Monthly Archives: August 2019

Chuyên gia Nga phân tích mưu đồ TQ ở Biển Đông

Chuyên gia Nga phân tích mưu đồ TQ ở Biển Đông

Trung Quốc bắt đầu tiến hành các chiến dịch quân sự nhằm chiếm các đảo Trường Sa của Việt Nam từ năm 1988.

Còn một điểm nóng tiềm tàng khác là quần đảo Trường Sa -Việt Nam, với diện tích hơn 400.000 km “nằm ở phía Tây-Nam Biển Đông. Quần đảo này có hơn 100 đảo nhỏ, rạn san hô và đảo san hô, với tổng diện tích nổi trên mặt nước không đến 5 km vuông”.

Trung tâm của quần đảo nằm cách bờ biển Việt Nam 500 km, cách các đảo Palawan (Philipines) và Kalimantan (Indonexia-ND) 400 km và cách đảo Hải Nam của Trung Quốc 1.000 km. Theo ước tính của chuyên gia, khu vực này có trữ lượng dầu khí rất đáng kể và rất giàu nguồn lợi hải sản.

Trung Quốc bắt đầu tiến hành các chiến dịch quân sự nhằm chiếm các đảo Trường Sa của Việt Nam từ năm 1988, và khi đó, quanh rạn san hô Johnson đã xảy ra một trận chiến giữa các tàu chiến Trung Quốc với các tàu chiến Việt Nam.

Kết quả, khi đó Trung Quốc đã chiếm được 7 rạn san hô và đảo san hô, tạo thành một bàn đạp để tiếp tục mở rộng phạm vi ảnh hưởng của mình. Vào thời điểm hiện tại, Trung Quốc đang duy trì sự hiện diện quân sự của mình trên 9 đảo, Việt Nam kiểm soát 21 đảo, Philippines kiểm soát 8 đảo, Malaysia có quân đồn trú trên 3 đảo.

Bất chấp một thực tế là khu vực lãnh thổ này nằm cách xa bờ biển Trung Quốc nhất (so với các nước nói trên), nhưng Trung Quốc lại là nước tiến hành các hoạt động quân sự hung hăng, liên tục điều các tàu chiến đến khu vực này và cũng thường xuyên cho các máy bay tuần tiễu bay trên khu vực ,và đặc biệt, ráo riết bồi đắp các đảo nhân tạo trong khu vực Trường Sa.

Chuyen gia Nga phan tich muu do Trung Quoc o Bien Dong

Trước đây, Trung Quốc không chỉ dừng lại ở việc cho tuần tra các vùng biển tiếp giáp với các đảo tranh chấp. Ở những vùng nước nông, Trung Quốc đã xây dựng một số cấu trúc bê tông cốt thép, trong số đó có các trạm quan sát, các trung tâm liên lạc và các đài radar.

Khoảng 5 năm trước, giới lãnh đạo Bắc Kinh đã cho triển khai hiện thực hóa một chương trình quy mô rất lớn bồi đắp các đảo nhân tạo,- và những đảo nhân tạo này đã được Phương Tây đặt tên là “Vạn Lý Trường Thành làm bằng cát”.

Tên gọi này (“Vạn Lý Trường Thành làm bằng cát”) được Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương (Mỹ), Đô đốc Harry Harris sử dụng lần đầu tiên vào tháng 3/2018.

Cùng với việc bồi đắp các đảo nhân tạo, các quan chức Trung Quốc có trách nhiệm biện bạch rằng Bắc Kinh xây dựng (các đảo nhân tạo trên) là “nhằm mục đích cải thiện điều kiện sống và làm việc của người dân trên các đảo này”, và Trung Quốc làm thế là để “cố gắng cung cấp nơi trú ẩn, đảm bảo dẫn đường, và, nếu cần thiết, hỗ trợ khẩn cấp cho các tàu nước ngoài, và để có thể đưa ra các dự báo thời tiết chính xác hơn.”

Do việc vận chuyển đá –cát, vật liệu từ đất liền Trung Quốc ra quá tốn kém và mất nhiều thời gian, nên việc bồi đắp các đảo nhân tạo chủ yếu bằng cách xúc hút và rửa cát tại chỗ.

Để dựng được “Vạn lý Trường thành bằng cát” trên biển nói trên, Bắc Kinh đã cho thành lập một phân hạm đội tàu chuyên dụng để múc, rửa cát, vận chuyển những vật liệu cần thiết từ lục địa Trung Quốc, đúc hàng loạt các loại móng, tấm bê tông cỡ lớn ngay tại chỗ.

Chuyen gia Nga phan tich muu do Trung Quoc o Bien Dong

Năm 2016, Trung Quốc đã đóng xong và đưa vào khai thác một con tàu hút múc- đổ cát lớn nhất thế giới- tàu Tian Kun Hao. Công suất của nó – 6000 mét khối cát mỗi giờ.

Chuyen gia Nga phan tich muu do Trung Quoc o Bien Dong
Ảnh vệ tinh Google Earth: đảo nhân tạo ở rạn san hô Johnson năm 2018

Trước năm 2016, trên một khu vốn trước đó bị ngập khi thủy triều lên được đặt tên là rạn san hô Johnson cùng một nhà dàn trên các cọc với 15 quân nhân (Trung Quốc) đồn trú trên đó, đã xuất hiện một hòn đảo nhân tạo diện tích 0,11 km 2. Mặc dù có diện tích không lớn nhưng trên đảo (nhân tạo) này có các tòa nhà và công trình xây dựng hoàn chỉnh.

Ngoài các hải đăng, còn có thêm một bến tàu có thể tiếp nhận các tàu lớn, một tòa nhà văn phòng, một trung tâm liên lạc, một bãi đỗ máy bay lên thẳng, một số trạm radar và các nhà kho.

Chuyen gia Nga phan tich muu do Trung Quoc o Bien Dong
Ảnh vệ tinh Google Earth: Khu vực rạn san hô Cuarteron (Châu Viên) năm 2014

Trung Quốc đã cho quân lên đóng trên đảo Châu Viên. Năm 2016, mới chỉ có một nhà giàn. Nhưng đến thời điểm hiện tại, có thể thấy tại đây một hòn đảo nhân tạo có diện tích khoảng 0,08 km2.

Chuyen gia Nga phan tich muu do Trung Quoc o Bien Dong

Trên hòn đảo (nhân tạo) này có các bến neo đậu và một bến cảng sâu bên trong được xây dựng kiên cố, một số công trình xây dựng lớn, một bãi đỗ máy bay lên thẳng, các hải đăng và một trạm radar.

Chuyen gia Nga phan tich muu do Trung Quoc o Bien Dong
Ảnh vệ tinh Google Earth: Rạn san hô Gaven năm 2012

Với rạn san hộ (Reef) Gaven, diễn biến tình hình cũng tương tự như vậy. Trước năm 2014, tại đây chỉ có một nhà giàn nhỏ. Hiện giờ nó là một tiền đồn của Hải quân PLA với một cầu cảng lớn, các bãi đỗ máy bay lên thẳng, các đài radar và một số trận địa đã được chuẩn bị sẵn để triển khai các tổ hợp tên lửa chống hạm và tên lửa phòng không.

Chuyen gia Nga phan tich muu do Trung Quoc o Bien Dong
Ảnh vệ tinh Google Earth: Đảo nhân tạo Trung Quốc trên rạn san hô Gaven năm 2018

Tại rạn san hô Hages cách Gaven 40 km về phía Nam, Trung Quốc cũng đã cho bồi đắp một hòn đảo nhân tạo có chiều dài khoảng 600 m và chiều rộng ở nơi rộng nhất lên tới 310 m trong thời gian 3 năm.

Chuyen gia Nga phan tich muu do Trung Quoc o Bien Dong
Ảnh vệ tinh Google Earth: Rạn san hô Hages năm 2014

Việc xây dựng, bồi đắp đảo nhân tạo được thực hiện theo công nghệ đã được ứng dụng trước đó trên những đảo khác của quần đảo (Trường Sa-Việt Nam). Cơ sở hạ tầng đảo nhân tạo mới này tương tự như các cơ sở hạ tầng được xây dựng trên các đảo (nhân tạo khác) trong khu vực này.

Chuyen gia Nga phan tich muu do Trung Quoc o Bien Dong
Ảnh vệ tinh Google Earth: Rạn san hô Hages năm 2018

Năm 2014, Trung Quốc lại triển khai bồi đắp đảo nhân tạo tại khu vực rạn san hô Yubi (tên tiếng Việt- Kiêu Ngựa-ND). Trước đó, đây là một rạn đảo san hô khép kín hình móng ngựa dài 6,5 km, rộng 3,7 km. Độ sâu bên trong- 25 m

Chuyen gia Nga phan tich muu do Trung Quoc o Bien Dong
Ảnh vệ tinh Google Earth: Rạn san hộ Kiêu Ngựa năm 2014

Tính đến năm 2016, diện tích của đảo nhân tạo mà Trung Quốc đã bồi đắp trên rạn ran hô Yubi đã lên tới 5 km2. Mục đích bồi đắp đảo nhân tại khu vực này của Bắc Kinh là để xây dựng một căn cứ không quân có đường băng cất hạ cánh chính dài 3.250 m và rộng 60 m. Chiếc máy bay dân sự đầu tiên của công ty Trung Quốc Hainan Airlines đã hạ cánh xuống đường băng trên đảo Yubi vào ngày 13/ 7/2016.

Chuyen gia Nga phan tich muu do Trung Quoc o Bien Dong
Ảnh vệ tinh Google Earth: và đảo nhân tạo tại Kiêu Ngựa năm 2016

Bắc Kinh đã bố trí trên đảo một số trạm radar kiểm soát không phận, tòa nhà chính của sân bay, các nhà chứa máy bay, 20 hầm trú ẩn bằng bê tông cốt thép, 2 bãi đỗ có máu che máy bay lên thẳng, các nhà kho, 1(một) kho chứa nhiên liệu và dầu nhớt.

Phía Tây-Bắc đảo có khu vực nhà ở gồm cả công viên nhân tạo, sân tennis và cả sân bóng đá. Theo tin từ Tình báo Mỹ, trên đảo Yubi này đã có hệ thống tên lửa phòng không và tên lửa chống hạm đóng quân thường xuyên.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Hành vi sai trái của Trung Quốc ở Biển Đông dưới góc nhìn chuyên gia Ngày đăng 24-08-2019 BDN Nhóm tàu Hải dương Địa chất 8 của Trung Quốc hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam đã vi phạm luật pháp quốc tế. Trong thời gian vừa qua, tàu khảo sát Hải dương Địa chất 8 (Haiyang Dizhi 8) của Trung Quốc đã vào thăm dò trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam ở khu vực phía Nam Biển Đông. Đi theo bảo vệ tàu này có các tàu cảnh sát biển Trung Quốc và các tàu dân quân biển. Dư luận quốc tế và trong nước lên án quyết liệt hành vi của Trung Quốc vi phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Từ góc độ pháp lý, hành động của phía Trung Quốc đã vi phạm luật quốc tế như thế nào? Tiến sĩ Phạm Lan Dung, Hội Luật quốc tế Việt Nam đã có những phân tích cụ thể về vấn đề này. [*Đây là ý kiến của cá nhân Tiến sĩ Lan Dung, không đại diện cho bất kỳ cơ quan, tổ chức nào]. Theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982), các quốc gia có quyền chủ quyền về thăm dò, khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên sinh vật hoặc không sinh vật tại vùng đặc quyền kinh tế của mình. Quốc gia có quyền tài phán về lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình; về nghiên cứu khoa học biển; về bảo vệ và gìn giữ môi trường biển. Tại vùng đặc quyền kinh tế, các quốc gia khác có quyền tự do hàng hải và hàng không, quyền đặt dây cáp ngầm. Như vậy, các quốc gia khác không được tiến hành thăm dò, khảo sát tại vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Việc tàu khảo sát Hải dương Địa chất 8 của Trung Quốc sử dụng các trang thiết bị và tiến hành thăm dò và khảo sát trong quá trình đi lại trong vùng đặc quyền kinh tế cho thấy dấu hiệu vi phạm quyền chủ quyền về thăm dò tài nguyên thiên nhiên tại vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam. Việc nhóm tàu Hải dương Địa chất 8 (lúc đông nhất lên đến hàng chục tàu hộ tống) đi như kẻ ô bàn cờ trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam và thực hiện các hoạt động thăm dò thì mức độ vi phạm càng rõ ràng hơn. Nếu tàu cảnh sát biển của Việt Nam yêu cầu tàu khảo sát của Trung Quốc ngừng hoạt động thăm dò và rời khỏi vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và thực hiện các biện pháp để bảo vệ quyền chủ quyền ở vùng đặc quyền kinh tế mà các tàu của Trung Quốc vẫn có các biện pháp gây hấn thì mức độ vi phạm càng trầm trọng. Tuy nhiên, để có thể đưa ra kết luận từ góc độ pháp lý trong những trường hợp như trên, nhiều yếu tố cần được cân nhắc xem xét kỹ lưỡng. Xác định vị trí và quy chế pháp lý vùng biển nơi có hành vi vi phạm Vị trí nơi xảy ra các hoạt động của nhóm tàu Hải dương Địa chất 8 có vai trò quan trọng trong việc xác định hành vi vi phạm. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định, đây là vùng biển hoàn toàn của Việt Nam, được xác định theo đúng các quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982. Qua tuyên bố này, có thể thấy các hành vi thăm dò xảy ra ở vùng biển nằm cách bờ biển Việt Nam không quá 200 hải lý, không chồng lấn hoặc tranh chấp với bất kỳ quốc gia nào. Trung Quốc không có cơ sở nào để có bất kỳ yêu sách gì đối với vùng biển này của Việt Nam. hanh vi sai trai cua trung quoc o bien dong duoi goc nhin chuyen gia luat quoc te hinh 2 Tàu khảo sát Hải dương Địa chất 8 (Haiyang Dizhi 8). Ảnh: Gulf Times. Thứ nhất, bờ biển Trung Quốc cách nơi này hơn 500 hải lý. Thứ hai, các thực thể trong khu vực quần đảo Trường Sa, theo phán quyết Trọng tài trong vụ Philippines – Trung Quốc, không thể có vùng biển rộng hơn 12 hải lý, do đó việc Trung Quốc đang chiếm đóng bất hợp pháp các thực thể ở Trường Sa không thể tạo ra bất cứ cơ sở nào cho Trung Quốc yêu sách vùng biển nêu trên của Việt Nam. Hơn nữa, Trường Sa không phải quốc gia quần đảo nên không thể có đường cơ sở quần đảo. Thứ ba, tuyên bố của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc rằng họ có chủ quyền với bãi san hô ngầm ở khu vực Nam Biển Đông này là hoàn toàn không có cơ sở pháp lý và vi phạm quyền chủ quyền của Việt Nam tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam. Theo quy định của luật biển quốc tế, những rạn san hô chìm ngầm dưới nước không phải là đối tượng yêu sách chủ quyền riêng rẽ. Trung Quốc cũng như không một quốc gia nào có thể yêu sách chủ quyền riêng rẽ với những bãi san hô ngầm ở khu vực này. Khu vực nào của những bãi này nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt nam là một phần của vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam. Việt Nam có quyền lắp đặt đảo nhân tạo, xây dựng công trình và thăm dò, khai thác tài nguyên tại đây vì đó là quyền chủ quyền của Việt Nam tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình. Các tình huống và biện pháp trên thực địa Trên thực địa, khi xảy ra tình huống như đã nêu ở trên, tàu chấp pháp của quốc gia ven biển có thể thực hiện các hành động lại gần giám sát, tìm hiểu rõ vấn đề, yêu cầu tàu khảo sát của Trung Quốc ngừng hoạt động thăm dò và rời khỏi vùng đặc quyền kinh tế của mình. Trong trường hợp đã yêu cầu nhưng không thực hiện, các tàu chấp pháp của quốc gia ven biển có thể tiếp cận gần hơn để thực hiện chức năng của mình, tiếp tục yêu cầu, không cho phép tàu khảo sát được tiếp tục thăm dò. Trong trường hợp cần thiết, nếu tàu khảo sát hoặc các tàu hộ tống của Trung Quốc có các hành vi cản trở, chống đối tàu chấp pháp của quốc gia ven biển thực hiện thẩm quyền tại vùng đặc quyền kinh tế thì các tàu chấp pháp được quyền thực hiện các biện pháp tương xứng để đáp trả nhằm mục đích tự vệ và thực hiện chức năng của mình. Theo quy định của luật quốc tế, việc thực hiện các biện pháp này cần đáp ứng được yêu cầu về sự cần thiết và tính tương xứng. Tuyên bố của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cho thấy, các lực lượng chức năng trên biển của Việt Nam đã thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán một cách hoà bình, đúng pháp luật nhằm bảo vệ vùng biển Việt Nam. Xác định loại tàu thâm nhập trái phép Việc xác định các tàu của Trung Quốc là loại tàu nào cũng có ý nghĩa quan trọng từ góc độ pháp lý. Tàu khảo sát Hải dương Địa chất 8 thuộc quyền quản lý và sử dụng của chính phủ Trung Quốc, ngoài ra còn được hộ tống bởi các tàu cảnh sát biển/ tàu của Lực lượng Bảo vệ Bờ biển của Trung quốc (tạm dịch từ tiếng Anh “China Coast Guard) và tàu dân quân của Trung Quốc nên có cơ sở để xác định hành vi vi phạm của tàu khảo sát Hải dương Địa chất 8 là của Trung Quốc. Các tàu hộ tống nếu thực hiện các biện pháp cản trở hoặc chống đối tàu chấp pháp của quốc gia ven biển cũng cần xem đó là loại tàu nào. Trong các đụng độ, các nước thường tránh không dùng lực lượng quân đội chính quy như hải quân vì hành động sử dụng vũ lực của quân đội chính quy theo luật pháp quốc tế là hành động tấn công vũ trang và là cơ sở để các nước khác có thể sử dụng quyền tự vệ. Việc dùng các tàu chấp pháp hoặc tàu cảnh sát biển, tàu dân quân để hộ tống vừa phù hợp với đặc thù vụ việc và trong trường hợp chủ động gây hấn ở những vùng mà Trung Quốc cố tình yêu sách ngược lại với các quy định của luật quốc tế thì họ ngang nhiên coi đó là hoạt động chấp pháp của họ. Các biện pháp được các bên sử dụng cụ thể như thế nào khi có đụng độ cũng rất quan trọng từ góc độ pháp lý. Các biện pháp ngăn cản, ép, tạt cánh, chặn đầu hay phun vòi rồng có thể sẽ được phân tích rất kỹ lưỡng về mức độ và hậu quả gây ra để xác định mức độ vi phạm, để xem xét có phải là sử dụng vũ lực không, đặc biệt nếu vụ việc được đưa ra các tòa án quốc tế xét xử. Kể cả trong trường hợp lực lượng chấp pháp thực hiện nhiệm vụ của mình để bảo vệ quyền chủ quyền của quốc gia ven biển thì việc sử dụng vũ lực của họ cũng được xem xét có vượt quá mức cần thiết hay không, có tương xứng không? Các biện pháp từ góc độ quốc gia Từ góc độ quốc gia, người phát ngôn Lê Thị Thu Hằng nêu rõ Việt Nam đã tiếp xúc nhiều lần với phía Trung Quốc ở các kênh khác nhau, trao công hàm phản đối, kiên quyết yêu cầu chấm dứt ngay các hành vi vi phạm, rút toàn bộ tàu ra khỏi vùng biển Việt Nam, tôn trọng quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam. Đây là minh chứng cho thấy Việt Nam đã kiên trì trao đổi quan điểm với Trung Quốc, áp dụng biện pháp đàm phán theo quy định của luật quốc tế và Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982. Nghĩa vụ trao đổi quan điểm cũng là yêu cầu đầu tiên các quốc gia cần đáp ứng trước khi muốn đưa một vụ việc ra xét xử ở các toà án quốc tế theo quy định của UNCLOS 1982. Phát biểu tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN – Trung Quốc diễn ra tại Bangkok, Thái Lan hồi cuối tháng 7 vừa qua, Phó Thủ tướng, Bộ Trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh cũng đã nêu rõ, những hành động như vậy đe dọa nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các quốc gia ven biển, làm xói mòn lòng tin, gia tăng căng thẳng, không có lợi cho hòa bình và ổn định ở khu vực Các tin khác TQ cáo buộc Hoa Kỳ thử tên lửa sẽ kích hoạt một ‘cuộc chạy đua vũ trang’ mới – 24/08/2019 13:00 Ước tính thiệt hại ‘khủng khiếp’ từ thương chiến Mỹ-Trung – 24/08/2019 05:00 Ông Trump: Tôi là ‘người được chọn’, Mỹ đang thắng TQ – 24/08/2019 04:00 66 tiêm kích Mỹ khó giúp Đài Loan xoay chuyển cán cân khu vực – 24/08/2019 02:00 TQ đang cải thiện quan hệ với Nhật Bản và Hàn Quốc – 23/08/2019 05:30

