Monthly Archives: December 2018

Lộ những “vũ khí khủng” TQ sẽ triển khai trong năm 2019

Lộ những “vũ khí khủng” TQ sẽ triển khai trong năm 2019

Việc Trung Quốc triển khai một loạt vũ khí tiên tiến thuộc dạng “hàng khủng” trong năm 2019 sẽ giúp cải thiện và nâng cao năng lực tác chiến viễn chinh của quân đội nước này.

Tờ Bưu điện Hoa Nam buổi sáng của Hồng Kông tiết lộ, trong năm 2019 quân đội Trung Quốc sẽ biên chế một loạt vũ khí và khí tài quân sự được cho là rất “khủng”.

1. Hàng không mẫu hạm Type 001A

Trong năm 2018, hải quân Trung Quốc đã tiến hành 3 cuộc thử nghiệm trên biển đối với Hàng không mẫu hạm nội địa Type 001A .

Sau khi hoàn tất cả đợt thử nghiệm, dự kiến Type 001A sẽ chính thức đi vào hoạt động trong năm 2019.

Hàng không mẫu hạm Type 001A được thiết kết dựa trên phiên bản của tàu Liêu Ninh, một tàu lớp Kuznetsov của Liên Xô có trọng tải 55.000 tấn. Tuy nhiên, Type 001A có một số điều chỉnh đáng kể, bao gồm việc nâng cấp hệ thống ra-đa, tích hợp trung tâm chỉ huy và thiết kế lại nhà chứa máy bay.

Theo quy định đặt tên của hải quân Trung Quốc, Type 001A khi chính thức đi vào hoạt động sẽ được đặt tên theo một tỉnh của Trung Quốc.

2. Khu trục hạm Type 055

Khu trục hạm Type 055 được dự báo sẽ là dòng tàu chiến có uy lực mạnh trong lực lượng hải quân Trung Quốc

Theo kế hoạch trong năm 2019, hải quân Trung Quốc sẽ chính thức tiếp nhận lô khu trục hạm Type 055 đầu tiên, vừa được thử nghiệm trên biển từ tháng 8/2018.

Khu trục hạm Type 055 được trang bị tên lửa dẫn đường nặng 12.000 tấn, vượt xa quy mô thông thường của một tàu khu trục, sẽ đóng vai trò hộ tống hàng đầu cho tàu sân bay trong nhóm tàu tác chiến.

Type 055 được cho là tàu khu trục mạnh thứ nhì thế giới, chỉ đứng sau khu trục hạm USS lớp Zumwalt(DDG-1000) của hải quân M. Type 055 được đánh giá là khu trục hạm lớn nhất và mạnh nhất ở châu Á.

3. Tên lửa đạn đạo phiên bản tàu ngầm (SLBM) JL-3

Cuối tháng 11 vừa qua, hải quân Trung Quốc đã tiến hành đợt thử nghiệm tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm (SLBM) JL-3.

Tên lửa JL-3 có thể mang theo 10 đầu đạn hạt nhân có khả năng trở về bầu khí quyển trái đất một cách độc lập.

Với tầm bắn lên tới từ 12.000 km trở lên, tên lửa JL-3 khi được phóng từ tàu ngầm có thể vươn tới bất kỳ khu vực nào thuộc lãnh thổ Mỹ.

Sau khi hoàn tất và phiên chế cho lực lượng hải quân, tên lửa JL-3 sẽ sánh ngang siêu tên lửa hạt nhân Trident II D-5 của hải quân Mỹ và tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm Bulava SLBM của hải quân Nga.

4. Tàu ngầm tấn công hạt nhân Type 095

Tàu ngầm tấn công hạt nhân Type 095 sẽ nằm trong lực lượng hộ tống dưới nước cho nhóm tàu sân bay tác chiến của hải quân PLA. Dự kiến sẽ có tổng cộng 8 tàu ngầm này sẽ được chế tạo.

Theo Bộ Quốc phòng Mỹ, với tính năng âm thanh tốt hơn và công nghệ giảm thiểu tiếng ồn, tàu ngầm hạt nhân Type 095 sẽ hoạt động êm hơn so với tàu ngầm loại Type 093B hiện tại, vốn nổi tiếng là gây tiếng ồn khi hoạt động.

5. Máy bay tàng hình FC-31

FC-31 (tên gọi cũ là J-31) được mệnh danh là dòng máy bay tàng hình thế hệ thứ 5 của không quân Trung Quốc. FC-31 được Trung Quốc thử nghiệm bay lần đầu tiên vào hôm 23/12.

Một số nhà phân tích cho rằng, loại máy bay cỡ trung động cơ kép FC-31 này có thể thay thế dòng máy bay J-15 hiện tại với khả năng tàng hình tốt hơn, được trang bị thiết bị điện tử hiện đại và mang nhiều vũ khí hơn để trở thành máy bay chiến đấu tiếp theo trên boong hàng không mẫu hạm của hải quân Trung Quốc.

Hiện tại Trung Quốc đã và đang chú trọng đầu tư vào việc hiện đại hóa quân đội, với trọng tâm là nghiên cứu và phát triển các chủng loại vũ khí và khí tài thế hệ mới.

Giới phân tích quân sự cho rằng, những năm qua, Trung Quốc đã đạt được nhiều tiến bộ, và một số loại vũ khí chủ chốt. Việc Trung Quốc triển khai một loạt vũ khí tiên tiếp trong năm 2019 sẽ giúp cho quân đội nước này cải thiện và nâng cao năng lực tác chiến viễn chinh của quân đội nước này.

Advertisements
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Miss Universe 2018: Ứng viên các nước khoe trang phục ‘dân tộc’ 11 tháng 12 2018

Miss Universe 2018: Ứng viên các nước khoe trang phục ‘dân tộc’

Miss Universe 2018Bản quyền hình ảnhEPA
Image captionThí sinh Việt Nam có trang phục ‘bánh mì’
miss universe 2018Bản quyền hình ảnhAFP
Image captionThái Lan đem đến hình váy voi
Miss Universe 2018Bản quyền hình ảnhAFP
Image captionỨng viên Úc trong trang phục công chúa
Miss Universe 2018Bản quyền hình ảnhAFP
Image captionỨng viên Albania mang trang phục màu đỏ – đen của quốc kỳ nước cô
miss universe 2018Bản quyền hình ảnhAFP
Image captionLào có trang mục vàng và hình thiên thần
Miss Universe 2018Bản quyền hình ảnhEPA
Image captionĐại diện cho Nepal
Miss Universe 2018Bản quyền hình ảnhEPA
Image captionCô gái Ba Lan mang vương miện bằng hoa
Miss Universe 2018Bản quyền hình ảnhEPA
Image captionTrang phục nàng tiên cá của Peru
miss universe 2018Bản quyền hình ảnhEPA
Image captionỨng viên Campuchia mang cả hình quốc huy chùa tháp trên đầu
Miss Universe 2018Bản quyền hình ảnhAFP
Image captionThí sinh Ấn Độ mang trang phục chiến binh thời cổ đại
miss universe 2018Bản quyền hình ảnhEPA
Image captionIndonesia mang bộ lông chim màu sắc
Miss Universe 2018Bản quyền hình ảnhAFP
Image captionỨng viên CH Czech mang váy có màu quốc kỳ

Chủ đề liên quan

Tin liên quan

  • Hương Giang nói về sự kỳ thị, áp lực và hạnh phúc
    21 tháng 3 2018
  • Video Hương Giang: Hoa hậu Chuyển giới Quốc tế 2018
    21 tháng 3 2018
  • Hoa hậu Phan Thị Mơ nói phụ nữ ‘nên quyết đoán’
    16 tháng 8 2018

Tin chính

Một số sự kiện nổi bật 2018: cái nhìn từ Mỹ và Đức

Chiến dịch ‘đốt lò’ của TBT Nguyễn Phú Trọng và kết quả kinh tế khả quan của Việt Nam là một số điểm nổi bật năm 2018.

27 tháng 12 2018

Cựu sếp tình báo TQ lĩnh án tù chung thân

27 tháng 12 2018

Bộ trưởng Quốc phòng Anh quan ngại về Huawei

27 tháng 12 2018

Góc nhìn và chuyên mục

Getty Images

Nhân loại sẽ không tránh khỏi đại dịch cúm chết chóc?

Zofia Radzikowska

Giới tính thứ ba ở miền nam Mexico

Thái Lan, trẻ em

Mở cô nhi viện, xây nhà thờ bằng tiền túi ở Thái Lan

The protagonist Wei Yingluo, of Yanxi Palace

Diên Hy Công Lược ‘được tìm nhiều nhất trên Google’

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

Hội nghị Trung ương 9 lấy phiếu tín nhiệm Bộ Chính trị

TQ

Cải cách TQ: từ đói nghèo lên 12 nghìn tỷ đô

Những Youtubers thực tế ảo

YouTube và Instagram bùng nổ trào lưu nhân vật ‘thực tế ảo’

Tù binh Campuchia, ảnh chụp tháng 8/1978

Việt Nam và Campuchia 1975-78: Đánh giá sai về nhau?

đôn

Luật sư Võ An Đôn: Từ luật sư đến nông dân

Categories: Tin-Tức Thế-Giới | Leave a comment

Sóng thần ở Indonesia: Con số leo thang đáng sợ, hơn 1.000 người thương vong, không có công dân Việt Nam

Categories: Tin-Tức Thế-Giới | Leave a comment

Các nước khu vực Nam Thái Bình Dương ngăn chặn ảnh hưởng của TQ

Các nước khu vực Nam Thái Bình Dương ngăn chặn ảnh hưởng của TQ

Trong bài viết đăng trên CNN, nhà nghiên cứu John Lee nhận định: Gói đầu tư hạ tầng mà Australia công bố hồi tháng 11/2018 là biểu hiện của kế hoạch ngăn chặn ảnh hưởng của Trung Quốc tại khu vực Nam Thái Bình Dương.

Trong khi Ngoại trưởng Australia gặp người đồng cấp Vương Nghị ở Bắc Kinh, Thủ tướng Australia Scott Morrison cũng công bố gói đầu tư cơ sở hạ tầng trị giá 2,2 tỷ USD như một phần của kế hoạch “bước tiến đến Thái Bình Dương”.

Mặc dù các chính trị gia Australia không muốn thừa nhận kế hoạch này nhằm mục tiêu chống lại một quốc gia khác, nhà nghiên cứu John Lee cho rằng, kế hoạch lại được triển khai trong bối cảnh Australia ngày càng quan tâm đến việc Trung Quốc gia tăng sự hiện diện trên phương diện ngoại giao, kinh tế và quân sự ở Nam Thái Bình Dương. Đây là khu vực được coi như “sân sau” của Australia.

Chính quyền Australia luôn khẳng định: Ưu tiên cao nhất trong chiến lược quốc phòng là bảo đảm không có thế lực thù địch nào có thể tiếp cận lục địa Australia từ Đông Nam Á hoặc Nam Thái Bình Dương. Hơn nữa, mặc dù không chính thức, từ lâu các đồng minh Mỹ và Nhật Bản đã có chính sách đảm bảo an ninh Đông Bắc Á, Mỹ với sự hỗ trợ của Australia ở khu vực Đông Nam Á, và riêng Australia nhận trách nhiệm tại khu vực Nam Thái Bình Dương.

Việc Trung Quốc đang tìm cách sử dụng “ngoại giao bẫy nợ” để đổi lấy các cảng Hanabata ở Sri Lanka và Gwadar ở Pakistan cho các mục đích quân sự trong tương lai khiến Australia lo ngại về an ninh ở Nam Thái Bình Dương. Để chắc chắn, Australia đã viện trợ và tài trợ phát triển cho các quốc đảo ở khu vực này trong thời gian dài.

Khó khăn mà Australia đang gặp phải là nước này không thể vượt qua Trung Quốc về mặt kinh phí đầu tư trong thời gian ngắn. Australia cũng không được để cho các quốc đảo ở Thái Bình Dương lợi dụng nguồn viện trợ từ cả nước này và Trung Quốc trong cùng một lúc. Thủ tướng Morrison muốn đảm bảo rằng các nền kinh tế nhỏ này sẽ chọn nguồn viện trợ của Australia, vốn tuân thủ các quy định của Ngân hàng Thế giới và các tiêu chuẩn tài chính quốc tế khác. Các khoản vay này cũng không bị ràng buộc bởi các quy định không cần thiết, điều kiện hoàn trả phục vụ phát triển bền vững và không gây nguy hiểm cho khả năng thanh toán của các quốc đảo nhỏ.

Mặc dù các quốc đảo ở Nam Thái Bình Dương chỉ chiếm một diện tích nhỏ trong một đại dương rộng lớn, nhưng lại rất quan trọng về mặt chiến lược đối với Mỹ và các đồng minh của Mỹ trong khu vực – đặc biệt là Australia, New Zealand và Nhật Bản.

Các quốc gia này đều quan tâm đến việc đảm bảo rằng việc tiếp cận thương mại và quân sự trên khắp Thái Bình Dương hoàn toàn tự do và không bị cản trở; mở rộng các thể chế dân chủ và các tiêu chuẩn về tự do. Trong mấy năm nay, Bắc Kinh đã đẩy mạnh hoạt động trên khắp Thái Bình Dương, gia tăng viện trợ và đầu tư vào khu vực này. Các quốc đảo Thái Bình Dương chắc chắn bị cám dỗ bởi nguồn tài chính dồi dào và việc Bắc Kinh sẵn sàng tham gia các dự án phát triển lớn với một số ít điều kiện.

Tất nhiên, các khoản đầu tư đáp ứng nhu cầu địa phương và hỗ trợ tăng trưởng địa phương nên được hoan nghênh. Nhưng trong quá nhiều trường hợp ở Nam Thái Bình Dương và các nơi khác, đầu tư của Trung Quốc không minh bạch một cách đáng lo ngại, làm suy yếu chủ quyền quốc gia, và bòn rút tài nguyên bất chấp lợi ích của cộng đồng địa phương.

Hơn nữa, ở Nam Thái Bình Dương, đầu tư của Trung Quốc thường dẫn tới sự xuống cấp về môi trường, tham nhũng và tội phạm, và làm gia tăng tình trạng căng thẳng về tài nguyên thiên nhiên, bao gồm cả thủy sản.

