Daily Archives: November 9, 2018

Dân tộc phải hồi sinh !

Dân tộc phải hồi sinh !

(Một bài 4 năm về trước như viết cho hôm nay)

1. Mất nước là gì?
Ngoại xâm là sự xâm lăng từ bên ngoài, nội xâm là sự xâm lăng từ bên trong, đối với một quốc gia. Nếu quốc gia ấy không chống cự nổi trước sự xâm lăng, dù từ bên ngoài hay từ bên trong, thì kết quả đều giống nhau: mất nước!

Có người thắc mắc: trường hợp mất nước vào tay người trong nước là nghĩa làm sao? Xuất phát từ quan điểm Dân là gốc của nước thì ngày nay phải hiểu “mất nước” là tình trạng nhân dân bị mất quyền làm chủ đất nước của mình. Nước vẫn còn đó nhưng dân không làm chủ thì đấy là mất nước!
Quyền làm chủ ấy bị mất vào tay người nước ngoài thì gọi là nạn ngoại xâm, mất vào tay kẻ thống trị độc tài trong nước thì đó là nạn nội xâm. Giặc ngoại xâm hay nội xâm đều cướp mất của dân quyền làm chủ đất nước, trong đó có quyền quan trọng nhất là quyền làm chủ đối với đất đai, lãnh thổ. Cả hai trường hợp đều do thiếu dân chủ, thiếu bình đẳng, hoặc là thiếu dân chủ giữa các quốc gia, hoặc do thiếu dân chủ trong nội bộ một nước.
Trong thế giới văn minh ngày nay, đại bộ phận nhân dân đã được làm chủ đất nước của mình, song vẫn còn một số tập đoàn cầm quyền muốn tiếm đoạt quyền ấy của nhân dân mình hoặc nhân dân nước khác, làm cho nhân dân bị “mất nước từng phần”, chứ không còn khả năng gây ra sự “mất nước trọn gói” như ngày xưa nữa.
2. Chủ nghĩa đấu tranh giai cấp có hại cho dân tộc.
Chủ nghĩa tư bản đã và đang tồn tại ở rất nhiều quốc gia, nhưng chẳng bao giờ và chẳng ở đâu phải đưa ra khẩu hiệu “yêu chủ nghĩa tư bản là yêu nước”. Tại sao đến phiên “chủ nghĩa xã hội” lại phải đặt ra vấn đề “yêu chủ nghĩa xã hội là yêu nước”? Tại sao phải cố tình đồng nhất hai tình yêu ấy, cột chặt hai tình yêu ấy với nhau? Nguyên nhân rất đơn giản, vì trên thực tế hai thứ ấy không đồng nhất, không khớp được với nhau, nên phải dùng khẩu hiệu ấy để cố gò nó lại. Không ký sinh được vào chủ nghĩa yêu nước thì cái gọi là chủ nghĩa xã hội chẳng còn sức sống gì.
Lúc đầu, sự kết hợp ấy có gây được sự cộng hưởng là do “… lúc ấy cái vòng kim cô Mác – Lê vẫn chỉ mới như một hào quang từ xa, chưa hiện hình tác quái…” [1] . Nhưng chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa đấu tranh giai cấp vốn tiềm tàng những mâu thuẫn cơ bản nên càng về sau càng xung đột. Đấu tranh giai giai cấp ắt phải tiến đến chuyên chính vô sản (Lenin). Trong khi chủ nghĩa yêu nước cần đoàn kết dân tộc và sự phát triển, thì chuyên chính vô sản vừa phá đoàn kết dân tộc vừa kìm hãm sự phát triển. Từ 1989, chuyên chính vô sản khắp nơi trên thế giới bị đào thải, gốc rễ là do nó chống lại chủ nghĩa yêu nước. Những nước cộng sản Đông Âu đuổi chủ nghĩa cộng sản đi chính là đuổi nội xâm để giành lại đất nước.
Họ đuổi đi một chủ nghĩa có hại cho đoàn kết dân tộc và sự phát triển, chứ về con người họ càng đùm bọc nhau hơn, như dân Tây Đức và dân Đông Đức, không ai đánh đuổi ai cả.

Chủ nghĩa đấu tranh giai cấp vốn coi những gì thuộc về giai cấp quan trọng hơn những gì thuộc về dân tộc, nên mới có xu hướng bỏ qua ranh giới dân tộc để “vô sản toàn thế giới liên hiệp lại”. Ảo tưởng này đã được các nước cộng sản lớn lợi dụng ngay, cái “gia đình các nước xã hội chủ nghĩa” đầy tính chất gia trưởng nên các anh cả chị hai lấn át các nước nhỏ để thu lợi. Về sau, khi quan điểm giai cấp đại đồng ấy bị phá sản, mọi nước trở về với chủ nghĩa yêu nước thì những “việc đã rồi” khó có thể đòi trở lại. Nếu không có cuộc chiến Bắc Nam về ý thức hệ và không có tư tưởng vô sản thì ông Phạm Văn Đồng chắc không dễ dàng nhường cho Trung Quốc quần đảo Hoàng Sa đâu. Khi phe xã hội chủ nghĩa tan rã, Trung Quốc trở thành trụ cột xã hội chủ nghĩa duy nhất thì một lần nữa quan điểm cộng sản lại làm cho nước Việt Nam thiệt thòi nhiều trước một Trung Quốc vốn đầy tham vọng.

“Nếu không vướng chủ nghĩa ấy tôi tin chắc rằng những người lãnh đạo Việt Nam ngày nay đã không chịu thế lép, mà cũng hiên ngang như Lý Thường Kiệt, như Quang Trung đã làm chứ không thua kém đâu. Chỉ bởi vì nếu không nương tựa vào Đại Hán thì một cái quái thai cộng sản, cô độc cỏn con, ngược dòng, đứng làm sao được trước dòng chảy văn minh toàn cầu này?… Mấy nghìn năm, Đại Hán đô hộ mãi vẫn không cướp được một tấc đất Việt Nam nào, ‘Nam quốc sơn hà’ một ly cũng không suy suyển. Bây giờ nhờ có cái gọi là chủ nghĩa xã hội quốc tế, họ có thể làm được cái việc ấy mà không tốn một phát tên, một viên đạn nào, có phải thế không? Thế thì trong việc giữ nước, thời kỳ này là mạnh nhất hay yếu nhất trong lịch sử? Nếu những người cầm quyền Việt Nam vẫn cứ đi nước đôi, cố nắm ngọn cờ chủ nghĩa xã hội, tức là cùng một lúc cầm cả hai ngọn cờ, thì nguy cơ báo trước rằng ngọn cờ Dân tộc sẽ tuột khỏi tay, bởi ngọn cờ Dân tộc bao giờ cũng thuộc về những người yêu nước chân chính, không chấp nhận bất cứ một vòng kim cô nào chụp lên đầu Dân tộc!” [2]
Không nghi ngờ gì nữa, chủ thuyết cộng sản rất có hại cho chủ nghĩa yêu nước, nó là một nguồn nảy sinh và nuôi dưỡng nội xâm, làm lợi cho ngoại xâm, khẩu hiệu “yêu chủ nghĩa xã hội là yêu nước” là một khẩu hiệu ngược

3. Vừa nội xâm vừa ngoại xâm – phải làm gì trước?
Muốn chống được ngoại xâm cần phải lo xa. Lo xa không gì bằng phải dẹp nội xâm trước hết, vì đây là nhân tố trực tiếp hay gián tiếp rước ngoại xâm vào.
Nội xâm làm cho dân nghèo, dân khổ, dân oán. Ngay nội bộ cầm quyền cũng lục đục lo đối phó với nhau. Như vậy dân tộc bị tiêu ma sinh lực, tạo cơ hội cho ngoại xâm. Muốn chống nội xâm phải có một hệ thống chính trị dân chủ, bình đẳng, có luật pháp công minh, song đó đều là những yêu cầu mà một hệ thống chính trị có gốc là chuyên chính vô sản, với một đảng duy nhất cầm quyền vô thời hạn như Trung Quốc, Việt Nam, Cuba, Bắc Triều Tiên khó lòng thực hiện được. Trong những nước xã hội chủ nghĩa này, mọi sự đoàn kết chỉ ở ngoài vỏ, giữ yên xã hội chủ yếu là bằng quyền lực.
Các hội chứng dối trá, bạo hành, vô cảm đục ruỗng xã hội. Tất cả tai vạ đều trút xuống kẻ không quyền lực là dân thường, như thế họ không thờ ơ với đất nước sao được? Trong bài “Để cứu Trường Sa” tác giả Trần Khải đã có một câu chí lý: “Nếu không cho người dân quyền làm chủ thực sự, thì mảnh đất hình chữ S cũng sẽ là đất lạ!” (đất nước này không phải của dân?).
Trong khi việc “Chống nội xâm, cứu nước” [3] còn bế tắc như thế thì tình huống ngoại xâm đã đến! Buộc phải tập trung “đối ngoại” đã, nhưng chống ngoại xâm khi nội xâm đang là quốc nạn thì quả thực vô cùng khó khăn. Khắc phục bệnh thờ ơ – vô cảm để người dân vào cuộc tranh đấu đã khó nhưng xuống đường rồi có thể lại bị chính nhà cầm quyền cản trở mới thật ngược đời (đáng lẽ nhà nước phải vận động, khuyến khích chứ?).

Nhưng bế tắc tận cùng sẽ thấy lối ra. Quy luật xưa nay, khi đất nước bị bên ngoài xâm lăng bao giờ cũng gây ra hai hiệu ứng trái ngược: một hiệu ứng tích cực là làm cho tinh thần dân tộc thức tỉnh, dẹp oán thù, dị biệt nội bộ để lo cứu nước, còn hiệu ứng tiêu cực là làm cho kẻ cơ hội bám lấy ngoại bang, ve vãn để kiếm chác, kẻ yếm thế thì càng trùm chăn.
Nhưng thật vui mừng khi thấy trong trường hợp xã hội ta hiệu ứng tích cực có lẽ mạnh hơn, ít nhất là trong lúc này. Sau các cuộc biểu tình sáng 9-12, Thái Hữu Tình đã viết:
Sinh viên biểu tình, phải đâu chuyện lạ
Nhưng nước mình khác nước người ta! 
(vì không nước nào cấm biểu tình yêu nước-HSP)
Nếu quả thực đã hồi sinh được hồn dân tộc
Thì thực tình, tôi cám ơn kẻ cướp Trường Sa

Một sớm mùa đông, nước non này ấm lại… [4]

Nước non này ấm lại” vì xuất hiện nhiều nhân tố mới mấy chục năm nay chưa từng có, sinh viên biểu tình, có các văn nghệ sĩ và một số người đứng tuổi tham gia. Lần đầu tiên xuất quân mà họ chững chạc, đàng hoàng, khôn ngoan, linh hoạt, cứng dắn. Cô văn sĩ rất trẻ Lynh Bacardi (thế hệ 8x) nói: “Ðây, cuộc mở miệng đầu tiên của chúng tôi. Ðây, lần đầu tiên chúng tôi thực hiện một trong những quyền cơ bản của con người. Ðây, chúng tôi cảm nhận được nhiệt huyết sôi sục trên gương mặt nhau. Ðây, chúng tôi nhắc nhở cho chính phủ Việt Nam biết nhân dân Việt Nam còn tồn tại và biết họ cần làm những gì cho đất nước”. “Nếu chủ nhật tới và những chủ nhật về sau có buổi xuống đường, tôi xin lại được tiếp tục đứng bên cạnh các bạn.” [5]

Nhà thơ Hoàng Hưng cũng tham gia biểu tình và phát hiện một vấn đề chính trị rất trúng: ”Rõ ràng là khi lòng yêu nước xuất phát từ đáy con tim chúng ta, không bị ai dắt mũi, ra lệnh, áp đặt, thì nó thực sự trở thành sức mạnh. Người dân thờ ơ với chính trị chỉ là do cái chính trị ấy không hợp với lòng dân, cái chính trị của ai đó độc quyền làm với danh nghĩa người dân.” [6]

Rõ ràng là một thể chế áp đặt, thủ tiêu quyền làm chủ của dân thì cũng thủ tiêu luôn cái hồn dân tộc, nhưng hôm nay các bạn trẻ đã làm cho cái hồn đó hồi sinh. Cám ơn “kẻ xâm lược” như lời Thái Hữu Tình là phải lắm!

Đọc thấy trên các trang Web dân chủ có thông báo ký tên phản đối Trung Quốc xâm phạm lãnh thổ [7] , rất nhiều bạn bè quanh tôi ký tên ngay, không cần biết người đứng ra tổ chức là ai. Họ bảo: Ai đứng ra cũng được, việc này là chung của tất cả những ai là người Việt Nam, mọi ranh giới về chính trị, tôn giáo, đảng phái đều không còn nữa!
Trong phong trào dân chủ đang có nhiều dị biệt nhưng đến việc này lại gần gũi nhau hơn. Hôm biểu tình có anh công an đã nói nhỏ với một sinh viên: nếu không vướng bộ quần áo này thì tôi đã đứng vào với các anh rồi.
Tổ quốc đúng là mẹ hiền, vì chỉ có mẹ mới ôm được tất cả những đứa con xung khắc vào trong một vòng tay.
Giả dụ trong cuộc biểu tình có một công an đứng ra ngăn cản, sinh viên có thể giãi bày: Ở đây chỉ có hai bên, một bên là những người Việt Nam giữ gìn lãnh thổ, phía bên kia là kẻ xâm lấn đất nước ta, vậy đồng chí thuộc bên nào?… Nói thế mà công an còn kiên quyết giải tán những người yêu nước ôn hoà thì chẳng ngượng với lương tâm lắm sao?

Ví dụ thì còn nhiều, thực tế thật phong phú.
Sự nghiệp chống nội xâm là việc căn bản của ta, còn phải làm dài dài. Nhưng việc chống ngoại xâm cấp thiết trước mắt bỗng dưng lại thành nhân tố tích cực, nó thức tỉnh, hoạt hoá xã hội, thêm người tốt, bớt người xấu, kéo mọi người lại gần nhau…
Liên kết dân tộc càng mạnh thì càng có khả năng phân hóa nội xâm, cô lập ngoại xâm. Hai mặt trận chống nội xâm và chống ngoại xâm nhịp nhàng cùng một lúc lại hỗ trợ cho nhau mới hay chứ!
Không buồn mà lại vui. Chủ nghĩa Mác cũng đã có câu: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, là ngày hội của quần chúng”, nhất là quần chúng trẻ dồi dào trí tuệ và sinh lực.
Cứ vào thực tiễn sẽ thấy lối ra.
Mọi lý thuyết đều màu xám, chỉ cây đời mãi mãi xanh tươi”. Hay thật.

Hà Sĩ Phu (Tháng 5-2010)

Advertisements
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Trung Quốc giăng vệ tinh phủ kín Biển Đông: Theo dõi “nhất cử nhất động” từng con tàu

Trung Quốc giăng vệ tinh phủ kín Biển Đông: Theo dõi “nhất cử nhất động” từng con tàu

Trung Phạm | 

Trung Quốc giăng vệ tinh phủ kín Biển Đông: Theo dõi "nhất cử nhất động" từng con tàu

Chương trình giám sát vệ tinh trên sẽ được thực hiện bởi Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc và dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2021.

Tờ South China Morning Post ngày 16/8 dẫn thông tin từ truyền thông nhà nước Trung Quốc cho biết, bắt đầu từ sang năm nước này sẽ triển khai một loạt vệ tinh để theo dõi tình hình lưu thông và các điều kiện môi trường nước trên khắp khu vực Biển Đông.

Theo lộ trình, Trung Quốc sẽ triển khai tổng cộng 6 vệ tinh quang học, 2 vệ tinh siêu phổ và 2 vệ tinh radar cho các hoạt động “theo dõi thời gian thực hàng ngày” và “giám sát nhiều lần trong ngày ở một số khu vực chủ chốt”. Các vệ tinh này là một phần của hệ thống chùm vệ tinh Hải Nam.

Chương trình giám sát vệ tinh trên sẽ được thực hiện bởi Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc và dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2021.

Cụ thể, ở giai đoạn thứ nhất, 3 vệ tinh quang học sẽ được Trung Quốc phóng lên quỹ đạo vào nửa sau năm 2019. Chúng sẽ được trang bị các cảm biến quang học điều khiển từ xa, một hệ thống định vị tàu thuyền và các camera theo dõi bề mặt nước biển.

South China Morning Post cho biết, ưu tiên ban đầu của hệ thống vệ tinh trên sẽ là theo dõi toàn bộ khu vực Biển Đông. Do đó, các camera trang bị cho 3 vệ tinh quang học đầu tiên sẽ chỉ đủ độ phân giải để tập trung vào các tàu có kích thước trung bình và cỡ lớn.

Hai vệ tinh siêu phổ phóng vào giai đoạn 2 trong năm 2020 sẽ có khả năng đánh giá điều kiện môi trường nước biển còn các vệ tinh radar khẩu độ mở tổng hợp sẽ được đưa lên quỹ đạo trong giai đoạn 3 có khả năng giám sát độ phận giải cao, trong mọi điều kiện thời tiết.

Yang Tianliang – Viện trưởng Viện cảm biến từ xa Sanya thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc nói rằng, khi hoàn thiện, mạng lưới vệ tinh này của Trung Quốc sẽ bao phủ toàn bộ khu vực từ vĩ độ 30 độ Bắc đến 30 độ Nam.

Trước đó, khi thông báo khởi động chương trình vào tháng 12 năm ngoái, ông Yang đã cho biết, hệ thống có thể theo dõi phần lớn khu vực thuộc Con đường Tơ lụa trên biển của Trung Quốc.

“Từng đá ngầm và đảo cũng như mỗi tàu thuyền trên Biển Đông sẽ được đặt dưới sự theo dõi của những cặp mắt vũ trụ này”, Yang Tianliang nhấn mạnh.

Current Time0:00
/
Duration1:03
Auto

Trung Quốc phóng vệ tinh nhân tạo kép tham gia Hệ thống Bắc Đẩu vào tháng 3/2018

theo Thời đại

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Mỹ cương quyết không để TQ lộng hành trên Biển Đông

Mỹ cương quyết không để TQ lộng hành trên Biển Đông

Trao đổi với giới truyền thông, Đô đốc John Richardson, Tư lệnh Hải quân Mỹ (1/11) dự đoán những vụ chạm trán với tàu chiến Trung Quốc trên Biển Đông sẽ tiếp diễn, nhấn mạnh hạn chế tối đa tính toán sai lầm tránh dẫn đến các sự cố chiến lược.

Đô đốc John Richardson, Tư lệnh Hải quân Mỹ

Mỹ tiếp tục gia tăng các hoạt động tuần tra đảm bảo tự do hàng hải ở Biển Đông

Đô đốc John Richardson cho biết: “Chúng ta nhìn thấy rõ Trung Quốc đang mở rộng hoạt động một cách chiến lược. Không có gì bất ngờ trước sự gia tăng các hoạt động hàng hải trong khu vực, đặc biệt là những hoạt động của hải quân Trung Quốc”; đồng thời nhấn mạnh Hải quân Mỹ cũng duy trì sự hiện diện thường xuyên trên vùng biển, nên sẽ “tiếp tục xảy ra các trường hợp hải quân 2 nước chạm trán”. Ông John Richardson cho rằng các bên cần tuân thủ đúng quy trình liên lạc giữa các lực lượng hải quân, duy trì tính chuyên nghiệp và tránh rủi ro trên biển, đảm bảo sự đi lại an toàn trên vùng biển quan trọng; tái khẳng định lập trường của Mỹ trong việc duy trì một khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương mở và tự do, trong đó ASEAN là tổ chức đóng vai trò quan trọng đối với sự ổn định của khu vực. Liên quan Bộ Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông (COC), ông Đô đốc John Richardson cho rằng việc đàm phám COC hiện nay có những diễn biến rất tích cực, điều này có ý nghĩa rất lớn đối với việc duy trì các tuyến đường an toàn trên vùng biển quốc tế; nhấn mạnh Mỹ hoan nghênh việc ASEAN cân nhắc cho các bên không ký kết tăng cường tham gia cùng với các nước thành viên COC, đồng thời đánh giá cao việc mở rộng giám sát không chỉ các hoạt động trên biển mà còn trên vùng trời Biển Đông và khẳng định Mỹ sẽ tiếp tục theo dõi những tiến triển đối thoại và kỳ vọng về các bước tiến mới. Liên quan kế hoạch diễn tập chung trên biển Mỹ – ASEAN 2019, Đô đốc Richardson cho biết mọi thứ vẫn đang trong giai đoạn lên ý tưởng và chưa có thông tin chi tiết, khẳng định Mỹ rất trông chờ cuộc diễn tập chung sắp tới, cho rằng đây là cơ hội để thể hiện sự toàn diện trong chính sách của ASEAN trong khu vực, sẵn sàng tiếp cận những đối tác không phải là quốc gia thành viên.

Trước đó, trong một cuộc họp báo tại Manila (Philippines), Đô đốc John Richardson (29/10) cho biết Mỹ sẽ tiếp tục chương trình tuần tra đảm bảo tự do hàng hải ở Biển Đông, nhấn mạnh những hoạt động tuần tra như thế thể hiện lập trường của Mỹ chống lại những “tuyên bố chủ quyền biển phi pháp” trong khu vực.

Hoạt động của Mỹ ở Biển Đông là phù hợp các quy định luật pháp quốc tế

Các quan chức Hải quân đã cho biết việc Mỹ đưa tàu tuần tra đi vào khu vực 12 hải lý xung quanh các đảo, đá Trung Quốc đang chiếm đóng phi pháp là cần thiết để khẳng định lập trường của Mỹ rằng các đảo nhân tạo do Trung Quốc bồi đắp phi pháp không thể được coi là lãnh thổ có chủ quyền với vùng lãnh hải xung quanh; đồng thời khẳng định luật pháp quốc tế cho phép tàu quân sự quyền “qua lại tự do” trong các vùng biển quốc tế mà không cần thông báo. Ngoài ra, Biển Đông là khu vực có liên quan trực tiếp đến lợi ích quốc gia của Mỹ, vì vậy dựa trên các quy định của luật pháp quốc tế cũng như luật pháp của Mỹ, việc Washington tiến hành các kế hoạch tuần tra đảm bảo tự do hàng hải ở Biển Đông là hợp pháp, cụ thể: (1) Mỹ tiến hành hoạt động trong vùng biển quốc tế nhằm thực thi quyền tự do biển cả, đây được xem là quyền đương nhiên của bất kỳ quốc gia nào. Ngoài ra, Biển Đông vốn tồn tại như một con đường giao thông huyết mạch, do đó, việc tuần tra, đảm bảo tự do hàng hải, hàng không trong khu vực là bảo vệ lợi ích chính đáng, hiển nhiên của Mỹ, cũng như các quốc gia khác có tuyến đường hàng hải đi qua Biển Đông. (2) Biển Đông không chỉ liên quan trực tiếp đến lợi ích quốc gia của Mỹ, nó còn là khu vực có ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của một số nước đồng minh của Mỹ (Philippines, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia…). Nên việc tuần tra, kết hợp với các cuộc tập trận với các nước đồng minh là để củng cố mối quan hệ liên minh quân sự và thực hiện các cam kết, hiệp ước song phương với các nước đồng minh. Mỹ đã ký các Hiếp ước phòng thủ (30/8/1951) và Hiệp định hợp tác quốc phòng tăng cường (EDCA, 2014) với Philippines. Căn cứ vào hai Hiệp định này Mỹ hoàn toàn hợp pháp khi tiến hành hoạt động quân sự ở vùng biển thuộc quyền tài phán của Philiipines tại Biển Đông. (3) Tính chất và mức độ tiến hành các hoạt động quân sự đều nằm trong khuôn khổ an toàn, an ninh biển không đe dọa đến lợi ích của quốc gia khác. Dù cho Trung Quốc luôn bày tỏ quan ngại về sự xuất hiện thường xuyên của Mỹ ở Biển Đông sẽ làm căng thẳng thêm tình hình và mang tính chất đối đầu với quốc gia này. Tuy nhiên, đó chỉ là nhận định từ một phía Trung Quốc và không có cơ sở xác đáng cho lập luận này. Do đó, hoạt động quân sự mà Mỹ đang tiến hành ở Biển Đông nằm trong giới hạn của luật pháp quốc tế.

