Daily Archives: April 12, 2018

Một dân tộc tội tình

Một dân tộc tội tình

Phạm Đình Trọng (Danlambao)

Cô giáo bắt học trò quì
Cha học trò bắt cô giáo quì
Đảng cầm quyền bắt người dân quì
Cả dân tộc mọp gối quì
Trong thời đại Stephen Hawking, loài người đã bay lên khám phá vũ trụ.

Cô giáo chủ nhiệm bắt học trò phải uống nước giặt giẻ lau bảng
Uống thứ nước ô nhiễm đưa bụi phấn độc hại vào cơ thể trẻ thơ
Như đảng cầm quyền bắt người dân Việt Nam phải uống vào hồn học thuyết máu Mác Lê Mao
Học thuyết hủy hoại tính người đã bị cả loài người nguyền rủa.

Đưa học thuyết hận thù đấu tranh giai cấp vào lòng dân tộc
Đảng độc tài chia dân tộc Việt Nam hiền hòa thành giai cấp đối kháng quyết liệt tiêu diệt nhau
Chia dân tộc Việt Nam thành hai trận tuyến trong cuộc chiến tranh ý thức hệ
Cuộc chiến tranh dân tộc với giai cấp
Cuộc chiến tranh quốc gia với cộng sản
Cuộc chiến tranh người Việt cộng sản giết người Việt quốc gia
Cả chục triệu người chết trong chiến trận,
Chết trong ngục tù,
Chết trong bão biển trên đường đi tìm tự do
Cả chục triệu người phải bỏ nước ra đi
Cả dân tộc Việt Nam thua đau trong tang tóc chia li
Để đảng cộng sản chiến thắng ngạo nghễ lập lên nhà nước cộng sản độc tài trung cổ

Học thuyết máu Mác Lê Mao, giữa người với người không có tình yêu, chỉ có hận thù giai cấp
Cơn bão táp hận thù biến thế giới tươi xanh thành lò lửa chiến tranh
Biến dân tộc Việt Nam thương người như thể thương thân
Thành dân tộc tàn bạo
“Giết! Giết nữa! bàn tay không ngơi nghỉ
Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong”*
Con đấu tố cha, vợ đấu tố chồng.

Uống vào hồn học thuyết giai cấp chống lại giống nòi
Đảng cầm quyền coi kẻ thù truyền kiếp cướp đất đai biển đảo của tổ tiên là bạn vàng bốn tốt
Cắt đất biên cương, cắt biển quê hương dâng kẻ thù truyền kiếp nay là bạn vàng cùng ý thức hệ
Đưa cán bộ nguồn sang Bắc Kinh, Tây An thay hồn Việt bằng hồn Hán về lãnh đạo quốc gia

Uống vào hồn học thuyết độc tài
Đảng độc tài cầm quyền coi dân chỉ là bầy chuột bạch
Ném chín mươi triệu Dân – Chuột – Bạch vào cuộc thí nghiệm máu cách mạng xã hội chủ nghĩa
Dù trăm năm sau cũng không biết chủ nghĩa xã hội có hay không.

Uống vào hồn học thuyết ô nhiễm rác rưởi của lịch sử
Đảng độc tài cầm quyền tồn tại bằng bạo lực công an, tòa án, nhà tù
Coi khí phách người dân đòi tự do dân chủ là thế lực thù địch, là âm mưu lật đổ
Đảng độc tài giam cầm khí phách nhân dân trong ngục tù trung cổ

Uống vào hồn học thuyết bạo lực man rợ tối tăm
Tâm địa độc ác tối tăm run sợ trước ánh sáng tri thức, nhân văn
Đảng liền dựng lên những vụ án hoang tưởng để loại bỏ trí thức của dân, loại bỏ hào kiệt của nước
Vụ án Xét lại chống đảng, vụ án Giai Phẩm Nhân Văn
Vụ án động trời, bắt giam cả Bộ trưởng, Trung tướng, Thiếu tướng, nhà báo, nhà văn
Nhưng không có bản án
Vì bản án là bằng chứng để mai sau phán xét kẻ độc tài.
Chỉ có lệnh miệng của bạo quyền độc tài thay bản án
Những trí tuệ của nhân dân, tinh hoa của dân tộc cũng mút mùa tù ngục, mút mùa mang án.
Và những tâm hồn nghệ sĩ cả đời phải mang còng số 8

Cuồng tín bạo lực, đảng độc tài cầm quyền căm thù cả những bản tình ca.
Tống những thanh niên phơi phới tuổi xanh, lãng đãng hồn nghệ sĩ vào ngục tù tăm tối
Với những bản án khắc nghiệt mười năm, mười lâm năm cấm cố
Chỉ vì tội say sưa hát tình ca
Hết hạn tù, người nghệ sĩ hát tình ca bị ném ra đường
Rồi chết thảm ở vỉa hè trong đêm đông mưa phùn gió bấc!

Uống vào hồn học thuyết vô luân mất tính người
Đảng độc tài cầm quyền dửng dưng trước những kiếp người sống mòn lay lắt
Người già ốm đau không có tiền nằm bệnh viện đành về nhà chịu đau chờ chết
Lũ trẻ treo mạng sống trên sợi cáp mỏng manh vượt thác lũ đến trường
Và ngồi học trong những túp lều tranh tuềnh toàng như tấm áo rách tả tơi
Đảng độc tài cầm quyền cứ dửng dưng dốc hàng ngàn tỉ tiền thuế nghèo của dân
Xây mả to, dựng tượng lớn cho những kẻ độc tài đã chết

Cả một dân tộc cúi đầu quì mọp trước quyền uy đảng độc tài cầm quyền
Cả một dân tộc nhắm mắt uống vào hồn học thuyết độc hại ô nhiễm của lịch sử.
Một dân tộc tội tình
Dân tộc đó bao giờ mới ý thức được giá trị làm người
Mới đủ dũng khí đứng lên trong tư thế con người đi cùng thời đại văn minh.
Đi cùng thời đại con người đã vươn lên tầm vũ trụ

*Thơ của nhà thơ cộng sản Tố Hữu

Advertisements
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Biển Đông dậy sóng: Qua cái nhìn của một luật sư Canada gốc Việt

Biển Đông dậy sóng: Qua cái nhìn của một luật sư Canada gốc Việt

I. Dẫn nhập
Để diễn tả cho bức tranh hoành tráng, bao la của núi non cùng biển cả cổ nhân thường cho rằng: “Tam Sơn, Tứ Hải, Nhứt Phần Điền.” Nói như thế ắt người xưa nghĩ rằng nếu quả đất của chúng ta chia ra làm tám phần thì trong đó núi non chiếm hết ba phần, bốn phần là biển cả và chỉ còn lại một phần chúng ta cày cấy được mà thôi.
Ngày nay, khi con người đã đặt chân cho tới cung trăng, sao Hỏa thì việc tính toán về diện tích của địa cầu và sự phân bố của biển cả cũng như núi rừng so với phần đất còn lại dành cho con người sinh sống bằng nông nghiệp ắt không còn là một bài toán mơ hồ khó khăn như lúc trước.
Hãy gạt bỏ vấn đề đúng sai về phương diện tính toán khoa học của câu nói trên. Theo tôi, có lẽ cổ nhân muốn nhắn nhủ lại cho hậu thế rằng cái mà tạo hóa dành cho loài người thật là ít ỏi. Con người muốn tồn tại cần phải đấu tranh và khắc phục thiên nhiên. Chẳng những thế thôi, quả đất của chúng ta không nở rộng thêm ra mà dân số thì tăng lên mãi sau khi đã khấu trừ đi những mất mát bởi lão hóa, thiên tai, nạn dịch, và chiến tranh.
Đất hẹp, người càng ngày càng đông, ngoài sự đấu tranh với thiên nhiên, sự đấu tranh giữa người với người cũng càng thêm gay gắt. Có lẽ bởi đó mà ra tất cả những lý thuyết, chủ nghĩa, giai cấp, nhân danh đều là những chiêu bài để bành trướng quyền tư hữu về đất đai và lợi nhuận.
Khi đấu tranh với thiên nhiên, con người vận dụng trí thông minh để chinh phục cho bằng được những trở lực mà tạo hóa áp đặt, đôi khi con người cũng bị thiên nhiên quật ngã không thương tiếc. Khi đấu tranh giữa người và người nảy sinh thì luật pháp xuất hiện lý giải cho công lý vượt lên phía trước và cho xã hội loài người được thăng hoa.
Công ước Quốc tế về Luật Biển là sự đồng thuận của đa số những quốc gia trên thế giới về những tập tục của quốc tế về Hàng Hải và Đại Dương. Qua đó chủ quyền của những quốc gia cận duyên được xác định trên vùng biển bao bọc xung quanh đất liền hay những hải đảo trực thuộc chủ quyền của quốc gia mình.
Bài viết này bắt đầu bằng sự giám xét nguyên lý tiên khởi của khái niệm về vùng Đặc Quyền Kinh Tế dựa trên quan điểm đóng góp về địa dư và kinh tế của một quốc gia. Vấn đề sẽ được tiếp tục bàn thảo về quyền tài phán của một quốc gia trong vùng Đặc Quyền Kinh Tế. Sau hết chúng tôi sơ lược những án lệ và các học thuyết về hàng hải khi nghiên cứu vấn đề liên quan đến chủ quyền lãnh thổ trong khi bảo vệ những tài nguyên thiên nhiên đối với những hoạt động bất hợp pháp của những cá nhân hay tập thể hay những quốc gia khác trong vùng biển tiếp cận với quốc gia mình.
 