Đáng tiếc là, phần lớn hoạt động đầu tư của Trung Quốc đã diễn ra trong bối cảnh Washington và các đồng minh của họ bỏ mặc khu vực này. Trong thập kỷ qua, Australia, New Zealand và Mỹ đã cắt giảm viện trợ cho Nam Thái Bình Dương và tập trung sự chú ý vào các nơi khác trên thế giới.

Australia nhận rõ một điều, nước này không thể ngăn chặn Trung Quốc khỏi khu vực Nam Thái Bình Dương. Tuy nhiên các nền kinh tế đang phát triển cần thấy rõ hệ lụy của các khoản vay từ Trung Quốc và cung cấp một giải pháp thay thế về cơ sở hạ tầng cho các quốc gia.

https://www.facebook.com/plugins/comments.php?app_id=&channel=https%3A%2F%2Fstaticxx.facebook.com%2Fconnect%2Fxd_arbiter%2Fr%2Fj-GHT1gpo6-.js%3Fversion%3D43%23cb%3Df21751f67a33b%26domain%3Dbiendong.net%26origin%3Dhttp%253A%252F%252Fbiendong.net%252Ff3190d624b13dd4%26relation%3Dparent.parent&color_scheme=light&container_width=664&height=100&href=http%3A%2F%2Fbiendong.net%2Fdam-luan%2F25399-cac-nuoc-khu-vuc-nam-thai-binh-duong-ngan-chan-anh-huong-cua-tq.html&locale=vi_VN&sdk=joey&skin=light

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

VÀ BÀI HỌC NÀO CHO VIỆT NAM?

FB Ngô Nhật Đăng

23-12-2018

Một cán bộ trong “Chính phủ tỉnh Quảng Tây” có lần nói với tôi trong một cuộc trao đổi nhân dịp tỉnh này tổ chức một cuộc hội chợ mang tên “Trung Quốc và các nước ASEAN”:

– Với vị trí địa lý thuận lợi và một dân tộc thông minh như các bạn, nếu mở cửa thì các bạn sẽ phát triển rất nhanh, thậm chí còn nhanh hơn chúng tôi, nếu đi theo mô hình TQ thì chúng tôi có một lời khuyên: “hãy học những cái hay và tránh xa những cái dở của chúng tôi”.

Ông ta nói thêm:

– Chúng tôi có những cái “hay” tầm cỡ thế giới nhưng cũng có những thứ xấu xa tầm cỡ thế giới.

Rõ ràng, mô hình TQ “phát triển kinh tế nhưng ổn định chính trị” có một sức quyến rũ lớn với những lãnh đạo của Việt Nam, nó thỏa mãn được mong muốn là kinh tế phát triển và đảng vẫn giữ được đặc quyền đặc lợi. Trong hoàn cảnh mà hệ thống cộng sản Liên Xô và Đông Âu sụp đổ nhưng TQ lại thoát khỏi cuộc khủng hoảng này một cách ngoạn mục, ban lãnh đạo cs VN đã từ bỏ con đường dân chủ hóa chính trị, các ý kiến về “dân chủ, đa nguyên, đa đảng” của ông Trần Xuân Bách (dự kiến chức vụ TBT) bị bỏ vào sọt rác, một số cán bộ phải rời vị trí, thậm chí một số người bị bắt giam với tội danh “phản bội lý tưởng XHCN”, VN ngả vào vòng tay Trung cộng với những thỏa thuận bí mật của “Hiệp ước Thành Đô”. Khi nhận chức vụ thủ tướng, ông Nguyễn Tấn Dũng cũng đặt nhóm chuyên gia chuyên nghiên cứu về VN của trường đại học Harvard viết một bản kế hoạch cho VN với tiêu đề: “Sự lựa chọn thành công hay thất bại?” đưa ra một mô hình phát triển riêng cho VN nhưng bản kế hoạch đầy tham vọng này cũng bị xếp xó.

Trong cuốn “Thất bại lớn” (The Grang Failure) xuất bản năm 1989 tại New York (ngay lập tức được đưa về VN và dịch ra tiếng Việt cho các lãnh đạo cao cấp) Brzezinski đã phân tích kỹ lưỡng về lịch sử, văn hóa, chính trị… và dự đoán TQ sẽ thoát khỏi cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa cộng sản với mô hình mà ông gọi là “Chủ nghĩa cộng sản thương mại”tức là các tập đoàn kinh tế được nhà nước bảo hộ mà các lý thuyết gia mác-xít Tàu gọi là “Kinh tế thị trường định hướng XHCN” hay “CNXH mang màu sắc Trung Quốc”. Sau hơn ba thập niên kể từ khi Đặng Tiểu Bình cải cách (1978) TQ phát triển mạnh mẽ, vươn lên thành cường quốc kinh tế thứ nhì thế giới nhưng nó bắt đầu dừng lại với những bất ổn nghiêm trọng tiềm ẩn những nguy cơ dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống chính trị.

Khi để TQ tham gia các tổ chức thế giới như WTO và tạo những điều kiện để quốc gia này phát triển kinh tế, Mỹ và phương Tây hy vọng TQ sẽ tiến về phía dân chủ và trở thành một quốc gia có trách nhiệm nhưng điều đó đã không thành hiện thực.

Trước hết về mặt lịch sử, văn hóa, Trung Hoa tuy rộng lớn và có số dân đông nhất thế giới nhưng quốc gia này là một quốc gia “đóng” chứ không phải “mở”, ngay thời cực thịnh nhất trong lịch sử là đời nhà Đường, Trung Hoa đã hoàn thiện kế hoạch “Đại vận hà” đào các con sông nối với hệ thống sông ngòi trong nước, bỏ biển, đóng các hải cảng có thể đi ra thế giới, cái gọi là “Đô đốc Trịnh Hòa” vượt đại dương trên những hạm đội thực chất chỉ là truyền thuyết, một sự bịa đặt lịch sử tinh vi khi TQ có tham vọng đi ra thế giới. Độ “mở” (chính trị, kinh tế, xã hội) ra thế giới của Trung Quốc thua xa các quốc gia nhỏ hơn như Nhật Bản hay Nam Hàn…thậm chí còn thua các nước nhỏ bé ở Đông Nam Á như Singapor, Thái Lan và ngay cả Việt Nam.

Bất cứ sự tiếp xúc nào của dân chúng với bên ngoài (văn hóa, tư tưởng, nghệ thuật..) đều gây ra sự hoảng loạn cho tầng lớp lãnh đạo. Khi cải cách, để trả lời những đòi hỏi dân chủ của sinh viên, Đặng Tiểu Bình đã đáp trả bằng cuộc đàn áp đẫm máu và ô nhục “Thiên An Môn” một vết nhơ muôn đời không rửa nổi. Sau sự kiện này, vào thập niên từ 1998-2008 TQ cũng đã có những sự nới lỏng về mặt chính trị nhưng rồi nó cũng bị bóp nghẹt trở lại nhất là khi Tập Cận Bình lên nắm quyền (2012). Tự do ngôn luận bị kiểm soát, luật an ninh mạng ra đời, các tổ chức NGOs bị cấm hoạt động và trục xuất, một số môn học bị đưa ra khỏi nhà trường, chủ nghĩa dân tộc cực đoan Đại Hán được kích động…người ta so sánh sự khắc nghiệt của nó với thời Mao Trạch Đông, sự sùng bái cá nhân được khôi phục, chân dung Tập được trưng ra ở khắp nơi, ông ta được gọi là “Mao 2.0”.

Về mặt kinh tế, khi bắt đầu cải cách, mô hình và hai “động lực phát triển” chính của Đặng Tiểu Bình là: 1- Đầu tư tài sản cố định (chủ yếu là hạ tầng). 2- Sản xuất hàng tiêu dùng rẻ tiền với lợi thế đông nhân công và lương thấp hướng về xuất khẩu (vốn liếng từ nguồn đầu tư nước ngoài kể cả FDI). Mô hình này đã biến TQ trở thành “công xưởng của thế giới” với sự thành công vượt ngoài mong đợi trong 30 năm.

Đến đây TQ gặp phải vấn đề “bẫy thu nhập trung bình” và “Quy luật hiệu suất giảm dần” mà bất cứ quốc gia nào khi phát triển cũng gặp phải. Dễ hiểu hơn ta có thể dùng khái niệm “Điểm ngoặt Lewis” đặt theo tên nhà kinh tế học Arthur Lewis, trong quá trình phát triển khi lao động dư thừa và giá rẻ ở nông thôn đã cạn kiệt không đủ cung ứng và phải tăng lương nó sẽ gây ra sự thay đổi cơ bản trong cơ cấu của thị trường lao động, đặc biệt là lao động trình độ thấp, đẩy quốc gia vào cái “bẫy thu nhập trung bình”. Muốn vượt khỏi cái bẫy này nền kinh tế phải chuyển đổi lên bậc thang cao hơn như: sản xuất các hàng hóa có hàm lượng “chất xám” cao, đầu tư vào nghiên cứu sáng tạo, đào tạo lại lao động từ sản xuất sang dịch vụ vv…

Để làm được điều này cần phải có một chính quyền có hệ thống chính trị cởi mở, dân chủ, đa nguyên, đa đảng, có tự do báo chí để công luận có thể kiểm soát các chính sách của chính phủ, phải có hệ thống tài chính hiện đại, sử dụng hiệu quả các nguồn lực như đất đai, tài nguyên, lao động và vốn. Theo một nghiên cứu, trên thế giới có 101 nước gia nhập CLB các nước có thu nhập trung bình (10 ngàn USD/năm) năm 1960 thì cho đến năm 2012 chỉ có 13 nước thoát cái “bẫy” này trong đó có Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Israel… là những nước chọn dân chủ hóa chính trị đồng hành cùng với phát triển kinh tế. Ban lãnh đạo mới của TQ đặt ra kế hoạch vượt cái bẫy bằng tăng chi tiêu dùng nội địa cộng với đầu tư cho sáng tạo và dịch vụ trong nước cùng với xuất khẩu các mặt hàng có hàm lượng trí thức cao, các sản phẩm công nghệ cao như robot, trí thông minh nhân tạo… ra thế giới qua giấc mơ đầy tham vọng “Made in China 2025” bằng cách ép buộc các công ty nước ngoài hoạt động ở TQ phải “chuyển giao công nghệ” và đánh cắp các phát minh, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, đặt các “bẫy nợ” cho các nước nghèo bằng các khoản vay không thể trả nổi vì đầu tư không hiệu quả và khuyến khích tham nhũng nhằm thiết lập “một vành đai một con đường” với những quốc gia phải phụ thuộc vào TQ…. chứ không thay đổi chính trị. Một hậu quả không thể khác là thể chế chính trị khắc nghiệt bóp nghẹt hết các quyền tự do cũng bóp nghẹt luôn cả óc sáng tạo của công dân trong mọi lĩnh vực.

Không có dấu hiệu nào cho thấy đảng cs TQ sẽ thay đổi. Trung Quốc sẽ loay hoay trong cái mà giáo sư Harvard gốc Hoa Minxin Pei nói: “Quá trình chuyển đổi bị mắc kẹt”. Hay như Bzezinsky kết luận trong cuốn sách nổi tiếng của ông: “Phát triển kinh tế và ổn định chính trị, nhưng sự ổn định chính trị sẽ phải trả một cái giá duy nhất đó là thất bại về kinh tế”.

VÀ BÀI HỌC NÀO CHO VIỆT NAM?

Một điều rõ ràng, ban lãnh đạo đảng (cs) VN đang đi theo mô hình TQ, nhưng sự “theo đuôi” này có hình thù thế nào? Tờ China military của Bắc Kinh nhận xét: “Cải cách kinh tế (ở VN) không giống ai. Cải cách chính trị thì sao? “Tứ trụ” như cỗ xe ngựa 4 bánh mà mỗi bánh chạy theo một hướng”.

Công bằng mà nói, Việt Nam cũng có một giai đoạn phát triển khá ấn tượng mà đảng gọi là “công cuộc đổi mới”. Giai đoạn phát triển này đưa Việt Nam ra khỏi thảm cảnh với cấm vận, gánh nặng của 2 cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc và Tây Nam khi đất nước mới bước vào hòa bình, gần 4 triệu người mấp mé ở ngưỡng chết đói phải kêu gọi viện trợ nhân đạo, lạm phát phi mã gần một ngàn phần trăm, giao dịch ngoại thương chỉ đạt 25 triệu dollar/năm…làm hàng triệu người phải bỏ nước ra đi. Đó cũng là một thành quả đáng ghi nhận.

Nhưng cũng như TQ, sự phát triển của VN đã dừng lại và đang tụt dốc cùng với những hậu quả như tàn phá môi trường, phân cách giàu nghèo ngày càng lớn, tham nhũng tràn lan vv…mục tiêu tất cả dành cho tăng trưởng làm trầm trọng thêm gánh nặng an sinh xã hội, tiềm ẩn sự bất ổn xã hội. Vậy đâu là đường ra?
.
Đó không còn là vấn đề của mô hình phát triển cùng với quy luật của sự suy giảm hiệu suất mà là mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị. Để vượt qua và phát triển kinh tế về “chất” trên thang bậc giá trị gia tăng thì bắt buộc các thiết chế chính trị phải chuyển đổi tức là phải khoan dung, phải tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần độc lập trong xã hội, thậm chí là đối lập. Các thể chế này phải thôi là một “nhà nước tước đoạt” (extractive states) thay bằng một “nhà nước dung nạp” (inclusive states). Kinh nghiệm trên thế giới cho thấy các thể chế chuyên chính hay toàn trị không có khả năng tạo thuận lợi cho một nền kinh tế “hậu tước đoạt” vì thế cũng không đáp ứng nổi các nhu cầu ngày càng tăng cao của tầng lớp dân chúng mới giàu lên (tầng lớp trung lưu) vì nó không chấp nhận quá trình tự tiếp nhận các thành phần mới trong hệ thống chinh trị của mình (đa nguyên, đa đảng). Điều này không sớm thì muộn sẽ dẫn đến việc đòi hỏi phải lật đổ chế độ như là một nhu cầu cấp thiết của xã hội.

Có một số người cho rằng với tình hình hiện nay khi mà TQ đang phải đối mặt với sự tẩy chay trên thế giới, đặc biệt là mâu thuẫn Mỹ- Trung, chúng ta chỉ cần ngồi chờ “tọa sơn quan hổ đấu”, khi Bắc Kinh mà đổ thì Hà Nội cũng không có đất mà chôn, bất chiến tự nhiên thành. Một tư duy vô đạo đức, vô trách nhiệm và đầy tính nô lệ. Với một tầm vóc như TQ, một nền kinh tế trên 10 ngàn tỷ dollar/năm, sự tăng trưởng dù thấp 3% chẳng hạn nó cũng là một điều đáng kể giúp cho TQ cầm cự, hơn nữa với sự thành công trong thời gian qua, cỗ xe chính trị đã quen đi trên con đường cũ đã trơ lỳ ngại đi theo con đường mới, thay đổi hướng rẽ là một quyết định khó khăn, lâu dài, đau đớn, thậm chí phải trả bằng máu, rất nhiều máu. Việt Nam có thể trả cái giá như thế không? Dứt khoát là không. Chúng ta có nhiều cơ hội hơn họ.

Hơn nữa, trước thái độ càn rỡ, trịch thượng của TQ với VN hiện nay, điều gì sẽ đảm bảo cho chúng ta không trở thành phiên thuộc của Tàu với những tên thái thú mang dòng máu Việt? Khi mà thủy lôi TQ đã dạt vào bờ biển VN, khi mà các đặc khu kinh tế và người Tàu đầy rẫy trên đất Việt, khi mà có những thỏa thuận ngầm mà dân chúng không được biết….khi mà chúng ta điềm nhiên ngồi chờ như anh chàng Đại Lãn nằm dưới gốc sung há miệng chờ trái rụng trúng mồm mình và chết đói.

Không ai cứu được chúng ta khi chúng ta không tự cứu mình trước.

Hãy nhìn các nước láng giềng, sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997, Thailand rơi vào tình trạng phá sản, hệ thống chính trị chuyển sang chế độ “Quân chủ lập hiến” với Quốc hội và đa đảng, có thể nói bầu không khí chính trị của Thailand là không “ổn định”, hàng loạt các cuộc biểu tình có khi lên tới quy mô cả triệu người, kéo dài cả tháng, người ta thống kê có đến 28 cuộc đảo chính lớn nhỏ vậy mà kinh tế phát triển vượt bậc, cuộc sống của dân chúng không bị xáo trộn. Tôi từng một lần ở Bangkok đúng thời gian có một cuộc đảo chính, có tiếng súng nổ rải rác ở vài nơi nhưng hầu như không có thương vong, các siêu thị, các khu vui chơi vẫn sinh hoạt bình thường, người dân coi tin tức qua TV, xem chính sách của chính phủ có gì thay đổi, coi đó như chỉ là trò chơi của các chính trị gia.

Hay Cambodia, dù chỉ là một nền “dân chủ nửa vời” nhưng cuộc sống dân chúng ngày càng được cải thiện, chúng ta không thấy nhục sao?

Ps: Bài viết bổ sung thêm ý kiến cho cuộc hội luận về những bài học từ TQ của BBC tiếng Việt do không đủ thời gian.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Đây chính là quả ngư lôi tấn công của Hải quân Trung Quốc

Đây chính là quả ngư lôi tấn công của Hải quân Trung Quốc

FB Nguyễn Văn Phước

20-12-2018

Đây chính là quả ngư lôi tấn công của Hải quân Trung Quốc có sức công mạnh phá huỷ diệt tàu thuyền, tính mạng người, được phát hiện ở vùng biển sát bờ Việt Nam, ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng chủ quyền biển đảo và tính mạng ngư dân, tàu thuyền VN mà các cơ quan ngôn luận đề cập vừa hồ hởi, vừa dè dặt y như phát hiện con cá heo trôi dạt vào bờ vậy.

Nếu Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia mà phát hiện ra sự việc nghiêm trọng đến như vậy, thì Bộ Ngoại Giao và Bộ Quốc Phòng, Bộ Tư Lệnh Hải Quân lập tức điều tra, họp báo công bố, phản ứng mạnh ở cấp quốc gia ngay!

Việc một quả ngư lôi quân sự bay vào vùng biển chủ quyền của tổ quốc Việt Nam quan trọng hơn gấp trăm nghìn lần việc một quả bóng bay vào lưới đối phương trong một cuộc vui chơi giải trí trên sân Mỹ Đình.

Tổng Bí Thư nhân tiện cũng nên rà soát lại xem có thanh củi gộc thân Trung nào đang làm mưa làm gió trong Quân Đội và Bộ Quốc Phòng, mãi lo chơi golf, xây biệt phủ ăn chơi đến nỗi quên nhiệm vụ Đảng giao, quên bảo vệ dân Việt hay không?

Một thực tế khác đã diễn ra từ lâu rồi: Người Trung Quốc như được trải thảm tràn vào khắp các tỉnh, thành vung tiền thu gom nhà cửa, các vùng đất đai trọng yếu, thông qua các công ty bất động sản, lợi ích nhóm sân sau được đặc quyền đặc lợi, tiền Nhân dân tệ được sử dụng tự do gần như tiền Việt.

Các mạng bán hàng Online VN được các tập đoàn Trung Quốc đổ tiền vào thâu tóm, bán phá giá, chấp nhận lỗ, cốt để thu thập Big Data của người Việt. Các thiết bị viễn thông, văn phòng, điện thoại, hàng tiêu dùng… được các hãng Trung Quốc cài đặt chip do thám. Thực phẩm, trái cây, đồ gia dụng, đồ chơi trẻ em đầy độc chất không vô tình…

Ba ngư dân Việt Nam đáng thương cũng đã mất mạng sống bỏ lại cha mẹ và những người thân vì một ‘vật thể lạ’ phát nổ ngay tại biển Hoàng Sa của Việt Nam. Hàng chục tàu thuyền ngư dân cô độc bị đâm chìm, bị bắt nạt, đánh đập ngay trên biển của mình, mà tất cả rồi cũng đều rơi vào im lặng.

Sự việc liên tưởng ngay đến thảm hoạ hai máy bay SU30 và CASA của Việt Nam bị tai nạn rơi một cách bí hiểm ngay trên vùng biển của mình năm 2016, mà hoàn toàn im lặng về nguyên nhân cho tới bây giờ. Viên phi công duy nhất còn sống sót cũng bị cách ly không kể lại sự việc.

Chẳng lẽ vì sao chúng ta lại quá sợ hãi không dám cương trực, khẳng khái lên tiếng phản đối, hành động bảo vệ người dân mình và chủ quyền vùng biển Việt Nam có hoàn toàn thực sự còn là của riêng Việt Nam nữa hay không?

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Indonesia: ‘Núi lửa hoạt động gây sóng thần’, hơn 220 người chết

Indonesia: ‘Núi lửa hoạt động gây sóng thần’, hơn 220 người chết

Indonesian residents gathering their possessions near Anyer BeachBản quyền hình ảnhEPA
Image captionNgười dân Indo tìm kiếm tài sản của mình ở ngôi nhà giờ là những đống đổ nát gần bãi biển Anyer

Hơn 220 người đã thiệt mạng và 843 người khác bị thương do một trận sóng thần tấn công vào bờ biển ở khu vực Eo biển Sunda của Indonesia, các quan chức chính phủ nói.

Cơ quan này nói nguyên nhân dẫn đến sóng thần có thể là do có tình trạng đất lở ở đáy biển sau khi núi lửa Krakatoa phun trào.

Eo biển Sunda nằm giữa đảo Java và đảo Sumatra, nối Biển Java với Ấn Độ Dương.

Các hình ảnh do người đứng đầu cơ quan quản lý thảm họa Indonesia cho thấy cảnh diễn ra sau sóng thần, với các con phố chìm trong nước và có một xe hơi bị lật ngược.

Presentational white space

Trước đó, ông đã đăng một đoạn video cho thấy dòng nước chảy mạnh vào đất liền và cư dân địa phương hoảng loạn bỏ chạy.

Các quan chức phụ trách hoạt động cứu trợ khẩn cấp hiện đang điều tra xem liệu có phải sóng thần xảy ra do hoạt động của đảo núi lửa Krakatoa ở Eo biển Sunda gây ra hay không.

Trong tháng Chín, hơn 2.000 người đã thiệt mạng khi một trận động đất mạnh tấn công vào hòn đảo miền trung Sulawesi, gây ra một trận sóng thần nhấn chìm thành phố duyên hải Palu.

Indonesia hay bị động đất do vị trí địa lý nằm trên Vành đai Lửa Thái Bình Dương, nơi thường xảy ra động đất và các trận núi lửa phun trào.

Mount Anak Krakatoa eruption seen on July 19, 2018 in Kalianda, IndonesiaBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionNúi lửa Anak Krakatoa đã phun trào vài lần trong những tháng gần đây. Trong hình là cảnh ghi được hồi tháng Bảy

Gần 1.350 người chết do sóng thần Indonesia

Nỗ lực tìm cứu nạn nhân sóng thần Indonesia

Động đất Indonesia: 14 người chết ở đảo Lombok

Núi lửa Anak Krakatoa (nghĩa là Đứa con của Krakatoa) đã hoạt động nhiều trong những tháng gần đây.

Cơ quan địa chất Indonesia nói núi lửa phun trào trong hai phút 12 giây hôm thứ Sáu, tạo ra một đám mây bụi dâng cao 400 mét phía trên núi.

Cơ quan này khuyến cáo không ai tới gần phạm vi cách miệng núi lửa 2km.

The Indonesian volcano, Anak KrakatauBản quyền hình ảnhGALLO IMAGES/ORBITAL HORIZON/COPERNICUS SENTIN
Image captionHình ảnh vệ tinh ghi lại cảnh núi lửa Anak Krakatoa phun trào hồi tháng Tám

Chủ đề liên quan

Categories: Tin-Tức Thế-Giới | Leave a comment

THẾ GIỚI ĐẠI DƯƠNG Chiến lược phát triển kinh tế biển của Việt Nam: Hiện trạng và xu hướng phát triển In bài này Ngày đăng 20-12-2018 … Với hơn 1 triệu km2 vùng đặc quyền kinh tế, có trên 3.000 hòn đảo lớn nhỏ các loại, chủ yếu nằm ở Vịnh Bắc Bộ, với diện tích khoảng 1.700 km2, Việt Nam nằm trong số 10 nước trên thế giới có chỉ số cao nhất về chiều dài bờ biển so với diện tích lãnh thổ. Ở nước ta, tính bình quân cứ 100 km2 đất liền nước ta có 1 km bờ biển, cao gấp sáu lần chỉ số trung bình của thế giới, đồng thời bờ biển lại mở ra cả ba hướng Đông, Nam và Tây Nam, rất thuận lợi cho việc thông thương qua lại đại dương. Vì vậy, trước mắt cũng như lâu dài biển gắn bó mật thiết với đời sống con người và là cơ sở cho sự phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường của mọi miền đất nước. Điều kiện thuận lợi để Việt Nam phát triển kinh tế biển: Việt Nam là nước có tiềm năng tự nhiên to lớn, có bờ biển dài, diện tích lãnh hải thuộc chủ quyền rộng, khả năng tiếp cận dễ dàng đến các đại dương, có các nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú. Biển Đông có nguồn tài nguyên sinh vật phong phú và đa dạng, có đến hơn 160.000 loài, gần 10.000 loài thực vật và 260 loài chim sống ở biển. Trữ lượng các loài động vật ở biển ước tính khoảng 32,5 tỷ tấn, trong đó, các loài cá chiếm 86% tổng trữ lượng. Vùng biển Việt Nam có hơn 2.458 loài cá, gồm nhiều bộ, họ khác nhau, trong đó có khoảng 110 loài có giá trị kinh tế cao. Trữ lượng cá ở vùng biển nước ta khoảng 5 triệu tấn/năm, trữ lượng cá có thể đánh bắt hàng năm khoảng 2,3 triệu tấn. Các loài động vật thân mềm ở Biển Đông có hơn 1.800 loài, trong đó có nhiều loài là thực phẩm được ưa thích, như: mực, hải sâm. Ngoài động vật, biển còn cung cấp cho con người nhiều loại rong biển có giá trị. Đây là nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng và là nguồn dược liệu phong phú. Biển nước ta có khoảng 638 loài rong biển. Các loại rong biển dễ gây trồng, ít bị mất mùa và cho năng suất thu hoạch cao nên sẽ là nguồn thực phẩm quan trọng của loài người trong tương lai. Không những vậy, biển Việt Nam còn có nguồn tài nguyên dầu khí lớn, có tầm chiến lược quan trọng. Đến nay, chúng ta đã xác định được tổng tiềm năng dầu khí tại bể trầm tích: Sông Hồng, Phú Khánh, Nam Côn Sơn, Cửu Long, Malay – Thổ Chu, Tư Chính – Vũng Mây. Trữ lượng dầu khí dự báo của toàn thềm lục địa Việt Nam khoảng 10 tỷ tấn quy dầu. Ngoài dầu, Việt Nam còn có khí đốt với trữ lượng khai thác khoảng 3.000 tỷ m3/năm. Trữ lượng đã được xác minh là gần 550 triệu tấn dầu và trên 610 tỷ m3 khí. Trữ lượng khí đã được thẩm lượng, đang được khai thác và sẵn sàng để phát triển trong thời gian tới vào khoảng 400 tỷ m3. Ngoài ra, vùng biển nước ta nằm gọn trong phần phía Tây của vành đai quặng thiếc Thái Bình Dương, có trữ lượng thiếc lớn, và tiềm năng to lớn về quặng sa khoáng của các nguyên tố hiếm, có triển vọng băng cháy lớn. Bờ biển Việt Nam có vị trí địa – kinh tế và địa – chiến lược đặc biệt quan trọng. Việt Nam có đường bờ biển chạy theo hướng Bắc – Nam dọc theo chiều dài đất nước, lại nằm kề trên các tuyến đường biển quốc tế quan trọng của thế giới, có những vụng sâu kín gió là điều kiện thuận lợi để phát triển giao thông vận tải biển và mở rộng giao lưu với bên ngoài. Biển Đông được coi là con đường chiến lược về giao lưu và thương mại quốc tế giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, ở cả bốn phía đều có đường thông ra Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương qua các eo biển. Từ các hải cảng ven biển của Việt Nam thông qua eo biển Malacca để đi đến Ấn Độ Dương, Trung Đông, châu Âu, châu Phi; qua eo biển Basi có thể đi vào Thái Bình Dương đến các cảng của Nhật Bản, Nga, Nam Mỹ và Bắc Mỹ; qua các eo biển giữa Philippines, Indonesia, Singapore đến Australia và New Zealand… Hầu hết các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương đều có các hoạt động thương mại hàng hải rất mạnh trên Biển Đông. Trong tổng số 10 tuyến đường biển lớn nhất trên thế giới hiện nay, có 5 tuyến đi qua Biển Đông hoặc có liên quan đến Biển Đông. Hàng năm, qua biển Đông vận chuyển khoảng 70% lượng dầu mỏ nhập khẩu từ Trung Đông và Đông Nam Á, khoảng 45% hàng xuất của Nhật Bản và 60% hàng xuất nhập khẩu của Trung Quốc. Vùng biển Việt Nam án ngữ trên con đường này. Việt Nam có nhiều bãi biển đẹp, có tiềm năng phát triển về du lịch biển. Bờ biển dài có nhiều bãi cát, vịnh, hang động tự nhiên đẹp là tiềm năng về du lịch lớn của nước ta. Do đặc điểm kiến tạo khu vực, các dãy núi đá vôi vươn ra sát bờ biển tạo nhiều cảnh quan thiên nhiên sơn thủy rất đa dạng, nhiều vụng, vịnh, bãi cát trắng, hang động, các bán đảo và các đảo lớn nhỏ liên kết với nhau thành một quần thể du lịch hiếm có trên thế giới như di sản thiên nhiên Hạ Long được UNESCO xếp hạng. Hệ thống gần 82 hòn đảo ven bờ có diện tích trên 01 km2, trong đó 24 đảo có diện tích trên 10 km2 (10 – 320 km2), cách bờ không xa là những hệ sinh thái đảo hấp dẫn. Ở đây không khí trong lành, nước biển trong và sạch, bãi cát trắng mịn. Các thắng cảnh trên đất liền nổi tiếng như Phong Nha, Bích Động, Non Nước… Các di tích lịch sử và văn hoá như Cố đô Huế, phố cổ Hội An, Tháp Chàm, nhà thờ đá Phát Diệm,… phân bố ngay ở vùng ven biển. Các trung tâm kinh tế thương mại, các thành phố du lịch nằm ven biển hoặc cách bờ biển không xa như Hạ Long, Hải Phòng, Vinh, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Vũng Tàu, Hà Tiên, Hà Nội, Sài Gòn,… Hệ thống đường bộ, đường xe lửa xuyên Việt và liên vận quốc tế chất lượng cao được xây dựng dọc bờ biển. Hiện trạng kinh tế biển Việt Nam Kinh tế biển Việt Nam những năm đổi mới vừa qua đã tăng trưởng đáng kể về qui mô và thay đổi rõ rệt về ngành nghề, đóng góp quan trọng cho tăng trưởng GDP. Tuy nhiên nếu so sánh với một số nước có biển trong khu vực thì giá trị hoạt động của kinh tế biển Việt Nam chỉ bằng 24% của Trung Quốc, 14% của Hàn Quốc và 1% của Nhật Bản. Hiện nay, Việt Nam đã mở cửa hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Nhưng, đánh giá một cách thực chất, trong một thời gian dài, Việt Nam mới chỉ chú trọng việc mở hàng loạt cửa khẩu và phát triển khu kinh tế cửa khẩu trên biên giới đất liền mà ít mở ra biển, qua các cảng biển. Gần đây, mấy chục tỉnh sát biển đua nhau làm cảng biển, đã xây dựng gần một trăm cảng biển. Việt Nam cũng đã hình thành bốn vùng kinh tế trọng điểm và hàng chục khu kinh tế dọc theo bờ biển. Tất cả đều hướng ra biển và có tiềm năng to lớn từ kinh tế biển. Nhưng việc tận dụng lợi thế và khai thác tiềm năng to lớn này còn xa mới đạt hiệu quả mong muốn. Công tác tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí của nước ta cũng ngày càng được đẩy mạnh và đạt được những thành quả nhất định; quy mô và phạm vi cũng được mở rộng từ vùng nước nông, ra các vùng nước sâu, xa bờ và một số điểm thuộc vùng biển Quốc tế. Khối lượng công tác thăm dò, khai thác dầu khí đã thực hiện trên toàn bộ vùng biển và thềm lục địa Việt Nam là khá lớn. Khảo sát điều tra cơ bản toàn bộ 160 lô, đo địa chấn 2D trên 158 nghìn km, đo địa chấn 3D là 50 nghìn km2. Nhiều bể trầm tích có triển vọng khai thác dầu và khí tự nhiên trên vùng biển và thềm lục địa nước ta; Đã phát hiện thêm nhiều lô dầu khí mới, xác định thu hồi 1,37 tỷ tấn quy dầu và tiềm năng khí các bể còn lại khoảng 2,6 – 3,6 tỷ tấn quy dầu. Kết quả công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí đã xác định được các bể/cụm bể trầm tích có triển vọng dầu khí: Sông Hồng, Phú Khánh, Hoàng Sa, Cửu Long, Nam Côn Sơn, Trường Sa – Tư Chính – Vũng Mây, Malay – Thổ Chu và Phú Quốc, trong đó các bể: Sông Hồng, Cửu Long, Nam Côn Sơn và Malay – Thổ Chu đã phát hiện và đang khai thác dầu khí. Tổng sản lượng khai thác dầu thô trên thềm lục địa Việt Nam đạt 130,27 triệu tấn, khoảng 63,52 tỷ m3 khí tự nhiên và tổng sản lượng dầu thô xuất khẩu đạt 102,25 triệu tấn; bình quân mỗi năm trên thềm lục địa nước ta có thể khai thác được 16 triệu tấn dầu thô/năm, khoảng 7,9 tỷ m3/năm khí tự nhiên. Trong những năm gần đây do thị trường tiêu thụ titan và các khoáng sản đi kèm trên thế giới biến động mạnh theo chiều hướng gia tăng về giá cả; ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình khai thác sa khoáng titan ở nước ta. Hoạt động khai thác quặng titan tập trung nhiều ở một số địa phương như Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định. Đến nay, riêng ở các tỉnh Miền Trung có trên 50 đơn vị tổ chức khai thác, ở 38 khu mỏ và có 18 xưởng tuyển tinh quặng và đã được khai thác gần 8 triệu tấn quặng titan. Việc quản lý hoạt động khoáng sản được thực hiện thông qua các giấy phép khai thác do 2 cấp quản lý cấp cho các doanh nghiệp trong đó Bộ Công nghiệp (trước năm 2002) hoặc Bộ Tài nguyên & Môi trường (sau năm 2002) cấp giấy phép khai thác cho các mỏ lớn còn ở nông nghiệp (trước năm 2002) hoặc ở Tài nguyên & Môi trường (sau năm 2002) cấp giấy phép khai thác cho khai thác tận thu khoáng sản. Cả nước có 21 tỉnh sản xuất muối, trải dài từ Hải Phòng đến Cà Mau. Tổng diện tích sản xuất muối toàn quốc có 14.528,2 ha. Các tỉnh có diện tích sản xuất muối nhiều như tỉnh Bạc Liêu (2.774 ha), Ninh Thuận (2.380 ha), Bến Tre (1.431 ha), TP. Hồ Chí Minh (1.532,2 ha), Quảng Nam (35 ha), Thái Bình (60,51 ha). Diện tích sản xuất muối công nghiệp năm tập trung ở 3 tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa. Trong những năm qua, các Bộ, ngành Trung ương và địa phương đã tích cực chỉ đạo đẩy mạnh tổ chức sản xuất khai thác hải sản, trong đó tập trung vào tổ chức lại sản xuất, hiện đại hóa tàu cá, đẩy mạnh đánh bắt xa bờ, đổi mới và tăng cường năng lực khai thác thân thiện với môi trường, ứng phó với BĐKH và hướng tới phát triển bền vững. Đồng thời đẩy mạnh đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật nghề cá trên các vùng biển, các tuyến đảo xa, đảo tiền tiêu và đảo trọng yếu quốc gia như Hoàng Sa, Trường Sa, Bạch Long Vĩ, Lý Sơn, Cồn Cỏ, Phú Quốc, Phú Quý; Nâng cao năng lực đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, đẩy mạnh áp dụng khoa học công nghệ trong khai thác hải sản. Trong giai đoạn từ năm 2007-2012, khai thác hải sản trên biển có những tăng trưởng đáng ghi nhận, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân về số lượng tàu thuyền tăng 4,3%/năm, công suất tàu thuyền tăng 3,6%/năm, sản lượng tăng 5,2%/năm và giá trị khai thác tăng 5,9%/năm. Theo số liệu điều tra ban đầu của chính phủ, Việt Nam có khoảng 17.400 ha được đánh giá là thích hợp cho các dự án, công trình phát triển năng lượng gió. Thời gian qua, tại các tỉnh Bình Định, Ninh Thuận và Bình Thuận đã và đang đi tiên phong trong triển khai một số dự án phong điện, tiềm năng phát triển ở khu vực này khoảng hơn 8 nghìn MW. Phát triển điện gió với đặc thù là phân tán, nhỏ lẻ, cục bộ, hiện đang được các doanh nghiệp trong và ngoài nước nghiên cứu đầu tư, song việc triển khai còn gặp rất nhiều khó khăn: Chưa có chính sách và các quy định, trợ giá trong việc mua điện từ nguồn năng lượng gió; Thiếu kiến thức và năng lực kỹ thuật để thực hiện một công trình điện gió hoàn chỉnh, cũng như các kỹ thuật cơ bản và dịch vụ đi kèm sau lắp đặt; Các Công ty Điện lực địa phương chưa sẵn sàng vào cuộc, việc xây dựng hạ tầng đáp ứng cho các dự án phong điện sẽ mất thời gian khá lâu. Hiện tại, hoạt động du lịch biển Việt Nam thu hút tới 80% lượng khách du lịch và khoảng 70% tổng số các điểm du lịch của toàn quốc. Với bờ điển dài trên 3.260 km, có nhiều bãi tắm đẹp và nhiều hang, vịnh kỳ thú như ở Móng Cái, Vân Đồn, Vịnh Hạ Long, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Cửa Lò, Cửa Tùng, Vân Phong, Vũng Tàu…cùng có nhiều di sản văn hoá vật thể và phi vật thể, di sản thiên nhiên thế giới được UNESCO công nhận là Vịnh Hạ Long, Cố đô Huế, Nhã nhạc cung đình Huế, đô thị cổ Hội An, khu đền tháp Mỹ Sơn và hang động Phong Nha – Kẻ Bàng. Những công trình kiến trúc, di tích lịch sử này, ngoài những giá trị khoa học, văn hóa truyền thống còn là những tiềm năng thu lợi lớn, nếu được đầu tư trùng tu tôn tạo kết hợp với ngành du lịch để khai thác. Trong vùng có nhiều bãi biển như Sầm Sơn, Cửa Lò, Thiên Cầm, Đá Nhảy, Cửa Tùng, Lăng Cô, Thuận An, Non Nước, Mỹ Khê, Nha Trang, Ninh Chữ, Mũi Né…, nhiều danh lam thắng cảnh như đèo Ngang, đèo Hải Vân, bán đảo Sơn Trà…, nhiều di tích lịch sử gắn liền với bề dày dựng nước và giữ nước như thành Huế, thành cổ Quảng Trị, Cửa Việt, Vĩnh Mốc, cảng Đà Nẵng, di tích Sơn Mỹ, Vạn Tường, Chu Lai,… Đó là những tiềm năng du lịch biển gắn với du lịch núi và du lịch văn hoá, du lịch nghỉ dưỡng,… tạo cho ven biển Việt Nam trở thành một vùng du lịch độc đáo, hấp dẫn khách du lịch và đưa ngành du lịch đang dần trở thành một ngành mũi nhọn, có ý nghĩa với cả nước. Về chiến lược phát triển kinh tế biển của Việt Nam Mặc dù đến nay, Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng trong việc thiết kế và thực thi chiến lược kinh tế biển, song, về nguyên tắc, vẫn chưa định hình một tư duy phát triển mới, tổng thể về kinh tế biển. Để định hình tư duy mới này, có hai điểm cần lưu ý. (1) Kinh nghiệm phát triển trên đất liền và theo tư duy “đất