Daily Archives: July 10, 2018

Đại nạn Trung Hoa: Trung Cộng bẫy nợ

Đại nạn Trung Hoa: Trung Cộng bẫy nợ

Trần Gia Phụng (Danlambao) – Lịch sử cho thấy tất cả những cuộc xâm lăng quân sự mạnh mẽ của Trung Hoa vào Việt Nam đều thất bại. Đến đời cộng sản cai trị Trung Hoa, cộng sản đổi chiến lược, thực hiện kế hoạch tằm ăn dâu, rất thâm độc bằng cách giăng “bẫy nợ”, dùng viện trợ nhử bắt con mồi cộng sản Việt Nam (CSVN).
1. Hồ Chí Minh vào bẫy
Chiến tranh Việt Minh-Pháp bùng nổ ngày 19-12-1946. Việt Minh cộng sản thua chạy lên miền rừng núi hay vào bưng biền. Đến năm 1949, đảng Cộng Sản thành công ở Trung Hoa. Mao Trạch Đông (Mao Zedong) tuyên bố thành lập chế độ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (CHNDTH) ngày 1-10-1949, thường được gọi là Trung Cộng, thủ đô là Bắc Kinh. Cuối năm 1949, Hồ Chí Minh cử hai đại diện là Lý Bích Sơn và Nguyễn Đức Thủy đến Bắc Kinh xin viện trợ. (Qiang Zhai, China & Vietnam Wars, 1950-1975, The University of North Carolina, 2000, tt. 13, 15.)
Lúc đó, Mao Trạch Đông cùng Châu Ân Lai (Zhou Enlai) qua Moscow vừa chúc mừng sinh nhật thứ 70 của Stalin, vừa thương thuyết. Lưu Thiếu Kỳ (Liu Shaoqi), xử lý công việc bộ Chính trị đảng Cộng Sản Trung Hoa (CSTH), cử La Quý Ba (Luo Guibo), uỷ viên trung ương đảng Cộng Sản Trung Hoa (CSTH) làm đại diện Trung Cộng bên cạnh đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD).
Theo các tài liệu tuyên truyền của Trung Cộng, Trung Cộng mới thành lập (1-10-1949), đang còn nhiều khó khăn, chưa được các nước Tây phương thừa nhận, nhưng vì tinh thần và nghĩa vụ quốc tế vô sản, Trung Cộng hào phóng viện trợ không điều kiện cho Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH). (La Quý Ba, “Mẫu mực sáng ngời của chủ nghĩa quốc tế vô sản”, đăng trong Hồi ký của những người trong cuộc, ghi chép thực về việc đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp, một nhóm tác giả, Bắc Kinh: Nxb. Lịch sử đảng Cộng Sản Trung Quốc, 2002, do Trần Hữu Nghĩa, Dương Danh Dy dịch, Montreal: Tạp chí Truyền Thông, số 32 & 33, 2009, tr. 22.)
Đúng là lúc đó các nước Tây phương chưa thừa nhận Trung Cộng, nhưng Trung Cộng lại sẵn sàng thừa nhận và giúp đỡ VNDCCH không phải vì tinh thần và nghĩa vụ quốc tế CS, mà vì hai chủ đích riêng:
Thứ nhứt, lúc đó Trung Cộng chưa ổn định tình hình lục địa Trung Hoa, rất lo ngại Tưởng Giới Thạch nhờ các nước tư bản, nhứt là Hoa Kỳ và Pháp, giúp đỡ để lực lượng Quốc Dân Đảng quay trở lại tấn công Trung Cộng. Vì vậy, Trung Cộng nhận giúp đỡ Việt Minh để Vệt Minh giữ gìn an ninh vùng biên giới Hoa Việt ở phía nam Trung Cộng, làm vùng trái độn an toàn cho Trung Cộng. Mao Trạch Đông công khai xác nhận việc nầy trong một cuộc họp của trung ương đảng CSTH tháng 11-1950. (La Quý Ba, bđd, tr. 27.) Thứ hai là Trung Cộng giúp đỡ tối đa VNDCCH, để cho CSVN vay mượn càng nhiều càng tốt. Đến lúc cần, nếu VNDCCH không trả được nợ, thì Trung Cộng sẽ đòi cái khác để trừ nợ, như đất đai, hải đảo, nhứt là Trung Cộng dự tính sử dụng VNDCCH để mở đường xuống Đông Nam Á. Đây là một cách giăng bẫy nợ khá tinh vi mà trước đây những phú hộ giàu có ở nông thôn thường cho người nghèo vay nợ để o ép người nghèo phải đến ở đợ hoặc nạp con cái đến ở đợ mà trả nợ. Hồ Chí Minh đang trong cơn bối rối, bị Pháp đuổi chạy, gặp được sự giúp đỡ vô điều kiện, vội tự động lọt vào bẫy nợ của Trung Cộng.
Sau phái đoàn Lý Bích Sơn và Lưu Đức Thủy, đích thân Hồ Chí Minh bí mật qua Bắc Kinh cầu viện ngày 30-1-1950. Mao Trạch Đông và Châu Ân Lai vẫn còn ở Liên Xô. Hồ Chí Minh làm kiểm điểm trước Lưu Thiếu Kỳ (Trần Đĩnh, Đèn cù, California: Người Việt Books, 2014, tr. 49.) Tại sao Hồ Chí Minh phải làm kiểm điểm với ngoại bang? Kiểm điểm với tư cách đại diện đảng CSĐD hay với tư cách chủ tịch nhà nước VNDCCH? Kểm điểm những gì? Hiện bản kiểm điểm nầy ở đâu? Cả hai đảng CS Việt và Tàu đề giữ kín việc nầy.
Tiếp đó, Lưu Thiếu Kỳ giúp Hồ Chí Minh đi tiếp qua Liên Xô. Hồ Chí Minh đến Moscow tối 6-2-1950. Bí thư thứ nhứt đảng CS Liên Xô là Joseph Stalin tiếp Hồ Chí Minh tại văn phòng làm việc, với sự có mặt của Malenkow, Molotow, Bulganin và Vương Gia Tường, đại sứ Trung Cộng tại Liên Xô. Stalin nói thẳng với HCM: “Chúng tôi đã trao đổi với các đồng chí Trung Quốc, công việc viện trợ chiến tranh chống Pháp của Việt Nam chủ yếu do Trung Quốc phụ trách thích hợp hơn… Trung Quốc ở sát Việt Nam, hiểu rõ tình hình Việt Nam hơn chúng tôi, kinh nghiệm đấu tranh của Trung Quốc càng có tác dụng làm gương đối với Việt Nam, giúp các đồng chí sẽ thuận tiện hơn.” (Trương Quảng Hoa, “Quyết sách trọng đại Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp”, trong Hồi ký những người trong cuộc…, bđd. tr. 45.).
Ngày 17-2-1950, Mao Trạch Đông, Châu Ân Lai rời Moscow trở về Bắc Kinh bằng xe hỏa. Hồ Chí Minh cùng đi theo chuyến tàu nầy. Trên đường đi, khi xe hỏa đến vùng biên giới Nga-Hoa, thì một hôm “đi đến toa xe của Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh nói ngay bằng tiếng Trung Quốc: “Mao Chủ tịch, Stalin không chuẩn bị viện trợ trực tiếp cho chúng tôi, cũng không ký hiệp ước với chúng tôi, cuộc chiến tranh chống Pháp của Việt Nam từ nay về sau chỉ có thể dựa vào viện trợ của Trung Quốc.” (Trương Quảng Hoa, bđd. tr. 47.)
Sau chuyến đi cầu viện, tháng 4-1950 Hồ Chí Minh gởi đến Bắc Kinh danh mục xin viện trợ, đồng thời đề nghị CHNDTH lập một trường võ bị ở Trung Hoa để huấn luyện quân đội Việt Minh, gởi cố vấn quân sự sang giúp Việt Minh và xin giúp thêm quân nhu, quân cụ, súng ống. Từ đó, CHNDTH viện trợ tối đa cho VNDCCH đến nỗi theo Đặng Văn Việt, trung đoàn trưởng đầu tiên trung đoàn 174 bộ đội Việt Minh, thì “viện trợ quân sự, vũ khí đạn dược, vào như nước…” (Đặng Văn Việt, Người lính già Đặng Văn Việt, chiến sĩ đường số 4 anh hùng (hồi ức), TpHCM: Nxb. Trẻ, 2003, tr. 179.)
Từ đó, chẳng những viện trợ võ khí, quân nhu, viện trợ kinh tế, mà Trung Cộng còn gởi đoàn cố vấn chính trị và quân sự đông đảo, nói rằng qua giúp đỡ, nhưng thực tế là điều khiển những hoạt động của đảng CSĐD. Những chiến dịch chính trị như phong trào chỉnh huấn, rèn cán chỉnh cơ, rèn cán chỉnh quân, cải cách ruộng đất đều do cán bộ Trung Cộng chỉ huy. Những cuộc hành quân lớn nhỏ của Việt Minh cộng sản cũng đều do sự điều động của quân ủy trung ương Trung Cộng ở Bắc Kinh.
Nhờ sự viện trợ dồi dào toàn diện của Trung Cộng mà lực lượng Việt Minh gượng lại được, bắt đầu chiến thắng trận Đông Khê năm 1950 do tướng Trung Cộng là Trần Canh (Chen Geng) chỉ huy, cho đến trận Điện Biên Phủ năm 1954.
2. Trung Cộng trừ nợ
Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam hay Hiệp định đình chiến Genève ngày 20-7-1954, chia hai Việt Nam ở vĩ tuyến 17. Bắc Việt Nam thuộc VNDCCH do đảng Lao Động theo chủ nghĩa cộng sản cai trị. Nam Việt Nam thuộc chính quyền Quốc Gia Việt Nam, đổi thành Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) ngày 26-10-1955.
Theo Hiệp định Genève, thì ngày 9-10-1954 là hạn chót cho những người muốn di tản khỏi Hà Nội, di cư vào Nam. Hôm sau, ngày 10-10-1954, quân đội CS vào tiếp thu Hà Nội. Hải Phòng, điểm tập trung đồng bào miền Bắc muốn di cư bằng tàu thủy vào miền Nam, do CS tiếp thu ngày 13-5-1955. Ba ngày sau, toán lính Pháp cuối cùng rút lui khỏi đảo Cát Bà (Vịnh Hạ Long, vùng Hải Phòng) ngày 16-5-1955. Sau ngày nầy, quân đội Pháp và quân đội Quốc Gia Việt Nam hoàn toàn không còn ở đất Bắc. Từ nay, phần lãnh thổ và lãnh hải phía bắc vĩ tuyến 17 huộc quyền VNDCCH.
Về vấn đề lãnh hải vịnh Bắc Việt, sau khi Pháp bảo hộ Việt Nam năm 1884, Pháp thương thuyết với nhà Thanh bên Trung Hoa, và cùng nhà Thanh thỏa thuận ngày 2-6-1887 rằng quần đảo Bạch Long Vỹ (BLV) trong vịnh Hạ Long thuộc lãnh hải Việt Nam, tức thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Quần đảo BLV tuy nhỏ, diện tích tổng cộng khoảng 3 km2, nhưng rất quan trọng về kinh tế và quốc phòng. Về kinh tế, khu vực BLV có nhiều hải sản, nhứt là bào ngư, có giá trị dinh dưỡng cao mà người Việt Nam rất ưa thích. Hiện nay, người ta được biết đáy biển vùng nầy có nhiều tiềm năng về chất đốt chưa được khai thác. Về quốc phòng, BLV giữ vị trí chiến lược tiền tiêu để bảo vệ Bắc Việt. Pháp đặt một đơn vị hải quân ở đây, kiểm soát tàu bè đi lại trên vịnh Bắc Việt.
Năm 1949, khi cộng sản chiếm được lục địa Trung Hoa, Tưởng Giới Thạch di tản ra Đài Loan. Một số quân đội Quốc Dân Đảng Trung Hoa chạy sang Bắc Việt Nam lánh nạn, được tập trung đưa đến làm việc ở các vùng quặng mỏ. Trong khi đó, ở ngoài vịnh Bắc Việt, quân Quốc Dân Đảng Trung Hoa từ các hải đảo ở vùng Hải Nam chạy xuống, tràn vào quần đảo BLV, tiếp tục sinh sống nghể đánh bắt cá.
