Daily Archives: August 25, 2019

Chuyên gia Nga phân tích mưu đồ TQ ở Biển Đông

Chuyên gia Nga phân tích mưu đồ TQ ở Biển Đông

Trung Quốc bắt đầu tiến hành các chiến dịch quân sự nhằm chiếm các đảo Trường Sa của Việt Nam từ năm 1988.

Còn một điểm nóng tiềm tàng khác là quần đảo Trường Sa -Việt Nam, với diện tích hơn 400.000 km “nằm ở phía Tây-Nam Biển Đông. Quần đảo này có hơn 100 đảo nhỏ, rạn san hô và đảo san hô, với tổng diện tích nổi trên mặt nước không đến 5 km vuông”.

Trung tâm của quần đảo nằm cách bờ biển Việt Nam 500 km, cách các đảo Palawan (Philipines) và Kalimantan (Indonexia-ND) 400 km và cách đảo Hải Nam của Trung Quốc 1.000 km. Theo ước tính của chuyên gia, khu vực này có trữ lượng dầu khí rất đáng kể và rất giàu nguồn lợi hải sản.

Trung Quốc bắt đầu tiến hành các chiến dịch quân sự nhằm chiếm các đảo Trường Sa của Việt Nam từ năm 1988, và khi đó, quanh rạn san hô Johnson đã xảy ra một trận chiến giữa các tàu chiến Trung Quốc với các tàu chiến Việt Nam.

Kết quả, khi đó Trung Quốc đã chiếm được 7 rạn san hô và đảo san hô, tạo thành một bàn đạp để tiếp tục mở rộng phạm vi ảnh hưởng của mình. Vào thời điểm hiện tại, Trung Quốc đang duy trì sự hiện diện quân sự của mình trên 9 đảo, Việt Nam kiểm soát 21 đảo, Philippines kiểm soát 8 đảo, Malaysia có quân đồn trú trên 3 đảo.

Bất chấp một thực tế là khu vực lãnh thổ này nằm cách xa bờ biển Trung Quốc nhất (so với các nước nói trên), nhưng Trung Quốc lại là nước tiến hành các hoạt động quân sự hung hăng, liên tục điều các tàu chiến đến khu vực này và cũng thường xuyên cho các máy bay tuần tiễu bay trên khu vực ,và đặc biệt, ráo riết bồi đắp các đảo nhân tạo trong khu vực Trường Sa.

Chuyen gia Nga phan tich muu do Trung Quoc o Bien Dong

Trước đây, Trung Quốc không chỉ dừng lại ở việc cho tuần tra các vùng biển tiếp giáp với các đảo tranh chấp. Ở những vùng nước nông, Trung Quốc đã xây dựng một số cấu trúc bê tông cốt thép, trong số đó có các trạm quan sát, các trung tâm liên lạc và các đài radar.

Khoảng 5 năm trước, giới lãnh đạo Bắc Kinh đã cho triển khai hiện thực hóa một chương trình quy mô rất lớn bồi đắp các đảo nhân tạo,- và những đảo nhân tạo này đã được Phương Tây đặt tên là “Vạn Lý Trường Thành làm bằng cát”.

Tên gọi này (“Vạn Lý Trường Thành làm bằng cát”) được Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương (Mỹ), Đô đốc Harry Harris sử dụng lần đầu tiên vào tháng 3/2018.

Cùng với việc bồi đắp các đảo nhân tạo, các quan chức Trung Quốc có trách nhiệm biện bạch rằng Bắc Kinh xây dựng (các đảo nhân tạo trên) là “nhằm mục đích cải thiện điều kiện sống và làm việc của người dân trên các đảo này”, và Trung Quốc làm thế là để “cố gắng cung cấp nơi trú ẩn, đảm bảo dẫn đường, và, nếu cần thiết, hỗ trợ khẩn cấp cho các tàu nước ngoài, và để có thể đưa ra các dự báo thời tiết chính xác hơn.”

