Daily Archives: April 3, 2019

Mỹ cam kết bảo vệ an ninh khu vực và tăng cường hợp tác an ninh biển với Việt Nam

Mỹ cam kết bảo vệ an ninh khu vực và tăng cường hợp tác an ninh biển với Việt Nam

Mỹ cam kết mạnh mẽ nhằm bảo đảm khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương tự do và mở; ủng hộ hoà bình, ổn định, hợp tác, thương mại không bị cản trở, tự do, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không. Mỹ cũng kêu gọi các bên liên quan thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), hướng tới hoàn tất Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC) thực chất và hiệu quả.

Tại Đối thoại Chính trị – An ninh – Quốc phòng thường niên lần thứ 10 giữa Việt Nam và Mỹ tại Washington D.C (25/3), Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Bùi Thanh Sơn và Thứ trưởng phụ trách Kiểm soát vũ khí và An ninh quốc tế Mỹ Andrea Thompson nhất trí hai nước sẽ tiếp tục hợp tác về an ninh biển, rà phá bom mìn, vật liệu nổ, sớm khởi động dự án tẩy độc sân bay Biên Hoà, tiếp tục hỗ trợ các nạn nhân da cam/dioxin, tìm kiếm bộ đội Việt Nam mất tích trong chiến tranh.

Thứ trưởng Thompson cho biết Mỹ tiếp tục coi trọng vai trò của Việt Nam trong việc cùng cộng đồng quốc tế thực hiện mục tiêu phi hạt nhân hoá bán đảo Triều Tiên. Về vấn đề Biển Đông, Mỹ cam kết mạnh mẽ nhằm bảo đảm khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương tự do và mở; ủng hộ hoà bình, ổn định, hợp tác, thương mại không bị cản trở, tự do, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không. Mỹ cũng kêu gọi các bên liên quan thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), hướng tới hoàn tất Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC) thực chất và hiệu quả.

Trong những năm gần đây, Mỹ đã thông qua nhiều kênh để hỗ trợ, giúp đỡ Việt Nam nâng cao năng lực hàng hải. Mới đây, Phó Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ về các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương W. Patrick Murphy (22/3) tuyên bố Washington sẽ tiếp tục hỗ trợ nâng cao năng lực hàng hải cho Việt Nam, cho rằng việc này có vai trò quan trọng cho an ninh khu vực. Theo ôngg W. Patrick Murphy, Việt Nam hiện có một tàu cảnh sát biển do Mỹ cung cấp. Mỹ sẽ tăng cường nỗ lực để nâng cao năng lực hàng hải của Việt Nam. Điều đó rất quan trọng với Việt Nam nói riêng và khu vực nói chung. Ngoài ra, ông W. Patrick Murphy cũng cho biết, Mỹ mong muốn “được làm việc chặt chẽ với Việt Nam về quan hệ song phương và các vấn đề khu vực”; đồng thời khẳng định Mỹ sẽ tiếp tục hoạt động tự do hàng hải ở Biển Đông, nhấn mạnh tất cả quốc gia trên thế giới đều có lợi ích khi giao thông và thương mại ở các tuyến đường biển không bị cản trở.

Tháng 5/2017, Mỹ đã bàn giao tàu tuần duyên tải trọng cao USCGC Morgenthau cho Cảnh sát biển Việt Nam qua Chương trình bán trang bị quốc phòng dư thừa (EDA). USCGC Morgenthau có choán nước toàn tải 3.250 tấn, chiều dài 115 m, rộng 13 m, mớn nước 4,6 m, thủy thủ đoàn 160 người. Tàu có tốc độ tối đa 53,7 km/h, phạm vi hoạt động hơn 22.500 km và có thể hoạt động liên tục 45 ngày. Sau khi được biên chế vào Cảnh sát biển Việt Nam, tàu được đổi tên thành CSB 8020. CSB 8020 dự kiến giúp nâng cao năng lực nhận thức về các vấn đề hàng hải của Cảnh sát biển Việt Nam, tăng cường năng lực trong thực hiện các hoạt động thực thi luật hàng hải, tìm kiếm và cứu nạn, ứng phó nhân đạo. Ngoài ra, con tàu còn mang ý nghĩa biểu tượng và cụ thể về Quan hệ đối tác toàn diện Việt – Mỹ.