Mỹ tăng cường hiện diện và can dự ở Biển Đông nhằm đảm bảo lợi ích quốc gia của Mỹ

Lợi ích của Mỹ tại Biển Đông nằm trong lợi ích đa dạng và trải rộng của Mỹ tại Đông Á/Tây Thái Bình Dương với tư cách là một cường quốc khu vực và toàn cầu. Trong một báo cáo gần đây, lợi ích an ninh quốc gia của Mỹ bao gồm: (1) Bảo vệ lãnh thổ Mỹ, người dân Mỹ, đồng minh và lợi ích của Mỹ; (2) Ổn định khu vực và loại bỏ bất kỳ cường quốc vượt trội hay nhóm cường quốc nào sẽ đe dọa hay cản trở cơ hội hay lợi ích của Mỹ; (3) Phát triển khu vực và thúc đẩy tự do thương mại và mở cửa thị trường; (4) Đảm bảo một thế giới ổn định, an toàn và phi hạt nhân; (5) Thúc đẩy các giá trị toàn cầu, như quản lý tốt, dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo; (6) Đảm bảo tự do hàng hải, điều kiện tiên quyết để ổn định khu vực và bảo vệ lợi ích của Mỹ. Những lợi ích này luôn được duy trì cho dù chính quyền Mỹ có thay đổi. Mỹ gia tăng dính líu vào khu vực châu Á – Thái Bình Dương cũng là để phục vụ các lợi ích kể trên.

Tự do hàng hải là lợi ích then chốt và cũng là lợi ích kinh tế và an ninh quan trọng nhất đối với Mỹ. Biển Đông là tuyến đường thương mại quan trọng nhất và Mỹ coi tuyến đường này là vùng nước quốc tế cho phép tàu thuyền quân sự và thương mại tự do qua lại. Một phân tích của Mỹ nêu “Mối đe dọa đối với tự do hàng hải qua biển Đông sẽ phá vỡ nghiêm trọng đến kinh tế khu vực. Sự tăng trưởng của kinh tế và an ninh của Mỹ phụ thuộc vào việc duy trì tự do hàng hải với cả tàu buôn và tàu quân sự”. Mỹ luôn ủng hộ tự do hàng hải trên thế giới, bao gồm cả Biển Đông và có lợi ích tại các tuyến đường biển trong khu vực và do đó quan tâm đến việc giải quyết hòa bình tranh chấp tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và các vùng khác.

Không những vậy, Biển Đông được xác định là một trong 10 vùng biển có trữ lượng dầu khí lớn nhất thế giới và là khu vực có tuyến đường giao thông quan trọng trong hệ thống phòng thủ của Mỹ nhằm đối phó với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống như chống hải tặc và khủng bố, đặc biệt tại eo biển Malacca. Hiện Mỹ duy trì các căn cứ quân sự tại Nhật Bản và Philippines nhằm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ đồng minh Nhật Bản và Philippines, từ đó củng cố lợi ích và khẳng định vị thế của Mỹ ở Biển Đông.

