Daily Archives: September 16, 2019

BBC ‘đánh’ Đức Quốc Xã bằng sự châm biếm hài hước

BBC ‘đánh’ Đức Quốc Xã bằng sự châm biếm hài hước

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES

Vào một đêm khuya năm 1940 ở London, Robert Lucas, một người Áo lưu vong ngồi viết tại bàn.

Bom trút xuống thành phố mỗi đêm, quân của Hitler đang chiến thắng trên khắp châu Âu và cuộc xâm lược nước Anh đã trở thành khả năng thực sự.

Những cô gái nếm đồ ăn cho Hitler

Những chuyện nực cười trong cái chết của Stalin

Mr Jones, người tố cáo Stalin gây nạn đói 1932-33

Mặc cho còi báo động không kích và, như lời ông nói ‘đó là âm thanh địa ngục của cỗ máy chiến tranh’ phát ra xung quanh, Lucas tập trung vào công việc trong tay: để ‘đấu tranh cho linh hồn của người Đức’.

Ông đang soạn một chương trình phát thanh nhắm vào các công dân của Đệ Tam Đế chế. Nhưng đây không phải là lời thỉnh cầu tận đáy lòng để kêu gọi lý trí của người dân Đức. Đây là nỗ lực làm cho họ cười.

Liều lĩnh nghe ‘đài địch’

Lucas đã làm việc cho Ban tiếng Đức của BBC kể từ khi ban này ra đời một cách ngẫu nhiên vào đỉnh điểm của cuộc Khủng hoảng Sudeten vào tháng 9/1938.

Mục đích của Ban tiếng Đức ngay từ đầu – khi nó phát sóng bản dịch bài phát biểu của Thủ tướng Anh Neville Chamberlain không lâu trước khi ông ký Hiệp ước Munich khét tiếng – là phá vỡ thế độc quyền tin tức của Đức Quốc trong Đệ Tam Đế chế.

BBC
Image captionRobert Lucas (trái) là người Áo lưu vong, người đã viết các chương trình phát thanh châm biếm mỉa mai cho Ban BBC Tiếng Đức từ năm 1940

Đức Quốc Xã không thể ngăn chặn đài phát thanh nước ngoài xâm nhập vào Đức nhưng họ có thể quy cho ai nghe đài địch là phạm tội.

Họ đã làm như vậy ngay khi chiến tranh nổ ra. Những người bị bắt đã bị bỏ tù; bản án dành cho loan truyền tin tức của kẻ thù là tử hình.

Cách xây dựng hình tượng để thiên hạ tôn sùng

Chủ nghĩa toàn trị và thời hiện tại trong ‘1984’

Kinh Thi trong đời sống và tư tưởng Trung Hoa

Những người Đức đủ can đảm để khinh nhờn pháp luật phải cảnh giác với những người nghe trộm và những người hàng xóm xấu bụng, và đó sẽ trùm mền nghe đài như thể tự chữa cảm lạnh nặng trên một chậu nước xông.

Nhưng tại sao lại chọn phát sóng nội dung châm biếm trong trường hợp này? Khôi hài để duy trì nhuệ khí trong nước ở Anh quốc có thể là chiến lược thành công – được thực hiện đặc biệt tốt trong tác phẩm châm biếm thời chiến của BBC ‘It’s That Man Again’ (hay còn gọi là ITMA).

Nhưng còn tuyên truyền đến kẻ thù thì sao? Và dù thế nào đi nữa, ai sẽ liều mạng để nghe đài địch?

Thật vậy, khi Lucas bắt đầu viết Die Briefe des Gefreiten Adolf Hirnschal, ông ‘không hề biết liệu ít nhất có 50 người ở Đức lắng nghe nghe hay không’.

Như sau này ông kể lại, ông ‘nói vào bóng đêm mà không nghe được tiếng vọng nào’. Việc chương trình đó của ông – cùng với hai loạt chương trình châm biếm khác có tên là Frau Wernicke và Kurt und Willi – đã được đặt hàng vào năm 1940 cho thấy cách tiếp cận thử nghiệm táo bạo mà Ban tiếng Đức áp dụng trong giai đoạn phôi thai.

BBC
Image captionChương trình châm biếm của BBC Thế giới vụ trong thời chiến It’s That Man Again (ITMA) có sự tham gia của Tommy Handley

Ban tiếng Đức không có đủ nhân sự, thiết bị và tổ chức cần thiết để thực hiện một cách đầy đủ nhiệm vụ hàng ngày: phản tuyên truyền.

Hơn nữa, đây là lãnh địa chưa khai phá. Đài phát thanh vẫn còn tương đối mới, và phát sóng vào đất kẻ thù là điều hoàn toàn mới.

Điều này đem đến tinh thần sáng tạo và phiêu lưu. Cũng đúng là cho đến năm 1940 đã có không khí tuyệt vọng. “Được rồi, chúng ta hãy thử xem,” BBC nói với Lucas khi đặt hàng chương trình Die Briefe des Gefreiten Adolf Hirnschal.

Các chương trình châm biếm hình thành dựa trên một liên minh khó nghĩ đến giữa BBC, các quan chức tuyên truyền của Anh và những người lưu vong nói tiếng Đức không bị ảnh hưởng.

Một mặt, các quan chức Anh khăng khăng rằng thông điệp của Ban tiếng Đức phải nghe như người Anh chính tông. Nhưng nó cũng cần phải chứng tỏ hiểu biết tường tận về tâm lý người Đức, và chính vì vậy nó phải nhờ rất nhiều vào sự đóng góp của những người lưu vong.

Nhưng mối quan hệ không phải lúc nào cũng dễ dàng; Là người ngoài đến từ đất kẻ thù, Lucas và những người lưu vong giống như ông thường bị nhìn với ánh mắt nghi ngờ.

Lắt léo trong việc dịch thuật

Nội dung kỳ quặc của chương trình nên được hiểu trong bối cảnh liên minh thú vị này.

Adolf Hirnschal là một loạt các bức thư hư cấu do một hạ sĩ Đức ngoài tiền tuyến viết cho vợ.

Nhân vật chính đọc các bức thư cho người đồng đội chiến đấu của mình trước khi chúng được gửi đi.

Bề ngoài, Adolf Hirnschal tôn thờ ‘Lãnh đạo kính yêu’. Tuy nhiên, lời cảm thán về lòng trung thành của anh lại xa vời đến nỗi ý định của tác giả là rõ ràng: phơi bày sự hời hợt và dối trá trong những tuyên bố của Đức Quốc Xã.

Trong lá thư đầu tiên sau khi Nga bị tuyên chiến vào năm 1941, anh nói với vợ rằng anh đã đón nhận như thế nào tin tức từ viên trung úy cấp trên rằng họ đang được đưa đến biên giới Nga:

Anh nhảy cẫng lên vui sướng và nói: ‘Ông trung úy, xin cho phép bày tỏ rằng tôi vô cùng vui mừng vì chúng ta hiện đang kết nghĩa với người Nga. Chẳng phải Lãnh đạo kính yêu của chúng ta đã nói vào năm 1939 rằng tình hữu nghị của chúng ta với người Nga là không thể thay đổi và không thể đảo ngược hay sao?’

Do đó, Hirnschal vạch trần sự giả dối trong chính sách của Hitler đối với Nga, tất cả đều dưới vỏ bọc của lòng trung thành tuyệt đối.

Đây là một phương pháp mà Bruno Adler – nhà sử học và tác giả nghệ thuật người Đức trốn sang Anh hồi năm 1936 – sử dụng trong Frau Wernicke.

Nhân vật chính là một bà nội trợ người Berlin kiên cường, tốt bụng và nhiều chuyện, qua những lời độc thoại hâm hâm của mình, đã phàn nàn về sự bất công, chế độ tem phiếu và những mâu thuẫn của cuộc sống hàng ngày trong thời gian chiến tranh – những điều này phơi bày nhận thức thông thường.

Bằng cách đặt cạnh nhau sự ủng hộ ngu ngơ giả tạo của bà cho chủ nghĩa phát xít và hiện thực phũ phàng của cuộc sống thời chiến mà bà mô tả, ý định chống đối của Adler thể hiện rất rõ ràng.

Có một lần, Frau Wernicke hỏi bạn mình sao bà ấy buồn như vậy, và ngay sau đó tự mình trả lời câu hỏi:

Chỉ vì chồng bà phải nghỉ kinh doanh và vì con trai bà hiện đang trong quân ngũ và đã quá chán chường và vì con gái bà, Elsbeth, phải làm thêm năm thứ hai lao động nhà nước cưỡng bức và bởi vì – như bà nói – bà không còn cuộc sống gia đình nữa và như thế là bà không hạnh phúc?

Lưu ý cách sử dụng từ ‘chỉ’ hết sức mỉa mai.

BBC
Image captionGiám đốc chương trình phát thanh châu Âu của BBC Noel Newsome tỏ ý nghi ngờ về tác dụng của cách thể hiện mai mỉa, châm biếm

‘Kurt und Willi’ cũng do Bruno Adler viết kịch bản. Đó là một loạt các cuộc đối thoại giữa hai người bạn: Kurt là hiệu trưởng, còn Willi là viên chức trong Bộ Tuyên truyền Đức.

Trong khi nói chuyện về các sự kiện của cuộc chiến quanh ly bia trong một quán bar ở Berlin, Kurt đảm nhận vai một người Đức bình thường ngây thơ. Willi là một kẻ cơ hội yếm thế, vô đạo đức, rò rỉ cho bạn mình những luận điệu bao biện, thủ đoạn và sai lầm mới nhất mà Bộ Tuyên truyền làm ra.

Các chương trình này có sự khôi hài mà không thể dịch suôn sẻ – theo nghĩa đen từ tiếng Đức sang tiếng Anh, mà còn từ sóng phát thanh sang báo in nữa. Và, đương nhiên, chúng là câu chuyện trong thời đại đó. Nhưng chúng đặt ra những câu hỏi mà vào lúc đó là chủ đề của cuộc tranh luận gay gắt.

Tác dụng đến đâu?

Những chương trình này thực sự có ảnh hưởng gì không? Liệu châm biếm có thể được sử dụng như một vũ khí để chuyển hóa người Đức theo quan điểm của Anh và khiến họ mong muốn chấm dứt chiến tranh? Nó thậm chí có phù hợp hay không?

Giám đốc Phát sóng châu u của BBC, Noel Newsome, là người nghi ngờ. Nhắc đến một buổi phát sóng Kurt und Willi năm 1944, ông đã viết:

Nếu chương trình này thật hài hước và thú vị thì nó chỉ có thể phục vụ mục đích thảm hại là giảm bớt căng thẳng ở Đức, chẳng hạn như, giễu hài về ‘bọ vẽ lung tung’ giúp làm giảm căng thẳng ở Anh về bom robot. Nếu ‘Kurt und Willi’ không thực sự hài hước thì xét kiểu nào chương trình này cũng là một sự lãng phí thời gian quý báu.

Trên sóng phát thanh tại nhà, người Đức […] không nên nghe chương trình hài khi họ vặn đài London.

Đã có những nghi ngờ về giá trị của tuyên truyền châm biếm ngay từ đầu.

Thử nghiệm hài hước đầu tiên trên Ban tiếng Đức phát sóng vào Ngày Cá tháng Tư năm 1940.

Các nhà sản xuất đã phải trấn an các quan chức tuyên truyền rằng việc phát sóng ‘Der Führer Spricht’, một show nhại Hitler được Martin Miller, một người Áo lưu vong viết và trình diễn, sẽ là ngoại lệ.

Nhưng mà, như chúng ta đã biết, nó không phải là ngoại lệ. Các chương trình hài hước tiếp tục ra đời, và chẳng mấy chốc người Nga cũng nhập cuộc.

Đài Radio Moskau đã thử nghiệm các định dạng tương tự, một trong số đó – Frau Künnecke Will Jarnischt Gesagt Haben – là sự bắt chước rõ ràng Frau Wernicke.

Nhưng không có chương trình nào trong số này được phát sóng đều đặn như Hirnschal, Frau Wernicke và Kurt und Willi. Chúng đưa chúng ta đi qua chiến tranh, từ mùa hè năm 1940 cho đến khi kết thúc cuộc chiến – hàng tuần hoặc hai tuần một lần.

Nhưng ai là người nghe chương trình phát thanh của Ban tiếng Đức, và họ đã nhận thức nó thế nào?

Theo Robert Lucas, thư cảm ơn từ thính giả của Ban Tiếng Đức đã ồ ạt gửi đến ngay khi chiến tranh kết thúc.

“Các chương trình phát sóng ở London đã cứu tôi thoát khỏi tự tử trong những ngày đen tối nhất của cuộc chiến của Hitler,” một lá thư từ Kho lưu trữ BBC viết.

Một thư khác viết: “Nhờ BBC và chỉ BBC mà tôi có được sức mạnh đạo đức để không trở thành đồng lõa.”

Nhiều lá thư chỉ đích danh chương trình hài: “Việc quý vị đem đến cho chúng tôi sự hài hước đã giúp chúng tôi chịu được điều không thể chịu đựng,” một thính giả viết, trong khi một người khác bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với việc “quý vị hiểu rõ như thế nào về tâm hồn con người”.

Library of CongressBản quyền hình ảnhLIBRARY OF CONGRESS
Image captionNhững người chỉ trích như Theodor Adorno nói việc mỉa mai Phát Xít là sai về mặt đạo đức

Có lẽ những lá thư đó đã biện minh đủ nếu bạn tự hỏi – như Charlie Chaplin đã làm sau khi ông biết về sự tàn bạo của Đức Quốc Xã – liệu có phù hợp về mặt đạo đức khi chế giễu hay không, như Chaplin đã giễu cợt trong ‘The Great Dictator’.

Theodor Adorno nhấn mạnh rằng châm biếm chống phát xít không nắm bắt hoặc mô tả hiện thực và tệ hơn nữa, nó bỏ qua hoặc tầm thường hóa mức độ nghiêm trọng của Chủ nghĩa xã hội mang màu sắc dân tộc.

Nhưng chẳng phải ít nhất tiếng cười nhắc nhở chúng ta về ý nghĩa của con người? Chẳng phải chỉ cần có các chương trình châm biếm thì đã thể hiện niềm tin vào trí tuệ và, trên hết, tính nhân văn của khán giả hay sao?

“Cũng như bất kỳ chế độ chuyên chế nào khác, Đảng Chủ nghĩa xã hội quốc gia hoàn toàn không hài hước,” Robert Lucas viết. “Bây giờ nhìn lại, có lẽ đó là thành công chính chương trình châm biếm tiên phong của Ban tiếng Đức.”

Đây là lĩnh vực mà Đức Quốc Xã không biết làm và không thể cạnh tranh. Và ngay cả khi những lời độc thoại xàm xí của Frau Wernicke hoặc Adolf Hirnschal chỉ có được tương đối ít người Đức nghe, ngay cả khi chúng không phải lúc nào cũng hết sức buồn cười, thì việc chúng đem đến sự an ủi và thậm chí là sự khai sáng cho bất cứ ai là bằng chứng cho thấy sứ mạng của Lucas ‘chiến đấu cho linh hồn của người Đức’ không hoàn toàn vô ích.

Bài tiếng Anh đã đăng trên BBC Culture.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Bãi Tư Chính trong tam giác Việt Nam – Hoa Kỳ – Trung Cộng

Bãi Tư Chính trong tam giác Việt Nam – Hoa Kỳ – Trung Cộng

< A >
1. Bãi Tư Chính ở đâu?
Vị trí bãi Tư Chính (Vanguard Bank) có 4 điểm đáng chú ý: 1) Bãi Tư Chính là một bãi san hô chìm dưới mặt nước biển, không phải là một hải đảo, nằm trong thềm lục địa (continental shelf). (BBC NEWS Tiếng Việt, 29-7-2019), và nằm trong vùng đặc quyền kinh tế (ĐQKT) (exclusive economic zone) 200 hải lý (370 Km) của Việt Nam, ở nam Côn Sơn, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, do một tiểu đoàn Hải quân CSVN quản lý và khảo sát khí tượng, 2) Dưới lòng biển bãi Tư Chính có tiềm năng lớn về dầu hỏa và khí đốt, nên nhiều nước dòm ngó. 3) Bãi Tư Chính nằm trên trục giao thông hàng hải đông-tây và bắc-nam ở Biển Đông. Đây là con đường giữa Âu Châu, Phi Châu và Á Châu. Ở Á Châu, từ eo biển Hormuz (giữa Iran và và Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhứt) đến eo biển Malacca (giữa Malaysia và đảo Sumatra thuộc Indonesia) là đoạn đường huyết mạch ra Biển Đông. 4) Theo công ước về luật biển của Liên Hiệp Quốc, bãi Tư Chính nằm trong vùng ĐQKT của Việt Nam. Trung Cộng không chịu nhận điều nầy, và tự quy định rằng bãi Tư Chính nằm trong đường nối 9 điểm của Trung Cộng trên Biển Đông.
Đường nầy trước kia chưa có. Cho đến đầu thế kỷ 20, nước Trung Hoa chỉ tới đảo Hải Nam. Một bản đồ năm 1948 thời Trung Hoa Dân Quốc vẽ thêm một đường gạch cách khoảng, nối 11 điểm trên Biển Đông mà Trung Hoa cho rằng thuộc chủ quyền Trung Hoa. Qua thời Trung Cộng đường nầy rút lại còn 9 điểm, tạo thành một khu vực có hình chữ U, giống hình lưỡi bò, rộng khoảng 80% diện tích Biển Đông. Nếu kể từ đất liền Trung Cộng, đường lưỡi bò dài hơn 1,000 hải lý, chỉ cách đất liền các nước Philippines, Malaysia và Việt Nam trên 100 hải lý, “ăn vào 67 lô” dầu khí của Việt Nam trên Biển Đông. (BBC tiếng Việt ngày 23-5-2018.) Cần chú ý là Trung Cộng quan niệm đường lưỡi bò của Trung Công là bất di dịch, bất chấp luật biển LHQ.
Hai thuật ngữ theo công ước về luật biển: 1) Thềm lục địa là phần đất nối dài từ đất liền chạy ra biển, thông thường là 200 hải lý. 2) Vùng ĐQKT rộng 200 hải lý kể từ hải phận. Nước chủ nhà chỉ được quyền đối với tầng đất vùng ĐQKT. Tầng nước biển và tầng bầu trời (không phận) vùng ĐQKT thuộc quốc tế. Thềm lục địa và vùng ĐQKT do luật biển LHQ quy định, không nước nào có quyền đi ngược lại luật nầy.
2. Bãi Tư Chính nổi sóng
Sau chiến tranh với CSVN năm 1979, Trung Cộng cải tiến quân đội, hiện đại hóa Hải quân để bành trướng bằng đường biển. Đại tướng Lưu Hoa Thanh (Liu Huaqing), tư lệnh Hải quân Trung Cộng từ 1982, đưa ra chiến lược xây dựng Hải quân Trung Cộng thành một lực lượng toàn cầu vào giữa thế kỷ 21.
Đáp lại chiến lược mới của Trung Cộng, Hoa Kỳ thời tổng tống Barack Obama quyết định xoay trục qua Á Châu. do ngoại trưởng Hillary Clinton công bố ngày 24-7-2010 tại diễn đàn hội nghị ASEAN ở Hà Nội năm 2010, làm cho Trung Cộng quan ngại. (Ngọc Trân, RFA, 31-7-2010.)
Khi Hải quân khá mạnh, Tập Cận Bình công bố dự án “một vành đai, một con đường” (nhất đới nhất lộ) năm 2013, phỏng theo “con đường tơ lụa” Trung Hoa thời xưa. Cũng trong năm nầy, ngày 25-7-2013, Hoa Kỳ và CSVN thiết lập quan hệ đối tác toàn diện. (Chưa phải là đối tác chiến lược.). Lúc đó, CSVN hợp tác với các công ty tây phương thăm dò dầu khí trong vùng ĐQKT trên Biển Đông khiến Trung Cộng phật lòng vì Trung Cộng muốn hợp tác khai thác dầu khí với CSVN. Từ 2-5-2014, Trung Cộng đưa giàn khoan HD 981 đến đe dọa vùng ĐQKT Việt Nam, bị dân Việt biểu tình phản đối dữ dội. Trung Cộng rút giàn khoan HĐ81 ngày 16-7-2014.
Trước tình hình mới, ngày 02-10-2014, Hoa Kỳ dỡ bỏ một phần lệnh cấm vận bán vũ khí sát thương với Việt Nam. Khi đến Việt Nam năm 2016, tổng thống Obama tuyên bố Hoa Kỳ dỡ bỏ toàn phần lệnh cấm vận bán võ khí sát thương cho Việt Nam, đưa đoàn Peace Corps (Đoàn Hòa bình) đến hoạt động ở Việt Nam, và mở Đại hoc Fulbright Việt Nam ở Sài Gòn.
Trong khi đó, Trung Cộng vẫn tiếp tục gây áp lực đối với CSVN, khiến năm 2017 CSVN phải dẹp bỏ hai dự án dầu khí lớn là Cá voi xanh ở Quảng Nam và Cá rồng đỏ ở bãi Tư Chính. Dự án Cá voi xanh “có trữ lượng ước tính 150 tỉ mét khối, sẽ đóng góp vào ngân sách Việt Nam gần 20 tỉ đô la.” (Thụy My, RFA, 16-11-2017.) Dự án Cá rồng đỏ được “ước tính là có trữ lượng 45 triệu thùng dầu và 172 tỷ feet khối khí gas” (Bill Hayton, BBC News, 23-3- 2018.) Tiền trong túi mà không được lấy kể cũng ức!
Được thế, Trung Cộng làm tới, yêu cầu CSVN chấm dứt luôn hoạt động của dàn khoan Hakuryu 5 (Nhật Bản) do Công ty dầu khí Việt Nam hợp đồng với công ty Rosneft (Nga) thuê, đang hoạt động ở phía bắc bãi Tư Chính. Tuy nhiên, lần nầy CSVN không tuân hành lệnh của Trung Cộng. (VOA 26-7-2019).
Ngày 18-6-2019, Trung Cộng đưa tàu Hải Cảnh 35111, tuần tra khu vực tây bắc Tư Chính trong thềm lục địa Việt Nam. Ngày 3-7-2019, Trung Cộng đưa thêm tàu Hải Dương Địa Chất 8 (HDĐC-8) đến vùng ĐQKT Việt Nam, cũng gần Tư Chính. Đưa tàu nghiên cứu đến Tư Chính trong vùng ĐQKT của Việt Nam nói là để nghiên cứu địa chất ở đây, rõ ràng là một hành vi gây hấn
Tức thì xảy ra cuộc đối đầu giữa tàu hải cảnh hai nước. Hai tàu của Trung Cộng và bốn tàu của CSVN quần thảo nhau gần giàn khoan Hakuryu-5, trong khi tàu HDĐC-8 tiếp tục khảo sát địa chấn tại đây. Bất ngờ, ngày 7-8-2019, Trung Cộng rút tàu HDĐC-8 khỏi bãi Tư Chính. Báo Hà Nội Mới ngày 12-8 loan tin do “nỗ lực không khoan nhượng của cơ quan chức năng” của nhà nước CSVN nên HĐĐC 8 rút lui. Dầu vậy, cũng thật bất ngờ, ngày 13-8-2019 HDĐC-8 quay lại bãi Tư Chính như vào chỗ không người.
3. Vì sao bãi Tư Chính nổi sóng
Trung Cộng đe dọa bãi Tư Chính lần nầy có thể vì hai lý do sâu xa: 1) Lý do thứ nhứt rất dễ hiểu: Trung Cộng đã đề nghị hợp tác với CSVN thăm dò và khai thác dầu khí trong thềm lục địa Việt Nam, nhưng CSVN từ chối, mà CSVN lại hợp tác với các nước khác. 2) CSVN đang xích lại gần Hoa Kỳ.
Trong khi tiếp tục cuộc hành trình xoay trục qua Á Châu, Hoa Kỳ đưa ra chiến lược an ninh và quốc phòng “Ân Độ – Thái Bình Dương” năm 2017, càng làm cho Trung Cộng thêm nóng mặt. Ngày 27-5-2018, hai chiến hạm Hoa Kỳ mang hỏa tiễn, di chuyển trong hải phận quốc tế, và chỉ cách Hoàng Sa 12 hải lý. (BBC NEWS – Tiếng Việt, 27-5-2018) Tại hội nghị đối thoại Shangri-La lần thứ 17 ở Singapore từ 1-6-2018, khi một đại tá trong phái đoàn Trung Cộng chất vấn, bộ trương Quốc phòng Hoa Kỳ James Mattis trả lời: “We do not do freedom of navigation for America alone… it’s freedom for all nations, large and small, that need to transit those waters for their own prosperity and they have every reason to do so.” (Bonnie S. Glaser and Gregory Poling, “Vanishing Borders in the South China Sea – The U.S. Must Do More to Stop China’s Encroachments”, June 5, 2018.) (Xin tạm dịch: “Chúng tôi không thực hiện quyền tự do hàng hải cho riêng chúng tôi… Đó là tự do cho tất cả các quốc gia, lớn hay nhỏ, mà họ cần phải di chuyển trong những hải phận [quốc tế] đó cho sự phồn thịnh của nước họ, và họ có đủ lý lẽ để làm như thế.”)
Chíến lược nầy được ghi rõ trong “Indo-Pacific Strategy Report” (Báo cáo chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương”, dày 56 trang do Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đưa ra ngày 1-6-2019, có đoạn riêng về Viêt Nam, như sau “The Department is building a strategic partnership with Vietnam that is based on common interests and principles, including freedom of navigation, respect for a rules-based order in accordance with international law, and recognition of national sovereignty. The U.S.-Vietnam defense relationship has grown dramatically over the past several years, as symbolized by the historic March 2018 visit of a U.S. aircraft carrier for the first time since the Vietnam War.” (pp. 36-37) [Xin tạm dịch: “Bộ [Quốc phòng Hoa Kỳ] đang xây dựng một sự hợp tác chiến lược với Việt Nam, đặt căn bản trên những quyền lợi và nguyên tắc chung, gồm tự do hàng hải, sự tôn trọng một trật tự dựa trên quy luật phù hợp với luật quốc tế và sự tôn trọng chủ quyền quốc gia. Mối quan hệ quốc phòng giữa Hoa Kỳ và Việt Nam phát triển một cách đáng kể trong nhiều năm qua, tiêu biểu là cuộc thăm viếng lịch sử của một hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ vào tháng 3-2018, lần đầu tiên kể từ chiến tranh Việt Nam.”] (tt. 36-37.)
Sự đối đầu giữa kế hoạch “xoay trục qua Á Châu” và dự án “một vành đai một con đường” đưa đến một hình thức chiến tranh lạnh mới giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng, và cuộc thương chiến giữa hai nước năm 2018. Trong thời gian gần đây Hoa Kỳ và CSVN lại tăng cường ngoại giao và thương mại.
Ngoài ra, tại hội nghị an ninh châu Á ở Singapore vào tháng 5-2019, đại diện CSVN “không hề nhắc đến” chủ trương ba không của CSVN như những lần trước. (Không liên minh quân sự với bất kỳ nước nào. Không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam. Không dựa vào nước này để chống nước kia. (RFA, 05-06-2019). Tất cả những sự việc trên làm cho Trung Cộng nghi ngờ CSVN, nên đưa tàu đến uy hiếp CSVN.
4. Phản ứng sau vụ bãi Tư Chính
Như thông lệ, ngày 16-7, CSVN lên tiếng nhẹ nhàng phản đối Trung Cộng. Sau đó, bộ Ngoại giao CSVN bất ngờ đổi giọng cứng rắn trong cuộc họp báo ngày 19-7-2019, tố cáo đích danh tàu Trung Cộng vi phạm thềm lục địa Việt Nam ở khu vực phía nam, mà không còn gọi là tàu lạ. Tại hội nghị Ngoại trưởng ASEAN ở Bangkok (Thái Lan) từ 31-7-2019, ngoại trưởng CSVN thẳng thừng lên án hành động của Trung Cộng tại Biển Đông. Khi hai ngoại trưởng CSVN và Trung Cộng gặp riêng, thì như hai người điếc nói chuyện với nhau, chẳng ai nghe ai. Mỗi bên giữ vững quan điểm của mình.
Bên cạnh CSVN, Hoa Kỳ là nước phản đối Trung Cộng mạnh mẽ nhứt. Ngày 20-7-2019, bộ Ngoại giao Hoa Kỳ lên án Trung Cộng gây bất ổn tại Biển Đông, bắt nạt các quốc gia trong vùng, và yêu cầu Trung Cộng ngưng hành động xâm phạm quyền thăm dò và khai thác dầu khí các nước nầy trên Biển Đông.
Có ý kiến cho rằng đây là cơ hội thuận tiện để CSVN khởi kiện Trung Cộng ra Tòa án La Haye? Đúng là nên kiện để tính chuyện mai sau. Tuy nhiên, trong vụ án Scaborough do Philippines kiện Trung Cộng năm 2013, Tòa án Trọng tài thường trực (Permanent Court of Arbitration), trụ sở ở La Haye (Hòa Lan), phán quyết năm 2016 rằng Trung Cộng không có cơ sở lịch sử và pháp lý về đường lưỡi bò, và Trung Cộng không có quyền độc quyền làm chủ biển và tài nguyên trong vùng đường lưỡi bò, thì Trung Cộng chẳng quan tâm tí nào đến phán quyết nầy. Trung Cộng chỉ dùng lý của kẻ mạnh, dựa vào thế lực kinh tế và quân sự, thương thuyết song phương với từng nước để dễ dụ dỗ, dễ mua chuộc, và cũng dễ đe dọa
Khi tàu Trung Cộng quay lại bãi Tư Chính ngày 13-8, thì ngày 16-8, bộ Ngoại giao CSVN lên tiếng phản đối và yêu cầu Trung Cộng rút toàn bộ tàu bè ra khỏi biển Việt Nam. Ngày 21-8, Hoa Kỳ lên án Trung Cộng một lần nữa. Cùng ngày 22-8, CSVN lại phản đối Trung Cộng, và thông báo Việt Nam sẽ tham gia cuộc tập trận chung trên biển với các nước ASEAN và Hoa Kỳ từ ngày 2-9 đến ngày 6-9 từ phía bắc Thái Lan đến phía nam Ca Mau. Đáp lại, có thể để tránh đụng độ gây cấn, ngày 24-8, tàu HDĐC 8 tiến gần về phía đảo Phú Quý (Bình Thuận) và bờ biển Phan Thiết.
Khác với vụ đặc khu kinh tế năm vừa qua, lần nầy trong nước chỉ có một cuộc biểu tình nhỏ ngày 6-8, trước tòa đại sứ Trung Cộng ở Hà Nội, liền bị dẹp yên ngay. Một nguồn tin từ trong nước cho biết rằng khi vụ Tư Chính căng thẳng, báo chí CS được phép đăng tin, và gợi ý chuyện biểu tình, nhưng anh chị em trong nước rất dè dặt, không muốn tổ chức “biểu tình quốc doanh” theo lệnh đảng CSVN. Dầu vậy, anh chị em chuẩn bị sẵn sàng, sẽ đứng lên khi cần. Việc chưa biểu tình của dân chúng trong tình thế căng thẳng hiện nay là một thái độ bất hợp tác và cũng là đối đầu với nhà nước CS.
5. Bãi Tư Chính trong tam giác Việt Nam – Hoa Kỳ – Trung Cộng
Mối quan hệ giữa CSVN và Trung Cộng bắt đầu khi Hồ Chí Minh từ Liên Xô qua Trung Hoa hoạt động năm 1924. Năm 1949, đảng CSTH thành công và lên nắm quyền. Lúc đó, CSVN thua trong chiến tranh với Pháp, liền qua Trung Cộng cầu viện. Nhờ thế, CSVN thành công năm 1954. Năm 1958, Phạm Văn Đồng ký công hàm thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Cộng để đổi lấy viện trợ đánh miền Nam và thành công năm 1975. Sau một thời gian lạnh nhạt, Nguyễn Văn Linh qua Trung Cộng xin tái lập bang giao năm 1990 tại hội nghị Thành Đô. Để cầu viện, Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh bí mật cam kết những gì, thì chỉ có chủ nợ biết. Trung Cộng chắc chắn dùng lởi cam kết bí mật của các con nợ để đòi lại, ví dụ công hàm Phạn Văn Đồng năm 1958 (đưa đến vụ Hoàng Sa năm 1974), mật ước Thành Đô năm 1990 (đưa đến hai hiệp định biên giới trên đất liền năm 1999 và trên biển 2000…)
Vấn đề Hoàng Sa trong công hàm Phạm Văn Đồng là vấn đề song phương giữa Trung Cộng và CSVN, quốc tế không can thiệp. Vấn đề bãi Tư Chính không dính đến công hàm trên, mà bãi Tư Chính lại nằm trên hải lộ quốc tế, tàu bè nhiều nước qua lại. Xâm phạn vùng biển bãi Tư Chính, Trung Cộng đụng chạm đến hải lộ quốc tế có tàu thuyền nhiều nước qua lại, nên bị nhiều nước phản đối khắp nơi trên thế giới. Ví dụ các nước Âu Châu ở xa Việt Nam mà cũng phản đối Trung Cộng.
Hoa Kỳ phản đối Trung Cộng chẳng phải vì riêng Việt Nam, mà vì cả các nước vùng Biển Đông và cả các nước có tàu bè qua lại trên Biển Đông, vừa thử thách Trung Cộng trong cuộc thương chiến giữa hai nước, vừa chận đứng tiềm năng dầu khí ở bãi Tư Chính lọt vào tay Trung Cộng, vừa bảo vệ tự do hàng hải trên Biển Đông.
Như thế trong vấn đề bãi Tư Chính và cả Biển Đông, sự khác biệt căn bản giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng là Hoa Kỳ tôn trọng quy định Liên Hiệp Quốc về luật biển, chống lại việc Trung Cộng muốn độc chiếm Biển Đông thành “ao nhà” của Trung Cộng, muốn làm gì cũng được theo lý của kẻ mạnh.
Sự khác biệt về quan điểm tự do lưu thông trên Biển Đông chỉ là một phần trong sự đối đầu giữa Trung Cộng và Hoa Kỳ. Mối thâm thù của Trung Cộng đối với Hoa Kỳ bắt đầu từ thời chiến tranh lạnh sau thế chiến thứ hai. Vào đầu thập niên 70, vì cần liên kết để chống Liên Xô, nên hai bên tạm hòa hoãn.
Ngày 1-1-1979, Hoa Kỳ chính thức công nhận Trung Cộng. Tuy vậy Hoa Kỳ vẫn ban hành “Luật Quan hệ Đài Loan” ngày 10-4-1979, xác định mối quan hệ chính thức với Đài Loan, bảo vệ Đài Loan, tuy không có ngoại giao. Sau đó, Hoa Kỳ xoay trục qua Á Châu làm cho Trung Cộng tức giận, vì Hoa Kỳ là nước có thể gây trở ngại sự bành trướng của Trung Cộng. Gần đây nhứt, Hoa Kỳ quyết định mở cuộc chiến tranh thương mại có thể gây tổn hại cho nền kinh tế Trung Cộng.
6. Thông điệp bãi Tư Chính
Sự kiện bãi Tư Chính dầu chỉ mới qua giai đoạn 1, đã bày ra một thực tế rõ ràng. Thế hệ lãnh đạo CS nợ máu và nợ tù cải tạo với nhân dân, nay đều đã chết. Thế hệ CS cầm quyền hiện nay là thế hệ thừa kế, thư lại quan liêu (bureaucracy), tự mãn hưởng thụ, không có tinh thần chiến đấu, dùng tài sản sẵn có của đất nước dâng cho kẻ thù để cầu an, chỉ giỏi đàn áp dân chúng, “hèn với giặc, ác với dân”. Nhờ tham nhũng, cán bộ CS hiện nay giàu có so với trước 1975, sống sung túc, xa hoa, trụy lạc, xa rời quần chúng.
Trong khi đó, nước Việt Nam càng ngày càng suy thoái. Giới lãnh đạo CS không có tầm nhìn chiến lược phù hợp với sự phát triển của thời đại. Biến cố Tư Chính bày ra rất rõ sự suy nhược, bất lực của đảng CS. Nhà nước CS, không đủ khả năng bảo vệ đất nước.
Trong nước, ngoài thành phần theo đảng CS để kiếm sống, đại đa số dân Việt hiện nay chỉ lo mưu sinh, không quan tâm đến chính trị, bất tín nhiệm và bất hợp tác với nhà nước CS, an phận cùng gia đình hoặc quên thế sự ở quán cà-phê, quán nhậu, và cả trụy lạc nữa. Nhà nước CS tự xem đất nước là của riêng đảng CS và xem dân như cỏ rác, thì dân không có lý do gì hợp tác với CS, hay hòa giải hòa hợp với CS.
Ngoài nước, người đàn anh Trung Cộng “4 tốt” chẳng tốt tý nào, chập chờn đe dọa, còn “16 chữ vàng” là cái bánh vẽ dụ khị CSVN vào vòng lệ thuộc. Hai nước “môi hở răng lạnh”, nhưng răng cắn lưỡi hoài, làm sao lưỡi chịu nỗi? Yếu thế, bạc nhược, không có tinh thần chiến đấu, lại là đàn em trong ý thức hệ CS, CSVN liên tục nhượng bộ, nhưng CSVN càng nhượng bộ, càng thỏa hiệp, thì Trung Cộng càng lấn tới, càng đòi hỏi. Sau Tư Chính, coi chừng Trung Cộng có thể sẽ vòi vĩnh những nơi khác, như Côn Sơn, Phú Quốc. Đảng CS bám theo Trung Cộng, sẽ có ngày câu “theo Tàu mất nước” trở thành hiện thực.
Về phía Hoa Kỳ, trong khi đang diễn ra thương chiến, Hoa Kỳ có thể liên kết với CSVN để chận đứng phía nam Trung Cộng, nhưng Hoa Kỳ dư biết CSVN đang đu giây nước đôi, nên cũng chẳng vội vàng gì trong việc mở rộng ngoại giao với CSVN. Ngày 26-6-2019, trên đài truyền hình Fox Business Nework (Hoa Kỳ), tổng thống Donald Trump mạnh mẽ chỉ trích CSVN lợi dụng Hoa Kỳ còn tệ hơn cả Trung Cộng. Trong thương mại và ngoại giao, Hoa Kỳ đòi hỏi các nước phải luôn luôn tôn trọng luật lệ nghiêm minh của Hoa Kỳ. Người Hoa Kỳ rất thực dụng, không có đồng minh vĩnh viễn, không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có quyền lợi vĩnh viễn, và không can thiệp vào những gì không liên hệ đến quyền lợi của họ.
Cần chú ý là từ trước cho đến nay, vụ bãi Tư Chính là sự kiện đầu tiên làm cho cả hành pháp và lập pháp Hoa Kỳ quan tâm và lên tiếng phản đối Trung Cộng mạnh mẽ. Đây là cơ hội cho CSVN tăng cường giao dịch với Hoa Kỳ về nhiều mặt, nhưng phải dứt khoát thế đứng và tôn trọng luật lệ Hoa Kỳ và quốc tế.
Như thế, thông điệp của biến cố bãi Tư Chính rất rõ ràng là đã đến lúc CS phải quyết định: 1) Hoặc theo Tàu, để còn đảng nhưng từ từ mất nước, mà mất nước thì cũng sẽ mất luôn đảng CS; ngoài ra, còn bị nhân dân nguyền rủa và sẽ kiếm cách đứng lên lật đổ. 2) Hoặc muốn sống còn với dân tộc, thì CS cần ý thức xu hướng thời đại là trào lưu dân chủ hóa toàn cầu, mà dân chúng Việt Nam từ lâu đã chọn lựa.
Kết luận
Hiện nay, đảng CSVN quyết định chọn lựa xu hướng dân chủ tuy rất khó khăn, vì người CS có thể mất địa vị, mất quyền lợi nhưng bù lại tránh khỏi nhiều nguy hiểm, kể cả nguy hiểm đến mạng sống. Kinh nghiệm Đông Âu cho thấy những nước biết chuyển hướng, như Ba Lan, Đông Đức, Liên Xô… tốt hơn và an toàn hơn là số phận của Nicolae Ceausescu ở Romania.
Nhà nước CSVN chẳng lẽ không biết lời truyền khẩu dân gian “Cộng sản chết rồi mà chưa chôn”? Hiện nay, việc dân chúng vùng lên chôn đảng CS thật khó, nhưng không phải là không thể xảy ra, vì lịch sử luôn luôn tiềm ẩn những đột biến bất ngờ. Có ai ngờ CS Đông Âu và Liên Xô mạnh như thế mà sụp đổ? Có ai nghĩ rằng cái chết của một sinh viên đưa đến cuộc cách mạng Hoa Lài ở Tunisia năm 2010? Đường đi khó, thật khó, nhưng đảng CS phải chọn lựa dứt khoát một lần cho tương lai của người CS.
Cuối cùng, nếu CS không tự chuyển hướng thì sẽ có ngày dân Việt vùng dậy, tự tiến lên con đường tự do dân chủ, sinh lộ duy nhứt dẫn đến tương lai tươi sáng cho dân tộc. Không còn con đường nào khác! (Trình bày tại Toronto tối 07-09-2019.)
Categories: Biển Đông | Leave a comment

Để đối phó với Trung Quốc: Phải sáng tạo hơn

Để đối phó với Trung Quốc: Phải sáng tạo hơn

Foreign Affairs

Tác giả: Jonathan Gruber & Simon Johson (*)

Dịch giả: Mai V. Phạm

12-9-2019

Phòng lab ở Bắc Kinh. Ảnh chụp tháng 5/2017. Nguồn: Reuters

Chiến tranh thương mại của Trump đã bỏ qua mối đe dọa thực sự đến từ Bắc Kinh

Chiến lược kinh tế của Trung Quốc không có gì là bí mật. Trong ngắn hạn, Bắc Kinh sẽ phát triển nền kinh tế bằng cách sản xuất và xuất khẩu hàng hóa giá rẻ, đẩy mạnh tính cạnh tranh toàn cầu. Về lâu dài, Trung Quốc sẽ xây dựng vốn, cơ sở hạ tầng, và chuyên môn cần thiết để trở thành một cường quốc sáng tạo.

Trung Quốc không phải là nước đầu tiên áp dụng chiến lược này. Các biện pháp tương tự nhằm thúc đẩy sự phát triển được thực hiện bởi Đức, Pháp và Nhật Bản trong 70 năm qua. Và thậm chí sau đó, 3 nước này đã có căng thẳng thương mại đáng kể với Mỹ. Washington đã từng cáo buộc 3 nước này có chính sách thương mại và tiền tệ không công bằng, cụ thể Đức và Pháp vào thập niên 1970 và Nhật Bản vào thập niên 1980.

Chính quyền Mỹ gần đây cũng đã cáo buộc Trung Quốc giống như vậy. Nhưng lần này, sự căng thẳng có nhiều mối lo ngại hơn. Trung Quốc đông dân hơn Đức, Pháp hay Nhật Bản và nền kinh tế của Trung Quốc có thể dễ dàng trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới. Bắc Kinh cũng có các dự án ảnh hưởng vượt ngoài biên giới, chia sẻ công nghệ với các nước nhỏ và nỗ lực tạo ra các mối quan hệ thương mại và đầu tư chặt chẽ, mà một lúc nào đó có thể giao thương dựa trên đồng Nhân dân tệ thay vì đồng đô la Mỹ.

Trong nhiệm kỳ thứ hai, Tổng thống Barack Obama đã cố gắng gây áp lực để Trung Quốc thay đổi hành vi thông qua các liên minh và hợp tác quốc tế, đáng chú ý nhất là thông qua khối thương mại xuyên Thái Bình Dương. Gần đây, Tổng thống Donald Trump đã chọn cách tiếp cận đối đầu và áp đặt thuế quan đối với hàng hóa Trung Quốc. Trump gán cho Trung Quốc là “thao túng tiền tệ”, tìm cách chấm dứt hành vi ăn cắp tài sản trí tuệ, và thu hẹp thâm hụt thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc bằng cách tiến hành một cuộc chiến thương mại.

Nhưng tầm nhìn của Trump lại dựa trên các mối đe dọa lỗi thời. Chiến lược kinh tế của Trung Quốc đã gần như thành công. Kết quả, Bắc Kinh đã không hạ giá đồng Nhân dân tệ trong hơn một thập kỷ và bắt đầu cải thiện việc bảo vệ sở hữu trí tuệ như một cách để khuyến khích đổi mới trong nước. Thâm hụt thương mại song phương, trong khi không đối xứng, là một lý do tồi dở để khởi động một cuộc chiến thương mại. Không cần phải cân bằng thương mại với bất kỳ đối tác thương mại nào, nhưng chỉ cần bảo đảm cán cân thương mại không quá khập khiễng.

Mối đe dọa lớn nhất từ ​​Trung Quốc là nghiêm trọng hơn và dễ giải quyết hơn so với những gì chính quyền Trump đã thực hiện. Thông qua đầu tư do chính phủ lãnh đạo tập trung vào Nghiên cứu và Phát triển (Research & Development – R & D), Trung Quốc đã sẵn sàng trở thành lãnh đạo toàn cầu về đổi mới khoa học và công nghệ trong tương lai gần, loại Mỹ khỏi vị trí mà nó đã nắm giữ trong 70 năm qua. Sự trỗi dậy của Trung Quốc trong lĩnh vực này sẽ không chỉ đe dọa an ninh quốc gia Mỹ, mà còn lấy đi rất nhiều công việc có giá trị từ nền kinh tế Mỹ. Thay vì căng thẳng với Trung Quốc về thương mại, Mỹ nên tăng cường đầu tư vào Nghiên cứu & Phát triển. Chỉ bằng cách thúc đẩy đổi mới trong nước, Mỹ mới có thể đối phó với Trung Quốc.

MỐI NGUY THỰC SỰ

Cách đây một thế hệ, ý kiến rằng một ngày nào đó Trung Quốc có thể dẫn đầu thế giới về đổi mới công nghệ nghe có vẻ nực cười. Cuộc Cách Mạng Văn Hóa (Culture Revolution) đã tàn phá giáo dục đại học ở Trung Quốc. Trong một thập niên bắt đầu vào năm 1966, chính quyền đã đóng cửa các trường học và đại học, đưa trí thức đến các trại lao động, và chấm dứt các nghiên cứu khoa học. Hệ thống giáo dục đã dần được khôi phục dưới thời Đặng Tiểu Bình, nhưng chỉ trong thập niên 1990 và thập kỷ đầu tiên của thế kỷ này, đầu tư vào giáo dục đại học Trung Quốc đã tạo ra những tiến bộ đáng kể trong khoa học và kỹ thuật. Từ năm 1990 đến 2010, tuyển sinh Trung Quốc vào giáo dục đại học đã tăng gấp lần và số lượng sinh viên tốt nghiệp đại học tăng từ 300.000 đến gần 3 triệu mỗi năm. Trong cùng khoảng thời gian này, tỉ lệ tổng tuyển sinh giáo dục đại học trên thế giới của Trung Quốc tăng từ 6% đến 17%. Năm 2017, có 7 triệu sinh viên tốt nghiệp từ các trường đại học Trung Quốc; trong khi đó, khoảng 3 triệu sinh viên tốt nghiệp từ các trường đại học Mỹ trong cùng năm 2017.

Chất lượng giáo dục khoa học ở Trung Quốc còn nhiều tranh cãi, nhưng con số thì không. Các trường đại học Trung Quốc vẫn yếu hơn so với các trường ở Mỹ, nhưng khoảng cách đang thu hẹpTheo xếp hạng được đánh giá là có uy tín hàng đầu của Times Greater Education, Trung Quốc hiện đang có 6 trường đại học trong danh sách 100 trường đại học hàng đầu toàn cầu.

Theo thời gian, nhiều nhà khoa học và nhiều kỹ sư hơn sẽ tạo nên nhiều sáng tạo đổi mới hơn, đặc biệt là khi được cung cấp đầy đủ vốn. Tổng chi tiêu trên toàn thế giới cho nghiên cứu và phát triển đã đạt khoảng 2 ngàn tỷ đô la trong năm 2015. Mỹ chỉ chiếm khoảng một phần tư chi tiêu đó, giảm 37% vào năm 2000. Chi tiêu của Trung Quốc chiếm 21% tổng chi tiêu Nghiên cứu & Phát triển của thế giới, tương đương 408,8 tỷ USD, tăng 33 tỷ USD trong năm 2000. Trong các lĩnh vực vượt trội như tổng hợp sinh học, năng lượng sạch, và trí tuệ nhân tạo, Trung Quốc đã nhanh chóng trở thành một đối thủ quan trọng.

CÔNG NGHỆ LÀ SỨC MẠNH

Không có gì minh họa được sức mạnh của sự đổi mới công nghệ tốt hơn so với một trăm năm trước của lịch sử Mỹ. Vào năm 1938, trước thềm Thế chiến II, chính phủ liên bang và tiểu bang Mỹ đã cùng chi khoảng 0,075% GDP cho nghiên cứu khoa học, là một khoản rất nhỏ. Nhưng đến năm 1944, chính phủ liên bang và tiểu bang (chủ yếu là liên bang) đã chi gần 0,5% GDP cho khoa học – tăng gấp 7 lần, vốn được sử dụng để phát triển hệ thống radar, thuốc penicillin và bom nguyên tử.

Xu hướng đầu tư vào khoa học này của Mỹ tiếp tục vào thời bình (và thời Chiến tranh Lạnh), khi chính phủ Hoa Kỳ chuyển các nguồn lực công vào nghiên cứu khoa học ở quy mô hoàn toàn mới. Từ 1940 đến 1964, tài trợ của liên bang cho nghiên cứu và phát triển đã tăng gấp đôi. Thời kỳ đỉnh cao vào giữa thập niên 1960, chi tiêu này lên tới gần 2% GDP. Các thành quả từ sự đầu tư khổng lồ bao gồm các dược phẩm hiện đại, vi mạch điện tử, máy tính kỹ thuật số, máy bay phản lực, vệ tinh, GPS, Internet và nhiều thành quả khác. Những ý tưởng sáng tạo đến hiện từ chiến lược Nghiên cứu & Phát triển do chính phủ Mỹ tài trợ đã phát triển thành các công ty nổi tiếng như IBM, AT & T và Xerox.

Nhưng vào cuối thập niên 1960, chi tiêu của chính phủ cho Nghiên cứu & Phát triển đã bắt đầu một sự suy giảm chậm và đều. Đến đầu thập niên 1980, chi tiêu công cho Nghiên cứu & Phát triển đã giảm xuống 1,2% GDP và đến năm 2017, nó đã giảm xuống chỉ còn hơn 0,6% GDP. Hiện có 9 nước vượt qua Mỹ về tổng chi tiêu cho Nghiên cứu & Phát triển tính bằng GDP. Viễn cảnh phức tạp hơn một chút khi chi tiêu cho Nghiên cứu & Phát của khu vực tư được tính vào, nhưng Mỹ hiện đã tụt lại phía sau 7 quốc gia khác trong tổng chi tiêu công và tư nhân cho Nghiên cứu & Phát triển. Trung Quốc vẫn chi tiêu ít hơn Mỹ cho Nghiên cứu & Phát triển, nhưng nó đang đuổi kịp Mỹ một cách nhanh chóng.

Khu vực tư nhân ở Mỹ tiếp tục đổi mới, nhưng chủ yếu là trong các loại dự án phần mềm được ưa chuộng bởi các nhà đầu tư mạo hiểm. Bên ngoài lĩnh vực khoa học, khu vực tư nhân không chi tiêu nhiều cho những dự án đột phá cơ bản, chẳng hạn như tìm kiếm nguồn năng lượng mới, bởi vì trong khi kiến ​​thức mới là tuyệt vời cho kinh tế nhưng không mang lại cho các nhà đầu tư tài trợ nhiều lợi ích. Do đó, các doanh nghiệp đã lánh xa công tác nghiên cứu mà không có ứng dụng thương mại ngay lập tức, làm giảm 60% các ấn phẩm khoa học của các nhà khoa học doanh nghiệp từ năm 1980 đến đầu thập niên 2000.

Chẳng hạn, trong các lĩnh vực đầy hứa hẹn về sinh học tổng hợp và năng lượng hydro, khu vực tư nhân đã không tập trung vào các loại đầu tư dài hạn, vốn đã tạo ra những đột phá trước đó. Mỹ tiên phong trong cả hai lĩnh vực quan trọng này, nhưng cả hai dường như có nhiều khả năng phát triển ở Trung Quốc và ở các quốc gia khác. Đến năm 2025, Trung Quốc sẽ thay thế Mỹ trở thành nhà lãnh đạo thế giới về Nghiên cứu & Phát triển trong lĩnh vực dược phẩm, theo một phân tích gần đây về nghiên cứu y học được công bố bởi Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Mỹ.

CHIẾN LƯỢC TỐT HƠN

Để tránh bị Trung Quốc vượt mặt, Mỹ nên tăng cường hỗ trợ của chính phủ cho nghiên cứu khoa học cũng như tìm cách chuyển đối nghiên cứu khoa học thành các sản phẩm và dịch vụ có thể đưa ra thị trường. Chi tiêu Nghiên cứu & Phát triển của chính phủ có tỷ lệ lợi nhuận xã hội cao đáng kể, nghĩa là lợi ích được phổ biến rộng rãi trong toàn xã hội. Dựa trên các nghiên cứu gần đây về sự hỗ trợ của chính phủ cho nghiên cứu chuyên về dân sự và quân sự ở Mỹ, châu Âu và New Zealand, chúng tôi ước tính rằng, cam kết của chính phủ liên bang 100 tỷ đô la mỗi năm cho Nghiên cứu & Phát triển sẽ giúp tạo ra khoảng triệu việc làm mới. Việc sử dụng tài trợ hữu hiệu nhất sẽ là nâng cấp cơ sở hạ tầng vật chất nhằm hỗ trợ các dự án khoa học, bao gồm các phòng thí nghiệm mới, các chương trình sau đại học mở rộng và các cơ sở ươm mầm phát triển các công nghệ cần nhiều vốn, mà có thể mất nhiều thời gian để hoàn thiện.

Bất cứ nơi nào có thể, chính phủ Mỹ nên tìm kiếm những cách hiệu quả để truyền bá khoản đầu tư Nghiên cứu & Phát triển trên khắp cả nước. Sự đổi mới sáng tạo từng bước diễn ra ở một vài trung tâm công nghệ nổi tiếng, nơi những tài năng tập trung ở thành phố như Seattle, khu vực Vịnh San Francisco, Los Angeles, Boston, thành phố New York và Washington, DC. Nhưng với việc phân vùng giới hạn và giá nhà đất cao, các trung tâm này đã trở nên đắt đỏ và đông đúc. Đầu tư vào những nơi có giá đất rẻ và người dân có tiềm năng lao động hiệu quả sẽ giúp khắc phục sự chênh lệch về cơ hội và việc làm, trong khi tạo lợi thế trước các đối thủ quốc tế bằng cách thu hút thêm người Mỹ vào dự án khoa học.

Trong cuốn sách “Jump-Starting America”, chúng tôi xác định 102 cộng đồng đô thị có khả năng trở thành trung tâm công nghệ của thế hệ tiếp theo. Trải rộng trên 36 tiểu bang ở tất cả các vùng của đất nước, những thành phố và thị trấn này có dân số đông, công nhân có trình độ học vấn cao, và chi phí sinh hoạt thấp. Ví dụ như thành phố Rochester, New York; Baton Rouge, Louisiana; và Topeka, Kansas. Để biến các thành phố này trở thành trung tâm công nghệ, chính phủ liên bang cần khuyến khích sự hợp tác giữa các trường đại học, doanh nghiệp tư nhân, và chính quyền địa phương với mục đích làm cho giáo dục đại học được tiếp cận dễ dàng hơn, mở rộng huấn luyện thực dụng và kỹ thuật, và tạo ra các liên kết từ các tổ chức giáo dục địa phương đến những nhà tuyển dụng. Cùng với nhau, các liên minh công-tư này có thể giúp duy trì chi phí nhà ở hợp lý hơn bằng cách sửa đổi luật phân vùng để đẩy mạnh công trình xây dựng.

Cách tốt nhất để chống lại Trung Quốc là sáng tạo hơn nó và biến những phát minh thành sản phẩm và dịch vụ mà mọi người khắp thế giới muốn mua. Nước Mỹ đã từng rất giỏi về việc này. Sự trỗi dậy của Trung Quốc sẽ nhắc nhở Mỹ rằng, họ có thể và nên đổi mới sự cam kết đối với tiến bộ khoa học và công nghệ.

(*) Tác giả:

Jonathan Gruber là Giáo sư chuyên ngành Kinh tế tại đại học danh tiếng MIT – Massachusetts Institute of Technology.

Simon Johnson là Giáo sư chuyên ngành Kinh tế Toàn cầu và Quản lý ở trường MIT, đồng thời là nghiên cứu viên cao cấp tại Viện Peterson về Kinh tế Quốc tế và là cố vấn kinh tế của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) từ tháng 3/2007 đến 8/2008.

Bình Luận từ Facebook

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Tin Biển Đông: Trung Quốc đẩy lùi tàu Mỹ ra khỏi Hoàng Sa?

Tin Biển Đông: Trung Quốc đẩy lùi tàu Mỹ ra khỏi Hoàng Sa?

BTV Tiếng Dân

16-9-2019

BBC dẫn nguồn từ báo South China Morning Post, đưa tin: Trung Quốc nói đã ‘trục xuất’ tàu Mỹ ra khỏi Hoàng Sa. Hiện chỉ thấy báo South China Morning Post đưa tin này, dẫn nguồn từ Bộ Quốc phòng Trung Quốc. Chưa thấy phía Mỹ xác nhận tin này.

Tàu khu trục có tên lửa dẫn đường USS Wayne E. Meyer của Hải quân Mỹ. Photo Courtesy

Tài khoản Indo – Pacific Intelligence Unit có clip tổng kết hoạt động của tàu Hải Dương Địa Chất 8, hơn 2 tháng qua đã 3 lần xâm phạm chủ quyền Việt Nam, cũng như ba lần phản ứng của người phát ngôn BNG Việt Nam.

Trong clip có giọng nói dường như của lính Hải quân Việt Nam: “Đề nghị TQ cút ra khỏi lãnh thổ VN, không chúng tao bắn chết“, cũng như tiếng chửi nhau giữa lính Việt với lính TQ. Dường như cuộc khẩu chiến này đã xảy ra trong vụ đụng độ năm 2014, vì nghe giọng chửi giống như trong những clip được phổ biến 5 năm trước:

Video Player

00:00
03:40

Trang Dự án Đại Sự Ký Biển Đông đưa tin tối qua: Nhóm tàu “khảo sát” Hải Dương Địa Chất 8 vẫn đang hiện diện ở gần vị trí đặt giàn khoan Hakuryu-5, cho thấy, nhiều khả năng giàn khoan vẫn đang hoạt động, dù ngày 15/9 đã được phía Việt Nam thông báo là hạn chót hoạt động của giàn khoan này ở lô 06.1.

Nhóm tàu Hải Dương 8 thậm chí còn “được tăng cường thêm tàu hải cảnh 35111 vừa quay trở lại sau thời gian dài nghỉ ở Đá Chữ Thập. Dự kiến trong vài tiếng nữa, hải cảnh 31302 cũng sẽ gia nhập nhóm. Dự đoán căng thẳng vẫn sẽ còn tiếp tục, Trung Quốc chưa có ý định kết thúc chiến dịch xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Sự phân bố nhóm tàu Hải Dương Địa Chất 8 vào lúc 7h tối 15/9/2019. Nguồn: DA ĐSK Biển Đông
Ít nhất một tàu hải cảnh Trung Quốc vẫn đang ở gần vị trí đặt giàn khoan Hakuryu-5, là tàu hải cảnh 5403. Nguồn: FB ĐSK Biển Đông

Dự án Đại Sự Ký Biển Đông chia sẻ clip, được cho là của ngư dân, nói bị tàu hải cảnh Trung Quốc ngăn cản đánh cá trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Clip này “có ghi lại tọa độ xác định bởi thiết bị GPS để có thể dễ dàng biết nơi xảy ra sự việc”:

Video Player

00:00
07:14

VTC đưa tin: Châu Âu muốn đóng vai trò lớn hơn ở Biển Đông. Ông Frans-Paul van der Putten, nghiên cứu viên cấp cao đến từ Học viện Quan hệ quốc tế Clingendael bình luận: “Trước đây, các vấn đề liên quan đến an ninh khu vực ở Biển Đông không được nhiều nước châu Âu chú ý. Tuy nhiên, điều này đã có sự thay đổi trong thời gian gần đây khi các nước ở châu Âu đã bắt đầu thể hiện sự quan tâm sâu sắc đến khu vực châu Á – Thái Bình Dương, nhất là vấn đề Biển Đông”.

Trong 4 phút, bản đồ chủ quyền Philippines được bán đứt, theo báo Tuổi Trẻ. Tại một cuộc bán đấu giá của phòng trưng bày Leon Gallery ở Philippines, tổ chức ngày 14/9, bản sao của một bản đồ cổ từng giúp củng cố các tuyên bố chủ quyền của Philippines trong vụ kiện Trung Quốc về Biển Đông, đã được bán với giá 40 triệu peso (gần 18 tỉ đồng VN).