liền” nhiều năm của Việt Nam, cộng với thực tiễn phát triển kinh tế biển của nhiều nước đi trước cho thấy việc định hình chiến lược kinh tế biển cần được thực hiện đồng thời và tổng thể ở ba phương diện: Khai thác vùng không gian biển (mặt biển, dưới biển và bầu trời trên biển); Khai thác vùng bờ biển (vùng duyên hải với các cảng biển, bãi biển, thành phố biển, khu kinh tế ven biển); Phát triển các lĩnh vực “hậu cần” cho kinh tế biển và các khu vực kết nối (các ngành phục vụ phát triển kinh tế biển, phát triển khoa học – công nghệ biển, nguồn nhân lực cho kinh tế biển, kết nối tuyến du lịch đất liền…). (2) Cùng với cách tiếp cận chuỗi, cần chú ý nguyên tắc tập trung phát huy lợi thế trong phát triển. Với nguồn lực có hạn, trong bối cảnh quốc tế hiện nay, việc lựa chọn mục tiêu trọng tâm trong chiến lược biển để ưu tiên thực hiện là một yêu cần bắt buộc đối với Việt Nam. Bắt buộc vì nó xuất phát từ sự hạn chế của các nguồn lực, buộc phải tập trung nguồn lực cho một số mục tiêu hạn chế nhằm tạo sự đột phá mạnh và sức lan tỏa rộng. Bắt buộc vì nó đáp ứng những yêu cầu mang tính sống còn trong cuộc cạnh tranh quốc tế cũng như những tranh chấp lãnh hải, đặc biệt là ở vùng Biển Đông, đang trở nên ngày càng gay gắt hiện nay. Để phát triển kinh tế biển, Việt Nam cần triển khai các biện pháp: (1) Lực lượng hàng hải viễn dương, đặt mục tiêu và lộ trình vươn lên thành một cường quốc hàng hải một cách khẩn trương, hiện thực khả thi; xác lập và tăng cường các tuyến bay qua các hành lang biển; củng cố và phát triển các đảo thuộc chủ quyền ở tất cả các khía cạnh khẳng định chủ quyền – không chỉ quân sự mà tập trung mạnh cho các khía cạnh chủ quyền dân sự: dân cư, kinh tế, văn hóa. (2) Phát triển nhanh, mạnh du lịch biển đảo với tư cách là một hình thức hiện diện chủ quyền được thừa nhận quốc tế. (3) Hình thành một số dự án nghiên cứu, khai thác kinh tế biển, nhất là các dự án ở vùng biển xa, có tầm cỡ, chú trọng liên doanh với nước ngoài (các tập đoàn lớn) với những điều kiện thỏa đáng và đặt trong tầm nhìn chiến lược. (4) Ưu tiên xây dựng một số cứ điểm phát triển chiến lược mạnh ven biển. Những cứ điểm này là các tổ hợp phát triển lớn bao gồm: đô thị biển + cảng biển lớn + khu kinh tế mở (hay khu kinh tế tự do). (5) Xây dựng sớm chiến lược đối phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, coi đây là một điều kiện cơ bản để xây dựng chiến lược tổng thể. Đặc biệt có các tiếp cận nhà nước mới đến sự sinh tồn và phát triển của dân cư các vùng duyên hải, bỏ lối tiếp cận đối phó thiên tai thụ động, dựa vào lòng từ thiện để thể hiện sự quan tâm quốc gia mà có chiến lược chủ động tạo nền tảng để đối phó và phát triển hiệu quả trong điều kiện thiên tai. Xu hướng phát triển kinh tế biển Việt Nam Đến năm 2030, Việt Nam sẽ phát triển thành công, đột phá về các ngành kinh tế biển theo thứ tự ưu tiên: (1) Du lịch và dịch vụ biển; (2) Kinh tế hàng hải; (3) Khai thác dầu khí và các tài nguyên khoáng sản biển khác; (4) Nuôi trồng và khai thác hải sản; (5) Công nghiệp ven biển; (6) Năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới. Cụ thể: Du lịch và dịch vụ biển: Chú trọng đầu tư hạ tầng du lịch; khuyến khích, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế tham gia phát triển du lịch sinh thái, thám hiểm khoa học, du lịch cộng đồng, các khu du lịch nghỉ dưỡng biển chất lượng cao tại các vùng ven biển; xây dựng, phát triển, đa dạng hoá các sản phẩm, chuỗi sản phẩm, thương hiệu du lịch biển đẳng cấp quốc tế trên cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học, phát huy giá trị di sản thiên nhiên, văn hoá, lịch sử đặc sắc của các vùng, miền, kết nối với các tuyến du lịch quốc tế để Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của thế giới. Nghiên cứu thí điểm phát triển du lịch ra các đảo, vùng biển xa bờ. Tăng cường năng lực tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn; đẩy mạnh các hoạt động thám hiểm khoa học; chú trọng công tác giáo dục, y tế biển… Hỗ trợ, tạo điều kiện để người dân ven biển chuyển đổi nghề từ các hoạt động có nguy cơ xâm hại, tác động tiêu cực đến biển sang bảo vệ, bảo tồn, tạo sinh kế bền vững, việc làm mới ổn định, nâng cao thu nhập cho người dân. Kinh tế hàng hải: Trọng tâm là khai thác có hiệu quả các cảng biển và dịch vụ vận tải biển. Quy hoạch, xây dựng, tổ chức khai thác đồng bộ, có hiệu quả các cảng biển tổng hợp, cảng trung chuyển quốc tế, cảng chuyên dùng gắn với các dịch vụ hỗ trợ; xây dựng hoàn thiện hạ tầng logistics và các tuyến đường giao thông, kết nối liên thông các cảng biển với các vùng, miền, địa phương trong nước và quốc tế. Đẩy mạnh phát triển đội tàu vận tải biển với cơ cấu hợp lý, ứng dụng công nghệ hiện đại, nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng nhu cầu thị trường vận tải nội địa, tham gia sâu vào các chuỗi cung ứng vận tải, từng bước gia tăng, chiếm lĩnh thị phần quốc tế. Khai thác dầu khí và các tài nguyên, khoáng sản biển khác: Nâng cao năng lực của ngành Dầu khí và các ngành tài nguyên, khoáng sản biển khác; từng bước làm chủ công tác tìm kiếm, thăm dò, khai thác, đáp ứng nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong thời kỳ mới. Đẩy mạnh công tác tìm kiếm, thăm dò, gia tăng trữ lượng dầu khí; nghiên cứu, thăm dò các bể trầm tích mới, các dạng hydrocarbon phi truyền thống; gắn việc tìm kiếm, thăm dò dầu khí với điều tra, khảo sát, đánh giá tiềm năng các tài nguyên, khoáng sản biển khác, khoáng sản biển sâu, đặc biệt là các khoáng sản có trữ lượng lớn, giá trị cao, có ý nghĩa chiến lược. Nâng cao hiệu quả khai thác các tài nguyên khoáng sản biển gắn với chế biến sâu; kết hợp hài hoà giữa khai thác, chế biến với bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học biển. Nuôi trồng và khai thác hải sản: Chuyển từ nuôi trồng, khai thác hải sản theo phương thức truyền thống sang công nghiệp, ứng dụng công nghệ cao. Tổ chức lại hoạt động khai thác hải sản theo hướng giảm khai thác gần bờ, đẩy mạnh khai thác tại các vùng biển xa bờ và viễn dương phù hợp với từng vùng biển và khả năng phục hồi của hệ sinh thái biển đi đôi với thực hiện đồng bộ, có hiệu quả công tác đào tạo, chuyển đổi nghề cho ngư dân. Thúc đẩy các hoạt động nuôi trồng, khai thác hải sản bền vững, tăng cường bảo vệ, tái sinh nguồn lợi hải sản, nghiêm cấm các hoạt động khai thác mang tính tận diệt. Hiện đại hoá công tác quản lý nghề cá trên biển; đẩy mạnh liên kết sản xuất theo hình thức tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; xây dựng một số doanh nghiệp mạnh tham gia khai thác hải sản xa bờ và hợp tác khai thác viễn dương. Đầu tư nâng cấp các cảng cá, bến cá, khu neo đậu tàu thuyền, tổ chức tốt dịch vụ hậu cần nghề cá. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến trong nuôi trồng, khai thác, bảo quản, chế biến hải sản, tạo ra các sản phẩm chủ lực, có chất lượng, giá trị kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu của thị trường. Công nghiệp ven biển: Phải dựa trên cơ sở quy hoạch, cân nhắc lợi thế về điều kiện tự nhiên của từng vùng, ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao thân thiện với môi trường, công nghiệp nền tảng, công nghệ nguồn. Phát triển hợp lý các ngành sửa chữa và đóng tàu, lọc hoá dầu, năng lượng, cơ khí chế tạo, công nghiệp chế biến, công nghiệp phụ trợ. Năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới: Thúc đẩy đầu tư xây dựng, khai thác điện gió, điện mặt trời và các dạng năng lượng tái tạo khác. Phát triển ngành chế tạo thiết bị phục vụ ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, tiến tới làm chủ một số công nghệ, thiết kế, chế tạo và sản xuất thiết bị; ưu tiên đầu tư phát triển năng lượng tái tạo trên các đảo phục vụ sản xuất, sinh hoạt, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Quan tâm phát triển một số ngành kinh tế dựa vào khai thác tài nguyên đa dạng sinh học biển như dược liệu biển, nuôi trồng và chế biến rong, tảo, cỏ biển… Việt Nam cần phát triển đồng bộ, từng bước hình thành khu kinh tế, khu công nghiệp, khu đô thị sinh thái ven biển. Tập trung xây dựng và nhân rộng các mô hình khu kinh tế, khu công nghiệp sinh thái ven biển gắn với hình thành và phát triển các trung tâm kinh tế biển mạnh. Khu kinh tế ven biển phải đóng vai trò chủ đạo trong phát triển vùng và gắn kết liên vùng. Đổi mới tư duy trong xây dựng và thực hiện các quy hoạch, kế hoạch phát triển hệ thống đô thị ven biển có cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đồng bộ, hiện đại theo mô hình, tiêu chí tăng trưởng xanh, đô thị thông minh. Đẩy nhanh xây dựng hoàn thiện kết cấu hạ tầng các khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển theo hướng tiếp cận mô hình khu kinh tế, khu công nghiệp sinh thái, có sức hấp dẫn các nhà đầu tư, thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; giải quyết tốt vấn đề môi trường, xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân. Phát triển các vùng biển dựa trên lợi thế về điều kiện tự nhiên, hài hoà giữa bảo tồn và phát triển. Quy hoạch không gian biển theo các vùng bảo vệ – bảo tồn, vùng đệm và vùng phát triển kinh tế – xã hội để phát triển bền vững kinh tế biển trên cơ sở phát huy tối đa lợi thế so sánh về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, bản sắc văn hoá, tính đa dạng của hệ sinh thái, bảo đảm tính liên kết vùng, giữa địa phương có biển và không có biển. (1) Vùng biển và ven biển phía Bắc (Quảng Ninh – Ninh Bình): Tiếp tục xây dựng khu vực Hải Phòng – Quảng Ninh trở thành trung tâm kinh tế biển; là cửa ngõ, động lực phát triển vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ gắn với cảng quốc tế Lạch Huyện; phát triển Quảng Ninh trở thành trung tâm du lịch quốc gia kết nối với các trung tâm du lịch quốc tế lớn của khu vực và thế giới. (2) Vùng biển và ven biển Bắc Trung Bộ, Duyên hải Trung Bộ (Thanh Hoá – Bình Thuận): Phát triển các cảng biển nước sâu trung chuyển quốc tế, cảng biển chuyên dụng gắn với các khu liên hợp công nghiệp, dầu khí, điện, năng lượng tái tạo, công nghiệp sạch; phát triển các trung tâm du lịch lớn; nuôi trồng, khai thác, chế biến hải sản, dịch vụ hậu cần và hạ tầng nghề cá. (3) Vùng biển và ven biển Đông Nam Bộ (Bà Rịa – Vũng Tàu – Thành phố Hồ Chí Minh): Phát triển cảng biển container quốc tế, dịch vụ hậu cần cảng biển, dịch vụ bảo đảm an toàn hàng hải, công nghiệp khai thác, chế biến dầu khí, công nghiệp hỗ trợ và các dịch vụ ngành Dầu khí. (4) Vùng biển và ven biển Tây Nam Bộ (Tiền Giang – Cà Mau – Kiên Giang): Tập trung xây dựng phát triển Phú Quốc thành trung tâm dịch vụ, du lịch sinh thái biển mạnh mang tầm quốc tế; phát triển công nghiệp khí, chế biến khí, điện khí, năng lượng tái tạo, nuôi trồng, khai thác hải sản, dịch vụ hậu cần, hạ tầng nghề cá; kết nối với các trung tâm kinh tế lớn trong khu vực và thế giới. Bảo vệ môi trường, bảo tồn, phát triển bền vững đa dạng sinh học biển; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng và phòng, chống thiên tai. Mở rộng diện tích, thành lập mới các khu vực bảo tồn biển trên cơ sở quy hoạch không gian biển quốc gia; chú trọng bảo tồn đa dạng sinh học, phục hồi các hệ sinh thái, đặc biệt là các rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển; bảo đảm tính toàn vẹn và mối quan hệ tự nhiên giữa các hệ sinh thái đất liền và biển. Xây dựng các tiêu chí, yêu cầu kỹ thuật nghiêm ngặt theo chuẩn quốc tế về môi trường đối với các dự án đầu tư có nguy cơ ô nhiễm môi trường cao khu vực ven biển, bảo đảm phòng ngừa, ngăn chặn không để xảy ra các sự cố gây ô nhiễm môi trường, giảm thiểu và xử lý hiệu quả các nguồn gây ô nhiễm. Đầu tư xây dựng, củng cố lực lượng, trang thiết bị giám sát, cảnh báo tự động về chất lượng môi trường, ứng phó với sự cố môi trường, hoá chất độc hại trên biển; quản lý rác thải biển, nhất là rác thải nhựa; cải thiện, nâng cao chất lượng môi trường biển. Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo, chủ động phòng, tránh và giảm nhẹ thiệt hại thiên tai, động đất, sóng thần, thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng trên cơ sở ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến, đặc biệt là áp dụng các mô hình thông minh có khả năng thích ứng, chống chịu với thiên tai và tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu. Đẩy mạnh các biện pháp phòng, chống biển xâm thực, xói lở bờ biển, ngập lụt, xâm nhập mặn… Nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng văn hoá biển, xã hội gắn bó, thân thiện với biển. Nâng cao đời sống, bảo đảm an ninh, an toàn cho dân cư vùng ven biển, trên đảo và những người lao động trên biển. Chú trọng phát triển các thiết chế văn hoá cho cộng đồng dân cư biển và ven biển; phát huy bản sắc, giá trị lịch sử và văn hoá dân tộc, tri thức tốt đẹp trong ứng xử với biển, coi đây là nền tảng quan trọng để xây dựng văn hoá biển. Bảo tồn không gian văn hoá, kiến trúc và di sản thiên nhiên. Nâng cao nhận thức về biển và đại dương, xây dựng xã hội, ý thức, lối sống, hành vi văn hoá gắn bó, thân thiện với biển. Phát huy tinh thần tương thân tương ái của cộng đồng dân cư vùng biển, ven biển. Bảo đảm quyền tiếp cận, tham gia, hưởng lợi và trách nhiệm của người dân đối với biển một cách công bằng, bình đẳng.