Sau năm 1954, quần đảo BLV thuộc chủ quyền của VNDCCH. Theo lời kể của học giả Dương Danh Dy trong cuộc phỏng vấn của đài BBC Tiếng Việt ngày 13-4-2010, thì: “Câu chuyện lịch sử là như thế này: tháng 10/1954, sau khi ký Hiệp định Genève, quân đội Pháp rút khỏi miền Bắc Việt Nam. Đảo Bạch Long Vĩ lúc đó vẫn là của Việt Nam, nhưng do có một số khó khăn, và tôi cũng không rõ là thỏa thuận ở cấp nào nhưng có việc Việt Nam nhờ Trung Quốc ra tiếp quản hộ. Trung Quốc giữ hộ Việt Nam tới năm 1956 thì trả lại cho Việt Nam. Hồi đó tôi còn trẻ, sau khi vào Bộ Ngoại giao thì tôi có được tận mắt đọc biên bản ký kết về việc Trung Quốc trao trả lại đảo Bạch Long Vĩ cho Việt Nam. Có một chi tiết thú vị là lúc đó Việt Nam còn ngần ngừ chưa nhận vì chưa có phương tiện để ra đảo. Thế là phía Trung Quốc, sau khi thỉnh thị, lại tặng thêm cho Việt Nam hai chiếc ca-nô.” (Trích nguyên văn BBC Tiếng Việt ngày 13-4-2010.) Nguồn tin nầy được Talawas blog ngày 14-04-2010 thuật lại dựa theo tin của Đài BBC Tiếng Việt.
Tuy nhiên, khi trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ Online ngày 24-05-2014, thạc sĩ Hoàng Việt, một nhà nghiên cứu về Biển Đông, nói hơi khác. Sau đây là nguyên văn lời thạc sĩ Hoàng Việt: “Rồi năm 1957, hồng quân Trung Quốc đã chiếm đảo Bạch Long Vĩ rồi sau đó trao trả lại cho phía VNDCCH.” 
Ở đây có điểm khác nhau giữa hai học giả Dương Danh Dy và Hoàng Việt. Ông Dương Danh Dy nói rằng VNDCCH “nhờ Trung Quốc ra tiếp quản hộ.” Ông Hoàng Hiệp thì cho rằng “hồng quân Trung Quốc đã chiếm đảo Bạch Long Vĩ…”
Nếu theo lời kể ông Dương Danh Dy, câu hỏi đặt ra là quân đội CSVN tự hào đã đánh thắng thực dân Pháp năm 1954, thì tại sao CSVN không đủ sức tiếp quản quần đảo BLV lúc đó “đã sạch bóng quân thù”, mà CSVN phải nhờ Trung Cộng tiếp quản? Phải chăng ông Dy ăn nói tránh né một cách “ngoại giao”, vốn là nghể của ông?
Theo lời xác nhận của ông Hoàng Hiệp thì Trung Cộng đánh chiếm BLV năm 1957. Tuy nhiên, ông Hiệp cũng như ông Dy không giải thích vì sao VNDCCH nhờ Trung Cộng tiếp quản, hoặc vì sao Trung Cộng đánh chiếm BLV? Và cả hai ông cũng không giải thích vì sao Trung Cộng trả BLV lại cho VNDCCH, trả lại không công hay trả lại có điều kiện, để đổi lấy cái gì? Có lẽ cả hai học giả lại cùng tránh né một vấn đề mà theo dân chúng vùng Hải Phòng kể lại, có thể khá tế nhị và nghiêm trọng.
Theo lời truyền khẩu của dân chúng địa phương, sau hiệp định Genève năm 1954, quần đảo BLV thuộc chủ quyền của VNDCCH. Tuy nhiên, Trung Cộng lấy cớ BLV có nhiều người gốc Hoa (chạy qua Việt Nam từ sau năm 1949), nên Trung Cộng ngang ngược nhận rằng BLV thuộc chủ quyền Trung Cộng và đánh chiếm BLV. Đây là hành vi thổ phỉ, cướp của (cướp đảo) để trừ nợ mà VNDCCH vay mượn Trung Cộng suốt thời gian từ 1949 đến 1954.
Nhà cầm quyền VNDCCH há miệng mắc quai, đành im tiếng và phải thương lượng với Trung Cộng, đưa đến sự thỏa thuận ngầm là Trung Cộng trả BLV cho VNDCCH, và đổi lại VNDCCH theo đòi hỏi của Trung Cộng, chịu nhượng bộ một điều gì đó mà hai bên không tiết lộ. Đảng CS tức đảng Lao Động thương thuyết và hứa hẹn riêng với đảng CSTH, nhưng bắt dân tộc VN phải gánh những hứa hẹn trao đổi của họ và trả nợ cho Trung Cộng. Dân chúng cho rằng để đổi lấy BLV, VNDCCH đồng ý nhượng quần đảo Hoàng Sa cho Trung Cộng, dầu lúc đó Hoàng Sa thuộc chủ quyền của VNCH.
Cộng sản Việt Nam tưởng mình khôn, “bán da gấu” cho Tàu phù, dùng quần đảo Hoàng Sa để thế chấp trao đổi với Trung Cộng, vì Hoàng Sa ở phía nam vĩ tuyến 17, thuộc chủ quyền của VNCH, biết khi nào cộng sản đánh chiếm được? Thực tế đây là tội phản quốc lớn lao vì không ai được quyền đem tài sản quốc gia để cá cược, dù đó là canh bạc bịp. Ngược lại Trung Cộng muốn tìm đường xuống Biển Đông, tính chuyện lâu dài, sẵn sàng chờ đợi thời cơ chiếm đoạt Hoàng Sa. (Người viết nghe được chuyện nầy tại Đà Nẵng do một bác sĩ gốc Hải Phòng kể lại. Bác sĩ nầy từ Bắc vào Nam làm việc sau năm 1975.)
Nguồn tin từ dân chúng cần được kiểm chứng lại, nhưng thực tế cho thấy nguồn tin nầy giúp làm rõ thêm nguồn tin của hai học giả Dương Danh Dy và Hoàng Việt đã công khai trên báo chí. Sự kiện BLV để lộ rõ ý đồ viện trợ của Trung Cộng cho CSVN là vừa được tiếng tương trợ xã hội chủ nghĩa, vừa bảo vệ biên giới phía nam của Trung Cộng, và nhứt là vừa tìm đường xuống Đông Nam Á.
Phải chăng từ tiền đề BLV đưa đến việc VNDCCH ký kết công hàm ngày 14-9-1958 về chuyện lãnh hải của Trung Cộng?
3. Công hàm trả nợ ngày 14-9-1958
Nguyên từ 24-2 đến 29-4-1958, các thành viên Liên Hiệp Quốc (LHQ) họp tại Genève bàn về luật biển. Hội nghị ký kết bốn quy ước về luật biển. Riêng quy ước về hải phận của mỗi nước, có 3 đề nghị: 3 hải lý, 12 hải lý và 200 hải lý. Không đề nghị nào hội đủ túc số 2/3, nên LHQ chưa có quyết định thống nhất. Lúc đó, Trung Cộng, Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) không phải là thành viên LHQ, nên không được mời tham dự hội nghị nầy.
Trước cuộc tranh cãi về hải phận, Mao Trạch Đông tuyên bố ngày 28-6-1958 với nhóm tướng lãnh thân cận: “Ngày nay, Thái Bình Dương không yên ổn. Thái Bình Dương chỉ yên ổn khi nào chúng ta làm chủ nó.” (Jung Chang and Jon Halliday, MAO: The Unknown Story, New York: Alfred A. Knopf, 2005ccccc tr. 426.) Tiếp đó, ngày 4-9-1958, Trung Cộng đưa ra bản tuyên cáo, nhắm mục đích lên tiếng xác định lập trường về hải phận của Trung Cộng là 12 hải lý, mà không gởi riêng cho nước nào. Trong bản tuyên cáo, điều 1 và điều 4 cố ý lập lại và khẳng định chắc chắn rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (vốn của Việt Nam) thuộc chủ quyền của Trung Cộng và gọi theo tên Trung Cộng là Xisha (Tây Sa tức Hoàng Sa) và Nansha (Nam Sa tức Trường Sa).
Điểm cần chú ý là Trung Cộng lúc đó (1958) chưa phải là thành viên LHQ và không thể dùng diễn đàn của LHQ để bày tỏ quan điểm và chủ trương của mình, nên TC đơn phương đưa ra bản tuyên cáo nầy, thông báo quyết định về lãnh hải của Trung Cộng. Vì vậy các nước khác không nhất thiết là phải trả lời bản tuyên cáo của Trung Cộng, nhưng riêng VNDCCH lại sốt sắng đáp ứng ngay.
Sự quyết đoán ngang ngược của Trung Cộng, bất chấp chẳng những VNDCCH mà bất chấp cả VNCH và cả toàn thế giới về chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa mà thủ tướng Trần Văn Hữu đã khẳng định tại hội nghị San Francsco năm 1951, phải chăng vì đã có sự thỏa thuận bí mật giữa Trung Cộng và VNDCCH sau vụ BLV hai năm trước đó?
Ngoài ra, sau khi đất nước bị chia hai, đảng Lao Động (tức đảng Cộng Sản) cai trị ở Bắc Việt Nam tức VNDCCH, luôn luôn nuôi tham vọng đánh chiến Nam Việt Nam tức VNCH. Muốn đánh VNCH, thì VNDCCH cần được các nước CS viện trợ, nhất là Liên Xô và Trung Cộng. Vì vậy, khi Trung Cộng đơn phương đưa ra bản tuyên cáo về lãnh hải ngày 4-9-1958, thì VNDCCH “không gọi mà dạ”. Phạm Văn Đồng, thủ tướng VNDCCH, vâng lệnh Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị đảng Lao Động, vội vàng ký công hàm ngày 14-9-1958, tán thành tuyên cáo về hải phận của Trung Cộng. Xin ghi lại ở đây một lần nữa nội dung chính hai văn kiện xướng họa nầy, để mọi người đừng quên hành động phản quốc của đảng CSVN.
Tuyên cáo ngày 4-9-1958 của Trung Cộng về hải phận gồm 4 điều, trong đó điều 1 và điều 4 được phiên dịch như sau:
Điều 1: Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Điều lệ nầy áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Đài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (Xisha tức Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Nansha tức Trường Sa), và các đảo khác thuộc Trung Quốc. 
…………..
Điều 4: Điều (2) và (3) bên trên cũng áp dụng cho Đài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu (Bành Hồ), quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa [Trường Sa], và các đảo khác thuộc Trung Quốc… 
Công hàm ngày 14-9-1958, của VNDCCH do Phạm Văn Đồng, vâng lệnh Hồ Chí Minh và đảng CSVN, tán thành tuyên cáo Trung Cộng tức tán thành hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Cộng:
“Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc trên mặt bể.” 
Kết luận
Như thế, ngay từ đầu, từ khi Hồ Chí Minh qua Bắc Kinh làm kiểm điểm và cầu viện, Trung Cộng đã hào phóng viện trợ cho VNDCCH chẳng phải tốt lành gì, mà cốt để gài bẫy nợ. “Cá cắn câu biết khi nào gỡ / Chim vào lồng biết thuở nào ra…”
Đến khi CSVN làm chủ Bắc Việt Nam sau năm 1954, Trung Cộng liền đánh chiếm quần đảo BLV để trừ nợ mà dân gian còn gọi là “xiết nợ hay siết nợ”. Lần nầy, Hồ Chí Minh và tập đoàn lãnh đạo đảng CSVN lại bí mật hứa hẹn thế chấp ngầm với Trung Cộng như thế nào, nên Trung Cộng mới chịu trả lại BLV cho VNDCCH. Vì vậy, khi Trung Cộng ra tuyên cáo ngày 4-9-1958 thì VNDCCH nhanh chóng gởi công hàm đáp ứng đúng theo yêu cầu trong bản tuyên cáo của Trung Cộng.
Tán thành và tôn trọng bản tuyên cáo ngày 4-9-1958 của Trung Cộng có nghĩa là VNDCCH công nhận quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa, vốn của Việt Nam, thuộc chủ quyền Trung Cộng.
Phản quốc đến thế là cùng!
09.07.2018
Advertisements
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Tổng thống Donald Trump dọa áp thuế 500 tỉ USD giá trị hàng hóa TQ Ngày đăng 10-07

