Daily Archives: April 11, 2019

Vì sao nguy cơ đối đầu quân sự giữa Mỹ – Trung ở Biển Đông ngày càng lớn?

Vì sao nguy cơ đối đầu quân sự giữa Mỹ – Trung ở Biển Đông ngày càng lớn?

Minh Thu | 

Vì sao nguy cơ đối đầu quân sự giữa Mỹ - Trung ở Biển Đông ngày càng lớn?
Tàu khu trục USS McCampbell của hải quân Mỹ và tàu khu trục HMS Argyll của hải quân Hoàng gia Anh tập trận ở Biển Đông hồi tháng 1/2019.

Nguy cơ bùng nổ xung đột quân sự giữa hải quân Mỹ – Trung trên Biển Đông ngày càng lớn, trong bối cảnh quân đội Mỹ ngày càng có nhiều quyền hạn đưa ra quyết định.

Theo Bưu điện Hoa Nam buổi sáng (SCMP), đây là nhận định trong bản báo cáo được Đại học Peking, Trung Quốc công bố hôm 9/4.

Theo bản báo cáo trên, Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ không còn can thiệp vào hoạt động của quân đội Mỹ trên Biển Đông, dù thực tế, hải quân Mỹ đang gia tăng cả tần suất và cường độ xuất hiện ở vùng biển chiến lược.

“Quân đội Mỹ sẽ tiếp tục tăng cường hoạt động quân sự ở Biển Đông cũng như tạo ra các vùng xám giữa hòa bình và xung đột để xác định giới hạn cuối cùng của Trung Quốc. Song hành động này có thể dẫn tới một cuộc xung đột hay chiến tranh quy mô nhỏ”, báo cáo của Đại học Peking viết.

Kể từ năm 2015, hải quân Mỹ đã cho tiến hành hoạt động tuần tra đảm bảo tự do hàng hải ở Biển Đông và tiến lại gần các hòn đảo nhân tạo mà Trung Quốc xây dựng nhằm thách thức những tuyên bố chủ quyền phi lý của chính quyền Bắc Kinh.

Trong đó, hải quân Mỹ từng 4 lần tiến hành tuần tra ở Biển Đông dưới thời lãnh đạo của Tổng thống Barack Obama. Và dưới thời Tổng thống đương nhiệm Donald Trump , hải quân Mỹ đã 11 lần lại gần các hòn đảo nhân tạo mà Bắc Kinh xây dựng trái phép ở Biển Đông.

“Dưới thời Tổng thống Obama, hoạt động tuần tra ở Biển Đông mang tính chiến lược nhiều hơn và được xác định không đẩy tình hình căng thẳng lên cao”, ông Hu Bo, đồng tác giả của bản báo cáo và là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược hàng hải ở Đại học Peking nhận định.

Theo ông Hu, chính quyền của Tổng thống Trump đã trao quyền cho Bộ Tư lệnh Ấn Độ – Thái Bình Dương (PACOM) xử lý tình hình ở Biển Đông. Động thái này “chắc chắn sẽ tạo ra thêm rủi ro và nguy hiểm” ở Biển Đông, ông Hu nói.

“Sau khi các khoản ngân sách và kế hoạch quốc phòng được phê duyệt, hầu như phương thức hoạt động không được nhắc tới”, ông Hu chia sẻ.

Nhận định trên của ông Hu được đưa ra sau khi một số quan chức cấp cao của Mỹ như cựu Tư lệnh PACOM Harry Harris, người kế nhiệm của ông Harris là Philip Davidson và Tư lệnh hải quân John Richardson nhiều lần lên tiếng đe dọa có phản ứng cứng rắn hơn để đối phó với hành động của Trung Quốc trên Biển Đông.

“Điều đáng ngại là những quan chức chủ chốt nằm trong bộ máy đưa ra quyết định quân sự lại có cùng chung một nhận định”, ông Hu nhấn mạnh.

Trong khi đó, một mối quan ngại khác cũng xuất hiện là việc quân đội Trung Quốc có thể đưa ra hành động đáp trả Mỹ một cách mạnh mẽ.

Điển hình hồi tháng trước, Thượng tá Zhou Bo, Giám đốc Trung tâm Hợp tác An ninh thuộc Bộ Quốc phòng Trung Quốc cho hay, hải quân Trung Quốc có thể sẽ dần mất kiên nhẫn trước những hành động của Mỹ ở Biển Đông.

“Trong bối cảnh năng lực quân sự gia tăng, chúng ta sẽ có thêm nhiều hành động để đối phó trước sự khiêu khích”, ông Zhou nói.

Một trong những sự kiện chứng minh nguy cơ đối đầu quân sự giữa hải quân Mỹ – Trung ngày càng lớn ở Biển Đông là vào tháng 9/2018.

Cụ thể, vào ngày 30/9/2018, tàu khu trục lớp Luyang của Trung Quốc đã xua đuổi và áp sát nguy hiểm tàu khu trục USS Decatur. Theo đó, tàu chiến Mỹ xuất hiện gần một số đảo nhân tạo mà Trung Quốc bồi đắp trái phép trong khu vực quần đảo Trường Sa (thuộc chủ quyền của Việt Nam) và tiến hành tuần tra trong vòng 10 tiếng đồng hồ.

Hải quân Mỹ khẳng định, tàu khu trục Trung Quốc có hành động gây mất an toàn khi hoạt động chỉ cách tàu khu trục của Mỹ có 41 m. Hành động của tàu Luyang buộc tàu USS Decatur phải thay đổi hành trình di chuyển để tránh va chạm.

Theo luật hàng hải quốc tế, tàu khu trục USS Decatur của hải quân Mỹ hoàn toàn được phép di chuyển gần những đảo nhân tạo mà Trung Quốc bồi đắp trái phép ở quần đảo Trường Sa trên Biển Đông. Tuy nhiên, tàu chiến Lanzhou của Trung Quốc lại có pha áp sát nguy hiểm buộc tàu hải quân Mỹ phải thay đổi lộ trình để tránh va chạm.

Không ít lần Trung Quốc điều động tàu thuyền tới “cảnh báo và ngáng đường’’ tàu chiến Mỹ tuần tra ở Biển Đông. Nhưng sự kiện hồi tháng Chín năm ngoái đánh dấu lần đầu tiên tàu chiến Trung Quốc tiến lại gần và ở khoảng cách mất an toàn với tàu hải quân Mỹ.

Cũng theo ông Hu, Mỹ – Trung cần tiến hành đối thoại mang tính “hiệu quả hơn” bao gồm việc kiểm soát tình hình vũ trang ở Biển Đông để tránh nguy cơ căng thẳng leo thang dẫn tới những va chạm đáng tiếc trong tương lai.

“Điều quan trọng nhất là làm rõ mục đích chiến lược của mỗi bên”, ông Hu kết luận.

theo Infonet

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

‘TQ muốn kiểm soát trọn Biển Đông qua bộ Quy Tắc Ứng Xử có lợi cho họ

‘TQ muốn kiểm soát trọn Biển Đông qua bộ Quy Tắc Ứng Xử có lợi cho họ’

Tiến Sĩ Patrick Cronin – Asia Pacific Security Chair, Hudson Institute. (Photo courtesy of Doanh Vu)
Tiến Sĩ Patrick Cronin – Asia Pacific Security Chair, Hudson Institute. (Photo courtesy of Doanh Vu)

Genie Giao Nguyen (Voice of Vietnamese Americans)

Ngày 19/2/2019, Genie Nguyễn của Voice of Vietnamese Americans phỏng vấn Dr. Patrick Cronin về tình hình Biển Đông sau khi ông tham dự cuộc họp với các nước ASEAN tuần trước đó.

Genie Nguyễn: Thưa Tiến Sĩ, được biết ông vừa tham dự hội nghị tại Đông Nam Á. Xin ông vui lòng chia sẻ nhận định về tình hình Biển Đông, các khó khăn Trung Cộng gây ra cho Đông Nam Á và Bộ Quy Tắc Ứng Xử tại Biển Đông giữa Hiệp Hội Các Nước Đông Nam Á và Trung Cộng.

