu, dễ thuộc, dễ làm. Nên ngoài cách trau tâm, sửa tánh, Đức Thầy dạy tín đồ phải hài hòa trong cách cư xử với đời, đặc biệt “Phải cung kính các Tăng sư tu hành chân chánh…”
Quý trọng “Tam Bảo” người Phật Giáo H òa Hảo biết mình là Phật nhi nên không dám bất kính với quý sư và đặc biệt không đụng chạm đến cách thức tu hành của tôn giáo khác.
Nhưng gần đây có những trường hợp các Đại đức giảng sư Phật giáo thường xuyên tạc, kỳ thị đến đạo Phật Giáo Hòa Hảo. Điển hình Thích Trí Huệ với đề tài “Truyền thuyết thất sơn”, Thích Thiện Huệ với luận văn “Thực chất đạo Hòa Hảo”. Những luận đề được sản sinh từ tư tưởng không tốt đã được Học Viện PGVN ra công văn xin lỗi toàn thể tín đồ PGHH. Những thiết tưởng vết dầu loang ấy đến đó đã chấm dứt! nào ngờ gần đây trên video, youtube lại xuất hiện đoạn clip khoảng 6 phút nói về Đạo Hòa Hảo của Thích Phước Tiến (TPT), nội dung ông phân tích về giáo lý PGHH “chỉ là gôm lại những tín ngưỡng nhân gian và của Đức Phật một ít rồi gắn cho một tên mới. Nói mới chớ có mới gì đâu?”
Khi khẳng định điều này không biết TPT có vận dụng tâm hạnh, phúc trí của người học Phật không? hay chĩ vì tư thù, lợi kỷ để miệt thị tôn giáo khác, người khác vì không theo về với mình. Trước khi ngồi trên pháp tòa với chức sắc Phó Ban Văn Hóa Phật giáo Tp/HCM – Phó Tổng Thư ký Viện Nghiên cứu Phật học – Ủy viên Ban Hoằng phápTrung Ương GH/PGVN, ông có thông hiểu Điều 1, 8, Chương I của Pháp Lệnh Tín ngưỡng tôn giáo đã qui định rất rỏ: “Công dân có tín ngưỡng tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng tôn giáo, cũng như công dân có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau phải tôn trọng lẫn nhau, không ai được xâm phạm quyền tự do ấy. Không được phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng tôn giáo để phá hoại hoà bình, độc lập, thống nhất đất nước; kích động bạo lực hoặc tuyên truyền chiến tranh, tuyên truyền trái với pháp luật, chính sách của Nhà nước; chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, chia rẽ tôn giáo, gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người khác, đã được luật pháp Việt Nam ban hành không? Và khi giảng pháp ông cho ra những sản phẩm trí huệ “Nhìn lại chính mình” hay “xin lỗi chính mình” rất hay nhưng ông có thực nghiệm chưa?
Tôi thiết nghĩ với trình độ và phẩm hạnh của ông lời nói phải đi đôi với thực hành mới đúng! đằng này không hiểu sao, Đại đức quá vội vàng khi đưa ra nhận định về Tôn giáo bạn với những lời lẽ hùng hổ thiếu hiểu biét!
Đạo Phật Giáo Hòa Hảo được Đức Huỳnh Giáo Chủ khai sáng ngày 18/5 năm Kỷ Mão (1939) tại làng Hòa Hảo. Là một tôn giáo nội sinh, giáo lý dạy người Việt bằng tiếng Việt, lấy tứ ân là phương châm hành đạo để giữ gìn và tôn vinh đạo lý truyền thống Dân tộc. Những yếu lý của pháp môn được Đức Giáo Chủ canh tân cho phù hợp với nếp sống bản địa theo thể loại thơ ca nhưng vẫn nguyên thỉ tính vô vi chân truyền của Đức Phật. Kỳ tích này được nhiều nhà thức giả trong và ngoài nước biết đến và bộ Tự điển Bách Khoa uy tín thế giới BỘ ENCYCLOPAEDIA BRITANNICA – ANH QUỐC ghi lại.
Nguyên văn bản tiếng Anh, nguồn Website: www. Britannica. com. Inc.
Huynh Phu So.
Vietnamese philosopher, Buddhist reformer, and founder (1939) of the religion Phat Giao Hoa Hao
.
He set about preaching Buddhish reform, advocating a return to Theravada (Way of the Elders) Buddhism, from the Mahayana (Greater – Vehicle) form prevalent in Vietnam, and stressing austerity, spartan living, simple worship, and personal salvation. Hoa Hao is an amalgam of Buddhism, ancestor worship, animistic rites, elements of Confucian doctrine, and indigenous Vietnamese practices.
In speaking, he exerted an almost hypnotic influence over his audiences and became known as Dao Khung (Mad Monk). He predicted with accuracy the fall of France in world war 2, the Japanese invasion of Indochina …
His success as a prophet led his followers to call him the Phat Song (Living Buddha).
Huỳnh Phú Sổ là một triết gia Việt Nam, là người chủ trương chấn hưng Phật giáo và là người sáng lập đạo Phật Giáo Hòa Hảo năm 1939.
Ông bắt đầu thuyết giảng về sự chấn hưng nền Phật giáo, chủ trương sự quay trở lại tinh thần Phật giáo nguyên thủy (Thượng tọa phái: Đạo của những người đã có thành quả tu tập) và nối kết với tư tưởng đại thừa thịnh hành khắp Việt Nam, Ông đề cập sâu đến cách sống mộc mạc, bền bỉ, cùng hình thức thờ cúng đơn giản và sự tự giải thoát. Đạo Phật Giáo Hòa Hảo là một sự kết hợp giữa đạo Phật và truyền thống thờ cúng Tổ tiên cùng với những nghi thức nuôi dưỡng đời sống tâm linh, cùng những tinh tuý của Khổng giáo và những sinh hoạt thực tiễn phù hợp bản xứ người Việt Nam.
Bằng lời nói của mình, Ông có khả năng cuốn hút thính gỉả một cách mãnh liệt và được biết đến dưới danh hiệu Ông “Đạo Khùng “. Ông đã tiên đoán chính xác sự thất bại của Pháp trong thế chiến thứ hai và sự xâm chiếm của người Nhật ở Đông Dương.
Sự thành công của Ông trong vai trò một vị Giáo chủ đã khiến cho những người tín đồ gọi Ông là Phật Sống.
Và chúng tôi còn nhớ, khi một lần tiếp xúc với Ban Trị sự Trung ương Giáo hội Phật Giáo Hòa Hảo trong bữa cơm thân mật, ông Thích Giác Toàn, bậc Thầy của TPT còn đọc ngâm bài Thơ “Tình Yêu” của Đức Huỳnh Giáo Chủ rất chân thành trước khi dùng bữa và khen ngợi không ngớt lời.
– Về cách thức đọc tụng, đạo PGHH không phải dùng mỏ chuông làm nhịp, mà chỉ diễn ngâm theo tiết điệu đặc thù Sấm giảng (không phải điệu Nam Ai của Huế cũng không phải điệu hò ru con Nam Bộ), nhưng vẫn trầm bỗng, khoan nhặt dễ âm hưởng lòng người.
– Về yếu lý pháp tu Đức Huỳnh Giáo Chủ cũng không sao y bản chánh theo nguyên bản kinh điển nguyên thỉ. Ngài chỉnh lý, sắp xếp lại không gian, thời gian cho khế lý, khế cơ với chúng sanh thời mạt pháp. Ví dụ như:
* Xưa Đức Phật nói pháp Tứ Đế (Tập, Diệt, Khổ, Đạo) trong thời A Hàm 12 năm tại Vườn Lộc Giả. Nay Đức Thầy chúng tôi rút gọn lại vỏn vẹn 18 câu thơ thất ngôn và đặt lại trình tự (Khổ, Tập, Đạo, Diệt).
* Phương pháp diệt ngủ uẩn (Sắc, thọ, tưởng, hành, thức) không cần phải dụng trí bát nhã để quán chiếu giai không, mà phải loại trừ (Tham, sân, si, nhân, ngã) để đạt đến “Vô pháp tướng mới là thật tướng”.
– Tôn chỉ hành đạo: chủ trương tín đồ là hạng “Tại Gia Cư Sĩ” thờ cúng tại nhà “Vừa lo làm ăn vừa lo tu hiền chơn chất”. Nghi thức hành đạo không chú trọng hình thức tượng cốt, chỉ thờ trần dà tượng trưng cho sự hòa hợp nhân loại và tinh thần cao thượng của nhà Phật.
– Tư tưởng hành đạo: Đức Huỳnh Giáo Chủ dạy tín đồ hòa quang đồng trần “Cái hành đạo đúng theo ý tưởng xác thực của nó là làm thế nào phát hiền được những đức tánh cao cả thực hành trên thiệt tế bằng mọi biện pháp để đem lại cái phước lợi cho toàn thể chúng sanh” thì đó là sự thỏa mãn trong đời hành đạo của mình.
Qua những đặc điểm trên Sư thúc gẫm kỹ lại xem câu nói của Đại đức có chính xác không?
Nhưng cho dù Đạo PGHH hay Đạo Cao Đài có những cách thức dạy tín đồ có na ná giống ai đi nữa thì “Đại đức” cũng am hiểu hạnh lành bình đẳng của một Tăng sĩ đang học theo tinh thần lục hòa Phật dạy sẽ không xen vào chuyện nội bộ của người. Vã lại một công dân bình thường còn biết tôn trọng pháp luật lẽ nào Đại đức lại vô cảm xem thường!
Chúng tôi cũng thường nghe những bậc Thầy dẫn dắt ông như: ông Thích Giác Toàn, Thích Trí Quảng, Thích Nhất Hạnh không ai nặng lời xem thường chúng sinh. Những người dân đã không nài gian lao vất vã để tạo ra của cải để trịnh trọng mang phẩm vật đến chùa chiền dâng cúng tam bảo và các tăng sư nuôi thân cho khỏe để an tâm tu học. Những con đường làng, những cây cầu nối liền muôn nẽo cho đại đức qua lại dễ dàng thi hành phận sự hoằng pháp độ sinh để thù đáp ân nợ cuộc đời trong đó cũng có người Cao Đài, Hòa Hảo mà!
Mong rằng TPT nên xem lại đĩa “Xin lỗi chính mình” để nhận ra được chỗ lỡ lầm đã làm cho lòng dân bức xúc. Ông thưà hiểu rằng mọi sự việc trên đời gặp nhau đều do nhân duyên. Người có đầy đủ đức tin thì cho dù đại đức có nói khô nước miếng cũng không bao giờ thay đổi được lập trường của họ đâu. Đại đức cố luận lý bao nhiêu khi trong khi tâm không bình tĩnh nó sẽ biểu lộ những cử chỉ của một người mang tư tưởng tranh đấu vì quyền lợi riêng tư, hiệu quả tốt đẹp không đến mà nó lại trở thành hệ quả đau thương khi đại đức đánh mất hạnh lành của một “Sứ giả Như Lai”. Đại đức hãy tâm niệm lời Phật dạy:
Thập phương nhứt lạp mễ
Như Đại Tu Di sơn
Thực liễu bất tu Đạo
Phi mao đái giác hườn.


Buinho Nguyen

Categories: Sinh Hoạt Tôn Giáo | Leave a comment

TÂM THƯ của Cư sĩ Hoai Bảo (về Thích phước tiến)

TÂM THƯ của Cư sĩ Hoai Bảo (về Thích phước tiến)


PHẬT HÒA GIÁO HẢO


TÂM THƯ

—oOo–


Kính Gởi: – Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam và Hải Ngoại
– Quí Đại đức, quí Thượng toạ và toàn thể Tăng ni Phật Giáo

Kính thưa,

Tôi là một tín đồ PHẬT GIÁO HOÀ HẢO nghe được buổi thuyết giải của thích phước tiến tại Hoa Kỳ mang chủ đề “Phật pháp vấn đáp kỳ 25” dài phút 61. Qua câu hỏi của ai đó về “Đạo Hòa Hảo và Đạo Phật có liên quan với nhau không”? phước tiến trả lời “HOÀ HẢO là chuyện của HOÀ HẢO – PHẬT GIÁO là chuyện của PHẬT GIÁO”.

