Daily Archives: February 14, 2019

Nghĩa trang liệt sĩ Vị Xuyên.

Bồn Văn Hòn, người dân tộc Dao bị cụt hai chân do dẫm phải mìn còn sót lại sau chiến tranh – trong một lần vào rừng phát nương trồng bắp. Ngày bị nạn, người dân bản Nâm Ngặt đưa ông xuống Trạm y tế xã sơ cứu rồi chuyển về Bệnh viện tỉnh Hà Giang – cách đó hơn 20 km.

Hòn vừa bước sang tuổi 50 nhưng mái tóc đã bạc nhiều, đôi chân một bên cụt gần nửa đùi, bên còn lại đến khuỷu gối. Ông được Nhà nước hỗ trợ kinh phí lắp chiếc chân giả, còn cặp nạng bằng gỗ – Hòn tự tay đẽo. 20 năm kể từ ngày mất đôi chân, ông đã thay đến ba cặp nạng.

40 năm chiến tranh biên giới phía Bắc: Nỗi đau dai dẳng ở mặt trận Vị Xuyên - Ảnh 2.

Một góc bản Nậm Ngặt – cách TP Hà Giang hơn 20km về hướng Tây.

Trong trí nhớ của Hòn, những dải núi bao quanh bản Nậm Ngặt khi chưa có đạn pháo cày xới toàn một màu xanh ngắt. Thời còn trẻ, cứ sáng sớm Hòn cùng đám trẻ trong bản lùa đàn trâu vào núi hái măng rừng, chiều tối lại lùa về. Cả bản khi ấy có hơn 100 hộ dân, gấp đôi bây giờ.

9 giờ sáng 2/4/1984, quân đội Trung Quốc từ phía bên kia đường biên nã pháo dồn dập xuống bản. Hòn cùng cha mẹ địu các em chạy về phía hang Làng Lò – cách nhà hơn 1 km lánh nạn.

Những ngày sau pháo vẫn nổ liên tục, dân Nậm Ngặt thả gia súc, đuổi vào rừng sâu. Ban ngày họ cùng nhau nấp dưới hầm, đêm đến mới ra ngoài.

Cuối tháng 4/1984, địch chiếm được cao điểm ở Thanh Thủy, cách nhà Hòn nửa cây số. Dân Nậm Ngặt lập tức nhận lệnh sơ tán, thanh niên trai tráng khỏe mạnh trong bản hò hét nhau cõng người già, trẻ nhỏ lũ lượt tháo chạy trong đêm xuống thị xã Hà Giang, rồi đi bộ suốt mấy ngày đường về huyện Bắc Mê.

Ngày rời bản đi sơ tán, Hòn chỉ kịp ngoái nhìn căn nhà của mình dưới chân đồi lần cuối.

40 năm chiến tranh biên giới phía Bắc: Nỗi đau dai dẳng ở mặt trận Vị Xuyên - Ảnh 3.

Ở vùng đất mới, ông cùng cha mẹ dựng lều trú tạm rồi vào rừng phát nương. “Sống ở Bắc Mê quá khổ, quanh năm thiếu cái ăn, không vào rừng trồng bắp, trồng sắn thì chẳng biết làm gì”, ông Hòn nhớ lại quãng thời gian cách đây hơn 30 năm.

Rồi Hòn cưới vợ, sinh con ngay trên mảnh đất Bắc Mê. Vợ Hòn là cô gái người dân tộc Dao cùng bản, cả hai đi sơ tán rồi phải lòng nhau. Đám cưới của người Dao hồi ấy nhà trai chỉ nộp tiền mặt, còn nhà gái phải nộp đủ lễ vật gồm chục đồng bạc trắng, một con lợn, hai con gà trống thiến cùng vài chai rượu.

Nhà Hòn nghèo, nhà vợ cũng nghèo, cha mẹ hai bên gặp mặt nói chuyện không có đủ lễ vật cũng không đòi hỏi gì. Ngày cưới, nhà chỉ làm vỏn vẹn ba mâm cỗ mời hàng xóm đến dự rồi thắp hương cáo với tổ tiên.

Tuổi thơ của Nguyễn Xuân Đệ gắn liền với những cuộc di tản cùng mẹ chạy trốn bom đạn giặc Mỹ leo thang, bắn phá miền Bắc. Năm 1979 ông nhập ngũ. Ngày lên đường, nhiều anh em và người dân xã Vĩnh Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An quê ông vẫn đang sống ở khu vực phía Tây huyện Tân Kỳ, chưa trở về quê cũ.

Sau ba tháng huấn luyện tân binh tại tỉnh nhà, đơn vị ông được điều ra Hoàng Liên Sơn (nay thuộc tỉnh Lào Cai) sẵn sàng trực chiến.

Năm 1984, khu vực vành đai biên giới Vị Xuyên dần chuyển biến phức tạp, đơn vị ông nhận lệnh từ cấp trên hành quân tức tốc sang mặt trận Thanh Thủy cách đó hơn 100km. Đệ khi đó là Trung đội trưởng, chỉ huy hơn 30 chiến sĩ phòng ngự vạt đồi phía Bắc đề phòng địch chuyển hướng đánh.

40 năm chiến tranh biên giới phía Bắc: Nỗi đau dai dẳng ở mặt trận Vị Xuyên - Ảnh 5.

Cựu binh Nguyễn Xuân Đệ

Ngày 12/7 khốc liệt năm ấy, ông không tham gia chiến đấu trực tiếp tại cao điểm 685 và 772 ở bản Nậm Ngặt. Mãi đến đầu năm 1985, cấp trên mới điều đơn vị ông xuống núi phối hợp đánh trận địa đồi 300, bình độ 400.

Trận đánh ấy, quân ta chiếm được các cao điểm nhưng không giữ được. Địch phản công chiếm lại, chúng nã pháo liên tục khiến các đơn vị chủ lực của ta thương vong nhiều, buộc phải rút lui.

Riêng đơn vị Đệ chỉ huy được lệnh lập chốt chặn dưới chân đồi, không cho địch mở rộng địa bàn hoạt động. Đêm đến, ông cùng đồng đội luồn lách theo chiến hào ngược lên đỉnh núi tìm đồng đội hy sinh chuyển xuống dưới.

Những ngày sau địch dội pháo liên tục không ngớt, có thời điểm tiếng pháo nổ ầm ầm suốt nhiều giờ. Cả một vùng đồi núi trơ trụi, cỏ cây không thể sống. Việc gác chốt, đi lại dọc chiến hào tìm thi thể đồng đội khi ấy phó thác vào sự may rủi, nhiều tử thi không còn lành lặn, xương thịt trộn lẫn vào đất đá.

Cuối tháng 6/1986, quân địch bắn pháo rơi trúng căn hầm chữ U nơi ông đang trú ẩn cùng ba đồng đội. Căn hầm ấy bằng lô cốt bê tông dày, sâu tới bốn mét bị đầu đạn khoan thủng làm sập. Đệ bị thương vùng đầu, khi tỉnh dậy đã thấy nằm dưới trạm phẫu thuật ở bệnh viện dã chiến.

Loạt đạn ấy, hai trong số các đồng đội trú ẩn cùng hầm với Đệ vĩnh viễn ra đi, bỏ lời hẹn còn dang dở ngày hôm trước rằng “sau này khi cuộc chiến kết thúc, họ sẽ về thăm nhà của nhau”.

Họ đều là những thanh niên có chung một hoài bão của tuổi đôi mươi, nhưng tạm gác lại việc riêng – vì quê hương cần người trẻ đứng lên cầm súng.

Cựu binh Trương Văn Đau.

Không may mắn như Đệ, cựu binh Trương Văn Đau, người dân tộc Dao ở thị trấn Vị Xuyên bị mất một chân năm vừa tròn 20 tuổi. Những ngày tháng 2/1979, quân địch nã pháo và mở tiến công vào các xã vùng biên Hà Giang.

Đau khi đó là lính bộ binh của (C9 – D3, F122) đóng tại Vĩnh Phú (Phú Thọ, Vĩnh Phúc) mới được điều lên đánh chặn tại khu vực đồi Tranh, xã Lao Chải, huyện Vị Xuyên.

Trên cao điểm ấy, có những đoạn chiến hào quân ta cách địch chỉ 30 mét. Sáng 23/2, khi ông vận chuyển đạn dược đi dọc chiến hào tiếp tế cho đồng đội thì một quả pháo rơi sát người. Ông bị thương nằm liệt tại chỗ, máu nhuộm đỏ bộ quân phục, đồng đội sau đó khiêng Đau xuống bệnh xá điều trị.

Hàng chục chiến sĩ cùng đơn vị ông đã hy sinh trong trận chiến hôm ấy. Đau bảo cho đến giờ ông không thể nhớ con số chính xác đã có bao nhiêu đồng đội đã nằm xuống, chỉ biết rằng: “Tất cả đều chết vì pháo, quân địch chỉ bắn pháo cối”.

Phải cưa mất một chân, người lính trẻ ngày ấy không thể trở lại đơn vị chiến đấu cùng đồng đội. Ông xuất ngũ trở về quê hương khi tiếng pháo ở đường biên vẫn đang nổ ác liệt.

Tiếng pháo nổ ngày 2/4/1984 đánh dấu cho cuộc tấn công của quân Trung Quốc vào mặt trận Vị Xuyên – Hà Tuyên và kéo dài suốt 6 năm sau đó. Tâm điểm cuộc chiến ở khu vực các xã Thanh Thủy, Thanh Đức, Lao Chải theo dọc đường biên lên đến huyện Yên Minh.

Ngày 28/4/1984, hai Trung đoàn (thuộc Quân đoàn 14, Trung Quốc) tràn lên đỉnh núi Lão Sơn (ta gọi là cao điểm 1509), dùng pháo bắn vào các cao điểm phía dưới bản Nậm Ngặt.

Cao điểm 685 (bên trái)  và 772 những ngày tháng 1/2019.

Hai ngày sau đó, địch chiếm đóng toàn bộ các cao điểm 685, 772 và một số cao điểm khác. Quân đội ta huy động xe tăng phản kháng nhưng bị quân địch phát hiện, bắn hỏng ba chiếc bên ngoài ngã ba Thanh Thủy.

Để đối phó, quân ta sử dụng các trung đoàn 112 của tỉnh Hà Tuyên, Sư đoàn 313; Sư đoàn 314, phối hợp cùng một số đơn vị khác đánh chặn. Tháng 5/1984, có thêm các sư đoàn 316; 356 từ Hoàng Liên Sơn sang chi viện.

Giai đoạn 1984 – 1989, quân Trung Quốc nã hơn 2 triệu quả đạn pháo các loại vào mặt trận Hà Tuyên. Hơn nửa trong số đó tập trung vào các xã Thanh Thủy, Thanh Đức, Lao Chải.

Đỉnh điểm vào đầu năm 1985, có những ngày quân địch bắn hơn 30.000 quả pháo vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam từ 3 – 4 km. Tiếng pháo nổ liên hồi không ngừng nghỉ, trên các cao điểm 685 và 772, đạn pháo cày xới bạc trắng đất đá. Các cựu binh bây giờ thường hay gọi cao điểm 685 là “lò vôi thế kỷ”.

40 năm chiến tranh biên giới phía Bắc: Nỗi đau dai dẳng ở mặt trận Vị Xuyên - Ảnh 10.

Đài tưởng niệm trên cao điểm 468.

Trong cuộc gặp mặt lần đầu tiên giữa các cựu binh tham chiến tại Vị Xuyên, tổ chức tại Bộ Quốc phòng vào ngày 14/6/2016, Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy, nguyên Phó tư lệnh Tham mưu trưởng Quân khu 2 cho biết, có khoảng hơn 4.000 chiến sĩ đã hy sinh tại mặt trận này.

“Ngày 12/7/1984, ngày khốc liệt nhất của cuộc chiến, hơn 600 người lính ngã xuống khi ta mở cuộc phản công mang bí danh MB84, lấy lại các cao điểm bị địch chiếm đóng trái phép” – tướng Huy kể.

Trung Quốc chọn Vị Xuyên để đánh vì có hệ thống điểm cao biên giới tạo nên thế trận phòng ngự tiến công liên hoàn, chiếm được thì có thể uy hiếp thị xã Hà Giang, đưa quân thọc sâu vào đất liền nước ta. Những nơi khác như Đồng Đăng, Hữu Nghị (Lạng Sơn) là khu vực quốc tế quan sát rõ, nhưng nếu đưa lực lượng lớn vào Vị Xuyên thì ít bị chú ý. Đến giờ, có lẽ nhiều người không biết Vị Xuyên nằm ở đâu” – thiếu tướng Nguyễn Đức Huy, nguyên Phó tư lệnh Quân khu 2, tham mưu trưởng mặt trận Vị Xuyên thời kỳ 1985-1989 nói.

Năm 1988, tình hình biên giới dần lắng dịu khi hai bên chủ động rút dần quân. Ngày 26/9/1989, đơn vị cuối cùng của quân tình nguyện Việt Nam rời khỏi Campuchia. Các “ngòi nổ” căng thẳng được tháo ra ở cả phía Bắc lẫn phía Nam.

Trên cao điểm 468 ngày nay, người ta xây một Đài hương tưởng niệm các liệt sĩ bằng nguồn vốn xã hội hóa và đóng góp của các cựu binh từng tham chiến tại chính mảnh đất này. Họ chọn ngày 12/7 hàng năm là ngày giỗ trận của đơn vị.

40 năm chiến tranh biên giới phía Bắc: Nỗi đau dai dẳng ở mặt trận Vị Xuyên - Ảnh 11.

Bảy năm sau cuộc di tản, tiếng pháo không còn nổ ở Vị Xuyên. Ngày trở về Nậm Ngặt nhìn bản làng trơ trụi mà đôi mắt Hòn ứa lệ. Những cánh rừng xanh ngắt đều chết khô rụng lá, đạn pháo cày xới ruộng nương thành từng hố sâu.

40 năm chiến tranh biên giới phía Bắc: Nỗi đau dai dẳng ở mặt trận Vị Xuyên - Ảnh 12.

Một góc bản Nậm Ngặt ngày nay.

Căn nhà của Hòn dưới chân núi đã cháy thành tro bụi, hơn 100 nóc nhà khác trong thôn chỉ sót lại đúng 8 căn nhưng không còn nguyên vẹn, các mảnh đạn găm chi chít vào cột. Đàn gia súc dân bản thả vào rừng trước ngày di tản chẳng sót con nào. “Chúng chết hết, chắc chết vì đạn pháo hoặc mìn nổ”, ông Hòn nhớ lại.

Rồi Hòn vào rừng kiếm gỗ dựng lại căn nhà mới, dọn dẹp mảnh ruộng bị đạn cày xới trồng lại lúa. Một năm sau, ông đón cả gia đình dưới Bắc Mê trở về.

“Phải về chứ mồ mả tổ tiên ở đây, dù còn nhiều khó khăn nhưng đất đai cha mẹ để lại không về sao được”, Bồn Văn Hòn vẫn thường nói như vậy với các con của mình lý do ông trở về quê hương.

Anh Bồn Văn Đặng (áo cam, em vợ) và Triệu Văn Nguyên (con rể Hòn) bị mất 1 chân do vấp phải mìn.

Bồn Văn Đặng sinh ra ở mảnh đất Bắc Mê. Ngày anh theo cha mẹ về quê cũ, những vạt rừng dần ngả lại màu xanh, mầm măng vầu mọc nhô lên giữa đất sỏi trơ cả vỏ đạn.

Ký ức của Đặng về bản Nậm Ngặt không phải tiếng súng, tiếng pháo nổ rền rĩ suốt ngày. Nó là tiếng nổ của mìn còn sót lại.

Cũng giống ông Hòn, Đặng vấp phải mìn trong lần đi rừng chặt vầu năm 2008. Tiếng nổ lớn rung chuyển đất trời, chân anh bị thương nặng. Khi đưa xuống bệnh viện bác sĩ bảo không thể cứu chữa, họ quyết định tháo khớp gối rồi anh xuất viện về nhà.

Chiếc chân giả Đặng dùng – phần đế đã mòn gần hết vì người thanh niên trẻ không chấp nhận số phận, dù tàn tật nhưng ngày ngày vẫn băng rừng làm rẫy. “Là lao động chính trong nhà, không làm biết lấy gì ăn”, Đặng bộc bạch.

Anh bảo rằng, sống ở Nậm Ngặt dù phải đối mặt với nhiều nguy hiểm rình rập nhưng đổi lại Đặng có đất làm rẫy, có nơi chăn thả trâu bò, nuôi được con lợn, con dê. Ruộng trồng lúa một vụ cũng đủ ăn quanh năm mà không sợ đói như hồi ở Bắc Mê.

40 năm chiến tranh biên giới phía Bắc: Nỗi đau dai dẳng ở mặt trận Vị Xuyên - Ảnh 14.

Chiếc mũ và bình toong đựng nước, kỷ vật Hồn giữ lại.

Hơn 30 năm sau cuộc chiến, Nâm Ngặt bây giờ thay đổi nhiều. Từ con số 20 hộ dân chuyển về đầu thập niên 90 đến nay cả bản đã tăng lên hơn 60 hộ. Họ dựng nhà dải rác khắp sườn núi.

Con đường từ Quốc lộ 2 dẫn vào bản đang được bê tông hóa. Nhà thầu cố gắng hoàn thiện nó sau tết để các cựu binh dễ dàng di chuyển lên Đài thờ trên cao điểm 468 thắp hương tưởng nhớ đồng đội.

Lý Văn Hồn vẫn còn giữ trong nhà chiếc mũ sắt và một bình toong đựng nước của bộ đội, nó đã hoen gỉ. Hồn nhặt được các kỉ vật ấy trong lúc dọn ô đất trước cửa khi trồng cỏ cho đàn trâu.

Căn nhà cấp bốn anh mới xây nằm trên sườn cao điểm 1509, dải núi này phía Trung Quốc từng gọi là núi Lão Sơn. Trên đỉnh núi ấy, quân địch từng đặt các khẩu pháo hạng nặng chĩa thẳng nòng về trung tâm xã Thanh Thủy.

Những kỉ vật ấy Hồn từng có ý định bán sắt vụn nhưng người ta trả rẻ, chẳng được vài nghìn đồng nên anh giữ lại làm kỷ niệm. “Cứ giữ đấy để con cháu sau này nhìn vào chúng nó biết quê hương mình từng có chiến tranh”.

Ở Nậm Ngặt bây giờ có những khu vực mìn, đầu đạn pháo vẫn còn sót lại. Nhiều người cũng giống Hòn, giống Đặng – bị cụt tay, mất chân trong lúc đi rừng hoặc đi nhặt vỏ đạn đem bán sắt vụn.

Hai năm trước, con trâu đực trưởng thành của một hộ dân trong bản đã bỏ mạng khi dẫm phải mìn trong lúc rong ruổi bên sườn đồi gặm cỏ. Cho đến bây giờ, người dân Nậm Ngặt không thể nhớ hết đã có bao nhiêu gia súc chết vì mìn.

Chiến tranh kết thúc, Sư đoàn 356 của Nguyễn Xuân Đệ giải thể. Rời quân ngũ, ông không trở về quê hương Nghệ An mà quyết định ở lại lập nghiệp trên chính mảnh đất mình từng cầm súng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.

Rồi ông cưới vợ, làm công tác chính quyền, trải qua các chức vụ Trưởng công an xã, Phó chủ tịch xã Việt Lâm (Vị Xuyên), rồi nghỉ hưu.

Hơn ba thập kỷ sau cuộc chiến, Đệ không cảm thấy tự hào khi nhắc lại quá khứ. Ông nghĩ rằng nhiệm vụ của người lính khi cầm súng phải quyết tâm chiến đấu, giành giật từng tấc đất cha ông để lại. Dù có hy sinh thì đó cũng là cái giá phải trả cho Tổ quốc được bình yên.

Ông vẫn nhớ rõ ngày mà địch nã quả pháo làm sập căn hầm khiến hai đồng đội của mình hy sinh. Đến bây giờ điều đó vẫn khiến Đệ day dứt lương tâm, ông bảo chẳng thể nhớ được thi thể họ được chôn cất nơi đâu.

40 năm chiến tranh biên giới phía Bắc: Nỗi đau dai dẳng ở mặt trận Vị Xuyên - Ảnh 16.

Nhiều năm về sau, những cựu binh từng chiến đấu ở Vị Xuyên như Trương Văn Đau, Nguyễn Xuân Đệ vẫn đau đáu về lời hẹn ước với đồng đội “khi nào chiến tranh kết thúc họ sẽ trở về thăm nhà của nhau” – nhưng lời hẹn ấy nhiều người không bao giờ thực hiện được.

Có những người đến hôm nay xương cốt vẫn chôn vùi dưới những vạt rừng xanh ngắt ở vùng biên cương, chưa được về với quê mẹ.

Theo thống kê của Ban liên lạc cựu chiến binh mặt trận Vị Xuyên, trong số hơn 4.000 bộ đội Việt Nam hy sinh vẫn còn hơn 2.000 liệt sĩ chưa tìm thấy hài cốt.

Nghĩa trang Vị Xuyên nằm trên trục đường Quốc lộ 2, địa phận thị trấn Vị Xuyên – hiện quy tập được hơn 2.000 mộ liệt sĩ và một ngôi mộ tập thể của những người từng tham chiến tại Hà Giang.

Nghĩa trang ấy cách nhà hai cựu binh Nguyễn Xuân Đệ, Trương Văn Đau chỉ vài cây số. Thỉnh thoảng họ lên đây thắp hương cho đồng đội. Ở đó, vẫn còn nhiều liệt sĩ vô danh được khắc dòng chữ “CHƯA BIẾT TÊN” trên tấm bia mộ.

40 năm chiến tranh biên giới phía Bắc: Nỗi đau dai dẳng ở mặt trận Vị Xuyên - Ảnh 17.

Nghĩa trang liệt sĩ Vị Xuyên.

* Bài viết có sử dụng một số tư liệu của đồng nghiệp, cựu chiến binh và cuốn sách “Sư đoàn 356 và ký ức Vị Xuyên”.

Nội dung:

Hoàng Cư
Ảnh:

Hoàng Cư
Thiết kế:

Đỗ Linh
Advertisements
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Còn riêng Trung Cộng viện trợ Hà Nội nhằm mục đích gì?