II. Mực nước trên biển thuộc quốc gia cận duyên theo công ước quốc tế
Vùng biển tiếp xúc với đất liền của một quốc gia theo công pháp quốc tế hiện nay thì được chia làm ba vùng rõ rệt.
1. Chúng tôi xin tạm dịch vùng gần đất liền nhất là vùng Nội Hải (Territorial Sea): cách mực nước tại bờ 12 hải lý (dặm biển).
2. Vùng kế tiếp là vùng Tiếp Cận (Contiguous Zone): là vùng giáp ranh với vùng Nội Hải là 12 hải lý, hay nói một cách khác cách bờ 24 dặm biển.
3. Vùng thứ ba rộng lớn hơn, nếu tính từ mức nước tại bờ trở đi là 200 dặm biển, vùng được gọi này là vùng Đặc Quyền Kinh Tế (Exclusive Economic Zone), vùng này bao trùm luôn cả vùng tiếp cận, và nếu bắt đầu đo từ cuối vùng Nội Hải trở đi là 188 dặm.
Trong vùng Đặc Quyền Kinh Tế này, quốc gia có bờ biển tiếp cận được quyền hành xử rộng rãi đối với những tài nguyên thiên nhiên, như khoáng sản, dầu mỏ, ngư trường. Những quốc gia khác chỉ được quyền di chuyển tàu bè, hoặc bay ngang không phận trong vùng hoặc chạy những đường dây cable hay đường ống dẫn dầu trong vùng đặc quyền kinh tế này mà thôi. Căn cứ vào những tập tục và qui ước đó, những quốc gia ven biển được quyền thiết lập quyền hành xử và những biện pháp chế tài đối với những vi phạm trong vùng Đặc Quyền Kinh Tế của họ.
Cho đến giữa thế kỷ 20, tất cả những vùng biển từ 12 dặm, kể từ dấu mé nước tiếp giáp với đất liền, trở đi đều được cho rằng đó là những vùng thuộc hải phận quốc tế, và như vậy không quốc gia nào được quyền cho rằng mình có quyền trên vùng biển đó cả.
III. Lịch sử tiến hoá của vùng đặc quyền kinh tế
Trước năm 1945, tất cả những khiếu nại, tuyên bố về sự độc quyền khai thác ngư trường và khoáng sản trong thềm đại lục của một quốc gia ở mọi cấp độ hay trong phạm trù tiến bộ của khoa học và kỹ thuật được dựa vào những nguyên tắc lịch sử. Luật về biển cả được phát triển một cách có hệ thống cũng bắt đầu vào năm 1948, trong năm đó Hoa Kỳ đầu tiên tuyên bố rằng lãnh hải của quốc gia phải đi kèm với những đặc quyền tương xứng với tiềm năng về quặng mỏ và ngư trường trong vùng biển của nước mình.
A. Tuyên Bố của Truman:
Theo tuyên ngôn Truman của Hoa Kỳ về luật biển, Hoa Kỳ khẳng định rằng tất cả những tài nguyên thiên nhiên nằm trong thềm lục địa của Hoa Kỳ, nằm trong vùng đất dưới lòng biển tiếp giáp với Hoa Kỳ là tài nguyên thuộc Hoa Kỳ và nằm trong sự kiểm soát, chịu sự chi phối của luật lệ Hoa Kỳ. Theo tuyên ngôn này thì chính phủ Hoa Kỳ có toàn quyền trong việc bảo vệ ngư trường của mình dầu ngư trường này có nằm trong vùng hải phận quốc tế đi nữa một khi vùng biển quốc tế này có dính dáng đến những vùng tiếp cận của lãnh hải Hoa Kỳ.
Hoa Kỳ cho rằng trước kia những thỏa ước về ngư nghiệp giữa Hoa Kỳ và những quốc gia khác không đủ bảo vệ ngành cá trong vùng biển xung quanh Hoa Kỳ. Hoa Kỳ tuyên bố có đầy đủ thẩm quyền để gìn giữ và quản lý ngành cá trong những ngư trường mà trước đây ngư dân Hoa Kỳ hoạt động. Những vùng đánh cá nào mà trước đây có sự đánh cá chung chạ giữa ngư dân Hoa Kỳ và những ngư dân của những quốc gia khác sẽ được qui định bảo vệ và quản lý chung giữa hai quốc gia. Nói vậy chứ thật ra Hoa Kỳ chưa thành lập được những thẩm quyền quản lý chung với quốc gia khác như tuyên ngôn này qui định.
B. Tuyên Bố của Những Quốc Gia thuộc Vùng Châu Mỹ La-Tinh:
Năm 1952, Peru, Chile và Ecuador cùng ký tuyên ngôn tại Santiago cho những qui định về lãnh hải. Những quốc gia này cho rằng những quốc gia tiếp cận với biển có chủ quyền và có đầy đủ thẩm quyền tài phán trong vùng biển tiếp cận với quốc gia mình trong tầm không quá 200 hải lý. Ba quốc gia trên vừa tuyên bố xong thì một số lớn các quốc gia trong vùng Nam Mỹ Châu hò lên hưởng ứng và tuyên bố rằng họ có đầy đủ chủ quyền trên thềm lục địa và trên vùng biển tiếp cận của quốc gia mình trong chiều rộng là 200 hải lý kể từ mức nước tại bờ.
Đến đây chúng ta có thể thắc mắc tại sao con số 200 hải lý lại được chọn làm lằn ranh tối đa cho vùng biển tiếp cận của một quốc gia, bao trùm luôn cả vùng Đặc Quyền Kinh Tế? Thực ra sự chọn lựa này có nguyên nhân chính trị và lịch sử chứ không ăn nhập gì đến vấn đề địa dư, môi trường hay sinh học của quốc gia. Ngay tại Hội Nghị về Công Ước Quốc Tế về Luật Biển 3 nước Chile, Peru, và Ecuador đều dành cho mình có hải phận cách bờ là 200 dặm biển. Không thể thuyết phục 3 thành viên này chấp nhận chiều rộng của hải phận mình nhỏ hơn 200 dặm, cho nên cách dễ giải quyết nhất là hội nghị đồng ý rằng 200 dặm là lằn mức tối đa cho Công Ước Quốc Tế về hải phận của những quốc gia trên thế giới. Nhưng đến đây câu hỏi trên dường như chưa được trả lời thỏa đáng. Tại sao Chile lại chọn con số 200 hải lý làm chiều rộng cho hải phận của quốc gia mình tính cho đến mút lằn ranh của vùng Đặc Quyền Kinh Tế? Thật ra con số 200 dặm biển này cũng là một sự tình cờ ngẫu nhiên mà thôi. Chile có công nghiệp về Cá Voi, muốn bảo vệ nền công nghiệp này, cũng như không cho những ngư dân các nước khác săn Cá Voi trong vùng lãnh hải của mình, Chile cần có thẩm quyền kiểm soát vùng biển của mình trong vòng 55 hải lý kể từ mực nước tại bờ. Nhưng ước muốn của nghành công nghiệp Cá Voi của Chile không dừng tại đây. Theo Tuyên Ngôn của Panama năm 1939 thì vùng an toàn cho lãnh hải của một quốc gia phải kể rằng là 300 hải lý. Cho nên nghành công nghiệp Cá Voi của Chile chiếu theo tiền sự này và cứ đòi cho được Hải phận của quốc gia mình có chiều rộng là 200 dặm biển.
Như những quốc gia khác, Canada cũng tuyên bố vùng biển cận duyên của quốc gia mình dựa theo những qui định trong Công Ước Quốc Tế về Luật Biển, trên từ cơ sở đó luật pháp Canada tìm cách xác nhận chủ quyền của quốc gia mình để tìm ra những biện pháp thích nghi trong việc hành xử quyền tài phán cho quốc gia mình trên biển cả.
Trước khi bàn thảo về những tiến bộ trong việc hành xử quyền tài phán của Canada trên vùng Đặc Quyền Kinh Tế, chúng ta cũng nên có một cái nhìn sơ lược qua những căn bản pháp lý mà Canada đã thành lập để xác định lằn ranh lãnh hải của quốc gia trong biên giới của một vùng biển bao la.
C. Quyền Tài Phán của Canada trong Vùng Đặc Quyền Kinh Tế
Vào năm 1964, Canada tự mình thành lập một vùng ngư trường bao bọc chung quanh vùng biển của mình rộng 9 hải lý dựa theo Đạo Luật Nội Hải và Ngư Trường. Theo Đạo Luật này quốc gia duyên hải có quyền xác định mực nước trong vùng biển nội địa của mình. Lằn ranh của mực nước nội địa cho những quốc gia cận duyên đều dựa vào luật quốc tế và những tập tục quốc tế được minh thị trong phán quyết United Kingdom v. Norway. Đây là vụ án tranh chấp chủ quyền trên những vùng đảo nhỏ ở Bắc Âu mà Na-Uy đã đưa ra Tòa Án Quốc Tế để phân xử. Na-Uy nại rằng trong vùng biển dọc theo những đảo nhỏ xung quanh quốc gia mình, Na-Uy có quyền thiết lập một lằn ranh bao bọc bên ngoài những đảo nhỏ này và cấm tàu bè ngoại quốc không được xâm phạm vào lằn ranh mà Na-Uy đã tuyên bố rằng đây là vùng nội địa của biển mình. Sự cấm đoán này áp dụng chung ngay cả cho những tàu bè của nước Anh. Na-Uy cho rằng trong vùng nước này những ngư dân ven bờ phụ thuộc nhiều nhất về hải sản, và như vậy quốc gia cận duyên có quyền vẽ lằn ranh bao bọc chung quanh bờ biển của mình được minh thị theo Luật và Tập Tục Quốc Tế. Toà Án quốc tế đã thụ lý vụ kiện này vào năm 1951 và phán rằng: “Trong những điều kiện đặc biệt, Luật Quốc Tế cho phép những quốc gia cận duyên được quyền vẽ lằn mức từ đó xác định được vùng nội hải của mình. Vậy vùng biển kể từ lằn mức này trở vào bờ, quốc gia cận duyên có đầy đủ chủ quyền trên vùng nước mà họ qui định.” Quyết định này của Toà Án Quốc Tế cũng được áp dụng trong trường hợp những quốc gia có bờ biển thật khúc khuỷu, khi biển lấn sâu vào đất liền và cùng lúc đó có những đoạn đất liền ăn xa bờ. Tòa Án Quốc Tế cũng đưa ra ba tiêu chuẩn chính để minh thị đường biên trên mặt biển tùy theo sự quanh co khúc khuỷu của bờ biển thuộc quốc gia cận duyên.
Năm 1970, Đạo Luật Nội Hải và Ngư Trường được cải biên cho phép Canada được mở rộng vùng nội hải của mình rộng 12 hải lý cho cả bờ biển phía Tây là Thái Bình Dương và ngay cả bờ biển phía Đông là Đại Tây Dương.
Sự cải biên của đạo luật nói trên cho phép Canada được đương nhiên công bố ba ngư trường thuộc vùng nội hải của mình từ Vịnh St. Lawrence, Vùng Vịnh Fundy, và vùng Queen Charlotte Sound. Vào những năm cuối thập niên 1960, quan điểm về những vùng bảo vệ và quản lý ngư trường tiếp cận vùng nội hải của những quốc gia cận duyên đã trở thành thông lệ trong luật quốc tế. Trong suốt cuộc Hội Nghị về Công Ước Quốc Tế về Luật Biển lần thứ 3, có cả thảy 150 quốc gia tham dự đã chấp nhận rằng ngư trường của quốc gia cận duyên sẽ có chiều rộng là 200 dặm biển. Vào ngày 1 tháng Một năm 1977, Canada tuyên bố rằng nước này có vùng độc quyền khai thác hải sản có bề rộng là 200 hải lý dọc theo bờ biển của mình.
Như vậy từ nay trở về sau Canada sẽ có được hai vùng ngư trường rộng lớn một nằm về phía Đông trong biển Đại Tây Dương và một nằm về phía Tây trong vùng biển Thái Bình Dương. Thừa thắng xông lên, tháng Hai năm 1977, Canada tuyên bố rằng trong vùng biển Bắc Băng Dương nơi chót vót trên nóc nhà của Địa Cầu, Canada cũng có một vùng ngư trường rộng là 200 hải lý kể từ mực nước trong bờ.
