THỬ GIẢI BÀI “HỐ HÒ KHOAN”

Nguyên văn bài thơ:

Huỳnh long lộ vĩ
Bạch sĩ tiên sanh
Nam quốc công khanh
Ra đời cứu tế
Hò xang cự xế
Mắc kế Trương Lương
Tự giác thôn hương
Qua dương cơ khi
Lập chí hiền nhơn
Nên mới có cơn
Thất-Sơn tiếng nổ
Qui cổ diệt kim
Cửu cửu y nhiên
Tinh riêng tham báu
Đổ máu tuôn rơi
Khùng mới nói chơi
Chư bang hàng phục
Anh hố hò khoan
Tinh lang xự xế
Bỏ phế hương thôn
Ác đức vô môn
Rồng mây hội yến
Ra đời bất chiến
Nổi tiếng từ-bi
Lời lẽ rán ghi
Thành công êm thấm
Có lắm người yêu.

Giải thích:

Bài này của Đức Thầy gồm Hán Nôm lẫn lộn, không có đề tựa, viết vào lối tháng 8 năm Kỷ Mão (1939) [01]. Những câu thuần Hán rất thâm thuý, mỗi chữ dùng không dư không thiếu, do vậy phải rán tìm hiểu ý của Đức Thầy. Theo thiển ý, bài tóm tắt sự xuất hiện của Đức Thầy hiện tại (giai đoạn 1) và tương lai (giai đoạn 2), lý lịch cùng sứ mệnh của ngài và những sự kiện sẽ xảy ra thời mạt hạ cho tới lúc tái lập đời mới.


LÝ LỊCH:

Huỳnh long lộ vĩ 晃龍露尾
– Huỳnh: hoàng, theo cách gọi của người miền Nam, ý chỉ màu vàng, thuộc cõi trung ương. Viết “Huỳnh” hàm ý họ Đức Huỳnh Giáo Chủ (ĐHGC)
– long: rồng, ý chỉ bậc cao quý, hoặc vua chúa
– lộ vĩ: ló đuôi, ý chỉ lần đầu, ít quan trọng, thời gian ngắn, hứa hẹn xuất hiện lần sau
-> ĐHGC, xuất hiện lần đầu năm 1939 để kế tục việc hoằng pháp của Đức Phật Thầy Tây An.

Bạch sĩ tiên sanh 白士先生
– Bạch Sĩ: nhiều người cho rằng đây là tên gọi tắt của “Bạch Vân Cư Sĩ” đạo danh của Trạng Trình
– tiên sanh: người sinh trước ta
-> ĐHGC chính là Trạng Trình tái sinh, như đã được chính ĐHGC viết trong các bài thơ đối đáp với những vị thâm Nho lúc ngài vừa mở đạo:

Trình mỗ ngộ kim khuê Cổ địa[02]

hay là

Tam bá ngoại niên chơn bút hiệu,
Hàn lâm nhứt đấu vịnh thiên chương
.[03]

Đã được Đức Phật Thầy Tây An tiên tri trong bài khoán thủ:

寶山奇香 Bửu Sơn Kỳ Hương
玉中奇出 Ngọc Trung Niên Xuất
君師狀程 Quân Sư Trạng Trình
明命再生 Minh Mệnh Tái Sanh
天地新造 Thiên Địa Tân Tạo
越南復業 Việt Nam Phục Nghiệp
元前國安 Nguyên Tiền Quốc Yên

Vả lại, ĐHGC còn gọi ngài Bạch Sĩ là tiên sinh, hàm ý một vị sinh trước ĐHGC, tức là một tiền nhân trong lịch sử VN. Câu kế khẵng định ngài là công khanh (quan hàm lớn nhất trong triều đình) của nước Nam trong quá khứ và tương lai. Trạng Trình tước là Trình Quốc Công thời Mạc.

Nam quốc công khanh 南國公卿
– Nam quốc: nước Nam, tức Việt Nam
– công: tước công, tước to nhất trong năm tước Công Hầu Bá Tử Nam 公侯伯子男
– khanh: tên chức quan. Ngày xưa có quan chánh khanh 正卿, quan thiếu khanh 少卿. Chức tổng lí coi việc nước bây giờ cũng gọi là quốc vụ khanh 國務卿.
-> ĐHGC chính là bậc công khanh của Đại Nam trong quá khứ và tương lai. Khanh là chức cao của thời quân chủ xa xưa (như truyện Đông Châu Liệt Quốc), hàm ý tới thời Thượng Nguyên Thánh Đức (TNTĐ), Đức Thầy sẽ mang chức này giúp Minh Vương

