Daily Archives: February 24, 2018

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔ và Phật Giáo Thời Ðại

…… … .  . .  .  . Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔ

và Phật Giáo Thời Ðại

Lê Hiếu Liêm

 

 

Chương một: Dẫn nhập Việt Nam và Phật Giáo đầu thế kỷ hai mươi.

 

Đầu thế kỷ 20, tư tưởng Nho Giáo, thống trị độc tôn đất nước từ Thời Hồ Quý Ly, nhà Lê và nhà Nguyễn suốt 400 năm, hoàn toàn sụp đổ. Tư tưởng Phật Giáo, ngự trị vinh quang trong thời đại Lý Trần từ thế kỷ thứ 11 đến cuối thế kỷ 14, suy đồi tận gốc. Tư tưởng Tây Phương và tôn giáo của nó, Thiên Chúa Giáo La Mã, bị đại đa số trí thức và nhân dân coi như sản phẩm và công cụ của chế độ Thuộc Địa và thực dân Pháp nên vẫn không được chấp nhận. Ý thức hệ Cộng Sản cũng như các tư tưởng mới khác chưa ra đời. Cả một khoảng trống tư tưởng, cũng có nghĩa là một khoảng trống tôn giáo và chính trị, to lớn bao trùm trên một nước Việt Nam bị nô lệ, bóc lột, áp bức, lạc hậu và nghèo đói. Nhưng đây cũng là môi trường lý tưởng cho sự ra đời của những tư tưởng mới, những tôn giáo mới, những chính đảng mới và những phong trào mới: Phong trào Đông Du và Việt Nam Duy Tân Hội của Phan Bội Châu từ năm 1904, Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can và các nhà Nho tiến bộ năm 1907, tư tưởng dân quyền và dân chủ của Phan Chu Trinh suốt hai mươi năm (1905-1925), phong trào chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908, vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội cùng năm, Việt Nam Quang Phục Hội năm 1912, cuộc khởi nghĩa ở Trung Kỳ và ở Huế năm 1916 của Thái Phiên, Trần Cao Vân, Lê Ngung, vua Duy Tân…, phong trào Hội Kín ở miền Nam năm 1913-1916 lan rộng khắp Lục Tỉnh và cuộc tấn công Sài Gòn năm 1916. Các hoạt động này đã liên tục diễn ra từ đầu thế kỷ 20 đến cuối đệ nhất thế chiến.

Tuy nhiên mãi đến đầu thập njiên 20 Việt Nam mới thật sự thức dậy với sự ra đời Việt Nam Thanh Niên Cách mạng Đồng Chí Hội và Tân Việt Cách Mạng Đảng năm 1925, Đạo Cao Đài năm 1926, Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1927, Cuộc khởi nghĩa Yên Bái và sự ra đời của Đảng Cộng SảnĐông Dương năm 1930 và phong trào Sô Viết Nghệ Tỉnh 1930-1931.

 

Trong thời gian sôi động này, từ 1925 trở đi, Phật Giáo cũng đã thức dậy. Từ năm 1923, thiền sư Khánh Hòa và thiền sư Thiện Chiếu đã thành lập, tại chùa Long Hòa ở Trà Vinh, Hội Lục Hòa Liên Hiệp với mục đích vận động thành lập một Hội Phật Giáo Việt Nam toàn quốc để chấn hưng Phật Giáo. Thiền sư Thiện Chiếu, khác hẳn tất cả tăng sĩ Phật Giáo đương thời, là một tăng sĩ có tân học. Ông đã đi ra Trung và Bắc vận động thống nhất Phật Giáo năm 1927 nhưng bất thành.

Năm 1928 thiền sư Khánh Hòa xây dựng Thích Học Đường và Phật Học Thư Xã tại Chùa Linh Sơn, Sài Gòn và năm 1929 Ông cho ấn hành tạp chí Viên Âm, tập san Phật Học đầu tiên bằng quốc ngữ tại Việt Nam, đặt trụ sở tại chùa Xoài Hột, Mỹ Tho. Cùng thời, thiền sư Thiện Chiếu xuất bản một tạp chí Phật Học nhắm vào giới thanh niên trí thức lấy tên là Phật Hòa Tân Thanh Niên, đặt tòa soạn tại chùa Chúc Thọ ở Gia Định.

 

Năm 1931 thiền sư Khánh Hòa cùng nhiều tăng sĩ và cư sĩ thành lập Hội Phật Học đầu tiên tại Việt Nam, lấy tên là Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học và thiền sư Từ Phong được mời làm Chánh Hội Trưởng. Hội ra tờ Từ Bi Âm năm 1932. Thiền sư Khánh Hòa, cùng người cộng sự thân tín là thiền sư Thiện Chiếu đã đóng vai trò tiền phong khai mở phong trào chấn hưng Phật Giáo và hiện đại hóa Phật Giáo, chuyển động sâu rộng lịch sử Phật Giáo và lịch sử Việt Nam trong suốt 65 năm qua.

