Daily Archives: December 20, 2019

Mỹ chơi lớn: Chi số tiền kỷ lục sắm loạt tàu ngầm mới mang tên lửa Tomahawk “dằn mặt” TQ

Mỹ chơi lớn: Chi số tiền kỷ lục sắm loạt tàu ngầm mới mang tên lửa Tomahawk “dằn mặt” TQ

Mỹ hiện đang phải đối diện với sức ép chưa từng có tiền lệ ở Thái Bình Dương mà chủ yếu đến từ sự phát triển đột phá về số lượng và chất lượng của các tàu ngầm Hải quân Trung Quốc.

Hợp đồng đóng tàu ngầm lớn chưa từng có

Ngày 2/12/2019, Hải quân Mỹ đã chính thức đặt bút ký một hợp đồng đóng mới 9 tàu ngầm tấn công tiên tiến nhất thế giới chạy bằng năng lượng hạt nhân lớp Virginia trị giá 22,2 tỷ USD, một khoản ngân sách kỷ lục chưa từng có từ trước tới nay.

Động thái trên diễn ra chỉ vài tháng sau khi Tư lệnh Hải quân Mỹ ở Thái Bình Dương lên tiếng cảnh bảo về việc Trung Quốc tăng cường phát triển hải quân đồng thời ông cũng bày tỏ lo ngại Washington không có đủ tàu ngầm để đối phó với Bắc Kinh.

“Hợp đồng này chính là phản ứng mới nhất của Hải quân Mỹ trước sức mạnh quân sự và các hành động gây hấn ngày càng gia tăng của Trung Quốc ở Tây Thái Bình Dương”, Carl Schuster, cựu Giám đốc phụ trách các chiến dịch thuộc Trung tâm Tình báo Liên hợp, Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Hải quân Mỹ bình luận.

“Hải quân Trung Quốc (PLAN) đang ngày càng trở lên tốt hơn và phát triển ở quy mô lớn hơn, vì vậy Mỹ cần phải đối phó. Hải quân Mỹ không coi Trung Quốc là kẻ thù nhưng các hành động của Trung Quốc phải được theo dõi chặt chẽ”, ông Carl Schuster nhấn mạnh.

Các tàu ngầm lớp Virginia là phương tiện tác chiến chủ chốt đa năng dưới nước của Hải quân Mỹ. Chúng có thể tấn công các tàu ngầm khác, tàu chiến mặt nước, các mục tiêu trên đất liền cũng như thực hiện các chiến dịch đặt biệt thu thập thông tin tình báo và do thám.

8 tàu ngầm loại này đã có trong biên chế của Hải quân Mỹ và thêm 10 tàu ngầm nữa đang được đóng theo từng giai đoạn khác nhau.

Tuy nhiên, 9 tàu ngầm Virginia mới sẽ đánh dấu một bước nâng cấp đột phá so với các tàu ngầm tiền nhiệm cùng lớp. Hải quân Mỹ cũng đang để ngỏ lựa chọn đóng chiếc tàu thứ 10 và nếu như vậy tổng giá trị hợp đồng sẽ lên tới 24 tỷ USD.

Bước nhảy vọt về khả năng đối phó với Trung Quốc

Trong thông báo phát đi ngày thứ Hai, Chuẩn Đô đốc David Goggins, sĩ quan phụ trách chương trình tàu ngầm của Hải quân Mỹ gọi đây là “một bước nhảy vọt cả thế hệ về khả năng tác chiến ngầm”.

Các tàu ngầm mới sẽ có kích cỡ lớn hơn với lượng choán nước 10.200 tấn (so với 7.800 tấn ở các tàu hiện tại), dài hơn (460 feet so với 377 feet) và sẽ được trang bị hỏa lực mạnh mẽ mới khi có thể tấn công bằng 40 tên lửa hành trình Tomahawk (so với chỉ 12 quả trên các tàu hiện nay).

Hải quân Mỹ cho biết, số tàu ngầm mới này dự kiến sẽ được chuyển giao trong giai đoạn từ 2025 – 2029.

Các chuyên gia cho rằng Mỹ hiện đang phải đối diện với sức ép chưa từng có tiền lệ ở Thái Bình Dương mà chủ yếu đến từ những bước phát triển đột phá về số lượng và chất lượng các tàu ngầm của Hải quân Trung Quốc.

Báo cáo sức mạnh quân sự Trung Quốc công bố hồi tháng 5/2019 của Bộ Quốc phòng Mỹ cho biết, đến năm 2020 PLAN sẽ đưa vào biên chế khoảng từ 65 – 70 tàu ngầm.

Lực lượng tàu ngầm Trung Quốc dự kiến sẽ còn tiếp tục gia tăng sau giai đoạn này. Trong vòng 5 năm kế tiếp PLAN sẽ đóng mới thêm nhiều tàu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân tương tự như các tàu lớp Virginia của Mỹ.

Trong một báo cáo đưa ra vào tháng 8/2019, các chuyên gia phân tích ở Australia đã chấn vấn Mỹ về khả năng bắt kịp đà phát triển của Trung Quốc đồng thời cảnh báo Washington đang phải đối diện với một cuộc khủng hoảng “đổ vỡ về chiến lược”:

“Khi môi trường trên mặt nước ngày càng trở nên nguy hiểm hơn trước việc Trung Quốc tăng cường triển khai tên lửa hành trình, vũ khí siêu thanh và các hệ thống phòng không thì lợi thế vượt trội của Mỹ về tác chiến ngầm phải đóng một vai trò ngày càng quan trọng để cân bằng sức mạnh tại khu vực”.

Trong phiên điều trần trước Quốc hội Mỹ đầu năm nay, Đô Đốc Philip Davidson, chỉ huy Bộ tư lệnh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ cho biết, hoạt động tàu ngầm của 3 đối thủ ở Thái Bình Dương, gồm Trung Quốc, Nga và Triều Tiên đã gia tăng gấp 3 lần kể từ năm 2008.