TS Cronin: Tôi đã có cuộc thảo luận sâu rộng cả ở Phi Luật Tân và Nam Dương. Tại Nam Dương, chúng tôi tham dự một cuộc Hội Thảo với tất cả các thành viên của ASEAN – Hiệp Hội Các Nước Đông Nam Á. Thật khó tóm tắt tất cả các điều thảo luận trong vài phút .

Tôi nghĩ vấn đề Biển Đông là đề tài chính. Và an ninh hàng hải. Cả hai liên quan đến kinh tế, sự quan trọng của tất cả mọi thứ từ cá đến tài nguyên biển, đến sự giao thương, nhưng cũng tối quan yếu cho sự độc lập và chủ quyền của các nước Đông Nam Á.

Tiến Sĩ Dewi Fortuna Anwar, một trong những trí thức được kính trọng nhất tại Nam Dương, và là một trong những người sáng suốt nhất tôi biết, diễn tả rất đúng sự thách thức các nước Đông Nam Á phải đối mặt để bảo vệ quyền tự chủ về chiến lược của mình trong tương lai. Phải có sự hợp tác với các nước bên ngoài, như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ, nếu Đông Nam Á không muốn bị ép buộc phải chấp nhận một bản Quy Tắc Ứng Xử Biển Đông ngược với quyền lợi của họ .

Một trong những quan tâm tại Đông Nam Á hiện nay là Trung Quốc đã thay đổi chiến thuật đối với Quy Tắc Ứng Xử Tại Biển Đông. Sau nhiều năm cố tình kéo dài thời gian thương thảo về Bộ Quy Tắc Ứng Xử, bây giờ Bắc Kinh lại hối hả thúc đẩy một Bộ Quy Tắc Ứng Xử Tại Biển Đông thuận lợi cho mình và theo luật lệ của mình.

Trung Quốc cho thấy hai ưu tiên then chốt của họ trong bản nháp Quy Tắc Ứng Xử:

  1. Trung Quốc muốn có quyền phủ quyết các tập dượt quân sự hay chuyển binh của các lực lượng quân đội bên ngoài khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là quân đội Hoa Kỳ, như các cuộc Diễn Tập Tự Do Hàng Hải của Hoa Kỳ. Chúng tôi đã thực tập 15 cuộc Diễn Tập Tự Do Hàng Hải này từ năm 2015. Các cuộc diễn tập này được chia đều ra giữa các đảo Hoàng Sa và Trường Sa, với một lần tại Scarabrough Shoal. Nhưng nếu Trung Quốc có thể ngăn cản các cuộc Diễn Tập Tự Do Hàng Hải này, thì họ có thể uy hiếp các lực lượng Hải Quân của các quốc gia Đông Nam Á một cách dễ dàng, tùy tiện, và họ biết chắc như vậy .
  2. Trung Quốc muốn kiểm soát sự khai thác tài nguyên và phát triển. Việt Nam có kinh nghiệm này đầu tiên, năm 2014 với giàn khoan dầu Hải Dương 981 mà Trung Quốc đã ngang ngược đặt trong hải phận Việt Nam. Việt Nam đã bị Trung Quốc bắt nạt. Họ sử dụng chiến thuật đâm tàu. Tôi còn nhớ đã từng thăm một chiếc tàu cá Việt Nam bị đâm bởi Trung Quốc, với “chiến lược bắp cải”, khi họ sử dụng nhiều vòng vây hàng hàng lớp lớp, bắt đầu là những tàu biển có trang bị, giả dạng làm ngư dân, nhưng không hề có lưới hay dây câu vì họ không thực tâm câu cá. Họ là những lực lượng bán quân sự, bao quanh họ là lực lượng tuần dương, mà dưới quyền Tập Cận Bình trực thuộc quyền chỉ huy quân sự, không phải dân sự, và rồi sau cùng là lực lượng hải quân chính quy của Trung Quốc. Như vậy đây chính là một cách uy hiếp, dọa nạt, một cách kiểm soát mà Trung Quốc thực thi.

Tôi vừa ở Phi Luật Tân, và chúng tôi thấy tận mắt họ sử dụng chiến thuật này hôm nay, tại Phi Luật Tân, tại Thitu và Pegasa, hai đảo nhỏ của quần đảo Trường Sa. Người Phi đang tìm cách sửa lại đường bay của họ trên rặng Pegasa. Trung Quốc đã bồi cát với mức độ chưa từng thấy, rồi quân sự hóa các đảo nhân tạo này, gồm cả 3 đường bay quân sự vĩ đại tại Trường Sa, mỗi sân bay dài bằng phi trường Changi của Singapore, phi trường hiện đại nhất Đông Nam Á. Đáng lẽ để yên cho Phi Luật Tân sửa lại đường bay của họ, Trung Cộng phát động chiến dịch “vòng vây bắp cải” này, hàng hàng lớp lớp, dân quân ở 2 dặm sát bờ biển, rồi lính tuần dương, rồi hải quân Trung Quốc, 95 chiến thuyền tụ lại trong tháng 12. 95 chiến thuyền đối với những người Phi Luật Tân nhỏ bé trên đảo, đó có phải là dọa nạt và uy hiếp không?

Rồi Trung Quốc nói: “Chúng tôi muốn viết lại luật lệ”. Đó là những điều họ muốn viết trong Bộ Quy Luật Ứng Xử. Họ không muốn bất kỳ quốc gia Đông Nam Á nào có thể bảo vệ chủ quyền, độc lập, và được thịnh vượng. Họ muốn các quốc gia Đông Nam Á phải van lạy Bắc Kinh.

Việt Nam đã luôn đi đầu trong việc phản đối Trung Quốc, và điều tôi lo sợ, đây là điều đúc kết chính trong cuộc thảo luận về Biển Đông vừa qua, là Việt Nam sẽ bị cô lập bởi các nước Đông Nam Á khác, các thành viên của ASEAN – Hiệp Hội Các Nước Đông Nam Á. Bởi vì Tổng Thống Duterte tại Manila đã bị mua chuộc bởi Trung Quốc, và ông ta là người thực tế, do đó ông ta sẽ cân nhắc các lựa chọn của mình, và nếu thấy không thể đánh lại Trung Quốc, thì ông ta sẽ theo Trung Quốc, sẽ bị kéo theo.

Trong khi ấy, thì Thái Lan – một đồng minh khác của Hoa Kỳ tại Đông Nam Á lại đang nhận nhiều đầu tư lớn từ Trung Quốc, và đang sắp có cuộc bầu cử năm nay. Thái Lan cũng đang giữ chức Chủ Tịch ASEAN năm 2019. Việt Nam sẽ là Chủ Tịch ASEAN năm tới. Như vậy mọi chuyện có thể được sắp xếp cho năm nay, hay năm tới, và Việt Nam sẽ ở trong thế vô cùng khó xử, hoặc chấp nhận Bộ Quy Tắc Ứng Xử mà tất cả các thành viên khác đều đồng ý trừ Việt Nam, hay sẽ bị thất bại trong vai trò Chủ Tịch ASEAN.

Chính vì thế mà chúng ta cần bảo đảm rằng Việt Nam không bị cô lập và bị rơi vào thế khó xử kia.

Tôi xin đổi đề tài. Tổng Thống Trump vừa đến Hà Nội. Ông đã thăm Việt Nam hai lần, trong hai năm, nhiều hơn bất kỳ quốc gia Đông Nam Á nào. Tổng Thống Trump đã chứng tỏ sự hỗ trợ của ông cho một bang giao Việt – Mỹ đang phát triển mạnh mẽ, xây dựng từ chính quyền trước đến chính quyền này. Đây là một khuynh hướng rất tốt, rất tích cực và quan trọng cho quan hệ Việt – Mỹ.

Nói chung, tại Đông Nam Á, tôi nghĩ Hoa Kỳ có thể làm nhiều hơn, có nhiều cơ hội lắm. Chúng ta cần có một vị Thứ Trưởng Ngoại Giao Đặc Trách Á Châu, một Đại Sứ tại Singapore, một Đại Sứ tại ASEAN… Nhưng đó chỉ là những điều nhỏ. Tôi nghĩ điều chính là chúng ta đang đi đúng hướng, và chúng ta cần cùng làm việc với khối dân Đông Nam Á trẻ trung đầy sức sống này, vì họ chính là trung tâm của một khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương Tự Do và Rộng Mở.​

Genie Nguyễn: Ông có nghĩ rằng chính quyền Việt Nam đã hợp tác đúng mức với Hoa Kỳ trên các lãnh vực an ninh quốc phòng, hay họ vẫn nghiêng về Trung Cộng nhiều hơn?

Dr. Cronin: Tôi nghĩ Việt Nam có chính sách đối nội khác với chính sách đối ngoại.

Về đối ngoại và an ninh, chính sách của chính quyền Việt Nam vẫn tiếp tục đi sát hơn với Hoa Kỳ, làm việc với Nhật Bản, làm việc với các nước bên ngoài. Thực ra, họ tiếp tục chính sách cân bằng các thế lực với rất nhiều nước khác, để Trung Quốc không thể có quá nhiều ưu thế.

Về chính sách đối nội thì phức tạp hơn. Chúng ta rất mong được thấy Việt Nam cải thiện một cách nghiêm túc. Tôi nghĩ chúng ta cũng cần phải thực tế hơn về sự thay đổi ấy sẽ diễn ra thế nào. Tôi không nghĩ rằng bất cứ ai tại Hoa Kỳ muốn thúc giục Việt Nam thay đổi, nhưng chúng ta thực lòng muốn thấy dân Việt được thịnh vượng, có tự do, và không bị đẩy vào sự áp đặt như ở Trung Quốc. Hiện nay Trung Quốc đang gia tăng sự đàn áp lên dân chúng, không chỉ ở Tân Cương, mà nói thẳng ra là những trí thức, luật sư nhân quyền, đủ thứ người tại Trung Quốc bị đàn áp. Chúng ta muốn thấy Việt Nam chuyển đổi ngược với hướng đi của Trung Quốc. Bởi vì dân chúng Việt Nam rất kỳ diệu. Như chúng ta nghe thấy Tom Rose nói hôm nay, những người tỵ nạn Mỹ gốc Việt đã đóng góp rất nhiều vào xã hội Hoa Kỳ.

Chúng ta đã chia sẻ một lịch sử chuyển từ chiến tranh sang bình thường hóa quan hệ rồi trở thành bạn thân. Chúng ta có thể tiếp tục phát triển tương quan này lên đến mức độ chiến lược. Việt Nam cần Hoa Kỳ. Hoa Kỳ rất muốn xây dựng quan hệ chiến lược với Việt Nam. Do đó tôi hy vọng rằng chính sách đối nội và đối ngoại của Việt Nam sẽ dần dần tương hợp với sự phát triển quan hệ này.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Hoa Kỳ muốn thắt chặt quan hệ quốc phòng mạnh hơn với Việt Nam

Hoa Kỳ muốn thắt chặt quan hệ quốc phòng mạnh hơn với Việt Nam

Ông Randall G. Schriver, Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng phụ trách các vấn đề an ninh Ấn Độ-Thái Bình Dương của Hoa Kỳ.
Ông Randall G. Schriver, Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng phụ trách các vấn đề an ninh Ấn Độ-Thái Bình Dương của Hoa Kỳ.

“Mối quan hệ quốc phòng của chúng ta [với Việt Nam] rất bền chặt và là một trong những trụ cột mạnh mẽ nhất trong mối quan hệ song phương trên nhiều phương diện của chúng ta,” ông Randall G. Schriver, Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng phụ trách các vấn đề an ninh Ấn Độ-Thái Bình Dương của Hoa Kỳ phát biểu hôm 3/4/2019 tại thủ đô Washington.

Ông Schriver phát biểu tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) rằng mối quan hệ quốc phòng với Việt Nam vừa được củng cố hơn nữa trong hai năm qua, và hai bên đang có các kế hoạch tăng cường hơn nữa mối quan hệ này dựa trên nền tảng lợi ích chung của hai quốc gia, tác giả David Vergun viết trên trang tin của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ hôm 3/4.

Quan hệ quân sự mạnh

Hoa Kỳ muốn tìm kiếm các mối quan hệ quân sự mạnh mẽ hơn với Việt Nam, ông Schriver nói. Chẳng hạn, tàu sân bay USS Carl Vinson đã đến thăm Đà Nẵng vào năm ngoái, trong chuyến thăm đầu tiên kể từ Chiến tranh Việt Nam, và hai bên cũng đang có các cuộc thảo luận về việc có một chuyến thăm hàng không mẫu hạm khác trong năm nay.

Năm 2017, Hoa Kỳ đã chuyển giao một phần lớn thiết bị quốc phòng cho Việt Nam – ví dụ như tàu khu trục USCGC Morgenthau lớp Hamilton dành cho Cảnh sát biển. Con tàu này hiện đang hoạt động rất tích cực trong các nhiệm vụ an ninh hàng hải cho Việt Nam, ông Schriver nói. “Chúng tôi hy vọng sẽ hoàn thành và chuyển giao chiếc tàu khu truc thứ hai.”

Ông nói rằng Hoa Kỳ sẽ tiếp tục giúp tăng cường khả năng quân sự của Việt Nam và theo đuổi các cơ hội huấn luyện và hợp tác quân sự, tập trung vào các mảng như:

– An ninh và ổn định khu vực cho Việt Nam

– An ninh hàng hải và nhận thức về hàng hải

– Hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thiên tai

– Giáo dục quân sự chuyên nghiệp, bao gồm đào tạo tiếng Anh

– Quân y

– Tìm kiếm và giải cứu

– Hoạt động gìn giữ hòa bình

Về mảng gìn giữ hòa bình, ông Schriver cho biết rằng Việt Nam đã triển khai một đơn vị gìn giữ hòa bình đến Nam Sudan, trong đó có một số hỗ trợ từ Hoa Kỳ và các đối tác khác.

Ngoài ra, ông cho biết thêm: “Chúng tôi đã nâng cấp mức độ các cuộc đối thoại quốc phòng hàng năm và các quan chức cấp cao của hai bên đã gặp gỡ nhau nhiều hơn, ngoài hai chuyến thăm của Tổng thống Hoa Kỳ tới Việt Nam trong hai năm qua và chỉ riêng trong năm rồi Bộ trưởng Quốc phòng [James] Mattis đã thăm Việt Nam hai lần.

Trong một lĩnh vực hợp tác khác, ông Schriver cho biết ông đánh giá cao sự sẵn lòng hợp tác của Việt Nam trong việc cho phép nhóm nghiên cứu và điều tra của Cơ quan tìm kiếm quân nhân Mỹ mất tích POW/MIA thực hiện các hoạt động khai quật hài cốt những người Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam.

Lý do để tăng cường mối quan hệ quốc phòng

Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Schriver cho biết Hoa Kỳ và Việt Nam có cùng lợi ích chung “trong việc thúc đẩy trật tự dựa trên các quy tắc quốc tế, bảo vệ chủ quyền, quyền hợp pháp riêng của các quốc gia, bất kể quy mô hay có lo ngại về một sự xói mòn tiềm ẩn trong trật tự dựa trên quy tắc mà từ trước đến nay đã cho phép tất cả các quốc gia ở Ấn Độ-Thái Bình Dương trỗi vậy và thịnh vượng.

Ông nói thêm: “Chúng tôi chia sẻ quan điểm rằng để Ấn Độ-Thái Bình Dương tiếp tục phát triển, mỗi quốc gia trong khu vực phải được tự do xác định hướng đi của riêng mình trong một hệ thống các giá trị đảm bảo cơ hội cho cả những quốc gia nhỏ nhất phát triển và thoát khỏi sự hà hiếp của các nước mạnh. Nói tóm lại, đối với Việt Nam, những gì chúng ta muốn là một Việt Nam mạnh mẽ, thịnh vượng, độc lập, vậy đấy.”

Theo tác giả David Vergun, sự hà hiếp mà ông Schriver nhắc đến là từ Trung Quốc.

“Một khu vực đang ngày càng phải đối mặt với một Trung Quốc hung hăng, quyết đoán hơn, sẵn sàng chấp nhận tranh chấp trong việc theo đuổi lợi ích của mình,” ông Schriver nói, nhắc đến việc Trung Quốc quân sự hóa các đảo trên Biển Đông.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.