Daily Archives: May 31, 2019

Hồ sen nhà đức thầy

Hinh Anh Thật Cuả Đức Huynh Giaó Chủ PGHH

22,566 views

Published on Apr 4, 2018

pghh

SHOW MORE

Categories: THẮNG-TÍCH | Leave a comment

Mỹ quyết trừng phạt: Dự luật ngăn quân sự hóa Biển Đông động chạm đến cấp nào của Trung Quốc?

Lễ đón tiếp long trọng Tổng thống Hy Lạp Prokopis Pavlopoulos tại Bắc Kinh, Trung Quốc

Mỹ quyết trừng phạt: Dự luật ngăn quân sự hóa Biển Đông động chạm đến cấp nào của Trung Quốc?

THẾ GIỚI

URL rút ngắn
11

Nếu Quốc hội Mỹ thông qua đạo luật Trừng phạt Biển Đông và Hoa Đông, những lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc cũng có thể bị cấm vận nếu người đó trực tiếp chỉ đạo quân sự hóa hai vùng biển đang tranh chấp, Tuổi Trẻ dẫn Asia Times bình luận.

Trong một nước Mỹ chia rẽ dưới thời Tổng thống Donald Trump, không dễ chứng kiến một khoảnh khắc đoàn kết của lưỡng đảng Dân chủ và Cộng hòa trong bất cứ vấn đề nào. Tuy nhiên, điều này đã xảy ra khi xuất hiện một cái tên: Trung Quốc.

Giữa lúc nhánh hành pháp đang thương chiến rực lửa với Bắc Kinh, tuần trước, 14 nhà lập pháp Dân chủ và Cộng hòa, đại diện bởi thượng nghị sĩ Marco Rubio, đã đệ trình lên quốc hội dự luật trừng phạt các cá nhân và tổ chức Trung Quốc có dính líu đến hoạt động quân sự hóa ở Biển Đông và Hoa Đông.

Cú đấm cho Trung Quốc

Tên đầy đủ của văn bản là “Dự luật áp lệnh cấm vận đối với Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa liên quan đến các hoạt động trên Biển Đông và Hoa Đông và các mục đích khác”.

Tiêu đề rút gọn là “Đạo luật Trừng phạt/cấm vận Biển Đông và Hoa Đông 2019″. Có tất cả 12 điều mục.

Trong Mục 2 – Phát hiện của văn bản, quan điểm của Mỹ nêu rõ:

“Dù Hoa Kỳ đứng trung lập trong tranh chấp chủ quyền đối với các thực thể đất trong khu vực… Tất cả yêu sách hàng hải phải được dựa trên thực thể tự nhiên (đảo hình thành tự nhiên – PV), theo đúng luật quốc tế”. (Báo cáo Bộ Quốc phòng Mỹ tháng 8-2015)

Đáng chú ý, trong Mục 5, quan điểm trên được nâng tầm về mặt pháp lý, nhấn mạnh rằng Quốc hội Mỹ “phản đối hành động của chính phủ bất cứ quốc gia nào can thiệp vào quyền tự do sử dụng vùng nước và không phận ở Biển Đông hoặc Hoa Đông”; yêu cầu Trung Quốc “ngừng theo đuổi các yêu sách bất hợp pháp và hành động quân sự hóa một khu vực quan trọng đối với an ninh toàn cầu”.

Đạo luật cũng kêu gọi Chính phủ Mỹ “mở rộng các chiến dịch tự do hàng hải và hàng không, phản ứng lại hành động khiêu khích của Trung Quốc bằng các biện pháp tương xứng”.

Tờ báo Asia Times bình luận: với những từ ngữ, nội dung cứng rắn như trên, Đạo luật Trừng phạt Biển Đông và Hoa Đông 2019 hứa hẹn sẽ khiến Bắc Kinh phản ứng mạnh nếu được thông qua, thương chiến cũng sẽ gia tăng vì nhiều công ty hàng đầu Trung Quốc có liên quan đến hoạt động cải tạo ở Biển Đông.