Thưa quí vị trên thế giới ai củng biết đạo của chúng tôi là đạo: – PHẬT GIÁO HỎA HẢO chứ chẳng phải là HÀO HẢO không thôi. Đành rằng đây là một câu hỏi của ai đó, hay chỉ đặc ra để tiện phê phán? phước tiến là một giảng sư của Phật Gi áo VN há lại không biết hay sao? Mà lại dùng danh từ HÒA HẢO! Cắt mất đi hai chữ PHẬT GIÁO. Đức Giáo Chủ chúng tôi khi lâm phàm độ thế, Ngài thị hiện tại làng HẢO HẢO, chính do do cơ duyên nên Ngài dùng hai chữ HẢO HẢO đặt tên cho tôn giáo do Ngài khai sáng đó là: PHẬT GIÁO HÀO HẢO. Cũng như Ngài Trí Gỉa Tiên Sư đắc đạo tại Thiên Thai nên lấy THIÊN THAI đặt tên cho tông phái của mình, đức Điều Ngự Giác Hoàng, đắc đạo tại Trúc Lâm Yên Tử cũng lấy TRÚC LÂM đặc tên cho hệ phái của mình, vậy hai vị này không phải là đạo Phật Giáo hay sao? Vấn đề này phải chăng phước tiến cho đạo chúng tôi không phải là đạo Phật ư?
Kính thưa quí vị chúng tôi cần góp ý đễ làm sáng tỏ thêm hai từ ngữ HÒA HẢO ở đây:
1- Thứ nhất: ĐỨC THẦY chúng tôi lấy địa danh đặt tên cho tôn giáo.
2- Thứ hai: Ngài lấy từ hai thời thượng cổ là thời THÁI HOÀ vào đời Tam Hoàng và thời kỳ TUYỆT HẢO ở đời Ngủ Đế .
3- Thứ ba: Ngài thể hiện đức tánh bình đẳng trong lục hòa của Đạo Phật vì “hoà giả tương thân, hảo giả tương trợ, tương thân tất bất chiến, tương trợ tất vô tranh, bất chiến tự nhiên thành, vô tranh tự nhiên đắt” nghĩa Hoà là thương yêu lẫn nhau, Hảo là giúp đỡ lẫn nhau, mà thương yêu thì không gây chiến. , giúp đỡ thì không tranh đua nhờ vậy mà thành tựu.

Thưa quí vị tiếp đến phước tiến nói “Phật giáo là một tín ngưỡng của nhân gian” vậy xin hỏi câu này đúng hay sai dối với chân lý Đạo Phật? Thiết nghỉ theo chúng tôi thì Phật giáo là chân lý giác ngộ cho chúng sanh chứ không phải là tín ngưỡng của dân gian vì tín ngưỡng dân gian nó bao hàm cả sự dị đoan, mê tín trong đó… phước tiến nói vậy còn gì là giá trị của chân lý Phật đà… Là một giảng sư m à không biết nhiều, thiếu nghiên cứu hay háo thắng nói lên câu nầy. Kế đến là hai từ “tổng hợp” phước tiến lại không còn cái từ nào thanh bai hơn? Có phãi chăng là cố ý thóa mạ Đạo CAO ĐÀI và PHẬT GIÁO HOÀ HẢO!

Thưa quí vị.
Đức Thầy chúng tôi cho biết “TA KHÔNG QUÊN TA LÀ MỘT ĐỆ TỬ TRUNG THÀNH CỦA ĐỨC THÍCH CA MÂU NI” nếu là đệ tử của Đạo Phật mà lấy chân lý khác dạy chúng sanh có phãi trung thành không? Thế nên Đức Thầy phải lấy chân lý của ĐỨC TỪ PHỤ THÍCH CA để dạy chúng sanh, Ngài rút những tinh tuý của đạo phật và áp dụng cho phù hợp với căn cơ, hoàn cảnh của chúng sanh hiện thời. Ngài còn kêu gọi gìn giữ đạo Thánh hiền đó là dụng thông chương trình HỌC PHẬT TU NHÂNtại sao gọi là tổng hợp, giảng sư gì mà khiếm nhả thế!
Ông còn cho rằng: “mới mà không mới gì cả” theo chúng tôi thì có mới đó chứ; vì Ngài thị hiện tại nước Việt Nam nói bằng tiếng VIỆT và cái mới nữa là Ngài lồng vào tư tưởng chúng sanh qua tư tưởng Phật giáo bằng văn chương Việt để mọi người dễ hiểu, dễ hành… đó là phương tiện hoà nhập lòng người vào chân lý PHẬT ĐÀ tại sao không mới? còn nói đến tính cách lịch sử đâu cần ở thế giói mới có, còn trong nước thì không sao? Câu này phước tiến quá coi thường người khác Đức Điều Ngư Giác Hoàng là người Việt Nam có hàng triệu người tôn kính là tổ của phái TRÚC LÂM vậy không phải là lịch sử à!
Đến phần nhận xét về các bé của Phật Giáo Hòa Hảo; phước tiến cho rằng “nó không biết nó là ai” điều này quá sai lầm thử hỏi các em bé đó đi, rồi sẽ nghe các câu trả lời, xem còn có nói thuộc lòng không? Vậy phước tiến có học không mà được làm giảng sư vậy? còn người ta khen tặng là Bồ tát tái sanh đó là quyền sở hữu của những người ái mộ nó. Thử hỏi lúc phước tiến lên 9 tuổi phước tiến làm được gì nào? Và ngay bây giờ bé Như Ý tại sao được các sư mời về chùa thuyết đạo, với nhiều ngàn người phật tử ngồi nghe, cái nầy do ai?. Phước tiến có được vậy không hay có phải chăng vì lòng ganh tị với các em bé, tại sao người tôn mình thì chịu còn tôn người khác thì không ưa!… quá nhỏ hẹp vậy thử hỏi các Sư, Ni và người nghe đều dốt hết phải không? , chỉ có phước tiến là thông minh à giọng điệu quá khinh người không xứng đáng là một giảng sư!
Có đoạn phước tiến còn nói: “lợi dụng từ ngữ mê hoặc người ta, hội Long Hoa lập nơi này, nơi kia là nói tầm bậy và tung quả mù vào quần chúng”…

Nói đến hôi Long Hoa là căn cứ vào kinh Di Lặc đúng như lời phước tiến nói… nhưng phước tiến quên hay chưa học tới trong chân lý của Phật Đà có nhắc đến 4 pháp. QUYỀN, THIỆT, ĐỐN, TIỆM và pháp HOÁ THÀNH DỤ của Đức phật. mà nói lợi dụng từ ngữ mê hoặc và từ tầm bậy tung quả mù vào quần chúng?
Thưa quí vị với danh từ tầm bậy dành cho ai nói mới đúng, nhà sư hay kẻ thất phu? Chúng tôi chưa thấy nhà sư tu hành chân chính nào dùng các từ ngữ này. Có thấy chăng là từ kẻ tu giả dối hay bọn thất phu mà thôi… phước tiến là hạng người nào, nếu tu hành chân chính thì khai tử cái danh từ bậy bạ kia đi còn ngược lại thì tuỳ ý! Ngày xưa Đức Phật đã dùng Quyền, Thiệt, Đốn, Tiệm đế hoá đô chúng sanh; vì Pháp quyền là dùng phương tiện để hoá độ như trong DIỆU PHÁP LIÊN HOA KINH nói đến tam sa xuất hỏa trạch đó không phải là phương tiện ư “kinh giã vạn đại thường kinh, quyền giã nhứt thời chi dụng”? Trong dân gian người muốn qua sông đương nhiên phải dùng đến thuyền, nếu không có thuyền người ta dùng khúc chuối làm phương tiện qua sông không được à? Chủ yếu qua sông thôi mà, hội Long Hoa đối với giáo lý PHẬT GIÁO HOÀ HẢO củng thế, đó là phương tện đưa chúng sanh thoát khổ, lìa mê tại sao dùng danh từ tung quả mù vào quần chúng.
Vài điều đặc trưng về những cái khiếm nhả của phước tiến xúc phạm tôn giáo khác… chứ còn nhiều chỗ cần quan tâm nữa đối với lời nói của phước tiến. Tại sao chúng tôi không thêm họ THÍCH vào trước tên phước tiến cho chính danh, (cho đúng tên đặc)? Là vì họ Thích chỉ áp dụng cho các vị Sư, Ni làm đúng theo lời phật dạy…riêng phước tiến thì không! Vì không có một chỗ nào PHẬT dạy xâm phạm, nhục mạ kẻ khác… mà phước tiến thì có, thử hỏi phước tiến có đủ tư cách Họ Thích hay không?
Chúng tôi rất kính trọng quí sư ni tu hành chân chính vì Đức Thầy dạy “phải tôn trọng và ủng hộ các sư tu hành chân chính” và bày trừ triệt để kẻ tu giả dối. Thưa quí Sư, Ni các vị là những cành hoa trong vườn hoa Phật Giáo, qúi vị đã đem lại sư tươi đẹp cho mọi người, hôm nay trong vườn hoa của quí vị có một cành hoa bị sâu đục thủng, qúi vị phãi giải quyết bằng cách nào đây? Bắt sâu hay vứt bỏ thì tuỳ ý quí vị miễn sao vườn hoa Phật Giáo, hầu tránh bị lang ra làm tổn hại cành hoa khác là đủ!

Kính thưa,
Quí Giáo Hội, quí Đại Đức, quí Thượng Toạ và toàn thể Tăng Ni Phật giáo vài lời thô kệt xuất phát từ đáy lòng của người tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo bị bức xúc bởi lời nói của phước tiến nên buộc lòng mới bày tỏ vậy thôi, chứ ý không muốn…
Kính mong đó n nhận được sự hoan hỷ từ tất cả chư Tăng đức.

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
NAM MÔ ĐẠI TỪ ĐẠI BI KIM SƠN PHẬT


Cần Thơ, Ngày 26-11-2105
Hoài Bảo
kính bút

Categories: Tin Trong Nước | Leave a comment

ĐÙA CHƠI VỚI “BÓNG MA”!

ĐÙA CHƠI VỚI “BÓNG MA”! Nguyễn Thị Bảo Pháp


ĐÙA CHƠI VỚI “BÓNG MA”!

Nguyễn Thị Bảo Pháp


Gởi Anh chàng: ThaimaTung@gmail.com.

Thực tình thì lão nương này không biết anh là ai, nhưng vì anh đã tự xưng mình là người tín đồ PGHH, nên lão có thể xem anh như là một bóng ma, như là một ảo ảnh, bởi không một người tín đồ PGHH nào lại có những ý tưởng quái đản như anh vậy. Lão nương ta không phải là người hay sợ ma, nên phải hô toáng lên khi có một bóng dáng ẩn hiện nào đó mưu toan hù doạ! Nhưng Lão nương ta cũng thể nào dửng dưng trước các thái độ lộng hành quái quỷ, của bất kỳ ai muốn phá vỡ sự yên bình của những người tu tập, muốn kích động sự rẽ chia, từ khối đoàn kết gắn bó keo sơn, trong cộng đồng PGHH!