Dầu là đất liền, biển cả hay không gian, một khi một quốc gia nào đó đã tuyên bố vùng này nằm trong quyền kiểm soát của quốc gia mình, thì quốc gia này đều có quyền tài phán trên những vùng mà mình đã tuyên bố nằm trong chủ quyền của quốc gia mình. Riêng theo Công Ước Quốc Tế về Luật Biển mỗi khi có sự vi phạm trên vùng Đặc Quyền Kinh Tế của quốc gia mình thì quốc gia nào cũng vậy đều có ba quyền quan trọng:
– Quyền bắt giam những tàu bè trái phép đang ở trong vùng Đặc Quyền Kinh Tế,
– Quyền truy nã, và
– Quyền sử dụng hỏa lực.
1. Quyền Bắt Giữ Những Tàu Bè Trái Phép trong Vùng Đặc Quyền Kinh Tế:
Căn cứ theo điều 56 (1) của Công Ước Quốc Tế về Luật Biển, quyền khai thác những tài nguyên thiên nhiên, bao gồm cả quyền khai thác hải sản, trong vùng đặc quyền kinh tế đều thuộc chủ quyền của quốc gia cận duyên. Căn cứ theo điều khoản đã dẫn, những quốc gia có bờ biển bao bọc chung quanh đều có chủ quyền bắt giữ những tàu bè ngoại quốc khi vi phạm chủ quyền của quốc gia mình. Những tàu bè này có thể thực hiện những chuyến đánh cá lậu trong vùng biển mà mình kiểm soát, hay xâm nhập với ý đồ khai thác những tài nguyên trong vùng đặc quyền kinh tế. Những vụ án sau đây cho thấy Canada đã hành xử quyền tài phán theo luật biển đối với những tàu đánh cá lậu của Tây Ban Nha khi xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Canada, và những lý do viện dẫn của các bị cáo đưa ra trước vành móng ngựa.
Trong vụ án R. v. Alvares and Laboa bị cáo là hai chiếc tàu lưới quét của Tây Ban Nha đánh cá bất hợp pháp trong vùng đặc quyền kinh tế của Canada vào năm 1985 đã bị phi cơ tuần tiễu của Canada chụp hình và phát hiện nhưng không bắt được ngay tại trận vào lúc đang bị vi phạm. Canada xúc tiến cuộc điều tra trong vòng 1 năm kể từ ngày sự cố xảy và ra sau khi thu thập đầy đủ dữ kiện và cơ quan điều tra đã ra lệnh tầm nã 2 chiếc tàu lưới quét của Tây Ban Nha kia.
Sau hai năm chạy trốn, lần này vừa mò vô vùng nước thuộc Đặc Quyền Kinh Tế của Canada thì hai chiếc tàu kia bị bắt theo lệnh truy nã có hiệu lực kể từ hai năm trước.
Ra trước Toà, hai chiếc tàu kia viện dẫn Luật Hiến Pháp của Canada trong đó có điều 11 của Hiến Chương Nhân Quyền và Quyền Tự Do của Canada qui định rằng: thời gian truy tố một bị can ra Toà phải hợp lý. Chuyện này đã xảy ra 2 năm trước rồi coi như là chuyện xưa rồi. Lúc đó hai chiếc tàu kia đã chạy ra khỏi vùng hải phận quốc tế và chạy tuốt về nước của họ rồi. Năm nay mới vừa xâm nhập chưa kịp làm ăn gì thì bị tóm cổ coi như sự truy tố của Tòa Án Canada không phù hợp với Hiến Pháp Nhân Quyền và Quyền Tự Do của Canada cho nên hai chiếc tàu kia yêu cầu Toà Án Canada miễn tố cho họ.
Tối Cao Pháp Viện của Tỉnh Bang New Found Lands của Canada sau khi nghe viện dẫn của Công Tố Viên và của trạng sư bênh vực cho hai chiếc tàu phạm pháp, phán rằng: “Trong những hoàn cảnh đặc biệt như tàu bè chạy trên biển và trong vùng nước thuộc chủ quyền của một quốc gia cận duyên, Canada không hề vi phạm đến thủ tục tố tụng nếu cho rằng lệnh truy nã được tống đạt không đúng lúc, quyền đưa bị cáo ra xét xử trước tòa và quyền áp dụng hình phạt cho những đối tượng phạm luật là đi ngược lại điều 11 của Hiến Pháp Canada. Bởi đó, Toà cho rằng thủ tục tố tụng này không bị vi Hiến và có hiệu lực, thỉnh cầu của đương sự không được chấp thuận.”
Trong một vụ án khác, R. v. Alegria and Mavan, vụ án này dính líu đến ngư phủ của Tây Ban Nha đã xâm nhập đánh cá bất hợp pháp trong vùng Đặc Quyền Kinh Tế của Canada. Bị cáo này lại cũng viện dẫn Luật Hiến Pháp của Canada cho rằng toà án Canada đã sai sót trong thủ tục truy tố bị can. Một lần nữa Toà án Canada lại phải khẳng định rằng không có gì gọi là vi phạm đến những nguyên tắc căn bản về công lý như đã được qui định cụ thể theo điều 7 của Hiến Chương Nhân Quyền và Quyền Tự Do của Canada trong quyền Tài Phán của Canada khi thiếu thông báo cho đương sự biết quyền xử lý đối với bị can.
Cũng nên ghi nhận rằng trong cả hai vụ án kể trên không hề thấy bên nào đưa vấn đề chủ quyền của Canada trong việc bắt giam những con tàu ngoại quốc vi phạm chủ quyền trong vùng đặc quyền kinh tế, và hình như mọi bên đều đồng ý rằng quyền tài phán trong vùng biển thuộc Đặc Quyền Kinh Tế của những quốc gia cận duyên là một quyền tuyệt đối và được thừa nhận bởi những tập tục Quốc Tế trên biển.
Tuy nhiên một đôi khi những quốc gia cận duyên coi việc can thiệp của mình với những tàu bè quốc tế trong vùng hải phận quốc tế là những việc làm thích nghi với quyền tài phán dành riêng cho lãnh thổ của mình. Trong vụ án Spanish v. Canda, Tòa án quốc tế phán rằng Tòa Án Quốc Tế không đủ thẩm quyền để phán xét vụ án mà Spain đưa ra vào năm 1995, trong vụ án này Spain nại rằng Canada không có quyền gì khi bắt giữ con tàu Estai trong vùng hải phận quốc tế. Riêng Canada lại cho rằng nếu căn cứ theo Đạo Luật Bảo Vệ Ngư Trường Cận Duyên của Canada thì Canada có quyền bắt giữ bất cứ tàu bè ngoại quốc nào ngay cả khi những tàu bè nằm trong hải phận quốc tế nếu thấy có dấu hiệu những tàu bè này đã vi phạm Đạo Luật Bảo Vệ Ngư Trường của Canada. Về phía Spain nại rằng vụ án này liên hệ đến vấn đề chủ quyền của Canada, vì Canada đã ngang ngược bắt giữ tàu bè của ngoại quốc trên vùng biển quốc tế, nằm ngoài khu đặc quyền kinh tế. Tuy nhiên Tòa Án Quốc Tế với tỷ số 12-5 thẩm phán thừa nhận rằng Tòa Án Quốc Tế không đủ thẩm quyền để thụ lý vụ án mà Tây Ban Nha đưa ra để chống lại quyền trên biển của Canada. Ủy Ban Bảo Vệ Ngư Trường của Canada năm 1994 cho rằng họ không thừa nhận quyền tài phán của Tòa Án Quốc Tế về điều hành ngư trường trong vùng Tây Bắc Đại Tây Dương. Bởi lẽ rằng những tranh chấp này bắt nguồn từ những sự thay đổi về pháp chế để bảo vệ cho nguồn cá ven biển của Canada cho nên những tranh chấp này phải nằm trong quyền tài phán của những chế tài về luật pháp của Canada mà thôi.
Trong vùng đặc quyền kinh tế, quốc gia cận duyên còn có quyền áp dụng luật và những qui tắc luật của quốc gia mình để bảo vệ và quản lý những nguồn tài nguyên sống trong vùng biển của mình.
Theo vụ án Saiga, mới xảy ra vào năm 1999, thì Saiga là con tàu chở dầu mang số đăng ký ở Saint Vincent và Grenadines. Con tàu này bị Guinea bắt khi đang bán dầu bất hợp pháp cho những tàu đánh cá trong vùng hải phận quốc tế nằm ngoài vùng Đặc Quyền Kinh Tế của Guinea. Tòa án quốc tế thừa nhận rằng những quan chức của những quốc gia cận duyên có quyền áp dụng luật pháp của quốc gia mình, họ có quyền lên tàu, xét tàu, bắt giữ tàu và thuỷ thủ đoàn trên tàu đưa ra xử lý theo luật nếu tàu bè đó có dấu hiệu vi phạm luật của quốc gia. Tuy nhiên, tàu và thủy thủ đoàn phải được thả ra ngay tức khắc sau khi đã đóng tiền thế chân hay có sự đảm bảo rằng họ không bỏ trốn nếu khi có lệnh triệu tập của Toà trong tương lai. Nếu những quốc gia tranh chấp là hội viên của Công Ước Quốc Tế thì khi có những vụ bắt bớ liên hệ đến công dân hay những tài sản tàu bè thuộc quốc gia mình thì quốc gia hội viên có quyền khiếu nại lên Tòa Án Quốc Tế về Luật Biển nếu quốc gia thi hành lệnh giam giữ cố ý trì hoãn không chịu thả ngay khi có đóng tiền thế chân hay khi có sự bảo đảm cho những người bị tình nghi vi phạm luật này.
2. Quyền Truy Nã:
Nhiều thế kỷ trước, quyền truy nã trên vùng biển thuộc quốc gia mình kiểm soát là một trong những tập tục của luật quốc tế về luật biển. Cho đến năm 1958, trong Hội Nghị về Luật Biển tại Geneva, thì quyền này được ghi vào điều 23 của Công Ước. Trong tác phẩm Luật Quốc Tế về Đại Dương tác giả D.P. O’connell cho rằng: “Quyền truy nã những tàu ngoại quốc trên hải phận quốc tế coi như hợp pháp nếu như những tàu ngoại quốc này vi phạm luật trên vùng biển của quốc gia cận duyên xong rồi bỏ chạy ra vùng biển quốc tế, việc truy nã này phải có tính cách tức khắc và liên tục sau khi vi phạm luật và những chiếc tàu ngoại quốc này khi bị truy nã đã cố tránh né sự truy nã của quốc gia sở tại bằng chạy tuốt ra vùng biển quốc tế”.
Trong vụ án The Ship “North” v. The King, Thẩm phán Davies nhận định về quyền truy nã trên biển như sau: “Tôi nghĩ rằng theo Luật Hàng Hải tuy tòa án có thẩm quyền xét xử phải hạn chế quyền của mình theo luật của quốc gia sở tại, nhưng nếu có một chiếc tàu nào của nước ngoài mà vi phạm luật của quốc gia cận duyên về luật bảo vệ ngư trường hay vi phạm những nguồn tài nguyên nằm trong vùng biển thì quốc gia chủ có quyền truy nã những chiếc tàu ngoại quốc vi phạm này và sự rượt bắt này có hiệu lực mặc dầu những chiếc tàu ngoại quốc này đã chạy ra cho tới vùng hải phận quốc tế”.
Trong vụ án R. v. Blanco, tòa nhận định rằng mặc dầu những qui ước và những tập tục quốc tế về Luật Biển đã được qui định rõ theo giấy trắng mực đen, nhưng tập tục về luật biển đã trở thành thông dụng cho tất cả những toà án quốc tế về luật biển và đã được áp dụng hàng nhiều thế kỷ qua. Trong vụ án này mặc dù nguyên cáo bị tuyên xử về tội đánh cá bất hợp pháp ngoài vùng hải phận của Canada. Vậy thì vấn đề được đặt ra là những toà án của Canada có thẩm quyền xét xử những tàu đánh cá bất hợp pháp trong vùng nước gần Canada nhưng thực sự không nằm trong sự kiểm soát của Canada. Công tố Viện của Canada dựa trên học thuyết của “quyền truy nã” mà lập luận rằng, trong những trường hợp khẩn thiết, quyền tài phán của Canada phải được mở rộng đối với những tội phạm xảy ra khi quyền truy nã được phát động. Bị cáo thì nại rằng vì tội phạm này xảy ra trong vùng biển quốc tế nên Canada không có quyền tài phán nào đối với bị can cả và xin tòa án bãi bỏ án lệnh nói trên.