Đỗ Ngà

14-2-2019

Mối bất hoà giữa Trung Quốc và Liên Xô bắt đầu từ năm 1962, đến năm 1969 là coi nhau như thù địch. Cũng từ lúc đó trở về sau, CSVN đứng giữa 2 chọn lựa, theo anh hai Liên Xô hay theo anh ba Trung Cộng? Ngay từ lúc đấy, CSVN chẳng muốn bỏ ai, nên thực hiện trò chơi đu dây giữa 2 thằng anh Cộng Sản này.

Trong chiến tranh Việt Nam, cả Liên Xô và Trung Cộng đều viện trợ cho Hà Nội đánh Sài Gòn. Nhưng mỗi thằng có một dụng ý khác nhau. Thằng anh Liên Xô đang chạy đua vũ trang với Mỹ nhưng cả Mỹ và Liên Xô đều không muốn nổ ra chiến tranh, nên Liên Xô viện trợ cho Hà Nội đánh Sài Gòn. Tức trong bàn cờ Chiến Tranh Lạnh 2 con tướng xúi 2 con tốt phân cao thấp thôi, chứ 2 tướng không đánh trực diện.

Còn riêng Trung Cộng viện trợ Hà Nội nhằm mục đích gì? Trung Cộng thích làm ăn hơn thích thể hiện, nên Trung Cộng viện trợ là để đưa Hà Nội vào vòng phụ thuộc mình. Mục đích là để làm gì? Mục đích là từ các khoản nợ đó, Trung Cộng sẽ thu hồi giang sơn Việt Nam để cấn nợ. Dùng những món nợ ấy để nuốt dần Việt Nam như trăn nuốt mồi. Công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng chính là khoản trả nợ của Hà Nội với “ơn nghĩa” Trung Cộng.

Riêng CSVN thì được 2 thằng hùng mạnh nhất nhì khối CS viện trợ, được hậu thuẫn quá mạnh, Hà Nội hăng máu tràn vào Miền Nam tắm máu đồng bào. Kết quả họ nướng 3 triệu đồng bào thành đống xương tàn để có được “mùa xuân đại thắng” cho ĐCSVN.

Kể từ năm 1972, Trung Cộng bắt tay Mỹ để tranh thủ làm ăn kinh tế, lúc đó Liên Xô và Trung Cộng càng mâu thuẫn hơn nữa. Đến năm 1978, Trung Cộng mở cửa đón Mỹ vào làm ăn, từ đó mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Cộng đẩy lên cực độ. Giờ khoảng cách giữ Liên Xô và Trung Cộng quá xa, Việt Nam không thể đu dây được nữa, nếu tiếp tục đu, thì dây đứt CSVN sẽ chết. Cho nên, đến thời điểm này buộc CSVN phải chọn lựa 1 trong 2. Và Việt Nam đã chọn theo anh hai bỏ anh ba, thế là thằng Trung Cộng tức lồng lộn.

Vậy là bao công sức tiền của của Trung Cộng đổ ra nuôi Việt Cộng để nhằm mục đích thu nợ bằng lãnh thổ Việt Nam giờ tan thành mây khói. Điên tiết vì mất cả chì lẫn chài, nên ngày 17/02/1979 Đặng Tiểu Bình xua hơn nửa triệu quân sang “dạy cho Việt Nam một bài học”. Sau 1 tháng Trung Cộng tàn sát nhân dân Việt Nam và phá hủy 6 tỉnh biên giới miền Bắc thành bình địa, Việt Nam đánh bật quân cướp nước ra khỏi biên giới.

Kể từ sau năm 1979, thằng em út Việt Nam có anh hai Liên Xô làm chỗ dựa, nên Hà Nội không việc gì phải hòa thuận với Trung Cộng. Thế nhưng, đến năm 1990, Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, Việt Cộng bơ vơ, nên nhóm Linh – Mười – Anh mang chiếu sang Thành Đô lót gối quỳ lạy tạ lỗi với anh ba vì đã lỡ dại phản anh ba theo anh hai trong quá khứ. Giờ anh hai chết rồi, nay thằng em út xin làm trâu ngựa để nghe anh ba sai bảo, đang mồ côi nên em quỳ lạy anh ba che chở dùm. Mà một khi đã tự mình xin làm nô lệ, thì những kế hoạch mà anh ba định làm dang dở trước đó phải được phục hồi lại hoàn toàn.

Như vậy kế hoạch dang dở của Trung Cộng với Việt Nam là gì? Như đã nói phần đầu, đó là làm cho Việt Nam nợ ngập đầu và tiến hành cấn trừ bằng lãnh thổ. Cho nên, từ năm 1990 đến nay, CSVN liên tục nhượng đất, nhượng biển cho Trung Cộng để trả hết món nợ cũ. Đó là cái giá mà CSVN theo đuổi chủ thuyết CS để bảo vệ sự độc tài cai trị. Và tất nhiên, khi trả nợ cũ thì Trung Cộng cũng tròng thêm nợ mới trên đầu Việt Nam bằng thứ bẫy nợ mà Trung Cộng đã và đang áp dụng. Một khi CSVN đã gắn kết với Trung Cộng thì rứt không ra được, vì những món nợ đáng kinh tởm cứ lớn dần, và bắt buộc CSVN phải tìm cách nào đấy để giải quyết với dân nhằm thực hiện tiến trình nhượng địa cấn nợ. Và cứ như thế Trung Cộng tứ từ từ tùng xẻo lãnh thổ Việt Nam.

Hiện nay Việt Nam đang mất dần lãnh thổ về tay Trung Cộng, nhân dân đang phẫn uất. Thêm vào đó, là sự hèn hạ của ĐCSVN trước sự lấn tới của Trung Cộng làm lòng dân vốn đã căm phẫn lại càng căm phẫn. Chưa hết, đầu năm 2019, XHCN Venezuela đang lâm vào đường cùng, sợ phẫn uất của dân cộng hưởng với biến động Venezuela làm dân tràn xuống đường, thế nên ngày 19/02 năm nay, Đảng bật đèn xanh cho Ban Tuyên Giáo mở lệnh cấm, cho phép báo viết về chiến tranh biên giới 1979. Đây là hình thức xả van để giảm nhiệt tức giận của dân mà thôi. Chẳng có gì đáng mừng, mọi thứ đều không thay đổi. Tất cả đều nằm trong kế sách trị dân của ĐCS.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

DÃ TÂM THÂM ĐỘC CỦA ĐẶNG TIỂU BÌNH TẤN CÔNG VIỆT NAM 1979.

B Nguyễn Văn Phước

14-2-2019

Thật xúc động ko chỉ vì lần đầu được viết hết sự thật – mà thật sự xúc động vì sự chuyển hướng kịp thời – dù hơi trễ – để có thể thoát Trung.

DÃ TÂM THÂM ĐỘC CỦA ĐẶNG TIỂU BÌNH TẤN CÔNG VIỆT NAM 1979.

Sau một thời gian bí mật âm thầm chuyển quân, vũ khí, xe tăng và pháo hạng nặng áp sát biên giới mà phía tình báo Việt Nam không hề hay biết (phía Việt Nam ngay khi nghe đạn pháo nổ rung chuyển khắp dải biên giới cũng thực sự cũng không thể nghĩ rằng Trung Quốc lại có thể tấn công với qui mô chiến tranh lớn chưa từng có với một nước vốn là bè bạn thân thiết như vậy). Đúng 5 giờ sáng ngày thứ Bảy 17/2/1979, chọn thời gian bất ngờ nhất, không kịp chuẩn bị, đề phòng đối với người dân và người lính Việt Nam, Đặng Tiểu Bình đã đồng loạt cho nã pháo cấp tập và đưa 9 binh đoàn gồm 600.000 binh lính của Đảng Cộng sản Trung Quốc tham chiến tấn công xâm lược Việt Nam trên toàn dải biên giới giết hại nhiều chục ngàn người dân Việt Nam vô tội, tàn phá biết bao làng mạc thị trấn Việt Nam.

Rất nhiều người dân, phụ nữ, trẻ em và người lính Việt Nam trúng đạn pháo, đạn xe tăng, đạn đại liên, trung liên và AK của quân Trung Quốc trong đợt tấn công đầu tiên từ tờ mờ sáng, trước khi chết ngã gục xuống cũng không bao giờ tin là mình bị giết chết tức tưởi dưới tay quân đội Trung Quốc anh em môi hở răng lạnh được báo đài lặp đi lặp lại trước giờ.

Đối phó với dư luận trong nước và quốc tế, Ban Tuyên Giáo và Bộ Ngoại Giao Trung Quốc tuyên truyền dối trá vu cáo cho Việt Nam gây hấn trước, gửi công hàm lên Liên Hợp Quốc tố cáo trắng trợn Việt Nam đánh lấn chiếm Trung Quốc và gọi cuộc xâm lược là Chiến tranh đánh trả tự vệ trước Việt Nam (对越自卫还击战 – ‘Đối Việt tự vệ hoàn kích chiến’), ‘dạy con hổ Việt Nam một bài học’, nhưng thực chất âm mưu với chiến thuật dàn quân biển người của quân đội Trung Quốc là đánh nhanh đánh thẳng về Hà Nội trong thời gian sớm nhất vì Đặng Tiểu Bình biết rõ các cánh quân chủ lực thiện chiến cúa Việt Nam đang tập trung ở Cam Pu Chia và sát biên giới Tây Nam ko thể nào chuyển ra phía Bắc ứng phó kịp.

Ngay từ đêm hôm sau 18/2/1979, tại sân bay Tân Sân Nhất, phía Việt Nam đã huy động tất cả các loại máy bay quân sự, vận tải và hành khách để chuyển quân từ phía Nam ra phía Bắc. Tiếng động cơ cất cánh liên tục suốt đêm. Những người lính thức trắng siết chặt súng trong tay im lặng ánh mắt đanh lại hướng về phương Bắc khi biết điều gì đang xảy ra với tổ quốc đồng bào mình. Và nhiều người trong số họ đó là chuyến bay cuối cùng vĩnh viễn không trở về nhà được nữa.

Trong vòng một tháng, hơn 20.000 binh lính Trung Quốc tử trận, rất nhiều lính Trung Quốc bị bắt. Trung Quốc với chiến lược biển người, biển xe tăng sau cùng đã thất bại thảm hại trước ý chí tinh thần và lòng yêu nước của người Việt Nam và buộc phải rút quân về nước. Nhưng đó lại là mở đầu của cuộc chiến tranh chấp biên giới kéo dài suốt 10 năm sau đó ở Vị Xuyên, Bản Giốc… với biết bao hy sinh xương máu âm thầm của nhiều người lính Việt Nam mà cho đến bây giờ ít được công bố con số thương vong.

Nguyên nhân của cuộc chiến tranh xâm lược 17/2/1979 này bắt nguồn từ việc ĐCSTQ dung túng cho Khmer Đỏ thảm sát 1/4 dân số Campuchia, trong đó có cả kiều bào Trung Quốc và Việt Nam. Vì để bảo vệ người dân Việt Nam tại vùng sát biên giới và ở Campuchia, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa quân đến Campuchia, quét sạch Khmer Đỏ và giải cứu người dân Campuchia thoát khỏi địa ngục. Sau đó, ĐCSTQ đã đưa quân tiến đánh Việt Nam, ‘dạy Việt Nam một bài học’, trả đũa Việt Nam đã tiêu diệt Khmer Đỏ.

Đến nay, Khmer Đỏ đã sụp đổ, tàn dư của tổ chức này cũng đã được giao cho Tòa án quốc tế xét xử. Điều này chứng minh rằng, việc Đặng Tiểu Bình phát động cuộc chiến tranh ở biên giới Việt Nam, không chỉ là thảm bại về mặt quân sự, mà còn đại bại về chính trị.

Đặng Tiểu Bình chủ trương đưa quân tiến đánh Việt Nam, thực tế là có mục đích riêng, muốn thông qua việc điều binh khiển tướng từ đó giành được quyền lực quân sự từ tay Chủ tịch Hoa Quốc Phong, sau đó lật đổ Hoa Quốc Phong độc chiếm bá quyền. Chiêu dương đông kích tây này cũng là một loại thủ đoạn thường thấy trong đấu đá quyền lực chính trị Trung Quốc từ xưa đến nay. Đáng tiếc là Hoa Quốc Phong không phát hiện ra điều này nên đã rơi vào cái bẫy của Đặng Tiểu Bình. Sự xảo quyệt của Đặng không khác gì Tư Mã Ý thời Tam Quốc.

Năm 1989, khi giữ chức Chủ tịch Quân ủy Trung ương, Đặng Tiểu Bình đã điều động 1/3 quân chủ lực với tổng cộng 300.000 quân tiến vào Bắc Kinh nổ súng đàn áp những người dân thành thị và học sinh sinh viên tay không tấc sắt, gây nên cuộc đàn áp phong trào dân chủ đẫm máu nhất trong lịch sử Trung Quốc: Sự kiện Lục Tứ. Theo mệnh lệnh cực đoan của Đặng, quân đội ĐCSTQ trang bị xe tăng tàn bạo cán người, dùng súng máy bắn quét khiến máu nhuộm đỏ quảng trường, xác người chất thành đống. Sự kiện Lục Tứ quả thực khiến cả thế giới phải chấn động.

“Giết 200 ngàn người, đổi lấy 20 năm ổn định”. Đây là câu “danh ngôn” tâm đắc mà Đặng Tiểu Bình đưa ra trong khoảng thời gian diễn ra vụ thảm sát năm 1989. Câu “danh ngôn” này trên bề mặt là vì để ổn định quốc gia, nhưng mục đích thực tế là để ổn định chính quyền. Câu “danh ngôn” này còn một hàm ý khác, liên quan đến dục vọng cá nhân của ông ta, ít nhất để cho họ Đặng sống yên ổn những năm tháng cuối đời.

Khi ra lệnh cho học sinh sinh viên tôn trọng cúi rạp chào, Đặng Tiểu Bình cảm thấy rất thích thú, thoả mãn. Nhưng khi nghe họ hô “đả đảo Đặng Tiểu Bình” thì hắn ta trở nên sôi sục giận dữ. Nắm quyền lực trong tay, gã chỉ vì những hỷ nộ của bản thân mà tùy tiện sinh sát. Để được sống yên ổn những năm cuối đời, và cái giá để đổi lấy điều đó chính là hàng chục ngàn người đầu rơi máu chảy, hàng trăm ngàn người bị giam giữ và hàng triệu người bị bức hại. Chủ mưu gây ra cuộc tàn sát ngày 4/6 tại Thiên An Môn, cái tên Đặng Tiểu Bình đã bị đóng đinh kiên cố trên cây trụ dã man ô nhục của lịch sử.

Trước ngày 4/6, khoảng giữa tháng 5/1989, Tổng Bí thư ĐCSTQ Triệu Tử Dương đã đến gặp Đặng Tiểu Bình, đề xuất đối thoại với học sinh để có thể hai bên hiểu nhau hơn. Đặng đáp lại rằng: “Tôi đang cảm thấy vô cùng mệt mỏi, tai ù, đầu óc không suy nghĩ gì được, lời ông nói tôi cũng không nghe rõ.” Lúc đó ông này diễn lại độc chiêu “Tư Mã Ý giả bệnh lừa Tào Sảng” trong thời Tam Quốc, nhằm đối phó với ông Triệu Tử Dương. Trên thực tế, Đặng Tiểu Bình dựa vào khởi nghĩa vũ trang mà gây dựng sự nghiệp, nhờ vào lực lượng vũ trang ĐCSTQ giành chính quyền, một khi gặp phản đối, thì điều đầu tiên nghĩ tới chính là bạo lực.

Ngay sau phong trào của học sinh sinh viên mùa đông năm 1986, Đặng Tiểu Bình đã tuyên bố, chúng ta không ngại đổ máu để dẹp tan các cuộc biểu tình của sinh viên, cuối cùng khiến nó biến mất. Phát ngôn sặc mùi máu của ông này thật khiến người ta ghê sợ!

Về sau, hễ thấy học sinh sinh viên xuống đường biểu tình, Đặng Tiểu Bình lập tức mưu tính giới nghiêm hoặc thiết quân luật để kiểm soát, trong tâm thức lúc nào cũng cầm chặt báng súng. Chỉ cần tóm lược lại sự kiện Lục Tứ, cũng đủ để hình dung về một đời chém giết của ông ta. Trước khi chết, Đặng Tiểu Bình còn căn dặn lại: “Không lưu lại tro cốt, toàn bộ rắc xuống biển.” Hành động này trên bề mặt thì là học theo Chu Ân Lai, nhưng thực tế là sợ thi hài bị làm nhục. Chu Ân Lai là sợ Mao Trạch Đông, còn Đặng Tiểu Bình chính là sợ nhân dân làm nhục thi thể của mình.

Sau sự kiện Lục Tứ, hai tay Đặng Tiểu Bình nhuộm đầy máu của nhân dân. Hắn ta muốn xóa đi chuyện này, đã từng mượn lời con gái mình để nói ngụ ý rằng: “Tôi cũng là con dân của Trung Quốc, tôi cũng yêu mọi người dân một cách sâu sắc.” Có người nghe xong đã hỏi lại: “Con cái sát hại cha mẹ, đây là thứ đạo lý gì trên đời? Ai cũng biết rằng, từ xưa đến nay sát hại cha mẹ là đại tội trái với ý trời, không thể tha thứ được.”

Sau khi Mao Trạch Đông chết, Đặng Tiểu Bình do bất lợi nên ra sức phủ định Cách mạng Văn hóa. Tuy nhiên phủ định Cách mạng Văn hóa cũng chỉ là cái cớ, thực chất hắn ta muốn sửa đổi Hiến pháp, thủ tiêu đi “bốn quyền lợi tự do” của người dân, cuối cùng tiến đến thủ tiêu quyền lợi bãi công của công nhân. Việc Đặng Tiểu Bình chối bỏ Cách mạng Văn hóa, có thể nói chính là thẳng tay tước đi quyền lợi dân chủ của người dân.

ĐCSTQ khi mới bắt đầu đã tuyên bố “giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo”, có vấn đề gì phát sinh là họ bãi công, đối kháng với chính phủ quốc dân đương thời. Nhưng đến 30 năm sau khi ĐCSTQ nắm quyền, chính họ lại “lập pháp” nhằm thủ tiêu quyền lợi bãi công của công nhân. Điều này minh chứng rằng, chính quyền ĐCSTQ chuyên chế, độc tài và phản động hơn bất kỳ chính quyền nào khác.

Có người hy vọng Trung Quốc tiến tới dân chủ hóa và phó thác vào Đặng Tiểu Bình. Trong khi đó cựu Tổng Bí thư ĐCSTQ Triệu Tử Dương lúc còn sống đã thẳng thắn nhận định trong phần ghi âm rằng: Đặng Tiểu Bình nói về dân chủ chỉ là những lời lừa gạt.

Lại có người bình luận: Đặng Tiểu Bình mới là Hoàng đế cuối cùng của Trung Quốc. Trên thực tế, Hoa Quốc Phong đã kết thúc nền chính trị chuyên chế cực đoan kiểu Mao Trạch Đông, bước đầu mở ra hình thế dân chủ trong Đảng. Nhưng do hoàn cảnh bất thường, trong vài năm, Đặng Tiểu Bình dùng thủ đoạn triệt tiêu Hoa Quốc Phong, ngang tàng khôi phục hình thức chính trị chuyên chế cực đoạn kiểu Mao Trạch Đông. Đặng tự xưng là “thế hệ hạt nhân” thứ hai kế tục sự nghiệp của Mao Trạch Đông, và hầu hết mọi việc đều do hắn ta quyết định.

Mùa xuân năm 1992, Đặng Tiểu Bình 88 tuổi, đột nhiên làm theo Mao Trạch Đông diễn vở kịch đi tuần phía nam. Lúc này do bất mãn với việc Giang Trạch Dân và Lý Bằng nắm quyền chính trị, nhận thấy họ quá thiên về cánh tả nên đã xướng ra phe ánh hữu, mục đích chính thực ra để phòng phe cánh tả. Đặng Tiểu Bình khi tuần tra Quảng Đông rộng lớn, vừa đi vừa chửi, buông ra những lời nặng nề: “Kẻ nào không cải cách, kẻ đó sẽ rớt đài.”

Có người hiểu rõ tình hình tiết lộ: Thời điểm đó Đặng Tiểu Bình âm mưu hạ bệ Giang Trạch Dân và Lý Bằng. Nhưng Giang và Lý đề phòng vô cùng chặt chẽ, khi đó Đặng Tiểu Bình không có quyền hành, đến chức Chủ tịch Quân ủy cũng không phải; thêm nữa sau khi đi tuần phía nam trở về Bắc Kinh thì cảm thấy thân thể khó chịu, sức khỏe suy kiệt, nên có muốn can dự vào cục diện chính trị cũng lực bất tòng tâm.

Con người thật, dã tâm và tội ác của Đặng Tiểu Bình ghê tởm rõ như ban ngày như thế – không chỉ với Việt Nam mà đối với nhân dân Trung Quốc – Thế mà ở Việt Nam lại cho xuất bản sách vinh danh ca ngợi: “Đặng Tiểu Bình – Một Trí Tuệ Siêu Việt” như một danh nhân, một bậc lỗi lạc của thế giới ??

Sau tròn 40 năm đằng đẵng – thật xúc động – đây là lần đầu tiên các báo và người dân được viết thật hết về cuộc xâm lược của quân Trung Quốc. Linh hồn người lính và người dân Việt Nam đã hy sinh, chết trong cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc đó lần đầu tiên ấm lòng nơi chín suối.

Vâng ! Xúc động không chỉ là được nói lên sự thật – mà xúc động vì một sự chuyển hướng kip xu thế – dù có trễ – để có thể thoát Trung – vì nước vì dân – Ước mơ của biết bao nhiêu lớp người và thế hệ Việt Nam nhiều thập kỷ qua.

– (Viết trên phân tích Trần Phá Không – Nhà bình luận chính trị Trung Quốc, các tư liệu và ký ức cuộc chiến chống Trung Quốc một thời không quên).

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Cải tạo đảo: Hành động phi pháp của TQ làm thay đổi cục diện ở Biển Đông Ngà

Cải tạo đảo: Hành động phi pháp của TQ làm thay đổi cục diện ở Biển Đông

Việc Trung Quốc hoàn tất kế hoạch cải tạo đảo, xây dựng các công trình lưỡng dụng và quân sự hóa phi pháp ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam đã làm thay đổi cục diện ở Biển Đông, ảnh hưởng nghiêm trọng đối với tranh chấp giữa các bên và cạnh tranh giữa các cường quốc trong khu vực.

Đá Gạc Ma của Việt Nam ở quần đảo Trường Sa bị Trung Quốc cưỡng chiếm từ năm 1988.

