Daily Archives: March 15, 2018

Đức ‘điều tra tướng công an VN về vụ bắt cóc ở Berlin’

Đức ‘điều tra tướng công an VN về vụ bắt cóc ở Berlin’

Đại sứ quán VN ở BerlinBản quyền hình ảnhCARSTEN KOALL
Image captionTòa Đại sứ Việt Nam ở Berlin được báo chí nước này chú ý đến sau vụ Trịnh Xuân Thanh

Truyền thông Đức, gồm cả đài phát thanh quốc tế Deutsche Welle, đưa tin cơ quan công tố liên bang Đức đang tiến hành điều tra một Phó Tổng cục trưởng An ninh, Bộ Công an Việt Nam, người bị cho là đóng vai trò trong vụ ‘bắt cóc ở Berlin’ hồi tháng Bảy năm ngoái.

Phía công tố Đức từ chối bình luận với báo chí.

Trong khi đó, bà Petra Isabel Schlagenhauf, luật sư của ông Trịnh Xuân Thanh tại Đức, nói với BBC rằng cuộc điều tra của cơ quan công tố Đức nhằm vào Trung tướng Đường Minh Hưng ‘và những người khác trong vụ bắt cóc thân chủ tôi’.

Trịnh Xuân Thanh bị tuyên chung thân lần hai

VN ‘chặn luật sư Đức của ông Trịnh Xuân Thanh’

VN: Chấp nhận trả giá đối ngoại vì đối nội?

Theo luật Đức, giới chức sau khi ra cáo trạng sẽ phải chuyển tài liệu này tới cho người bị cáo buộc và luật sư bảo vệ của họ, bà luật sư Petra Schlagenhauf nói.

Bên bị cáo buộc sẽ có một thời gian để nêu quan điểm và cung cấp bằng chứng phản bác.

Sau đó, tòa sẽ tuyên bố mở phiên xét xử và định ngày để nghe lập luận của các bên, bà Schlagenhauf giải thích.

Khác với hai nhà ngoại giao Việt Nam đã bị phía Đức trục xuất trong vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh, bà Schlagenhauf nói rằng về mặt lý thuyết, Đức có thể đòi dẫn độ ông Đường Minh Hưng, người đã rời Berlin về Việt Nam ngay sau vụ bắt cóc.

BBC
Image captionLuật sư của ông Trịnh Xuân Thanh tại Đức, bà Petra Isabel Schlagenhauf

Lý do, bà nói, là bởi cảnh sát Đức đã “có đủ bằng chứng cho thấy sự can dự của ông ta trong vụ bắt cóc”, và bởi “ông Hưng không được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao tại Đức như những người khác tuy cũng tham gia nhưng lại làm việc cho Tòa Đại sứ Việt Nam tại Berlin”.

Tuy nhiên, trên thực tế, bà nói bà không chắc cơ quan công tố Đức có cân nhắc tới khả năng đòi dẫn độ hay không, bởi “Việt Nam sẽ không bao giờ chấp nhận yêu cầu dẫn độ đối với ông Hưng”.

“Giữa Việt Nam và Đức chưa có hiệp định tương trợ tư pháp về dẫn độ, cũng chưa có thỏa thuận nào ở cấp thấp hơn về việc dẫn độ.”

“Hơn nữa, cũng nên lưu ý rằng mọi yêu cầu dẫn độ đều là quyết định chính trị,” bà Schlagenhauf nói và từ chối bình luận thêm về chủ đề này.

‘Trực tiếp chỉ huy vụ bắt cóc’

Ông Hưng được cho là đã có mặt ở Berlin một thời gian trong tháng Bảy.

Nay, cơ quan điều tra của Đức tin rằng ông Hưng đã trực tiếp chỉ huy vụ bắt cóc, theo báo chí Đức.

Truyền thông Đức, như các trang Süddeutsche Zeitung, và Zeit.de, trích dẫn nội dung cáo trạng đối với ông Nguyễn Hải Long, cho đến nay là người Việt duy nhất bị giới chức Đức truy tố liên quan tới vụ bắt cóc ông Trịnh Xuân Thanh, theo đó nói ông Đoàn Minh Hưng tới Berlin vào thời điểm một tuần trước khi xảy ra vụ bắt cóc.

Ông Hưng đã ở tại khách sạn “Berlin, Berlin” và đã gặp gỡ với đầu mối của cơ quan tình báo tại Tòa Đại sứ Việt Nam.

Báo Tagesschau nói rằng trong tài liệu dày 90 trang của các nhà điều tra Đức, vai trò của ông Hưng và Tòa Đại sứ Việt Nam tại Berlin nay được thể hiện rõ ràng.

Đức trục xuất thêm một nhà ngoại giao VN

Vụ Trịnh Xuân Thanh: Đức điều tra thêm hai người Việt

“Quốc khánh VN tại Đức năm nay kém vui”

Ông Hưng đã gọi hơn 100 cuộc điện thoại di động và gửi các tin nhắn cho những đối tượng khác cùng tham gia vụ bắt cóc để điều phối hoạt động.

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTagesschau nói rằng trong một tài liệu dày 90 trang của các nhà điều tra Đức, vai trò của ông Hưng và Tòa Đại sứ Việt Nam tại Berlin nay đã được thể hiện rõ ràng

Chỉ hai ngày trước vụ bắt cóc hôm 23/7, ông Hưng đã chuyển chỗ ở, tới khách sạn “Sylter Hof”, và từ phòng khách sạn này ông đã “điều hành vụ bắt người”.

Ông Hưng “hầu như không rời khỏi phòng cho tới khi xảy ra vụ bắt cóc”.

Đối tượng bị bắt cóc đã “ngay lập tức được đưa tới Tòa Đại sứ Việt Nam tại Berlin-Treptow và từ đó được đưa về Việt Nam bằng một ngả nào đó không rõ,” Sueddeutsche Zeitung tường thuật.

Chính phủ Việt Nam chưa có phản ứng gì về những cáo buộc mới nhất trên truyền thông Đức.

Ảnh hưởng quan hệ song phương

Báo Sueddeutsche Zeitung bình luận rằng vụ điều tra mới nhất này cho thấy câu chuyện Trịnh Xuân Thanh đã được đẩy lên một tầm mức chính trị cao hơn.

Sau diễn biến mà phía Đức nói là ông Trịnh Xuân Thanh bị dùng vũ lực bắt đi tại một công viên ở trung tâm Berlin, chính quyền của bà Merkel lên án Việt Nam vi phạm luật quốc tế và chủ quyền của Đức.

Một nhân viên tình báo và một nhà ngoại giao làm việc tại Tòa Đại sứ Việt Nam ở Berlin sau đó đã bị trục xuất.

Đức cũng đòi Việt Nam phải xin lỗi, nhưng yêu cầu này không được Hà Nội đáp ứng.

Vụ việc khiến cho quan hệ song phương giữa hai nước ảnh hưởng nặng nề.

Hôm 22/9, Đức tuyên bố “tạm ngưng quan hệ đối tác chiến lược” với Việt Nam.

Trước đó, lễ kỷ niệm quốc khánh Việt Nam, được tổ chức hôm 31/8/2017 đã không có mặt bất kỳ vị khách Đức nào, trong khi sự kiện tương tự trước đó một năm từng đón tới 400 khách Đức và quốc tế.

