Phòng không Việt Nam liên tiếp bắn hạ máy bay Mỹ: Tàu trinh sát Hải quân LX góp công lớn

Phòng không Việt Nam liên tiếp bắn hạ máy bay Mỹ: Tàu trinh sát Hải quân LX góp công lớn

Hoàng Anh | 

Phòng không Việt Nam liên tiếp bắn hạ máy bay Mỹ: Tàu trinh sát Hải quân LX góp công lớn

Tàu trinh sát cỡ lớn “Primorie” của Hải quân Liên Xô trên Biển Đông – tiếp tế cho tàu trinh sát cỡ nhỏ “Ampemetr”. Ảnh minh họa.

Lưới lửa phòng không Việt Nam hoạt động khá hiệu quả đã khiến Mỹ đã hứng chịu tổn thất nặng nề. Trung bình một tháng mỗi TSB xung kích thấy thiếu mất 10-15 máy bay.

LTS: Trong chiến tranh chống phá hoại miền Bắc của phòng không Việt Nam, bên cạnh bản lĩnh, trí thông minh, sáng tạo và những bàn tay vàng của các trắc thủ, phi công tiêm kích thì chúng ta đã nhận được sự hỗ trợ đặc lực của Hải quân Liên Xô với các tàu trinh sát kỹ thuật đã phát hiện sớm và thông báo kịp thời các mục tiêu bay của Mỹ để chuyển cấp tiêu diệt.

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc Hồi ức mang tên “Chuyến hành quân chiến đấu đầu tiên tới bờ biển Việt Nam” của Kurilo Evgheny Konstantinovich – chiến sĩ ưu tú của Hải quân Liên Xô, người đã tham gia những chuyến hành quân chiến đấu trên Biển Đông.

—-

Trong thời gian phục vụ quân đội từ tháng 7 năm 1967 đến tháng 12 năm 1969, tôi (Kurilo Evgheny Konstantinovich) đã có 5 chuyến hành quân chiến đấu trên biển. Ai chưa quen với thuật ngữ hàng hải thì hải hành – đó là chuyến đi biển dài ngày (trong trường hợp của chúng tôi thì là gần 5 tháng) nhằm mục đích thực hiện các nhiệm vụ chiến đấu theo kế hoạch.

Những nhiệm vụ chủ yếu đặt ra với đội ngũ quân nhân chúng tôi là giám sát các mục tiêu trên không và trên biển của Hoa Kỳ đang tham gia các hoạt động tác chiến tại Việt Nam.

Phòng không Việt Nam liên tiếp bắn hạ máy bay Mỹ: Tàu trinh sát Hải quân LX góp công lớn - Ảnh 1.

Kurilo Evgheny Konstantinovich – chiến sĩ ưu tú của Hải quân Liên Xô

Số liệu của chúng tôi được Bộ chỉ huy Việt Nam sử dụng để kịp thời cảnh báo cho nhân dân về các cuộc không kích của kẻ thù. Qua đó biết được số lượng, kiểu loại, các thủ đoạn chiến thuật mà các máy bay tham gia không kích có thể áp dụng.

Những kỷ niệm không thể nào quên

Chuyến đi biển làm nhiệm vụ chiến đấu đầu tiên tôi còn nhớ mãi, trước khi vào quân đội tôi chưa bao giờ thấy biển.

Công tác chuẩn bị cho chuyến đi theo đúng kế hoạch và rất kỹ lưỡng: bổ sung nhiên liệu và nước, thực phẩm và các loại vật chất khác nhau, kiểm tra sự làm việc của các trang thiết bị trên tàu trong các chế độ.

Trong chuyến hành quân đầu tiên, chúng tôi thực hiện nhiệm vụ của mình trên tàu khảo sát hải văn “Deflektor” có chiều dài 70,8m, rộng 8,40m, nạp 180 tấn dầu diesel, 80 tấn nước và 5 tấn thực phẩm. Sau khi xuống tàu, tôi cảm thấy chếnh choáng nhẹ, dù tại vịnh Sừng Vàng nơi có bến cảng của chúng tôi chẳng hề quan sát thấy có sóng.

Trước khi xuất bến làm nhiệm vụ, Đô đốc Sotnhikov (tư lệnh lữ đoàn tàu trinh sát đặc nhiệm 38) đến tiễn chúng tôi, chúc mọi người hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu, đồng thời tìm hiểu – ai không muốn hoặc sợ đi biển. Nhưng chúng tôi không ai chùn bước, mà cũng không thể hành động khác.

Ban chỉ huy tàu ngay từ ngày đầu tiên đã rất quan tâm chăm sóc đám thủy thủ còn non nớt là chúng tôi. Từ phía các quân nhân kỳ cựu chúng tôi cũng thấy được sự thông cảm và giúp đỡ, điều duy nhất – họ ám chỉ một cách ranh mãnh: anh thấy trên biển thế nào khi tàu lắc, anh sẽ vượt qua “bệnh đi biển” ra sao…

Tôi dĩ nhiên rất tò mò muốn trải nghiệm, mặc dù chưa hề biết gì về “bệnh đi biển”.

Cơn bão biển đầu tiên chúng tôi gặp phải là “Gloria”. Chính ở đây mà tôi hiểu được thế nào là “bệnh đi biển”, nhưng có một thực tế là chỉ sau 3 ngày đêm tôi đã miễn nhiễm với say sóng và không còn cảm giác buồn nôn. Tất cả các chuyến đi biển tác chiến sau này đều diễn ra trong tình trạng sức khỏe của tôi hoàn toàn tốt.

Mỗi khi xuất bến hành quân chiến đấu từ vịnh Sừng Vàng ra biển Nhật Bản, máy bay trinh sát cảnh giới tầm xa P-3 “Oriol” của Mỹ đều quần đảo trên đầu chúng tôi. Sau khi máy bay quần đảo lại đến việc suốt 6-8 giờ sau luôn có hoặc một tàu kéo hoặc một tàu phụ trợ của Hải quân Hoa Kỳ bám theo chúng tôi, và cứ như vậy trong suốt thời gian tàu chúng tôi bơi trên biển.

Một phiên (ca) trực chiến kéo dài 6 giờ, sau đó là 6 giờ nghỉ ngơi, nghỉ xong lại bước vào phiên trực. Thời gian làm nhiệm vụ chủ yếu là tại Biển Đông, nó diễn ra trong điều kiện nóng nực kinh người rồi bản thân các thiết bị mà chúng tôi sử dụng cũng bức xạ nhiệt lớn. Chẳng hề có quạt thông gió hoặc buồng tắm nước biển có vòi hoa sen.

Nghề đi biển – đó không phải nghề dành cho những kẻ bạc nhược, nhất là khi thi hành nhiệm vụ chiến đấu trong điều kiện dông bão, tàu bị đóng băng và các điều kiện phức tạp khác. Ở đây đặc biệt thể hiện tinh thần chiến đấu, tình đồng đội, sự giúp đỡ lẫn nhau, tính gắn kết của tập thể.

“Không ở đâu có sự công bằng như vậy khi đối mặt với cuộc sống và cái chết, giống như ở các kíp thủy thủ tàu ngầm và tàu mặt nước, ở đó hoặc tất cả chết hoặc tất cả chiến thắng”, – nhà văn thủy thủ tàu ngầm Gadzhiev viết như vậy.

Sự giúp đỡ lẫn nhau là truyền thống của những người đi biển. Trong một chuyến đi biển, nước ngọt sắp cạn. Ở trên mặt nước mà thiếu nước…

Trên tàu lại không có thiết bị lọc nước mặn, dự trữ nước ngọt chưa kịp bổ sung, phải rình đón các tàu dân sự của quân mình. Một trong số đó là tàu chở dầu “Aniva” đã đến gần tàu chúng tôi truyền nước ngọt – đó là cuộc gặp gỡ rất đỗi vui mừng của các thủy thủ Liên Xô.

Vì chuyện đó mà thuyền trưởng của chúng tôi đã cảm ơn bằng cách chuyển cho đội thủy thủ tàu chở dầu một số hòm cá Vobla và rượu vang.

Đương đầu với đối thủ hùng mạnh

Mỗi thuyền viên trên tàu đều hiểu rằng mình đang đối đầu với một đối thủ hùng mạnh được trang bị kỹ thuật cực tốt, vì thế bằng việc thi hành nghĩa vụ của mình một cách trung thực tất cả cố gắng trao cho các bạn Việt Nam đang chiến đấu lượng thông tin tối đa về các tàu chiến và máy bay Hoa Kỳ.

Hải quân Mỹ có 22 tàu sân bay, phần lớn trong số đó đã hoạt động trong chiến tranh tại Việt Nam trong thành phần Hạm đội 7.

Các tàu sân bay Ham đội 7 mà tôi cùng các đồng đội của mình đã theo dõi và trinh sát là: “Enterprise” chạy bằng năng lượng nguyên tử, “Constellation”, “Ticonderoga”, “Kitty Hawk”, “Bon Homme Richard”, “Coral Sea”, “Midway”, “Forrestal”, “Oriskany”.

Phòng không Việt Nam liên tiếp bắn hạ máy bay Mỹ: Tàu trinh sát Hải quân LX góp công lớn - Ảnh 2.

Vị trí các TSB Mỹ khi hoạt động ngoài khơi bờ biển Việt Nam giai đoạn 1964-1973, các hướng tấn công chủ yếu của máy bay cường kích xuất phát từ các TSB. Máy bay B-52 bay qua đầu tàu trinh sát “Deflektor”.

Mỗi tàu sân bay Mỹ luôn có một đội hộ tống đáng tin cậy: 1-2 tàu ngầm, tuần dương hạm hoặc frigate, 1-2 khu trục hạm, cũng như trên boong tàu sân bay (TSB) có các máy bay loại “Tracker” S-2 – làm nhiệm vụ phát hiện tàu ngầm và trinh sát. Cuộc gặp gỡ các TSB mà từ đó bom được mang đi ném xuống Việt Nam, diễn ra đầu tiên trong thinh không vô tuyến điện.

Các mệnh lệnh điều phối của các TSB cho cất cánh và hạ cánh máy bay được thu bắt trên các thiết bị phù hợp, các thiết bị này lắng nghe trao đổi giữa các phi công trong suốt quá trình chúng thi hành nhiệm vụ tác chiến, trong đó thu được rất nhiều thông tin về chiến thuật sử dụng máy bay chiến đấu của Hoa Kỳ.

Radar dẫn đường và radar hỏa lực của tất cả các loại tàu cũng bị nghe lén. Đài vô tuyến của chúng tôi xác định chính xác các tham số kỹ chiến thuật của các radar trên các mục tiêu mặt nước, mục tiêu dưới mặt nước và mục tiêu trên không trong vòng bán kính 400 dặm (gần 650km).

Phòng không Việt Nam liên tiếp bắn hạ máy bay Mỹ: Tàu trinh sát Hải quân LX góp công lớn - Ảnh 3.

Tháng 10 năm 1970 – tháng 1 năm 1971, tàu trinh sát cỡ nhỏ “Deflektor” đang ở giữa đội hình nhóm xung kích tàu sân bay (AUG) của Hạm đội 7 Hoa Kỳ.

TSB hạt nhân xung kích “Enterprise” mang theo nó 100-120 máy bay F-4 “Phantom”, A-4 “Skyhawk”, A-6A “Intruder”, F-8 “Crusader”. Còn xa tàu chúng tôi, nó đã bị vô tuyến tầm phương xác định cách 2-5 ngày (tùy thuộc vào hệ thống trên TSB là hệ thống như thế nào) trước khi phát hiện được nhau bằng quan sát thị giác.

Việc mỗi TSB thường xuyên có từ 75-90 máy bay và 1,4 kíp bay cho mỗi chiếc đã cho phép người Mỹ duy trì mức độ sử dụng máy bay khá cao và tiến hành được 100-120 phi vụ xuất kích từ một TSB trong một ngày đêm.

Rất thú vị khi ta quan sát toàn bộ các máy bay cất cánh khỏi TSB trong vòng 40-50 phút. Để đảm bảo điều kiện tốt nhất cho máy bay hạ cánh, TSB thường xuyên di chuyển vị trí trên những khoảng cách không lớn.

Các cuộc không kích xuống các mục tiêu tại VNDCCH được tiến hành bởi máy bay từ các TSB thuộc Hải quân, máy bay thuộc Không quân Chiến thuật, và cả máy bay ném bom chiến lược B-52. Các chuyến bay diễn ra trong điều kiện lưới lửa phòng không Việt Nam hoạt động khá hiệu quả, vì vậy máy bay Mỹ đã hứng chịu tổn thất nặng nề.

Trung bình một tháng mỗi TSB xung kích thấy thiếu mất 10-15 máy bay. Sau này do tăng cường áp dụng các biện pháp trinh sát, gây nhiễu tích cực lên các khí tài phòng không Việt Nam đã giúp tỷ lệ tổn thất giảm xuống một chút.

Phương tiện quan trọng duy trì tình thần chiến đấu của phi công các náy bay hoạt động chống VNDCCH, theo ý kiến BCH Mỹ chính là hoạt động cứu hộ do họ tổ chức trong vịnh Bắc Bộ để cứu kíp lái các máy bay bị bắn rơi.

Bằng các chỉ dẫn thích hợp cho các phi công, họ chỉ thị để áp dụng các biện pháp sao cho trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng hướng các máy bay bị thương ra phía biển và nhảy dù trên mặt nước. Phi công có bè tự động làm việc đảm bảo cho anh ta nổi trên mặt biển, có máy phát vô tuyến phát tín hiệu định vị gọi phương tiện cấp cứu.

Phương tiện đó gồm có máy bay cứu hộ, trực thăng và tàu cứu hộ. Một phần trực thăng cứu hộ hoạt động xuất phát từ TSB, số khác từ các tàu khinh hạm và khu trục hạm.

Tổng kết của BCH Mỹ về Chiến tranh Việt Nam không chỉ ghi nhận mặt tích cực của các TSB. Các chuyên gia hải quân Mỹ cho rằng nhược điểm chủ yếu của các TSB xung kích là giá thành khai thác lớn và sự khó khăn trong việc đảm bảo cho hoạt động của chúng.

Một TSB xung kích trong tình trạng không bổ sung vật chất, nước uống, thực phẩm có thể duy trì hoạt động tự chủ trong 90 ngày đêm. Tuy nhiên kinh nghiệm tham gia các chiến dịch quân sự của TSB “Midway” trong khoảng thời gian sáu tháng rưỡi cho thấy nó đã 48 lần bổ sung vật chất dự trữ trên biển.

Có nghĩa là cứ 4-5 ngày một lần tiếp tế, nó đã nhận 8.500 tấn đạn dược, gần 60.000 tấn nhiên liệu tàu biển và 38.000 tấn nhiên liệu máy bay cũng như 1.200 tấn hàng khác. Kíp thủy thủ TSB (khoảng 4200 người) đòi hỏi 9 tấn đồ ăn mỗi ngày đêm.

Phần lớn các tin tức tôi xử lý được lấy từ các băng ghi âm các cuộc đàm thoại của các quân nhân trên các máy bay trong quá trình hoạt động tác chiến. Các điện đài viên của chúng tôi thường xuyên chặn nghe các cuộc đàm thoại của các phi công máy bay B-52 đang thực hiện chuyến bay từ đảo Guam, Okinawa, Thái Lan.

Công tác giải nghĩa bổ sung cũng được ban chỉ huy tàu chúng tôi tiến hành. Các dữ liệu số được lấy từ các tạp chí “Quân sự nước ngoài” những năm 1971-1972.

Phòng không Việt Nam liên tiếp bắn hạ máy bay Mỹ: Tàu trinh sát Hải quân LX góp công lớn - Ảnh 4.

Khu trục hạm số hiệu 805 của Mỹ đi hộ tống TSB, chụp từ tàu trinh sát “Deflektor”.

Những thú vui giải trí của lính Hải quân Liên Xô

Ngoài việc thi hành nhiệm vụ trực tiếp, ngoài giờ trực chúng tôi xem phim, chơi các trò chơi trên bàn, khi thời tiết tốt thì ngắm cảnh biển và câu cá.

Khi vào đến Biển Đông, lũ cá heo luôn bám theo chúng tôi. Chúng tôi bật nhạc trên boong thượng và cá heo bám sát mũi tàu chúng tôi rất lâu. Cá mập cũng thường xuyên đi theo tàu chúng tôi, đặc biệt khi tàu thả trôi.

Đồ ăn thừa chúng tôi quẳng xuống biển và lũ cá mập “lượn vòng số 8” quanh tàu chúng tôi. Người ta đánh bắt cá mực sau khi mặt trời lặn. Người ta thả từ lan can trên boong thượng xuống những chiếc bóng đèn thông thường và dưới ánh sáng đèn lũ mực nhảy tanh tách.

Chúng tôi nhớ mãi cảnh câu cá đầy thú vị ở Biển Đông. Người ta câu được những con cá thu bằng cách thế này – treo miếng thịt vào lưỡi câu, mẩu bánh mì vào dây vải dài 20-25m, trong khoảng một giờ, toàn kíp thủy thủ ai cũng có cá tươi.

Trên Thái Bình Dương có các rạn san hô, tại đây chúng tôi thay quần áo bơi nhẹ rồi tha hồ nhào lộn tắm biển và lấy những mảnh san hô kỳ lạ mà chưa bao giờ được nhìn thấy. Sau đó ta thả chúng vào bình chứa có clo, chúng trở nên trắng toát đẹp đến mê hồn. Thế là ta có được những món trang sức mỹ nghệ tuyệt diệu.

Trong một cuộc hành quân chúng tôi ở đúng điểm “đứt gãy Marian”. Ban chỉ huy tàu cho phép thủy thủ đoàn tắm biển. Chúng tôi thả thuyền cao su, áp dụng tất cả các biện pháp đề phòng. Nước đại dương phía trên thì ấm. Nhưng nếu ta lặn xuống dưới sâu 2-3 m, nước buốt lạnh. Thật sảng khoái khi biết rằng dười thân mình ta là 12 ngàn mét nước.

Nhưng cuộc tắm táp này không kéo dài lâu, thủy thủ trực trên cầu điều hướng phát hiện rắn biển. Khẩu lệnh ban ra “Tất cả lên tàu!“, thế là cuộc tắm biển chấm dứt. Bác sĩ trên tàu chúng tôi, thượng úy Granovsky cho biết lũ rắn biển đó cực độc.

Tôi nhớ đến một cuộc gặp gỡ trong vịnh Bắc Bộ vào ngày 9 tháng 5 năm 1968. Đi qua cách chúng tôi khoảng 2-3 kabelt là TSB Mỹ “Kitty Hawk”, họ bật tiếp xúc vô tuyến trên boong tàu và nói bằng một giọng Nga trọ trẹ: “Chào các anh bạn trên tàu thủy thân mến! Chúc mừng các cậu nhân Ngày Chiến thắng!”. Thuyền trưởng của chúng tôi cũng chúc mừng lại họ.

Phòng không Việt Nam liên tiếp bắn hạ máy bay Mỹ: Tàu trinh sát Hải quân LX góp công lớn - Ảnh 5.

S-2 Tracker chụp từ tàu trinh sát “Deflektor”.

Sau đó một chiếc trực thăng từ TSB bay tới, lượn trên đầu chúng tôi chụp ảnh và thả một trái pháo khói, Cạnh trái pháo khói là một vật gì đó quấn trong một màng bọc, hóa ra đó là một hộp cát-sét có nhạc và những bài hát, trên đó ghi dòng chữ: “Tặng các thủy thủ Xô viết món quà của các phi công tư bản chủ nghĩa!”.

Dù chúng tôi có ý thức hệ khác nhau nhưng con người vẫn là con người và chúng tôi chúc mừng nhau với sự hiểu biết.

Thật dễ chịu khi được ngắm biển lặng với tất cả những vẻ đẹp của nó nhưng không phải lúc nào biển cũng như vậy. Thỉnh thoảng biển lại nổi loạn, những con sóng cao đến 15 m nối tiếp nhau trùm lên con tàu; bão biển kèm theo gió mạnh và mưa; hay khi vào mùa lạnh – con tàu bị đóng băng.

Trong trường hợp đó mỗi thủy thủ phải hành động một cách hợp lý và chuẩn xác để có thể hoàn thành nhiệm vụ trong hoàn cảnh nguy hiểm, không mạo hiểm mạng sống và chinh phục được tự nhiên. Việc di chuyển trên boong chỉ có một số giới hạn các quân nhân, các đai lưng bảo hiểm mà chúng tôi đeo được gắn vào cáp và việc di chuyển chỉ thực hiện dọc theo đường cáp.

Với lòng kính trọng, tôi nhớ đến những người mình đã tiếp xúc trong quá trình phục vụ, họ đã thể hiện sự bền bỉ và bản lĩnh tự chủ trong các điều kiện nặng nề. Đó là thuyền trưởng Thiếu tá Valery Nikolaevitch Voroshilov, trợ lý chính Đại úy Khoroshikh, thuyền phó chính trị V.Kudlas, các hoa tiêu Beketov và Dolghikh, trưởng ngành VTĐ Đại úy hải quân Agafonov,…

Tôi muốn ghi nhận sự quan tâm của Đảng và Chính phủ với công việc phục vụ của chúng tôi. Năm 1965 Chủ tịch đoàn chủ tịch Xô Viết Tối cao Liên Xô N.Podgorny đến Vladivostok, khi người ta báo cáo cho ông biết về các nhiệm vụ mà các tàu trinh sát của Lữ đoàn 38 thực hiện thì ông rất hài lòng và hỏi bộ chỉ huy lữ đoàn xem còn những vấn đề nào chưa được giải quyết.

Do đồ ăn chưa phải là thứ tốt nhất, N.V.Podgornyi đã giúp đỡ để chuyển cho chúng tôi khẩu phần ăn của thủy thủ tàu ngầm.

Cuối chiến dịch một con tàu khác đến thay phiên chúng tôi với cùng nhiệm vụ như vậy. Sau khi về đến bến cảng căn cứ kết thúc chuyến đi biển, chúng tôi đi nghỉ ở nhà an dưỡng, sau hai tháng chúng tôi lại lên đường thực hiện chiến dịch đi biển kế tiếp.

Ekaterinburg năm 2008

Thượng sỹ hải quân Kurilo Evgheny Konstantinovich

Sinh ngày 20 tháng 1 năm 1947 tại làng Bezvodnoie, huyện Volkovysennoie, tỉnh Grodno, Cộng hòa Xô Viết XHCN Belorussia. Tốt nghiệp phổ thông năm 1963. Từ năm 1963 làm việc tại đơn vị hòm thư 79 thuộc thành phố Sverdlovsk. Tháng 11 năm 1966 được gọi phục vụ quân đội từ khu đội Kirov thành phố Sverdovsk.

Đầu tiên phục vụ tại đảo Russky đơn vị quân đội 70024, tại Trường Vô tuyến điện theo chuyên ngành điện đài viên OSNAZ, sau đó được phái đến đơn vị quân đội 20858.

Đã được thưởng huy hiệu “Vì chuyến hành quân xa”. Thực hiện nhiệm vụ chiến đấu ở Biển Đông từ ngày 01.07.1967 đến 03.12.1969 trong lãnh hải Việt Nam.

Là chiến sĩ ưu tú của Hải quân Xô Viết. Chuyên viên hạng 1. Sau khi giải ngũ thôi phục vụ Hải quân đã làm việc tại nhà máy “Elektroavtomatika” và các xí nghiệp khác nhau tại thành phố Sverdlovsk sau đó nghỉ hưu.

theo Thời đại

Advertisements
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Post navigation

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

w

Connecting to %s

Create a free website or blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: