Daily Archives: January 20, 2018

Biển Đông: Nhật Bản sắp điều tàu sân bay tuần tra, TQ hậm hực

Biển Đông: Nhật Bản sắp điều tàu sân bay tuần tra, TQ hậm hực

Nhật Bản ký thêm thỏa thuận hợp tác thăm viếng cảng biển với Australia, tương tự như với Ấn Độ. Năm 2018, Nhật sẽ tiếp tục điều tàu sân bay trực thăng Izumo thăm các nước duyên hải Biển Đông và Ấn Độ Dương, đối phó ảnh hưởng của Trung Quốc.

Tàu sân bay trực thăng Izumo Lực lượng Phòng vệ Biển Nhật Bản. Ảnh: Sina

Tờ Mainichi Shimbun Nhật Bản cho hay ngày 18/1, tại Tokyo, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe sẽ cùng Thủ tướng Australia Malcolm Turnbull ký kết thỏa thuận hợp tác “Cảng đỗ chiến lược”. Thỏa thuận này nhằm tăng cường hợp tác quốc phòng giữa những “quốc gia có pháp chế tự do”, tăng cường “chiến lược Ấn Độ – Thái Bình Dương tự do và mở cửa”.

Theo báo Nhật, thông qua thúc đẩy ý tưởng hợp tác “Vành đai, con đường”, Trung Quốc đang mở rộng vai trò ảnh hưởng ở khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương. Để chống lại vai trò ảnh hưởng của Trung Quốc, chính phủ Nhật Bản thấy cần thiết phải tăng cường hợp tác với các nước có cùng “quan niệm giá trị chung về dân chủ và pháp chế” như Mỹ, tăng cường giao lưu quốc phòng, nâng cao khả năng hiện diện của Lực lượng Phòng vệ Biển Nhật Bản, nhằm bảo vệ tự do đi lại trong khu vực.

Mục đích ký kết thỏa thuận hợp tác lần này giữa Nhật Bản và Australia chính là để chống lại vai trò ảnh hưởng của Trung Quốc ở các nước duyên hải thuộc khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương. Tháng 9/2017, Nhật Bản cũng đã ký kết thỏa thuận “Cảng đỗ chiến lược” tương tự với Anh và Ấn Độ.

Ngày 15/1, Nhật Bản và Australia cũng đã ký kết thỏa thuận tiếp cận hai chiều về các chuyến thăm quân sự lẫn nhau, tạo thuận lợi cho nhân viên, trang bị và vật tư của quân đội hai nước nhập cảnh. Thỏa thuận còn cho phép Nhật Bản tiến hành diễn tập quân sự ở cảng Darwin của Australia. Khu vực này từng là căn cứ của quân đồng minh và bị lực lượng đường không hải quân Nhật Bản bắn phá ác liệt trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai.

Giống như năm ngoái, Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản năm nay sẽ điều tàu sân bay trực thăng Izumo đến thăm các nước duyên hải khu vực Biển Đông và Ấn Độ Dương. Bộ Quốc phòng Nhật Bản còn đang cân nhắc cho tàu chiến này tham gia hoạt động chống cướp biển ở vịnh Aden.

Liên quan đến tàu sân bay trực thăng, gần đây dư luận Trung Quốc cảm thấy rất lo ngại Nhật Bản có thể cải tạo những tàu này trở thành tàu sân bay thực sự, chở máy bay chiến đấu cánh cố định. Bởi vì, nếu các tàu sân bay trực thăng như Izumo được cải tạo thành tàu sân bay thực sự thì chắc chắn sẽ tạo ra thách thức lớn cho các hành động của quân đội Trung Quốc ở biển gần và biển xa.

Cuối năm 2017, nhiều phương tiện truyền thông Nhật Bản như hãng tin Kyodo đã cho hay Bộ Quốc phòng Nhật Bản đang bàn về vấn đề cải tạo “tàu hộ vệ chở trực thăng Izumo” để nó có thể chở máy bay chiến đấu tàng hình F-35B.