Do việc vận chuyển đá –cát, vật liệu từ đất liền Trung Quốc ra quá tốn kém và mất nhiều thời gian, nên việc bồi đắp các đảo nhân tạo chủ yếu bằng cách xúc hút và rửa cát tại chỗ.

Để dựng được “Vạn lý Trường thành bằng cát” trên biển nói trên, Bắc Kinh đã cho thành lập một phân hạm đội tàu chuyên dụng để múc, rửa cát, vận chuyển những vật liệu cần thiết từ lục địa Trung Quốc, đúc hàng loạt các loại móng, tấm bê tông cỡ lớn ngay tại chỗ.

Chuyen gia Nga phan tich muu do Trung Quoc o Bien Dong

Năm 2016, Trung Quốc đã đóng xong và đưa vào khai thác một con tàu hút múc- đổ cát lớn nhất thế giới- tàu Tian Kun Hao. Công suất của nó – 6000 mét khối cát mỗi giờ.

Chuyen gia Nga phan tich muu do Trung Quoc o Bien Dong
Ảnh vệ tinh Google Earth: đảo nhân tạo ở rạn san hô Johnson năm 2018

Trước năm 2016, trên một khu vốn trước đó bị ngập khi thủy triều lên được đặt tên là rạn san hô Johnson cùng một nhà dàn trên các cọc với 15 quân nhân (Trung Quốc) đồn trú trên đó, đã xuất hiện một hòn đảo nhân tạo diện tích 0,11 km 2. Mặc dù có diện tích không lớn nhưng trên đảo (nhân tạo) này có các tòa nhà và công trình xây dựng hoàn chỉnh.

Ngoài các hải đăng, còn có thêm một bến tàu có thể tiếp nhận các tàu lớn, một tòa nhà văn phòng, một trung tâm liên lạc, một bãi đỗ máy bay lên thẳng, một số trạm radar và các nhà kho.

Chuyen gia Nga phan tich muu do Trung Quoc o Bien Dong
Ảnh vệ tinh Google Earth: Khu vực rạn san hô Cuarteron (Châu Viên) năm 2014

Trung Quốc đã cho quân lên đóng trên đảo Châu Viên. Năm 2016, mới chỉ có một nhà giàn. Nhưng đến thời điểm hiện tại, có thể thấy tại đây một hòn đảo nhân tạo có diện tích khoảng 0,08 km2.

Chuyen gia Nga phan tich muu do Trung Quoc o Bien Dong

Trên hòn đảo (nhân tạo) này có các bến neo đậu và một bến cảng sâu bên trong được xây dựng kiên cố, một số công trình xây dựng lớn, một bãi đỗ máy bay lên thẳng, các hải đăng và một trạm radar.

Chuyen gia Nga phan tich muu do Trung Quoc o Bien Dong
Ảnh vệ tinh Google Earth: Rạn san hô Gaven năm 2012

Với rạn san hộ (Reef) Gaven, diễn biến tình hình cũng tương tự như vậy. Trước năm 2014, tại đây chỉ có một nhà giàn nhỏ. Hiện giờ nó là một tiền đồn của Hải quân PLA với một cầu cảng lớn, các bãi đỗ máy bay lên thẳng, các đài radar và một số trận địa đã được chuẩn bị sẵn để triển khai các tổ hợp tên lửa chống hạm và tên lửa phòng không.

Chuyen gia Nga phan tich muu do Trung Quoc o Bien Dong
Ảnh vệ tinh Google Earth: Đảo nhân tạo Trung Quốc trên rạn san hô Gaven năm 2018

Tại rạn san hô Hages cách Gaven 40 km về phía Nam, Trung Quốc cũng đã cho bồi đắp một hòn đảo nhân tạo có chiều dài khoảng 600 m và chiều rộng ở nơi rộng nhất lên tới 310 m trong thời gian 3 năm.

Chuyen gia Nga phan tich muu do Trung Quoc o Bien Dong
Ảnh vệ tinh Google Earth: Rạn san hô Hages năm 2014

Việc xây dựng, bồi đắp đảo nhân tạo được thực hiện theo công nghệ đã được ứng dụng trước đó trên những đảo khác của quần đảo (Trường Sa-Việt Nam). Cơ sở hạ tầng đảo nhân tạo mới này tương tự như các cơ sở hạ tầng được xây dựng trên các đảo (nhân tạo khác) trong khu vực này.

Chuyen gia Nga phan tich muu do Trung Quoc o Bien Dong
Ảnh vệ tinh Google Earth: Rạn san hô Hages năm 2018

Năm 2014, Trung Quốc lại triển khai bồi đắp đảo nhân tạo tại khu vực rạn san hô Yubi (tên tiếng Việt- Kiêu Ngựa-ND). Trước đó, đây là một rạn đảo san hô khép kín hình móng ngựa dài 6,5 km, rộng 3,7 km. Độ sâu bên trong- 25 m

Chuyen gia Nga phan tich muu do Trung Quoc o Bien Dong
Ảnh vệ tinh Google Earth: Rạn san hộ Kiêu Ngựa năm 2014

Tính đến năm 2016, diện tích của đảo nhân tạo mà Trung Quốc đã bồi đắp trên rạn ran hô Yubi đã lên tới 5 km2. Mục đích bồi đắp đảo nhân tại khu vực này của Bắc Kinh là để xây dựng một căn cứ không quân có đường băng cất hạ cánh chính dài 3.250 m và rộng 60 m. Chiếc máy bay dân sự đầu tiên của công ty Trung Quốc Hainan Airlines đã hạ cánh xuống đường băng trên đảo Yubi vào ngày 13/ 7/2016.

Chuyen gia Nga phan tich muu do Trung Quoc o Bien Dong
Ảnh vệ tinh Google Earth: và đảo nhân tạo tại Kiêu Ngựa năm 2016

Bắc Kinh đã bố trí trên đảo một số trạm radar kiểm soát không phận, tòa nhà chính của sân bay, các nhà chứa máy bay, 20 hầm trú ẩn bằng bê tông cốt thép, 2 bãi đỗ có máu che máy bay lên thẳng, các nhà kho, 1(một) kho chứa nhiên liệu và dầu nhớt.