Tòa án kết luận rằng Canada không có được quyền tài phán về hình sự đối với những tội phạm xảy ra trên hải phận quốc tế. Học thuyết về “quyền truy nã” không gián tiếp cho phép quốc gia cận duyên áp dụng luật của mình đối với những tội phạm xảy ra ngoài vùng biển qui định là vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia mình. Theo luật Common Law đang được áp dụng tại những quốc gia nói tiếng Anh, thì quyền truy nã được xem như là quyền tự vệ của quốc gia mình đối với những tàu biển phạm luật trong vùng Đặc Quyền Kinh Tế và bị rượt đuổi đã chạy ra được tới hải phận quốc tế. Quốc gia cận duyên này được xem như là đại biểu của những quốc gia trong Công Ước Quốc Tế được quyền truy bức tội phạm để bảo vệ những quyền lợi cho trật tự quốc tế. Luật quốc tế còn cho phép những quốc gia cận duyên được quyền bắt giữ và sử dụng hạn chế hỏa lực đối với những ghe thuyền phạm pháp.
Trong vụ án R. v. Kirchoff, là vụ án điển hình cho quyền truy nã trên mặt biển đối với những tàu bè phạm pháp, tàu tuần duyên của Canada phát hiện tàu bị cáo tiếp xúc với một chiếc tàu con, gọi tắt là tàu LT, ngoài hải phận quốc tế. Tàu tuần duyên này tiếp tục theo dõi tàu bị cáo trong vùng nước ngoài hải phận quốc tế, cho đến khi nhận được mật lệnh rằng chiếc tàu con LT khi nãy gặp tàu bị cáo ở ngoài khơi, nay đã vào bờ tại Tiểu Bang Nova Scotia và bị phát hiện có chở một số lượng bạch phiến rất lớn. Tàu tuần duyên của Canada lập tức truy đuổi chiếc tàu mẹ và bắt giữ trên vùng biển quốc tế. Bị cáo nại rằng theo thủ tục hình sự của điều 477 Bộ Luật Hình Sự của Canada thì thứ nhất khi bắt giữ một tàu ngoại quốc hình cảnh của Canada phải được sự chấp thuận của Chưởng Lý Liên Bang, thứ nữa khi sử dụng quyền truy nã theo luật biển thì sự truy nã này phải bắt đầu từ trong vùng nước thuộc Canada chứ đây sự truy nã chỉ xảy ra trong vùng biển quốc tế nên hình cảnh của Canada trong trường hợp này không tuân thủ đúng theo luật định. Tuy nhiên, tòa án Canada nhận xét rằng việc bắt giữ chiếc tàu phạm pháp này hoàn toàn đúng luật. Mặc dầu công ước quốc tế về luật biển thừa nhận rằng quyền truy nã trên biển phải bắt đầu từ vùng nước thuộc quốc gia cận duyên và tàu bị truy nã chạy ra vùng biển quốc tế thì sự truy nã này mới được coi như hợp pháp. Nhưng trong trường hợp này tàu mẹ tuy ở ngoaì vùng nước biển của Canada nhưng chiếc tàu con tải hàng cho chiếc tàu mẹ thì đang trong vùng biển của Canada cho nên tòa phải áp dụng nguyên tắc của sự hiện diện trực tín và cho rằng chiếc tàu mẹ này cũng nằm trong phần biển của Canada. Viên chức của Canada khi thi hành nhiệm vụ cũng đã xin phép chưởng lý khi lên tàu khám xét cho nên không có điều chi trái với nguyên tắc tố tụng hình sự.
Con tàu phạm pháp còn cãi thêm rằng theo điều 17 khoản 4 của Công Ước Quốc Tế chống việc buôn lậu ma túy được chấp thuận tại Vienna, nước Áo ngày 19 tháng 12 năm 1988, thì quốc gia cận duyên phải xin phép quốc gia có tàu phạm pháp mới được lên tàu xét hàng và bắt người khi có bằng cớ rằng tàu này có vận chuyển bất hợp pháp chất ma tuý. Trong trường hợp này Canada không xin phép quốc gia mang cờ trên tàu mà đã nhảy lên tàu lục soát, bắt hàng, bắt người.
Để trả lời cho viện dẫn nói trên của bị cáo, tòa cho rằng quyền truy nã không được xem như bắt đầu trừ phi tàu tuần duyên nhận thấy có dấu hiệu nghi ngờ rằng tàu ngoài xa là tàu mẹ và cho tàu con vào bờ để làm những chuyện bất hợp pháp, bởi các lẽ đó cho nên tòa án Canada đã phán rằng việc truy nã và bắt bớ tàu mẹ trong vùng biển quốc tế là đúng theo Công Ước Quốc Tế phù hợp với những tập tục quốc tế về luật biển.
Trong vụ án R. v. Dunphy, bị cáo bị truy tố về tội buôn lậu thuốc lá và rượu mạnh trái với điều 159 Luật Thuế Quan. Khi tuần tiễu thường lệ trong vùng Đặc Quyền Kinh Tế của Canada, Cảnh Sát Liên Bang phát hiện có tàu lạ đang tiến về phía họ. Khi lại gần bỗng nhiên con tàu bẻ lái 180 độ bỏ chạy. Cảnh Sát Liên Bang cố rượt theo con tàu đang bỏ chạy và cố chận chiếc tàu này lại trong vùng biển thuộc quyền kiểm soát của Canada. Con tàu này không chịu dừng lại mà cứ cấm đầu cắm cổ chạy, và chạy tuốt cho đến đảo St. Pierre, một vùng trực thuộc của Pháp trên biển Đại Tây Dương, mới chịu dừng lại. Khi rượt đuổi các sĩ quan đã quan sát thấy trên tàu có nhiều bao rác màu xanh cột miệng lại. Khi tàu dừng tại St Pierre thì sĩ quan Cảnh Sát nhảy lên tàu và xé miệng bao rác màu xanh ra và phát hiện bên trong toàn là thuốc lá không đóng thuế. Cảnh sát kết luận rằng số lượng thuốc lá này là thuốc lá lậu, nhưng không bắt bớ ai, cũng như không tịch thu hàng hóa. Sự kiện xảy ra đã gây tổn thương đến bang giao quốc tế, Cảnh Sát Liên Bang của Canada có thư xin lỗi chính quyền St. Pierre. Con tàu chở thuốc lá lậu và rượu lậu này lý luận rằng bằng cớ của cuộc bố ráp này là không đúng luật và xin Tòa tiêu hủy.
Tòa đồng ý sự kháng cáo của đương sự. Tòa án cũng nói thêm rằng khi thủ phạm chạy trốn thì cảnh sát không cần phải xin trát bắt giữ, tuy nhiên nếu thủ phạm chạy trốn khỏi phạm trường nếu chứng cớ không bắt được quả tang trong vùng biển của mình thì chứng cớ này coi như bị mất. Tòa đồng ý rằng cảnh sát có quyền truy nã, lục soát và bắt giữ trong vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế của mình, nhưng quyền truy nã này không được mở rộng nếu con tàu phạm pháp chạy tuốt qua vùng biển của quốc gia khác. Hành động của sĩ quan cảnh sát lần này nhảy lên tàu mở bao rác ra xem thuốc lá lậu là hành động bất hợp pháp theo luật quốc tế. Riêng theo điều 8 của Hiến Pháp Canada thì bằng chứng này không được toà án chấp thuận khi cảnh sát vượt quá quyền hạn luật định của mình. Các viên chức thừa hành của chính phủ khi sử dụng quyền hạn của mình trên biển phải biết tôn trọng luật lệ của những quốc gia láng giềng. Luật quốc tế cho phép những quốc gia cận duyên khi đuổi bắt những tàu ngoại quốc có những hành vi trái luật trong vùng đặc quyền kinh tế của mình cũng được sử dụng võ lực nhưng chỉ được sử dụng ở một mức độ nào đó mà thôi.
3. Quyền Sử Dụng Hỏa Lực:
Mặc dầu các qui ước quốc tế về Luật Biển không có điều khoản nào minh thị rõ ràng về quyền sử dụng hỏa lực khi chận bắt những tàu bè ngoại quốc. Tuy nhiên, theo điều 293 của Công Ước có nhắc nhở rằng phải tránh dùng võ lực, tránh được chừng nào tốt chừng nấy. Nếu gặp những trường hợp chẳng đặng đừng bắt buộc phải dùng hỏa lực thì sử dụng hỏa lực chỉ xảy ra trong mức độ cần thiết hợp lý mà thôi. Những nguyên tắc sử dụng võ lực trên biển nêu trên đã được tuân thủ trong nhiều thập niên qua. Thông thường khi muốn chận bắt một tàu ngoại quốc trong vùng biển của mình, tàu chủ nhà phải ra ám hiệu, hay dùng những hiệu báo quốc tế để yêu cầu chiếc tàu bị tình nghi dừng lại. Một khi đã ra hiệu cho chiếc tàu tình nghi dừng lại nhưng chiếc tàu kia không chịu ngừng thì tàu chủ nhà lập tức thực hiện những hành vi khẩn cấp để chận đứng tàu bị tình nghi, hành động này bao gồm cách bắn chận trước mũi tàu. Sau khi tất cả những cố gắng trên không thành công thì hỏa lực mới được dùng đến, nhưng phải cố gắng tối đa để tránh tổn thất về nhân mạng.
Trong vụ án I’m Alone, tàu I’m Alone là con tàu của Anh được đăng ký tại Canada. Vào năm 1929, Hoa Kỳ là quốc gia khao khát rượu mạnh. Tàu này chuyên chở rượu Rum để bán lậu vào Hoa Kỳ. Vào ngày 22 tháng Ba năm 1929, tàu này chuyên chở rượu mạnh từ Belize ở British Honduras, xác định điểm giao hàng trong vùng Vịnh Mễ Tây Cơ gần ven biển Louisiana, từ điểm giao hàng này sẽ có những tàu nhỏ chuyển hàng lậu đưa vào Mỹ để bán. Chẳng may, I’m Alone bị tàu Wolcott, một tàu Thuế Vụ của Mỹ phát hiện, theo dõi trong vùng Nội Hải. Sau khi bị rượt chạy từ vùng Nội Hải ra cho tới ngoài vùng Đặc Quyền Kinh Tế là 200 hải lý, thì tàu I’m Alone bị một tàu thuế vụ thứ hai của Mỹ, là tàu Dexter, cố đụng cho chìm.
Ủy Ban điều tra vụ án cho rằng nhân viên công lực Mỹ trong vụ án này có quyền truy nã và đã truy nã trực tiếp chiếc tàu của Canada nói trên. Tuy nhiên, Ủy Ban Điều Tra của vụ án cũng đã minh thị công nhận rằng một khi tàu rượt đuổi cố ý đánh chìm chiếc tàu ngoại quốc bị rượt đuổi là một hành vi phạm những Hiệp Ước về việc sử dụng hỏa lực trên biển giữa Hoa Kỳ và Canada, cũng như vi phạm tập tục quốc tế về luật biển. Hành động cố ý đánh chìm tàu của Vệ Binh Duyên Hải của Hoa Kỳ đối với chiếc tàu của Canada là một hành động trái luật. Ủy Ban cho rằng Hoa Kỳ phải công nhận đây là một hành động trái luật, và phải có lời xin lỗi chính phủ Canada đồng thời phải bồi thường thiệt hại. Nguyên tắc căn bản trong việc sử dụng hỏa lực để bắt tàu ngoại quốc trên biển đã được tái khẳng định bởi Thỏa Ước thi hành những điều khoản của Công Ước Quốc Tế về luật biển vào ngày 10 tháng 12 năm 1982. Thỏa Ước này qui định rằng: “Quốc Gia truy nã phải đảm bảo những chuyên viên xét tàu của họ:
 