Lão nương ta cũng có lúc tự hỏi mình như thế, những điều phân bua của các đồng đạo có xúc phạm đến ngài Đại Đức Thích Phước Tiến không? Nhưng đó là những điều tự hỏi của người biết tu tập, của người biết uốn lưỡi bảy lần trước khi nói, chứ mình không thể lấy ngay ý tưởng ấy để làm tiêu đề cho một bài viết được, cho dù nó là một bức thư “THÂN GỞI CÁC TÍN HỮU PGHH VỀ VIỆC XÚC PHẠM THÍCH PHƯỚC TIẾN”. Với cái tựa đề như thế,ngụ ý của anh Ma Tung muốn nói cái gì, nếu không ngoài ý là khi không anh em tín hữu PGHH xúc phạm đến Thích Phước Tiến? Anh cũng biết, không dưng thì ai xúc phạm đến mình, phải có một cái gì ấy tuỳ vào mức độ nặng nhẹ mà sanh ra sự phản kháng nhẹ nặng khác nhau, quả bóng không tự dưng nẩy lên được mà phải có một sự tác động nào đó chứ? Đúng ra anh Ma Tung phải ghi cho đúng đề tựa là: “THÂN GỞI CÁC TÍN HỮU PGHH VỀ VIỆC THÍCH PHƯỚC TIẾN XÚC PHẠM” mới là đúng, mới là khách quan!

Lão nương ta, không bênh vực cho ai mà chỉ muốn nêu lên cái lợi ích chung cho những người đang tu tập thấy, còn thực hành hay không thì tuỳ!

Trong phần biện giải 1 của anh Ma Tung nói rằng: “Nhà sư kia khẳng định đạo Hòa Hảo(?) không phải Phật giáo. Nhất là Phật giáo Việt Nam ”! Thường thì, khi mình mở lời can gián ai đó là một điều tốt, nhưng lời ấy phải là lời chân chính, chứ không phải là lời sai trái và nó không hề mang theo một dụng tâm nguỵ biện nào. Lời đúc kết lại của anh Ma Tung là sai trật, bởi Thích Phước Tiến không nói như vậy. Mở đầu Thích 2aPhước Tiến nói:“Xin thưa các vị Hòa Hảo là chuyện của a Hảo, Phật giáo là chuyện của Phật giáo…” Điều này thì Thích Phước Tiến nói đúng trên tinh thần của kẻ bàng quang, nước sông không phạm nước giếng, nhưng lại không đúng với tinh thần của Như Lai, bởi một vị hoá chúng, phải ngồi toà Như Lai, mặc áo Như Lai, một khi đã ngồi toà Như Lai, đã mặc áo Như Lai thì tất cả mọi chúng sanh đều như nhau, không phân biệt áo bà ba hay áo cà sa, pháp vốn là vô pháp.Chẳng phải trước lúc nhập diệt Như Lai đã từng dạy: Pháp pháp bổn vô pháp, Vô pháp pháp, diệt pháp. Kim phú vô pháp thời, Pháp pháp hà tằng pháp. Đó hay sao? Cho nên một nhà sư đi hoằng pháp mà dạy chúng như Thích Phước Tiến là không đúng với tư cách sứ giả của Như Lai! Tại sao PGHH lại không liên quan gì đến Phật giáo? Thích Phước Tiến và Ma Tung nên nhớ Phật giáo mà mọi người thường nói và luôn gắn liền trước hai chữ Hoà Hảo là Tôn chỉ, là tinh tuý, là cốt lõi của một nền giáo pháp xuất hiện cách đây gần 3000 năm trên đất nước Ấn Độ…Phật giáo liền trước hai chữ a Hảo không phải lấy từ danh xưng của Phật giáo Việt Nam, vì vậy không ai có quyền phê phán PGHH có liên hệ hay không đối với Phật giáo Việt Nam!

Đã vậy, Thích Phước Tiến còn kết luận: “… Vì vậy,đây là vấn đề gọi những tôn giáo có mặt trong giai đoạn của thế kỷ 20 trên Việt Nam, chớ không mang cái nghĩa của một giáo chủ nào trên thế giới của những người như Đức Phật, hay là các vị như Khổng Tử hay thậm chí kể cả Thiên Chúa… thì ở đây họ không có được những cái điều mang tính cách lịch sử như vậy, mà điều đây là do một người nào đó đứng ra tổ chức và tập hợp lại những cái gì trước đó cảm thấy có lợi ích, có ý nghĩa… họ bổ xung vào trong họ. Nó thuộc về cái dạng tổng hợp để trở nên cái mới trong chính họ mà thôi. Thật sự nói mới mà không mới gì cả. Bởi vì cái đó qua quá trình truyền thống, qua tín ngưỡng,qua học thuyết…nó đã có trải dài hàng ngàn năm rồi, họ là những cái tập hợp nhất thời trong một cái để rồi gắn một cái tên mới mà thôi.A Di Đà Phật…”.Nhắc lại lời giáo chúng của Thích phước Tiến, xin hỏi anh Ma Tung;người pháp sư này đang dạy hàng Phật tử điều gì vậy? Nếu không phải là những điều kỳ thị và mạc thị! Tại sao không mang cái nghĩa của một giáo chủ nào trên thế giới? tất cả những người tín đồ PGHH, kể cả anh nữa Ma Tung (nếu thật sự anh là người tín đồ PGHH) đều xem mình là đệ tử trung thành của Đức Phật Thích Ca! Bất luận anh đang ở vị thế nào, uy quyền anh bao lớn, trên cả hai mặt lý, tình thì quan điểm ấy của người PGHH đều không sai; bởi vì Đức Phật là bậc y vương, pháp phật là phương thuốc cấp phát miễn phí (pháp thí) cho mọi chúng sanh, kẻ nào ý thức được mình lâm bệnh đều được quyền dùng các phương trị liệu ấy, mà không một ai cho dù anh có là pháp sư cũng không có quyền ngăn cấm! Nếu người dùng thuốc cảm thấy có thuyên giảm và quyết định theo người thầy ấy, thì ai là người có quyền cho là phải với không phải! Bởi vì Đức Phật cũng là bậc Đạo Sư, chính Đức Phật đã nói những lời sau cùng trước khi nhập Niết Bàn: “Này Ananda, có Niết Bàn, có con đường đưa tới Niết Bàn, có Như Lai là người chỉ đường. Nhưng trong các đệ tử được nghe Như Lai thuyết giảng chỉ một số chứng đắc cứu cánh, một số khác thì không! Như Lai không làm gì hơn được! Như Lai chỉ là người chỉ đường…” Đức Phật không hề phân biệt những ai mới có quyền đi theo con đường của Ngài đã chỉ,vậy, nếu có ai đó có những động thái ngăn cấm, phân biệt là không đúng với yếu chỉ của Thế Tôn. Vả lại, nếu Ma Tung anh là người tín đồ PGHH thì anh cũng từng nghe và hiểu biết là Đức Huỳnh Giáo Chủ từng khẳng định:
Ta là kẻ vô hình hữu ảnh,
Ẩn xác phàm gìn đạo Thích Ca.

Hay là:
Môn Tịnh Độ là phương cứu cánh,
Rán phụng hành kẻo phụ Phật xưa.

Phật xưa là ai vậy Ma Tung? Phật xưa là Đức Phật chỉ có ba y, một bình bát, không có tài khoản trong ngân hàng… người PGHH luôn luôn tự hào được phụng hành ông Phật xưa, ngày nay hình như không còn ông Phật xưa ấy nữa, nên có lẽ Thích Phước Tiến khỏi sợ mất phần, khỏi phải sân si khinh bạc. Lão nương này chỉ nói tới những điều mà chúng ta sờ đụng được, chứ chưa nói đến những điều thiêng liêng huyền nhiệm khác, vì lão nương ta có nói thì Ma Tung anh chưa chắc tin và hiểu được!

Trong phần biện giải 2, Ma Tung anh nhắc đến khái niệm cách dùng từ tĩnh lược trong văn nói, thì Ma tung anh chỉ nói đúng một phần nhỏ mà thôi; khi nói người ta không thể tĩnh lược nhiều vấn đề không thể tĩnh lược trong một thời điểm nào đó; như trước 1975 anh không thể tĩnh lược danh xưng Việt Nam để chỉ cho những người đang sinh sống trên dãi đất hình chữ S được, mà phải gọi cho chính danh là Việt Nam Cộng Hoà hay Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Anh cũng không thể tĩnh lược danh xưng Phật giáo để chỉ cho những người tu tập theo cùng giáo pháp của Đức Phật ở cõi thế gian nầy mà phải phân định là Phật Giáo Việt Nam, Phật giáo Nhật Bản, Phật Giáo Trung Hoa… hay phải nói cho đúng là Phật giáo Nam Tông hay Phật giáo Bắc Tông. Riêng danh xưng Phật Giáo a Hảo là một danh xưng vừa mang tính truyền thống, vừa mang tính pháp nhân nên không thể giản lược tách rời Phật giáo ra khỏi a Hảo hoặc a Hảo ra khỏi Phật Giáo được. Bởi vì, trước hết PGHH vừa chỉ cho nền tảng Giáo pháp Phật giáo được làm “mới” lại tại làng a Hảo vừa đề cao căn bản tính HOÀ HẢO trong Phật Giáo. Hơn nữa, ngay trong phần Biểu tượng Tôn Thờ Tam Bảo, từ tấm vải màu ĐỎ chuyển qua tấm vải màu DÀ là nhằm phủ nhận những việc làm sái phép, sái với tôn chỉ của Đức Phật do nhiều kẻ tự xưng Hoà Hảo gây ra! Cũng cần nhắc lại, đại danh từ Phật Giáo không phải là của riêng ai, nên không thể vì một lý do gì mà anh có thể tách rời đại danh từ ấy ra khỏi một cụm chỉ định từ chung; gọi PGHH là Hòa Hảo thì ngay trong bộ luật hình sự của ta không có quy định một hình thức xử phạt nào, nhưng gọi PGHH là Hoà Hoả với một ý đồ xuyên tạc, phỉ báng thì luật pháp có quy định hình thức chế tài đấy nhé.Ma Tung, anh không phải là tín đồ PGHH, bởi không một đồ chúng nào của PGHH lại tự xưng mình là người “tín đồ trung thành Đạo Hoà Hoả” như anh vậy! Anh chỉ là một tên phá bỉnh, một chi thứ năm đong đưa của Thích Phước Tiến, đúng thế không nào???

Nếu anh thực sự là người tín đồ PGHH thì anh có thể tự trả lời cho chính câu chữ của mình: “Các nhà sư hay tín đồ bên Phật giáo chưa bao giờ và chắc chắn không bao giờ đi kích động tín đồ gây rối thiên hạ…”Lão nương ta cũng cầu Phật cho lời của Ma Tung anh nói là sự thật, nhưng than ôi! Kính lạy chư Phật mười phương, kính lạy Đức Thầy vô vàn tôn kính, xin các Đấng mở lượng từ bi mà tha thứ tội cho con, chỉ vì con muốn khai mở màn vô minh cho một chúng sanh còn quá u mê, nên con phải nhắc lại lời khó nghe tội lỗi của một kiêu tăng Thích Thiện Huệ! Ma Tung, anh giở ngay tập luận văn tốt nghiệp của Thích Thiện Huệ, tại Học Viện Phật Giáo Việt Nam, khoá IV (1997-2001), tại trang 40, dòng thứ 15. Hắn viết “Xét cho cùng, Huỳnh Phú Sổ vẫn là một nhà thông thái của một đám người dốt nát đang tôn xưng ông là giáo chủ, một giáo chủ kiêu căng, khoác lác, hay loè đời bằng một mớ kiến thức rơm rác do học lóm mà được…”. Ma Tung nếu anh không đui, thì anh sẽ đọc được những lời mà anh đã cho rằng các nhà sư hay tín đồ bên Phật giáo chưa bao giờ và chắc chắn (?) không bao giờ đi kích động gây rối thiên hạ, thế, những lời của kiêu tăng trên là không khích động, là không phỉ báng tôn giáo, giáo chủ của người khác hay sao? Ma Tung, anh còn nói thêm rằng : “… kể cả bản thân của đạo chúng ta, gây biết bao điều tang thương cho Phật giáo…” Anh hãy nêu lên những chứng cứ cụ thể nhất về những điều tang thương cho Phật giáo do PGHH gây nên, bằng không có các chứng cứ thuyết phục thì đây lại là lời quy chụp, mạ lỵ và vu khống!!! Tiếc rằng anh chỉ là một bóng ma của Thích Phước Tiến, nếu là người bằng xương bằng thịt thì anh phải đứng trước vành móng ngựa là một điều chắc.

