Daily Archives: September 25, 2019

Vì sao Trung Quốc gây áp lực tại bãi Tư Chính?

Vì sao Trung Quốc gây áp lực tại bãi Tư Chính?

© Ảnh : zing.vn
VIỆT NAM

URL rút ngắn
Việt Nam và Biển Đông (76)
30
Theo dõi Sputnik trên

Theo ý kiến cua chuyên gia, việc các tàu Trung Quốc có những hành vi sai trái ở khu vực bãi Tư Chính của Việt Nam nằm trong chiến lược lâu dài nhằm độc chiếm Biển Đông.

GS. TS. Luật sư Nguyễn Bá Diến, Chủ tịch Viện Nghiên cứu Khoa học Biển và Hải đảo, đưa ra nhận định trong bối cảnh, trong những tuần qua, nhóm tàu khảo sát Hải Dương Địa chất 8 (Haiyang Dizhi 8) của Trung Quốc có hành vi vi phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam ở khu vực phía Nam Biển Đông.

Tham vọng lâu dài của Trung Quốc

Theo Giáo sư Diến, vấn đề Biển Đông cũng như tham vọng độc chiếm Biển Đông đã được Trung Quốc lên chiến lược và “lập trình” từ rất lâu và được phôi thai ngay từ khi thành lập nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1949) với tham vọng vươn lên làm bá chủ thế giới.

Để đạt được tham vọng này, Trung Quốc phải trở thành cường quốc biển, phải độc chiếm và thống trị Biển Đông – kho tài nguyên thiên nhiên (hải sản và khoáng sản, dầu mỏ, khí đốt, băng cháy) giàu có và tuyến hàng hải quan trọng nhất của thế giới. Vì vậy, ngay trong tuyên bố của mình năm 1958, khi ban hành Luật về Lãnh hải, Trung Quốc đã ngang nhiên tuyên bố “Trung Quốc có chủ quyền đối với Tây Sa và Nam Sa” (trên thực tế là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam).

Trong các tài liệu nghiên cứu của Trung Quốc, ngay từ những năm 60 của thế kỷ trước, đều khẳng định, Biển Đông là “bể cá vàng” là “con đường sinh mệnh” là “yết hầu” của Trung Quốc. Đặc biệt là sau báo cáo của Ủy ban Kế hoạch Kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương của Liên Hợp Quốc từ năm 1969 dự báo Biển Đông là một nơi giàu tài nguyên thiên nhiên, đặc bệt là dầu mỏ và khí đốt, Trung Quốc bắt đầu “để mắt” đến Biển Đông.

Đến năm 1992, Trung Quốc ngang ngược ký hợp đồng thăm dò dầu khí trên bãi Tư Chính của Việt Nam với một công ty tư nhân của Mỹ tên là công ty Crestone. Hợp đồng phi pháp này đã bị Việt Nam và cả Bộ ngoại giao Hoa Kỳ phản đối. Đến năm 2009, Trung Quốc chính thức đệ trình lên Liên Hợp Quốc yêu sách “đường lưỡi bò” phi pháp, “nuốt trọn” gần như toàn bộ Biển Đông, vi phạm các chuẩn tắc cơ bản Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc mà Trung Quốc đã cam kết.

Trung Quốc muốn “giải cơn khát năng lượng ngày càng tăng với cấp số nhân” và  đảm bảo về mặt an ninh năng lượng để phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế rất mạnh với tham vọng vươn lên siêu cường và “Cảnh sát trưởng thế giới”. Các chuyên gia và nhà cầm quyền Trung Quốc từ lâu đã dự báo về sự “khát năng lượng” của nước này. Hiện nay, Trung Quốc đang nhập khẩu tới gần 60% dầu mỏ, đến năm 2030, con số này sẽ tăng lên 66,6% và đến năm 2040 sẽ là 75%.

 Chiến sỹ Trường Sa ngày đêm canh gác biển trời Tổ quốc.
© ẢNH : TRẦN VIỆT – TTXVN

Hơn thế nữa, khoảng hơn 7 năm nay, xung đột tại khu vực Trung Đông-Bắc Phi mà gần đây nhất là những diễn biến căng thẳng giữa Mỹ và Iran, nơi lượng dầu mỏ của Trung Quốc chủ yếu được nhập về qua eo biển Hormuz, khiến Trung Quốc cảm thấy bất an. Nếu căng thẳng leo thang, Iran hoàn toàn có thể tính đến phương án phong tỏa eo biển này. Điều này khiến Trung Quốc gặp muôn vàn khó khăn khi chính các chuyên gia của nước này ước tính, tổng dự trữ dầu mỏ của Trung Quốc không vượt quá 10-15 ngày.

