Daily Archives: December 22, 2018

THẾ GIỚI ĐẠI DƯƠNG Chiến lược phát triển kinh tế biển của Việt Nam: Hiện trạng và xu hướng phát triển In bài này Ngày đăng 20-12-2018 … Với hơn 1 triệu km2 vùng đặc quyền kinh tế, có trên 3.000 hòn đảo lớn nhỏ các loại, chủ yếu nằm ở Vịnh Bắc Bộ, với diện tích khoảng 1.700 km2, Việt Nam nằm trong số 10 nước trên thế giới có chỉ số cao nhất về chiều dài bờ biển so với diện tích lãnh thổ. Ở nước ta, tính bình quân cứ 100 km2 đất liền nước ta có 1 km bờ biển, cao gấp sáu lần chỉ số trung bình của thế giới, đồng thời bờ biển lại mở ra cả ba hướng Đông, Nam và Tây Nam, rất thuận lợi cho việc thông thương qua lại đại dương. Vì vậy, trước mắt cũng như lâu dài biển gắn bó mật thiết với đời sống con người và là cơ sở cho sự phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường của mọi miền đất nước. Điều kiện thuận lợi để Việt Nam phát triển kinh tế biển: Việt Nam là nước có tiềm năng tự nhiên to lớn, có bờ biển dài, diện tích lãnh hải thuộc chủ quyền rộng, khả năng tiếp cận dễ dàng đến các đại dương, có các nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú. Biển Đông có nguồn tài nguyên sinh vật phong phú và đa dạng, có đến hơn 160.000 loài, gần 10.000 loài thực vật và 260 loài chim sống ở biển. Trữ lượng các loài động vật ở biển ước tính khoảng 32,5 tỷ tấn, trong đó, các loài cá chiếm 86% tổng trữ lượng. Vùng biển Việt Nam có hơn 2.458 loài cá, gồm nhiều bộ, họ khác nhau, trong đó có khoảng 110 loài có giá trị kinh tế cao. Trữ lượng cá ở vùng biển nước ta khoảng 5 triệu tấn/năm, trữ lượng cá có thể đánh bắt hàng năm khoảng 2,3 triệu tấn. Các loài động vật thân mềm ở Biển Đông có hơn 1.800 loài, trong đó có nhiều loài là thực phẩm được ưa thích, như: mực, hải sâm. Ngoài động vật, biển còn cung cấp cho con người nhiều loại rong biển có giá trị. Đây là nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng và là nguồn dược liệu phong phú. Biển nước ta có khoảng 638 loài rong biển. Các loại rong biển dễ gây trồng, ít bị mất mùa và cho năng suất thu hoạch cao nên sẽ là nguồn thực phẩm quan trọng của loài người trong tương lai. Không những vậy, biển Việt Nam còn có nguồn tài nguyên dầu khí lớn, có tầm chiến lược quan trọng. Đến nay, chúng ta đã xác định được tổng tiềm năng dầu khí tại bể trầm tích: Sông Hồng, Phú Khánh, Nam Côn Sơn, Cửu Long, Malay – Thổ Chu, Tư Chính – Vũng Mây. Trữ lượng dầu khí dự báo của toàn thềm lục địa Việt Nam khoảng 10 tỷ tấn quy dầu. Ngoài dầu, Việt Nam còn có khí đốt với trữ lượng khai thác khoảng 3.000 tỷ m3/năm. Trữ lượng đã được xác minh là gần 550 triệu tấn dầu và trên 610 tỷ m3 khí. Trữ lượng khí đã được thẩm lượng, đang được khai thác và sẵn sàng để phát triển trong thời gian tới vào khoảng 400 tỷ m3. Ngoài ra, vùng biển nước ta nằm gọn trong phần phía Tây của vành đai quặng thiếc Thái Bình Dương, có trữ lượng thiếc lớn, và tiềm năng to lớn về quặng sa khoáng của các nguyên tố hiếm, có triển vọng băng cháy lớn. Bờ biển Việt Nam có vị trí địa – kinh tế và địa – chiến lược đặc biệt quan trọng. Việt Nam có đường bờ biển chạy theo hướng Bắc – Nam dọc theo chiều dài đất nước, lại nằm kề trên các tuyến đường biển quốc tế quan trọng của thế giới, có những vụng sâu kín gió là điều kiện thuận lợi để phát triển giao thông vận tải biển và mở rộng giao lưu với bên ngoài. Biển Đông được coi là con đường chiến lược về giao lưu và thương mại quốc tế giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, ở cả bốn phía đều có đường thông ra Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương qua các eo biển. Từ các hải cảng ven biển của Việt Nam thông qua eo biển Malacca để đi đến Ấn Độ Dương, Trung Đông, châu Âu, châu Phi; qua eo biển Basi có thể đi vào Thái Bình Dương đến các cảng của Nhật Bản, Nga, Nam Mỹ và Bắc Mỹ; qua các eo biển giữa Philippines, Indonesia, Singapore đến Australia và New Zealand… Hầu hết các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương đều có các hoạt động thương mại hàng hải rất mạnh trên Biển Đông. Trong tổng số 10 tuyến đường biển lớn nhất trên thế giới hiện nay, có 5 tuyến đi qua Biển Đông hoặc có liên quan đến Biển Đông. Hàng năm, qua biển Đông vận chuyển khoảng 70% lượng dầu mỏ nhập khẩu từ Trung Đông và Đông Nam Á, khoảng 45% hàng xuất của Nhật Bản và 60% hàng xuất nhập khẩu của Trung Quốc. Vùng biển Việt Nam án ngữ trên con đường này. Việt Nam có nhiều bãi biển đẹp, có tiềm năng phát triển về du lịch biển. Bờ biển dài có nhiều bãi cát, vịnh, hang động tự nhiên đẹp là tiềm năng về du lịch lớn của nước ta. Do đặc điểm kiến tạo khu vực, các dãy núi đá vôi vươn ra sát bờ biển tạo nhiều cảnh quan thiên nhiên sơn thủy rất đa dạng, nhiều vụng, vịnh, bãi cát trắng, hang động, các bán đảo và các đảo lớn nhỏ liên kết với nhau thành một quần thể du lịch hiếm có trên thế giới như di sản thiên nhiên Hạ Long được UNESCO xếp hạng. Hệ thống gần 82 hòn đảo ven bờ có diện tích trên 01 km2, trong đó 24 đảo có diện tích trên 10 km2 (10 – 320 km2), cách bờ không xa là những hệ sinh thái đảo hấp dẫn. Ở đây không khí trong lành, nước biển trong và sạch, bãi cát trắng mịn. Các thắng cảnh trên đất liền nổi tiếng như Phong Nha, Bích Động, Non Nước… Các di tích lịch sử và văn hoá như Cố đô Huế, phố cổ Hội An, Tháp Chàm, nhà thờ đá Phát Diệm,… phân bố ngay ở vùng ven biển. Các trung tâm kinh tế thương mại, các thành phố du lịch nằm ven biển hoặc cách bờ biển không xa như Hạ Long, Hải Phòng, Vinh, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Vũng Tàu, Hà Tiên, Hà Nội, Sài Gòn,… Hệ thống đường bộ, đường xe lửa xuyên Việt và liên vận quốc tế chất lượng cao được xây dựng dọc bờ biển. Hiện trạng kinh tế biển Việt Nam Kinh tế biển Việt Nam những năm đổi mới vừa qua đã tăng trưởng đáng kể về qui mô và thay đổi rõ rệt về ngành nghề, đóng góp quan trọng cho tăng trưởng GDP. Tuy nhiên nếu so sánh với một số nước có biển trong khu vực thì giá trị hoạt động của kinh tế biển Việt Nam chỉ bằng 24% của Trung Quốc, 14% của Hàn Quốc và 1% của Nhật Bản. Hiện nay, Việt Nam đã mở cửa hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Nhưng, đánh giá một cách thực chất, trong một thời gian dài, Việt Nam mới chỉ chú trọng việc mở hàng loạt cửa khẩu và phát triển khu kinh tế cửa khẩu trên biên giới đất liền mà ít mở ra biển, qua các cảng biển. Gần đây, mấy chục tỉnh sát biển đua nhau làm cảng biển, đã xây dựng gần một trăm cảng biển. Việt Nam cũng đã hình thành bốn vùng kinh tế trọng điểm và hàng chục khu kinh tế dọc theo bờ biển. Tất cả đều hướng ra biển và có tiềm năng to lớn từ kinh tế biển. Nhưng việc tận dụng lợi thế và khai thác tiềm năng to lớn này còn xa mới đạt hiệu quả mong muốn. Công tác tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí của nước ta cũng ngày càng được đẩy mạnh và đạt được những thành quả nhất định; quy mô và phạm vi cũng được mở rộng từ vùng nước nông, ra các vùng nước sâu, xa bờ và một số điểm thuộc vùng biển Quốc tế. Khối lượng công tác thăm dò, khai thác dầu khí đã thực hiện trên toàn bộ vùng biển và thềm lục địa Việt Nam là khá lớn. Khảo sát điều tra cơ bản toàn bộ 160 lô, đo địa chấn 2D trên 158 nghìn km, đo địa chấn 3D là 50 nghìn km2. Nhiều bể trầm tích có triển vọng khai thác dầu và khí tự nhiên trên vùng biển và thềm lục địa nước ta; Đã phát hiện thêm nhiều lô dầu khí mới, xác định thu hồi 1,37 tỷ tấn quy dầu và tiềm năng khí các bể còn lại khoảng 2,6 – 3,6 tỷ tấn quy dầu. Kết quả công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí đã xác định được các bể/cụm bể trầm tích có triển vọng dầu khí: Sông Hồng, Phú Khánh, Hoàng Sa, Cửu Long, Nam Côn Sơn, Trường Sa – Tư Chính – Vũng Mây, Malay – Thổ Chu và Phú Quốc, trong đó các bể: Sông Hồng, Cửu Long, Nam Côn Sơn và Malay – Thổ Chu đã phát hiện và đang khai thác dầu khí. Tổng sản lượng khai thác dầu thô trên thềm lục địa Việt Nam đạt 130,27 triệu tấn, khoảng 63,52 tỷ m3 khí tự nhiên và tổng sản lượng dầu thô xuất khẩu đạt 102,25 triệu tấn; bình quân mỗi năm trên thềm lục địa nước ta có thể khai thác được 16 triệu tấn dầu thô/năm, khoảng 7,9 tỷ m3/năm khí tự nhiên. Trong những năm gần đây do thị trường tiêu thụ titan và các khoáng sản đi kèm trên thế giới biến động mạnh theo chiều hướng gia tăng về giá cả; ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình khai thác sa khoáng titan ở nước ta. Hoạt động khai thác quặng titan tập trung nhiều ở một số địa phương như Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định. Đến nay, riêng ở các tỉnh Miền Trung có trên 50 đơn vị tổ chức khai thác, ở 38 khu mỏ và có 18 xưởng tuyển tinh quặng và đã được khai thác gần 8 triệu tấn quặng titan. Việc quản lý hoạt động khoáng sản được thực hiện thông qua các giấy phép khai thác do 2 cấp quản lý cấp cho các doanh nghiệp trong đó Bộ Công nghiệp (trước năm 2002) hoặc Bộ Tài nguyên & Môi trường (sau năm 2002) cấp giấy phép khai thác cho các mỏ lớn còn ở nông nghiệp (trước năm 2002) hoặc ở Tài nguyên & Môi trường (sau năm 2002) cấp giấy phép khai thác cho khai thác tận thu khoáng sản. Cả nước có 21 tỉnh sản xuất muối, trải dài từ Hải Phòng đến Cà Mau. Tổng diện tích sản xuất muối toàn quốc có 14.528,2 ha. Các tỉnh có diện tích sản xuất muối nhiều như tỉnh Bạc Liêu (2.774 ha), Ninh Thuận (2.380 ha), Bến Tre (1.431 ha), TP. Hồ Chí Minh (1.532,2 ha), Quảng Nam (35 ha), Thái Bình (60,51 ha). Diện tích sản xuất muối công nghiệp năm tập trung ở 3 tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa. Trong những năm qua, các Bộ, ngành Trung ương và địa phương đã tích cực chỉ đạo đẩy mạnh tổ chức sản xuất khai thác hải sản, trong đó tập trung vào tổ chức lại sản xuất, hiện đại hóa tàu cá, đẩy mạnh đánh bắt xa bờ, đổi mới và tăng cường năng lực khai thác thân thiện với môi trường, ứng phó với BĐKH và hướng tới phát triển bền vững. Đồng thời đẩy mạnh đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật nghề cá trên các vùng biển, các tuyến đảo xa, đảo tiền tiêu và đảo trọng yếu quốc gia như Hoàng Sa, Trường Sa, Bạch Long Vĩ, Lý Sơn, Cồn Cỏ, Phú Quốc, Phú Quý; Nâng cao năng lực đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, đẩy mạnh áp dụng khoa học công nghệ trong khai thác hải sản. Trong giai đoạn từ năm 2007-2012, khai thác hải sản trên biển có những tăng trưởng đáng ghi nhận, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân về số lượng tàu thuyền tăng 4,3%/năm, công suất tàu thuyền tăng 3,6%/năm, sản lượng tăng 5,2%/năm và giá trị khai thác tăng 5,9%/năm. Theo số liệu điều tra ban đầu của chính phủ, Việt Nam có khoảng 17.400 ha được đánh giá là thích hợp cho các dự án, công trình phát triển năng lượng gió. Thời gian qua, tại các tỉnh Bình Định, Ninh Thuận và Bình Thuận đã và đang đi tiên phong trong triển khai một số dự án phong điện, tiềm năng phát triển ở khu vực này khoảng hơn 8 nghìn MW. Phát triển điện gió với đặc thù là phân tán, nhỏ lẻ, cục bộ, hiện đang được các doanh nghiệp trong và ngoài nước nghiên cứu đầu tư, song việc triển khai còn gặp rất nhiều khó khăn: Chưa có chính sách và các quy định, trợ giá trong việc mua điện từ nguồn năng lượng gió; Thiếu kiến thức và năng lực kỹ thuật để thực hiện một công trình điện gió hoàn chỉnh, cũng như các kỹ thuật cơ bản và dịch vụ đi kèm sau lắp đặt; Các Công ty Điện lực địa phương chưa sẵn sàng vào cuộc, việc xây dựng hạ tầng đáp ứng cho các dự án phong điện sẽ mất thời gian khá lâu. Hiện tại, hoạt động du lịch biển Việt Nam thu hút tới 80% lượng khách du lịch và khoảng 70% tổng số các điểm du lịch của toàn quốc. Với bờ điển dài trên 3.260 km, có nhiều bãi tắm đẹp và nhiều hang, vịnh kỳ thú như ở Móng Cái, Vân Đồn, Vịnh Hạ Long, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Cửa Lò, Cửa Tùng, Vân Phong, Vũng Tàu…cùng có nhiều di sản văn hoá vật thể và phi vật thể, di sản thiên nhiên thế giới được UNESCO công nhận là Vịnh Hạ Long, Cố đô Huế, Nhã nhạc cung đình Huế, đô thị cổ Hội An, khu đền tháp Mỹ Sơn và hang động Phong Nha – Kẻ Bàng. Những công trình kiến trúc, di tích lịch sử này, ngoài những giá trị khoa học, văn hóa truyền thống còn là những tiềm năng thu lợi lớn, nếu được đầu tư trùng tu tôn tạo kết hợp với ngành du lịch để khai thác. Trong vùng có nhiều bãi biển như Sầm Sơn, Cửa Lò, Thiên Cầm, Đá Nhảy, Cửa Tùng, Lăng Cô, Thuận An, Non Nước, Mỹ Khê, Nha Trang, Ninh Chữ, Mũi Né…, nhiều danh lam thắng cảnh như đèo Ngang, đèo Hải Vân, bán đảo Sơn Trà…, nhiều di tích lịch sử gắn liền với bề dày dựng nước và giữ nước như thành Huế, thành cổ Quảng Trị, Cửa Việt, Vĩnh Mốc, cảng Đà Nẵng, di tích Sơn Mỹ, Vạn Tường, Chu Lai,… Đó là những tiềm năng du lịch biển gắn với du lịch núi và du lịch văn hoá, du lịch nghỉ dưỡng,… tạo cho ven biển Việt Nam trở thành một vùng du lịch độc đáo, hấp dẫn khách du lịch và đưa ngành du lịch đang dần trở thành một ngành mũi nhọn, có ý nghĩa với cả nước. Về chiến lược phát triển kinh tế biển của Việt Nam Mặc dù đến nay, Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng trong việc thiết kế và thực thi chiến lược kinh tế biển, song, về nguyên tắc, vẫn chưa định hình một tư duy phát triển mới, tổng thể về kinh tế biển. Để định hình tư duy mới này, có hai điểm cần lưu ý. (1) Kinh nghiệm phát triển trên đất liền và theo tư duy “đất liền” nhiều năm của Việt Nam, cộng với thực tiễn phát triển kinh tế biển của nhiều nước đi trước cho thấy việc định hình chiến lược kinh tế biển cần được thực hiện đồng thời và tổng thể ở ba phương diện: Khai thác vùng không gian biển (mặt biển, dưới biển và bầu trời trên biển); Khai thác vùng bờ biển (vùng duyên hải với các cảng biển, bãi biển, thành phố biển, khu kinh tế ven biển); Phát triển các lĩnh vực “hậu cần” cho kinh tế biển và các khu vực kết nối (các ngành phục vụ phát triển kinh tế biển, phát triển khoa học – công nghệ biển, nguồn nhân lực cho kinh tế biển, kết nối tuyến du lịch đất liền…). (2) Cùng với cách tiếp cận chuỗi, cần chú ý nguyên tắc tập trung phát huy lợi thế trong phát triển. Với nguồn lực có hạn, trong bối cảnh quốc tế hiện nay, việc lựa chọn mục tiêu trọng tâm trong chiến lược biển để ưu tiên thực hiện là một yêu cần bắt buộc đối với Việt Nam. Bắt buộc vì nó xuất phát từ sự hạn chế của các nguồn lực, buộc phải tập trung nguồn lực cho một số mục tiêu hạn chế nhằm tạo sự đột phá mạnh và sức lan tỏa rộng. Bắt buộc vì nó đáp ứng những yêu cầu mang tính sống còn trong cuộc cạnh tranh quốc tế cũng như những tranh chấp lãnh hải, đặc biệt là ở vùng Biển Đông, đang trở nên ngày càng gay gắt hiện nay. Để phát triển kinh tế biển, Việt Nam cần triển khai các biện pháp: (1) Lực lượng hàng hải viễn dương, đặt mục tiêu và lộ trình vươn lên thành một cường quốc hàng hải một cách khẩn trương, hiện thực khả thi; xác lập và tăng cường các tuyến bay qua các hành lang biển; củng cố và phát triển các đảo thuộc chủ quyền ở tất cả các khía cạnh khẳng định chủ quyền – không chỉ quân sự mà tập trung mạnh cho các khía cạnh chủ quyền dân sự: dân cư, kinh tế, văn hóa. (2) Phát triển nhanh, mạnh du lịch biển đảo với tư cách là một hình thức hiện diện chủ quyền được thừa nhận quốc tế. (3) Hình thành một số dự án nghiên cứu, khai thác kinh tế biển, nhất là các dự án ở vùng biển xa, có tầm cỡ, chú trọng liên doanh với nước ngoài (các tập đoàn lớn) với những điều kiện thỏa đáng và đặt trong tầm nhìn chiến lược. (4) Ưu tiên xây dựng một số cứ điểm phát triển chiến lược mạnh ven biển. Những cứ điểm này là các tổ hợp phát triển lớn bao gồm: đô thị biển + cảng biển lớn + khu kinh tế mở (hay khu kinh tế tự do). (5) Xây dựng sớm chiến lược đối phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, coi đây là một điều kiện cơ bản để xây dựng chiến lược tổng thể. Đặc biệt có các tiếp cận nhà nước mới đến sự sinh tồn và phát triển của dân cư các vùng duyên hải, bỏ lối tiếp cận đối phó thiên tai thụ động, dựa vào lòng từ thiện để thể hiện sự quan tâm quốc gia mà có chiến lược chủ động tạo nền tảng để đối phó và phát triển hiệu quả trong điều kiện thiên tai. Xu hướng phát triển kinh tế biển Việt Nam Đến năm 2030, Việt Nam sẽ phát triển thành công, đột phá về các ngành kinh tế biển theo thứ tự ưu tiên: (1) Du lịch và dịch vụ biển; (2) Kinh tế hàng hải; (3) Khai thác dầu khí và các tài nguyên khoáng sản biển khác; (4) Nuôi trồng và khai thác hải sản; (5) Công nghiệp ven biển; (6) Năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới. Cụ thể: Du lịch và dịch vụ biển: Chú trọng đầu tư hạ tầng du lịch; khuyến khích, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế tham gia phát triển du lịch sinh thái, thám hiểm khoa học, du lịch cộng đồng, các khu du lịch nghỉ dưỡng biển chất lượng cao tại các vùng ven biển; xây dựng, phát triển, đa dạng hoá các sản phẩm, chuỗi sản phẩm, thương hiệu du lịch biển đẳng cấp quốc tế trên cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học, phát huy giá trị di sản thiên nhiên, văn hoá, lịch sử đặc sắc của các vùng, miền, kết nối với các tuyến du lịch quốc tế để Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của thế giới. Nghiên cứu thí điểm phát triển du lịch ra các đảo, vùng biển xa bờ. Tăng cường năng lực tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn; đẩy mạnh các hoạt động thám hiểm khoa học; chú trọng công tác giáo dục, y tế biển… Hỗ trợ, tạo điều kiện để người dân ven biển chuyển đổi nghề từ các hoạt động có nguy cơ xâm hại, tác động tiêu cực đến biển sang bảo vệ, bảo tồn, tạo sinh kế bền vững, việc làm mới ổn định, nâng cao thu nhập cho người dân. Kinh tế hàng hải: Trọng tâm là khai thác có hiệu quả các cảng biển và dịch vụ vận tải biển. Quy hoạch, xây dựng, tổ chức khai thác đồng bộ, có hiệu quả các cảng biển tổng hợp, cảng trung chuyển quốc tế, cảng chuyên dùng gắn với các dịch vụ hỗ trợ; xây dựng hoàn thiện hạ tầng logistics và các tuyến đường giao thông, kết nối liên thông các cảng biển với các vùng, miền, địa phương trong nước và quốc tế. Đẩy mạnh phát triển đội tàu vận tải biển với cơ cấu hợp lý, ứng dụng công nghệ hiện đại, nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng nhu cầu thị trường vận tải nội địa, tham gia sâu vào các chuỗi cung ứng vận tải, từng bước gia tăng, chiếm lĩnh thị phần quốc tế. Khai thác dầu khí và các tài nguyên, khoáng sản biển khác: Nâng cao năng lực của ngành Dầu khí và các ngành tài nguyên, khoáng sản biển khác; từng bước làm chủ công tác tìm kiếm, thăm dò, khai thác, đáp ứng nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong thời kỳ mới. Đẩy mạnh công tác tìm kiếm, thăm dò, gia tăng trữ lượng dầu khí; nghiên cứu, thăm dò các bể trầm tích mới, các dạng hydrocarbon phi truyền thống; gắn việc tìm kiếm, thăm dò dầu khí với điều tra, khảo sát, đánh giá tiềm năng các tài nguyên, khoáng sản biển khác, khoáng sản biển sâu, đặc biệt là các khoáng sản có trữ lượng lớn, giá trị cao, có ý nghĩa chiến lược. Nâng cao hiệu quả khai thác các tài nguyên khoáng sản biển gắn với chế biến sâu; kết hợp hài hoà giữa khai thác, chế biến với bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học biển. Nuôi trồng và khai thác hải sản: Chuyển từ nuôi trồng, khai thác hải sản theo phương thức truyền thống sang công nghiệp, ứng dụng công nghệ cao. Tổ chức lại hoạt động khai thác hải sản theo hướng giảm khai thác gần bờ, đẩy mạnh khai thác tại các vùng biển xa bờ và viễn dương phù hợp với từng vùng biển và khả năng phục hồi của hệ sinh thái biển đi đôi với thực hiện đồng bộ, có hiệu quả công tác đào tạo, chuyển đổi nghề cho ngư dân. Thúc đẩy các hoạt động nuôi trồng, khai thác hải sản bền vững, tăng cường bảo vệ, tái sinh nguồn lợi hải sản, nghiêm cấm các hoạt động khai thác mang tính tận diệt. Hiện đại hoá công tác quản lý nghề cá trên biển; đẩy mạnh liên kết sản xuất theo hình thức tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; xây dựng một số doanh nghiệp mạnh tham gia khai thác hải sản xa bờ và hợp tác khai thác viễn dương. Đầu tư nâng cấp các cảng cá, bến cá, khu neo đậu tàu thuyền, tổ chức tốt dịch vụ hậu cần nghề cá. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến trong nuôi trồng, khai thác, bảo quản, chế biến hải sản, tạo ra các sản phẩm chủ lực, có chất lượng, giá trị kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu của thị trường. Công nghiệp ven biển: Phải dựa trên cơ sở quy hoạch, cân nhắc lợi thế về điều kiện tự nhiên của từng vùng, ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao thân thiện với môi trường, công nghiệp nền tảng, công nghệ nguồn. Phát triển hợp lý các ngành sửa chữa và đóng tàu, lọc hoá dầu, năng lượng, cơ khí chế tạo, công nghiệp chế biến, công nghiệp phụ trợ. Năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới: Thúc đẩy đầu tư xây dựng, khai thác điện gió, điện mặt trời và các dạng năng lượng tái tạo khác. Phát triển ngành chế tạo thiết bị phục vụ ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, tiến tới làm chủ một số công nghệ, thiết kế, chế tạo và sản xuất thiết bị; ưu tiên đầu tư phát triển năng lượng tái tạo trên các đảo phục vụ sản xuất, sinh hoạt, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Quan tâm phát triển một số ngành kinh tế dựa vào khai thác tài nguyên đa dạng sinh học biển như dược liệu biển, nuôi trồng và chế biến rong, tảo, cỏ biển… Việt Nam cần phát triển đồng bộ, từng bước hình thành khu kinh tế, khu công nghiệp, khu đô thị sinh thái ven biển. Tập trung xây dựng và nhân rộng các mô hình khu kinh tế, khu công nghiệp sinh thái ven biển gắn với hình thành và phát triển các trung tâm kinh tế biển mạnh. Khu kinh tế ven biển phải đóng vai trò chủ đạo trong phát triển vùng và gắn kết liên vùng. Đổi mới tư duy trong xây dựng và thực hiện các quy hoạch, kế hoạch phát triển hệ thống đô thị ven biển có cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đồng bộ, hiện đại theo mô hình, tiêu chí tăng trưởng xanh, đô thị thông minh. Đẩy nhanh xây dựng hoàn thiện kết cấu hạ tầng các khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển theo hướng tiếp cận mô hình khu kinh tế, khu công nghiệp sinh thái, có sức hấp dẫn các nhà đầu tư, thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; giải quyết tốt vấn đề môi trường, xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân. Phát triển các vùng biển dựa trên lợi thế về điều kiện tự nhiên, hài hoà giữa bảo tồn và phát triển. Quy hoạch không gian biển theo các vùng bảo vệ – bảo tồn, vùng đệm và vùng phát triển kinh tế – xã hội để phát triển bền vững kinh tế biển trên cơ sở phát huy tối đa lợi thế so sánh về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, bản sắc văn hoá, tính đa dạng của hệ sinh thái, bảo đảm tính liên kết vùng, giữa địa phương có biển và không có biển. (1) Vùng biển và ven biển phía Bắc (Quảng Ninh – Ninh Bình): Tiếp tục xây dựng khu vực Hải Phòng – Quảng Ninh trở thành trung tâm kinh tế biển; là cửa ngõ, động lực phát triển vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ gắn với cảng quốc tế Lạch Huyện; phát triển Quảng Ninh trở thành trung tâm du lịch quốc gia kết nối với các trung tâm du lịch quốc tế lớn của khu vực và thế giới. (2) Vùng biển và ven biển Bắc Trung Bộ, Duyên hải Trung Bộ (Thanh Hoá – Bình Thuận): Phát triển các cảng biển nước sâu trung chuyển quốc tế, cảng biển chuyên dụng gắn với các khu liên hợp công nghiệp, dầu khí, điện, năng lượng tái tạo, công nghiệp sạch; phát triển các trung tâm du lịch lớn; nuôi trồng, khai thác, chế biến hải sản, dịch vụ hậu cần và hạ tầng nghề cá. (3) Vùng biển và ven biển Đông Nam Bộ (Bà Rịa – Vũng Tàu – Thành phố Hồ Chí Minh): Phát triển cảng biển container quốc tế, dịch vụ hậu cần cảng biển, dịch vụ bảo đảm an toàn hàng hải, công nghiệp khai thác, chế biến dầu khí, công nghiệp hỗ trợ và các dịch vụ ngành Dầu khí. (4) Vùng biển và ven biển Tây Nam Bộ (Tiền Giang – Cà Mau – Kiên Giang): Tập trung xây dựng phát triển Phú Quốc thành trung tâm dịch vụ, du lịch sinh thái biển mạnh mang tầm quốc tế; phát triển công nghiệp khí, chế biến khí, điện khí, năng lượng tái tạo, nuôi trồng, khai thác hải sản, dịch vụ hậu cần, hạ tầng nghề cá; kết nối với các trung tâm kinh tế lớn trong khu vực và thế giới. Bảo vệ môi trường, bảo tồn, phát triển bền vững đa dạng sinh học biển; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng và phòng, chống thiên tai. Mở rộng diện tích, thành lập mới các khu vực bảo tồn biển trên cơ sở quy hoạch không gian biển quốc gia; chú trọng bảo tồn đa dạng sinh học, phục hồi các hệ sinh thái, đặc biệt là các rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển; bảo đảm tính toàn vẹn và mối quan hệ tự nhiên giữa các hệ sinh thái đất liền và biển. Xây dựng các tiêu chí, yêu cầu kỹ thuật nghiêm ngặt theo chuẩn quốc tế về môi trường đối với các dự án đầu tư có nguy cơ ô nhiễm môi trường cao khu vực ven biển, bảo đảm phòng ngừa, ngăn chặn không để xảy ra các sự cố gây ô nhiễm môi trường, giảm thiểu và xử lý hiệu quả các nguồn gây ô nhiễm. Đầu tư xây dựng, củng cố lực lượng, trang thiết bị giám sát, cảnh báo tự động về chất lượng môi trường, ứng phó với sự cố môi trường, hoá chất độc hại trên biển; quản lý rác thải biển, nhất là rác thải nhựa; cải thiện, nâng cao chất lượng môi trường biển. Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo, chủ động phòng, tránh và giảm nhẹ thiệt hại thiên tai, động đất, sóng thần, thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng trên cơ sở ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến, đặc biệt là áp dụng các mô hình thông minh có khả năng thích ứng, chống chịu với thiên tai và tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu. Đẩy mạnh các biện pháp phòng, chống biển xâm thực, xói lở bờ biển, ngập lụt, xâm nhập mặn… Nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng văn hoá biển, xã hội gắn bó, thân thiện với biển. Nâng cao đời sống, bảo đảm an ninh, an toàn cho dân cư vùng ven biển, trên đảo và những người lao động trên biển. Chú trọng phát triển các thiết chế văn hoá cho cộng đồng dân cư biển và ven biển; phát huy bản sắc, giá trị lịch sử và văn hoá dân tộc, tri thức tốt đẹp trong ứng xử với biển, coi đây là nền tảng quan trọng để xây dựng văn hoá biển. Bảo tồn không gian văn hoá, kiến trúc và di sản thiên nhiên. Nâng cao nhận thức về biển và đại dương, xây dựng xã hội, ý thức, lối sống, hành vi văn hoá gắn bó, thân thiện với biển. Phát huy tinh thần tương thân tương ái của cộng đồng dân cư vùng biển, ven biển. Bảo đảm quyền tiếp cận, tham gia, hưởng lợi và trách nhiệm của người dân đối với biển một cách công bằng, bình đẳng.