Ma Tung anh tình nguyện thế thân cho Thích Phước Tiến, thì anh hãy nghe “thần tượng” của anh phê phán: “Tôi muốn nói cái gọi là Hội Long Hoa nầy, bà nội của quý vị chết đi rồi tái sinh lại 100 lần trên cuộc đời nầy cũng chưa bước tới hội Long Hoa nữa…” Thật là vô phước cho người Phật tử, khi mình đã đặt tron vẹn lòng kính tín đối với một vị Thầy mê si thiếu tế nhị! Trong kinh Di Lặc Thượng Sanh: “Sau khi Bồ Tát Di Lặc nhập diệt thì ở toà Su Sử của điện Ma Ni tại cung trời Đâu Suất, đột nhiên hoá sinh ngồi Kiết Già trên hoa sen, thân có màu vàng Diêm Phù Đàn với 32 tướng 80 vẻ đẹp, đỉnh đầu có nhục kế màu Lưu Ly xanh biếc, dùng báu Ma Ni làm mão Trời, trong mão phóng ra ánh sáng có vô số vị Hoá Phật với các vị Bồ Tát. Sợi lông trắng (bạch hào) ở tam tinh tuôn ra màu sắc trăm báu, cùng với các vị Thiên Tử đều ngồi tại toà hoa, ngày đêm thường nói Pháp chẳng thối chuyển, đợi Duyên sinh xuống ở cõi Diêm Phù Đề” Sau đó, Đức Phật cũng thọ ký cho các công hạnh: quét tháp, lau đất, cúng dường danh hương, diệu hoa, tam muội chính thọ, đọc tụng kinh điển, xưng danh niệm Phật… đều được vãng sinh về cung Trời Đâu Suất, quy y Bồ Tát Di Lặc, quán sát kỹ lưỡng ánh sáng của tướng Bạch Hào tại tam tinh của Di Lặc, liền vượt qua tội của chín mươi ức kiếp sinh tử, và ở nơi này nghe Pháp. Vậy thì tại sao bà nội của thí chủ (người đặt câu hỏi) không đến được Hội Long Hoa nếu trong đời sống tu tập của bà luôn nghiêm mật?

Thích Phước Tiến còn tiếp tục phê phán: “Tất cả những cái từ mà để gọi là Hội Long Hoa nầy kia, kia nọ trong cái nầy đó, đôi khi các vị bị những người khác lợi dụng mình về từ ngữ để mà mê hoặc chúng ta…

Cho nên những người nói Hội Long Hoa nơi nầy, Hội Long Hoa nơi kia là nói tầm bậy, nói mà không hiểu nó là cái gì. Cho nên cứ hở ra Hội Long Hoa chỗ nầy, Hội Long Hoa chỗ đó, năm nầy Hội Long Hoa, năm kia Hội Long Hoa… đó là những cái cách phịa,bày đặt mê tín, lợi dụng từ ngữ để tung hoả mù vào quần chúng mà thôi!

Các vị nên nhớ và ý thức điều nầy. Đừng để bị lừa đảo. A Di Đà Phật”

Tội lỗi cho một người mù sờ voi và không thể nào vượt thoát khỏi thế trí nhỏ hẹp để có thể giác ngộ giáo pháp siêu mầu của Thế Tôn! Theo Kinh Di Lặc Thượng Sanh và Kinh Di Lặc Hạ Sanh; Di Lặc xuất phát từ tiếng Phạn Maitreya và tiếng Pàli Metteyya, Hán dịch là Từ Thị là một vị Bồ Tát Nhất Sanh Bổ Xứ, nhập diệt trước Phật dùng thân Bồ Tát trụ ở cõi Trời Đâu Suất thuyết pháp cho các vị ở cõi nầy. Kinh điển chính thức nói về Bồ tát Di Lặc có 6 bộ:

1-Kinh Quán Di Lặc Thượng Sanh,Thư Cừ Kinh Thanh dịch.
2-Kinh Di Lặc Hạ Sanh,Cưu Ma La Thập dịch.
3-Kinh Di Lặc Lai Thời,không rõ dịch giả.
4-Kinh Quán Di Lặc Bồ Tát Hạ Sanh, Trúc Pháp Hộ dịch.
5-Kinh Di Lặc Hạ Sanh Thành Phật, Nghĩa Tịnh dịch.
6-Kinh Di Lặc Đại Thành Phật,Cưu Ma La Thập dịch.

Cộng thêm các chú sớ giải thích các bộ Kinh nầy thì rất nhiều, nổi tiếng nhất là các bộ Di Lặc Kinh Du Ý của ngài Cát Tạng,Di Lặc Thượng Sanh Kinh Tông Yếu của Ngài Nguyên Hiểu, Quán Di Lặc Bồ Tát Thượng Sanh Đâu Suất Thiên Kinh Tán của ngài Khuy Cơ và Tam Di Lặc Kinh Sớ của Ngài Cảnh Hưng…

Dựa vào các Kinh điển, Hội Long Hoa gắn liền với vị Phật Đương lai Di Lặc, một biểu tượng hoàn toàn Phật giáo được tất cả các tông phái tôn trọng. Cung trời Đâu Suất là tầng trời thứ tư theo truyền thuyết Phật giáo, con người có thể đến đó bằng năng lực Thiền định. Trong lịch sử Phật giáo Bồ tát Thế Thân, vị tổ của Duy thức học đã nhiều lần nhập định đến cung trời Đâu Suất để nghe Bồ Tát Di Lặc giảng kinh, với trí nhớ tốt Ngài Thế Thân ghi lại được những lời thuyết giảng những bộ Kinh được khẳng định là do chính Bồ Tát Di Lặc giảng thuyết. Gần hơn nữa là Lão Hoà thượng Hư Vân ngài cũng đã nhập vào đại định đến thăm viếng cung Trời Đâu Suất và gặp gở Bồ Tát Di Lặc được ghi lại trong quyển Đường Mây Trên Đất Hoa do Nguyên Phong dịch (trang 136-138).

Mỗi vị Phật xuất hiện ở thế gian đều là một đại sự nhân duyên, đó là một sự chuẩn bị lâu dài để khi cơ duyên đến là chẳng những có ngay một vị Phật ra đời mà còn có ngay các vị hộ pháp, vậy thì có phải ngay bây giờ đang có hàng thính chúng ngày đêm nghe Bồ Tát Di Lặc nói Pháp? Cho dù qua các Kinh điển xác định ngày giờ địa điểm xuất hiện của vị Phật đương lai, nhưng nếu chúng sanh ta một lòng đi theo hạnh nguyện của mỗi Đức Phật, thì có lý nào ta không thể đạt thành sở nguyện. Đức Phật A Di Đà chủ hạnh Trang Nghiêm, Đức Phật Thích Ca chủ hạnh Thanh Tịnh, Đức Phật Di Lặc chủ hạnh Hỷ Xả… Kinh điển vẫn là kho báu nghìn đời lưu giữ những lời Phật dạy, nhưng ngay chính kinh điển cũng đã mở ra cánh cửa nghìn trùng “ Pháp Phật là bất khả tư nghì” nghĩa là không thể dùng cái phàm trí nghĩ, bàn mà có thể nắm bắt được chân nghĩa của Phật Pháp, mà phải hiểu thẩm thấu bằng chính cái Tâm vô ngã! Nếu ai là người biết hoạt dụng những lời dạy của Phật thành những tâm tư, tình cảm của mình ngay trong cuộc sống hiện tại rồi dung hoá nó trong từng phút,từng giây thì bất kỳ ở đâu, thời gian nào mà ta không đến nơi được!

Theo luận giải của Chư Tổ nhiều đời, Kinh Di Lặc nhiếp thâu vạn pháp, dung nạp tam thừa,dung nạp được mọi căn cơ…vậy thì, nếu mọi người chúng ta học tập được từ kinh điển với tấm lòng Hỷ Xả, với một tâm nguyện tín thành tột bậc thì có khác gì nhau giữa Tịnh độ Di Lặc và Tịnh độ A Di Đà; Từ bi Hỷ Xả là Tịnh độ Di lặc, chẳng những vừa trụ nơi vô sở trước là cội Cây Long Hoa, mà khắp mọi nơi mọi chốn do vô số hoá thân của Ngài. Nếu ai hành trì giới định huệ là đang lắng nghe ba hội thuyết pháp, chính cái Tâm Không là Đức Phật tại thế… Sáu mươi tỷ năm cũng ở tại bây giờ, cần gì phải chờ đợi ai, kiếm tìm gì khi pháp giới quy về trong gang tất!

Thân khẩu ý thanh tịnh
Thị danh Phật xuất thế
Thân khẩu ý bất tịnh
Thị danh Phật nhập diệt

Tức tâm tức Phật vô dư pháp
Mê giả đa ư ngoại tầm cầu
Nhất niệm quách nhiên quy bổn tế
Hoàn như tẩy khước thượng thuyền đầu

(Ba nghiệp thanh tịnh, Là Phật ra đời. Ba nghiệp bất tịnh, Là Phật nhập diệt. -Ngay tâm là Phật, chẳng pháp nào ngoài.Kẻ ngu phần nhiều, Tìm cầu vật ngoại. Một niệm rỗng không, Quy về bổn tế. Dễ như rửa cẳng,Rồi bước lên thuyền)

Sở dĩ Lão nương ta phải nói nhiều như vậy để Ma Tung anh và Thích Phước Tiến biết được rằng trong cõi thế nầy lúc nào cũng có Bồ tát, lúc nào cũng có Phật chỉ vì các người không thể nhìn ra do bởi tâm bất tịnh mà thôi.

Long Xuyên, ngày 24/12/2015
Nguyễn Thị Bảo Pháp

Lần sửa cuối bởi Ngoctruc, ngày 01-21-2016 lúc 09:17 PM.

Categories: Nhan dinh | Leave a comment

NHỮNG LỜI TRAO ĐỔI CHÂN TÌNH của Cư sĩ Huỳnh Hình Trong

NHỮNG LỜI TRAO ĐỔI CHÂN TÌNH của Cư sĩ Huỳnh Hình Trong


NHỮNG LỜI TRAO ĐỔI CHÂN TÌNH
của Cư sĩ Huỳnh Hình Trong


Th
ưa ông Thích Phước Tiến.

