Dân chủ hóa chế độ là phương pháp duy nhứt khẳng định chủ quyền biển đảo

Dân chủ hóa chế độ là phương pháp duy nhứt khẳng định chủ quyền biển đảo

Trương Nhân Tuấn

10-10-2019

Nếu không có gì thay đổi, chắc chắn Việt Nam sẽ phải nhượng bộ, như “gác tranh chấp cùng khai thác” với Trung Quốc. Cuối cùng rồi cũng sẽ đưa tới việc lãnh đạo VN ký kết các văn kiện pháp lý nhìn nhận chủ quyền của TQ ở các đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Nếu ta tìm hiểu nguồn gốc tranh chấp giữa VN và TQ về chủ quyền HS và TS, ta thấy rằng chìa khóa để VN có thể giữ vững danh nghĩa chủ quyền ở hai quần đảo này là “dân chủ hóa chế độ”.

Thật vậy, TQ bắt đầu lên tiếng tranh chấp chủ quyền quần đảo Hoàng Sa với VN từ năm 1909. Ta có thể khẳng định, hầu hết sách vở, tài liệu… do TQ, hay do người nước ngoài xuất bản, trước năm 1909 không có tài liệu nào khẳng định TQ có chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa. Các tài liệu cổ đều ghi nhận điểm cực nam của lãnh thổ TQ là đảo Hải Nam.

TQ bắt đầu biết đến sự hiện hữu của HS, đồng thời lên tiếng yêu sách chủ quyền quần đảo này (vì lý do chiến lược), chỉ khi thấy người Nhật dòm ngó và khai thác phân chim ở các đảo này. Những văn kiện ngoại giao của TQ (có giá trị pháp lý), đến thập niên 30 thế kỷ trước còn khẳng định vùng cực nam của TQ là “Tây sa quần đảo” (tức HS).

TQ sau đó lên tiếng yêu sách chủ quyền quần đảo Trường Sa, họ gọi là Nam sa, vào các năm cuối thập niên 1930, sau khi Pháp ra tuyên bố sáp nhập TS vào lãnh thổ VN, với danh nghĩa sáp nhập một lãnh thổ vô chủ.

Sau Thế chiến II, TQ của Tưởng Giới Thạch đứng về phe chiến thắng, trở thành một trong năm “ngũ đại cường” có quyền quyết định số phận các quốc gia thua trận, đồng thời với các vùng lãnh thổ mà các quốc gia “Trục” Đức, Ý, Nhật đã chiếm trong thời kỳ chiến tranh.

TQ của Tưởng giới Thạch nhiều lần cam kết với “tam đại cường” Mỹ, Anh, Liên xô (như qua Tuyên bố Cairo 1943) là “không bành trướng lãnh thổ”. Các yêu sách của họ Tưởng với đại diện phe Đồng minh để ông này “tuyên bố chiến tranh” với Nhật, là trả lại cho TQ các vùng đất mà Nhật đã chiếm như Mãn Châu, Đài loan, Bành hồ. Không thấy đại diện TQ yêu sách, hay nhắc nhở tới số phận HS và TS. Họ Tưởng có nhiều cơ hội để khẳng định chủ quyền HS và TS thuộc về TQ, như lúc ký hiệp ước trao đổi (quyền lợi kinh tế lấy quyền lợi chính trị) với Pháp năm 1946.

Lần đầu tiên và duy nhứt, bên lề hội nghị San Francisco 1951, thủ tướng Chu Ân Lai của TQ (phe cộng sản) tuyên bố không nhìn nhận hiệu lực hòa ước San Francisco, đồng thời nhắc lại yêu sách HS và TS thuộc TQ. Tuyên bố của TQ được LX và các quốc gia thuộc khối XHCN ủng hộ.

Vấn đề là đến năm 1958 nhà nước VNDCCH ra văn bản “nhìn nhận và cam kết tôn trọng” các tuyên bố của TQ về lãnh hải. Văn bản do thủ tướng Phạm Văn Đồng ký tên. Vấn đề là VNDCCH “im lặng” không nói đến các yêu sách của TQ về lãnh thổ Hoàng Sa và Trường Sa.

Theo tập quán quốc tế và chiếu theo luật quốc tế hiện hành về hiệu lực pháp lý các “tuyên bố đơn phương”, tuyên bố về hải phận và chủ quyền lãnh thổ của TQ có giá trị pháp lý ràng buộc cho các quốc gia không lên tiếng phản đối (hay giữ im lặng). VNDCCH đã không lên tiếng phản đối mà còn ra văn bản “nhìn nhận và cam kết thi hành”.

Điều “may” cho VN là lúc PVĐ ký văn bản, hiện hữu thực thể đối kháng chính trị với VNDCCH là VNCH ở phía nam vĩ tuyến 17. VNCH là phía thực sự có quyền quản lý HS và TS.