Cũng theo Giáo sư Diến, hành vi của Trung Quốc ở bãi Tư Chính chính là cách để nước này “thử phản ứng” của Việt Nam như đã từng xảy ra khi nước này kéo giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng biển của Việt Nam hồi năm 2014. Trung Quốc cũng muốn thông qua hành động này để “nắn gân” Mỹ trong bối cảnh hai bên vẫn đang có tranh chấp về thương mại.

Hành động pháp lý- “nỏ thần” thời hiện đại của Việt Nam

Trong khi đó, theo Giáo sư Diến, soi chiếu từ vị trí địa lý để xem xét trên khía cạnh pháp lý, đặc biệt là chiểu theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS 1982) – bản “Hiến pháp về Đại dương” và Phán quyết Tòa Trọng tài Quốc tế ngày 12/7/2016, được thành lập theo UNCLOS 1982 – bãi Tư Chính hoàn toàn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Giáo sư Diến giải thích, bãi Tư Chính nằm cách bờ biển Vũng Tàu 160 hải lý và cách bờ biển Đảo Hải Nam của Trung Quốc hơn 600 hải lý. Trong khi đó, theo UNCLOS, một quốc gia ngoài vùng nội thủy và lãnh hải thì từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải, quốc gia ven bờ được quyền có vùng đặc quyền kinh tế tối đa 200 hải lý và có vùng thềm lục địa tối thiểu là 200 hải lý và tối đa là không quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc cách đường đằng sau 2.500m nước một khoảng cách là 100 hải lý.

Như vậy, vùng thềm lục địa của Trung Quốc không thể kéo dài đến bãi Tư Chính. Không thể nói bãi Tư Chính nằm trong vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa của Trung Quốc. Trong khi đó, cũng chiểu theo UNCLOS, bãi Tư Chính nằm trong phạm vi 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.

Phán quyết Tòa Trọng tài Quốc tế ngày 12/7/2016, cũng đã bác bỏ yêu sách phi lý đường lưỡi bò của Trung Quốc, đồng thời nêu rõ các thực thể ở ngoài khơi Biển Đông, bao gồm một số thực thể ở Trường Sa chỉ có thể có lãnh hải 12 hải lý; không một  thực thể nào có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa (theo Khoản 3 Điều 121 UNCLOS).

Từ lâu, Việt Nam cũng đã thực hiện quyền chủ quyền đối với bãi Tư Chính. Ngay từ năm 1971, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã cho tiến hành phân lô đấu thầu thăm dò khai thác. Năm 1988, Chính phủ Cộng hòa XHCN Việt Nam cũng đã phân lô và mời các nhà thầu nước ngoài đến thăm dò, khai thác dầu khí tại đây.

Đến năm 1994, Việt Nam cũng đã ký hợp đồng với một công ty năng lượng lớn của Mỹ là ExxonMobil để khai thác lô dầu khí ở bãi Thanh Long cùng nằm trong phạm vi bãi Tư Chính. Từ năm 1989 cho đến nay, Chính phủ Việt Nam đã thiết lập Cụm Kinh tế, Khoa học và Dịch vụ có các trạm, nhà chòi, giàn khoan và đèn biển để tạo thuận tiện và hỗ trợ cho giao thông hàng hải, đánh bắt hải sản, nghiên cứu khoa học và các hoạt động thăm dò khai thác dầu khí. Như vậy, có thể thấy, Việt Nam đã thực hiện quyền chủ quyền đối với bãi Tư Chính hoàn toàn phù hợp với pháp luật cũng như theo đúng UNCLOS.

Trong khi đó, trong những ngày qua, các tàu Hải cảnh của Trung Quốc đã có những hành vi đe dọa sử dụng vũ lực đối với các tàu của Việt Nam ở bãi Tư Chính. Các cơ quan chức năng Việt Nam đã sử dụng mọi biện pháp để yêu cầu Trung Quốc chấm dứt các hành động của mình. Trên thực địa, các lực lượng chấp pháp Việt Nam cũng đã dùng các phương tiện, thiết bị, kể cả loa phát bằng tiếng Việt, tiếng Trung Quốc, tiếng Anh để tuyên bố hành động của Trung Quốc là vi phạm pháp luật và xâm phạm quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam nhưng vẫn bị phía Trung Quốc trắng trợn phớt lờ.

