Daily Archives: November 9, 2017

Hạm đội Nam Hải ‘cực kỳ nguy hiểm’ cho VN

Hạm đội Nam Hải ‘cực kỳ nguy hiểm’ cho VN

02 Tháng Mười Một 20177:27 CH(Xem: 104)

“>

VĂN HÓA ONLINE – BIỂN ĐÔNG/HOA ĐÔNG  – THỨ  SÁU  03  NOV  2017

image022

Hạm đội Nam Hải ‘cực kỳ nguy hiểm’ cho VN

Nguyễn Xuân Vĩnh Gửi đến BBC từ Frankfurt, Đức

image023Bản quyền hình ảnh VCG Image caption Biệt kích Trung Quốc ‘sẵn sàng chiến đấu’ trong sứ vụ của chiến hạm tại vùng biển Đông Phi

Sau những diễn biến sôi nổi trong năm 2015, sự căng thẳng ở Biển Đông có vẻ giảm đi từ 2016 đến nay.

Trung Quốc có vẻ bớt những hành động khiêu khích mới cũng như không xây thêm đảo nhân tạo.

Tình hình bắt đầu yên ổn lại và Trung Quốc sẽ từ bỏ tham vọng làm chủ Biển Đông sau khi thất bại tại Tòa án Quốc tế về luật biển của Liên Hiệp Quốc chăng?

Có lẽ là không. Mục tiêu chiến lược của Trung Quốc vẫn không thay đổi. Đó là nắm quyền kiểm soát trên vùng biển trong phạm vi của cái mà Trung Quốc gọi là chuổi đảo thứ nhất từ Nhật Bản qua Đài Loan đến tận Mã Lai.

Vùng biển này không những là nguồn kinh tế quan trọng cho Trung Quốc, kiểm soát vùng biển đó sẽ giúp nước này tạo ưu thế đối với Nhật Bản và Đại Hàn, và nhất là tăng áp lực lên Đài Loan.

Biện pháp hổ trợ cho mục tiêu này là tăng cường lực lượng hải quân để có thể đối đầu với hải quân Hoa Kỳ ở miền Tây Thái Bình Dương và để đủ khả năng thống nhất với Đài Loan bằng vũ lực, nếu cần thiết.

Kiểm soát vùng Biển Đông cũng là điều kiện căn bản cho quân đội Trung Quốc để triển khai áp lực quân sự vào Ấn Độ Dương trong tương lai.

Hạm đội Nam Hải là một lực lượng vô địch trên Biển Đông, và là một mối đe dọa cực kỳ nguy hiểm cho lãnh hải Việt Nam. Lực lượng hải vận của hạm đội này có thể đưa quân đánh chiếm bất cứ đảo nào tại Hoàng Sa và Trường Sa. Nguyễn Xuân Vĩnh

Vì thế nên Trung Quốc vẫn tiếp tục quân sự hóa các đảo tại Hoàng Sa và Trường Sa. Các công trình đã bắt đầu trên các đảo đã được mở rộng. Đầu năm 2016, trên sáu đảo nhân tạo tại quần đảo Trường Sa những cơ sở mang tính cách quân sự đã hình thành rỏ rệt.

Trên hai đảo được mở rộng là Đá Vành Khăn (Mischief Reef) và Đá Chữ Thập (Fiery Cross Reef) đã có hai phi đạo dài khoảng 3 km, đủ để máy bay chiến đấu sử dụng, và theo tin tức thì máy bay chiến đấu của không quân Trung Quốc cũng đã đáp thử ở đây rồi.

image024

Bản quyền hình ảnh PLANET LABS Image caption Hình chụp qua vệ tinh ngày 30/11/2016 cho thấy Việt Nam ‘cải tạo Đá Lát’ ở Trường Sa

Đồng thời vào tháng Hai 2016 Trung Quốc đã bắt đầu gắn hệ thống hỏa tiễn phòng không tầm xa HQ-9 trên đảo Phú Lâm (Woody Island) tại quần đảo Hoàng Sa. Nơi này cũng có một phi đạo. Cũng theo giới tình báo quân sự Tây Phương thì các chiến đấu cơ tối tân loại J-11 đã được đóng dài hạn trên đảo này.

Song song với việc xây cất trên các đảo, sự tăng cường sức lực quân sự của Trung Quốc vẫn tiếp tục với một vận tốc đáng ngại.

Tháng Tư năm nay giới lãnh đạo Trung Quốc đã hãnh diện ra mắt thế giới chiếc hàng không mẫu hạm thứ hai của hải quân nước này. Chiếc tàu thuộc hạng Type 001A với tên Sơn Đông là chiếc mẫu hạng đầu tiên do Trung Quốc hoàn toàn tự đóng.

Giống như chiếc Liêu Ninh, mẫu hạm đầu tiên của Trung Quốc đã được đóng trên cái sườn cũ của chiếc mẫu hạm Varyag của Nga, chiếc Sơn Đông hoạt động trên nguyên tắc STOBAR (Short Take-Off But Arrested Recovery), tức là các máy bay cất cánh trên một bàn nhảy và khi đáp lại trên tàu thì dùng dây móc để thắng lại.