Ta thấy năm 2014 lúc giàn khoan HD981 quấy nhiễu trong vùng thềm lục địa VN, cách đảo Lý sơn khoảng 20 hải lý. VN đã có những động thái (như là muốn) vận động LHQ ra nghị quyết tố cáo hành vi ngang ngược bành trướng của TQ.

Vấn đề là phía TQ đã tung ra những tài liệu phản biện, gồm tuyên bố “nhìn nhận và cam kết thi hành” 1958 của PVD, còn có những tài liệu như sách giảo khoa, bản đồ, tài liệu báo chí v.v… cho thấy VNDCCH liên tục “nhìn nhận” chủ quyền của TQ ở HS và TS.

Mặc dầu tài liệu chưa bạch hóa, nhưng ta có thể đoán là VN đã vận động LHQ thất bại. Những hành vi của TQ (mà VN gọi là bành trướng, vi phạm luật biển) đều phù hợp với thực tiễn pháp lý quốc tế.

Địa điểm đặt giàn khoan HD981 ở khoảng giữa đảo Tri tôn và đảo Lý Sơn. VN không có lý do phản biện, nếu đảo Tri tôn có “hiệu lực đảo” theo qui định điều 121 Luật Biển 1982.

VN phản đối yêu sách chủ quyền của TQ ở HS và TS, mọi lập luận đều dựa trên quan điểm của VNCH.

Điều này sẽ thuyết phục dư luận quốc tế, nếu nhà nước VN hôm nay đã “kế thừa” di sản của VNCH.

Điều may khác cho VN hôm nay là Phi đã kiện và thắng kiện TQ. Luật biển khu vực TS được phán quyết 11-7-2016 giải thích cụ thể rõ ràng và “cách áp dụng Luật biển” đồng thời cũng được minh bạch.

Học giả VN nghĩ rằng từ nay VN có “cơ sở pháp lý” để phản biện mọi hành vi của TQ ở vùng Tư chính.

Điều này chưa chắc chắn 100%. TQ có đến 3 lý do để không tuân thủ phán quyết. Trong khi VN vẫn chưa làm thủ tục để phán quyết có hiệu lực trên vùng biển của mình.

Còn vùng biển thuộc HS thì sao? TQ có thể quấy nhiễu vùng biển này mà VN không có lý do nào để phản biện.

Từ (rất) lâu tôi có viết rằng, nguồn gốc mọi tranh chấp ở biển Đông đến từ tranh chấp “chủ quyền”. Khi vấn đề “chủ quyền” chưa giải quyết rốt ráo, các tranh chấp vẫn còn cội nguồn để phát triển và bùng nổ nếu có dịp.

Vì vậy tôi đã (nhiều lần) trình bày các phương pháp khẳng định chủ quyền HS và TS qua việc “kế thừa” di sản VNCH thông qua thủ tục “hòa giải quốc gia”.

Mà việc “hòa giải quốc gia” chỉ là cách nói khác của việc nhìn nhận “đa nguyên chính trị” và “dân chủ hóa chế độ”.

Cái khó hiện nay của VN, hiển nhiên đảng CSVN không hề có ý định “dân chủ hóa chế độ”. Cái bánh quyền lực quá ngon để họ “chia sẻ” với bất kỳ ai. Nhưng lực lượng “dân chủ” của VN vẫn không có gì, ngoại trừ một vài cá nhân lẻ tẻ.

Nhưng những khó khăn này vẫn không đáng kể nếu so sánh với nguy cơ mất đất, mất biển.

Nếu không có gì thay đổi, chắc chắn VN sẽ phải nhượng bộ, như “gác tranh chấp cùng khai thác” với TQ. Cuối cùng rồi cũng sẽ đưa tới việc lãnh đạo VN ký kết các văn kiện pháp lý nhìn nhận chủ quyền của TQ ở các đảo HS và TS.

Điều cần nhấn mạnh là các văn kiện này có giá trị ràng buộc cho tất cả các thế hệ VN trong tương lai. Cái ảo tưởng (mà nhiều người nhắc đi nhắc lại) lật đổ được cộng sản thì giải quyết được tất cả.

Luật quốc tế (Công ước Vienne 1969-1981 về nội dung kế thừa các kết ước) không nhìn nhận việc đặt lại các kết ước có liên quan đến lãnh thổ (hay làm thay đổi đường biên giới).

Vì vậy việc tranh đấu bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ chủ quyền biển đảo là việc phải làm ngay bây giờ, phải tranh đấu bây giờ.

Đừng bao giờ lẫn lộn “lòng thù hận” TQ hay CSVN với “lòng yêu nước”. Thù hận là đập phá. Yêu nước là xây dựng.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Post navigation

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: