Daily Archives: March 18, 2018

Quan hệ Mỹ – Việt: Lòng tin và quyền lợi

Quan hệ Mỹ – Việt: Lòng tin và quyền lợi

Bàn tới lịch sử của Cuộc chiến Việt Nam và kinh nghiệm bang giao với Mỹ, cần nhớ lại và mở một dấu ngoặc về “bài học” cũ của Việt Nam Cộng Hòa.

Sự kiện Hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson tới thăm Việt Nam đầu tháng 3/2018 được quốc tế chú ýBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionSự kiện Hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson tới thăm Việt Nam đầu tháng 3/2018 được quốc tế chú ý

Viết về hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson cập cảng Tiên Sa ở Đà Nẵng, báo Lao Động thuật lại việc ông Timothy Liston, Phó Tổng Lãnh sự Mỹ tại Sài Gòn lên thăm tàu và bế một cậu bé để cùng vỗ tay với những người bạn nhỏ.

Họ cùng hoà ca bài “Trái đất này là của chúng mình”. Câu hát “màu da nào cũng quý cũng yêu” như chính thông điệp của cuộc gặp gỡ.

Tờ báo dẫn lời ông Liston về nỗ lực xây dựng niềm tin giữa hai nước khi ông nói: “Không chỉ có con tàu, chúng tôi đến để xây dựng lòng tin.”

Nghe câu này, chắc nhiều người có thể phản hồi và đặt câu hỏi “nhưng liệu Việt Nam có tin được Mỹ hay không?”

Đây cũng là câu hỏi của chính Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đặt ra cho Mỹ vào tháng Ba, 1975 (xem cuốn Khi Đồng Minh Tháo Chạy, chương 9).

Lệnh rút khỏi Huế của Tổng thống Thiệu

Nixon đã cản trở hòa đàm ở Việt Nam thế nào?

Lịch sử có nợ gì Tướng Dương Văn Minh?

Chỉ có quyền lợi là vĩnh viễn

Như chúng tôi đã có dịp bình luận: câu trả lời là “tin được nếu” niềm tin ấy được xây dựng trên căn bản chắc chắn và bền vững là Quyền lợi chung của cả hai nước.

Tôi thật ấn tượng về câu nói của ông Henry John Palmerston, cựu Thủ tướng Anh nói tại Quốc Hội nước này ngày 1 tháng 3 năm 1848:

“Nước Anh không có đồng minh vĩnh cửu, và chúng ta cũng chẳng có kẻ thù vĩnh viễn. Quyền lợi của chúng ta mới là vĩnh viễn và vĩnh cửu.”

Trong những thập niên 1950-60, vì quyền lợi của Mỹ đòi hỏi phải ngăn chặn Trung Quốc tràn xuống Biển Đông nên Mỹ nhảy vào Việt Nam.

Đến năm 1972 Nixon-Kissinger hòa hoãn được với TQ vì Kissinger nói với Mao và Chu khi bay qua Bắc Kinh là Mỹ sẵn sàng ký thỏa hiệp để ra đi khỏi Việt Nam và nếu sau khi chúng tôi đã ra đi vài năm mà Cộng sản tiến tới chiếm trọn Miền Nam Việt Nam thì Mỹ cũng không trở lại nữa.

Tin rằng Mỹ sẽ không trở lại nên TQ biến thành bạn và hành động ra vẻ như không còn đe dọa Mỹ ở Biển Đông nữa, để còn được hưởng những ân huệ lớn lao của Mỹ.

Khi Trung Quốc trở thành bạn rồi thì Mỹ không còn lý do gì để đổ xương máu tiếp tục ở Miền Nam Việt Nam, cho nên đã bỏ Miền Nam không thương tiếc.

Một trong những bài học rút ra từ cuộc chiến là như thế này: Mỹ nhảy vào Việt Nam không phải là để “bảo vệ tự do của nhân dân Miền Nam” như Washington luôn luôn tuyên bố (và nhân dân Miền Nam luôn luôn tin tưởng) mà là để bảo vệ Quyền lợi của chính Mỹ.

Trên boong tàu USS Carl Vinson

Cho nên sau khi ông Nixon bắt tay được với ông Mao thì quyền lợi của Mỹ không còn đòi hỏi phải có một “tiền đồn” để chống Trung Quốc ở Biển Đông nữa: mở cửa Bắc Kinh đóng cửa Sài Gòn đơn giản là như vậy.

Hai ông Nixon-Kissinger đã hùng hồn biện hộ cho Trung Quốc khi Kissinger soạn bài cho Tổng thống Nixon trả lời Quốc Hội Hoa Kỳ rằng:

“Trung quốc và Hoa Kỳ chia sẻ nhiều quyền lợi song hành và có thể cùng nhau hành động để làm cho đời sống của nhân dân hai nước thêm phong phú.”

‘Cuộc chiến Anh-Mỹ’ về cách đánh ở VN

Nam Bắc Hàn và Cuộc chiến Việt Nam

Bình Nhưỡng từng bắn hạ máy bay Mỹ thời Nixon

Nhưng lịch sử đã diễn ra ngược lại: sau 40 năm ru ngủ được Mỹ, hứa hẹn sẽ tuân hành các quy tắc của luật kinh tế thị trường để Mỹ chấp thuận cho TQ vào WTO (Tổ Chức Thương Mại Toàn Cầu) giúp sản xuất và bán thật nhiều hàng qua Mỹ và thị trường thế giới, TQ đã làm giàu quá nhanh, trở thành cường quốc kinh tế số hai.

Vì Trung Quốc cạnh tranh bất chính với Mỹ, không tuân thủ các quy luật thị trường cho nên bây giờ nhiều người Mỹ tiếc rẻ đã cho Trung Quốc vào WTO, giúp nước này mạnh đủ để ra mặt chống Mỹ.

Nixon-Kissinger đã sai lầm mà cho rằng quyền lợi của Mỹ đi đối với quyền lợi của TQ vì nước này đã thành bạn đồng phường của Mỹ (Kissinger quá siêu trong việc thuyết phục Nixon về điểm này).

Hoa Kỳ đang hối tiếc?

Bây giờ Mỹ rất hối tiêc về sự sai lầm ấy. Và Kissinger phải chịu trách nhiệm rất lớn cho sự sai lầm này cùng những thiệt hại to lớn của nước Mỹ về địa chính trị và chiến lược toàn cầu.

Hải quân Mỹ -Việt giao lưuBản quyền hình ảnhUS NAVY
Image captionGiao lưu hải quân Mỹ – Việt nhân sự kiện các tàu chiến Hoa Kỳ tới Đà Nẵng đầu tháng 3/2018

Mỹ bừng tỉnh nhưng đã quá muộn! Dù sao “better late than never:” (thà rằng muộn còn hơn là không bao giờ), Mỹ phải gấp rút xoay trục về Biển Đông.

Và khi muốn quay về Biển Đông thì Mỹ rất cần Việt Nam vì đây là “địa điểm chiến lược quan trọng nhất” như Bộ Ngoại Giao đã phân tích ngay từ năm 1950 (xem ‘Khi Đồng Minh Nhảy Vào,’ chương 3).

Một điều chắc chắn: đó là từ nay, sẽ không bao giờ Trung Quốc bỏ tham vọng đẩy Mỹ ra khỏi Biển Đông, rồi ra khỏi Tây Thái Bình Dương, rồi khỏi các đại dương khác.

Cho nên vì quyền lợi an ninh lãnh thổ của chính mình, Mỹ sẽ không bao giờ phạm phải lầm lỗi lần thứ hai là tháo chạy khỏi Biển Đông nữa.

Tại sao Trung Quốc sẽ không bao giờ ngừng đẩy Mỹ ra khỏi Biển Đông để rút về tới bờ California?

Lý do là vì Bắc Kinh đã đặt ra một mục tiêu chiến lược bí mật và quan trọng nhất: đó là tới năm 2049 khi kỷ niệm 100 năm thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, nước này sẽ thay thế Mỹ để trở thành cường quốc số một trên thế giới.

Tác giả nổi tiếng về Trung Quốc, ông Michael Pillsbury đã ra cuốn sách ‘The Hundred Year Marathon’ (Cuộc chạy đua 100 năm – xuất bản năm 2015) làm thức tỉnh các nhà chiến lược Mỹ.

Pillsbury là một chuyên gia về Trung Quốc đã từng làm việc với tất cả các tổng thống Hoa Kỳ kể từ thời Nixon, và như ông viết, “tôi đã có thể có nhiều thông tin của các cơ sở tình báo và quân sự của Trung Quốc hơn bất kỳ người phương Tây nào khác”.

Ông viết:

“Từ hàng thập kỷ nay, chính phủ Hoa Kỳ đã quá hào phóng, trao thật nhiều thông tin, công nghệ, bí quyết quân sự, thông tin tình báo và những lời cố vấn về các khía cạnh chuyên môn cho người Trung Quốc. Thật vậy, rất nhiều điều đã được cung cấp và cung cấp quá lâu. . . không thể có kế toán đầy đủ được về việc này! Và những gì chúng ta đã không đưa cho người Trung Quốc, thì họ đã ăn cắp.”

USS Carl VinsonBản quyền hình ảnhUS NAVY
Image captionGS Nguyễn Tiến Hưng: “Mỹ sẽ phải luôn luôn việc tập trung vào chiến lược ‘chặn lại tham vọng của Trung Quốc.”

Tất cả chỉ để phục vụ cho tham vọng trở thành siêu cường số một để thay thế cho Mỹ khi Trung Quốc kỷ niệm 100 năm ngày ông Mao Trạch Đông tiến vào Bắc Kinh.

Chỉ còn 31 năm nữa là tới năm 2049 cho nên từ nay Mỹ sẽ phải luôn luôn việc tập trung vào chiến lược ‘chặn lại tham vọng của TQ.’ Vì vậy mới có kế hoạch điều động tới 60% của hải lực Mỹ về Thái Bình Dương vào năm 2020.

Tất cả 14 Tổng thống Mỹ kể từ Harry Truman tới Donald Trump đều muốn duy trì vai trò lãnh đạo số một của nước Mỹ trên thế giới này – một vai trò phát xuất từ sau Thế Chiến 2, nhưng 13 ông trước chỉ nói úp úp mở mở.

Tới thời ông Trump – một con người bộc trực , bị coi là đồng bóng – thì ông thẳng thừng đưa ra chính sách “America First” – không chỉ có nghĩa là dành mọi ưu tiên kinh tế, thương mại, nhập cư để phục vụ quyền lợi vật chất của người Mỹ mà nó còn có một ý nghĩa chiến lược sâu xa: ông Trump muốn vãn hồi vai trò lãnh đạo của Mỹ vốn đã phai mờ đi trong thập niên vừa qua.

Lập trường này làm cho tất cả các đồng minh đều nhìn vào Trump với con mắt nghi ngờ.

Nhưng Washington đồn rằng Trung Quốc rất e ngại tính “đồng bóng” ấy của Tổng thống Trump, nhất là vì họ biết rằng về hải lực thì Trung Quốc còn thua Mỹ quá xa về mọi mặt: từ chiến hạm, tầu ngầm, hàng không mẫu hạm tới kinh nghiệm hải chiến, không chiến nên không có đòn bẩy răn đe là bao nhiêu đối với Mỹ.

Khi ông Trump ân cần tiếp đón ông Tập Cận Bình ở Florida ngay từ đầu nhiệm kỳ, và ông Tập nghênh tiếp ông Trump hết sức linh đình ở Bắc Kinh, ngược hẳn với việc đón tiếp cựu Tổng thống Barack Obama đầu tháng 11/2017, dư luận cho rằng Mỹ và Trung Quốc sẽ tiến lại gần nhau hơn nữa.

Nhưng chỉ bốn tháng sau chuyến đi, dư luận đã giật mình khi nghe tin ông Trump thông báo sẽ đánh thuế thép 25% và nhôm 10% – chủ yếu nhắm vào Trung Quốc vì nước này đã xuyên qua nhiều nước để lợi dụng những kẽ hở của WTO, APEC, NAFTA gián tiếp nhập thép, nhôm vào Mỹ – việc mà ông Trump gọi là “trans-shipment” (thực ra là re-export).

Đằng sau lệnh tăng thuế chính là ông Peter Navarro, một ngôi sao đang sáng lên ở Tòa Bạch Ốc. Navarro nổi tiếng về lập trường chống Bắc Kinh. Cuốn sách của ông “Death By China” (Chết bởi tay Trung Quốc) đã giúp vào việc đánh thức nước Mỹ và được ông Trump đặc biệt chú ý. Navarro cáo buộc Trung Quốc đã “biến thành kẻ sát nhân hiệu quả nhất trên hành hành tinh này.” (nguyên văn: “turning into the planet’s most efficient assassin”).

Navarro đang thuyết phục Trump áp dụng thêm những biện pháp chế tài đối với vi phạm của Trung Quốc về quyền sở hữu trí tuệ. Rồi tới hai biện pháp khác: ngăn chặn Bắc Kinh ép buộc các công ty Mỹ phải chuyển giao công nghệ cho các đối tác, và ngăn chặn các công ty quốc doanh Trung Quốc (doanh nghiệp nhà nước) mua lại các công ty của Hoa Kỳ.

Tàu Liêu NinhBản quyền hình ảnhAFP/GETTY IMAGES
Image captionHàng không mẫu hạm Liêu Ninh của Trung Quốc trong một lần đến Hong Kong

Vậy ta có thể kết luận rằng ít nhất trong Thế kỷ 21 quyền lợi của Mỹ ở Biển Đông đi song hành và trực tiếp với quyền lợi của Việt Nam.

Việt Nam là địa điểm chiến lược quan trọng nhất ở Biển Đông, nhưng đồng thời, cái vị thế ấy luôn đặt nước này vào cái thế gọng kìm giữa các cường quốc.

Hơn nữa Việt Nam lại nằm sát cạnh Trung Quốc nên áp lực của Trung Quốc rất là mạnh mẽ. Vì vậy có lẽ Việt Nam không còn một con đường nào khác ngoài chiến lược cân bằng (“đu dây”) giữa hai cường quốc để sống còn.

Tuy nhiên vì áp lực của Trung Quốc càng ngày càng gia tăng nhanh – một cách nguy hiểm – cho nên chính cái chiến lược cân bằng lại là lý do thúc đẩy Việt Nam nên gần Mỹ hơn để lấy lại và duy trì thế cân bằng.

Những lý do để tin được Hoa Kỳ

Vì vậy, có khả năng là quan hệ Việt – Mỹ sẽ sớm tiến tới “đối tác chiến lược toàn diện” – trở thành quan hệ thứ tư sau ba quan hệ Việt – Nga, Việt – Trung và Việt -Ấn.

Nếu như vậy thì Việt Nam có cả ba cường quốc: Nga, Ấn và Mỹ để đối đầu với Trung Quốc.

Sự lo ngại còn lại của Việt Nam là: Việt Nam Cộng Hòa từng là đồng minh thân thiết như vậy mà còn bị bỏ rơi thì nước Việt Nam hiện nay làm sao có quan hệ tốt bằng được? Nếu Việt Nam nghiêng về Mỹ thì có chắc chắn không, hay Mỹ Trung lại bắt tay nhau thì Việt Nam lại bị bỏ rơi?

Đây là câu hỏi thật chính đáng, nhưng phân tích lịch sử cho kỹ và nhìn vào bối cảnh ngày nay thì thấy Việt Nam không cần phải e ngại. Đó là vì ba lý do:

Thứ nhất, vấn đề bỏ rơi không đặt ra vì hai hoàn cảnh lịch sử khác hẳn nhau: trước đây, vì vấn đề kinh tế khó khăn (cảnh nghèo sau 10 năm Chiến tranh Đông Dương 1945-1955) VNCH phải lệ thuộc vào Mỹ hầu như hoàn toàn cả về quân sự lẫn kinh tế (xem KDMTC, Chương 19).

Mậu Thân: ‘Cái chết ám ảnh’ trước Dinh Độc Lập

Trận Mậu Thân: ‘Chúng tôi cố tránh tổn thất cho dân’

30 tháng Tư: Ngày hòa bình

Trong thực tế, VNCH trở thành “client state” (quốc gia lệ thuộc) và Mỹ thành “patron state” (quốc gia bảo trợ). VN ngày nay đã hoàn toàn tự lập, còn xuất siêu sang Mỹ tới trên $38 tỷ (2017). Về quân sự thì VN cũng đã có một lực lượng đáng kể và sẵn sàng bỏ tiền ra mua khí giới, kể cả của Mỹ.

Trong dịp TT Trump thăm viếng Hà Nội, VN đã đặt $10 tỷ mua hàng của Mỹ (hy vọng cán cân thương mại Mỹ – Việt năm 2018 sẽ giảm xuống còn – $30 tỷ).

Thứ hai, chắc chắn rằng Mỹ sẽ không bao giờ yêu cầu VN cho đóng quân hay duy trì căn cứ quân sự lâu dài. Vì vậy Mỹ sẽ không phải đổ máu và tốn kém tiền bạc như trong ‘Vietnam War’ cho nên dân chúng Mỹ không chống đối, ngược lại còn ủng hộ việc Mỹ nối tay với Việt Nam để chống Trung Quốc;

Thứ ba, như đề cập trên đây, ngày trước Mỹ xây tiền đồn chống Trung Quốc ở Miền Nam vì Trung Quốc đe dọa quyền lợi an ninh của mình ở Biển Đông.

Vì vậy, khi hòa hoãn được với Trung Quốc thì Mỹ sai lầm mà tưởng rằng hiểm họa Trung Quốc đã chấm dứt cho nên rút khỏi Miền Nam và ra khỏi Biển Đông. Bây giờ thì Mỹ hối tiếc vì nhận thức rằng: trong Thế kỷ 21, Trung Quốc còn đe dọa Mỹ gấp mấy lần như đã đe dọa trong Thế Kỷ 20.

Phó Đô đốc Phillip G. Sawyer, Tư lệnh Hạm đội 7 của Hải quân Mỹ, chào đón các quan chức Việt Nam sau khi hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson cập cảng Đà Nẵng hôm 5/3/2018.Bản quyền hình ảnhLINH PHAM/AFP/GETTY IMAGES
Image captionPhó Đô đốc Phillip G. Sawyer, Tư lệnh Hạm đội 7 của Hải quân Mỹ, chào đón các quan chức Việt Nam sau khi hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson cập cảng Đà Nẵng hôm 5/3/2018.

Việc Tổng thống Trump vừa chỉ định Giám đốc CIA Mike Pompeo thay thế Ngoại trưởng Rex Tillerson – theo Jim Cramer từ CNCB bình luận là để gửi một thông điệp gây sửng sốt cho Trung Quốc: “Các ông là kẻ thù của chúng tôi.” Pompeo cho rằng Trung Quốc là kẻ thù cả về tinh thần lẫn vật chất.

Khi Việt-Mỹ đi tới đối tác chiến lược toàn diện, Việt Nam sẽ có nhiều lợi ích vì “toàn diện” bao gồm cả an ninh cả kinh tế. Về an ninh quốc phòng, khi có hàng không mẫu hạm Mỹ ra vào Đà Nẵng và chiến hạm, tàu ngầm Mỹ ra vào Cam Ranh, tất nhiên Trung Quốc sẽ phải cân nhắc cho thật kỹ khi muốn gây hấn với Việt Nam – thí dụ như khi Trung Quốc tính toán để gây thảm hại ở Trường Sa lần thứ hai?

Dĩ nhiên là về mặt chính sách, Việt Nam cũng phải để cho hàng không mẫu hạm của mọi quốc gia ra vào Đà Nẵng tự do như Mỹ, nhưng trong thực tế, Trung Quốc chỉ có một con tàu cũ Liêu Ninh – mua lại của Ukraine – thì ra vào để làm gì?

Về kinh tế, thì thị trường Mỹ – hiện đã là thị trường để Việt Nam xuất cảng nhiều nhất – sẽ mở rộng ra thêm nữa cho Việt Nam với những lợi ích về đầu tư, kỹ thuật, thông tin, và ưu đãi về thuế nhập cảng, như thép, nhôm – miễn là không phải xuất xứ từ Trung Quốc.

Dĩ nhiên là Mỹ cũng sẽ yêu cầu Việt Nam nhập thêm hàng Mỹ giúp cho cán cân thương mại bớt chênh lệch.

Từ Thế Chiến 2, chưa có nước nào trên thế giới này từ Đức, Pháp, Anh, Ý tới Trung Quốc, Nhật Bản, Nam Hàn, Đài Loan, Singapore, Thái Lan giàu mạnh lên được mà không nhờ thị trường Mỹ.

Mặt khác, qua cuộc chiến biên giới Việt-Trung năm 1979 và việc TQ gây thảm sát trên đảo Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa năm 1988, cùng với việc Chủ tịch Mao – người đã cáo buộc “Chủ nghĩa đế quốc Mỹ là kẻ thù hung ác nhất của nhân loại” đã ôm thật chặt Nixon năm 1972, Việt Nam cũng đã thấy rõ ràng rằng Trung Quốc chẳng có bạn vĩnh cửu, và cũng chẳng có thù vĩnh viễn. Quyền lợi của Trung Quốc mới là vĩnh viễn và vĩnh cửu.

Cách ứng xử của Việt Nam đang phản ánh sự thay đổi trong nhận thức như thế.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, tiến sỹ Nguyễn Tiến Hưng, Cựu Tổng trưởng Kế hoạch VNCH từ năm 1973 đến 1975, phụ tá về tái thiết của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Hiện định cư tại Hoa Kỳ, ông đã xuất bản các cuốn sách Khi Đồng minh tháo chạy (2005) và Khi Đồng minh nhảy vào (2016).

Xem bài cùng tác giả:

30/04: Những xui xẻo định mệnh của VNCH

Đà Nẵng và các bước ngoặt chiến lược của Mỹ

30/04: Những xui xẻo định mệnh của VNCH

‘The Vietnam War’ và khi Hoa Kỳ vào VN

Advertisements
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Ngậm miệng ăn tiền!

Ngậm miệng ăn tiền!

Điệp Mỹ Linh (Danlambao) – Được tin Hàng Không Mẫu Hạm USS Carl Vinson của Hải Quân Mỹ đến Đà Nẵng ngày March 5-2018, tôi cúi mặt, lặng yên, lòng dâng lên vời vợi một nỗi buồn! Lẽ nào đảng và người Cộng Sản Việt Nam (C.S.V.N.) gây ra cuộc chiến tương tàn, từ 1954 đến 1975, làm thiệt hại nhân mạng hơn 2 triệu thường dân – cả Nam lẫn Bắc Việt Nam; hơn 1 triệu quân của đảng C.S.V.N., bộ đội cụ Hồ; từ 200 ngàn cho đến 250 ngàn quân nhân miền Nam Việt Nam; chưa kể số thương vong của quân nhân Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi, Đại Hàn, cố vấn Trung Cộng, v.v… chỉ để đánh cho Mỹ cút; nay Mỹ trở lại!
Mỹ trở lại Việt Nam làm cho chàng-láng-giềng-tham-lam-tàn-ác-Trung-Cộng khó chịu bao nhiêu thì sự kiện Mỹ trở lại Việt Nam cũng làm cho tôi xót xa bấy nhiêu!
Không xót xa sao được khi mà – sau khi Mỹ rút quân – đảng và người C. S. V. N. đã trút tất cả oán thù, uất hận trên hình tinh này xuống thân phận người miền Nam chúng tôi!
Thời kháng chiến chống Tây, ông Hồ Chí Minh đã ra lệnh thủ tiêu các nhà cách mạng không cùng chí hướng với ông. Sau hiệp định đình chiến Genève, 1954, ông Hồ Chí Minh theo lệnh của Trung Cộng, hô hào đảng và người C.S.V.N. phải tận diệt người miền Nam chúng tôi – vì chúng tôi không theo Cộng Sản!
Thế thì tại sao đảng và người C.S.V.N. lại thù hận chúng tôi? Chúng tôi không khởi động cuộc chiến 1954-1975. Chúng tôi không vượt sông Bến Hải ra Bắc để tấn công người C.S.V.N.. Chính người C.S.V.N. đã “xẻ Trường Sơn” khắc vào người “sinh Bắc tử Nam” để vào Nam khủng bố, bắn giết chúng tôi thì chúng tôi phải tự vệ. Dù chúng tôi chỉ tự vệ thì đảng và người C.S.V.N. cũng đừng nên hảo huyền mà tuyên truyền rằng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (V.N.C.H.) thua cuộc!
Khi trả lời phỏng vấn của phóng viên Huy Tâm – thuộc Hệ Thống Truyền Thông Việt Nam Hải Ngoại – Điệp Mỹ Linh đã xác định: “Người Lính và Quân Lực V.N.C.H. chưa bao giờ thua bộ đội Cộng Sản Bắc Việt tại chiến trường mà chính quyền miền Nam đã thua C.S.V.N. tại bàn hội nghị – vì sự tráo trở, gian manh, lật lọng của C.S.V.N.!
 
Tháng Ba 1975, lệnh rút quân khỏi Cao Nguyên, rồi lệnh rút quân khỏi Vùng I và Vùng II Chiến Thuật. 
 
Sáng 30-04-1975, ông Dương Văn Minh đầu hàng và ra lệnh người Lính V.N.C.H. buông súng! 
 
Vào thời điểm nghiệt ngã như vậy, người Lính V.N.C.H. làm được gì khi vũ khí và đạn dược không được tiếp tế – vì Mỹ đã rút quân từ năm 1973, trong khi bộ đội cụ Hồ, đảng C.S.V.N. thì vẫn nhận được sự viện trợ vũ khí, đạn dược từ Trung Cộng và Nga – mà lệnh đầu hàng lại đến từ vị chỉ huy tối cao, Tổng Tư Lệnh Dương Văn Minh? Sự thật là như vậy. Tài liệu và phim ảnh còn đó.
 