Biện pháp và cách thức Mỹ tăng cường hiện diện, can dự vào vấn đề Biển Đông

Để tăng cường hiện diện và bảo vệ hòa bình, ổn định trong khu vực Biển Đông, Mỹ đã sử dụng tổng hợp nhiều biện pháp khác nhau, cụ thể: (1) Mỹ tăng cường sự hiện diện quân sự ở Biển Đông. Từ năm 2009 đến năm 2018, Mỹ đã nhiều lần tổ chức diễn tập quân sự song phương cũng như đa phương quy mô lớn cạnh Biển Đông và khu vực vành đai Thái Bình Dương, chẳng hạn như cuộc diễn tập hợp tác huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu trên biển với nhiều nước: Brunei, Idonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan. Bên cạnh đó tiến hành tập trận quân sự hỗn hợp vai kề vai với Philippines, đồng thời đã tổ chức cuộc diễn tập quân sự Vành đai Thái Bình Dương ở phạm vi rộng hơn với sự tham gia của 14 nước: Nhật Bản, Indonesia, Malaysia, Singapore, Thái Lan, Hàn Quốc, Hà lan, Peru…. (2) Mỹ tăng cường hoạt động đối ngoại, phản ứng mạnh mẽ hành động sai trái của Trung Quốc, bảo vệ đồng minh. Mỹ đã có cam kết rõ ràng với Philippines trong việc ủng hộ Philppines nâng cao năng lực phòng vệ chủ quyền biển đảo, thông qua các biện pháp cụ thể như cung cấp các trang thiết bị, vật tư thỏa đáng để góp phần nâng cao lực lượng quân sự của Philippines, nhất là đối với lực lượng hải quân. Ngoài ra, Mỹ sẽ tăng cường hợp tác trên biển với Việt Nam và nghiêm chỉnh tuân thủ cam kết bảo vệ hòa bình, phồn vinh và an ninh ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, đồng thời ám chỉ rất rõ sự quan tâm của Mỹ đối với căn cứ hải quân ở vịnh Cam Ranh. (3) Mỹ cũng tăng cường quan hệ kinh tế thương mại và hợp tác khai thác dầu khí trên biển với các nước tranh chấp liên quan. Mỹ cũng tăng cường hợp tác với các nước ngoài khu vực như Nhật Bản, Ấn Độ để can thiệp vào tình hình Biển Đông. (4) Mỹ củng cố quan hệ với đồng minh và đối tác để bảo vệ lợi ích của mình, Mỹ củng cố quan hệ với đồng minh như Nhật Bản và Philippines để triển khai lực lượng quân sự, đảm bảo an ninh khu vực và vị thế tại Biển Đông. Mỹ đã đạt được một số thỏa thuận về đảm bảo hoạt động của quân đội Mỹ ở khu vực như tiếp tục sử dụng hai căn cứ Clark và Subic ở Philippines; quyền sử dụng các công trình quân sự của Thái Lan; thực hiện giai đoạn một Hiệp định xây dựng cảng nước sâu cỡ lớn cho quân đội Mỹ tại Singapore. Mỹ cũng khuyến khích các nước châu Á phát triển quan hệ an ninh đa phương. Để giải quyết với vấn đề tranh chấp tại quần đảo Trường Sa, Mỹ nhấn mạnh tầm quan trọng của liên minh quân sự với Philippines và ủng hộ nỗ lực xây lực cơ chế đa phương của ASEAN. (5) Mỹ ủng hộ và khuyến khích ASEAN hợp tác để giải quyết hòa bình các tranh chấp ở Biển Đông, duy trì ổn định trong khu vực. Mỹ đã phát triển một cơ chế hợp tác chính thức giúp hài hòa cả hai bên dựa trên luật quốc tế. Mỹ cũng dự định bắt đầu tiến trình tiến tới gia nhập Hiệp định Hữu nghị và Hợp tác của ASEAN, can dự vào tiến trình Thượng đỉnh Đông Á. Trong những năm qua, Mỹ cũng luôn ủng hộ những nỗ lực giữa các bên nhằm giải quyết tranh chấp Biển Đông bằng con đường hòa bình theo tinh thần của UNCLOS 1982 và Tuyên bố ứng xử Biển Đông giữa Trung Quốc và ASEAN (DOC) 2002. Đặc biệt là Mỹ đang tích cực ủng hộ đàm phán ASEAN – Trung Quốc về việc đi tới ký kết Bộ quy tắc ứng xử Biển Đông (COC), nhấn mạnh rằng Bộ quy tắc cần đưa ra “khuôn khổ dựa trên các quy định có tính ràng buộc để ngăn chặn và quản lý tranh chấp”. Đồng thời, thông qua các cơ chế khu vực như Diễn đàn an ninh khu vực ARF, Hiệp ước TAC, ADMM+,… Mỹ đã đóng góp tiếng nói đối với việc duy trì an ninh khu vực tại Biển Đông. Trên lĩnh vực quân sự, việc Mỹ triển khai các hợp tác an ninh – quốc phòng với các quốc gia ASEAN đã giúp tăng cường khả năng đối trọng với Trung Quốc của những nước này. Trong những năm gần đây, Mỹ đã cùng các nước ASEAN tiến hành hơn 30 cuộc tập trận, tức hơn 2/3 các cuộc tập trận ở châu Á. (6) Mỹ vừa tăng cường quan hệ với Trung Quốc vừa tìm cách kiềm chế Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông. Mỹ vừa tranh thủ những cơ chế đối thoại, hợp tác với Trung Quốc nhằm xây dựng một giải pháp đa phương, lại vừa thực hiện các hoạt động do thám, nghiên cứu tại Biển Đông nhằm thăm dò sức mạnh quân sự của Trung Quốc. Mỹ quan ngại tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông, ngân sách quân sự ngày càng tăng, các hoạt động kinh tế và quân sự để khẳng định chủ quyền trong khi phủ nhận chủ quyền của các nước khác. Nhưng đồng thời Mỹ tăng cường quan hệ với Trung Quốc, hợp tác khai thác dầu khí để bảo vệ lợi ích kinh tế, chống hải tặc để bảo vệ an toàn hàng hải ở Biển Đông. Mỹ còn muốn tăng cường hợp tác hải quân giữa Mỹ và Trung Quốc nhằm duy trì an ninh ở châu Á- Thái Bình Dương và Biển Đông.