Tổng thống Donald Trump dọa áp thuế 500 tỉ USD giá trị hàng hóa TQ

Tổng thống Mỹ Donald Trump vừa cho hay hôm 5.7 (giờ Mỹ) rằng nước này cuối cùng có thể áp thuế quan lên hơn 500 tỉ USD giá trị hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc.

Theo CNBC, hiện hai nền kinh tế lớn nhất thế giới đang chuẩn bị bước vào cuộc chiến thương mại.
Ông Trump xác nhận rằng Mỹ sẽ thu thuế quan áp lên 34 tỉ USD giá trị hàng hóa Trung Quốc bắt đầu từ 12 giờ 01 phút (giờ GMT) hôm nay 6.7, và cảnh báo thêm các vòng đánh thuế tiếp theo có thể vượt quá mức 500 tỉ USD giá trị hàng hóa. Con số 500 tỉ USD gần bằng số giá trị hàng hóa mà Mỹ nhập khẩu từ Trung Quốc trong năm qua.
Tổng thống Mỹ nói với cánh báo giới từ chiếc Air Force One: “Bạn có thêm 16 tỉ USD hàng hóa bị đánh thuế trong hai tuần nữa. Và sau đó, như bạn đã biết, chúng ta có 200 tỉ USD hàng hóa, sau nữa là 300 tỉ USD hàng hóa. Ok? Chúng ta có 50 cộng với 200 và cộng tiếp với gần 300 nữa”.
Lời nói của Tổng thống Mỹ thể hiện ý định tăng lượng hàng hóa chịu thuế của Trung Quốc, để đề phòng việc Trung Quốc trả đũa. Trước đó, ông Trump đe dọa áp thuế quan thêm lên đến 400 tỉ USD hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc, nếu nước này tiếp tục với kế hoạch trả đũa thuế quan của Mỹ. Các mặt hàng của Trung Quốc bị Mỹ áp thuế gồm ô tô, ổ đĩa máy tính, các bộ phận máy bơm và đi-ốt phát sáng.
Cục Hải quan và Bảo vệ Biên giới Mỹ thông báo họ sẽ bắt đầu thu thuế quan 25% lên 818 mặt hàng nhập khẩu từ Đại lục, vốn được Đại diện Thương mại Mỹ xác định hồi tháng 6.
Bắc Kinh từng tuyên bố sẽ phản ứng ngay tức thì thuế quan của Mỹ bằng việc áp thuế lên lượng hàng hóa Mỹ tương đương. Các mặt hàng Mỹ bị nhắm đến gồm ô tô, nông sản và nhiều sản phẩm khác. Hiện không rõ động thái từ Đại lục có thể khiến căng thẳng thương mại leo thang thành một cuộc chiến thương mại toàn diện ra sao.
Không có bằng chứng về việc đàm phán phút chót giữa giới chức Mỹ và Trung Quốc, các nguồn thạo tin kinh doanh ở Washington và Bắc Kinh cho hay. Yêu cầu bình luận gửi đến Bộ Tài chính Mỹ và Bộ Thương mại Mỹ không được trả lời.
Tranh chấp thương mại giữa hai nền kinh tế số một thế giới khiến thị trường tài chính toàn cầu trong những tuần gần đây chao đảo. Cổ phiếu, tiền tệ và thương mại hàng hóa toàn cầu, từ đậu nành cho đến than, đều bị ảnh hưởng. Trung Quốc tuyên bố nước này sẽ không “bắn phát súng đầu tiên” trong cuộc chiến thương mại với Mỹ, nhưng cơ quan hải quan nói rõ rằng thuế đáp trả từ phía Đại lục sẽ có hiệu lực ngay sau khi thuế quan của Mỹ được tung ra.
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

TQ vi phạm Phán quyết của Tòa Trọng tài tại Bãi cạn Scarborough

TQ vi phạm Phán quyết của Tòa Trọng tài tại Bãi cạn Scarborough

Thời gian gần đây, Bãi cạn Scarborough thường xuyên được báo chí, truyền thông các nước đề cập tới do liên quan đến các tranh chấp Biển Đông. Đây cũng là khu vực mà Trung Quốc đã nhiều lần vi phạm theo Phán quyết của Tòa Trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII của Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (7/2016).

Bãi cạn Scarborough là một đảo san hô vòng gồm nhiều đá ngầm và đá nổi, nằm giữa bãi Macclesfield và đảo Luzon của Philippines ở Biển Đông. Bãi này cách vịnh Subic 123 hải lý (198 km) và đảo Luzon 137 hải lý (220 km) về phía Tây, cách xa bờ biển Đông Nam Trung Quốc khoảng 540 hải lý (867 km). Hiện nay, Trung Quốc, Đài Loan và Philippines đều tuyên bố chủ quyền đối với Bãi cạn Scarborough. Trong đó, Trung Quốc cho rằng đây là một phần lãnh thổ của nước này, ít nhất là từ thế kỷ 13 và lấy các bản đồ cổ làm bằng chứng. Philippines khẳng định họ đã thực thi chủ quyền của mình với bãi cạn này từ năm 1965 bằng cách xây một ngọn hải đăng bằng sắt tại đây. Philippines cũng cho rằng bãi cạn này hoàn toàn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý được Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS) công nhận. Kể từ năm 1997, Philippines đòi chủ quyền đối với bãi cạn này. Tuy nhiên, đến tháng 6/2012, Trung Quốc đã chiếm thành công Bãi cạn Scarborough từ tay Philippines.

Phán quyết của Tòa về Bãi cạn Scarborough

Tòa Trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII của Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) về vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc liên quan đến Biển Đông (12/7/2016) đã ra phán quyết, trong đó bác bỏ “đường lưỡi bò” phi pháp của Trung Quốc. Phán quyến Tòa nêu rõ “Trung Quốc đã vi phạm quyền chủ quyền của Philippines trong vùng đặc quyền kinh tế của nước này bằng việc (a) can thiệp vào hoạt động đánh cá và thăm dò dầu khí của Philippines, (b) xây dựng đảo nhân tạo và (c) không ngăn chặn ngư dân Trung Quốc đánh bắt ở khu vực này. Tòa cũng khẳng định rằng ngư dân từ Philippines (cũng như ngư dân từ Trung Quốc) đã có quyền đánh cá truyền thống ở Bãi cạn Scarborough và rằng Trung Quốc đã ngăn chặn các quyền này bằng cách hạn chế việc tiếp cận khu vực này. Tòa cũng khẳng định rằng các tàu chấp pháp của Trung Quốc gây ra một rủi ro va chạm nghiêm trọng một cách bất hợp pháp khi họ đã trực tiếp cản trở các tàu của Philippines”. Như vậy, rõ ràng sự chiếm đóng và những hoạt động quân sự của Trung Quốc trong Bãi Scarborough đều là vi phạm phán quyết. Vậy mà, chỉ tính từ cuối năm 2017 đến này, Trung Quốc đã liên tục vi phạm phán quyết của Tòa tại Vùng biển này.

Những lần Trung Quốc vi phạm phán quyết

(1) Ngày 20/01/2018, Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngang nhiên lên tiếng cáo buộc Mỹ đưa tàu khu trục USS Hopper thuộc lớp Arleigh Burke mang tên lửa dẫn đường của Mỹ đã đi vào khu vực 12 hải lý quanh Bãi cạn Scarborough ở Biển Đông vào “vùng lãnh hải” xung quanh Bãi cạn Scarborough ở Biển Đông mà Trung Quốc khẳng định đó là chủ quyền lãnh thổ của mình, đồng thời đe dọa sẽ áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ “chủ quyền”.

(2) Ngày 26/3/2018, Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Delfin Lorenzana cho biết Trung Quốc thường xuyên có hành động phản đối, ngăn cản việc quân đội Philippines tiến hành tuần tra thông thường bằng đường không trên Bãi cạn Scarborough ở Biển Đông. Bộ trưởng Delfin Lorenzana khẳng định những khu vực đó nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines và Trung Quốc không có quyền gì ở đó, đồng thời tuyên bố sẽ tiếp tục duy trì hoạt động tuần tra bất chấp sự phản đối từ Trung Quốc.

(3) Ngày 11/5/2018, một biên đội hỗn hợp của Trung Quốc gồm tàu Hải cảnh mang số hiệu 3368 và tàu Hải quân mang số hiệu 549 đã tìm cách ngăn cản và đe dọa tàu BRP Benguet của Hải quân Philippines đang tiếp tế cho lính đồn trú ở bãi Cỏ Mây thuộc quần đảo Trường Sa. Tờ Phil Star sau đó (01/6) dẫn thông tin từ Nghị sĩ Gary Alejano (đại diện của đảng Magdalo) cho biết quân đội Philippines đã gửi thông báo cho Bộ Ngoại giao về sự việc này để phản đối hành động của phía Trung Quốc. Sau khi Trung Quốc chiếm Bãi cạn Scarborough, quân đội Philippines đã sử dụng tàu chiến cũ BRP Sierra Madre mắc cạn ở bãi Cỏ Mây như một tiền đồn để thể hiện sự hiện diện ở khu vực này. Trên tàu Sierra Madre có một đơn vị thủy quân lục chiến thường xuyên đồn trú và phải phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn tiếp tế từ đất liền. Và cũng chính vì điều này mà Trung Quốc thường xuyên tìm cách cắt nguồn viện trợ của tàu Sierra Madre. Nghị sĩ Gary Alejano cho biết “khi tàu Philippines thả xuồng cao su chuyển đồ tiếp tế cho tàu Sierra Madre, một trực thăng của hải quân Trung Quốc đã bay ngay phía trên ở khoảng cách gần và nguy hiểm. Chiếc trực thăng bay gần đến mức nước biển tràn cả vào xuồng”.

(4) Ngày 11/6/2018, Hãng tin AFP của Pháp cho biết người phát ngôn của Tổng thống Philippines, ông Harry Roque đã xác nhận việc Cảnh sát biển của Trung Quốc (5/2018) đã tiếp tục ngăn cản và tịch thu toàn bộ cá đánh bắt của ngư dân Philippines tại vùng biển Scarborough nằm trong vùng Đặc quyền kinh tế của Philippines. Trước đó, truyền thông Philippines đồng loạt đưa tin ngày 20/5/2018, một Nhóm phóng viên của GMA News đã dùng điện thoại quay lại toàn bộ vụ việc hai cảnh sát biển Trung Quốc lên một tàu cá Philippines và lấy cá mà ngư dân Philippines đánh bắt ở bãi cạn Scarborough. Theo lời ngư dân Philippines “ngay khi họ (cảnh sát biển Trung Quốc) thấy cá, họ sẽ lấy bất cứ con nào mà họ muốn rồi bỏ vào túi nhựa. Thậm chí, họ còn lấy những con ngon nhất”. Vào tháng 2/2018, Philippines cũng từng nêu quan ngại với Trung Quốc trong một cuộc họp ở Manila, sau khi nhận được báo cáo nói rằng Lực lượng Tuần duyên Trung Quốc đã đe dọa và tịch thu toàn bộ hải sản đánh bắt được của ngư dân Philippines tại Bãi cạn Scarborough. Tình trạng này diễn ra thường xuyên bất chấp việc trước đây đã nhiều cuộc biểu tình của người dân Philippines phản đối hành động phi pháp và ngang ngược của Trung Quốc.

(5) Ngày 20/6/2018, do lo ngại việc Trung Quốc ngăn cản, xuôi đuổi ngư dân đánh bắt tại Bãi cạn Scarborough, Quyền Chánh án Toà Tối cao Philippines Antonio Carpio đã kêu gọi ba nước là Philippines, Trung Quốc và Việt Nam thiết lập các quy định đánh cá chung tại khu vực Bãi cạn Scarborough. Ông Antonio Carpio cho rằng phán quyết của Tòa xác định đây là vùng đánh cá chung của ngư dân ba nước và khẳng định rằng các tàu chấp pháp của Trung Quốc gây ra một rủi ro va chạm nghiêm trọng một cách bất hợp pháp khi họ đã trực tiếp cản trở các tàu của Philippines”. Việc ngư dân Philippines không được vào bãi cạn trong khi ngư dân Trung Quốc được tiếp tục đánh bắt tại đây là một sự phân biệt và Philippines nên phản đối hoặc hỏi ý kiến của tòa.

