Daily Archives: December 26, 2017

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔ và Phật Giáo Thời Ðại

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔ

và Phật Giáo Thời Ðại

Lê Hiếu Liêm

 

 

Chương một: Dẫn nhập Việt Nam và Phật Giáo đầu thế kỷ hai mươi.

 

Đầu thế kỷ 20, tư tưởng Nho Giáo, thống trị độc tôn đất nước từ Thời Hồ Quý Ly, nhà Lê và nhà Nguyễn suốt 400 năm, hoàn toàn sụp đổ. Tư tưởng Phật Giáo, ngự trị vinh quang trong thời đại Lý Trần từ thế kỷ thứ 11 đến cuối thế kỷ 14, suy đồi tận gốc. Tư tưởng Tây Phương và tôn giáo của nó, Thiên Chúa Giáo La Mã, bị đại đa số trí thức và nhân dân coi như sản phẩm và công cụ của chế độ Thuộc Địa và thực dân Pháp nên vẫn không được chấp nhận. Ý thức hệ Cộng Sản cũng như các tư tưởng mới khác chưa ra đời. Cả một khoảng trống tư tưởng, cũng có nghĩa là một khoảng trống tôn giáo và chính trị, to lớn bao trùm trên một nước Việt Nam bị nô lệ, bóc lột, áp bức, lạc hậu và nghèo đói. Nhưng đây cũng là môi trường lý tưởng cho sự ra đời của những tư tưởng mới, những tôn giáo mới, những chính đảng mới và những phong trào mới: Phong trào Đông Du và Việt Nam Duy Tân Hội của Phan Bội Châu từ năm 1904, Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can và các nhà Nho tiến bộ năm 1907, tư tưởng dân quyền và dân chủ của Phan Chu Trinh suốt hai mươi năm (1905-1925), phong trào chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908, vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội cùng năm, Việt Nam Quang Phục Hội năm 1912, cuộc khởi nghĩa ở Trung Kỳ và ở Huế năm 1916 của Thái Phiên, Trần Cao Vân, Lê Ngung, vua Duy Tân…, phong trào Hội Kín ở miền Nam năm 1913-1916 lan rộng khắp Lục Tỉnh và cuộc tấn công Sài Gòn năm 1916. Các hoạt động này đã liên tục diễn ra từ đầu thế kỷ 20 đến cuối đệ nhất thế chiến.

Tuy nhiên mãi đến đầu thập njiên 20 Việt Nam mới thật sự thức dậy với sự ra đời Việt Nam Thanh Niên Cách mạng Đồng Chí Hội và Tân Việt Cách Mạng Đảng năm 1925, Đạo Cao Đài năm 1926, Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1927, Cuộc khởi nghĩa Yên Bái và sự ra đời của Đảng Cộng SảnĐông Dương năm 1930 và phong trào Sô Viết Nghệ Tỉnh 1930-1931.

 

Trong thời gian sôi động này, từ 1925 trở đi, Phật Giáo cũng đã thức dậy. Từ năm 1923, thiền sư Khánh Hòa và thiền sư Thiện Chiếu đã thành lập, tại chùa Long Hòa ở Trà Vinh, Hội Lục Hòa Liên Hiệp với mục đích vận động thành lập một Hội Phật Giáo Việt Nam toàn quốc để chấn hưng Phật Giáo. Thiền sư Thiện Chiếu, khác hẳn tất cả tăng sĩ Phật Giáo đương thời, là một tăng sĩ có tân học. Ông đã đi ra Trung và Bắc vận động thống nhất Phật Giáo năm 1927 nhưng bất thành.

Năm 1928 thiền sư Khánh Hòa xây dựng Thích Học Đường và Phật Học Thư Xã tại Chùa Linh Sơn, Sài Gòn và năm 1929 Ông cho ấn hành tạp chí Viên Âm, tập san Phật Học đầu tiên bằng quốc ngữ tại Việt Nam, đặt trụ sở tại chùa Xoài Hột, Mỹ Tho. Cùng thời, thiền sư Thiện Chiếu xuất bản một tạp chí Phật Học nhắm vào giới thanh niên trí thức lấy tên là Phật Hòa Tân Thanh Niên, đặt tòa soạn tại chùa Chúc Thọ ở Gia Định.

 

Năm 1931 thiền sư Khánh Hòa cùng nhiều tăng sĩ và cư sĩ thành lập Hội Phật Học đầu tiên tại Việt Nam, lấy tên là Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học và thiền sư Từ Phong được mời làm Chánh Hội Trưởng. Hội ra tờ Từ Bi Âm năm 1932. Thiền sư Khánh Hòa, cùng người cộng sự thân tín là thiền sư Thiện Chiếu đã đóng vai trò tiền phong khai mở phong trào chấn hưng Phật Giáo và hiện đại hóa Phật Giáo, chuyển động sâu rộng lịch sử Phật Giáo và lịch sử Việt Nam trong suốt 65 năm qua.