Đức cũng đã tạm dừng chế độ cho phép quan chức cao cấp Việt Nam mang hộ chiếu ngoại giao nhập cảnh Đức không cần visa.

Tuy nhiên, cho đến nay, mới chỉ một người Việt bị tạm giam tại Đức liên quan tới vụ bắt cóc ông Trịnh Xuân Thanh.

Ông Nguyễn Hải Long, đã sinh sống tại Cộng hòa Czech nhiều năm, được cho là đã lái chiếc xe trong vụ bắt cóc.

Zeit.deBản quyền hình ảnhZEIT.DE
Image captionTrang Zeit.de của Đức có bài dài về vụ ‘bắt cóc’ ông Trịnh Xuân Thanh từ Berlin đem về Hà Nội

Cơ quan công tố Đức hồi tuần trước buộc tội ông này làm gián điệp và tước đoạt quyền tự do của người khác.

Tuy nhiên, ông Long nói ông vô tội, trong lúc luật sư đại diện nói ông bị ‘thí chốt’.

Bà Petra Isabel Schlagenhauf cho BBC biết phiên tòa đối với ông Nguyễn Hải Long có thể sẽ bắt đầu vào cuối tháng Tư 2018 tại Berlin.

Bình luận về câu chuyện, một nhà báo tại Berlin cho BBC hay, “báo chí Đức đã đăng tin rộng rãi diễn biến này vốn đã và vẫn tiếp tục là đề tài gây khó khăn cho bang giao giữa hai nước Việt Nam và Đức hiện nay”.

“Lối thoát về mặt ngoại giao cho vụ việc dường như vẫn chưa thấy hé lộ.

Với việc hình thành bộ máy lãnh đạo chính phủ mới của Đức, câu hỏi về việc xử lý vụ Trịnh Xuân Thanh sẽ còn là một đề tài tiếp tục nóng.”

Cũng trong ngày 14/03, bà Angela Merkel đã tuyên thệ lên làm Thủ tướng Đức thêm một nhiệm kỳ để lãnh đạo chính phủ liên minh CDU-SPD.

Xem thêm về chủ đề tình báo và gián điệp:

Anh sẽ ‘trục xuất 23 nhà ngoại giao Nga’

Nga phải ‘giải thích’ về vụ đánh độc Skripal

Giấc mơ Mỹ của điệp viên KGB

‘Có 5.000 gián điệp TQ hoạt động ở Đài Loan’

Advertisements
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

MẦU NHIỆM Chuyện Bên Thầy Rất Hay

PGHH: KỂ LẠI CHUYỆN SỰ HUYỀN DIỆU VÀ MẦU NHIỆM KHI ĐỨC THẦY THUYẾT PHÁP

489,672 views

Published on Nov 15, 2016

Sấm Giảng từ Quyển 1- 6 : https://goo.gl/iUxufU Thi văn Giáo Lý Toàn Bộ : https://goo.gl/NreEb5 100 Chuyện bên Thầy : https://goo.gl/S6j8GY Bộ Hiển Đạo của Ngài Thanh Sĩ: https://goo.gl/SFJTj7 Chú Giải Sấm Giảng từ Quyển 1- 6: https://goo.gl/fZrk2k Niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” : https://goo.gl/wMlG3Q Thuyết Giảng Giáo Lý PGHH: https://goo.gl/rlXoog Triết Lý Nhà Phật rất hay: https://goo.gl/FFE6Jt Pháp Lý Trích Yếu : https://goo.gl/h8oDua Giảng Xưa SƯ VÃI BÁN KHOAI: “Quyển 1 Khuyên Người Đời Tu Niệm” https://goo.gl/pME37K “Quyển 2 Kệ Dân Của Người Khùng” “Quyển 3 Sám Giảng” “Quyển 4 Giác Mê Tâm Kệ” “Quyển 5 Khuyến Thiện” “Quyển 6 Tôn Chỉ Hành Đạo” “Xem Các Bài Thi Văn Giáo Lý” “Tám Điều Răn Cấm” “Xem Giảng Bửu Sơn Kỳ Hương” “Xem Mười Điều Khuyến Tu” “Xem Chuyện Bên Thầy đầy đủ” “Xem Giải Đáp Nghi Vấn Bác Hai Tho” “Xem Thuyết Pháp” ” Chú Giải Sấm Giảng Quyển 1″ :https://goo.gl/gIwh2Z ——————— Email liên hệ:hanhtrangcoitinh@gmail.com —————

SHOW MORE

phatphap ety
Tôi rất ngưỡng mộ lời dạy của Đức Thầy : << Làm người thì phải bíết ơn : Ơn cha mẹ _ Ơn tổ quốc _ Ơn đồng bào _ Ơn nhân loại . Để đền ơn quê hương đất nuớc , ta phải nổ lực hy sinh ,bảo vệ tổ quốc của tổ tiên để lại thì phải chống lạii xăm lăng bất luận từ đâu ,bất luận dưới hình thức nào >> .Dân ViệtNam có đạo lý đạo nầy nên lịch sữ V.N có rất nhiều vị anh hùng dân tộc .

Show less

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Công khai ra tối hậu thư với Hội đồng Bảo an, Mỹ khiến Nga, Syria “thót tim”

Công khai ra tối hậu thư với Hội đồng Bảo an, Mỹ khiến Nga, Syria “thót tim”

Đại sứ Mỹ tại Liên Hợp Quốc – bà Nikki Haley hôm qua (12/3) bất ngờ cảnh báo, nếu Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc thất bại trong hành động đối với Syria, Washington “vẫn sẵn sàng hành động một mình nếu thấy cần” như đã làm hồi năm ngoái, khi Mỹ phóng tên lửa ồ ạt nhằm vào một căn cứ của quân chính phủ Syria vì lý do liên quan đến cáo buộc về một cuộc tấn công bằng vũ khí hóa học.

“Đó không phải là con đường chúng tôi mong muốn, nhưng đó là một con đường mà chúng tôi đã chứng minh là chúng tôi sẵn sàng thực hiện, và chúng tôi đã chuẩn bị sẵn sàng để hành động như thế một lần nữa”, nữ Đại sứ Mỹ công khai tuyên bố tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc gồm 15 thành viên. “Khi cộng đồng quốc tế liên tục thất bại trong hành động, sẽ có những lần các quốc gia buộc phải tự mình hành động”, bà Haley không ngại ngần cảnh báo.

Lời cảnh báo trên được bà Haley đưa ra, khi Mỹ yêu cầu Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc phải đòi hỏi thực hiện một lệnh ngừng bắn ngay lập tức kéo dài 30 ngày ở thủ đô Damascus và khu vực Đông Ghouta đang nằm trong quyền kiểm soát của phe nổi dậy Syria. Đông Ghouta là nơi quân đội của Tổng thống Bashar al-Assad đang phát động một chiến dịch quân sự quy mô lớn mà họ tuyên bố nhằm vào lực lượng khủng bố đang ngày đêm nã đạn vào thủ đô Damascus. Chiến dịch này của Syria nhận được sự hậu thuẫn của Nga và Iran.

Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc đã yêu cầu thực hiện một lệnh ngừng bắn kéo dài 30 ngày trên khắp đất nước Syria trong một nghị quyết được thông qua hôm 24/2. Tuy nhiên, Nga cho rằng, Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc không thể áp đặt một lệnh ngừng bắn mà không có thỏa thuận giữa các bên đối địch trên chiến trường.

Ngày hôm qua (12/3), Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Antonio Guterres đã có cuộc họp báo cáo ngắn về tình hình thực hiện nghị quyết nói trên. “Tình trạng thù địch vẫn chưa chấm dứt. Bạo lực vẫn tiếp tục ở Đông Ghouta và xa hơn nữa, trong đó có Afrin, các khu vực thuộc Idlib và bên trong thủ đô Damascus cũng như các vùng ngoại ô”, ông Guterres cho hay.

Lời cảnh báo mới nhất của nữ Đại sứ Mỹ khiến không ít người giật mình lo ngại. Chính quyền của Tổng thống Syria Assad và đồng minh Nga chắc chắn là sẽ quan ngại nhất bởi Mỹ rõ ràng đang ám chỉ đến khả năng tiến đánh Syria dựa trên cáo buộc quân đội Syria tiếp tục tấn công phe nổi dậy, gây cái chết cho nhiều dân thường cũng như dựa trên cáo buộc về tấn công bằng vũ khí hóa học mà phương Tây liên tiếp tung ra nhằm vào Damascus gần đây.

Có vẻ như viễn cảnh Mỹ hành động quân sự với Syria đang ngày càng đến gần hơn. Tổng thống Donald Trump từng thẳng thừng ra lệnh cho quân đội phóng đi hàng chục quả tên lửa cực mạnh nhằm vào một sân bay của Syria để trả đũa Damascus. Ít nhất 60 tên lửa hành trình Tomahawk đã được phóng đi đêm ngày 6/4/2017 nhằm vào một sân bay ở Ash Sha’irat thuộc tỉnh Homs. Đây là đòn trả đũa mạnh nhất, trực tiếp nhất và công khai nhất từ trước đến nay của Mỹ nhằm vào chính quyền của ông Assad. Lý do mà Mỹ đưa ra là để đáp trả vụ tấn công bằng vũ khí hóa học hôm 4/4/2017 ở Khan Sheikhun mà Washington cáo buộc là do quân đội trung thành với Tổng thống Assad gây ra.

Nếu Mỹ trực tiếp đánh Syrai thì đó sẽ là đòn giáng mạnh vào quân đội Syria và chính quyền Tổng thống Assad khi mà họ đang giành lợi thế trên chiến trường và đang hy vọng vào một sự kết thúc nhanh chóng cuộc chiến kéo dài đã 7 năm qua ở đất nước Syria.

Hành động của Mỹ cũng sẽ giáng một đòn vào Nga khi vị thế của nước này đang được củng cố ngày một vững chắc nhờ vào chiến thắng trong cuộc chiến chống khủng bố cũng như nhờ vào việc Moscow đã giúp chính quyền Assad lấy lại được chỗ đứng ở Syria.

Mỹ đánh Syria cũng sẽ dẫn đến nguy cơ đối đầu trực tiếp giữa hai cường quốc quân sự mạnh nhất thế giới – Nga và Mỹ. Điều này đồng nghĩa với một viễn cảnh tồi tệ hơn rất nhiều trên chiến trường Syria sau khi cuộc chiến ở đây được coi là một trong những cuộc chiến tranh kinh khủng nhất thời hiện đại.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Ai là người Quốc Gia thực sự tại Việt Nam?

Ai là người Quốc Gia thực sự tại Việt Nam?

Stephen B. Young * Đỗ Hồng (Danlambao) lược dịch – Trận tấn công Tết là thời điểm thay đổi trong cuộc chiến Việt Nam cho chủ nghĩa quốc gia VN. Trước việc Bắc Việt chuyển đổi thành cộng sản bởi người Pháp vào năm 1954, các tỉnh miền Nam đã trở thành nơi trú ẩn cho người quốc gia không cộng sản, giống như các tiểu bang miền tây nước Đức là nơi trú ẩn cho người Đức không cộng sản và một nửa miền nam Đại Hàn là một nước an toàn cho người Đại Hàn quốc gia không sản.
Tại tân quốc gia Nam VN, với viện trợ của Mỹ, TT Ngô Đình Diệm đã xây dựng thành công một nước hoạt động không cộng sản. Đáp ứng lại tình trạng phục hồi này của người quốc gia, vào năm 1959, chế độ cộng sản Hà Nội quyết định phá hủy những gì đối thủ họ thực hiện. Sự xâm nhập của họ vào nội bộ Nam VN đã tạo nên những tiến triển đáng kể và mở ra điều mà giờ đây chúng ta gọi là cuộc chiến tranh của Mỹ tại VN. Thế nhưng họ thực hiện trận tấn công Tết đã mang những khuynh hướng khác nhau của chủ nghĩa miền nam lại với nhau.
Vào đầu tháng 3 năm 1968, ĐạI Sứ Mỹ tại Sài Gòn, ông Ellsworth Bunker, phúc trình cho TT Lyndon B. Johnson về sự thay đổi đáng kể trong những người Miền Nam VN.
Thay vì tan rã, Quân Đội VN Cộng Hòa lại tăng trưởng – vào tháng 2, sau trận tấn công Tết, 10.084 người Nam VN tình nguyện nhập ngũ, so với 3.924 người vào tháng 2 năm trước. Có 10.600 tân binh trình diện thi hành quân dịch trong tháng này so với 4.006 người vào tháng 2 năm ngoái.
Chẳng những người mới được tuyển mộ đã ghi danh mà các cựu quân nhân cũng lưu ngũ và tăng cường. Trong số 155 tiểu đoàn thao diễn thường, có 118 được đánh giá là tác chiến hữu hiệu. Trên chiến trường, tập hợp Địa Phương Quân Miền Nam, vốn là những dân quân đóng đồn bót và bảo vệ hạ tầng cơ sở trọng yếu, đã có sức mạnh chiến đấu, với 99 trong số 123 người thuộc quân số đầy đủ hiện diện cho công tác. Các trung đội thuộc số dân quân khác, tức Nghĩa Quân, vốn bảo vệ làng thôn, trung bình có 29 người trong quân số đầy đủ 35 người, là một thay đổi không ngờ nữa. Số dân quân phòng vệ mới này được tham gia bởi 19.000 người tình nguyện tại 20 tỉnh.
TT Nam VN, ông Nguyễn Văn Thiệu, xúc tiến việc cung cấp thêm giới lãnh đạo mạnh mẽ. Ông thay thế những viên chức tham nhũng và kém năng lực cùng đích thân cầm đầu ủy ban phục hồi chịu trách nhiệm tái thiết hạ tầng cơ sở và các toà nhà bị phá hủy hay hư hại cùng tái định cư trên 500.000 người chạy trốn khỏi sự kiểm soát của cộng sản. Và ở những nơi khác trong lãnh vực chính trị quốc gia, các liên minh chính trị mới và bất ngờ đã hình thành để mạnh mẽ chống lại sự xâm lược của Hà Nội.
Những nỗ lực xác quyết này của người quốc gia tiếp tục đạt được xung lực trong những năm tháng sau đó. Một chương trình phát triển và bình định mới, được đặt dưới sự lãnh đạo của làng xã, phần lớn đã đánh bại những người miền Nam theo Hà Nội trong Mặt Trận Quốc Gia Giải Phóng (còn được biết là Việt Cộng). Vào năm 1973, Mặt Trận này chỉ còn có 25.000 tay chiến đấu. Nam VN, trái lại, có 748.000 chiến sĩ, cùng với thêm hàng triệu công dân trong các đơn vị tự vệ được trang bị nhẹ. Người quốc gia kiểm soát 90% dân số Nam VN, mà 85% sinh sống tại những thôn làng an ninh.
Kinh tế Nam VN tăng trưởng liên tục. Các cuộc bầu cử được tổ chức tại tất cả các làng mạc và tỉnh thành, và nhiều lần cho Thượng Viện và Hạ Viện, mang lại sức mạnh trong nhiều lãnh vực rộng rãi của khung cảnh chính trị, mà không một ai nghiêm chỉnh đề nghị đầu hàng chế độ độc tài độc đảng của Hà Nội.
Sức mạnh quân đội đầy năng lực mới của Nam VN duy trì trong nhiều năm; trong trận tấn công mùa hè 1972, mà Hà Nội tung toàn bộ quân vào Nam để lợi dụng cuộc rút lui bộ binh Mỹ, Nam VN đã bảo vệ thành công vị trí của họ, chỉ cậy nhờ không yểm của Hoa Kỳ mà thôi.
Điều gì đã làm cho cuộc phản công này trước sự xâm lược của Cộng Sản được quá hữu hiệu? Đó không phải vì Nam VN bất ngờ khám phá ra niềm tự hào quốc gia vào tháng 3 năm 1968. Thật ra là họ đạt được trở lại truyền thống hàng ngàn năm của niềm tự hào chủng tộc.
Nói theo nghĩa đơn giản, quy tắc văn hóa căn bản cho nhiều người VN là sự lệ thuộc vào ý trời, vốn ban chủ nghĩa cá nhân cho mỗi người Việt, ban cho con người điều may rủi, và ấn định một nước chủ quyền cho họ. Điều này cũng không phù hợp cho chủ nghĩa cộng sản, vốn là thuộc Tây Phương trong những tiền đề về quyền lợi giai cấp và chính quyền làm chủ những phương tiện sản xuất.
Dĩ nhiên, các sử gia phần lớn đều chấp nhận khái niệm rằng giới lãnh đạo Bắc Việt ít nhất là quốc gia cũng như là cộng sản. Nhưng thực tế, sự hòa hợp đó có chủ tâm và giả tạo: Vào khoảng đầu năm 1945, các lãnh tụ đảng nhận ra rằng họ có thể không bao giờ qui tụ được người Việt dưới ngọn cờ chủ nghĩa cộng sản, cho nên đã dùng chiến thuật làm việc qua một mặt trận giả vờ như là không cộng sản, là một đường lối mà Xô Viết đã đề xướng cho cuộc tranh đấu vào những năm 1920 chống lại chủ nghĩa phong kiến ở Trung Hoa, và sau đó chống lại chủ nghĩa phát xít toàn cầu.
Sự kết hợp giữa những người cộng sản và quốc gia luôn luôn tế nhị, chính xác là do người cộng sản nhận biết tính xung khắc của họ. Vào năm 1945, cộng sản loại ra ngoài vòng pháp luật hai đảng phái quốc gia, và sát hại người sáng lập của một trong hai đảng đó. Hai năm sau, họ sát hại Đức Huỳnh Phú Sổ, người thanh niên có sức thu hút đặc biệt, đã sáng lập ra đạo Hòa Hảo của người quốc gia tại vùng đồng bằng sông Cửu Long vào năm 1939.
Vào khoảng cuối năm 1960, kế hoạch 10 điểm được Bắc Việt đề nghị cho việc thành lập Mặt Trận Quốc Gia Giải Phóng đã không có một điều nào đề cập tới chủ nghĩa cộng sản như là tương lai cho Nam VN. Thay vì vậy, kế hoạch đó dựa nhiều vào tinh thần chống Mỹ và lật đổ chế độ Sài Gòn mà nó cho là đang chơi trò chủ nghĩa quốc gia truyền thống và thiếu đức tính giá trị của người Việt.
Thế nên, vào năm 1968, khi người Nam VN bình thường xem là sự thất bại quân sự của cộng sản trong trận tấn công Tết, sự thất bại của những đồng bào theo ủng hộ Hà Nội, và là sự thành công của lực lượng Nam VN trong cuộc phản công, thì nhiều người kết luận rằng trời đã thay đổi trào lưu vận mệnh cho con đường của họ.
Hiển nhiên, ngay cả tinh thần quốc gia hồi sinh không thôi cũng chưa đủ đánh bại sự xâm lăng của Bắc Việt. Vào năm 1975, Hà Nội chinh phục Sài Gòn, sau khi người Mỹ rút lui lực lượng và kế đó, chỉ vài năm thôi, rút nhiều viện trợ tài chánh và quân sự của họ.
Nhưng cũng quan trọng để hiểu rằng động cơ người Mỹ rút lui phần lớn là sự hiểu lầm về chủ nghĩa quốc gia của người Việt bởi phong trào phản chiến, vốn xuất phát để chi phối tư duy của người Mỹ về chiến tranh. Trong khi có những người Mỹ tiến bộ thật sự ủng hộ ảo tưởng cộng sản của Hồ Chí Minh, phong trào này nhìn chung đã xem ông ta trước tiên như là một người quốc gia, tranh đấu cho đất nước ông ta chống lại thực dân và đế quốc.
Đúng là họ Hồ tranh đấu cho sự độc lập từ Pháp, và sau đó chống lại Mỹ cho một nước VN độc lập thống nhất. Trong ý nghĩa hạn hẹp đó, ông ta thực sự đã đào sâu vào nguyện vọng của người Việt cho một nền tự trị văn hóa. Thế nhưng đòi hỏi hạn hẹp cho nền độc lập đó không làm cho ông ta trở thành người quốc gia được, nhất là theo truyền thống Việt. Họ Hồ muốn sự độc lập cho một đất nước phải được cai quản trong nền văn hóa, xã hội, kinh tế và chính trị bởi đảng của ông ta không thôi.
Ngoại trừ sự ngẫu nhiên nhỏ vốn tìm thấy sự cai trị của Pháp có thể chấp nhận được – như một số người Công Giáo, một số nhà trí thức nói tiếng Pháp và một số gia đình giàu có – hầu hết mọi người VN đều mong muốn độc lập không có chủ nghĩa cộng sản. Nếu người Mỹ hiểu được điều này, họ có thể hiểu rõ hơn những gì đã thúc đẩy Nam VN, và không xúc tiến quá nhanh để bỏ rơi họ chỉ khi họ đang kết hợp lại cho một lực lượng thống nhất, được động viên về chính trị và quân sự.
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Không được đánh đồng người chủ Trường Sa với kẻ cướp Trường Sa