Bộ Quốc phòng Nhật Bản đã quyết định đổi một phần trong số 42 máy bay chiến đấu F-35A đặt mua của Mỹ thành F-35B, đồng thời muốn mua bổ sung, cân nhắc viết nội dung liên quan vào Đại cương kế hoạch phòng vệ sắp sửa đổi trong năm 2018.

Dư luận Trung Quốc cho rằng Nhật Bản là nước láng giềng, lại coi Trung Quốc là mối đe dọa an ninh lớn nhất. Vì vậy, Trung Quốc sẽ cảnh giác với ý đồ và các động thái phát triển tàu sân bay của Nhật Bản.

Theo Chinanews ngày 11/1, những năm gần đây, Nhật Bản ngày càng đẩy mạnh can dự vào vấn đề Biển Đông không ngừng tăng cường hiện diện sức mạnh ở Biển Đông. Từ tháng 5 – 7/2017, tàu sân bay trực thăng Izumo đã tiến hành tuần tra và triển khai 3 tháng ở Biển Đông. Trong thời gian đó, tàu Izumo đã cập cảng Cam Ranh, Việt Nam vào ngày 20/5/2017.

Trung Quốc luôn lo ngại rằng với tham vọng to lớn của Thủ tướng Shinzo Abe, Nhật Bản sẽ đẩy nhanh sửa đổi Hiến pháp, đẩy mạnh phát triển quân sự, từng bước trở thành cường quốc tàu sân bay, tiến hành cạnh tranh, thậm chí đối đầu quân sự với Trung Quốc, gây khó khăn cho Trung Quốc trong nhiều vấn đề như vấn đề Biển Đông.

Mặc dù Trung Quốc đang tìm cách xây dựng “quân đội hàng đầu thế giới”, nhưng báo chí Trung Quốc lại luôn tìm cách tuyên truyền xấu về Nhật Bản, không muốn Nhật Bản tăng cường sức mạnh quân sự. Trung Quốc lo ngại Nhật Bản thay đổi chính sách quốc phòng, đi con đường phát triển quân sự mới, từ đó gây ra cuộc chạy đua vũ trang mới và ngày càng gay gắt. Những ý đồ đằng sau hoạt động tuyên truyền này của Trung Quốc sẽ không thể cản trở các bước tiến của Nhật Bản, vì tình hình khu vực và quốc tế hiện nay đã thay đổi rất lớn.

Advertisements
Categories: Biển Đông | Leave a comment

Hoàng Sa 1974: Chính phủ Mỹ nói gì?

Hoàng Sa 1974: Chính phủ Mỹ nói gì?

Hình chụp ngày 19/1/2017, khi diễn ra một cuộc tuần hành kỷ niệm sự kiện 1974 của người dân ở Hà NộiBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionHình chụp ngày 19/1/2017, khi diễn ra một cuộc tuần hành kỷ niệm sự kiện 1974 của người dân ở Hà Nội

Ngày 19/1/1974 đánh dấu sự kiện Trung Quốc dùng vũ lực kiểm soát toàn bộ quần đảo Hoàng Sa từ tay chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.

Bài học từ Hoàng Sa

Chu Ân Lai và vấn đề Hoàng Sa

Dựa theo các tài liệu đã giải mật của Hoa Kỳ, BBC tóm lược các phản ứng của chính phủ Mỹ ngay tại thời điểm sự kiện vừa diễn ra. Nhiều thông tin, quan điểm có thể đã bị những cứ liệu sau này vượt qua, nhưng thông tin dưới đây phản ánh cái nhìn trong chính phủ Mỹ tại thời điểm năm 1974:

18/1/1974:

Cơ quan tình báo Mỹ CIA gửi báo cáo nói Trung Quốc và Nam Việt Nam “có thể đã đụng độ” ngày 16/1 vì Trung Quốc chiếm đảo Cam Tuyền trong khu vực Hoàng Sa.

“Phía Nam Việt Nam cũng nói rằng Trung Quốc đã đổ bộ lên hai đảo khác trong Nhóm Nguyệt Thiềm của Hoàng Sa.”

