Daily Archives: December 5, 2018

Đánh giá khách quan về Công hàm 1958 đối với chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông

Đánh giá khách quan về Công hàm 1958 đối với chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông

Trong những năm gần đây, Trung Quốc luôn rêu rao cái gọi là họ có “chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”. Việc Trung Quốc diễn giải nội dung Công hàm ngày 14/9/1958 của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng như là một chứng cứ cho thấy “Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” là hết sức phiến diện và xuyên tạc nội dung, ý nghĩa của bản Công hàm đó, hoàn toàn xa lạ với nền tảng pháp lý của Việt Nam cũng như luật pháp quốc tế, bất chấp thực tế khách quan của bối cảnh lịch sử đương thời. Có thể nói, giải thích xuyên tạc Công hàm 1958 là một trong chuỗi những hành động có tính toán nhằm tạo cớ, từng bước hợp thức hóa yêu sách chủ quyền phi lý của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Công hàm năm 1958

Trong suốt quá trình thực hiện mưu đồ bá chủ trên Biển Đông, Trung Quốc đã không ít lần đưa ra các tài liệu xuyên tạc lịch sử, biến có thành không, biến không thành có, tung hỏa mù để cố tình làm sai lệch nhận thức của chính nhân dân Trung Quốc cũng như của cộng đồng quốc tế về vấn đề này theo hướng có lợi cho mưu đồ của Trung Quốc. Tuy nhiên, trước những bằng chứng hiển nhiên của sự thật lịch sử và dưới ánh sáng của luật pháp quốc tế những hành vi xuyên tạc, tung hỏa mù, cố tình làm cho cộng đồng quốc tế ngộ nhận càng khiến cho Trung Quốc lộ rõ âm mưu cũng như thủ đoạn của họ trong suốt quá trình áp đặt ý đồ chiếm trọn Biển Đông. Một trong những lập luận được Trung Quốc ngụy biện, suy diễn là Công hàm 1958 của cố Thủ tướng Phạm Văn Đông. Theo lý giải của Trung Quốc, ngày 4 tháng 9 năm 1958, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã công khai tuyên bố với quốc tế quyết định của Chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Trung Quốc và các đảo ngoài khơi, bao gồm cả quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam). Sau đó, ngày 14/9/1958, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng gửi Công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Lai, nguyên văn như sau:

“Thưa Đồng chí Tổng lý,

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng”.

Bối cảnh xuất hiện công hàm

Từ đầu thế kỷ 20, nhiều quốc gia đã bắt đầu chú ý tới nguồn lợi to lớn từ khoáng sản và tài nguyên biển, bộc lộ ý đồ mở rộng chủ quyền trên biển. Trung Quốc, dù trong lịch sử ít quan tâm đến biển, cũng bắt đầu chú ý đến việc mở mang, kiếm tìm những đặc quyền trên biển. Mặc dù lúc đó chưa phải là thành viên của Liên Hợp Quốc, nhưng Trung Quốc cũng bắt đầu chú ý đến việc lên tiếng với cộng đồng quốc tế nhằm giải quyết các vấn đề trên biển theo hướng có lợi cho Trung Quốc.

Trong chiến lược cho tương lai, thì việc cạnh tranh trên biển, cũng như tìm kiếm những nguồn tài nguyên trên biển là một vấn đề được Trung Quốc đặt ra. Trên thực tế, cũng từ đầu thế kỷ 20, Trung Quốc đã hình thành ý định nhòm ngó các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Rõ ràng, việc nhòm ngó các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam từ thế kỷ 20 đã nằm trong chiến lược “lấn sân” của Trung Quốc về tham vọng mở rộng biên giới quốc gia trên biển.

Ngày 26/05/1950, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman đã ra lệnh cho Hạm đội 7 tiến vào eo biển Đài Loan, ngăn chặn cuộc tấn công của Trung Quốc nhắm vào các đảo trên eo biển Đài Loan. Với hành động này, Mỹ đã thực sự bảo hộ Đài Loan, mặc cho Trung Quốc kịch liệt lên án. Để tỏ rõ quyết tâm giải phóng Đài Loan, ngày 03/09/1954, Trung Quốc đã tấn công trừng phạt đối với các hòn đảo ven biển như Kim Môn, Mã Tổ. Các nhà chép sử gọi đây là cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ nhất.

Ngày 11/08/1954, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tuyên bố sẽ “giải phóng” Đài Loan và tăng cường pháo kích vào hai đảo Kim Môn và Mã Tổ.

Ngày 12/09/1954, Chủ tịch Hội đồng Liên quân Hoa Kỳ đưa ra dự tính tấn công Trung Quốc bằng vũ khí nguyên tử nhưng Tổng thống Eisenhower đã do dự sử dụng vũ khí nguyên tử cũng như sự liên can của quân đội Hoa Kỳ vào cuộc chiến này.

Năm 1958, tiếp tục xảy ra cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai. Ngày 23/08/1958 Trung Quốc đột ngột tăng cường nã pháo vào đảo Kim Môn. Theo Hiệp định Phòng thủ tương hỗ giữa Đài Loan-Hoa Kỳ, Tổng thống Eisenhower đã ra lệnh cho tàu chiến Hoa Kỳ đến bảo vệ đường tiếp tế hậu cần từ đảo Đài Loan đến 2 đảo tiền tiêu Kim Môn và Mã Tổ.