Hành vi sai trái của Trung Quốc ở Biển Đông dưới góc nhìn chuyên gia

Nhóm tàu Hải dương Địa chất 8 của Trung Quốc hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam đã vi phạm luật pháp quốc tế.

Trong thời gian vừa qua, tàu khảo sát Hải dương Địa chất 8 (Haiyang Dizhi 8) của Trung Quốc đã vào thăm dò trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam ở khu vực phía Nam Biển Đông. Đi theo bảo vệ tàu này có các tàu cảnh sát biển Trung Quốc và các tàu dân quân biển.

Dư luận quốc tế và trong nước lên án quyết liệt hành vi của Trung Quốc vi phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.

Từ góc độ pháp lý, hành động của phía Trung Quốc đã vi phạm luật quốc tế như thế nào? Tiến sĩ Phạm Lan Dung, Hội Luật quốc tế Việt Nam đã có những phân tích cụ thể về vấn đề này. [*Đây là ý kiến của cá nhân Tiến sĩ Lan Dung, không đại diện cho bất kỳ cơ quan, tổ chức nào].

Theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982), các quốc gia có quyền chủ quyền về thăm dò, khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên sinh vật hoặc không sinh vật tại vùng đặc quyền kinh tế của mình. Quốc gia có quyền tài phán về lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình; về nghiên cứu khoa học biển; về bảo vệ và gìn giữ môi trường biển. Tại vùng đặc quyền kinh tế, các quốc gia khác có quyền tự do hàng hải và hàng không, quyền đặt dây cáp ngầm.

Như vậy, các quốc gia khác không được tiến hành thăm dò, khảo sát tại vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Việc tàu khảo sát Hải dương Địa chất 8 của Trung Quốc sử dụng các trang thiết bị và tiến hành thăm dò và khảo sát trong quá trình đi lại trong vùng đặc quyền kinh tế cho thấy dấu hiệu vi phạm quyền chủ quyền về thăm dò tài nguyên thiên nhiên tại vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam.

Việc nhóm tàu Hải dương Địa chất 8 (lúc đông nhất lên đến hàng chục tàu hộ tống) đi như kẻ ô bàn cờ trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam và thực hiện các hoạt động thăm dò thì mức độ vi phạm càng rõ ràng hơn. Nếu tàu cảnh sát biển của Việt Nam yêu cầu tàu khảo sát của Trung Quốc ngừng hoạt động thăm dò và rời khỏi vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và thực hiện các biện pháp để bảo vệ quyền chủ quyền ở vùng đặc quyền kinh tế mà các tàu của Trung Quốc vẫn có các biện pháp gây hấn thì mức độ vi phạm càng trầm trọng.

Tuy nhiên, để có thể đưa ra kết luận từ góc độ pháp lý trong những trường hợp như trên, nhiều yếu tố cần được cân nhắc xem xét kỹ lưỡng.

Xác định vị trí và quy chế pháp lý vùng biển nơi có hành vi vi phạm

Vị trí nơi xảy ra các hoạt động của nhóm tàu Hải dương Địa chất 8 có vai trò quan trọng trong việc xác định hành vi vi phạm. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định, đây là vùng biển hoàn toàn của Việt Nam, được xác định theo đúng các quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982. Qua tuyên bố này, có thể thấy các hành vi thăm dò xảy ra ở vùng biển nằm cách bờ biển Việt Nam không quá 200 hải lý, không chồng lấn hoặc tranh chấp với bất kỳ quốc gia nào. Trung Quốc không có cơ sở nào để có bất kỳ yêu sách gì đối với vùng biển này của Việt Nam.

hanh vi sai trai cua trung quoc o bien dong duoi goc nhin chuyen gia luat quoc te hinh 2
Tàu khảo sát Hải dương Địa chất 8 (Haiyang Dizhi 8). Ảnh: Gulf Times.

Thứ nhất, bờ biển Trung Quốc cách nơi này hơn 500 hải lý.

Thứ hai, các thực thể trong khu vực quần đảo Trường Sa, theo phán quyết Trọng tài trong vụ Philippines – Trung Quốc, không thể có vùng biển rộng hơn 12 hải lý, do đó việc Trung Quốc đang chiếm đóng bất hợp pháp các thực thể ở Trường Sa không thể tạo ra bất cứ cơ sở nào cho Trung Quốc yêu sách vùng biển nêu trên của Việt Nam. Hơn nữa, Trường Sa không phải quốc gia quần đảo nên không thể có đường cơ sở quần đảo.

Thứ ba, tuyên bố của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc rằng họ có chủ quyền với bãi san hô ngầm ở khu vực Nam Biển Đông này là hoàn toàn không có cơ sở pháp lý và vi phạm quyền chủ quyền của Việt Nam tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam. Theo quy định của luật biển quốc tế, những rạn san hô chìm ngầm dưới nước không phải là đối tượng yêu sách chủ quyền riêng rẽ. Trung Quốc cũng như không một quốc gia nào có thể yêu sách chủ quyền riêng rẽ với những bãi san hô ngầm ở khu vực này. Khu vực nào của những bãi này nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt nam là một phần của vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam. Việt Nam có quyền lắp đặt đảo nhân tạo, xây dựng công trình và thăm dò, khai thác tài nguyên tại đây vì đó là quyền chủ quyền của Việt Nam tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình.

Các tình huống và biện pháp trên thực địa

Trên thực địa, khi xảy ra tình huống như đã nêu ở trên, tàu chấp pháp của quốc gia ven biển có thể thực hiện các hành động lại gần giám sát, tìm hiểu rõ vấn đề, yêu cầu tàu khảo sát của Trung Quốc ngừng hoạt động thăm dò và rời khỏi vùng đặc quyền kinh tế của mình. Trong trường hợp đã yêu cầu nhưng không thực hiện, các tàu chấp pháp của quốc gia ven biển có thể tiếp cận gần hơn để thực hiện chức năng của mình, tiếp tục yêu cầu, không cho phép tàu khảo sát được tiếp tục thăm dò.

Trong trường hợp cần thiết, nếu tàu khảo sát hoặc các tàu hộ tống của Trung Quốc có các hành vi cản trở, chống đối tàu chấp pháp của quốc gia ven biển thực hiện thẩm quyền tại vùng đặc quyền kinh tế thì các tàu chấp pháp được quyền thực hiện các biện pháp tương xứng để đáp trả nhằm mục đích tự vệ và thực hiện chức năng của mình.

Theo quy định của luật quốc tế, việc thực hiện các biện pháp này cần đáp ứng được yêu cầu về sự cần thiết và tính tương xứng. Tuyên bố của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cho thấy, các lực lượng chức năng trên biển của Việt Nam đã thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán một cách hoà bình, đúng pháp luật nhằm bảo vệ vùng biển Việt Nam.

Xác định loại tàu thâm nhập trái phép

Việc xác định các tàu của Trung Quốc là loại tàu nào cũng có ý nghĩa quan trọng từ góc độ pháp lý. Tàu khảo sát Hải dương Địa chất 8 thuộc quyền quản lý và sử dụng của chính phủ Trung Quốc, ngoài ra còn được hộ tống bởi các tàu cảnh sát biển/ tàu của Lực lượng Bảo vệ Bờ biển của Trung quốc (tạm dịch từ tiếng Anh “China Coast Guard) và tàu dân quân của Trung Quốc nên có cơ sở để xác định hành vi vi phạm của tàu khảo sát Hải dương Địa chất 8 là của Trung Quốc. Các tàu hộ tống nếu thực hiện các biện pháp cản trở hoặc chống đối tàu chấp pháp của quốc gia ven biển cũng cần xem đó là loại tàu nào.

Trong các đụng độ, các nước thường tránh không dùng lực lượng quân đội chính quy như hải quân vì hành động sử dụng vũ lực của quân đội chính quy theo luật pháp quốc tế là hành động tấn công vũ trang và là cơ sở để các nước khác có thể sử dụng quyền tự vệ.

Việc dùng các tàu chấp pháp hoặc tàu cảnh sát biển, tàu dân quân để hộ tống vừa phù hợp với đặc thù vụ việc và trong trường hợp chủ động gây hấn ở những vùng mà Trung Quốc cố tình yêu sách ngược lại với các quy định của luật quốc tế thì họ ngang nhiên coi đó là hoạt động chấp pháp của họ.

Các biện pháp được các bên sử dụng cụ thể như thế nào khi có đụng độ cũng rất quan trọng từ góc độ pháp lý. Các biện pháp ngăn cản, ép, tạt cánh, chặn đầu hay phun vòi rồng có thể sẽ được phân tích rất kỹ lưỡng về mức độ và hậu quả gây ra  để xác định mức độ vi phạm, để xem xét có phải là sử dụng vũ lực không, đặc biệt nếu vụ việc được đưa ra các tòa án quốc tế xét xử.

Kể cả trong trường hợp lực lượng chấp pháp thực hiện nhiệm vụ của mình để bảo vệ quyền chủ quyền của quốc gia ven biển thì việc sử dụng vũ lực của họ cũng được xem xét có vượt quá mức cần thiết hay không, có tương xứng không?

Các biện pháp từ góc độ quốc gia

Từ góc độ quốc gia, người phát ngôn Lê Thị Thu Hằng nêu rõ Việt Nam đã tiếp xúc nhiều lần với phía Trung Quốc ở các kênh khác nhau, trao công hàm phản đối, kiên quyết yêu cầu chấm dứt ngay các hành vi vi phạm, rút toàn bộ tàu ra khỏi vùng biển Việt Nam, tôn trọng quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam. Đây là minh chứng cho thấy Việt Nam đã kiên trì trao đổi quan điểm với Trung Quốc, áp dụng biện pháp đàm phán theo quy định của luật quốc tế và Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982.

Nghĩa vụ trao đổi quan điểm cũng là yêu cầu đầu tiên các quốc gia cần đáp ứng trước khi muốn đưa một vụ việc ra xét xử ở các toà án quốc tế theo quy định của UNCLOS 1982.

Phát biểu tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN – Trung Quốc diễn ra tại Bangkok, Thái Lan hồi cuối tháng 7 vừa qua, Phó Thủ tướng, Bộ Trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh cũng đã nêu rõ, những hành động như vậy đe dọa nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các quốc gia ven biển, làm xói mòn lòng tin, gia tăng căng thẳng, không có lợi cho hòa bình và ổn định ở khu vực

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Việt Nam thất thủ chiến lược trên địa bàn sông Mekong

Việt Nam thất thủ chiến lược trên địa bàn sông Mekong

Ngô Thế Vinh

23-8-2019

Gửi Nhóm Bạn Cửu Long

Dẫn nhậpVậy mà đã 62 năm kể từ khi Liên Hiệp Quốc khai sinh Ủy Ban Sông Mekong [1957] và cũng đã 24 năm từ ngày thành lập Ủy Hội Sông Mekong [1995]. Tính đến nay 2019, Bắc Kinh đã xây xong 11 con đập thủy điện khổng lồ / mega-dams (6,7) chắn ngang dòng chính sông Lancang Jiang, tên Trung Quốc của con Sông Mekong chảy trong lãnh thổ TQ với lượng điện sản xuất đã lên tới 21,300 MW và TQ vẫn đang tiếp tục xây thêm 19 con đập khác; Thái Lan ngoài các con đập phụ lưu, còn có kế hoạch chuyển dòng lấy nước từ sông Mekong, và nay hai nước Lào và Cambodia còn có thêm dự án 12 đập dòng chính hạ lưu. Ngoài ra còn hàng trăm con đập phụ lưu đã và đang xây trên khắp lưu vực Sông Mekong, kể cả trên Cao nguyên Trung phần Việt Nam.

Khi mà hai con đập lớn nhất Nọa Trác Độ / Nuozhado 5,850 MW và Tiểu Loan / Xiaowan 4,200 MW đã hoạt động phát điện toàn công xuất, có thể nói về tổng thể Trung Quốc đã hoàn tất phần lớn nhất kế hoạch thủy điện bậc thềm Vân Nam với 40 tỉ mét khối nước dự trữ trong các hồ chứa, tích luỹ trên 50% lưu lượng dòng chảy trung bình hàng năm và chặn 90% phù sa từ thượng nguồn, đủ cho TQ nắm quyền sinh sát toàn lưu vực sông Mekong.

Không hề có dấu hiệu nào các dự án xây đập thủy điện trên suốt dọc chiều dài sông Lancang-Mekong sẽ chậm lại. Với 11 con đập Vân Nam, nay thêm 4 con đập dòng chính ở Lào: đập Xayaburi và Don Sahong đã hoàn tất (2019), đâp Pak Beng và Pak Lay đang triển khai, các quốc gia trong lưu vực dưới Sông Mekong đang phải hứng chịu những hậu quả nhãn tiền:

1/ Bắc Thái Lan, Tháng 7 vừa qua, do khúc sông Mekong cạn dòng với cá chết, đồng lúa khô cháy, Thủ Tướng Thái Lan phải kêu gọi TQ cứu nguy xả nước từ con đập Cảnh Hồng, Thái cũng yêu cầu Lào tạm ngưng hoạt động phát điện từ con đập Xayaburi; mà cũng Thái Lan là khánh hàng chính mua điện từ cả hai con đập này. (4)

2/ Biển Hồ trái tim của Cambodia mực nước xuống thấp nhất, có nơi trơ đáy cho dù đã quá giữa mùa mưa; do mất nhịp đập của lũ / Mekong flood pulse, con sông Tonle Sap không thể đổi chiều, đưa nước chảy ngược lên Biển Hồ, như vậy có thể sẽ không còn Lễ hội Nước Bon Om Tuk truyền thống hàng năm nơi Quatre Bras, Phnom Penh.

3/ Đồng Bằng Sông Cửu Long, năm nay 2019 cho đến tháng 7 qua cuối tháng 8 nước lũ thượng nguồn đổ về vẫn quá ít, mực nước ở Tân Châu và Châu Đốc xuống cực thấp – phá cả kỷ lục thấp nhất của năm hạn hán 2016, không chỉ ngư dân mất nguồn cá mà nông dân thì thấy trước không có đủ nước cho vụ lúa sắp tới và còn phải hứng chịu thêm một thảm họa kép: do không có sức đẩy của nguồn nước ngọt thượng nguồn, nạn nhiễm mặn sẽ trầm trọng hơn và đang lấn sâu hơn nữa vào vùng châu thổ. (5)

Câu hỏi khẩn thiết đặt ra là: 70 triệu cư dân trong Lưu vực Sông Mekong và ngót 20 triệu dân vùng ĐBSCL sẽ phải làm gì để thích nghi và sống còn, trước khi tình thế không thể đảo nghịch?