Tại miền Trung, thiền sư Giác Tiên mở Phật Học Đường  tại chùa Trúc Lâm năm 1929 và ủy thác cho đệ tử là bác sĩ Lê Đình Thám thành lập Hội An Nam Phật Học năm 1932. Hội quy tụ đông đảo những danh tăng và cư sĩ trí thức tại miền Trung. Cư sĩ Lê Đình Thám được bầu làm Hội Trưởng và vua Bảo Đại được mời làm Hội Trưởng Danh Dự. Hội ra tạp chí Phật Học Viên Âm năm 1933. Năm 1934, thiền sư Giác Tiên, cư sĩ Lê Đình Thám… đã thành lập Trường An Nam Phật Học, trong đó có mở cấp Đại Học Phật Giáo. Đặc biệt hơn nữa là Hội đã phát động phong trào “Chỉnh Lý Tăng Già” rất quyết liệt để loại trừ ra khỏi tăng già những thành phần phạm giới, bất xứng. Chính nhờ những nổ lực cấp tiến này mà Phật Giáo miền Trung đã đóng được một vai trò quan trọng trong những thập niên sau đó.

Năm 1934 các thiền sư Trí Hải, Tâm Ứng, Tâm Bảo cùng với giới cư sĩ trí thức tên tuổi tại Hà Nội như Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Tố, Dương Bá Trạc, Trần Văn Giáp, Nguyễn Năng Quốc, Nguyễn Hữu Kha, Bùi Kỷ, Lê Dư… thành lập Bắc Kỳ Phật Giáo Hội, bầu cư sĩ Nguyễn Năng Quốc làm hội trưởng và suy tôn thiền sư Thanh Hanh làm Thiền Gia Pháp Chủ.Đặc biệt là trong buổi lễ suy tôn Pháp Chủ này, cư sĩ Trần Trọng Kim đã thuyết pháp về đề tài; “Thập Nhị Nhân Duyên”. Hội ra tạp chí Đuốc Tuệ năm 1935 và phát triển mạnh mẽ khắp miền Bắc (Nguyễn Lang, Phật Giáo Việt Nam Sử Luận, q 3, t 51-173).

Đặc tính của cả ba Hội Phật Học tại ba miền là vai trò nổi bật của giới trí thức cư sĩ, là thuần túy Phật học và sinh hoạt Phật sự. Thời điểm 1925-1945 là thời điểm chuẩn bị trong kiên nhẫn và thầm lặng. Các hội Phật Học đã làm đúng chức năng và vai trò lịch của mình, một cách khiêm tốn, từ đống gạch vụn đổ nát của nền Phật học và Phật Giáo Việt nam trong thời Thực Dân Pháp thống trị.

Trong thời kỳ này xuất hiện những con người đặc biệt, xuất sắc và những tư tưởng mạnh mẽ, quyết liệt, trong Phật Giáo cũng như ngoài Phật Giáo. Từ đầu thập niên 30, tư tưởng Phật Hộc của Thích Thiện Chiếu đã là những quả bom chấn động. Và năm 1939 Huỳnh Phú Sổ xuất hiện làm một cuộc cách mạng tôn giáo, cải cách toàn bộ và triệt để Phật Giáo chưa từng có trong hai ngàn năm lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Miền Nam, một vùng đất lạ lùng và kỳ diệu…

 

An Hòa Tự

Phan Chu Trinh từ Pháp trở về Sài Gòn năm 1925, đất nước bùng lên những làn sóng tư tưởng dân quyền và dân chủ. Ông khẳng định phải tìm nguyên nhân mất nước trong sự mất đạo đức, mất luân lý, trong bài diễn thuyết Đạo Đức và Luân Lý Đông Tây, và ông cũng khẳng định chế độ quân chủ chuyên chế là nguyên nhân chính làm mất nước trong bài thuyết giảng Quân Trị Chủ Nghĩa và Dân Trị Chủ Nghĩa tại Sài Gòn năm 1925. Ông mất năm sau đó và đám tang ông cùng với cuộc vận động ân xá nhà chí sĩ Phan Bội Châu đã khơi bùng phong trào yêu nước và yêu tự do dân chủ trên toàn quốc, đặc biệt là trong giới thanh niên.

Nhưng dữ dội, bốc lửa và sấm sét trong tư tưởng yêu nước chống thực dân cũng như tư tưởng tự do dân chủ, trong thời này, chỉ có Nguyễn An Ninh là đi xa nhất, quyết liệt nhất. Là một thanh niên miền Nam, Ông đi du học ở Pháp và trở về nước với bằng cử nhân Luật. Lợi dụng quy chế thuộc địa của Nam Kỳ, nơi mà báo chí bằng tiếng Pháp được tự do, không bị kiểm duyệt, Ông ra tờ La Cloche fèlèe (Tiếng Chuông Rè) từ năm 1923 đến năm 1926. Ông tự xưng tờ báo của Ông là “cơ quan tuyên truyền tư tưởng Pháp”, lấy tư tưởng của kẻ xâm lăng để đập những nhát búa tạ vào chế độ Thực Dân, đồng thời tờ báo cũng tự nhận là “cơ quan chuẩn bị cho tương lai dân tộc”. Thật là độc đáo và tuyệt vời.