Davidson đã yêu cầu được gia tăng số lượng tàu ngầm để duy trì ưu thế của Hải quân Mỹ trong khu vực vì nếu không “chúng ta sẽ mất lợi thế về số lượng vào khoảng năm 2025 và tôi cho rằng đây là một thách thức đối với lợi ích của chúng ta”.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Thành duy thức luận – chuyên đề IV: Nhân – Duyên – Quả

Thành duy thức luận – chuyên đề IV: Nhân – Duyên – Quả

02/12/20191:02 SA(Xem: 2064)
Thành duy thức luận - chuyên đề IV: Nhân - Duyên - Quả
THÀNH DUY THỨC LUẬN
CHUYÊN ĐỀ IV: NHÂN – DUYÊN – QUẢ
Thích Phước Nguyên chủ giảng
**************

thich phuoc nguyenGiảng Tại Học Viện Phật Giáo Việt Nam – Cơ Sở I. Tv. Vạn Hạnh
Giáo Thọ Sư: Đ.Đ. Thích Phước Nguyên

Dẫn:
Thành duy thức luận, trình bày hệ thống vận hành của các pháp theo một định lý: nhân – duyên – quả, trong đó thuyết minh về 4 duyên, 10 nhân, 5 quả. Trong đây: Skt hetu: nhân, tức nguyên nhân; Skt pratyayatā: duyên tính, tính chất làm điều kiện hỗ tương; tức những năng lực tương tác, hỗ trợ và kích khởi; Skt phala: quả, tức kết quả. Nguyên lý này tạo chỉnh thể hoạt động và tiến hành hoàn chỉnh các các pháp.

 

Kì trước:
Chuyên đề III. LỘ TRÌNH TU TẬP
DUY THỨC TÔNG ĐẠI THỪA BÁCH PHÁP
DUY THỨC HỌC: TÂM – Ý  – THỨC

bài đọc thêm:
Thành Duy Thức Luận (HT. Thích Thiện Siêu)
Duy Thức Học (Thích Thiện Hoa)
Dẫn vào duy thức học (Tuệ Sỹ)
Thành Duy Thức Giảng Luận (Thích Phước Nguyên) MP3

Tạo bài viết

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Quan hệ Hoa Kỳ – Trung Cộng

Quan hệ Hoa Kỳ – Trung Cộng

Trần Gia Phụng

17-12-2019

Hoa Kỳ liên lạc ngoại giao chính thức với Trung Hoa từ năm 1844, thời nhà Thanh. Quan hệ nầy thay đổi quan trọng từ khi Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, tức Trung Cộng thành lập năm 1949.

1.- HOA KỲ VÀ TRUNG HOA

Lúc mới đến, Hoa Kỳ chỉ chú trọng phát triển giao thương với Trung Hoa. Tuy nhiên, khi các tòa công sứ các nước tây phương ở Bắc Knh bị quân Trung Hoa tấn công, thì Hoa Kỳ tham gia lực lượng tám nước, gọi là bát quốc liên quân, chống nhà Thanh. Liên quân (theo ABC) gồm Anh, Áo-Hung, Đức, Hoa Kỳ, Nga, Nhật Bản, Pháp, Ý.

Nhà Thanh thất bại, phải ký Điều ước Tân Sửu ngày 7-9-1901, bồi thường chiến phí lên đến 450 triệu lượng bạc, tương đương 67 tr. Anh kim hay 333 tr. Mỹ kim lúc đó. (Jonathan D. Spence, The Search for Modern China, New York: W.W. Norton & Company, 1990, tr. 235.) (Xem thêm: John King Fairbank, China a New History, Cambridge: Harvard University Press, tr. 232.)

Trong số tiền nầy, Hoa Kỳ được bồi thường 12 triệu Mỹ kim lúc đó. Hoa Kỳ chia số tiền bồi thường thành 2 phần: một nửa dùng để góp vào sự thành lập đại học Thanh Hoa (Quinghua) ở Bắc Kinh, và một nửa còn lại để cấp học bổng cho 1,268 sinh viên từ năm 1909 đến 1929 thuộc đại học nầy. Ngoài ra, các phái đoàn truyền giáo Hoa Kỳ đã giúp nhiều trường Ky-Tô giáo và nhiều đại học ở Trung Hoa. (Jonathan D. Spence, sđd. tr. 383.) (John King Fairbank, sđd. tt. 264-265.)

Khi thế chiến thứ hai bùng nổ năm 1939, Trung Hoa Dân Quốc (THDQ) đứng về phe Đồng minh, cùng Hoa Kỳ chống Nhật Bản. Trung Hoa được kể là nước thắng trận khi thế chiến kết thúc năm 1945 và trở thành thành viên của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc (LHQ), có quyền phủ quyết.

Tháng 7-1946, cuộc nội chiến Quốc – Cộng tái diễn ở Trung Hoa. Hoa Kỳ ủng hộ THDQ chống lại đảng cộng sản Trung Hoa (CSTH). Năm 1949, đảng CSTH thành công, chiếm được toàn thể lục địa Trung Hoa, và thành lập Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (CHNDTH) tức Trung Cộng ngày 1-10-1949 do Mao Trạch Đông làm chủ tịch, thủ đô là Bắc Kinh (Beijin). Trung Hoa Dân Quốc thất bại, chạy ra hải đảo Đài Loan (Taiwan), đóng đô tại Đài Bắc (Taipei).

Hoa Kỳ tiếp tục ủng hộ THDQ. Nhờ đó THDQ vẫn giữ ghế đại diện tại LHQ, có mặt trong Hội đồng Bảo An LHQ và có quyền phủ quyết những vấn đề quan trọng. Chú ý là Trung Cộng rộng trên 9,640,000 km2, trong khi Đài Loan là một hải đảo nhỏ, chỉ khoảng 35,980 km2, ít tài nguyên thiên nhiên.

2.- CUỘC PHÂN CÔNG TRONG KHỐI CỘNG SẢN

Sau khi Trung Cộng được thành lập, vào tháng 1-1950, Hồ Chí Minh (HCM) bí mật sang Bắc Kinh cầu viện. Lúc đó, hai lãnh tụ CSTH là Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai đều đã qua Moscow. Hồ Chí Minh đi tiếp qua Moscow. Tại đây, lãnh tụ cộng sản Liên Xô (CSLX) là Stalin nói với HCM: “Chúng tôi đã trao đổi với các đồng chí Trung Quốc, công việc viện trợ chiến tranh chống Pháp chủ yếu là do Trung Quốc phụ trách thích hợp hơn.” (Trương Quảng Hoa, “Quyết sách trọng đại – Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp”, đăng trong Ghi chép thực về việc đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp, Tạp chí Truyền Thông xuất bản, Montreal, 2009, tt. 45-48). Như thế, có nghĩa là Stalin uỷ nhiệm cho Trung Cộng viện trợ cho HCM. Sự ủy nhiệm nầy được hiểu ngầm là sự phân công trong khối CS: Liên Xô phụ trách các vấn đề CS ở Đông Âu, và Trung Cộng phụ trách các vấn đề CS ở Đông Á.

Stalin chết năm 1953. Sau cuộc tranh quyền, Nikita Khrushchev lên làm bí thư thứ nhất đảng Cộng sản Liên Xô. Năm 1956, Khrushchev đưa ra chủ trương ngoại giao mới là hòa dịu với các nước Tây phương, “sống chung hòa bình” (peaceful coexistence) giữa các nước không cùng thể chế chính trị. Trung Cộng phản đối chủ trương này. Lúc đầu, chỉ là lời qua tiếng lại, nhưng cuối cùng hai nước đánh nhau dọc biên giới đông bắc Trung Cộng, trên sông Ussuri (Ô Tô Lý Giang) tháng 3-1969. Từ nay, đối với Trung Cộng, Liên Xô không còn là “đồng chí anh em”, mà là một kẻ thù mới của Trung Cộng.

3.- HOA KỲ VÀ TRUNG CỘNG TIẾP TỤC ĐỐI ĐẦU

Tại Đông bắc Á, chiến tranh Triều Tiên xảy ra năm 1950. Hoa Kỳ ủng hộ Nam Triều Tiên (NTT). Trung Cộng ủng hộ Bắc Triều Tiên (BTT). Sau 3 năm đánh nhau, hai bên ký hiệp ước đình chiến Panmunjom (Bàn Môn Điếm) ngày 27-7-1953. Để bảo vệ NTT, Hoa Kỳ ký với NTT Mutual Defense Treaty Between the United States and the Republic of Korea ngày 1-10-1953.

Tháng 9-1954, Trung Cộng pháo kích hai quần đảo Kim Môn – Mã Tổ (Kinmen-Mazu) thuộc quyền của THDQ (Đài Loan). Trước sự đe dọa của Trung Cộng, Hoa Kỳ liền ký với THDQ Sino-American Mutual Defense Treaty còn gọi là Mutual Defense Treaty between the United States of America and the Republic of China ngày 2-12-1955.

Với Nhật Bản, sau các hiệp ước 1951 và 1954, Hoa Kỳ ký thêm Treaty of Mutual Cooperation and Security between the United States and Japan (Hiệp định Hợp tác và An ninh Hỗ tương giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản) ngày 19-1-1960.

Các hiệp ước trên cho thấy Hoa Kỳ cương quyết bảo vệ ba nước NTT, THDQ (Đài Loan) và Nhật Bản, đồng thời lập một vòng đai bao vây Trung Cộng trên Thái Bình Dương.

Trong khi đó, sau hội nghị Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Hoa) từ 3 đến 5-7-1954 với thủ tướng Trung Cộng Chu Ân Lai về việc ký kết hiệp định Genève (20-7-1954), khi về nước, theo đúng chủ trương của Trung Cộng, HCM đưa ra chiêu bài “chống Mỹ cứu nước”. (Hồ Chí Minh toàn tập tập 7: 1953-1955, Hà Nội: Nxb. Chính Trị Quốc Gia, 2000, tt. 314-315.)

Trong chiến tranh 1954-1975 ở Việt Nam, tuy chống nhau, nhưng Liên Xô và Trung Cộng đều viện trợ cho Bắc Việt Nam (BVN) chống Mỹ như lời Lê Duẩn phát biểu: “Ta đánh Mỹ là đánh cho cả Trung Quốc, cho Liên Xô.” (Nguyễn Mạnh Cầm (ngoại trưởng CSVN từ 1991 đến 2000) trả lời phỏng vấn BBC ngày 24-1-2013.) Trong khi đó, Hoa Kỳ giúp đỡ Nam Việt Nam (NVN) chống sự xâm nhập ào ạt của bộ đội BVN. Tuy nhiên, Hoa Kỳ chủ trương chiến tranh giới hạn (limited war), không tấn công ra BVN để chận đứng nguồn tiếp tế của BVN cho bộ đội CS ở NVN, nên quân đội Hoa Kỳ không thành công trong việc giúp Việt Nam Cộng Hòa đánh dẹp du kích CS ở NVN.

Trước tình hình mới, Hoa Kỳ thay đổi sách lược, muốn làm thân với Trung Cộng nhằm chống Liên Xô, đồng thời nhờ Trung Cộng giúp Hoa Kỳ thảo luận với CSVN về việc rút quân khỏi Việt Nam. Đối với Trung Cộng, Hoa Kỳ và Liên Xô đều là hai kẻ thù, nhưng Hoa Kỳ ở xa, ít nguy hiểm hơn Liên Xô là nước nằm sát bên biên giới, nên Trung Cộng cũng muốn liên kết với Hoa Kỳ để chống Liên Xô.

4.- HOA KỲ VÀ TRUNG CỘNG HÒA HOÃN

Sau nhiều cuộc thăm dò và đàm phán bí mật, cả Hoa Kỳ lẫn Trung Cộng đều tỏ thiện chí xích lại gần nhau. Ngày 9-7-1971, trong một chuyến công du Pakistan, cố vấn An ninh Quốc gia Hoa Kỳ là Henry Kissinger bí mật đến Bắc Kinh, thủ đô Trung Cộng.

Trong cuộc gặp gỡ với Chu Ân Lai, ngoài những vấn đề song phương và thế giới, Kissinger còn thảo luận với Chu Ân Lai về vấn đề Việt Nam. Sau khi Kissinger về nước, Nixon lên đài truyền hình ngày 15-7-1971, công bố sẽ thăm Trung Cộng vào đầu năm tới.

Lót đường cho chuyến thăm viếng hữu nghị sắp đến, Hoa Kỳ không phủ quyết cuộc biểu quyết tại Đại hội đồng thứ 26 của LHQ ngày 25-10-1971, theo đó CHNDTH được cử giữ ghế đại biểu Trung Hoa tại LHQ thay cho THDQ (Đài Loan), là ghế hội viên thường trực, có quyền phủ quyết tại Hội đồng Bảo an LHQ.

Tổng thống Nixon cầm đầu phái đoàn Hoa Kỳ đến Bắc Kinh ngày 21-2-1972, chủ yếu bàn về bang giao giữa hai nước, và Hoa Kỳ thông báo kế hoạch rút quân khỏi Việt Nam của Hoa Kỳ. Trước khi về nước, tổng thống Nixon và thủ tướng Trung Cộng Chu Ân Lai ký kết bản “Thông cáo chung” tại Thượng Hải (Shanghai) ngày 28-2-1972, làm nền tảng bang giao giữa hai nước, gồm 16 điều:

Trung Cộng đưa ra quan điểm của Trung Cộng trong điều 6, Hoa Kỳ đưa ra quan điểm của Hoa Kỳ trong điều 7. Trong điều 8, hai bên đồng ý rằng, tuy hệ thống xã hội và chính sách ngoại giao khác nhau, nhưng hai bên đồng tôn trọng chủ quyền, sự toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia, không xâm lăng, không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác và chấp nhận sự sống chung hòa bình giữa các nước. Trong điều 9, Hoa Kỳ và Trung Cộng xác nhận không kiếm cách làm chủ khu vực châu Á-Thái Bình Dương, và chống đối bất kỳ nước nào hay nhóm nước nào muốn làm bá chủ vùng nầy. Quan trọng nhất đối với Trung Cộng trong bản thông cáo chung là điều 11 và điều 12. Theo điều 11, Trung Cộng nhấn mạnh rằng Đài Loan là một tỉnh của Trung Hoa và CHNDTH là nhà nước hợp pháp duy nhất của Trung Hoa. Chính phủ CHNDTH phản đối mạnh mẽ tất cả những mưu toan nhằm tạo “một Trung Hoa một Đài Loan”, “một Trung Hoa hai chính quyền”, “hai Trung Hoa”, hay một “Đài Loan độc lập”. Trong điều 12, Hoa Kỳ xác nhận chỉ có một Trung Hoa, và Đài Loan là một phần của Trung Hoa. Đồng thời Hoa Kỳ tái khẳng định lợi ích của họ trong việc giải quyết vấn đề Đài Loan một cách hòa bình. Hoa Kỳ cam kết sẽ từ từ rút hết quân và thiết bị quân sự ra khỏi Đài Loan khi khu vực giảm dần căng thẳng.

Hoa Kỳ chính thức công nhận Trung Cộng ngày 1-1-1979. Tuy vậy, ngay sau đó, Hoa Kỳ ban hành “Đạo luật Quan hệ Đài Loan” (Taiwan Relations Act) ngày 10-4-1979, xác định mối quan hệ chính thức với Đài Loan tuy không đặt nền ngoại giao, và vẫn tiếp tục bảo vệ Đài Loan. Điều nầy làm cho Trung Cộng không vừa lòng, nhưng Hoa Kỳ cương quyết theo đuổi chủ trương nầy cho đến ngày nay.

5.- TRUNG CỘNG CẢI CÁCH KINH TẾ VÀ QUÂN SỰ

Tháng 12-1978, hội nghị trung ương đảng CSTH quyết định cải cách và mở cửa, đưa ra 4 hiện đại hóa về nông nghiệp, kỹ nghệ, khoa học kỹ thuật và quân sự. Trung Cộng vẫn duy trì cơ chế CS độc tài đảng trị, nhưng từ bỏ kinh tế chỉ huy và bước vào kinh tế tự do, phát triển rất nhanh chóng. Khi các nước CS Đông Âu lần lượt sụp đổ trong các năm 1989-1990 và Liên Sô sụp đổ năm 1991, Trung Cộng trở thành nước CS lớn mạnh nhứt trong 5 nước CS còn lại. (Trung Cộng, Việt Nam, Bắc Hàn, Lào, Cuba.)

Về kinh tế, Trung Cộng bước qua kinh tế thị trường, nhưng thực sự vẫn là nền kinh tế do nhà nước hoạch định và tư bản nằm trong tay các công ty do nhà nước kiểm soát, nghĩa là tư bản vẫn nằm trong tay nhà nước. Vì vậy, nhà nước Trung Cộng càng ngày càng giàu mạnh. Dựa vào đó Trung Cộng phát triển kinh tế, thương mãi, nghiên cứu võ khí, canh tân quân đội, hiện đại hóa Hải quân, bành trướng ngoại giao, thực hiện những kế hoạch chính trị đầy tham vọng, hào phóng cho các nước nhỏ khắp năm châu, nhứt là Đông Nam Á và châu Phi, gặp khó khăn về tài chánh, vay nợ rộng rãi để chờ cơ hội trục lợi …

Trong giai đoạn nầy, đại tướng Lưu Hoa Thanh (Liu Huaqing, 1916-2011)), tư lệnh Hải quân Trung Cộng từ 1982, theo học thuyết của Alfred Thayer Mahan (Hoa Kỳ, 1840-1914), canh tân Hải quân Trung Cộng. Theo Thayer Mahan, quyền lực trên biển là điều kiện tối quan trọng để phát triển quyền lực quốc gia trên thế giới trong thời hiện đại, nhất là những nước có nhiều biển. Tổng thống Hoa Kỳ Theodore Roosevelt (cầm quyền 1901-1909), theo lý thuyết của Mahan, canh tân và hiện đại hóa Hải quân Hoa Kỳ, rồi đưa Hải quân chiếm đóng những hải đảo nhỏ trên Thái Bình Dương làm căn cứ. Từ đó Hải quân Hoa Kỳ càng ngày càng mạnh, lên hàng đầu thế giới sau thế chiến I (1914-1918), và kiểm soát toàn bộ Thái Bình Dương sau thế chiến II (1939-1945).