Ngoài bối cảnh “phức tạp và cấp bách” đối với Trung Quốc như đã nêu trên, Công hàm 1958 của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng ra đời trong bối cảnh quan hệ đặc thù Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Trung Quốc lúc đó “vừa là đồng chí vừa là anh em”. Năm 1949, bộ đội Việt Nam còn tấn công và chiếm vùng Trúc Sơn thuộc lãnh thổ Trung Quốc từ tay các lực lượng khác rồi trao trả lại cho Quân giải phóng Trung Quốc. Năm 1957, Trung Quốc chiếm giữ đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam từ tay một số lực lượng khác, rồi sau đó cũng trao trả cho Việt Nam. Điều này cho thấy quan hệ đặc thù của hai nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Trung Quốc lúc bấy giờ. Do vậy, trong tình hình lãnh thổ Trung Quốc đang bị đe dọa chia cắt, cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai khiến Hải quân Hoa Kỳ đưa tàu chiến vào can thiệp, việc Trung Quốc ra tuyên bố về lãnh hải bao gồm đảo Đài Loan trước hết nhằm khẳng định chủ quyền trên biển của Trung Quốc trong tình thế bị đe dọa tại eo biển Đài Loan.

Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn không quên mục đích “sâu xa” của họ trên Biển Đông nên đã “lồng ghép” thêm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vào bản tuyên bố. Công hàm 1958 của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuất phát từ mối quan hệ rất đặc thù với Trung Quốc trong thời điểm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đang rất cần tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các quốc gia trong khối xã hội chủ nghĩa bấy giờ và là một cử chỉ ngoại giao tốt đẹp thể hiện quan điểm ủng hộ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong việc tôn trọng lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc trước các diễn biến quân sự phức tạp trên eo biển Đài Loan.

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã phát biểu những lời ủng hộ Trung Quốc trong hoàn cảnh hết sức khẩn trương, chiến tranh chuẩn bị leo thang, Hạm đội 7 của Mỹ đang tiến vào eo biển Đài Loan và đe dọa Trung Quốc. Nội dung Công hàm 1958 của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng được thể hiện rất thận trọng, đặc biệt là không hề có việc tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vì chính Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thấu hiểu quyền tuyên bố về lãnh thổ quốc gia thuộc thẩm quyền cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội, và việc bảo vệ tòan vẹn lãnh thổ quốc gia luôn luôn là mục tiêu hàng đầu đối với Nhà nước và nhân dân Việt Nam, nhất là trong hoàn cảnh ra đời của Công hàm như đã nêu trên.

Công hàm 1958 có hai nội dung rất rõ ràng: Một là, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành việc Trung Quốc mở rộng lãnh hải ra 12 hải lý; Hai là, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ thị cho các cơ quan nhà nước tôn trọng giới hạn lãnh hải 12 hải lý mà Trung Quốc tuyên bố.

Trong Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có từ nào, câu nào đề cập đến vấn đề lãnh thổ và chủ quyền, càng không nêu tên bất kỳ quần đảo nào như Trung Quốc đã nêu. Do vậy, chỉ xét về câu chữ trong một văn bản có tính chất ngoại giao cũng dễ dàng nhận thấy mọi suy diễn cho rằng Công hàm 1958 đã tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và coi đó là bằng chứng khẳng định Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này là xuyên tạc lịch sử và hoàn toàn không có cơ sở pháp lý.

Chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận từ trước năm 1958

Tại Hội nghị San Francisco 1951, các quốc gia tham dự đã bác bỏ yêu sách về chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cũng tại hội nghị này, Việt Nam đã long trọng tuyên bố chủ quyền lâu đời và liên tục của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong phiên họp toàn thể mà không có bất kỳ sự phản đối hay ý kiến gì khác của tất cả các quốc gia tham dự. Điều đó có nghĩa là kể từ năm 1951, cộng động quốc tế đã thừa nhận chủ quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Những tuyên bố đơn phương về chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế là vô hiệu.

Hiệp định Genève 1954, mà Trung Quốc là một nước tham gia chính thức, cũng thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về người Việt Nam. Các điều khoản trong Hiệp định cũng yêu cầu các quốc gia tham dự Hội nghị cam kết tôn trọng chủ quyền độc lập, nền thống nhất quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Do vậy, phần tuyên bố về chủ quyền của Trung Quốc liên quan tới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam trong bản tuyên bố ngày 4/9/1958 về cơ sở pháp lý quốc tế đương nhiên được xem là không có hiệu lực.