Phía Tây-Bắc đảo có khu vực nhà ở gồm cả công viên nhân tạo, sân tennis và cả sân bóng đá. Theo tin từ Tình báo Mỹ, trên đảo Yubi này đã có hệ thống tên lửa phòng không và tên lửa chống hạm đóng quân thường xuyên.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Hành vi sai trái của Trung Quốc ở Biển Đông dưới góc nhìn chuyên gia Ngày đăng 24-08-2019 BDN Nhóm tàu Hải dương Địa chất 8 của Trung Quốc hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam đã vi phạm luật pháp quốc tế. Trong thời gian vừa qua, tàu khảo sát Hải dương Địa chất 8 (Haiyang Dizhi 8) của Trung Quốc đã vào thăm dò trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam ở khu vực phía Nam Biển Đông. Đi theo bảo vệ tàu này có các tàu cảnh sát biển Trung Quốc và các tàu dân quân biển. Dư luận quốc tế và trong nước lên án quyết liệt hành vi của Trung Quốc vi phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Từ góc độ pháp lý, hành động của phía Trung Quốc đã vi phạm luật quốc tế như thế nào? Tiến sĩ Phạm Lan Dung, Hội Luật quốc tế Việt Nam đã có những phân tích cụ thể về vấn đề này. [*Đây là ý kiến của cá nhân Tiến sĩ Lan Dung, không đại diện cho bất kỳ cơ quan, tổ chức nào]. Theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982), các quốc gia có quyền chủ quyền về thăm dò, khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên sinh vật hoặc không sinh vật tại vùng đặc quyền kinh tế của mình. Quốc gia có quyền tài phán về lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình; về nghiên cứu khoa học biển; về bảo vệ và gìn giữ môi trường biển. Tại vùng đặc quyền kinh tế, các quốc gia khác có quyền tự do hàng hải và hàng không, quyền đặt dây cáp ngầm. Như vậy, các quốc gia khác không được tiến hành thăm dò, khảo sát tại vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Việc tàu khảo sát Hải dương Địa chất 8 của Trung Quốc sử dụng các trang thiết bị và tiến hành thăm dò và khảo sát trong quá trình đi lại trong vùng đặc quyền kinh tế cho thấy dấu hiệu vi phạm quyền chủ quyền về thăm dò tài nguyên thiên nhiên tại vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam. Việc nhóm tàu Hải dương Địa chất 8 (lúc đông nhất lên đến hàng chục tàu hộ tống) đi như kẻ ô bàn cờ trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam và thực hiện các hoạt động thăm dò thì mức độ vi phạm càng rõ ràng hơn. Nếu tàu cảnh sát biển của Việt Nam yêu cầu tàu khảo sát của Trung Quốc ngừng hoạt động thăm dò và rời khỏi vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và thực hiện các biện pháp để bảo vệ quyền chủ quyền ở vùng đặc quyền kinh tế mà các tàu của Trung Quốc vẫn có các biện pháp gây hấn thì mức độ vi phạm càng trầm trọng. Tuy nhiên, để có thể đưa ra kết luận từ góc độ pháp lý trong những trường hợp như trên, nhiều yếu tố cần được cân nhắc xem xét kỹ lưỡng. Xác định vị trí và quy chế pháp lý vùng biển nơi có hành vi vi phạm Vị trí nơi xảy ra các hoạt động của nhóm tàu Hải dương Địa chất 8 có vai trò quan trọng trong việc xác định hành vi vi phạm. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định, đây là vùng biển hoàn toàn của Việt Nam, được xác định theo đúng các quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982. Qua tuyên bố này, có thể thấy các hành vi thăm dò xảy ra ở vùng biển nằm cách bờ biển Việt Nam không quá 200 hải lý, không chồng lấn hoặc tranh chấp với bất kỳ quốc gia nào. Trung Quốc không có cơ sở nào để có bất kỳ yêu sách gì đối với vùng biển này của Việt Nam. hanh vi sai trai cua trung quoc o bien dong duoi goc nhin chuyen gia luat quoc te hinh 2 Tàu khảo sát Hải dương Địa chất 8 (Haiyang Dizhi 8). Ảnh: Gulf Times. Thứ nhất, bờ biển Trung Quốc cách nơi này hơn 500 hải lý. Thứ hai, các thực thể trong khu vực quần đảo Trường Sa, theo phán quyết Trọng tài trong vụ Philippines – Trung Quốc, không thể có vùng biển rộng hơn 12 hải lý, do đó việc Trung Quốc đang chiếm đóng bất hợp pháp các thực thể ở Trường Sa không thể tạo ra bất cứ cơ sở nào cho Trung Quốc yêu sách vùng biển nêu trên của Việt Nam. Hơn nữa, Trường Sa không phải quốc gia quần đảo nên không thể có đường cơ sở quần đảo. Thứ ba, tuyên bố của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc rằng họ có chủ quyền với bãi san hô ngầm ở khu vực Nam Biển Đông này là hoàn toàn không có cơ sở pháp lý và vi phạm quyền chủ quyền của Việt Nam tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam. Theo quy định của luật biển quốc tế, những rạn san hô chìm ngầm dưới nước không phải là đối tượng yêu sách chủ quyền riêng rẽ. Trung Quốc cũng như không một quốc gia nào có thể yêu sách chủ quyền riêng rẽ với những bãi san hô ngầm ở khu vực này. Khu vực nào của những bãi này nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt nam là một phần của vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam. Việt Nam có quyền lắp đặt đảo nhân tạo, xây dựng công trình và thăm dò, khai thác tài nguyên tại đây vì đó là quyền chủ quyền của Việt Nam tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình. Các tình huống và biện pháp trên thực địa Trên thực địa, khi xảy ra tình huống như đã nêu ở trên, tàu chấp pháp của quốc gia ven biển có thể thực hiện các hành động lại gần giám sát, tìm hiểu rõ vấn đề, yêu cầu tàu khảo sát của Trung Quốc ngừng hoạt động thăm dò và rời khỏi vùng đặc quyền kinh tế của mình. Trong trường hợp đã yêu cầu nhưng không thực hiện, các tàu chấp pháp của quốc gia ven biển có thể tiếp cận gần hơn để thực hiện chức năng của mình, tiếp tục yêu cầu, không cho phép tàu khảo sát được tiếp tục thăm dò. Trong trường hợp cần thiết, nếu tàu khảo sát hoặc các tàu hộ tống của Trung Quốc có các hành vi cản trở, chống đối tàu chấp pháp của quốc gia ven biển thực hiện thẩm quyền tại vùng đặc quyền kinh tế thì các tàu chấp pháp được quyền thực hiện các biện pháp tương xứng để đáp trả nhằm mục đích tự vệ và thực hiện chức năng của mình. Theo quy định của luật quốc tế, việc thực hiện các biện pháp này cần đáp ứng được yêu cầu về sự cần thiết và tính tương xứng. Tuyên bố của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cho thấy, các lực lượng chức năng trên biển của Việt Nam đã thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán một cách hoà bình, đúng pháp luật nhằm bảo vệ vùng biển Việt Nam. Xác định loại tàu thâm nhập trái phép Việc xác định các tàu của Trung Quốc là loại tàu nào cũng có ý nghĩa quan trọng từ góc độ pháp lý. Tàu khảo sát Hải dương Địa chất 8 thuộc quyền quản lý và sử dụng của chính phủ Trung Quốc, ngoài ra còn được hộ tống bởi các tàu cảnh sát biển/ tàu của Lực lượng Bảo vệ Bờ biển của Trung quốc (tạm dịch từ tiếng Anh “China Coast Guard) và tàu dân quân của Trung Quốc nên có cơ sở để xác định hành vi vi phạm của tàu khảo sát Hải dương Địa chất 8 là của Trung Quốc. Các tàu hộ tống nếu thực hiện các biện pháp cản trở hoặc chống đối tàu chấp pháp của quốc gia ven biển cũng cần xem đó là loại tàu nào. Trong các đụng độ, các nước thường tránh không dùng lực lượng quân đội chính quy như hải quân vì hành động sử dụng vũ lực của quân đội chính quy theo luật pháp quốc tế là hành động tấn công vũ trang và là cơ sở để các nước khác có thể sử dụng quyền tự vệ. Việc dùng các tàu chấp pháp hoặc tàu cảnh sát biển, tàu dân quân để hộ tống vừa phù hợp với đặc thù vụ việc và trong trường hợp chủ động gây hấn ở những vùng mà Trung Quốc cố tình yêu sách ngược lại với các quy định của luật quốc tế thì họ ngang nhiên coi đó là hoạt động chấp pháp của họ. Các biện pháp được các bên sử dụng cụ thể như thế nào khi có đụng độ cũng rất quan trọng từ góc độ pháp lý. Các biện pháp ngăn cản, ép, tạt cánh, chặn đầu hay phun vòi rồng có thể sẽ được phân tích rất kỹ lưỡng về mức độ và hậu quả gây ra để xác định mức độ vi phạm, để xem xét có phải là sử dụng vũ lực không, đặc biệt nếu vụ việc được đưa ra các tòa án quốc tế xét xử. Kể cả trong trường hợp lực lượng chấp pháp thực hiện nhiệm vụ của mình để bảo vệ quyền chủ quyền của quốc gia ven biển thì việc sử dụng vũ lực của họ cũng được xem xét có vượt quá mức cần thiết hay không, có tương xứng không? Các biện pháp từ góc độ quốc gia Từ góc độ quốc gia, người phát ngôn Lê Thị Thu Hằng nêu rõ Việt Nam đã tiếp xúc nhiều lần với phía Trung Quốc ở các kênh khác nhau, trao công hàm phản đối, kiên quyết yêu cầu chấm dứt ngay các hành vi vi phạm, rút toàn bộ tàu ra khỏi vùng biển Việt Nam, tôn trọng quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam. Đây là minh chứng cho thấy Việt Nam đã kiên trì trao đổi quan điểm với Trung Quốc, áp dụng biện pháp đàm phán theo quy định của luật quốc tế và Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982. Nghĩa vụ trao đổi quan điểm cũng là yêu cầu đầu tiên các quốc gia cần đáp ứng trước khi muốn đưa một vụ việc ra xét xử ở các toà án quốc tế theo quy định của UNCLOS 1982. Phát biểu tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN – Trung Quốc diễn ra tại Bangkok, Thái Lan hồi cuối tháng 7 vừa qua, Phó Thủ tướng, Bộ Trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh cũng đã nêu rõ, những hành động như vậy đe dọa nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các quốc gia ven biển, làm xói mòn lòng tin, gia tăng căng thẳng, không có lợi cho hòa bình và ổn định ở khu vực Các tin khác TQ cáo buộc Hoa Kỳ thử tên lửa sẽ kích hoạt một ‘cuộc chạy đua vũ trang’ mới – 24/08/2019 13:00 Ước tính thiệt hại ‘khủng khiếp’ từ thương chiến Mỹ-Trung – 24/08/2019 05:00 Ông Trump: Tôi là ‘người được chọn’, Mỹ đang thắng TQ – 24/08/2019 04:00 66 tiêm kích Mỹ khó giúp Đài Loan xoay chuyển cán cân khu vực – 24/08/2019 02:00 TQ đang cải thiện quan hệ với Nhật Bản và Hàn Quốc – 23/08/2019 05:30