Không được đánh đồng người chủ Trường Sa với kẻ cướp Trường Sa

Phạm Đình Trọng (Danlambao) – Trả lời bài viết “Trường Sa 1988: không nổ súng trước nhưng phải nổ súng” Báo Tiếng Dân 15.3.2018
Tháng ba về lại nhớ Gạc Ma. Mỗi trái tim Việt Nam lại đau nỗi đau tháng ba 1988 Tàu Cộng cướp Gạc Ma của tổ tiên ta. Mỗi trái tim Việt Nam lại đau nỗi đau 64 người lính Việt Nam trở thành 64 tấm bia thịt cho lính Tàu Cộng đâm lê, kề súng AK tận ngực bóp cò. Tháng ba năm nay cùng nỗi đau mất đảo, mất 64 người con yêu của Mẹ Việt Nam lại thêm sự phẫn nộ vì giọng lưỡi trí trá, lấp liếm sự thật lịch sử và sự đánh đồng người chủ đích thực của Trường Sa với kẻ cướp Trường Sa.
Ông Lê Mạnh Hà, người viết “Trường Sa 1988: không nổ súng trước nhưng phải nổ súng” cần nhớ rằng trước năm 1956, trước khi Tàu Cộng đưa tàu quân sự giả dạng tàu đánh cá đổ người lên chiếm đảo Phú Lâm và một số đảo trong quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam thì điểm cực Nam của lãnh thổ Tàu Cộng là đảo Hải Nam. Trước năm 1974, trước khi Tàu Cộng đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa thì tàu quân sự của Tàu Cộng đi vào biển Đông đều phải lén lút, lấm lét, láo liên của kẻ cắp. Nay chiếm được toàn bộ quần đảo Hoàng Sa, chiếm được 8 bãi đá trong Trường Sa, chúng hối hả xây sân bay, xây quân cảng, quân sự hóa Trường Sa rồi trừng mắt vỗ ngực tuyên bố với thế giới rằng cả biển Đông là của chúng.
Trong khi từ thế kỉ thứ 17, từ thời nhà Lê, nhà Nguyễn, Hoàng Sa, Trường Sa đã là cương vực lãnh thổ, là đơn vị hành chính của nhà nước Việt Nam. Khi Pháp đô hộ Việt Nam, Pháp kế tiếp nhà Nguyễn trong việc quản lí hành chính đó với Hoàng Sa, Trường Sa. Pháp đã xây đèn biển (hải đăng) ở Hoàng Sa, xây trạm khí tượng ở Trường Sa. Tại Hội nghị Liên Hợp Quốc họp ở San Francisco, tháng 9. 1951, Thủ tướng Trần Văn Hữu của Việt Nam đã tuyên bố chủ quyền với Hoàng Sa, Trường Sa trước sự có mặt 49 Chính phủ các nước, không có nước nào có ý kiến khác.
Vậy mà ông Lê Mạnh Hà viết rằng ngày nay Việt Nam kiểm soát 21 đảo, Trung Quốc kiểm soát 7 đảo trong quần đảo Trường Sa là thắng lợi rồi! Đánh đồng người chủ đích thực của Trường Sa, với kẻ cướp Trường Sa và coi Trường Sa như quần đảo hoang, vô chủ thì mới coi Việt Nam kiểm soát 21 đảo trong quần đảo Trường Sa và Tàu Cộng chỉ kiểm loát được 7 đảo là thắng lợi!
Còn lệnh không nổ súng. Bộ trưởng bộ Quốc phòng không lệnh cho từng đại đội, không lệnh cho từng người lính không được nổ súng mà lệnh cho bộ tư lệnh hải quân. Chính vì cái lệnh quái gở, tự trói tay mình, tự bắt mình buông súng đó mà trong tình thế nóng bỏng, trong khi Tàu Cộng đưa hơn chục tàu khu trục, tàu tên lửa, mỗi tàu khu trục 4 khẩu pháo 100mm, 4 khấu pháo 37 mm, tàu tên lửa 12 dàn phóng ra cướp Trường Sa của Việt Nam thì Hải quân Việt Nam đưa quân ra giữ Trường Sa chỉ dám đưa hai tàu vận tải nhỏ bé 500 tấn và một tàu đổ bộ cũ nát, cổ lỗ của Mỹ xuất xưởng từ 1945. Cả ba con tàu già lão này đều là tàu không vũ trang, chỉ chở lương thực, vật liệu xây dưng với 70 lính công binh chỉ có cuốc sẻng, 20 lính lữ đoàn 146 mang cờ chủ quyền ra cắm trên đảo cũng chỉ có mấy khẩu AK và chỉ có một băng đạn kèm theo súng.
Không phải Hải quân Việt Nam không có tàu chiến đấu. Ngay từ tháng tám, năm 1964, khi tàu khu trục Maddox, Mĩ mới lảng vảng ngoài khơi vịnh Bắc Bộ, Hải quân Việt Nam đã đưa một phân đội ba tàu phóng lôi xé sóng ra tấn công tàu khu trục Maddox Mĩ. Tàu khu trục Maddox lớn, hiện đại và hỏa lực mạnh gấp nhiều lần những tàu khu trục của Tàu Cộng ở Trường Sa 1988. Lệnh không nổ súng làm cho hình ảnh Hải quân Việt Nam chỉ còn là hình ảnh ba con tàu nhỏ bé, già nua, chậm chạp, không có sức chiến đấu, chỉ biết chịu trận.
Không được nổ súng. Giặc đổ bộ tràn lên đảo, xâm phạm chủ quyền thiêng liêng của tổ quốc nhưng người lính giữ đảo chỉ biết đứng nhìn và người lính giữ lá cờ chủ quyền chỉ biết lấy sức người giành giật lá cờ với giặc rồi giơ ngực ra hứng trọn mũi lê phóng tới, hứng trọn cả loạt đạn AK của giặc dí sát người bóp cò.
Không được nổ súng. Không được chiến đấu giữ đảo đành nhận cái chết trong đau đớn rồi phó mặc đảo cho giặc làm chủ. Vì vậy Thiếu tướng Hoàng Kiền, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 83 công binh hải quân ngày đó đã phải đau đớn thốt lên: 14.3.1988 là ngày Trung quốc đưa quân xâm chiếm Trường Sa của ta chứ không có trận chiến nào ở đây!
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Phòng không Việt Nam liên tiếp bắn hạ máy bay Mỹ: Tàu trinh sát Hải quân LX góp công lớn

Phòng không Việt Nam liên tiếp bắn hạ máy bay Mỹ: Tàu trinh sát Hải quân LX góp công lớn

Hoàng Anh | 

Phòng không Việt Nam liên tiếp bắn hạ máy bay Mỹ: Tàu trinh sát Hải quân LX góp công lớn

Tàu trinh sát cỡ lớn “Primorie” của Hải quân Liên Xô trên Biển Đông – tiếp tế cho tàu trinh sát cỡ nhỏ “Ampemetr”. Ảnh minh họa.

Lưới lửa phòng không Việt Nam hoạt động khá hiệu quả đã khiến Mỹ đã hứng chịu tổn thất nặng nề. Trung bình một tháng mỗi TSB xung kích thấy thiếu mất 10-15 máy bay.

LTS: Trong chiến tranh chống phá hoại miền Bắc của phòng không Việt Nam, bên cạnh bản lĩnh, trí thông minh, sáng tạo và những bàn tay vàng của các trắc thủ, phi công tiêm kích thì chúng ta đã nhận được sự hỗ trợ đặc lực của Hải quân Liên Xô với các tàu trinh sát kỹ thuật đã phát hiện sớm và thông báo kịp thời các mục tiêu bay của Mỹ để chuyển cấp tiêu diệt.

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc Hồi ức mang tên “Chuyến hành quân chiến đấu đầu tiên tới bờ biển Việt Nam” của Kurilo Evgheny Konstantinovich – chiến sĩ ưu tú của Hải quân Liên Xô, người đã tham gia những chuyến hành quân chiến đấu trên Biển Đông.

—-

Trong thời gian phục vụ quân đội từ tháng 7 năm 1967 đến tháng 12 năm 1969, tôi (Kurilo Evgheny Konstantinovich) đã có 5 chuyến hành quân chiến đấu trên biển. Ai chưa quen với thuật ngữ hàng hải thì hải hành – đó là chuyến đi biển dài ngày (trong trường hợp của chúng tôi thì là gần 5 tháng) nhằm mục đích thực hiện các nhiệm vụ chiến đấu theo kế hoạch.

Những nhiệm vụ chủ yếu đặt ra với đội ngũ quân nhân chúng tôi là giám sát các mục tiêu trên không và trên biển của Hoa Kỳ đang tham gia các hoạt động tác chiến tại Việt Nam.

Phòng không Việt Nam liên tiếp bắn hạ máy bay Mỹ: Tàu trinh sát Hải quân LX góp công lớn - Ảnh 1.

Kurilo Evgheny Konstantinovich – chiến sĩ ưu tú của Hải quân Liên Xô

Số liệu của chúng tôi được Bộ chỉ huy Việt Nam sử dụng để kịp thời cảnh báo cho nhân dân về các cuộc không kích của kẻ thù. Qua đó biết được số lượng, kiểu loại, các thủ đoạn chiến thuật mà các máy bay tham gia không kích có thể áp dụng.

Những kỷ niệm không thể nào quên

Chuyến đi biển làm nhiệm vụ chiến đấu đầu tiên tôi còn nhớ mãi, trước khi vào quân đội tôi chưa bao giờ thấy biển.

Công tác chuẩn bị cho chuyến đi theo đúng kế hoạch và rất kỹ lưỡng: bổ sung nhiên liệu và nước, thực phẩm và các loại vật chất khác nhau, kiểm tra sự làm việc của các trang thiết bị trên tàu trong các chế độ.

Trong chuyến hành quân đầu tiên, chúng tôi thực hiện nhiệm vụ của mình trên tàu khảo sát hải văn “Deflektor” có chiều dài 70,8m, rộng 8,40m, nạp 180 tấn dầu diesel, 80 tấn nước và 5 tấn thực phẩm. Sau khi xuống tàu, tôi cảm thấy chếnh choáng nhẹ, dù tại vịnh Sừng Vàng nơi có bến cảng của chúng tôi chẳng hề quan sát thấy có sóng.

Trước khi xuất bến làm nhiệm vụ, Đô đốc Sotnhikov (tư lệnh lữ đoàn tàu trinh sát đặc nhiệm 38) đến tiễn chúng tôi, chúc mọi người hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu, đồng thời tìm hiểu – ai không muốn hoặc sợ đi biển. Nhưng chúng tôi không ai chùn bước, mà cũng không thể hành động khác.

Ban chỉ huy tàu ngay từ ngày đầu tiên đã rất quan tâm chăm sóc đám thủy thủ còn non nớt là chúng tôi. Từ phía các quân nhân kỳ cựu chúng tôi cũng thấy được sự thông cảm và giúp đỡ, điều duy nhất – họ ám chỉ một cách ranh mãnh: anh thấy trên biển thế nào khi tàu lắc, anh sẽ vượt qua “bệnh đi biển” ra sao…

Tôi dĩ nhiên rất tò mò muốn trải nghiệm, mặc dù chưa hề biết gì về “bệnh đi biển”.

Cơn bão biển đầu tiên chúng tôi gặp phải là “Gloria”. Chính ở đây mà tôi hiểu được thế nào là “bệnh đi biển”, nhưng có một thực tế là chỉ sau 3 ngày đêm tôi đã miễn nhiễm với say sóng và không còn cảm giác buồn nôn. Tất cả các chuyến đi biển tác chiến sau này đều diễn ra trong tình trạng sức khỏe của tôi hoàn toàn tốt.

Mỗi khi xuất bến hành quân chiến đấu từ vịnh Sừng Vàng ra biển Nhật Bản, máy bay trinh sát cảnh giới tầm xa P-3 “Oriol” của Mỹ đều quần đảo trên đầu chúng tôi. Sau khi máy bay quần đảo lại đến việc suốt 6-8 giờ sau luôn có hoặc một tàu kéo hoặc một tàu phụ trợ của Hải quân Hoa Kỳ bám theo chúng tôi, và cứ như vậy trong suốt thời gian tàu chúng tôi bơi trên biển.

Một phiên (ca) trực chiến kéo dài 6 giờ, sau đó là 6 giờ nghỉ ngơi, nghỉ xong lại bước vào phiên trực. Thời gian làm nhiệm vụ chủ yếu là tại Biển Đông, nó diễn ra trong điều kiện nóng nực kinh người rồi bản thân các thiết bị mà chúng tôi sử dụng cũng bức xạ nhiệt lớn. Chẳng hề có quạt thông gió hoặc buồng tắm nước biển có vòi hoa sen.

Nghề đi biển – đó không phải nghề dành cho những kẻ bạc nhược, nhất là khi thi hành nhiệm vụ chiến đấu trong điều kiện dông bão, tàu bị đóng băng và các điều kiện phức tạp khác. Ở đây đặc biệt thể hiện tinh thần chiến đấu, tình đồng đội, sự giúp đỡ lẫn nhau, tính gắn kết của tập thể.

“Không ở đâu có sự công bằng như vậy khi đối mặt với cuộc sống và cái chết, giống như ở các kíp thủy thủ tàu ngầm và tàu mặt nước, ở đó hoặc tất cả chết hoặc tất cả chiến thắng”, – nhà văn thủy thủ tàu ngầm Gadzhiev viết như vậy.

Sự giúp đỡ lẫn nhau là truyền thống của những người đi biển. Trong một chuyến đi biển, nước ngọt sắp cạn. Ở trên mặt nước mà thiếu nước…

Trên tàu lại không có thiết bị lọc nước mặn, dự trữ nước ngọt chưa kịp bổ sung, phải rình đón các tàu dân sự của quân mình. Một trong số đó là tàu chở dầu “Aniva” đã đến gần tàu chúng tôi truyền nước ngọt – đó là cuộc gặp gỡ rất đỗi vui mừng của các thủy thủ Liên Xô.

Vì chuyện đó mà thuyền trưởng của chúng tôi đã cảm ơn bằng cách chuyển cho đội thủy thủ tàu chở dầu một số hòm cá Vobla và rượu vang.

Đương đầu với đối thủ hùng mạnh

Mỗi thuyền viên trên tàu đều hiểu rằng mình đang đối đầu với một đối thủ hùng mạnh được trang bị kỹ thuật cực tốt, vì thế bằng việc thi hành nghĩa vụ của mình một cách trung thực tất cả cố gắng trao cho các bạn Việt Nam đang chiến đấu lượng thông tin tối đa về các tàu chiến và máy bay Hoa Kỳ.

Hải quân Mỹ có 22 tàu sân bay, phần lớn trong số đó đã hoạt động trong chiến tranh tại Việt Nam trong thành phần Hạm đội 7.

Các tàu sân bay Ham đội 7 mà tôi cùng các đồng đội của mình đã theo dõi và trinh sát là: “Enterprise” chạy bằng năng lượng nguyên tử, “Constellation”, “Ticonderoga”, “Kitty Hawk”, “Bon Homme Richard”, “Coral Sea”, “Midway”, “Forrestal”, “Oriskany”.

Phòng không Việt Nam liên tiếp bắn hạ máy bay Mỹ: Tàu trinh sát Hải quân LX góp công lớn - Ảnh 2.

Vị trí các TSB Mỹ khi hoạt động ngoài khơi bờ biển Việt Nam giai đoạn 1964-1973, các hướng tấn công chủ yếu của máy bay cường kích xuất phát từ các TSB. Máy bay B-52 bay qua đầu tàu trinh sát “Deflektor”.

Mỗi tàu sân bay Mỹ luôn có một đội hộ tống đáng tin cậy: 1-2 tàu ngầm, tuần dương hạm hoặc frigate, 1-2 khu trục hạm, cũng như trên boong tàu sân bay (TSB) có các máy bay loại “Tracker” S-2 – làm nhiệm vụ phát hiện tàu ngầm và trinh sát. Cuộc gặp gỡ các TSB mà từ đó bom được mang đi ném xuống Việt Nam, diễn ra đầu tiên trong thinh không vô tuyến điện.

Các mệnh lệnh điều phối của các TSB cho cất cánh và hạ cánh máy bay được thu bắt trên các thiết bị phù hợp, các thiết bị này lắng nghe trao đổi giữa các phi công trong suốt quá trình chúng thi hành nhiệm vụ tác chiến, trong đó thu được rất nhiều thông tin về chiến thuật sử dụng máy bay chiến đấu của Hoa Kỳ.

Radar dẫn đường và radar hỏa lực của tất cả các loại tàu cũng bị nghe lén. Đài vô tuyến của chúng tôi xác định chính xác các tham số kỹ chiến thuật của các radar trên các mục tiêu mặt nước, mục tiêu dưới mặt nước và mục tiêu trên không trong vòng bán kính 400 dặm (gần 650km).

Phòng không Việt Nam liên tiếp bắn hạ máy bay Mỹ: Tàu trinh sát Hải quân LX góp công lớn - Ảnh 3.

Tháng 10 năm 1970 – tháng 1 năm 1971, tàu trinh sát cỡ nhỏ “Deflektor” đang ở giữa đội hình nhóm xung kích tàu sân bay (AUG) của Hạm đội 7 Hoa Kỳ.

TSB hạt nhân xung kích “Enterprise” mang theo nó 100-120 máy bay F-4 “Phantom”, A-4 “Skyhawk”, A-6A “Intruder”, F-8 “Crusader”. Còn xa tàu chúng tôi, nó đã bị vô tuyến tầm phương xác định cách 2-5 ngày (tùy thuộc vào hệ thống trên TSB là hệ thống như thế nào) trước khi phát hiện được nhau bằng quan sát thị giác.

Việc mỗi TSB thường xuyên có từ 75-90 máy bay và 1,4 kíp bay cho mỗi chiếc đã cho phép người Mỹ duy trì mức độ sử dụng máy bay khá cao và tiến hành được 100-120 phi vụ xuất kích từ một TSB trong một ngày đêm.

Rất thú vị khi ta quan sát toàn bộ các máy bay cất cánh khỏi TSB trong vòng 40-50 phút. Để đảm bảo điều kiện tốt nhất cho máy bay hạ cánh, TSB thường xuyên di chuyển vị trí trên những khoảng cách không lớn.

Các cuộc không kích xuống các mục tiêu tại VNDCCH được tiến hành bởi máy bay từ các TSB thuộc Hải quân, máy bay thuộc Không quân Chiến thuật, và cả máy bay ném bom chiến lược B-52. Các chuyến bay diễn ra trong điều kiện lưới lửa phòng không Việt Nam hoạt động khá hiệu quả, vì vậy máy bay Mỹ đã hứng chịu tổn thất nặng nề.

Trung bình một tháng mỗi TSB xung kích thấy thiếu mất 10-15 máy bay. Sau này do tăng cường áp dụng các biện pháp trinh sát, gây nhiễu tích cực lên các khí tài phòng không Việt Nam đã giúp tỷ lệ tổn thất giảm xuống một chút.

Phương tiện quan trọng duy trì tình thần chiến đấu của phi công các náy bay hoạt động chống VNDCCH, theo ý kiến BCH Mỹ chính là hoạt động cứu hộ do họ tổ chức trong vịnh Bắc Bộ để cứu kíp lái các máy bay bị bắn rơi.

Bằng các chỉ dẫn thích hợp cho các phi công, họ chỉ thị để áp dụng các biện pháp sao cho trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng hướng các máy bay bị thương ra phía biển và nhảy dù trên mặt nước. Phi công có bè tự động làm việc đảm bảo cho anh ta nổi trên mặt biển, có máy phát vô tuyến phát tín hiệu định vị gọi phương tiện cấp cứu.

Phương tiện đó gồm có máy bay cứu hộ, trực thăng và tàu cứu hộ. Một phần trực thăng cứu hộ hoạt động xuất phát từ TSB, số khác từ các tàu khinh hạm và khu trục hạm.

Tổng kết của BCH Mỹ về Chiến tranh Việt Nam không chỉ ghi nhận mặt tích cực của các TSB. Các chuyên gia hải quân Mỹ cho rằng nhược điểm chủ yếu của các TSB xung kích là giá thành khai thác lớn và sự khó khăn trong việc đảm bảo cho hoạt động của chúng.

Một TSB xung kích trong tình trạng không bổ sung vật chất, nước uống, thực phẩm có thể duy trì hoạt động tự chủ trong 90 ngày đêm. Tuy nhiên kinh nghiệm tham gia các chiến dịch quân sự của TSB “Midway” trong khoảng thời gian sáu tháng rưỡi cho thấy nó đã 48 lần bổ sung vật chất dự trữ trên biển.

Có nghĩa là cứ 4-5 ngày một lần tiếp tế, nó đã nhận 8.500 tấn đạn dược, gần 60.000 tấn nhiên liệu tàu biển và 38.000 tấn nhiên liệu máy bay cũng như 1.200 tấn hàng khác. Kíp thủy thủ TSB (khoảng 4200 người) đòi hỏi 9 tấn đồ ăn mỗi ngày đêm.

Phần lớn các tin tức tôi xử lý được lấy từ các băng ghi âm các cuộc đàm thoại của các quân nhân trên các máy bay trong quá trình hoạt động tác chiến. Các điện đài viên của chúng tôi thường xuyên chặn nghe các cuộc đàm thoại của các phi công máy bay B-52 đang thực hiện chuyến bay từ đảo Guam, Okinawa, Thái Lan.

Công tác giải nghĩa bổ sung cũng được ban chỉ huy tàu chúng tôi tiến hành. Các dữ liệu số được lấy từ các tạp chí “Quân sự nước ngoài” những năm 1971-1972.

Phòng không Việt Nam liên tiếp bắn hạ máy bay Mỹ: Tàu trinh sát Hải quân LX góp công lớn - Ảnh 4.

Khu trục hạm số hiệu 805 của Mỹ đi hộ tống TSB, chụp từ tàu trinh sát “Deflektor”.

Những thú vui giải trí của lính Hải quân Liên Xô

Ngoài việc thi hành nhiệm vụ trực tiếp, ngoài giờ trực chúng tôi xem phim, chơi các trò chơi trên bàn, khi thời tiết tốt thì ngắm cảnh biển và câu cá.

Khi vào đến Biển Đông, lũ cá heo luôn bám theo chúng tôi. Chúng tôi bật nhạc trên boong thượng và cá heo bám sát mũi tàu chúng tôi rất lâu. Cá mập cũng thường xuyên đi theo tàu chúng tôi, đặc biệt khi tàu thả trôi.