(f) Tránh dùng hỏa lực ngoại trừ những trường hợp bảo đảm an toàn cho những người lên xét tàu, và khi những nhân viên xét tàu thi hành phận sự bị cản trở bởi những cá nhân hay tập thể của những con tàu bị bắt. Tuy nhiên, mức độ sử dụng hỏa lực cũng phải chỉ ở mức độ vừa phải và tùy theo hoàn cảnh mà thôi.”
 
IV. Kết luận
Mang tính chất đầu tiên là vùng biển quốc tế, vùng Đặc Quyền Kinh Tế đã trở thành một vùng sống động cho những quốc gia có số phận liên quan đến vùng biển đang tranh chấp. Những tranh chấp về ngư trường, cũng như nguồn tài nguyên thiên nhiên trong vùng đã gây nên những căng thẳng về chính trị và pháp lý. Những quốc gia liên hệ đôi khi nếu không khéo xử sự dễ đưa đến những xung đột quân sự khiến cho tình trạng bất ổn trong vùng lại gia tăng. Ngày nay, luật pháp quốc tế đã có những cố gắng xoay quanh đề tài chủ quyền của quốc gia và quyền tài phán của quốc gia trong vùng Đặc Quyền Kinh Tế để làm sáng tỏ rằng quốc gia nào thực sự có chủ quyền.
Nói đến những vùng đặc quyền Kinh Tế trên biển cả bao la lại nhớ đến quê ta với rừng vàng biển bạc. Việt Nam nước ta có hơn 2,500 Km bờ biển từ Móng Cái cho đến Hà Tiên với những bãi cát trắng xóa, non nước hữu tình, đầy những phong cảnh vừa nên thơ, vừa hùng vĩ. Biển Đông ta với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa như “một bầy thủy quái khổng lồ nổi trên mặt biển, che mặt biển Đông như những tấm bình phong.” Chính nơi đây Trung Quốc, Đài Loan, Phi Luật Tân, Mã Lai, Brunei, Darusssalam, Nam Dương, và Việt Nam đang tranh cãi về chủ quyền của mình.
Những quốc gia tranh chấp nên ý thức rằng vấn đề này nhất định không phải giải quyết bằng võ lực mà phải dùng Công Pháp Quốc Tế và hãy để cho Tòa Án Quốc Tế định đoạt số phận của từng hòn đảo. Những luật gia quốc tế hãy rời khỏi tháp ngà của mình đến tận nơi, từng hòn đảo nhỏ, đối diện với sự thật, nằm lắng nghe tiếng nói của lương tâm và luật pháp. Hãy đưa nhác cuốc của lương tri xuống cho tới tận cùng của những tầng sinh thổ để chứng minh cho thế giới thấy rằng Việt Nam đã xác nhận chủ quyền của mình trên hai quần đảo này kể từ ngày Vua Lê Thánh Tôn cắm cờ trên núi Đá Bi.
Đề cập đến sự xác định về chủ quyền của một quốc gia trên một vùng lãnh hải, yếu tố lịch sử phải được soi xét cẩn trọng. Những quốc gia tương tranh phải hiểu rằng ngoài trách nhiệm giữa quốc gia này đối với quốc gia khác trong cộng đồng quốc tế, chúng ta còn có những nghĩa vụ quốc tế của quốc gia mình đối với những quốc gia trong vùng tranh chấp. Đừng ỷ mạnh hiếp yếu, đừng giở trò thảo khấu của những kẻ chỉ dựa sức mạnh trên đầu mũi súng.
Hoàng Sa, Trường Sa và biển Đông là ao nhà, là ruộng vườn bao nhiêu đời của ngư dân nước Việt. Họ đã canh tác, khai thác, giữ gìn chủ quyền biển đảo của họ từ ngày lập quốc đến nay. Bỗng dưng có một kẻ xa lạ từ đâu xuất hiện tự nhận rằng mình là chủ của vùng biển này. Họ như từ trên trời rơi xuống ra lệnh cho ngư dân Việt không được đánh bắt, canh tác, giữ gìn ao cá và vườn ruộng của mình. Họ dùng súng đạn, vũ khí, chiến hạm, tàu sắt xua đuổi, bắn giết, tranh phần tuyên bố rằng vùng biển, vùng trời này là của họ! Thử hỏi trong thời buổi này, thế kỷ này những chuyện xảy ra như thế này có dân tộc nào chấp nhận được hay không?!
Gần đây, chính trên vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa, Trung Quốc đã bắn chết nhiều ngư dân Việt Nam đang thả lưới buông câu để kiếm sống. Họ là những ngư phủ bình thường, không một tất sắt trong tay, đang kiếm ăn trên vùng biển mà tổ tiên của họ hàng bao thế kỷ đã thả lưới buông câu, nhưng nay họ lại bị bắn giết bởi đội quân của một nước “láng giềng hữu nghị”. Hành động giết người bừa bãi nầy của Trung Quốc, cũng như việc Trung Quốc tuyên bố thành lập đường lưỡi bò, huyện Tam Sa bao gồm Hoàng Sa và Trường Sa, đã vi phạm trắng trợn Công Ước Quốc Tế về Luật Biển và đủ cấu thành Tội ác xâm lăng.
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Việt Nam ‘đầu bảng về phạm pháp’ tại Nhật