Lưu Hoa Thanh đưa ra chiến lược xây dựng Hải quân gồm ba giai đoạn: 2000-2010 (giai đoạn 1), 2010-2020 (giai đoạn 2), và 2020-2040 (giai đoạn 3). Đại tướng Lưu Hoa Thanh chủ trương Hải quân Trung Cộng cần trang bị hàng không mãu hạm để trở thành lực lượng Hải quân toàn cầu vào giữa thế kỷ 21.

Một học giả Hoa Kỳ, tiến sĩ Jonathan D. T. Ward, sau nhiều năm qua Trung Cộng nghiên cứu, đã trình bày lại đầy đủ cuộc cải cách và tham vọng của Trung Cộng trong sách China’s Vision of Victory, Nxb.The Atlas Publishing and Media Company LLC, mới phát hành vào tháng 3-2019.

Sách gồm 5 phần, có 5 tiểu đề do tác giả viết nguyên văn chữ Hoa (chữ Tàu) của Trung Cộng như sau: Phần 1: Trung Hoa dân tộc vĩ đại phục hưng (Dân tộc Trung Hoa vĩ đại phục hưng (tr. 1); phần 2: Lam sắc quốc thổ (Đất nước màu xanh) (tr. 45); phẩn 3: Can thương Mỹ Quốc, siêu quá Mỹ Quốc (Đuổi kịp nước Mỹ – Vượt qua nước Mỹ) (tr. 89); phần 4: Quốc gia lợi ích bất đoạn thác triển (Lợi ích quốc gia không ngừng khai thác và phát triển) (tr. 139); phần 5: Nhân loại mệnh vận cộng đồng thể (Hình thức vận mệnh cộng đồng nhân loại) (tr. 177).

Các tiểu đề trên cho thấy rõ tham vọng lớn lao của Trung Cộng, nhưng người đọc sẽ càng thấy rõ hơn nữa tham vọng nầy khi đi vào phần 5 của quyển sách, gồm 5 mục là: (5.1) China’s Vision for World Order (tr. 180); (5.2) A Global “Middle Kingdom” (tr. 185); (5.3) “Interior Vassals” and “Exterior Vassals in the “Community of Common Destiny for Mankind” (tr. 196); (5.4) A World Transformed: A Day in the Life of Chinese Power (tr. 209); (5.5) 2049: China’s Vision of a New World Order (tr. 222).

6.- TRUNG CỘNG BÀNH TRƯỚNG

Trước đây, các vua chúa Trung Hoa, với tâm lý điền chủ, chỉ chú trọng đến việc chiếm thêm đất đai về phía tây và phía nam, mà không chú ý đến phía đông vì phía đông là vùng biển Thái Bình. Trung Cộng cũng thế. Khi mới cầm quyền năm 1949, lãnh đạo Trung Cộng liền tiến hành ngay “giải phóng hòa bình” [từ ngữ của Trung Cộng] tức thống trị các xứ Tân Cương, Tây Tạng.

Trong khi đó, về mặt biển, cho đến đầu thế kỷ 20, nước Trung Hoa chỉ tới đảo Hải Nam. Một bản đồ năm 1948 thời Trung Hoa Dân Quốc vẽ thêm một đường gạch cách khoảng, nối 11 điểm trên Biển Đông mà Trung Hoa cho rằng thuộc chủ quyền Trung Hoa. Qua thời Trung Cộng, đường nầy rút lại còn 9 điểm, tạo thành một khu vực có hình chữ U, giống hình lưỡi bò, rộng khoảng 80% diện tích Biển Đông. Nếu kể từ đất liền của Trung Cộng, đường lưỡi bò dài hơn 1,000 hải lý, chỉ cách đất liền các nước Philippines, Malaysia và Việt Nam trên 100 hải lý, “ăn vào 67 lô” dầu khí của Việt Nam trên Biển Đông. (BBC tiếng Việt ngày 23-5-2018.) Trung Cộng quan niệm bất di bất dịch rằng đường lưỡi bò là của Trung Công, bất chấp luật biển của Liên Hiệp Quốc (LHQ)

Khi Trung Cộng xâm chiếm bãi Scarborough của Philippines, nước nầy kiện Trung Cộng năm 2013 ra trước Tòa án Trọng tài thường trực (Permanent Court of Arbitration), trụ sở ở La Haye (Hòa Lan). Năm 2016, Tòa nầy phán quyết rằng Trung Cộng không có cơ sở lịch sử và pháp lý về đường lưỡi bò, và Trung Cộng không có quyền độc quyền làm chủ biển và tài nguyên trong vùng đường lưỡi bò. Tuy nhiên, Trung Cộng chẳng quan tâm tí nào đến phán quyết tòa án La Haye, chỉ dùng lý của kẻ mạnh, dựa vào thế lực quân sự, thương thuyết song phương với từng nước để dễ dụ dỗ, dễ mua chuộc, và cũng dễ đe dọa.

Như thế, sau khi xây dựng nền kinh tế phồn thịnh, phát triển khoa học kỹ thuật, Trung Cộng còn chủ trương bành trướng bằng sức mạnh quân sự, và đe dọa đến trật tự thế giới, bất chấp luật lệ quốc tế, nhằm thực hiện giấc mộng Trung Hoa vĩ đại mà các nhà lãnh đạo CS ấp ủ từ thời Mao Trạch Đông.

Bên ngoài vùng Biển Đông, Trung Cộng áp dụng chiến thuật khác, dùng thế lực “mềm” về kinh tế lôi kéo các nước đang gặp khó khăn. Gần nhứt là các nước Đông Nam Á có nhiều Hoa Kiều như Lào, Cambodia, Thái Lan, Malaysia, Myanmar (Miến Điện), Indonesia. Xa hơn một chút là Sri Lanka, Pakistan, rồi qua các nước Âu Châu còn chậm phát triển sau thời kỳ CS sụp đổ. Trung Cộng bành trướng mạnh ở những nước Phi Châu nghèo đói. Trung Cộng qua Peru ở Mỹ Châu, đầu tư khai thác dầu khí, sản xuất đồng và dự án đường hỏa xa Peru và Bolivia. Trung Cộng còn vươn xuống tận Úc Châu từ khoảng 10 năm nay, tăng cường đầu tư mạnh mẽ khiến Úc cũng lo ngại Trung Cộng can thiệp vào chính trị nội bộ của nước Úc.

7.- HOA KỲ VÀ TRUNG CỘNG TÁI TRANH CHẤP

Hoa Kỳ nhận ra tham vọng của Trung Cộng trong cuộc cải cách kinh tế và nhứt là cải cách quân đội, canh tân Hải quân. Dưới thời tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama, tại diễn đàn các ngoại trưởng ASEAN ở Hà Nội năm 2010, ngoại trưởng Hillary Clinton công bố Hoa Kỳ quyết định xoay trục qua Á Châu, và Hoa Kỳ có lợi ích quốc gia đối với tự do hàng hải trên Biển Đông. Kế hoạch nầy làm Trung Cộng quan ngại

Đáp trả lại, năm 2013 Trung Cộng công khai dự án “một vành đai, một con đường” (nhất đới nhất lộ), phỏng theo “con đường tơ lụa” thời xưa cũng của Trung Hoa. Trung Cộng cho rằng đây là kế hoạch phát triển kinh tế, mở rộng giao thương của Trung Cộng, nhưng các nước khác cho rằng đây là chương trình của Trung Cộng nhằm chinh phục thế giới. Trung Cộng bỏ ra hàng tỷ Mỹ kim, mở rộng ảnh hưởng khắp các châu lục, từ Đông Nam Á qua Nam Âu, Phi Châu, Úc Châu và cả Nam Mỹ.

Có một điểm đáng chú ý, là Việt Nam nằm ở địa đầu lộ trình “một vành đai một con đường” của Trung Cộng trên đường tiến xuống phía nam. Vì vậy, Trung Cộng tìm cách khuất phục cho được Việt Nam, vì nếu không khuất phục được Việt Nam, thì Trung Cộng khó khuất phục được các nước khác tại vùng nầy.

Tham vọng bành trướng của Trung Cộng, dựa vào sức mạnh kinh tế và quân sự, bất chấp luật pháp quốc tế, gây bất ổn vùng Biển Đông, đi ngược hẳn với Hoa Kỳ, là nước chủ trương tự do hàng hải cho tất cả các nước trên thế giới, giao thương một cách hòa bình, công bằng, và minh bạch giữa các quốc gia, và tất cả các nước đều phải tôn trọng luật lệ hàng hải do Liên Hiệp Quốc quy định, không bắt nạt, áp chế nhau. Quan điểm giữa Trung Cộng và Hoa Kỳ hoàn toàn trái ngược nhau, không thể dung hòa được, nên chẳng bao lâu, Hoa Kỳ và Trung Cộng tái tranh chấp. Có người cho rằng đây là cuộc chiến tranh lạnh mới giữa hai nước, nhưng vì đây là hai cường quốc kinh tế, nên ảnh hưởng đến nhiều nước trên thế giới.

Ngoài Hoa Kỳ, chủ trương bành trướng của Trung Cộng làm cho cả thế giới quan ngại. Trong cuộc họp của khối ASEAN lần thứ 52 tại Bangkok ngày 31-7-2019, các ngoại trưởng ASEAN đưa ra bản tuyên bố chung dài 23 trang, đã nhấn mạnh rằng “…Chúng tôi đã thảo luận về tình hình ở Biển Đông, trong đó một số bộ trưởng bày tỏ lo ngại về việc cải tạo đất, các hoạt động và sự cố nghiêm trọng trong khu vực…” (BBC NEWS Tiếng Việt, 1-8-2019.)

Gần đây, tại London, thủ đô nước Anh, hội nghị thượng đỉnh 29 nước khối NATO thông qua bản tuyên bố chung ngày 4-12-2019, gồm 9 điều, trong đó điều thứ 6 lưu ý đến sự thách thức của Trung Cộng được tạm dịch như sau: “Chúng tôi thừa nhận rằng ảnh hưởng đang mở rộng và chính sách quốc tế của Trung Quốc vừa tạo ra nhiều cơ hội, đồng thời đem lại nhiều thách thức mà chúng tôi phải cùng nhau ứng phó trong tư thế liên minh.”

KẾT LUẬN

Trên đây là sơ lược mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng từ khi Trung Cộng được thành lập năm 1949 cho đến ngày nay. Trước khi kết luận, xin ôn lại một kinh nghiệm lịch sử. Trước thế chiến thứ nhứt (1914-1918), và trước thế chiến thứ hai (1939-1945), nước Đức phục hưng kinh tế, xây dựng đất nước, kèm theo tham vọng chính trị, bành trướng bằng quân sự nhằm nhanh chóng chinh phục quyền lực. Trước thế chiến thứ hai, Nhật Bản cũng chủ trương như thế. Chính sách của hai nước nầy đưa đến hai cuộc chiến thảm khốc trên thế giới.

Trái lại, sau thế chiến thứ hai, Tây Đức, Nhật Ban và Nam Triều Tiên nhờ Hoa Kỳ giúp đỡ, tái xây dựng đất nước một cách hòa bình, phục hưng kinh tế, phát triển kỹ nghệ, mở rộng giao thương, tôn trọng luật pháp quốc tế, không tham vọng bành trướng chính trị và quân sự, không xâm phạm đất đai của các nước khác. Nhờ thế, hiện nay các nước nầy trở thành những cường quốc kinh tế hàng đầu trên thế giới.

Như thế, nếu Trung Cộng cứ khăng khăng duy trì chủ trương hiện nay, coi thường luật pháp quốc tế, phát triển kinh tế, bành trướng quân sự, thì Trung Cộng có thể sẽ đi vào vết xe cũ của hai nước Đức và Nhật trước thế chiến. Thái độ khiêu khích bạo lực của Trung Cộng sẽ đụng độ nhiều nước, mà cuộc tranh chấp với Hoa Kỳ mới chỉ là điểm khởi đầu…

(Bài tiếp: “Đối đầu Hoa Kỳ-Trung Cộng)

Categories: Tin-Tức Thế-Giới | Leave a comment

Ngày Hồ Chí Minh nhờ Mao Trạch Đông giúp xây dựng quân đội

Ngày Hồ Chí Minh nhờ Mao Trạch Đông giúp xây dựng quân đội

Mao Trạch Đông và Hồ Chí MinhBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionMao Trạch Đông và Hồ Chí Minh

Một tác giả người gốc Trung Quốc vừa ra mắt sách về “tầm mức hỗ trợ quân sự của Trung Quốc” dành cho lực lượng cộng sản của Hồ Chí Minh.

“Building Ho’s Army: Chinese Military Assistance to North Vietnam” của giáo sư Xiaobing Li (Lý Tiểu Binh), do NXB Đại học Kentucky, Mỹ, ấn hành tháng Tám 2019.

Tác giả là giáo sư lịch sử tại Đại học Central Oklahoma, và từng phục vụ trong quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.

Nội chiến Trung Quốc, Tưởng Giới Thạch để mất ủng hộ của Mỹ

Bàn Tròn BBC: Điểm và bình luận sự kiện quốc tế và VN nổi bật năm 2019

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong bức hình lịch sử

Chu Ân Lai và vấn đề Hoàng Sa

Sách tập trung vào giai đoạn phôi thai 1950-1956 khi quân đội miền Bắc Việt Nam được chuyển hóa từ lực lượng nông dân thành quân đội chính quy hiện đại.

Về nguồn tư liệu, tác giả cho hay từ thập niên 1980, Trung Quốc bắt đầu công bố thông tin về sự can dự của Bắc Kinh trong hai cuộc chiến tại Việt Nam, chống Pháp và chống Mỹ.

Đến tận gần đây, do căng thẳng biển đảo giữa hai nước, Trung Quốc cũng khuyến khích công bố các tài liệu, kể cả hồi ký và bài báo, để chứng tỏ Trung Quốc đã “thân thiện, rộng rãi, và hy sinh trong Chiến tranh Việt Nam”.

Tác giả nói sách của ông chủ yếu dựa vào kho tư liệu của Trung Quốc, trong đó có tiếp cận với Đại học Quốc phòng và Học viện Chính trị Nam Kinh, Trung Quốc.

Tác giả cũng phỏng vấn các cựu chiến binh của Trung Quốc, Việt Nam và Nga.

Nhờ giúp đỡ

Mối quan hệ của Hồ Chí Minh với những người cộng sản Trung Quốc đã có ngay từ đầu thập niên 1920.

Như Chu Ân Lai, sau này là thủ tướng Trung Quốc, nhớ lại: “Ông ấy [Hồ Chí Minh] đã là nhà Marxist cao cấp khi tôi chỉ mới gia nhập Đảng Cộng sản. Ông là người anh lớn của tôi.”

Sau khi Mao Trạch Đông thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ngày 1/10/1949, Hồ Chí Minh ngay lập tức gửi hai nhóm đồng thời sang Trung Quốc xin giúp đỡ vào ngày 6/10.

Nhóm một do Lý Bích Sơn dẫn đầu, mang lá thư của ông Hồ gửi Chu Ân Lai, đi đường biển qua các nơi như Hong Kong, Thanh Đảo rồi tới Bắc Kinh. Nhóm thứ hai của Nguyễn Đức Thụy, đi đường bộ từ Lạng Sơn sang Quảng Tây rồi đến Bắc Kinh.

Điện BiênBản quyền hình ảnhCOLLECTION JEAN-CLAUDE LABBE
Image captionBộ đội Việt Minh kéo pháo vào Điện Biên tháng 5/1954 -hình tư liệu

Hai phái đoàn đề nghị Trung Quốc viện trợ tài chính, khoảng 10 triệu USD, và vũ khí.

Nhưng trong lúc hai đoàn ở Bắc Kinh tháng 12/1949, Mao Trạch Đông đang thăm Moscow, và sẽ chỉ quay về tháng Hai năm sau.

Lúc này, Tổng Bí thư Lưu Thiếu Kỳ thay Mao phụ trách công việc ở Bắc Kinh, và mở cuộc họp Bộ Chính trị ngày 24/12 để thảo luận về yêu cầu của Hồ Chí Minh.

Điều thú vị, theo sách của Xiaobing Li, đa số trong Bộ Chính trị Trung Quốc bày tỏ lo ngại và cho rằng không thể giúp đỡ vì Trung Quốc đang gặp khó khăn sau chiến tranh.

Lưu Thiếu Kỳ báo cáo cho Mao và đề nghị chỉ giúp đỡ ít ỏi.

Nhưng Mao bác bỏ, yêu cầu Bộ Chính trị có thái độ ủng hộ nhiều hơn với Việt Minh.

Trong lúc ở Moscow, Mao yêu cầu Stalin giúp không vận và đặc nhiệm để Trung Quốc tấn công Đài Loan.