Mỹ cũng đã chuyển giao 6 xuồng cao tốc Metal Shark cho Vùng 2 Cảnh sát biển Việt Nam tại Quảng Nam. Động thái trên là một bước tiến quan trọng nữa trong việc mở rộng hợp tác an ninh giữa Việt Nam và Mỹ. Nó còn thể hiện sự hợp tác ngày càng sâu sắc trong lĩnh vực thực thi luật hàng hải, hoạt động tìm kiếm và cứu hộ trên biển, hợp tác trợ giúp nhân đạo hàng hải trong vùng lãnh hải và đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Đáng chú ý, Đô đốc Philip S. Davidson, Chỉ huy Bộ tư lệnh Thái Bình Dương – Ấn Độ Dương của Mỹ (12/2) đã tiết lộ tại Quốc hội Mỹ về chuyện Việt Nam mua máy bay trinh sát không người lái cũng như máy bay huấn luyện từ Mỹ. Ông Davidson nói rằng mối quan hệ quân sự giữa Bộ tư lệnh Thái Bình Dương – Ấn Độ Dương của Mỹ và quân đội Việt Nam là “ưu tiên củng cố năng lực hàng hải của Việt Nam, vốn sẽ được hỗ trợ bởi việc Việt Nam mua Scan Eagle UAV (máy bay trinh sát không người lái) và máy bay huấn luyện T-6 và một chiếc tàu thứ hai của Lực lượng Tuần duyên Mỹ”. Ngoài ra, Đô đốc Davidson cho biết thêm, Việt Nam đã nổi lên là một đối tác chính trong việc thúc đẩy trật tự quốc tế dựa trên luật lệ và an ninh ở khu vực Thái Bình Dương – Ấn Độ Dương. Việc mua bán trang thiết bị quân sự trên thuộc loại Mua bán Thương mại Trực tiếp (DCS), một trong hai chương trình chính để Mỹ chuyển giao các dịch vụ và thiết bị quốc phòng cho đồng minh và đối tác. Theo chương trình DCS, đối tác đạt thỏa thuận với một nhà sản xuất Mỹ, nhưng nhà sản xuất phải được Bộ Ngoại giao Mỹ cấp giấy phép thông qua vụ mua bán trước khi chuyển giao thiết bị. Ngoài việc mua thiết bị quân sự trên, Đô đốc Davidson nói thêm rằng “Bộ Ngoại giao Mỹ cũng đã cung cấp cho Việt Nam 12 triệu đôla trong chương trình Cung cấp Tài chính Quân sự Nước ngoài (FMF) trong năm tài khóa 2017”.

https://www.facebook.com/plugins/comments.php?app_id=&channel=https%3A%2F%2Fstaticxx.facebook.com%2Fconnect%2Fxd_arbiter%2Fr%2Fd_vbiawPdxB.js%3Fversion%3D44%23cb%3Df25a3bd38f3a3f8%26domain%3Dbiendong.net%26origin%3Dhttp%253A%252F%252Fbiendong.net%252Ff10d8ad39ec584%26relation%3Dparent.parent&color_scheme=light&container_width=664&height=100&href=https%3A%2F%2Fwww.biendong.net%2Fbien-dong%2F27241-my-cam-ket-bao-ve-an-ninh-khu-vuc-va-tang-cuong-hop-tac-an-ninh-bien-voi-viet-nam.html&locale=vi_VN&sdk=joey&skin=light