Việt Nam ‘đầu bảng về phạm pháp’ tại Nhật

có 5.140 vụ phạm pháp do công dân Việt Nam gây ra, tăng từ 3.177 vụ trong năm 2016 và chiếm 30.2% tổng số.Bản quyền hình ảnhAFP
Image captionCó 5.140 vụ phạm pháp do công dân Việt Nam gây ra, tăng từ 3.177 vụ trong năm 2016 và chiếm 30.2% tổng số.

Hãng thông tấn Kyodo News hôm 11/04 có bài dẫn chiếu số liệu cảnh sát Nhật cho hay người Việt bị nêu đứng đầu về số vụ phạm pháp trong cộng đồng người nước ngoài sống tại Nhật.

Báo Yomiuri Shimbun cũng đưa tin này.

Số liệu cho năm 2017 của cảnh sát Nhật cho thấy có 5.140 vụ phạm pháp do công dân Việt Nam gây ra, tăng từ 3.177 vụ trong năm 2016 và chiếm 30.2% tổng số.

Người Việt ở Nhật chuyện từ xưa tới nay

Bàn tròn thứ Năm: Căng thẳng, xung đột ở Syria

Vị trí đầu bảng trước đây do Trung Quốc nắm giữ, nhưng năm 2017 đã tụt xuống thứ hai, kế đến là Brazil và Nam Hàn, theo Sở cảnh sát Quốc gia Nhật Bản.

Hiện có khoảng 260.000 người Việt sống ngắn hạn tại Nhật (chưa có thẻ thường trú), tăng sáu lần kể từ 2008 và số vụ phạm pháp cũng tăng.

Số liệu nói việc ăn cắp là hành vi phổ biến nhất trong người Việt, khoảng 3.080 vụ, trong đó gồm 2.037 vụ chôm đồ tại cửa hàng và 477 vụ ăn trộm.

Trong khi số vụ trộm cắp mà tội phạm người Việt thực hiện nhiều hơn người Trung Quốc thì số tội phạm người Trung Quốc (3.159) cao hơn tội phạm Việt (2.549).

Có 10.828 tội phạm người nước ngoài tại Nhật vào năm 2017, tăng 7.1% so với năm 2016.

Hình minh họa
Image captionSố liệu nói việc ăn cắp là hành vi phổ biến nhất trong người Việt

Nguyên nhân?

Sau khi có tin này, BBC đã phỏng vấn ông Hirota Fushihara, một nhà nghiên cứu luật, là người Nhật hiện đang sống và làm việc tại Việt Nam.

BBC: Số liệu được nêu trong báo cáo này có làm ông ngạc nhiên? Ông có nhận xét gì về thực trạng trộm cắp liên quan tới người Việt tại Nhật?

Hirota Fushihara: Đúng là trước đây, đã là du học sinh nước ngoài tại Nhật Bản thì nhiều nhất là người Trung Quốc và kế tiếp là người Hàn Quốc là nhiều, nhưng bây giờ số du học sinh là người Việt Nam là thứ nhì sau người Trung Quốc, điều đó làm cho tôi ngạc nhiên trước sự phát triển giao lưu con người giữa hai nước.

Tuy nhiên, tôi nghĩ việc trộm cắp hay một số hành vi trái pháp luật của các bạn Việt Nam có nguyên nhân.

Bởi trong số người Việt Nam gây phạm tội, 41 % là du học sinh, 29% là thực tập kỹ thuật ( tức bản chất là lao động).

Trong số các bạn du học sinh, hay lao động có những người phải nợ nhiều tiền hoặc đặt cọc nhiều tiền, hay chi trả nhiều phí mang nhiều tên khác, nên không ít các bạn đã có sẵn gánh nặng về tài chính và tâm lý.

Đồng thời trước khi sang Nhật, họ có thể được nghe nhiều thông tin mầu hồng, chưa khách quan về cuộc sống tại Nhật Bản, họ chưa có điều kiện để tiếp cận nguồn thông tin đa chiều, mà có khi họ nghe những thông tin chủ quan của các tổ chức môi giới và sang Nhật Bản đã thấy thực tế lại khác hẳn.

Nguyên nhân của tình hình này có rất nhiều, nhưng tôi thấy không dễ dàng phê bình, hoặc nói rằng đó là lỗi hoàn toàn của các bạn Việt Nam.

BBCThực trạng trộm cắp này ảnh hưởng thế nào, nếu có, tới khả năng Nhật giới hạn việc nhận lao động/sinh viên từ Việt Nam?

Hirota Fushihara: Chính phủ Nhật Bản không thể coi nhẹ việc phạm tội bởi người Việt Nam gia tăng như vậy.

Tôi nghĩ nguyên nhân sâu xa thuộc về nhiều phía. Môt mặt có một số doanh nghiệp và một số nhà trường, hay các nghiệp đoàn của Nhật cũng có những hành động chưa hẳn bảo vệ quyền và nghĩa vụ của du học sinh, hay người thực tập kỹ thuật.

Mặt khác, ở Việt Nam có những đơn vị tư vấn du học, hay các doanh nghiệp, cơ quan cử thực tập sinh kỹ thuật cung cấp thông tin chưa khách quan, chưa chính xác, thu những chi phí, thù lao không rõ ràng dẫn đến câu chuyện là các bạn phải vay nợ nhiều tiền trước khi sang Nhật Bản.

Những việc liên quan đến phía Việt Nam, tôi nghĩ cần nỗ lực của các cơ quan nhà nước của Việt Nam tăng cường giám sát hoạt động của các doanh nghiệp, đơn vị liên quan.

Chính phủ Nhật Bản quan tâm về vấn đề này và sẽ có những biện pháp cần thiết trước tình hình này.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Trung Quốc bí mật lắp hệ thống gây nhiễu rađa ở Trường Sa

Trung Quốc bí mật lắp hệ thống gây nhiễu rađa ở Trường Sa - Ảnh 1.

Ảnh chụp vệ tinh của DigitalGlobe cho thấy một vật thể có ăngten dựng đứng được đánh giá là thiết bị gây nhiễu rađa trên Đá Vành Khăn – Ảnh: CSIS

Một quan chức làm việc trong Bộ Quốc phòng Mỹ tiết lộ với báo Wall Street Journal (Mỹ) rằng Bắc Kinh gần đây đã lắp đặt trên 2 đảo nhân tạo ở quần đảo Trường Sa thiết bị có khả năng gây nhiễu các hệ thống quét rađa và liên lạc.

“Trung Quốc đã triển khai thiết bị gây nhiễu quân sự tới các tiền đồn ở quần đảo Trường Sa” – vị quan chức giấu tên cho biết vào ngày 9-4.

Động thái này được đánh giá sẽ giúp Trung Quốc tăng cường năng lực bảo vệ các đảo nhân tạo mà theo các chuyên gia là đang được quân sự hóa đáng kể, và đối phó hoạt động của quân đội Mỹ trong khu vực.

Theo Wall Street Journal, hệ thống gây nhiễu trên có thể được nhìn thấy trong một bức ảnh vệ tinh được Công ty vệ tinh thương mại DigitalGlobe (Mỹ) chụp hồi tháng 3 và gửi cho tờ báo này.

Bức ảnh cho thấy một hệ thống gây nhiễu đáng nghi với ăngten được triển khai trên Đá Vành Khăn – một trong các thực thể ở quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam hiện bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép, cải tạo và xây nhiều công trình kiên cố.

Khi sóng rađa của đối phương bị các thiết bị thế này chặn phá hoặc gây nhiễu, đối phương sẽ không thể phát hiện vị trí, kích thước… của các mục tiêu trên những đảo nhân tạo mà Trung Quốc xây dựng.

“Trong khi Trung Quốc khăng khăng việc xây dựng các đảo nhân tạo là nhằm đảm bảo an toàn trên biển, hỗ trợ ngành hàng hải, tìm kiếm và cứu hộ, bảo vệ ngư trường cùng những chức năng phi quân sự khác, thì chính hệ thống gây nhiễu điện tử này lại chỉ được dùng cho mục đích quân sự” – vị quan chức Mỹ chỉ trích.

Bộ Quốc phòng Trung Quốc hiện chưa phản hồi với yêu cầu bình luận.

Thông tin trên được công bố giữa bối cảnh Hải quân Mỹ thời gian qua liên tục điều tàu chiến áp sát các đảo nhân tạo mà Trung Quốc bồi đắp phi pháp. Động thái của Washington được đánh giá nhằm thách thức các yêu sách chủ quyền vô lý của Trung Quốc trong khu vực và việc Bắc Kinh quân sự hóa các đảo này.

Gần nhất, hôm 23-3, Hải quân Mỹ đã triển khai khu trục hạm mang tên lửa dẫn đường USS Mustin tiến vào tuần tra bên trong khu vực 12 hải lý quanh Đá Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa, nằm một phần trong chiến dịch tuần tra tự do hàng hải (FONOPs) của Washington.

Theo tình báo Mỹ, hệ thống gây nhiễu trên đã được triển khai trong vòng 90 ngày qua trên 2 thực thể là Đá Chữ Thập và Đá Vành Khăn. Như vậy, rõ ràng lúc Mỹ điều tàu khu trục USS Mustin tới áp sát Đá Vành Khăn, hệ thống gây nhiễu trên đã hiện diện trên thực thể này.

Giới chức Mỹ cho biết trong khi quân nhân Trung Quốc hiện có mặt trên các đảo nhân tạo ở Trường Sa và tàu thuyền nước này cũng neo đậu tại đây, Bắc Kinh vẫn chưa điều động các đơn vị lục quân hay máy bay chiến đấu tới.

Các hệ thống tên lửa đất đối không hay tên lửa chống hạm cũng chưa được triển khai tới các đảo nhân tạo ở Trường Sa mặc dù các địa điểm để lắp đặt những vũ khí này đã được “dọn ổ” sẵn.

Ba trong số 7 đảo nhân tạo bị Trung Quốc tôn tạo ở Trường Sa là Đá Chữ Thập, Đá Vành Khăn và Đá Xubi hiện đã có đường băng dài tới 3.000m, các nhà chứa máy bay chiến đấu, kho chứa đạn dược, cầu cảng nước sâu để tàu neo đậu,…

“Trung Quốc đã xây dựng một hệ thống hạ tầng đồ sộ, rõ ràng và chỉ để tăng cường các năng lực quân sự tiên tiến mà có thể triển khai tới các căn cứ này trong thời gian ngắn” – đô đốc Harry Harris, Tư lệnh Bộ chỉ huy Thái Bình Dương của Mỹ, cảnh báo hồi tháng trước.

Trung Quốc giải thích gì về hạm đội 40 tàu trên Biển Đông?

TTO – Bộ Quốc phòng Trung Quốc khẳng định cuộc tập trận hải quân quy mô ở Biển Đông vừa qua chỉ nhằm “tăng cường năng lực chiến đấu” và “không tách rời khỏi chính sách phát triển hòa bình”.

Tàu sân bay Mỹ – Trung sẽ chạm mặt trên Biển Đông?

TTO – Hải quân Trung Quốc sẽ bắt đầu cuộc tập trận 6 ngày trên Biển Đông bắt đầu từ ngày mai (5-4) trong bối cảnh nhóm tác chiến tàu sân bay USS Theodore Roosevelt của Mỹ chuẩn bị diễn tập cùng “một số đối tác” trong khu vực Đông Nam Á.