Lẽ ra tôi không thể xía vào chuyện nầy! Vì ông thuộc hàng xuất gia (mang dòng họ Thích). Nghe đâu ông có bằng tiến sĩ Phật học và hiện đang là một chức sắc khá quan trọng trong giáo hội Phật Giáo Việt Nam. Còn tôi với tục danh cư sĩ, chỉ là một tín đồ bình thường của đạo Phật Giáo Hòa Hảo, tôi không có một chức sắc nào trong Ban Trị Sự giáo hội Phật Giáo Hòa Hảo cả. Nhưng xét thấy giáo lý của Đức Phật Thích Ca luôn hàm chứa tinh thần từ bi và bình đẳng. Thuở Đức Phật còn tại thế, trong thành Tỳ Xá Ly có một người rất tinh thông Phật lý và hằng sùng kính Tam Bảo, đó là cư sĩ Duy Ma Cật. Khi nghe tin ông có bệnh, Đức Phật bảo các vị đệ tử lớn như các ông: Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, A Nan Đà, Ưu Ba Ly…đến thăm bệnh ông. Thế là cuộc gặp gỡ trao đổi, chia sẻ cho nhau về Phật lý rất hài hòa trong tinh thần cởi mở và bình đẳng giữa hai giới Tăng sĩ và Cư sĩ. Thế nên tôi xin được bình phẩm trong đề giải đáp của ông ít lời.
Vừa qua tôi có xem phần vấn đáp Phật pháp kỳ 25/2014 của ông tại Hoa Kỳ, với câu hỏi “ĐẠO HÒA HẢO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐẠO PHẬT KHÔNG ?”
Ông giải đáp với cử chỉ, ngôn ngữ và cặp mắt đảo trừng, khiến tôi vô cùng ngạc nhiên! Mình là hạng xuất gia mà! Là một nhà “Mô phạm” thì cần nên thể hiện đạo hạnh để treo gương từ tốn cho giới bạch y chớ! Ai làm ông bực mình mà biểu hiện thái độ thô kệch như thế?! Thật đúng là:
“Trong tâm vừa muốn mưa phiền
Thì là ngoại mặt cũng liền kéo mây”

Thanh Sĩ

Ông hãy để bầu trời tâm thanh lặng, sẽ thấy rõ nó là loại tâm thức nào. Do hướng nhìn biên kiến, kiến thủ mà ông đã bị rơi vào hang ổ của “Kiết sử phiền não” rồi. Tôi thuộc hạng cư sĩ tại gia, trong cuộc sống thường nhật ắt phải vất vả, tất bật hơn ông nhiều, luôn gặp phải những chướng duyên rắc rối, dễ sanh trái ý nộ lòng. Thế mà vẫn giữ được sự bình tĩnh, ôn hòa nhã nhặn đối với tha nhân là nhờ tôi biết kính vâng theo lời chỉ giáo của Đức Huỳnh Giáo Chủ:
“Ngôn từ đạo hạnh ý Thầy khuyên
Hạnh đức ân cần rán tập chuyên”
“ Lựa lời tiếng dịu dàng trong sạch
Khi thốt ra đoan chánh hiền từ”

Trở lại ý nghĩa trong lời giải đáp, ông nói rằng: “Hòa Hảo là Hòa Hảo, Phật giáo là Phật giáo… đó là chuyện của riêng họ”. Ông nên hạ giọng thấp xuống đi! thấp xuống nữa! ông lấy quyền gì mà thốt lối cao giọng ấy? Phật giáo chẳng của riêng ai. Chính Đức Thế Tôn đã từng bảo: “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh” kia mà. “Không có giai cấp khi giọt mồ hôi đều mặn và dòng máu cùng đỏ”. Thế nên, Đạo Phật không riêng gì của người Ấn Độ, mà được du nhập phổ truyền rộng khắp trên thế giới.
Đạo PGHH ảnh hưởng giáo lý đại thừa của Đạo Phật. Xem nhẹ hình thức, không chạy theo “âm thinh sắc tướng”. Đặc biệt chú trọng tâm linh, Đức Huỳnh Gíao Chủ đã dạy: “Sự đầu tiên của người hành đạo là cốt sửa những tư tưởng, tìm cách đánh đuổi tư tưởng xấu xa, đem thay vào những tư tưởng ôn hòa đạo đức”.

Dù có thờ Phật, lễ Phật (lễ Phật giả, kỉnh Phật chi Đức). Nhưng thờ đơn giản cho lòng tin trở lại tâm hồn, cũng không ỷ lại vào sự hộ trì của Ngài, mà trọng yếu là “Trong việc tu thân xử kỷ”. Đức Huỳnh Gíao Chủ đã bảo: “Sự lễ bái không đủ cho ta tỏ ra là một tín đồ chân thành của đạo Phật được”. Tại sao vậy ?
“Vì Đức Phật chẳng bao giờ ngỏ ý rằng, “các người hãy lạy thờ ta cho nhiều, rồi ta sẽ độ giúp các người” mà trái lại, Ngài dạy rằng: “Các người nên hiểu biết phận sự của con người phải làm gì trong kiếp sống và tìm kiếm chân tánh của mình”. Thiệt hành theo giáo lý của Ngài thì Ngài sẽ hướng dẫn và ủng hộ vậy.

Ta hãy đem đức tin trong sạch mà thờ kỉnh Phật và hãy đem lòng lành mà hành động y theo lời phán dạy của Phật.
Nếu ta cứ đem đức tin thờ phượng tôn giáo bằng cách sai lầm thì rất có hại cho đời mạng của ta. Như vậy chỉ tỏ ra một người mê tín. (Mặc dầu đạo của ta thờ là một đạo rất chánh đáng)”.
Thuở xưa, Đức Thích Ca Mâu Ni Phật ngồi thiền quán và chứng đạo dưới cội cây Bồ Đề, Ngài đã khám phá ra một sự thật vô cùng quan trọng mà trước kia chưa từng ai biết. Qua sự lược tả của Đức Huỳnh Giáo Chủ sau:
“Ngài bèn xét ở trong Phật chủng
Các chúng sanh đều có như ta
Bị vô minh vọng tưởng vạy tà
Nên quay lộn Ta Bà cõi khổ”.

Với tâm huyết của
Đức Huỳnh Giáo Chủ là:
“Ta quyết lòng nhắc lại tánh xưa”
“Nhàn thanh tìm kiếm kiếm nơi tâm,
Phật cũ ngày xưa hãy rán tầm”.

(tức Phật tánh).
Trở lại với Phật tâm, phụng vâng theo Phật ngôn, ứng dụng theo Phật trí, sống hòa nhập trong cuộc đời, đó là giáo lý Học Phật, Tu Nhân”
Công cuộc của
Đức Huỳnh Giáo Chủ là:
“Chấn hưng Phật giáo học đường
Dưới trên hòa thuận chọn đường qui nguyên”

Người tín đồ PGHH đã ý thức và tin chắc được pháp tu của mình và thực hành:
“Lấy tâm Phật đạo hành nhân đạo
Nhân đạo hoàn thành Phật đạo siêu”

Thanh sĩ

(Đây chỉ sơ lược về pháp Học Phật (khế lý) Tu Nhân (khế cơ). Còn về sứ mạng của Đức Huỳnh Giáo Chủ vâng sắc lịnh của Phật,Trời thì người tín đồ đạo PGHH ai ai cũng đều tin nhận)
Để đem đạo Phật ứng dụng vào cuộc đời, ĐứcThầy dạy: “Điều cần yếu là phải làm hết các việc từ thiện, tránh tất cả điều độc ác. Quyết rửa tấm lòng cho trong sạch”. Đây là những pháp tu thiết thực, rất vững chãi trên bước đường tự lợi, lợi tha gồm đủ ngũ thừa Phật Giáo:Tứ Ân,ThậpThiện,Tứ Diệu Đế,Thập Nhị Nhân Duyên, Tứ Vộ Lượng Tâm…v.v…
Trong kinh Đức Phật dạy:
“Chư ác mạc tác
Chúng thiện phụng hành
Từ tịnh kỳ ý
Thị chư Phật Giáo”

Lời của Đức Huỳnh Giáo Chủ rất đúng theo ý chỉ bài kệ nêu trên. Có điểm nầy Thích Phước Tiến nên xét rõ ra, nếu không thì ông chẳng thể thấy hết toàn thân của con voi đâu. Ông bảo rằng: “Riêng lấy câu niệm Phật Di Đà”, có ý phân biệt nhỏ nhen quá đáng! Ông phải chỉnh lại: “Chung lấy câu niệm Phật Di Đà” mới thật đúng tính cách đại đồng của Chư Phật. Bởi vì pháp môn Tịnh Độ do chính Kim khẩu của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật thuyết gồm có 3 kinh: Vô Lượng Thọ, nói về hạnh nguyện của Đức Phật A Di Đà. Quán Vô Lượng Thọ, quán niệm cảnh giới Tây Phương Tịnh Độ. A Di Đà Kinh Đức Phật thuyết rõ về Tín, Nguyện, Hạnh là Tông chỉ của môn Tịnh Độ, mà pháp thực hành trì danh niệm Phật lại rất khế cơ.
Thế nên trong kinh Đức Phật dạy: ‘Này Xá Lợi Phất! Nếu có gã thiện nam, người thiện nữ, nghe nói đến Phật A Di Đà, chấp trì Danh hiệu để niệm, hoặc 1 ngày, hoặc 2 ngày, hoặc 3 ngày..v.v…Đó là lời giáo hóa chung, không phân biệt nam nữ, trẻ già, tăng tục, trí ngu. Tóm lại Đạo Phật chẳng dành riêng cho ai cả.
“Học Phật phải rộng tình tế độ
Nói pháp cần phá bỏ chấp tâm
Phật riêng tế độ Phật lầm
Pháp còn có sự chấp tâm pháp tà”

Thanh sĩ
Như đã nêu trên, thì sự niệm phật, làm thiện phải cần nên khích lệ và hoan hỉ để cùng nhau chia sẻ công đức (tùy hỉ công đức). Ông nên biết rằng, họ niệm Phật là không để ý niệm vọng khởi tà quấy tức là “Tự Tịnh Kỳ Ý”. Họ làm từ thiện, là đúng nghĩa “Chúng Thiện Phụng Hành” đấy. Nếu đã làm thiện thì đâu có thân, khẩu, ý nào riêng làm việc ác được, thật đúng với câu “Chư Ác Mạc Tác”. Đó là điều ‘Thị Chư Phật Giáo” vậy.
Thích Phước Tiến, trong lời giải đáp ông nói: “Hòa Hảo chỉ mới đây thôi, khoản giữa đầu thế kỷ 20”. Rồi ông luận lòng vòng, sau cùng kết lại và nhấn mạnh với giọng nói khinh khỉnh: “Hòa Hảo nói mới chớ thật ra không mới gì cả”. Với giọng điệu đó cũng đủ thấy thâm ý của ông rồi ! Thôi thì sao cũng được do biên kiến cá nhân ông. Còn với tôi, nhìn theo trí Bát Nhã thì mới và không mới vốn không hai:
“Mới mà không mới
Không mới mà mới
Mới tức không mới
Không mới tức mới
Mới…
Không…
À! Vì nghe ông luận mới, không mới mà tôi chợt thấy ra việc này có liên quan đến ông. Tiện đây tôi xin hỏi ông tiến sĩ, có lẽ ông sẽ biết được.

Thuở Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật còn tại thế, chỉ có danh hiệu của Ngài là Thích Ca Mâu Ni Phật mà thôi. Các vị đại đệ tử“Thánh Tăng”,chẳng ai mang danh hiệuThích nầy,Thích nọ, chẳng thấy đâu ra được một người dù là Thích Mục Kiền Liên, Thích Ma Ha Ca Diếp, Thích A Nan Đà hay Thích Phú Lâu Na.v.v..

Trở lại PGVN hồi thời nhà Trần cũng thế. Phật Hoàng Trần Nhân Tông là sư tổ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử truyền pháp cho Pháp Loa, Pháp Loa truyền xuống Huyền Quang, lại chẳng thấy có Thích Pháp Loa hay Thích Huyền Quang nào cả. Vậy có phải Thích Phước Tiến là mới hơn các vị Thánh đệ tử hồi thời Đức Phật không? Thích Phước Tiến có phải mới hơn hồi phái thiền Trúc Lâm Yên Tử không?