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Đỗ Cao Cường 1-4-2019 Một số người cho rằng chỉ cần thay đổi luật đấu thầu thì sẽ hạn chế được sự bành trướng của các nhà thầu Trung Quốc. Nhưng bản chất câu chuyện không nằm ở nhà thầu, mà là sự chọn lựa mô hình quản lý nhà nước, sự phụ thuộc quá lớn vào cả thể chế chính trị lẫn nền kinh tế Trung Quốc, những món nợ khổng lồ cùng các điều khoản bắt buộc đi kèm sẽ đưa Việt Nam đến bến bờ tuyệt vọng. Năm 2015, nhiều tờ báo trong nước đưa tin từ năm 1993 đến 2014, Việt Nam tiếp nhận 80 tỷ USD nguồn vốn ODA (Official Development Assistance), đến năm 2018 báo chí tái khẳng định nguồn vốn ODA mà Việt Nam nhận được trong giai đoạn 1993 – 2018 vẫn là con số 80 tỷ USD, vậy là nguồn ODA viện trợ không hoàn lại vào Việt Nam trong 4 năm 2014 -2018 bằng 0. Từ năm 1993 đến nay, cả nước có gần 3000 chương trình, dự án vay vốn ODA, vay vốn ưu đãi, tập trung hết vào các dự án đầu tư công, không có một quy trình đánh giá, kiểm soát nguồn vốn, giám sát độc lập, tham nhũng hoành hành nên nhiều dự án lớn bị thua lỗ nặng nề… khiến cho nhiều nước phát triển như Pháp, Đan Mạch, Canada… ngừng viện trợ ODA cho Việt Nam. Thời gian dùng “tiền chùa” hết, áp lực trả nợ cao (chỉ tính riêng năm 2015, tỷ lệ trả nợ trực tiếp chiếm khoảng 16,1% so với tổng thu ngân sách, đây mới chỉ là con số không đầy đủ do Bộ Tài chính đưa ra), thời gian được miễn trả gốc, lãi (ân hạn) của nhiều dự án ODA đã hết, hình thức vay tín dụng thương mại với lãi suất cao thay thế, thời gian ân hạn ít hơn nhiều. Trong khi tỷ giá Việt Nam so với ngoại tệ ngày càng chênh lệch, bộ máy công chức Việt Nam cồng kềnh, vô dụng, tiêu tốn ngân sách… không kiểm soát được tham nhũng, không có năng lực trả nợ nên đứng trước nguy cơ vỡ nợ. Trong khi nguồn thu hiện nay vẫn phụ thuộc nhiều vào việc đào bới tài nguyên thiên nhiên có sẵn như dầu thô, bất động sản, rồi dầu thô sẽ hết, bất động sản sớm đóng băng. Điều nghịch lý còn nằm ở chỗ Việt Nam bán dầu thô cho Trung Quốc rẻ hơn các nước khác, vì bị Trung Quốc điều khiển, trả tiền mặt, mua chuộc được quan chức Việt Nam, viện trợ thêm kỹ thuật, hạ tầng kém chất lượng, âm mưu cuối cùng vẫn là chiến lược một vành đai, một con đường. Và mặc dù khai thác tài nguyên có sẵn đem đi bán nhưng vẫn lỗ, bội chi ngân sách, bằng chứng là việc thu ngân sách năm 2018 vượt dự toán chủ yếu do tăng thu từ nhà, đất và dầu thô, nhưng vẫn thâm hụt gần 9 tỷ USD. Nợ công tăng cao, với áp lực mỗi năm Việt Nam phải trả nợ vay ODA hơn 1 tỷ USD, chưa nói tới các khoản vay khác với lãi suất cao hơn, Việt Nam tìm mọi cách vay các khoản mới để trả nợ cũ (đảo nợ). Tuy nhiên, giữa năm 2017 Ngân hàng Thế giới (World Bank) đã ra tuyên bố chấm dứt ODA ưu đãi với Việt Nam, chuyển sang điều khoản trả nợ nhanh gấp đôi hoặc tăng lãi suất lên từ 2% – 3,5%, các đối tác khác cũng chuyển từ hình thức cho vay ODA sang vay thị trường. Nhiều nước còn không muốn cho Việt Nam vay bởi họ nhận ra rằng các dự án công mà chính quyền Việt Nam triển khai không hiệu quả, sử dụng vốn sai mục đích, làm ăn không đàng hoàng, không minh bạch, tiếp tay cho tham nhũng nên họ không còn muốn rót vốn. Mặt khác, với các dự án gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng như nhiệt điệt, xi măng… họ cũng không có sẵn một nhà thầu với công nghệ giá rẻ để đầu tư, thậm chí nhiều nước đã dùng năng lượng sạch thay thế. Trong khi Trung Quốc và Việt Nam có mối quan hệ thâm giao, quan chức Việt Nam vẫn coi Trung Quốc là kim chỉ nam, học