Stalin từ chối, và cũng quyết định rút quân Liên Xô ra khỏi Trung Quốc. Như vậy sẽ không có quân Liên Xô có mặt giúp đỡ nếu nhỡ xảy ra cuộc tấn công vào Trung Quốc.

Trong cuộc gặp thứ hai của họ vào hôm 24/12, Stalin đề xuất Trung Quốc phải gánh vác trách nhiệm cho phong trào cộng sản thế giới, trong đó có việc giúp đỡ phong trào ở Á châu như Việt Nam.

Tại Moscow, Mao đồng ý với Stalin rằng Trung Quốc sẽ giúp Hồ Chí Minh.

Mao gửi điện cho Lưu Thiếu Kỳ ngày 24/12, chỉ đạo rằng Trung Quốc ban đầu sẽ đáp ứng một nửa yêu cầu của Hồ Chí Minh và phần còn lại sẽ gửi sau.

Ngày 25/12, Lưu Thiếu Kỳ gửi điện cho Đảng Cộng sản Đông Dương, hứa giúp đỡ.

Tháng Giêng 1950, nhóm công tác Trung Quốc do La Quý Ba dẫn đầu, sang Việt Nam. La Quý Ba sau này sẽ là đại sứ Trung Quốc đầu tiên ở Hà Nội vào năm 1954.

Gặp La Quý Ba trước chuyến đi, Lưu Thiếu Kỳ ước tính La sẽ ở lại Việt Nam ba tháng. Ông không hình dung rằng La Quý Ba sẽ ở lại đó bảy năm.

Chuyến đi tới Bắc Kinh và Moscow

Hồ Chí Minh có chuyến đi bí mật tới Bắc Kinh vào tháng Giêng 1950, được Lưu Thiếu Kỳ đón tiếp.

Ngày 3/2, ông Hồ rời Bắc Kinh, đi sang Moscow để gặp Stalin và Mao.

Cộng sảnBản quyền hình ảnhBETTMANN
Image captionNam Il của Bắc Triều Tiên, V. Molotov và Phạm Văn Đồng thăm villa của Thủ tướng TQ Chu Ân Lai (thứ nhì từ phải) tại Bắc Kinh năm 1954

Ngày 6/2, Moscow mở tiệc đón ông Hồ, nhưng Stalin không dự.

Stalin bảo với Mao rằng Trung Quốc nay là “trung tâm cách mạng châu Á” và rằng Trung Quốc cần “giữ trách nhiệm chủ lực” trong việc giúp Việt Nam.

Mao gặp ông Hồ tại Moscow, khẳng định sẽ giúp lực lượng Việt Minh.

Cả hai người cùng đi xe lửa từ Moscow về lại Bắc Kinh, chuyến đi kéo dài từ 17/2 tới 4/3.

Theo tác giả Xiaobing Li, vào hôm 26/2, khi xe lửa qua biên giới Trung Quốc, ông Hồ hỏi Mao về khả năng Trung Quốc gửi quân can thiệp.

“Mao nghĩ một lúc và từ chối yêu cầu của ông Hồ về lính Trung Quốc, nhưng ông đồng ý gửi cố vấn quân sự sang Việt Nam,” giáo sư Xiaobing Li viết.

Khi đến Bắc Kinh ngày 4/3, ông Hồ cử Hoàng Văn Hoan làm đại diện làm việc với Trung Quốc về viện trợ quân sự và về cố vấn Trung Quốc.

Bối cảnh quốc tế

Mùa thu 1950, Trung Quốc đưa quân can thiệp vào chiến tranh Triều Tiên, trực tiếp đối đầu quân sự với Mỹ.

Bối cảnh này có ảnh hưởng trực tiếp tới diễn biến ở Việt Nam, vì Bắc Kinh xem việc giúp đỡ đồng minh cộng sản ở Bắc Việt là cách hiệu quả để bảo vệ Trung Quốc trước đe dọa của khối tư bản do Mỹ dẫn đầu.

Theo cái nhìn của giáo sư Xiaobing Li, Mao nhận ra rằng Liên Xô sẽ không gửi quân giúp đỡ nếu Trung Quốc bị phương Tây xâm lược.

Thay vì chờ phương Tây đánh, Mao quyết định đối đầu với ngoại bang ở các nước láng giềng như Việt Nam và Triều Tiên.

Chiến lược “phòng thủ tích cực” này sẽ ngăn không để xảy ra đối đầu bên trong Trung Quốc.

Ngày 4/8/1950, Mao nói với Bộ Chính trị: “Chúng ta sẽ lấy lại Đài Loan, nhưng lúc này không thể ngồi yên mà nhìn Việt Nam và Triều Tiên.”

Sang đến thập niên 1960, Trung Quốc đã thiết lập được “vùng đệm an ninh” dọc đường biên giới.

Tuy vậy, trớ trêu thay, viện trợ của Trung Quốc, và sau này là của Liên Xô, tại Việt Nam không làm quan hệ đồng minh cộng sản trở nên tốt đẹp hơn.

Sự cạnh tranh Xô – Trung trong Chiến tranh Việt Nam chống Mỹ làm xấu đi quan hệ giữa Moscow và Bắc Kinh.

Tại Việt Nam, nhiều lãnh đạo cũng nghi ngờ Trung Quốc chỉ quan tâm đến an ninh quốc gia và ảnh hưởng chứ không phải vì độc lập của Việt Nam.

Sau khi Hồ Chí Minh qua đời năm 1969, Hà Nội ngày càng gắn bó với Moscow.

Quan hệ đồng minh truyền thống giữa Trung Quốc và Bắc Việt, như môi với răng trong thập niên 1950, nhanh chóng gãy đổ.

Xem thêm:

Ai từng trợ giúp Pol Pot và đồng minh?

Đánh giá mới về viện trợ Trung Quốc cho Hà Nội thời chiến

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong bức hình lịch sử

Ông Lê Duẩn từ 1973 đã lo ‘bị Mao tấn công’

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.