Giới quan sát quốc tế quan ngại Trung Quốc hiện chỉ còn thiếu chút nữa là tuyên bố Vùng Nhận dạng phòng không (ADIZ) ở Biển Đông. Bước đi này sẽ đặt cả khu vực dưới sự kiểm soát quân sự của Bắc Kinh một cách không chính thức.

Ai sẽ bị Mỹ cấm vận?

Dự luật đang được Quốc hội Mỹ xem xét yêu cầu tổng thống “áp lệnh trừng phạt về nhập cảnh và tài sản tại Mỹ đối với bất cứ người Trung Quốc nào có liên quan đến các dự án xây dựng và phát triển, trực tiếp bằng hành động hoặc chính sách, mang tính chất đe dọa hòa bình và ổn định ở Biển Đông”.

Cũng theo báo Asia Times, do cách tiếp cận toàn diện của Trung Quốc trong tranh chấp Biển Đông, trong đó chính quyền địa phương, quân đội, các tổ chức bán quân sự… đều có tham gia, lệnh cấm vận của Mỹ có thể vượt xa hơn các doanh nghiệp nhà nước lớn, bao trùm cả Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) và các đơn vị chính quyền.

Dự luật có đính kèm danh sách ban đầu gồm 25 công ty Trung Quốc có thể bị trừng phạt ngay, đáng chú ý là CCCC Dredging Group – công ty con của Tập đoàn Xây dựng viễn thông Trung Quốc, đơn vị tham gia xây đảo nhân tạo ở Biển Đông.

Những cái tên còn lại cũng toàn là các đại gia nhà nước: Tập đoàn Dầu khí Trung Quốc (Sinopec), Tổng công ty Dầu khí hải dương Trung Quốc (CNOOC), China Mobile, Tổng công ty Viễn thông Trung Quốc (China Telecom), Tập đoàn Khoa học và công nghiệp hàng không vũ trụ Trung Quốc (CASIC)…

Nếu bị trừng phạt, những pháp nhân trên sẽ bị cấm tiếp cận các định chế tài chính đóng ở Mỹ, đồng nghĩa với cú đấm cực mạnh dành cho những công ty có hoạt động toàn cầu.

Thêm vào đó, về mặt lý thuyết cấm vận có thể áp dụng với cả lãnh đạo cao cấp nhất Trung Quốc, nếu người đó chủ trương quân sự hóa Biển Đông.

Một số nhà phân tích nhìn nhận dự luật này chẳng khác nào phương án “ngoại giao hạt nhân” mà Mỹ có thể xài trong trường hợp mọi đàm phán với Bắc Kinh bế tắc.

Hai tàu sân bay của Mỹ  Carl Vinson và Ronald Reagan trong  cuộc tập trận huấn luyện tại vùng biển Nhật Bản
© REUTERS / U.S. NAVY/MASS COMMUNICATION SPECIALIST 2ND CLASS Z.A. LANDERS

Theo quy trình, Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo sẽ là người chịu trách nhiệm báo cáo cho Quốc hội tên tuổi những tổ chức Trung Quốc nào sẽ bị cấm vận. Trong một phát biểu gần đây, ông tỏ ra tự tin với chiến lược gây sức ép tối đa lên Trung Quốc.

“Tôi chưa từng gặp người nào ở châu Á tin rằng đã diễn ra chính sách xoay trục thời kỳ chính quyền trước (Tổng thống Obama). Nhưng hôm nay, họ sẽ thấy chúng tôi tham gia nhiều hơn. Chúng tôi đã có mặt. Chúng tôi không chỉ đi dự họp, chúng tôi còn hành động. Quân đội của chúng tôi hành động” – Ngoại trưởng Pompeo nhấn mạnh nhiều lần.

Lần đầu tiên trong lịch sử

Khó mà diễn tả hết tầm mức quan trọng của sự kiện nếu Quốc hội Mỹ thông qua Đạo luật Trừng phạt Biển Đông và Hoa Đông 2019, mà khả năng này lại cao trong bầu không khí “chống Trung” đang dâng trào ở Washington.

Đây sẽ là lần đầu tiên trong lịch sử, sức mạnh quân sự Mỹ đứng ngay sau lưng các đồng minh và đối tác chiến lược châu Á chống lại Trung Quốc. Lệnh cấm vận cũng đồng nghĩa Mỹ thôi không còn “trung lập” trong tranh chấp lãnh thổ và tài nguyên trên các vùng biển giáp Trung Quốc, đặc biệt là Biển Đông.