Đây là phương pháp hoạt động khác các siêu hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ và Pháp. Thuyền sân bay của các quốc gia này thuộc vào loại CATOBAR (Catapult Take-Off But Arrested Recovery). Các máy bay được bắn đi bằng một hệ thống phóng khi cất cánh và khi đáp thì dùng dây móc.

Ưu điểm của hệ thống CATOBAR là các chiến đấu cơ có thể cất cánh với một trọng tải cao hơn, do đó có thể mang nhiều nguyên liệu cũng như vũ khí hơn là khi cất cánh từ một mẫu hạm STOBAR.

Chiếc mẫu hạm mới của Trung Quốc chưa đủ khả năng để đối đầu với các siêu mẫu hạm của Hoa Kỳ.

Nhưng với nó Trung Quốc đã vượt mặt nước Nga với chiếc Admiral Kuznetzov cũ kỷ và hay hư hỏng.

image025

Bản quyền hình ảnh Getty Images Image caption Hạm đội Nam Hải đón nhận tàu khu trục Type 052D tới căn cứ Tam Á

Chiếc Sơn Đông cũng chỉ là một bước nữa trên hành trình để hải quân Trung Quốc gia nhập câu lạc bộ của các cường quốc có siêu mẫu hạm. Cùng lúc khi chiếc Sơn Đông được ra mắt thiên hạ, hải quân Trung Quốc cũng tuyên bố là đã bắt đầu việc thiết kế một chiếc mẫu hạm thứ ba với số hạng là 002.

Chiếc mẫu hạm này chắc sẽ giống các hàng không mẫu hạm của các cường quốc Tây phương nhiều hơn.

Nỗ lực của Trung Quốc trên lãnh vực thiết kế tàu sân bay là tiêu biểu cho sự cố gắng của quốc gia này để tạo ra một lực lượng hải quân có thể đối đầu với hạm đội Thái Bình Dương của hải quân Hoa Kỳ.

Trong những năm qua hải quân Trung Quốc đã nhập quân hàng loạt những chiến hạm mới tối tân với một nhịp nhanh chóng đáng ngại.

Từ năm 2013 hải quân Trung Quốc đã nhận được 40 chiếc hộ tống hạm hạng 056 Jiangdao.

Những chiếc tàu này được trang bị với súng đại bác 76 ly, hệ thống hỏa tiễn phòng không tầm gần FL-3000N cũng như hỏa tiễn đối hạm. Những hộ tống hạm này được xem như tương đương với hộ tống hạm hạng Gepard (Project 11660) của Việt Nam.

Chênh lệch cán cân lực lượng quá lớn

Như thế trung bình cứ mỗi hai tháng hải quân Trung Quốc đã tăng thêm một hộ tống hạm mới. Trong khi đó Việt Nam đặt bốn chiếc Gepard từ năm 2011 nhưng đến bây giờ vẫn chỉ có vỏn vẹn hai chiếc Đinh Tiên Hoàng và Lý Thái Tổ.

Từ 2015 đến nay hải quân Trung Quốc còn được thêm 13 chiếc khu trục hạm hạng 052D Luyang. Đấy là những chiến hạm được trang bị với hệ thống radar và hỏa tiễn giống như hệ thống AEGIS của các chiến hạm hạng Arleigh Burke của Hoa Kỳ, hiện là loại khu trục hạm hùng mạnh nhất thế giới. Số khu trục hạm vậy cũng tăng với tỉ lệ khoảng ba tháng một chiếc.

Ngoài đó, tháng Sáu năm nay hải quân Trung Quốc đã hạ thủy một loại chiến hạm mới còn to lớn và mạnh hơn hạng 052D nữa. Đó là một chiến hạm thuộc hạng 055 Renhai.

Với chiều dài là 180 m, trọng lượng nước rẽ hơn 10.000 t và 128 ngăn chứa hỏa tiễn, lớp chiến hạm mới này tương đương với các tuần dương hạm hạng Ticonderoga của Hoa Kỳ. Chiến hạm hạng 055 có lẽ được thiết kế để hộ tống các hàng không mẫu hạm trong tương lai.

Ngoài sự gia tăng số lượng và năng lực của các lực lượng chiến đấu trên biển, một phát triển khác ít được chú ý đến nhưng cũng không ít đáng ngại cũng đã xảy ra từ năm 2011.

Đó là sự tăng cường của lực lượng thủy quân lục chiến. Bộ Quốc phòng Trung Quốc đã tuyên bố trong tháng 11 năm 2016 là sẽ gia tăng lực lượng Thủy quân lục chiến từ hiện nay khoảng 20.000 quân lên đến 100.000 quân.

Tháng Bảy năm 2017 Trung Quốc đã chính thức khai trương căn cứ quân sự đầu tiên cách xa lãnh thổ nước này tại Djibouti. Một lực lượng thủy quân lục chiến Trung Quốc đã được vận chuyển đến Djibouti trên một tàu đổ bộ hạng 071.