Theo Giáo sư Diến: “Hành vi của Trung Quốc là đi ngược lại hoàn toàn phán quyết của Tòa Trọng tài Quốc tế trong vụ Philippines kiện Trung Quốc ở Biển Đông- nơi Trung Quốc từng thực hiện chính sách 3 không: “Không thừa nhận thẩm quyền, không tham gia tố tụng và không chấp nhận phán quyết” nhằm vô hiệu hóa trên thực địa phán quyết Tòa Trọng tài Quốc tế  ngày 12/7/2016, được thành lập theo Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc. Điều này cho thấy Trung Quốc sẵn sàng dẫm đạp lên các nguyên tắc cơ bản nhất của luật pháp quốc tế và cho thấy sự ngang ngược và nguy hiểm của những âm mưu và các hành vi này”.

Để đối phó với những hành động sai trái của Trung Quốc, Giáo sư Diến cho rằng, Việt Nam cần ưu tiên giải quyết tranh chấp trên Biển Đông dựa trên nguyên tắc thượng tôn pháp luật, dựa trên các cơ sơ pháp lý bao gồm Hiến chương Liên Hợp Quốc, UNCLOS, thỏa thuận giữa ASEAN với Trung Quốc và nhận thức chung của lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông.

Giáo sư Diến khẳng định: “Các biện pháp pháp lý là giải pháp căn cơ, bền vững và lâu dài, văn minh, phù hợp với sự thật khách quan, phù hợp với xu thế chung của nhân loại và nhận được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Đây cũng là giải pháp ưu việt nhất, tối ưu nhất, là “bảo kiếm”, là “nỏ thần” của Việt Nam thời hiện đại. Việc chậm trễ sử dụng các biện pháp pháp lý có thể khiến chúng ta phải trả giá nặng nề hơn”.

Tranh chấp lãnh thổ Biển Đông

Tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông gồm các tranh chấp về đảo và vùng biển. Quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa là hai quần đảo trên các rạn san hô ở Biển Đông, trong đó quần đảo Hoàng Sa đang là nơi tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam, Trung Quốc và Đài Loan. Quần đảo Trường Sa là nơi tranh chấp chủ quyền của 6 quốc gia và lãnh thổ: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei; các quốc gia này tuyên bố chủ quyền toàn bộ hay một phần quần đảo Trường Sa

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

hải chăng Trung Quốc thất bại trong việc “chèo kéo” Malaysia?

Mahathir Mohamad

Phải chăng Trung Quốc thất bại trong việc “chèo kéo” Malaysia?

© AP Photo / Eugene Hoshiko
QUAN ĐIỂM-Ý KIẾN

URL rút ngắn
Theo 
10
Theo dõi Sputnik trên

Việc Malaysia công bố tài liệu về chính sách đối ngoại ở Biển Đông và tuyên bố của Thủ tướng Mahathir Mohamad cho thấy sự thất bại của Trung Quốc trong việc lôi kéo Malaysia nói riêng và các nước ASEAN nói chung vào vòng xoáy của mâu thuẫn, xung đột ở Biển Đông.

Đồng thời, nó chứng tỏ sự phá sản của các thủ đoạn thiết lập một Liên minh Đông Nam Á nhằm cô lập Việt Nam do Trung Quốc điều khiển.

Thực chất về tuyên bố về chính sách phi quân sự hóa Biển Đông của Malaysia

Ngày 18-9-2019,Thủ tướng Malaysia Mahathir Mohamad công bố đổi mới chính sách đối ngoại của Malaysia, bao gồm cả Biển Đông và Hợp tác Hồi giáo Quốc tế. Ông ta đã kêu gọi phi quân sự hóa Biển Đông. Theo đánh giá chung, đường lối ngoại giao mới của ông Mahathir khá giống với Hà Nội, trước hết là việc sẵn sàng hợp tác với tất cả các nước, nhưng sẽ không để phụ thuộc vào bất kỳ quốc gia nào.