Tại miền Trung, thiền sư Giác Tiên mở Phật Học Đường  tại chùa Trúc Lâm năm 1929 và ủy thác cho đệ tử là bác sĩ Lê Đình Thám thành lập Hội An Nam Phật Học năm 1932. Hội quy tụ đông đảo những danh tăng và cư sĩ trí thức tại miền Trung. Cư sĩ Lê Đình Thám được bầu làm Hội Trưởng và vua Bảo Đại được mời làm Hội Trưởng Danh Dự. Hội ra tạp chí Phật Học Viên Âm năm 1933. Năm 1934, thiền sư Giác Tiên, cư sĩ Lê Đình Thám… đã thành lập Trường An Nam Phật Học, trong đó có mở cấp Đại Học Phật Giáo. Đặc biệt hơn nữa là Hội đã phát động phong trào “Chỉnh Lý Tăng Già” rất quyết liệt để loại trừ ra khỏi tăng già những thành phần phạm giới, bất xứng. Chính nhờ những nổ lực cấp tiến này mà Phật Giáo miền Trung đã đóng được một vai trò quan trọng trong những thập niên sau đó.

Năm 1934 các thiền sư Trí Hải, Tâm Ứng, Tâm Bảo cùng với giới cư sĩ trí thức tên tuổi tại Hà Nội như Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Tố, Dương Bá Trạc, Trần Văn Giáp, Nguyễn Năng Quốc, Nguyễn Hữu Kha, Bùi Kỷ, Lê Dư… thành lập Bắc Kỳ Phật Giáo Hội, bầu cư sĩ Nguyễn Năng Quốc làm hội trưởng và suy tôn thiền sư Thanh Hanh làm Thiền Gia Pháp Chủ.Đặc biệt là trong buổi lễ suy tôn Pháp Chủ này, cư sĩ Trần Trọng Kim đã thuyết pháp về đề tài; “Thập Nhị Nhân Duyên”. Hội ra tạp chí Đuốc Tuệ năm 1935 và phát triển mạnh mẽ khắp miền Bắc (Nguyễn Lang, Phật Giáo Việt Nam Sử Luận, q 3, t 51-173).

Đặc tính của cả ba Hội Phật Học tại ba miền là vai trò nổi bật của giới trí thức cư sĩ, là thuần túy Phật học và sinh hoạt Phật sự. Thời điểm 1925-1945 là thời điểm chuẩn bị trong kiên nhẫn và thầm lặng. Các hội Phật Học đã làm đúng chức năng và vai trò lịch của mình, một cách khiêm tốn, từ đống gạch vụn đổ nát của nền Phật học và Phật Giáo Việt nam trong thời Thực Dân Pháp thống trị.

Trong thời kỳ này xuất hiện những con người đặc biệt, xuất sắc và những tư tưởng mạnh mẽ, quyết liệt, trong Phật Giáo cũng như ngoài Phật Giáo. Từ đầu thập niên 30, tư tưởng Phật Hộc của Thích Thiện Chiếu đã là những quả bom chấn động. Và năm 1939 Huỳnh Phú Sổ xuất hiện làm một cuộc cách mạng tôn giáo, cải cách toàn bộ và triệt để Phật Giáo chưa từng có trong hai ngàn năm lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Miền Nam, một vùng đất lạ lùng và kỳ diệu…

 

An Hòa Tự

Phan Chu Trinh từ Pháp trở về Sài Gòn năm 1925, đất nước bùng lên những làn sóng tư tưởng dân quyền và dân chủ. Ông khẳng định phải tìm nguyên nhân mất nước trong sự mất đạo đức, mất luân lý, trong bài diễn thuyết Đạo Đức và Luân Lý Đông Tây, và ông cũng khẳng định chế độ quân chủ chuyên chế là nguyên nhân chính làm mất nước trong bài thuyết giảng Quân Trị Chủ Nghĩa và Dân Trị Chủ Nghĩa tại Sài Gòn năm 1925. Ông mất năm sau đó và đám tang ông cùng với cuộc vận động ân xá nhà chí sĩ Phan Bội Châu đã khơi bùng phong trào yêu nước và yêu tự do dân chủ trên toàn quốc, đặc biệt là trong giới thanh niên.

Nhưng dữ dội, bốc lửa và sấm sét trong tư tưởng yêu nước chống thực dân cũng như tư tưởng tự do dân chủ, trong thời này, chỉ có Nguyễn An Ninh là đi xa nhất, quyết liệt nhất. Là một thanh niên miền Nam, Ông đi du học ở Pháp và trở về nước với bằng cử nhân Luật. Lợi dụng quy chế thuộc địa của Nam Kỳ, nơi mà báo chí bằng tiếng Pháp được tự do, không bị kiểm duyệt, Ông ra tờ La Cloche fèlèe (Tiếng Chuông Rè) từ năm 1923 đến năm 1926. Ông tự xưng tờ báo của Ông là “cơ quan tuyên truyền tư tưởng Pháp”, lấy tư tưởng của kẻ xâm lăng để đập những nhát búa tạ vào chế độ Thực Dân, đồng thời tờ báo cũng tự nhận là “cơ quan chuẩn bị cho tương lai dân tộc”. Thật là độc đáo và tuyệt vời.