Đó là một quân hạm với sân đáp trực thăng và cảng chở thuyền đổ bộ và xe thiết giáp trong khoang. Những tàu hạng 071 có khả năng vận chuyển và yểm trợ một lực lượng thủy quân lục chiến cấp tiểu đoàn để đổ bộ lên bất cứ bờ biển nào. Hải quân Trung Quốc hiện đang có 4 chiếc tàu loại này và sẽ nhận được nhiều hơn.

Hải quân của Trung Quốc được chia ra ba hạm đội, đó là hạm đội Bắc Hải, hạm đội Đông Hải và hạm đội Nam Hải. Hạm đội Nam Hải là lực lượng kiểm soát vùng Biển Đông, và là đối thủ trực tiếp của hải quân Việt Nam trong những cuộc xung đột trong quá khứ và tương lai.

Lực lượng tác chiến trên mặt nước của hạm đội này bao gồm chiếc hàng không mẫu hạm Liêu Ninh, ít nhất là 9 khu trục hạm, 30 hộ tống hạm và khoảng 40 tuần duyên hạm.

Hạm đội Nam Hải còn có khoảng 22 tàu ngầm, trong số đó là toàn bộ lực lượng tàu ngầm nguyên tử chiến lược của Trung Quốc với bốn chiếc hạng 094 Jin. Nỗ lực thiết lập và củng cố quyền kiểm soát trên Biển Đông cũng nhằm vào mục đích bảo vệ cho hoạt động của những tàu ngầm chiến lược này.

image026

Bản quyền hình ảnh The Asahi Shimbun Image caption Trung Quốc không chỉ dùng Hải quân mà còn cử các tàu tuần tra duyên hải đến vùng Trường Sa

Ngoài ra hiện nay hạm đội Nam Hải có ba chiếc tàu hạng 071 cũng như một số tàu chở quân khác.

Hạm đội Nam Hải là một lực lượng vô địch trên Biển Đông, và là một mối đe dọa cực kỳ nguy hiểm cho lãnh hải Việt Nam. Lực lượng hải vận của hạm đội này có thể đưa quân đánh chiếm bất cứ đảo nào tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Thậm chí có thể đổ bộ lên nhiều đảo cùng một lúc. Ý định tăng cường lực lượng thủy quân lục chiến và nổ lực đóng tàu chở quân là một dấu hiệu rỏ ràng cho xu hướng chiến lược của giới lãnh đạo Trung Quốc.

Trong hai năm qua Trung Quốc đã hoàn tất việc mở rộng, xây cất căn cứ quân sự trên các đảo Gạc Ma (Johnson South Reef), Chữ Thập, và sắp kết thúc các cấu trúc đảo nhân tạo trên các bãi san hô như Đá Tư Nghiã (Hughes Reef). Khoảng cách từ đây đến các đảo của Việt Nam thậm chí chỉ có 30 cây số.

Trung Quốc có thể dùng các đảo này làm căn cứ hậu cần và đem máy bay chiến đấu đến đây để yểm trợ cho các lực lượng hải quân đổ bộ lên các đảo Việt Nam.

Các đơn vị đóng trên các đảo của Việt Nam như Song Tử Tây (Southwest Cay), Sinh Tồn (Sin Cowe Island) và thậm chí Trường Sa chắc chắn sẽ không đủ quân số và hỏa lực để chống đối một lực lượng đổ bộ được yểm trợ bởi những tàu hạng 071, hàng không mẫu hạm Liêu Ninh cũng như chiến đấu cơ từ Đá Chữ Thập.

Trước những đe dọa đó, Việt Nam chuẩn bị gì?

Tin tức về những phát triển quân sự tại Việt Nam rất hiếm hoi. Nhưng những gì được biết qua những nguồn thông tin Tây Phương cho thấy là Quân đội nhân dân vẫn rất bị động.

Mặc dù tình thế địa hình trên vùng đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngày càng bất lợi, những biện pháp trang bị cho hải quân và không quân không có vẻ theo một kế hoạch chiến lược nhất định và tạo sự nghi ngờ là giới lãnh đạo Việt Nam chưa có một chính sách quân sự thích nghi với những thử thách trên Biển Đông.

Năm 2016, hải quân Việt Nam có hai chiếc hộ tống hạm hạng 11660 (biệt danh của Nato là Gepard) của Nga, sáu chiếc tàu ngầm hạng 877 (Kilo) và 12 tuần duyên hạm hạng 1241E Molnija (Tarantul).

image027

Bản quyền hình ảnh CSIS/AMTI Image caption Cơ sở của Trung Quốc trên Đá Chữ Thập

Ngoài ra còn năm chiếc hộ tống hạm nhẹ và lỗi thời thuộc hạng Petya đã được xử dụng từ thập niên 70.

Hiện nay Việt Nam đang thương lượng mua thêm hai chiếc Gepard nữa. Cuối năm nay chiếc hộ tống hạm Gepard thứ ba với khả năng chuyên môn săn tàu ngầm sẽ đến Việt Nam.

Sau ba thập niên gần như không có một biện pháp tân trang nào cho quân đội, từ năm 2011 hải quân Việt Nam đã trải qua một cuộc tân tiến hóa đáng kể.

Nhưng lực lượng hải quân hiện nay có lẻ vẫn chưa đủ để duy trì một thế lực ngăn chận nước khác xâm nhập vùng kinh tế độc quyền và các đảo.

Bảo vệ các đảo là một mặt, nhưng không kém quan trọng là duy trì đường dây tiếp tế cho các đảo trong trường hợp có sự xung đột quân sự. Cho nhiệm vụ đó tàu ngầm và đặt biệt là chiến hạm lớn là dụng cụ thích hợp hơn các tuần duyên hạm hiện đông số nhất trong đội ngũ của hải quân Việt Nam.

Nhưng hải quân Việt Nam chỉ có hai chiếc chiến hạm lớn là hộ tống hạm Đinh Tiên Hoàng và Lý Thái Tổ. Tuy đã được đặt từ sáu năm trước nhưng lớp tàu chiến có năng lực nhất của hải quân Việt Nam có vẻ không được ưu tiên cho nên hai chiếc còn lại vẫn chưa được giao.

Thêm nữa thiết bị vận tải của hải quân Việt Nam để tiếp tế cho các đảo cũng rất giới hạn.

Hải quân Việt Nam hiện nay có khoảng 25 tàu quân vận. Trong đó có một số tàu cũ hạng LST của hải quân Việt Nam Cộng Hòa để lại, loại tàu này đã được sử dụng từ thế chiến thứ hai. Khả năng chở quân và hàng hóa eo hẹp, lực lượng tác chiến cũng giới hạn, như thế, đường dây tiếp tế cho các đảo sẽ rất dễ bị Trung Quốc cắt đứt, nhất là nếu có máy bay chiến đấu hoạt động từ các đảo Chữ Thập và Vành Khăn.

image028

Bản quyền hình ảnh Yegor Aleyev Image caption Trẻ em Nga vẫy cờ Việt Nam trong lễ trao tàu Gepard cho Hải quân Việt Nam hồi 2016

Ngoài ra hải quân Việt Nam cũng thiếu thiết bị để rà mìn và không có máy bay thám sát tầm xa. Đó cũng là những hệ thống vũ khí cần thiết để kiểm soát và giữ những tuyến đường đến các đảo.

Trong khi đó Việt Nam lại có ý muốn mua hỏa tiễn hành trình Klub bắn từ tàu ngầm lên đất liền. Hỏa tiễn Klub hoặc Kalibr là một gia đình hỏa tiễn siêu thanh với nhiều loại và thuộc vào những vũ khí tối tân nhất của Nga. Nhưng không rõ là Việt Nam theo đuổi chiến lược gì với những hỏa tiễn hành trình. Nếu các tàu ngầm Kilo hoặc các hộ tống hạm Gepard của Việt Nam có được loại hỏa tiễn đối hạm của gia đình Klub/ Kalibr, thay vì loại bắn mục tiêu trên bờ, thì khả năng đe dọa của các tàu chiến này đối với hải quân Trung Quốc sẽ tăng đáng kể. Và đó sẽ là một trang bị hợp lý hơn cho hải quân.

Việt Nam cũng muốn mua loại hỏa tiễn BrahMos của Ấn Độ và Nga cùng chế tạo. Loại hỏa tiễn siêu thanh này là vũ khí đối hạm lợi hại nhất hiện tại. Nhưng chúng hơi lớn để dùng trên các hộ tống hạm Gepard.

Và để bắn từ đất liền với hiệu quả thì Việt Nam lại thiếu phương tiện để phát hiện mục tiêu và điều khiển hỏa lực, thí dụ như máy bay thám sát.

Mua hay không mua?

Nói tóm tắt, trong tình thế bây giờ hải quân Việt Nam cần thêm gấp một số chiến hạm lớn cở hộ tống hạm hoặc khu trục hạm, phương tiện rà mìn, tàu quân vận, máy bay thám sát tầm xa và hỏa tiễn đối hạm siêu thanh để bắn từ tàu chiến và tàu ngầm.

Nhưng hiện tại không có dấu hiệu là chính phủ Việt Nam sẽ mua những thiết bị này.

Một yếu tố quan trọng cho việc bảo vệ chủ quyền trên biển cũng là lực lượng không quân. Việt Nam hiện nay có 107 chiếc chiến đấu cơ phản lực. Trong đó có 11 chiếc Su-27 và 35 chiếc Su-30 là những máy bay tân tiến. Số còn lại là chiến đấu cơ loại MiG-21 và Su-22 lỗi thời.

Hai con số thí dụ từ hai quốc gia khác cho thấy sự thiếu kém của không quân Việt Nam: Không quân Singapore hiện đang có 84 chiếc chiến đấu cơ tối tân (F-16 C/D và F-15 SG) để bảo vệ một lãnh thổ bằng 1/3 diện tích Sài Gòn, không quân Đài Loan có khoảng 400 chiến đấu cơ hiện đại (F-16 A/B, F-5 E, Mirage 2000) cho một lãnh thổ bằng 1/9 Việt Nam.