Ngoài việc phê bình kịch liệt, thẳng tay chính sách và chế độ thực dân, Ông cổ võ cho việc đào tạo một tầng lớp thanh niên Việt Nam tân học, có văn hóa, có lý tưởng, có chí khí, có năng lực và có tổ chức và Ông tuyệt đối tin vào sức mạnh và vào tương lai của nhân dân Việt Nam. Ông chủ trương một nước Việt Nam thống nhất từ Nam chí Bắc và trở về lịch sử dân tộc để tìm niềm tin và sức mạnh. Ông hô hào, khi chỉ mới ngoài 20 tuổi, “Chẳng những phải duy trì những giấc mộng vĩ đại, mà còn phải tổ chức thành một nhóm quan trọng để chuẩn bị cho tương lai”. Không những tư tưởng táo bạo, độc đáo, mới lạ, kiến thức của Ông cũng rất uyên bác. Khi Thống Đốc Nam Kỳ tuyên bố: “Xứ này không cần trí thức”. Ông đã viết bài trả lời bốc lửa: “… Những thảm khổ của chúng ta ngày nay, còn gì nữa, đúng là do tổ tiên của chúng ta đã sờ mó vào cây kiến thức. Hạng trí thức đã làm đảo lộn thế giới, làm hư hỏng hạnh phúc của thế giới. Hãy nguyền rủa tên tuổi của Prométhé, kẻ đã lấy trộm chút lửa của Trời. Hãy nguyền rủa con người đã bày ra cái ná cao su cho trẻ con bắn đá vào trán ông khổng lồ… Trí Tuệ, đó là cái tai hại. Trí tuệ, đó là con rắn cuốn quanh thân cây đã làm cho chúng ta vĩnh viễn mất cõi thiên đường… Nói đến vai trò giáo dục, vai trò văn minh của các ông chủ xứ Đông Dương này, thưa các ông, điều ấy làm ta mỉm cười… Người ta đã quỳ lụy bái phục những vị “đem ánh sáng tới”, những vị “làm điều kỳ diệu ở Ấu Châu”… Cái gì kỳ diệu? Thực ra cái kỳ diệu đó là, chỉ trong một thời gian ngắn thôi, người ta đã có thể làm cho trình độ trí thức của người Nam đã thấp đi lại càng rơi vào chỗ cực kỳ dốt nát. Cái kỳ diệu đó là người ta đã có thể, trong một thời gian ngắn như thế, xô đẩy một dân tộc có tư tưởng dân chủ, ngã nhào vào tình trạng nô lệ hoàn toàn“. (Trần Văn Giàu, Sự Phát Triển Của Tư Tưởng ở Việt Nam Từ Thế Kỷ 19 đến Cách Mạng Tháng Tám, q2, t 311).

Nguyễn An Ninh cũng là một trong những nhà trí thức tân học đầu tiên nghiên cứu Phật Học và hoàn thành một tác phẩm Phật Học quan trọng, cuốn “Phê Bình Phật Giáo”. Sau thời kỳ hoạt động sôi nổi từ 1923 đến 1926, Nguyễn An Ninh bị ở tù trong thời gian 1926-1927, sau đó Ông về nghiên cứu Phật Giáo. Trên bàn làm việc của Ông, có một cái chuông, một cái mõ, Ông cạo trọc đầu và đi chân không. Ông nghiên cứu Phật Giáo qua tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức và các hoạt động Phật Giáo trong nước. Cuốn Phê Bình Phật Giáo xuất bản năm 1937 là kết quả của sự nghiên cứu này. Tựa đề của cuốn sách, 70 năm sau cũng không có ai dám viết một cuốn sách Phật Học có tựa đề thách thức và can đảm như vậy. Mục đích và phương pháp luận còn mới lạ, táo bạo hơn, đó là “so sánh Phật Giáo với thời đại của nó để chỉ chỗ hay, chỗ đúng hơn của nó đối với các thuyết khác và so sánh Phật Giáo với thời đại này để chỉ sai lầm của Phật Giáo“. Tác phẩm này được giới trí thức, giới chính trị cũng như giới Phật Giáo chú ý đặc biệt.

Nhưng không gây sóng gió và tranh luận suốt nhiều năm trời như những tác phẩm của Thích Thiện Chiếu. Đối với Tăng, Ni, Phật Tử thập niên 30, những tư tưởng Phật Học của Thích Thiện Chiếu là những tiếng sét ngang tai. Ngày nay đọc lại, chắc chắn quý vị tăng sĩ, cư sĩ và Phật Tử cũng không khỏi giựt mình, chấn động và suy nghĩ. Những tư tưởng này, được viết từ thập niên 30, ngày nay, cuối thập niên 90, vẫn còn mới, còn táo bạo, còn chứa đầy sức nặng của đá tảng và sức nổ của sấm sét. Thích Thiện Chiếu là tinh hoa sáng chói của Phật Giáo trong thập niên 20, 30. Ông đã đi tiền phong trong mọi lãnh vực chấn hưng và hiện đại hóa Phật Giáo Việt Nam trong thế kỷ 20 này.

Ta phải đứng trên một đỉnh núi cao, mới hy vọng nhìn thấy những cái gì chưa ai nhìn thấy, những cái gì nằm khuất sau dãy núi cao. đó có thể là những dãy núi cao hơn, hay là một đại dương mênh mông hay là một bình nguyên rực rỡ. Thích Thiện Chiếu là một ngọn núi cao của Phật học và Phật Giáo Việt Nam trước đệ nhị thế chiến. Ta hãy đứng trên đỉnh núi cao ngất, hùng tráng này để nhìn rõ một đỉnh núi cao ngất, hùng vĩ khác, là Cư sĩ, Bồ Tát, Giáo Chủ Huỳnh Phù Sổ.