Trung Quốc đã cải tạo và xây dựng các công trình phi pháp tại quần đảo Trường Sa của Việt Nam

Đá Chữ Thập là một rạn san hô thuộc cụm Nam Yết thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Đá này nằm ở vị trí cách biệt với các thực thể khác của quần đảo, nằm về phía Tây Nam của bãi san hô Tizard thuộc cụm Nam Yết và về phía Đông Bắc của cụm Trường Sa. Sau khi chiếm đóng, kiểm soát trái phép đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Namtừ năm 1988, Trung Quốc đã không ngừng mở rộng, cải tạo để biến đá này trở thành căn cứ tiền đồn quân sự quan trọng bậc nhất, phục vụ các yêu sách đòi chủ quyền ở Biển Đông của nước này. Từ năm 2010, Trung Quốc bắt đầu cải tạo, bồi đắp mở rộng quy mô lớn đá này, trong đó đã xây dựng một toà nhà bê tông dài hơn 60m trên đá Chữ Thập. Trên ngôi nhà có nhiều ăng-ten, gồm cả một ăngten radar thu phát sóng cao tần Yagi của hải quân cùng hai vòm che radar và phủ sóng mạng điện thoại trên đá này. Từ năm 2014, Trung Quốc bắt đầu cải tạo mở rộng đá Chữ Thập thành đảo nhân tạo lớn nhất quần đảo Trường Sa với diện tích khoảng 2,74 km2 (7/2015), tổng kinh phí xây dựng hơn 73 tỉ Nhân dân tệ (11,5 tỉ USD). Trung Quốc xây dựng trên đá Chữ Thập 9 cầu tàu, 2 bãi đáp trực thăng, 10 ăng ten liên lạc qua vệ tinh và một trạm radar. Đặc biệt là việc xây dựng một đường băng dài 3.125m và rộng 60m, đây là đường băng duy nhất đủ lớn cho máy bay ném bom chiến lược tại Trường Sa, cho phép quân đội Trung Quốc bao quát không phận rộng lớn từ Tây Thái Bình Dương gồm cả Guam (nơi có các căn cứ Mỹ) đến Ấn Độ Dương. Tháng 4/2018, Trung Quốc đã khánh thành Tượng đài trên đá Chữ Thập để kỷ niệm các công trình xây dựng của họ trong Biển Đông, kể cả các công trình bồi đắp đất và xây đảo nhân tạo. Tháng 5/2018, Trung Quốc đã lắp đặt các tên lửa hành trình chống hạm YJ-12B và tên lửa đất đối không HQ-9B trên ba thực thể đá Chữ Thập, Su Bi, Vành Khăn. Tháng 10/2018, Trung Quốc tiếp tục đưa vào vận hành các trạm quan sát thời tiết, gồm các thiết bị cho mặt đất và quan sát khí quyển và radar thời tiết trên 3 đảo, đá nhân tạo do nước này chiếm đóng, bồi đắp trái phép ở Biển Đông, trong đó có đá Chữ Thập. Nhiều khả năng những thiết bị này có thể sử dụng các trạm quan sát này vào mục đích quân sự. Theo đánh giá dựa trên hình ảnh chụp từ vệ tinh, các chuyên gia của chương trình Sáng kiến Minh bạch Hàng hải (AMTI) thuộc CSIS cho biết Trung Quốc xây dựng tại đá Chữ Thập trung tâm liên lạc lớn nhất trong vùng với phần góc Đông Bắc của đá này được trang bị các thiết bị liên lạc và ăng ten cảm biến lớn hơn so với các đảo nhân tạo khác ở Trường Sa. Đá Chữ Thập có thể sẽ được dùng như một cơ sở tình báo hoặc trung tâm liên lạc cho các lực lượng của Trung Quốc ở khu vực này.

Đá Vành Khăn là một rạn san hô vòng thuộc cụm Bình Nguyên trong quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Đá này nằm cách đảo Sinh Tồn Đông 57 hải lý (105,6 km) về phía Đông và cách đảo Vĩnh Viễn 51 hải lý (94,5 km) về phía Nam. Vào tháng 2/1995, Trung Quốc đã ngang nhiên điều tàu đến cưỡng chiếm đá Vành Khăn và kiểm soát đá này cho đến nay. Năm 2015, Trung Quốc bắt xây một đường băng trên đá này và đến tháng 7/2016 thì một đường băng dài 2.644m, rộng 55m này đã hoàn thành. Ngoài ra, Trung Quốc cũng đã xây dựng ngọn hải đăng, kho bãi, các mái che radar, tháp truyền tín hiệu viễn thông, cảng vận chuyển quy mô lớn… trên đá Vành Khăn. Đến tháng 5/2018, Trung Quốc đã đưa tên lửa hành trình chống hạm YJ-12B và tên lửa đất đối không HQ-9B đã được Trung Quốc lắp đặt trên đá Vành Khăn. Tháng 1/2018 Trung Quốc điều hai máy bay vận tải quân sự Xian Y-7 đến đá Vành Khăn. Tháng 10/2018, Trung Quốc lại khánh thành các trạm khí tượng tại và tuyên truyền rằng mục đích của trạm này là “đảm bảo an toàn hàng hải trên Biển Đông, phục vụ cho việc quan sát khí quyển và mặt đất cơ bản, thiết bị đo chỉ số ô nhiễm không khí”. Tuy nhiên, đa phần các ý kiến đều tỏ ra lo ngại rằng các cơ sở này sẽ được Trung Quốc sử dụng cho mục đích quân sự.

Đá Gạc Ma nằm ở phía Tây Bắc quần đảo Trường Sa, có diện tích khoảng 7,2 km2, bị Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng từ năm 1988. Thời gian đầu căn cứ của Trung Quốc tại đây chỉ là vài kết cấu hình bát giác nằm trên cọc gỗ. Đến năm 1989 tại đây đã có nhà xi măng hai tầng. Năm 2014, Trung Quốc đã tiến hành đào đắp đất cát để xây đường băng tại đây, trên bãi đá chỉ có một nền bê tông nhỏ với một cơ sở liên lạc, cầu cảng và một đơn vị đồn trú. Phần nền bê tông hiện trải rộng trên diện tích 100.000 m2, nơi rộng nhất là 400m. Đá Gạc Ma hiện có các công trình như kênh tiếp cận, nhà máy bê tông, tháp phòng thủ, bơm khử mặn, bơm nhiên liệu, cơ sở quân sự nhiều tầng, radar, trạm liên lạc, bãi đáp trực thăng, cầu cảng và đê chắn sóng gia cố. Đến nay, Trung Quốc đã hoàn thiện cải tạo phi pháp đá Gạc Ma và đưa vào sử dụng trái phép nhiều hạng mục công trình như: Tòa nhà kiên cố cao 26 – 27m gồm 8 tầng, tại 4 góc nhà đều bố trí các lỗ châu mai – lỗ bắn. Trên nóc nhà bố trí 2 ra đa hàng hải, 2 ăng ten parabol và 1 thiết bị đảm bảo bay có quả cầu che, cùng một số thiết bị thông tin liên lạc khác. Trên tầng 6 của tòa nhà, phía Trung Quốc lắp radar điều khiển hỏa lực, hệ thống kính ngắm quang học hiện đại. Tầng 5 của tòa nhà được lắp 2 bệ pháo 30mm (7 nòng) và tầng 1 lắp 2 bệ pháo 76mm. Ngoài hệ thống súng pháo trên nhà 8 tầng, còn có 1 vị trí hỏa lực lắp đặt pháo 76mm, pháo 30mm quay hướng Đông Bắc luôn có quân nhân trực canh 24/24 trong tư thế sẵn sàng chiến đấu và họ chỉ chui ra khỏi bệ pháo khi đổi ca trực. Ngoai ra, còn có các công trình khác trên bãi Gạc Ma như: 2 tháp radar đối không – đảm bảo bay cho máy bay, 1 tháp viễn thông thu phát sóng 4G cao khoảng 50m, 2 cột điện gió cùng hệ thống pin năng lượng mặt trời, 1 ngọn hải đăng cao 50m, bán kính chiếu xa khoảng 40 km… Bên cạnh đó, Trung Quốc còn nạo vét luồng rạch theo hướng Bắc – Nam với chiều dài 900 – 1.000m, rộng khoảng 250 – 400m thuận tiện cho các tàu trọng tải 4.000 tấn ra vào âu tàu phía trong bãi và cập cảng phía Bắc đá Gạc Ma.

Đá Subi là một rạn san hô vòng phía Ttây Nam quần đảo Trường Sa, dài khoảng 6,5km, rộng 3,7km. Trung Quốc chiếm đóng Subi từ năm 1988. Phần đất cải tạo trên đảo được mở rộng đáng kể từ tháng 7/2014. Nơi này hiện có kênh tiếp cận, cầu cảng, các thiết bị thông tin liên lạc, radar, đê chắn sóng gia cố, bãi đáp trực thăng, cơ sở quận sự và có thể xây một đường băng dài 3.000m. Những hình ảnh mới đây chụp từ vệ tinh DigitalGlobe cho thấy có gần 400 tòa nhà mới được xây cất trên đá Subi. Tính đến nay, Subi là đảo nhân tạo lớn nhất trong số 7 đảo Trung Quốc xây dựng trái phép tại Trường Sa. Cơ sở hạ tầng tương tự cũng được triển khai tại đá Vành Khăn và Chữ Thập, bao gồm vị trí đặt tên lửa, đường băng dài 3 km, nhà kho lớn và một loạt thiết bị có thể theo dõi vệ tinh, hoạt động quân sự nước ngoài và thông tin liên lạc.

Đá Tư Nghĩa nằm trong cụm đảo Sinh Tồn, bãi đá san hô chỉ nổi lên khi thủy triều xuống. Năm 1988, Trung Quốc đã sử dụng vũ lực cưỡng chiếm trái phép bãi đá này từ Việt Nam. Đầu những năm 1990, phía Trung Quốc bắt đầu xây dựng nhà tạm thành nhà kiên cố 2 tầng với cầu cảng, lô cốt và hệ thống thông tin liên lạc, ụ pháo… đến nay từ một đảo chìm ban đầu, chỉ có một căn nhà 2 tầng thì nay căn nhà đó đã được thay bằng một khối nhà cao tầng đồ sộ. Từ năm 2014, phía Trung Quốc đã huy động hàng chục tàu vận tải công trình trọng tải lớn, tập trung xây dựng cải tạo trái phép bãi Tư Nghĩa thành căn cứ quân sự. Hiện nay, căn cứ quân sự do Trung Quốc xây dựng trái phép trên bãi Tư Nghĩa đã hoàn tất các cơ sở hạ tầng, công trình trên diện tích cải tạo khoảng 9,5 ha bao gồm nhà kiên cố 8 tầng cao khoảng 26 – 27m, tại 4 góc nhà của các tầng đều bố trí lỗ bắn. Trên nóc bố trí 2 radar hàng hải và 2 ăngten parabol, 1 thiết bị có quả cầu che và các thiết bị thông tin liên lạc, quan sát. Ở tầng 6 của tòa nhà lắp rada điều khiển hỏa lực, kính ngắm quang học, còn tầng 5 lắp 4 bệ pháo 30 mm (7 nòng), tầng 1 lắp 4 bệ pháo 76 mm… Ngoài ra, vị trí hỏa lực lắp đặt pháo 76 mm, pháo 30 mm quay hướng Đông; tháp viễn thông thu phát sóng 4G cao khoảng 50 m; bãi đáp trực thăng, cầu cảng hướng Đông – Tây dài khoảng 80 – 100 m. Ngoài việc bồi đắp và xây dựng khối nhà 09 tầng, Trung Quốc cũng cho nạo vét một luồng dẫn vào cầu cảng của đá Tư Nghĩa, dài khoảng 900m với độ sâu trên 10m để đón các tàu trọng tải lớn vào cảng.

Bãi đá Châu Viên nằm ở phía Tây quần đảo Trường Sa của Việt Nam, bị Trung Quốc chiếm đóng từ năm 1988. Trung Quốc hiện đã cải tạo phi pháp và mở rộng diện tích phần đất nhân tạo trên bãi đá Châu Viên lên đến 119.711 m2. Những công trình xuất hiện tại đây gồm kênh tiếp cận, đê chắn sóng, bãi đáp trực thăng, các tòa nhà hỗ trợ, cơ sở quân sự, ăng ten liên lạc vệ tinh, radar, hải đăng…

Đá Gaven là một rạn san hô hình trái tim, thuộc quần đảo Trường Sa, bị Trung Quốc chiếm từ năm 1988 và đưa quân đồn trú trái phép tại đây từ năm 2003. Đến nay, Trung Quốc đã cải tạo, mở rộng trái phép diện tích 114.000 m2 trên đá Gaven. Bãi đá này có kênh tiếp cận, súng phòng không, súng hải quân, thiết bị liên lạc, kiến trúc hỗ trợ xây dựng, tháp phòng thủ, cơ sở quân sự, bãi đáp trực thăng và đê chắn sóng.

Hành động của Trung Quốc vi phạm luật quốc tế

Việc Trung Quốc ồ ạt xây dựng các đảo nhân tạo ở quần đảo Trường Sa còn đang tranh chấp đã làm thay đổi một cách sâu sắc cục diện địa lí và an ninh ở Biển Đông.Cho đến nay việc xây dựng các đảo này đã tạo ra 8 triệu m2 đất đai giữa biển khơi, vượt trội các hoạt động bồi đắp của các nước khác và chưa thấy có dấu hiệu giảm tốc. Hàng trăm triệu tấn cát và san hô đã được nạo vét từ đáy biển và đổ lên các rạn san hô mong manh vốn là những thành phần vô cùng thiết yếu của hệ sinh thái biển. Các chuyên gia về hải dương tiên lượng rằng công việc này đã gây ra những tác động khốc liệt và khó đảo ngược lại được lên môi trường.

Các đảo vừa được tạo ra và mở rộng sẽ trở thành cơ sở hạ tầng tạo điều kiện cho Trung Quốc triển khai lực lượng và áp đặt sự kiểm soát trên thực tế không chỉ ở quần đảo Trường Sa còn đang tranh chấp mà còn đối với hầu hết Biển Đông, lấn sâu vào các vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) mà theo bất kì cách diễn giải luật quốc tế hợp lí nào về phân giới biển đúng lẽ phải thuộc về các nước khác. Mặc dù các các đảo và các EEZ đã bị tranh chấp từ nhiều thập kỉ, một sự cân bằng bấp bênh đã tồn tại cho tới nay một phần là do cơ sở hạ tầng quân sự gần nhất của Trung Quốc nằm cách xa hàng trăm dặm về phía bắc. Từ nay, các nhà hoạch định quốc phòng của các nước khác trong tranh chấp phải đối mặt với một tương lai đã mất đi sự an toàn có từ khoảng cách đó.

Một quan ngại khác là liệu Trung Quốc có sử dụng các đảo mới được tạo ra hoặc mở rộng để đưa ra các yêu sách biển mới ở Biển Đông hay không. Thứ nhất, Trung Quốc có thể sẽ tuyên bố lãnh hải 12 hải lí hoặc một dạng “vùng báo động quân sự” mơ hồ nào đó quanh Đá Vành Khăn (Mischief Reef) và Đá Subi (Subi Reef). Điều này sẽ xâm phạm quyền tự do đi lại trên biển và trên không của cộng đồng quốc tế vốn đang tồn tại ở các khu vực này. Thứ hai, Trung Quốc có thể tuyên bố lãnh hải xung quanh các đảo mới được tạo ra hoặc mở rộng vốn gần đảo đang do các nước khác đóng quân. Điều này sẽ dẫn đến xung đột trực tiếp với các bên khác trong tranh chấp. Thứ ba, việc tạo ra và mở rộng các đảo mới có thể làm Trung Quốc hung hăng hơn trong việc đòi EEZ cho quần đảo Trường Sa. Điều này sẽ làm trầm trọng thêm các tranh chấp biển trong khu vực.

Trung Quốc biện minh rằng “Các hoạt động của Trung Quốc trên các đảo và rạn đá hữu quan ở quần đảo Nam Sa  hoàn toàn nằm trong chủ quyền của Trung Quốc và là hoàn toàn chính đáng”. Một số nhà phân tích còn lập luận thêm rằng Trung Quốc không vi phạm bất cứ luật biển nào. Tuy nhiên, có thể cho thấy những lập luận này không đúng trên nhiều phương diện.

Thứ nhất, Đá Chữ Thập (Fiery Reef), Đá Gạc Ma (Johnson South Reef), Đá Châu Viên (Cuarteron Reef), Đá Huy Giơ (Huges Reef) và Đá Gaven (Gaven Reef) đang có tranh chấp chủ quyền. Vì vậy, quả là thiếu thiện chí khi một bên trong tranh chấp thay đổi tính chất địa lý của chúng một cách hoàn toàn và không thể khôi phục lại đuợc. Nếu một ngày nào đó, có tòa án quốc tế được trao thẩm quyền để phân xử tranh chấp và tòa phán quyết rằng các đảo này thuộc về một quốc gia khác không phải Trung Quốc thì sự thiệt hại cho các rạn đá này do hậu quả của việc xây đảo đã làm tổn hại quyền lợi của quốc gia đó một cách không khắc phục được.

Thứ hai, vì Đá Vành Khăn và Đá Subi trong trạng thái tự nhiên nằm dưới mặt nuớc lúc triều cao và cách xa các đảo khác  hơn 12 hải lí, luật tập quán quốc tế không cho phép quốc gia nào có thể tuyên bố chủ quyền đối với chúng. Vì vậy, các hoạt động xây dựng tại đảo tại các rạn đá này không thể nằm trong chủ quyền của Trung Quốc. Hơn nữa, sẽ là bất hợp pháp nếu Trung Quốc hay bất cứ nước nào khi khẳng định chủ quyền đối với các đảo nhân tạo tại các địa điểm này.

Thứ ba, Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) không cho phép Trung Quốc sử dụng các đảo nhân tạo tại Đá Vành Khăn và Đá Subi để đòi hỏi lãnh hải 12 hải lí hoặc EEZ bên ngoài: các đảo nhân tạo chỉ được hưởng một vùng an toàn mà có thể mở rộng tối đa là 500 mét.

Thứ tư, Trung Quốc đang vi phạm Điều 192 và 123 của UNCLOS, về bảo vệ môi trường biển, đặc biệt là trong các vùng biển kín và nửa kín như Biển Đông. Điều 192 quy định rằng “Các quốc gia có nghĩa vụ bảo vệ và giữ gìn môi trường biển”, trong khi Điều 123 đòi hỏi các quốc gia quanh một biển kín hay nửa kín phải “phối hợp thực hiện các quyền và nghĩa vụ của họ đối với việc bảo vệ và bảo tồn môi trường biển” . Dù dĩ nhiên là mỗi bên tranh chấp ở quần đảo Trường Sa sẽ nghĩ rằng họ, và chỉ một mình họ, có quyền xây dựng trên các đảo và các rạn san hô đang bị tranh chấp, nhưng không thể phủ nhận rằng tất cả họ đều có nghĩa vụ bảo vệ và giữ gìn môi trường biển của Biển Đông, một biển nửa kín và dễ bị tổn hại về môi trường.

Trong phán quyết năm 2003 về vụ tranh chấp giữa Malaysia và Singapore về hoạt động bồi đắp của Singapore, Tòa án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS) đã buộc “Singapore không được tiến hành việc bồi đắp của mình theo những cách có thể gây tổn hại không thể khắc phục tới các quyền lợi của Malaysia hay gây tổn hại nghiêm trọng cho môi trường biển, đặc biệt là phải tính đến các  báo cáo của nhóm chuyên gia độc lập”. Singapore đã tuân thủ phán quyết của tòa. Ngược lại, Trung Quốc hoàn toàn không đếm xỉa tới nghĩa vụ của họ với UNCLOS qua việc nạo vét hàng trăm triệu tấn cát và san hô từ đáy biển và đổ lên 8 triệu m2 thuộc các rạn san hô vốn là môi trường tối quan trọng cho cá đẻ trứng mà không có bất cứ đánh giá nào của các chuyên gia độc lập, và không có sự phối hợp hoặc thậm chí tham vấn nào với các quốc gia ven biển khác.

Thứ năm, việc khu vực quần đảo Trường Sa đang có tranh chấp lãnh thổ và tranh chấp biển đưa chúng ta đến một vi phạm UNCLOS khác của Trung Quốc. Điều 74 và 83 của Công ước này đòi hỏi rằng trong các khu vực có các yêu sách EEZ hoặc thềm lục địa mở rộng mâu thuẫn nhau thì các bên tranh chấp “trên tinh thần hiểu biết và hợp tác, sẽ thực hiện mọi nỗ lực để tham gia vào các dàn xếp tạm thời có tính chất thực tiễn và, trong giai đoạn chuyển tiếp này, không gây phương hại cho hay cản trở việc đi đến các thỏa thuận cuối cùng”. Trong phán quyết năm 2004 đối với vụ Guyana kiện Suriname, Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) đã giải thích điều khoản này có nghĩa là các bên tranh chấp không được phép đơn phương gây ra thay đổi vĩnh viễn lên các vùng tranh chấp.

Khó chối cãi được Đá Vành Khăn là một khu vực thuộc EEZ đang có tranh chấp, trong khi Đá Subi có thể thuộc EEZ hay thềm lục địa mở rộng đang có tranh chấp, do đó Điều 74 và 83 UNCLOS và phán quyết vụ Guyana-Suriname rõ ràng có thể áp dụng ở đây. Việc xây dựng  đảo trên Đá Vành Khăn và Đá Subi rõ ràng vi phạm các điều khoản này.

Không như Đá Vành Khăn và Đá Subi, các rạn đá Chữ Thập (Fiery Cross), Gạc Ma (Johnson South), Châu Viên (Cuarteron),  Huy Gơ (Hughes) và Ga Ven (Gaven) thì hoặc là có chỗ tự nhiên nằm trên mặt nuớc khi triều cao hoặc nằm trong phạm vi 12 hải lí của các đảo khác.  Theo UNCLOS, các rạn đá này có lãnh hải bao quanh. Vì thế, việc xây dựng đảo  trên chúng diễn ra trong lãnh hải, có nghĩa Điều 74 và 83 của UNCLOS và phán quyết vụ Guyana-Suriname (vốn chỉ áp dụng cho EEZ và thềm lục địa mở rộng) có vẻ không liên quan. Tuy nhiên, nếu nhìn cặn kẽ hơn thì sẽ  thấy khác đi. Ai cũng biết rõ là các rạn san hô là bãi đẻ trứng cá quan trọng của các đại dương và biển, và việc phá hủy chúng sẽ ảnh hưởng đến trữ lượng cá tại những vùng biển cách xa các rạn đá này. Việc xây dựng đảo ồ ạt  trên rạn san hô do đó có thể có ảnh hưởng lâu dài cho vùng EEZ ngoài lãnh hải của các rạn san hô. Trong trường hợp của quần đảo Trường Sa, vùng EEZ đó đang có tranh chấp, do đó Điều 74 và 83 UNCLOS và phán quyết vụ Guyana-Suriname áp dụng đuợc, điều đó có nghĩa là các hành động gây ra những thay đổi vĩnh viễn cho EEZ là bất hợp pháp ngay cả khi chính các hành động đó diễn ra trong lãnh hải.

Hoạt động phi pháp của Trung Quốc đã thay đổi cục diện ở Biển Đông

Sau khi Trung Quốc hoàn thành quá trình cải tạo đá, bãi cạn trái phép ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam, nhằm biến các đảo đá và bãi chìm này thành các đảo lớn với đường băng, cảng tàu và các cơ sở quân sự và dân sự khác.

Các quan chức và học giả Trung Quốc đã đưa ra nhiều lý do để biện minh cho bước đi chiến lược của Trung Quốc, bao gồm nhu cầu nâng cao năng lực tìm kiếm cứu nạn ở Biển Đông, cải thiện điều kiện sống và làm việc của các công dân Trung Quốc trên các thực thể đó và nhu cầu thiết lập một căn cứ hỗ trợ cho hệ thống radar và tình báo của Trung Quốc. Đại biểu của Trung Quốc cũng đã nhiều lần phàn nàn tại các hội thảo, hội nghị quốc tế rằng không công bằng khi chĩa mũi dùi chỉ trích vào Trung Quốc trong khi các bên yêu sách khác ở Biển Đông đã thực hiện các hoạt động cải tạo đất, Trung Quốc là bên yêu sách cuối cùng xây dựng đường băng ở đó.

Bất kể lý do là gì, các dự án cải tạo đất quy mô lớn và chưa có tiền lệ của Trung Quốc khi hoàn tất sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đối với tranh chấp giữa các bên và cạnh tranh giữa các cường quốc ở Biển Đông. Các đội tàu cá của Trung Quốc, vốn đã được hưởng sự ủng hộ về tài chính, kỹ thuật và hành chínhcủa chính quyền trung ương và địa phương, có thể sử dụng các cơ sở tiện ích trên các hòn đảo được mở rộng này để tăng thời gian và mở rộng phạm vi của các hoạt động đánh bắt. Điều này sẽ châm mồi cho căng thẳng và tạo ra đối đầu khi các đội tàu cá của Trung Quốc xâm nhập vào vùng đặc quyền kinh tế của các bên khác như Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Indonesia và va chạm với lực lượng tàu cá và chấp pháp của các quốc gia trên.

Các hòn đảo được mở rộng với đường băng và cảng biển có thể sẽ củng cố năng lực uy hiếp của Trung Quốc, cho phép Trung Quốc triển khai nhanh chóng và hùng hậu các tàu và máy bay quân sự, bán quân sự và giả dân sự đến khu vực phía nam và trung tâm Biển Đông trong trường hợp xảy ra chạm trán với các bên yêu sách khác.

Tạp chí Thông tin Tình báo Quốc phòng Jane’s Defence Weekly cho rằng các cơ sở của Trung Quốc trên các hòn đảo được cơi nới này “được xây dựng với chủ đích nhằm ép buộc các bên yêu sách khác phải từ bỏ yêu sách chủ quyền và sự kiểm soát của mình trên các đảo ở Trường Sa.” Khó có khả năng các bên khác từ bỏ yêu sách chủ quyền và sự kiểm soát của mình trên các đảo hiện nay ở Trường Sa, tuy nhiên những cơ sở đó sẽ tăng cường khả năng của Trung Quốc trong việc phong tỏa các tuyến đường tiếp tế của Việt Nam, Philippines đến các đảo và đá mà họ đang kiểm soát ở Trường Sa. Nỗ lực của Trung Quốc trong việc bao vây các tuyến đường tiếp tế của Trung Quốc ở bãi cạn Cỏ Mây (Second Thomas Shoal) trong nửa đầu năm 2014 đã minh chứng cho điều này.

Nhìn ở góc độ lạc quan hơn, việc sở hữu các đảo lớn với các cơ sở quân sự và dân sự hiện đại có thể đáp ứng tất cả các nhu cầu của Trung Quốc sẽ khiến cho nước này giảm động lực muốn tấn công các đảo do các bên khác kiểm soát.

Khác với sự hiện diện của các bên yêu sách khác ở Trường Sa, với mục tiêu chính là chứng minh sự quản lý hiệu quả các đảo do họ kiểm soát bằng cách xây dựng các đường băng có thể hỗ trợ cho việc tiếp tế các đảo, sự hiện diện càng tăng về mặt quân sự của Trung Quốc là nhằm đẩy mạnh khả năng triển khai sức mạnh, nếu không muốn nói là làm chủ cả Biển Đông. Mạng lưới các căn cứ quân sự của Trung Quốc ở Biển Đông, nối liền căn cứ Tam Á ở đảo Hải Nam, đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa ở phía tây, với các “hàng không mẫu hạm không thể đánh chìm” ở Đá Chữ Thập, Đá Gạc Ma, Đá Châu Viên và Đá Gaven thuộc quần đảo Trường Sa ở vùng trung tâm và phía nam Biển Đông, và với các căn cứ tiềm năng ở Bãi Vành Khăn và Bãi cạn Scarborough ở phía đông sẽ tăng cường khả năng của Trung Quốc trong việc thực thi vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) ở Biển Đông (khi được thiết lập). Liên hoàn căn cứ này cũng sẽ gia tăng năng lực của Trung Quốc trong các hoạt động: quấy nhiễu các hoạt động quân sự của Mỹ trên biển và trên không; săn tàu ngầm của Mỹ; và lần đầu tiên đặt nước Australia trong tầm ngắm của máy bay ném bom chiến lược của Trung Quốc; kiểm soát hay ít nhất là gửi tín hiện răn đe về khả năng phong tỏa các tuyến đường cung cấp năng lượng trọng yếu từ Trung Đông đến Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan.

Trước âm mưu, ý đồ và hoạt động phi pháp của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa, Bộ Ngoại giao Việt Nam và các nước đã nhiều lần phản đối hoạt động cải tạo, bồi đắp và quân sự hóa trên Biển Đông của Trung Quốc. Việt Nam khẳng định “có đầy đủ căn cứ pháp lý và bằng chứng lịch sử để khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa cũng như các quyền hợp pháp đối với các vùng biển của Việt Nam được xác định phù hợp với UNCLOS”. Hành động của Trung Quốc đi ngược lại tinh thần của Tuyên bố của các bên ở Biển Đông (DOC), trái với thoả thuận về nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam – Trung Quốc, không phù hợp với thoả thuận quan trọng lãnh đạo cấp cao hai nước đã đạt được về kiểm soát tốt bất đồng trên biển. Các hành động của Trung Quốc không có lợi cho việc duy trì môi trường hoà bình, ổn định, hợp tác ở Biển Đông và xu thế phát triển tốt đẹp của quan hệ Việt Nam và Trung Quốc, cũng như nỗ lực của các nước trong việc đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử (COC) hiện nay.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Kinh tế biển Việt Nam gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo

THẾ GIỚI ĐẠI DƯƠNG

Kinh tế biển Việt Nam gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo

Việt Nam có tiềm năng rất lớn để phát triển kinh tế biển với lợi thế về địa – chính trị, địa – kinh tế khi nằm trên bờ Biển Đông, nơi tuyến hàng hải sôi động của thế giới chạy qua, có biển, vùng bờ biển và hải đảo phong phú tài nguyên. Để kinh tế biển phát triển, Việt Nam cần phát huy tối đa các tiềm năng và lợi thế so sánh cũng như bảo đảm an toàn cho môi trường sinh thái.

Tiềm năng và lợi thế

Với chiều dài bờ biển 3.260km, Việt Nam nằm trong số 10 quốc gia có chỉ số cao nhất về chiều dài bờ biển so với diện tích lãnh thổ. Theo đó, bình quân cứ 10km2 đất liền có 1km bờ biển, cao gấp 6 lần chỉ số trung bình của thế giới. Việt Nam có hơn 3.000 hòn đảo và hơn 1 triệu km2 vùng biển kinh tế đặc quyền rộng gấp 3 lần diện tích đất liền, chứa đựng nhiều hệ sinh thái quan trọng và nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng.

Xét về vị thế, vùng biển Việt Nam có vị trí hết sức quan trọng, là con đường biển ngắn nhất nối liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương và hiện nay là tuyến hàng hải nhộn nhịp thứ 2 trên thế giới. Trong lịch sử và cho đến tận bây giờ, đây vẫn là con đường huyết mạch nối liền đông bán cầu và tây bán cầu. Việt Nam cũng nằm tại khu vực có nhiều nền kinh tế có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới hiện nay, như Trung Quốc, Ấn Độ và một số nước Đông Nam Á khác. Vùng biển Việt Nam lại nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiều khu vực ấm quanh năm, rất thuận lợi cho du khách từ nhiều quốc gia, đặc biệt từ các quốc gia có mùa đông lạnh tới nghỉ dưỡng, tắm biển… Tài nguyên vị thế trên vùng biển Việt Nam còn thể hiện ở giá trị sử dụng của không gian biển. Với vị trí thuận lợi cho giao thông và các vũng, vịnh kín có độ sâu lớn, rất thuận lợi làm cảng, không gian rộng lớn ở ven biển và trên bờ biển rất thuận lợi để phát triển các khu kinh tế. Không gian mặt nước và các bãi bồi ven biển cũng rất thuận lợi để nuôi trồng hải sản, đặc biệt là các hải sản có giá trị kinh tế cao.”

Ngoài giá trị về vị thế, vùng biển Việt Nam còn có nhiều nguồn tài nguyên phong phú, trong đó giá trị lớn là dầu khí, nguồn lợi thủy sản… Theo các số liệu thống kê, trữ lượng cá ở vùng biển nước ta khoảng 5 triệu tấn/năm, trữ lượng cá có thể đánh bắt hằng năm khoảng 2,3 triệu tấn. Dọc ven biển có tên 37 vạn ha mặt nước các loại có khả năng nuôi trồng thủy sản nước mặn – lợ, nhất là nuôi các loại đặc sản xuất khẩu như tôm, cua, rong câu. Ngoài ra còn có hơn 50 vạn ha các eo vịnh nông và đầm phá ven bờ như vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, phá Tam Giang, vịnh Vân Phong… là môi trường rất thuận lợi để phát triển nuôi cá và đặc sản biển. Bờ biển Việt Nam cũng có nhiều vũng, vịnh sâu kín gió, rất thuận lợi để làm cảng biển.

Với đường bờ biển dài và hơn 3.000 hòn đảo, Việt Nam được thiên nhiên ban phú cho nhiều bãi tắm đẹp, có giá trị nghỉ dưỡng cao. Theo thống kê, dọc bờ biển Việt Nam có khoảng 125 bãi biển đẹp, trong đó, một số bãi biển và vịnh được đánh giá là những bãi biển và vịnh đẹp nhất của thế giới như bãi biển Mỹ Khê (Đà Nẵng), Phú Quốc (Kiên Giang), Eo gió (Bình Định), vịnh Nha Trang, vịnh Lăng Cô, đặc biệt, vịnh Hạ Long với cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp hai lần được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới. Điều này tạo nhiều lợi thế cho Việt Nam phát triển du lịch biển.

Động lực tăng trưởng từ các địa phương ven biển

Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 10 năm qua (2008-2017), tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của các địa phương ven biển tăng trưởng bình quân 7,5%/năm, cao hơn so với nhịp tăng trưởng chung của cả nước (cả nước tăng 6%/năm). Năm 2017, GRDP của các địa phương ven biển chiếm 60,5% GDP cả nước, GRDP bình quân đầu người đạt 64,9 triệu đồng, cao hơn so với mức bình quân cả nước đạt 53,5 triệu đồng. Trong đó, một số địa phương có mức GRDP bình quân đầu người đạt cao như Bà Rịa-Vũng Tàu (đạt hơn 225 triệu đồng), Quảng Ninh (đạt hơn 90 triệu đồng), Đà Nẵng (đạt hơn 70 triệu đồng).

Một số ngành kinh tế biển được xác định ưu tiên có bước phát triển mạnh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, như: Du lịch biển, đảo; khai thác và chế biến hải sản; phát triển các khu kinh tế ven biển; các hệ thống giao thông của các địa phương ven biển (đường bộ, cảng hàng không, cảng biển, cảng cá…) đều được phát triển.

Các địa phương ven biển đều tích cực thu hút đầu tư xây dựng và phát triển nhiều khu, điểm du lịch ven biển mới và hiện đại, thu hút số lượng lớn khách du lịch trong nước, quốc tế. Khá nhiều dự án đầu tư khu du lịch biển, đảo cao cấp, khu du lịch thể thao, giải trí ven biển có số vốn từ 500 triệu USD đến 1 tỷ USD. Ven biển cả nước phát triển được chuỗi các khu du lịch, khu nghỉ dưỡng hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc tế (4-5 sao) ở hầu hết các địa phương ven biển. Phát triển một số trung tâm du lịch biển có tầm trong khu vực, như: Vân Đồn, Đà Nẵng, Phan Thiết, Phú Quốc… thu hút hàng triệu khách du lịch quốc tế mỗi năm. Du lịch biển, đảo hiện đóng góp khoảng 70% tổng doanh thu hằng năm của ngành du lịch cả nước.

Các chính sách về hỗ trợ ngư dân khai thác hải sản, đóng tàu đánh bắt xa bờ có tác dụng tích cực. Sản lượng khai thác hải sản hằng năm tăng nhanh và liên tục, từ năm 2006 đến 2017, sản lượng tăng từ 1,8 triệu tấn lên 3,2 triệu tấn. Các doanh nghiệp chế biến thủy, hải sản tăng lên nhanh cả về số lượng và chất lượng sản phẩm. Đến nay, có hơn 620 cơ sở chế biến thủy, hải sản quy mô công nghiệp, trong đó có 415 nhà máy chế biến đạt tiêu chuẩn xuất khẩu vào những thị trường yêu cầu cao về chất lượng, an toàn thực phẩm (Nhật Bản, Mỹ, EU…).

Hiện cả nước có 17 khu kinh tế ven biển được thành lập với tổng diện tích mặt đất và mặt nước biển gần 845.000ha. Đến cuối năm 2017, các khu kinh tế ven biển đã thu hút hơn 390 dự án đầu tư nước ngoài với tổng mức đầu tư đăng ký đạt 45,5 tỷ USD, vốn đầu tư thực hiện đạt 26,5 tỷ USD và 1.240 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư đạt 805.000 tỷ đồng, vốn đầu tư thực hiện đạt 323,6 nghìn tỷ đồng. Một số khu kinh tế như: Nghi Sơn, Vũng Áng, Chu Lai, Dung Quất… thu hút được những dự án đầu tư lớn, có vai trò quan trọng tăng cường năng lực sản xuất ngành công nghiệp cả nước, đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy nhiều ngành khác phát triển. Trong năm 2017, các khu kinh tế ven biển đạt tổng doanh thu khoảng 14,3 tỷ USD, xuất khẩu hơn 7,2 tỷ USD, đóng góp vào ngân sách khoảng 40.000 tỷ đồng.

Hệ thống cảng biển được xây dựng phát triển cả về quy mô, số lượng và mật độ tại các vùng ven biển. Đến nay, cả nước có 45 cảng biển gồm 3 cảng cửa ngõ quốc tế, trung chuyển quốc tế (Hải Phòng, Bà Rịa-Vũng Tàu và Vân Phong), 11 cảng đầu mối khu vực, 17 cảng tổng hợp địa phương, ngoài ra có hệ thống cảng chuyên dùng cho các khu công nghiệp tập trung, khu kinh tế; tổng số có 241 bến cảng, 18 khu neo đậu, chuyển tải, tổng công suất thiết kế đạt 534,7 triệu tấn/năm; có hơn 10 cảng có thể tiếp nhận tàu trọng tải lớn 20.000DWT đến hơn 40.000DWT. Đang xây dựng cảng biển, cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện (Hải Phòng) có khả năng tiếp nhận tàu container, tàu hàng tổng hợp đến 50.000DWT đầy tải và tàu 100.000DWT giảm tải.

Đời sống, mức sống của nhân dân vùng ven biển và trên các đảo được cải thiện, nâng lên rõ rệt cả về vật chất và tinh thần. Từ năm 2006 đến 2016, thu nhập bình quân đầu người/tháng ở các địa phương ven biển tăng lên gấp 4,8 lần; năm 2016 đạt 3,035 triệu đồng/người/tháng (mức trung bình cả nước là 3,049 triệu đồng/người/tháng). Giai đoạn 2011-2016, các tỉnh, thành phố ven biển đã giải quyết việc làm cho khoảng 4,67 triệu lao động, chiếm 49,73% tổng số việc làm tạo ra của cả nước.

Kinh tế biển Việt Nam chưa tương xứng với tiềm năng

Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế xã hội Quốc gia – Bộ Kế hoạch và Đầu tư đánh giá một cách tổng thể, sự phát triển của kinh tế biển, đảo ở Việt Nam vẫn chưa xứng tầm với các điều kiện và lợi thế sẵn có. Quy mô kinh tế biển của thế giới ước đạt 1.300 tỉ USD. Theo ước tính, quy mô kinh tế biển và vùng ven biển Việt Nam bình quân đạt khoảng 47 – 48% GDP cả nước, trong đó, GDP của kinh tế “thuần biển” mới đạt khoảng 20 – 22% tổng GDP cả nước. Trong các ngành kinh tế biển, đóng góp của các ngành kinh tế diễn ra trên biển chiếm 98%, chủ yếu là khai thác dầu khí, nuôi trồng, đánh bắt hải sản, vận tải biển, du lịch biển. Các ngành kinh tế có liên quan trực tiếp tới khai thác biển như chế biến dầu khí, chế biến thủy hải sản, đóng và sửa chữa tàu biển, thông tin liên lạc… bước đầu phát triển, nhưng hiện tại quy mô mới chiếm khoảng 2% kinh tế biển và 0,4% tổng GDP cả nước. Kết cấu hạ tầng các vùng biển, ven biển, đảo tuy được quan tâm nhưng vẫn còn hạn chế. Hệ thống cảng biển nhỏ bé, manh mún, mạng lưới tàu thuyền, trang thiết bị nhìn chung còn lạc hậu và chưa đồng bộ nên hiệu quả thấp.

Điều đáng lo ngại là việc phát triển kinh tế biển đã gây ra những suy thoái rất mạnh mẽ tới môi trường và các nguồn tài nguyên biển. Phát triển kinh tế biển của Việt Nam hiện nay đang gặp rất nhiều thách thức, chủ yếu là do chủ quan. Nguyên nhân lớn nhất là do chưa có quy hoạch sử dụng biển cũng như quy hoạch tổng thể sử dụng vùng bờ biển theo quan điểm quản lý tổng hợp. Điều đó dẫn tới nguồn thủy sản bị đánh bắt cạn kiệt, các hệ sinh thái biển quan trọng như rừng ngập mặn, hệ rạn san hô, thảm thực vật biển bị phá hoại và suy thoái nghiêm trọng. Nhận thức của ngư dân còn thấp nên còn đánh bắt cá trái phép, thậm chí đánh bắt hủy diệt tại các vùng biển Việt Nam và vùng biển nước ngoài, gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng tới thủy sản xuất khẩu của Việt Nam. Ô nhiễm môi trường biển ngày càng gia tăng điển hình là vụ xả nước thải trái phép ra biển của Công ty Hưng Nghiệp (Fomosa) tại Hà Tĩnh, đã gây ra những hậu quả rất lớn tới môi trường biển và kinh tế – xã hội tại các tỉnh ven biển từ Hà Tĩnh tới Thừa Thiên Huế.

Bên cạnh đó, việc quản lý nhiều khu bảo tồn biển chưa hiệu quả nên chưa tạo nhiều thay đổi trong phục hồi, tái tạo nguồn lợi thủy sản. Việc đầu tư kết cấu hạ tầng ven biển còn dàn trải. Hệ thống chính sách, pháp luật phát triển kinh tế biển chưa đồng bộ, chưa tạo được sức mạnh để điều chỉnh các hoạt động phát triển kinh tế biển. Đặc biệt, nhận thức về phát triển một cách hiệu quả, bền vững kinh tế biển của cán bộ và nhân dân chưa cao, khái niệm về nền kinh tế biển xanh hầu như chưa được hiểu và áp dụng thống nhất ở Việt Nam.

Hạn chế khi thực hiện Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020:

Nguyên nhân chính của những hạn chế là do 10 năm qua, ngân sách nhà nước đầu tư cho vùng ven biển và đảo tăng nhưng lại chủ yếu cho các công trình hạ tầng, cho phúc lợi xã hội hạn chế; khả năng đầu tư của ngoài nhà nước rất hạn chế. Bên cạnh đó, xuất phát điểm sinh kế và thu nhập của người dân ven biển, đảo rất thấp so với mức trung bình cả nước, cụ thể:

Thứ nhất, nhận thức về vai trò, vị trí của biển và kinh tế biển của các cấp, các ngành, các địa phương ven biển và người dân còn chưa đầy đủ; vẫn còn có những quan niệm khác nhau về kinh tế biển; chưa coi trọng tính liên kết giữa các mảng không gian kinh tế biển và các vùng kinh tế biển-ven biển-đảo.

Thứ hai, quy mô kinh tế biển còn nhỏ bé, phát triển chưa tương xứng với tiềm năng; cơ cấu ngành nghề chưa hợp lý; chưa chuẩn bị điều kiện để vươn ra vùng biển quốc tế (đại dương), trong khi Đảng ta đã thừa nhận luận điểm của thời đại – “Thế kỷ XXI là thế kỷ của đại dương” trong Chiến lược biển 2020. Theo các tính toán, quy mô kinh tế (GDP) biển và vùng ven biển (huyện, thị ven biển) Việt Nam năm 2005 bình quân đạt khoảng 48% GDP cả nước, trong đó GDP của kinh tế “thuần biển” đạt khoảng 22% tổng GDP cả nước. Trong các năm 2010-2017, GDP của kinh tế biển và ven biển có chiều hướng giảm (năm 2010 khoảng 40,73%, năm 2015 – 32,55% và 2017 – khoảng 30,19%); GDP của kinh tế thuần biển cũng giảm dần xuống 17% (2013), 13% (2017) và khả năng năm 2018 còn tiếp tục xuống thấp. Công tác quy hoạch không gian biển, cơ sở hạ tầng các vùng biển, ven biển và đảo còn yếu kém, lạc hậu, manh mún, thiết bị chưa đồng bộ nên hiệu quả sử dụng thấp, chưa góp phần tạo ra liên kết vùng trong phát triển: giữa các cảng biển, thiếu hệ thống đường bộ cao tốc chạy dọc ven biển để nối liền các thành phố, khu kinh tế, khu công nghiệp và sân bay ven biển nhỏ bé thành một hệ thống kinh tế biển liên hoàn. Hội chứng phát triển “tràn lan” các khu kinh tế ven biển đang hiện hữu ở nước ta, khiến cho đầu tư dàn trải, khó có thể tạo ra ‘đột phá’ trong phát triển. Trong mô hình phát triển các khu kinh tế ven biển nói riêng và kinh tế biển nói chung thiếu “đầu tàu”, chưa thực sự áp dụng quy luật lan tỏa trong phát triển; thể chế chưa rõ ràng, chưa tôn trọng ‘tính phổ quát’ của luật các khu kinh tế “mở”. Chỉ tiêu về GDP của kinh tế biển – ven biển và GDP kinh tế ‘thuần biển’ không đạt mục tiêu của chiến lược đặt ra, chủ yếu liên quan tới diễn biến phức tạp trên Biển Đông đã cản trở đáng kể các hoạt động sản xuất trên biển. Bên cạnh đó, việc huy động nguồn lực đầu tư cho kinh tế biển chưa đúng tầm đối với yêu cầu của nhiệm vụ; thiếu các thực hành tốt để nhân rộng trong các lĩnh vực kinh tế biển then chốt. Kinh tế biển 10 năm qua vẫn dựa chủ yếu vào “kinh tế khai thác”, phụ thuộc vào nguồn tài nguyên biển đang giảm sút nhanh chóng; chưa làm rõ quan niệm về kinh tế biển và kinh tế dựa vào biển nên còn lúng túng trong việc xác định các không gian kinh tế biển, tính liên kết của các ‘mảng’ không gian kinh tế biển – ven biển – đảo, cũng như việc theo dõi, thống kê và kiểm soát phát triển kinh tế biển.

Thứ ba, hệ thống các cơ sở nghiên cứu khoa học – công nghệ biển, đào tạo nguồn nhân lực cho kinh tế biển; các cơ sở quan trắc, dự báo, cảnh báo biển, thiên tai biển, các trung tâm tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn… ở ven biển còn nhỏ bé, trang bị thô sơ, năng lực yếu kém; phân tán, nhiệm vụ chồng chéo và chỉ tập trung ở các thành phố lớn, chưa thực hiện đúng yêu cầu của chiến lược là cần thành lập ở các tỉnh/thành phố ven biển. Các hoạt động nghiên cứu biển chất lượng còn yếu, tập trung chủ yếu ở vùng ven biển và biển ven bờ, đặc biệt chưa chú ý nghiên cứu và chuyển giao công nghệ biển tiên tiến, hiện đại trong bối cảnh của Cách mạng công nghiệp 4.0. Nguồn nhân lực biển chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội vùng biển và ven biển, đặc biệt chưa chuẩn bị nguồn lực và trình độ công nghệ để sớm vươn ra đại đương – nơi quốc gia có biển và không có biển đều có quyền ra khai thác.

Thứ tư, tình hình khai thác, sử dụng biển và đảo chưa hiệu quả, thiếu bền vững do khai thác tự phát, thiếu/không tuân thủ quy hoạch biển, đảo, làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn lợi ích và xung đột không gian trong sử dụng đa ngành ở vùng ven biển, biển, đảo, gây lãng phí lớn tài nguyên biển. Phương thức khai thác biển chủ yếu vẫn dưới hình thức sản xuất và đầu tư nhỏ, sử dụng công nghệ lạc hậu. Còn nghiêng về ưu tiên khai thác tài nguyên biển ở dạng vật chất, không tái tạo, các giá trị chức năng, phi vật chất và có khả năng tái tạo của các hệ thống tài nguyên biển còn ít được chú trọng, như: giá trị vị thế của các mảng không gian biển, ven biển và đảo; giá trị dịch vụ của các hệ sinh thái; thậm chí các giá trị văn hóa biển. Cách tiếp cận ‘nóng’ trong khai thác tài nguyên biển đang là hiện tượng phổ biến ở các lĩnh vực kinh tế biển: chú trọng nhiều đến tổng sản lượng, số lượng, ít chú ý đến chất lượng và lợi ích lâu dài của các dạng tài nguyên.

Thứ năm, môi trường biển tiếp tục biến đổi theo chiều hướng xấu và tiếp tục bị ‘đầu độc’ liên quan tới các hoạt động phát triển kinh tế – xã hội. Ngày càng có nhiều chất thải không qua xử lý từ các lưu vực sông và vùng ven biển đổ ra biển. Việt Nam đứng thứ 4 trên thế giới về ô nhiễm rác thải biển, đặc biệt là rác thải nhựa. Một số khu biển ven bờ và cửa sông bị ô nhiễm dầu, chất hữu cơ liên quan tới chất thải sinh hoạt và du lịch dẫn đến hiện tượng thuỷ triều đỏ xuất hiện ngày càng nhiều với quy mô rộng; ô nhiễm xyanua liên quan đến tình trạng đánh bắt hải sản; hàm lượng kẽm ở các khu vực đóng và sửa chữa tàu biển thường cao hơn liên quan tới “nhân độc tố kẽm” trong thành phần của sơn chống hà bám tàu thuyền. Đây là sức ép lớn lên môi trường và tài nguyên biển nước ta.

Thứ sáu, đa dạng sinh học biển – đầu vào của các hoạt động kinh tế dựa vào bảo tồn, như kinh tế thủy sản, du lịch biển và nguồn lợi thuỷ hải sản đang giảm sút nghiêm trọng, thiếu bền vững. Rừng ngập mặn mất khoảng 15.000 ha/năm, khoảng 80% rạn san hô trong vùng biển Việt Nam nằm trong tình trạng rủi ro, trong đó 50% ở mức cao, tình trạng trên cũng diễn ra tương tự với thảm cỏ biển và các hệ sinh thái biển – ven biển khác. Trong vùng biển nước ta đã có khoảng 100 loài hải sản có mức độ nguy cấp khác nhau và trên 100 loài đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam. Nguồn lợi hải sản có xu hướng giảm dần về trữ lượng, sản lượng và kích thước cá đánh bắt (trữ lượng hải sản giảm 16%, trong khi trữ lượng hải sản ở vùng biển xa bờ chưa được đánh giá đầy đủ). Nguồn lợi hải sản ở vùng biển gần bờ có dấu hiệu bị khai thác quá mức do tăng nhanh số lượng tàu thuyền đánh cá nhỏ, hiệu suất khai thác hải sản giảm từ 0,92 (1990) xuống 0,32 tấn/CV/năm (2015). Khai thác hải sản bất hợp pháp, không có báo cáo và không theo quy định (IUU) có những tác động xấu ở cả trong lẫn ngoài vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia và nếu không được khắc phục sẽ gây ra hiệu ứng domino, không chỉ ảnh hưởng đến sinh kế của ngư dân, kinh tế ngành thủy sản mà còn ảnh ảnh hưởng đến khả năng ‘hiện diện dân sự’ trên biển.

Thứ bảy, đến nay biển, đảo và vùng ven biển nước ta vẫn chủ yếu được quản lý theo cách tiếp cận mở kiểu “điền tư, ngư chung” và chủ yếu quản lý theo ngành. Thiếu các luật cơ bản về biển để thực thi hiệu quả công tác quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển, đảo. Điều này dẫn đến sự chồng chéo về quản lý giữa khoảng 15 bộ ngành về biển; chính sách và pháp luật về quản lý biển thiếu đồng bộ; trong các luật hiện có không ít điểm chồng chéo, hiệu lực thi hành thấp. Sự tham gia của cộng đồng địa phương và các doanh nghiệp vào tiến trình quản lý còn rất thụ động, chưa làm rõ vấn đề sở hữu/sử dụng đất ven biển và mặt nước biển cho người dân địa phương ven biển. Công tác kiểm tra, kiểm soát, cấp và thu hồi giấy phép sử dụng, khai thác tài nguyên biển…chậm được triển khai để thực hiện chủ trương ‘kinh tế hóa’ trong lĩnh vực quản lý biển và tài nguyên biển.

Thứ tám, công tác quốc phòng, an ninh trên biển còn có mặt hạn chế. Khả năng phối hợp giữa các lực lượng để tạo sức mạnh tổng hợp, tạo thế trận liên hoàn trên biển để bảo vệ các quyền và lợi ích quốc gia trên Biển Đông; để quản lý, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển cần tiếp tục tăng cường một cách hiệu quả.

Thứ chín, đời sống của người dân ven biển và trên đảo, người lao động trên biển còn khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo tăng (năm 2014 có 320 xã bãi ngang nghèo trong khi năm 2004 chỉ có 157 xã bãi ngang nghèo), không đáp ứng chỉ tiêu của Chiến lược biển 2020. Thu nhập bình quân đầu người của 28 tỉnh, thành phố trung ương ven biển tăng gấp 4,84 lần trong các năm 2007-2016, cao hơn mức tăng trung bình chung của cả nước. Tuy nhiên, số thu nhập tuyệt đối bình quân của người dân vẫn thấp hơn trung bình cả nước.

Việt Nam phải làm gì để làm chủ biển, đảo, phát triển kinh tế biển

Hiện nay, Biển Đông được đánh giá là một trong những vùng biển có nhiều tranh chấp phức tạp nhất thế giới, không chỉ liên quan đến lợi ích của nhiều nước ven Biển Đông, mà còn liên quan đến lợi ích chính trị của nhiều cường quốc hải dương trên thế giới. Tình hình vùng biển Việt Nam diễn biến ngày một khó lường. Vì vậy, nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo ngày một nặng nề hơn.

Những năm qua, Đảng và Nhà nước ban hành nhiều chủ trương lớn về định hướng chiến lược biển, định hướng phát triển kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên biển để bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và an ninh biển đảo, là chỗ dựa vững chắc cho ngư dân và các thành phần kinh tế sản xuất, khai thác tài nguyên biển. Trong đó, chủ trương lớn nhất và xuyên suốt là quản lý, bảo vệ vững chắc vùng biển Việt Nam nhưng phải giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định.

Trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, Nhà nước thực hiện quyền chủ quyền về việc thăm dò, khai thác, quản lý và bảo tồn tài nguyên thuộc vùng nước bên trên đáy biển, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển; về các hoạt động khác nhằm thăm dò, khai thác vùng này vì mục đích kinh tế; quyền tài phán quốc gia về lắp đặt và sử dụng đảo nhân tạo, thiết bị và công trình trên biển; nghiên cứu khoa học biển, bảo vệ và gìn giữ môi trường biển; các quyền và nghĩa vụ khác phù hợp với pháp luật quốc tế.

Trong giai đoạn từ nay đến năm 2030, tầm nhìn 2050, chúng ta cần phát triển một nền kinh tế biển hiệu quả và bền vững trên cơ sở giải quyết đồng bộ các mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh trên biển; giữa phát triển kinh tế với bảo đảm an sinh xã hội biển, đảo; giữa phát triển kinh tế với sử dụng hợp lý tài nguyên biển, đảo; giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường biển; giữa phát triển vùng biển, ven biển và hải đảo với phát triển vùng nội địa. Việc làm rõ nội hàm kinh tế biển theo nghĩa rộng, bao gồm kinh tế biển (ocean economy), kinh tế dựa vào biển (ocean-based economy), như kinh tế đảo và kinh tế ven biển là cần thiết để từ đó cụ thể hóa định hướng chiến lược và sự liên kết trong phát triển các mảng không gian kinh tế biển: kinh tế ven biển (huyện, thị ven biển), kinh tế đảo, kinh tế biển và kinh tế đại dương.

Trong những năm tới, nhất là dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, khoa học công nghệ biển phải trở thành động lực phát triển các lĩnh vực liên quan đến kinh tế biển. Xây dựng tiềm lực khoa học công nghệ biển đáp ứng yêu cầu đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế, phục vụ hiệu quả quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nhà nước khuyến khích đẩy mạnh và mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển giao công nghệ sạch hơn, thân thiện với môi trường biển, năng lượng biển tái tạo, các mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu. Kiện toàn hệ thống khoa học công nghệ biển toàn quốc, hình thành đơn vị chuyên trách về điều tra cơ bản với các trang thiết bị hiện đại, nằm ven biển, bao gồm nhiệm vụ xây dựng và quản lý thống nhất hệ thống dữ liệu biển quốc gia. Khoa học – công nghệ sẽ góp phần cơ cấu lại ngành nghề kinh tế biển trên từng địa bàn cho hợp lý trên cơ sở tiếp cận dựa vào hệ sinh thái để từng bước chuyển sang nền kinh tế biển “xanh lam”.

Quy hoạch không gian biển để quản lý liên ngành, liên vùng đối với các vùng biển, đảo và vùng ven biển, để bảo đảm tính liên kết trong phát triển kinh tế biển ngay từ giai đoạn sớm của quá trình phát triển. Trên cơ sở quy hoạch không gian biển tăng cường kiểm soát phát triển kinh tế biển, mức độ tuân thủ quy hoạch, tác động đến môi trường, ngăn ngừa và hạn chế tối đa thiệt hại có thể xảy ra cho người, tài nguyên và môi trường biển, lãng phí tài nguyên, tác động xã hội và an ninh, quốc phòng. Đồng thời chủ động nghiên cứu các tác động của biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng đến vùng ven biển, biển, đảo, đề xuất giải pháp thích ứng, giảm thiểu và xử lý các thảm họa thiên tai, sự cố môi trường biển, ven biển, hải đảo. Đưa các khuyến nghị về môi trường, tài nguyên biển và các rủi ro vào các dự án đầu tư phát triển, các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội ở vùng ven biển, biển và hải đảo. Bên cạnh đó, chúng ta phải kiểm soát, quản lý và xử lý hiệu quả các chất thải, chất gây ô nhiễm trước khi đổ ra biển từ các lưu vực sông ven biển và từ các hoạt động kinh tế biển. Ngăn ngừa suy thoái và phục hồi các hệ sinh thái quan trọng, như rạn san hô, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển đã bị suy thoái gắn với bảo tồn, phục hồi đa dạng sinh học biển và nguồn lợi thủy sản, nguồn giống hải sản tự nhiên,… đang giảm sút.

Tất cả phải được thực hiện song song với việc đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho đúng vị thế, vai trò và tiềm năng của biển; về chủ quyền, các quyền và lợi ích của Việt Nam trên Biển Đông, cũng như chủ quyền của Việt Nam đối với các nguồn tài nguyên, nghĩa vụ bảo vệ môi trường và xây dựng “thương hiệu biển Việt Nam”.

Trong tương lai không xa, chúng ta sẽ trở thành một quốc gia đại dương với tầm nhìn xa hơn phù hợp với tiềm lực kinh tế của đất nước, là đối tác bình đẳng với mọi quốc gia khác trên khắp các đại dương vì lợi ích của dân tộc, quốc gia.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Mỹ – Trung rối bời về địa điểm thượng đỉnh

Mỹ – Trung rối bời về địa điểm thượng đỉnh

Trung Quốc đã đề xuất tổ chức hội nghị thượng đỉnh Trung Quốc-Mỹ tại đảo Hải Nam vào tháng tới sau khi Nhà Trắng cho rằng Tổng thống Mỹ Donald Trump muốn gặp Chủ tịch Tập Cận Bình sớm hơn.

Tổng thống Mỹ Donald Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Ảnh: CNBC

Cố vấn Nhà Trắng Kellyanne Conway nói với kênh Fox News hôm 11-2: “Tổng thống Trump muốn gặp Chủ tịch Tập thật sớm”. Theo quan chức này, dường như cả hai bên đều đang tiến gần đến một thỏa thuận nhằm chấm dứt chiến tranh thương mại.

Theo một nguồn thạo tin, giới chức Trung Quốc đã đề xuất hai nhà lãnh đạo gặp nhau tại đảo Hải Nam – Trung Quốc vào khoảng thời gian diễn ra Diễn đàn châu Á Bác Ngao thường niên, kéo dài từ ngày 26 đến 29-3.

Tuy nhiên, đề xuất trên chỉ là sơ bộ và Mỹ chưa phản hồi. “Cả thời gian và địa điểm của hội nghị thượng đỉnh đều chưa được thống nhất” – nguồn tin này nói.

Trang tin Axios của Mỹ cùng ngày dẫn lời hai quan chức chính quyền Mỹ giấu tên cho hay ông Tập có thể sớm đến khu nghỉ dưỡng Mar-a-Lago để gặp ông Trump vào giữa tháng 3.

Khu nghỉ dưỡng của ông Trump tại bang Floria – nơi hai nhà lãnh đạo gặp nhau lần đầu tiên vào tháng 4-2017 – nhiều khả năng sẽ là địa điểm tổ chức hội nghị thượng đỉnh Mỹ – Trung lần 2 dù chưa có gì được quyết định.

Trả lời các thông tin trên, cố vấn Nhà Trắng Conway chỉ nói rằng một cuộc gặp tại khu nghỉ dưỡng là “có khả năng”. Trang Axios dẫn lời một quan chức khác cho hay các địa điểm khác, trong đó có Bắc Kinh, cũng đang được cân nhắc.

Liên quan đến cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung, một phái đoàn của Mỹ đã tới Bắc Kinh hôm 11-2 để tiến hành các cuộc gặp chuẩn bị được kỳ vọng sẽ mở đường cho các cuộc đàm phán cấp cao trong ngày 14 và 15-2.

Ông Pang Zhongying, giáo sư về quan hệ quốc tế tại Trường ĐH Đại dương Trung Quốc tại Thanh Đảo, cho hay hai bên nhiều khả năng sẽ gia hạn hạn chót đưa ra thỏa thuận thương mại do cần thêm thời gian để giải quyết các vấn đề cốt lõi.

“Một cuộc gặp thượng đỉnh giữa hai nhà lãnh đạo là cần thiết khi một số vấn đề then chốt vẫn cần sự đồng thuận của các nhà lãnh đạo hàng đầu và hai bên dường như sẵn sàng duy trì động lực ngoại giao” – ông Pang cho hay.

Vòng đàm phán trước diễn ra tại Washington hồi tháng rồi đã kết thúc mà không đạt được một thỏa thuận cụ thể nào. Tuy nhiên, hai bên lạc quan về việc giải quyết tranh chấp thương mại khi Trung Quốc cho rằng cả hai có lộ trình cụ thể cho các cuộc đàm phán tiếp theo.

Trong khi đó, ông Larry Kudlow, người đứng đầu Ủy ban Kinh tế Quốc gia tại Nhà Trắng, hôm 7-2 cho hay còn “khoảng cách khá lớn” giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới trong việc hướng đến một thỏa thuận chung.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở: Tác động đối với Việt Nam và tranh chấp Biển Đông Ngày đăng 14-02-2019

Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở: Tác động đối với Việt Nam và tranh chấp Biển Đông

Việt Nam và Biển Đông là khu vực có vị trí địa chiến lược quan trọng đối với Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở. Từ khi Nhật Bản và Mỹ đưa ra Chiến lược trên đã có những tác động, ảnh hưởng nhất định đối với Việt Nam cũng như tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông.

Bối cảnh hình thành Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương

Theo các học giả Nhật Bản, chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương vốn ban đầu là ý tưởng của Nhật Bản. Trong chuyến thăm Ấn Độ năm 2007, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã nêu quan điểm về “trục tự do và thịnh vượng dọc theo không gian Âu – Á” và sự kết hợp năng động giữa khu vực Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương”. Quan điểm này thực chất nhằm đề cao vai trò của bốn nền dân chủ hàng đầu thế giới là Mỹ, Nhật Bản, Australia và Ấn Độ. Ngay từ năm 2014, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã thúc đẩy mạnh mẽ sáng kiến này, đồng thời nhiều lần vận động giới chính trị Mỹ ủng hộ và chia sẻ đối với sáng kiến. Nhưng đến khi Tổng thống Mỹ Donald Trmup đắc cử, chính quyền Mỹ mới chấp nhận và đưa sáng kiến này trở thành một chiến lược ở tầm quốc gia.

Trong Chiến lược An ninh quốc gia mới (NSS, 12/2017) và Chiến lược Quốc phòng mới (NDS, 1/2018), chính quyền Mỹ có đề cập tới “tầm nhìn này” nhưng không đi vào chi tiết. Đến tháng 3/2018, Mỹ mới chính thức gọi tầm nhìn này là “Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở”. Cũng trong tháng 3/2018, Chính phủ Mỹ đã cử nhiều quan chức cấp cao đi tham vấn các nước trong khu vực. Cuối tháng 5/2018, Trung tâm Nghiên cứu an ninh châu Á – Thái Bình Dương (APCSS) có trụ sở tại thành phố Hawaii đã tổ chức một cuộc hội thảo lớn về “Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” với sự tham dự của đông đảo quan chức Chính phủ Mỹ và nhiều quan chức, chuyên gia, học giả đến từ các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Từ sau cuộc hội thảo quan trọng đó, Mỹ cơ bản định hình xong về khuôn khổ và nội hàm của Chiến lược này.

Ngày 2/6/2018, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis đã chính thức công bố một số nội dung chủ chốt nhất của Chiến lược. Theo đó, bốn nguyên nhân cơ bản dẫn tới việc Mỹ, Nhật Bản và các đối tác, đồng minh xây dựng “Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở” như sau: (1) Quá trình chuyển dịch quyền lực đang diễn ra rất mạnh mẽ tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương; sự phân bổ lại quyền lực ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương cũng đang làm thay đổi căn bản tương quan so sánh lực lượng, gây lo ngại đối với hầu hết các nước lớn. (2) Sau khi ông Donald Trump đắc cử Tổng thống Mỹ, nội bộ Mỹ, nhất là chính quyền của Tổng thống Donald Trump đã chỉ trích mạnh mẽ chính sách “kiên nhẫn chiến lược” của người tiền nhiệm và Đảng Dân chủ; cho rằng các chính quyền Mỹ trước đây đã không làm đủ mạnh để ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc. Do vậy, chính quyền mới của Mỹ hiện nay đã điều chỉnh cách tiếp cận, từ “kiên nhẫn chiến lược” và “tích cực can dự nhằm thay đổi hành vi của Trung Quốc” sang “cạnh tranh trực diện về mọi mặt”. Trong NSS và NDS, Mỹ xác định cả Trung Quốc lẫn Nga đều là các “cường quốc xét lại”, thách thức sức mạnh, ảnh hưởng và các lợi ích của Mỹ trên nhiều phương diện, như tuyên truyền, công nghệ, kinh tế và quốc phòng. (3) Trong bối cảnh trào lưu dân túy đang trỗi dậy mạnh mẽ, các chính sách của Tổng thống Mỹ Donald Trump gây lo ngại sâu sắc trong số các đồng minh, đối tác của Mỹ ở khu vực, như Nhật Bản và Australia. Ông Donald Trump đã không ít lần đề cập tới khả năng rút quân Mỹ ở Hàn Quốc về nước hoặc gây sức ép buộc các nước này phải gánh thêm chi phí quốc phòng. Do vậy, các nước này đã chủ động điều chỉnh chính sách để tìm cách kéo Mỹ ở lại khu vực, gia tăng vai trò và hình thành các liên kết, tập hợp lực lượng mới có lợi cho mình. (4) Do Ấn Độ có vai trò rất quan trọng ở khu vực (cả Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương), quan hệ Nhật Bản – Ấn Độ, Mỹ – Ấn Độ đang ngày càng “nồng ấm”… Hai bên cũng chia sẻ nhiều quan điểm, lập trường chung, nhiều lợi ích chung to lớn nên Mỹ và Nhật Bản đều muốn lôi kéo Ấn Độ để gia tăng đối trọng với Trung Quốc ở trên toàn tuyến. Trong khi đó, do bố trí lực lượng của Mỹ và đồng minh từ khu vực Nam Đài Loan tới châu Đại dương còn khá mỏng, nên Mỹ và Nhật Bản có xu hướng muốn lôi kéo cả Australia và các nước có quan điểm, lập trường tương tự để tạo thế cân bằng chiến lược mới ở Nam bán cầu.

Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở của Mỹ

Ngày 2/6/2018, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis khẳng định: “Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở là một bộ phận trong Chiến lược An ninh quốc gia của Mỹ”. Trong Chiến lược này, Mỹ coi việc làm sâu sắc hơn quan hệ với đồng minh đối tác là một ưu tiên hàng đầu; vai trò trung tâm của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) có ý nghĩa sống còn và hoan nghênh sự hợp tác với Trung Quốc bất cứ khi nào có thể.

Trong khi tìm kiếm các cơ hội mới để thúc đẩy hợp tác đa phương thực chất, Mỹ sẽ đẩy mạnh can dự với các cơ chế khu vực hiện có. Chính quyền Mỹ coi khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương là địa bàn ưu tiên chiến lược. Về chính trị, Mỹ ủng hộ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mọi quốc gia, bất kể lớn, nhỏ; ủng hộ tự do cho mọi quốc gia, tiếp cận không hạn chế đối với các vùng biển, không gian quốc tế, giải quyết hòa bình các tranh chấp và không sử dụng sức mạnh chèn ép các nước láng giềng, tuân thủ luật pháp và các chuẩn mực quốc tế – vốn tồn tại từ lâu và là nền tảng cho hòa bình, thịnh vượng từ nhiều thập niên qua… Về kinh tế, Mỹ khẳng định sẽ cạnh tranh công bằng với tất cả các bên; theo đuổi chính sách thương mại công bằng, đầu tư tự do, bình đẳng và “có đi có lại”. Để thực hiện các nguyên tắc trên, Mỹ công bố các nhóm giải pháp cơ bản, bao gồm: (1) Mở rộng sự quan tâm đối với không gian biển. Mỹ sẽ duy trì các không gian chung trên biển bằng cách trợ giúp các đối tác xây dựng những lực lượng hải quân và các lực lượng thực thi pháp luật mạnh, hỗ trợ các đối tác xây dựng năng lực nhằm tăng khả năng giám sát và bảo vệ lợi ích và trật tự trên biển. (2) Tăng cường năng lực và tính liên thông trong tác chiến. Để thực hiện điều này, Mỹ sẽ tài trợ và bán các trang thiết bị quốc phòng tiên tiến cho các đối tác an ninh khu vực, tạo cơ hội về đào tạo quân sự chuyên nghiệp (theo tiêu chuẩn Mỹ) cho các sĩ quan và hạ sĩ quan quân đội các nước trong khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. (3) Tăng cường thượng tôn pháp luật, thúc đẩy pháp quyền và quản trị minh bạch. Mỹ cho rằng điều này sẽ giúp hạn chế những tác động xấu có thể ảnh hưởng tới phát triển kinh tế. Sự can dự về quốc phòng của Mỹ sẽ hỗ trợ, bổ sung thêm cho vấn đề này. (4) Thúc đẩy phát triển kinh tế do khu vực tư nhân dẫn dắt. Mỹ công nhận khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương có nhu cầu rất lớn về đầu tư, bao gồm cả kết cấu hạ tầng.

Về các đối tác và các cơ chế khu vực, Mỹ sẽ tiếp tục tham gia sâu rộng vào các thiết chế khu vực hiện hành. Trong số đó, Mỹ sẽ ủng hộ và trợ giúp để ASEAN đóng vai trò trung tâm trong chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Một ASEAN đoàn kết và chung tiếng nói có thể giúp duy trì một khu vực tự do và tôn trọng luật pháp quốc tế. Mỹ sẽ tiếp tục tham gia các cơ chế do ASEAN thành lập, như Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+), Cấp cao Đông Á (EAS), APEC và các cơ chế hợp tác ba bên, nhiều bên với các đối tác khác.

Ở khu vực Đông Bắc Á, Mỹ đang tập trung nâng cấp, hiện đại hóa các quan hệ liên minh giữa Mỹ và Nhật Bản để đối phó với các thách thức trong thế kỷ XXI. Ở Đông Nam Á, Mỹ sẽ khôi phục quan hệ đồng minh với Phi-líp-pin và Thái Lan, thúc đẩy quan hệ đối tác bền vững với Singapore và phát triển quan hệ đối tác mới với các nước chủ chốt ở khu vực, như Indonesia, Malaysia và Việt Nam. Ở châu Đại Dương, Australia vẫn là một trong những đồng minh lâu đời nhất của Mỹ. Mỹ cũng sẽ khôi phục quan hệ đối tác quốc phòng với New Zealand, đồng thời tăng cường can dự, kết nối với các đồng minh có lực lượng đang đồn trú ở khu vực Thái Bình Dương, như Anh, Pháp và Canada để thúc đẩy lợi ích tương đồng. Ở Nam Á, Mỹ đang tăng cường quan hệ đối tác với các nước trong khu vực, nhất là với Ấn Độ. Mỹ coi quan hệ Ấn Độ – Mỹ là mối quan hệ “đối tác tự nhiên” giữa hai nền dân chủ lớn nhất thế giới, dựa trên sự tương đồng về lợi ích chiến lược, các giá trị chung, tôn trọng lẫn nhau và tôn trọng một trật tự quốc tế dựa trên luật lệ. Với Trung Quốc, Mỹ chỉ trích mạnh mẽ việc Trung Quốc quân sự hóa các đảo nhân tạo ở Biển Đông, bao gồm việc triển khai tên lửa đất đối hải, đất đối không, các hệ thống ra-đa gây nhiễu và triển khai máy bay ném bom cỡ lớn…

Như vậy có thể khẳng định, chính quyền Mỹ dưới thời của Tổng thống Donald Trump có những nỗ lực lớn nhằm định hình các mục tiêu, nguyên tắc, nội hàm và định hướng lớn trong Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở. Trong thời gian tới, khi các nội hàm của chiến lược này được triển khai, sẽ có nhiều tác động và hệ lụy đối với cả thế giới và khu vực nói chung, cũng như Việt Nam nói riêng.

Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở của Nhật Bản

Tương tự như Mỹ, ngay từ rất sớm, Chính phủ của Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã định hình được các mục tiêu, nguyên tắc, nội hàm của chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở. Theo các chuyên gia Nhật Bản, chiến lược này bao gồm ba trụ cột. (1) Phổ biến và định hình các giá trị cơ bản, như thượng tôn pháp luật, tự do, an ninh, an toàn hàng hải – hàng không. Để triển khai trụ cột này, Mỹ và Nhật Bản sẽ tăng cường bảo vệ các quy tắc và chuẩn mực chung về hàng hải. Mỹ và Nhật Bản cũng sẽ tăng cường phối hợp để đưa ra các thông điệp tại các diễn đàn song phương và đa phương ở khu vực; tăng cường liên kết đồng minh và các nước có cùng quan điểm, lập trường. (2) Tăng cường sự phồn vinh kinh tế ở khu vực. Để triển khai trụ cột này, Mỹ và Nhật Bản sẽ tăng cường gắn kết kinh tế với khu vực, như kết nối thương mại, xúc tiến đầu tư và đẩy mạnh hỗ trợ các nước trong khu vực xây dựng kết cấu hạ tầng chất lượng cao, kiến trúc kinh tế khu vực với tiêu chuẩn cao và quản trị minh bạch, hiệu quả; hỗ trợ xây dựng năng lực trong các lĩnh vực, như nguồn nhân lực, môi trường kinh doanh và cải cách thể chế… (3) Bảo đảm hòa bình, ổn định. Để triển khai trụ cột này, Mỹ và Nhật Bản sẽ tăng cường hợp tác giao lưu quốc phòng, mà trọng tâm là hợp tác an ninh biển. Đặc biệt, cả hai nước sẽ đẩy nhanh việc hỗ trợ xây dựng năng lực cho các quốc gia ven biển ở châu Á, chủ yếu là ở xung quanh Biển Đông. Đây là điểm đặc biệt có lợi cho các nước khu vực. Mỹ và Nhật Bản sẽ đồng thời vừa tăng cường hợp tác chia sẻ thông tin, kể cả thông tin tình báo, tăng cường chống khủng bố, cướp biển, vừa giúp nâng cao năng lực cho các nước trong khu vực về cứu trợ thảm họa, viện trợ nhân đạo…

Trong quá trình triển khai, Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương sẽ được thúc đẩy theo nhiều hướng, như song phương (Nhật Bản – Ấn Độ…), ba bên (Mỹ – Nhật Bản – Ấn Độ, Nhật Bản – Ấn Độ – Australia), bốn bên (Nhật Bản – Mỹ – Ấn Độ – Australia) và khu vực (hợp tác với ASEAN, EAS, ADB…).

Nhìn chung, giới chuyên gia cho rằng, ASEAN có vị trí quan trọng trong chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Nhật Bản khi xét tới vị trí địa lý và ảnh hưởng của ASEAN đối với trật tự khu vực trong tương lai. Trong thời gian tới, Nhật Bản sẽ đẩy mạnh can dự đối với ASEAN và Đông Nam Á, chủ yếu tập trung vào các đối tác chủ chốt, như Việt Nam, Philippines, Singapore, Indonesia và trên các lĩnh vực thương mại. ASEAN tiếp tục là đối tác quan trọng của Mỹ và Nhật Bản. Quan hệ Mỹ – ASEAN và Nhật Bản – ASEAN là một phần trong chính sách can dự đa tầng nấc của hai nước này đối với khu vực Ấn – Thái, đồng thời góp phần vào nỗ lực chung nhằm duy trì sự can dự của Mỹ/Nhật Bản ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Những ẩn số đối với Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở

Để chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương đạt được kết quả và dấu ấn, sẽ còn nhiều ẩn số phải giải đáp. Trước hết, cần lưu ý rằng ý tưởng Ấn Độ Dương -Thái Bình Dương dựa trên bốn trụ cột là Mỹ, Nhật, Ấn, Australia và trùm lên đó là tấm màn tầm nhìn về một khu vực tự do, rộng mở. Bốn nước dường như ở những vai tương đối ngang nhau.

Còn tấm màn tầm nhìn đó lại không phải là một cơ chế ràng buộc thiết thực gì trong thời điểm hiện tại, và nó đặc biệt mơ hồ chưa rõ rằng mục đích chính đằng sau là đem lại lợi ích cho khu vực, cho bốn nước nói riêng hay để kiềm tỏa Trung Quốc. Trong thời kỳ hiện đại, nhìn chung các tập hợp lực lượng của phương Tây đều có một cường quốc dẫn dắt, đó là Mỹ. Bối cảnh nội bộ nước này hiện nay liệu có cho phép chính quyền Tổng thống Trump thực hiện những toan tính đối ngoại của mình hay không là một câu hỏi sẽ còn bỏ ngỏ trong thời gian tới.

Bốn nước trụ cột của Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương đều là cường quốc, phân bổ ở 4 vị trí địa lý khá xa nhau. Điều này đồng nghĩa với việc mỗi nước có một đặc điểm tình hình, lợi ích và tầm nhìn khu vực riêng. Việc điều phối, phân vai của nhóm sẽ không đơn giản. Sự khác biệt của nhóm “Bộ tứ” này với NATO, SEATO hay đơn thuần là liên minh Mỹ – Nhật – Hàn đó là khoảng cách địa lý. Muốn phối hợp tốt, ít nhất về mặt quân sự hay đảm bảo an ninh biển sẽ đòi hỏi phải có kinh phí, năng lực quản trị và sự hiểu biết lẫn nhau tương đối sâu sắc. Đây là điều còn thiếu.

Quan trọng hơn nữa, sự hình dung ra một khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương còn mơ hồ và chưa nhận định được vai trò của các nước khác trong khu vực, trong đó bao gồm các nước ASEAN, Hàn Quốc, và cả Pakistan cũng như các nước Châu Phi. Không thể không tính đến vai trò của các nước “ngoài Bộ tứ” này. Họ có thể không tham gia, nhưng nếu một vài nước này không ủng hộ thì sẽ rất khó để tầm nhìn Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương thành hiện thực, bởi lẽ: biển không phải của riêng ai.

Điều đáng lo ngại cũng nằm ở tính khả thi. Tầm nhìn ý tưởng Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương được phác họa đẹp đẽ, nhưng chưa nêu rõ rằng liệu các nước sẽ phải phân bổ nguồn lực kinh tế, chính trị, quân sự như thế nào. Dường như hiện nay mới chỉ nêu nhiều về giá trị, và một vài hướng giải pháp về quân sự, nhưng nội hàm về kinh tế chưa có gì. Việc Mỹ rút khỏi TPP đồng nghĩa với việc quốc gia này rút một chân kinh tế và đẩy mạnh một chân quân sự tại khu vực. Với tình hình thế giới nhìn chung vẫn ưa chuộng hòa bình và hợp tác như hiện nay, thiếu vắng một trụ cột về kinh tế sẽ khiến Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương trở nên kém hấp dẫn, nhất là khi BRI đang được đẩy mạnh.

Ẩn số cuối cùng cần phải nói đến đó là phản ứng và đối sách của Trung Quốc. Hiện nay Trung Quốc vẫn giữ thái độ tương đối kín tiếng về ý tưởng này, trong khi họ tập trung vào củng cố nội bộ và phát triển các ý tưởng và con đường đi ra ngoài của riêng mình. Trong thời gian tới, Trung Quốc sẽ làm gì là một điều còn bỏ ngỏ.

Biển Đông có vị trí địa chiến lược quan trọng trong chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương

Biển Đông là một biển nửa kín, có diện tích khoảng 3,5 triệu km2, trải rộng từ vĩ độ 3° lên đến vĩ độ 26° Bắc và từ kinh độ 100° đến 121° Đông. Biển Đông được bao bọc bởi 9 nước là Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Brunei, Singapore, Thái Lan, Campuchia và Đài Loan. Biển Đông là một trong các khu vực có tầm quan trọng chiến lược đối với các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương nói riêng và các quốc gia khác trên thế giới.

Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương – Ấn Độ Dương, châu Âu – châu Á, Trung Đông – châu Á. Đây được coi là tuyến dường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế giới. Mỗi ngày có khoảng từ 150 – 200 tàu các loại qua lại Biển Đông, trong đó có khoảng 50% là làu có trọng tải trên 5.000 tấn, hơn 10% là tàu có trọng tải từ 30.000 tấn trở lên. Thương mại và công nghiệp hàng hải ngày càng gia tăng ở khu vực, nhiều nước và vùng lãnh thổ ở khu vực Đông Á có nền kinh tế phụ thuộc sống còn vào con đường biển này như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và cả Trung Quốc. Đây là mạch đường thiết yếu vận chuyển dầu và các nguồn tài nguyên thương mại từ Trung cận Đông và Đông Nam Á tới Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Hơn 90% lượng vận tải thương mại của thế giới thực hiện bằng dường biển và 45% trong số đó phải đi qua vùng Biển Đông. Lượng dầu lửa và khí hoá lỏng được vận chuyển qua vùng biển này lớn gấp 15 lần lượng chuyên chở qua kênh đào Panama. Hàng năm có khoảng 70% khối lượng dầu mỏ nhập khẩu và khoảng 45% khối lượng hàng hoá xuất khẩu của Nhật Bản được vận chuyển qua Biển Dông. Khoảng 60% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, 70% lượng dầu mỏ nhập khẩu của Trung Quốc được vận chuyển bằng đường biển qua Biển Đông. Khu vực Biển Đông có những eo biển quan trọng đối với nhiều nước, trong đó eo biển Malacca là eo biển nhộn nhịp thứ hai trên thế giới. Do đó, vùng biển này hết sức quan trọng đối với tất cả các nước trong khu vực về địa – chiến lược, an ninh, giao thông hàng hải và kinh tế.

Không những vậy, Biển Đông còn là nơi chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên biển quan trọng cho đời sống và sự phát triển kinh tế của các nước xung quanh, đặc biệt là nguồn tài nguycn sinh vật (thuỷ sản), phi sinh vật (dầu khí, khoáng sản). Biển Đông được coi là một trong năm bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất thế giới. Các khu vực thềm lục dịa có tiềm năng dầu khí cao là các bồn trũng Brunei, Sarawak, Malay, Pattani Thái, Nam Côn Sơn, Mê Công, sông Hồng, cửa sông Châu Giang. Các khu vực có tiềm năng dầu khí còn lại chưa khai thác là khu vực thềm lục địa ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và bờ biển miền Trung, khu vực thềm lục địa Tư Chính. Ngoài ra, Biển Đông còn là một vùng biển nước sâu rộng lớn, có nhiều tiền đề thuận lợi cho việc thành tạo và tích tụ băng cháy (còn gọi là khí hydrat).

Khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương, được Mỹ và các đồng minh cổ vũ, bao gồm vùng biển phía Bắc Ấn Độ Dương và toàn bộ vùng biển giữa Thái Bình Dương, kéo dài đến bờ Tây Mỹ, trong đó Biển Đông nằm ở vị trí trung tâm. Đối với chính quyền Tổng thống Donanld Trump, khu vực “dân cư đông đúc nhất và năng động nhất hành tinh về mặt kinh tế” này là nơi cạnh tranh của hai quan điểm đối kháng, một bên cổ vũ cho “tự do”, “dựa trên luật pháp quốc tế”, bên kia chủ trương dùng “vũ lực”. Washington chỉ đích danh Trung Quốc như là bên chủ trương dùng vũ lực để thao túng con đường hàng hải chiến lược, với việc “thúc đẩy quân sự hóa tại Biển Đông”, thách thức chủ quyền của nhiều quốc gia ven bờ.

Các phản ứng ban đầu của Việt Nam đối với Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở

Xét bề ngoài, chiến lược Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở của Mỹ theo định nghĩa của Alex N. Wong phần lớn tương thích với các lợi ích quốc gia của Việt Nam. Là một bên tham gia tranh chấp Biển Đông và dễ bị tổn thương trước quyền lực ngày càng lớn và sự quyết đoán ngày càng tăng của Trung Quốc, Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ một trật tự khu vực dựa trên quy tắc và không tồn tại sự ép buộc. Tương tự như vậy, tự do hàng hải và hàng không cũng là những gì Việt Nam tìm cách thúc đẩy như một lá cờ tập hợp lực lượng để huy động sự ủng hộ của quốc tế đối với cuộc đấu tranh của mình chống lại Trung Quốc ở Biển Đông. Là một nước đang phát triển phụ thuộc nhiều vào thương mại và đầu tư nước ngoài, đồng thời đang tìm cách nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng, các thuộc tính kinh tế khác của chiến lược, như cơ sở hạ tầng mở, đầu tư mở và thương mại mở, cũng phù hợp với chính sách đối ngoại của Việt Nam nói chung. Thuộc tính duy nhất có thể gây ra một số bất an trong giới lãnh đạo Việt Nam là việc nó nhấn mạnh vào quản trị tốt, đặc biệt là sự tôn trọng các quyền cơ bản. Tuy nhiên, do hai nước đã nhiều lần cam kết tôn trọng thể chế chính trị của nhau và Washington ít phê phán hơn đối với hồ sơ nhân quyền của Việt Nam trong những năm gần đây, thuộc tính này không phải là mối quan ngại quá lớn đối với Việt Nam, đặc biệt là nếu xét các lợi ích chiến lược mà các thuộc tính khác của chiến lược có thể mang lại cho đất nước.

Như vậy, người ta có thể mong đợi Việt Nam sẽ ủng hộ chiến lược này. Tuy nhiên, phản ứng của Việt Nam đối với chiến lược cho đến nay vẫn chưa rõ ràng.

Ở cấp độ không chính thức, có rất ít cuộc thảo luận công khai giữa các nhà chiến lược và học giả Việt Nam về chính sách, tác động của nó đối với Việt Nam, cũng như cách Việt Nam nên phản ứng với chính sách này như thế nào. Ở cấp độ chính thức, giới chức Việt Nam chưa đưa ra bất kỳ tuyên bố nào về chiến lược. Vì chiến lược vẫn đang trong giai đoạn hình thành và được nhiều nhà quan sát nhìn nhận như một công cụ để Mỹ “kiềm chế” Trung Quốc, nên Việt Nam không có lợi ích trong việc đưa ra lập trường công khai về chiến lược này. Hơn nữa, các nhà hoạch định chính sách đối ngoại Việt Nam có thể chưa đạt được nhận thức chung về chính sách này.

Giống như hầu hết các nước khác trong khu vực, Việt Nam đang áp dụng thái độ “chờ xem”, và các phản ứng tương lai của Việt Nam đối với chiến lược sẽ phụ thuộc vào các tính toán của Hà Nội cũng như tình hình phát triển thực tế của chiến lược mà hiện tại vẫn chưa rõ ràng. Cách tiếp cận thận trọng của Việt Nam cũng hợp lý bởi thực tế rằng trong khi Mỹ vẫn đang nỗ lực xây dựng một tầm nhìn chiến lược đáng tin cậy và nhất quán đối với khu vực, thì ba thành viên khác của nhóm Bộ Tứ cũng có thể có những tính toán riêng, khiến các nước khác trong khu vực càng có lý do để không vội vàng đưa ra một lập trường chính thức về chiến lược này.

Dự báo tác động của Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở đối với Việt Nam

Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương đang mở ra nhiều cơ hội đối với Việt Nam. Có thể thấy rõ, trong Chiến lược này, Việt Nam có lợi ích to lớn trong hầu hết các vấn đề trên cả ba trụ cột. Quan điểm, lập trường của Việt Nam cũng có nhiều điểm tương đồng với các nội hàm của cả ba trụ cột nêu trên. (1) Đa số các mục tiêu, nguyên tắc, nội hàm của Chiến lược này không mâu thuẫn với các quan điểm, lập trường cũng như lợi ích quốc gia của Việt Nam, nếu không nói là có sự tương đồng đáng kể (ở mức độ cao và phân bổ đều trên cả ba trụ cột). (2) Về phát triển, Việt Nam cũng đang có nhu cầu to lớn về xây dựng kết cấu hạ tầng chất lượng cao, thúc đẩy kết nối kinh tế, thương mại, xúc tiến đầu tư. Việc Mỹ, Nhật Bản và các đối tác sẵn sàng hợp tác, chia sẻ là điều rất đáng quý. (3) Về xây dựng năng lực, Việt Nam mong muốn các đối tác giúp Việt Nam về trang thiết bị, đào tạo, huấn luyện; sẵn sàng phối hợp với các nước để cùng nhau đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới. (4) Việt Nam luôn mong muốn châu Á – Thái Bình Dương và cả khu vực Ấn Độ Dương là khu vực hòa bình, ổn định, tự do và mở cửa cho tất cả các bên cùng tham gia. Do vậy, đến nay sơ bộ có thể khẳng định khi Mỹ và Nhật Bản triển khai chiến lược này, sẽ có nhiều nhiều cơ hội được mở ra đối với Việt Nam. Tuy nhiên, Chiến lược này cũng đang đặt ra không ít thách thức đối với Việt Nam. Cụ thể là: Thứ nhất, thúc đẩy hợp tác với các nước lớn thường đi kèm với việc tập hợp lực lượng. Cạnh tranh giữa các nước lớn trong khu vực đang gia tăng nhanh chóng, Việt Nam cần hết sức tỉnh táo để tránh phải lựa chọn bên này hay bên kia. Xử lý tốt và cân bằng quan hệ giữa các nước lớn chính là chìa khóa quan trọng nhất để thúc đẩy hợp tác, tranh thủ các cơ hội to lớn do Chiến lược này mang lại. Thứ hai, hiện nay mục tiêu và nguyên tắc của Chiến lược này đã khá rõ, nhưng nội hàm, phương thức triển khai và bước đi cụ thể của mỗi đối tác còn nhiều điểm chưa rõ ràng. Do đó, chiến lược này cần được theo dõi thêm. Thứ ba, vẫn còn không ít sự khác biệt giữa bốn nước chủ chốt (Mỹ, Nhật Bản, Australia và Ấn Độ), trong Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Do vậy, cần xử lý khéo mối quan hệ giữa các nước này.

Triển vọng Việt Nam tham dự vào Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở

Vì Chiến lược trên phần lớn vẫn là một tầm nhìn chứ chưa phải là một kế hoạch cụ thể hoặc một cơ chế được thể chế hóa, việc Mỹ sẽ triển khai chiến lược như thế nào vẫn là một câu hỏi mở đối với các nước trong khu vực. Có khả năng là thay vì thể chế hóa Bộ Tứ hoặc thiết lập một khối an ninh cứng nhắc để thực hiện chiến lược, Washington sẽ tìm cách thiết lập và tăng cường mạng lưới các đồng minh và đối tác an ninh để làm việc cùng nhau nhằm bảo vệ trật tự dựa trên quy tắc và kiềm chế tham vọng thống trị khu vực của Trung Quốc. Trong kịch bản này, liệu chiến lược có thành công hay không sẽ phụ thuộc vào việc các nước trong khu vực sẵn lòng hợp tác với Washington đến đâu để theo đuổi các mục tiêu chung này.

Do tranh chấp Biển Đông và tính dễ bị tổn thương trước một Trung Quốc đang trỗi dậy, Việt Nam có lợi ích trong việc hợp tác với Mỹ và các đối tác an ninh khác để duy trì trật tự khu vực dựa trên quy tắc cũng như thúc đẩy một kiến ​​trúc an ninh khu vực không bị chi phối bởi bất kỳ cường quốc nào. Do đó, Việt Nam có thể ủng hộ Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở, mặc dù không nhất thiết phải làm điều đó một cách công khai. Về mặt ngoại giao, Việt Nam có thể làm việc với các đối tác cùng tư duy để đưa các yếu tố chính của chiến lược FOIP vào các tuyên bố chung song phương hoặc đa phương. Về mặt hoạt động thực tế, Việt Nam có khả năng tiếp tục tăng cường hợp tác chiến lược với các cường quốc, đặc biệt là các thành viên của nhóm Bộ Tứ, nhằm tăng cường an ninh hợp tác trong khu vực và nâng cao vị thế đàm phán của mình trước Trung Quốc.

Tuy nhiên, giống như hầu hết các thành viên ASEAN khác, do các mối quan hệ kinh tế rộng khắp với Trung Quốc, Việt Nam có thể không muốn tham gia một khối chống Trung Quốc cứng nhắc hoặc áp dụng một cách tiếp cận mang tính đối đầu công khai trong việc quản lý sự trỗi dậy của Trung Quốc. Thay vào đó, Việt Nam dường như ưu tiên mạng lưới quan hệ an ninh hiện tại với các cường quốc lớn và các đối tác có cùng tư duy chiến lược, miễn là Trung Quốc không áp dụng một cách tiếp cận mang tính ép buộc quá mức đối với tranh chấp Biển Đông, điều có thể khiến Hà Nội chuyển sang một tư thế chiến lược mang  tính quyết đoán và đối đầu hơn.

Đồng thời, mặc dù Việt Nam và các nước trong khu vực có thể đóng một vai trò nhất định trong việc vận hành Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở, việc chiến lược có thành công hay không chủ yếu sẽ do chính Mỹ quyết định. Theo đó, Washington cần thể hiện một tầm nhìn chiến lược nhất quán đối với khu vực dựa trên vai trò lãnh đạo mạnh mẽ và các cam kết lâu dài đáng tin cậy. Mỹ cũng cần làm rõ Washington mong đợi các nước trong khu vực đóng vai trò như thế nào trong chiến lược, và đưa ra một kế hoạch hành động chi tiết để định hướng cho sự tham gia của các nước quan tâm nếu muốn. Quan trọng hơn, quá trình này nên được tiến hành dựa trên tham vấn giữa Mỹ và các đồng minh và đối tác. Bất kỳ nỗ lực nào của Washington nhằm áp đặt ý chí của mình lên các nước trong khu vực, ngay cả khi nhân danh một trật tự khu vực dựa trên quy tắc mở và tự do, cũng có thể sẽ phản tác dụng.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

“Biên giới tháng 2/1979: Sòng phằng với lịch sử

FB Nguyễn Ngọc Chu

12-2-2019

Với Trung Quốc điều thấy chưa phải là chứng cứ, điều chưa thấy chưa phải là tận cùng. Với Trung Quốc phải nghĩ ngoài chứng cứ, ngoài tận cùng.

VỚI TRUNG QUỐC: THẤY 1 PHẢI HIỂU 10, 100,1000

Rất hoan nghênh TUẦN VIETNAMNET đã có bài “Biên giới tháng 2/1979: Sòng phằng với lịch sử”. Bài viết đăng dưới dạng phỏng vấn Nghiên cứu sinh môn Lịch sử Vũ Minh Hoàng, Đại học Cornell (Hoa Kỳ) do nhà báo Thu Thủy thực hiện.

Nội dung cuộc phỏng vấn đề cập đến một số khía cạnh về bối cảnh và nội dung của cuộc chiến tranh Trung Quốc xâm lược Việt Nam tháng 2/1979 và cuộc chiến tranh Khmer Đỏ xâm lược Việt Nam và Việt Nam đánh sang Campuchia tiêu diệt Khmer Đỏ tháng 1/1979.

Là người nghiên cứu Lịch Sử nên tác giả Vũ Minh Hoàng có cách nhìn thận trọng, dựa trên các chứng cứ nhiều bên. Đó là cách tiếp cận khách quan, khoa học. Trong khoa học, chào đón các quan điểm khác nhau, tôn trọng các quan điểm khác nhau.

Tuy nhiên, có 2 vấn đề cốt lõi trong bài phóng vấn trên cần khẳng định, chứ không nghi vấn như trả lời của NCS Vũ Minh Hoàng.

1. Một là, Trung Quốc trực tiếp chỉ đạo Khmer Đỏ xâm lược Việt Nam.

2. Hai là, Trung Quốc là tác giả của Nạn Hoa Kiều.

Việc chỉ huy Khmer Đỏ tấn công Việt Nam, làm cho Việt Nam và Campuchia cả hai cùng suy yếu là kế sách ngàn đời của các bạo chúa Trung Quốc.

Dưới thời Mao Trạch Đông, kế sách này chỉ vài người trong giới chóp bu Trung Quốc biết. Cả Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc không biết. Kế sách này không có bút tích. Thậm chí không thành lời.

Cho nên bà Đặng Dĩnh Siêu (phu nhân của Thủ tướng Chu Ân Lai) vẫn cứ đi lại “tới Phnom Penh để cố gắng thuyết phục Khmer Đỏ giảng hòa với Việt Nam, nhưng không ăn thua” (như trong bài trả lời phỏng vấn của NCS Vũ Minh Hoàng đã dẫn).

Việc bà Đặng Dĩnh siêu không biết việc chồng làm, càng không biết suy nghĩ của chồng, cũng là thường tình. Chuyện nhỏ hơn, ví như bao nhiêu người vợ không biết chồng mình làm điệp viên, phải chịu bao nhiêu đắng cay tủi nhục, mà không được đi lại tiếp đón như bà Đặng Dĩnh Siêu.

Tương tự như vậy là các tài liệu nói về ý định của Trung Quốc muốn giúp sân bay và trạm radar một nơi, nhưng Pol pot lại tự ý đưa về gần biên giới Việt Nam, như đã dẫn ra trong bài của NCS Vũ Minh Hoàng. Chính trị là trí trá. Quân sự là trí trá. Tình báo là trí trá. Dữ liệu để lại không phải lúc nào cũng là chứng cứ. Đừng mắc mưu Trung Quốc.

Điều bất hạnh cho nhân dân Campuchia chính là Pol pót. Pol pót muốn nhờ vào kế sách và viện trợ của Trung Quốc để xâm lược Việt Nam, mong mở rộng bờ cõi. Nhưng Pol pót lại sa vào kế hiểm phía sau của Trung Quốc, đến nỗi tự diệt cả dân tộc Campuchia.

Trung Quốc chỉ huy Pol pót xâm lược Việt Nam là điều không bàn cãi. Điều này được chứng minh bằng xương máu hàng vạn người Việt. Có thêm dữ liệu Lịch Sử càng tốt. Nhưng nghi vấn thì chỉ là những người không hiểu Trung Quốc, nên vô tình thành kẻ bào chữa cho tội lỗi Trung Quốc. Với Trung Quốc thấy 1 phải hiểu 10, 100, 1000.

Hiểu các bạo chúa Trung Quốc thì cũng dễ dàng thấy được tác giả Nạn Hoa Kiều bắt đầu từ Trung Quốc. Trung Quốc muốn nhân việc “đánh tư sản miền Nam” năm 1978 để biến thành Nạn Hoa kiều. Nhưng diễn biến Nạn Hoa Kiều lại phát triển ngoài tầm kiểm soát của Trung Quốc. Cuộc chơi không chỉ có một người.

Việc tìm thêm dữ liệu lịch sử ở mọi bên là rất cần thiết. Càng cần thiết nữa là bạch hóa những dữ liệu của phía Trung Quốc.

Nhưng có một điều cần khắc sâu ghi nhớ. Trong chính trị của đế chế Trung Hoa, kẻ cầm quyền ra những mật lệnh không bao giờ có bút tích hay dấu vết. Và những bút tích hay dấu vết để lại có thể là giả chứng cứ.

Mục đích chính của mấy dòng ngắn này không phải bàn về bài viết của anh Vũ Minh Hoàng. Mà để luôn nghĩ về Trung Quốc. Với Trung Quốc điều thấy chưa phải là chứng cứ, điều chưa thấy chưa phải là tận cùng. Với Trung Quốc phải nghĩ ngoài chứng cứ, ngoài tận cùng.

Sau đây là bài viết trên Tuần Vietnamnet (12/02/2019).

_____

BIÊN GIỚI THÁNG 2/1979: SÒNG PHẲNG VỚI LỊCH SỬ

– Sau khi thống nhất đất nước, Việt Nam đã cố gắng hết sức để giữ quan hệ tốt với cả Liên Xô lẫn Trung Quốc, kiên quyết không để bên nào lôi kéo đưa ra những phát ngôn làm mất lòng bên kia.

LTS: Mờ sáng 17/2/1979, Trung Quốc bất ngờ đưa hơn nửa triệu quân cùng hàng nghìn xe tăng, xe cơ giới tràn qua biên giới Việt Nam, đồng loạt tấn công 6 tỉnh phía Bắc từ Pa Nậm Cúm (Lai Châu) đến Pò Hèn (Quảng Ninh) trên chiều dài 1.200 km.

Họ đã vấp phải sự kháng cự ngoan cường của quân và dân Việt Nam trên toàn tuyến biên biên giới phía Bắc và buộc phải rút về nước.

Với tinh thần sòng phẳng với lịch sử, không kích động hận thù, Tuần Việt Nam/Báo VietnamNet xin giới thiệu cuộc trò chuyện với Nghiên cứu sinh môn Lịch sử Vũ Minh Hoàng, Đại học Cornell (Hoa Kỳ) về một góc cuộc chiến này. Mời quý vị độc giả theo dõi.

Biên giới tháng 2/1979: Sòng phẳng với lịch sử

Quân Trung Quốc đã vấp phải sự chống cự ngoan cường của quân và dân Việt Nam trên toàn tuyến biên biên giới phía Bắc.

Ông có những suy nghĩ như thế nào khi nhìn lại cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc 1979?
NCS Vũ Minh Hoàng: Theo tôi, chiến tranh biên giới phía Bắc và chiến tranh biên giới phía Tây Nam nên được gọi bao trùm là Chiến tranh Đông Dương thứ ba (với Chiến tranh giành độc lập là Chiến tranh Đông Dương thứ nhất và Chiến tranh giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và liên minh Hoa Kỳ – Việt Nam Cộng Hòa là Chiến tranh Đông Dương thứ hai). Đây là một cuộc chiến tranh vô cùng nhức nhối và phức tạp, có liên quan cả đến lịch sử sâu xa giữa các dân tộc Trung Quốc – Việt Nam – Campuchia, đến những biến động chính trị trong khu vực sau Chiến tranh Đông Dương thứ hai, và đến cả tổng thể Chiến tranh Lạnh giữa Liên Xô, Trung Quốc, và Hoa Kỳ.

Trong ba cuộc chiến tranh Đông Dương, Chiến tranh Đông Dương thứ ba có ảnh hưởng trực tiếp nhất và lớn nhất tới sự hình thành của trật tự khu vực và thực trạng chính trị trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương ngày nay. Tuy nhiên, do thỏa thuận giữa Việt Nam và Trung Quốc tại Hội nghị Thành Đô năm 1990 với mục đích giảm thiểu tối đa tuyên truyền gây ảnh hưởng xấu tới quan hệ hai nước, hiện tại các nguồn thông tin trong cả hai nước về cuộc chiến này vẫn chưa được nghiên cứu và tuyên truyền rộng rãi.

Tôi tin rằng chủ ý cho điều khoản này tại Thành Đô là tích cực, muốn dẹp đi quá khứ đau thương và xây dựng một quan hệ tốt đẹp mới giữa hai Đảng, hai Nhà nước, hai dân tộc.

Nhưng về mặt thực hành thì chủ chương này vẫn chưa đạt được như cả hai nhà nước mong chờ.

Trong bối cảnh thế giới đã thay đổi rất nhiều, người dân ở cả hai nước có nhiều cơ hội tiếp cận thông tin hơn trước, nếu hai Chính phủ muốn đạt được mục đích của điều khoản này, sẽ phải làm điều trái ngược với chính lời văn của điều khoản đó, khẩn trương giải mật các tài liệu liên quan đến cuộc chiến tranh này, để các học giả, quan chức, và dân chúng có thể tự do thảo luận về lịch sử một cách thẳng thắn, có cơ sở. Đây là cách duy nhất để chúng ta đạt được mục tiêu chung sống hòa bình giữa hai dân tộc và dẹp tan những lời xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Tôi nghe nhiều về việc khi ta vừa mới thống nhất đất nước, vừa mới hoà bình, tức là khi “sức ta cùng, lực ta kiệt” thì Trung Quốc cắt giảm viện trợ, xúi bẩy Hoa Kiều Việt Nam hồi hương và thậm chí, đứng sau Khơ-me đỏ tiến hành chiến tranh biên giới phía Tây Nam, và đỉnh điểm là lúc 5giờ 25 phút sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979, Trung Quốc nổ súng trên toàn tuyến biên giới Việt Nam, đánh chiếm nước ta từ Phong Thổ, Lai Châu, tới địa đầu Móng Cái. Góc nhìn của ông về những chuyện này như thế nào?

Việc Trung Quốc cắt giảm viện trợ sau khi Việt Nam thống nhất đất nước là tất nhiên.

Từ cuối thập kỷ 1960, thực lực của Trung Quốc giảm mạnh do Cách mạng Văn hóa, đã phải rút gần như tất cả dân quân tình nguyện về nước, và viện trợ đã giảm thêm sau khi Trung Quốc cải thiện quan hệ với Mỹ năm 1971-1972.

Tới năm 1975-76, khi các đoàn Việt Nam sang xin viện trợ, phía Trung Quốc đã báo là khả năng của Trung Quốc có hạn: thu nhập trung bình ở Việt Nam lúc đó cao hơn Trung Quốc; Mao Trạch Đông mới mất và Trung Quốc vẫn đang trong quá trình chấn chỉnh nội bộ sau Cách mạng Văn hóa (mà khi đó chưa chắc là phe ôn hòa sẽ chiến thắng); và năm 1976 Trung Quốc đã lại gánh phải động đất ở Đường Sơn khiến hơn 240,000 người thiệt mạng (có những nguồn còn ước tính tới hơn 700,000 người thiệt mạng).

Cũng có một số quan điểm đã xem hành động cắt giảm viện trợ một cách vô cùng tiêu cực, là một thủ đoạn ép Việt Nam phải đi theo Trung Quốc và từ bỏ Liên Xô.

Nhưng trong thực tế, Trung Quốc cắt hoàn toàn sau khi Việt Nam đã gia nhập Hội đồng Tương trợ Kinh tế (CMEA) do Liên Xô dẫn đầu.

Mà suy nghĩ rộng ra sẽ thấy, sau khi ta thống nhất, thì khi đó nước bạn lại rơi vào khó khăn, lúc đó ta cứ muốn viện trợ nhiều hơn sẽ là thiếu nhạy cảm và không hợp lý.

Trong các cuộc phỏng vấn sau khi chiến tranh Biên giới tháng 2/1979 đã nổ ra, Đặng Tiểu Bình đã nêu rõ là ngoài lý do chiến lược, ông ta còn muốn trừng trị Việt Nam vì ghét thái độ. Tôi cho rằng việc Đặng Tiểu Bình sử dụng vũ lực để gửi thông điệp chính trị là vi phạm luật quốc tế và có tội đối với nhân dân cả hai nước.

Còn việc họ xúi bẩy Hoa Kiều hồi hương như thế nào thì vẫn chưa thực sự rõ ràng.

Việt Nam đã đưa ra Sách trắng năm 1979, cáo buộc nhà cầm quyền Trung Quốc đứng đằng sau một số cá nhân, tổ chức một số cá nhân, tổ chức đã hô hào xúi giục bà con người Hoa hàng loạt tháo chạy khỏi Việt Nam, nhằm chia rẽ nội bộ, gây náo loạn, giảm uy tín Việt Nam trên trường quốc tế. Phía Trung Quốc thì ngược lại, cáo buộc Việt Nam đàn áp người Hoa và ép họ nhập quốc tịch Việt Nam.

Vì lưu trữ cả hai bên vẫn chưa được bạch hóa, nên tìm hiểu lại câu chuyện xảy ra như thế nào rất khó khăn. Dựa trên một sổ phỏng vấn và điều tra lưu trữ, tôi có thể một phần tái tạo lại câu chuyện như sau:

Vì đã đổ nhiều xương máu trường kỳ đấu tranh thống nhất đất nước, Chính phủ Việt Nam sau năm 1975 đã quyết tâm nhanh chóng hợp hóa miền Nam vào chế độ Xã hội Chủ nghĩa bằng những biện pháp cứng rắn như cải tạo hàng loạt và lâu năm với các nhân vật từng làm việc cho chế độ cũ, cải tạo tư sản ở miền Nam, thống nhất tiền tệ toàn quốc, và đưa tất cả các dân tộc thiểu số vào quốc tịch Việt Nam.

Tuy là với mục đích xây dựng xã hội chủ nghĩa, thống nhất đất nước, và không có chủ ý bài Hoa, những chính sách này đã ảnh hưởng đặc biệt mạnh tới quyền lợi nhất thời của cộng đồng người Hoa, do cộng động này ở Việt Nam, cũng như ở phần lớn các nước Đông Nam Á, chiếm đa số trong giới thương gia và nắm một phần lớn năng lực tài chính trong xã hội.

Tâm lý của họ cũng chịu ảnh hưởng lớn bởi bối cảnh lịch sử của người Hoa ở Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng. Qua nhiều thế kỷ, cả dưới thời thực dân lẫn dưới những chính quyền dân tộc chủ nghĩa, người Hoa ở Đông Nam Á đã nhiều lần đối mặt với những chính sách bài Hoa, từ những trường hợp bị phân biệt đối xử trong hệ thống (Việt Nam Cộng hòa, UMNO ở Malaysia) tới nhiều trường hợp bị diệt chủng (1603 và 1639 ở Manila, 1740 ở Batavia, 1965 ở khắp Indonesia).

Trong bối cảnh đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi số đông cộng đồng người Hoa hoảng hốt trước những chính sách mới của Chính phủ Việt Nam, và những tin đồn là mục tiêu xây dựng xã hội chủ nghĩa chỉ là trá hình cho biện pháp áp bức người Hoa, không cần Chính phủ Trung Quốc gieo cũng quá dễ nảy sinh và phát tán một cách hữu cơ trong một cộng đồng đa nghi.

Trong khi vai trò truyền thông của Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vẫn còn được bàn cãi, thời đó cũng như ngày nay, Bắc Kinh vẫn luôn trong tình trạng phải đấu tranh với Đài Bắc làm lãnh đạo và nơi nương tựa của dân Hoa Kiều hải ngoại toàn cầu, nên không thể không phản ứng mạnh mẽ khi tình hình cộng đồng Hoa Kiều ở Việt Nam trở nên căng thẳng.

Khi mà bối cảnh quan hệ giữa Bắc Kinh và Hà Nội đã xấu đi từ cuối năm 1977. Lúc đó, hai bên đã có những xung đột biên giới và đàm phán biên giới bế tắc, và cả hai đã toan nghi ngờ ý đồ của nhau về lập trường chính trị trên bàn cờ quốc tế, nạn Hoa Kiều dấy lên vào tháng 3/1978 tựa như một que diêm khai hỏa một thùng thuốc nổ đã có sẵn vậy.

Nhìn lại, Chính phủ Việt Nam đã rất kiên nhẫn khi đợi đến tận xuân năm 1978 để tiến hành tái cơ cấu kinh tế miền Nam sau khi đã nắm vững kiểm soát chính trị. Tiếc thay, đó lại chính là thời điểm nhạy cảm về mặt ngoại giao để tiến hành những chính sách tái cơ cấu kinh tế này, không chỉ đối với quan hệ Việt-Trung mà cả với đàm phán bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ và những nỗ lực hội nhập kinh tế khác của Bộ Ngoại giao trong những năm đó.

Việc Trung Quốc đã ủng hộ chế độ Khmer Đỏ là một vết nhọ trong những trang sử Trung Hoa, cũng như các nước khác, trong đó có các nước ASEAN và Hoa Kỳ, khi mà họ đã bỏ phiếu cho Khmer Đỏ giữ ghế ở Liên hợp quốc sau khi chính quyền này bị quân Việt Nam và quân Campuchia yêu nước lật đổ.

Trung Quốc đã ủng hộ nhiều nhất cho chế độ này, trợ cấp gần như toàn bộ vật liệu công nghệ, vũ khí, lương thực cho chế độ Khmer Đỏ.

Những nghiên cứu của các ông cho thấy những điều gì?

Hai học giả đã từng nghiên cứu ở cả lưu trữ Campuchia lẫn Trung Quốc là Andrew Mertha (đã từng trong ban hướng dẫn của tôi ở Cornell, hiện ở Johns Hopkins) và John Ciorciari (Đại học Chicago) đều kết luận rằng ý tưởng tấn công các nước láng giềng (có cả Lào và Thái Lan) là của nhóm Pol Pot – Ieng Sary. Trung Quốc đã tiếp tay cho chúng.

Theo Mertha, khi Trung Quốc viện trợ trạm radar tập trung vào vùng Tây Nam Campuchia nhằm phục vụ mục đích phát triển kinh tế và quốc phòng, Khmer Đỏ lại quyết xây ở vùng giáp biên giới với Việt Nam, nhằm phục vụ mục đích xâm lược vào lãnh thổ Việt Nam. Khi Trung Quốc viện trợ một sân bay muốn đặt trên sông Stung Svey Chek ở mạn Tây Bắc để tránh gây lo ngại cho Việt Nam, Khmer Đỏ lại kiên quyết xây ở Kampong Chhnang để phục vụ tốt hơn cho các chiến dịch quân sự ở biên giới với Việt Nam.

Nhà báo Nayan Chanda cũng viết về những chuyến ngoại giao con thoi của bà Đặng Dĩnh Siêu (phu nhân của Thủ tướng Trung Hoa Chu Ân Lai) tới Phnom Penh để cố gắng thuyết phục Khmer Đỏ giảng hòa với Việt Nam, nhưng không ăn thua.

Cá nhân tôi đã nghiên cứu ở Thư viện Tổng thống Carter và Lưu trữ Quốc gia Hoa Kỳ, tìm được nhiều tài liệu chứng minh là cho tới giữa 1978, Trung Quốc vẫn ao ước có thể tranh thủ bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ để kéo Việt Nam khỏi vòng tay Liên Xô.

Tôi không khẳng định được là Trung Quốc đã không xúi giục Khmer Đỏ xâm chiếm Việt Nam, chỉ nói được rằng trong lưu trữ Khmer Đỏ và Hoa Kỳ đã được mở không có căn cứ cho lập luận này; và cho tới khi kho lưu Trung Quốc được mở hoàn toàn; mọi chứng cứ hiện hành cho thấy là Trung Quốc không thực sự muốn có chiến tranh giữa Khmer Đỏ và Việt Nam, nhưng cũng không kháng cự và thực sự cố gắng ngăn chặn cuộc chiến tranh này xảy ra khi đồng minh của mình quyết tâm tham chiến.

Tôi kết luận như vậy không phải là để xá tội cho giới lãnh đạo Trung Quốc: cho dù khả năng cao là họ đã không trực tiếp xúi giục Khmer Đỏ tấn công Việt Nam, họ đã tiếp tục trang bị quân sự cho chế độ này một khi hiểu rõ ý đồ của chúng, và vì vậy phải chịu liên lụy cho những hành động của chúng, cũng như các nước khác đã tiếp tay Khmer Đỏ cũng đều phải chịu một phần liên lụy phù hợp với cống hiến của họ cho cuộc cách mạng Khmer Đỏ.

Biên giới tháng 2/1979: Sòng phẳng với lịch sử

Cá nhân tôi đã nghiên cứu ở Thư viện Tổng thống Carter và Lưu trữ Quốc gia Hoa Kỳ, tìm được nhiều tài liệu chứng minh là cho tới giữa 1978, Trung Quốc vẫn ao ước có thể tranh thủ bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ để kéo Việt Nam khỏi vòng tay Liên Xô. Ảnh tư liệu.
Có quan điểm cho rằng, một trong những nguyên nhân nổ ra cuộc chiến Biên giới tháng 2 năm 1979 còn liên quan tới chiến lược của Việt Nam và nhằm phá sự liên kết, đoàn kết giữa Việt Nam – Liên Xô. Quan điểm của ông như thế nào?

Quan điểm này vừa đúng, vừa sai.

Đúng là vì đó đúng là quan điểm của Trung Quốc, như họ đã nêu rất rõ ở các kênh báo chí truyền thông đương thời.

Sai là vì Trung Quốc đã hoàn toàn hiểu lầm Việt Nam.

Sau chiến tranh, Việt Nam đã cố gắng hết sức để giữ quan hệ tốt với cả Liên Xô lẫn Trung Quốc, kiên quyết không để bên nào lôi kéo đưa ra những phát ngôn làm mất lòng bên kia.
Liên Xô đã nhiều lần mời Việt Nam gia nhập Hội đồng Tương trợ Kinh tế, nhưng Việt Nam vì nể Trung Quốc nên không chịu.

Chỉ tới khi quan hệ Việt-Trung đã xấu đi đáng kể mùa xuân năm 1978, Việt Nam mới gia nhập CMEA vào tháng 6 năm 1978, và chỉ khi Việt Nam đã không còn đường nào khác ngoài việc phải giải quyết tận gốc đe dọa từ Khmer Đỏ, mới ký Hiệp ước Hòa bình Hữu nghị với Liên Xô tháng 11 năm 1978, làm một hình thức quốc phòng.

Theo phỏng vấn của tôi với cựu Phó Thủ tướng Vũ Khoan, lúc đó là chuyên viên ở Đại sứ quán Việt Nam ở Matxcova, Việt Nam thậm chí còn không báo trước với Liên Xô khi khởi đầu chiến dịch giải phóng Campuchia ngày 25 tháng 12 năm 1978. Tôi nể phục nhất là các bạn Liên Xô, đã sẵn sàng cam chịu làm đồng minh với một nước độc lập quyết liệt như Việt Nam.

Liên quan tới chuyến thăm Trung Quốc của Tống Bí thư Lê Duẩn hồi tháng 9/1975 và năm 1977, hai bên bất đồng quan điểm trong nhiều vấn đề, đặc biệt là vấn đề biên giới lãnh thổ. Điều này liên quan thế nào tới quyết định “dạy cho Việt Nam một bài học” của ông Đặng Tiểu Bình?

Việt Nam và Trung Quốc vẫn có nhiều bất đồng về biên giới lãnh thổ, mà tới nay vẫn tồn tại.
Khi Đặng Tiểu Bình sang công du Hoa Kỳ tháng 1 năm 1979 để ký kết Hiệp định bình thường hóa quan hệ Trung-Mỹ, ông đã trình bày kế hoạch dạy bài học cho Việt Nam, và quả nhiên là chiến tranh biên giới phía Bắc đã diễn ra gần như y hệt kế hoạch đó: quân Trung Quốc đã xâm chiếm các tỉnh miền Bắc, tàn phá cơ sở vật chất, và rút lui trong vòng một tháng.

Bài học Đặng Tiểu Bình muốn dạy Việt Nam là không thể trông cậy vào Liên Xô được.
Có một bài học ẩn ý mà Trương Tiểu Minh (Air War College) đã nhấn mạnh, đó là cho Quân đội Nhân dân Trung Quốc, để họ thấy được Cách mạng Văn hóa đã làm quân đội bị lạc hậu như thế nào, và Đặng Tiểu Bình có thể thay thế các vị trí quan trọng trong quân đội với những sỹ quan trung thành với ông ta.

Rõ ràng, Việt Nam đã không học bài học đó. Nhưng vấn đề tranh chấp lãnh thổ, tuy có là một yếu tố làm xấu đi quan hệ song phương và dẫn đến chiến tranh, không nằm trong giáo trình của Đặng Tiểu Bình.

Nhìn vào thực tế, các quốc gia nào có chung đường biên giới thường dễ xảy ra “va chạm”. Là một nhà nghiên cứu, hẳn ông đã đọc nhiều về bang giao quốc tế, vậy, ông có gợi ý gì để các quốc gia nhỏ không bị lôi kéo, không bị trở thành quân cờ trên bàn cờ của các nước lớn?

Tôi không đồng ý với “thực tế” bạn nêu ra về các đường biên giới. Trên thế giới có rất nhiều đường biên giới, và phần lớn thời gian, gần như tất cả những đường biên giới này, trong đó bao gồm biên giới Việt-Trung và Việt Nam-Campuchia hiện nay, là nơi thương mại sầm uất, là cửa giao dịch hòa bình giữa hai đất nước, hai dân tộc.

Tôi không muốn nói quá khái quát về vấn đề nước nhỏ, nước lớn, và biên giới hòa bình hay không, vì mỗi trường hợp có những đặc thù riêng, và có những phức tạp riêng khi phân định, và nhiều hơn nữa khi nói đến gìn giữ hòa bình.

Hiện tại, tôi tương đối hài lòng với biên giới Việt-Trung trên đất liền và Vịnh Bắc bộ, vì đã được phân định rõ ràng, và được hai bên tôn trọng.

Tháng 12 khi về Hà Nội, tôi có dự một buổi tọa đàm của Chương trình Nghiên cứu Kinh tế Trung Quốc thuộc Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) về các đề xuất của Trung Quốc cho các khu hợp tác kinh tế qua biên giới. Diễn giả hôm đó là Phó Giáo sư – Tiến sỹ Nguyễn Anh Thu đã chia sẻ nhiều về việc nhiều quan chức Việt Nam hỏi chị nghiên cứu đề xuất của họ để làm gì, gạt ngay đi vì lý do an ninh – quốc phòng.

Tôi rất mừng là ở Việt Nam vẫn có những người như chị Thu, không dễ phật lòng, vẫn tận tụy lên từng tỉnh thành, phỏng vấn, khảo sát các lãnh đạo, doanh nghiệp địa phương để nắm rõ nhu cầu, mong ước, quan ngại của họ, và quay lại tham khảo các ý kiến các bộ ngành để trình lên Ban Kinh tế Trung ương.

Tôi tin là việc gắn bó lợi ích kinh tế hai nước vào thương mại biên giới là một trong những cách tốt nhất để giữ gìn hòa bình, vì khi đó cả hai sẽ có ít động lực để cho phép chiến tranh và phá hủy thành quả chung.

Đúng, chúng ta phải cẩn trọng, phải nghiên cứu kỹ lưỡng những cơ hội và rủi ro trước khi tiến hành, nhưng đừng ngay lập tức dập vùi những động thái tích cực phía bạn.

Như lời bài hát của ABBA trong bài Happy New Year, tôi mong là thỉnh thoảng chúng ta đều sẽ có một ước mộng về một thế giới nơi mỗi người hàng xóm đều là một người bạn.

Chúc mừng năm mới!

Xin cám ơn NCS Vũ Minh Hoàng đã dành thời gian cho Tuần Việt Nam/Báo VietnamNet.

Thu Thủy thực hiện.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

12-2-2019 “…Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng Trần Hùng nhớ lại, trưa ngày 17,

FB Ngô Nhật Đăng

12-2-2019

“…Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng Trần Hùng nhớ lại, trưa ngày 17, khi một người dân chạy đến đơn vị báo tin xe tăng Trung Quốc đã vào đến Nước Hai, Hòa An, thủ trưởng của ông còn lệnh cho lính “trói nó lại” vì cho rằng người này phao tin đồn nhảm. Vì sao quân dân ta lại bị bất ngờ trước một cuộc tấn công toàn tuyến với quy mô 32 sư đoàn?

Nguyên Bí thư Cao Bằng, Vương Dương Tường, nhớ lại ở Cao Bằng hôm ấy, quân khu còn đưa các chỉ huy quân sự tỉnh về họp. Không ai biết Trung Quốc đánh mình. Ngay cả khi tiếng súng đã nổ vang từ hướng Hà Quảng, Thông Nông, trưởng ty Thủy lợi băn khoăn nói tiếng súng nhiều lắm, không biết súng ta hay súng địch. Một lãnh đạo Cao Bằng khi đó nói anh em cứ yên trí. Đó là súng mình. Ông Tường thừa nhận: “Cơ bản nhất là bấy giờ không ai tin anh em đồng chí lại đánh nhau”, ông Tường nói”.

Trích bài: Đồng chí với nhau, ai nghĩ sẽ đánh nhau –Đào Tuấn (bài phóng sự nhiều kỳ này cũng bị gỡ sau khi đăng được 24 tiếng).

“Người dân” báo tin xe tăng TQ thật ra là một bác sỹ của bệnh viện Thông Nông, anh bị bắt giam ngay lập tức. Sau khi thông báo tình hình vẫn yên ổn, ngay đêm hôm đó bí thư tỉnh đưa vợ con chạy về Thái Nguyên bỏ mặc quân và dân. Sáng hôm sau mọi hoạt động của thị xã Cao Bằng vẫn bình thường, xe khách đi các huyện vẫn hoạt động, cho đến lúc quân Tàu bắc loa: “ Nhân dân hãy ẩn nấp, chúng tôi sang đây chỉ để đánh tập đoàn phản bội Lê Duẩn”. Sau này khi Tàu rút về, dân Cao Bằng hàng ngày mang tên thằng bí thư này ra nguyền rủa.

Sư đoàn bộ bị bọc hậu, bao vây, tiểu đoàn 95 đặc công phải mở đường máu đưa ban chỉ huy sư đoàn thoát khỏi vòng vây. Nhưng Tàu không thể qua nổi Tài Hồ Sìn, trận địa pháo đài Cao Bằng cũng giữ được, đơn vị phòng không 37ly hạ nòng bắn thẳng bộ binh. Lính Tàu gọi đây là “thung lũng Máu” vì chết rất nhiều.

Lúc đó không phải là ngày 17/2 mà sau đó hơn 1 tuần, Trà Lĩnh, Trùng Khánh quân Tàu không qua nổi, chúng đi đường Thông Nông bọc đằng sau đánh ngược lên, Thông Nông có 1 con đường rộng hơn 10 m được Tàu “làm giúp” cách biên giới khoảng 4km thì ngừng. Công binh Tàu ngày đêm mở đường, chưa đầy 1 ngày đêm đã xong, cả 3 quân đoàn của quân khu Thành Đô vào VN theo đường này. Không có bộ đội VN, chỉ có 1 đồn biên phòng 30 người, bắn hết đạn phải rút vào rừng. Khi xe tăng TQ cắm cờ đỏ sao vàng vào đến huyện lỵ, ông huyện đội trưởng đang ngồi ở chợ còn kêu to “Xe tăng Liên Xô”, bọn Tàu bắn 1 loạt đại liên lên trời thế là chạy hết. Ông bác sỹ vội vàng lấy chiếc xe cấp cứu chạy ra thị xã báo tin. Mặt trận Cao Bằng bị vỡ là thế.

Tiểu đoàn mình được lệnh vào Thông Nông “luồn sâu”, hành quân đến nơi thì bị lọt giữa vòng vây trong khi cả tiểu đoàn được trang bị mỗi trung đội có 3 khẩu súng. Tưởng đã chết hết, tiểu đoàn trưởng chửi: “ĐM. chúng nó làm gián điệp cho Tàu”.

Đây là nỗi căm tức và băn khoăn của tụi mình mấy chục năm qua. Điều gì thực sự ở đằng sau?

Ps: Trung đoàn 246 và 677 vẫn giữ vững tuyến trước, đột nhiên bị đánh ngược lên từ phía sau, bọn Tàu bắc loa gọi tên từng chỉ huy tiểu đoàn trở lên là ai.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

TQ lo ngại tiền đầu tư vào Venezuela thời Maduro

TQ lo ngại tiền đầu tư vào Venezuela thời Maduro

Maduro và Lật Chiến ThưBản quyền hình ảnhMARCELO GARCIA
Image captionTổng thống Nicolas Maduro và Ủy viên Bộ Chính trị ĐCSTQ Lật Chiến Thư tại Bắc Kinh hồi 2018

Giám đốc AIIB nói Trung Quốc đang xem lại chính sách cho vay ở nước ngoài giữa lúc có lo ngại về các khoản tiền nước này cho Venezuela và Sri Lanka vay.

Trả lời phỏng vấn Financial Times hôm 29/01/2019, ông Kim Lập Quân (Jin Lijun), Chủ tịch Ngân hàng Đầu tư Cơ sở Hạ tầng Á châu (AIIB) nói Trung Quốc đang “cân bằng lại các cách cho vay ở hải ngoại”.

“Trung Quốc đang cân bằng lại các thủ tục cho vay ở nước ngoài khi phải đối mặt với những lo ngại lên cao về ‘gánh nặng nợ’ cho các nước đang phát triển.”

Financial Times nói AIIB, ngân hàng do Trung Quốc lập ra, “đã đóng góp phần của mình vào sự tan rã kinh tế của Venezuela, việc tái đàm phán nợ gây tranh cãi của Sri Lanka, và các dự án nay bị hủy ở Malaysia”.

Tuy thế, ông Kim Lập Quân bác bỏ chỉ trích rằng Trung Quốc cho vay “bừa bãi” để đẩy các nước khác vào bẫy nợ.

Ông gọi đây là “cáo buộc hoàn toàn sai”.

Hình chụp tại Venezuela
Image captionNgười dân Venezuela xếp hàng

Venezuela nợ TQ nhiều

Hồi tháng 3/2018, Reuters đưa tin Venezuela còn nợ Trung Quốc 19,3 tỷ USD, theo một nguồn trong ngành tài chính Venezuela.

Trước đó, hồi tháng 11/2017, trang Financial Times có bài nói Venezuela nợ trên thị trường trái phiếu 64 tỷ USD, và hơn 20 tỷ USD từ đồng minh Trung Quốc và Nga.

Nhưng kênh truyền hình BBC World hôm 29/01/2019 có bài nói các khoản Venezuela “nợ Trung Quốc đã lên tới 70 tỷ USD”.

Con số này có thể đến từ tổng số các khoản đầu tư và cho vay.

VOA News của Hoa Kỳ hồi tháng 9/2018 nêu ra con số tương tự, rằng “trong vòng 10 năm qua, Trung Quốc đã cho Venezuela 65 tỷ USD các khoản cho vay, tiền mặt và đầu tư. Venezuela nợ hơn 20 tỷ USD”.

Cũng từ tháng 3/2018, quan chức Ngân hàng Phát triển Trung Quốc (CDB) được Reuters trích lời nói họ “nghĩ lại về việc tiếp tục chi tiền vào Venezuela”.

Venezuela rồi sẽ ra sao với hai tổng thống?

Venezuela hủy quan hệ ngoại giao với Mỹ

Venezuela của Bolivar và ‘hội chứng chống Mỹ’

Diễn biến Venezuela gửi thông điệp gì cho VN?

Hãng tin Anh khi đó trích thuật một nguồn ngoại giao ở Bắc Kinh nói chính phủ Trung Quốc lo ngại “đầu tư vào Venezuela sẽ chỉ thấy ông Nicolas Maduro lại như một Robert Mugabe ở Zimbabwe”.

Ông Mugabe được Trung Quốc hỗ trợ trên 40 năm để cuối cùng bị tước quyền lực.

Trái phiếu của Venezuela trên thị trường quốc tế hôm 24/01/2019 đã ổn định lại vì các nhà đầu tư tin rằng kiểu gì thì ông Maduro sẽ bị lật đổ.

Điều lạ là mỗi khi có khả năng ông Maduro trụ lại được, như sau khủng hoảng 2016, thì trái phiếu của Venezuela lại mất giá.

Cũng tương tự như vậy, nếu ông Maduro tiếp tục cầm quyền thì trái phiếu Venezuela sẽ sụt giá trong 2019, theo Colby Smith trong bài ‘Venezuela bondholders are betting on Maduro’s downfall‘.

Xem thêm về Nam Mỹ:

Trump gọi đối lập Venezuela là tổng thống

Một triệu di dân Venezuela nhập cảnh Colombia

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Blog at WordPress.com.