Ngay cả giới bạch y hồi thời Phật cũng thế, một danh đức đã trải dài thời gian trên 25 thế kỷ mà gương sáng vẫn rạng ngời, đó là ưu bà tắc Tu Đạt Đa. Ông là một trưởng giả đại phú gia, lại có lòng nhân từ, thường xuyên cứu giúp những người cô độc, tật bệnh, nghèo nàn,..v.v…Được thời nhân tôn xưng hiệu danh là Cấp Cô Độc. Ông cũng là người đã trải vàng ra mua mảnh vườn của thái tử Kỳ Đà để cúng dường Đức Phật và chư Tăng, tạo nên ngôi tịnh xá Kỳ Hoàn. Thế mà, trọn đời ông chẳng thấy có một pháp danh nào khác.
Đến như ưu bà di, Mẫu Hoàng của vua A Xà Thế, được Đức Phật trực tiếp thuyết kinh Quán Vô Lượng Thọ, lại chẳng thấy pháp danh nào khác ngoài tên gọi Hoàng hậu Vi Đề Hy.
Này ông Thích Phước Tiến, ở đây tôi không luận mới hay không mới. Tôi thực lòng chỉ muốn tìm hiểu theo mốc thời gian từ Phật Hoàng Trần Nhân Tông, cho đến hiện thời là việc Thích Phước Tiến các tăng, ni được gắn danh họ “Thích” và đặt pháp danh cho Phật tử ở vào thời điểm nào ?

Tôi dẫn chứng dài dòng như thế để cho ông biết PGHH có liên quan gì đến Phật Giáo hay không. Tôi nói Phật Giáo chớ không phải PGVN. Nay Thích Phước Tiến mang họ “Thích” để mà lớn lối khinh miệt, xem thường Tông phái khác. Không nên đâu ông à!
Mời ông đọc bài thơ dưới đây để suy nghiệm.
PHẬT là giác ngộ cái chơn tâm
GIÁO đạo vô vi lý tuyệt trầm
HÒA hợp từ bi năng hỉ xả
HẢO cầu bác ái diệt thù thâm
NGUỒN tâm mãnh lực trừ tham ái
GỐC tánh oai hùng trị dục tâm
TỪ mẫn độ tha trong bá tánh
BI tràn lê thứ biết hồi tâm
Trong đề giải đáp của ông còn nhiều điều để nói lắm, nhưng tôi được nhớ ra một điều rất quan trọng, biết ông có nhớ hay không? Thôi thì để tôi nhắc lại. Trong Kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật bảo: “Mình đang tu một tông phái của Phật Giáo mà đã phá các tông phái khác là đang đi trên đường tà đạo”.
Lại nữa:
“Nói nhiều lắm xe lơi tình nghĩa
Chữ hiền lành trau triả cho xong”

Lời
Đức Huỳnh Giáo Chủ:

Đạo PGHH đã vượt qua bao ngổn ngang của lịch sử trước đây, hôm nay người tín đồ PGHH đang sống trong suối nguồn Từ Bi của chư Phật, sống vì tha nhân với tâm niệm:
“Tu không lợi ích thôn lân
Chữ tu ấy có ai cần làm chi”

Thanh sĩ
Trái lại, sống với học vị, lợi danh bản ngã lẫy lừng chồng chất mới không phải là Phật Giáo đấy, ông Phước Tiến ạ!.
Tôi rất tâm đắc về câu chuyện một vị Thầy khai ngộ cho đệ tử như sau: “Con đã tốt nghiệp ở trường nầy, trường nọ rất tốt. Nhưng có một trường mà không bao giờ con tốt nghiệp, đó là trường học làm người đấy con ạ!”
Này ông Phước Tiến, tôi xin được kề tai nói nhỏ với ông. Trong lời đáp ông nói có: “Một người nào đó”. Nghe qua rất là mơ hồ, điều đó chứng tỏ ông không biết gì về đạo PGHH cả. Tôi đề nghị ông nên về miền Tây Nam Bộ hỏi bất cứ người tín đồ PGHH già trẻ, nam nữ nào cũng đều được giải đáp ân cần cho ông hiểu rõ về vị Giáo Chủ siêu phàm khai sáng mối Đạo nầy. Hầu sau nầy có gặp những câu hỏi tương tự ông sẽ khỏi phải lúng túng, trái lại còn bình tĩnh giải đáp rõ ràng, đúng chánh pháp hơn, khi có đủ thông tin.
Đức Huỳnh Giáo Chủ đã giải thích cái khối tình Đạo Phật bao la vô ngằn mé như sau:
“Vả lại, cái tình ấy, nó không bến không bờ, không phân biệt màu da, không phân biệt chủng tộc, nó cũng không luận sang hèn và xóa bỏ hết các tầng lớp đẳng cấp xã hội, mà chỉ đặt vào một nhân loại chúng sanh”
Và Ông Thanh Sĩ cũng theo đó mà nêu cao và nhắc nhở mọi người:
“Phật Giáo vốn đại đồng nhơn loại
Hòa Hảo cùng thế giới năm châu
Đó là chơn lý đạo mầu
Xin đừng đem dạ chấp câu hẹp hòi”

Có qui ngưỡng và thực hành theo tinh thần quảng đại như thế, chúng ta mới mong đáp đền phần nào ơn Tam Bảo một cách thiết thực vậy. Mong thay!

Chào đoàn kết.

TP. Cần Thơ, ngày 01. 01. 2016
Huỳnh Hình Trong

Lần sửa cuối bởi TTT, ngày 01-14-2016 lúc 02:29 AM.

Categories: Nhan dinh | Leave a comment

Sự nhiệm mầu từ biến cố đốc vàng hạ

Sự nhiệm mầu từ biến cố đốc vàng hạ


SỰ NHIỆM MẦU TỪ BIẾN CỐ ĐỐC VÀNG HẠ

hh


Kính thưa: Chư quí Thân H
ữu, Đồng Đạo trong và ngoài nước.

Còn một vài hôm nữa là đến Lễ Kỷ Niệm lần thứ 69 ngày Đức Huỳnh Giáo Chủ Phật Giáo Hòa Hảo tạm thời ẩn ánh (25, th
áng 02 Âl nhuần, Đinh Hợi, 1947 – 25.2. Bính Thân 2016) từ biến cố Đốc Vàng Hạ, ngay trong đêm dự phiên họp bất thường do những người cùng chiến tuyến âm thầm tổ chức, nhằm triệt hạ Ngài Ủy Viên Đặc Biệt. Tạo nên một thảm họa “nồi da” đáng tiếc khắp miền lục tỉnh Hậu Giang, đã khiến cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, giờ lại có thêm cuộc xâu xé nội tình đầy dẫy tang thương, mà nạn nhân chính phải gánh chịu là những người cùng chủng tộc, phải tiếp tục đổ máu vô ích cho cuộc chiến phi nghĩa kéo dài hơn một thế hệ. Đã để lại rất nhiều hệ lụy nghi ngờ và cừu hận lẫn nhau, tồn tại dai dẳng hơn 40 năm sau ngày hòa bình mà vẫn chưa có cơ hội hóa giải cho ổn thỏa đôi đàng!


Đây là bài học lịch sử đắng cay đầy máu và nước mắt, nhằm nhắc nhở cho cả dân tộc về tác hại của sự độc đoán!!! Đấy là một vấn nạn lịch sử, đòi hỏi trách nhiệm của đoàn hậu duệ cả hai bên, đến lúc cần phải tỏ thiện chí ngồi lại để nhìn nhận đúng bản chất sự kiện, hầu tìm kiếm một giải pháp hóa giải ôn hòa, thẳng thắn, cho thật sự công minh nhằm thuyết phục công luận. Riêng đối với Đức Huỳnh Giáo Chủ là đấng siêu phàm đã hoàn toàn thoát ngoài vòng sinh tử một cách vô ngã tự tại… Không có loại kiến thức phàm phu nào có thể lý giải nỗi về sự sống chết của Ngài, cũng như không có bất kỳ một chướng ngại nào có thể ngăn trở được sứ mạng thiêng liêng và lòng đại nguyện của Ngài. Trái lại Ngài rất tự tại tùy thuận vào ra nơi cõi Ta Bà, để thể hiện rộng lớn lòng Từ bi và trí Bát nhã diệu mầu, hầu có phương tiện rộng bủa từ tâm cứu độ mọi tai kiếp cho đồng bào và nhân loại, thuận theo sắc lịnh Phật Trời, trong cơ biến chuyển bách cận của buổi hạ ngươn.

Năm nay nhân kỷ niệm ngày thiêng liêng này, là dịp để chúng ta tôn vinh công lao trời biển của Đức Huỳnh Giáo Chủ, trong cơ cuộc đại bi hoằng hóa suốt chặng đường lịch sử nhiễu nhương của đất nước trong những năm 1939-1947. Đặc biệt là biến cố Đốc Vàng Hạ, cũng cần làm sáng tỏ những tình tiết quan trọng mà bấy lâu vẫn còn tiềm tàng bí ẩn bất khả phân minh. Vốn là một thách thức to lớn đối với các sử gia, nhà nghiên cứu và học giả Đông Tây, không tài nào khám phá cho ra manh mối, bởi sự giới hạn của trí thức phàm phu. Tất cả những sử liệu trước đây, đã được công bố trong quốc nội, cũng như những hồ sơ tình báo được lưu trữ trong các văn khố quốc tế Anh, Pháp… xuất hiện gần đây đã gây dư luận xôn xao cho rằng Đức Huỳnh Giáo Chủ đã chết. Sự đồn đoán thiếu cân nhắc như thế là sự nhận định phiếm diện, ảnh hưởng màu sắc chính trị, tuyên truyền thiếu cơ sở.. họ cố giải thích một cách đơn điệu dựa vào những tư liệu ngụy tạo mà thời chiến nào cũng có không ít. Sự hữu hình mà còn không rõ thực hư, thì làm sao đủ sức khám phá cơ huyền, để hiểu nỗi cách quyền dụng thần kỳ đã vô hiệu hóa một âm mưu độc địa, trở thành một cơ hội để Đức Giáo Chủ tạm thời ẩn ánh an toàn, với đầy đủ lý do chánh đáng do đối phương tạo ra. Điều đáng ngạc nhiên nữa là Ngài dùng kế “Khổng Minh” tài tình ngăn chặn từ xa rất hữu hiệu cho một cuộc đụng độ nồi da mà sự diệt vong đang cận kề về phía bộ đội Hòa Hảo, nếu không khéo sẽ rơi vào hiểm họa. Mệnh lệnh “…Cấm chỉ việc kéo quân đi tiếp cứu… trong bức thư ngắn gọn, được thần tốc gởi đến doanh trại Hòa Hảo kịp thời là một minh chứng “Thần cơ diệu toán”, chỉ có đấng siêu phàm mới đủ diệu năng quán thông xuất thần như thế!

Để kích thích sự tò mò khám phá, chúng ta thử đặt vấn đề, có ai nếu không phải là bậc siêu nhân như Đức Huỳnh Giáo Chủ, mà có bản lĩnh dám thản nhiên chấp nhận lời mời, với phong thái không do dự, quyết thực hiện cuộc phó hội ban đêm, được tổ chức tận vùng đầm lầy trung tâm của chiến khu Đồng Tháp. Dù là trí thức thường nhân vẫn ước đoán được một hậu quả “Lành ít dữ nhiều” huống chi là bậc quán chúng như Ngài. Thế mà Ngài vẫn loại trừ các yếu tố nghi ngờ hoặc phòng thủ đối trọng tương xứng theo lực lượng sẵn có. Thậm chí có đủ lý do khước từ chánh đáng hoặc bàn chọn địa điểm thích hợp khác, tối thiểu là đề nghị một phiên họp vào ban ngày cho minh bạch…
Nhưng bản lĩnh của bậc siêu nhân không hề ngăn ngại. Vẫn một mình với đoàn tùy tùng 4 người phòng vệ và 2 phu chèo, trên một chiếc ghe mui cỡ nhỏ, thẳng tiến tròng trành trên dòng sông Ba Răng lạnh lẽo, khi ánh hoàng hôn ảm đạm mờ dần trong bóng đêm tịch mịch. Hai bên dòng sông um tùm lau sậy, không một bóng người hay nhà ở, ngoại trừ những trạm gác được bố trí đều đặn trên bờ sông rất nghiêm nhặt (Theo lời kể của Ông Mười Tỷ một phòng vệ còn sống sót).

Từ khi Pháp tái chiếm Việt Nam lần hai ngày 23/9/1945, Đốc Vàng Hạ đã trở thành vùng căn cứ địa kháng chiến của UB/KCHC Nam Bộ, là vùng cấm địa bất khả xâm phạm. Nay lại xuất hiện một chuyến thủy hành phó hội ban đêm, là đã báo trước một tiền đề ảm đạm, và điều nguy hiểm đã thật sự xảy ra một cách kinh hoàng, khi mà hai nhân vật chính đàm phán là ĐứcThầy và ông Bửu Vinh vừa ngồi vào bàn họp, thì từ bên ngoài gần đó, nhiều loạt tiểu liên chĩa vào phòng họp tiếp cận mục tiêu khai hỏa liên thanh, loạn xạ trong bối cảnh tối thui. Dự luận cho rằng “chỉ có Thánh mới thoát nỗi”. Nhưng rồi còn hơn ta tưởng “cả Thánh lẫn phàm (Bửu Vinh) vẫn còn sống tự nhiên, qua sự cho biết cấp thời trong đêm, từ lá khẩn thư viết tay (thủ bút của Đức Huỳnh Giáo Chủ) được trích như sau:“…Tôi vừa hội hiệp với ông Bửu Vinh, bỗng có sự sự biến cố, tôi và ông Vinh suýt chết, chưa rõ nguyên nhân còn điều tra…”. Lá thư viết xong lúc 9 giờ 15 phút đêm 16/4/1947 có chữ ký của Đức Huỳnh Giáo Chủ. Lúc bấy giờ 4 phòng vệ của Đức Thầy, thì 3 người đã bị sát thương bằng dao đâm và một người thoát nạn chạy về kể lại là ông Mười Tỷ.

Thưa quí Thân H
ữu,
Đồng Đạo,

Qua lá thư Đức Thầy gửi về cho ông Trần Văn Soái và ông Nguyễn Giác Ngộ, được một người (không phải ông Mười Tỷ) không rõ căn tích, mang về tới doanh trại PGHH khoảng 11 giờ trong đêm ấy. Cộng thêm lời kể của ông Mười Tỷ về cái chết của 3 phòng vệ. Đã đủ chứng lý để khẳng định Đức Huỳnh Giáo Chủ thoát nạn an toàn, sau sự biến cố nã súng trực diện cự ly gần. Nếu cách ám hại chính xác đúng mục tiêu định trước như vậy, mà Đức Thầy vẫn không chết. Vậy thì Đức Huỳnh Giáo Chủ có thể chết được trong trường hợp nguy hiểm nào hơn nữa đây, xin hỏi hết công luận Đông Tây hãy trả lời dùm?

Thế mà đến giờ nầy vẫn có người cho rằng Đức Thầy đã chết. Nhất là hiện nay người ta lôi ra những tài liệu mật vụ tình báo từ văn khố Pháp thì có đủ tin không? Dù Pháp hay Anh, Mỹ hoặc Việt Nam… cũng đâu có sử gia hay nhà chính trị nào là Thánh đâu mà biết được “việc Thánh chết hay còn sống”, chúng ta chớ vội cả tin?
Nếu căn cứ theo nghiên cứu khoa học hay suy luận duy lý thì không tài nào giải thích cụ thể được những câu hỏi có liên quan về biến cố Đốc Vàng Hạ được.


Chẳng hạn:
1.- Nếu Đức Thầy chết thì ai đã viết lá thư ấy? Nếu cho rằng Bửu Vinh mạo lá thư ấy thì với mục đích gì? Phải chăng nội dung lá thư là cấm không cho kéo quân tiếp cứu? Nếu Bửu Vinh sợ lực lượng Hòa Hảo thì đâu dám tổ chức ám hại Giáo Chủ PGHH, chỉ cách địa điểm đóng quân của doanh trại Hòa Hảo chỉ hơn 10 cây số?
Nên nhớ Bửu Vinh lúc bấy giờ (1947) đã có thừa lực lượng hơn Hòa Hảo rất nhiều. Khi họ cố tình hại lãnh tụ Hòa Hảo, tức nhiên là họ đã dự trù sẵn kế hoạch bao vây lực lượng Hòa Hảo kéo quân vào chiến khu tiếp cứu, để diệt gọn không còn manh giáp, chứ ngăn lại làm gì cho mất cơ hội. Một lần nữa khẳng định, chính Đức Huỳnh Giáo Chủ đã viết lá thư ấy nhằm cứu sống sĩ binh Hòa Hảo một cách an toàn. Vậy ý kiến cho rằng Bửu Vinh viết mạo thư ấy là sai… Vả lại thủ bút ấy của Đức Thầy chính luật sư Mai Văn Dậu và hầu hết trí thức thân cận Đức Thầy đã xác định rất chính xác, cho đến bây giờ vẫn không ai có ý kiến tranh cãi.

2.- Người đưa thư trong đêm ấy họ tên gì? Và 3 người phòng vệ tử thương ngoài phòng họp, đến nay có aibiết thành phần, lai lịch và địa chỉ gì chăng? Theo nguyên tắc quân sự thì trước khi được chọn làm phòng vệ cho Đức Thầy, bổn phận các tướng lãnh phải chọn người thích hợp theo đơn vị cụ thể từ tiểu đội, trung đội, đại đội… Vậy mà cho đến 69 năm nay vẫn không ai biết 3 vị phòng vệ quan trọng ấy tên gì, không làm lễ giỗ, không xây miếu đài tôn thờ linh vị, không báo tử đến thân nhân, nói chung họ đã trở thành chiến sĩ vô danh hết sức vô tình, thậm chí người cùng đi với 3 người này là ông Mười Tỷ mà cũng không biết họ là ai. Vậy xin hỏi tiếp các tài liệu tình báo nổi tiếng được lưu trữ trong các văn khố Pháp, Mỹ, Anh và VN có giải thích nỗi điều này chăng? Hay cũng bó tay? Nếu việc nhỏ như vậy mà không thể biết thì chớ khá tham vọng lạm bàn đến việc sống chết của Đức Huỳnh Giáo Chủ vốn là đấng siêu nhân, ẩn chứa đầy cơ mật diệu huyền làm sao trí phàmvới tới?

3.- Đã tin chắc rằng ĐứcThầy viết lá thư ấy sau sự cố xảy ra khoảng từ 8 giờ đến 9 giờ 15 phút đêm như đã chứng minh trên, chúng ta còn cần phải suy luận thêm coi, Ngài viết dưới ánh đèn bằng cách nào và nơi nào cho an toàn sau khi đã thoát nạn, mà không bị phát hiện? Vì sau vụ nổ kinh hoàng ấy thì toàn khu vực xung quanh đương nhiên phải bị truy lùng gắt gao? và người tín đồ đưa thư không phải là người tùy tùng theo đoàn phó hội, xuất hiện cách nào để tiếp nhận thánh thư ấy từ tay Đức Thầy?. Và từ ấy Đức Thầy đã ẩn ánh một cách kỳ bí hoàn toàn, ngoài sự hiểu biết của phàm nhân, không bất kỳ ai kể cả Pháp, Việt Minh và lực lượng hay tín đồ PGHH đều không còn biết thêm gì nữa cả.

Nếu như đã tận dụng tột đỉnh kiến thức phàm phu mà không sao lý giải thấu đáo nỗi những hiện tượng bí ẩn chung quanh câu chuyện lịch sử ĐốcVàng Hạ được, thì chỉ còn cách dựa theo niềm tin “Thiên cơ và Đạo lý” hy vọng có thể khám phá có phần khả quan thuyết phục hơn đôi chút.
Vì Đức Huỳnh Giáo Chủ là đấng siêu phàm, được thể nghiệm trong nhiều lĩnh vực và nhất là trong giáo lý, Ngài đã nhiều lần tiết lộ cơ huyền, nêu rõ về sứ mạng, về sự tiên tri và cách hành xử đối ứng rất chu toàn và hữu hiệu trong mọi tình thế.
Ngài đã tiên liệu được chiến tranh thế giới lần hai, khởi đầu năm nào và kết thúc năm nào một cách chính xác (1939-1945) bằng sự ẩn dụ mười hai con giáp. Biết “Nhựt Bổn ăn không hết nửa con gà”… Vậy đối với diễn biến trong nước Việt Nam đối với Ngài, nào có chi phải khó khăn ngăn ngại. Đọc lại lịch sử dấn thân của Ngài chúng ta sẽ thấy sức linh hoạt thần kỳ ngoài năng lực dự đoán phàm phu, Ngài đã từng biến nghịch hoán chuyển thành thuận lợi, biến họa thành phước, biến nguy ra an… Rồi đây trong tương lai gần còn biến loạn ra trị, khi mà thế giới lâm chiến!

Chẳng hạn:
Ngài mở đạo năm 1939, ngay trong thời điểm chiến tranh thế giới lần hai khởi chiến khốc liệt, thế mà Ngài đã thâu nhận gần hai triệu tín đồ trong thời gian rất ngắn trước sự hà khắc cực đoan của thực dân Pháp; Khi bị Pháp lưu cư nhiều nơi, Ngài biến các nơi bị quản thúc của Pháp, thảy đều trở thành diễn đàn truyền đạo có tấp nập tín đồ.
“Càng đi càng biết nhiều nơi
Càng đem chân lý tuyệt vời phổ thông”


Khi lánh nạn miền Đông thì: – Ngài giáo dục tinh thần kháng chiến cho Bình Xuyên. – Khi xảy ra nạn đói Bắc Kỳ thì Ngài đi khuyến nông. – Khi Nhật đảo chánh Pháp, – Ngài thành lập Ban trị sự các cấp, và lực lượng gìn giữ hương thôn. – Và tổ chức phong trào Độc Lập Vận Động Hội, đòi Nhật trao trả độc lập. Khi Pháp tái chiếm Việt Nam lần hai (23/9/1945) – Ngài thành lập quân đội Bảo An để đương đầu với Pháp. Tháng 9/1946 khi Pháp đàn áp mạnh ở các đô thị, các lực lượng kháng chiến rút vào bưng biền thì – Ngài thành lập Đảng Dân Chủ Xã Hội, để huy động hầu hết các tổ chức trí thức yêu nước tại Sài Gòn, nhằm củng cố lực lượng kháng Pháp. Tháng 10/1946 do nhu cầu tăng cường thống nhất lực lượng dân tộc, khi được lời mời Ngài liền tham gia UB/KCHC/NB, với chức vụ rất khiêm tốn là Ủy Viên Đặc Biệt, với chức năng vừa hòa giải mọi xung đột hai bên, vừa hợp tác thành lập các khu kháng chiến, nhằm lập kế lâu dài cho vận hội dân tộc.
Đầu năm 1947. Do tiên liệu đến giai đoạn
“Ta dừng tay chờ đợi lịnh Thiên”. Ngài chấp nhận vào cuộc, nhân biến cố Đốc Vàng Hạ rất thuận duyên để Ngài thể hiện sự chấp hành kỷ luật tổ chức hành chánh và tận tình thực thi nghĩa vụ với non sông, vừa cứu nguy cho đoàn thể sinh tồn bằng một lá thơ “Thần kỳ” đồng thời vận dụng cơ huyền tạm thời qui ẩn chờ lịnh Hoàng Thiên. Sự khế hợp nhuần nhuyễn viên dung lý sự, về sự thoát nạn nhiệm mầu như vậy là một thông điệp Thiên cơ khắc sâu niềm tin cho tín đồ yên tâm “Kiên trinh gìn mối đạo” và hứa hẹn Ngài sẽ trở lại khi cơ Trời thuận lợi. Đúng như lời dặn dò trước đó:
“Ít lâu ta cũng trở về,
Khuyên trong bổn đạo chớ hề lãng xao”


Có nhiều người không hiểu cho rằng, vì sao Đức Huỳnh Giáo Chủ nổi tiếng là một nhà Thánh triết tiên tri lại phải “thọ nạn Đốc Vàng” để phải kết thúc sớm sự nghiệp hoằng hóa, khiến đoàn thể PGHH rơi vào cơn Pháp nạn dai dẳng gần 70 năm.