 

|Muc Luc| |Ch.1| |Ch.2| |Ch.3| |Ch.4| |Ch.5| |Ch.6| |Ch.7| |Ch.8| |Ch.9| |Ch.10|TK|

[BHH430] [PGHH] [THƯ VIỆN PGHH]

Advertisements
Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Ðức Huỳnh Giáo Chủ

Ðức Huỳnh Giáo Chủ
Vương Kim

Ðức Phật, Hoàng thiên lịnh giáng trần,

Huỳnh gia chuyển kiếp lập đời Tân.

Giáo truyền đạo Thích dìu sanh chúng,

Chủ ý chọn người vẹn Tứ ân.

(Hình Tác giả: Vương Kim Phan Bá Cầm)

Phần I:

HÀNH TRẠNG

 

Thiên thứ nhứt

Giai đoạn ra đời mở đạo

 

Chương I: Bối cảnh xã hội

Chương II:Thân thế

Chương III: Ra Tế độ

Chương IV: Đăng Sơn

Chương V: Sứ Mạng

Chương VI: Lưu Cư

Chương VII: Vận Ðộng Ðộc Lập

Chương VIII: Tổ Chức Hàng Ngũ

Chương IX: Chuẩn Bị Ðấu Tranh

 

Thiên thứ hai

Giai đoạn hoạt động đấu tranh

 

Chương X: Dấn Thân

 

Thiên thứ ba

Giai Ðoạn Vắng Mặt

 

Chương XI: Lý Do Thọ Nạn

Chương XII: Còn Hay Mất

 

Phần II:

SỰ NGHIỆP

 

Thiên thứ tư

Sự Nghiệp Về Mặt Ðạo

Tôn Phái Phật Giáo Hòa Hảo

 

Chương XIII: Học Phật

Chương XIV: Tu Nhân

 

Thiên thứ năm

Sự Nghiệp Về Mặt Ðời:

Công nghiệp cách mạng

 

Chương XV: Quân Sự.

Bộ Ðội Nguyễn Trung Trực

 

Chương XVI: Chánh Trị

Việt Nam Dân Chủ Xã Hội đảng

Cùng một tác giả:

Long Hoa xuất bản

–         Tận Thế và Hội Long Hoa (1952)

–         Đức Phật Thầy Tây An (1953) (hiệp với Đào Hưng)

–         Để Hiểu Phật Giáo Hòa Hảo (1954) (hiệp với Thanh Sĩ)

–         Ðời Hạ Ngươn (1960)

–         Đời người dướI ánh sáng Đạo Phật (1960)

–         Bửu Sơn Kỳ Hương (1966)

–         Hành sử Đạo Nhân (1970)

–         Tu Hiền (1972)

–         Đời Thượng Ngươn (1973)

–         Pháp Môn Tịnh Độ (1973)

–         Tại Sao Ta Phải Tu (1974)

Dân Xã Tùng Thư

–         Chánh trị thường thức (1956)

–         Tinh thần cán bộ (1971)

–         Lập trường Dân Xã Đảng (1971)

MUC LUC CHƯƠNG 1 | | CHƯƠNG 2 | | CHƯƠNG 3 | | CHƯƠNG 4 | | CHƯƠNG 5 | | CHƯƠNG 6 | | CHƯƠNG 7 | | CHƯƠNG 8 | | CHƯƠNG 9 | | CHƯƠNG 10 | |CHƯƠNG 11 | | CHƯƠNG 12 |

CHƯƠNG 13 | | CHƯƠNG 14 | | CHƯƠNG 15 | | CHƯƠNG 16 | | CHƯƠNG 17|

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Việt Nam có đơn độc một mình trên Biển Đông?

Việt Nam có đơn độc một mình trên Biển Đông?

Ngày 27/7/2017, tại cuộc Tọa đàm do BBC tổ chức về “tình huống hiện nay của Việt Nam ở trong khu vực, dư luận về việc khai thác dầu, khí của Việt Nam trên Biển Đông”, Nhà nghiên cứu về Việt Nam và khu vực Đông Nam Á, đồng thời là phóng viên của BBC, ông Bill Hayton cho rằng Việt Nam đang ở trong thế “chỉ có một mình, thân cô, thế cô” khi đương đầu với Trung Quốc trong tranh chấp trên Biển Đông. Trước đó, ngày 24/7/2017 cũng trên BBC, ông này cũng có bài viết cho rằng “Trung Quốc đã dọa tấn công các điểm đảo Việt Nam quản lý ở Trường Sa”, chúng ta sẽ phân tích xem những thông tin và quan điểm của ông Bill Hayton liệu Trung Quốc có tấn công Việt Nam và Việt Nam có thật sự “đơn độc một mình” hay không.

Tham vọng bành trướng với những yêu sách chủ quyền hết sức ngang ngược, phi lý và phi nghĩa của Trung Quốc thách thức an ninh, lợi ích của tất cả các nước trong và ngoài khu vực và bị cả cộng đồng quốc tế phản đối mạnh mẽ. Chắc chắn rằng các nước Đông Nam Á và các nước ngoài khu vực, đặc biệt là các nước lớn, có lợi ích thiết thân tại khu vực Biển Đông không để cho Trung Quốc muốn làm gì thì làm; không để cho Trung Quốc tước đoạt những quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong khu vực biển này. Truớc những hành động gây hấn, hiếu chiến của Trung Quốc ở Biển Đông, các nước trong khu vực đã tăng cường đáng kể khả năng quân sự và xích lại với nhau để tự vệ.