Hậu quả từ những hành động vi phạm phán quyết của Trung Quốc tại Bãi cạn Scarborough

Việc Trung Quốc vi phạm phán quyết và pháp luật quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982 đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng:

Thứ nhất, những hoạt động của Trung Quốc tại Bãi cạn Scarborough như xuôi đuổi, ngăn cản hoạt động đánh bắt của ngư dân, quân sự hóa, mở rộng đảo hay đe dọa hoạt động lưu thông hàng hải ở khu vực này rõ ràng đã phá vỡ những chuẩn mực chung của luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982 và làm suy giảm vai trò của Tòa Trọng tài Liên hợp quốc.

Thứ hai, những hoạt động của tàu quân sự và tàu đánh cá của Trung Quốc tại Bãi cạn Scarborough đã khiến cho môi trường sinh thái, nguồn tài nguyên thiên nhiên bị hủy hoại nghiêm trọng. Đặc biệt, đối với Philippines, hoạt động đánh bắt cá của ngư dân Philippines bị ảnh hưởng nghiêm trọng khi Trung Quốc ngăn cấm không cho ngư dân Philippines vào đánh bắt ở vùng biển vốn là ngư trường truyền thống của họ. Ngày 15/6/2018, Cục Thủy sản và Tài nguyên nước Philippine đưa ra một báo cáo cho thấy mức thiệt hại nặng nề đối với các rặng san hô quanh khu vực Bãi cạn Scarborough dưới sự kiểm soát của lực lượng Tuần duyên Trung Quốc. Bản báo cáo nêu rõ khu vực Bãi cạn Scarborough hiện không còn cá nữa vì thức ăn cho cá là san hô đã biến mất và phải mất ít nhất 40 năm san hô mới mọc lại. Nguyên nhân là do không có người quản lý ngư dânTrung Quốc ở đây, để họ thỏa sức đánh bắt trái phép, bao gồm việc sử dụng chất nổ đối với các rặng san hô.

Thứ ba, hoạt động quân sự hóa của Trung Quốc tại Bãi cạn Scarborough, trong đó Trung Quốc thường xuyên duy trì nhiều tàu quân sự còn khiến cho hoạt động hàng hải tại khu vực này trở nên phức tạp, rất dễ xảy ra va chạm giữa tàu thuyền các nước với tàu thuyền Trung Quốc nếu các bên không kiềm chế.

Phản ứng của Philippines

Mặc dù Trung Quốc có các hành động như vậy, song chính quyền của Tổng thống Duterte lại theo đuổi chính sách thực dụng, mềm mỏng, tránh đối đầu trực tiếp với Trung Quốc. Philippines chủ động thúc đẩy hợp tác song phương với Trung Quốc, trong đó lấy các thỏa thuận hợp tác khai thác chung ở Biển Đông làm điểm nhấn. Giới quan sát cho rằng chính sách hiện nay của Chính quyền Philippines đối với Trung Quốc là nhằm tranh thủ sự ủng hộ về chính trị, quân sự, ngoại giao, nhất là các khoản đầu tư kinh tế của Trung Quốc tại Philippines, đồng thời Philippines cũng muốn dùng ảnh hưởng của Trung Quốc để mặc cả với Mỹ và phương Tây. Mặt khác, chính quyền Philippines cũng tìm cách trấn an người dân, xoa dịu dư luận bằng một số tuyên bố phản đối các hành động của Trung Quốc một cách thận trọng, có chừng mực. Có thể nói, chính sự nhu nhược của Chính quyền Philippines đã tạo điều kiện để Trung Quốc ngang nhiên vi phạm phán quyết của Tòa và luật pháp quốc tế.

Tuy vậy, một bộ phận chính giới và người dân Philippines đã phản đối mạnh mẽ các hành động của Trung Quốc vi phạm phán quyết, xâm phạm chủ quyền của Philippines tại Bãi cạn Scarborough. Một số cuộc biểu tình của người dân Philippines đã nổ ra để yêu cầu Trung Quốc ngừng ngăn cản hoạt động đánh bắt và tịch thu cá của ngư dân Philippines. Bộ phận chính trị gia tại Philippines liên tục chỉ trích thái độ nhu nhược trước Trung Quốc của Chính quyền Tổng thống Duterte, cho rằng Chính quyền Philippines đã bỏ qua phán quyết của Tòa, chấp nhận đánh đổi chủ quyền cho Trung Quốc để lấy lợi ích kinh tế.

Hiện nay, Trung Quốc và ASEAN đang tiến hành đàm phán về COC, trong đó Trung Quốc liên tục đưa ra các tuyên bố khẳng định tình hình Biển Đông đang ổn định và phát triển, các nước đạt nhiều tiến triển trong giải quyết tranh chấp là nhờ vào những nỗ lực của Trung Quốc. Song trên thực tế, Trung Quốc lại liên tục vi phạm phán quyết và pháp luật quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982. Có thể thấy, những bằng chứng về hoạt động quân sự hóa, mở rộng bồi đắp đảo và hành động uy hiếp xuôi đuổi ngư dân các nước… đã phủ nhận hoàn toàn những lập luận, tuyên bố tuyên truyền trên của Trung Quốc. Để Biển Đông thực sự là vùng biển hòa bình và phát triển, các nước cần kiên trì giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông trên cơ sở tôn trọng Luật pháp quốc tế, trong đó có phán quyết của Tòa (7/2016) và UNCLOS 1982, thực hiện nghiêm túc và đầy đủ DOC và thúc đẩy sớm đạt được COC. Bên cạnh đó, các nước ASEAN và cộng đồng quốc tế cũng cần phải có tiếng nói chung trong việc lên án mạnh mẽ hơn các hành động vi phạm phán quyết, coi thường luật pháp quốc tế của Trung Quốc, nhất là những hành động đe dọa an ninh, an toàn hàng hải, hàng không và thương mại quốc tế, cũng như việc hủy hoại môi trường biển và ngăn cản hoạt động đánh bắt hải sản chính đáng của người dân các nước.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Nhật Bản: Hình mẫu lý tưởng cho Việt Nam?

Nhật Bản: Hình mẫu lý tưởng cho Việt Nam?

Nhật Bản vẫn sẽ là lá cờ đầu , là niềm tự hào của bóng đá Châu Á.Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionNhật Bản vẫn sẽ là lá cờ đầu , là niềm tự hào của bóng đá Châu Á.

Cuối những năm 50 của thế kỷ trước, Nhật Bản đã từng phải “năn nỉ” để được thi đấu với đội tuyển Việt Nam và rồi phải nhận kết quả thua ba trắng.

Gần 70 năm sau hãy nhìn vào vị trí của nền bóng đá hai nước trên bản đồ thế giới và cùng suy ngẫm.

Như chúng ta đã biết Nhật Bản đã phải dừng bước tại World Cup 2018 sau một trận đấu nghẹt thở tới những phút cuối cùng với Bỉ.

Trong tư thế là đội bị đánh giá yếu hơn và bị đại diện của Châu Âu dồn ép rất nhiều ngay từ lúc khai cuộc nhưng Nhật Bản bất ngờ vượt lên dẫn trước ở phút 48 sau một pha phản công.

Càng bất ngờ hơn nữa khi chỉ bốn phút sau đó, cú sút xa của Takashi Inui đã vượt qua khỏi tầm với của Thibaut Courtois trong sự ngỡ ngàng của tất cả mọi người.

Những bất ngờ liên tiếp giúp Anh rộng cửa vào chung kết

Thụy Điển sẽ gặp người thắng ở cặp Anh đấu Colombia

Các cầu thủ Nhật Bản ăn mừng sau khi vượt lên dẫn trước đầy bất ngờ.Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionCác cầu thủ Nhật Bản ăn mừng sau khi vượt lên dẫn trước đầy bất ngờ.

Những tưởng đại diện cuối cùng của châu Á đã có thể làm nên kỳ tích tại World Cup năm nay thì những gì diễn ra sau đó thật đau đớn.

Với thể hình vượt trội cộng thêm một chút may mắn, tuyển Bỉ đã thiết lập lại thế cân bằng ở phút 74 sau những pha đánh đầu của Jan Vertonghen và cầu thủ vào sân thay người Fellaini.

Mbappe: fan ruột của Ronaldo thành sao sáng ở WC

Bị gỡ hai bàn chóng vánh nhưng tinh thần của các Samurai vẫn không hề nao núng, họ vẫn chủ động triển khai tấn công chứ không hề co cụm về phòng thủ kéo trận đấu để giải quyết trên chấm penalty sẽ là một chiến thuật hợp lý hơn.

Và chính trong một pha tấn công như thế, khi trận đấu chỉ còn được tính bằng giây, xuất phát từ một pha đá phạt góc không tốt của đội bóng áo xanh, các cầu thủ Bỉ đã có một pha phản công nhanh và ra một đòn kết liễu đúng vào phút 90 +4.

Nacer Chadli (áo đỏ) có pha đệm bóng kết thúc trận đấu ở những giây cuối cùng.Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionNacer Chadli (áo đỏ) có pha đệm bóng kết thúc trận đấu ở những giây cuối cùng.

Nacer Chadli, một “máy chạy “được HLV Martinez đưa vào sân từ băng ghế dự bị đã cho thấy tác dụng của mình khi nước rút vượt qua nhiều cầu thủ Nhật Bản lúc đó đã thấm mệt để đệm bóng cận thành, kết thúc một trong những trận đấu hay nhất kể từ khi World Cup khởi tranh.

Một kết cục quá nghiệt ngã cho đại diện của Châu Á khi họ đã vượt lên dẫn trước tới hai bàn cách biệt.

Tinh thần võ sỹ đạo

Đã có những ý kiến phê bình ngay sau trận đấu cho rằng tại sao Nhật Bản lại không rút về co cụm phòng thủ, khống “đỗ xe bus hai tầng” trước khung thành của Kawashima thì biết đâu họ đã không phải nhận trái đắng như vậy.

Nhưng những người đó cũng đâu có biết rằng, cũng ngay tại World Cup năm nay, trong trận đấu cuối cùng ở vòng bảng với Ba Lan, trong vòng gần mười phút cuối trận, Nhật Bản lúc đó đang bị dẫn trước 1-0 nhưng đã đá rất thảnh thơi và không có ý định gỡ hòa.

Nguyên do là đối thủ cạnh tranh cùng họ là Senegal đang bị đẫn trước 1-0 và thua họ về chỉ số phụ nên nếu giữ nguyên kết quả này vẫn là đủ để Nhật Bản đi tiếp.

Thực ra hành động câu giờ của Nhật Bản đã làm như trong trận đấu với Ba Lan là một hành động hết sức bình thường trong bóng đá và chắc hẳn sẽ rất ít đội có thể làm khác đi nếu rơi vào tình huống đó.

Đức bị loại: ‘Cái chết’ được báo trước?

Thực lực trận Bỉ – Nhật Bản trước giờ bóng lăn

Nhưng những hành động đó vẫn bị các cổ động viên la ó trên khán đài, bị các fan và truyền thông chỉ trích đến nỗi HLV trưởng của Nhật Bản, ông Akira Nishino, đã phải đứng ra xin lỗi vì đã chỉ đạo các học trò kéo dài thời gian, AFP đưa tin từ Volvograd.

Ông nói: “Tôi là người chịu trách nhiệm vì đã buộc các cầu thủ chơi không giống như bản chất của họ, nhưng tôi đã còn sự lựa chọn nào khác”

“Đối thủ tiếp theo của chúng tôi là đội tuyển Bỉ và chỉ còn 10 phút nữa là trận đấu kết thúc, tôi không muốn bất cứ điều gì bất lợi xảy ra cả.”

Người Nhật Bản từ lâu đã được biết tới với tinh thần võ sỹ đạo, tinh thần của những Samurai chân chính và đây chính là lý do vì sao họ trở thành mục tiêu của sự chỉ trích cho sự thiếu fairplay – một hành động hợp lý nhưng không hợp tình.

Cổ động viên Nhật Bản đã không cầm được nước mắt khi chứng kiến đội tuyển để thua một cách đau đớnBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionCổ động viên Nhật Bản đã không cầm được nước mắt khi chứng kiến đội tuyển để thua một cách đau đớn.

Có lẽ chính những sự phê phán này phần nào khiến các cầu thủ Nhật Bản trong trận đấu ngay sau đó gặp Bỉ vẫn một mực chơi đôi công dù đã dẫn trước hai bàn để rồi nhận phải cú hồi mã thương của những chú Quỷ Đỏ.

Phải nói rằng Bỉ cũng đã thi đấu rất hay, đặc biệt là những quyết định thay người hợp lý của HLV Martinez trong hiệp hai nhưng thực sự Nhật Bản cũng rất xứng đáng để được đi tiếp.

Người dân Nhật Bản nói riêng và Châu Á nói chung có quyền tự hào về thành tích mà các cầu thủ xứ sở Mặt trời mọc đã làm được tại giải đấu năm nay khi chỉ phải chịu thua trong những giây cuối cùng trước một ứng cử viên nặng ký cho chức vô địch.

Hành động đẹp trong và ngoài sân bóng

Các cầu thủ cùng ban huấn luyện cúi đầu trước khán giả sau trận đấuBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionCác cầu thủ cùng ban huấn luyện cúi đầu trước khán giả sau trận đấu

Kết thúc trận đấu, các cầu thủ gục ngã trên sân và cũng không thể giấu được nỗi thất vọng.

Những giọt nước mắt đã rơi trên khuôn mặt của các chiến binh – họ đã chiến đấu hết mình để không làm xấu hình ảnh và biểu tượng lâu đời của quốc gia.

Những cầu thủ cũng không quên cảm ơn những người hâm mộ chân chính, đã lặn lội đường xa để tới sân chứng kiến và cổ vũ họ.

Toàn bộ cầu thủ cùng ban huấn luyện vừa khóc vừa cúi đầu cảm ơn cũng như xin lỗi vì đã không thể tiến xa hơn được ở giải đấu nhưng họ đâu biết rằng, trong trái tim của người hâm mộ họ đã là người chiến thắng.

Trên các khán đài, các cổ động viên cũng nán lại trước khi rời sân để thu dọn rác, hành động đẹp khiến nhiều người bầu họ là “các fan tuyệt nhất thế giới”.

Điều đặc biệt là đây cũng không phải lần đầu tiên cổ động viên Nhật làm điều này – không chỉ các trận đấu diễn ra tại World Cup năm nay mà còn ở các giải đấu lớn nhỏ khác, người Dân Nhật Bản vẫn luôn có những cử chỉ đẹp như thế này.

Từ đầu giải đến giờ, đây không phải lần đầu tiên các cổ động viên Nhật Bản có những cử chỉ đẹp như thế này.Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTừ đầu giải đến giờ, đây không phải lần đầu tiên các cổ động viên Nhật Bản có những cử chỉ đẹp như thế này.

Trong phòng thay đồ, các cầu thủ dù rất tâm trạng nhưng vẫn không quên dọn thật gọn gàng phòng thay đồ lần cuối trước khi về nước.

Họ cũng để lại một mảnh giấy viết tay với dòng chữ “xin cảm ơn” để gửi tới những người lao công đã luôn dọn dẹp phòng thay đồ giúp họ.

Có người từng nói “Đừng bao giờ quá bận rộn để nên nói lời “cảm ơn” và “làm ơn”,”- đây là những thứ mà mỗi người dân Nhật Bản đều đã được dạy ngay từ khi còn là một đứa trẻ. Đó là lời giải thích vì sao Nhật Bản vẫn luôn được đánh giá là một nơi có xã hội văn minh nhất.

Cùng bị chịu ảnh hưởng của chiến tranh, cùng là một quốc gia từng gặp nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế, nhưng Nhật Bản đã sớm vực dậy và đã bỏ xa Việt Nam.

Sẽ có rất nhiều điều mà Việt Nam phải noi theo nếu muốn bắt kịp Nhật Bản, và một trong những điều quan trọng nhất đó chính là văn hóa ứng xử nếu muốn có một hình tượng đẹp hơn trong con mắt bạn bè quốc tế.

Categories: Tin-Tức Thế-Giới | Leave a comment

Vũ khí giúp chống bệnh mất trí nhớ và trầm cảm

Vũ khí giúp chống bệnh mất trí nhớ và trầm cảm

Silvia GravBản quyền hình ảnhSILVIA GRAV

Bố tôi, ông Piet, bị bệnh Alzheimer. Ông là một trong hàng nghìn trường hợp mắc bệnh này.

Alzheimer là một trong những dạng bệnh mất trí nhớ phổ biến nhất. Điều này có nghĩa là các tế bào trong não của ông không còn hoạt động như bình thường nữa.

Căn bệnh quái ác

Một số ký ức cũ của ông vẫn còn, nhưng chứng mất trí nhớ đã tạo ra những viền đen bao quanh nhiều ký ức trong số đó, biến chúng thành những đoạn ký ức không thể tiếp cận, rời rạc và khó hiểu mà ông không còn có thể ráp lại theo cách thông thường nữa.

Tôi không viết ra đây để kêu gọi lòng thương hại dành cho ông hoặc gia đình của ông. Ông không bao giờ muốn điều đó.

Răng trắng chưa chắc đã là răng khỏe?

Bạn có bị bệnh tim mà không hay biết?

Thế giới hiện đại gây ảnh hưởng não người ra sao?

Liệu có còn chỗ chôn người chết?

Nhưng ông muốn chúng tôi hiểu rõ hơn về một căn bệnh đang giết chết rất nhiều tế bào thần kinh quan trọng và thay đổi hành vi của ông mà không có cách gì đảo ngược được.

Khi ông mới chớm mắc bệnh, tôi hỏi ông chứng mất trí nhớ có cảm giác thế nào.

Ông cho tôi biết nó như thể một khoảng tối hoặc đám mây cứ liên tục bám theo ông. Ông nói rằng ông không sợ những gì đang xảy ra với mình. Sự chấp nhận khiến ông dễ sống chung với nó hơn.

Ảnh hưởng tích cực của âm nhạc

Nhưng khi bệnh tình tước đi sự tự lập của ông, tình yêu âm nhạc của ông vẫn tồn tại. Ông là người đã đưa tôi đến với nhạc rock thập niên 1970, thời niên thiếu của tôi, ông đã dắt tôi đi xem nhạc kịch và thường mở vang các bài nhạc cổ điển trong nhà.

Hogenboom FamilyBản quyền hình ảnhHOGENBOOM FAMILY

Hiện tại, ngay cả khi khả năng giao tiếp bằng lời nói của ông bị giảm sút, âm nhạc là thứ vẫn có mối quan hệ hiện hữu với ông, đặc biệt là nhạc kịch.