Bản quyền hình ảnh Xinhua Image caption Giao lưu quốc phòng trong vùng châu Á – Thái Bình Dương: Hải quân Úc thăm Philippines

Cũng không được quên là chỉ trên đảo Hải Nam Trung Quốc có đóng khoảng 200 chiến đấu cơ.

Với lực lượng không quân như thế, Việt Nam khó có thể phản ứng mạnh mẻ như Nhật Bản năm 2014 trên Biển Hoa Đông trong trường hợp Trung Quốc tuyên bố thiết lập vùng nhận diện phòng không (ADIZ, Air Defense Identification Zone) trên không phận Biển Đông.

Nói chung quân đội Việt Nam có một nhu cầu tân trang khổng lồ.

Ngay đến quân chủng bộ binh là lực lượng nòng cốt của Quân đội nhân dân cũng vẫn phải lệ thuộc vào những hệ thống vũ khí cũ mèm từ thập niên 60. Thí dụ điển hình là lực lượng thiết giáp: đại đa số xe tăng của Việt Nam là loại T-54/ T-55.

Loại chiến xa này đã xuất hiện từ cuộc chiến tranh Nam Bắc. Những xe tăng đó xem như vô dụng nếu phải đương đầu với những xe tăng hiện đại hơn của Trung Quốc.

Nhưng theo các ước lượng của giới nghiên cứu quân sự, Việt Nam chỉ dành một ngân sách tương đối nhỏ cho quốc phòng trung bình là khoảng 4 tỷ USD hàng năm trong những năm kể từ 2014, mặc dù đó đã gần gấp đôi ngân sách quốc phòng của những năm trước 2011.

Trong đó phần dành để đầu tư vào vũ khí mới có lẻ chỉ chiếm một phần nhỏ, ước đoán khoảng vài trăm triệu USD. Như thế quân đội chỉ có thể tân trang với những bước nhỏ, và đó sẽ là một quá trình lâu dài.

Có thể sẽ là quá dài và tai hại đối với những phát triển trên Biển Đông.

Vũ khí tối tân như máy bay hoặc tàu chiến là những hệ thống kỹ thuật phức tạp và cần phải có sự đào tạo và tập luyện lâu dài cho quân sĩ để sử dụng với kết quả tối đa trong trường hợp giao chiến.

Các quân đội Tây Phương thường lệ cần khoảng hai năm cho một hệ thống vũ khí mới như chiến hạm hoặt một kiểu máy bay chiến đấu mới để đạt được trạng thái sẵn sàng chiến đấu (operational readiness hay combat readiness).

image029

Bản quyền hình ảnh HOANG DINH NAM Image caption Máy bay đã cũ trong các biên đội của Không quân Việt Nam

Theo cách nhìn đó, trong số những hệ thống vũ khí tinh vi nhất của hải quân Việt Nam – sáu chiếc tàu ngầm và hai chiếc hộ tống hạm – có lẽ chỉ có một phần có thể được xem là ‘sẵn sàng chiến đấu’ vì thời gian huấn luyện chưa đủ.

Và e rằng hai chiếc chiến hạm thứ năm và thứ sáu của lớp Gepard Việt Nam định mua thêm sẽ đến trể nếu chúng được đóng với vận tốc hiện tại.

Vậy phải làm gì để tạo nên một khả năng ngăn cản đáng tin trong thời gian ngắn nhằm kềm chế những tham vọng của Trung Quốc?

Hiện đại hóa theo cách nào?

Việt Nam phải ưu tiên cho việc tân trang quân đội. Chi phí cho quốc phòng bắt buộc phải tăng thêm.

Tuy rằng từ 2015, theo thống kê của viện nghiên cứu hòa bình SIPRI, Việt Nam đã lên hạng tư trong khối ASEAN về ngân sách quốc phòng, nhưng thật ra chỉ hơn các quốc gia nghèo hơn như Philippines, Myanmar, Lào…

Chi phí của Việt Nam cho quốc phòng tính theo đầu người là khoảng 49 USD hàng năm, so với trung bình của ASEAN là 388 USD thì đây còn rất nhiều khả năng để tiến lên.

Gia tăng đầu tư cho quốc phòng – đó cũng là một sự đầu tư cho tương lai – là một việc. Việc khác là phải chi tiền như thế nào để mau chóng có được một số đáng kể của những hệ thống vũ khí tân tiến như đã nêu trên.

Túi tiền nhỏ, nhưng muốn mua đồ mới đắt thì cuối cùng sẽ không đủ đồ sài. Việt Nam phải từ bỏ sự e ngại đối với việc dùng vũ khí ‘second-hand’.

Những tàu chiến hoặc máy bay quân sự đã được các cường quốc Tây Phương, Nhật và thậm chí nước Nga sử dụng thường được bán lại với một giá thấp hơn giá mới rất nhiều.

Như thế có thể mua được một số đáng kể với một ngân sách khiêm nhường. Trong nhiều trường hợp, những hệ thống vũ khí này còn tốt và chỉ cần tu sửa ít để tiếp tục sử dụng thêm một thời gian lâu.