THẾ GIỚI ĐẠI DƯƠNG

Chiến lược phát triển kinh tế biển của Việt Nam: Hiện trạng và xu hướng phát triển

Với hơn 1 triệu km2 vùng đặc quyền kinh tế, có trên 3.000 hòn đảo lớn nhỏ các loại, chủ yếu nằm ở Vịnh Bắc Bộ, với diện tích khoảng 1.700 km2, Việt Nam nằm trong số 10 nước trên thế giới có chỉ số cao nhất về chiều dài bờ biển so với diện tích lãnh thổ. Ở nước ta, tính bình quân cứ 100 km2 đất liền nước ta có 1 km bờ biển, cao gấp sáu lần chỉ số trung bình của thế giới, đồng thời bờ biển lại mở ra cả ba hướng Đông, Nam và Tây Nam, rất thuận lợi cho việc thông thương qua lại đại dương. Vì vậy, trước mắt cũng như lâu dài biển gắn bó mật thiết với đời sống con người và là cơ sở cho sự phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường của mọi miền đất nước.

Điều kiện thuận lợi để Việt Nam phát triển kinh tế biển:

Việt Nam là nước có tiềm năng tự nhiên to lớn, có bờ biển dài, diện tích lãnh hải thuộc chủ quyền rộng, khả năng tiếp cận dễ dàng đến các đại dương, có các nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú. Biển Đông có nguồn tài nguyên sinh vật phong phú và đa dạng, có đến hơn 160.000 loài, gần 10.000 loài thực vật và 260 loài chim sống ở biển. Trữ lượng các loài động vật ở biển ước tính khoảng 32,5 tỷ tấn, trong đó, các loài cá chiếm 86% tổng trữ lượng. Vùng biển Việt Nam có hơn 2.458 loài cá, gồm nhiều bộ, họ khác nhau, trong đó có khoảng 110 loài có giá trị kinh tế cao. Trữ lượng cá ở vùng biển nước ta khoảng 5 triệu tấn/năm, trữ lượng cá có thể đánh bắt hàng năm khoảng 2,3 triệu tấn. Các loài động vật thân mềm ở Biển Đông có hơn 1.800 loài, trong đó có nhiều loài là thực phẩm được ưa thích, như: mực, hải sâm. Ngoài động vật, biển còn cung cấp cho con người nhiều loại rong biển có giá trị. Đây là nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng và là nguồn dược liệu phong phú. Biển nước ta có khoảng 638 loài rong biển. Các loại rong biển dễ gây trồng, ít bị mất mùa và cho năng suất thu hoạch cao nên sẽ là nguồn thực phẩm quan trọng của loài người trong tương lai. Không những vậy, biển Việt Nam còn có nguồn tài nguyên dầu khí lớn, có tầm chiến lược quan trọng. Đến nay, chúng ta đã xác định được tổng tiềm năng dầu khí tại bể trầm tích: Sông Hồng, Phú Khánh, Nam Côn Sơn, Cửu Long, Malay – Thổ Chu, Tư Chính – Vũng Mây. Trữ lượng dầu khí dự báo của toàn thềm lục địa Việt Nam khoảng 10 tỷ tấn quy dầu. Ngoài dầu, Việt Nam còn có khí đốt với trữ lượng khai thác khoảng 3.000 tỷ m3/năm. Trữ lượng đã được xác minh là gần 550 triệu tấn dầu và trên 610 tỷ m3 khí. Trữ lượng khí đã được thẩm lượng, đang được khai thác và sẵn sàng để phát triển trong thời gian tới vào khoảng 400 tỷ m3. Ngoài ra, vùng biển nước ta nằm gọn trong phần phía Tây của vành đai quặng thiếc Thái Bình Dương, có trữ lượng thiếc lớn, và tiềm năng to lớn về quặng sa khoáng của các nguyên tố hiếm, có triển vọng băng cháy lớn.

Bờ biển Việt Nam có vị trí địa – kinh tế và địa – chiến lược đặc biệt quan trọng. Việt Nam có đường bờ biển chạy theo hướng Bắc – Nam dọc theo chiều dài đất nước, lại nằm kề trên các tuyến đường biển quốc tế quan trọng của thế giới, có những vụng sâu kín gió là điều kiện thuận lợi để phát triển giao thông vận tải biển và mở rộng giao lưu với bên ngoài. Biển Đông được coi là con đường chiến lược về giao lưu và thương mại quốc tế giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, ở cả bốn phía đều có đường thông ra Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương qua các eo biển. Từ các hải cảng ven biển của Việt Nam thông qua eo biển Malacca để đi đến Ấn Độ Dương, Trung Đông, châu Âu, châu Phi; qua eo biển Basi có thể đi vào Thái Bình Dương đến các cảng của Nhật Bản, Nga, Nam Mỹ và Bắc Mỹ; qua các eo biển giữa Philippines, Indonesia, Singapore đến Australia và New Zealand… Hầu hết các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương đều có các hoạt động thương mại hàng hải rất mạnh trên Biển Đông. Trong tổng số 10 tuyến đường biển lớn nhất trên thế giới hiện nay, có 5 tuyến đi qua Biển Đông hoặc có liên quan đến Biển Đông. Hàng năm, qua biển Đông vận chuyển khoảng 70% lượng dầu mỏ nhập khẩu từ Trung Đông và Đông Nam Á, khoảng 45% hàng xuất của Nhật Bản và 60% hàng xuất nhập khẩu của Trung Quốc. Vùng biển Việt Nam án ngữ trên con đường này.

Việt Nam có nhiều bãi biển đẹp, có tiềm năng phát triển về du lịch biển. Bờ biển dài có nhiều bãi cát, vịnh, hang động tự nhiên đẹp là tiềm năng về du lịch lớn của nước ta. Do đặc điểm kiến tạo khu vực, các dãy núi đá vôi vươn ra sát bờ biển tạo nhiều cảnh quan thiên nhiên sơn thủy rất đa dạng, nhiều vụng, vịnh, bãi cát trắng, hang động, các bán đảo và các đảo lớn nhỏ liên kết với nhau thành một quần thể du lịch hiếm có trên thế giới như di sản thiên nhiên Hạ Long được UNESCO xếp hạng. Hệ thống gần 82 hòn đảo ven bờ có diện tích trên 01 km2, trong đó 24 đảo có diện tích trên 10 km2 (10 – 320 km2), cách bờ không xa là những hệ sinh thái đảo hấp dẫn. Ở đây không khí trong lành, nước biển trong và sạch, bãi cát trắng mịn. Các thắng cảnh trên đất liền nổi tiếng như Phong Nha, Bích Động, Non Nước… Các di tích lịch sử và văn hoá như Cố đô Huế, phố cổ Hội An, Tháp Chàm, nhà thờ đá Phát Diệm,… phân bố ngay ở vùng ven biển. Các trung tâm kinh tế thương mại, các thành phố du lịch nằm ven biển hoặc cách bờ biển không xa như Hạ Long, Hải Phòng, Vinh, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Vũng Tàu, Hà Tiên, Hà Nội, Sài Gòn,… Hệ thống đường bộ, đường xe lửa xuyên Việt và liên vận quốc tế chất lượng cao được xây dựng dọc bờ biển.

Hiện trạng kinh tế biển Việt Nam

Kinh tế biển Việt Nam những năm đổi mới vừa qua đã tăng trưởng đáng kể về qui mô và thay đổi rõ rệt về ngành nghề, đóng góp quan trọng cho tăng trưởng GDP. Tuy nhiên nếu so sánh với một số nước có biển trong khu vực thì giá trị hoạt động của kinh tế biển Việt Nam chỉ bằng 24% của Trung Quốc, 14% của Hàn Quốc và 1% của Nhật Bản.

Hiện nay, Việt Nam đã mở cửa hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Nhưng, đánh giá một cách thực chất, trong một thời gian dài, Việt Nam mới chỉ chú trọng việc mở hàng loạt cửa khẩu và phát triển khu kinh tế cửa khẩu trên biên giới đất liền mà ít mở ra biển, qua các cảng biển. Gần đây, mấy chục tỉnh sát biển đua nhau làm cảng biển, đã xây dựng gần một trăm cảng biển. Việt Nam cũng đã hình thành bốn vùng kinh tế trọng điểm và hàng chục khu kinh tế dọc theo bờ biển. Tất cả đều hướng ra biển và có tiềm năng to lớn từ kinh tế biển. Nhưng việc tận dụng lợi thế và khai thác tiềm năng to lớn này còn xa mới đạt hiệu quả mong muốn.

Công tác tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí của nước ta cũng ngày càng được đẩy mạnh và đạt được những thành quả nhất định; quy mô và phạm vi cũng được mở rộng từ vùng nước nông, ra các vùng nước sâu, xa bờ và một số điểm thuộc vùng biển Quốc tế. Khối lượng công tác thăm dò, khai thác dầu khí đã thực hiện trên toàn bộ vùng biển và thềm lục địa Việt Nam là khá lớn. Khảo sát điều tra cơ bản toàn bộ 160 lô, đo địa chấn 2D trên 158 nghìn km, đo địa chấn 3D là 50 nghìn km2. Nhiều bể trầm tích có triển vọng khai thác dầu và khí tự nhiên trên vùng biển và thềm lục địa nước ta; Đã phát hiện thêm nhiều lô dầu khí mới, xác định thu hồi 1,37 tỷ tấn quy dầu và tiềm năng khí các bể còn lại khoảng 2,6 – 3,6 tỷ tấn quy dầu. Kết quả công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí đã xác định được các bể/cụm bể trầm tích có triển vọng dầu khí: Sông Hồng, Phú Khánh, Hoàng Sa, Cửu Long, Nam Côn Sơn, Trường Sa – Tư Chính – Vũng Mây, Malay – Thổ Chu và Phú Quốc, trong đó các bể: Sông Hồng, Cửu Long, Nam Côn Sơn và Malay – Thổ Chu đã phát hiện và đang khai thác dầu khí. Tổng sản lượng khai thác dầu thô trên thềm lục địa Việt Nam đạt 130,27 triệu tấn, khoảng 63,52 tỷ m3 khí tự nhiên và tổng sản lượng dầu thô xuất khẩu đạt 102,25 triệu tấn; bình quân mỗi năm trên thềm lục địa nước ta có thể khai thác được 16 triệu tấn dầu thô/năm, khoảng 7,9 tỷ m3/năm khí tự nhiên.

Trong những năm gần đây do thị trường tiêu thụ titan và các khoáng sản đi kèm trên thế giới biến động mạnh theo chiều hướng gia tăng về giá cả; ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình khai thác sa khoáng titan ở nước ta. Hoạt động khai thác quặng titan tập trung nhiều ở một số địa phương như Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định. Đến nay, riêng ở các tỉnh Miền Trung có trên 50 đơn vị tổ chức khai thác, ở 38 khu mỏ và có 18 xưởng tuyển tinh quặng và đã được khai thác gần 8 triệu tấn quặng titan. Việc quản lý hoạt động khoáng sản được thực hiện thông qua các giấy phép khai thác do 2 cấp quản lý cấp cho các doanh nghiệp trong đó Bộ Công nghiệp (trước năm 2002) hoặc Bộ Tài nguyên & Môi trường (sau năm 2002) cấp giấy phép khai thác cho các mỏ lớn còn ở nông nghiệp (trước năm 2002) hoặc  ở Tài nguyên & Môi trường (sau năm 2002) cấp giấy phép khai thác cho khai thác tận thu khoáng sản.

Cả nước có 21 tỉnh sản xuất muối, trải dài từ Hải Phòng đến Cà Mau. Tổng diện tích sản xuất muối toàn quốc có 14.528,2 ha. Các tỉnh có diện tích sản xuất muối nhiều như tỉnh Bạc Liêu (2.774 ha), Ninh Thuận (2.380 ha), Bến Tre (1.431 ha), TP. Hồ Chí Minh (1.532,2 ha), Quảng Nam (35 ha), Thái Bình (60,51 ha). Diện tích sản xuất muối công nghiệp năm tập trung ở 3 tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa.

Trong những năm qua, các Bộ, ngành Trung ương và địa phương đã tích cực chỉ đạo đẩy mạnh tổ chức sản xuất khai thác hải sản, trong đó tập trung vào tổ chức lại sản xuất, hiện đại hóa tàu cá, đẩy mạnh đánh bắt xa bờ, đổi mới và tăng cường năng lực khai thác thân thiện với môi trường, ứng phó với BĐKH và hướng tới phát triển bền vững. Đồng thời đẩy mạnh đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật nghề cá trên các vùng biển, các tuyến đảo xa, đảo tiền tiêu và đảo trọng yếu quốc gia như Hoàng Sa, Trường Sa, Bạch Long Vĩ, Lý Sơn, Cồn Cỏ, Phú Quốc, Phú Quý; Nâng cao năng lực đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, đẩy mạnh áp dụng khoa học công nghệ trong khai thác hải sản. Trong giai đoạn từ năm 2007-2012, khai thác hải sản trên biển có những tăng trưởng đáng ghi nhận, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân về số lượng tàu thuyền tăng 4,3%/năm, công suất tàu thuyền tăng 3,6%/năm, sản lượng tăng 5,2%/năm và giá trị khai thác tăng 5,9%/năm.

Theo số liệu điều tra ban đầu của chính phủ, Việt Nam có khoảng 17.400 ha được đánh giá là thích hợp cho các dự án, công trình phát triển năng lượng gió. Thời gian qua, tại các tỉnh Bình Định, Ninh Thuận và Bình Thuận đã và đang đi tiên phong trong triển khai một số dự án phong điện, tiềm năng phát triển ở khu vực này khoảng hơn 8 nghìn MW. Phát triển điện gió với đặc thù là phân tán, nhỏ lẻ, cục bộ, hiện đang được các doanh nghiệp trong và ngoài nước nghiên cứu đầu tư, song việc triển khai còn gặp rất nhiều khó khăn: Chưa có chính sách và các quy định, trợ giá trong việc mua điện từ nguồn năng lượng gió; Thiếu kiến thức và năng lực kỹ thuật để thực hiện một công trình điện gió hoàn chỉnh, cũng như các kỹ thuật cơ bản và dịch vụ đi kèm sau lắp đặt; Các Công ty Điện lực địa phương chưa sẵn sàng vào cuộc, việc xây dựng hạ tầng đáp ứng cho các dự án phong điện sẽ mất thời gian khá lâu.