Đồ ăn thừa chúng tôi quẳng xuống biển và lũ cá mập “lượn vòng số 8” quanh tàu chúng tôi. Người ta đánh bắt cá mực sau khi mặt trời lặn. Người ta thả từ lan can trên boong thượng xuống những chiếc bóng đèn thông thường và dưới ánh sáng đèn lũ mực nhảy tanh tách.

Chúng tôi nhớ mãi cảnh câu cá đầy thú vị ở Biển Đông. Người ta câu được những con cá thu bằng cách thế này – treo miếng thịt vào lưỡi câu, mẩu bánh mì vào dây vải dài 20-25m, trong khoảng một giờ, toàn kíp thủy thủ ai cũng có cá tươi.

Trên Thái Bình Dương có các rạn san hô, tại đây chúng tôi thay quần áo bơi nhẹ rồi tha hồ nhào lộn tắm biển và lấy những mảnh san hô kỳ lạ mà chưa bao giờ được nhìn thấy. Sau đó ta thả chúng vào bình chứa có clo, chúng trở nên trắng toát đẹp đến mê hồn. Thế là ta có được những món trang sức mỹ nghệ tuyệt diệu.

Trong một cuộc hành quân chúng tôi ở đúng điểm “đứt gãy Marian”. Ban chỉ huy tàu cho phép thủy thủ đoàn tắm biển. Chúng tôi thả thuyền cao su, áp dụng tất cả các biện pháp đề phòng. Nước đại dương phía trên thì ấm. Nhưng nếu ta lặn xuống dưới sâu 2-3 m, nước buốt lạnh. Thật sảng khoái khi biết rằng dười thân mình ta là 12 ngàn mét nước.

Nhưng cuộc tắm táp này không kéo dài lâu, thủy thủ trực trên cầu điều hướng phát hiện rắn biển. Khẩu lệnh ban ra “Tất cả lên tàu!“, thế là cuộc tắm biển chấm dứt. Bác sĩ trên tàu chúng tôi, thượng úy Granovsky cho biết lũ rắn biển đó cực độc.

Tôi nhớ đến một cuộc gặp gỡ trong vịnh Bắc Bộ vào ngày 9 tháng 5 năm 1968. Đi qua cách chúng tôi khoảng 2-3 kabelt là TSB Mỹ “Kitty Hawk”, họ bật tiếp xúc vô tuyến trên boong tàu và nói bằng một giọng Nga trọ trẹ: “Chào các anh bạn trên tàu thủy thân mến! Chúc mừng các cậu nhân Ngày Chiến thắng!”. Thuyền trưởng của chúng tôi cũng chúc mừng lại họ.

Phòng không Việt Nam liên tiếp bắn hạ máy bay Mỹ: Tàu trinh sát Hải quân LX góp công lớn - Ảnh 5.

S-2 Tracker chụp từ tàu trinh sát “Deflektor”.

Sau đó một chiếc trực thăng từ TSB bay tới, lượn trên đầu chúng tôi chụp ảnh và thả một trái pháo khói, Cạnh trái pháo khói là một vật gì đó quấn trong một màng bọc, hóa ra đó là một hộp cát-sét có nhạc và những bài hát, trên đó ghi dòng chữ: “Tặng các thủy thủ Xô viết món quà của các phi công tư bản chủ nghĩa!”.

Dù chúng tôi có ý thức hệ khác nhau nhưng con người vẫn là con người và chúng tôi chúc mừng nhau với sự hiểu biết.

Thật dễ chịu khi được ngắm biển lặng với tất cả những vẻ đẹp của nó nhưng không phải lúc nào biển cũng như vậy. Thỉnh thoảng biển lại nổi loạn, những con sóng cao đến 15 m nối tiếp nhau trùm lên con tàu; bão biển kèm theo gió mạnh và mưa; hay khi vào mùa lạnh – con tàu bị đóng băng.

Trong trường hợp đó mỗi thủy thủ phải hành động một cách hợp lý và chuẩn xác để có thể hoàn thành nhiệm vụ trong hoàn cảnh nguy hiểm, không mạo hiểm mạng sống và chinh phục được tự nhiên. Việc di chuyển trên boong chỉ có một số giới hạn các quân nhân, các đai lưng bảo hiểm mà chúng tôi đeo được gắn vào cáp và việc di chuyển chỉ thực hiện dọc theo đường cáp.

Với lòng kính trọng, tôi nhớ đến những người mình đã tiếp xúc trong quá trình phục vụ, họ đã thể hiện sự bền bỉ và bản lĩnh tự chủ trong các điều kiện nặng nề. Đó là thuyền trưởng Thiếu tá Valery Nikolaevitch Voroshilov, trợ lý chính Đại úy Khoroshikh, thuyền phó chính trị V.Kudlas, các hoa tiêu Beketov và Dolghikh, trưởng ngành VTĐ Đại úy hải quân Agafonov,…

Tôi muốn ghi nhận sự quan tâm của Đảng và Chính phủ với công việc phục vụ của chúng tôi. Năm 1965 Chủ tịch đoàn chủ tịch Xô Viết Tối cao Liên Xô N.Podgorny đến Vladivostok, khi người ta báo cáo cho ông biết về các nhiệm vụ mà các tàu trinh sát của Lữ đoàn 38 thực hiện thì ông rất hài lòng và hỏi bộ chỉ huy lữ đoàn xem còn những vấn đề nào chưa được giải quyết.

Do đồ ăn chưa phải là thứ tốt nhất, N.V.Podgornyi đã giúp đỡ để chuyển cho chúng tôi khẩu phần ăn của thủy thủ tàu ngầm.

Cuối chiến dịch một con tàu khác đến thay phiên chúng tôi với cùng nhiệm vụ như vậy. Sau khi về đến bến cảng căn cứ kết thúc chuyến đi biển, chúng tôi đi nghỉ ở nhà an dưỡng, sau hai tháng chúng tôi lại lên đường thực hiện chiến dịch đi biển kế tiếp.

Ekaterinburg năm 2008

Thượng sỹ hải quân Kurilo Evgheny Konstantinovich

Sinh ngày 20 tháng 1 năm 1947 tại làng Bezvodnoie, huyện Volkovysennoie, tỉnh Grodno, Cộng hòa Xô Viết XHCN Belorussia. Tốt nghiệp phổ thông năm 1963. Từ năm 1963 làm việc tại đơn vị hòm thư 79 thuộc thành phố Sverdlovsk. Tháng 11 năm 1966 được gọi phục vụ quân đội từ khu đội Kirov thành phố Sverdovsk.

Đầu tiên phục vụ tại đảo Russky đơn vị quân đội 70024, tại Trường Vô tuyến điện theo chuyên ngành điện đài viên OSNAZ, sau đó được phái đến đơn vị quân đội 20858.

Đã được thưởng huy hiệu “Vì chuyến hành quân xa”. Thực hiện nhiệm vụ chiến đấu ở Biển Đông từ ngày 01.07.1967 đến 03.12.1969 trong lãnh hải Việt Nam.

Là chiến sĩ ưu tú của Hải quân Xô Viết. Chuyên viên hạng 1. Sau khi giải ngũ thôi phục vụ Hải quân đã làm việc tại nhà máy “Elektroavtomatika” và các xí nghiệp khác nhau tại thành phố Sverdlovsk sau đó nghỉ hưu.

theo Thời đại

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Blog at WordPress.com.