Nhiều quốc gia đã và đang trang bị cho quân đội với vũ khí sài rồi. Thí dụ như Brazil và Argentine đều có tàu chiến cũ của Anh Quốc và Hoa Kỳ hoặc máy bay chiến đấu của Pháp.

Chiếc hàng không mẫu hạm Viraat hải quân Ấn Độ dùng đến 2016 là chiếc Hermes xưa của hải quân Anh Quốc. Nhiều quốc gia Đông Âu như Ba Lan, Romania… đã mua chiến đấu cơ F-16 cũ của Hoa Kỳ.

image030

Bản quyền hình ảnh Xinhua Image caption Hình minh họa: Một chiếc Y-20, máy bay vận tải quân sự cỡ lớn do Trung Quốc tự sản xuất

Quân đội Ba Lan cũng thừa kế một số xe tăng Leopard của Đức. Hải quân Đại Hàn đã sử dụng chiến hạm cũ của Hoa Kỳ. Những khu trục hạm mạnh nhất của Đài Loan là tàu thuộc lớp Kidd của hải quân Mỹ…

Thị trường cho vũ khí ‘second-hand’ hiện tại cũng có nhiều thứ đáng chú ý cho Việt Nam. Thí dụ như những máy bay thám sát và săn tàu ngầm P-3 Orion Nhật Bản đang muốn cho về hưu.

Không quân Hoa Kỳ có một số lớn chiến đấu cơ F-16 sắp được thay thế bằng chiếc F-35.

Hải quân Úc đang chuẩn bị loại ba chiếc hộ tống hạm hạng Adelaide. Hải quân Hoàng Gia Anh cũng đang có ý định bán năm chiếc hộ tống hạm hạng Type 23.

Những tàu của Anh Quốc và Úc tuy cũ nhưng vẫn có khả năng tác chiến vượt hẳn hạng Gepard của Việt Nam. Từ khi Hoa Kỳ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, những thiết bị này đều là những thứ có thể nằm trong tầm tay của Việt Nam.

Mua vũ khí để tân trang quân đội trong tình huống lãnh thổ bị đe dọa không phải là một hành động hiếu chiến. Đằng khác một lập trường chính trị trung lập và hiếu hòa không đồng nghiã là không được có một lực lượng vũ trang mạnh. Những quốc gia với truyền thống trung lập bền vững nhất Âu Châu – Thụy Điển, Thụy Sĩ và Phần Lan – đều nuôi một quân đội nhỏ nhưng tinh nhuệ và trang bị tối tân.

Chính sách quốc phòng của các quốc gia này đều phản ảnh nhận xét của nhà chính trị Cicero thời đế quốc La Mã ‘Nếu muốn có hòa bình, phải chuẩn bị cho chiến tranh’ (si vis pacem para bellum).

Nếu quyết tâm bảo vệ quyền lợi quốc gia và lãnh thổ, giới lãnh đạo chính trị và quân sự tại Việt Nam phải nhanh chóng phát triển một chính sách quốc phòng thích nghi với những thử thách trên Biển Đông và theo đó gấp rút thực hiện những biện pháp nhằm tân trang cho quân đội./( BBC 31/10/2017)

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của kỹ sư hàng không Nguyễn Xuân Vĩnh từ Frankfurt, Đức

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Đua tàu ngầm ở Châu Á – Thái Bình Dương: Chóng mặt

Đua tàu ngầm ở Châu Á – Thái Bình Dương: Chóng mặt

TG đang có những thay đổi lớn với nhiều mối đe dọa trực tiếp đối với an ninh của nhiều quốc gia và khu vực châu Á-TBD đang chứng kiến sự gia tăng nhanh chóng về số lượng tàu ngầm.

Ảnh minh họa

Trong Hội nghị An ninh Hàng hải Quốc tế năm 2015 (IMSC), tổ chức tại Sydney – Australia, lãnh đạo Hải quân Cộng hòa Singapore (RSN) đã đề xuất một bộ quy tắc ứng xử chung cho hoạt động của tàu ngầm các nước, nhằm đảm bảo an toàn, tránh va chạm.

Bộ quy tắc ứng xử này sẽ được xây dựng trên một bản thỏa thuận ghi nhớ về quy trình hoạt động chung cho hỗ trợ, cứu hộ tàu ngầm (RSN) đã ký kết với Hải quân Mỹ vào ngày 19/5/2015.

Bộ quy tắc này được mô phỏng theo Bộ Quy tắc về tránh va chạm bất ngờ trên biển (CUES) được phê duyệt vào năm 2014 bởi 25 quốc gia Châu Á-Thái Bình Dương. Đề xuất này tiếp tục được RSN đưa ra thảo luận vào tháng 6/2016 và tháng 1/2017.

Những đề xuất này đến vào thời điểm khi khu vực Châu Á – Thái Bình Dương chứng kiến sự gia tăng đáng kể số lượng các chương trình mua sắm tàu ngầm của các quốc gia. Ông Stephane Meunier, giám đốc tiếp thị tàu ngầm tập đoàn Quốc phòng DCNS của Pháp cho biết:

“Tàu ngầm là vũ khí chiến lược cho các nước muốn bảo đảm chủ quyền và bảo vệ lãnh hải và các vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) vì tàu ngầm đóng vai trò quan trọng như giám sát, trinh sát, thu thập thông tin tình báo.