Xin thưa, nếu nhìn ở góc độ phàm phu, thì không thấy hết sự thành công vĩ đại của Đức Huỳnh Giáo Chủ trên 3 lãnh vực Tôn giáoChính trịQuân sự. Nhưng xét theo Thiên lý sẽ thấu đáo được rằng: Đức Thầy lâm phàm trong thời kỳ Mạt hạ tức thời tận diệt, mọi cộng quả, cộng nghiệp của nhân loại đều nằm trong bộ máy lọc lựa để tuyển chọn người hiền đức, đưa sang thế giới Tân Ngươn Thánh Đức.
Nên việc đào tạo phải thích nghi sự dịch chuyển tuần hoàn từ hạ sang thượng, điều ấy phải thuận theo sự thăng tiến nghịch chiều. Vì lẽ đó, Đức Huỳnh Giáo Chủ xây dựng nền tảng Giáo lý, chú trọng việc đào luyện tín đồ các đức tính: Trung, hiếu, hiền, lương trên cơ sở đền trả tứ ân. Tục ngữ có câu: “Nhà nghèo mới hay con thảo, nước loạn mới biết tôi trung”. Thế nên trong môi trường gian khổ đầy thử thách. Người tín đồ mới có nhiều cơ hội vừa nhẫn nhục đền trả oan khiên, vừa đáp đền tứ đại trọng ân và tự rèn đúc ý chí kiên trinh theo lẽ đạo, để đi đến trọn sáng trọn lành. Ngài đã từng cảnh báo thói thường của hạng giả tu.
“Tu mà ham cho được giàu sang
Với quyền tước là tu dối thế”


Thực tế 77 năm qua, tín đồ PGHH do hấp thụ nền chánh đạo vô vi của Đức Huỳnh Giáo Chủ, hằng triệu triệu tín đồ chân chính, đều có cơ hội rèn luyện và thực hành, đạt rất nhiều thành tựu từ nhiều góc độ và nhiều lãnh vực siêu tuyệt khác nhau, nếu so với các tôn giáo khác, cùng đồng hành trên thế giới, thì PGHH có nhiều nét nổi trội hơn hẳn về những đức tính căn bản chủ yếu nêu trên.

1./- Về Tôn Giáo: Sau hơn một ngàn năm Phật Giáo thất truyền Phật Giáo đang bị “Thế tục hóa” toàn diện. Ngài xuất hiện kịp thời đưa ra nền giáo thuyết “Học Phật Tu Nhân” nhằm vãn hồi đạo Nhân và chấn hưng Phật Giáo, rất phù hợp mọi căn khí chúng sanh. Trên thì có giáo pháp thắng diệu cao siêu, hạp với hạng thượng căn thắng sĩ, dưới thì dùng cách phổ cập trung đẳng, giúp đại chúng dễ dàng nương tựa thực hành để trở nên Hiền Đức Hiếu Trung.

2./- Về Chính Trị: Đương nhiên tín đồ cư sĩ tại gia phải có nhiệm vụ đáp đền ơn Đất nước trong lúc Quốc gia nghiêng nghèo. Nhất thiết phải cần có một đường lối chính trị thích hợp nhân tâm đạo đức nhà tu, vừa có qui củ đánh đuổi ngoại xâm vừa có kế sách an dân và lộ trình kiến thiết Quốc gia công bằng nhân đạo và văn minh giàu mạnh. Nền chánh đảng “Việt Nam Dân Chủ Xã Hội” là đường lối trung hòa hoàn toàn phù hợp xu thế dân chủ lúc bấy giờ và mãi mãi không lạc hậu với thì tương lai. Giúp cho người tín đồ có năng lực và ý chí giúp đỡ quê hương tương xứng với tiềm năng có thể của mình, mà vẫn giữ được phong cách nhà tu chân chánh.

3./- Về Quân Sự: Tính chất quân sự của PGHH hoàn toàn khác hẳn mục tiêu Quân sự quốc gia. Ngoài việc tham gia kháng chiến chống ngoại xâm, gìn giữ an ninh làng xóm và bảo vệ đạo pháp, lúc nước nhà đang bị nô lệ, nền đạo còn sơ khai. Quân đội của PGHH không có mục đích cát cứ vùng miền, hoặc bạo lực cướp chính quyền hay thành lập quốc gia như các lực lượng chính qui quân với hình thức tổ chức quân đội quốc gia. Khi đất nước thanh bình, đương nhiên quân đội PGHH tự giải thể để trở về đời sống tu hành.

Đó chính là mục tiêu cố định của quân đội Hòa Hảo. Đúng như lời Đức Huỳnh Giáo Chủ đã bày tỏ ý chí và trách nhiệm với Non sông:
“Tăng sĩ quyết chùa am bế cửa,
Tuốt gươm vàng lên ngựa xông pha.
Đền xong nợ nước thù nhà,
Thuyền môn trở gót Phật Đà Nam Mô”


Điển hình là tháng 10/1946 khi Đức Thầy tham gia vào UB/KCHC/NB với chức vụ Ủy Viên Đặc Biệt, Ngài liền đem lực lượng quân sự PGHH sáp nhập vào chính qui quân của chính phủ Việt Minh, không bảo lưu thẩm quyền biệt lập.
Tóm lại Đức Huỳnh Giáo Chủ có chủ trương rõ ràng minh chánh và rất thành công trên 3 lãnh vực Tôn giáo – Chính trị – Quân sự, từ nền tảng triết lý, cũng như trực tiếp treo gương và hướng dẫn thực hành, rất chu đáo và hợp pháp rất thí chứng nhân tâm và Đạo lý, là nền tảng kim chỉ Nam cho hầu hết tín đồ nương theo mà lập công bồi đức để trở thành tín đồ chơn thành và công dân ưu tú, từng bước tiến đến trọn sáng trọn lành đạt đến cứu cánh giải thoát.
Tuy nhiên trong tình hình đất nước nhiễu nhương thời binh lửa, không sao tránh khỏi một số ít ngoại đạo gia nhập lợi dụng đi ngược chủ trương, nhưng cũng chỉ là nhỏ lẻ mà thôi.

Kết luận: Chúng ta khẳng định biến cố Đốc Vàng Hạ là một chứng tích lịch sử hiển nhiên không thể đảo ngược, được diễn ra trong bối cảnh phức tạp, ẩn chứa nhiều tình tiết bí ẩn cơ huyền, ngoài sức lý giải của phàm nhân. Nếu không dựa vào chánh tín để cảm thụ “Thiên cơ đạo lý” thì không sao thấu đáo ý nghĩa cơ mật tiềm tàng. Là tín đồ PGHH chúng ta tuyệt đối tin Đức Huỳnh Giáo Chủ là Phật lâm phàm với nhiều sắc chỉ thiêng liêng, có sứ mạng trọng đại trong cõi Ta Bà thời mạt pháp, chứ không riêng VN. Vậy hiện nay địa cầu đang biến chuyển nghiêm trọng, mà công cuộc tận độ của Ngài vẫn còn dang dở nửa vời, tất nhiên Ngài không thể không xuất hiện trở lại để hoàn tất theo Thiên mệnh. Nên Ngài cũng không thể chết (Tịch diệt) trong mọi trường hợp để tái kiếp. Tin chắc điều ấy, vì trong câu cuối bài “Sứ Mạng” Đức Thầy đã thổ lộ là kiếp cuối cùng “Kiếp chót nầy đây há lại tiếc chi thân phàm tục, song vì tình cốt nhục tương thân, cũng ủng hộ chở che cho xác phàm bớt nỗi cực hình” .

Vậy sự cố Đốc Vàng Hạ đối với Ngài là một việc rất nhỏ so với đại cuộc nhân loại. Chỉ cần Ngài cử động nhẹ cây “Trần Phất” cũng đủ tự tại“Một Thầy ba Tớ hết buồn lại vui”. Nếu như trong quyển một Sấm Giảng, Đức Huỳnh Giáo Chủ đã mô tả cảnh “Một Thầy ba Tớ đi dạo lục châu” biến hóa thần kỳ thoạt đó thoạt đây, đủ hình đủ dạng tục, tiên. Thì tại sao chúng ta lại không tin “Một Thầy ba Tớ dùng hóa thân” để đi giải nạn Đốc Vàng Hạ, cho thuận cơ ẩn ánh tạm thời, và cứu tín đồ khỏi họa diệt vong. Đến như vấn đề bức thư khẩn cũng đầy thần bí. Người đưa thơ đã được gặp Đức Thầy lúc nào, sao không báo sự an nguy của Đức Thầy lúc ấy ra sao, lại cũng không lưu lại doanh trại cho an toàn.Vị nầy còn có vẻ bí ẩn thần diệu hơn nhiều, nửa đêm lại dám hối hả xông vào bản doanh soái tướng… rồi lại ra đi đột ngột.

Chúng ta thử đặt ra tình huống ngược lại, nếu Bửu Vinh đã quá nghi ngờ và cố tâm triệt hạ, mà Ngài không ẩn ánh, chẳng lẽ Ngài phải đương đầu cho rơi vào thảm họa “nồi da”. Thánh nhân xưa nay không bao giờ tham dự trong cảnh ngộ đồng chủng tương tàn. Nhiều lần Ngài lánh nạn ở miền Đông chẳng qua cũng vì lẽ ấy!
Đức Thầy là đấng Đại Bi vô ngã, không vướng hiềm riêng mà lúc nào cũng bao dung với từ tâm rộng độ. Vậy bổn phận tín đồ PGHH chúng ta. Còn trong địa vị phàm phu cứ tùy theo thời kỳ, có thể ứng xử hay nhận định lý giải cách nào về vụ ĐốcVàng Hạ cũng đều chánh đáng cả, tùy theo căn tánh và môi trường sao sao cũng tốt, miễn cho thích hợp theo từng giai đoạn lịch sử lúc thắt lúc mở, đều có thể dễ đồng cảm được nhau về mặt tương đối. Tuy nhiên trong giai đoạn này, thế giới đầy biến động, VN cũng không ngoại lệ, chúng ta cần có cách nhận định theo lẽ cơ huyền, thuận lý Thiên cơ, nhằm làm dịu dần đi bao nỗi bất bình, cho thần trí nhẹ nhàng thanh thản, hầu rảnh rang trau dồi thân tâm an lạc, củng cố niềm tin Đức Thầy trở lại, mà nỗ lực xây dựng tình đoàn kết đệ huynh, tương trợ lẫn nhau trong quan, hôn, tang, tế và dìu dắt nhau tiếp bước tu hành, cho đủ Đức, đủ Công, đủ điều kiện gặp lại Chơn sư như đã hằng mong đợi. Đồng thời tạo thêm hòa khí,vốn đã tốt ngày càng tốt hơn, đối với nhân sinh và các giới ngoại đạo. Nhất là, làm sao linh động phương cách tổ chức các ngày Đại lễ kỷ niệm, cho được an toàn êm thắm và nhân rộng lan tỏa khắp nhà nhà, mà vẫn thể hiện đầy đủ ý nghĩa tôn kính từ hình thức lẫn nội dung hành lễ, không kém gì các hình thức tổ chức nghi lễ tập trung, mà phải thường xuyên vất vả với nhiều chướng ngại khách quan, rất khó suôn sẻ như ý vậy.

Chân thành kính chúc quý đồng Đạo quốc nội cũng như hải ngoại được hưởng nhiều phúc lạc trong các mùa đại lễ an lành, dưới sự hộ trì của Đức Phật, Đức Thầy tôn kính!

Trân Trọng,

Châu Lang
TP Sa Đéc 22/02 năm Bính Thân (2016)

Last edited by Buile; Hôm nay at 07:15 AM.
Categories: Nhan dinh | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.