Trích một phần trong bài Thay Lời Tựa do chính ĐHGC viết năm 1940:
“Sinh trong vòng đất Việt-Nam nầy, trải qua bao kiếp trong địa-cầu lăn-lộn mấy phen, tùy cơ pháp chuyển kiếp luân-hồi ở nơi hải-ngoại để thu-thập những điều đạo-học kinh-nghiệm huyền-thâm, lòng mê-si đã diệt, sự vị-kỷ đã tan mà kể lại nguồn gốc phát sinh, trải bao đời giúp nước vùa dân cũng đều mãi sinh-cư nơi đất Việt. Những tiền-kiếp dầu sống cũng là dân quan đất Việt, dầu thác, cũng quỷ thần đất Việt chớ bao lìa. Những kiếp gần đây, may-mắn gặp minh-sư, cơ truyền Phật-Pháp, gội nhuần ân-đức Phật, lòng đà quảng-đại từ-bi, hiềm vì nổi cảnh quốc phá, gia vong, máy huyền-cơ đã định, lòng thương trăm họ vướng cảnh, đồ lao, chi xiết xót thương chúng sanh vạn khổ.”

Ra đời cứu tế
– Xuất hiện năm 1939 qua việc khai sáng đạo Phật Giáo Hoà Hảo
-> Mở đạo Phật Giáo Hòa Hảo (PGHH) để cứu vớt sinh linh cho thời Thượng Nguyên Thánh Đức


GIAI ĐOẠN I: KHUYẾN TU

Hò xang xự xế
– 4 âm trong ngũ âm của cổ nhạc VN (Hò, Xự, Xang, Xê, Cống) [04], hàm ý âm thanh sắc tướng làm say mê lòng người.
-> Thời mạt pháp, âm thanh sắc tướng thật nặng nề (4/5), con người rất khó thoát khỏi sự cám dỗ. Tôn chỉ đạo PGHH là từ bỏ âm thanh sắc tướng

Mắc kế Trương Lương
– Trương Lương, vị quân sư của Hán Cao Tổ, giúp nhà Hán khai quốc. Trương Lương là người tài giỏi về du thuyết.
-> Con người rất dễ bị những ngôn từ hoa mỹ huyển hoặc.

Tự giác thôn hương 嗣覺村鄉
– Tự: 自, mình, của mình; hoặc: 嗣, thừa kế
– giác: hiểu ra, tỉnh ngộ
– thôn hương: làng xóm quê mùa, ý chỉ xóm giềng, và rộng ra là miền Nam
-> ĐHGC thừa kế (tự) Đức Phật Thầy Tây An hoằng bá lại chánh pháp theo tông phải Bửu Sơn Kỳ Hương để giác ngộ (giác) dân chúng miền Nam (thôn-hương), hoặc,
-> Khuyên tín đồ phải tự chính mình giác ngộ theo chánh pháp, với cuộc sống mộc mạc

Qua dương cơ khi 過洋機器
– Qua: vượt qua
– dương: Tây dương, các nước Âu Mỹ, hoặc có thể hiểu dương (đối với âm) là thời kỳ cực thịnh của
– cơ khí: máy móc tinh xảo chế tạo ra nhiều vật chất đáp ứng cho nhu cầu con người
-> Giáo pháp PGHH giúp hành giả, hoặc khuyên tín đồ, vượt qua các cám dỗ vật chất của thời văn minh cơ khí của Tây phương

Lập chí hiền nhơn 立志賢人
– Lập chí: thụ lập chí hướng, quyết tâm
– hiền nhơn: người hiền, người có đạo đức cao trọng
-> Khiến nhiều người thức ngộ, lo tu tĩnh theo bậc hiền nhơn lúc xưa

Đại ý: Giai đoạn I
Đây là thời Hạ ngươn, chung quanh ta có muôn vạn sự cám dỗ của âm thanh sắc tướng từ những phương tiện vật chất tinh xảo của thế giới Tây phương. Muốn thoát khỏi, con người phải tự giác ngộ, tu tĩnh, lập chí cứng rắn mới có hy vọng được sống sót ở Hội Long Hoa.


GIAI ĐOẠN II: TẬN THẾ và HỘI LONG HOA

Nên mới có cơn
– cơn: một hiện tượng gì đó xảy ra rất thình lình
-> Vì có nhiều người lo tu tĩnh nên Đức Ngọc Hoàng quyết định lập Hội Long Hoa ở vùng Thất Sơn/Cửu Long để cứu vớt.