Bản đồ Murillo Velarde năm 1734 cho thấy bãi cạn Panacot (tức bãi cạn Scarborough). Nguồn: Philstar

Bản đồ này dự định bán với giá 18 triệu peso, nhưng cuộc chiến của những người tham gia đấu giá đã đẩy giá trị tấm bản đồ lên tới 40 triệu peso. Người thắng đấu giá nói rằng, bản đồ này sẽ được đưa “cho một người bạn”. Vẫn không rõ chủ nhân thật sự của bản đồ này là ai,  nhưng có tin là một người Philippines gốc Tàu.

_____

Mời đọc thêm: Trung Quốc lên tiếng vụ khu trục hạm USS Wayne E. Meyer của Mỹ áp sát Hoàng Sa (TT). – Chiến hạm Mỹ mang tên lửa Tomahawk diễn tập cùng ASEAN trên biển Đông (DNVN). – “Soi” tàu ngầm sát thủ “Sói Biển” Mỹ, nghi đang ở biển Đông (TĐ). – Phớt lờ cảnh báo từ Trung Quốc, Anh đem tàu sân bay để bảo đảm tự do hàng hải tại biển Đông (ANTĐ).

– Hà Nội diễn tập chống “cách mạng màu sắc” giữa căng thẳng Biển Đông (RFA). – Mỹ gửi thông điệp cứng rắn tới Trung Quốc (NLĐ). – Mỹ âm thầm triển khai tàu ngầm hạt nhân ‘Sói biển’ nguy hiểm nhất thế giới tại biển Đông? (DNVN). – Vai trò của ASEAN trong giải quyết tranh chấp trên Biển Đông (ANTV).

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Việt Nam – Một đất nước tội nghiệp

Việt Nam – Một đất nước tội nghiệp

Larry De King

13-9-2019

Ngày 10 tháng 9 vừa qua, 1 anh diễn viên Hàn quốc tên là Ji Chang Wook, đến Việt Nam để tham dự 1 sự kiện của cô ca sĩ Diệp Lâm Anh nào đó ở Sài Gòn. Wook đuợc đón chào với vài ngàn thanh niên ở sân bay. Sau đó, hàng hàng nghìn người hâm mộ đã có mặt vây kín khu vực diễn ra sự kiện tạo thành khung cảnh hỗn loạn, nhốn nháo. Đến nỗi anh diễn viên Hàn phải bỏ về vì lo sợ.

***

Nhìn sang Hong Kong ta thấy những người tuổi trẻ dám mang trên mình vận mệnh của đất nước, dân tộc, dù họ biết rằng cái giá phải trả là sinh mạng. Tuổi trẻ Hong Kong có mê nhạc, mê phim ảnh không? Chắc chắn là CÓ. Nhưng trên tất cả là lý tưởng phụng sự tổ quốc, dân tộc, nhất là khi tổ quốc lâm nguy.

Tuổi trẻ Việt Nam ngày nay không có lý tưởng. Vì không lý tưởng nên bơ vơ. Tuổi 20 của người Hong Kong là sứ mạng lịch sử, tuổi 20 của Việt Nam chỉ biết đắm mình vào các lạc thú tầm thường ăn, ngủ, game shows, làm tình…v.v… Họ không còn 1 ai để tin yêu, nên chọn thần tượng với những cái tên lạ hoắc để tôn thờ. Họ có thể khóc lóc vui buồn với những nhân vật này, nhưng hoàn toàn làm ngơ khi giặc tàu đang xâm lấn bờ cõi, thờ ơ với cả những bất công nặng nề đang ngày ngày diễn ra khắp nơi trên đất nước.

***

Không phải là tuổi trẻ VN thua kém HK về bản chất, mà chính là thể chế chính trị độc tài hà khắc VN đã biến họ thành những con người như thế. Hơn 40 năm qua, các nhà lãnh đạo VN đã thành công hèn hoá 1 dân tộc. Tuổi trẻ VN được dạy không nên quan tâm chính trị, chính trị là xấu, là nguy hiểm. Kèm theo là lực luợng công an, nhà tù sẳn sàng đè bẹp mọi manh nha phản kháng.

Tuổi trẻ VN không hề tệ, đã từng có 1 Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha dám lên tiếng chống tàu, và chấp nhận ngồi tù. Gần đây có sinh viên Trần Hoàng Phúc của miền nam, và Phan Kim Khánh ở miền bắc. Họ rất trẻ, có lý tưởng và hoài bão về một Việt Nam dân chủ, thịnh vượng. Họ không thua gì Hoàng Chí Phong của Hong Kong. Tiếc là trong 1 thể chế toàn trị, họ phải trả giá bằng những án tù rất nặng, khát vọng cống hiến cho đất nước đã bị dập tắt từ trong trứng nước.

Hôm nay, tuổi trẻ Hong Kong hơn Việt Nam mọi mặt, từ trí tuệ đến tâm hồn và cả nhận thức. Mình không chê trách tuổi trẻ Việt Nam. Đó là 1 kết cục không thể khác, 1 mối quan hệ NHÂN – QUẢ rất rõ ràng. Hoàng Chí Phong mà ở Việt Nam sẽ chỉ là một thanh niên tầm thường, chắc là đang có mặt trong đám đông ồn ào chào đón diễn viên Wook 2 hôm trước.

***

Nhưng một đất nước mà tuổi trẻ thờ ơ với chính trị là 1 đất nước không có tương lai, một đất nước tội nghiệp. Thể chế chính trị là nền tảng tối quan trọng, quyết định sự thành bại của một đất nước. Cùng 1 dải đất, cùng dân tộc, tiếng nói, màu da, nhưng Nam Hàn phát triển vượt bực, trở thành 1 quốc gia đáng ngưỡng mộ, còn Bắc Hàn như địa ngục trần gian.

Lãnh đạo VN chỉ là những kẻ nguỵ yêu nước. Họ không hề ưu tư đến vận mệnh quốc gia, không biết xấu hổ khi nhìn ra thế giới. Họ chỉ yêu tiền và quyền, và đã rất thành công nhào nặn ra 1 thế hệ tuổi trẻ bơ vơ không định huớng.

✔️ Yêu nước gì mà dành độc quyền cai trị, mặc cho đất nước tan hoang về cả phần vật chất lẫn phần hồn.

✔️ Yêu nước gì mà cán bộ thì sắm biệt phủ đền đài, còn dân đen lầm than khắp chốn.

✔️ Yêu nước chỗ nào, khi không cho dân tham gia phản biện, không đuợc tự do báo chí, biểu tình thì bị bắt bớ đánh đập. Ngoài biển khơi, giặc tàu đang nghênh ngang xâm phạm lãnh hải, khống chế tài nguyên ở bãi Tư Chính, nhiều năm qua ngư dân miền trung bị bắn giết xua đuổi mà không hề dám can thiệp.

***

Nhìn Hong Kong hôm nay không phải để chê trách tuổi trẻ Việt Nam, bởi nguyên nhân chính là cái thể chế chính trị hủ lậu, chỉ phục vụ cho 1 nhóm người nhân danh nhân dân, đất nước.

Chỉ muốn nhắn với các ngài rằng, triều đại nào rồi cũng phải suy tàn, nhưng lịch sử sẽ đời đời nguyền rủa những kẻ ăn tàn phá hại, độc ác với nhân dân, biến Việt Nam thành 1 đất nước tội nghiệp.

Categories: Nhan dinh | Leave a comment

Trung Quốc ‘sẽ còn gây sức ép’ với các dự án dầu khí VN

Trung Quốc ‘sẽ còn gây sức ép’ với các dự án dầu khí VN

Trung QuốcBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTrung Quốc sử dụng nhiều phương tiện khác nhau, trong đó có các tàu ‘nghiên cứu’ Hải Dương Địa Chất, đưa vào các khu vực đang có ‘tranh chấp’ hoặc ‘biến thành tranh chấp’ ở Biển Đông và khu vực

Một chuyên gia quan sát tình hình Biển Đông nói sau vụ Bãi Tư Chính và Rosneft sẽ đến lượt dự án của Việt Nam với ExxonMobil bị Trung Quốc gây sức ép.

Hôm 10/9, Giáo sư Carl Thayer, nhà quan sát từ Úc thừa nhận với BBC News Tiếng Việt rằng ông không có thông tin để đánh giá có phải tập đoàn Mỹ ExxonMobil “muốn bán cổ phần trong dự án Cá Voi Xanh”.

Cây bút người Việt nổi tiếng, Huy Đức, hôm 9/9 đăng status trên Facebook: “ExxonMobil (US) bỏ cuộc! Trước sức ép của Tập các siêu cường đều bỏ mặc: UK (BP 2007), Nga 16, TBN (2018)…Xoay trục về đâu.”

Trên trang Facebook chính thức của ExxonMobil Việt Nam, người quản trị trang này viết trong một comment ngày 9/9: “ExonMobil Vietnam xin chào và cảm ơn bạn đã dành sự quan tâm cho Dự án Cá Voi Xanh. Hiện chúng tôi vẫn đang triển khai Dự án Cá Voi Xanh và sẽ không đưa ra ý kiến đối với những nguồn tin không chính thống.”

Trong khi đó, theo ông Carl Thayer, trả lời BBC hôm 10/09/2019 qua điện thư, một quan chức Việt Nam cho ông hay hôm 13/08 rằng sau vụ Tư Chính và Rosneft, sẽ đến lượt dự án Cá Voi Xanh (Blue Whale) bị Trung Quốc để ý đến.

Bill Hayton: ‘Cá Voi Xanh chặn Đường Lưỡi Bò’

Bãi Tư Chính: TQ ‘đẩy vấn đề’ tinh vi hơn

“Đối đầu” giữa các tàu TQ và VN lại xảy ra ở Biển Đông

Bãi Tư Chính: TQ ‘đẩy vấn đề’ tinh vi hơn

“Rất có khả năng Trung Quốc sẽ theo đuổi chính sách hai mũi. Họ sẽ gây sức ép với Việt Nam bằng cách quấy nhiễu các dự án khai thác dầu khí của Rosneft Vietnam ở lô 06/01. Và họ cũng sẽ gây sức ép để Việt Nam bắt đầu thảo luận về khai thác chung với Trung Quốc.”

“Nếu không thỏa mãn với tiến triển đó, Trung Quốc sẽ gây ra các vụ khiêu khích ở những lô dầu của ExxonMobil ở mỏ Cá Voi Xanh, nằm gần Đường chín đoạn.”

Một nguồn tin gần với giới khai thác dầu khí ở Biển Đông cho BBC hay hôm 10/09 rằng người này mới chỉ nghe “dự án Cá Voi Xanh đang tiếp tục được triển khai” bình thường.

Hôm 9/9, trang Zing.vn đưa tin phó bí thư Đảng ủy PVN Nguyễn Xuân Cảnh cho biết một số dự án dầu khí như Cá Voi Xanh, Lô B vì vướng cơ chế mà chậm trễ, từ đó hiệu quả dự án không còn như trước.

Dự án dầu khí Cá Voi Xanh được ông Nguyễn Xuân Cảnh nhắc đến tại hội nghị Đảng ủy Khối doanh nghiệp Trung ương ngày 9/9.

“Các dự án như Cá Voi Xanh, Lô B như nồi cơm của PVN, nồi cơm của tăng trưởng GDP và thu ngân sách. Nhưng vướng cơ chế nọ, cơ chế kia nên bị chậm trễ hết rồi”, ông Cảnh nói.

Được biết, các việc bán, nhượng lại cổ phần của các tập đoàn dầu khí quốc tế đều diễn ra trong thời gian dài, đi kèm với việc tìm bên mua mới.

Ngoài ra, việc đặt, di chuyển các dàn khoan đều cần thông báo hàng hải quốc tế công bố công khai nhiều tuần trước khi xảy ra.

Do đó, việc một dự án lớn “rút đi”, khỏi vùng biển của Việt Nam hay nước nào khác đều không thể xảy ra tức thời, như một số suy đoán trên mạng xã hội tiếng Việt.

Chuyện không mới nhưng cơ sở hạ tầng của TQ thì mới

Việc Trung Quốc gây sức ép với Việt Nam và đối tác nước ngoài khai thác dầu khí ở Biển Đông không phải là mới.

Hồi tháng 6/2017, trả lời BBC Tiếng Việt, ông Bill Hayton, tác giả cuốn “Biển Đông: Cuộc đấu tranh quyền lực ở châu Á” (2014), hiện ở Anh Quốc, nhận định:

“Trung Quốc quan ngại về hai dự án khai thác ngoài khơi cụ thể của Việt Nam. Đó là dự án Mỏ Cá Voi Xanh của ExxonMobil trong lô 118 ngoài khơi Đà Nẵng, và dự án Cá Rồng Đỏ ở lô 136-03 hợp tác với Talisman.”

Vào thời điểm đó, ông Hayton cho rằng “Trung Quốc không sẵn sàng gây đối đầu vào thời điểm hiện nay, vì sắp diễn ra Đại hội Đảng tại Bắc Kinh [cuối 2017-BBC]”.

Ngoài ra, “các căn cứ đảo nhân tạo của Trung Quốc vẫn chưa hoàn toàn sẵn sàng”, để tạo sự hỗ trợ cho các hoạt động sâu về phía Nam của Biển Đông.

Còn nay, các công trình này đều đã hoàn tất và gần đây nhất, tàu Hải Dương Địa Chất 8 đã dùng căn cứ ở các đảo nhân tạo ở Trường Sa để tiếp liệu trước khi quay lại bãi Tư Chính lần hai.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Việt Nam: Từ Formosa đến Rạng Đông – bài học vẫn lặp lại

Việt Nam: Từ Formosa đến Rạng Đông – bài học vẫn lặp lại

Vụ cháy Rạng ĐôngBản quyền hình ảnhOTHER
Image captionVụ cháy xảy ra gây quan ngại sâu sắc cho cư dân khu vực về mức độ an toàn, nhiều hộ gia đình đã bị ảnh hưởng và phải đi lánh nạn

Vụ cháy ở kho hàng của công ty Bóng đèn, Phích nước Rạng Đông cho thấy nhà nước và chính quyền ở Việt Nam vẫn chưa học được hết bài học từ những lần xử lý yếu kém các vụ khủng hoảng môi trường trong nước thời gian gần đây, trong đó có vụ Formosa xả thải công nghiệp trái phép gây ô nhiễm trầm trọng môi trường Biển.

Đây là một cuộc khủng hoảng nhiều mặt của cả một hệ thống quản lý ứng phó với các bất thường xảy ra, một nhà phản biện chính sách từ Liên hiệp các hội khoa học & kỹ thuật Việt Nam (Vusta) nói với Bàn tròn thứ Năm từ London.

Bàn tròn thứ Năm: vụ cháy ở Công ty Rạng Đông và bài học

Vụ cháy Rạng Đông: “Dân không còn biết tin vào đâu”

Hà Nội khắc phục hậu quả vụ cháy Công ty Rạng Đông

Hôm 12/9/2019, Tiến sỹ, Bác sỹ Trần Tuấn, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo về Phát triển Cộng đồng (RTCCD) nêu quan điểm với BBC News Tiếng Việt:

“Tôi cho rằng trong trường hợp này, chúng ta phải nhìn nhận rằng đây (vụ cháy Rạng Đông) không phải là trường hợp đầu tiên, mà nó là trường hợp tiếp nối từ các trường hợp khác mà tôi tạm gọi là các case-studies mà chúng tôi đã chỉ ra từ vấn đề Formosa cho đến vấn đề sán lợn ở Bắc Ninh, rồi đến vấn đề này.

“Thì đó thể hiện một cuộc khủng hoảng nhiều mặt của một hệ thống quản lý ứng phó với các bất thường xảy ra và đặc biệt trong trường hợp này là ứng phó với bất thường xảy ra do rò rỉ, thất thoát của hóa chất độc hại (thủy ngân…) trong môi trường.”

Về các mặt của cuộc khủng hoảng cần phân tích để rút ra bài học, ông Trần Tuấn nói:

“Mặt thứ nhất là mặt quản lý và điều phối, thì mặt này, ở tầm quốc gia, quản lý phải biết rằng luôn luôn có thể xảy ra các bất thường, từ cả thiên nhiên, cũng như là do con người, nhân tai.

“Vậy thì phải tổ chức quản lý mang tính chất liên ngành, mang tính chất phối hợp các cấp giữa chính quyền với các cơ quan chuyên môn và với những thông tin để cho nhân dân. Vấn đề này thì Tổ chức Y tế Thế giới đã có những hướng dẫn cụ thể, vậy phải làm ra hướng dẫn của thế giới, lập ra ban này.

Bác sỹ, Tiến sỹ Trần TuấnBản quyền hình ảnhFB TRẦN TUẤN
Image captionBác sỹ, Tiến sỹ Trần Tuấn nêu 5 vấn đề mà ông điểm danh thuộc về một cuộc khủng hoảng nhiều mặt của chính quyền ở Việt Nam trong ứng phó với các sự kiện bất thường xảy ra, trong đó có thiên tai và nhân tai

“Toàn bộ ba câu chuyện vừa rồi, kể cả vụ cháy ở công ty Bóng đèn, Phích nước Rạng Đông cho thấy rằng không hề tồn tại một sự chỉ đạo quản lý khủng hoảng mang tính chất khoa học.”

‘Thiếu chỉ đạo quản lý khủng hoảng’

Và nhà phản biện chính thấy rằng có rất nhiều vấn đề ‘về mặt chuyên môn’ qua ứng phó xử lý, quản lý trong vụ cháy Rạng Đông, ông nói:

Lời kể của một người dân sống sát vách nhà máy Rạng Đông

Lo nhiễm thủy ngân sau cháy Rạng Đông

Formosa: Các nạn nhân kiện đòi 4 triệu đôla tại Đài Loan

“Điểm thứ hai…, chuyên môn ở đây, chúng tôi muốn nói là chuyên môn khoa học dẫn đường, khi chúng ta làm việc với hóa chất, mà đặc biệt là hóa chất độc mà lại nằm trong danh sách cấm, như là thủy ngân, ở đây còn một vấn đề khoa học nữa liên quan việc tuân thủ các khuyến cáo, các công ước của quốc tế, mà trong trường hợp này là công ước Minamata.

“Chúng ta đã ký rồi, thì toàn hệ thống phải buộc chạy theo các vấn đề đó. Chúng tôi thấy hầu như là không có thực hiện việc này. Ký là ký, còn thực hiện lại sang một chuyện khác.

“Điểm thứ ba là đạo đức của người thi hành công vụ, chúng ta thấy rằng vấn đề này, rõ ràng là các cán bộ các cấp, đặc biệt là của chính quyền, cũng như cán bộ chuyên môn của các cơ quan chuyên môn, chúng ta thấy rằng là để xảy ra tình trạng không minh bạch thông tin và phản ứng theo tính chất đối phó, đi theo tính chất thủ thế.

“Và tôi cho rằng đây phải được xem lại, nó là từ vấn đề gọi là đạo đức công vụ.

“Điểm thứ tư, vấn đề khủng hoảng thông tin, gây ra cho dân đến bây giờ là không biết tin vào thông tin như thế nào để mà có thể ứng xử và ngay cả các cơ quan chuyên môn, cũng như các cấp chính quyền, cũng không rõ thông tin đến đâu là chính xác, là có thể dựa vào đó để có thể hành động.

Ý kiến của nhà nghiên cứu chính sách và pháp luật về vụ cháy ở công ty bóng đèn, phích nước Rạng Đông ở Hà Nội và xử lý

“Điểm cuối cùng chúng ta thấy là khủng hoảng lòng tin và đây là cái nặng nhất để vấn đề khủng hoảng lòng tin xảy ra giữa người dân với chính quyền, giữa các cấp trong chính quyền với nhau, rồi giữa cơ quan khoa học và cơ quan quản lý.

“Tất cả những vấn đề này đều thể hiện rằng là chúng ta đang cần phải có một cái nhìn lại một cách tổng thể để đối phó với khủng hoảng.

“Nếu không, nó sẽ như vòng xoắn cứ tiếp tục xảy ra mà chúng ta đã thấy đứng chờ ở phía trước, rằng có thể có bất kỳ một biến cố nào xảy ra, chúng ta lại lặp lại tình trạng như vậy,” Tiến sỹ, Bác sỹ Trần Tuấn nói với BBC.

Mời quý vị bấm vào đường dẫn sau đây để theo dõi toàn văn Bàn tròn thứ Năm của BBC về vụ cháy ở nhà kho công ty Rạng Đông.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Blog at WordPress.com.