Trong Công hàm 1958, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng không hề đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vì điều đó là không cần thiết, bởi theo Hiệp định Genève 1954, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm phía Nam vĩ tuyến 17 tạm thời thuộc quyền quản lý của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Trong thời điểm đó, dưới góc độ tài phán quốc tế, thì Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa không có nghĩa vụ và quyền hạn hành xử chủ quyền tại hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế. Công hàm 1958 của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đương nhiên chỉ tán thành những tuyên bố của Trung Quốc có nội dung hợp pháp được cộng đồng quốc tế thừa nhận trên cơ sở luật pháp quốc tế cho đến giai đoạn đó. Một phần nội dung của bản tuyên bố ngày 4/9/1958 của Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền quốc gia về lãnh thổ của Việt Nam, đồng thời cũng vi phạm nghiêm trọng các cơ sở pháp lý về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà cộng đồng quốc tế đã thừa nhận cũng như đã nhiều lần tái thừa nhận một cách minh thị là thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa trong bối cảnh quan hệ hữu nghị rất đặc thù với Trung Quốc đã khẳng định lập trường ghi nhận, tán thành tuyên bố giới hạn 12 hải lý về lãnh hải của Trung Quốc, còn những nội dung cụ thể diễn giải vượt quá phạm vi chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc theo các hiệp ước quốc tế đã không được đề cập tới như là một sự mặc nhiên thừa nhận sự vô hiệu của nó dưới ánh sáng của pháp luật quốc tế.

Trong khi đó, Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, theo Hiệp định Genève 1954, đã liên tục thực thi chủ quyền lâu đời của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng các văn bản hành chính nhà nước cũng như bằng việc triển khai thực thi chủ quyền thực tế trên hai quần đảo này. Đỉnh cao của sự khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong giai đoạn này là trận hải chiến quyết liệt của Hải quân Việt Nam Cộng Hòa chống lại sự xâm lược của tàu chiến và máy bay Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa năm 1974.

Trong bối cảnh lịch sử đặc biệt nêu trên càng thấy rõ một sự thật hiển nhiên là Công hàm ngày 14/9/1958 của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đơn giản chỉ ghi nhận lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc, không hề nhắc lại các nội dung mập mờ liên quan đến các quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam. Về thực chất, Công hàm 1958 thể hiện một thái độ chính trị, một cử chỉ hữu nghị với tuyên bố giới hạn lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc. Nội dung Công hàm ngày 1958 của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng phù hợp với hoàn cảnh và mối quan hệ đặc thù giữa Việt Nam dân chủ cộng hòa và Trung Quốc bấy giờ, đồng thời cũng hàm chứa thái độ không bao giờ từ bỏ chủ quyền của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đó cũng là quan điểm nhất quán của Việt Nam, bởi từ năm 1945 đến nay, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quốc hội Việt Nam Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam và sau đó là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và hiện nay là Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam chưa bao giờ lên tiếng hoặc ra nghị quyết từ bỏ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Công hàm 1958 từ khía cạnh luật quốc tế

Trước năm 1975, các quốc gia và lãnh thổ tranh chấp ở Biển Đông gồm: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam Cộng hòa và Philippines. Như vậy, những lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xem như lời tuyên bố của một quốc gia thứ ba không có ảnh hưởng đến vụ tranh chấp.

Theo luật quốc tế, không có một văn bản pháp lý nào có thể gắn cho những lời tuyên bố đơn phương một tính chất bó buộc, ngoại trừ thuyết “estoppel”. Mục đích chính của nó ngăn chặn trường hợp một quốc gia có thể hưởng lợi vì những thái độ bất nhất của mình, và do đó, gây thiệt hại cho quốc gia khác. Vì vậy, estoppel phải hội đủ các điều kiện chính: (1) Lời tuyên bố hoặc hành động phải do một người hoặc cơ quan đại diện cho quốc gia phát biểu và phải được phát biểu một cách minh bạch; (2) Quốc gia nại “estoppel” phải chứng minh rằng mình đã dựa trên những lời tuyên bố hoặc hoạt động của quốc gia kia, mà có những hoạt động nào đó, hoặc không hoạt động; (3) Quốc gia nại “estoppel” cũng phải chứng minh rằng, vì dựa vào lời tuyên bố của quốc gia kia, mình đã bị thiệt hại, hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi khi phát biểu lời tuyên bố đó; (4) Nhiều bản án còn đòi hỏi lời tuyên bố hoặc hoạt động phải được phát biểu một cách liên tục và lâu dài.

Áp dụng những nguyên tắc trên của estoppel vào những lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chúng ta thấy thiếu điều kiện 2 và 3 đã nêu ở trên. Năm 1956, năm 1958 và năm 1965, Trung Quốc đã không có thái độ nào, hoặc thay đổi thái độ vì dựa vào lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trung Quốc cũng không thể chứng minh được rằng mình bị thiệt hại gì do dựa vào những lời tuyên bố đó. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng không được hưởng lợi gì khi có những lời tuyên bố đó.