Ngoài việc phê bình kịch liệt, thẳng tay chính sách và chế độ thực dân, Ông cổ võ cho việc đào tạo một tầng lớp thanh niên Việt Nam tân học, có văn hóa, có lý tưởng, có chí khí, có năng lực và có tổ chức và Ông tuyệt đối tin vào sức mạnh và vào tương lai của nhân dân Việt Nam. Ông chủ trương một nước Việt Nam thống nhất từ Nam chí Bắc và trở về lịch sử dân tộc để tìm niềm tin và sức mạnh. Ông hô hào, khi chỉ mới ngoài 20 tuổi, “Chẳng những phải duy trì những giấc mộng vĩ đại, mà còn phải tổ chức thành một nhóm quan trọng để chuẩn bị cho tương lai”. Không những tư tưởng táo bạo, độc đáo, mới lạ, kiến thức của Ông cũng rất uyên bác. Khi Thống Đốc Nam Kỳ tuyên bố: “Xứ này không cần trí thức”. Ông đã viết bài trả lời bốc lửa: “… Những thảm khổ của chúng ta ngày nay, còn gì nữa, đúng là do tổ tiên của chúng ta đã sờ mó vào cây kiến thức. Hạng trí thức đã làm đảo lộn thế giới, làm hư hỏng hạnh phúc của thế giới. Hãy nguyền rủa tên tuổi của Prométhé, kẻ đã lấy trộm chút lửa của Trời. Hãy nguyền rủa con người đã bày ra cái ná cao su cho trẻ con bắn đá vào trán ông khổng lồ… Trí Tuệ, đó là cái tai hại. Trí tuệ, đó là con rắn cuốn quanh thân cây đã làm cho chúng ta vĩnh viễn mất cõi thiên đường… Nói đến vai trò giáo dục, vai trò văn minh của các ông chủ xứ Đông Dương này, thưa các ông, điều ấy làm ta mỉm cười… Người ta đã quỳ lụy bái phục những vị “đem ánh sáng tới”, những vị “làm điều kỳ diệu ở Ấu Châu”… Cái gì kỳ diệu? Thực ra cái kỳ diệu đó là, chỉ trong một thời gian ngắn thôi, người ta đã có thể làm cho trình độ trí thức của người Nam đã thấp đi lại càng rơi vào chỗ cực kỳ dốt nát. Cái kỳ diệu đó là người ta đã có thể, trong một thời gian ngắn như thế, xô đẩy một dân tộc có tư tưởng dân chủ, ngã nhào vào tình trạng nô lệ hoàn toàn“. (Trần Văn Giàu, Sự Phát Triển Của Tư Tưởng ở Việt Nam Từ Thế Kỷ 19 đến Cách Mạng Tháng Tám, q2, t 311).

Nguyễn An Ninh cũng là một trong những nhà trí thức tân học đầu tiên nghiên cứu Phật Học và hoàn thành một tác phẩm Phật Học quan trọng, cuốn “Phê Bình Phật Giáo”. Sau thời kỳ hoạt động sôi nổi từ 1923 đến 1926, Nguyễn An Ninh bị ở tù trong thời gian 1926-1927, sau đó Ông về nghiên cứu Phật Giáo. Trên bàn làm việc của Ông, có một cái chuông, một cái mõ, Ông cạo trọc đầu và đi chân không. Ông nghiên cứu Phật Giáo qua tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức và các hoạt động Phật Giáo trong nước. Cuốn Phê Bình Phật Giáo xuất bản năm 1937 là kết quả của sự nghiên cứu này. Tựa đề của cuốn sách, 70 năm sau cũng không có ai dám viết một cuốn sách Phật Học có tựa đề thách thức và can đảm như vậy. Mục đích và phương pháp luận còn mới lạ, táo bạo hơn, đó là “so sánh Phật Giáo với thời đại của nó để chỉ chỗ hay, chỗ đúng hơn của nó đối với các thuyết khác và so sánh Phật Giáo với thời đại này để chỉ sai lầm của Phật Giáo“. Tác phẩm này được giới trí thức, giới chính trị cũng như giới Phật Giáo chú ý đặc biệt.

Nhưng không gây sóng gió và tranh luận suốt nhiều năm trời như những tác phẩm của Thích Thiện Chiếu. Đối với Tăng, Ni, Phật Tử thập niên 30, những tư tưởng Phật Học của Thích Thiện Chiếu là những tiếng sét ngang tai. Ngày nay đọc lại, chắc chắn quý vị tăng sĩ, cư sĩ và Phật Tử cũng không khỏi giựt mình, chấn động và suy nghĩ. Những tư tưởng này, được viết từ thập niên 30, ngày nay, cuối thập niên 90, vẫn còn mới, còn táo bạo, còn chứa đầy sức nặng của đá tảng và sức nổ của sấm sét. Thích Thiện Chiếu là tinh hoa sáng chói của Phật Giáo trong thập niên 20, 30. Ông đã đi tiền phong trong mọi lãnh vực chấn hưng và hiện đại hóa Phật Giáo Việt Nam trong thế kỷ 20 này.