BỎ PHIẾU

Theo bạn, tranh chấp trên Biển Đông nên được giải quyết như thế nào?
  • Đường lối ngoại giao hòa bình
    27.5% (52)
  • Đối thoại cấp cap
    5.8% (11)
  • Can thiệp 3 bên
    9.0% (17)
  • Tòa án quốc tế
    55.1% (104)
  • Không quan tâm chủ đề này
    2.6% (5)

Vì sao Malaysia đưa ra chính sách như thế trong vấn đề Biển Đông trong thời điểm này? Điều gì đã thúc đẩy việc Malaysia đưa ra một chính sách ngoại giao mới như thế? Và Malaysia muốn chứng minh điều gì?

Thực chất, chủ trương chính sách mà ông Mahathir Mohamad đưa ra nằm trong một tài liệu dài tới gần 80 trang của Chính phủ liên minh Pakatan Harapan do ông Mahathir Mohamad làm thủ tướng. Đây có thể xem như một cuốn “sách trắng chuyên biệt” về chính sách đối ngoại khu vực của Malaysia trong vấn đề khai thác, sử dụng Biển Đông vào mục đích hòa bình, thể hiện những “quan điểm có tính nguyên tắc”, những “khung định hướng chính sách” của Chính phủ đương nhiệm ở Malaysia về vấn đề Biển Đông.

Biển Đông nóng, Trung Quốc “chèo kéo” Malaysia, Mahathir Mohamad nói “hợp tác đa phương đang bị đe dọa”

Như chúng ta đã biết, tại thời điểm này, Biển Đông đang “nóng lên” bởi các hoạt động của Trung Quốc vi phạm chủ quyền Việt Nam khi đưa nhóm tàu khảo sát địa chất Haiyang Dizhi 8 vào khảo sát trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam, phớt lờ UNCLOS-1982, phớt lờ Phán quyết của Tòa trọng tài quốc tế La Haye PCA ngày 12-7-2016. Còn ngày 16-9-2019 vừa qua, Trung Quốc cũng “đánh tiếng”, “chèo kéo” Malaysia về việc sẵn sàng cùng Malaysia thiết lập một cơ chế đối thoại song phương để giải quyết những bất đồng về vấn đề chủ quyền trên Biển Đông.

“Theo tôi, tài liệu của Chính phủ Malaysia giống như một câu trả lời chính thức không chỉ đối với Trung Quốc mà còn thể hiện lập trường hòa bình của Malaysia và cách thức giải quyết những vướng mắc, va chạm về chủ quyền trên Biển Đông. Bằng lời “chèo kéo” của Cảnh Sảng ngày 16-9-2019 vừa qua, Trung Quốc đã nhận được một kết quả hòa toàn trái ngược với mưu đồ của họ khi muốn lôi kéo Malaysia vào một cuộc “đi đêm” với Trung Quốc, một trong những thủ đoạn mà Trung Quốc thường dùng để chia rẽ các nước ASEAN trong vấn đề Biển Đông”, – Chuyên gia nổi tiếng của Việt Nam về những vấn đề chính trị và quân sự Nguyễn Minh Tâm bình luận với Sputnik.

Khi giới thiệu tài liệu, ông Mahathir Mohamad đã nói: “Sự hợp tác đa phương đang bị đe dọa… các nước lớn đang đơn phương áp đặt ý muốn của họ đối với các nước khác… Malaysia quan ngại sâu sắc về diễn biến này”. Ông cũng chỉ rõ rằng: “Các mối đe dọa an ninh do các bên tuyên bố chủ quyền chồng chéo ở vùng biển tranh chấp đã được hạn chế nhiều và quản lý một cách hiệu quả bằng biện pháp ngoại giao”. Nhưng bên cạnh đó: “Có một số điểm nóng có thể gây ra khủng hoảng hoặc chiến tranh nếu không được giải quyết thỏa đáng”.

Mục tiêu “phi quân sự hóa Biển Đông” đang bị Trung Quốc cản trở

Theo một số nhà bình  luận chính trị, đây chính là câu trả lời thích đáng cho phía Trung Quốc. Và lập trường của Malaysia chính là lập trường của ASEAN tại các Hội nghị AMM-52 và ARF-26 tổ chức tại Thái Lan vừa qua, nơi mà Trung Quốc hoàn toàn bị cô lập khi các nước ASEAN đồng loạt phản đối các hành động gây bất ổn của Trung Quốc ở Biển Đông. Nó chứng tỏ rằng, Malaysia không ủng hộ chính sách ngoại giao song phương của Trung Quốc để “nói chuyện riêng” với từng nước ASEAN về vấn đề Biển Đông. Nó khẳng định rằng, cơ chế tiếp cận đa phương phải được tôn trọng, khẳng định rằng vấn đề khai thác và sử dụng Biển Đông phải vì mục đích hòa bình, phải bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế.

“Vấn đề phi quân sự hóa Biển Đông là mục tiêu theo đuổi từ nhiều năm nay không chỉ của các nước ASEAN, đặc biệt là các nước ASEAN tiếp giáp với Biển Đông, mà còn là mục tiêu của các nước có lợi ích trong việc sử dụng Biển Đông cũng như hợp tác với các nước ASEAN để khai thác tài nguyên ở Biển Đông phục vụ cho mục đích hòa bình và phát triển”, – Chuyên gia Nguyễn Minh Tâm đưa ra đánh giá của mình với Sputnik.

Tuy nhiên, mục tiêu này bị cản trở bởi hai nguyên nhân chính. Trước hết là sự cạnh tranh địa-chiến lược, địa chính trị giữa các nước lớn trên thế giới về cái gọi là “lợi ích cốt lõi” ở Biển Đông mà chủ yếu là Mỹ và Trung Quốc. Thứ hai là thái độ đơn phương của Trung Quốc với những mưu toan nhằm độc chiếm tới 80% diện tích Biển Đông nằm trong cái gọi là “vùng nước lịch sử” (đường lưỡi bò). Trong cuộc cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung ở Biển Đông, Mỹ là nước không tham gia ký kết UNCLOS-1982. Còn Trung Quốc thì dù có tham gia ký kết nhưng chưa bao giờ tôn trọng chữ ký của chính mình. Vì vậy, nguy cơ quân sự hóa Biển Đông đã trở thành hiện thực bởi các hành động bồi đắp các bãi đá thành căn cứ quân sự của Trung Quốc, buộc các nước có chủ quyền quốc gia ở Biển Đông, trong đó có Việt Nam phải thực thi các biện pháp phòng thủ tự vệ.

Vì vậy, vấn đề phi quân sự hóa Biển Đông chỉ có thể được thực hiện khi Trung Quốc từ bỏ ý đồ độc chiếm Biển Đông, từ bỏ những “câu chuyện bịa đặt” về cái gọi là “vùng nước lịch sử”.

Trung Quốc thất bại trong việc lôi kéo Malaysia vào vòng xoáy xung đột Biển Đông

Có nhiều nhận xét cho rằng quan điểm “không đi với nước này chống nước khác” của Malaysia giống Việt Nam

Nhưng, chỉ thực tiễn mới là “nơi kiểm nghiệm chính xác nhất đối với chân lý”. Chúng ta hãy theo dõi xem những bước đi tiếp của Malaysia trong vấn đề Biển Đông như thế nào. Dù sao, tuyên bố như vậy, Malaysia cũng đã có một điểm cộng trong mắt các nước ASEAN.

Và chúng ta cũng nên nhớ lại rằng, chính sách ngoại giao “không đi với nước này để chống lại nước kia” vốn là chính sách của các nước thuộc “Phong trào không liên kết” được thành lập từ ngày 1-9-1961 với 120 quốc gia thành viên chính thức và 17 quốc gia, tổ chức quốc tế là quan sát viên. “Tuyên bố La Habana năm 1979” cũng nêu rõ năm nguyên tắc của khối này là: Tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; không xâm lược lẫn nhau; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; bình đẳng và hai bên cùng có lợi; cùng tồn tại hoà bình.

Việc Malaysia công bố tài liệu về chính sách đối ngoại ở Biển Đông và tuyên bố của Thủ tướng  Mahathir Mohamad cho thấy sự thất bại của Trung Quốc trong việc lôi kéo Malaysia nói riêng và các nước ASEAN nói chung vào vòng xoáy của mâu thuẫn, xung đột ở Biển Đông. Đồng thời, nó chứng tỏ sự phá sản của các thủ đoạn thiết lập một Liên minh Đông Nam Á nhằm cô lập Việt Nam do Trung Quốc điều khiển.

Ý kiến trong bài viết là quan điểm của tác giả, không nhất thiết phản ánh quan điểm của Sputnik.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Blog at WordPress.com.