Kết luận: Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử – pháp lý để khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa. Việt Nam là quốc gia duy nhất đã chiếm hữu, quản lý hai quần đảo một cách liên tục, hòa bình và phù hợp với các quy định luật pháp quốc tế. Công hàm 1958 của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng chỉ đơn có một nghĩa hẹp là công nhận bề rộng lãnh hải của Trung Quốc. Do vậy, thật phi lý khi lập luận rằng, Việt Nam đã “khẳng định lại sự công nhận của họ đối với yêu sách của Trung Quốc” đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Không những vậy, Trung Quốc đã dùng vũ lực để chiếm đóng trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam bằng những cuộc tấn công quân sự vào năm 1956 và 1974. Nhưng sự chiếm đóng này không thể chuyển hóa thành một danh nghĩa pháp lý. Pháp luật quốc tế hiện đại nghiêm cấm sử dụng vũ lực chống lại toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia. Cụ thể, Điều 2, khoản 4 của Hiến chương Liên hợp quốc nêu rõ: “lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một cuộc chiếm đóng quân sự do sử dụng vũ lực trái với các quy định của Hiến chương. Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một sự chiếm hữu của một quốc gia khác sau khi dùng đe dọa hay sử dụng vũ lực. Bất kỳ sự thụ đắc lãnh thổ nào đạt được bằng đe dọa hay sử dụng vũ lực sẽ không được thừa nhận là hợp pháp”.

https://www.facebook.com/plugins/comments.php?app_id=&channel=https%3A%2F%2Fstaticxx.facebook.com%2Fconnect%2Fxd_arbiter%2Fr%2F7LloFuHvA7I.js%3Fversion%3D43%23cb%3Df2a4859e5b6aa24%26domain%3Dbiendong.net%26origin%3Dhttp%253A%252F%252Fbiendong.net%252Ff3e9b126f305654%26relation%3Dparent.parent&color_scheme=light&container_width=664&height=100&href=http%3A%2F%2Fbiendong.net%2Fdoc-bao-viet%2F25099-danh-gia-khach-quan-ve-cong-ham-1958-doi-voi-chu-quyen-cua-viet-nam-o-bien-dong.html&locale=vi_VN&sdk=joey&skin=light

Advertisements
Categories: Biển Đông | Leave a comment

Biển Đông 2019 và các hàng không mẫu hạm đồng minh

Biển Đông 2019 và các hàng không mẫu hạm đồng minh

Thành Đỗ (Danlambao) – Hình như Mỹ và phương Tây đã nhận thấy rằng gió đã xoay chiều. Các cuộc hải hành như đi dạo mát xuyên ngang biển đông mà xưa nay các nước thường thực hiện, ngoài việc chọc tức ông Tập và nhân dân Tàu, hình như nay cũng không còn hiệu quả, bởi chính người Mỹ đã lên tiếng khẳng định rằng Tàu cộng đã thật sự hoàn tất chương trình trang bị hoả tiễn chống hạm tại 7 căn cứ bồi đắp trái phép tại Trường Sa. Nay người Tàu đã đủ sức không chế toàn bộ và thật sự đe dọa con đường tự do hàng hải và nếu ai tiếp tục chọc tức họ thì phải nhận lấy hậu quả khốc liệt, nước Tàu đã trở thành một con hổ dữ, không để ai tiếp tục bắt nạt họ.

Vị trí và tên 7 căn cứ quân sự tại Trường Sa 
I. Sự chuẩn bị của phương Tây
Giới quan sát tình hình thế giới cũng hơi ngạc nhiên khi nghe bà bộ trưởng quốc phòng Pháp Florence Parly, vừa qua đã tuyên bố rằng sẽ gởi chiếc hàng không mẫu hạm duy nhất của Pháp quốc, sau khi nó vừa hoàn thành một chương trình tu chỉnh định kỳ từ 2017, nó sẽ thực hiện một chuyến hải hành đầu tiên với toàn bộ khả năng tác chiến của nó với gần 40 chiếc Rafale M, một chiến đấu cơ đa năng mà tầm tác chiến bao trùm hơn 3000 km và version Rafale M là loại chiến đấu cơ ngoại quốc duy nhất được phép hoạt động trên các hàng không mẫu hạm của Mỹ và ngược lại, chiếc hàng không mẫu hạm Charles De Gaulle cũng là chiếc mẫu hạm duy nhất của đồng minh chấp nhận mọi loại chiến đấu cơ Mỹ tính từ F18 C/D đáp xuống và bay đi an toàn trong giới hạn 80 cất cánh/ngày.

Chiếc Charles de Gaulle có lịch sử hoạt động khá ấn tượng và nó là một trong những tàu sân bay tham chiến nhiều nhất trên thế giới. Năm 2001, tàu lần đầu tham chiến trong Chiến dịch Tự do bền vững do Mỹ dẫn đầu chống lại Taliban. Trong đợt triển khai đầu tiên này, con tàu đã thực hiện 770 phi vụ chiến đấu. Chiếc HKMH này đạt kỷ lục về tác chiến trên toàn thế giới, qua mặt cả các HKMH Mỹ về số lượng tham chiến và số lượng bay và đáp, vì đã tham gia trực tiếp vào cuộc chiến Lybia với hơn 1400 phi vụ trên bầu trời Địa Trung Hải và Libya.