Trong hai năm qua, nhờ sự trợ giúp của liệu pháp âm nhạc, ông bắt đầu học các kỹ năng âm nhạc mới. Ông gảy những nốt đơn giản trên hai cây đàn lia – một nhỏ, một lớn – và hát nhiều lần trong ngày.

Khi hát, ông gọi đó là “opera”. Thi thoảng ông sẽ đột nhiên hát lên ở siêu thị, khi đi bộ hoặc là giữa cuộc họp mặt toàn gia đình.

Chất thải từ người là năng lượng tương lai?

Có nên tránh bơi khi vừa ăn xong?

Điều gì sẽ xảy ra nếu nữ khỏe hơn nam?

Đôi khi ông sẽ vụng về ngắt ngang bất cứ cuộc trò chuyện nào đang tiếp diễn. Ông chỉ đứng dậy và nói “Bây giờ tôi muốn hát opera” và hát to lên một số giai điệu không lời.

Có lúc chúng nghe khá hay và cũng có lúc không được hay lắm. Nhưng điều này không quan trọng. Ông vẫn tiếp tục mà không hề thấy xấu hổ vì được chú ý – dù ông chưa bao giờ muốn thu hút sự chú ý.

Từ lâu tôi đã biết âm nhạc có thể được sử dụng như liệu pháp cho những người giống cha tôi, nhưng nó còn có những lợi ích đáng ngạc nhiên khác nữa.

Âm nhạc là một trong nhiều công cụ nghiên cứu đang được các nhà khoa học sử dụng để tìm hiểu về bộ não – bao gồm cách thức và lý do tại sao nó dần dần ngưng hoạt động.

“Người ta vẫn gọi âm nhạc là ‘siêu tác nhân kích thích’. Nó thật sự kích hoạt toàn thể não bộ của chúng ta.

Đó là lý do tại sao nó lại rất có uy lực; có thể tạo nên tất cả những ảnh hưởng này đối với con người, không chỉ với những người mất trí nhớ mà là tất cả chúng ta,” Amee Baird, nhà tâm lý học thần kinh lâm sàng tại Đại học Macquarie ở Sydney cho biết.

“Tựa như thứ tách biệt này được giữ gìn trong bối cảnh một người nào đó nói theo cách khác là đã bị suy yếu về nhận thức.”

Với bố tôi, chứng mất trí nhớ bắt đầu từ sớm. Nó bắt đầu khi ông ở độ ngũ tuần và bắt đầu như một vết mờ trên bộ não lẽ ra đang khỏe mạnh.

Ban đầu không có nhiều thay đổi. Nhưng trong gần 10 năm sau đó, căn bệnh đã dần dần tước đi vốn tiếng Anh của ông, mặc dù ông đã sống ở Anh hơn 20 năm, và cũng lấy mất phần nhiều vốn tiếng Hà Lan, ngôn ngữ mẹ đẻ của ông.

Bố tôi không hề thuộc diện có nguy cơ mắc chứng mất trí nhớ. Gia đình tôi chưa có tiền sử mắc bệnh này. Ông luôn là người mảnh khảnh, khỏe mạnh và năng động.

Đây là một phần lý do tại sao căn bệnh này lại có sức tàn phá đến như vậy – nó có thể ảnh hưởng đến bất cứ ai và chúng ta vẫn không hiểu tại sao.

Silvia GravBản quyền hình ảnhSILVIA GRAV

Riêng tại Anh, có khoảng 850.000 người mắc chứng mất trí nhớ, một con số dự báo sẽ còn tăng khi chúng ta tiếp tục sống lâu hơn.

Chỉ một phần nhỏ trong số đó mắc bệnh ở độ tuổi như bố tôi. Đây là lý do tại sao tôi rất vui mừng khi khám phá ra một nghiên cứu tình huống gần đây về một phụ nữ 91 tuổi có tên là Norma mắc bệnh Alzheimer cấp tiến.

Bà không còn nhận ra người thân và thường không thể tạo ra ký ức mới. Dù vậy, bà đã có thể học một bài hát mới bà chưa từng nghe trước đây.

Bà không hề được đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp, nhưng, theo con gái bà, âm nhạc luôn khiến bà hạnh phúc.

Con gái của Norma đã liên lạc với Baird, người nghiên cứu âm nhạc và chứng mất trí nhớ, để giải thích rằng mẹ bà vẫn hát những bài nhạc pop mới trong xe.

Nhà tâm lý học thần kinh đã cuốn hút bởi trường hợp này.

“Việc những người bị mất trí nhớ hát theo những bài hát cũ khi còn trẻ là chuyện phổ biến. Nhưng những bài hát mới thì không,” Baird nói.

Bộ nhớ âm nhạc của Norma đã được thử nghiệm bằng nhiều cách.

Đầu tiên, bà được gợi ý với những bài hát quen thuộc như Waltzing Matilda và You are My Sunshine để xem bà có thể hát hết bài không. Đúng như trông đợi, bà đã không gặp vấn đề gì với những bài hát này.

Sau đó, bà được dạy giai điệu của một khúc đồng dao Na Uy xa lạ. Bà nhớ được nó sau 24 giờ làm quen. Sau đó, bà được kiểm tra lại sau hai tuần, và một lần nữa nhớ lại giai điệu chỉ với những gợi ý tối thiểu.

Để kiểm tra trí nhớ của bà nói chung, bà được yêu cầu nhớ ba từ. Bà đã không thể nhớ được ba từ đó ngay cả khi được gợi ý 3 phút sau đó.

Bà cũng nhớ lại lời bài hát một cách dễ dàng hơn so với những câu tục ngữ nổi tiếng. Âm nhạc thực sự có một vị trí đặc biệt trong trí nhớ và bộ não của bà.

Silvia GravBản quyền hình ảnhSILVIA GRAV

Theo Baird, trường hợp của Norma là nghiên cứu tình huống chi tiết nhất thuộc loại hình này.

Hệ thống trí nhớ theo thủ tục của bà là thứ dường như đang được kích hoạt – cái mà chúng ta sử dụng để thực hiện những hành động đòi hỏi ít ý thức, như là đi bộ. Chính hệ thống trí nhớ này đã cho phép các nhạc công mắc chứng Alzheimer tiếp tục chơi nhạc cụ của họ.

Có lẽ việc Norma học được một bài hát mới khiến trường hợp của bà trở nên khác lạ. Những người như Norma và bố tôi có thể hòa hợp với âm nhạc hơn người khác.

“Tìm lại thế giới đã mất”

Ngoài ra đây còn là một ý niệm đầy hứa hẹn cho những trường hợp suy giảm trí nhớ nghiêm trọng.

Nó cho phép Baird hy vọng rằng âm nhạc có thể được dùng để dạy những cá nhân bị mất trí nhớ nhiều kỹ năng mới hơn, đồng thời giảm bớt lo âu và trầm cảm.

Tuy nhiên âm nhạc còn có thể giúp được nhiều hơn là chỉ với trí nhớ.

Như tôi đã chứng kiến ở bố, bằng cách nào đó âm nhạc giúp duy trì “ý thức về bản ngã” của một cá nhân.

Như tác giả quá cố Oliver Sacks đã viết trong cuốn Musicophilia của mình: ” m nhạc quen thuộc đóng vai trò như một phép ghi nhớ của Proustian, gợi lên những cảm xúc và liên kết đã bị quên lãng từ lâu, giúp bệnh nhân một lần nữa được tiếp cận tâm trạng, ký ức, suy nghĩ và những thế giới dường như đã hoàn toàn đánh mất.”

Silvia GravBản quyền hình ảnhSILVIA GRAV

Ý tưởng này là nguồn an ủi cho các thành viên trong gia đình, và đó là điều tôi thấy ở bố mình.

Nếu hỏi tuổi và những việc ông thường hay làm, ông sẽ thấy nản chí vì không thể trả lời. Nhưng hãy cùng hát với ông một bài, gương mặt ông sẽ trở nên rạng rỡ. Trong những khoảnh khắc đó, rõ ràng ông vẫn là người bố hài hước, vui vẻ của tôi.

Tác động của âm nhạc đối với não bộ

Khi bắt đầu nghiên cứu thêm về vai trò của âm nhạc trong việc nhận thức về chứng mất trí, tôi nhận thấy một vài nhà nghiên cứu sử dụng âm nhạc để giúp giải phóng hoạt động của não.

Ví dụ, một nghiên cứu vào năm 2015 đã xác định được các đoạn não nào trong phần vỏ não trước trán (ở những bệnh nhân khỏe mạnh) có thể phân biệt giữa âm nhạc quen thuộc và những giai điệu mới.

Bản chụp não cho thấy khu vực này cũng được duy trì ở những cá nhân mắc bệnh Alzheimer cấp tiến rõ rệt.

Điều đó có thể giải thích tại sao một số ký ức âm nhạc được giữ lại khi nhiều thứ khác bị lãng quên.

Một trong những tác giả của nghiên cứu, Robert Turner của Viện Khoa học Nhận thức và trí não con người Max Planck cho biết: “Chúng tôi thấy thật ấn tượng khi vùng não giữa thiên về âm nhạc mà chúng tôi đã xác định ở các tình nguyện viên trẻ ít bị ảnh hưởng bởi những tổn hại từ từ của bệnh Alzheimer.”