BÌNH AN
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Tập Cận Bình thị sát diễu binh hải quân ở Biển Đông

    

Tập Cận Bình thị sát diễu binh hải quân ở Biển Đông

Chủ tịch Trung Quốc quan sát cuộc diễu hành có sự tham gia của nhóm tác chiến tàu sân bay Liêu Ninh.

Chủ tịch Tập Cận Bình trên tàu khu trục Trường Sa tham dự lễ diễu binh trên biển ngày 12/4. Ảnh: CNN.

Chủ tịch Tập Cận Bình trên tàu khu trục Trường Sa quan sát lễ diễu binh trên biển ngày 12/4. Ảnh: CNN.

Truyền thông nhà nước Trung Quốc công bố hình ảnh ông Tập Cận Bình lên tàu khu trục Trường Sa (Changsha) trước khi đi đến một vị trí không công bố ở Biển Đông. Ông quan sát cuộc diễu binh có sự tham gia của 10.000 sĩ quan hải quân, 76 máy bay chiến đấu và một đội tàu gồm 48 tàu chiến và tàu ngầm, theo Reuters.

Phát biểu trên tàu khu trục, ông Tập kêu gọi hiện đại hóa hải quân Trung Quốc thành “lực lượng dẫn đầu thế giới” và nhấn mạnh sự lãnh đạo của đảng Cộng sản với quân đội. Chủ tịch Trung Quốc sau đó dùng ống nhòm quan sát 4 chiến đấu cơ J-15 cất cánh từ sân bay Liêu Ninh.

Nhật báo Ming Pao của Hong Kong nói rằng cuộc diễu binh có thể là hành động đáp trả việc nhóm tác chiến tàu sân bay Theodore Roosevelt của Mỹ vừa kết thúc chuyến thăm Singapore và tiến vào Biển Đông.

Hải quân Trung Quốc ngày 5/4 tiến hành đợt tập trận bắn đạn thật kéo dài một tuần ở Biển Đông với sự tham gia của nhóm tác chiến tàu sân bay Liêu Ninh. Người phát ngôn Bộ Quốc phòng Trung Quốc xác nhận tàu sân bay Liêu Ninh đóng vai trò dẫn đầu trong đợt tập trận quy mô lớn, nhưng cho rằng đây là hoạt động “thường lệ” và “không đe dọa đến các nước khác”.

An Hồng

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Người phụ nữ tự sát tại ĐSQ VN ở Malaysia có ‘quan hệ’ với cán bộ lãnh sự?

Người phụ nữ tự sát tại ĐSQ VN ở Malaysia có ‘quan hệ’ với cán bộ lãnh sự?

Ngay buổi sáng ngày xảy ra vụ “tự sát”, bà Mai gọi điện thoại về gia đình nói nhớ các con và muốn về Việt Nam thăm con.
Ngay buổi sáng ngày xảy ra vụ “tự sát”, bà Mai gọi điện thoại về gia đình nói nhớ các con và muốn về Việt Nam thăm con.

Trần Thị Mai, người phụ nữ 37 tuổi, mà tin nói là dùng dao tự sát ngay bên trong Đại sứ quán (ĐSQ) Việt Nam ở Malaysia ngày 3/4, có “quan hệ” với một cán bộ làm việc tại đây và có con với người này. Trước khi xảy ra vụ việc, bà Mai từng bị “đe dọa” và chèn ép “đến mức sắp điên”, nhiều nguồn tin thân cận khác nhau tiết lộ với VOA-Tiếng Việt.

Theo tin nhắn được cho là của bà Mai gửi cho một người bạn lớn tuổi mà VOA-Tiếng Việt nhận được từ một nguồn tin đã tiếp xúc với bà Mai trước khi xảy ra vụ án, bà Mai đã tìm cách tiếp xúc với “ngài Đại sứ” Việt Nam ở Malaysia để “giải trình” sự việc và nhờ giúp đỡ đưa bà về Việt Nam vì viên cán bộ dưới quyền ông có hành động “đe dọa” và “cắt luôn nguồn sinh tồn của hai mẹ con”.

Bà Mai bắt đầu sang Malaysia làm việc khoảng 3 năm nay và “đi đi về về” giữa Malaysia và Việt Nam thường xuyên, gia đình của bà Mai nói với VOA nhưng không tiết lộ chi tiết về diện lao động của bà.

Ba đứa con của bà Mai, đứa bé nhất chưa đầy 7 tháng tuổi, được giao cho gia đình ở Việt Nam chăm sóc.

Một nguồn tin khác thân cận với gia đình bà Mai cho VOA biết bà đã ly dị với chồng và có “quan hệ” dẫn tới có con với một cán bộ tại Đại sứ quán Việt Nam ở Kuala Lumpur, Malaysia, nhưng ông này không nhận đứa trẻ là con mình.

Vẫn theo nguồn tin này, ngay buổi sáng ngày xảy ra vụ “tự sát”, bà Mai có gọi điện thoại về gia đình, nói rằng bà nhớ các con và muốn về Việt Nam thăm con. Nhưng gia đình đã ngăn “không cho đi lại đó [Đại sứ quán] vì đi lại đó là chết, mất mạng”.

Xảy ra tự sát tại Đại sứ quán Việt Nam ở Malaysia

Những tình tiết mới của vụ tự sát tại Đại sứ quán VN ở Malaysia

Trong các tin nhắn tâm sự với bạn, bà Mai nói không muốn “đấu” với người bố của đứa con vì người này dù có “ác” với bà như thế nào đi nữa, nhưng dù sao cũng là “con của ông ấy”.

Bà nói bà “chỉ hy vọng im lặng nuôi con nhưng không được, ông cứ ngoài miệng nói nhân hậu, ở trong thì đáng sợ”.

Nội dung tin nhắn còn cho biết bà đã bị người đàn ông này đe dọa không cho đến đại sứ quán, nếu đến sẽ kêu cảnh sát Malaysia bắt.

Theo một nguồn tin thân cận khác tiết lộ với VOA, bà Mai sang Malaysia làm việc theo dạng du lịch và ở lại làm việc bất hợp pháp nên có nguy cơ bị đi tù nếu cảnh sát bắt được.

“Cháu không hiểu người với người sao cứ giết chết nhau mới hả dạ sao khi họ là người có lỗi”, một nội dung tin nhắn nói.

Tin nhắn cho biết thêm rằng bà Mai từng tìm đến môi giới để giúp đưa về Việt Nam “nhưng họ sợ không ai dám đưa cháu về cả”.

Còn đến Đại sứ quán để làm giấy thông hành thì “không gặp được ngài Đại sứ”, lại sợ bị hại nên bà phải “vừa kiếm tiền vừa tìm cách về nước”.

Một ngày trước khi xảy ra sự việc, bà Mai tiết lộ với một người ở tại Việt Nam rằng bà sẽ đến ĐSQ vào ngày hôm sau để “phơi bày” mọi chuyện, “còn chuyện ngoài ý muốn, có khi em tự tử thật”, nguồn tin giấu tên này tiết lộ với VOA.

Vì vụ án vẫn đang trong vòng điều tra, nên VOA không thể kiểm chứng về mức độ xác tín của các nguồn tin đã nhận được.

Bà Trần Thị Mai được cho biết đã dùng dao mang theo trong túi xách và tự đâm vào ngực mình sau khi đến ĐSQ để làm thủ tục xin cấp giấy thông hành về nước hôm 3/4.

Những hình ảnh từ camera, do ĐSQ cung cấp cho cảnh sát Malaysia, cho thấy sau khi đến đây với một người đàn ông được cho là người môi giới, bà Mai đã tỏ ra tức giận với người ở bên trong đại sứ quán và sau đó rút dao tự sát, thanh tra Mohd Ridzuan Bin Alang, người phụ trách điều tra nói với VOA-Tiếng Việt hôm 6/4.

“Bởi vì mọi người chạy tán loạn nên tôi chưa thể xác định được bà ấy giận dữ với ai”, thanh tra Ridzuan Alang nói thêm.

Ông cho biết người môi giới hiện đã bỏ trốn và bà Mai có vẻ như đang gặp trục trặc với visa để về nước.

Bộ Ngoại giao Việt Nam chiều ngày 3/4 ra thông cáo nói: “Tại nơi làm thủ tục, khi chưa nộp hồ sơ và tiếp xúc với cán bộ lãnh sự, chị Mai có biểu hiện bất bình thường (đập bàn, la hét) và rút dao từ trong túi xách mang theo người và tự gây thương tích. Sự việc diễn ra đột ngột, nhân viên bảo vệ, cán bộ Đại sứ quán và những người có mặt không kịp can thiệp”.

Sau khi xảy ra sự việc, gia đình bà Mai cho VOA biết đã gửi các “ước nguyện” cho Bộ Ngoại giao Việt Nam, bao gồm: đưa được thi thể bà Mai về Việt Nam, được xem trích xuất camera tại hiện trường nơi bà Mai vào làm giấy tờ ở ĐSQ, và được thông báo về kết quả điều tra về cái chết của bà Mai từ cảnh sát Malaysia.

Categories: Tin-Tức Thế-Giới | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.