Ủy Hội Sông Mekong / MRC bao gồm Ủy Ban Sông Mekong Việt Nam trong ngót một phần tư thế kỷ qua đã chứng tỏ vô hiệu, nếu không muốn nói là gián tiếp đồng lõa cho các dự án đập thủy điện hiện nay. Chính Việt Nam cũng xây các đập thủy điện trên các phụ lưu Sông Mekong, cũng là khách hàng quan trọng mua thủy điện của Lào và Cambodia và cả đầu tư góp vốn cho các dự án xây đập của hai quốc gia này…

BS Ngô Thế Vinh, tác giả cuốn CLCD BĐDS xuất bản từ năm 2000, cùng với nhóm Bạn Cửu Long, từng theo dõi và lên tiếng báo động liên tục về một Lưu Vực Sông Mekong và ĐBSCL trước nguy cơ. (1) Và đây là một bài viết cập nhật tháng 8, 2019, với một nhận định khá bi đát là: Việt Nam đã bị thất thủ chiến lược trên địa bàn Sông Mekong – và ĐBSCL đang đứng trước nguy cơ bị tan rã. Việt Ecology Foundation

KHỞI ĐI TỪ MỘT SAI LẦM CHIẾN LƯỢC

Qua ngót một phần tư thế kỷ, kể tử ngày 5 tháng 4 năm 1995 khi ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm đại diện cho Việt Nam đặt bút ký Hiệp Định về Hợp Tác Phát triển Bền vững Lưu vực Sông Mekong, Việt Nam đã phạm một sai lầm chiến lược là từ bỏ quyền phủ quyết / Veto Power, một điều khoản hết sức quan trọng đã có trong Hiệp Định Ùy Ban Sông Mekong 1957 (Mekong River Committee) vì Việt Nam là một quốc gia cuối nguồn. Người viết cách đây ngót 2 thập niên đã đưa ra nhận định là Ủy Hội Sông Mekong 1995 (Mekong River Commission) là một “biến thể và xuống cấp” so với Ủy Ban Sông Mekong 1957 thời Việt Nam Cộng Hòa trước đây.

Rồi trải qua bao nhiêu Hội nghị Thượng đỉnh từ cấp Thủ Tướng tới hàng Bộ trưởng, vẫn không có một nỗ lực cụ thể hay tiếng nói mạnh mẽ nào từ Việt Nam để cùng các quốc gia trong lưu vực thực hiện những điều tối thiểu đã giao kết trong Hiệp Định về Hợp Tác Phát triển Bền vững Lưu vực Sông Mekong 1995. Và không phải là ngẫu nhiên mà ĐBSCL mới mau chóng phải đối đầu với một thảm họa môi sinh như hôm nay.

Hình 1: Cứ 4 năm một lần, năm 2018 TT Nguyễn Xuân Phúc lại dẫn một phái đoàn đi dự Hội Nghị Thượng Đỉnh Ủy Hội Sông Mekong [MRC Summit], đem theo một bài diễn văn viết sẵn với ngôn từ rất hoa mĩ; [hai cuộc họp Thượng Đỉnh trước 2010, 2014 nguyên TT Nguyễn Tấn Dũng dẫn đầu phái đoàn VN]; và như từ bao giờ khi các bài diễn văn được đọc xong, là lúc 4 nguyên thủ quốc gia Mekong cùng bước lên sân khấu nối vòng tay trong tay cho báo chí chụp hình PR, sau đó ai về nhà ấy, để rồi 4 năm sau là một Hội Nghị Thượng Đỉnh khác, với cùng một kịch bản, vẫn những khẩu hiệu trống rỗng, trong khi Con Sông Mekong, Biển Hồ, ĐBSCL thì đang chết dần. Hà Nội thì chưa bao giờ có được tiếng nói mạnh mẽ – nhất là với Trung Quốc và cả Lào, để bảo vệ nguồn nước ngọt và phù sa sinh tử của mình, cho dù biết rõ Việt Nam là một quốc gia nạn nhân cuối nguồn. Nguồn ảnh: MRC Việt Nam

CẢNH ĐỒNG SÀNG DỊ MỘNG

Khi mà trong mỗi kế hoạch khai thác Sông Mekong đã ẩn chứa những mâu thuẫn sâu xa về quyền lợi giữa các nước thành viên nếu chỉ đứng trên quan điểm quốc gia hạn hẹp. Không dễ gì vượt qua trở ngại ấy nếu không có được một mẫu số chung – một Tinh Thần Sông Mekong, với không khí đối thoại cởi mở dẫn tới sự tin cậy để cùng nhau tính toán từng bước thận trọng trên quan điểm phát triển bền vững / sustainable development cho toàn lưu vực.

Cho dù từ những thập niên 1950, 1960 Ủy Ban Sông Mekong 1957 đã có những kế hoạch vĩ mô xây dựng các đập thủy điện lớn trên sông Mekong nhằm thăng tiến kinh tế cho cho vùng hạ lưu nhưng đã bị gián đoạn do cuộc Chiến tranh Việt Nam, khiến cho con sông Mekong vẫn còn giữ được vẻ hoang dã và cả sự nguyên vẹn thêm một thời gian nữa.

Và để rồi, bắt đầu từ thập niên 1970, Trung Quốc như một “kẻ đến sau” nhưng đã nhanh chóng có cả một kế hoạch vĩ mô khai thác nguồn thủy điện phong phú của sông Lancang-Mekong với hàng loạt các dự án đập khổng lồ trên khúc sông chiếm hơn nửa chiều dài Sông Mekong 4,800 km nằm trong lãnh thổ Trung Quốc. Và kết quả Bắc Kinh, tuy là “kẻ đến sau nhưng đã về trước” và tính đến nay, Trung Quốc hoàn tất 11 con đập khổng lồ trên khúc sông Lancang-Mekong (6,7) bắt nguồn từ Tây Tạng xuống Vân Nam và Trung Quốc hiện nay đã nắm trong tay 40 tỉ mét khối nước của con Sông Lancang-Mekong.

TỪ NHỮNG QUAN ĐIỂM ĐỐI NGHỊCH

– Quan điểm từ Trung Quốc: ngay từ đầu Bắc Kinh đã từ chối không muốn tham gia vào Ủy Hội Sông Mekong bao gồm 4 nước: Lào, Thái, Cambodia và Việt Nam, để hoàn toàn không bị ràng buộc vào những điều khoản trong Hiệp Định về Hợp Tác Phát triển Bền vững Lưu vực Sông Mekong 1995, với mục đích Bắc Kinh có toàn quyền tự do khai khác con Sông Lancang-Mekong  [Lancang Jiang tên Trung Quốc của con Sông Mekong] chảy trong lãnh thổ Trung Quốc, bất chấp hậu quả tiêu cực xuyên biên giới / transboundary negative effects ra sao đối với các quốc gia hạ nguồn. Điển hình là hai trận hạn hán khốc liệt 2016 rồi 2019 nơi vùng hạ lưu trong khi Trung Quốc vẫn giữ một khối nước rất lớn trong các hồ chứa thủy điện của mình.

Trận hạn hán tháng 4, 2016, khi mà Trung Quốc tiếp tục trữ nước trong các con đập, trực tiếp nhất là trong hồ chứa con đập Cảnh Hồng khiến mực nước xuống hạ lưu thấp tới mức kỷ lục, không chỉ ở vùng Đông Bắc Thái nằm ngay dưới chân chuỗi đập Vân Nam chịu tác động trực tiếp, mà ngay ở nơi xa nhất cuối nguồn với ngót 20 triệu cư dân nơi ĐBSCL cũng vô cùng khốn đốn vì thiếu nước. Điều khá hài hước, là Thủ Tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng lúc đó chỉ còn biết kêu cứu Bắc Kinh xả nước từ hồ chứa đập Cảnh Hồng, điều mà trong thâm tâm Trung Quốc chẳng hề muốn làm, và rõ ràng Việt Nam hoàn toàn bị “thất thủ chiến lược” trước trận chiến môi sinh / ecological warfare” vô cùng thâm độc của Trung Quốc.

Trận hạn hán tháng 7, 2019, Trung Quốc lại một lần nữa không hề báo trước, giữa mùa mưa ít vẫn tiếp tục lấy nước vào các hồ chứa khiến cư dân Bắc Thái bị ngay một trận hạn hán của thế kỷ, đồng ruộng khô cháy, khúc Sông Mekong trơ đáy với cá chết. Lần này thì đến lượt Thủ Tướng Thái Lan Prayut Chan-o-cha phải kêu gọi Bắc Kinh xả nước từ đập Cảnh Hồng để cứu cho nông và ngư dân vùng Bắc Thái. (4) Không chỉ có vậy, như một chuỗi phản ứng dây chuyền, ba nước Lào – Cambodia – Việt Nam chịu những hậu quả hạn hán khốc liệt không kém. Biển Hồ chưa bao giờ cạn nước đến như thế, có nơi trơ đáy khiến ghe thuyền mắc cạn [Hình 5], không phải chỉ hơn 1.5 triệu cư dân Cambodia sống quanh Biển Hồ khốn đốn vì hạn hán mà ĐBSCL cũng đang chịu những “cơn đau thắt ngực” do trái tim Biển Hồ đang bị thiếu nước trầm trọng.

 

Hình 2: Những con đập thuỷ điện trên dòng chính Sông Mekong: chỉ với 11 con đập trên Sông Lancang-Mekong thượng nguồn, TQ đã lưu trữ 40 tỉ mét khối nước, sản xuất 21,300 MW điện; riêng Lào đang hiện thực giấc mơ trở thành “Bình điện Á Châu / Asia’s Battery”hay “xứ Kuwait Thủy điện Đông Nam Á”, Lào cũng lưu trữ 30 tỉ mét khối nước hàng năm. Nguồn: Michael Buckley, cập nhật 2019

Và rồi là những ngụy biện của Trung Quốc: để tự bào chữa cho các con đập thuỷ điện khổng lồ Vân Nam, các công trình sư Tàu đã lý luận rằng các hồ chứa đập thuỷ điện ở thượng lưu có chức năng rất hữu ích: điều hoà dòng chảy con sông Mekong cho các quốc gia hạ nguồn: giữ nước trong Mùa Mưa làm giảm thiệt hại do lũ lụt nơi hạ nguồn và rồi trong mùa khô cũng vẫn những hồ chứa các con đập ấy xả nước xuống hạ lưu nhiều hơn lưu lượng tự nhiên… Lý luận giản đơn và ngụy biện ấy cho đến nay vẫn khiến một số người tin – kể cả giới khoa bảng; nhưng thực tế thì không diễn ra như vậy, và chuỗi đập Vân Nam đang mang tới thảm họa chứ không hề mang lại những lợi ích mà Bắc Kinh luôn rêu rao.

KS Phạm Phan Long, Việt Ecology Foundation trong bài viết mới đây trên VOA, đã nhận định: “Do Biến đổi Khí Hậu, mưa ít dần trên lưu vực là có thật nhưng hạn hán sớm hơn và khắc nghiệt hơn khi thiếu mưa là do vận hành các hồ chứa thủy điện, chính chúng có khả năng gây ra hạn hán cả khi có mưa, chưa kể vào những năm ít mưa, tích trữ nước gây hạn hán càng thêm kinh khủng.” (3)

… Rất sớm, từ hơn 10 năm trước (05/2009), Chương Trình Môi Sinh Liên Hiệp Quốc đã phải lên tiếng cảnh báo rằng chuỗi đập Vân Nam là mối đe dọa duy nhất – lớn nhất / the single greatest threat” đối với tương lai và sự phồn vinh của con Sông Mekong, sẽ giết chết nhịp đập thiên nhiên của dòng sông / Mekong flood pulse, với con Sông Tonle Sap chảy hai chiều vốn như một hiện tượng thiên nhiên kỳ quan của thế giới.

Aviva Imhoff, nguyên giám đốc truyền thông Mạng Lưới Sông Quốc Tế IRN, cũng đưa ra nhận định: Trung Quốc đang hành xử một cách hết sức vô trách nhiệm. Chuỗi đập Vân Nam sẽ gây ra những tác hại vô lường nơi hạ lưu, gây rối loạn toàn hệ sinh thái con sông Mekong xa xuống tới Biển Hồ, nó như một chuông báo tử cho ngư nghiệp và nguồn cá vốn là thực phẩm của ngót 70 triệu cư dân sống ven sông.

– Quan điểm từ Thái Lan: ngoài việc xây đập thủy điện trên các phụ lưu như đập Pak Mun 136 MW (1994) trên sông Mun, và cả kế hoạch chuyển dòng lấy nước từ Sông Mekong vào những hồ chứa nhằm cung cấp nước cho các cánh đồng lúa ở miền Trung và Đông Bắc Thái. Cũng chính công ty Thái Lan Ch. Karchang đã giúp Lào xây con đập dòng chính đầu tiên Xayaburivùng hạ lưu, và quan trọng hơn nữa Thái Lan là khách hàng chính mua 95% lượng thủy điện của Lào qua Công ty EGAT / Electricity Generating Authority of Thailand, như thêm động lực tạo thuận cho Vientiane phát triển thêm về thủy điện trên khắp nước Lào. Và cần nói thêm, chính Thái Lan cũng là khách hàng chính mua thủy điện của TQ từ con đập Cảnh Hồng 1,750 MW hoạt động từ 2008. Cảnh Hồng hiện đang là con đập thủ phạm trực tiếp gây họa khiến cư dân các tỉnh Bắc Thái đang phải kêu trời.

– Quan điểm từ Lào: là một quốc gia tương đối nghèo nhất trong vùng, với những người Lào thấy được tiềm năng thủy điện phong phú của con Sông Mae Nam Khong [tên Lào-Thái của Sông Mekong], Lào nuôi giấc mơ canh tân, họ muốn biến đất nước Lào trở thành một xứ “Kuwait về thủy điện Đông Nam Á” hay “Bình điện Á Châu / Asia’s Battery”. Nam Ngum 150 MW là con đập thuỷ điện phụ lưu đầu tiên của Lào và được hoàn tất rất sớm từ 1971 giữa giông bão của cuộc chiến tranh Việt Nam. [Hình 3] Sau đó, trong suốt hơn bốn thập niên, Lào đã và đang liên tục xây vô số các đập thủy điện trên những phụ lưu Sông Mekong, trong đó phải kể các con đập phụ lưu rất lớn như Nam Theun-2 900 MW, Theun Hinboun… và nay tới kế hoạch triển khai xây 9 con đập dòng chính trên Sông Mae Nam Khong mà con Domino đầu tiên là đập Xayaburi, tới con đập thứ hai Don Sahong và còn tiếp tục xây tiếp các con đập khác: Pak Beng con đập thứ ba đang xây, và Pak Lay dự án thủy điện dòng chính thứ tư, đã qua giai đoạn tham vấn rất tượng trưng và chắc chắn Lào sẽ tiến hành xây những con đập dòng chính bất chấp những tác hại tiêu cực xuyên biên giới đặc biệt là Đồng Bằng Sông Cửu Long ra sao.

Không chỉ Trung Quốc lưu giữ 40 tỉ mét khối nước hay 53% vũ lượng hàng năm của lưu vực Lancang-Mekong; Lào cũng cất giữ 30 tỉ mét khối nước hay 18% vũ lượng hàng năm của lưu vực dưới Sông Mae Nam Khong, tên khúc Sông Mekong trên đất Lào. Cũng phải kể ảnh hưởng tác hại của hệ thống đập thủy điện phụ lưu của Lào đối với hai quốc gia dưới nguồn là Cambodia và Việt Nam rất đáng kể kể đối với tình trạng dòng chảy, lượng phù sa và nguồn cá trong lưu vực sông Mekong.

Hình 3: Nam Ngum, con đập thủy điện phụ lưu đầu tiên của Lào 1971, 
biểu ngữ giăng ngang con đập đánh dấu 25 năm thống nhất nước Lào. Photo by Ngô Thế Vinh 2000

– Quan điểm từ Cambodia: Hun Sen, Thủ tướng lâu năm nhất của Cambodia và của cả thế giới, đã luôn luôn phủ nhận ảnh hưởng tác hại của các con đập thủy điện thượng nguồn đối với dòng chảy Sông Tonle Thom (tên Cambodia của con Mekong) và chấp nhận vô điều kiện kế hoạch xây đập của Trung Quốc trên thượng nguồn, cho dù chính sách ấy đi ngược với tất cả tiếng nói của các nhà bảo vệ môi sinh và ngót 70 triêu cư dân ven sông.

Hình 4: Diện tích Biển Hồ Tonle Sap co giãn với hai mùa Mưa Nắng: Mùa Khô (trái) là hồ cạn chỉ với diện tích 2,500 km2; Mùa Mưa (phải), khi bước vào tháng 5 đến tháng 9, do nước con Sông Mekong dũng mãnh đổ về, khiến con Sông Tonle Sap đổi chiều, chảy ngược vào Biển Hồ làm nước hồ dâng cao hơn từ 8 tới 10 mét và tràn bờ và làm ngập các khu Rừng Lũ / Flood forest, diện tích Biển Hồ tăng gấp 5 lần hơn, khoảng 12,000 km2. Nguồn: Tom Fawthrop

Rất sớm, từ tháng 7 năm 2005, Thủ tướng Hun Sen, khi sang dự Hội Nghị Thượng Đỉnh Côn Minh, đã tỏ ra thỏa mãn với tình hình khai thác con Sông Mekong, theo ông chẳng có vấn đề gì phải quan tâm. Ông công khai lên tiếng ủng hộ Bắc Kinh, đối với kế hoạch khai thác sông Mekong, ông còn cho rằng các ý kiến chỉ trích chỉ để chứng tỏ họ chú ý tới môi sinh, và họ dùng đó như thứ rào cản nhằm ngăn sự hợp tác nên có giữa 6 quốc gia. (Hunsen backed China’s often-criticized development plans for the Mekong River, AFP Phnom Penh, June 29, 2005)

Năm năm sau, tháng 11 năm 2010TT Hun Sen, sau Hội Nghị Thượng Đỉnh ACMECS* ở Phnom Penh, đã lên tiếng bác bỏ mọi mối quan ngại về ảnh hưởng của các đập thủy điện trên thượng nguồn đối với dòng chảy Sông Mekong. Ông khẳng định rằng chu kỳ lũ lụt hay hạn hán là hậu quả của thay đổi khí hậu / climate change chứ chẳng liên hệ gì tới chuỗi những con đập thủy điện của Trung Quốc. (The Phnom Penh Post, Nov 17, 2010)

Trái hẳn với nhận định của TT Hunsen, cần nên ghi lại nơi đây những sự kiện phải nói là bi quan, liên quan tới Biển Hồ, Sông Tonle Sap và con Sông Mekong ngay trong thập niên đầu của thế kỷ 21:

Trên trang web World Wide Fund for Nature, đã ghi nhận: mực nước con sông Mekong tụt thấp xuống tới mức báo động kể từ 2004 và trở thành những hàng tin trang nhất trên báo chí. “Trung Quốc làm kiệt mạch sống sông Mekong_ New Scientist”; “Sông Mekong cạn dòng vì các con đập Trung Quốc_ Reuters AlertNet”; “Xây đập và con sông chết dần_ The Guardian”; “Sông cạn do các con đập Trung Quốc_ Bangkok Post”. Hầu hết đều mạnh mẽ quy trách cho việc xây các con đập thủy điện của Trung Quốc trên khúc sông thượng nguồn.