tập Trung Quốc ở từng bước đi, có nhiều thỏa thuận bí mật đến nỗi người dân 2 nước còn không biết. Điều khiển được các nhóm lợi ích, am hiểu văn hóa hối lộ, chia chác ở Việt Nam, Trung Quốc dễ dàng mua chuộc nhiều quan chức, Việt Nam thì vay được tiền mà không cần phải thông qua một quá trình chứng minh năng lực, kê khai minh bạch như khi vay của các tổ chức quốc tế, các nước khác, và các tổ chức quốc tế cũng không còn muốn cho Việt Nam vay. Muốn vay thì phải dùng nhà thầu, công nghệ của Trung Quốc, có sẵn trong tay các thiết bị giá rẻ, lạc hậu, Trung Quốc kê khống giá, móc ngoặc với nhà thầu phụ, bán lại cho Việt Nam với giá cắt cổ. Các điều khoản ký kết với nhà thầu Trung Quốc không có tính ràng buộc, cố tình để mập mờ, do đã nhận tiền lại quả, lót tay, nên tất cả im lặng. Hợp đầu ký kết có lợi cho nhà thầu Trung Quốc nhưng hủy hoại cả nền kinh tế Việt Nam. Đúng ra, theo hợp đồng nhà thầu Trung Quốc phải bồi thường thiệt hại khi kéo dài tiến độ thi công, đội vốn, chất lượng thiết bị, công trình không đúng như cam kết ban đầu… Vốn vay Trung Quốc có lãi suất 3% một năm, trong khi vay Hàn Quốc chỉ có 0-2%, Ấn Độ 1,75%, Nhật Bản 0,4-1,2%… mặt khác Việt Nam phải trả phí cam kết 0,5%, phí quản lý 0,5% cho Trung Quốc… Cuối cùng, chất lượng công trình không đảm bảo, các dự án thua lỗ, số lãi, gốc phải trả cho Trung Quốc ngày càng lớn. Làng ung thư ở Việt Nam Dù không có phe nhóm nhưng tôi vẫn âm thầm tới nhiều nơi đồng hành cùng bà con. Tôi đã tới nhà máy nhiệt điện Duyên Hải (Trà Vinh), các nhà máy nhiệt điện ở Quảng Ninh, Hải Phòng, Hải Dương, Thái Bình,… điều đáng nói các nhà máy này đều do Trung Quốc làm tổng thầu, chậm tiến độ nhiều năm, đội vốn, như nhà máy nhiệt điện Mông Dương 2 (Quảng Ninh) đội vốn tới hơn hơn 550 triệu USD , thiết bị vận hành lạc hậu, hàng ngàn người Trung Quốc làm việc trái phép trong các nhà máy, giờ là công nhân, khi cần sẽ trở thành binh lính. Các làng ung thư quanh các nhà máy nhiệt điệt Trung Quốc này mọc theo, những cái chết cam chịu và đau đớn, trong tương lai sẽ không còn chỗ chứa tro xỉ, xỉ than thẩm thấu và phát tán nhanh các thành phần độc hại như thạch tín, chì ra môi trường nước, giết chết loài người cùng tất cả các loài sinh vật. Chính đại học Havard (Mỹ) đã công bố nghiên cứu mỗi năm Việt Nam có 4.300 người chết yểu do nhiệt điện than và có xu hướng tăng cao gấp nhiều lần, còn nguyên Chủ tịch Ngân hàng thế giới Jim Yong Kim phát biểu: “Nếu Việt Nam tiến hành lắp đặt 40 GW nhiệt điện than và toàn bộ khu vực thực thi các kế hoạch nhiệt điện than, tôi nghĩ cuộc sống sẽ kết thúc. Đây sẽ là một thảm họa cho hành tinh của chúng ta”. Tôi cũng đã tới nhà máy đạm Ninh Bình, cũng vay vốn Trung Quốc, do nhà thầu Trung Quốc thi công, họ đưa các thiết bị lạc hậu vào sử dụng, khiến nhà đầu tư nước khác không dám nhảy vào đầu tư, chỉ sau 4 năm hoạt động nhà máy này thua lỗ tới hơn 2.700 tỷ đồng. Nhiều người sống gần đó bị ung thư và chết theo, phần lớn đứa trẻ trong làng đều bị mắc các bệnh liên quan tới đường hô hấp, phải đeo khẩu trang đi ngủ vì mùi quá hôi thối, trâu bò uống nước gần đó còn chết, chất amoni khó nhận biết, dễ gây ung thư cạnh nhà máy có lúc vượt từ 26 đến 1.030 lần. Tôi cũng đã tới nhà máy thép Shengli – Trung Quốc ở Thái Bình, sau 10 năm hoạt động thì nhiều người dân thị trấn An Bài (huyện Quỳnh Phụ, Thái Bình) cũng chết trẻ vì ô nhiễm nguồn nước, khói bụi, tiếng ồn,… Cho nên đi theo Trung Quốc chỉ có một con đường, đó là con đường chết. Bình Luận từ Facebook