Dư luận chú ý nhiều đến quan điểm cứng rắn trong thương mại của chính quyền Tổng thống Trump với Trung Quốc, nhưng ít ai để ý chính sách quốc phòng của Mỹ cũng thay đổi theo hướng đó. Nhưng chính vì thay đổi chiến lược này, các quốc gia khu vực không sớm thì muộn sẽ phải lựa chọn giữa 2 cường quốc hàng đầu thế giới.

Cuối tuần này, quyền Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Patrick Shanahan sẽ công bố Chiến lược Ấn Độ – Thái Bình Dương mới nhân sự kiện Đối thoại Shangri-La tại Singapore, trước sự có mặt của đại diện Trung Quốc và các quan chức quốc phòng hàng đầu thế giới.

Giới quan sát dự đoán chiến lược mới sẽ bao gồm các biện pháp quân sự, ngoại giao và kinh tế nhằm kiềm chế và trừng phạt chủ nghĩa bành trướng hàng hải của Trung Quốc trên các vùng biển khu vực Đông Á.

Một số ý kiến cho rằng đạo luật trừng phạt Mỹ đang cân nhắc được thiết kế chủ ý nhằm bổ sung cho chiến lược châu Á sắp công bố. Theo cách “nhẹ nhàng” nhất, Mỹ có thể dùng công cụ cấm vận này để ép Bắc Kinh bớt “manh động” ở Biển Đông.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Chuyên gia Việt: Không dại tấn công khi đối phương đã phòng thủ kỹ càng, TQ dĩ thoái vi tiến ở đối thoại Shangri-La

Chuyên gia Việt: Không dại tấn công khi đối phương đã phòng thủ kỹ càng, TQ dĩ thoái vi tiến ở đối thoại Shangri-La

Lan Hương | 

Chuyên gia Việt: Không dại tấn công khi đối phương đã phòng thủ kỹ càng, TQ dĩ thoái vi tiến ở đối thoại Shangri-La
Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Ngụy Phượng Hòa sẽ có bài phát biểu tại Đối thoại Shangri-La. Ảnh: The Straits Times

Trao đổi với Trí Thức Trẻ, các chuyên gia đều dự đoán Trung Quốc sẽ có bài phát biểu mềm mỏng nhưng đây thực tế là một trong những chiến thuật của nước này.

Bắc Kinh muốn cứu vãn hình ảnh kiêu ngạo và nóng nảy

Trả lời Báo Điện tử Trí Thức Trẻ, Derek Grossman, Trung tâm nghiên cứu chính sách toàn cầu RAND Corporation cho rằng, Bắc Kinh quyết định trở lại Đối thoại Shangri-La năm nay vì nhận ra rằng, Trung Quốc đã không nhận được đủ sự thu hút thông qua Diễn đàn Hương Sơn do nước này khởi xướng làm đối trọng với Shangri-La năm 2006. Bắc Kinh có thể sẽ không có được uy tín tại Hương Sơn nếu so với Đối thoại Shangri-La.

Vị chuyên gia này nhận định: “Chúng ta sẽ nhìn thấy những cuộc nói chuyện vừa mang tinh thần “win-win” (cùng thắng) nhưng cũng sẽ không khoan nhượng liên quan đến vấn đề Đài Loan và Biển Đông. Bắc Kinh trong những năm gần đây đã bị gắn với hình ảnh kiêu ngạo và nóng nảy tại các sự kiện quốc tế, ví dụ như hành vi của Trung Quốc tại APEC hồi tháng 11 năm ngoái tổ chức ở Papua New Guinea. Và tôi cho rằng nước này sẽ cố gắng không phô bày những hành động như vậy tại Shangri-La”.

Một điều quan trọng là vừa qua, ông Tập Cận Bình đã phát biểu rằng, Trung Quốc không có tham vọng tạo ảnh hưởng ở khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương. Đây nhiều khả năng sẽ là chủ đề dự kiến cho bài phát biểu của Bộ trưởng Quốc phòng Ngụy Phượng Hòa.

Trung Quốc “dĩ thoái vi tiến”

Ông Lục Minh Tuấn, Trung tâm Nghiên cứu quốc tế SCIS dự đoán, Trung Quốc sẽ dĩ thoái vi tiến, nghĩa là phía Trung Quốc sẽ khẳng định tư tưởng “dĩ hoà” tại Đối thoại Shangri-La lần này, khả năng cao Bộ trưởng Quốc phòng Ngụy Phượng Hòa sẽ tuyên bố, nước này không chống lại Mỹ tại khu vực.

Lý giải điều này, ông Tuấn cho rằng, học thuyết quân sự chủ đạo của Trung Quốc theo đều binh pháp, trong đó không bao giờ đánh thẳng khi đối phương đang phòng bị kỹ càng. “Lấy đá chọi đá không bao giờ có kết quả”, ông Tuấn nhấn mạnh.

Một ví dụ cụ thể của chính sách này như sự xuất hiện đầu tiên của Bộ trưởng Quốc phòng Lương Quang Liệt của Trung Quốc tại Shangri-La năm 2011 đi kèm với một loạt các động thái “xuống thang xung đột” rất rõ rệt sau đó như vận động đa phương nhằm giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông, ký kết “Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam – Trung Quốc” (10/2011).. nhưng ngay sau đó lập tức “đánh úp” và phong tỏa toàn bộ bãi cạn Scarborough của Philippines (Việt Nam không có tuyên bố chủ quyền với bãi cạn này) và mở đầu một loạt các hành động vi phạm bằng dân quân biển cùng với các hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng trái phép ở Biển Đông.

Lần này khả năng cao lại là kịch bản dĩ hoà khác, ông Tuấn dự báo.

Đài Loan, Biển Đông và có thể Triều Tiên sẽ được nhắc tới

Về các vấn đề “nóng” vẫn tồn tại giữa 2 nước, theo ông Grossman, Bắc Kinh gần như chắc chắn sẽ “rắn” về Biển Đông và Đài Loan và Mỹ cũng sẽ kiên quyết với những vấn đề này.

Thitinan Pongsudhirak, Giám đốc của Viện Khoa học và An ninh Quốc tế tại Thái Lan cũng tán đồng với ý kiến, Biển Đông sẽ là vấn đề nổi bật tại Đối thoại Shangri-La. Mỹ sẽ cần sự ủng hộ của ASEAN trong vấn đề này.

Trên thực tế, cụ thể là về Đài Loan, năm 2018, cũng tại Đối thoại Shangri-La, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis phát biểu tiếp tục củng cố mối quan hệ của Washington với Đài Loan và khiến Bắc Kinh vô cùng tức giận.

Vì vậy, Đài Loan sẽ được nhắc đến nhiều nhất. Thật thú vị và đáng chú ý, tôi nghĩ rằng Triều Tiên sẽ được nhắc đến với việc cả 2 nước đều sẽ sẽ tuyên bố là thành công, bằng cách hợp tác trong vấn đề thách thức này, ông Grossman dự đoán.

Trung Quốc cũng sẽ có thể nhắc đến sáng kiến Vành đai – Con đường như một ví dụ cho việc hợp tác cùng có lợi ở khu vực. Trong khi quyền Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ sẽ tiếp tục mở rộng mạng lưới các đồng minh và đối tác truyền thống để đảm bảo khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương tự do và mở. “Theo tôi, Việt Nam nên được đề cập như một đối tác quan trọng ở khu vực, cùng với những nước khác như Ấn Độ và Indonesia”, chuyên gia của RAND Corporation nhận định.

theo Trí Thức Trẻ

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Sự cần thiết phải đưa vấn đề an ninh biển ra thảo luận tại các diễn đàn an ninh khu vực

Sự cần thiết phải đưa vấn đề an ninh biển ra thảo luận tại các diễn đàn an ninh khu vực

An ninh biển là một bộ phận của an ninh quốc gia, khu vực và thế giới, có mối quan hệ chặt chẽ với sự phát triển hòa bình, ổn định và phát triển của các nước. Vì vậy, vấn đề này rất cần được các nước quan tâm, đưa ra thảo luận tại các diễn đàn an ninh quốc tế và khu vực.

Như chúng ta đã biết, hợp tác an ninh biển trong giai đoạn hiện nay trở lên cấp bách hơn bao giờ hết. Bởi vì, trong bối cảnh toàn cầu hóa, các vấn đề xảy ra tại bất kể địa điểm, hay quốc gia nào trên thế giới đều có thể ảnh hưởng tới các quốc gia khác hoặc ảnh hưởng đến toàn cầu. Việc vận chuyển hàng hoá bằng đường biển vẫn là phương thức chủ đạo trên toàn cầu hiện nay. Ước tính khoảng 90% lượng hàng hóa trên thế giới được vận chuyển bằng đường biển; với sự gia tăng về dân số và phát triển kinh tế như hiện nay, ước tính lượng hàng hoá vận chuyển bằng đường biển trong những năm 2030-2050 sẽ tăng gấp đôi về số lượng. Cho đến nay, mặc dù trên thế giới chưa có thuật ngữ chính thức được thừa nhận về an ninh biển, tuy nhiên khái niệm về “an ninh biển” có thể được hiểu là trạng thái ổn định, an toàn, không có các mối đe dọa xuất phát từ biển và các vùng đất đối với các hoạt động bình thường của các nước, các tổ chức, cá nhân trên biển hoặc các mối đe dọa từ biển đối với các hoạt động bình thường của các nước, các tổ chức, cá nhân trên đất liền.

Nội hàm của an ninh biển cũng giống như an ninh trên đất liền, bao gồm an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống. Các vấn đề an ninh truyền thống trên biển liên quan đến chiến tranh, xung đột, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trên biển. Trong khi, các vấn đề an ninh phi truyền thống trên biển bao gồm khủng bố, cướp biển, di dân bất hợp pháp, ô nhiễm môi trường biển, thảm họa thiên nhiên, tội phạm xuyên quốc gia… Trên thực tế, các tổ chức quốc tế và khu vực đã được thiết lập, để đẩy mạnh sự hợp tác và chia sẻ thông tin giữa các tổ chức và giữa các quốc gia để đảm bảo an ninh biển, như Tổ chức hàng hải quốc tế (IMO), Hiệp định Khu vực về chống cướp biển và cướp có vũ trang chống lại tàu thuyền tại châu Á (ReCCAP).

Đối với vấn đề giải quyết tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông, các bên liên quan cần tuân thủ luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), Tuyên bố Nguyên tắc 6 điểm của ASEAN về Biển Đông, hướng tới xây dựng Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) để giải quyết các vấn đề tranh chấp. Đây là một nội dung đặc biệt quan trọng vì nó sẽ là cơ sở pháp lý để các bên liên quan trao đổi giải quyết vấn đề trên biển. Trong điều kiện lập trường của các nước còn khác xa nhau thì Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 là chuẩn mực để các quốc gia đối chiếu, xem xét lại các yêu sách của mình cho phù hợp.

Nếu tất cả các bên liên quan đều giới hạn các yêu sách chủ quyền của mình trong các chuẩn mực của Công ước thì các bất đồng, tranh chấp trên Biển Đông sẽ sớm được giải quyết, đem lại lợi ích to lớn cho tất cả các bên cũng như lợi ích của hòa bình ổn định và thịnh vượng của cả khu vực. Đối với các vấn đề liên quan đến tự do hàng hải và quyền lợi của các bên cả ở trong và ngoài khu vực thì cần có sự tham gia rộng rãi của các quốc gia có liên quan. Việc duy trì bảo đảm an ninh trên Biển Đông hiện nay và trong thời gian tới sẽ phải giải quyết nhiều khó khăn, thách thức, đòi hỏi nỗ lực chung của tất cả các nước trong khu vực. Trong duy trì bảo đảm an ninh trên Biển Đông, các nước cần tuân thủ luật pháp quốc tế, giải quyết các tranh chấp, bất đồng thông qua thương lượng hòa bình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, xây dựng Biển Đông thành một khu vực hòa bình, ổn định và hợp tác, góp phần xây dựng môi trường hòa bình và thịnh vượng ở châu Á – Thái Bình Dương.