Phá hủy sức mạnh hàng hải của các nước khác; hỗ trợ các hoạt động đặc biệt; đặt mìn dưới biển, tuần tra và bảo đảm an ninh trên biên giới biển và các tuyến thương mại”.

Australia

Mặc dù Australia không phải đối mặt với bất kỳ mối đe dọa trực tiếp nào đến an ninh của họ, nhưng trong báo cáo năm 2016 của Bộ Quốc phòng Australia về chiến lược và các ưu tiên mua sắm quốc phòng của nước này cho thấy: đến năm 2035, khoảng một nửa tàu ngầm thế giới sẽ hoạt động tại khu vực Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.

Australia là một trong những quốc gia có vùng lãnh hải rộng nhất thế giới, tiếp giáp với 3 đại dương lớn; do vậy Australia cần tăng cường lực lượng để bảo vệ các lợi ích từ Thái Bình Dương đến Ấn Độ Dương và tới Nam Đại Tây Dương. Trong đó tàu ngầm là một công cụ mạnh mẽ để ngăn chặn xung đột và là vũ khí tiến công nếu xung đột xảy ra.

Trong bối cảnh này, vào tháng 4/2016, chính phủ Australia thông báo rằng tập đoàn quốc phòng DCNS của Pháp đã giành được hợp đồng có tổng kinh phí lên tới 38,6 tỷ USD để cung cấp 12 chiếc tàu ngầm thông thường chạy bằng động cơ diesel – điện (SSK) thuộc Chương trình tàu ngầm của tương lai, hay còn được gọi là sáng kiến Sea-1000.

Lớp tàu ngầm này của Australia có cùng công nghệ với lớp tàu ngầm lớp “Barracuda” (tàu ngầm tấn công hạt nhân) mà tập đoàn DCNS thiết kế và chế tạo cho Hải quân Pháp.

Trung Quốc

Trong thập kỷ qua, Trung Quốc đã thể hiện một lập trường quân sự ngày càng cứng rắn ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Để đạt được điều này, Hải quân Trung Quốc đã tăng cường số lượng tàu tuần tra trên biển; trong đó tàu ngầm không phải là ngoại lệ.

Trong kế hoạch hiện đại hóa hải quân, nước này tiếp tục phát triển các tàu ngầm tấn công hạt nhân (SSN) thuộc lớp Type-093 (lớp Shang), trong đó có 5 tàu ngầm đã đưa vào biên chế và hai chiếc đang được chế tạo. Những chiếc Type-093 đang dần thay thế các SSN lớp 091 (lớp Hán) được chế tạo từ thời kỳ Chiến tranh Lạnh.

Tàu ngầm lớp Shang được thiết kế với những công nghệ mới nhất của Trung Quốc, kết hợp công nghệ mua và đánh cắp. So với tàu ngầm lớp Hán, nó có hệ thống chiến đấu tiên tiến và hoạt động yên tĩnh hơn,.

Bên cạnh phát triển lớp tàu ngầm tấn công hạt nhân, Trung Quốc còn tích cực phát triển tàu ngầm thông thường (SKK).

Trong lớp tàu ngầm thông thường, tàu ngầm lớp Yuan mới nhất được trang bị hệ thống động cơ đẩy không cần không khí (Air Independent Propulsion – AIP), kết hợp với công nghệ chống ồn từ công nghệ tàu ngầm lớp Kilo 636; có khả năng phóng tên lửa hành trình chống tàu.

Có tin rằng Trung Quốc sẽ chế tạo và đặt mua thêm khoảng 32 tàu ngầm trong 15 năm tới. Dựa trên nguồn thông tin đã được công khai, Trung Quốc sẽ sở hữu một lực lượng tàu ngầm hiện đại với số lượng xấp xỉ 60 tàu ngầm SSK và SSN vào năm 2030, trong đó chủ yếu là các loại tàu ngầm tấn công thông thường tân tiến được trang bị động cơ AIP.

Với một đội ngũ thủy thủ được huấn luyện thích hợp, chúng sẽ trở thành một lực lượng tàu ngầm có năng lực cao với khả năng hoạt động dưới biển lâu hơn và tăng cường khả năng về tiến công, đặc biệt là trong phạm vi chuỗi đảo thứ nhất và Biển Đông.

Indonesia

Mặc dù Indonesia không phải đối mặt với nguy cơ đe dọa an ninh trực tiếp từ Trung Quốc; nhưng thách thức an ninh chính của nước này là các mối đe dọa phi truyền thống như cướp biển, khủng bố.

Theo báo cáo đánh giá về Vận tải Hàng hải do Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) công bố vào năm 2016 cho biết: Các khu vực bị ảnh hưởng bởi cướp biển nhiều nhất là eo biển Malacca và Singapore (134 vụ cướp biển và cướp có vũ trang), Biển Đông (81) và biển Ấn Độ Dương (khu vực tiếp giáp) với 38 vụ.

Sách Trắng quốc phòng năm 2008 của Indonesia đã vạch ra chiến lược quốc phòng của nước này đến năm 2030 đó là tập trung phát triển lực lượng hải quân để đối phó với các mối đe dọa.

Để thực hiện chiến lược này, tháng 12/2011, tập đoàn Daewoo (Hàn Quốc) đã giành được hợp đồng cùng với công ty PT PAL trong nước chế tạo ba chiếc tàu ngầm thông thường lớp Chang Bogo.

Chiếc thứ nhất, được chế tạo tại Hàn Quốc, hiện đang trải qua các thử nghiệm trên biển và dự kiến sẽ được giao vào tháng 8/2017. Chiếc thứ hai được khởi công đóng vào tháng 10/2016 tại nhà máy đóng tàu ROK của công ty PT PAL trên cơ sở nhận các khối (module) của tàu ngầm từ Hàn Quốc, chiếc thứ 3 cũng sẽ khởi công vào tháng 12/2016 và dự kiến sẽ hoàn thành dự án vào cuối năm 2018.

Hàn Quốc

Để đối phó với lực lượng tàu ngầm đông đảo của Triều Tiên, Hải quân Hàn Quốc đang dự kiến tăng nhanh số lượng tàu ngầm. Hai công ty Daewoo và Hyundai đã được giao hợp đồng chế tạo 9 chiếc tàu ngầm thông thường lớp Son Won-II/Type-214.

Trong hợp đồng lớn này, Hyundai đã hoàn thành ba chiếc tàu ngầm đầu tiên vào giữa năm 2007 và năm 2009. Trong khi tất cả các tàu ngầm dự kiến sẽ đưa vào hoạt động trong hải quân Hàn Quốc vào năm 2019.

Năm 2012, Daewoo cũng đã giành được hợp đồng chế tạo hai tàu ngầm lớp KSS-III đầu tiên. Những chiếc tàu ngầm này có chiều dài 83m, được trang bị sonar kiểu Series 30 của hãng Sagem (SOM), tích hợp bốn cảm biến hoạt động đồng thời, chế độ xử lý hình ảnh thực, có thể sử dụng để phát hiện các mối đe dọa từ trên không hoặc mặt biển.

Singapore

Singapore chia sẻ những lo ngại tương tự như Indonesia về việc gia tăng nạn cướp biển ở eo biển Malacca, Ấn Độ Dương và Biển Đông cũng như các mối de dọa truyền thống đang có dấu hiệu bùng phát làm ảnh hưởng đến tự do hàng hải trong khu vực.

Tuy là một quốc gia nhỏ hẹp, nhưng hiện tại hải quân Singapore đang khai thác 4 tàu ngầm lớp Sjöormen do Thụy Điển sản xuất. Ngoài ra, ngày 2/12/2013 Singapore tuyên bố mua từ Đức 2 tàu ngầm động cơ thông thường AIP kiểu 218SG và dự kiến đưa vào trang bị từ năm 2018 đến năm 2020.

Thái Lan

Mặc dù Thái Lan hiện không phải đối mặt với bất kỳ mối đe dọa an ninh trực tiếp nào. Tuy nhiên cuộc đua mua sắm tàu ngầm ở Châu Á Thái Bình Dương có vẻ như đã thúc giục chính phủ khôi phục kế hoạch mua 3 chiếc tàu ngầm diesel-điện S26T từ Trung Quốc.

Ngày 5/5, Bộ trưởng Quốc phòng Thái Prawit Wongsuwan khẳng định, Chính phủ Thái Lan hoàn tất ký hợp đồng đặt mua ba tàu ngầm S26T từ Trung Quốc với tổng trị giá hơn 1 tỷ USD. Hợp đồng được thực hiện trong 11 năm; chiếc đầu tiên có giá 390 triệu USD, dự kiến bàn giao cho hải quân Thái Lan trước năm 2023.

Cuộc đua chưa có hồi kết

Hiện nay, những nguy cơ xung đột hàng hải ngày càng gia tăng, đặc biệt là tình hình căng thẳng gia tăng ở khu vực Biển Đông cũng như Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Đứng trước nhu cầu về bảo đảm an ninh, sẽ khuyến khích các quốc gia trong khu vực tiếp tục phát triển và hiện đại hóa đội tàu ngầm của họ.

Hiện nay các nước khu vực Châu Á-Thái Bình Dương không chỉ tìm kiếm các đối tác nước ngoài để cung cấp, nâng cấp hiện đại hóa đội tàu ngầm của họ mà còn để đảm bảo chuyển giao công nghệ.

Về mặt tính năng, những chiếc tàu ngầm trang bị động AIP đang là xu hướng phát triển chủ đạo của các nước để đảm bảo khả năng hoạt động lâu dài dưới lòng biển từ vài ngày lên tới hàng tuần, tính năng này trước kia chỉ có ở tàu ngầm hạt nhân, đồng thời bảo đảm tính bí mật.

Xu hướng phát triển đội tàu ngầm thành lực lượng chủ lực nói trên càng rõ nét. Do vậy cuộc đua tàu ngầm ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương chưa có dấu hiệu hạ nhiệt.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Blog at WordPress.com.