Đỗ Cao Cường

1-4-2019

Một số người cho rằng chỉ cần thay đổi luật đấu thầu thì sẽ hạn chế được sự bành trướng của các nhà thầu Trung Quốc. Nhưng bản chất câu chuyện không nằm ở nhà thầu, mà là sự chọn lựa mô hình quản lý nhà nước, sự phụ thuộc quá lớn vào cả thể chế chính trị lẫn nền kinh tế Trung Quốc, những món nợ khổng lồ cùng các điều khoản bắt buộc đi kèm sẽ đưa Việt Nam đến bến bờ tuyệt vọng.

Năm 2015, nhiều tờ báo trong nước đưa tin từ năm 1993 đến 2014, Việt Nam tiếp nhận 80 tỷ USD nguồn vốn ODA (Official Development Assistance), đến năm 2018 báo chí tái khẳng định nguồn vốn ODA mà Việt Nam nhận được trong giai đoạn 1993 – 2018 vẫn là con số 80 tỷ USD, vậy là nguồn ODA viện trợ không hoàn lại vào Việt Nam trong 4 năm 2014 -2018 bằng 0.

Từ năm 1993 đến nay, cả nước có gần 3000 chương trình, dự án vay vốn ODA, vay vốn ưu đãi, tập trung hết vào các dự án đầu tư công, không có một quy trình đánh giá, kiểm soát nguồn vốn, giám sát độc lập, tham nhũng hoành hành nên nhiều dự án lớn bị thua lỗ nặng nề… khiến cho nhiều nước phát triển như Pháp, Đan Mạch, Canada… ngừng viện trợ ODA cho Việt Nam.

Thời gian dùng “tiền chùa” hết, áp lực trả nợ cao (chỉ tính riêng năm 2015, tỷ lệ trả nợ trực tiếp chiếm khoảng 16,1% so với tổng thu ngân sách, đây mới chỉ là con số không đầy đủ do Bộ Tài chính đưa ra), thời gian được miễn trả gốc, lãi (ân hạn) của nhiều dự án ODA đã hết, hình thức vay tín dụng thương mại với lãi suất cao thay thế, thời gian ân hạn ít hơn nhiều. Trong khi tỷ giá Việt Nam so với ngoại tệ ngày càng chênh lệch, bộ máy công chức Việt Nam cồng kềnh, vô dụng, tiêu tốn ngân sách… không kiểm soát được tham nhũng, không có năng lực trả nợ nên đứng trước nguy cơ vỡ nợ.

Trong khi nguồn thu hiện nay vẫn phụ thuộc nhiều vào việc đào bới tài nguyên thiên nhiên có sẵn như dầu thô, bất động sản, rồi dầu thô sẽ hết, bất động sản sớm đóng băng.

Điều nghịch lý còn nằm ở chỗ Việt Nam bán dầu thô cho Trung Quốc rẻ hơn các nước khác, vì bị Trung Quốc điều khiển, trả tiền mặt, mua chuộc được quan chức Việt Nam, viện trợ thêm kỹ thuật, hạ tầng kém chất lượng, âm mưu cuối cùng vẫn là chiến lược một vành đai, một con đường.

Và mặc dù khai thác tài nguyên có sẵn đem đi bán nhưng vẫn lỗ, bội chi ngân sách, bằng chứng là việc thu ngân sách năm 2018 vượt dự toán chủ yếu do tăng thu từ nhà, đất và dầu thô, nhưng vẫn thâm hụt gần 9 tỷ USD.

Nợ công tăng cao, với áp lực mỗi năm Việt Nam phải trả nợ vay ODA hơn 1 tỷ USD, chưa nói tới các khoản vay khác với lãi suất cao hơn, Việt Nam tìm mọi cách vay các khoản mới để trả nợ cũ (đảo nợ). Tuy nhiên, giữa năm 2017 Ngân hàng Thế giới (World Bank) đã ra tuyên bố chấm dứt ODA ưu đãi với Việt Nam, chuyển sang điều khoản trả nợ nhanh gấp đôi hoặc tăng lãi suất lên từ 2% – 3,5%, các đối tác khác cũng chuyển từ hình thức cho vay ODA sang vay thị trường.

Nhiều nước còn không muốn cho Việt Nam vay bởi họ nhận ra rằng các dự án công mà chính quyền Việt Nam triển khai không hiệu quả, sử dụng vốn sai mục đích, làm ăn không đàng hoàng, không minh bạch, tiếp tay cho tham nhũng nên họ không còn muốn rót vốn.

Mặt khác, với các dự án gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng như nhiệt điệt, xi măng… họ cũng không có sẵn một nhà thầu với công nghệ giá rẻ để đầu tư, thậm chí nhiều nước đã dùng năng lượng sạch thay thế.

Trong khi Trung Quốc và Việt Nam có mối quan hệ thâm giao, quan chức Việt Nam vẫn coi Trung Quốc là kim chỉ nam, học tập Trung Quốc ở từng bước đi, có nhiều thỏa thuận bí mật đến nỗi người dân 2 nước còn không biết.

Điều khiển được các nhóm lợi ích, am hiểu văn hóa hối lộ, chia chác ở Việt Nam, Trung Quốc dễ dàng mua chuộc nhiều quan chức, Việt Nam thì vay được tiền mà không cần phải thông qua một quá trình chứng minh năng lực, kê khai minh bạch như khi vay của các tổ chức quốc tế, các nước khác, và các tổ chức quốc tế cũng không còn muốn cho Việt Nam vay.

Muốn vay thì phải dùng nhà thầu, công nghệ của Trung Quốc, có sẵn trong tay các thiết bị giá rẻ, lạc hậu, Trung Quốc kê khống giá, móc ngoặc với nhà thầu phụ, bán lại cho Việt Nam với giá cắt cổ. Các điều khoản ký kết với nhà thầu Trung Quốc không có tính ràng buộc, cố tình để mập mờ, do đã nhận tiền lại quả, lót tay, nên tất cả im lặng.

Hợp đầu ký kết có lợi cho nhà thầu Trung Quốc nhưng hủy hoại cả nền kinh tế Việt Nam. Đúng ra, theo hợp đồng nhà thầu Trung Quốc phải bồi thường thiệt hại khi kéo dài tiến độ thi công, đội vốn, chất lượng thiết bị, công trình không đúng như cam kết ban đầu…

Vốn vay Trung Quốc có lãi suất 3% một năm, trong khi vay Hàn Quốc chỉ có 0-2%, Ấn Độ 1,75%, Nhật Bản 0,4-1,2%… mặt khác Việt Nam phải trả phí cam kết 0,5%, phí quản lý 0,5% cho Trung Quốc… Cuối cùng, chất lượng công trình không đảm bảo, các dự án thua lỗ, số lãi, gốc phải trả cho Trung Quốc ngày càng lớn.

Làng ung thư ở Việt Nam

Dù không có phe nhóm nhưng tôi vẫn âm thầm tới nhiều nơi đồng hành cùng bà con.

Tôi đã tới nhà máy nhiệt điện Duyên Hải (Trà Vinh), các nhà máy nhiệt điện ở Quảng Ninh, Hải Phòng, Hải Dương, Thái Bình,… điều đáng nói các nhà máy này đều do Trung Quốc làm tổng thầu, chậm tiến độ nhiều năm, đội vốn, như nhà máy nhiệt điện Mông Dương 2 (Quảng Ninh) đội vốn tới hơn hơn 550 triệu USD , thiết bị vận hành lạc hậu, hàng ngàn người Trung Quốc làm việc trái phép trong các nhà máy, giờ là công nhân, khi cần sẽ trở thành binh lính.