Ta phải đứng trên một đỉnh núi cao, mới hy vọng nhìn thấy những cái gì chưa ai nhìn thấy, những cái gì nằm khuất sau dãy núi cao. đó có thể là những dãy núi cao hơn, hay là một đại dương mênh mông hay là một bình nguyên rực rỡ. Thích Thiện Chiếu là một ngọn núi cao của Phật học và Phật Giáo Việt Nam trước đệ nhị thế chiến. Ta hãy đứng trên đỉnh núi cao ngất, hùng tráng này để nhìn rõ một đỉnh núi cao ngất, hùng vĩ khác, là Cư sĩ, Bồ Tát, Giáo Chủ Huỳnh Phù Sổ.

 

|Muc Luc| |Ch.1| |Ch.2| |Ch.3| |Ch.4| |Ch.5| |Ch.6| |Ch.7| |Ch.8| |Ch.9| |Ch.10|TK|

[BHH430] [PGHH] [THƯ VIỆN PGHH]

Advertisements
Categories: Đức Huỳnh Giáo Chủ | Leave a comment

Ðức Huỳnh Giáo Chủ

Ðức Huỳnh Giáo Chủ
Vương Kim

Ðức Phật, Hoàng thiên lịnh giáng trần,

Huỳnh gia chuyển kiếp lập đời Tân.

Giáo truyền đạo Thích dìu sanh chúng,

Chủ ý chọn người vẹn Tứ ân.

(Hình Tác giả: Vương Kim Phan Bá Cầm)

Phần I:

HÀNH TRẠNG

 

Thiên thứ nhứt

Giai đoạn ra đời mở đạo

 

Chương I: Bối cảnh xã hội

Chương II:Thân thế

Chương III: Ra Tế độ

Chương IV: Đăng Sơn

Chương V: Sứ Mạng

Chương VI: Lưu Cư

Chương VII: Vận Ðộng Ðộc Lập

Chương VIII: Tổ Chức Hàng Ngũ

Chương IX: Chuẩn Bị Ðấu Tranh

 

Thiên thứ hai

Giai đoạn hoạt động đấu tranh

 

Chương X: Dấn Thân

 

Thiên thứ ba

Giai Ðoạn Vắng Mặt

 

Chương XI: Lý Do Thọ Nạn

Chương XII: Còn Hay Mất

 

Phần II:

SỰ NGHIỆP

 

Thiên thứ tư

Sự Nghiệp Về Mặt Ðạo

Tôn Phái Phật Giáo Hòa Hảo

 

Chương XIII: Học Phật

Chương XIV: Tu Nhân

 

Thiên thứ năm

Sự Nghiệp Về Mặt Ðời:

Công nghiệp cách mạng

 

Chương XV: Quân Sự.

Bộ Ðội Nguyễn Trung Trực

 

Chương XVI: Chánh Trị

Việt Nam Dân Chủ Xã Hội đảng

Cùng một tác giả:

Long Hoa xuất bản

–         Tận Thế và Hội Long Hoa (1952)

–         Đức Phật Thầy Tây An (1953) (hiệp với Đào Hưng)

–         Để Hiểu Phật Giáo Hòa Hảo (1954) (hiệp với Thanh Sĩ)

–         Ðời Hạ Ngươn (1960)

–         Đời người dướI ánh sáng Đạo Phật (1960)

–         Bửu Sơn Kỳ Hương (1966)

–         Hành sử Đạo Nhân (1970)

–         Tu Hiền (1972)

–         Đời Thượng Ngươn (1973)

–         Pháp Môn Tịnh Độ (1973)

–         Tại Sao Ta Phải Tu (1974)

Dân Xã Tùng Thư

–         Chánh trị thường thức (1956)

–         Tinh thần cán bộ (1971)

–         Lập trường Dân Xã Đảng (1971)

MUC LUC CHƯƠNG 1 | | CHƯƠNG 2 | | CHƯƠNG 3 | | CHƯƠNG 4 | | CHƯƠNG 5 | | CHƯƠNG 6 | | CHƯƠNG 7 | | CHƯƠNG 8 | | CHƯƠNG 9 | | CHƯƠNG 10 | |CHƯƠNG 11 | | CHƯƠNG 12 |

CHƯƠNG 13 | | CHƯƠNG 14 | | CHƯƠNG 15 | | CHƯƠNG 16 | | CHƯƠNG 17|

[TV. PGHH]

Categories: Đức Huỳnh Giáo Chủ | Leave a comment

Bắc Kinh vu cáo Hà Nội ‘không ngừng xâm lấn lãnh thổ trên Biển Đông’

Bắc Kinh vu cáo Hà Nội ‘không ngừng xâm lấn lãnh thổ trên Biển Đông’

Đảo Đá Tây với bờ kè được xây dụng dạo sau này. (Hình: CSIS/Digital Globe)

BẮC KINH, Trung Quốc (NV) – Tờ báo Quân sự của Trung Quốc China Military vừa có bài vu cáo Việt Nam “không ngừng” các hoạt động xâm phạm chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc trên Biển Đông.

Như một kiểu quân cướp vừa ăn cướp vừa la làng, tờ Quân Sự Trung Quốc ấn bản Anh ngữ của Bắc Kinh căn cứ vào một bài viết trên báo Mỹ Bloomberg nói Việt Nam đã cải tạo thêm tại đảo Đá Tây (tên quốc tế là West London Reef) trong quần đảo Trường Sa để vu cáo.

Báo Bloomberg đưa ra không ảnh do tổ chức Digital Globe cung cấp nói việc cải tạo bờ kè “trông giống như đà nâng” tại đảo Đá Tây nhiều phần giúp cho tàu thuyền của Việt Nam đến đây sửa chữa hoặc nghỉ ngơi trong những chuyến tuần tra dài ngày. Đảo Đá Tây cách Vũng Tàu khoảng 680km về hướng Đông Nam.

Dựa vào đó, báo Quân sự Trung Quốc nói điều đó có nghĩa “Việt Nam không xuống thang các hoạt động lấn chiếm ở khu vực cho dù họ mong muốn duy trì ổn định tại đó. Việt Nam đã có các biện pháp đó trong vài năm qua trong vấn đề Biển Đông.”

Báo này cáo buộc rằng “Các hành động xây dựng chính yếu của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa vượt quá tầm mức một nơi như Đá Tây. Các tài liệu liên quan cho thấy chỉ trong năm 2016, Việt Nam đã “cải tạo và bồi đắp” “hàng chục đảo và bãi đá ngầm mà họ chiếm đóng. Vì tài chính và hiểu biết kỹ thuật giới hạn, nhiều dự án của họ phải thực hiện bằng tay. Đó là lý do tại sao báo chí Tây phương lại luôn luôn nói các vụ Việt Nam xây dựng ở các đảo và bãi đá ngầm Trường Sa có tỉ lệ rất thấp (so với Trung Quốc), nhưng cái cách ‘tổ kiến tiếp tục dịch chuyển’ cũng có thể cải thiện khả năng kiểm soát và bành trướng về lâu về dài.”

Theo những con số phỏng định của Trung Tâm CSIS tại Washington, DC được Bloomberg dẫn lại, từ năm 2014, Việt Nam đã bồi đắp thêm tại 10 đảo và bãi đá ngầm ở Trường Sa với tổng cộng diện tích khoảng 120 hécta. Trong khi đó, với các tàu lớn đào xới, hút cát đá lòng biển, Trung Quốc đã biến 7 bãi đá ngầm mà họ cướp của Việt Nam từ năm 1988 thành những đảo nhân tạo khổng lồ với diện tích tổng cộng khoảng 3,200 hécta. Hiện nay, các hành động xây dựng phi trường, cảng biển, các cơ sở quân sự gồm cả các giàn radar, hỏa tiễn phòng không, nhà để máy bay, các cơ sở truyền tin viễn thông đã hoàn tất.

Nhiều nhà phân tích từng tố cáo Bắc Kinh tham vọng khống chế toàn bộ Biển Đông khi biến các đảo và bãi đá ngầm ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thành những căn cứ quân sự quy mô, tối tân. Việc họ sẽ lập “Vùng nhận dạng phòng không” ADIZ trên Biển Đông khi nào sẽ chỉ là vấn đề thời gian tùy tình hình biến chuyển.

Báo Quân Sự Trung Quốc cũng kêu rằng ngoài việc bồi đắp mở rộng các đảo và bãi đá ngầm, Việt Nam cũng xây dựng vào cải thiện trường học, bệnh viện và khách sạn, nhà máy lọc nước biển thành nước ngọt và những cơ sở hạ tầng khác trên những đảo đó nhằm nâng cao hoàn cảnh sinh sống và làm việc, ổn định và gia tăng cư dân mà hiển nhiên kiểm soát chặt chẽ hơn.

Báo trên kể Tháng Sáu vừa qua, Việt Nam dò tìm dầu khí ở khu vực Tư Chính Vũng Mây đã “trùm một cái chăn ướt” lên mối quan hệ Việt Nam Trung Quốc, nhưng đây là hành động có ảnh hưởng mạnh. Hai năm qua, Việt Nam liên tiếp có những hoạt động ở cả hai khu vực quần đảo Hoàng sa và Trường Sa, lấy cớ hoạt động hay quản lý “khu vực đặc quyền kinh tế” và “ngư trường truyền thống.” Nhưng các tàu đánh cá đó luôn luôn có các tàu cảnh sát biển, tàu cứu hộ hoặc tàu kiểm ngư đi theo. Theo tài liệu của tỉnh Quảng Ngãi, địa phương này đã có 25 tàu đánh cá “xung đột với phía Trung Quốc trong năm 2017.”

Ngoài ra, báo quân sự Trung Quốc còn kể về các cuộc hội thảo về tranh chấp do Việt Nam tổ chức, làm các lễ tưởng niệm lính hải quân hy sinh ở Hoàng Sa và Trường Sa như một cách biểu thị Việt Nam là một nước yếu bị hà hiếp, khêu gợi sự thông cảm và hậu thuẫn của dư luận quốc tế.