Dự đoán một số biện pháp đối phó Trung Quốc của Mỹ trên Biển Đông

Trong những năm gần đây, Mỹ là một trong những nước thể hiện thái độ cứng rắn nhằm ngăn chặn các hoạt động phi pháp của Trung Quốc trên Biển Đông. Theo nhà nghiên cứu Sean R. Liedman thuộc Trung tâm nghiên cứu An ninh Mỹ mới, Mỹ có thể sử dụng 3 kịch bản tiến hành để đối phó với các hoạt động phi pháp của Trung Quốc ở Biển Đông thời gian tới: (1) Mỹ có thể “nhân nhượng” với Trung Quốc, mà trong đó Biển Đông không thực sự là vấn đề trung tâm trong quan hệ Mỹ-Trung nhằm mặc cả những lợi ích song phương. Theo những người ủng hộ kịch bản này, Mỹ rất cần đến Trung Quốc hợp tác trong các vấn đề quan trọng khác, như hạt nhân Iran, phi hạt nhân hóa Triều Tiên, biến đổi khí hậu, an ninh mạng, sở hữu trí tuệ, chính sách tiền tệ quốc tế, hay quan hệ với Đài Loan… Mặt khác, Washington cũng phải dè chừng Biển Đông nóng lên có thể kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan tại Trung Quốc. Về mặt quân sự, những người ủng hộ phương án này cho rằng các đảo nhân tạo mà Trung Quốc bồi đắp, cải tạo phi pháp, không đáng sợ. Nếu xung đột bùng nổ, quân đội Mỹ có thể dễ dàng vô hiệu hóa các đảo này nhanh chóng. Chiến lược của Mỹ trong trường hợp này sẽ là cảnh báo để ngăn chặn các hoạt động quân sự hóa tiếp theo, khuyến khích các cuộc đàm phán song phương để giải quyết bất đồng, hay hỗ trợ các cơ chế đa phương, bao hàm cả Trung Quốc và nhấn mạnh đến các hợp tác với Trung Quốc trong nhiều vấn đề lớn khác. Điểm nổi bật của kịch bản này là “tránh mọi nguy cơ đối đầu trực tiếp”. Tuy nhiên, điểm yếu lớn nhất của cách tiếp cận này, theo tác giả là sẽ làm cho luật pháp quốc tế ngày càng trở nên thui chột. Trong mọi đàm phán song phương với các láng giềng, bao giờ Trung Quốc cũng đứng ở thế mạnh và đây là điều Bắc Kinh luôn muốn áp dụng. Kịch bản này chắc chắn sẽ đi liền với viễn cảnh Bắc Kinh tiếp tục đẩy mạnh lấn tới mỗi khi có cơ hội. (2) Mỹ sẽ tìm cách duy trì nguyên trạng ở Biển Đông. Theo đó, Mỹ sẽ công nhân chủ quyền của tất cả các quốc gia ven bờ, dựa trên kiểm soát thực tế hiện nay. Kịch bản này nhiều người coi là “các bên cùng thắng”, việc đi lại trên Biển Đông được thực thi theo luật pháp quốc tế. Các biện pháp thực thi kịch bản bao gồm, tiến hành các cuộc tuần tra bảo vệ tự do hàng hải, trên biển và trên không. Cổ vũ sự tham gia của các quốc gia ngoài khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc… vào các hoạt động nói trên. Mọi hành động gây hấn mới của Trung Quốc sẽ bị ngăn chặn bằng vũ lực. Thực thi đầy đủ Hiệp ước phòng thủ chung với Philippines như đã cam kết. Bên cạnh các ưu điểm kể trên, theo tác giả kịch bản này có điểm bất lợi là rất có khả năng sẽ đi liền với việc kích thích hoạt động bồi đắp xây dựng tại tất cả các thực thể địa lý ở Biển Đông, trước ngày thỏa thuận chính thức có hiệu lực. Bên cạnh đó, việc thương thuyết để đạt được các thỏa thuận là không dễ dàng, và trong thời gian đó Trung Quốc có thể khai thác để giành nhiều lợi thế về chính trị. (3) Mỹ sẽ đẩy mạnh các hoạt động quân sự, ngăn cản Trung Quốc bành trướng trên Biển Đông. Theo đó, Mỹ sẽ buộc Trung Quốc phải trở lại tình trạng trước khi có các hành động lấn chiếm bất hợp pháp. Kịch bản này được đánh giá tuy khó thực hiện, nhưng phù hợp với tinh thần thượng tôn pháp luật quốc tế và Mỹ hoàn toàn có khả năng thực thi giải pháp triệt để này mà không buộc phải dùng các biện pháp quân sự. Một trong các biện pháp được nêu ra để thực thi, là trừng phạt có trọng điểm nhằm vào các doanh nghiệp Trung Quốc liên quan đến các thực thể địa lý mà Bắc Kinh chiếm giữ bất hợp pháp.

Ngoài ra, cùng với việc tiếp tục thường xuyên các cuộc tuần tra bảo vệ tự do hàng hải, hàng không, ngay bên trong khu vực 12 hải lý của các đảo, đá Trung Quốc chiếm đóng phi pháp, Mỹ sẽ tiếp tục thực hiện hàng loạt biện pháp pháp lý để gây áp lực với Bắc Kinh. Trong số đó, có việc tạo đồng thuận về ngoại giao quốc tế buộc Trung Quốc phải thực thi phán quyết về Biển Đông của Tòa Trọng tài Thường trực (12/7/2016); sử dụng lực lượng tuần duyên Mỹ cùng các quốc gia trong khu vực hỗ trợ việc thực thi quyền của ngư dân theo phán quyết của Tòa Trọng tài; tiếp tục hỗ trợ hải quân và tuần duyên các đối tác ven Biển Đông.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Điện ảnh: Công cụ tuyên truyền tinh vi cho các yêu sách chủ quyền của TQ ở Biển Đông Ngày đăng 09-11-2018

Điện ảnh: Công cụ tuyên truyền tinh vi cho các yêu sách chủ quyền của TQ ở Biển Đông

Trong những năm qua, cùng với báo chí và truyền thông, Trung Quốc đã tích cực sử dụng điện ảnh để lồng ghép các nội dung tuyên truyền cho các yêu sách chủ quyền phi pháp của nước này ở Biển Đông.

Các tuyên bố hung hăng về tranh chấp Biển Đông của TQ trên phim ảnh.

Khi nghệ thuật bị chính trị hóa

Câu chuyện về bộ phim “Điệp vụ biển đỏ” (Operation Red Sea) của Trung Quốc từng thu hút được sự quan tâm của đông đảo mọi người. Nó nhận được sự quan tâm không chỉ vì nó có kỹ xảo hay, diễn viên nổi tiếng, những cảnh quay hoành tráng mà vì trong bộ phim này, tham vọng chính trị của Trung Quốc về vấn đề Biển Đông đã được lồng ghép một cách ngang ngược. Trong đoạn cuối phim, một cảnh liên quan đến vùng biển Nam Hải (Biển Đông) đã được đưa ra. Cụ thể, cảnh phim này được mô tả: “Tại vùng biển đó là hình ảnh một con tàu không rõ quốc tịch, bị bao vây bởi các tàu chiến và hải giám Trung Quốc. Phía quốc gia tỷ dân dùng loa thông báo rằng đây là hải phận của Trung Quốc và yêu cầu con tàu phía trước ngay lập tức rút lui khỏi vùng biển”. Chỉ với vài phút cuối cùng đã biến bộ phim từ một tác phẩm hành động giải trí bỗng trở thành bộ phim tuyên truyền mục đích dằn mặt các bên về chủ quyền biển đảo.