THẾ GIỚI ĐẠI DƯƠNG

Chiến lược phát triển kinh tế biển của Việt Nam: Hiện trạng và xu hướng phát triển

Với hơn 1 triệu km2 vùng đặc quyền kinh tế, có trên 3.000 hòn đảo lớn nhỏ các loại, chủ yếu nằm ở Vịnh Bắc Bộ, với diện tích khoảng 1.700 km2, Việt Nam nằm trong số 10 nước trên thế giới có chỉ số cao nhất về chiều dài bờ biển so với diện tích lãnh thổ. Ở nước ta, tính bình quân cứ 100 km2 đất liền nước ta có 1 km bờ biển, cao gấp sáu lần chỉ số trung bình của thế giới, đồng thời bờ biển lại mở ra cả ba hướng Đông, Nam và Tây Nam, rất thuận lợi cho việc thông thương qua lại đại dương. Vì vậy, trước mắt cũng như lâu dài biển gắn bó mật thiết với đời sống con người và là cơ sở cho sự phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường của mọi miền đất nước.

Điều kiện thuận lợi để Việt Nam phát triển kinh tế biển:

Việt Nam là nước có tiềm năng tự nhiên to lớn, có bờ biển dài, diện tích lãnh hải thuộc chủ quyền rộng, khả năng tiếp cận dễ dàng đến các đại dương, có các nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú. Biển Đông có nguồn tài nguyên sinh vật phong phú và đa dạng, có đến hơn 160.000 loài, gần 10.000 loài thực vật và 260 loài chim sống ở biển. Trữ lượng các loài động vật ở biển ước tính khoảng 32,5 tỷ tấn, trong đó, các loài cá chiếm 86% tổng trữ lượng. Vùng biển Việt Nam có hơn 2.458 loài cá, gồm nhiều bộ, họ khác nhau, trong đó có khoảng 110 loài có giá trị kinh tế cao. Trữ lượng cá ở vùng biển nước ta khoảng 5 triệu tấn/năm, trữ lượng cá có thể đánh bắt hàng năm khoảng 2,3 triệu tấn. Các loài động vật thân mềm ở Biển Đông có hơn 1.800 loài, trong đó có nhiều loài là thực phẩm được ưa thích, như: mực, hải sâm. Ngoài động vật, biển còn cung cấp cho con người nhiều loại rong biển có giá trị. Đây là nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng và là nguồn dược liệu phong phú. Biển nước ta có khoảng 638 loài rong biển. Các loại rong biển dễ gây trồng, ít bị mất mùa và cho năng suất thu hoạch cao nên sẽ là nguồn thực phẩm quan trọng của loài người trong tương lai. Không những vậy, biển Việt Nam còn có nguồn tài nguyên dầu khí lớn, có tầm chiến lược quan trọng. Đến nay, chúng ta đã xác định được tổng tiềm năng dầu khí tại bể trầm tích: Sông Hồng, Phú Khánh, Nam Côn Sơn, Cửu Long, Malay – Thổ Chu, Tư Chính – Vũng Mây. Trữ lượng dầu khí dự báo của toàn thềm lục địa Việt Nam khoảng 10 tỷ tấn quy dầu. Ngoài dầu, Việt Nam còn có khí đốt với trữ lượng khai thác khoảng 3.000 tỷ m3/năm. Trữ lượng đã được xác minh là gần 550 triệu tấn dầu và trên 610 tỷ m3 khí. Trữ lượng khí đã được thẩm lượng, đang được khai thác và sẵn sàng để phát triển trong thời gian tới vào khoảng 400 tỷ m3. Ngoài ra, vùng biển nước ta nằm gọn trong phần phía Tây của vành đai quặng thiếc Thái Bình Dương, có trữ lượng thiếc lớn, và tiềm năng to lớn về quặng sa khoáng của các nguyên tố hiếm, có triển vọng băng cháy lớn.

Bờ biển Việt Nam có vị trí địa – kinh tế và địa – chiến lược đặc biệt quan trọng. Việt Nam có đường bờ biển chạy theo hướng Bắc – Nam dọc theo chiều dài đất nước, lại nằm kề trên các tuyến đường biển quốc tế quan trọng của thế giới, có những vụng sâu kín gió là điều kiện thuận lợi để phát triển giao thông vận tải biển và mở rộng giao lưu với bên ngoài. Biển Đông được coi là con đường chiến lược về giao lưu và thương mại quốc tế giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, ở cả bốn phía đều có đường thông ra Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương qua các eo biển. Từ các hải cảng ven biển của Việt Nam thông qua eo biển Malacca để đi đến Ấn Độ Dương, Trung Đông, châu Âu, châu Phi; qua eo biển Basi có thể đi vào Thái Bình Dương đến các cảng của Nhật Bản, Nga, Nam Mỹ và Bắc Mỹ; qua các eo biển giữa Philippines, Indonesia, Singapore đến Australia và New Zealand… Hầu hết các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương đều có các hoạt động thương mại hàng hải rất mạnh trên Biển Đông. Trong tổng số 10 tuyến đường biển lớn nhất trên thế giới hiện nay, có 5 tuyến đi qua Biển Đông hoặc có liên quan đến Biển Đông. Hàng năm, qua biển Đông vận chuyển khoảng 70% lượng dầu mỏ nhập khẩu từ Trung Đông và Đông Nam Á, khoảng 45% hàng xuất của Nhật Bản và 60% hàng xuất nhập khẩu của Trung Quốc. Vùng biển Việt Nam án ngữ trên con đường này.

Việt Nam có nhiều bãi biển đẹp, có tiềm năng phát triển về du lịch biển. Bờ biển dài có nhiều bãi cát, vịnh, hang động tự nhiên đẹp là tiềm năng về du lịch lớn của nước ta. Do đặc điểm kiến tạo khu vực, các dãy núi đá vôi vươn ra sát bờ biển tạo nhiều cảnh quan thiên nhiên sơn thủy rất đa dạng, nhiều vụng, vịnh, bãi cát trắng, hang động, các bán đảo và các đảo lớn nhỏ liên kết với nhau thành một quần thể du lịch hiếm có trên thế giới như di sản thiên nhiên Hạ Long được UNESCO xếp hạng. Hệ thống gần 82 hòn đảo ven bờ có diện tích trên 01 km2, trong đó 24 đảo có diện tích trên 10 km2 (10 – 320 km2), cách bờ không xa là những hệ sinh thái đảo hấp dẫn. Ở đây không khí trong lành, nước biển trong và sạch, bãi cát trắng mịn. Các thắng cảnh trên đất liền nổi tiếng như Phong Nha, Bích Động, Non Nước… Các di tích lịch sử và văn hoá như Cố đô Huế, phố cổ Hội An, Tháp Chàm, nhà thờ đá Phát Diệm,… phân bố ngay ở vùng ven biển. Các trung tâm kinh tế thương mại, các thành phố du lịch nằm ven biển hoặc cách bờ biển không xa như Hạ Long, Hải Phòng, Vinh, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Vũng Tàu, Hà Tiên, Hà Nội, Sài Gòn,… Hệ thống đường bộ, đường xe lửa xuyên Việt và liên vận quốc tế chất lượng cao được xây dựng dọc bờ biển.

Hiện trạng kinh tế biển Việt Nam

Kinh tế biển Việt Nam những năm đổi mới vừa qua đã tăng trưởng đáng kể về qui mô và thay đổi rõ rệt về ngành nghề, đóng góp quan trọng cho tăng trưởng GDP. Tuy nhiên nếu so sánh với một số nước có biển trong khu vực thì giá trị hoạt động của kinh tế biển Việt Nam chỉ bằng 24% của Trung Quốc, 14% của Hàn Quốc và 1% của Nhật Bản.

Hiện nay, Việt Nam đã mở cửa hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Nhưng, đánh giá một cách thực chất, trong một thời gian dài, Việt Nam mới chỉ chú trọng việc mở hàng loạt cửa khẩu và phát triển khu kinh tế cửa khẩu trên biên giới đất liền mà ít mở ra biển, qua các cảng biển. Gần đây, mấy chục tỉnh sát biển đua nhau làm cảng biển, đã xây dựng gần một trăm cảng biển. Việt Nam cũng đã hình thành bốn vùng kinh tế trọng điểm và hàng chục khu kinh tế dọc theo bờ biển. Tất cả đều hướng ra biển và có tiềm năng to lớn từ kinh tế biển. Nhưng việc tận dụng lợi thế và khai thác tiềm năng to lớn này còn xa mới đạt hiệu quả mong muốn.

Công tác tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí của nước ta cũng ngày càng được đẩy mạnh và đạt được những thành quả nhất định; quy mô và phạm vi cũng được mở rộng từ vùng nước nông, ra các vùng nước sâu, xa bờ và một số điểm thuộc vùng biển Quốc tế. Khối lượng công tác thăm dò, khai thác dầu khí đã thực hiện trên toàn bộ vùng biển và thềm lục địa Việt Nam là khá lớn. Khảo sát điều tra cơ bản toàn bộ 160 lô, đo địa chấn 2D trên 158 nghìn km, đo địa chấn 3D là 50 nghìn km2. Nhiều bể trầm tích có triển vọng khai thác dầu và khí tự nhiên trên vùng biển và thềm lục địa nước ta; Đã phát hiện thêm nhiều lô dầu khí mới, xác định thu hồi 1,37 tỷ tấn quy dầu và tiềm năng khí các bể còn lại khoảng 2,6 – 3,6 tỷ tấn quy dầu. Kết quả công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí đã xác định được các bể/cụm bể trầm tích có triển vọng dầu khí: Sông Hồng, Phú Khánh, Hoàng Sa, Cửu Long, Nam Côn Sơn, Trường Sa – Tư Chính – Vũng Mây, Malay – Thổ Chu và Phú Quốc, trong đó các bể: Sông Hồng, Cửu Long, Nam Côn Sơn và Malay – Thổ Chu đã phát hiện và đang khai thác dầu khí. Tổng sản lượng khai thác dầu thô trên thềm lục địa Việt Nam đạt 130,27 triệu tấn, khoảng 63,52 tỷ m3 khí tự nhiên và tổng sản lượng dầu thô xuất khẩu đạt 102,25 triệu tấn; bình quân mỗi năm trên thềm lục địa nước ta có thể khai thác được 16 triệu tấn dầu thô/năm, khoảng 7,9 tỷ m3/năm khí tự nhiên.

Trong những năm gần đây do thị trường tiêu thụ titan và các khoáng sản đi kèm trên thế giới biến động mạnh theo chiều hướng gia tăng về giá cả; ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình khai thác sa khoáng titan ở nước ta. Hoạt động khai thác quặng titan tập trung nhiều ở một số địa phương như Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định. Đến nay, riêng ở các tỉnh Miền Trung có trên 50 đơn vị tổ chức khai thác, ở 38 khu mỏ và có 18 xưởng tuyển tinh quặng và đã được khai thác gần 8 triệu tấn quặng titan. Việc quản lý hoạt động khoáng sản được thực hiện thông qua các giấy phép khai thác do 2 cấp quản lý cấp cho các doanh nghiệp trong đó Bộ Công nghiệp (trước năm 2002) hoặc Bộ Tài nguyên & Môi trường (sau năm 2002) cấp giấy phép khai thác cho các mỏ lớn còn ở nông nghiệp (trước năm 2002) hoặc  ở Tài nguyên & Môi trường (sau năm 2002) cấp giấy phép khai thác cho khai thác tận thu khoáng sản.

Cả nước có 21 tỉnh sản xuất muối, trải dài từ Hải Phòng đến Cà Mau. Tổng diện tích sản xuất muối toàn quốc có 14.528,2 ha. Các tỉnh có diện tích sản xuất muối nhiều như tỉnh Bạc Liêu (2.774 ha), Ninh Thuận (2.380 ha), Bến Tre (1.431 ha), TP. Hồ Chí Minh (1.532,2 ha), Quảng Nam (35 ha), Thái Bình (60,51 ha). Diện tích sản xuất muối công nghiệp năm tập trung ở 3 tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa.

Trong những năm qua, các Bộ, ngành Trung ương và địa phương đã tích cực chỉ đạo đẩy mạnh tổ chức sản xuất khai thác hải sản, trong đó tập trung vào tổ chức lại sản xuất, hiện đại hóa tàu cá, đẩy mạnh đánh bắt xa bờ, đổi mới và tăng cường năng lực khai thác thân thiện với môi trường, ứng phó với BĐKH và hướng tới phát triển bền vững. Đồng thời đẩy mạnh đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật nghề cá trên các vùng biển, các tuyến đảo xa, đảo tiền tiêu và đảo trọng yếu quốc gia như Hoàng Sa, Trường Sa, Bạch Long Vĩ, Lý Sơn, Cồn Cỏ, Phú Quốc, Phú Quý; Nâng cao năng lực đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, đẩy mạnh áp dụng khoa học công nghệ trong khai thác hải sản. Trong giai đoạn từ năm 2007-2012, khai thác hải sản trên biển có những tăng trưởng đáng ghi nhận, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân về số lượng tàu thuyền tăng 4,3%/năm, công suất tàu thuyền tăng 3,6%/năm, sản lượng tăng 5,2%/năm và giá trị khai thác tăng 5,9%/năm.

Theo số liệu điều tra ban đầu của chính phủ, Việt Nam có khoảng 17.400 ha được đánh giá là thích hợp cho các dự án, công trình phát triển năng lượng gió. Thời gian qua, tại các tỉnh Bình Định, Ninh Thuận và Bình Thuận đã và đang đi tiên phong trong triển khai một số dự án phong điện, tiềm năng phát triển ở khu vực này khoảng hơn 8 nghìn MW. Phát triển điện gió với đặc thù là phân tán, nhỏ lẻ, cục bộ, hiện đang được các doanh nghiệp trong và ngoài nước nghiên cứu đầu tư, song việc triển khai còn gặp rất nhiều khó khăn: Chưa có chính sách và các quy định, trợ giá trong việc mua điện từ nguồn năng lượng gió; Thiếu kiến thức và năng lực kỹ thuật để thực hiện một công trình điện gió hoàn chỉnh, cũng như các kỹ thuật cơ bản và dịch vụ đi kèm sau lắp đặt; Các Công ty Điện lực địa phương chưa sẵn sàng vào cuộc, việc xây dựng hạ tầng đáp ứng cho các dự án phong điện sẽ mất thời gian khá lâu.

Hiện tại, hoạt động du lịch biển Việt Nam thu hút tới 80% lượng khách du lịch và khoảng 70% tổng số các điểm du lịch của toàn quốc. Với bờ điển dài trên 3.260 km, có nhiều bãi tắm đẹp và nhiều hang, vịnh kỳ thú như ở Móng Cái, Vân Đồn, Vịnh Hạ Long, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Cửa Lò, Cửa Tùng, Vân Phong, Vũng Tàu…cùng có nhiều di sản văn hoá vật thể và phi vật thể, di sản thiên nhiên thế giới được UNESCO công nhận là Vịnh Hạ Long, Cố đô Huế, Nhã nhạc cung đình Huế, đô thị cổ Hội An, khu đền tháp Mỹ Sơn và hang động Phong Nha – Kẻ Bàng. Những công trình kiến trúc, di tích lịch sử này, ngoài những giá trị khoa học, văn hóa truyền thống còn là những tiềm năng thu lợi lớn, nếu được đầu tư trùng tu tôn tạo kết hợp với ngành du lịch để khai thác. Trong vùng có nhiều bãi biển như Sầm Sơn, Cửa Lò, Thiên Cầm, Đá Nhảy, Cửa Tùng, Lăng Cô, Thuận An, Non Nước, Mỹ Khê, Nha Trang, Ninh Chữ, Mũi Né…, nhiều danh lam thắng cảnh như đèo Ngang, đèo Hải Vân, bán đảo Sơn Trà…, nhiều di tích lịch sử gắn liền với bề dày dựng nước và giữ nước như thành Huế, thành cổ Quảng Trị, Cửa Việt, Vĩnh Mốc, cảng Đà Nẵng, di tích Sơn Mỹ, Vạn Tường, Chu Lai,… Đó là những tiềm năng du lịch biển gắn với du lịch núi và du lịch văn hoá, du lịch nghỉ dưỡng,… tạo cho ven biển Việt Nam trở thành một vùng du lịch độc đáo, hấp dẫn khách du lịch và đưa ngành du lịch đang dần trở thành một ngành mũi nhọn, có ý nghĩa với cả nước.

Về chiến lược phát triển kinh tế biển của Việt Nam

Mặc dù đến nay, Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng trong việc thiết kế và thực thi chiến lược kinh tế biển, song, về nguyên tắc, vẫn chưa định hình một tư duy phát triển mới, tổng thể về kinh tế biển. Để định hình tư duy mới này, có hai điểm cần lưu ý. (1) Kinh nghiệm phát triển trên đất liền và theo tư duy “đất liền” nhiều năm của Việt Nam, cộng với thực tiễn phát triển kinh tế biển của nhiều nước đi trước cho thấy việc định hình chiến lược kinh tế biển cần được thực hiện đồng thời và tổng thể ở ba phương diện: Khai thác vùng không gian biển (mặt biển, dưới biển và bầu trời trên biển); Khai thác vùng bờ biển (vùng duyên hải với các cảng biển, bãi biển, thành phố biển, khu kinh tế ven biển); Phát triển các lĩnh vực “hậu cần” cho kinh tế biển và các khu vực kết nối (các ngành phục vụ phát triển kinh tế biển, phát triển khoa học – công nghệ biển, nguồn nhân lực cho kinh tế biển, kết nối tuyến du lịch đất liền…). (2) Cùng với cách tiếp cận chuỗi, cần chú ý nguyên tắc tập trung phát huy lợi thế trong phát triển. Với nguồn lực có hạn, trong bối cảnh quốc tế hiện nay, việc lựa chọn mục tiêu trọng tâm trong chiến lược biển để ưu tiên thực hiện là một yêu cần bắt buộc đối với Việt Nam. Bắt buộc vì nó xuất phát từ sự hạn chế của các nguồn lực, buộc phải tập trung nguồn lực cho một số mục tiêu hạn chế nhằm tạo sự đột phá mạnh và sức lan tỏa rộng. Bắt buộc vì nó đáp ứng những yêu cầu mang tính sống còn trong cuộc cạnh tranh quốc tế cũng như những tranh chấp lãnh hải, đặc biệt là ở vùng Biển Đông, đang trở nên ngày càng gay gắt hiện nay.

Để phát triển kinh tế biển, Việt Nam cần triển khai các biện pháp: (1) Lực lượng hàng hải viễn dương, đặt mục tiêu và lộ trình vươn lên thành một cường quốc hàng hải một cách khẩn trương, hiện thực khả thi; xác lập và tăng cường các tuyến bay qua các hành lang biển; củng cố và phát triển các đảo thuộc chủ quyền ở tất cả các khía cạnh khẳng định chủ quyền – không chỉ quân sự mà tập trung mạnh cho các khía cạnh chủ quyền dân sự: dân cư, kinh tế, văn hóa. (2) Phát triển nhanh, mạnh du lịch biển đảo với tư cách là một hình thức hiện diện chủ quyền được thừa nhận quốc tế. (3) Hình thành một số dự án nghiên cứu, khai thác kinh tế biển, nhất là các dự án ở vùng biển xa, có tầm cỡ, chú trọng liên doanh với nước ngoài (các tập đoàn lớn) với những điều kiện thỏa đáng và đặt trong tầm nhìn chiến lược. (4) Ưu tiên xây dựng một số cứ điểm phát triển chiến lược mạnh ven biển. Những cứ điểm này là các tổ hợp phát triển lớn bao gồm: đô thị biển + cảng biển lớn + khu kinh tế mở (hay khu kinh tế tự do). (5) Xây dựng sớm chiến lược đối phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, coi đây là một điều kiện cơ bản để xây dựng chiến lược tổng thể. Đặc biệt có các tiếp cận nhà nước mới đến sự sinh tồn và phát triển của dân cư các vùng duyên hải, bỏ lối tiếp cận đối phó thiên tai thụ động, dựa vào lòng từ thiện để thể hiện sự quan tâm quốc gia mà có chiến lược chủ động tạo nền tảng để đối phó và phát triển hiệu quả trong điều kiện thiên tai.

Xu hướng phát triển kinh tế biển Việt Nam

Đến năm 2030, Việt Nam sẽ phát triển thành công, đột phá về các ngành kinh tế biển theo thứ tự ưu tiên: (1) Du lịch và dịch vụ biển; (2) Kinh tế hàng hải; (3) Khai thác dầu khí và các tài nguyên khoáng sản biển khác; (4) Nuôi trồng và khai thác hải sản; (5) Công nghiệp ven biển; (6) Năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới. Cụ thể:

Du lịch và dịch vụ biển: Chú trọng đầu tư hạ tầng du lịch; khuyến khích, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế tham gia phát triển du lịch sinh thái, thám hiểm khoa học, du lịch cộng đồng, các khu du lịch nghỉ dưỡng biển chất lượng cao tại các vùng ven biển; xây dựng, phát triển, đa dạng hoá các sản phẩm, chuỗi sản phẩm, thương hiệu du lịch biển đẳng cấp quốc tế trên cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học, phát huy giá trị di sản thiên nhiên, văn hoá, lịch sử đặc sắc của các vùng, miền, kết nối với các tuyến du lịch quốc tế để Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của thế giới. Nghiên cứu thí điểm phát triển du lịch ra các đảo, vùng biển xa bờ. Tăng cường năng lực tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn; đẩy mạnh các hoạt động thám hiểm khoa học; chú trọng công tác giáo dục, y tế biển… Hỗ trợ, tạo điều kiện để người dân ven biển chuyển đổi nghề từ các hoạt động có nguy cơ xâm hại, tác động tiêu cực đến biển sang bảo vệ, bảo tồn, tạo sinh kế bền vững, việc làm mới ổn định, nâng cao thu nhập cho người dân.

Kinh tế hàng hải: Trọng tâm là khai thác có hiệu quả các cảng biển và dịch vụ vận tải biển. Quy hoạch, xây dựng, tổ chức khai thác đồng bộ, có hiệu quả các cảng biển tổng hợp, cảng trung chuyển quốc tế, cảng chuyên dùng gắn với các dịch vụ hỗ trợ; xây dựng hoàn thiện hạ tầng logistics và các tuyến đường giao thông, kết nối liên thông các cảng biển với các vùng, miền, địa phương trong nước và quốc tế. Đẩy mạnh phát triển đội tàu vận tải biển với cơ cấu hợp lý, ứng dụng công nghệ hiện đại, nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng nhu cầu thị trường vận tải nội địa, tham gia sâu vào các chuỗi cung ứng vận tải, từng bước gia tăng, chiếm lĩnh thị phần quốc tế.

Khai thác dầu khí và các tài nguyên, khoáng sản biển khác: Nâng cao năng lực của ngành Dầu khí và các ngành tài nguyên, khoáng sản biển khác; từng bước làm chủ công tác tìm kiếm, thăm dò, khai thác, đáp ứng nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong thời kỳ mới. Đẩy mạnh công tác tìm kiếm, thăm dò, gia tăng trữ lượng dầu khí; nghiên cứu, thăm dò các bể trầm tích mới, các dạng hydrocarbon phi truyền thống; gắn việc tìm kiếm, thăm dò dầu khí với điều tra, khảo sát, đánh giá tiềm năng các tài nguyên, khoáng sản biển khác, khoáng sản biển sâu, đặc biệt là các khoáng sản có trữ lượng lớn, giá trị cao, có ý nghĩa chiến lược. Nâng cao hiệu quả khai thác các tài nguyên khoáng sản biển gắn với chế biến sâu; kết hợp hài hoà giữa khai thác, chế biến với bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học biển.

Nuôi trồng và khai thác hải sản: Chuyển từ nuôi trồng, khai thác hải sản theo phương thức truyền thống sang công nghiệp, ứng dụng công nghệ cao. Tổ chức lại hoạt động khai thác hải sản theo hướng giảm khai thác gần bờ, đẩy mạnh khai thác tại các vùng biển xa bờ và viễn dương phù hợp với từng vùng biển và khả năng phục hồi của hệ sinh thái biển đi đôi với thực hiện đồng bộ, có hiệu quả công tác đào tạo, chuyển đổi nghề cho ngư dân. Thúc đẩy các hoạt động nuôi trồng, khai thác hải sản bền vững, tăng cường bảo vệ, tái sinh nguồn lợi hải sản, nghiêm cấm các hoạt động khai thác mang tính tận diệt. Hiện đại hoá công tác quản lý nghề cá trên biển; đẩy mạnh liên kết sản xuất theo hình thức tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; xây dựng một số doanh nghiệp mạnh tham gia khai thác hải sản xa bờ và hợp tác khai thác viễn dương. Đầu tư nâng cấp các cảng cá, bến cá, khu neo đậu tàu thuyền, tổ chức tốt dịch vụ hậu cần nghề cá. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến trong nuôi trồng, khai thác, bảo quản, chế biến hải sản, tạo ra các sản phẩm chủ lực, có chất lượng, giá trị kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu của thị trường.

Công nghiệp ven biển: Phải dựa trên cơ sở quy hoạch, cân nhắc lợi thế về điều kiện tự nhiên của từng vùng, ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao thân thiện với môi trường, công nghiệp nền tảng, công nghệ nguồn. Phát triển hợp lý các ngành sửa chữa và đóng tàu, lọc hoá dầu, năng lượng, cơ khí chế tạo, công nghiệp chế biến, công nghiệp phụ trợ.

Năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới: Thúc đẩy đầu tư xây dựng, khai thác điện gió, điện mặt trời và các dạng năng lượng tái tạo khác. Phát triển ngành chế tạo thiết bị phục vụ ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, tiến tới làm chủ một số công nghệ, thiết kế, chế tạo và sản xuất thiết bị; ưu tiên đầu tư phát triển năng lượng tái tạo trên các đảo phục vụ sản xuất, sinh hoạt, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Quan tâm phát triển một số ngành kinh tế dựa vào khai thác tài nguyên đa dạng sinh học biển như dược liệu biển, nuôi trồng và chế biến rong, tảo, cỏ biển…

Việt Nam cần phát triển đồng bộ, từng bước hình thành khu kinh tế, khu công nghiệp, khu đô thị sinh thái ven biển. Tập trung xây dựng và nhân rộng các mô hình khu kinh tế, khu công nghiệp sinh thái ven biển gắn với hình thành và phát triển các trung tâm kinh tế biển mạnh. Khu kinh tế ven biển phải đóng vai trò chủ đạo trong phát triển vùng và gắn kết liên vùng. Đổi mới tư duy trong xây dựng và thực hiện các quy hoạch, kế hoạch phát triển hệ thống đô thị ven biển có cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đồng bộ, hiện đại theo mô hình, tiêu chí tăng trưởng xanh, đô thị thông minh. Đẩy nhanh xây dựng hoàn thiện kết cấu hạ tầng các khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển theo hướng tiếp cận mô hình khu kinh tế, khu công nghiệp sinh thái, có sức hấp dẫn các nhà đầu tư, thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; giải quyết tốt vấn đề môi trường, xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân.

Phát triển các vùng biển dựa trên lợi thế về điều kiện tự nhiên, hài hoà giữa bảo tồn và phát triển. Quy hoạch không gian biển theo các vùng bảo vệ – bảo tồn, vùng đệm và vùng phát triển kinh tế – xã hội để phát triển bền vững kinh tế biển trên cơ sở phát huy tối đa lợi thế so sánh về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, bản sắc văn hoá, tính đa dạng của hệ sinh thái, bảo đảm tính liên kết vùng, giữa địa phương có biển và không có biển. (1) Vùng biển và ven biển phía Bắc (Quảng Ninh – Ninh Bình): Tiếp tục xây dựng khu vực Hải Phòng – Quảng Ninh trở thành trung tâm kinh tế biển; là cửa ngõ, động lực phát triển vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ gắn với cảng quốc tế Lạch Huyện; phát triển Quảng Ninh trở thành trung tâm du lịch quốc gia kết nối với các trung tâm du lịch quốc tế lớn của khu vực và thế giới. (2) Vùng biển và ven biển Bắc Trung Bộ, Duyên hải Trung Bộ (Thanh Hoá – Bình Thuận): Phát triển các cảng biển nước sâu trung chuyển quốc tế, cảng biển chuyên dụng gắn với các khu liên hợp công nghiệp, dầu khí, điện, năng lượng tái tạo, công nghiệp sạch; phát triển các trung tâm du lịch lớn; nuôi trồng, khai thác, chế biến hải sản, dịch vụ hậu cần và hạ tầng nghề cá. (3) Vùng biển và ven biển Đông Nam Bộ (Bà Rịa – Vũng Tàu – Thành phố Hồ Chí Minh): Phát triển cảng biển container quốc tế, dịch vụ hậu cần cảng biển, dịch vụ bảo đảm an toàn hàng hải, công nghiệp khai thác, chế biến dầu khí, công nghiệp hỗ trợ và các dịch vụ ngành Dầu khí. (4) Vùng biển và ven biển Tây Nam Bộ (Tiền Giang – Cà Mau – Kiên Giang): Tập trung xây dựng phát triển Phú Quốc thành trung tâm dịch vụ, du lịch sinh thái biển mạnh mang tầm quốc tế; phát triển công nghiệp khí, chế biến khí, điện khí, năng lượng tái tạo, nuôi trồng, khai thác hải sản, dịch vụ hậu cần, hạ tầng nghề cá; kết nối với các trung tâm kinh tế lớn trong khu vực và thế giới.

Bảo vệ môi trường, bảo tồn, phát triển bền vững đa dạng sinh học biển; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng và phòng, chống thiên tai. Mở rộng diện tích, thành lập mới các khu vực bảo tồn biển trên cơ sở quy hoạch không gian biển quốc gia; chú trọng bảo tồn đa dạng sinh học, phục hồi các hệ sinh thái, đặc biệt là các rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển; bảo đảm tính toàn vẹn và mối quan hệ tự nhiên giữa các hệ sinh thái đất liền và biển.

Xây dựng các tiêu chí, yêu cầu kỹ thuật nghiêm ngặt theo chuẩn quốc tế về môi trường đối với các dự án đầu tư có nguy cơ ô nhiễm môi trường cao khu vực ven biển, bảo đảm phòng ngừa, ngăn chặn không để xảy ra các sự cố gây ô nhiễm môi trường, giảm thiểu và xử lý hiệu quả các nguồn gây ô nhiễm. Đầu tư xây dựng, củng cố lực lượng, trang thiết bị giám sát, cảnh báo tự động về chất lượng môi trường, ứng phó với sự cố môi trường, hoá chất độc hại trên biển; quản lý rác thải biển, nhất là rác thải nhựa; cải thiện, nâng cao chất lượng môi trường biển.

Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo, chủ động phòng, tránh và giảm nhẹ thiệt hại thiên tai, động đất, sóng thần, thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng trên cơ sở ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến, đặc biệt là áp dụng các mô hình thông minh có khả năng thích ứng, chống chịu với thiên tai và tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu. Đẩy mạnh các biện pháp phòng, chống biển xâm thực, xói lở bờ biển, ngập lụt, xâm nhập mặn…

Nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng văn hoá biển, xã hội gắn bó, thân thiện với biển. Nâng cao đời sống, bảo đảm an ninh, an toàn cho dân cư vùng ven biển, trên đảo và những người lao động trên biển. Chú trọng phát triển các thiết chế văn hoá cho cộng đồng dân cư biển và ven biển; phát huy bản sắc, giá trị lịch sử và văn hoá dân tộc, tri thức tốt đẹp trong ứng xử với biển, coi đây là nền tảng quan trọng để xây dựng văn hoá biển. Bảo tồn không gian văn hoá, kiến trúc và di sản thiên nhiên. Nâng cao nhận thức về biển và đại dương, xây dựng xã hội, ý thức, lối sống, hành vi văn hoá gắn bó, thân thiện với biển. Phát huy tinh thần tương thân tương ái của cộng đồng dân cư vùng biển, ven biển. Bảo đảm quyền tiếp cận, tham gia, hưởng lợi và trách nhiệm của người dân đối với biển một cách công bằng, bình đẳng.

Advertisements
Categories: Biển Đông | Leave a comment

Nghìn năm hắc ám

Nghìn năm hắc ám

FB Nguyễn Tiến Tường

20-12-2018

Cuối cùng thì “vật thể lạ” tại bờ biển Phú Yên cũng được thông tin trên báo chí đích xác là ngư lôi của TQ. Vị trí ngư dân trục vớt cách bờ biển chỉ 4 hải lý, tức là rất sâu trong lãnh hải (12 hải lý từ đường cơ sở) của Việt Nam. Theo các chuyên gia quân sự, phạm vi hoạt động của ngư lôi chỉ tầm 40-50 km, tức là “vật chủ” phóng ngư lôi nằm đâu đó rất sâu trong vùng tiếp giáp lãnh hải Việt Nam. Chúng ta đã không phát hiện được cả vật chủ lẫn ngư lôi.

Điều đó có nghĩa là một phép thử khác của người Trung Quốc đã phát huy tác dụng. Tại vì theo các chuyên gia, đây là một ngư lôi tập bắn. Kể cả tập bắn ngư lôi, họ vẫn hướng cái đầu đạn ấy về phía chúng ta, và chọn vị trí phên dậu của chúng ta. Nên nhớ, trước đó ngư dân Quảng Bình cũng vớt được một “vật thể lạ” khác được cho là thiết bị thăm dò.

Bài test về công nghệ quốc phòng cho chúng ta đã rõ. Người TQ đương nhiên không chỉ giản đơn như vậy. Họ đương nhiên luôn đính kèm một tệp thăm dò khác: Thái độ của Việt Nam! Thái độ đó có vẻ khá chậm chạp và bị động. Cho đến nay, sau rất nhiều hiện tượng, người phát ngôn bộ ngoại giao vẫn chưa thấy nói gì.

Bài test ấy, còn là thái độ giữa chúng ta với nhau, giữa nhà cầm quyền với nhân dân, thông qua các phương tiện truyền thông. Chúng ta vẫn cứ một sự bạc nhược cũ “tàu lạ”, “vật thể lạ”. Tờ Tuổi Trẻ, từ đầu có một động tác thông minh để “lách” kiềm tỏa đưa thông điệp “vật thể lạ có chữ Trung Quốc”.

Không ngẫu nhiên mà người TQ ngang nhiên mặc áo lưỡi bò ngang dọc nước Việt, sinh hoạt luông tuồng phách lối trên nước Việt, phô trương vũ khí trên vùng chủ quyền nước Việt. Tâm thế của kẻ mạnh vô luân luôn là thị uy và gây hấn.

Nếu cứ nhún nhường hoặc im lặng, những hiện tượng khác sẽ đến với mật độ dày hơn và biên độ cao hơn. Họ cũng sẽ test được sự thống nhất nội tại giữa nhân dân và nhà cầm quyền. Khi nhân dân chỉ mặt đặt tên TQ, nhà cầm quyền vẫn gọi “nước lạ”, thì sự xung đột thái độ này cũng mang đến cái lợi cho họ. Nhiều năm qua, chỉ một sự kiện giàn khoan Hải Dương là chúng ta có sự thống nhất cao từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài.

Vấn đề TQ là một vấn đề hệ trọng mà đương nhiên nhà cầm quyền buộc phải uyển chuyển. Nhưng có lẽ, chỉ mặt đặt tên TQ một cách trực diện là cần thiết và không có gì quá mạo hiểm. Xuyên suốt một lịch sử song hành, những hào kiệt, những hưng triều có một mẫu số chung là thái độ rắn rỏi cho người phương Bắc.

Người TQ vẫn luôn chọn một tâm thế cương cường, kể cả trong thời đại mở. Và họ luôn gọi tên VN trong những toan tính hắc ám của mình. Kinh tế lệ thuộc, công nghiệp lạc hậu, gây hấn biên giới. Con ốc bươu vàng phá hoại mùa màng đến từ TQ, trước đây chúng ta nuôi cảnh. Thuốc chuột 3 đời cũng đến từ TQ.

Tân Tử Lăng, trong cuốn “Mao Trạch Đông, nghìn năm công tội” vạch tội trạng của Mao, không quên bịa tạc, vu vạ chi tiết VN mượn TQ đảo Bạch Long Vỹ!

TQ nghìn năm hắc ám, hôm nay là ngư lôi, ngày mai có thể là chiến hạm. Mỗi động thái nhỏ, họ đều hướng đến Việt Nam. Còn chúng ta, chúng ta gọi họ là “vật thể lạ”, “tàu lạ”, “nước lạ” cho đến bao giờ?

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Lạ gì mà lạ!

Lạ gì mà lạ!

FB Mạnh Kim

20-12-2018

Việc Trung Quốc rải mìn và cài ngư lôi khắp biển Đông đã diễn ra từ nhiều năm nay. Trong ấn bản Naval War College Review (Spring 2012, Vol. 65, No. 2), chuyên gia quân sự Mỹ Scott C. Truver đã cảnh báo điều này.

Truver đã nhắc lại trong một phiên điều trần trước Ủy ban xem xét an ninh-kinh tế Mỹ-Trung, rằng: “Gần đây chúng tôi đã hoàn tất cuộc nghiên cứu sau khi đọc hơn 1.000 bài viết bằng tiếng Hoa trong hai năm liên quan hải chiến thủy lôi. Ba điều quan trọng nhất mà chúng tôi rút ra là: 1/ Trung Quốc có một kho thủy lôi khổng lồ…; 2/ Trung Quốc sẽ dựa chủ yếu vào mìn sát thương, đối với bất kỳ tình huống nào liên quan “bối cảnh Đài Loan”; 3/ Nếu Trung Quốc có khả năng sử dụng mìn (và chúng tôi nghĩ họ hoàn toàn có thể), điều đó sẽ gây cản trở nghiêm trọng đối với các chiến dịch (của Mỹ)…”.

Phòng tình báo hải quân Hoa Kỳ cũng đưa ra một số chi tiết cụ thể. Hải quân Trung Quốc có 40 tàu rải mìn. Tàu ngầm lớp Tống và lớp Nguyên chạy bằng diesel-điện cùng tàu ngầm lớp Thương chạy hạt nhân được thiết kế có thể mang theo tên lửa hành trình YJ-82 lẫn khả năng rải mìn. Trực thăng Z-8 (sản xuất theo mẫu bản quyền chiếc SA-321 Super Frelon của Pháp) ngoài việc vận chuyển quân binh còn có thể phục vụ công tác rải mìn. Chỉ riêng chiếc Wolei 3.100 tấn đã có thể – theo tình báo hải quân Mỹ – mang theo 300 quả mìn. Khoảng 150 máy bay tuần tra lẫn oanh tạc cơ cũng có thể rải mìn. Cụ thể, chiếc hải phi cơ Harbin SH-5 có thể mang theo sáu thủy lôi loại tương tự phiên bản ADM-500 của Nga. Bốn chiếc khu trục hạm lớp Sovremenny có thể rải 40 quả thủy lôi và 10 chiếc lớp Luda có thể chở theo 38 quả mìn. 25 chiếc khinh hạm lớp Jianghu I/V và ba chiếc lớp Jianghu (III và IV) có thể chứa 60 quả…

15 năm qua, Hải quân Trung Quốc đã đi từ việc sở hữu kho mìn gỉ sét từ thời trước Thế chiến thứ hai đến việc có thể sản xuất những loại mìn hiện đại trong đó có mìn neo, mìn đáy, mìn trôi, mìn bắn bằng hỏa tiễn, mìn thông minh (cài bộ vi xử lý để tăng khả năng dò tìm mục tiêu, cùng bộ cảm ứng tích hợp giúp chống máy rà). Loại mìn điều khiển từ xa của Trung Quốc, chẳng hạn EM-53, có thể được tắt bằng mã âm (acoustic code) trong điều kiện bình thường và được kích hoạt trong tình huống chiến đấu.

Có thể Trung Quốc hiện cũng sở hữu mìn di động phóng-cài từ tàu ngầm (SLMM). Tương tự loại Mark 67 của Mỹ, SLMM Trung Quốc được tin là một phiên bản khác của ngư lôi loại Yu. SLMM Trung Quốc có thể di chuyển với lộ trình và thời gian định sẵn. Khi đến địa điểm ấn định, nó sẽ tự tắt động cơ và bất động phục kích chờ… mồi.

Cần biết, loại thủy lôi như EM-53 hoặc EM-52 với đầu đạn 140kg, nằm giấu mình ở độ sâu ít nhất 200m, có thể đạt vận tốc 80m/giây. Điều đó có nghĩa nó chỉ cần vỏn vẹn ba giây để phóng lên và làm nổ tung mục tiêu. Có thể nói Trung Quốc đầu tư rất kỹ vào hải chiến thủy lôi. Họ có hẳn một trường chuyên về thủy chiến mìn tại Đại Liên, chưa kể Viện nghiên cứu thủy lôi tại Nghi Xương (Hồ Bắc). Ngoài ra, còn có các bãi thử thủy lôi tại Hồ Lô Đảo (Liêu Ninh), Lữ Thuận Khẩu (Đại Liên, Liêu Ninh), đảo Chu Sơn (Chiết Giang), Trường Đảo (Sơn Đông)…

Có thể nói việc Trung Quốc rải mìn khắp biển Đông không phải là chuyện lạ. Điều đáng “lạ” ở đây là những thông tin như vậy chỉ có thể tìm thấy ở báo chí và chuyên san quân sự nước ngoài. Tờ Quân Đội Nhân Dân suốt ngày ra rả “nguy cơ suy thoái” lẫn “cảnh giác” và “đề phòng” “bọn phản động”, trong khi bọn ngoại bang đánh cướp chủ quyền biển đảo thì tịt mồm thin thít.

Cho đến nay, gần như tất cả thông tin về tình hình lấn chiếm biển Đông cũng như các chiến lược quân sự hóa biển Đông của Trung Quốc vẫn chỉ được biết từ báo chí nước ngoài chứ không phải trong nước. Báo chí trong nước, cùng lắm, là lược dịch đăng lại, chứ chẳng bao giờ có bài viết độc lập nào của riêng mình. Dĩ nhiên lỗi không phải của báo chí. Nếu (báo chí) được phép, tôi tin không ít tờ báo trong nước sẵn sàng đưa phóng viên ra biển Đông để tường thuật chính xác những gì đang xảy ra.

Điều “lạ” ở đây là tại sao cái sự hèn nó kéo dài đến vậy, bất luận duyên hải quốc gia bị đe dọa ngày càng nghiêm trọng và ngày càng rõ rệt như thế nào. Điều “lạ”, chưa tìm được lời giải thích, là cái sự khiếp nhược này nó được “ra lệnh” bởi ai?

Tôi vẫn còn chưa quên hồi năm 2012, khi đặt mua một lô sách về Trung Quốc từ Amazon, tôi đã bị cơ quan kiểm duyệt tịch thu toàn bộ. Hèn lắm. Hèn “ngoại hạng”. Hèn lâu đến mức nó thành “quán tính hèn” mất rồi!

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Trung Quốc Thu Tóm Biển Đông

Trung Quốc Thu Tóm Biển Đông

Project Syndicate

Tác giả: Brahma Chellaney

Dịch giả: Đỗ Kim Thêm

14-12-2018

Lời người dịch: Trung Quốc đã biến Biển Đông thành ao nhà khi họ tuyên bố 1.3 triệu dặm vuông ở Biển Đông là thuộc chủ quyền Trung Quốc, một yêu sách ngụy tạo. Trung Quốc đã cắm cờ, cải tạo đất, xây tiền đồn ở các đảo, các bãi cạn và sẽ còn tiếp tục bành trướng khu vực, nơi không còn là “Á Châu-Thái Bình Dương”, mà nay trở thành “Ấn Độ-Thái Bình Dương”, một chiến lược mới song hành với Sáng kiến Vành đai và Con đường.

Sự ổn định của khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương, kể cả bờ biển phía Tây châu Phi và Nam Phi sẽ do Trung Quốc khống chế. Kết quả này là do một đối sách mềm yếu của Mỹ dưới thời Obama, thiếu tinh thần đoàn kết của khối ASEAN và nô lệ tự nguyện của Việt Nam, đặc biệt nhất là Philipinnes đã không tận dụng ưu thế pháp lý của phe thắng cuộc trong tranh chấp.

Hoa kỳ không có tranh chấp lãnh thổ trong khu vực Biển Đông, nhưng phải đối phó vấn đề quyền tự do hải hành cho việc thương mại toàn cầu, một lợi ích quan trọng về chiến lược. Trong bối cảnh của cuộc chiến tranh thương mại với Trung Quốc còn đang tiếp diễn, nên giải pháp Biển Đông của chính quyền Donald Trump được giải quyết hoàn toàn độc lập hay có ảnh hưởng hổ tương, đó chỉ là một giả thiết.

Thực tế cho thấy là trong năm qua, Hoa Kỳ đã có đối đầu trực tiếp với Trung Quốc ở Biển Đông. Hoa Kỳ đã có 9 đợt tuần tra tự do hàng hải để thách thức các yêu sách chủ quyền của Trung Quốc. Tháng 9 vừa qua, tàu chiến của hai phe suýt va chạm nhau.

Rồi sẽ ra sao trong năm 2019? Một cuộc hải chiến của Hoa Kỳ với Trung Quốc có thể bùng nổ trên Biển Đông không? Mọi suy đoán đều thiếu cơ sở khi có quá nhiều yếu tố liên quan đầy bất trắc chung quanh: tranh chấp mới qua vụ Hoa Vi, triệt thoái khỏi Syria và Afghanistan, với tính khí bất thường cùa Donald Trump và chính sách bất toàn của Mỹ, khó ai lường đoán hồi kết cuộc.

Một giải pháp êm đẹp nhất là khi chiến tranh thương mại tạm ổn định và thiện chí hiếu hoà của hai bên có thể xác định, tình huống đe dọa trực tiếp về an ninh và tự do hàng hải quốc tế ít được quan tâm và cũng không buộc Mỹ phải phản ứng mạnh bằng quân sự. Do đó, hai phe có thể ngăn chặn xung đột bùng nổ trên Biển Đông. Ngược lại, chuyện không muốn sẽ đến.

Còn Việt Nam? Học viện Ngoại giao đã tổ chức Hội thảo với chủ đề “Biển Đông trong cục diện mới và đối sách của Việt Nam”. Nhưng một giải pháp thu hồi các biển đảo bị Trung Quốc chiếm là ảo ảnh. Lãnh đạo Việt Nam cho rằng, thế hệ mai sau sẽ giải quyết chuyện đã rồi của lịch sử do họ gây ra, một quyết định của Đảng mà Học viện phải tuân thủ.

 

***

Trong năm năm qua, Trung Quốc đã biến các yêu sách vể Biển Đông do giả tạo lịch sử của mình thành hiện thực và đạt được thành qủa về mặt chiến lược vượt xa hơn bờ biển. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã không để cho kết quả đó thành chuyện tình cờ.

Đã năm năm qua kể từ khi Trung Quốc khởi xướng cải tạo vùng đất chính ở Biển Đông và đã thay đổi hiện trạng lãnh thổ có lợi cho mình – mà không gặp phải bất kỳ phản ứng chống trả nào của quốc tế. Lễ kỷ niệm khởi công xây dựng hòn đảo nhấn mạnh về một nền địa chính trị bị biến đổi trong một hành lang chủ yếu của một trật tự quốc tế về hàng hải.

Vào tháng 12 năm 2013, chính phủ Trung Quốc đã đưa tàu nạo vét Thiên Kinh khổng lồ vào phục vụ tại rạn san hô Đá Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa, cách xa lục địa Trung Quốc. Trường Sa nằm ở phía nam quần đảo Hoàng Sa, nơi Trung Quốc chiếm giữ từ năm 1974, tận dụng khi lực lượng của Mỹ rời khỏi Nam Việt Nam. Năm 1988, rạn san hô là cảnh quan của một cuộc tấn công của Trung Quốc đã giết chết 72 thủy thủ người Việt Nam và đánh chìm hai tàu của họ.

Công việc của tàu nạo vét là phân mảnh các trầm tích dưới đáy biển và đưa nó vào trên một rạn san hô cho đến khi thành hình một hòn đảo nhân tạo thấp trũng. Với hệ thống hoạt động theo động lực riêng và khả năng khai thác trầm tích với tốc độ 4.530 khối mét vuông (5.924 cubic yards) mỗi giờ, Thiên Kinh tự hào đã thực hiện công việc rất nhanh, tạo ra 11 ha đất mới, bao gồm cả một bến cảng, trong thời gian chưa đầy bốn tháng. Trong khi đó, Trung Quốc có một chiến hạm tuần tra.

Kể từ đó, Trung Quốc đã xây dựng thêm sáu hòn đảo nhân tạo ở Biển Đông và liên tục mở rộng cơ sở quân sự tại khu vực có tầm vóc chiến lược quan trọng này, đường hàng hải cho một phần ba thương mại toàn cầu đi qua. Trung Quốc xây dựng các cơ sở cảng, tòa nhà quân sự, lắp đặt đài kiểm soát radar, các nơi trú ẩn cho hoả tiển, kho tiếp vận rộng lớn cho nhiên liệu, nước và đạn dược, và thậm chí cả phi đạo và nhà chứa máy bay trên các đảo nhân tạo. Để củng cố vị thế hơn nữa, Trung Quốc đã vũ trang mạnh mẽ các nơi lân cận đình chỉ khai thác tài nguyên thiên nhiên trong vùng đặc quyền kinh tế của họ.

Do đó, Trung Quốc đã biến các yêu sách về Biển Đông do giả tạo lịch sử thành hiện thực và đạt được ý nghĩa sâu xa về mặt chiến lược, bất chấp phán quyết năm 2016 của tòa trọng tài quốc tế vô hiệu hóa các yêu sách đó. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc dường như có ý định chứng minh câu ngạn ngữ cổ rằng “sở hữu là chín phần mười của luật pháp“. Và dường như thế giới đang để yên cho họ chiếm.

Người Trung Quốc đã không để cho kết quả đó thành chuyện tình cờ. Trước khi bắt đầu xây dựng các hòn đảo của mình ở Biển Đông, họ đã dành vài tháng để thử nghiệm xem có thể có các phản ứng của Hoa Kỳ thông qua các động thái tượng trưng không. Đầu tiên, vào tháng 6 năm 2012, Trung Quốc đã chiếm giữ Bãi cạn Scarborough còn đang tranh chấp với Philippines, mà quốc tế không có một phản ứng hữu hình nào.

Gần như ngay lập tức, Tập đoàn Công nghiệp Đóng tàu Nhà nước Trung Quốc – hiện đang chế tạo hàng không mẩu hạm thứ ba của Trung Quốc – đã xuất bản trên trang mạng bản phác thảo cho các đảo nhân tạo trên đỉnh các rạn san hô, bao gồm các bản vẽ các cấu trúc của các công trình xác định chương trình xây dựng Trường Sa của Trung Quốc. Nhưng các bản phác thảo đã nhận được rất ít thông báo ghi nhận của quốc tế, và đã sớm bị xóa khỏi trang mạng, mặc dù sau đó các bản này đã lưu hành trên một số trang mạng tin tức của Trung Quốc.

Vào tháng 9 năm 2013, Trung Quốc đã tiến hành thử nghiệm tiếp theo: họ đã gửi tàu nạo vét Thiên Kinh đến rạn san hô Châu Viên, nơi họ ở lưu lại trong ba tuần mà không bắt đầu cải tạo đất. Các hình ảnh vệ tinh khả dụng trên thị trường sau đó cho thấy là một tàu nạo vét tại Đá Chữ Thập, một rạn san hô khác, làm việc lần nữa, nhưng rất ít. Một lần nữa, Hoa Kỳ, dưới thời Tổng thống Barack Obama, đã không đẩy lùi, thúc đẩy cho Trung Quốc bắt đầu dự án xây dựng đảo đầu tiên của mình tại Đá Gạc Ma.

Nói tóm lại, khi Trung Quốc tiếp tục xây dựng và quân sự hóa các đảo, họ đã thực hiện một cách hoàn chỉnh, dần dần tăng cường các hoạt động trong khi theo dõi phản ứng của Mỹ. Hai năm cuối cùng của tổng thống Obama được đánh dấu bằng việc Trung Quốc xây dựng cuồng nhiệt.

Tất cả những điều này đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt đại dương trong khu vực. Trung Quốc đã phá hủy các rạn san hô để sử dụng làm nền cho các đảo cung cấp thức ăn và nơi trú ẩn cho nhiều loài sinh vật của đại dương, cũng như cung cấp ấu trùng cho các loài thủy sản quan trọng của Châu Á. Thêm vào đó là dòng chảy tẩm hóa chất từ các đảo nhân tạo mới và các hoạt động của Trung Quốc đang tàn phá các hệ sinh thái Biển Đông.

Ash Carter, Bộ trưởng Quốc phòng cuối cùng của Obama, đã chỉ trích nhà lãnh đạo của mình về phương sách mềm yếu đối với Trung Quốc. Trong một bài tiểu luận phát hành gần đây, Carter đã viết rằng Obama đã lầm lạc bằng cách phân tích của chính mình, đã nghi ngờ khi cứu xét “những khuyến nghị của tôi và những người khác về thách thức gây hấn hơn trước các yêu sách hàng hải quá mức của Trung Quốc và các hành vi phản tác dụng khác.“ Carters nói, trong khi đó Obama mang viễn kiến của Trung Quốc trong sự sắp xếp với Mỹ theo khuôn khổ của G2.

Hiện nay, chính quyền của Tổng thống Donald Trump, đang đối phó với các hậu quả của sách lược Obama. Trump muốn thực hiện một viễn kiến về một chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương tự do và cởi mở. Nó là sự kế thừa cho chính sách chuyển trục về châu Á của Obama.

Nhưng, từ những địa thế mới được xây dựng ở Biển Đông, Trung Quốc có vị trí tốt hơn không chỉ để duy trì các cuộc tuần tra trên không và trên biển trong khu vực, mà còn thúc đẩy chiến lược dự phóng về điện qua Ấn Độ Dương và Tây Thái Bình Dương. Làm thế nào có thể có bất kỳ hy vọng nào về một Ấn Độ-Thái Bình Dương tự do và cởi mở, khi hành lang quan trọng nối liền các đại dương Ấn Độ và Thái Bình Dương đang ngày càng bị chế ngự bởi chế độ chuyên chế lớn nhất thế giới?

Lấn chiếm lãnh thổ của Trung Quốc, một chiến thắng của cường quốc thô bạo xem thường luật pháp, phơi bày tính cách tổn thương của một trật tự thế giới tự do hiện tại. Các gánh nặng về môi trường và địa chính trị có thể sẽ tăng lên, gây ra chi phí lớn lao cho các quốc gia khu vực và định hình lại các mới quan hệ hàng hải quốc tế.

***

Brahma Chellaney: Giáo sư Nghiên cứu Chiến lược, Trung tâm Nghiên cứu Chính sách và Nghiên cứu Chính sách, New Delhi, Học viện Robert Bosch, Berlin, tác giả của chín cuốn sách, kể cả Asian Juggernaut, Water: Asia’s New Battleground, and Water, Peace, and War: Confronting the Global Water Crisis.

Nguyên tác: China’s South China Sea Grab

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Thoát Trung trong một cuộc chiến toàn diện và tổng hợp!

Thoát Trung trong một cuộc chiến toàn diện và tổng hợp!

Hà Sĩ Phu

18-12-2019

Tôi thật vui mừng được thấy GS Lê Xuân Khoa đã hoàn toàn đồng cảm khi khơi dậy một cách ngắn gọn và khúc chiết cái chủ đề quan trọng bậc nhất mà tôi đã đề cập ròng rã hơn 10 năm nay: Muốn thoát Trung buộc phải thoát Cộng, nhưng hai việc ấy phải làm đồng thời!

Trước khi nói thêm một số điều liên quan xin nhắc tên một số bài đã lưu trong Thư viện Hà Sĩ Phu về chủ đề này:

– Vừa nội xâm, vừa ngoại xâm- phải làm gì trước? (2007)

– Giải CỘNG nhi thoát! (2012)

– Muốn thoát Hán phải thoát Cộng (2014)

 Không thể “Thoát Trung” mà không “Thoát Cộng” (2014)

 Không dựng tượng đài ấy, không phải chỉ vì con số 1.400 tỷ! (muốn thoát Cộng  phải thoát Hồ!) (2015)

1/ Thoát Cộng là Thoát giặc Nội xâm

Dân bị mất quyền làm chủ đất nước vào tay người cầm quyền trong nước thì đó là nạn Nội xâm (xin tham khảo bài Xin đừng gọi Tham nhũng là Nội xâm). Có người bảo: Dân ta vẫn có đầy đủ mọi thứ quyền công dân đấy chứ? Toàn là quyền trên giấy thôi. Nói gì nhiều, chỉ nghe TBT đảng nói “Quốc hội là nơi cụ thể hóa các nghị quyết của Đảng” và lời Chủ tịch của Quốc hội, nơi tập trung quyền lực cao nhất của nhân dân, nói về việc thành lập ba đặc khu (3 nhượng địa của Tàu) rằng “Bộ Chính trị đã quyết thì Quốc hội phải bàn cách thực hiện, không bàn cãi gì nữa”, là đủ rõ “quyền làm chủ” của dân vĩ đại đến đâu rồi.

Nhân dân chưa bao giờ được bốc lên cao như trong chế độ CS, nào là người sáng tạo ra Lịch sử, nào là chủ nhân thật sự của đất nước, cán bộ chỉ là đày tớ của nhân dân. Nhưng Nhân dân chỉ làm nên Lịch sử để ĐCS cướp được chính quyền, chứ xong việc rồi, bây giờ “thằng dân” muốn làm nên Lịch sử thì phải đi “học tập cải tạo” để thành công dân tốt của Đảng đã nhé!

Đảng lại chủ trương “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” (Nhà nước toàn người của ĐCS lãnh đạo)! Vậy là cả dải đất chữ S của tổ tiên nước nhà để lại nay do ĐCS độc quyền giữ “sổ đỏ” (dân chỉ được cho quyền sử dụng chứ không có quyền sở hữu). Ông chủ mà không được sở hữu “một mảnh đất cắm dùi” thì xách giép cho thằng đày tớ, rồi để họ hàng nhà giép lên tiếng như trường hợp cô Thùy Dương ở Thủ Thiêm. Đày tớ cầm “sổ đỏ” trong tay thì nó “sang nhượng” cho ai là rất đúng luật, đúng quy trình, còn cãi gì nữa? Thế thì nhân dân đã mất nước, từ trong nước, trước khi bị ngoại bang xâm lược vậy!

2/ Về quan hệ giữa Thoát Trung và Thoát Cộng: Như vậy, nhiệm vụ Thoát Trung và Thoát Cộng cũng có nghĩa là Thoát nạn Nội xâm và nạn Ngoại xâm, cũng tức là chống nạn Cộng sản và nạn Bắc thuộc-Hán hóa.

Vì VN sa vào chủ nghĩa CS nên mới đưa đất nước chui vào vòng tay Trung Cộng, ngược lại nếu VN ra khỏi quỹ đạo CS thì Trung Cộng chẳng còn cớ ràng buộc gì, lợi thế gì để trói buộc VN. Quan hệ giữa hai quốc nạn này, giữa hai nhiệm vụ này là quan hệ NGUYÊN NHÂN và KẾT QUẢ. Theo phép chữa bệnh thì diệt được nguyên nhân là chữa được bệnh: hết chế độ CS là hết bệnh Bắc thuộc. Nhưng ở đây cả nguyên nhân (chế độ CS) lẫn kết quả (nạn Trung Cộng xâm lược) đều là hai vật thể sống khổng lồ, quái ác và liên kết tương hỗ củng cố lẫn nhau, bảo vệ lẫn nhau để cùng hưởng lợi trên số phận của dân tộc VN. Nguyên nhân (chế độ CSVN) bám chặt lấy kết quả (bành trướng Trung Cộng) và kết quả (bành trướng Trung Cộng) quay lại giữ chặt nguyên nhân (CSVN).

Điều quái ác là, người giữ chế độ chính trị CS ở VN không phải chỉ ĐCSVN mà chủ yếu là ĐCS Trung quốc. ĐCSVN hiện nay không muốn từ bỏ chế độ CS đã đành, nhưng cho dù có muốn vì nước vì dân mà thoát ly chế độ thì Trung Cộng cũng không cho phép. Tôi đã có lần trả lời phỏng vấn rằng với những gì hai nước đã thiết kế, Trung Cộng có thể dùng tiền mua chuộc bất cứ một kẻ cầm quyền VN nào muốn Thoát Trung, và nếu không mua được thì nó giết quách một cách thật dễ dàng (thân chư hầu khốn nạn như thế). Tóm lại, tuy Thoát Trung là mục tiêu cấp bách và trọng yếu số 1 nhưng không thể Thoát Trung mà chưa Thoát Cộng, lại cũng không thể Thoát Cộng trước rồi mới Thoát Trung. Hai việc ấy phải làm song song, vấn đề là phối hợp hai việc ấy với nhịp điệu như thế nào?

Nhưng Trời sinh ra tai họa nào cũng đồng thời cho luôn thuốc chữa nằm ở đâu đó. Trước đây, khi Trung Cộng chưa lộ rõ mặt xâm lược thì việc đấu tranh Thoát Cộng trong nội bộ quốc gia là cực kỳ khó. Lúc ấy lên án một vấn đề dân chủ-nhân quyền là rất khó và ít hiệu quả, vì ĐCS thừa sức che đậy và trấn áp. Nhưng khi Trung Cộng lộ diện xâm lược, thì chính giặc Ngoại xâm chứ không ai khác đã giúp dân ta vạch rõ mặt thật của giặc Nội xâm mà ĐCS khó cãi được. Hai việc lớn Thoát Trung và Thoát Cộng phải làm đồng thời là điều rất khó, nhưng mặt khác hai việc ấy lại tương hỗ nhau, tạo điều kiện cho nhau, làm dễ cho nhau. Gắn chặt hai việc ấy với nhau sẽ thành sức mạnh.

3/Thoát Cộng- Thoát Trung đều là việc khó, phải toàn diện và tổng hợp

a/ Cộng sản là loại Virus cực kỳ khó diệt: Nọc độc CS giống Virus HIV ở chỗ chỉ cần chạm vào da thịt một chút đầu kim tiêm còn dính HIV là sẽ mắc đúng bệnh AID/HIV ấy. Chỉ cần chấp nhận một một chút gì đó do CS truyền vào là trước sau cũng tái sinh đúng nọc độc đó một cách hầu như nguyên mẫu. Tại sao như vậy? Vì chủ nghĩa CS tuy bản chất là phi lý và phi tiến hóa nhưng cái ảo tưởng quá “hoành tráng” đến mê ly của nó lại rất dễ thấm sâu vào tâm can khốn cùng hoặc những trái tim cao cả duy cảm. CS khi đã cầm quyền là một thực thể tổng hợp tất cả mọi thứ trên đời và biến hóa như xiếc, khoa học và ảo tưởng, lý thuyết và thực dụng, dân túy và chuyên quyền, quốc gia và quốc tế, triết lý và ngụy biện, lời nói khác việc làm, Ác khoác áo Thiện…. cho nên dẫu bế tắc đến đâu nó cũng vẫn tìm được cách để lừa người ta, mà nghe cũng có vẻ có lý. Vừa lý thuyết vừa thực dụng, vừa đặc hiệu vừa pha tạp, CS là một tổng thể lừa hoàn chỉnh, đối thủ có khả năng “bao sân” chỗ nào cũng len vào được để hòng chế ngự con người. Virus ấy chỉ bị liệt nếu tách khỏi các cơ thể sống. Một tế bào sống để nó nhập vào là nó sinh sôi.

Muốn Thoát Cộng chỉ có cách thoát ly nó hoàn toàn, đừng luyến tiếc chút ưu điểm mà dính vào là chết.

b/ Bài học rút ra từ thực tiễn chính trị.

Phép làm xiếc ấy, phép lừa ấy lừa được cả dân thường và giới trí thức. Những người có học chúng ta cả đời được đào luyện để xem xét và xử lý mọi điều sao cho cho công bằng, cho có lý có tình, không thiên vị bên nào, và tự cho thế là vừa có óc vừa có tâm của con người chân chính. Chủ nghĩa CS lý thuyết cũng như thực tế đương nhiên bên cạnh mặt xấu căn bản cũng có những điểm tốt nhất thời có thể ghi nhận (mọi sự trên đời đều có hai mặt như vậy!). Nhưng như trên đã nói: Dính vào đầu mũi kim tiêm có nọc CS là trước sau cũng bị lôi vào quỹ đạo ấy, lúc đầu rất thuận tình nhưng vào bẫy rồi là bị áp đặt không ra được nữa, cứ quanh quẩn. giãy giụa mãi trong sự “chân chính” của mình mà thôi.

Sự “chân chính” ấy của số đông Trí thức chúng ta chỉ khiến cho kẻ chính trị lão luyện “cười vào mũi”, nó cứ giả vờ khen để sử dụng, chứ ít kẻ dám như Mao nói toẹt ra rằng “Trí thức suông không bằng cục phân!”.

Đạo đức vẫn dạy người ta: Trị cái Ác thì phải dùng cách cực Thiện, nó độc tài thì mình phải thật dân chủ, nó dấu giếm thì mình phải công khai, nó bất công thì mình phải thật công bằng…! Đạo đức dạy như thế bởi Đạo đức không dạy người ta làm Chính trị chân chính để diệt trừ cái Chính trị gian tà. Mà Thoát Trung và Thoát Cộng là sự nghiệp Chính trị chứ không phải học thuật.

Trong Chính trị, người yêu Hòa bình muốn diệt Chiến tranh nhiều khi lại phải dùng Chiến tranh mãnh liệt hơn mới mong kéo thế giới trở lại Hòa Bình. Mục đích và phương tiện nhiều khi phải ngược nhau, kẻ gian tà cũng nói như vậy (mục đích biện minh cho phương tiện) nhưng ngụy biện để biện minh cho mục đích thực ra rất xấu của nó.

Trong khi trao đổi với bạn bè thân thiết, tôi thường nói thẳng đại ý như sau:

“Ông cứ bảo đổi mới là phải giữ cái tốt cũ, bỏ cái xấu, chứ không phải đổ bỏ tất cả, có thế mới là đổi mới trong ổn định. Xin thưa: Nếu chế độ CS cũng mọc ra từ sự kế thừa thì ta có thể tu sửa chế độ CS cũng trên tinh thần kế thừa mà cải tiến như thế, nhưng đặc biệt CNCS ra đời với phương châm “đoạn tuyệt một cách triệt để nhất với các giá trị truyền thống”, khiến cho mọi giá trị đều bị lộn ngược, thì một chủ nghĩa như thế không thể được đổi mới bằng phương pháp kế thừa, mà lại phải đoạn tuyệt nó một cách triệt để nhất mới có thể đưa xã hội trở về trạng thái thăng bằng rồi tiếp tục cải tiến mà đi lên. Thế mới là khoa học thật sự. Vì thế Yeltsin mới tổng kết kinh nghiệm rằng chế độ CS chỉ có thể phá bỏ chứ không thể sửa chữa.

… Ông cứ muốn xử lý sao cho thật công bằng, xem xét cả ưu cả khuyết, không thiên vị bên nào ư? Xin thưa: Không ai khiến ông làm trọng tài thế giới hay quan tòa thế giới! Chỉ nhân dân VN đang đòi hỏi làm sao Thoát được Cộng Sản để Thoát được nạn Bắc thuộc mới đang xiết vào cổ dân ta đây này! ”. Vâng, đại loại tôi thường bộc bạch với bạn bè Trí thức thân cận như thế.

c/ Vì thế, muốn Thoát Cộng lại phải Thoát Hồ và Thoát Mác nữa.

Từ nhận thức như trên đã trình bày, đương nhiên dẫn đến kết luận: Còn lưu luyến một chút gì đó ưu điểm của các tổ sư CS như Mác-Lê-Xít và Hồ chí Minh thì không có cách gì ra khỏi mê lộ CS.

Chẳng có gì phải tiếc, một vài ưu điểm của các vị ấy nếu có thì cũng nằm trong tính chất của các hệ văn hóa khác, hệ văn minh khác phổ quát của nhân loại rồi. Bỏ các vị ấy đi ta không mất chút gì quý giá hết. Trái lại, những sai lầm của các vị ấy tất yếu dẫn đến thảm kịch khiến cho toàn dân tộc ta giờ đây phải đem hết sức bình sinh, huy động toàn tâm toàn lực chưa chắc đã ra khỏi cái ngõ cụt kinh hoàng mà các vị ấy đã tạo ra.

Về Marxism-Leninism:

Các ông tổ CS này có 5 sai lầm căn bản:

– Hiểu nhầm thời đại mình đang sống (thời kỳ văn minh Công nghiệp bột phát, mở đầu bước phát triển mới của nhân loại, thì các tổ sư CS tưởng đây là thời kỳ cáo chung, giãy chết của cái gọi là chủ nghĩa Tư bản nên rủ nhau định đào mồ chôn. Coi giai cấp thợ thuyền là giai cấp tiền phong của xã hội, không biết Trí tuệ mới là động lực tiên phong).

– Hiểu nhầm Lịch sử nhân loại (Coi Lịch sử chi là một chuỗi những cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh giai cấp là động lực của tiến hóa của nhân loại, không biết tiến hóa của loài người là do có sự tích lũy và gia tăng Trí tuệ).

– Hiểu nhầm về nguyên nhân bất công (coi tư hữu là nguyên nhân bất công, nhà nước là bộ máy áp bức cần phải tiêu vong).

– Hiểu nhầm về cách giải quyết bất công (công hữu hóa hết thảy, tập thể hóa hết thảy, để người lao động tự quản, muốn cả xã hội đi vào một cõi định sẵn, thánh thiện như thần tiên, chỉ có hòa thuận không còn cạnh tranh, làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu).

– Toàn bộ chương trình ước mơ ảo tưởng ấy lại phải do một đảng toàn quyền dẫn dắt, cuối cùng tạo ra một xã hội lộn ngược, phá nát mọi giá trị, lộn ngược so với ước mơ, làm khổ cả “búa” lẫn “liềm”, nhưng kẻ cầm quyền với lợi quyền vô cực thì quyết giữ cơ chế lộn ngược ấy. Thế là ngõ cụt.

Chính hai nước lớn là quê hương của Mác và rất yêu mến Mác là Đức và Pháp đã cùng Hiệp hội 46 nước châu Âu ra Nghị quyết 1481 lên án chủ nghĩa CS mắc tội ác chống nhân loại, để vứt nó vào sọt rác.

Chỉ cần vài điều ấy thôi tưởng đã đủ thuyết phục để “kính mời” các vị ấy vào ngồi yên trong bảo tàng Lịch sử cho xong. Cố tìm ưu điểm gì nữa cũng bằng thừa. Sách vở về Mác còn xuất bản chẳng qua là điểm lại một hiện tượng trong quá trình nhận thức của nhân loại. (Riêng với VN thì chủ nghĩa ấy còn phạm tội ác nữa là đưa VN trở lại vòng tay của kẻ thù truyền kiếp Đại Hán Bắc phương).

Về nhân vật lịch sử Hồ Chí Minh của Việt Nam:

Một khi cả quỹ đạo CS là quỹ đạo chống Nhân loại thì những ai đưa cái “chống Nhân loại” ấy vào VN đương nhiên mắc tội chống nhân dân VN, logique tự nhiên là như vậy. Hai đại nạn mà ta cần thoát là Thoát Cộng (nội xâm) và Thoát Trung (ngoại xâm) chẳng phải do chính tác giả HCM đem vào thì còn ai? Hãy bỏ qua mọi câu chuyện về con người cá nhân HCM, vì với nhân vật chính trị thì “con người chức năng” mới quan trọng. Chức năng là dẫn đường dân tộc mà dẫn đường vào ngõ cụt, nay cả nước phải cố thoát ra, thì dù với thái độ khoan dung ta cũng chỉ có thể thông cảm cho anh Ba chưa đủ tầm để nhìn ra nguy cơ tiềm ẩn thế kỷ ấy, chứ yêu cầu phải tôn thờ cho “sống mãi” một sai lầm tai hại thì chẳng hóa điên khùng lắm sao?

Có một vài luận điểm bào chữa cho HCM có thể kể ra:

– HCM không phải người CS (?), chỉ mượn con đường CS để giành độc lập. Luận điểm này thật nhảm.

– Tình hình thế giới và dân trí VN lúc bấy giờ đương nhiên bị hút vào đường CS, không có HCM này thì sẽ có người khác theo đường như HCM thôi, trách HCM làm gì? Mới nghe cũng xuôi tai, nhưng nói cù nhầy như vậy thì cũng vô lý như bảo “thời Trần Hưng Đạo nếu không có Hưng Đạo này thì cũng xuất hiện một Hưng Đạo khác, tôn thờ cá nhân làm gì?!!

– Không ít người lo rằng đụng đến thần tượng là mắc tội chính trị rất lớn, là nói xấu lãnh tụ?

Xin thưa: ĐCS coi việc bảo vệ đảng và bảo vệ chế độ mới là nhiệm vụ chính trị quan trọng nhất. Nay ta đã dám công khai nói Thoát Cộng, tức công khai tẩy chay chế độ chính trị, thì những điều khác chỉ là chuyện nhỏ. Họ vẫn ra vẻ cung kính bắt toàn dân đưa thần tượng lên bàn thờ (cả trong chùa chiền nữa) chẳng qua vì thấy đa số dân vẫn còn tin hoặc còn sợ nên dùng luôn hình tượng ấy như một đức Bồ tát hoặc như ngáo ộp để răn đe bách tính, chứ trong lòng những người CS cầm quyền bây giờ phỏng có tôn sùng nhân vật ấy nữa không? Trên tường vẫn treo 5 điều Bác dạy mà cứ tham ô tiền tỷ chứ đâu có “Cần kiệm liêm chính”, đánh dân như đánh xúc vật chứ đâu có “kính trọng lễ phép” như lời Bác răn? Họ dùng “Bác Hồ” như dùng một công cụ để giữ ghế cao cho họ, như người dân vẫn bện “ông bù nhìn rơm” để giữ ruộng dưa. Hết ngày mùa, hoặc thấy chim chóc không sợ bù nhìn nữa thì họ cũng vứt ông bù nhìn vào bếp đun.

Với những ai vẫn còn lòng tin nơi thần tượng bù nhìn, ta có thể ví tượng bù nhìn cũng linh thiêng như tượng Phật, tượng Chúa. Các vị ấy đều phúc đức không có tội gì. Nhưng nay có tên kẻ cướp cứ ẩn hiện tài tình núp sau bức tượng để bắn đồng bào ta, thì buộc lòng ta phải bắn tan bức tượng để tên cướp lộ nguyên hình. Diệt cướp xong người sùng đạo có thể dựng lại bức tượng hoành tráng hơn. Tình thế đã như vậy thì người Dân chủ đâu còn có thể cũng núp bóng những tượng Hồ tượng Mác ấy mà đấu tranh nữa?

KẾT LUẬN: Mục tiêu chiến lược bức thiết là Thoát Trung, nhưng muốn Thoát Trung buộc phải Thoát Cộng. Hai việc chống Nội xâm và chống Ngoại xâm ấy phải làm song song và tăng cường hiệu lực cho nhau. Đồng thời phải giải ảo các thần tượng CS còn được dùng như những tấm khiên bảo vệ ngai vàng cho các vua tập thể và che đậy cho âm mưu Hán hóa thôn tính Việt Nam. Vô hiệu hóa thần tượng không phải mục đích, cũng không phải xúc phạm điều thiêng liêng gì mà chỉ là vô hiệu hóa một công cụ mà những kẻ Nội xâm và Ngoại xâm cùng sử dụng để ngăn chặn làn sóng Thoát Trung và Thoát Cộng đó thôi.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Blog at WordPress.com.