Bài viết của báo Quân Sự Trung Quốc đưa ra cùng một ngày nhằm chống chế lại một bản tường trình của Tổ Chức sáng Kiến Minh Bạch Hàng Hải Á Châu (Asia Maritime Transparancy Initiative) thuộc Trung Tâm CSIS nói Trung Quốc đã hoàn tất mọi xây dựng các cơ sở quân sự trên các đảo nhân tạo tại Ttrường Sa trong mưu đồ khống chế toàn bộ Biển Đông. (TN)

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Chiêu đãi viên hàng không nước nào đẹp và lịch sự nhất?

Chiêu đãi viên hàng không nước nào đẹp và lịch sự nhất?

Vẻ đẹp của các Chiêu đãi viên hàng không trên Thế Giới

Các nữ tiếp viên hàng không đến từ mỗi quốc gia trên thế giới đều có vẻ đẹp, nét quyến rũ khác nhau.

Từ lâu, hình ảnh nữ tiếp viên hàng không xinh đẹp, lịch sự và khéo léo đã để lại những ấn tượng tốt đẹp trong lòng hành khách trên toàn thế giới. Để được trở thành nữ tiếp viên hàng không, các cô gái trẻ tuổi phải có ngoại hình ưa nhìn cùng khả năng ngoại ngữ và ứng xử. Bởi vậy, không chỉ đẹp về ngoại hình, các cô gái còn gây ấn tượng bởi phong cách của mình thể hiện cho văn hóa quốc gia. (theo Dân Trí)

 

image039

Vẻ đẹp kín đáo của nữ tiếp viên hàng không Việt Nam trong tà áo dài.

 

Vẻ đẹp cô gái Việt Nam không còn kín đáo nữa, lịch sự có thừa đến độ lộ liễu khoe “hàng” ở các chiêu đãi viên hàng không hãng máy bay Việt Jet.

 

Có lẽ đây là cách tiếp cận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nền “văn hóa hàng không” của giám đốc hãng Việt Jet. Thân xác của Cô gái Việt Nam được “xài” triệt để để câu khách và kiếm lợi nhuận cao nhất, nhiều nhất.

 

image040

“Lãnh đạo” Nguyễn Thị Phương Thảo.

 

image041image042image043image044image045image046

Khoe “hàng” trên máy bay Việt Jet.

 

image047

Ảnh dưới: Những nữ tiếp viên hàng không Ukraine.

 

image048

Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất.

 

image049

Nữ Chiêu đãi  viên hàng không Thái Lan.

 

image050Vẻ đẹp lịch sự quý phái của các chiêu đãi viên hàng không Thái Lan.

image051Vẻ đẹp thanh lịch của nữ tiếp viên hàng không Thụy Sỹ.

image052Chiêu đãi viên hàng không SriLanka.

image053Slovakia.

image054Vương quốc Qatar.

image055Philippines.

image056Vẻ đẹp sang trọng quí phái của nữ chiêu đãi viên hàng không Pháp.

image057Đồng phục của nữ tiếp viên hàng không Pháp được đánh giá là 1 trong những đồng phục hàng không đẹp nhất thế giới.

image058Nhật Bản.

image059Chiêu đã viên hàng không Nga trong thời kỳ đổi mới.

image060Đổi mới cách nào cũng giữ được phong cách quốc gia cũa Chiêu đãi viên hàng không Nga.

image061Đứng có nghĩ rằng Mỹ là nước ăn chơi thác loạn như trên phim ảnh, hãy nhìn những Chiêu đãi viên hàng không Mỹ.

image062image063image064
Những bông hoa của các hãng hàng không Malaysia. 

image065image066
Những Chiêu đãi viên Nam Hàn.

image067Dàn Chiêu đãi viên và phi công Jordan.

image068Nụ cười tươi tắn của các chiêu đãi viên Italy.

image069Indonesia.

image070Hungary.

image071image072image073image074
Những chiêu đãi viên hàng không khác nhau của Hồng Kông.

image075Hà Lan nổi tiếng có phố đèn đỏ, nhưng khi đi ra quốc tế các chiêu đãi viên ăn mặc như thế này.

image076Hy Lạp.

image077Phần Lan.

image078image079image080
Germany.

image081image082
Vẻ đẹp e lệ thể hiện nét đẹp phương Đông của các chiêu đãi viên Trung Quốc. 

image083 Canada.

image084Sự e ấp, dịu dàng của nữ tiếp viên hàng không Brunei. 

image085Dubai là thành phố du lịch lộng lẫy sang trọng bậc nhất trên thế giới nhưng xem ra vẫn còn thua Việt Nam xa lắc về khoản “lãnh đạo” xài các thiếu nữ Việt Nam trong “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Mác Lê Nin.

image086

Bolivia.

image087Bỉ quốc.

image088Anh quốc.

image089Ấn Độ nổi tiếng với các tác phẩm Kama Sutra, Ngàn Lẻ Một Đêm nhưng khi đi ra quốc tế vẫn phải ăn mặc như thế này. Thiệt là “nhà quê” so với Việt Jet tối tân hiện đại văn minh văn hóa.