Hành vi sai trái của Trung Quốc ở Biển Đông dưới góc nhìn chuyên gia

Nhóm tàu Hải dương Địa chất 8 của Trung Quốc hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam đã vi phạm luật pháp quốc tế.

Trong thời gian vừa qua, tàu khảo sát Hải dương Địa chất 8 (Haiyang Dizhi 8) của Trung Quốc đã vào thăm dò trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam ở khu vực phía Nam Biển Đông. Đi theo bảo vệ tàu này có các tàu cảnh sát biển Trung Quốc và các tàu dân quân biển.

Dư luận quốc tế và trong nước lên án quyết liệt hành vi của Trung Quốc vi phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.

Từ góc độ pháp lý, hành động của phía Trung Quốc đã vi phạm luật quốc tế như thế nào? Tiến sĩ Phạm Lan Dung, Hội Luật quốc tế Việt Nam đã có những phân tích cụ thể về vấn đề này. [*Đây là ý kiến của cá nhân Tiến sĩ Lan Dung, không đại diện cho bất kỳ cơ quan, tổ chức nào].

Theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982), các quốc gia có quyền chủ quyền về thăm dò, khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên sinh vật hoặc không sinh vật tại vùng đặc quyền kinh tế của mình. Quốc gia có quyền tài phán về lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình; về nghiên cứu khoa học biển; về bảo vệ và gìn giữ môi trường biển. Tại vùng đặc quyền kinh tế, các quốc gia khác có quyền tự do hàng hải và hàng không, quyền đặt dây cáp ngầm.

Như vậy, các quốc gia khác không được tiến hành thăm dò, khảo sát tại vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Việc tàu khảo sát Hải dương Địa chất 8 của Trung Quốc sử dụng các trang thiết bị và tiến hành thăm dò và khảo sát trong quá trình đi lại trong vùng đặc quyền kinh tế cho thấy dấu hiệu vi phạm quyền chủ quyền về thăm dò tài nguyên thiên nhiên tại vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam.

Việc nhóm tàu Hải dương Địa chất 8 (lúc đông nhất lên đến hàng chục tàu hộ tống) đi như kẻ ô bàn cờ trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam và thực hiện các hoạt động thăm dò thì mức độ vi phạm càng rõ ràng hơn. Nếu tàu cảnh sát biển của Việt Nam yêu cầu tàu khảo sát của Trung Quốc ngừng hoạt động thăm dò và rời khỏi vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và thực hiện các biện pháp để bảo vệ quyền chủ quyền ở vùng đặc quyền kinh tế mà các tàu của Trung Quốc vẫn có các biện pháp gây hấn thì mức độ vi phạm càng trầm trọng.