Phim ảnh là món ăn tinh thần, văn hóa cho con người. Tuy nhiên, Trung Quốc lại đang tận dụng nó một cách triệt để để tuyên truyền về những yêu sách phi lý về chủ quyền quốc gia, thể hiện mưu đồ thâm sâu về mặt chính trị. Đây là một chiêu bài hết sức thâm độc của quốc gia đông dân nhất thế giới này. Chính xác mà nói, phim ảnh nói riêng và nghệ thuật nói chung là con đường dễ dàng nhất tác động vào tâm lý, nhận thức của con người. Bởi khi thưởng thức nghệ thuật, con người có phần thiếu cảnh giác, dễ bị những tình tiết trong phim dẫn dắt.

Vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông trở nên phức tạp do những hành động đơn phương của Trung Quốc, bao gồm việc cải tạo bồi đắp đảo và quân sự hóa quy mô lớn ở Biển Đông. Với sự ngang ngược, Trung Quốc đang bất chấp luật pháp quốc tế, bất chấp sự lên tiếng của các nước trong khu vực và trên thế giới để tiến hành các hành vi sai trái trên Biển Đông. Trung Quốc thông qua rất nhiều kênh khác nhau để truyền bá vấn đề chủ quyền Biển Đông. Từ viện trợ kinh tế để kêu gọi, lôi kéo một số nước không liên quan đến Biển Đông thể hiện sự đồng tình với mình, đến việc xây dựng các Học Viện Khổng Tử để truyền bá tư tưởng Đại Hán và các nội dung liên quan đến việc tranh chấp lãnh thổ quốc gia. Và đến bây giờ, phim ảnh cũng được họ tận dụng. Có thể nói, việc truyền bá vấn đề chủ quyền Biển Đông của Trung Quốc trong bộ phim trên là có sự tính toán, thể hiện sự thâm sâu của nước này.

TQ từng dùng giới nghệ sĩ để tuyên truyền “chủ quyền Biển Đông”

Ngay sau phán quyết của Tòa Trọng tài Quốc tế (PCA) thành lập theo Phụ lục VII của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (7/2016) bác bỏ hoàn toàn yêu sách chủ quyền theo “đường lưỡi bò” của Trung Quốc, Trung Quốc lập tức tiến hành chiến dịch tuyên truyền quy mô lớn, vận động những ngôi sao hạng A trong giới giải trí Trung Quốc, dùng sức ảnh hưởng của bản thân để tuyên truyền ra cộng đồng quốc tế, chia sẻ thông tin và hình ảnh nhằm xuyên tạc chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông.Với lượng theo dõi (follow) từ vài triệu đến vài chục triệu người hâm mộ khắp thế giới, một loạt ngôi sao nổi tiếng tại Trung Quốc đã đồng loạt đăng ảnh, chia sẻ clip phát ngôn của Bộ Ngoại giao nước này bao biện và khẳng định “Biển Đông là của Trung Quốc” trên các mạng xã hội (Weibo và Instagram). Số lượng nghệ sĩ Trung Quốc cập nhật blog để khẳng định chủ quyền “Biển Đông là của Trung Quốc” lên đến hơn 100 ngôi sao hạng A có sức ảnh hưởng mạnh mẽ tại Trung Quốc và châu Á như Triệu Vy, Lưu Diệc Phi, Huỳnh Hiểu Minh, Phạm Băng Băng, Lục Tiểu Linh Đồng (Tôn Ngộ Không), Dương Mịch, Lưu Khải Uy, Đường Yên, Trịnh Sảng, Lưu Thi Thi, Trương Hinh Dư, Lý Băng Băng, Hồ Ca, Trần Khôn… Đa số những người này đều đăng tải câu: “这才是中国,一点不能少”(“Trung Quốc, một chấm cũng không thể mất đi” ám chỉ “đường lưỡi bò”) kèm theo đó là hình ảnh bản đồ Trung Quốc và ““đường lưỡi bò”” trên Biển Đông.

Ngoài ra, chính phủ Trung Quốc, các Viện nghiên cứu và trường Đại học… cũng xuất bản nhiều loại hình ấn phẩm văn hóa như bản đồ, trong đó thâu tóm trái phép gần như toàn bộ Biển Đông; Nhà xuất bản Nhân dân (Trung Quốc) phát hành cuốn sách khoe khoang về “lịch sử, nguồn tài nguyên và vai trò quốc phòng” của cái gọi là “thành phố Tam Sa” – đơn vị hành chính mà Trung Quốc thành lập trái phép trên vùng biển Hoàng Sa của Việt Nam; phát hành bộ tem phổ thông “Mỹ lệ Trung Quốc”, bao gồm 6 mẫu, trong đó có những mẫu tem đã ngang nhiên đưa vào đó cả hình ảnh biển đảo thuộc chủ quyền Việt Nam; in đèn lồng có chữ “Tam Sa và Nam Sa (bằng tiếng Trung Quốc)” xuất sang thị trường Việt Nam; xuất bản cẩm nang du lịch in bản đồ Việt Nam không có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa…Từ năm 2016, Trung tâm Thông tin thuộc Cục Hải dương Quốc gia Trung Quốc (SOA) đã thiết kế và sử dụng trang mạng tuyên truyền về Biển Đông sử dụng 6 tên miền, gồm các mục: nhận thức Biển Đông, động thái mới ở Biển Đông, tư liệu lịch sử, bình luận quan điểm, quy định chính sách, giao lưu hợp tác, sự kiện lớn, tài liệu Biển Đông. SOA lập ra trang web này nhằm tuyên truyền cái gọi là chủ quyền, chính sách của Trung Quốc ở Biển Đông, cung cấp cái gọi là “chứng cứ lịch sử và căn cứ pháp lý” nhằm khẳng định chủ quyền phi lý đối với Biển Đông.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Blog at WordPress.com.