Theo Rosy / Trí Thức Trẻ  Phương Mai sưu tầm

Categories: Tin-Tức Thế-Giới | Leave a comment

Ý đồ đáng quan ngại trên Biển Đông

Ý đồ đáng quan ngại trên Biển Đông

© Ảnh: thanhnien
CHÂU Á

URL rút ngắn
110

Theo giới quan sát, những diễn biến mới trên Biển Đông xuất phát từ hành động của Trung Quốc chắc chắn sẽ gây nhiều quan ngại với hệ lụy khó lường trong tương lai.

Các chuyên gia trong nước và quốc tế đánh giá hành động trên thực địa của Trung Quốc ở Biển Đông là sự vi phạm rõ ràng Tuyên bố của các bên về ứng xử ở Biển Đông (DOC), gây căng thẳng và phức tạp thêm tình hình.

Mất lòng tin

Ông Lyle Morris, nhà phân tích cấp cao của Tập đoàn nghiên cứu chiến lược RAND (Mỹ), nói: “Hoạt động xây dựng gần đây của Trung Quốc tại các đảo nhân tạo ở quần đảo Trường Sa và kế hoạch phóng vệ tinh giám sát có thể coi là một phần trong chiến lược lớn hơn nhằm củng cố kiểm soát và hiện diện ở Biển Đông”.

Những hoạt động này sẽ làm tăng thêm lo ngại cho các bên khác về nguy cơ Trung Quốc tìm cách theo dõi mọi hoạt động tại Biển Đông, đồng thời tăng cường khả năng triển khai hoạt động quân sự từ các tiền đồn phi pháp trên biển.

Tương tự, bà Colin Willett, nguyên Phó trợ lý ngoại trưởng Mỹ phụ trách khu vực Đông Á — Thái Bình Dương, nhấn mạnh: “Theo tôi, việc Trung Quốc triển khai máy bay quân sự ra các tiền đồn nước này chiếm đóng ở Biển Đông sẽ tạo ra nhiều nghi ngại về ý định của họ”.

Theo Giáo sư Jay Batongbacal, Giám đốc Viện Các vấn đề hàng hải và luật biển tại Đại học Philippines, ý đồ của Trung Quốc ở đây là giành ưu thế sức mạnh trên Biển Đông để tạo cái gọi là “hiệu ứng răn đe” nhằm giảm rủi ro nổ ra xung đột. Mặt khác, đây cũng là cách nước này mở rộng khai thác kinh tế, tài nguyên trong khu vực. Tuy nhiên, tính toán này có thể phản tác dụng vì gây mất lòng tin và càng khiến quan ngại gia tăng.

“Về lâu dài, ý định của Trung Quốc sẽ không bao giờ được chấp nhận hay hoan nghênh, đặc biệt là khi các nước khác cảm nhận rõ tác động của tình trạng mất mát tài nguyên biển cũng như bị hạn chế khả năng thực thi các kế hoạch của riêng mình. Thay vì có “hiệu ứng răn đe” như Trung Quốc mong muốn, tình trạng này có thể lại làm tăng thêm những nguy cơ trong tương lai”, ông Batongbacal nhấn mạnh với Thanh Niên.

Vi phạm DOC

Theo các chuyên gia, hành động của Trung Quốc vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc nêu trong Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) đạt được với ASEAN vào năm 2002. Nhà phân tích Morris cho rằng Trung Quốc đã vi phạm tinh thần của khoản 5 trong tuyên bố DOC, với nội dung nhấn mạnh các bên phải kiềm chế các hoạt động có thể gây phức tạp hoặc leo thang căng thẳng và ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định khu vực.

Giáo sư Batongbacal đánh giá với Thanh Niên: “Trung Quốc đã vi phạm DOC ngay từ khi bắt đầu xây dựng đảo nhân tạo phi pháp. Họ hoàn toàn vi phạm nguyên tắc tự kiềm chế trong DOC. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng không tuân thủ cam kết tìm kiếm cách thức và phương tiện để xây dựng lòng tin giữa các bên. Tất cả những hoạt động khác đang tiếp diễn tại các đảo nhân tạo ở Biển Đông đều vi phạm thỏa thuận DOC”.

Trong khi đó, tiến sĩ Nguyễn Thành Trung, Trưởng khoa Quan hệ quốc tế — Đại học KHXH&NV TP.HCM, cho rằng các biện pháp xây dựng lòng tin (CBM) đang được xây dựng có thể ảnh hưởng đến các cuộc đàm phán COC đang diễn ra. “Tuy nhiên, điều này có lẽ không quan trọng trong tính toán của Trung Quốc bởi Trung Quốc đang cố giành ưu thế ở thực địa, thể hiện rõ sức mạnh của mình ở Biển Đông, và từ đó giành lợi thế ở bàn đàm phán”, theo tiến sĩ Trung.

Giáo sư Batongbacal thì nhận định Trung Quốc sẽ không để COC ảnh hưởng đến hoạt động trên thực địa của mình, thậm chí còn muốn COC bảo vệ những “sự đã rồi” trên Biển Đông. Trong khi đó, ASEAN không thể giải quyết thách thức nếu không có lập trường thống nhất và mục tiêu chung giữa các bên, cũng như phác họa rõ ràng về lợi ích giữa các bên liên quan lẫn không liên quan trực tiếp tại khu vực.

Bình luận về vấn đề này, nhà ngoại giao kỳ cựu Willett của Mỹ nói với Thanh Niên: “Việc Trung Quốc tiếp tục quân sự hóa tại các tiền đồn ở Biển Đông chắc chắn sẽ làm phức tạp thêm nỗ lực đàm phán COC”.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Chiến lược mới của Trung Quốc khi rầm rộ tung phi cơ ra Biển Đông

Lễ giới thiệu máy bay AG600 của Trung Quốc

Chiến lược mới của Trung Quốc khi rầm rộ tung phi cơ ra Biển Đông

© Ảnh: youtube/龍燭
CHÂU Á

URL rút ngắn
 0  0  0

Trung Quốc đang cấp tập triển khai nhiều loại máy bay hoạt động trên biển để do thám và tăng cường hiện diện tại các khu vực tranh chấp.

Ngày 24.12, thủy phi cơ lớn nhất thế giới AG600 do Trung Quốc chế tạo đã có chuyến bay đầu tiên từ phi trường thành phố Chu Hải, tỉnh Quảng Đông và hạ cánh sau 1 giờ đồng hồ.

“Chuyến bay đầu tiên thành công chứng minh Trung Quốc là một trong số ít quốc gia có khả năng phát triển thủy phi cơ cỡ lớn”, Tân Hoa xã dẫn lời kỹ sư trưởng Hoàng Lĩnh Tài tuyên bố.

AG600 do Tập đoàn công nghiệp hàng không (AVIC) nghiên cứu và chế tạo trong 8 năm với kích cỡ tương đương một chiếc Boeing 737, lớn hơn bất kỳ loại máy bay nào được thiết kế để cất và hạ cánh trên biển. Máy bay được trang bị 4 động cơ tua bia cánh quạt, có thể chuyên chở 50 người và bay trong suốt 12 giờ.

Giới chức tuyên bố AG600 sẽ được dùng trong các hoạt động cứu hộ và chữa cháy. Tuy nhiên, AFP dẫn lời giới quan sát cảnh báo thủy phi cơ này cũng có thể được sử dụng trên phạm vi rộng lớn, bao gồm tất cả các đảo nhân tạo Trung Quốc xây dựng phi pháp tại quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, thuộc chủ quyền không thể tranh cãi của VN trên Biển Đông.

Theo kỹ sư Hoàng Lĩnh Tài, AG600 có thể bay một vòng không cần tiếp liệu từ đảo Hải Nam đến bãi ngầm James, đang do Malaysia quản lý và là điểm xa nhất trong yêu sách “đường lưỡi bò” phi lý của Trung Quốc trên Biển Đông. Chính Tân Hoa xã cũng lớn tiếng tuyên bố AG600 thể hiện “tinh thần bảo vệ biển, đảo và các rạn san hô”.Cũng trong ngày 24.12, tờ South China Morning Post dẫn lời giới sĩ quan không quân Trung Quốc xác nhận vừa triển khai máy bay do thám Tu-154M/D diễn tập tầm xa và do thám “những tuyến bay, khu vực trước đây chưa từng bay đến”. Máy bay này được cải biến từ mẫu phi cơ dân dụng Tu-154 của Hãng Tupolev (Nga) vốn đã bị nhiều nước ngừng sử dụng sau nhiều tai nạn thảm khốc. Vào thời điểm Trung Quốc dừng hoạt động

Tu-154 năm 2002, không quân nước này tiếp nhận hơn 100 chiếc để nâng cấp và bổ sung vào phi đội do thám. Trung Quốc lắp đặt thêm các thiết bị điện tử do nước này sản xuất, đáng chú ý nhất là hệ thống radar khẩu độ tổng hợp (SAR), công nghệ cũng được dùng trên máy bay do thám P-8 Poseidon của Mỹ. SAR giúp thiết lập hình ảnh 3 chiều của các cơ sở quân sự, xe cộ, tàu thuyền, máy bay… bất kể ngày đêm và trong mọi điều kiện thời tiết.Theo chuyên gia quân sự Antony Wong ở Macau, Trung Quốc mới đây đã dùng Tu-154M/D để vẽ bản đồ các căn cứ quân sự trên bán đảo Triều Tiên, Nhật và Đài Loan khi tuần tra ở biển Hoa Đông. Hồi tuần trước, máy bay này đã cùng nhiều chiến đấu cơ, oanh tạc cơ tiến hành tuần tra tầm xa “thường lệ” quanh Đài Loan nhằm “bảo vệ chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ”, người phát ngôn không quân Trung Quốc Thân Tiến Khoa tuyên bố. Sau đó, Đài Loan chỉ trích hành động của đại lục “ảnh hưởng tới quan hệ xuyên eo biển”.

Theo: AFP, South China Morning Post, Thanh Niên

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.