Hiện tại, hoạt động du lịch biển Việt Nam thu hút tới 80% lượng khách du lịch và khoảng 70% tổng số các điểm du lịch của toàn quốc. Với bờ điển dài trên 3.260 km, có nhiều bãi tắm đẹp và nhiều hang, vịnh kỳ thú như ở Móng Cái, Vân Đồn, Vịnh Hạ Long, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Cửa Lò, Cửa Tùng, Vân Phong, Vũng Tàu…cùng có nhiều di sản văn hoá vật thể và phi vật thể, di sản thiên nhiên thế giới được UNESCO công nhận là Vịnh Hạ Long, Cố đô Huế, Nhã nhạc cung đình Huế, đô thị cổ Hội An, khu đền tháp Mỹ Sơn và hang động Phong Nha – Kẻ Bàng. Những công trình kiến trúc, di tích lịch sử này, ngoài những giá trị khoa học, văn hóa truyền thống còn là những tiềm năng thu lợi lớn, nếu được đầu tư trùng tu tôn tạo kết hợp với ngành du lịch để khai thác. Trong vùng có nhiều bãi biển như Sầm Sơn, Cửa Lò, Thiên Cầm, Đá Nhảy, Cửa Tùng, Lăng Cô, Thuận An, Non Nước, Mỹ Khê, Nha Trang, Ninh Chữ, Mũi Né…, nhiều danh lam thắng cảnh như đèo Ngang, đèo Hải Vân, bán đảo Sơn Trà…, nhiều di tích lịch sử gắn liền với bề dày dựng nước và giữ nước như thành Huế, thành cổ Quảng Trị, Cửa Việt, Vĩnh Mốc, cảng Đà Nẵng, di tích Sơn Mỹ, Vạn Tường, Chu Lai,… Đó là những tiềm năng du lịch biển gắn với du lịch núi và du lịch văn hoá, du lịch nghỉ dưỡng,… tạo cho ven biển Việt Nam trở thành một vùng du lịch độc đáo, hấp dẫn khách du lịch và đưa ngành du lịch đang dần trở thành một ngành mũi nhọn, có ý nghĩa với cả nước.

Về chiến lược phát triển kinh tế biển của Việt Nam

Mặc dù đến nay, Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng trong việc thiết kế và thực thi chiến lược kinh tế biển, song, về nguyên tắc, vẫn chưa định hình một tư duy phát triển mới, tổng thể về kinh tế biển. Để định hình tư duy mới này, có hai điểm cần lưu ý. (1) Kinh nghiệm phát triển trên đất liền và theo tư duy “đất liền” nhiều năm của Việt Nam, cộng với thực tiễn phát triển kinh tế biển của nhiều nước đi trước cho thấy việc định hình chiến lược kinh tế biển cần được thực hiện đồng thời và tổng thể ở ba phương diện: Khai thác vùng không gian biển (mặt biển, dưới biển và bầu trời trên biển); Khai thác vùng bờ biển (vùng duyên hải với các cảng biển, bãi biển, thành phố biển, khu kinh tế ven biển); Phát triển các lĩnh vực “hậu cần” cho kinh tế biển và các khu vực kết nối (các ngành phục vụ phát triển kinh tế biển, phát triển khoa học – công nghệ biển, nguồn nhân lực cho kinh tế biển, kết nối tuyến du lịch đất liền…). (2) Cùng với cách tiếp cận chuỗi, cần chú ý nguyên tắc tập trung phát huy lợi thế trong phát triển. Với nguồn lực có hạn, trong bối cảnh quốc tế hiện nay, việc lựa chọn mục tiêu trọng tâm trong chiến lược biển để ưu tiên thực hiện là một yêu cần bắt buộc đối với Việt Nam. Bắt buộc vì nó xuất phát từ sự hạn chế của các nguồn lực, buộc phải tập trung nguồn lực cho một số mục tiêu hạn chế nhằm tạo sự đột phá mạnh và sức lan tỏa rộng. Bắt buộc vì nó đáp ứng những yêu cầu mang tính sống còn trong cuộc cạnh tranh quốc tế cũng như những tranh chấp lãnh hải, đặc biệt là ở vùng Biển Đông, đang trở nên ngày càng gay gắt hiện nay.

Để phát triển kinh tế biển, Việt Nam cần triển khai các biện pháp: (1) Lực lượng hàng hải viễn dương, đặt mục tiêu và lộ trình vươn lên thành một cường quốc hàng hải một cách khẩn trương, hiện thực khả thi; xác lập và tăng cường các tuyến bay qua các hành lang biển; củng cố và phát triển các đảo thuộc chủ quyền ở tất cả các khía cạnh khẳng định chủ quyền – không chỉ quân sự mà tập trung mạnh cho các khía cạnh chủ quyền dân sự: dân cư, kinh tế, văn hóa. (2) Phát triển nhanh, mạnh du lịch biển đảo với tư cách là một hình thức hiện diện chủ quyền được thừa nhận quốc tế. (3) Hình thành một số dự án nghiên cứu, khai thác kinh tế biển, nhất là các dự án ở vùng biển xa, có tầm cỡ, chú trọng liên doanh với nước ngoài (các tập đoàn lớn) với những điều kiện thỏa đáng và đặt trong tầm nhìn chiến lược. (4) Ưu tiên xây dựng một số cứ điểm phát triển chiến lược mạnh ven biển. Những cứ điểm này là các tổ hợp phát triển lớn bao gồm: đô thị biển + cảng biển lớn + khu kinh tế mở (hay khu kinh tế tự do). (5) Xây dựng sớm chiến lược đối phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, coi đây là một điều kiện cơ bản để xây dựng chiến lược tổng thể. Đặc biệt có các tiếp cận nhà nước mới đến sự sinh tồn và phát triển của dân cư các vùng duyên hải, bỏ lối tiếp cận đối phó thiên tai thụ động, dựa vào lòng từ thiện để thể hiện sự quan tâm quốc gia mà có chiến lược chủ động tạo nền tảng để đối phó và phát triển hiệu quả trong điều kiện thiên tai.

Xu hướng phát triển kinh tế biển Việt Nam

Đến năm 2030, Việt Nam sẽ phát triển thành công, đột phá về các ngành kinh tế biển theo thứ tự ưu tiên: (1) Du lịch và dịch vụ biển; (2) Kinh tế hàng hải; (3) Khai thác dầu khí và các tài nguyên khoáng sản biển khác; (4) Nuôi trồng và khai thác hải sản; (5) Công nghiệp ven biển; (6) Năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới. Cụ thể:

Du lịch và dịch vụ biển: Chú trọng đầu tư hạ tầng du lịch; khuyến khích, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế tham gia phát triển du lịch sinh thái, thám hiểm khoa học, du lịch cộng đồng, các khu du lịch nghỉ dưỡng biển chất lượng cao tại các vùng ven biển; xây dựng, phát triển, đa dạng hoá các sản phẩm, chuỗi sản phẩm, thương hiệu du lịch biển đẳng cấp quốc tế trên cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học, phát huy giá trị di sản thiên nhiên, văn hoá, lịch sử đặc sắc của các vùng, miền, kết nối với các tuyến du lịch quốc tế để Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của thế giới. Nghiên cứu thí điểm phát triển du lịch ra các đảo, vùng biển xa bờ. Tăng cường năng lực tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn; đẩy mạnh các hoạt động thám hiểm khoa học; chú trọng công tác giáo dục, y tế biển… Hỗ trợ, tạo điều kiện để người dân ven biển chuyển đổi nghề từ các hoạt động có nguy cơ xâm hại, tác động tiêu cực đến biển sang bảo vệ, bảo tồn, tạo sinh kế bền vững, việc làm mới ổn định, nâng cao thu nhập cho người dân.

Kinh tế hàng hải: Trọng tâm là khai thác có hiệu quả các cảng biển và dịch vụ vận tải biển. Quy hoạch, xây dựng, tổ chức khai thác đồng bộ, có hiệu quả các cảng biển tổng hợp, cảng trung chuyển quốc tế, cảng chuyên dùng gắn với các dịch vụ hỗ trợ; xây dựng hoàn thiện hạ tầng logistics và các tuyến đường giao thông, kết nối liên thông các cảng biển với các vùng, miền, địa phương trong nước và quốc tế. Đẩy mạnh phát triển đội tàu vận tải biển với cơ cấu hợp lý, ứng dụng công nghệ hiện đại, nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng nhu cầu thị trường vận tải nội địa, tham gia sâu vào các chuỗi cung ứng vận tải, từng bước gia tăng, chiếm lĩnh thị phần quốc tế.

Khai thác dầu khí và các tài nguyên, khoáng sản biển khác: Nâng cao năng lực của ngành Dầu khí và các ngành tài nguyên, khoáng sản biển khác; từng bước làm chủ công tác tìm kiếm, thăm dò, khai thác, đáp ứng nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong thời kỳ mới. Đẩy mạnh công tác tìm kiếm, thăm dò, gia tăng trữ lượng dầu khí; nghiên cứu, thăm dò các bể trầm tích mới, các dạng hydrocarbon phi truyền thống; gắn việc tìm kiếm, thăm dò dầu khí với điều tra, khảo sát, đánh giá tiềm năng các tài nguyên, khoáng sản biển khác, khoáng sản biển sâu, đặc biệt là các khoáng sản có trữ lượng lớn, giá trị cao, có ý nghĩa chiến lược. Nâng cao hiệu quả khai thác các tài nguyên khoáng sản biển gắn với chế biến sâu; kết hợp hài hoà giữa khai thác, chế biến với bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học biển.

Nuôi trồng và khai thác hải sản: Chuyển từ nuôi trồng, khai thác hải sản theo phương thức truyền thống sang công nghiệp, ứng dụng công nghệ cao. Tổ chức lại hoạt động khai thác hải sản theo hướng giảm khai thác gần bờ, đẩy mạnh khai thác tại các vùng biển xa bờ và viễn dương phù hợp với từng vùng biển và khả năng phục hồi của hệ sinh thái biển đi đôi với thực hiện đồng bộ, có hiệu quả công tác đào tạo, chuyển đổi nghề cho ngư dân. Thúc đẩy các hoạt động nuôi trồng, khai thác hải sản bền vững, tăng cường bảo vệ, tái sinh nguồn lợi hải sản, nghiêm cấm các hoạt động khai thác mang tính tận diệt. Hiện đại hoá công tác quản lý nghề cá trên biển; đẩy mạnh liên kết sản xuất theo hình thức tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; xây dựng một số doanh nghiệp mạnh tham gia khai thác hải sản xa bờ và hợp tác khai thác viễn dương. Đầu tư nâng cấp các cảng cá, bến cá, khu neo đậu tàu thuyền, tổ chức tốt dịch vụ hậu cần nghề cá. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến trong nuôi trồng, khai thác, bảo quản, chế biến hải sản, tạo ra các sản phẩm chủ lực, có chất lượng, giá trị kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu của thị trường.

Công nghiệp ven biển: Phải dựa trên cơ sở quy hoạch, cân nhắc lợi thế về điều kiện tự nhiên của từng vùng, ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao thân thiện với môi trường, công nghiệp nền tảng, công nghệ nguồn. Phát triển hợp lý các ngành sửa chữa và đóng tàu, lọc hoá dầu, năng lượng, cơ khí chế tạo, công nghiệp chế biến, công nghiệp phụ trợ.

Năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới: Thúc đẩy đầu tư xây dựng, khai thác điện gió, điện mặt trời và các dạng năng lượng tái tạo khác. Phát triển ngành chế tạo thiết bị phục vụ ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, tiến tới làm chủ một số công nghệ, thiết kế, chế tạo và sản xuất thiết bị; ưu tiên đầu tư phát triển năng lượng tái tạo trên các đảo phục vụ sản xuất, sinh hoạt, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Quan tâm phát triển một số ngành kinh tế dựa vào khai thác tài nguyên đa dạng sinh học biển như dược liệu biển, nuôi trồng và chế biến rong, tảo, cỏ biển…

Việt Nam cần phát triển đồng bộ, từng bước hình thành khu kinh tế, khu công nghiệp, khu đô thị sinh thái ven biển. Tập trung xây dựng và nhân rộng các mô hình khu kinh tế, khu công nghiệp sinh thái ven biển gắn với hình thành và phát triển các trung tâm kinh tế biển mạnh. Khu kinh tế ven biển phải đóng vai trò chủ đạo trong phát triển vùng và gắn kết liên vùng. Đổi mới tư duy trong xây dựng và thực hiện các quy hoạch, kế hoạch phát triển hệ thống đô thị ven biển có cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đồng bộ, hiện đại theo mô hình, tiêu chí tăng trưởng xanh, đô thị thông minh. Đẩy nhanh xây dựng hoàn thiện kết cấu hạ tầng các khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển theo hướng tiếp cận mô hình khu kinh tế, khu công nghiệp sinh thái, có sức hấp dẫn các nhà đầu tư, thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; giải quyết tốt vấn đề môi trường, xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân.

Phát triển các vùng biển dựa trên lợi thế về điều kiện tự nhiên, hài hoà giữa bảo tồn và phát triển. Quy hoạch không gian biển theo các vùng bảo vệ – bảo tồn, vùng đệm và vùng phát triển kinh tế – xã hội để phát triển bền vững kinh tế biển trên cơ sở phát huy tối đa lợi thế so sánh về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, bản sắc văn hoá, tính đa dạng của hệ sinh thái, bảo đảm tính liên kết vùng, giữa địa phương có biển và không có biển. (1) Vùng biển và ven biển phía Bắc (Quảng Ninh – Ninh Bình): Tiếp tục xây dựng khu vực Hải Phòng – Quảng Ninh trở thành trung tâm kinh tế biển; là cửa ngõ, động lực phát triển vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ gắn với cảng quốc tế Lạch Huyện; phát triển Quảng Ninh trở thành trung tâm du lịch quốc gia kết nối với các trung tâm du lịch quốc tế lớn của khu vực và thế giới. (2) Vùng biển và ven biển Bắc Trung Bộ, Duyên hải Trung Bộ (Thanh Hoá – Bình Thuận): Phát triển các cảng biển nước sâu trung chuyển quốc tế, cảng biển chuyên dụng gắn với các khu liên hợp công nghiệp, dầu khí, điện, năng lượng tái tạo, công nghiệp sạch; phát triển các trung tâm du lịch lớn; nuôi trồng, khai thác, chế biến hải sản, dịch vụ hậu cần và hạ tầng nghề cá. (3) Vùng biển và ven biển Đông Nam Bộ (Bà Rịa – Vũng Tàu – Thành phố Hồ Chí Minh): Phát triển cảng biển container quốc tế, dịch vụ hậu cần cảng biển, dịch vụ bảo đảm an toàn hàng hải, công nghiệp khai thác, chế biến dầu khí, công nghiệp hỗ trợ và các dịch vụ ngành Dầu khí. (4) Vùng biển và ven biển Tây Nam Bộ (Tiền Giang – Cà Mau – Kiên Giang): Tập trung xây dựng phát triển Phú Quốc thành trung tâm dịch vụ, du lịch sinh thái biển mạnh mang tầm quốc tế; phát triển công nghiệp khí, chế biến khí, điện khí, năng lượng tái tạo, nuôi trồng, khai thác hải sản, dịch vụ hậu cần, hạ tầng nghề cá; kết nối với các trung tâm kinh tế lớn trong khu vực và thế giới.