Về phía Anh quốc, 2 Chiếc HMS class Queen Elizabeth R08 và HMS Prince of Wales R09 của Anh quốc chỉ có thể tiếp nhận máy bay F35 hoặc các drone không người lái thôi, cho đến nay, Lockheed- Martin chỉ mới giao cho Anh quốc chỉ mới được 15 chiếc F35, và mới chỉ có 4 chiếc đầu tiên đã thực sự bay về Anh từ tháng 6/2018. Anh quốc còn phải chờ đến 2021 mới thật sự có thể triển khai sức mạnh của hai chiếc HKMH class Queen Elizabeth R08 và RO9 ra biển lớn. Nhưng theo tin SMCP thì Anh và Úc, tháng 7 vừa qua, đã phác thảo kế hoạch chung đưa chiếc HMS Queen Elizabeth R08 đến biển đông vào đầu năm 2019, để có thể yểm trợ hỏa lực và làm bãi đáp hỗ trợ cho các F35 gốc Nhật và Mỹ khi cần thiết.
Về phía hải quân trục kim cương thì Ấn Độ, duy chỉ có một chiếc class Vikrant thuộc lớp STOL (Short Take off, Vertical Landing) sẽ đi vào hoạt động dự trù 2019 nhưng chỉ thích hợp với máy bay Nga như Mig-29 hay Su-25 và Su-27. Nếu tham chiến tại biển đông, nó sẽ phải hoạt động độc lập.
Về phía Nhật thì các “trực thăng mẫu hạm” Izumo, chỉnh sửa, biến dạng từ khu trục hạm Izumo nên chỉ trông chờ vào Lockheed-Martin Mỹ giao cho đủ số 100 chiếc F35 đã đặt mua, một lực lượng sẽ rất mạnh nhưng hiện nay thì chưa sẵn sàng tác chiến.
Chính vì thế mà chiếc mẫu hạn Charles de Gaulle của Pháp, nay lại chính là một cánh tay đắc lực duy nhất của lực lượng đồng minh của Mỹ trên mọi vùng biển trên thế giới và đặc biệt là châu Á Thái Bình Dương. Chiếc mẫu hạm nguyên tử Charles de Gaulle với một thủy thủ đoàn gần 2000 + 700 nhân viên, nó hoàn toàn độc lập về hỏa lực tác chiến trong vòng 50 ngày, trừ thực phẩm cho thủy thủ đoàn là phải tiếp viện mỗi 15 ngày trên biển.
Nên biết thêm là từ ngày được đưa vào hoạt động tháng năm 2001, đây là lần đầu tiên chiếc mẫu hạm Pháp ra đi thật xa với một hỏa lực chưa từng có và một đội tầu chiến yểm trợ cũng chưa từng có như các khu trục hạm chống ngầm và chiếc soái hạm Mistral, chỉ huy mọi sức mạnh từ hải lục không quân và cả các đạo quân vệ tinh ngoài không gian để thâu thập tin tức cung cấp do các chuyến bay và ngầm không người lái. Cũng chiếc Mistral mà hải quân Nga rất thèm muốn, nhưng Pháp đã từ chối bán nó để tránh trường hợp hổ thêm cánh cho hạm đội Hắc Hải và hạm đội Thái bình Dương của Nga. Ta có thể nói là vào đầu năm 2019, Pháp sẽ có mặt tại biển đông với một lực lượng mạnh chưa từng có. Họ đang tính toán gì đây? Và cũng vào đầu năm 2019, chiếc HMS Queen Elizabeth sẽ có mặt tại biển đông qua tuyên bố gần đây của ngoại trưởng Úc Julie Bishot và ngoại trưởng Anh Gavin Williamson (Theo SCMP).
Về phía Mỹ, ngày 24 tháng 11 chiếc hàng không mẫu hạm nguyên tử Mỹ là chiếc USS Ronald Reagan đã cặp cảnh Hong Kong và hiện có mặt trong vùng thay cho chiếc Carl Vinson phải trở về San Diego cho cuộc sửa chữa định kỳ. Phương Tây và Mỹ, họ đang tính toán gì tại đây?
 Charles de Gaulle sau khi hoàn tất chương trình tu chỉnh định kỳ 
II. Sự chuẩn bị lực lượng của Tàu cộng và Nga 
Chắc chắn là người Tàu không dại dột gì mà đạt trông cậy vào lực lượng hải quân với duy một con Tầu hàng không mẫu hạm Liêu Ninh, kém hiệu quả và kém cả về hỏa lực cũng như thiếu kinh nghiệm tác chiến trầm trọng so với phương tây, cho dù họ có một lực lượng ngầm đáng nể gồm hơn 56 chiếc động cơ Diesel và 5 chiếc ngầm mang vũ khí hạt nhân.
Người Tàu cũng không thể trông đợi gì ở đồng minh duy nhất hay phản bội của họ là Nga, một đồng minh chỉ chờ cơ hội để đâm sau lưng họ, có thể vì tiền xuất cảng vũ khí vì vị trí độc tôn lãnh đạo khối cộng sản cũ. Hơn nữa, hiện nay, chỉ số kinh tế Nga cho thấy Nga đang ở mức một nước Tây Ban Nha tại Âu Châu và thua xa Pháp và Đức, nghĩa là thuộc về khối các quốc gia nghèo.
Về phía người Tàu, họ phải có các lý do để tự tin về sức mạnh quân sự của họ tại biển đông và biển Hoa đông, cũng như tại eo biển Đài Loan nếu một mai cuộc gặp gỡ giữa Tập và Trump đưa đến một kết quả tồi tệ trên bàn cờ chính trị, như là người Mỹ sẽ từ chối không chịu nhượng trọn bộ biển đông cho Tàu cộng hay là tiếp tục làm khó dễ cho chương trình Một vành đai, một con đường của ông Tập hoặc cố ý tiếp tay, tiếp sức cho bà Thái Anh Văn thực hiện chương trình độc lập cho Đài Loan trước ngày bầu cử lại tổng thống Đài Loan vào tháng giêng năm 2020, nghĩa là trong hai năm nữa mà sự thất bại của bà Thái cũng đã được giới thạo tin tiên đoán trước, cũng dễ hiểu thôi, vì bởi nếu độc lập, nghĩa là đảo quốc sẽ vĩnh viễn mất quyền trở về cai trị lục địa, nơi mà họ cũng như đảng công sản Trung hoa đều giành tính chính danh để thống trị.
III. Kết Luận 
Người ta hay đùa “thận trọng như quân đội Pháp”, ý nói Pháp nhát, bởi vì Pháp đã học nhiều bài học quý giá khi choảng nhau với những kẻ yếu hơn họ. Cuộc chiến tại Điện Biên Phủ là một tình hình cũng có phần hơi trùng hợp với những gì đã phơi bày tại biển đông ngày nay.
Đôi lúc, chúng ta nghe đâu đó có nói đến một loại vũ khí gần như vô địch nhưng ít ai biết rõ, đó là các loại bom EMP (Electromagnetic Pulse). Thật ra, tất cả các nước tân tiến đều đã nghiên cứu để có những hiểu biết cơ bản về loại bom EMP, nhưng người Nga mới là nước đã thử nghiệm thành công đầu tiên bom “ép phê EMP”, còn gọi là E-bom, do công trình nghiên cứu 60 năm về trước của nhà bác học Andrei Sakharov và các trợ viên Athshuler, Voitenko và Bichenko.
Người Pháp đã hai lần thử nghiệm sức mạnh về EMP khi cho nổ bom hạt nhân trên tầm cao 100 km ở Polynésie Français, người Mỹ thì từ 1960 đã có hơn 10 lần thử, họ kích hoạt một bom hạt nhân từ không gian 400 km, bắn đi từ đảo Johnson island gần Hawaii và họ biết rất rõ cách mà họ có thể xóa sổ một lực lượng hùng hậu trên biển hay một số vệ tinh tình báo làm cho đối phương trở nên mù lòa trong cuộc chiến. Duy chỉ có lực lượng tầu ngầm là có thể thoát khỏi tầm tấn công của Bom EMP thôi và cuộc trả đũa sau đó cũng sẽ khốc liệt không kém. Hình như hiện tại Tàu cộng đang suy nghĩ nhiều về con đường này khi liên tục tìm cách bắn hạ các vệ tinh của chính họ, trên biển và trên đất liền và phát triển các thiết bị ngầm như xây dựng một vạn lý trường thành dưới lòng biển đông.
Chưa biết mèo nào sẽ cắn mỉu nào khi cuộc chiến thật sự xảy ra, nhưng chắc chắn kẻ chiến thắng sẽ là kẻ thống trị thế giới này cho thế kỷ 21, Trước đó thì mọi đồn đoán về sức mạnh cũng chỉ là lời đồn đoán thôi.
Paris, 29/11/2018

Thành Đỗ, Cựu kỹ sư về công nghệ quốc phòng Pháp
danlambaovn.blogspot.com

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh lên tiếng phản đối đảng trấn áp GS Chu Hảo

Lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh lên tiếng phản đối đảng trấn áp GS Chu Hảo

Nguyễn Đăng Quang

4-12-2018

Biết sẽ bị trấn áp, ngày 26/10/2018, Giáo sư Chu Hảo chủ động tuyên bố từ bỏ ĐCSVN. Sự kiện này đã và đang gây ra tiếng vang lớn. Ngay lập tức đã có nhiều trí thức khắp 3 miền đất nước tuyên bố theo chân Gs Chu Hảo từ bỏ ĐCSVN, trong số này có 2 trí thức tên tuổi là GSTS Tâm lý học Mạc Văn Trang và Nhà văn, Nhà nghiên cứu Văn hóa-Giáo dục nổi tiếng Nguyên Ngọc.

Ngày 27/10/2018, mười (10) trí thức nguyên là lãnh đạo và thành viên sáng lập Viện Nghiên cứu Phát triển IDS ký Thư ngỏ gửi Bộ Chính trị ĐCSVN, cực lực phản đối và bác bỏ sự quy kết của Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng đối với Gs Chu Hảo là: “Không chính đáng, không đúng sự thực, thể hiện sự trấn áp thô bạo những nỗ lực rất đáng trân trọng của một trí thức hết lòng vì dân vì nước; việc này đã chà đạp những tiếng nói chân thật và xây dựng của ông về những vấn đề nóng bỏng của đất nước”. Ngay tức thì, thư này có 238 nhân sỹ, trí thức trong và ngoài Đảng ký tên hưởng ứng.

Đặc biệt, ngày 11/11/2018, 81 giáo sư, học giả, nhà khoa học, nhà nghiên cứu, trong đó có 35 trí thức Việt kiều nổi tiếng, đang sinh sống và làm việc tại 10 quốc gia khắp 4 lục địa trên thế giới, gửi thư đến Lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam, lên tiếng đồng tình, ủng hộ chủ trương và những hoạt động của Gs Chu Hảo trong cương vị Giám đốc Nhà Xuất bản Tri thức, đồng thời bày tỏ sự quan ngại và thất vọng sâu sắc về những cáo buộc của Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng CSVN đối với Giáo sư Chu Hảo để kỷ luật nhà trí thức nổi tiếng này!

Chiều qua (03/12/2018), nhà văn Nguyên Bình, trưởng nữ của lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, chuyển cho tôi Bản lên tiếng của thân phụ bà về việc ĐCSVN trấn áp đảng viên Chu Hảo. Lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nhà cách mạng kiên cường đáng kính, với 103 tuổi đời và 80 tuổi Đảng, trong nhiều năm qua đã sát cánh cùng nhiều nhân sĩ trí thức, trong đó có Gs Chu Hảo, một đảng viên trí thức kiên cường, đeo đuổi cuộc đấu tranh nhằm làm cho ĐCSVN trong sạch, vững mạnh trở lại với tiêu chí chuyển đổi chế độ chính trị từ độc tài toàn trị sang thể chế nhà nước dân chủ pháp trị trên cơ sở tam quyền phân lập, đặt lợi ích dân tộc, quyền lợi quốc lên trên lợi quyền của Đảng.

Nói đến cuộc đời hoạt động cách mạng của lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, chúng ta không thể không nhắc đến “3 kỷ lục” nổi bật mà cụ đang nắm giữ, khiến bạn bè gần xa, trong đó có rất nhiều đảng viên ĐCSVN, tự hào, cảm phục:

– Một: Cụ là Ủy viên Trung ương Đảng trong 16 năm liên tục của Ban Chấp hành Trung ương Khóa III Đảng Lao động Viêt Nam (1960-1976), và là đảng viên có tuổi đời và tuổi Đảng cao nhất còn sống hiện nay (cụ sinh năm 1916, vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1939).

– Hai: Cụ là sỹ quan cấp tướng do đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh tấn phong hiện duy nhất còn sống cho đến nay, với 59 năm thâm niên cấp tướng (cụ được tấn phong Thiếu tướng trong Sắc lệnh số 036/SL do Chủ tịch nước VNDCCH Hồ Chí Minh ký ngày 31/8/1959).

– Ba: Cụ là một Đại sứ kỳ cựu và sắc sảo, là nhà ngoại giao Việt Nam giữ kỷ lục làm Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền lâu nhất tại 1 quốc gia (cụ được Đảng và Nhà nước giao đảm nhiệm trọng trách Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc trong gần 14 năm liên tục, từ đầu 1974 đến cuối 1987, vào đúng thời điểm quan hệ giữa 2 nước rất xấu và căng thẳng vì Trung Quốc xua 60 vạn quân tràn sang tàn phá và xâm lược 6 tỉnh biên giớí phía Bắc tháng 2/1979).

Mở đầu Bản lên tiếng, lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh viết: “Tôi rất cảm phục và quý mến Gs Chu Hảo. Qua những lần gặp gỡ, trao đổi, tôi nhận ra anh là mẫu người mà nhân dân và đất nước đang rất cần đến”. Cụ viết tiếp: “Gs Chu Hảo đã đề xuất với ĐCSVN cần tổ chức đối thoại với những ai có ý kiến, quan điểm khác với đường lối, quan điểm của ĐCSVN để tìm ra lối thoát cho sự bế tắc hiện nay của đất nước. Song ông Nguyễn Phú Trọng cay cú, coi ý kiến ôn hòa, xây dựng trên là sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để trấn áp một đảng viên tâm huyết”!

Rồi cụ tuyên bố ủng hộ Gs Chu Hảo: “Tôi hoàn toàn đồng tình và ủng hộ quyết định từ bỏ ĐCSVN của Gs Chu Hảo! Đúng như anh Chu Hảo đã tuyên bố hôm 26/10/2018 là “ĐCSVN ngày nay không còn tính chính danh, hoạt động không chính đáng, có nhiều khuyết tật, đi ngược lại quyền lợi của dân tộc và xu hướng tiến bộ của nhân loại!”. Kết thúc Bản lên tiếng, cụ kết luận: “Việc trấn áp những đảng viên trí thức như Gs Chu Hảo nói lên là ĐCSVN ngày nay đã biến chất!”

Nguyên văn Bản lên tiếng của lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh.

Trong nhiều lần trao đổi và nói chuyện tâm tình, lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh đã bộc bạch với người viết bài này như sau: Sau khi đổi tên thành ĐCSVN, nhất là từ sau 1990 lại đây, Đảng không còn tính chính danh như trước nữa. Cụ cho rằng ĐCSVN ngày nay đã biến chất, đã có nhiều hư hỏng, làm tổn hại nghiêm trong đến vai trò là lức lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội như trong Điều 4 Hiến pháp đã ghi! Theo cụ, trong số các biến chất và hư hỏng của ĐCSVN, có 3 điều rất nghiêm trọng sau đây:

– Một là, ĐCSVN hiện nay đã trở thành một ổ tham nhũng trầm trọng, khó có thể kiềm chế và kiểm soát được! Bọn sâu mọt tham nhũng phần lớn đều là những cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng, chúng đã trở thành bầy sâu, tập đoàn sâu và ăn của dân không từ một thứ gì!

– Hai là, ĐCSVN không còn là một khối đoàn kết vững chắc như trước đây. Nội bộ Đảng ngày nay đã chia năm, xẻ bảy, đang hình thành các băng nhóm lợi ích trong Đảng, và những băng nhóm này đang đấu đá, tranh dành và xâu xé quyết liệt với nhau, chúng không thiết tha với lợi ích dân tộc, quyền lợi đất nước nữa!

– Ba là, ĐCSVN đã lệ thuộc nặng nề vào ĐCSTQ. Sau khi ký kết Mật ước Thành Đô (4/9/1990), Lãnh đạo ĐCSVN kể từ đó đã lệ thuộc gần như toàn diện vào “Đảng bạn”! Ngoài việc để đường lối đối nội, đối ngoại và nền kinh tế VN lệ thuộc gần như hoàn toàn vào TQ, lãnh đạo Đảng và Nhà nước VN đã không hề lên tiếng phản đối và thực hiện biện pháp đáp trả khi chủ quyền biển đảo của Tổ quốc bị kẻ thù xâm phạm, đặc biệt là sự kiện tháng 5/2014, khi TQ coi thường luật pháp quốc tế, ngang ngược hạ đặt dàn khoan HD.981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam! Trong 3 năm qua VN đã 2 lần nhẫn nhục, chấp nhận đòi hỏi ngang ngược của TQ là VN phải dừng các dự án khoan thăm dò khí đốt, trong đó có Dự án tại Lô 136/03 thuộc bãi Tư Chính nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam!

Trở lại chủ đề Gs Chu Hảo bị trấn áp, bạn bè thân thiết và những người quen biết Gs Chu Hảo, trong đó có người viết bài này, có một nhận xét: “Ông là một đảng viên trí thức giầu tâm huyết, đầy dũng khí nhưng rất mẫn tiệp, ôn hòa, luôn trăn trở với vận mệnh đất nước! Hơn chục năm qua, sau khi nghỉ hưu, ông đảm nhiệm trọng trách Giám đốc kiêm TBT Nhà xuất bản Tri thức. Ở cương vị này, ông đã tổ chức biên dịch và xuất bản nhiều đầu sách quý trong kho tàng tri thức nhân loại để cung cấp kiến thức cho bạn đọc, trong đó có rất nhiều đảng viên ĐCSVN, sự nhận thức lại về chính trị xã hội, về quyền con người, quyền tự do dân chủ tối thiểu, về quyền làm chủ đất nước, làm chủ xã hội của công dân,v.v… theo tư tưởng khai phóng của nhà chí sỹ cách mạng Phan Châu Trinh: “Khai dân trí”, “Chấn dân sinh”, “Thực thi dân quyền”!

Tư tưởng cấp tiến và đường lối ôn hòa của Gs Chu Hảo chưa bao giờ phù hợp với chủ trương và quan điểm của Ban lãnh đạo ĐCSVN hiện nay! Ngày 23/8/2016, Gs Chu Hảo công bố bài viết Đã đến lúc cần phải đối thoại”. Bài viết nêu những luận điểm sắc sảo và hết sức thuyết phục, kèm theo những kiến nghị rất cụ thể mang tính xây dựng. Có lẽ bài viết này đã thực sự làm cho Lãnh đạo Đảng lúng túng, khó xử và điên đầu! Dù sau đấy, ngày 18/5/2017, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng tuyên bố như đinh đóng cột là Đảng ta không sợ đối thoại, không sợ tranh luận!”. Ông Thưởng còn cho biết, Ban Tuyên giáo Trung ương đang đợi văn bản hướng dẫn của Ban Bí thư “Về việc tổ chức đối thoại với những cá nhân có ý kiến và quan điểm khác với chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nước”! Nhưng sau đấy là sự câm bặt lạnh lùng và khó hiểu! Ban Bí thư Trung ương Đảng không hề lên tiếng, không hề ban hành văn bản hướng dẫn đối thoại nào và cũng không hề tổ chức buổi gặp gỡ, đối thoại với ai như Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng đã hùng hồn tuyên bố!

Một vấn đề lớn đặt ra, rất cần được làm rõ: “Tại sao Đảng không tổ chức đối thoại như Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương của mình đã tuyên bố, mà lại vội vàng trấn áp một đảng viên trí thức đã lên tiếng đề xuất kiến nghị này? Đây có phải là tiếng súng lệnh báo hiệu chiến dịch trấn áp mới để bịt miệng, dập tắt xu hướng muốn đối thoại và cải tổ của những đảng viên trí thức tâm huyết và cấp tiến trong Đảng? Phải chăng chiến dịch này đã bắt đầu kể ngày 24/11/2018?”

Hà Nội, ngày 4/12/2018

Nguyễn Đăng Quang

_____

Một số hình ảnh:

GS Chu Hảo (phải), ngồi cạnh là nhà văn Nguyên Ngọc. Nguồn: Tác giả Nguyễn Đăng Quang gửi Tiếng Dân
GS Chu Hảo và cụ Lê Đình Kình trong chuyến thăm Đồng Tâm
Gs Chu Hảo cùng đoàn 15 nhân sỹ trí thức chụp sau khi chuyển KN72 về sửa đổi HP cho UBTVQH
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.