Tài liệu của CIA ghi nhận Bắc Kinh và Sài Gòn đều đòi chủ quyền Hoàng Sa, và có sự hiện diện quân sự tại đây từ giữa thập niên 1950. Trung Quốc chiếm Nhóm Tuyên Đức ở phía bắc, còn Nam Việt Nam chiếm Nhóm Nguyệt Thiềm ở phía nam.

Báo cáo của CIA nhắc lại trước đó Bắc Kinh và Sài Gòn chỉ duy nhất một lần va chạm vào năm 1959 khi “phía Nam Việt Nam bắt giữ các ngư dân Trung Quốc ở Nhóm Nguyệt Thiềm”.

“Việc quan tâm trở lại về sở hữu các đảo có thể xuất phát từ triển vọng tìm thấy dầu trên đảo hoặc vùng nước xung quanh,” CIA nói.

Bản đồ quần đảo Hoàng Sa trong một báo cáo của CIA tháng Ba 1974
Image captionBản đồ quần đảo Hoàng Sa trong một báo cáo của CIA tháng Ba 1974

21/1/1974:

Sau khi Trung Quốc đã kiểm soát được toàn bộ Hoàng Sa, báo cáo của CIA ngày 21/1 thừa nhận thông tin về diễn biến cuộc đụng độ vẫn “vô cùng sơ sài”.

Báo cáo này phân tích căng thẳng bắt đầu từ tuyên bố tháng Chín 1973 của Nam Việt Nam khẳng định chủ quyền ở quần đảo Trường Sa.

“Ban đầu Bắc Kinh bỏ qua tuyên bố này, nhưng đến ngày 11/1, họ phản ứng bằng tuyên bố bộ ngoại giao tái khẳng định chủ quyền ở Trường Sa, Hoàng Sa và Bãi Macclesfield.”

“Lần đầu tiên, Bắc Kinh cũng chính thức đòi chủ quyền với “tài nguyên tự nhiên ở vùng biển xung quanh” các đảo.”

“Cùng lúc này, Trung Quốc cũng đưa một số ngư dân đến Nhóm Nguyệt Thiềm, nơi mà theo phía Nam Việt Nam, những người này dựng lều và cắm cờ Trung Quốc.”

“Vào lúc này, Sài Gòn chuyển hướng chú ý từ Trường Sa sang Hoàng Sa.”

Báo cáo nói Sài Gòn đưa hải quân ra Nhóm Nguyệt Thiềm, khiến các ngư dân Trung Quốc phải rút đi.

5 điều cần biết về đảo Tri Tôn

Hoãn đêm diễn Nội Mông vì ‘sự cố kỹ thuật’

CIA nói Trung Quốc “rõ ràng đã có chuẩn bị” cho diễn biến này.

“Sau khi Nam Việt Nam bắn vào ngư dân Trung Quốc trên đảo Quang Hòa ngày 16/1, Trung Quốc đưa các đơn vị quân đội hướng về nam, can thiệp bằng lực lượng bộ binh và hải quân khá lớn, cùng với không kích,” CIA viết.

23/1/1974:

Tại trụ sở bộ ngoại giao Mỹ, Ngoại trưởng Henry Kissinger gặp ông Han Hsu, quyền trưởng phái đoàn liên lạc của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Washington.

Ông Kissinger nói chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đang đưa nhiều thư phản kháng lên các tổ chức quốc tế như SEATO và LHQ.

“Chúng tôi không dính líu đến các phản kháng đó,” Ngoại trưởng Kissiger nói.

Ông nói thêm: “Hoa Kỳ không có lập trường trong việc ủng hộ tuyên bố chủ quyền của Nam Việt Nam tại các đảo này.”

25/1/1974:

Tại một cuộc họp khác, Đô đốc Thomas H. Moorer, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu liên quân, báo cáo: “Chúng ta đã tránh xa vấn đề.”

Ngoại trưởng Kissinger hỏi lại: “Chúng ta chưa bao giờ ủng hộ tuyên bố chủ quyền của họ [Nam Việt Nam]?”

Đô đốc Moorer trả lời: “Toàn vùng đó là cả vấn đề. Trường Sa và các đảo khác có cùng vấn đề – đó là lãnh thổ đang tranh chấp. Chúng tôi đã ra lệnh tránh khỏi vùng đó.”

Ông Kissinger hỏi “Ai khởi đầu trận chiến ở Hoàng Sa?”

Đô đốc Thomas H. Moorer mô tả: “Một đội tuần tra của Nam Việt Nam trong khu vực phát hiện một số tàu Trung Quốc tiến về các đảo; họ tiến đến và đưa khoảng 75 người lên đảo Duncan (Quang Hòa). Đó là một trong các đảo phía nam của nhóm Nguyệt Thiềm.

“Họ phải đối đầu với hai đại đội Trung Quốc. Phía Nam Việt Nam phải rút sang các đảo gần đó.

“Bốn tàu Nam Việt Nam và khoảng 11 tàu Trung Quốc sau đó có trận hải chiến trong khi quân Nam Việt Nam rút lui.”

Ngoại trưởng Mỹ hỏi tiếp: “Phản ứng của Bắc Việt trước toàn bộ vụ việc là thế nào?”

William Colby, Giám đốc tình báo CIA, nói: “Họ bỏ qua, nói rằng nó nằm dưới Vĩ tuyến 17 và vì thế không có ảnh hưởng đến họ. Nói chung, họ không đưa ra lập trường, không theo bên nào.”

Pháp có nhiều lý do để quan tâm Biển Đông

Đàm phán biên giới Việt-Trung 1974-1978

Ông William Smyser, từ Hội đồng An ninh Quốc gia, nói thêm: “Nó đặt họ vào tình thế tế nhị. Họ không nói gì cho đến khi đã xong chuyện, và rồi chỉ nói họ lên án việc dùng vũ lực.”

Cuộc bàn luận tiếp tục với trình tự như sau:

“Ngoại trưởng Kissinger: Tôi biết họ nói gì rồi, nhưng họ thực sự cảm thấy thế nào?

Đô đốc Moorer: Tôi nghĩ họ lo lắng.

Ông Colby: Bắc Việt có thể muốn có mỏ dầu tại đó.

Ông Clements [Thứ trưởng Quốc phòng]: Đừng quá mơ mộng về khả năng có dầu tại các đảo đó. Đó vẫn là chuyện trên trời. Hiện chẳng có gì ở đấy cả, chỉ là tương lai thôi. Hiện nay dầu hỏa ở đó không khả thi. Chỉ là tiềm năng.

Đô đốc Moorer: Người Pháp nắm giữ các đảo trong thập niên 1930 cho đến khi Nhật chiếm trong Thế chiến. Năm 1955, người Pháp từ bỏ chủ quyền các đảo và Nhật đã làm như thế năm 1951. Nam Việt Nam và Trung Cộng kể từ đó cùng nhận chủ quyền. Philippines có tuyên bố yếu ớt, nhưng chỉ là trên giấy.”

Sau đó, Đô đốc Moorer xác nhận lại với Henry Kissinger: “Chỉ thị của tôi là tránh xa khỏi toàn bộ khu vực.”

28/1/1974:

Bộ Ngoại giao Mỹ gửi điện cho tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, nói rằng có một bản tin của UPI viết các tàu chiến Nam Việt Nam đã “bao vây” Hoàng Sa, sau khi đã bị mất đảo về tay Trung Quốc.

Bức điện nói “lo lắng sâu sắc về rủi ro phía Việt Nam bày tỏ giận dữ về Hoàng Sa bằng hành động quân sự phi lý với Trung Quốc”.

Bức điện yêu cầu Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn “kiềm chế” chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.

Tin liên quan

  • Bài học từ cuộc hải chiến Hoàng Sa
    18 tháng 1 2017
  • Đàm phán biên giới Việt-Trung 1974-1978
    21 tháng 2 2017
  • Chu Ân Lai và vấn đề Hoàng Sa
    4 tháng 7 2017
  • Về đảo Tri Tôn và thông điệp của tàu chiến Mỹ
    3 tháng 7 2017
  • Hoãn đêm diễn Nội Mông vì ‘sự cố kỹ thuật’
    19 tháng 1 2018
  • Pháp có nhiều lý do để quan tâm xung đột Biển Đông
    29 tháng 10 2017
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Blog at WordPress.com.