Bảo vệ môi trường, bảo tồn, phát triển bền vững đa dạng sinh học biển; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng và phòng, chống thiên tai. Mở rộng diện tích, thành lập mới các khu vực bảo tồn biển trên cơ sở quy hoạch không gian biển quốc gia; chú trọng bảo tồn đa dạng sinh học, phục hồi các hệ sinh thái, đặc biệt là các rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển; bảo đảm tính toàn vẹn và mối quan hệ tự nhiên giữa các hệ sinh thái đất liền và biển.

Xây dựng các tiêu chí, yêu cầu kỹ thuật nghiêm ngặt theo chuẩn quốc tế về môi trường đối với các dự án đầu tư có nguy cơ ô nhiễm môi trường cao khu vực ven biển, bảo đảm phòng ngừa, ngăn chặn không để xảy ra các sự cố gây ô nhiễm môi trường, giảm thiểu và xử lý hiệu quả các nguồn gây ô nhiễm. Đầu tư xây dựng, củng cố lực lượng, trang thiết bị giám sát, cảnh báo tự động về chất lượng môi trường, ứng phó với sự cố môi trường, hoá chất độc hại trên biển; quản lý rác thải biển, nhất là rác thải nhựa; cải thiện, nâng cao chất lượng môi trường biển.

Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo, chủ động phòng, tránh và giảm nhẹ thiệt hại thiên tai, động đất, sóng thần, thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng trên cơ sở ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến, đặc biệt là áp dụng các mô hình thông minh có khả năng thích ứng, chống chịu với thiên tai và tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu. Đẩy mạnh các biện pháp phòng, chống biển xâm thực, xói lở bờ biển, ngập lụt, xâm nhập mặn…

Nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng văn hoá biển, xã hội gắn bó, thân thiện với biển. Nâng cao đời sống, bảo đảm an ninh, an toàn cho dân cư vùng ven biển, trên đảo và những người lao động trên biển. Chú trọng phát triển các thiết chế văn hoá cho cộng đồng dân cư biển và ven biển; phát huy bản sắc, giá trị lịch sử và văn hoá dân tộc, tri thức tốt đẹp trong ứng xử với biển, coi đây là nền tảng quan trọng để xây dựng văn hoá biển. Bảo tồn không gian văn hoá, kiến trúc và di sản thiên nhiên. Nâng cao nhận thức về biển và đại dương, xây dựng xã hội, ý thức, lối sống, hành vi văn hoá gắn bó, thân thiện với biển. Phát huy tinh thần tương thân tương ái của cộng đồng dân cư vùng biển, ven biển. Bảo đảm quyền tiếp cận, tham gia, hưởng lợi và trách nhiệm của người dân đối với biển một cách công bằng, bình đẳng.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Nghìn năm hắc ám

Nghìn năm hắc ám

FB Nguyễn Tiến Tường

20-12-2018

Cuối cùng thì “vật thể lạ” tại bờ biển Phú Yên cũng được thông tin trên báo chí đích xác là ngư lôi của TQ. Vị trí ngư dân trục vớt cách bờ biển chỉ 4 hải lý, tức là rất sâu trong lãnh hải (12 hải lý từ đường cơ sở) của Việt Nam. Theo các chuyên gia quân sự, phạm vi hoạt động của ngư lôi chỉ tầm 40-50 km, tức là “vật chủ” phóng ngư lôi nằm đâu đó rất sâu trong vùng tiếp giáp lãnh hải Việt Nam. Chúng ta đã không phát hiện được cả vật chủ lẫn ngư lôi.

Điều đó có nghĩa là một phép thử khác của người Trung Quốc đã phát huy tác dụng. Tại vì theo các chuyên gia, đây là một ngư lôi tập bắn. Kể cả tập bắn ngư lôi, họ vẫn hướng cái đầu đạn ấy về phía chúng ta, và chọn vị trí phên dậu của chúng ta. Nên nhớ, trước đó ngư dân Quảng Bình cũng vớt được một “vật thể lạ” khác được cho là thiết bị thăm dò.

Bài test về công nghệ quốc phòng cho chúng ta đã rõ. Người TQ đương nhiên không chỉ giản đơn như vậy. Họ đương nhiên luôn đính kèm một tệp thăm dò khác: Thái độ của Việt Nam! Thái độ đó có vẻ khá chậm chạp và bị động. Cho đến nay, sau rất nhiều hiện tượng, người phát ngôn bộ ngoại giao vẫn chưa thấy nói gì.

Bài test ấy, còn là thái độ giữa chúng ta với nhau, giữa nhà cầm quyền với nhân dân, thông qua các phương tiện truyền thông. Chúng ta vẫn cứ một sự bạc nhược cũ “tàu lạ”, “vật thể lạ”. Tờ Tuổi Trẻ, từ đầu có một động tác thông minh để “lách” kiềm tỏa đưa thông điệp “vật thể lạ có chữ Trung Quốc”.

Không ngẫu nhiên mà người TQ ngang nhiên mặc áo lưỡi bò ngang dọc nước Việt, sinh hoạt luông tuồng phách lối trên nước Việt, phô trương vũ khí trên vùng chủ quyền nước Việt. Tâm thế của kẻ mạnh vô luân luôn là thị uy và gây hấn.

Nếu cứ nhún nhường hoặc im lặng, những hiện tượng khác sẽ đến với mật độ dày hơn và biên độ cao hơn. Họ cũng sẽ test được sự thống nhất nội tại giữa nhân dân và nhà cầm quyền. Khi nhân dân chỉ mặt đặt tên TQ, nhà cầm quyền vẫn gọi “nước lạ”, thì sự xung đột thái độ này cũng mang đến cái lợi cho họ. Nhiều năm qua, chỉ một sự kiện giàn khoan Hải Dương là chúng ta có sự thống nhất cao từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài.

Vấn đề TQ là một vấn đề hệ trọng mà đương nhiên nhà cầm quyền buộc phải uyển chuyển. Nhưng có lẽ, chỉ mặt đặt tên TQ một cách trực diện là cần thiết và không có gì quá mạo hiểm. Xuyên suốt một lịch sử song hành, những hào kiệt, những hưng triều có một mẫu số chung là thái độ rắn rỏi cho người phương Bắc.

Người TQ vẫn luôn chọn một tâm thế cương cường, kể cả trong thời đại mở. Và họ luôn gọi tên VN trong những toan tính hắc ám của mình. Kinh tế lệ thuộc, công nghiệp lạc hậu, gây hấn biên giới. Con ốc bươu vàng phá hoại mùa màng đến từ TQ, trước đây chúng ta nuôi cảnh. Thuốc chuột 3 đời cũng đến từ TQ.

Tân Tử Lăng, trong cuốn “Mao Trạch Đông, nghìn năm công tội” vạch tội trạng của Mao, không quên bịa tạc, vu vạ chi tiết VN mượn TQ đảo Bạch Long Vỹ!

TQ nghìn năm hắc ám, hôm nay là ngư lôi, ngày mai có thể là chiến hạm. Mỗi động thái nhỏ, họ đều hướng đến Việt Nam. Còn chúng ta, chúng ta gọi họ là “vật thể lạ”, “tàu lạ”, “nước lạ” cho đến bao giờ?

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Lạ gì mà lạ!

Lạ gì mà lạ!

FB Mạnh Kim

20-12-2018

Việc Trung Quốc rải mìn và cài ngư lôi khắp biển Đông đã diễn ra từ nhiều năm nay. Trong ấn bản Naval War College Review (Spring 2012, Vol. 65, No. 2), chuyên gia quân sự Mỹ Scott C. Truver đã cảnh báo điều này.

Truver đã nhắc lại trong một phiên điều trần trước Ủy ban xem xét an ninh-kinh tế Mỹ-Trung, rằng: “Gần đây chúng tôi đã hoàn tất cuộc nghiên cứu sau khi đọc hơn 1.000 bài viết bằng tiếng Hoa trong hai năm liên quan hải chiến thủy lôi. Ba điều quan trọng nhất mà chúng tôi rút ra là: 1/ Trung Quốc có một kho thủy lôi khổng lồ…; 2/ Trung Quốc sẽ dựa chủ yếu vào mìn sát thương, đối với bất kỳ tình huống nào liên quan “bối cảnh Đài Loan”; 3/ Nếu Trung Quốc có khả năng sử dụng mìn (và chúng tôi nghĩ họ hoàn toàn có thể), điều đó sẽ gây cản trở nghiêm trọng đối với các chiến dịch (của Mỹ)…”.

Phòng tình báo hải quân Hoa Kỳ cũng đưa ra một số chi tiết cụ thể. Hải quân Trung Quốc có 40 tàu rải mìn. Tàu ngầm lớp Tống và lớp Nguyên chạy bằng diesel-điện cùng tàu ngầm lớp Thương chạy hạt nhân được thiết kế có thể mang theo tên lửa hành trình YJ-82 lẫn khả năng rải mìn. Trực thăng Z-8 (sản xuất theo mẫu bản quyền chiếc SA-321 Super Frelon của Pháp) ngoài việc vận chuyển quân binh còn có thể phục vụ công tác rải mìn. Chỉ riêng chiếc Wolei 3.100 tấn đã có thể – theo tình báo hải quân Mỹ – mang theo 300 quả mìn. Khoảng 150 máy bay tuần tra lẫn oanh tạc cơ cũng có thể rải mìn. Cụ thể, chiếc hải phi cơ Harbin SH-5 có thể mang theo sáu thủy lôi loại tương tự phiên bản ADM-500 của Nga. Bốn chiếc khu trục hạm lớp Sovremenny có thể rải 40 quả thủy lôi và 10 chiếc lớp Luda có thể chở theo 38 quả mìn. 25 chiếc khinh hạm lớp Jianghu I/V và ba chiếc lớp Jianghu (III và IV) có thể chứa 60 quả…

15 năm qua, Hải quân Trung Quốc đã đi từ việc sở hữu kho mìn gỉ sét từ thời trước Thế chiến thứ hai đến việc có thể sản xuất những loại mìn hiện đại trong đó có mìn neo, mìn đáy, mìn trôi, mìn bắn bằng hỏa tiễn, mìn thông minh (cài bộ vi xử lý để tăng khả năng dò tìm mục tiêu, cùng bộ cảm ứng tích hợp giúp chống máy rà). Loại mìn điều khiển từ xa của Trung Quốc, chẳng hạn EM-53, có thể được tắt bằng mã âm (acoustic code) trong điều kiện bình thường và được kích hoạt trong tình huống chiến đấu.

Có thể Trung Quốc hiện cũng sở hữu mìn di động phóng-cài từ tàu ngầm (SLMM). Tương tự loại Mark 67 của Mỹ, SLMM Trung Quốc được tin là một phiên bản khác của ngư lôi loại Yu. SLMM Trung Quốc có thể di chuyển với lộ trình và thời gian định sẵn. Khi đến địa điểm ấn định, nó sẽ tự tắt động cơ và bất động phục kích chờ… mồi.

Cần biết, loại thủy lôi như EM-53 hoặc EM-52 với đầu đạn 140kg, nằm giấu mình ở độ sâu ít nhất 200m, có thể đạt vận tốc 80m/giây. Điều đó có nghĩa nó chỉ cần vỏn vẹn ba giây để phóng lên và làm nổ tung mục tiêu. Có thể nói Trung Quốc đầu tư rất kỹ vào hải chiến thủy lôi. Họ có hẳn một trường chuyên về thủy chiến mìn tại Đại Liên, chưa kể Viện nghiên cứu thủy lôi tại Nghi Xương (Hồ Bắc). Ngoài ra, còn có các bãi thử thủy lôi tại Hồ Lô Đảo (Liêu Ninh), Lữ Thuận Khẩu (Đại Liên, Liêu Ninh), đảo Chu Sơn (Chiết Giang), Trường Đảo (Sơn Đông)…

Có thể nói việc Trung Quốc rải mìn khắp biển Đông không phải là chuyện lạ. Điều đáng “lạ” ở đây là những thông tin như vậy chỉ có thể tìm thấy ở báo chí và chuyên san quân sự nước ngoài. Tờ Quân Đội Nhân Dân suốt ngày ra rả “nguy cơ suy thoái” lẫn “cảnh giác” và “đề phòng” “bọn phản động”, trong khi bọn ngoại bang đánh cướp chủ quyền biển đảo thì tịt mồm thin thít.

Cho đến nay, gần như tất cả thông tin về tình hình lấn chiếm biển Đông cũng như các chiến lược quân sự hóa biển Đông của Trung Quốc vẫn chỉ được biết từ báo chí nước ngoài chứ không phải trong nước. Báo chí trong nước, cùng lắm, là lược dịch đăng lại, chứ chẳng bao giờ có bài viết độc lập nào của riêng mình. Dĩ nhiên lỗi không phải của báo chí. Nếu (báo chí) được phép, tôi tin không ít tờ báo trong nước sẵn sàng đưa phóng viên ra biển Đông để tường thuật chính xác những gì đang xảy ra.

Điều “lạ” ở đây là tại sao cái sự hèn nó kéo dài đến vậy, bất luận duyên hải quốc gia bị đe dọa ngày càng nghiêm trọng và ngày càng rõ rệt như thế nào. Điều “lạ”, chưa tìm được lời giải thích, là cái sự khiếp nhược này nó được “ra lệnh” bởi ai?

Tôi vẫn còn chưa quên hồi năm 2012, khi đặt mua một lô sách về Trung Quốc từ Amazon, tôi đã bị cơ quan kiểm duyệt tịch thu toàn bộ. Hèn lắm. Hèn “ngoại hạng”. Hèn lâu đến mức nó thành “quán tính hèn” mất rồi!

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Blog at WordPress.com.