Tuy nhiên, để có thể đưa ra kết luận từ góc độ pháp lý trong những trường hợp như trên, nhiều yếu tố cần được cân nhắc xem xét kỹ lưỡng.

Xác định vị trí và quy chế pháp lý vùng biển nơi có hành vi vi phạm

Vị trí nơi xảy ra các hoạt động của nhóm tàu Hải dương Địa chất 8 có vai trò quan trọng trong việc xác định hành vi vi phạm. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định, đây là vùng biển hoàn toàn của Việt Nam, được xác định theo đúng các quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982. Qua tuyên bố này, có thể thấy các hành vi thăm dò xảy ra ở vùng biển nằm cách bờ biển Việt Nam không quá 200 hải lý, không chồng lấn hoặc tranh chấp với bất kỳ quốc gia nào. Trung Quốc không có cơ sở nào để có bất kỳ yêu sách gì đối với vùng biển này của Việt Nam.

hanh vi sai trai cua trung quoc o bien dong duoi goc nhin chuyen gia luat quoc te hinh 2
Tàu khảo sát Hải dương Địa chất 8 (Haiyang Dizhi 8). Ảnh: Gulf Times.

Thứ nhất, bờ biển Trung Quốc cách nơi này hơn 500 hải lý.

Thứ hai, các thực thể trong khu vực quần đảo Trường Sa, theo phán quyết Trọng tài trong vụ Philippines – Trung Quốc, không thể có vùng biển rộng hơn 12 hải lý, do đó việc Trung Quốc đang chiếm đóng bất hợp pháp các thực thể ở Trường Sa không thể tạo ra bất cứ cơ sở nào cho Trung Quốc yêu sách vùng biển nêu trên của Việt Nam. Hơn nữa, Trường Sa không phải quốc gia quần đảo nên không thể có đường cơ sở quần đảo.

Thứ ba, tuyên bố của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc rằng họ có chủ quyền với bãi san hô ngầm ở khu vực Nam Biển Đông này là hoàn toàn không có cơ sở pháp lý và vi phạm quyền chủ quyền của Việt Nam tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam. Theo quy định của luật biển quốc tế, những rạn san hô chìm ngầm dưới nước không phải là đối tượng yêu sách chủ quyền riêng rẽ. Trung Quốc cũng như không một quốc gia nào có thể yêu sách chủ quyền riêng rẽ với những bãi san hô ngầm ở khu vực này. Khu vực nào của những bãi này nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt nam là một phần của vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam. Việt Nam có quyền lắp đặt đảo nhân tạo, xây dựng công trình và thăm dò, khai thác tài nguyên tại đây vì đó là quyền chủ quyền của Việt Nam tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình.

Các tình huống và biện pháp trên thực địa

Trên thực địa, khi xảy ra tình huống như đã nêu ở trên, tàu chấp pháp của quốc gia ven biển có thể thực hiện các hành động lại gần giám sát, tìm hiểu rõ vấn đề, yêu cầu tàu khảo sát của Trung Quốc ngừng hoạt động thăm dò và rời khỏi vùng đặc quyền kinh tế của mình. Trong trường hợp đã yêu cầu nhưng không thực hiện, các tàu chấp pháp của quốc gia ven biển có thể tiếp cận gần hơn để thực hiện chức năng của mình, tiếp tục yêu cầu, không cho phép tàu khảo sát được tiếp tục thăm dò.

Trong trường hợp cần thiết, nếu tàu khảo sát hoặc các tàu hộ tống của Trung Quốc có các hành vi cản trở, chống đối tàu chấp pháp của quốc gia ven biển thực hiện thẩm quyền tại vùng đặc quyền kinh tế thì các tàu chấp pháp được quyền thực hiện các biện pháp tương xứng để đáp trả nhằm mục đích tự vệ và thực hiện chức năng của mình.

Theo quy định của luật quốc tế, việc thực hiện các biện pháp này cần đáp ứng được yêu cầu về sự cần thiết và tính tương xứng. Tuyên bố của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cho thấy, các lực lượng chức năng trên biển của Việt Nam đã thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán một cách hoà bình, đúng pháp luật nhằm bảo vệ vùng biển Việt Nam.

Xác định loại tàu thâm nhập trái phép

Việc xác định các tàu của Trung Quốc là loại tàu nào cũng có ý nghĩa quan trọng từ góc độ pháp lý. Tàu khảo sát Hải dương Địa chất 8 thuộc quyền quản lý và sử dụng của chính phủ Trung Quốc, ngoài ra còn được hộ tống bởi các tàu cảnh sát biển/ tàu của Lực lượng Bảo vệ Bờ biển của Trung quốc (tạm dịch từ tiếng Anh “China Coast Guard) và tàu dân quân của Trung Quốc nên có cơ sở để xác định hành vi vi phạm của tàu khảo sát Hải dương Địa chất 8 là của Trung Quốc. Các tàu hộ tống nếu thực hiện các biện pháp cản trở hoặc chống đối tàu chấp pháp của quốc gia ven biển cũng cần xem đó là loại tàu nào.

Trong các đụng độ, các nước thường tránh không dùng lực lượng quân đội chính quy như hải quân vì hành động sử dụng vũ lực của quân đội chính quy theo luật pháp quốc tế là hành động tấn công vũ trang và là cơ sở để các nước khác có thể sử dụng quyền tự vệ.

Việc dùng các tàu chấp pháp hoặc tàu cảnh sát biển, tàu dân quân để hộ tống vừa phù hợp với đặc thù vụ việc và trong trường hợp chủ động gây hấn ở những vùng mà Trung Quốc cố tình yêu sách ngược lại với các quy định của luật quốc tế thì họ ngang nhiên coi đó là hoạt động chấp pháp của họ.

Các biện pháp được các bên sử dụng cụ thể như thế nào khi có đụng độ cũng rất quan trọng từ góc độ pháp lý. Các biện pháp ngăn cản, ép, tạt cánh, chặn đầu hay phun vòi rồng có thể sẽ được phân tích rất kỹ lưỡng về mức độ và hậu quả gây ra  để xác định mức độ vi phạm, để xem xét có phải là sử dụng vũ lực không, đặc biệt nếu vụ việc được đưa ra các tòa án quốc tế xét xử.

Kể cả trong trường hợp lực lượng chấp pháp thực hiện nhiệm vụ của mình để bảo vệ quyền chủ quyền của quốc gia ven biển thì việc sử dụng vũ lực của họ cũng được xem xét có vượt quá mức cần thiết hay không, có tương xứng không?

Các biện pháp từ góc độ quốc gia

Từ góc độ quốc gia, người phát ngôn Lê Thị Thu Hằng nêu rõ Việt Nam đã tiếp xúc nhiều lần với phía Trung Quốc ở các kênh khác nhau, trao công hàm phản đối, kiên quyết yêu cầu chấm dứt ngay các hành vi vi phạm, rút toàn bộ tàu ra khỏi vùng biển Việt Nam, tôn trọng quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam. Đây là minh chứng cho thấy Việt Nam đã kiên trì trao đổi quan điểm với Trung Quốc, áp dụng biện pháp đàm phán theo quy định của luật quốc tế và Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982.

Nghĩa vụ trao đổi quan điểm cũng là yêu cầu đầu tiên các quốc gia cần đáp ứng trước khi muốn đưa một vụ việc ra xét xử ở các toà án quốc tế theo quy định của UNCLOS 1982.

Phát biểu tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN – Trung Quốc diễn ra tại Bangkok, Thái Lan hồi cuối tháng 7 vừa qua, Phó Thủ tướng, Bộ Trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh cũng đã nêu rõ, những hành động như vậy đe dọa nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các quốc gia ven biển, làm xói mòn lòng tin, gia tăng căng thẳng, không có lợi cho hòa bình và ổn định ở khu vực

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Blog at WordPress.com.