Phần này của bộ não cũng đã được thể hiện như một vị trí quan trọng đối với “ý thức về bản ngã”.

Tác phẩm của Turner chứng minh ý tưởng mà Sacks đề xuất: “bản ngã” vẫn có thể tồn tại ở những cá nhân mắc chứng mất trí nhớ.

“Ở nơi nào đó ‘bản ngã’ vẫn có thể tồn tại ở những cá nhân mắc chứng mất trí nhớ”.

Turner nói: “Kết quả cũng khá tích cực trong những nghiên cứu hình ảnh học thần kinh trong đó mọi người được yêu cầu ngẫm nghĩ về những trải nghiệm trước đây của họ.”

Silvia GravBản quyền hình ảnhSILVIA GRAV

Đây là một phần quan trọng của “vùng não hoạt động mặc định” – nó được gọi như vậy vì đó là khi não đang ở chế độ “mặc định” của riêng nó, chẳng hạn như khi chúng ta mơ màng.

Turner cho biết: “Phản hồi rất tích cực của bệnh nhân mất trí nhớ khi nghe loại nhạc họ biết và yêu thích có thể phản ánh cơ hội tự nhận dạng bản thân khá hiếm hoi này.

Âm nhạc dường như cho thấy ký ức của chúng ta không được lưu trữ trong những phần não cụ thể.

Chúng không giống như các tài liệu riêng lẻ xếp chồng lên nhau trên kệ để chúng ta có thể đặt lại chỗ cũ khi cần, mà là chúng gắn kết chặt chẽ với nhau.

Kết quả là ký ức về một bài hát có thể khơi gợi một thời gian, địa điểm hoặc mùi hương riêng biệt, cũng như kích hoạt các phần não liên quan đến âm thanh, lời nói, nhịp điệu và cảm xúc.

Đó là lý do tại sao một số khả năng âm nhạc được cho là miễn nhiễm với chứng mất trí nhớ; nếu một hệ thống bị hỏng, phần còn lại có thể tiếp quản.

Tại Đại học University College London, các nhà thần kinh học là những người đi tiên phong trong lĩnh vực này.

Jason Warren, người dẫn đầu nhóm, nói với tôi rằng âm nhạc cho phép ông xem xét cách những mạng lưới của bộ não tương tác mà không cần dựa vào bệnh nhân để truyền đạt bằng lời nói.

Điều này có nghĩa là âm nhạc có thể tiết lộ khi nào các vùng não không hoạt động như bình thường. Ví dụ, não phản ứng rất khác với âm nhạc so với những âm thanh phức tạp khác.

Trong một nghiên cứu, Warren và các cộng sự đã để các bệnh nhân Alzheimer tiếp xúc với một loạt tiếng ồn, như tiếng bíp, để xem phần não nào của họ đã phản ứng.

Những vùng quan trọng đối với việc xử lý âm thanh phức tạp như ngôn ngữ được cho thấy đã suy yếu.

Điều này giải thích tại sao những bệnh nhân Alzheimer thường cảm thấy cực kỳ khó theo dõi giọng nói của một người trong một bối cảnh ồn ào hoặc nghe tên của họ trong một căn phòng ồn ào, đây được gọi là “hiệu ứng tiệc cocktail”.

Âm nhạc cũng cho phép nhóm của Warren hiểu được tại sao những bệnh nhân suy giảm trí não vùng trán thái dương gặp khó khăn khi diễn giải cảm xúc.

Chẳng hạn, họ không còn cảm thông hay phản ứng khi thấy ai đó đang khóc, ngay cả khi đó là người quan trọng với họ.

Những cá nhân này thường giỏi xác định thông tin về một bài hát, nhưng họ không thể phân loại thuộc tính cảm xúc của nó khi được hỏi nếu một bài hát vui hay buồn.

Các bản chụp não cho thấy vùng não bị ảnh hưởng bởi căn bệnh là những vùng quan trọng trong việc phỏng đoán trạng thái tinh thần của người khác, được biết đến với tên lý thuyết tâm trí.

Trong một nghiên cứu khác, nhóm nghiên cứu của ông đã phát hiện ra dù mất đi thế giới cảm xúc, một số bệnh nhân này lại bắt đầu khao khát âm nhạc như thể họ đang nghiện nó.

Bằng cách nào đó, hệ thống khen thưởng của họ được kích hoạt để hưởng ứng lại âm nhạc, ngay cả khi họ đã mất đi kết nối cảm xúc với việc khen thưởng.

“Liệu pháp âm nhạc có thể giúp ích cho việc kết nối giữa những mạng lưới bị mất”, một nghiên cứu sinh tiến sĩ của Warren tên Elia Benhamou nói.

Điều này cho thấy rằng ngay cả khi nhìn bên ngoài, những bệnh nhân này dường như không phản ứng về mặt cảm xúc, hệ thống cảm xúc vẫn quan trọng đối với thế giới của họ – và âm nhạc bằng cách nào đó sẽ giúp kích hoạt nó.

Bệnh nhân bị Alzheimer lại cho thấy hình mẫu ngược lại. Họ thường có thể hiểu được cảm xúc đằng sau một bài hát, nhưng thường không thể nhớ tên hoặc nơi họ nghe nó lần đầu tiên.

Trên thực tế, họ dường như thấy rằng âm nhạc có cảm giác thỏa mãn gần bằng cảm giác của những người khỏe mạnh.

Warren cho biết: “Âm nhạc đang nói lên điều gì đó rất căn bản về lý do tại sao những căn bệnh này (các dạng bệnh mất trí nhớ) lại khác nhau. Âm nhạc có thể xuyên qua sự phức tạp.”

“Trước khi trở thành một hình thức nghệ thuật, âm nhạc đã làm điều gì đó cơ bản về việc dạy chúng ta cách đáp lại người khác”.

Các nghiên cứu giống vậy đang làm tăng thêm hiểu biết của chúng ta không chỉ về trình trạng suy giảm não bộ mà còn về cả những bộ não khỏe mạnh – và cách thức trí não của tất cả chúng ta phản ứng với âm nhạc.

Một khi chúng ta hiểu rõ hơn về những hình mẫu này, về lý thuyết nó có thể giúp các nhà khoa học xác định được khi nào bộ não suy nhược sớm hơn so với khi chúng hiện đang có thể.

Warren và Benhamou nói về mặt lý thuyết, âm nhạc có thể giúp xác định những thay đổi hành vi ngay cả trước khi bản chụp não cho thấy hiện tượng teo não.

Điều này cũng tương tự như phát hiện cho thấy khả năng thể hiện tính hài hước bị suy giảm từ lúc mới mắc bệnh mất trí nhớ. Warren nói: “Có mọi lý do để tin rằng một người có thể tìm được những thứ tương tự với âm nhạc.”

Điều làm tôi ấn tượng sâu sắc hơn nữa là lý luận của ông về lý do tại sao sử dụng âm nhạc làm công cụ nghiên cứu đã cung cấp một lượng lớn kết quả.

Nó kích hoạt các mạng não cần thiết để sống còn: lắng nghe xung quanh, xử lý những bất thường, hệ thống khen thưởng và lý thuyết tâm trí của chúng ta.

Điều này ngụ ý rằng âm nhạc có “mục đích sinh học” đích thực, Benhamou nói, đó là chúng ta đã từng cần có nó để tồn tại.

Đây là một lý thuyết, nhưng nếu nó đúng, điều này giải thích tại sao âm nhạc lại khơi gợi rất nhiều đặc tính có lợi ở những người đang mất đi các kết nối mà não rất cần để vận hành.

Warren nói: “Mỗi xã hội con người đều có âm nhạc. Tại sao một điều như vậy lại thật cơ bản? Câu trả lời có thể là trước khi trở thành một hình thức nghệ thuật, âm nhạc đã làm điều gì đó cơ bản về việc dạy chúng ta cách đáp lại người khác”.

Tôi không biết những gì đang diễn ra trong não của cha tôi khi ông nghe nhạc. Nhưng từ các tài liệu khoa học, rõ ràng là một số kết nối thần kinh đã tước đi đa phần tính độc lập của ông lại khác với các kết nối được kích hoạt khi ông chơi nhạc hoặc hát.

Việc tự động hát “opera” đã giảm dần trong năm qua, nhưng ông vẫn tự mình hát nhiều lần trong ngày và hiển nhiên là nhận được rất nhiều niềm vui từ đó. “Mẹ và bố vừa đi dạo phố vừa hát, đúng như những gì bố mẹ luôn làm,” mẹ tôi nói với tôi tuần trước.

Âm nhạc mang đến nụ cười cho cha tôi. Khi mất mát quá nhiều, nó mang lại cho ông thứ mà ông vẫn có thể sáng tạo, tương tác và tận hưởng.

Điều đáng ngạc nhiên nhất là việc âm nhạc có thể giúp ông giữ lại một phần bản ngã của ông, nếu điều đó trở nên khó phát hiện hơn đối với tất cả chúng ta.

Chỉ riêng kiến thức này đã giúp bạn dễ đối mặt hơn với những gì thường khó nói đến: Rằng bố tôi đã mắc chứng mất trí nhớ và sẽ phải sống chung với nó cho đến tận cuối đời.

Bài tiếng Anh đã đăng trên BBC Future.

Categories: Kien-thuc Y-Khoa | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.