Theo Fred Pearce, tác giả cuốn sách “Khi Những Con Sông Cạn Dòng, Nước – Khủng Hoảng của Thế Kỷ 21” xuất bản 2006, trong chương viết về con sông Mekong, đã có ghi nhận:

… “Cuối năm 2003 và đầu năm 2004 là thời gian tuyệt vọng trên Biển Hồ. Cơn lũ về thấp hơn. Thời điểm con sông Tonle Sap chảy ngược vào Biển Hồ đến trễ hơn và cũng chấm dứt sớm hơn. Thay vì 5 tháng con sông đổi dòng nay chỉ còn có 3 tháng. Rừng lũ thiếu ngập lũ và cá thì không đủ thời gian để tăng trưởng… Và mùa thu hoạch cá chưa bao giờ thấp như vậy. Tại sao? Đa số ngư dân đổ tại con sông cạn dòng. Khi con nước cạn trước Hoàng cung, thì sẽ không có cá dưới sông.”

Không ai tin rằng, ông Thủ tướng Hun Sen lại có thể không biết tới “Hồi Chuông báo Tử” ấy, nhưng ông Hun Sen đã cố tình phủ nhận điều này do nhu cầu chính trị ngắn hạn “lấy lòng Trung Quốc” trong thời gian cầm quyền. Nhưng rồi ra, cái giá rất cao phải trả sẽ là tương lai của dân tộc Cam Bốt và cả nền văn minh xứ Chùa Tháp.

Hình 5: Biển Hồ thiếu nước ghe mắc cạn, Anh Tư Tiến phải nhẩy xuống lội nước cho ghe nhẹ bớt không bị đụng đáy… Do ảnh hưởng chuỗi đập thủy điện thượng nguồn, Biển Hồ đang bị co cụm và ngày một cạn dần. Nguồn: hình của Tưởng Năng Tiến

Mới đây, tháng 10, 2017 TT Hun Sen khi chủ trì lễ khánh thành đập thủy điện Hạ-Sesan-2 ở Stung Treng, với công suất 400 MW và diện tích hồ chứa 340 km2 gần bằng nửa diện tích đảo quốc Singapore trở thành con đập lớn nhất trong số 7 đập thủy điện của Cambodia do Công ty Hydrolancang của Trung Quốc nắm 51% cổ phần, Tập đoàn Hoàng gia Cambodia nắm 39% cổ phần và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) nắm 10% cổ phần, và đáng nói là nguồn điện của đập Hạ-Sesan-2 sẽ được xuất cảng sang Việt Nam.

– Quan điểm từ Việt Nam: một Việt Nam vừa thỏa hiệp vừa bị động từ 1975, 1995 và cho tới nay. Việt Nam cũng đã xây các hồ chứa đập thủy điện trên các phụ lưu Sông Mekong trên cao nguyên Trung phần, như con đập Yali 720 MW (1996) trên sông Krong B’Lah ranh giới 2 tình Kontum và Gia Lai; các con đập khác trên sông Sesan và Seprok là phụ lưu Sông Mekong. Con đập Yali đã bị các cộng đồng cư dân các tỉnh đông bắc Cambodia lên án do làm cạn kiệt nguồn cá và cả những lần xả nước từ hồ chứa mà không thông báo trước đã bất ngờ gây lũ lụt, làm tổn thất tài sản và cả nhân mạng cho cư dân Cambodia phía dưới con đập. Hồ chứa những con đập phụ lưu của Việt Nam chẳng phải là vô can trong tình trạng thiếu nước khô hạn nơi ĐBSCL.

Một “chiến lược không chiến lược” lại có chính sách “nước đôi / double standard”, một mặt Việt Nam cần nước, mặt khác lại có chính sách đi mua thủy điện của Lào, của Cambodia và đi xa hơn nữa là đầu tư vào các công trình thủy điện của Lào như dự án đập dòng chính Luang Prabang của PetroVietnam, đập thủy điện Hạ Sesan-2 của Cambodia.

Trước những tác hại hiển nhiên của các con đập trên ĐBSCL: biến đổi dòng chảy, mất nguồn nước, mất nguồn phù sa và cá… Nhà nước Việt Nam luôn luôn bị chi phối bởi các nhóm lợi ích, không những đã không có tiếng nói quyết liệt ngăn chặn mà còn góp vốn đầu tư thực hiện dự án tai hại ấy, có thể ví như một hành động cầm súng tự bắn vào chân mình/ shoot oneself in the foot.

– Quan điểm từ MRC: trải qua 24 năm từ ngày thành lập, Ủy Hội Sông Mekong trải qua nhiều giám đốc điều hành, đã chứng minh MRC là một tổ chức không hiệu lực, tới mức đi tới nhận định: Hiệp Định Phát Triển Bền Vững Lưu Vực Sông Mekong 1995 hầu như đã tan vỡ.

Trong quá khứ và cả đến hiện nay, Ủy Hội Sông Mekong đã khá thụ động trước sự bộc phát của các dự án đập thủy điện Hạ Lưu. Các nhà hoạt động môi sinh kêu gọi tinh thần trách nhiệm của tổ chức liên chánh phủ này. Ủy Hội cần chứng tỏ là một tổ chức hữu ích cho quần chúng, chứ không phải là cho các nhà đầu tư”, Surichai Wankaew, giám đốc Viện Nghiên cứu Xã hội Đại học Chulalongkorn, Thái Lan nói tiếp Nhiệm vụ Ủy Hội thay đổi, thay vì ‘tạo thuận/ facilitation’ cho việc xây đập, thì nay phải là ‘diễn đàn / platform’ cho cư dân bị ảnh hưởng nói lên mối quan tâm của họ”. Cũng trước đó, đã có hơn 200 tổ chức môi sinh từ 30 quốc gia yêu cầu Ủy Hội và các nhà tài trợ ngưng ngay các dự án xây đập.

Một kháng thư gửi Ủy Hội Sông Mekong và các Cơ quan Tài trợ nhân cuộc họp tại Siem Reap vào ngày 15/11/2007: “Chúng tôi, những nhóm công dân viết lá thư này để bày tỏ mối quan tâm về sự tái phục hoạt các chương trình xây đập trong vùng Hạ lưu sông Mekong, cùng với sự bất lực của Ủy Hội thực hiện Thỏa ước Mekong 1995 trong tình hình nghiêm trọng hiện nay. Lẽ ra Ủy Hội có thể lên tiếng khuyến cáo ngăn chặn các dự án xây đập của các quốc gia ven sông nhưng họ thì vẫn cứ im lặng một cách đáng ngạc nhiên.

Giám đốc Điều hành Ban Thư ký Uỷ hội Sông Mekong (CEO / MRC Secretariat) hiện nay là TS Phạm Tuấn Phan, sinh quán Hà Nội, (là anh của Bộ trưởng Ngoại giao kiêm Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh kiêm Uỷ viên Bộ Chính Trị Việt Nam) có bằng tiến sĩ vật lý và điện toán từ Đại học Belarus thuộc Liên Xô cũ, một học vị ít liên quan tới lãnh vực môi sinh, thuỷ học và các hệ sinh thái sông ngòi. Ông Phan mang hai căn cước: căn cước của một công dân Việt Nam và căn cước của một công dân Mekong. Tại một Diễn đàn Khu vực liên quan tới Dự án thuỷ điện Pak Beng, con đập thủy điện dòng chính thứ ba của Lào họp tại Luang Prabang ngày 22.2.2017, TS Phạm Tuấn Phan, khi trao đổi với phóng viên Lê Quỳnh, báo Người Đô Thị đã phát biểu: “Thuỷ điện không khiến dòng Sông Mekong sẽ chết. Tôi nghĩ chúng ta nên hiểu rõ điều này trước đã”. [Hình 6]

Phát biểu của ông không những rất thiếu cơ sở khoa học, đi ngược lại quan điểm của bao nhiêu tổ chức bảo vệ môi sinh quốc tế và ngay trong lưu vực Sông Mekong từ bao năm nay. TS Phạm Tuấn Phan đã và đang gây tác hại cho nỗ lực bảo vệ Sông Mekong bấy lâu và cả rất thiếu trách nhiệm với các cộng đồng cư dân ven sông Mekong, trong đó có ngót 20 triệu cư dân trên chính vùng đất mẹ của ông, nơi mà “những người nông dân ĐBSCL đang khốn đốn muốn chết”,một số không ít đã bỏ đi tha phương cầu thực là điều rất dễ thấy.

Trước nguy cơ: mất nguồn nước ngọt, mất nguồn phù sa, và cả vùng châu thổ phì nhiêu đang chìm dần trong biển mặn. Hậu duệ của những thế hệ dũng mãnh tiên phong khai phá trong cuộc Nam Tiến cách đây mới ba trăm năm, thì nay đang bị bất động, không được quyền cất tiếng nói và đang phải tủi nhục chấp nhận lùi bước trước thảm hoạ bị xoá đi cả một nền Văn Minh Miệt Vườn và trong một tương lai không xa, rồi ra trên tầm vóc quốc gia, sẽ có những đợt tỵ nạn môi sinh/ ecological refugees vào giữa thế kỷ 21 này.

Hình 6: Tại Diễn đàn Khu vực liên quan tới Dự án thuỷ điện Pak Beng – con đập dòng chính thứ ba của Lào, họp tại Luang Prabang ngày 22.2.2017, các nhà báo đang phỏng vấn TS Phạm Tuấn PhanGiám đốc Điều hành Ban Thư ký Uỷ hội Sông Mekong. Khi trao đổi với phóng viên Lê Quỳnh, báo Người Đô Thị (người đang cầm máy ghi âm), ông Phạm Tuấn Phan đã mạnh mẽ phát biểu: “Thuỷ điện không khiến dòng Sông Mekong sẽ chết. Tôi nghĩ chúng ta nên hiểu rõ điều này trước đã.” Chắc chắn ông Phạm Tuấn Phan sẽ không nói câu đó nếu ông hiểu thế nào là “Dòng chảy Môi trường / Environmental Flow” để giữ cho con Sông Mekong không chết.  Photo by Thiện Ý

Mới đây, tạp chí Khoa học Nature 2018 có bài nghiên cứu nhan đề: Potential Disruption of Flood Dynamics in the Lower Mekong River Basin Due to Upstream Flow Regulation/ Tiềm năng Phá vỡ Động lực Lũ lụt Vùng Hạ lưu Sông Mekong là do điều tiết Dòng chảy từ Thượng nguồn.

“Lưu vực Sông Mekong / Mekong River Basin đang trải qua những biến đổi vô lường do gia tốc xây thêm những hồ chứa thủy điện lớn mới đây. Khi mà tình trạng thủy học Lưu vực Sông Mekong được hiểu rõ và ảnh hưởng của một số những con đập hiện nay đã được khảo sát. Chúng tôi dùng mô hình thủy-động-lực-học / hydrodynamic model simulations, chứng minh được rằng những hậu quả điều tiết dòng chảy từ thượng nguồn là có thể tiên lượng được dọc theo dòng chính Sông Mekong, và cơ chế điều tiết dòng chảy con Sông Tone Sáp và các phân lưu / distributaries nơi ĐBSCL có khả năng bị gián đoạn. Nghiên cứu cho thấy dòng chảy ngược / reversal của con Sông Tonle Sap có thể bị mất nếu nhịp đập của lũ / Mekong flood pulse trên sông Mekong giảm khoảng 50% và trễ đi một tháng.” (2)

Với Bắc Kinh, con chủ bài đang khống chế toàn lưu vực Sông Mekong và cả các Công ty xây đập đa phần là từ Trung Quốc, chắc chắn cả hai chánh phủ Trung Quốc và Lào phải cám ơn phát biểu cổ võ thủy điện / pro-dams của ông Phạm Tuấn Phan, như một tiếng nói có quyền lực từ Uỷ Hội Sông Mekong đang gián tiếp bênh vực họ – không khác quan điểm bấy lâu của TT Hunsen.

Lẽ ra, ở vị trí lãnh đạo một tổ chức đa quốc gia như MRC, TS Phạm Tuấn Phan nên ở vị trí trung lập chứ không phải là xếp hàng và chọn phe bênh vực thủy điện như ông đã làm, chức năng của ông cao hơn thế, lãnh đạo MRC như một tổ chức điều hợp giúp cho các quốc gia trong toàn lưu vực từng bước thực hiện được những bước “phát triển bền vững” như tinh thần cốt lõi của Hiệp Định về Hợp Tác Phát triển Bền vững Lưu vực Sông Mekong 1995.

NĂM NAY 2019 KHÔNG CÒN MÙA NƯỚC NỔI

Nhịp điệu ngàn năm của con sông Mekong. Hệ sinh thái vùng châu thổ Sông Cửu Long được cân bằng một cách tự nhiên với “mùa nước nổi” và “mùa nước giựt”. Mùa Nước Nổi thường hiền hoà khác hẳn với lũ lụt tàn phá dữ dội như ở miền Bắc hoặc miền Trung Việt Nam.

Vào mùa nước nổi, mực nước hai con Sông Tiền Sông Hậu có đặc tính dâng cao lên từ từ, tràn qua các bờ sông rạch, làm ngập các cánh đồng. Nước lũ có nhiều công dụng hữu ích không những chỉ rửa phèn, rửa tạp chất cho đất mà còn để lắng xuống một lượng phù sa như một thứ phân bón thiên nhiên tuyệt hảo “trời cho” khiến đất đai thêm phần màu mỡ, biến ĐBSCL thành vựa lúa, vựa cây trái trù phú của cả nước và Việt Nam đã từng đứng thứ hai trên thế giới về xuất cảng lúa gạo chỉ đứng sau Thái Lan.

Cùng với con nước đỏ ngầu mang đẫm phù sa, là các loại cá lội theo con nước vào ruộng đồng đẻ trứng, cho đến thời kỳ nước thấp thì nước từ trong đồng ruộng chảy ra, cùng với vô số cá từng đàn, ùa theo nhau tràn vào các kinh rạch để ra sông lớn. Do chưa bận mùa cấy trồng, người nông dân đóng đáy bắt cá suốt dọc theo các kinh rạch này, và trong mấy thập niên trước đây cá nhiều tới mức lưới không chịu nổi phải giở lên thả cá cho đi bớt; bằng không thì sẽ bị rách lưới. (1)

Đó là chuyện quá khứ, nay mọi sự đã đổi thay. Từ hai thập niên qua, hiện tượng cân bằng sinh thái tự nhiên đó hầu như đang dần dần biến mất. Và “mùa nước nổi” càng ngày càng giảm cả về cường độ lẫn tần suất. Hiện tượng đó không thể đổ cho thiên tai mà là “nhân tai” một thứ thảm hoạ môi sinh / ecological disaster do chính con người gây ra – mà thủ phạm chính là chuỗi đập thủy điện dòng chính khổng lồ Vân Nam của Trung Quốc trên Sông Lancang-Mekong và sẽ trầm trọng thêm với những con đập của Lào.

Hình 7: Sinh hoạt trong Mùa Nước Nổi 2000, nông dân rộn rã đóng đáy bắt cá suốt dọc theo các kinh rạch, nước lũ rửa sạch ruộng đồng, đem về phù sa, hứa hẹn cho một vụ được mùa gieo trồng. Photo by Ngô Thế Vinh

Từ đầu tháng 6 hàng năm, vào mùa Mưa nước lũ từ thượng nguồn sông Mekong đổ về, bắt đầu từ các tỉnh đầu nguồn ĐBSCL báo hiệu cho mùa nước nổi cao điểm vào khoảng cuối tháng 9 đầu tháng 10. Nhưng năm nay 2019, mọi chuyện không diễn ra theo chu kỳ như thế và có nguy cơ sắp tới sẽ không còn mùa Nước Nổi. Khi mà vùng Đông Bắc Thái Lan đang phải chịu một trận hạn hán thế kỷ, ảnh vệ tinh chỉ rõ mực nước Sông Mekong Vùng Tam Giác Vàng chưa bao giờ xuống thấp đến như thế.