Tôi nhận thấy, vị thế của người Lính V.N.C.H. vào ngày 30 tháng 04 năm 1975 không khác chi vị thế của quân đội Nhật vào thời điểm sau khi chính phủ Nhật Bản ký văn kiện đầu hàng trên chiến hạm USS Missouri tại Tokyo Bay, vào mùa Hạ năm 1945!…” 
Trong cuộc chiến Mỹ-Nhật, vào thời đệ II Thế Chiến, Mỹ là kẻ chiến thắng thật sự; vì Mỹ chiến đấu đơn độc chứ Mỹ không hề nhờ cậy, lệ thuộc vào sự giúp đỡ của bất cứ một đồng minh nào cả. Thế mà, sống ngay trên đất nước Hoa Kỳ 43 năm, tôi chưa hề thấy chính phủ Mỹ, nhân dân Hoa Kỳ tổ chức kỷ niệm ngày Mỹ chiến thắng Nhật Bản!
Vì Hoa Kỳ xử sự cao thượng như thế cho nên giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản mới có được sự giao hảo tốt đẹp, bền vững suốt nhiều thập niên qua.
Trong khi kẻ thắng trận có văn hóa, có đạo đức – như Hoa Kỳ – đối xử với người thua trận như thế thì đảng và người C.S.V.N., tự phong là kẻ “giải phóng” miền Nam, lại chỉ chờ đến Tết hoặc ngày 30 tháng Tư mỗi năm, tổ chức mừng chiến thắng rất linh đình, “hoành tráng” để “đâm” vào vết thương không bao giờ lành trong lòng người dân miền Nam và cũng để tự xoa dịu mặc cảm tự ty của chính người C.S.V.N., bộ đội cụ Hồ!
Ai muốn biết mặc cảm tự ty của người C.S.V.N., bộ đội cụ Hồ là gì và như thế nào, xin mời xem lại hình ảnh ngày 30-04-1975 – ngày “đàn bò về thành phố”. (1)
Người miền Nam chúng tôi không cần đảng và người C.S.V.N. phải đối xử với chúng tôi một cách cao thượng như người Mỹ đối với người Nhật. Người miền Nam chúng tôi chỉ ước chi người C.S.V.N. bớt đi sự tàn ác, dã man – mà người C.S.V.N. đã hành xử đối với hơn 300 ngàn sĩ quan, công chức miền Nam trong các trại tù cải tạo, sau 30-04-1975 – thì ngày nay, thái độ của người Việt di tản đối với đảng và “nhà nước” C.S.V.N. có thể không như bây giờ.
Bây giờ người C.S.V.N. kêu gọi chúng tôi hãy khép lại quá khứ. Cái quá khứ tàn khốc do người C.S.V.N. gây nên, nếu chỉ xảy ra cho cá nhân chúng tôi thì chúng tôi có thể tự nhân danh chúng tôi để khép lại vết thương sâu thẳm đó. Đằng này, cái quá khứ khốc liệt, tàn ác của đảng và người C.S.V.N. lại trút lên số phận những người thân yêu của chúng tôi thì chúng tôi lấy danh nghĩa gì mà tha thứ cho đảng và người C.S.V.N.? Nếu chúng tôi quên đi tình ruột thịt mà tha thứ cho đảng và người C.S.V.N. thì chúng tôi cũng sẽ giống như người C.S.V.N. – nghĩa là chúng tôi sẽ không còn là những người có lương tri nữa!
Giả thử chúng tôi cao thượng, tạm thời khép lại quá khứ thù hận. Nhưng cứ đến ngày kỵ dỗ những người thân yêu trong gia đình chúng tôi thì đảng và người C.S.V.N. lại tổ chức ăn mừng, ca hát, nhảy múa, tuyên truyền, lên án, xuyên tạc, đổ tội những người thân yêu của chúng tôi thì cái quá khứ tàn ác, khốc liệt mà người Cộng Sản đã dành cho gia đình chúng tôi có thể xóa mờ được hay không?
Viết đến đây, tôi nhận được youtube về Hàng Không Mẫu Hạm Carl Vinson vừa đến Đà Nẵng. Mở youtube, nghe tiếng guitars dạo vài notes, tôi biết ngay Hải Quân Mỹ “chơi” trò tâm lý chiến. Khi nữ thủy thủ Emily Kerhaw hát đến câu: “…Ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà…anh em ta về… gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng…”, tôi tắt youtube!
Tôi tự hỏi, có cơn bão nào – dù là giông bão, bão cát – đem đến an bình cho vạn vật trên quả địa cầu này hay không? Dĩ nhiên là không! Anh chị em gặp nhau vui mừng mà như “bão cát quay cuồng” thì hãi hùng, kinh khiếp quá chứ tốt đẹp gì, hạnh phúc gì! Và sự hãi hùng, kinh khiếp quả thật đã đến với người miền Nam chúng tôi, sau khi bộ đội cụ Hồ, người C.S.V.N. cưỡng chiếm miền Nam! Thế thì nhạc phẩm Nối Vòng Tay Lớn là lời tiên tri hay là lời nguyền rủa của Trịnh Công Sơn dành cho người miền Nam?
Tôi xót xa nhận ra rằng: Dù tiên tri hay nguyền rủa thì cũng chính sự tự do nhân bản của miền Nam đã giúp cho một nhạc sĩ thiên Cộng như Trịnh Công Sơn có đời sống an nhàn, khỏi phải đi lính như hầu hết thanh niên miền Nam, để Trịnh Công Sơn sáng tác những tác phẩm nói lên nỗi khao khát của anh ta.
Nỗi khao khát của Trịnh Công Sơn thể hiện rõ nét nhất trong bốn câu cuối của nhạc khúc Nối Vòng Tay Lớn: “…Từ Bắc vô Nam nối liền nắm tay. Ta đi từ đồng hoang vu vượt hết núi đồi. Vượt thác cheo leo, tay ta vượt đèo, từ quê nghèo lên phố lớn, nắm tay nối liền biển xanh sông gấm nối liền một vòng tử sinh.” 
Ngày 30-04-1975, nỗi khao khát của Trịnh Công Sơn trở thành hiện thực. Và – cũng chính trong ngày 30-04-1975 – Trịnh Công Sơn ôm đàn đến đài phát thanh ca vang: “…Vượt thác cheo leo…vượt đèo, từ quê nghèo lên phố lớn…” để chào mừng “bên thắng cuộc”. Nhưng, sau đó, không hiểu tại sao, Trịnh Công Sơn lại bị “bên thắng cuộc” đày đi kinh tế mới. Khi bị bệnh nặng, được “bên thắng cuộc” hứa cho đi ngoại quốc chữa bệnh, Trịnh Công Sơn từ chối – đây là lòng tự trọng cao cả cuối đời của một nghệ sĩ lạc lối!
Viết ngang đây, tôi lại nhận được youtube về bài Nối Vòng Tay Lớn được viết lời ca khác. Lời ca “mới” này thể hiện trọn vẹn hình ảnh của bộ đội cụ Hồ, người C.S.V.N. và hoàn cảnh của gia đình “Ngụy” quân, “Ngụy” quyền sau khi miền Nam bị bức tử: “Từ Bắc vô Nam đi bằng dép râu, hai tay cầm sợi giây gai để bắt con cầy…Thành phố tới thôn xa kêu gào, chẳng biết kiếm đâu ra hạc gạo, toàn là mì với bo bo…Từ Bắc vô Nam muôn người oán than, công an là bọn lưu manh khủng bố dân lành. Nhà nước tham ô, nhân dân đói nghèo. Làng thôn tràn lên phố lớn, dắt nhau ăn mày vì đâu nên nổi, cũng vì một bọn Cộng nô!”. (2)
Đây không phải là lần đầu tiên tôi nghe đảng và người C.S.V.N. bị người dân chế diễu một cách chính xác, cay đắng như vậy. Lúc còn bé, cùng gia đình ra “vùng giải phóng” để Ba tôi thực hiện ước nguyện chống Tây, tôi đã nghe trẻ em hát như thế này: “Tuốt gươm thiêng vung cho nước nhà, khiến ông bà mang gói tản cư. Hồ Chí Minh lai căn, Hồ Chí Minh! Làm cho máu thấm ướt nước Nam. Hồ Chí Minh lai căn, Hồ Chí Minh! Làm cho nước Việt Nam tan hoang!…” (3) Sau này, đủ hiểu biết, tôi hỏi Ba tôi, làm thế nào lũ trẻ em ngây thơ chất phác ngày đó lại có thể “tiên đoán” những điềm “ghê gớm” như vậy? Ba tôi cười hiền hòa, bảo, thành phần trí thức miền Nam thoát ly ra “vùng giải phóng” – sau khi nhận thức được sự trá hình của Việt Minh và ông Hồ Chí Minh – đã đổi lời ca như thế chứ trẻ em làm thế nào hiểu “lai căn, máu thấm nước Nam, nước Việt Nam tan hoang” là nghĩa gì mà tiên đoán!
Trong cuộc chiến 1954-1975, máu của gần 04 triệu người đã đổ trên Quê Hương Việt Nam; số lượng máu vỹ đại đó không “thấm ướt nước Nam” thì thấm vào nước nào? Việt Nam không “tan hoang” dưới gót dày của Trung Cộng thì Trung Cộng đang làm gì trên đất nước Việt Nam – từ Bắc chí Nam, từ cao nguyên xuống đồng bằng? Những cứ điểm biệt lập của Trung Cộng dùng vào mục đích gì?
Ngoài việc làm tan hoang đất nước, đảng và người C.S.V.N. còn tạo ra nhiều điều tệ hại chứng tỏ sự hèn hạ, thiếu tư cách của những nhà lãnh đạo đảng.
Sự hèn hạ to lớn nhất của đảng và người C.S.V.N. là: Chính người C.S.V.N., bộ đội cụ Hồ đã xâm phạm hiệp ước hưu chiến vào Tết Mậu Thân để tàn sát gần sáu ngàn thường dân ở Huế mà đảng và người C.S.V.N. không dám nhận lỗi, lại đổ tội cho Mỹ Ngụy! Không những thế, từ đó, năm nào đảng và người C.S.V.N. cũng chờ đến Tết để tổ chức tưng bừng “chiến thắng Mậu Thân”.
Chiến thắng cái nỗi gì mà – trong trận Tết Mậu Thân – khi thấy Thủy Quân Lục Chiến, Nhảy Dù, Biệt Động Quân của Quân Lực V.N.C.H. được tăng cường để tái chiếm các cứ điểm do bộ đội C.S.V.N chiếm cứ thì bộ đội C.S.V.N. “dông ba tê, chém vè” nhanh hơn… sóc!
Cái hèn thứ hai của ban lãnh đạo C.S.V.N. là: Khi Hàng Không Mẫu Hạm USS Carl Vinson đến Đà Nẵng, có đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông Daniel Kritenbrink và Đô Đốc Scott Swift – Tư Lệnh Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ – trên Hàng Không Mẫu Hạm thì toàn ban lãnh đạo của đảng và “nhà nước” C.S.V.N. “trốn mất biệt”; chỉ vì ban lãnh đạo, “nhà nước” C.S.V.N. không dám làm mếch lòng chàng-láng-giềng-tham-lam-tàn-ác-Trung- Cộng! Cái hèn này làm nhục Quốc thể!
Cái hèn thứ ba của ban lãnh dạo C.S.V.N. là, năm 2017, công ty khí đốt – Repsol – của Tây Ban Nha, đã ký hợp đồng với Việt Nam để thăm dò dầu khí; nhưng khi chàng-láng-giềng-tham-lam-tàn-ác-Trung-Cộng dọa Việt Nam rằng: Nếu Việt Nam để Repsol thăm dò dầu khí thì Trung Cộng sẽ đánh các căn cứ quân sự của Việt Nam tại Trường Sa. Thế là ban lãnh đạo C.S.V.N…. run, xóa hợp đồng với Repsol!
Cái hèn thứ tư của ban lãnh đạo C.S.V.N. là, vào những dịp lễ tưởng niệm, nếu biết được địa điểm dân chúng sẽ tề tựu để biểu tình phản đối Trung Cộng, đảng, “nhà nước” C.S.V.N. thì đảng và người C.S.V.N. ra lệnh cho dư-luận-viên đưa vợ, bồ nhí đến địa điểm đó, nhảy đầm để choáng chỗ!
Vào ngày Lễ Hoàng Sa năm nay, Trung Cộng đã thâm độc đưa đoàn biểu diễn nghệ thuật Nội Mông sang Việt Nam để rầm rộ trình diễn vào tối 19/01 tại thủ đô Hà Nội – như một hình thức ăn mừng chiến thắng Hoàng Sa năm 1974 – để người Việt Nam ham vui, quên đi ngày Trung Cộng chiếm Hoàng Sa! Khi bị dân chúng và dư luận lên án nặng nề, ban tổ chức đành phải hủy bỏ đêm trình diễn của Nội Mông.
Riêng dịp tưởng niệm 64 tử sĩ Gạc Ma, năm nay, một nhóm nhỏ gồm 20 nhà hoạt động có mặt ở khu vực tượng đài vào khoảng 9 sáng ngày 14/3/18 để tiến hành lễ tưởng niệm thì công an Cộng Sản xuất hiện, mời về đồn công an “làm việc”!
Từ sự hèn hạ của ban lãnh đạo C.S.V.N. tôi liên tưởng đến một tấm ảnh rất đẹp, rất ý nghĩa, chụp hôm đám tang của đại tá nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông. Ngay trước ngôi nhà của đại tá Nguyễn Văn Đông, rất nhiều người – có cả công an C.S.V.N. mặc sắc phục, đội mũ “kết” – đứng dọc hai bên đường. Khi quan tài của đại tá Nguyễn Văn Đông vừa được đưa ra khỏi nhà thì… thật bất ngờ, nhóm thường dân đứng bên phải của ngôi nhà vội đưa tay lên chào kính theo kiểu nhà binh! Sau này tôi mới biết nhóm thường dân chào kính cố đại tá Nguyễn Văn Đông là nhóm cựu Thiếu Sinh Quân.
Nhìn tấm ảnh nhóm cựu Thiếu Sinh Quân V.N.C.H. chào kính, tiễn đưa một sĩ quan cao cấp, một nhân tài của V.N.C.H., tự dưng nước mắt của tôi lăn dài! Tôi tự biết, tôi không khóc vì nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông qua đời; vì – dù rất thích và cũng đã từng đàn, từng hát nhạc của Ông – tôi chưa được hân hạnh gặp, quen với Ông. Tôi khóc vì tôi xúc động trước sự can đảm của nhóm Thiếu Sinh Quân đang sống trong lòng địch và đứng ngay trước mặt công an Cộng Sản mà nhóm Thiếu Sinh Quân này cũng vẫn không biết sợ, vẫn cứ chào kính một sĩ quan đàn anh. Tư cách, cử chỉ của nhóm Thiếu Sinh Quân hôm tang lễ của đại tá Nguyễn Văn Đông hơn hẳn tư cách của ban lãnh đạo C.S.V.N.; và cử chỉ của nhóm Thiếu Sinh Quân này cũng đã thể hiện rất rõ nét về tác phong của người Lính V.N.C.H. cũng như về đạo đức của nền giáo dục dưới chính thể V.N.C.H.!
Việt Nam là đất nước của người Việt Nam thì nhà cầm quyền của Việt Nam muốn mời ai, cho phép ai đến thăm là quyền của nhà cầm quyền Việt Nam; chàng-láng-giềng-tham-lam-tàn-ác-Trung-Cộng không có thẩm quyền gì để tỏ thái độ về chuyện riêng tư của nhà cầm quyền Việt Nam! Nhưng chợt nhớ ra lý do thầm kín khiến chàng-láng-giềng-tham-lam-tàn-ác-Trung-Cộng nổi giận khi thấy ban lãnh đạo đảng C.S.V.N. tỏ thái độ hòa nhã với Mỹ – “kẻ thù xưa” của đảng và người C.S.V.N. – tôi cay đắng nhận ra lý do toàn ban lãnh đạo của đảng và nhà nước C.S.V.N. “trốn mất biệt” là…đúng!
Tôi gọi là “lý do thầm kín” nhưng thật ra lịch sử và thực tế đã hiển hiện rõ ràng, ai tinh ý cũng có thể thấy được.
Ngược dòng lịch sử, kể từ khi ông Hồ Chí Minh du nhập vào Việt Nam lý thuyết Cộng Sản thì đảng và người C.S.V.N. chỉ biết “tuân thủ” theo ý muốn của đàn anh Trung Cộng. Từ cải cách ruộng đất đến khởi động cuộc chiến 1954-1975 để anh em nhà Việt Nam giết nhau; rồi chiến thuật “biển người” để thiêu rụi người Việt càng nhanh càng tốt; rồi trại cải tạo để hủy diệt tinh hoa, nhân tài, trí thức người Việt; rồi cho Trung Cộng xuất cảng sang Việt Nam thực phẩm có chứa hóa chất độc hại, v.v…
Sau khi thiêu rụi gần 04 triệu người Việt trong cuộc chiến và đuổi ra biển cả triệu người Việt, Trung Cộng bắt đầu từng phần, từng phần, đặt nền móng ngay trong lòng Quê Hương Việt Nam.
Người Việt Nam đau đớn khi thấy Formosa xả chất thải độc hại ra biển, làm cá chết ngập bờ, ảnh hưởng nặng nề đến môi trường sống, thì ban lãnh đạo C.S.V.N. kéo nhau xuống biển Vũng Áng tắm… giàn cảnh để trấn an người Việt. Còn những địa điểm chiến thuật quân sự quan trọng của Việt Nam đã bị Trung Cộng đặt cứ điểm – mà Trung Cộng dựng bảng “cấm người Việt lai vãng” – thì ban lãnh đạo C.S.V.N. có dám đến hay không? Người Việt Nam nào có thể biết được bên trong những cứ điểm này Trung Cộng xây dựng bao nhiêu hầm bí mật, bao nhiêu hệ thống ra-đa tối tân để theo dõi mọi động tịnh quân sự của Việt Nam – trong đất liền, ngoài biển khơi, trên bầu trời?
Chính những cứ điểm chiến lược này của Trung Cộng khiến cho ban lãnh đạo C.S.V.N. không dám “nhúc nhích” – vì ban lãnh đạo C.S.V.N. tự biết họ đã “rơi” vào âm mưu thâm độc của chàng-láng-giềng-tham-lam-tàn-ác-Trung-Cộng rồi! Nhưng đảng và người C.S.V.N. không thể nào thoát được nanh vuốt của Trung Cộng; vì những số tiền kếch xù và vàng ròng mà Trung Cộng đã trả cho ban lãnh đạo C.S.V.N. khi ký hợp đồng thuê đất – trên Quê Hương Việt Nam – ban lãnh đạo C.S.V.N. đã chia nhau cả rồi! Sau đó, các vị trong ban lãnh đạo C.S.V.N. mạnh ai nấy gửi con sang Mỹ và các quốc gia Tây phương du học, mua bất động sản ở ngoại quốc, gửi tiền, vàng vào ngân hàng thế giới, xây dinh thự cho “em chân dài”, xây nghĩa trang “hoành tráng”, v.v… Thế thì, giả dụ như Trung Cộng bảo: “Trả tiền và vàng lại cho tui, tui sẽ rút về Tàu” thì tiền, vàng ròng ở đâu mà ban lãnh đạo C.S.V.N. trả lại cho Trung Cộng?
Ngoài số-tiền-không-thể-đếm-nổi và vàng-ròng-không-thể-cân-đo do Trung Cộng trả cho đảng và người C.S.V.N. để thuê đất của Việt Nam, đảng và người C.S.V.N. còn nợ Trung Cộng món tiền “khổng lồ” khác: Đó là số vũ khí, quân dụng – được Trung Cộng tính thành tiền, vàng – và số cố vấn, quân nhân mà Trung Cộng đã cung cấp cho C.S.V.N. từ trận Điện Biên Phủ và suốt cuộc chiến hơn 20 năm để người C.S.V.N. vào miền Nam tận diệt người đồng chủng!
Vì thế, ban lãnh đạo C.S.V.N. chỉ còn cách duy nhất – mà bao thập niên qua đảng và ban lãnh đạo C.S.V.N. vẫn âm thầm thi hành – là cúi đầu vâng lệnh quan thầy Trung Cộng!
Ban lãnh đạo C.S.V.N. đã “rơi” đúng vào vị thế mà Ông Bà mình thường bảo: “Ăn xôi chùa, ngậm miệng!” hay là “ngậm miệng ăn tiền!”
Dã tâm và sự hèn hạ của đảng và người C.S.V.N. khi đón tiếp Hàng Không Mẫu Hạm Carl Vinson làm cho tôi buồn và xấu hổ bao nhiêu thì khi nhìn những khuôn mặt vui tươi, hớn hở, thân thiện của người Việt và thủy thủ đoàn của Hàng Không Mẫu Hạm Carl Vinson, lòng tôi cũng cảm thấy nhẹ nhàng, an nhiên, thơ thới bấy nhiêu!
Suốt nhiều thập niên qua, bị đảng và người C.S.V.N. tuyên truyền, đầu độc rằng Mỹ là “đế quốc xâm lược”, nhưng cuối cùng – lần Tổng Thống Obama đến Việt Nam và bây giờ Hàng Không Mẫu Hạm USS Carl Vinson đến Đà Nẵng – người Việt Nam trong nước cũng nhận ra được, giữa Mỹ và Trung Cộng, ai mới là bạn và ai là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt Nam!
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Tin tặc Trung Quốc điên cuồng săn ‘thông tin Biển Đông’ từ Mỹ của Mỹ hòng lấy các thông tin liên quan tới vấn đề Biển Đông. Đô đốc Mỹ tố Trung Quốc xây đến 7 căn cứ quân sự ở Biển Đông Hải quân Mỹ cứ tuần tra Biển Đông bất chấp Trung Quốc Trung Quốc giải thích tăng ngân sách quốc phòng vì Biển Đông và Đài Loan Tin tặc Trung Quốc điên cuồng săn ‘thông tin Biển Đông’ từ Mỹ – Ảnh 1. Một tàu cá mang cờ Trung Quốc hoạt động gần tàu tuần duyên của nước này ở bãi cạn Scarborough đang tranh chấp chủ quyền với Philippines – Ảnh: REUTERS Các tin tặc Trung Quốc thời gian qua đã liên tục tấn công nhằm vào các công ty công nghệ và quốc phòng của Mỹ có liên quan tới tranh chấp chủ quyền ở biển Đông, theo hãng tin Bloomberg. Thông tin này được công ty an ninh mạng FireEye có trụ sở tại California (Mỹ) tiết lộ ngày 16-3. Theo FireEye, nhóm tin tặc Trung Quốc này có tên TEMP.Periscope, dường như đang moi móc các thông tin có lợi cho chính phủ Trung Quốc. Ông Fred Plan – nhà phân tích cao cấp tại FireEye, cho biết các tin tặc Trung Quốc tập trung lực lượng tấn công vào các cơ quan hàng hải của Mỹ. Những cơ quan này hoặc có liên quan tới Biển Đông hoặc có khách hàng đang hoạt động ở Biển Đông. “Họ truy tìm các dữ liệu có thể được sử dụng cho mục đích chiến lược. Do đó, dạng tin tặc này có liên quan tới gián điệp nhà nước. Một công ty tư nhân có lẽ sẽ không thu được lợi lộc gì từ loại dữ liệu bị đánh cắp” – chuyên gia Plan đánh giá. Vị này cho biết các tin tặc nhóm TEMP.Periscope đã tìm kiếm các thông tin thuộc loại như tầm hoạt động của radar, hay một hệ thống (đang trong quá trình được phát triển) có thể phát hiện hoạt động trên biển chính xác bao nhiêu. Các cuộc tấn công mạng của nhóm này được tăng tốc vào tháng trước và hiện đang tiếp diễn. Tin tặc Trung Quốc điên cuồng săn ‘thông tin Biển Đông’ từ Mỹ – Ảnh 2. Bắc Kinh được cho là đã đổ bộn tiền để đầu tư xây dựng lực lượng tin tặc hùng hậu – Ảnh: AFP Các vụ tấn công mới nhất được tiến hành bằng nhiều kỹ thuật, trong đó có Spear Phishing, theo ông Plan. Đây là phương thức tấn công lừa đảo nhằm tìm cách chiếm mật khẩu hay các thông tin nhạy cảm của một tổ chức bằng cách gửi thư điện tử giả, dẫn người dùng tới các trang web độc hại hoặc tải về máy tính tập tin có mã độc. Mặc dù FireEye cho biết các cuộc tấn công này đến từ Trung Quốc, nhưng công ty an ninh mạng Mỹ không xác nhận bất cứ liên quan nào tới các cơ quan chính phủ Trung Quốc. FireEye cũng từ chối nêu tên các mục tiêu bị tấn công. Công ty này cho biết hầu hết các cơ quan bị tấn công nằm ở Mỹ. Tuy nhiên, cũng có một số tổ chức ở châu Âu và ít nhất một tổ chức tại Hong Kong bị ảnh hưởng. Trong một báo cáo riêng biệt, FireEye cho biết các văn phòng chính phủ, các cơ quan truyền thông và học thuật cũng bị tấn công, bên cạnh các công ty công nghệ và quốc phòng. Ông Plan từ chối bình luận liệu Hải quân Mỹ cũng nằm trong số những mục tiêu này hay không. Căn cứ vào loại tổ chức bị nhắm đến, rất có khả năng TEMP.Periscope đang hoạt động thay mặt một văn phòng chính phủ” Ông Fred Plan – nhà phân tích cao cấp tại FireEye nhận định Bộ Ngoại giao Trung Quốc hiện chưa đưa ra phản hồi trước yêu cầu bình luận được gửi vào hôm nay (16-3). Theo ông Plan, các dữ liệu được tìm thấy trong các vụ tấn công mạng gần nhất có thể được dùng cho các mục đích chẳng hạn xác định một tàu đã tiếp cận một thực thể địa lý được bao xa. “Trường hợp này chắc chắn cho thấy họ có thể dùng các dữ liệu đánh cắp phục vụ quá trình ra các quyết định chiến lược” – nhà phân tích của FireEye giải thích thêm. Hải quân Mỹ thời gian qua đã điều các tàu tới biển Đông để tiến hành hoạt động tự do hàng hải (FONOPs). Các lần tuần tra này được cho là nhằm thách thức các yêu sách chủ quyền phi lý của Trung Quốc ở biển Đông cũng như hoạt động xây đảo nhân tạo trái phép của Bắc Kinh trong khu vực. Trước đây, Trung Quốc từng dính dáng trong nhiều vụ tấn công khác liên quan tới vấn đề Biển Đông. Hồi năm 2015, trong suốt thời gian điều trần liên quan tới vụ kiện của Philippines, các tin tặc Trung Quốc đã tấn công, cài mã độc lên trang web của Tòa Trọng tài thường trực (PCA) ở The Hague (Hà Lan). Úc đòi chơi đúng luật quốc tế ở Biển Đông TTO – Úc lại lên tiếng can dự vào vấn đề tranh chấp ở Biển Đông, trong đó kêu gọi phải tuân thủ luật quốc tế để giải quyết những căng thẳng trong khu vực.

Tin tặc Trung Quốc điên cuồng săn ‘thông tin Biển Đông’ từ Mỹ - Ảnh 1.

Một tàu cá mang cờ Trung Quốc hoạt động gần tàu tuần duyên của nước này ở bãi cạn Scarborough đang tranh chấp chủ quyền với Philippines – Ảnh: REUTERS

Các tin tặc Trung Quốc thời gian qua đã liên tục tấn công nhằm vào các công ty công nghệ và quốc phòng của Mỹ có liên quan tới tranh chấp chủ quyền ở biển Đông, theo hãng tin Bloomberg.

Thông tin này được công ty an ninh mạng FireEye có trụ sở tại California (Mỹ) tiết lộ ngày 16-3.  Theo FireEye, nhóm tin tặc Trung Quốc này có tên TEMP.Periscope, dường như đang moi móc các thông tin có lợi cho chính phủ Trung Quốc.

Ông Fred Plan – nhà phân tích cao cấp tại FireEye, cho biết các tin tặc Trung Quốc tập trung lực lượng tấn công vào các cơ quan hàng hải của Mỹ. Những cơ quan này hoặc có liên quan tới Biển Đông hoặc có khách hàng đang hoạt động ở Biển Đông.

“Họ truy tìm các dữ liệu có thể được sử dụng cho mục đích chiến lược. Do đó, dạng tin tặc này có liên quan tới gián điệp nhà nước. Một công ty tư nhân có lẽ sẽ không thu được lợi lộc gì từ loại dữ liệu bị đánh cắp” – chuyên gia Plan đánh giá.

Vị này cho biết các tin tặc nhóm TEMP.Periscope đã tìm kiếm các thông tin thuộc loại như tầm hoạt động của radar, hay một hệ thống (đang trong quá trình được phát triển) có thể phát hiện hoạt động trên biển chính xác bao nhiêu.

Các cuộc tấn công mạng của nhóm này được tăng tốc vào tháng trước và hiện đang tiếp diễn.

Tin tặc Trung Quốc điên cuồng săn ‘thông tin Biển Đông’ từ Mỹ - Ảnh 2.

Bắc Kinh được cho là đã đổ bộn tiền để đầu tư xây dựng lực lượng tin tặc hùng hậu – Ảnh: AFP

Các vụ tấn công mới nhất được tiến hành bằng nhiều kỹ thuật, trong đó có Spear Phishing, theo ông Plan.

Đây là phương thức tấn công lừa đảo nhằm tìm cách chiếm mật khẩu hay các thông tin nhạy cảm của một tổ chức bằng cách gửi thư điện tử giả, dẫn người dùng tới các trang web độc hại hoặc tải về máy tính tập tin có mã độc.

Mặc dù FireEye cho biết các cuộc tấn công này đến từ Trung Quốc, nhưng công ty an ninh mạng Mỹ không xác nhận bất cứ liên quan nào tới các cơ quan chính phủ Trung Quốc. FireEye cũng từ chối nêu tên các mục tiêu bị tấn công.

Công ty này cho biết hầu hết các cơ quan bị tấn công nằm ở Mỹ. Tuy nhiên, cũng có một số tổ chức ở châu Âu và ít nhất một tổ chức tại Hong Kong bị ảnh hưởng.

Trong một báo cáo riêng biệt, FireEye cho biết các văn phòng chính phủ, các cơ quan truyền thông và học thuật cũng bị tấn công, bên cạnh các công ty công nghệ và quốc phòng. Ông Plan từ chối bình luận liệu Hải quân Mỹ cũng nằm trong số những mục tiêu này hay không.

Căn cứ vào loại tổ chức bị nhắm đến, rất có khả năng TEMP.Periscope đang hoạt động thay mặt một văn phòng chính phủ”

Ông Fred Plan – nhà phân tích cao cấp tại FireEye nhận định

Bộ Ngoại giao Trung Quốc hiện chưa đưa ra phản hồi trước yêu cầu bình luận được gửi vào hôm nay (16-3).

Theo ông Plan, các dữ liệu được tìm thấy trong các vụ tấn công mạng gần nhất có thể được dùng cho các mục đích chẳng hạn xác định một tàu đã tiếp cận một thực thể địa lý được bao xa. “Trường hợp này chắc chắn cho thấy họ có thể dùng các dữ liệu đánh cắp phục vụ quá trình ra các quyết định chiến lược” – nhà phân tích của FireEye giải thích thêm.

Hải quân Mỹ thời gian qua đã điều các tàu tới biển Đông để tiến hành hoạt động tự do hàng hải (FONOPs). Các lần tuần tra này được cho là nhằm thách thức các yêu sách chủ quyền phi lý của Trung Quốc ở biển Đông cũng như hoạt động xây đảo nhân tạo trái phép của Bắc Kinh trong khu vực.

Trước đây, Trung Quốc từng dính dáng trong nhiều vụ tấn công khác liên quan tới vấn đề Biển Đông. Hồi năm 2015, trong suốt thời gian điều trần liên quan tới vụ kiện của Philippines, các tin tặc Trung Quốc đã tấn công, cài mã độc lên trang web của Tòa Trọng tài thường trực (PCA) ở The Hague (Hà Lan).

Úc đòi chơi đúng luật quốc tế ở Biển Đông

TTO – Úc lại lên tiếng can dự vào vấn đề tranh chấp ở Biển Đông, trong đó kêu gọi phải tuân thủ luật quốc tế để giải quyết những căng thẳng trong khu vực.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Ba Sách Trắng về biển Đông và cuộc đấu tranh ngoại giao kiên cường của Việt Nam

Ba Sách Trắng về biển Đông và cuộc đấu tranh ngoại giao kiên cường của Việt Nam

Hải Võ | 

Ba Sách Trắng về biển Đông và cuộc đấu tranh ngoại giao kiên cường của Việt Nam

Ba cuốn Sách trắng được công bố trong các năm 1979, 1981 và 1988 thể hiện cơ sở pháp lý vững chắc để Việt Nam đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo trước các thế lực xâm lấn.

Ba Sách Trắng về biển Đông và cuộc đấu tranh ngoại giao kiên cường của Việt Nam - Ảnh 1.

Sau khi đô hộ Đông Dương vào cuối thế kỷ 19, Pháp nhân danh triều đình Nguyễn của Việt Nam quản lý hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Trong thập niên 1930, các chiến hạm Pháp như Inconstant, Alerte, La Malicieuse hay De Lanessan được ghi nhận xuất hiện liên tiếp tại quần đảo Hoàng Sa, trong khi quần đảo Trường Sa cũng có lính pháp đồn trú. Các hoạt động này được xác nhận trong Công báo của Pháp vào tháng 7/1933.

Cùng năm 1933, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định đưa quần đảo Trường Sa vào phạm vi quản lý hành chính của tỉnh Bà Rịa, trong khi quần đảo Hoàng Sa được sáp nhập vào tỉnh Thừa Thiên.

Sau thắng lợi của quân Đồng minh trong Thế chiến II, Pháp trở lại Đông Dương và yêu cầu quân đội Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch rút khỏi các đảo mà lực lượng này chiếm trái phép năm 1946. Quân Pháp trở lại đây và xây dựng các trạm khí tượng, đài vô tuyến…

Tại Hội nghị San Francisco được tổ chức để bàn về việc ký Hòa ước hòa bình với Nhật Bản vào đầu tháng 9/1951, đề xuất “trao trả” hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc đã được nêu ra, song bị hội nghị bác bỏ với tỉ lệ áp đảo: 46/50 phiếu.

Ba Sách Trắng về biển Đông và cuộc đấu tranh ngoại giao kiên cường của Việt Nam - Ảnh 2.

Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai. Ảnh: Sovfoto/Getty

Kết quả này cho thấy Bắc Kinh đã không đạt được mục đích của mình, cho dù trong “Tuyên bố về Hội nghị San Francisco và Dự thảo hòa ước giữa Anh-Mỹ đối với Nhật Bản” vào ngày 15/8/1951, hơn nửa tháng trước Hội nghị, thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã cố lồng vào những tuyên bố vô căn cứ về chủ quyền với Hoàng Sa và Trường Sa

Trong khi đó, phái đoàn Chính phủ Quốc gia Việt Nam dự Hội nghị, do ngoại trưởng Trần Văn Hữu dẫn đầu, không vấp phải sự phản đối nào khi khẳng định chủ quyền truyền thống của người Việt đối với hai quần đảo này.

Đến năm 1956, Pháp chuyển giao lãnh thổ miền Nam Việt Nam cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa (VNCH). Chính quyền này đã đưa lực lượng tiếp quản, đồn trú, tổ chức đơn vị hành chính trên hai quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa, cũng như duy trì các cơ sở khí tượng mà Pháp để lại.

Trong giai đoạn phức tạp khi các bên thực thi hiệp định Geneve (ký năm 1954), Trung Quốc đã bí mật chiếm đóng trái phép các đảo phía đông Hoàng Sa vào năm 1956. Năm 1959, 82 “ngư dân” Trung Quốc – trên thực tế là các binh sĩ cải trang – bị quân đội VNCH bắt giữ khi định xâm nhập các đảo phía tây của Hoàng Sa.

Năm 1974, Trung Quốc huy động không quân, hải quân tấn công xâm lược và chiếm nhóm đảo phía tây quần đảo Hoàng Sa.

Bước sang năm 1975, sau chiến thắng Buôn Mê Thuột, thời cơ chiến lược để giải phóng miền Nam – bao gồm các đảo và các quần đảo Trường Sa, Côn Lôn, Phú Quốc… – đã đến. Ngày 5/4/1975, Bộ Tư lệnh Hải quân Nhân dân Việt Nam triển khai kế hoạch tiếp quản quần đảo Trường Sa.

Ngay trước thềm 30/4/1975 lịch sử, trong 16 ngày (13-28/4), các lực lượng của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã tiếp quản các đảo do VNCH nắm giữ đóng giữ và đóng giữ các đảo cùng một số vị trí khác ở quần đảo Trường Sa. Ngày 5/6, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Đến tháng 7/1976, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa 6 – được bầu ngày 25/4/1976 – thông qua quyết định đổi tên nước thành CHXHCN Việt Nam. Như vậy, Nhà nước CHXHCN Việt Nam cò toàn bộ quyền, nghĩa vụ quản lý và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ba Sách Trắng về biển Đông và cuộc đấu tranh ngoại giao kiên cường của Việt Nam - Ảnh 3.

Trong tư liệu lịch sử do Nhân dân Nhật báo – cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản Trung Quốc – cung cấp, chiến lược về biển Đông của Bắc Kinh trong thập niên 1970-80 được mô tả là “tự vệ giới hạn kết hợp với tuyên bố chủ quyền”, thường được đề cập cùng với sự kiện xâm chiếm Hoàng Sa năm 1974 và Trường Sa năm 1988.

1978-1988 là giai đoạn Trung Quốc bắt đầu cải cách mở cửa dưới sự lãnh đạo của Đặng Tiểu Bình. Đi kèm chính sách mở cửa là các hoạt động tuyên truyền sai trái của họ trên bình diện ngoại giao.

Trong 10 năm này, Bộ ngoại giao Trung Quốc nhiều lần rêu rao về “chủ quyền” đối với các đảo trên biển Đông, bao gồm quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, thậm chí quay sang vu khống việc Việt Nam thực hiện quyền-nghĩa vụ hợp pháp ở các quần đảo của mình là “xâm chiếm các đảo của Trung Quốc và ký thỏa thuận khai khoáng với Liên Xô nhằm cướp đoạt tài nguyên dầu khí của Trung Quốc”.

Năm 1987, Hội nghị lần thứ 14 Ủy ban hải dương học của các nước trong tổ chức Văn hóa Khoa học Giáo dục Liên Hợp Quốc (UNESCO) họp tại Paris, thông qua “Kế hoạch đo đạc mặt biển toàn cầu”.

Bắc Kinh đã chớp cơ hội này để “nhận” xây dựng 5 trạm quan trắc biển, một trong số đó là Trạm số 74 ở Trường Sa. Bắc Kinh khởi công vào tháng 1/1988 và đến ngày 14/3 thì các tàu chiến Trung Quốc gây ra vụ xâm lược đá Gạc Ma – nơi 64 chiến sĩ Việt Nam hy sinh anh dũng khi bảo vệ chủ quyền biển đảo.

Ba Sách Trắng về biển Đông và cuộc đấu tranh ngoại giao kiên cường của Việt Nam - Ảnh 4.

Trung Quốc gây ra vụ xâm lược đá Gạc Ma. Ảnh tư liệu

Trong suốt nửa sau thập niên 1970 và cả thập niên 1980, Việt Nam đã đấu tranh ngoan cường trên mặt trận ngoại giao và không ngừng củng cố cơ sở pháp lý để bảo vệ chủ quyền trên cơ sở luật pháp quốc tế trước chính sách “cả vú lấp miệng em” của Bắc Kinh trên trường quốc tế.

Vào năm 1979, 1981 và 1988, Bộ Ngoại giao nước ta đã công bố ba cuốn Sách Trắng về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các tài liệu này chứng minh hết sức rõ ràng chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam trên hai quần đảo, cả về lịch sử, pháp lý và thực tiễn.

Sách Trắng đầu tiên, được Bộ Ngoại giao công bố ngày 28/9/1979 có tiêu đề “Chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa’’, giới thiệu 19 tài liệu về chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo.

Ngày 30/1/1980, Bộ Ngoại giao Trung Quốc ra văn kiện “Trung Quốc có chủ quyền không tranh cãi đối với quần đảo Tây Sa và Nam Sa”, đi kèm các tư liệu lịch sử, bản đồ, văn vật mà nước này khăng khăng là có thể chứng minh các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa “từ thời cổ đã là lãnh thổ Trung Quốc” – như một động thái đáp trả Sách Trắng của Việt Nam.  Tuy nhiên đến ngày 5/2, Bộ Ngoại giao Việt Nam ra tuyên bố vạch trần thủ đoạn xuyên tạc của Bắc Kinh.

Tháng 12/1981, Bộ Ngoại giao công bố tiếp Sách Trắng “Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, lãnh thổ Việt Nam”.

Tháng 4/1988, Bộ Ngoại giao công bố Sách Trắng “Các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và Luật pháp quốc tế”, sau khi thông báo cho Liên Hợp quốc và gửi nhiều công hàm phản đối đến Bắc Kinh – đặc biệt là các Công hàm ngày 16, 17, 23/3/1988.

Bên cạnh ba Sách Trắng được đông đảo dư luận quốc tế thừa nhận, tại nhiều diễn đàn quốc tế xuyên suốt thập niên 1980, như hội nghị quốc tế về Khí tượng châu Á lần thứ 2 tháng 6/1980; hội nghị Địa chất quốc tế lần thứ 26 tháng 7/1980; Thông tin vô tuyến điện thế giới tháng 1/1983,… Việt Nam đã vạch trần và tố cáo Trung Quốc lợi dụng các diễn đàn để tuyên truyền về cái gọi là chủ quyền của Bắc Kinh đối với Hoàng Sa, Trường Sa, đồng thời khẳng định Việt Nam có đủ cơ sở pháp lý về chủ quyền đối với hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế.

Đặc biệt, tại Hội nghị Hàng không khu vực châu Á – Thái Bình Dương (năm 1983) ở Singapore, Trung Quốc muốn mở rộng vùng thông báo bay (FIR) Quảng Châu lấn vào FIR Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, nhưng đã bị Hội nghị bác bỏ và quyết định duy trì nguyên trạng…

Cho đến nay, 30 năm sau sự kiện Gạc Ma 1988, những văn kiện được công bố đã và đang là những nền tảng vững chắc để khẳng định chủ quyền lâu đời và liên tục của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

theo Thời đại

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Nguy cơ mất trắng nguồn cá ở Biển Đông

Nguy cơ mất trắng nguồn cá ở Biển Đông

  • 4

Hiện nay, nguồn cá ở Biển Đông đã suy giảm đến mức không thể khôi phục trạng thái ban đầu

Nếu không hành động ngay lập tức, chúng ta sẽ mất trắng nguồn lợi hải sản ở Biển Đông. Nhưng những vấn đề như tranh chấp chủ quyền lãnh thổ đang cản trở các nước tiếp giáp hợp tác quản lý tình trạng đánh bắt hải sản trái phép, không báo cáo và không theo quy định (IUU).

Đó là các ý kiến được đưa ra tại Đối thoại biển lần thứ hai về hợp tác nghề cá tại Biển Đông do Học viện Ngoại giao (DAV), Quỹ Konrad Adenauer Stiftung (KAS) của Đức và Đại sứ quán Australia tại Hà Nội tổ chức ngày 15/3.

Phát biểu tại Đối thoại, TS Lê Hải Bình, Phó giám đốc DAV, nói rằng, quản lý nghề cá đang là một trong những vấn đề nóng bỏng nhất ở Biển Đông vì đây là khu vực có sự xung đột lợi ích giữa nhiều quốc gia. Các quốc gia tiếp giáp với Biển Đông cũng là những nước có sản lượng đánh bắt cá lớn nhất trên thế giới.

Vấn đề khai thác quá mức, khai thác bất hợp pháp và sử dụng phương pháp đánh bắt mang tính chất hủy diệt, vượt quá khả năng chịu đựng của môi trường biển hiện nay đã dẫn đến sự suy giảm đáng báo động về nguồn cá ở khu vực. Các nghiên cứu cho thấy, trữ lượng cá ở Biển Đông hiện nay chỉ tương đương 5% nguồn cá ở khu vực của năm 1990.

Với các quốc gia liên quan, đây không chỉ là câu chuyện kinh tế mà còn là vấn đề ổn định chính trị, xã hội, sinh tồn của hàng trăm triệu con người sống dựa vào biển. Thêm vào đó, cá ở Biển Đông liên hệ chặt chẽ với các quyền hợp pháp, nguồn lợi trên biển của các quốc gia trong khu vực, cũng như việc thực thi các công ước quốc tế như UNCLOS 1982. Các quốc gia quanh Biển Đông phải có trách nhiệm bảo vệ các hệ sinh thái biển và môi trường trong khu vực, ông Bình nói.

PGS. TS Vũ Thanh Ca (Tổng cục Biển và hải đảo) chỉ ra một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng nguồn hải sản ở Biển Đông sắp cạn kiệt, trong đó có việc đánh bắt quá mức, gây hủy diệt các rạn san hô.

Một số nghiên cứu đánh giá việc Trung Quốc cải tạo đảo, xây dựng đảo nhân tạo ở một khu vực rộng lớn ngay trung tâm khu vực Biển Đông tác động nghiêm trọng lên các rạn san hô, gây thiệt hại khoảng 5 tỷ USD. Trên thực tế, những tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ trên Biển Đông chưa được giải quyết hiện nay cản trở các nước khu vực hợp tác với nhau để cùng quản lý hoạt động đánh bắt hải sản hiệu quả.

TS Hà Anh Tuấn (Viện Biển Đông thuộc DAV) nói rằng hiện nay, định nghĩa về IUU còn chưa rõ ràng. Các tàu có thể đi vào vùng biển mà nước này tuyên bố có chủ quyền và quyền chủ quyền, nhưng nước khác lại cho rằng đó là vùng biển của họ nên không phải thông báo với nước khác.

Đây là lý do lớn cản trở quản lý IUU trong khu vực. Vừa qua có nhiều thỏa thuận, sáng kiến thúc đẩy quản lý IUU nhưng chưa có sáng kiến nào được triển khai hiệu quả trong khu vực bởi vì các vùng chồng lấn chưa được xác định rõ.

 https://www.tienphong.vn/the-gioi/nguy-co-mat-trang-nguon-ca-o-bien-dong-1250802.tpo

Theo Trúc Quỳnh/Tiền Phong

Ý KIẾN BẠN ĐỌC (4)

  • Liberty K

    Vậy nên thả cá nuôi lại, cấm 5 năm tại vùng đó | Hỗ trợ ngư dân đánh bánh xa bờ | Đóng Tàu thu nhận trực tiếp ngoài biển đỡ ra vô tốn kém | CỨ như vậy mình đánh vùng

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Indonesia kêu gọi các nước ASEAN tuần tra ở Biển Đông

Indonesia kêu gọi các nước ASEAN tuần tra ở Biển Đông

Từ trái qua, Bộ trưởng Quốc phòng Indonesia Ryamizard Ryacudu và Bộ trưởng Ngoại giao Indonesia Retno Marsudi trong cuộc họp báo với Bộ trưởng Ngoại giao Úc Julie Bishop và Bộ trưởng Quốc phòng Úc Marise Payne ở Sydney, Úc, ngày 16 tháng 3, 2018.
Từ trái qua, Bộ trưởng Quốc phòng Indonesia Ryamizard Ryacudu và Bộ trưởng Ngoại giao Indonesia Retno Marsudi trong cuộc họp báo với Bộ trưởng Ngoại giao Úc Julie Bishop và Bộ trưởng Quốc phòng Úc Marise Payne ở Sydney, Úc, ngày 16 tháng 3, 2018.

Indonesia đã vận động các nước Đông Nam Á tiến hành tuần tra hàng hải trong vùng biển Biển Đông có tranh chấp để cải thiện an ninh, Bộ trưởng Quốc phòng Indonesia Ryamizard Ryacudu nói hôm thứ Sáu.

Indonesia nói họ không phải là nước có tuyên bố chủ quyền trong tranh chấp Biển Đông nhưng đã đụng độ với Trung Quốc về quyền đánh bắt quanh quần đảo Natuna, và đã mở rộng sự hiện diện quân sự của mình ở đó. Indonesia cũng đã đổi tên phần rìa phía bắc vùng đặc quyền kinh tế, khẳng định tuyên bố lãnh hải của chính mình.

Bộ trưởng Ngoại giao Úc Julie Bishop và Bộ trưởng Quốc phòng Úc Marise Payne đã hội đàm với hai vị tương nhiệm của Indonesia là Retno Marsudi và Ryacudu tại Sydney, trước một hội nghị thượng đỉnh của Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).

Úc là nước chủ trì hội nghị này, mặc dù không phải là một thành viên của khối, trong khi nước này đang tìm cách thắt chặt quan hệ chính trị và thương mại trong khu vực giữa ảnh hưởng đang gia tăng của Trung Quốc.

“Đối với Biển Đông, tôi đã nêu ý tưởng với các bộ trưởng quốc phòng ASEAN để mỗi nước giáp Biển Đông tuần tra tới 200 hải lý, khoảng 230 km,” ông Ryacudu nói với các phóng viên tại một cuộc họp báo chung.

Indonesia đang tập trung vào ba khu vực, đặc biệt là Biển Sulu, Eo biển Malacca và các vùng biển xung quanh bờ biển của Thái Lan, ông Ryacudu cho biết, nhắc đến sự hợp tác hiện thời với Thái Lan, Malaysia, Singapore, Việt Nam, Campuchia và Philippines.

Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc – nước có tuyên bố chủ quyền rộng lớn nhất ở Biển Đông – tuần trước nói rằng quyết tâm của Trung Quốc bảo vệ hòa bình và ổn định ở Biển Đông là không thể lay chuyển, và rằng các thế lực bên ngoài đang tìm cách làm phức tạp tình hình.

Trung Quốc trước đây đã tức giận về những cuộc tuần tra tự do hàng hải của Mỹ ở Biển Đông và nói rằng chúng mang tính khiêu khích.

Úc – nói rằng họ không đứng về bên nào trong tranh chấp Biển Đông nhưng đã ủng hộ các cuộc tuần tra của Mỹ – trước đây nói rằng họ không có kế hoạch tham gia các cuộc tuần tra chung.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.