Người Mỹ chớp ngay lấy thời cơ này để tăng cường sự hiện diện trong khu vực, cổ vũ các nước trong khu vực Biển Đông liên kết ngăn chặn chủ nghĩa bành trướng. Tại Diễn đàn an ninh châu Á – Thái Bình Dương tại Shangri-La vừa qua, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis đã cảnh báo rằng “Mỹ không chấp nhận việc quân sự hóa các đảo nhân tạo mà Bắc Kinh làm ở Biển Đông”.

Trên thực địa chỉ trong thời gian ngắn, Mỹ đã đẩy mạnh việc tuần tra, thực hiện hoạt động tự do, an toàn hàng hải trên Biển Đông, cụ thể: ngày 24/5/2017, tàu khu trục USS Dewey đã đi vào khu vực 6 hải lý xung quanh đá Vành Khăn, một trong số 7 thực thể bị Trung Quốc chiếm đóng phi pháp và xây dựng thành đảo nhân tạo ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam và thực hiện diễn tập “cứu người rơi khỏi tàu”, đây là hành động thách thức mạnh mẽ nhất của Mỹ đối với tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên vùng Biển Đông; ngày 3/7/2017, Lầu Năm Góc triển khai một tàu chiến đi vào vùng 12 hải lý quanh đảo Tri Tôn, thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, nhưng bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép.

Ngoài Mỹ các nước lớn có lợi ích trên Biển Đông như Nhật Bản, Úc, Ấn Độ luôn bày tỏ quan ngại đối với những hành động của Trung Quốc trên Biển Đông.

Vì vậy, trong bối cảnh khu vực và quốc tế hiện nay, ý đồ chiếm đoạt thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của các nước láng giềng, trong đó có thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, quả thật là một việc bất khả thi. Những hành động gây hấn, hiếu chiến của Trung Quốc không doạ nạt được ai. Nếu Trung Quốc sử dụng vũ lực để chiếm đoạt vùng biển và tài nguyên của nước khác thì nhất định sẽ thất bại vì mấy lý do sau đây:

– Việc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế là trái với những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế đã được ghi nhận trong Hiến chương Liên hợp quốc và sẽ bị cả thế giới lên án.

– Trung Quốc không có cơ sở pháp lý quốc tế nào để bào chữa cho hành động coi vùng biển của các nước khác là vùng biển của mình, biến hành vi xâm phạm các quyền chủ quyền của các nước khác thành hành động “thực thi chủ quyền” của Trung Quốc. Hai lý lẽ mà người Trung Quốc gọi là cơ sở lịch sử và pháp lý để tuyên bố chủ quyền ở biển Đông đều hết sức vô lý, ngang ngược và không thuyết phục được ai. Tự vẽ một đường đứt khúc chín đoạn để yêu sách toàn bộ các quần đảo tại Biển Đông và 80% diện tích khu vực biển này, xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nhiều nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam, rõ ràng là hành động phi pháp, không có cơ sở pháp lý quốc tế và đã bị các nước khác trong khu vực và trên thế giới phản đối mạnh mẽ. Lý lẽ Trung Quốc có “chủ quyền lâu đời” – thậm chí lâu đến 2000 năm – đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, để lấy đó làm các điểm cơ sở xác lập các vùng biển phụ cận rộng lớn, rõ ràng không có cơ sở lịch sử và pháp lý nào. Qua các công trình nghiên cứu về chính sử của các triều đại phong kiến Trung Quốc, người ta có thể khẳng định rằng từ triều đại nhà Tần, nhà Hán cho đến cuối triều đại nhà Thanh, cương vực Trung Quốc chỉ đến đảo Hải Nam, không có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Và Phán quyết của Tòa Trọng tài ngày 12/7/2016 đã kết luận “không có cơ sở pháp lý để Trung Quốc yêu sách quyền lịch sử đối với tài nguyên tại các vùng biển phía bên trong đường chín đoạn”.

Vì vậy, “chủ quyền lâu đời” mấy nghìn năm mà người Trung Quốc tuyên truyền chỉ là câu chuyện hoang đường, tự họ dựng lên để phục vụ cho tham vọng bành trướng mà thôi.

– Với tương quan lực lượng hiện nay trong khu vực, nếu sử dụng vũ lực để chiếm vùng biển của các nước khác, Trung Quốc nhất định sẽ thảm bại. Hải quân Trung Quốc có thể chiếm ưu thế trong một thời gian ngắn, nhưng chắc chắn không đủ khả năng để duy trì sự kiểm soát lâu dài. Trong thời đại của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện nay, một nước nhỏ cũng có thể trang bị những vũ khí hiện đại và có đủ khả năng để gây lên những tổn thất to lớn cho một cường quốc xâm lược. Với lực lượng hải quân và không quân hiện nay, nếu bị dồn vào đường cùng, người Việt Nam cũng có thể vô hiệu hoá hải quân Trung Quốc và làm tê liệt những hoạt động hàng hải của Trung Quốc trong khu vực – cắt đứt huyết mạch quan trọng của nước này với thế giới bên ngoài qua Biển Đông. Nếu liều lĩnh tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược ở Biển Đông, Trung Quốc chẳng những không đạt được một mục tiêu của mình, mà sẽ tổn thương chính mình, tự tiêu hao một nguồn lực to lớn rất cần thiết cho sự phát triển.

Vì vậy, với những lý do nêu trên chúng ta có thể thấy rằng, Việt Nam không đơn độc trong cuộc đấu tranh bảo vệ thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của mình và Trung Quốc cũng không dám tấn công Trường Sa của Việt Nam. Như nhận định của PGS-TS, Thiếu tướng Lê Văn Cương, Nguyên Viện trưởng Viện chiến lược khoa học, Bộ Công an Việt Nam “Việt Nam không hề cô độc. Việt Nam có đầy đủ điều kiện để bảo vệ quyền lợi và lợi ích trên Biển Đông, và điều này được cộng đồng quốc tế hoàn toàn ủng hộ”.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

USS Carl Vinson tới Đà Nẵng: ‘Bước đi chiến lược’

USS Carl Vinson tới Đà Nẵng: ‘Bước đi chiến lược’

USS Carl VinsonBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTàu USS Carl Vinson vào cảng Busan tháng 1/2011 để tập trận cùng Hàn Quốc

Việc hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson của Mỹ đến thăm cảng Đà Nẵng từ 5-9/ tháng 3/2018, được cho là bước tiến quan trọng trong quan hệ quân sự Mỹ – Việt nhưng có thể khiến Trung Quốc phật lòng.

Giáo sư Carl Thayer, một chuyên gia về Việt Nam từng làm việc tại Học Viện Quốc Phòng Hoàng gia Úc đánh giá về sự kiện này cũng như tin lần đầu một tàu chống ngầm của Anh Quốc sẽ vào Biển Đông.

TQ bổ nhiệm tư lệnh hải quân

Hạm đội Nam Hải ‘cực kỳ nguy hiểm’ cho VN

Hải quân Mỹ sa thải Tư lệnh Hạm đội 7

Phillippines giải cứu thủy thủ Việt Nam

Trả lời câu hỏi của Tina Hà Giang, thuộc BBC Tiếng Việt hôm 22/02, rằng ông nghĩ sao về đánh giá nói chuyến thăm của tàu USS Carl Vinson là ”hiện diện quân sự lớn nhất của Mỹ tại Việt Nam kể từ 1975″, Giáo sư Thayer nói:

Carl Thayer: Hàng không mẫu hạm nguyên tử USS Carl Vinson có một đội ngũ hơn 6000 nhân viên, sẽ được đi kèm với một tàu khu trục tên lửa có hướng dẫn, mang theo thủy thủ đoàn khoảng 370 người. Dĩ nhiên không phải tất cả các nhân viên này sẽ được phép rời cảng tại Đà Nẵng, nhưng số lượng thủy thủ và phi hành đoàn lớn khiến đây là sự hiện diện quân sự lớn nhất của Mỹ ở Việt Nam kể từ khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc năm 1975.

Chuyến thăm của USS Carl Vinson đánh dấu tiến triển trong sự tham gia quân sự giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Trong năm 2009 và 2010, giới chức Việt Nam đã bay tới USS John C. Stennis và USS George Washington để theo dõi hoạt động của hai hàng không mẫu hạm khi chúng di chuyển trên Biển Đông.

Tàu USS Carl Vinson tại Eo biển Sunda, Indonesia hồi tháng 4/2017Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTàu USS Carl Vinson tại Eo biển Sunda, Indonesia hồi tháng 4/2017

USS Carl Vinson sẽ cập cảng Tiên Sa ở Đà Nẵng, là tàu quân sự lớn nhất và mạnh nhất của Hoa Kỳ đến thăm một cảng ở Việt Nam. Điều này khác về vị trí trong chuyến đến thăm Philippines trước đó của USS Carl Vinson, nơi nó chỉ đậu cách bờ biển Philippines khoảng 10 km.

BBCSự kiện này quan trọng thế nào với mối quan hệ giữa Việt Nam – Hoa Kỳ, ảnh hưởng đến các quan hệ quốc phòng – an ninh khu vực ra sao, và Trung Quốc sẽ có phản ứng gì?

Carl Thayer: Cam kết quốc phòng Hoa Kỳ – Việt Nam trong Biên bản Ghi nhớ năm 2011, liệt ra năm lĩnh vực hợp tác. Biên bản này được bổ sung bằng Tuyên bố chung về Hợp tác Quốc phòng năm 2015, và kế hoạch hoạt động ba năm hiện hành 2018-20. Một cách đại cương, giữa hai nước đã có một số tiến triển trong năm lĩnh vực hợp tác ở tốc độ mà Việt Nam cảm thấy thoải mái.

Chuyến viếng thăm của USS Carl Vinson có hai ‎ý nghĩa.

Thứ nhất, Mỹ đang chứng tỏ sự hiện diện của hải quân Hoa Kỳ trong khu vực để trấn an các quốc gia trong vùng rằng Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Trump không tách rời khu vực.

Hàng không mẫu hạm Trung Quốc mạnh cỡ nào?

Vì sao Quân đội TQ thôi làm kinh tế?

TQ giúp Campuchia ‘hiện đại hóa quân sự’

Thứ hai, Việt Nam ủng hộ sự hiện diện hải quân của Hoa Kỳ ở Biển, miễn là sự hiện diện đó góp phần vào hòa bình và ổn định khu vực. Nói cách khác, có sự đồng thuận về lợi ích chiến lược của hai bên trong việc bảo đảm tự do hàng hải và trên không cho tàu và máy bay quân sự.

Ảnh khu Tam Á, đảo Hải Nam chụp từ drone của Tân Hoa XãBản quyền hình ảnhXINHUA
Image captionẢnh khu Tam Á, đảo Hải Nam chụp từ drone của Tân Hoa Xã. Tam Á cũng là nơi có căn cứ tàu ngầm của Trung Quốc thuộc Hạm đội Nam Hải

Mặc dù Trung Quốc có thể sẽ có một phản ứng giật gân, lên tiếng cáo buộc Mỹ đe dọa chủ quyền và an ninh của họ, nhưng việc USS Carl Vinson tới Đà Nẵng sẽ góp phần ổn định và cân bằng quân sự ở Biển Đông.

BBCMục đích của Hoa Kỳ trong việc đưa tàu USS Carl Vison đến Đà Nẵng là gì? Làm thế có khiến Trung Quốc, đối tác thương mại số một của Mỹ, khó chịu không?

Carl Thayer: Hoa Kỳ là một cường quốc quân sự trên thế giới. Nước này sử dụng sức mạnh trên biển để khẳng định quyền lợi của mình trong việc duy trì sự an toàn các tuyến đường biển (Secure Sea Lines of Communication – SLOC) cho cả các tàu thương mại và quân sự. Những chuyến thăm cảng thân thiện là một phần trong ngoại giao hải quân. Đội ngũ của USS Carl Vinson sẽ có một số hoạt động xã hội và thể thao khi đến thăm Đà Nẵng. Điều này sẽ tạo ra cảm tình tốt đẹp cho cả hai bên.

Siêu hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson, lớp Nimitz, là một biểu tượng mạnh mẽ của sức mạnh quân sự Mỹ. Giới chức hải quân Việt Nam sẽ có thể học được điều gì đó về khả năng của nó.

Tàu sân bay TQ diễn tập ở Thái Bình Dương

TQ ‘đặt trạm theo dõi môi trường ở Biển Đông’

Phi cơ TQ và Mỹ ‘suýt va chạm’ trên Biển Đông

Vì sao Hạm đội 3 cử tàu vào Biển Đông?

Trung Quốc từng đón những chuyến thăm của tàu hải quân Mỹ ở Hồng Kông, và cũng tham gia hợp tác quốc phòng với Hoa Kỳ. Cả Hoa Kỳ và Trung Quốc đều có một lợi ích quan trọng trong việc bảo đảm an toàn cho SLOC. Bất kỳ xung đột nào cũng làm gián đoạn thương mại và gây tổn hại nghiêm trọng cho cả hai. Để hiểu được phản ứng của Trung Quốc, chúng ta phải tách riêng sự tuyên truyền của nước này ra khỏi thực tế rằng cả Mỹ và Trung Quốc đều không muốn cho sự căng thẳng gia tăng.

BBCSau chuyến viếng thăm Đà Nẵng của USS Carl Vinson, theo ông sẽ có những diễn biến gì nữa?

Carl Thayer: Tháng 6/2017, tàu khu trục tên lửa USS John McCain viếng thăm Đà Nẵng và sau đó là chuyến viếng thăm đầu tiên của tàu hải quân Mỹ tới Cảng Quốc tế Cam Ranh. Hai tuần sau, tàu của Hải quân của Quân Đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc cũng đến thăm Cảng Quốc tế Cam Ranh. Năm nay, Việt Nam đã liên tiếp đón tiếp hai Bộ trưởng Quốc phòng Nga và Hoa Kỳ. Tôi dự đoán là chẳng bao lâu sau, Việt Nam sẽ được tàu hải quân Trung Quốc ghé thăm.

Tàu hải quân Trung Quốc thăm Myanmar, Malaysia và Campuchia tháng 10/2016Bản quyền hình ảnhXINHUA
Image captionTàu hải quân Trung Quốc thăm Myanmar, Malaysia và Campuchia tháng 10/2016

Cảng quốc tế Cam Ranh mở cửa cho tất cả các nước, tàu hải quân từ Singapore, Pháp, Nhật Bản chẳng hạn, đã ghé đến. Điểm mấu chốt là Việt Nam theo đuổi một cân bằng đa cực giữa các cường quốc. Chính sách này đem lợi ích cho mọi bên trong sự độc lập và tự chủ chiến lược của Việt Nam. Nói cách khác, nếu các cường quốc lớn duy trì sự cân bằng, Việt Nam sẽ không bị ép buộc phải vào hẳn quỹ đạo của bất cứ nước nào, mà có thể tiếp tục đóng vai trò độc lập và đóng góp cho an ninh khu vực. Điều đó lợi cho tất cả.