Theo phóng viên Bình Nguyên, báo điện tử Cần Thơ 04 tháng 8, 2019: Những ngày cuối tháng 7, 2019 chúng tôi đi dọc tuyến biên giới An Giang, Đồng Tháp. Thông thường, những năm trước, đây là lúc nước lũ đã tràn đồng, trên đó là cảnh đánh bắt cá đồng của người dân. Giờ đây, cũng dọc theo những cánh đồng đó là ruộng nứt nẻ, những chiếc ghe nằm chỏng trơ trên bãi bồi…”(5)

Theo Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia nghiên cứu độc lập lâu năm về sinh thái ĐBSCL, cho biết: “Một năm trung bình sông Mekong có tổng lượng nước là 475 tỉ m3, trong đó lượng mưa tại chỗ ở ĐBSCL chỉ chiếm 11% số đó. Vì vậy, mực nước ở ĐBSCL phụ thuộc lớn vào lượng nước từ phía trên chảy về. Nước ở lưu vực Mekong ít thì nước ở ĐBSCL giảm, kéo theo đỉnh lũ thấp vào khoảng giữa tháng 10 ở ĐBSCL và xâm nhập mặn sẽ lấn sâu vào khoảng tháng 3 dương lịch, sau Tết Nguyên đán”

“Kinh nghiệm cho thấy như năm 2016 là năm khô hạn cực đoan thì ít có biện pháp nào để đối phó. Dù có công trình cống đập ngăn mặn thì cũng không có tác dụng ngăn mặn, vì bên trong không đủ nước thì ngăn mặn vô ích… Năm nay mùa lũ không về thì nguồn thủy sản tự nhiên sẽ giảm, cuộc mưu sinh của những người dân đánh bắt thủy sản tự nhiên sẽ gặp khó khăn. Sau một năm khô hạn như thế thì năm sau dù có lũ trở lại cá vẫn sẽ ít vì chưa kịp phục hồi”- Vẫn ông Thiện nói. (5)

Theo Tiến Sĩ Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu về biến đổi khí hậu, Đại học Cần Thơ, mực nước trên sông Mekong qua ĐBSCL thấp so với cùng kỳ. Đó là chỉ dấu cho thấy mùa lũ sắp tới nếu có cũng sẽ rất thấp và dẫn tới các hệ quả là phù sa ngày càng ít dần, lượng thủy sản ít, không có đủ nước ngọt để đẩy mặn ra xa và không rửa được phèn và tạp chất khác trong đất. Qua đó làm ảnh hưởng đến năng suất lúa và cây trồng. Về giải pháp là cần khuyến cáo ngay việc giảm tối đa diện tích sản xuất lúa, trữ nước mưa nhiều nhất có thể… Ngoài ra là chọn những giống cây trồng ít sử dụng nước để gieo trồng.” (5) [Hết lược dẫn]

Không có đủ nguồn nước ngọt, trong một tương lai gần, Đồng Bằng Sông Cửu Long không còn là vựa lúa và cả nước mất đi nguồn lương thực rất quan trọng, nói chi tới một Việt Nam chỉ mới hai thập niện trước đây thôi, đã từng là quốc gia xuất cảng lúa gạo lớn thứ hai của thế giới, chỉ đứng sau có Thái Lan.

MỘT HIỆP ƯỚC 1995 MỘT TINH THẦN SÔNG MEKONG

Người ta hy vọng với những kinh nghiệm đã có từ Ủy hội Sông Mekong tích lũy từ nhiều năm, sẽ giúp cho TS Phạm Tuấn Phan – một công dân đầu tiên từ lưu vực Sông Mekong đảm nhiệm chức Giám đốc MRC, có được sự hiểu biết về những vấn đề mang tính quyết định đối với tổ chức này, sẽ giúp ông lãnh đạo một cách hiệu quả vào thời điểm cam go trên một vùng chính trị địa dư / geopolitics đang có rất nhiều biến động và cả phân hóa như hiện nay.
Hai thử thách trước mắt và bước thứ ba lâu dài của TS Phạm Tuấn Phan, cũng là của toàn cơ chế Ủy Hội Sông Mekong sau quá trình hoạt động hơn 24 năm [1995-2019] là:

(1) Thuyết phục các quốc gia thành viên Ủy Hội Sông Mekong tôn trọng tinh thần “Hiệp Ước Hợp Tác Phát Triển Bền Vững Lưu Vực Sông Mekong” 1995: “Các quốc gia thành viên ký kết đồng ý là “bằng mọi cố gắng phòng tránh, làm nhẹ hay giảm thiểu những hậu quả tác hại trên môi trường… do phát triển và xử dụng Lưu vực Sông Mekong.” Theo Điều 6, 7 Mekong 1995.

(2) Thuyết phục được chánh phủ Lào và cả Cambodia tôn trọng một trật tự vùng, bằng cách không vội vã thực hiện tất cả các dự án đập dòng chính trên lãnh thổ Lào và Cambodia để có thêm thời gian nghiên cứu thêm và bổ xung những khiếm khuyết.

(3) Thực hiện “Kế hoạch Chiến lược / MRC Strategic Plan”, tăng cường và mở rộng hợp tác với các quốc gia thượng nguồn Lancang-Mekong trên quy mô “Toàn Lưu Vực”, chủ yếu bao gồm cả Trung Quốc, quốc gia sở hữu hơn nửa chiều dài con sông Mekong nhưng đã lại từ chối làm thành viên của Ủy Hội Sông Mekong mở rộng.

Thực hiện và vượt qua được các bước thử thách trên sẽ là một thành quả không phải chỉ của cá nhân ông Phạm Tuấn Phan, mà cũng là “lý do hiện hữu / raison d’être” của chính ông và tổ chức có danh xưng là Ủy Hội Sông Mekong.

Nhiệm vụ của TS Phạm Tuấn Phan cũng sẽ dễ dàng hơn nếu ông có một trái tim và cả biết lắng nghe lời kêu than thống thiết của những cư dân sống ven sông và cả rất nhiều tiếng nói của các các nhóm xã hội dân sự khác.

Ngoại trừ các cộng đồng cư dân Thái Lan, tiếng nói các nhóm xã hội dân sự của 3 quốc gia Mekong còn lại phải nói là rất yếu ớt. Với Việt Nam, tuy phải gánh chịu tất cả hậu quả suy thoái của con Sông Mekong vì là quốc gia cuối nguồn; nhưng đến bao giờ thì những người dân Miền Tây quanh năm cực nhọc, sống dưới mức nghèo khó ấy mới cất lên được tiếng nói và đến bao giờ thì tiếng nói của họ mới được lắng nghe.

Sinh kế của ngót 20 triệu dân cư ĐBSCL, an ninh lương thực của cả nước, nền văn hoá sông nước và tài nguyên môi sinh miền Nam bị huỷ hoại và rơi vào thảm trạng này là vì sao? Quy trách chuỗi đập nơi các quốc gia thượng nguồn là đúng. Nhưng làm sao ngăn họ lại khi Việt Nam cũng xây đập trên các phụ lưu Mekong ở VN? Khi VN nhận phần chia đầu tư vào dự án lớn nhất dòng chính Luang Prabang của Lào? Khi VN ký nhận làm đối tác mua thuỷ điện từ chính những dự án Mekong với phản đối chiếu lệ? Khi CEO của MRC là cho một người Việt, có ảnh hưởng ở cấp chính phủ và chủ trương ủng hộ thuỷ điện? Khi VN không khiếu kiện Lào theo luật quốc tế? Xét một chuỗi sự kiện nói trên, VN đã thất thủ chiến lược, đã bỏ ĐBSCL để đổi lấy những món lợi rất ngắn hạn nói trên.

Năm nay 2019, trước cơn Đại hạn của Thế kỷ đang là một hồi chuông cảnh giác cho toàn lưu vực với ước vọng đã tới lúc phải hàn gắn những đổ vỡ, phục hồi niềm tin. Một Hiệp ước Vùng thì đã có rồi, nhưng làm sao chính phủ các nước đặt bút ký vào Hiệp ước 1995 ấy phải biết tôn trọng các điều khoản, không chỉ để bảo vệ quyền lợi dân tộc mình mà cao hơn thế nữa là tiến tới triển vọng hợp tác trong “Tinh Thần Sông Mekong” như một mẫu số chung để cùng nhau phát triển, cùng nhau hướng tới một tương lai thịnh vượng chung và hòa bình cho toàn vùng.

NGÔ THẾ VINH

California, 23.08.2019

_______

Tham Khảo:

1/ Đọc tác phẩm Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng. Đỗ Hải Minh, Tập san Thế Kỷ 21, Số 139, 11/ 2000. Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch, Ngô Thế Vinh, Nxb Văn Nghệ 2007.

2/ Potential Disruption of Flood Dynamics in the Lower Mekong River Basin Due to Upstream Flow Regulation. Yadu PokhrelSanghoon ShinZihan LinDai Yamazaki & Jiaguo Qi, NATURE 2018 https://www.nature.com/articles/s41598-018-35823-4

3/ Mekong: Trận “hạn hán thế kỷ” nhìn từ quan điểm hạ lưu. Phạm Phan Long, VOA 25.07.2019 https://www.voatiengviet.com/a/mekong-tran-han-han-lich-su-ha-luu/5013842.html

4/ Prayut: China, Laos, Myanmar asked to release water. Mongkol Bangprapa, Bangkok Post 24.07.2019 https://www.bangkokpost.com/thailand/general/1718087/prayut-china-laos-myanmar-asked-to-release-water

5/ Đầu nguồn “khát nước” và những nỗi lo. Bình Nguyên, Báo Cần Thơ Online: 04.08.2019 https://baocantho.com.vn/dau-nguon-khat-nuoc-va-nhung-noi-lo-a111866.html 6/ Việt Nam phải mạnh mẽ đối với các nước thượng nguồn Mekong dù đó là nước nào?! Thanh Trúc phỏng vấn Brian Eyler, tác giả cuốn những ngày cuối của dòng sông Mekong Vĩ Đại, 2019-08-01 https://www.rfa.org/vietnamese/video?v=0_gx0108ik 7/ Damming the Mekong Basin to Environmental Hell. BRAHMA CHELLANEYProject-Syndicate, Aug 2, 2019 https://www.project-syndicate.org/commentary/china-dams-mekong-basin-exacerbate-drought-by-brahma-chellaney-2019-08

* ACMECS: Ayeyawady-Chao Phraya-Mekong Economic Cooperation Strategy / Chiến lược Hợp tác Kinh tế Ayeyawady-Chao Phraya-Mekong (tên 3 dòng sông Ayeawady, Chao Phraya, Mekong) bao gồm 4 quốc gia: thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á: Thái Lan, Lào, Cambodia,Việt Nam và Myanmar.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Đánh lại cũng khó mà ngồi yên cũng khó

Trương Nhân Tuấn

24-8-2019

Chỉ có một lý do để giải thích vì sao TQ dồn VN đến chân tường qua việc cho tàu HD8 vào sâu trong hải phận EEZ của VN, ngoài khơi Phan Thiết. Đó là TQ muốn “chiến tranh”. Việt Nam chắc chắn không thể ngồi yên để cho tàu bè nghiên cứu, tàu hải giám (và quân sự?) của TQ ra vô vùng biển thuộc quyền tài phán của quốc gia mình như chỗ không người.

Vì sao?

Có lẽ vì TQ không muốn các xí nghiệp rút đi từ TQ, do chiến tranh thương mại với Mỹ, sang đặt căn cứ ở VN (hay các quốc gia ASEAN). Nếu các xí nghiệp này không “trụ” lại ở TQ thì sẽ không thể đi đâu hết. Nếu không làm việc này thì không bao lâu TQ gặp hiểm nguy. TQ trở thành phụ thuộc với Mỹ. Hàng hóa xuất xứ từ TQ sẽ bị hàng hóa xuất xứ từ VN (hay các quốc gia ASEAN) thay thế. Lúc đó Mỹ (và thế giới) sẽ không cần TQ nữa (mà TQ thì ngược lại, luôn lệ thuộc vào kinh tế Mỹ và thế giới).

TQ cũng có tính toán chiến lược. Theo một lý thuyết “địa chính trị” của tây phương mà các lãnh đạo TQ như Tưởng Giới Thạch, Mao Trạch Đông… bị ảnh hưởng sâu xa. Một đại cường muốn giữ được vị thế của mình thì sẽ không bao giờ cho phép một quốc gia kế cận có cơ hội vươn lên thành cường quốc.

Thực tế cho thấy, thời thời chiến tranh lạnh, đại cường Liên Xô không cho phép bất kỳ một “vệ tinh” nào của khối XHCN có cơ hội “ngang mặt” với Liên Xô. Ta cũng thấy toàn bộ lục địa Châu Mỹ, không một quốc gia nào có thể thách thức được vị trí của Hoa Kỳ.

Vì vậy TQ sẽ không bao giờ để cho VN một cơ hội phát triển để “thoát Trung”, chớ đừng nghĩ tới VN trở thành “đại cường” thách thức TQ.

Hiện nay TQ răn đe áp thuế trên 75 tỉ USD hàng hóa nhập khẩu từ Mỹ. Trump xem đó như một khiêu khích, tức thời ra lệnh đánh thuế từ 10 lên 15% trên các mặt hàng TQ dự kiến áp thuế từ ngày 1 tháng 9/2019. Còn các mặt hàng dự kiến đánh thuế 25% thì tăng lên 30% dự kiến có hiệu lực ngày 1 tháng 10/2019.

TQ có “phục tùng” ông Trump vì các hành vi áp thuế này hay không?

Theo tôi là không. Bởi vì, đến thời điểm hiện nay, Mỹ cần TQ hơn TQ cần Mỹ. Đơn giản vì Mỹ không (hay chưa) có hàng hóa thay thế hàng TQ. Ngay cả khi các xí nghiệp Mỹ “hồi hương”, thì vấn đề thiếu hụt công nhân sẽ khiến cho Mỹ chậm trễ trong việc “tự túc”.

Nhưng nếu Mỹ tức thời có lệnh cấm xuất khẩu hàng hóa sang TQ, như lời đồn đại?

TQ có thể thay thế hàng hóa nhập từ Mỹ bằng hàng hóa nhập từ Nhật và Châu Âu hay không, hoặc TQ có thể tự động sản xuất những mặt hàng thay thế, là các yếu tố quan trọng cho “chiến tranh thương mại”.

Và nếu Mỹ cấm vận TQ (như đồn đại trên mạng), không cho TQ sử dụng đồng đôla thì cũng có nguồn tin cho rằng TQ đang vận động để thay thế đồng đôla bằng vàng. Mọi thanh toán của TQ từ nay không tính bằng đôla mà bằng vàng.

Trở lại vấn đề, VN đang trong thế bị ép đến cùng đường. Đánh lại cũng khó mà ngồi yên cũng khó.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Triển khai nghị quyết 50-NQ/TW của Bộ Chính trị ở đâu và như thế nào?

Triển khai nghị quyết 50-NQ/TW của Bộ Chính trị ở đâu và như thế nào?

Nguyễn Ngọc Chu

23-8-2019

Ngày 20/8/2019 TBT Nguyễn Phú Trọng đã ký Nghị quyết số 50-NQ/TW trong đó yêu cầu “Xây dựng cơ chế đánh giá an ninh và tiến hành rà soát an ninh đối với các dự án, hoạt động đầu tư nước ngoài có hoặc có thể ảnh hưởng đến an ninh quốc gia”(Tuổi trẻ 22/8/2019).

Đây là một quyết định tuy rất muộn nhưng đúng hướng. Dẫu muộn còn hơn không!

I. AN NINH QUỐC GIA LÀ TỐI THƯỢNG

An ninh Việt Nam từ năm 1987 đến nay đã bị lũng đoạn bởi người hàng xóm phương Bắc. Chính họ chứ không ai khác là thế lực thù địch duy nhất của Việt Nam hiện nay. Sự thức tỉnh của Nghị quyết 50-NQ/TW:

“Tiến hành rà soát an ninh đối với các dự án, hoạt động đầu tư nước ngoài có hoặc có thể ảnh hưởng đến an ninh quốc gia”
là một tín hiệu rất đáng mừng.

II. THỰC THI MỚI LÀ QUAN TRỌNG

Dẫu vậy, từ Nghị quyết 50-NQ/TW trên giấy đến thực tiễn là một con đường rất dài. Hiệu quả thực tế cuối cùng mới là thước đo thành công của Nghị quyết 50-NQ/TW. Có 2 hướng chính phải hành động quyết liệt.

1. Rà soát lại an ninh của các dự án đang tồn tại. Những nơi nào ảnh hưởng và nguy hiểm đến an ninh thì phải có những biện pháp loại bỏ.

2. Không duyệt các dự án mới tiềm ẩn nguy cơ an ninh quốc gia.

III. NHỮNG ĐIỂM ĐÁNG LƯU Ý CỦA NGHỊ QUYẾT 50-NQ/TW

Theo Tuổi trẻ ngày 22/8/2019 thì Nghị quyết 50-NQ/TW có mấy điểm nổi bật đáng lưu ý sau đây.

1. Đề cao tiêu chí an ninh quốc gia

“Tiến hành rà soát an ninh đối với các dự án, hoạt động đầu tư nước ngoài có hoặc có thể ảnh hưởng đến an ninh quốc gia”.

2. Đề cao tiêu chí công nghệ tiên tiến và chống ô nhiễm môi trường

“Chủ động thu hút, hợp tác đầu tư nước ngoài có chọn lọc, lấy chất lượng, hiệu quả, công nghệ và bảo vệ môi trường là tiêu chí đánh giá chủ yếu”.

“Ưu tiên các dự án có công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ cao, công nghệ sạch, quản trị hiện đại, có giá trị gia tăng cao, có tác động lan tỏa, kết nối chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu”.

3. Chống đầu tư “chui”, “núp bóng”

IV. NHỮNG HIỂM HỌA CỦA CÁC DỰ ÁN ĐẾN TỪ TRUNG QUỐC

Để giúp xác định đâu là các dự án nguy hiểm cho an ninh quốc gia phù hợp với Nghị quyết 50-NQ/TW, xin lưu ý 9 nhóm hiểm họa đến từ các dự án của Trung Quốc mà tham chiếu.

1. Bị cài cắm gián điệp.
2. Bị cấy người bằng đội quân thứ 5.
3. Không hiệu quả về kinh tế.
4. Không tiếp cận được công nghệ và thiết bị tiên tiến.
5. Không được sử dụng các thành phẩm chất lượng.
6. Bị ô nhiễm và độc hại.
7. Bị lây lan bệnh hối lộ tham nhũng, đút lót…
8. Bị tiêm nhiễm những thói hư tật xấu trong lao động và trong cuộc sống.
9. Bị sa vào con nợ kinh tế khó có lối thoát.

V. MỤC TIÊU CẤP THIẾT CỤ THỂ

Nghị quyết 50-NQ/TW đã chỉ ra hiện tượng NÚP BÓNG và CHUI trong các dự án đầu tư nước ngoài. Chiếu theo Nghị quyết 50-NQ/TW thì:

1. Không giao dự án đường cao tốc Bắc – Nam cho Trung Quốc. Vì nó nguy hiểm cho an ninh quốc gia.

2. Không cho hàng hóa Trung Quốc tràn qua Việt Nam, núp bóng hàng hóa Việt Nam xuất đi các nước. Để tránh các nước trừng phạt Việt Nam.

3. Không triển khai các dự án có công nghệ lạc hậu đến từ Trung Quốc.

VI. LO LẮNG

Nghị quyết 50-NQ/TW có ba dòng kẻ thù đang tìm cách cản trở. Đó là:

1. Lực lượng Trung Quốc, thân Trung Quốc, và chịu ảnh hưởng của Trung Quốc trong nội bộ Việt Nam.

2. Sự chống trả của Trung Quốc từ ngoài.

3. Cơ chế làm tha hóa và vô hiệu hóa lực lượng người Việt chịu trách nhiệm thực thi Nghị quyết 50-NQ/TW.

Cuối cùng thì bộ mặt lộ liễu ngang ngược của Trung Quốc ở Bãi Tư Chính đã làm cho thế lực bị ảnh hưởng bởi Trung Quốc phải tạm thời lùi bước.

Mạnh hơn, tiến tới phải loại bỏ chúng hoàn toàn khỏi đời sống chính trị Việt Nam. Làm được như vậy an ninh quốc gia mới bớt phần nguy hiểm.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Bãi Tư chính: ‘Rủi ro đụng độ quân sự cao’ khi đối đầu lần hai?

Bãi Tư chính: ‘Rủi ro đụng độ quân sự cao’ khi đối đầu lần hai?

Bãi Tư Chính: Diễn biến mới khi Hải dương 8 quay lại biển Việt Nam

Đối đầu lần hai ở bãi Tư Chính và khu vực lân cận trên Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc đang tăng cao và nếu không được quản lý đúng mức, sẽ có thể tạo ra rủi ro đụng độ quân sự cao, một nhà nghiên cứu an ninh và chính trị khu vực từ Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (Iseas, Singapore) bình luận.

“Nếu tàu chiến hai bên vờn nhau, bên Trung Quốc hộ tống và bao bọc tàu thăm dò trái phép, bên Việt Nam đuổi tàu thăm dò trái phép, và bây giờ, là đuổi cả tàu chiến Trung Quốc, thì rủi ro đụng độ quân sự sẽ tăng cao”, TS. Hà Hoàng Hợp, nhà nghiên cứu cao cấp của Viện Iseas nói với BBC News Tiếng Việt hôm 18/8/2019 từ Hà Nội.

“Cuộc tập trận của Trung Quốc trước khi xảy ra vụ Tư Chính, trước khi có cuộc họp các ngoại trưởng Asean và các cuộc gặp Asean với Mỹ, Trung Quốc, Nhật, Ấn Độ, EU…. thực chất là Trung Quốc dọa nạt Việt Nam và các nước Asean có tuyên bó chủ quyền ở biển Đông,” vẫn theo ông Hà Hoàng Hợp.

Bãi Tư Chính: ‘Việt Nam lại phản đối và yêu cầu TQ rút tàu đi’

‘Nếu gây chiến ở Biển Đông, Trung Quốc sẽ hở sườn’

Trở lại bãi Tư Chính, toan tính của Trung Quốc đã rõ?

VN ‘quá rụt rè trước TQ’ trong vấn đề Biển Đông

Dưới đây là toàn văn cuộc trao đổi được thực hiện qua bút đàm với nhà quan sát và nghiên cứu chính trị này.

BBC: Tình hình cập nhật hiện nay ở khu vực đối đầu giữa Trung Quốc và Việt Nam trên Biển Đông thế nào, theo quan sát của Tiến sỹ?

Tiến sỹ Hà Hoàng Hợp: Một số nguồn tin cho biết có ít nhất một tàu chiến Việt Nam đang làm nhiệm vụ thực thi pháp luật biển ở vùng bãi Tư Chính. Nếu tin này đúng, thì đây không phải lần đầu Việt Nam dùng tàu hải quân thực thi pháp luật trên biển. Năm 1994, tàu hải quân Việt Nam đã xua đuổi tàu thăm dò Trung Quốc khỏi vùng bãi Tư Chính.

Việc sử dụng tàu hải quân để thực thi pháp luật trên biển là hợp pháp, và cũng là biện pháp hòa bình kiên quyết hơn.

Nhưng nó cũng tăng rủi rô đụng độ quân sự giữa Việt Nam và Trung Quốc ở vùng biển gần bãi Tư Chính.

Rủi ro đụng độ quân sự?

TS. Lê Hồng Hiệp từ Singapore bình luận thực chất việc TQ điều tàu trở lại Bãi Tư Chính.

BBC:Có tin tức cho hay nhiều tàu của Trung Quốc ‘đang kéo vào’ và Việt Nam ít nhất đã cử hai tàu chiến ra khu vực, nếu các thông tin này là có cơ sở, diễn biến này có ýnghĩa thế nào và có thể có hệ lụy ra sao, thưa ông?

TS. Hà Hoàng Hợp: Các nguồn tin cũng cung cấp đồ họa AIS của sự chuyển vận của ít nhất 2 tàu chiến Trung Quốc hướng về vùng biển gần bãi Tư Chính.

Biển Đông: ‘Rủi ro không nhỏ’ nếu TQ quay trở lại Bãi Tư Chính

Thương chiến Mỹ – Trung, đối đầu Biển Đông và thách thức với TQ

Biển Đông: “Nhiều khả năng TQ sẽ trở lại Bãi Tư Chính với dàn khoan”

TQ: Tập Cận Bình đang gặp thách thức lớn nào?

Nếu tàu chiến hai bên vờn nhau, bên Trung Quốc hộ tống và bao bọc tàu thăm dò trái phép, bên Việt Nam đuổi tàu thăm dò trái phép, và bây giờ, là đuổi cả tàu chiến Trung Quốc, thì rủi ro đụng độ quân sự sẽ tăng cao.

Với tình hình này, hải quân hai nước cần thực hiện đúng CUES (thỏa thuận không ràng buộc nhằm tránh các đụng độ không chủ định.)

Nếu không theo CUES, lại để xảy ra đụng độ, thì chắc hẳn sẽ có đụng độ quân sự lớn hơn và tình hình sẽ trở nên vô cùng khó quản trị.

Tập trận dọa nạt ai?

BBC: Mới đây Trung Quốc tiến hành tập trận ở Biển Đông, việc này diễn ra gần như trùng thời gian với sự kiện đối đầu từ đầu tháng Bảy ở bãi Tư Chính và vùng nước kề cận, mục đích của đợt tập trận này là gì?

TS. Hà Hoàng Hợp: Cuộc tập trận của Trung Quốc trước khi xảy ra vụ Tư Chính, trước khi có cuộc họp các ngoại trưởng Asean và các cuộc gặp Asean với Mỹ, Trung Quốc, Nhật, Ấn Độ, EU…. thực chất là Trung Quốc dọa nạt Việt Nam và các nước Asean có tuyên bố chủ quyền ở biển Đông, việc bắn bắn tên lửa diệt hạm từ tàu chiến và từ đất liền, đảo… là đe dọa xung đột với hải quân đối với Mỹ và tất cả các nước có hoạt động hải quân trên vùng biển quốc tế.

Bà Lê Thị Thu HằngBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTái diễn vi phạm chủ quyền Việt Nam của Trung Quốc là nghiêm trọng theo người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam, bà Lê Thị Thu Hằng

Đấy cũng là cảnh báo Mỹ khi Mỹ tiến hành tuần tra tự do hàng hải.

Trung Quốc đang làm mọi cách để chiếm biển Đông sau khi tuyên bố về đường 9 đoạn.

Ngày 16 tháng Tám, Việt Nam đã ra tuyên bố tiếp tục yêu cầu Trung Quốc rút nhóm tàu. Phát ngôn viên ngoại giao Việt Nam khẳng định Việt Nam sẽ kiên quyết và kiên trì bảo vệ quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam bằng mọi cách.

BBCHiệu ứng, hiệu quả của việc phát ngôn của Việt Nam hôm 16/8 phản đối Trung Quốc “tái xâm phạm nghiêm trọng” chủ quyền của Việt Nam ra sao? Phía Trung Quốc sẽ tiếp tục phớt lờ và sẽ còn có thêm các động thái khác gây quan ngại hơn với Việt Nam hay thế nào, theo ông?

TS. Hà Hoàng Hợp: Trung Quốc đã và đang phớt lờ yêu cầu rút nhóm tàu khỏi vùng biển quanh bãi Tư Chính là nơi Việt Nam có chủ quyền kinh tế, có quyền chủ quyền và quyền tài phán.

Trung Quốc từ thương chiến đến Biển Đông

VN: ‘Bãi Tư Chính’ và Cơ hội thoát Trung

Quan hệ Việt – Trung: Bãi Tư Chính là thời điểm thay đổi với VN?

Carl Thayer: ‘Tam giác ngoại giao VN, TQ và Mỹ sẽ còn căng’

Sau khi rút tàu thăm dò ra bãi Chữ Thập để lấy dầu… Trung Quốc lại đưa tàu thăm dò đó vào vừng bãi Tư Chính, tiến hành thăm dò ở một vùng mặt nước khác với đợt trước ngày 8 tháng Tám.

Bài báo trên Tạp chí Forbes
Image captionMột bài báo đăng trên tạp chí Forbes hôm 17/8/2019 nhắc đến tâm gương của Việt Nam và Malaysia trên Biển Đông cho Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte

Cùng lúc, Trung Quốc đã đưa thêm một số tàu chiến vào vùng biển thuộc Philippines, thách thức chủ quyền và các quyền khác của Philippines. Như vậy, Trung Quốc đang dọa nạt 3 trong 4 nước Asean có tuyên bố chủ quyền ở biển Đông.

Bản chất là Trung Quốc muốn chiếm trên 90% biển Đông. Và muốn ép các nước Asean công nhận thứ chủ quyền đó bằng một quy tắc ứng xử có lợi cho Trung Quốc và có hại cho Asean.

Việt Nam là tấm gương?

BBC: Trái lại với các ý kiến quan ngại rằng Việt Nam có chính sách khá ‘yếu mềm’ trước Trung Quốc, mới đây đã có nhà nghiên cứu quốc tế cho rằng Việt Nam (và cả Malaysia) thực ra đều có đối sách mạnh mẽ và khôn ngoan mà khu vực, cụ thể là Philippines, cần học tập, thậm chí ý kiến này còn gợi ý rằng Tổng thống Rodrigo Duterte nên đi thăm Việt Nam và Malaysia trước khi tới Trung Quốc, để học hỏi đối sách của hai nước nàytrước Trung Quốc về Biển Đông, ‎ông có nhận xét gì?

TS. Hà Hoàng Hợp: Thực tế người ta chưa hiểu hết bản chất của chính sách của tổng thống Philippines Duterte.

Philippines có lợi thế lớn và căn bản, là tòa PCA đã có phán quyết phủ nhận mọi yêu sách của Trung Quốc liên quan đến Philippines.

Tổng thống Duterte vừa qua đã tiếp ông Hoàng Bình Quân, trưởng ban đối ngoại trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, chắc chắn ông ấy hiểu rõ chính sách và hành động của Việt Nam ở biển Đông.

Philippines cũng có lợi thế lớn lao, là quan hệ đồng minh với Mỹ.

Cho dù có khác biệt giữa ba quốc gia: Philippines, Malaysia, Việt Nam, cả ba quốc gia đều đang hành động để chống lại đường lối bá quyền ở biển Đông của Trung Quốc.

BBC: Cuối cùng, quốc tế và khu vực đang quan sát ra sao các động thái liên quan tới Trung Quốc trên Biển Đông vào thời điểm này, nhất là cùng lúc Trung Quốc dường như đang gặp không ít thách thức ở đối nội, tại Hong Kong lẫn ở khu vực và bên ngoài? Có dự đoán hay cảnh báo gì đáng kể không từ các giới quan sát về tình hình an ninh ở khu vực hiện nay và cho thời gian tới đây?

Tàu Hải Dương 8 trở lại, Việt Nam phải làm gì?

TS Hà Hoàng HợpBản quyền hình ảnhBBC NEWS TIẾNG VIỆT
Image captionTrung Quốc đẩy mạnh việc chiếm hơn 90% biển Đông sau khi đã quân sự hóa 7 đảo nhân tạo, theo nhà phân tích

Bãi Tư Chính: Nhận thức của người dân VN ‘đã cao hơn trước’

Tuyên bố chung ASEAN nhắc đến ‘sự cố nghiêm trọng’ ở Biển Đông

Nhật Bản quan ngại về căng thẳng Biển Đông

TS. Hà Hoàng HợpHiện nay, Trung Quốc đang phải xử lý các vấn đề phát triển kinh tế, thương mại trong lúc đang gặp khó khăn với Mỹ về các vụ áp thuế.

Trung Quốc cũng cần đẩy mạnh sáng kiến vành đai và con đường. Trung Quốc đang gặp khó khăn trong vụ Hong Kong. Vấn đề Đài Loan, biển Hoa Đông, Tân Cương, biên giới với Ấn Độ v.v… là các vấn đề lớn đối với Bắc Kinh.

Chiến lược biển Đông của Trung Quốc không có gì thay đổi; Trung Quốc đẩy mạnh việc chiếm hơn 90% biển Đông sau khi đã quân sự hóa 7 đảo nhân tạo.

Nếu so sánh lúc này, với thời kỳ giữa thế kỷ 18, trước khi Trung Quốc bị các nước phương Tây chia cắt, có thể thấy có một số điểm tương tự: Trung Quốc đang thực hiện chính sách bá quyền trước hết là ở châu Á, bất chấp các quy tắc chung. Trung Quốc đe dọa an ninh khu vực, làm mất niềm tin của láng giềng.

Vấn đề chắc không phải là vì gặp khó khăn bên trong, thì gây ra điều gì ở bên ngoài để đánh lạc hướng dư luận nội bộ.

Vấn đề của Trung Quốc là chính sách bá quyền của Trung Quốc đang vấp phải sự phản kháng từ cộng đồng quốc tế, trong đó có Việt Nam.

Đường lối bá quyền lúc này của Trung Quốc không hứa hẹn hòa bình ít nhất cho khu vực châu Á.

Tiến sỹ Hà Hoàng Hợp, mà phần trả lời ở trên là quan điểm cá nhân, đồng thời là thành viên nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (IISS) có trụ sở tại London, Anh quốc, ông có nhiều nghiên cứu và phân tích về chính trị, chiến lược và địa chính trị liên quan Việt Nam, quốc tế và khu vực.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Tàu Hải Dương 8 vào gần bờ biển VN, ‘cách Phan Thiết 185km

Tàu Hải Dương 8 vào gần bờ biển VN, ‘cách Phan Thiết 185km’

Ryan Martinson / TwitterBản quyền hình ảnhRYAN MARTINSON / TWITTER
Image captionChuyên gia Ryan Martinson đăng bản đồ vị trí tàu Hải Dương Địa Chất 8 trong buổi sáng ngày 24/8 (giờ Việt Nam)

Tàu Hải Dương Địa Chất 8 của Trung Quốc hôm thứ Bảy mở rộng hoạt động tới khu vực sát với bờ biển của Việt Nam hơn, ngay sau khi Úc và Mỹ lên tiếng tỏ ý quan ngại về các hoạt động của Bắc Kinh tại Biển Đông.

Trong ngày 24/8 giờ Việt Nam, ông Ryan Martinson, thành viên chủ chốt của Viện Nghiên cứu Hải quân Trung Quốc thuộc Đại học Chiến tranh Hải quân, Hoa Kỳ, đăng tweet rằng tàu Hải Dương 8 đang khảo sát ở vị trí rất gần với bờ biển Việt Nam.

Việt Nam, Úc bày tỏ quan ngại về căng thẳng ở Biển Đông

Bãi Tư Chính: VN tái yêu cầu Trung Quốc rút tàu

Tàu Hải Dương 8 quay trở lại Bãi Tư Chính

Tàu khảo sát, với sự hộ tống của ít nhất bốn tàu khác, đang tiếp tục tiến hành khảo sát Vùng Đặc quyền Kinh tế của Việt Nam ở vị trí cách đảo Phú Quý 102km về phía đông nam và cách bờ biển Phan Thiết 185km, Reuters dẫn nguồn dữ liệu từ Marine Traffic, trang chuyên theo dõi sự di chuyển của các tàu bè.

Theo luật quốc tế, vùng đặc quyền kinh tế của một quốc gia được tính với bề rộng 200 hải lý (370km) kể từ đường bờ biển, và là vùng quốc gia đó có quyền chủ quyền khai thác tài nguyên.

Biển ĐôngBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTrung Quốc sử dụng nhiều phương tiện khác nhau, trong đó có các tàu ‘nghiên cứu’ Hải Dương Địa Chất, đưa vào các khu vực ‘tạo tranh chấp’ và có tranh chấp ở Biển Đông và khu vực

Các dữ liệu cũng cho thấy có ít nhất hai tàu hải quân Việt Nam theo sát nhóm tàu Trung Quốc.

Việt Nam ‘vô cùng quan ngại’

Việt Nam “vô cùng quan ngại” về những diễn biến gần đây trên Biển Đông, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói hôm thứ Sáu, trước khi có tin tàu Hải Dương Địa Chính 8 tiến vào sát hơn.

“Chúng tôi quan ngại sâu sắc về những diễn biến phức tạp gần đây trên Biển Đông, nhất trí cùng hợp tác, bảo đảm duy trì hoà bình, ổn định an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hàng không, không sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hoà bình,” nhà lãnh đạo Việt Nam phát biểu.

Đây cũng là lần đầu tiên một lãnh đạo thuộc giới cao cấp nhất Việt Nam chính thức lên tiếng kể từ khi Trung Quốc cho nhóm tàu Hải Dương Địa Chính 8 vào khu vực Bãi Tư Chính ở ngoài khơi Vũng Tàu.

Thủ tướng Phúc phát biểu trong cuộc họp báo chung với Thủ tướng Úc trong chuyến thăm ba ngày của ông Scott Morrison tới Việt Nam.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc lên tiếng về tình hình Biển Đông

Vị khách đến từ Australia cũng thúc giục các nước láng giềng của Trung Quốc không nên chịu đựng, không nên để chủ quyền của mình bị đe dọa.

Ông Morrison nói rằng luật quốc tế cần phải được tôn trọng, trong đó gồm các nguyên tắc căn bản liên quan tới việc tự do hàng hải, tự do hàng không, đảm bảo cho các quốc gia được theo đuổi các cơ hội khai thác tài nguyên trong vùng đặc quyền kinh tế của mình và trong vùng biển của mình.

Chỉ vài tiếng sau phát biểu của Thủ tướng Phúc, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đáp trả với việc đòi được “tôn trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán”.

Phát ngôn viên Cảnh Sảng, tại cuộc họp báo thường lệ, nói thêm rằng Trung Quốc hy vọng “các nước có liên quan… hợp tác với Trung Quốc để duy trì sự hòa hợp và yên bình tại các vùng biển có liên quan”.

Kể từ đầu tháng Bảy tới nay, các tàu của Việt Nam và Trung Quốc đã liên tục trong tình trạng đối đầu tại Bãi Tư Chính.

Mỹ cam kết đảm bảo an toàn năng lượng ở vùng Ấn Độ-Thái Bình Dương

Hôm thứ Năm, Hoa Kỳ cũng nói quan ngại sâu sắc về việc Trung Quốc can thiệp vào các hoạt động dầu khí ở vùng biển mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền.

Trong thông cáo báo chí, Washington cũng thẳng thừng lên án việc đưa tàu khảo sát và nhóm tàu hộ tống có vũ trang của Trung Quốc hôm 13/8 vào lại vùng biển ngoài khơi Việt Nam, gần khu vực Bãi Tư Chính, và nói việc đưa tàu tới là “việc Bắc Kinh leo thang nhằm hăm dọa các bên khác có tuyên bố quyền khai thác các nguồn tài nguyên ở Biển Đông”.

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionPhát ngôn viên Morgan Ortagus nói việc đưa tàu tới là “việc Bắc Kinh leo thang nhằm hăm dọa các bên khác có tuyên bố quyền khai thác các nguồn tài nguyên ở Biển Đông”

“Hoa Kỳ mạnh mẽ phản đối việc Trung Quốc tìm cách đe dọa hoặc ép buộc các nước đối tác không được hợp tác với các hãng không phải là của Trung Quốc, hoặc bằng các cách khác quấy rối các hoạt động hợp tác đó,” phát ngôn viên Morgan Ortagus nói.

Mỹ cũng cam kết sẽ “thúc đẩy an toàn năng lượng cho các đối tác và đồng minh ở vùng Ấn Độ-Thái Bình Dương và đảm bảo việc khai thác dầu khí trong khu vực sẽ không bị gián đoạn”, thông cáo của Bộ Ngoại giao Mỹ nói.

Ngay lập tức, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Cảnh Sảng hôm thứ Sáu cáo buộc Washington “gieo rắc chia rẽ và có những động cơ không nói ra”, nhằm “gây hỗn loạn tình hình ở Biển Nam Hải (cách Trung Quốc gọi Biển Đông) và làm tổn hại hòa bình, ổn định trong khu vực.”

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Vấn đề Biển Đông sẽ “nóng” tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 52

Vấn đề Biển Đông sẽ “nóng” tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 52

Từ ngày 29/7 đến 3/8 sẽ diễn ra Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 52 (AMM-52) và một số hội nghị liên quan tại Bangkok, Thái Lan.

Bộ trưởng Ngoại giao các nước ASEAN tại Hội nghị AMM-51

Theo Bộ Ngoại giao Thái Lan, Hội nghị AMM-52 với chủ đề “Kết nối, Sự bền vững, Môi trường và Tài chính toàn diện” nhằm mang lại lợi ích cho tất cả các thành viên. Ngoài các vấn đề chính, Thái Lan trên cương vị Chủ tịch ASEAN 2019 cũng hy vọng rằng, ASEAN sẽ là một trung tâm đàm phán toàn cầu liên quan đến những vấn đề như Mỹ – Triều Tiên, xung đột Biển Đông và những vấn đề khác có thể xảy ra trong tương lai.

Trên cương vị Chủ tịch ASEAN 2019, Bộ trưởng Ngoại giao Thái Lan Don Pramudwinai sẽ chủ trì AMM và đồng chủ trì các hội nghị PMC với các đối tác đối thoại cùng những hội nghị khác, trong đó bao gồm cuộc gặp giữa các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN với Ủy ban liên Chính phủ ASEAN về Nhân quyền (AICHR), Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN+3 (APT), Hội nghị Bộ trưởng Cấp cao Đông Á (EAS) và Diễn đàn Khu vực ASEAN lần thứ 26 (ARF). Một số hội nghị liên quan bao gồm các hội nghị hợp tác tiểu vùng, như Hội nghị Bộ trưởng Sáng kiến Hạ nguồn Mekong (LMI) lần thứ 12, Hội nghị Bộ trưởng Hợp tác sông Mekong – sông Hằng lần thứ 10, Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Mekong – Hàn Quốc lần thứ 9, Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Mekong – Nhật Bản lần thứ 12.

Theo tờ The Nation dẫn lời một quan chức ngoại giao cao cấp của Thái Lan cho biết các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN sẵn sàng thảo luận với các đối tác toàn cầu về những biện pháp kết nối và hợp tác, sau khi văn kiện Quan điểm của ASEAN về Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương được các nhà lãnh đạo ASEAN thông qua hồi tháng 6.

Đáng chú ý, tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 51, ASEAN đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong triển khai chủ đề “Tự cường và sáng tạo”. Theo đó, các nước ASEAN nhấn mạnh tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế-phát triển cả trong nội khối cũng như với các Đối tác; tập trung đẩy mạnh kết nối khu vực (triển khai hiệu quả Kế hoạch tổng thể Kết nối ASEAN gắn với các Kế hoạch phát triển tiểu vùng và liên khu vực khác), phát triển bền vững (gắn kết Lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN với các mục tiêu phát triển bền vững của LHQ đến 2030, triển khai công tác thu hẹp khoảng cách phát triển), đổi mới và sáng tạo để tận dụng các tiến bộ của công nghệ mới từ Cách mạng công nghiệp 4.0 (trong đó có phát triển kinh tế số, hình thành Mạng lưới các thành phố thông minh ASEAN, số hóa dữ liệu…). ASEAN cũng đã thể hiện bản lĩnh vững vàng trong ứng phó hiệu quả với các vấn đề khu vực; kịp thời bày tỏ tình đoàn kết và tương trợ cho Lào sau sự cố vỡ đập thủy điện, thông qua các hoạt động trợ giúp của Trung tâm điều phối hỗ trợ nhân đạo ASEAN-AHA.

ASEAN kiên trì giữ vững lập trường nguyên tắc về các vấn đề quan trọng có ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định khu vực như Biển Đông. Dù mức độ quan tâm khác nhau, các nước đều nhất trí những nguyên tắc cơ bản, cùng thảo thuận về quan điểm đối với các vấn đề trên thực địa cũng như về đàm phán Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC). Cho đến nay, ASEAN và Trung Quốc đã đạt được một văn bản dự thảo duy nhất đàm phán về COC được các Bộ trưởng ghi nhận, làm cơ sở tiếp tục đàm phán về COC.

ASEAN tiếp tục giữ được vai trò trung tâm trong điều hòa quan hệ với các Đối tác. Dịp này, ASEAN đã linh hoạt đáp ứng yêu cầu của các Đối tác Ấn Độ, Australia và Hàn Quốc về tổ chức Cấp cao mà không để ảnh hưởng nhiều đến quy định nội bộ của ASEAN.

Không những vậy, ASEAN và các Đối tác đạt nhất trí cao về cam kết ủng hộ và thúc đẩy hệ thống đa phương quốc tế dựa trên luật lệ, duy trì đà liên kết kinh tế, tự do hóa thương mại và đầu tư trong bối cảnh xu thế bảo hộ và chống toàn cầu hóa gia tăng. Hầu hết các Đối tác đều chia sẻ với ASEAN tầm quan trọng của việc duy trì trật tự dựa trên luật lệ, tôn trọng luật pháp quốc tế, ủng hộ vai trò của các thể chế đa phương, trong đó có WTO, khẳng định phối hợp tích cực sớm hoàn tất đàm phán Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) và phê chuẩn Hiệp định đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP); cho rằng quan hệ thương mại-đầu tư là có đi có lại, cùng có lợi, nên các bên đều cần nỗ lực cân bằng và hài hòa lợi ích của nhau. Các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN cũng nêu vấn đề trao đổi thương mại với Mỹ, cho rằng các nước ASEAN chỉ đạt thặng dư về thương mại hàng hóa, trong khi lại thâm hụt về thương mại dịch vụ. Không chỉ đầu tư của Mỹ tạo ra công ăn việc làm ở các nước ASEAN mà đầu tư của ASEAN ra ngoài cũng tạo ra hàng trăm ngàn việc làm ở Mỹ. ASEAN và một số Đối tác tỏ quan tâm thúc đẩy khả năng xem xét đàm phán một số FTA mới như với Canada hoặc khôi phục đàm phán FTA trước đây gặp khó khăn như với EU (trong ASEAN đã có Singapore và Việt Nam lập FTA song phương với EU).

Cuối cùng, ASEAN nhất trí cần xây dựng cách tiếp cận chủ động đối với các sáng kiến/đề xuất hợp tác mới được đưa ra ở khu vực. Trước sự xuất hiện của nhiều sáng kiến, ý tưởng hợp tác mới như Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, Vành đai & Con đường, Đối tác hạ tầng chất lượng cao v.v., ASEAN đã trao đổi và thống nhất cần hình thành cách tiếp cận chủ động để khai thác các điểm đồng của những sáng kiến này, trên cơ sở đáp ứng các nguyên tắc và mục tiêu đề ra của ASEAN, từ đó, tìm kiếm cơ hội hợp tác. Các Đối tác hoan nghênh cách tiếp cận nói trên của ASEAN. Một số nước tiếp tục mong muốn ASEAN đóng vai trò trung tâm trong chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương; trong khi đó, Trung Quốc đề nghị gắn kết chặt chẽ Sáng kiến Vành đai & Con đường với Kế hoạch tổng thể Kết nối ASEAN (MPAC) 2025.

Được biết, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh sẽ dẫn đầu đoàn Việt Nam tham dự Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 52 (AMM52) và các Hội nghị liên quan. Ngoài ra, tham dự chuỗi các hội nghị ASEAN lần này có đại diện của hơn 30 nước, bao gồm các nước ASEAN, các nước đối thoại, các nước không phải là thành viên đối thoại tham gia ARF, và khách mời của chủ nhà như Na Uy, Peru, Thụy Sỹ và Thổ Nhĩ Kỳ. Đáng chú ý, Hội nghị AMM-52 diễn ra trong bối cảnh tình hình Biển Đông đang có nhiều diễn biến nguy hiểm. Trung Quốc đã đơn phương, trái phép điều tàu thăm dò địa chất Hải Dương 08 và nhiều tàu chấp pháp hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa của Việt Nam. Có thể nói, hoạt động của nhóm tàu Hải dương Địa chất 8 trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam không chỉ vi phạm nghiêm trọng Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS), mà còn xâm phạm trắng trợn các quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam ở vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam tại khu vực phía nam Biển Đông.

Trước những hành vi này của Trung Quốc, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng (25/7) đưa ra tuyên bố cứng rắn, khẳng định quyết tâm bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ ở Biển Đông, cho biết Việt Nam đã có nhiều hình thức giao thiệp ngoại giao phù hợp, trao công hàm phản đối phía Trung Quốc, yêu cầu các tàu rút ngay khỏi vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam; nhấn mạnh Việt Nam kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán như đã được xác lập tại Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Với mục tiêu trên, Việt Nam đã có nhiều hình thức giao thiệp ngoại giao phù hợp, trao công hàm phản đối cho phía Trung Quốc, yêu cầu rút ngay khỏi vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Các lực lượng chức năng của Việt Nam triển khai các biện pháp phù hợp đúng pháp luật. Duy trì hòa bình, ổn định, đảm bảo tự do hàng không, hàng hải, đề cao thượng tôn pháp luật, tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia như được xác lập tại Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 là lợi ích và trách nhiệm chung của các nước và cộng đồng quốc tế. Việt Nam hoan nghênh, sẵn sàng cùng các nước và cộng đồng quốc tế nỗ lực đóng góp vào mục tiêu nói trên vì hòa bình ổn định, hợp tác, phát triển của tất cả các quốc gia trong khu vực và trên thế giới.

Trước đó, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng (19/7) cho biết: “Việt Nam đã tiếp xúc nhiều lần với phía Trung Quốc ở các kênh khác nhau, trao công hàm phản đối, kiên quyết yêu cầu chấm dứt ngay các hành vi vi phạm, rút toàn bộ tàu ra khỏi vùng biển Việt Nam; tôn trọng quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam vì quan hệ hai nước và ổn định, hòa bình ở khu vực. Các lực lượng chức năng trên biển của Việt Nam tiếp tục triển khai nhiều biện pháp phù hợp thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán một cách hòa bình, đúng pháp luật nhằm bảo vệ vùng biển Việt Nam”. Bà Lê Thị Thu Hằng nhắc lại lập trường nhất quán của Việt Nam là kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 trước bất cứ hành vi nào xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển được xác định phù hợp với Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định, việc duy trì trật tự, hòa bình, an ninh ở khu vực Biển Đông là lợi ích chung của các nước trong và ngoài khu vực cũng như cộng đồng quốc tế. Do đó, Việt Nam mong muốn các nước liên quan và cộng đồng quốc tế cùng nỗ lực đóng góp nhằm bảo vệ và duy trì lợi ích chung.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

giặc là ai? Ai là giặc?

Ngyễn Thùy Dương

14-8-2019

Không quá khó để bắt gặp đâu đó cách giải thích, tranh luận kiểu như là: “Đất nước này đã phải đánh đổi quá nhiều đau thương mất mát để có hoà bình. Cố gắng nhẫn nhịn đừng để các thế lực thù địch nhân cơ hội làm rối xã hội. Nếu chiến tranh nổ ra sẽ gây đau thương cho Nhân Dân. Dân tộc này đã quá dư đau khổ.”

Những câu nói như thế hay tương tự như thế là một lằn ranh khiến mọi phản ứng tự nhiên vô điều kiện vốn thuộc về mặt tích cực của con người để xây dựng một xã hội tiến bộ hơn bị chặn lại. Nhân Dân không được quyền tức giận với chính cái cơ chế do mình còng lưng ra nuôi để bảo vệ hoà bình Đất nước, không được mạnh mẽ phản đối những chính sách gây thiệt hại cho chính bản thân mình, gia đình mình vì sẽ tạo điều kiện cho các thế lực thù địch chống phá đất nước, không được quyền kêu cứu trước oan sai bất công của chính những” nhóm lợi ích thân quan” sẽ tạo hình ảnh xấu cho Đất nước, cho chính quyền.

Chiến tranh là nỗi ám ảnh của mọi dân tộc. Chiến tranh là đau thương chia lìa, là đau thương mất mát và đối với một số kẻ tiểu nhân: “Chiến tranh là con ngáo ộp để doạ dân”. Tiếc thay chúng ta không dư quân tử lại thừa tiểu nhân. Với luận điệu chống phá và xuyên tạc Nhân Dân bọn phản động dễ dàng hát những khúc ru hò như: “hãy cố chờ đợi từ từ rồi sẽ được giải quyết những oan sai bức xúc. Hoà bình quý giá, đừng tạo cơ hội cho thế lực thù địch lật đổ Chính quyền”.

Bọn phản động mặc nhiên cướp phá. Mặc nhiên đập nhà, cướp đất. Mặc nhiên xây dựng nhà máy nhiệt điện phá huỷ ngư trường. Mặc nhiên hạ từng cánh rừng thành đồi trọc. Mặc nhiên bức tử những dòng sông, con rạch. Mặc nhiên thu những khoản thu đã được đóng vào thuế khiến kẻ chết bị từ chối khai tử, kẻ sinh ra bị từ chối khai sinh, sinh viên bị từ chối cấp giấy chứng nhận để đến trường. Vẫn còn rất nhiều điều mặc nhiên nữa để rồi khi sự dối trá được lặp đi, lặp lại nhiều lần nó trở thành sự thật. Một sự thật dĩ nhiên rằng quan có quyền định đoạt vận mệnh của dân. Còn dân cam chịu nó như một lẽ dĩ nhiên. Điều đó đồng nghĩa với một xã hội phong kiến, chậm tiến, đau thương đang có mặt trên một thực tế rằng cả thế giới đang sống trong thời kì dân chủ, văn minh.

Thế nào là một đất nước hoà bình? Là không chiến tranh, an ổn, bình yên hạnh phúc. Là nụ cười mãn nguyện, là sống và làm việc để tận hưởng cuộc sống, phục vụ cộng đồng một cách viên mãn. Cái thứ Hoà bình cướp bóc, hoà bình bất công, hoà bình trơ tráo và dối trá chỉ là viễn vông, bỉ cực mà không hẹn ngày cam lai cho Nhân Dân.