Thất Sơn tiếng nổ
->3 tiếng sấm nổ ở Thất Sơn làm lộ lầu các đền đài vàng bạc châu báu mà các giáo chủ tôn giáo ở miền Nam đã tiên tri. ĐHGC đã viết:
Chừng nào tiếng sấm nổ vang,
Thất Sơn lộ vẽ đền vàng báu thay

Qui cổ diệt kim 歸古滅今
– Qui: trở về
– cổ: thời thượng cổ
– diệt: tiêu diệt
– kim: thời hiện tại
-> Thiên địa tân tạo diệt thời hiện tại trở về thời thượng cổ

Cửu cửu y nhiên 九九依然
– Cửu cửu: một nghĩa thông thường là 9+9 = 18, chỉ 18 nước hùng mạnh sau này sẽ tiến vào Thất Sơn để tranh cướp của báu
– y nhiên: như cũ, như xưa, y cựu
-> 18 nước y như Sấm Trạng Trình đã tiên tri:
Cửu cửu càn khôn dĩ định
Thanh minh thời tiết hoa tàn
Trực đáo dương đầu mã vĩ
Hồ binh bát vạn nhập Trường An

Tinh riêng tham báu
-> Vì tư lợi của quốc gia mình, 18 nước tranh giành báu vật lộ ra ở Thất Sơn.
Sấm Trạng Trình viết:
Đào viên đỉnh phát quần dương tranh hùng

Đổ máu tuôn rơi
-> Đổ máu do tranh giành vàng bạc ở Thất Sơn và nạn nghiệt long, ác thú

Khùng mới nói chơi
-> ĐHGC trở lại để hàng phục nghiệt long và phán xét ở Hội Long Hoa[05]

Chư bang hàng phục 諸邦降服
-> Các nước thán phục ĐHGC trong việc thu phục nghiệt long

Anh hố hò khoan
– hố: có thể hiễu là bị hố, bị gạt
– hò khoan: điệu hò miền Trung để bày tỏ nỗi lòng trai gái [06]
-> Những người say mê văn minh vật chất, âm thanh sắc tướng. Có lẽ là lời nhắn nhũ cuối dành cho những người chạy theo ngoại nhân
Kìa kìa anh hố hò khoan,
Tình lang về mất hổ han mặt mày

Tinh lang xự xế
– Tình lang: người tình, ý chỉ các thế lực giàu mạnh Tây phương
– xự xế: lời hoa mỹ , âm thanh quyến rũ của bài ca tiếng hát
-> Pháp, Tàu, Mỹ, .. văn minh vật chất Tây phương

Bỏ phế hương thôn
– hương thôn: có thể hiểu rộng ra là tổ quốc, đất nước VN
-> Phản bội tổ quốc

Ác đức vô môn 惡德無門
– Ác đức: phẩm hạnh xấu xa. Cũng chỉ người có phẩm đức bất lương
– vô: không có
– môn: cửa
-> Hội Long Hoa – người ác đức không có cửa để vào (bị tận diệt)

Rồng mây hội yến
– Rồng mây: Hội Long Vân
– yến: 宴 Tiệc, bữa tiệc
-> Hội Long Vân – những người hiền thì được cứu sống

Ra đời bất chiến
-> Đức Minh Vương/Phật Vương/thánh nhân ra đời, 18 nước quy phục
Sấm Trạng Trình:
Bảo sơn/giang thiên tử xuất
Bất chiến tự nhiên thành

Nổi tiếng từ-bi
->
Sấm Trạng Trình:
Nhân nghĩa thuỳ vi địch,
Đạo đức thục dữ đương

Lời lẽ rán ghi
Thành công êm thấm
Có lắm người yêu.

->
ĐHGC:
Thâu cho được con Long ác-nghiệt,
Thì khắp nơi mới biết mến yêu.

Đại ý: Giai đoạn II
Nhờ sự ra đời của nền đạo Bửu Sơn Kỳ Hương từ thời Đức Phật Thầy Tây An, sự kế tục hoằng pháp của Đức Bổn Sư Ngô Lợi, ông Sư Vãi Bán Khoai và Đức Huỳnh Giáo Chủ, cùng những phong trào chấn hưng các tôn giáo những năm tiền 1930, số lượng người tu tĩnh gia tăng. Đức Ngọc Hoàng và chư Phật Tiên Thánh quyết định mở Hội Long Hoa để chọn người hiền đức cho thời Thượng ngươn, qua sự kiện sấm nổ ở vùng Thất Sơn, làm lộ những đền đài, lầu các, châu báu, khiến các nước hùng mạnh kéo vào tranh giành xâu xé. Đồng thời ông Năm Chèo xuất hiện ở Vàm Nao, và dù với kỹ thuật, vũ khí tinh xảo, các nước vẫn không thể khuất phục con nghiệt long, phải cầu cứu đến sự trợ giúp của thần thánh. Đức Thầy xuất hiện thu phục nghiệt long, và khiến các nước hàng phục. Hội Long Hoa được thành lập để xử phân kẻ ác, và Hội Long Vân được mở tiếp theo để cứu giúp người hiền. Đức Minh Vương xuất hiện, thiên hạ thái bình.