Các làng ung thư quanh các nhà máy nhiệt điệt Trung Quốc này mọc theo, những cái chết cam chịu và đau đớn, trong tương lai sẽ không còn chỗ chứa tro xỉ, xỉ than thẩm thấu và phát tán nhanh các thành phần độc hại như thạch tín, chì ra môi trường nước, giết chết loài người cùng tất cả các loài sinh vật. Chính đại học Havard (Mỹ) đã công bố nghiên cứu mỗi năm Việt Nam có 4.300 người chết yểu do nhiệt điện than và có xu hướng tăng cao gấp nhiều lần, còn nguyên Chủ tịch Ngân hàng thế giới Jim Yong Kim phát biểu: “Nếu Việt Nam tiến hành lắp đặt 40 GW nhiệt điện than và toàn bộ khu vực thực thi các kế hoạch nhiệt điện than, tôi nghĩ cuộc sống sẽ kết thúc. Đây sẽ là một thảm họa cho hành tinh của chúng ta”.

Tôi cũng đã tới nhà máy đạm Ninh Bình, cũng vay vốn Trung Quốc, do nhà thầu Trung Quốc thi công, họ đưa các thiết bị lạc hậu vào sử dụng, khiến nhà đầu tư nước khác không dám nhảy vào đầu tư, chỉ sau 4 năm hoạt động nhà máy này thua lỗ tới hơn 2.700 tỷ đồng. Nhiều người sống gần đó bị ung thư và chết theo, phần lớn đứa trẻ trong làng đều bị mắc các bệnh liên quan tới đường hô hấp, phải đeo khẩu trang đi ngủ vì mùi quá hôi thối, trâu bò uống nước gần đó còn chết, chất amoni khó nhận biết, dễ gây ung thư cạnh nhà máy có lúc vượt từ 26 đến 1.030 lần.

Tôi cũng đã tới nhà máy thép Shengli – Trung Quốc ở Thái Bình, sau 10 năm hoạt động thì nhiều người dân thị trấn An Bài (huyện Quỳnh Phụ, Thái Bình) cũng chết trẻ vì ô nhiễm nguồn nước, khói bụi, tiếng ồn,…

Cho nên đi theo Trung Quốc chỉ có một con đường, đó là con đường chết.

Bình Luận từ Facebook
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Không ai cứu được Việt Nam cả!

Không ai cứu được Việt Nam cả!

tauuu

Nhìn hình ảnh những chiếc tàu Việt Nam bị tàu Trung Quốc uy hiếp, nhiều người thấy nóng mặt; càng nóng mặt hơn nữa khi thấy những phản ứng đầy tức giận nhưng đồng thời cũng đầy sự kiềm chế đến nhẫn nhục của thủy thủ đoàn Việt Nam.

Thật ra, theo tôi, sự kiềm chế tội nghiệp ấy không có gì đáng trách. Việt Nam không còn chọn lựa nào khác. Đánh nhau trên biển, Việt Nam không thể có kết quả nào khác ngoài sự bại trận. Ai cũng biết Việt Nam không phải là đối thủ của Trung Quốc. Trên bộ, còn chơi trò du kích. Ngoài biển khơi, vũ khí và khoa học kỹ thuật quyết định tất cả.

Hơn nữa, sự nhịn nhục còn là một chiến thuật cần thiết về phía Việt Nam: Họ cần có thật nhiều hình ảnh để chứng minh với thế giới họ chỉ là nạn nhân chứ không phải là nhữnng kẻ khiêu khích như Trung Quốc tuyên truyền. Tính chất nạn nhân ấy cần một thời gian để tạo ấn tượng mạnh và sâu đủ để thu hút sự đồng cảm, và từ đó, sự ủng hộ của quốc tế.

Không nên trách móc nhà cầm quyền Việt Nam trong chiến thuật chịu đựng nhẫn nhục ấy.

Điều đáng trách của họ nằm ở chỗ khác: Dường như, với họ, chịu đựng nhẫn nhục là một chiến lược chứ không phải là chiến thuật, nghĩa là có tính lâu dài chứ không phải chỉ tạm thời, trong một vài ngày hay một vài tuần, vài tháng. Bởi, nếu đặt câu hỏi, sau khi đóng vai trò nạn nhân ấy rồi, Việt Nam sẽ làm gì? Nổ súng ư? – Thì chắc chắn cũng sẽ bị đánh giập đầu ngay tức khắc. Chờ đợi quốc tế nhảy vào giúp đỡ để đương đầu với Trung Quốc ư? Câu trả lời đã hiển nhiên: Sẽ không có ai cả.

Nhìn lại, người ta dễ dàng nhận ra ngay một sai lầm chiến lược cực kỳ nghiêm trọng của chính quyền Việt Nam: Lâu nay, hầu như mọi người đều biết âm mưu thâm độc của Trung Quốc trên Biển Đông nhưng chính quyền Việt Nam hoàn toàn không có một kế hoạch nào để chuẩn bị và đối phó cả. Thì đành là họ có mua một số tàu ngầm, tàu thủy và vũ khí của Nga. Nhưng số lượng những chiến cụ và vũ khí ấy so với Trung Quốc chẳng khác nào kiến chọi với voi. Điều ai cũng thấy nhưng Việt Nam không hề làm, hoặc nếu làm, chỉ là giả bộ làm: tìm kiếm đồng minh thực sự có đủ sức để giúp đỡ Việt Nam trong trận đấu nhau với Trung Quốc. Các nhà lãnh đạo Việt Nam cũng lăng xăng đi đây đi đó,  cũng ký hiệp ước này hiệp ước nọ, nhưng thứ nhất, chủ yếu với các nước thuộc loại trung, trong đó, không có nước nào có thể là địch thủ của Trung Quốc cả; thứ hai, quan hệ giữa Việt Nam với các nước ấy vẫn rất hời hợt, không có nước nào tin cậy và thương yêu Việt Nam đủ để có thể nhảy ra chia lửa với Việt Nam trong trận chiến với Trung Quốc cả.

Nhưng dại dột nhất là Việt Nam đã không có đủ thiện chí để xây dựng một quan hệ tin cậy với Mỹ, nước duy nhất có khả năng giúp Việt Nam đương đầu với Trung Quốc. Chơi với Mỹ, họ chỉ tính toán những trò lặt vặt, kiểu bắt dân làm con tin, khi nào Mỹ yêu sách thì thả vài người rồi lại bắt vài người khác. Trên các phương tiện truyền thong, thậm chí, trên các diễn đàn chính thức của đảng, thỉnh thoảng vẫn chửi Mỹ, xem Mỹ như kẻ thù, người đứng đằng sau xúi giục cho âm mưu “diễn tiến hòa bình”.

Có thể nói, chưa bao giờ Việt Nam cô đơn như hiện nay. Thời kháng chiến chống Pháp, họ được Trung Quốc giúp đỡ; thời chiến tranh Nam Bắc, cả Trung Quốc lẫn Liên Xô giúp đỡ; thời chiến tranh biên giới với Trung Quốc, họ được Liên Xô giúp đỡ. Bây giờ: hoàn toàn không.

Đó không phải là một thất bại về ngoại giao mà còn là một thất bại về chiến lược. Hình như không ai thấy, hoặc nếu thấy, họ cũng mặc kệ không thèm làm.

Chính quyền Việt Nam không những cô đơn trong quan hệ quốc tế. Họ còn cô đơn trong quan hệ với dân chúng. Suốt bao nhiêu năm vừa qua, họ thẳng tay trấn áp một cách phũ phàng và tàn bạo tất cả những người yêu nước lên tiếng cảnh báo nguy cơ xâm lược của Trung Quốc. Không phải ngẫu nhiên mà dư luận trong nước lâu nay vẫn xem chính quyền chỉ là một bọn nhu nhược hoặc, gay gắt hơn, bán nước.

Khi, vì sợ Trung Quốc hay vì muốn bênh vực cho Trung Quốc, họ giang chân đạp thẳng vào mặt những kẻ đi biểu tình chống Trung Quốc, họ hoàn toàn tự cô lập với nhân dân.

Bây giờ, ở cái thế vừa cô lập với dân chúng trong nước vừa cô lập với thế giới bên ngoài như vậy, có lẽ chính quyền Việt Nam không có chọn lựa nào khác ngoài việc giả vờ cứng rắn một hồi, lại tiếp tục nhẫn nhục chịu đựng để Trung Quốc muốn làm gì trên Biển Đông thì làm. Mặc kệ. Quyền chức và tài sản của họ vẫn nguyên vẹn.

Kẻ thua trận, cuối cùng, là đất nước và nhân dân.

Fb NGUYỄN HƯNG QUỐC

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.