Một dân tộc không chết vì bom đạn chiến tranh mà chết vì ung thư, vì tai nạn giao thông, vì ô nhiễm, vì lũ lụt. Nước mắt không rơi vì nhà bị giặc ngoại xâm đốt phá mà vì bị cưỡng chế cướp đất trắng trợn, phụ nữ không phải bị cưỡng hiếp bởi quân xâm lăng mà kéo từng đoàn sang nước ngoài làm gái mại dâm… Nhân Dân có chọn hoà bình này không? Tôi tin họ không chọn thứ hoà bình điên khùng ấy. Họ bị bó buộc vào thứ Hoà bình bất nhân.

Sẽ có người mắng chửi Nhân Dân tại sao không phản ứng mạnh mẽ. Dĩ nhiên là có người phản ứng mạnh mẽ, người không phản ứng. Đừng trách họ vì họ bị ám ảnh bởi những tiềm thức trong quá khứ khi loài thú vồ mồi. Con thú chỉ nhìn họ, nhìn cha mẹ anh em họ như một con mồi cho chúng đi săn. Quá khứ đó ám ảnh người ta khiến mọi phản kháng đều bị rụi tàn.

Khi giặc ngoài kia chưa bắn viên đạn nào vào Đất nước thì giặc trong này đã tàn phá gần xong Đất nước. Cuối cùng giặc là ai? Ai là giặc?

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Bãi Tư Chính: Rủi ro an ninh thế nào nếu Trung Quốc quay trở lại?

Bãi Tư Chính: Rủi ro an ninh thế nào nếu Trung Quốc quay trở lại?

Hải quân Việt NamBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionMười năm qua, Việt Nam chỉ chi tiêu cho quân sự dưới 40 tỷ USD, trong khi Trung Quốc chi khoảng trên dưới 2000 tỷ USD, theo nhà nghiên cứu

Nếu Trung Quốc chưa khảo sát xong, thì nước này có thể điều tàu và thiết bị quay trở lại để làm cho xong, do đó mà khả năng Trung Quốc quay trở lại khu vực Bãi Tư Chính và lân cận là không nhỏ, theo một nhà nghiên cứu chính trị và bang giao quốc tế từ Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (Iseas, Singapore).

Cũng không ngoại trừ việc Trung Quốc tiến hành khai thác sau khi thăm dò, và những hành động này hàm chứa những nguy cơ và rủi ro an ninh ở khu vực rất cao và khó lường hết, Tiến sỹ Hà Hoàng Hợp, nhà nghiên cứu cao cấp khách mời của Viện Iseas nói với BBC News Tiếng Việt hôm 10/8/2019 từ Hà Nội.

Sau đây là toàn bộ nội dung cuộc trao đổi được thực hiện qua bút đàm với nhà phân tích này.

Thương chiến Mỹ – Trung, đối đầu Biển Đông và thách thức với TQ

VN ‘quá rụt rè trước TQ’ trong vấn đề Biển Đông

Biển Đông: “Nhiều khả năng TQ sẽ trở lại Bãi Tư Chính với dàn khoan”

TQ: Tập Cận Bình đang gặp thách thức lớn nào?

BBCVụ việc ở khu vực Bãi Tư Chính đã tạm yên ổn chưa hay Trung Quốc sẽ quay trở lại với một hình thức nào đó? Nếu có thì đó là hình thức gì, thưa Tiến sỹ?

Tiến sỹ Hà Hoàng Hợp: Phía Trung Quốc không tuyên bố lý do rút tàu, vì thế có thể phán đoán rằng, nếu tàu đó đã khảo sát địa chấn xong rồi, thì Trung Quốc hoàn toàn có thể kéo giàn khoan vào khoan thăm dò và nếu có dầu khí trữ lượng thương mại, họ sẽ khoan khai thác luôn.

Trong trường hợp chưa khảo sát xong, thì họ sẽ quay lại khảo sát cho đến khi xong. Khó có thể hình dung, rằng họ chưa xong, mà họ rút hẳn. Do chưa xong việc, Trung Quốc có thể điều tàu khảo sát khác vào.

Tóm lại, khả năng Trung Quốc quay lại bãi Tư Chính là cao, nếu phía Việt Nam không có các biện pháp hòa bình mạnh mẽ và kiên quyết hơn, ví dụ biện pháp pháp lý.

Quá tự tin, liều lĩnh?

Biển ĐôngBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionHãng Rosneft của Nga có hoạt động hợp tác với Việt Nam ở khu vực mà Trung Quốc mới đưa tàu thăm dò địa chất vào và gây ra đối đầu căng thẳng từ đầu tháng 7/2019

BBC: Trong cuộc đối đầu vừa qua, ở khu vực có sự hiện diện liên quan lợi ích của các bên thứ ba, trong đó có doanh nghiệp của Nga và Nhật Bản, vì sao Trung Quốc quyết định đưa hàng chục tàu của họ vào? Phải chăng Trung Quốc quá tự tin hay đây là hành động liều lĩnh?

TS. Hà Hoàng Hợp: Việc quấy rối giàn khoan Harukyu 5 của Nhật thực hiện hợp đồng khoan với Rosneft ở khu vực lô 06-01 thực chất là thách thức trực tiếp lợi ích của các doanh nghiệp Nga, Nhật và Việt Nam bên trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, là một việc làm trái với luật pháp quốc tế, khiêu khích các bên liên quan, đe dọa dùng vũ lực đối với các bên liên quan là Nga, Nhật và Việt Nam.

Hành động này là liều lĩnh, nhưng có tính toán kỹ từ phía Trung Quốc, có tin rằng trong tháng Năm và tháng Sáu 2019, phía Trung Quốc đã yêu cầu Việt Nam một số điều vô lý liên quan đến liên doanh Rosneft. Và trong thời gian từ ngày 3 tháng Bảy, phía Trung Quốc đòi Việt Nam phải buộc giàn khoan Nhật dừng hoạt động, rút khỏi lô 06-01.

Chúng ta nhớ lại rằng năm 2017, phía Trung Quốc đã hỏi Nga rằng về hoạt động liên doanh của Rosneft, Zarubezneft… ở biển Đông, phía Nga đã trả lời rằng các doanh nghiệp Nga cho biết họ đang hoạt động một cách hợp pháp ở biển Đông.

Như vậy, vụ việc lần này ở bãi Tư Chính và vùng rộng lớn gần đó của nhóm tàu Trung Quốc được tính toán kỹ, liều lĩnh cao độ.

Để trả lời, Việt Nam đã gia hạn công việc khoan của giàn khoan Nhật đến 15 tháng Chín.

Nga chưa có phát ngôn nào về vụ việc này, tuy nhiên tổng thống Nga đã có thư khen ngợi, động viên Rosneft. Và ngoại trưởng Nga hôm ở Bangkok trong cuộc họp Nga – Asean, đã nói Nga đang theo dõi tình hình và mong muốn các bên xử lý vụ việc bằng các biện pháp hòa bình.

Lượng giá ngưỡng căng thẳng

Biển ĐôngBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTruyền thông Việt Nam hồi tháng 6/2014 đưa tin về tàu tuần duyên Trung Quốc xâm phạm chủ quyền của Việt Nam và tấn công tàu của Việt Nam ở gần địa điểm neo đậu của Dàn khoan HD 981.

BBC: Có nguồn tin nói, nếu Trung Quốc đợt vừa qua chỉ đưa tàu của họ vào sâu thêm nữa ở một số điểm nhạy cảm trong khu vực Bãi Tư Chính, hoặc đưa giàn khoan vào khai thác, thì có thể Việt Nam sẽ có phản ứng bằng hành động quân sự, đặc biệt từ hải quân, ông đánh giá thế nào về mức độ căng thẳng này và bài học?

Bàn tròn BBC: Trung Quốc từ thương chiến đến Biển Đông

VN: ‘Bãi Tư Chính’ và Cơ hội thoát Trung

Quan hệ Việt – Trung: Bãi Tư Chính là thời điểm thay đổi với VN?

Carl Thayer: ‘Tam giác ngoại giao VN, TQ và Mỹ sẽ còn căng’

TS. Hà Hoàng Hợp: Đi theo bảo vệ giàn khoan, giống như vụ năm 2014, sẽ là đông đảo các loại tàu hải cảnh, thậm chí tàu hải quân…

Việt Nam đương nhiên giành quyền xử lý một cách chủ động. Nếu phía Trung Quốc để xảy ra đụng độ vũ trang, thì Trung Quốc phải chịu trách nhiệm.

Nói cách khác, nếu Trung Quốc kéo giàn khoan vào và khoan, thì rủi ro đụng độ sẽ rất cao, và một khi đã xảy ra đụng độ, thì không biết tiếp theo sẽ thế nào.

BBC: Nếu tới đây, Trung Quốc đưa một giàn khoan hoặc thiết bị khai thác dầu khí trở lại khu vực căng thẳng vừa qua, hoặc một địa điểm nhạy cảm mà Việt Nam đã phản đối gay gắt, có nguy cơ cao nào về an ninh có thể xảy ra không? Các bên có tiên lượng được hết không?

TS. Hà Hoàng Hợp: Một phần chúng tôi đã đề cập ở ngay câu hỏi thứ ba, xin khẳng định lại, rằng khó có thể quản trị nổi rủi ro xung đột nếu Trung Quốc kéo giàn khoan vào và khoan.

Khả năng giàn khoan được kéo vào là không nhỏ.

Năm 2012, Trung Quốc đã mời thầu thăm dò và khai thác ở các lô 130 đến 137, cộng thêm hai lô Riji03 và Riji27.

Vừa qua, tàu khảo sát đã khảo sát kỹ lưỡng 10 lô kể trên và vùng rộng hơn bao trùm ra ngoài khu vực 10 lô đó.

BBC: Vì sao Việt Nam phản đối mạnh, nhưng không đưa Trung Quốc ra trước một tòa án quốc tế để thưa kiện? Phải chăng Việt Nam e ngại Trung Quốc sẽ có hành động trả đũa, trừng phạt mạnh mẽ hơn và do đó còn tính toán, lưỡng lự? Về lâu dài, theo suy xét của ông, Việt Nam có kiện và dám kiện Trung Quốc không? Nếu không thì sao?

TS. Hà Hoàng Hợp: Năm 2014, phía Việt Nam cho biết đã chuẩn bị áp dụng biện pháp pháp lý. Sau đó, giàn khoan Haiyang Shiyou 981 rút, thì phía Việt Nam chưa áp dụng biện pháp đó.

Bây giờ, cũng có tin trên truyền thông Việt Nam, rằng phía Việt Nam có thể áp dụng biện pháp pháp lý đối với Trung Quốc .

Lúc này phía Việt Nam chưa áp dụng biện pháp pháp lý, có thể là do đang cân nhắc mọi điều kiện không phải là điều kiện pháp lý, ví dụ, cần dự báo các hành động kinh tế, thương mại, chính trị… của phía Trung Quốc.

Biển ĐôngBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionVụ đối đầu ở khu vực Bãi Tư Chính gây căng thẳng trong quan hệ Việt – Trung

Ngoài ra, cũng cần xem xét lựa chọn biện pháp và kỹ thuật pháp lý nào, để có hiệu quả nhất, để có quyết định phân xử hay phán quyết đúng đắn nhất, trong thời gian sớm nhất.

Để bảo vệ lợi ích quốc gia của mình, tôi tin rằng chính phủ Việt Nam đã, đang và sẽ làm mọi cách hòa bình, hợp pháp. Đến nay, các biện pháp ngoại giao đã được sử dụng với ưu tiên cao. Biện pháp pháp lý, chắc sẽ có ưu tiên cao trong thời gian tới đây, có thể sẽ rất sớm!

Mục đích địa chính trị

BBC: Có ‎ý kiến nói Trung Quốc quá tự tin và có thể chủ quan, liều lĩnh, coi nhẹ khả năng phòng vệ bất cân xứng của Việt Nam, ông đánh giá thế nào về tương quan giữa hai bên trong trường hợp có thể xảy ra một căng thẳng và đối đầu lớn lần nữa và hệ quả có thể thế nào nếu Trung Quốc khinh suất trong bối cảnh địa chính trị ở khu vực và quốc tế đang có nhiều biến chuyển, chuyển động nhạy cảm hiện nay?

Bãi Tư Chính: Nhận thức của người dân VN ‘đã cao hơn trước’

Tuyên bố chung ASEAN nhắc đến ‘sự cố nghiêm trọng’ ở Biển Đông

Nhật Bản quan ngại về căng thẳng Biển Đông

TS. Hà Hoàng Hợp: Bản chất của các vụ việc mà Trung Quốc gây ra ở biển Đông từ năm 2005 cho đến nay, là Trung Quốc muốn độc chiếm biển Đông mà không có căn cứ pháp lý hay lịch sử xác đáng nào.

Chiếm Lưỡi Bò bên trong đường 9 đoạn, ngoài các mục tiêu kinh tế, thì nổi bật là các mục tiêu địa chính trị và chiến lược.

Mọi hoạt động làm thay đổi hiện trạng trên biển của Trung Quốc, mọi hành động nhằm khẳng định các quyền của Trung Quốc, đều không có giá trị chiếu theo luật quốc tế.

Vậy mục đích địa chính trị ở đấy là bá quyền.

Quan hệ Mỹ - TrungBản quyền hình ảnhREUTERS/GETTY IMAGES
Image captionDiễn biến ở khu vực Bãi Tư Chính xảy ra trong lúc có chiến tranh thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc

Việt Nam và cộng đồng quốc tế mong muốn tất cả, trong đó có Trung Quốc, hành xử trên cơ sở trật tự quốc tế dựa trên luật lệ do Liên hợp quốc quy định và mọi bên đều công nhận.

Là nước lớn, thì càng không thể hành xử vô trách nhiệm, bất chấp luật pháp quốc tế.

Năng lực quốc phòng của Việt Nam rất nhỏ bé so với năng lực quân sự của Trung Quốc.

Mười năm qua, Trung Quốc chi tiêu cho quân sự khoảng trên dưới 2000 tỷ USD, trong khi đó, Việt Nam chỉ có chi phí dưới 40 tỷ USD.

Việt Nam tuân thủ luật pháp quốc tế, nên cộng đồng quốc tế đã, đang và sẽ ủng hộ Việt Nam.

Nếu xảy ra xung đột vũ trang, Việt Nam không có cách nào khác là giáng trả tự vệ để bảo vệ lợi ích quốc gia Việt Nam.

Phía Việt Nam đã nhiều lần tuyên bố rằng Việt Nam không để xảy ra bị động, bất ngờ.

Lựa chọn thế đứng nào?

BBC: Cuối cùng, nhìn rộng hơn, có chuyển động gì đáng kể không ở khu vực trên phương diện học thuyết, tiếp cận an ninh, quân sự giữa các đại cường và các khối hiện diện hoặc có lợi ích liên quan ở khu vực và trên Biển Đông mà Việt Nam và các nước được cho là nhỏ và tương đối yếu hơn cần đặc biệt quan tâm để đảm bảo hiệu quả tốt hơn cho an ninh và toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải và các lợi ích của mình?

TS. Hà Hoàng Hợp: Chiến lược an ninh quốc gia và chiến lược quốc phòng Mỹ được hơn 80% lưỡng viện Mỹ ủng hộ. Bản chất là Mỹ tiếp tục đóng vai trò đảm bảo trật tự quốc tế dựa trên các quy tắc.

Chiến lược an ninh Ấn Độ dương – Thái Bình Dương do Bộ quốc phòng Mỹ công bố ngày 1/6 coi Trung Quốc là đối thủ chiến lược số một.

Biển ĐôngBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES/ILLUSTRATION BY BBC
Image captionMùa Hè 2019 nóng lên với các động thái ngoại giao và an ninh ở khu vực do sự kiện Trung Quốc điều nhóm tàu vào khu vực Bãi Tư Chính trên Biển Đông

Cộng đồng quốc tế hoan nghênh sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc. Mỹ và tất cả các nước đang góp sức duy trì an ninh, an toàn ở biển Đông, coi đó là một phần địa chính trị quan trọng của Ấn Độ dương – Thái Bình Dương.

Hành động của Trung Quốc ở biển Đông đang làm giảm đáng kể an ninh ở biển Đông, làm cho tình hình phức tạp. Năm 2015, chủ tịch Trung Quốc ông Tập Cận Bình hứa với thế giới rằng không quân sự hóa ở biển Đông, dù vậy, từ đó, Trung Quốc đã đẩy mạnh quân sự hóa, trái lại với cam kết công khai đó.

Mỹ và các nước khác như Nhật Bản, Úc, Ấn Độ… có lợi ích ở biển Đông. Chắc chắn họ sẽ bảo vệ lợi ích của họ ở biển Đông, khi lợi ích của các nước đó trùng với lợi ích của Việt Nam ở biển Đông, Việt Nam nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ cụ thể từ các nước đó, trong đó có Mỹ.

Đường lối quốc phòng để bảo vệ hòa bình của Việt Nam, có 3 “không” như mọi người đều biết, Việt Nam luôn đây mạnh hợp tác quốc phòng với các nước. Với nguy cơ xung đột hoặc chiến tranh, đương nhiên sẽ cần có điều chỉnh cho phù hợp. Bởi vì lợi ích quốc gia là vĩnh viễn, các mối quan hệ khác sẽ thay đổi.

Việt Nam không ngả theo Mỹ, cũng không ngả theo Trung Quốc hoặc theo bất kỳ nước nào khác.

Tiến sỹ Hà Hoàng Hợp, mà phần trả lời ở trên là quan điểm cá nhân, đồng thời là thành viên nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (IISS) có trụ sở tại London, Anh quốc, ông có nhiều nghiên cứu và phân tích về chính trị, chiến lược và địa chính trị liên quan Việt Nam, quốc tế và khu vực.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Blog at WordPress.com.