Đối với Việt Nam, quốc gia có ba mặt phía Đông, Nam và Tây Nam giáp biển, có bờ biển dài 3.260 km, có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; có gần 3.000 đảo lớn, nhỏ, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Do đó, an ninh biển có tầm quan trọng đặc biệt đối với Việt Nam về kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và môi trường.

Hiện nay có 4 “hồ sơ” chủ yếu ở Biển Đông liên quan tới Việt Nam, đó là: i) Tranh chấp chủ quyền quần đảo Hoàng Sa giữa Việt Nam và Trung Quốc. Các triều đại phong kiến Việt Nam đã quản lý quần đảo Hoàng Sa một cách hòa bình, liên tục từ thế kỷ 16. Năm 1956, Trung Quốc đã đánh chiếm cụm đảo phía Đông và năm 1974, tiếp tục dùng sức mạnh quân sự chiếm các đảo phía Tây quần đảo này của Việt Nam. Cả hai lần, Trung Quốc đều dùng vũ lực để chiếm đóng quần đảo này. ii) Khu vực cửa Vịnh Bắc Bộ. Sau khi ký Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá năm 2001, hai nước Việt Nam và Trung Quốc thống nhất sẽ đàm phán tiếp để phân định khu vực cửa vịnh. Đến nay hai bên đã qua 7 vòng đàm phán nhưng vẫn chưa thành công. Trong khi đang diễn ra đàm phán, Trung Quốc coi đây là vùng “tranh chấp” và đơn phương tiến hành các hoạt động khảo sát, thăm dò ở phía Tây đường trung tuyến “giả định” (nằm gần Việt Nam hơn). iii) Tranh chấp ở quần đảo Trường Sa liên quan đến 5 nước (Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Brunei) và một vùng lãnh thổ là Đài Loan. Tháng 3/1988, Trung Quốc đã dùng vũ lực chiếm đóng một số đảo ở quần đảo Trường Sa. iv) Yêu sách “đường chín đoạn” của Trung Quốc không có cơ sở pháp lý và không được quốc tế công nhận. Yêu sách này liên quan đến vùng thềm lục địa và chủ quyền, lợi ích của nhiều nước ven biển cũng như liên quan an ninh và tự do hàng hải quốc tế.

Quan điểm của Việt Nam là đối với vấn đề giải quyết tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông là các bên liên quan cần tuân thủ luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), Tuyên bố Nguyên tắc 6 điểm của ASEAN về Biển Đông, hướng tới xây dựng Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) để giải quyết các vấn đề tranh chấp. Đây là một nội dung đặc biệt quan trọng vì nó sẽ là cơ sở pháp lý để các bên liên quan trao đổi giải quyết vấn đề trên biển. Trong điều kiện lập trường của các nước còn khác xa nhau thì Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 là chuẩn mực để các quốc gia đối chiếu, xem xét lại các yêu sách của mình cho phù hợp. Nếu tất cả các bên liên quan đều giới hạn các yêu sách chủ quyền của mình trong các chuẩn mực của Công ước thì các bất đồng, tranh chấp trên Biển Đông sẽ sớm được giải quyết, đem lại lợi ích to lớn cho tất cả các bên cũng như lợi ích của hòa bình ổn định và thịnh vượng của cả khu vực.

Do các tranh chấp trên Biển Đông rất phức tạp nên cần phải thông qua đàm phán cả song phương và đa phương để giải quyết. Đối với tranh chấp trên biển chỉ liên quan đến hai bên, cần thực hiện đàm phán song phương để giải quyết. Đối với tranh chấp liên quan đến nhiều bên thì các bên liên quan phải ngồi lại với nhau để cùng giải quyết. Đối với các vấn đề liên quan đến tự do hàng hải và quyền lợi của các bên cả ở trong và ngoài khu vực thì cần có sự tham gia rộng rãi của các quốc gia có liên quan. Trong trường hợp này, nếu chỉ đàm phán song phương mà không có sự tham gia của các bên khác có thể dẫn đến sự hiểu lầm, nghi kỵ và làm cho đàm phán đi vào bế tắc.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Blog at WordPress.com.