Chuyến thăm của USS Carl Vinson không cho thấy Việt Nam đang tiến vào quỹ đạo của Hoa Kỳ để chống lại Trung Quốc. Nó báo hiệu rằng Việt Nam và Hoa Kỳ bắt đầu tin tưởng nhau và lãnh đạo Hà Nội cảm thấy thoải mái để tiến thêm một bước nữa trong mối quan hệ hải quân với Hoa Kỳ. Tôi nghĩ Trung Quốc lạc quan về chuyến thăm thân thiện của USS Carl Vinson tới Việt Nam.

Sự hiện diện của hải quân Anh

BBCCũng liên quan đến Biển Đông, ông nghĩ sao về việc Anh Quốc đưa tàu chống tàu ngầm HMS Sutherland đi ngang qua đây, trên đường về nhà từ Australia vừa rồi, trước sự phản đối của Bắc Kinh?

Carl Thayer: Anh là một cường quốc hàng hải có cam kết về an ninh ở Đông Nam Á theo Hiệp định phòng thủ FPDA (Five Power Defence Agreement), với Úc, New Zealand, Singapore và Malaysia. Anh còn là đồng minh Nato của Hoa Kỳ, mà dưới nhiệm kỳ của Donald Trump, tầm quan trọng của tự do hàng hải được nâng cao.

Anh Quốc cũng đang tìm kiếm một vai trò sau Brexit, chẳng hạn như một hiệp định tự do thương mại với Australia, và Anh cũng ủng hộ luật pháp quốc tế. Việc đưa HMS Sutherland qua Biển Đông bao gồm tất cả những khía cạnh này.

Chuyến đi biểu dương sức mạnh của Hải quân Hoàng gia Anh, trấn an các đối tác của FPDA, biểu lộ tình đoàn kết với Mỹ về tự do hàng hải, phát triển thêm một chiều hướng trong quan hệ Anh – Úc và duy trì một trật tự dựa trên các quy tắc về luật pháp quốc tế.

BBCHành động của Anh có ý nghĩa như thế nào đối với Việt Nam và các nước ASEAN, đặc biệt trong bối cảnh Singapore vừa tuyên bố sẽ đạt được một số thỏa thuận với Trung Quốc về Quy Tắc Ứng Xử trên Biển Đông?

Nữ hoàng Elizabeth II trong một chuyến lên thăm tàu HMS Sutherland khi cập cảng tại AnhBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionNữ hoàng Elizabeth II trong một chuyến lên thăm tàu HMS Sutherland khi cập cảng tại West India Dock, London tháng 10/2017. Tàu này sẽ đi vào Biển Đông trong thời gian tới để thể hiện cam kết ủng hộ tự do hàng hải của Anh trong khu vực

Carl Thayer: Các hành động của Anh, cùng với Pháp và Hoa Kỳ phục vụ cho việc bảo vệ luật pháp quốc tế, bao gồm phán quyết của Tòa án Trọng tài cho Philippines trong vụ kiện Trung Quốc. Toà này phán quyết rằng theo luật định, không có hòn đảo nào ở Biển Đông, và hai mỏm do Trung Quốc chiếm đóng, có mực nước triều thấp, và do đó không được hưởng chế độ 12 hải lý.

Quân gìn giữ hòa bình VN sẽ sang Nam Sudan

VN: Chính phủ chỉ đạo Quân đội thôi làm kinh tế

Lệnh rút khỏi Huế của Tổng thống Thiệu

Trong khi chính sách của Trung Quốc đòi hỏi các quốc gia phải xin phép họ để vào vùng đặc quyền kinh tế 200nm (EEZ), thì theo luật định, không có hòn đảo hợp pháp nào ở Biển Đông, nên không có mỏm nào được hưởng đặc quyền kinh tế 200 hải lý.

Việc làm của Anh, cùng với các cường quốc hàng hải khác, trấn an Việt Nam và các quốc gia ở vùng Đông Nam Á, rằng Trung Quốc không thể áp đặt “luật quốc tế với đặc tính Trung Quốc” trên các tuyến đường ở Biển Đông.

Nếu không có quốc gia nào phản đối khẳng định chủ quyền của Trung Quốc, thì trước tòa án quốc tế nước này có thể tranh luận rằng cộng đồng quốc tế đã nhân nhượng và đồng ý với tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc. Anh quốc, bằng cách khẳng định tự do hàng hải, chính thức cho thấy rằng cộng đồng quốc tế không chấp nhận tuyên bố đó.

Singapore là Chủ tịch ASEAN, và cũng là điều phối viên ASEAN cho Trung Quốc. Trách nhiệm của Singapore là theo dõi các cuộc tham vấn ASEAN – Trung Quốc về Bộ Quy tắc Ứng xử (COC) đang bước vào giai đoạn mới, trong việc bổ sung các khoảng trống trong Khung của họ về COC. Hành động của Anh Quốc giúp Singapore một tay trong việc đối phó với Trung Quốc.

BBC sẽ tiếp tục đưa tin và bài về chuyến thăm của hải quân các nước đến vùng Biển Đông và Việt Nam.

Xem thêm về Biển Đông:

Vì sao quốc tế khó dùng tên ‘Biển Đông’?

Tàu chiến Anh theo sát hàng không mẫu hạm Nga

Chiến lược của VN ở Biển Đông là gì?

TQ-VN sẽ ‘kiểm soát bất đồng ở Biển Đông’

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Blog at WordPress.com.