Monthly Archives: December 2019

Thành duy thức luận – chuyên đề IV: Nhân – Duyên – Quả

Thành duy thức luận – chuyên đề IV: Nhân – Duyên – Quả

02/12/20191:02 SA(Xem: 2064)
Thành duy thức luận - chuyên đề IV: Nhân - Duyên - Quả
THÀNH DUY THỨC LUẬN
CHUYÊN ĐỀ IV: NHÂN – DUYÊN – QUẢ
Thích Phước Nguyên chủ giảng
**************

thich phuoc nguyenGiảng Tại Học Viện Phật Giáo Việt Nam – Cơ Sở I. Tv. Vạn Hạnh
Giáo Thọ Sư: Đ.Đ. Thích Phước Nguyên

Dẫn:
Thành duy thức luận, trình bày hệ thống vận hành của các pháp theo một định lý: nhân – duyên – quả, trong đó thuyết minh về 4 duyên, 10 nhân, 5 quả. Trong đây: Skt hetu: nhân, tức nguyên nhân; Skt pratyayatā: duyên tính, tính chất làm điều kiện hỗ tương; tức những năng lực tương tác, hỗ trợ và kích khởi; Skt phala: quả, tức kết quả. Nguyên lý này tạo chỉnh thể hoạt động và tiến hành hoàn chỉnh các các pháp.

 

Kì trước:
Chuyên đề III. LỘ TRÌNH TU TẬP
DUY THỨC TÔNG ĐẠI THỪA BÁCH PHÁP
DUY THỨC HỌC: TÂM – Ý  – THỨC

bài đọc thêm:
Thành Duy Thức Luận (HT. Thích Thiện Siêu)
Duy Thức Học (Thích Thiện Hoa)
Dẫn vào duy thức học (Tuệ Sỹ)
Thành Duy Thức Giảng Luận (Thích Phước Nguyên) MP3

Tạo bài viết

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Quan hệ Hoa Kỳ – Trung Cộng

Quan hệ Hoa Kỳ – Trung Cộng

Trần Gia Phụng

17-12-2019

Hoa Kỳ liên lạc ngoại giao chính thức với Trung Hoa từ năm 1844, thời nhà Thanh. Quan hệ nầy thay đổi quan trọng từ khi Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, tức Trung Cộng thành lập năm 1949.

1.- HOA KỲ VÀ TRUNG HOA

Lúc mới đến, Hoa Kỳ chỉ chú trọng phát triển giao thương với Trung Hoa. Tuy nhiên, khi các tòa công sứ các nước tây phương ở Bắc Knh bị quân Trung Hoa tấn công, thì Hoa Kỳ tham gia lực lượng tám nước, gọi là bát quốc liên quân, chống nhà Thanh. Liên quân (theo ABC) gồm Anh, Áo-Hung, Đức, Hoa Kỳ, Nga, Nhật Bản, Pháp, Ý.

Nhà Thanh thất bại, phải ký Điều ước Tân Sửu ngày 7-9-1901, bồi thường chiến phí lên đến 450 triệu lượng bạc, tương đương 67 tr. Anh kim hay 333 tr. Mỹ kim lúc đó. (Jonathan D. Spence, The Search for Modern China, New York: W.W. Norton & Company, 1990, tr. 235.) (Xem thêm: John King Fairbank, China a New History, Cambridge: Harvard University Press, tr. 232.)

Trong số tiền nầy, Hoa Kỳ được bồi thường 12 triệu Mỹ kim lúc đó. Hoa Kỳ chia số tiền bồi thường thành 2 phần: một nửa dùng để góp vào sự thành lập đại học Thanh Hoa (Quinghua) ở Bắc Kinh, và một nửa còn lại để cấp học bổng cho 1,268 sinh viên từ năm 1909 đến 1929 thuộc đại học nầy. Ngoài ra, các phái đoàn truyền giáo Hoa Kỳ đã giúp nhiều trường Ky-Tô giáo và nhiều đại học ở Trung Hoa. (Jonathan D. Spence, sđd. tr. 383.) (John King Fairbank, sđd. tt. 264-265.)

Khi thế chiến thứ hai bùng nổ năm 1939, Trung Hoa Dân Quốc (THDQ) đứng về phe Đồng minh, cùng Hoa Kỳ chống Nhật Bản. Trung Hoa được kể là nước thắng trận khi thế chiến kết thúc năm 1945 và trở thành thành viên của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc (LHQ), có quyền phủ quyết.

Tháng 7-1946, cuộc nội chiến Quốc – Cộng tái diễn ở Trung Hoa. Hoa Kỳ ủng hộ THDQ chống lại đảng cộng sản Trung Hoa (CSTH). Năm 1949, đảng CSTH thành công, chiếm được toàn thể lục địa Trung Hoa, và thành lập Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (CHNDTH) tức Trung Cộng ngày 1-10-1949 do Mao Trạch Đông làm chủ tịch, thủ đô là Bắc Kinh (Beijin). Trung Hoa Dân Quốc thất bại, chạy ra hải đảo Đài Loan (Taiwan), đóng đô tại Đài Bắc (Taipei).

Hoa Kỳ tiếp tục ủng hộ THDQ. Nhờ đó THDQ vẫn giữ ghế đại diện tại LHQ, có mặt trong Hội đồng Bảo An LHQ và có quyền phủ quyết những vấn đề quan trọng. Chú ý là Trung Cộng rộng trên 9,640,000 km2, trong khi Đài Loan là một hải đảo nhỏ, chỉ khoảng 35,980 km2, ít tài nguyên thiên nhiên.

2.- CUỘC PHÂN CÔNG TRONG KHỐI CỘNG SẢN

Sau khi Trung Cộng được thành lập, vào tháng 1-1950, Hồ Chí Minh (HCM) bí mật sang Bắc Kinh cầu viện. Lúc đó, hai lãnh tụ CSTH là Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai đều đã qua Moscow. Hồ Chí Minh đi tiếp qua Moscow. Tại đây, lãnh tụ cộng sản Liên Xô (CSLX) là Stalin nói với HCM: “Chúng tôi đã trao đổi với các đồng chí Trung Quốc, công việc viện trợ chiến tranh chống Pháp chủ yếu là do Trung Quốc phụ trách thích hợp hơn.” (Trương Quảng Hoa, “Quyết sách trọng đại – Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp”, đăng trong Ghi chép thực về việc đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp, Tạp chí Truyền Thông xuất bản, Montreal, 2009, tt. 45-48). Như thế, có nghĩa là Stalin uỷ nhiệm cho Trung Cộng viện trợ cho HCM. Sự ủy nhiệm nầy được hiểu ngầm là sự phân công trong khối CS: Liên Xô phụ trách các vấn đề CS ở Đông Âu, và Trung Cộng phụ trách các vấn đề CS ở Đông Á.

Stalin chết năm 1953. Sau cuộc tranh quyền, Nikita Khrushchev lên làm bí thư thứ nhất đảng Cộng sản Liên Xô. Năm 1956, Khrushchev đưa ra chủ trương ngoại giao mới là hòa dịu với các nước Tây phương, “sống chung hòa bình” (peaceful coexistence) giữa các nước không cùng thể chế chính trị. Trung Cộng phản đối chủ trương này. Lúc đầu, chỉ là lời qua tiếng lại, nhưng cuối cùng hai nước đánh nhau dọc biên giới đông bắc Trung Cộng, trên sông Ussuri (Ô Tô Lý Giang) tháng 3-1969. Từ nay, đối với Trung Cộng, Liên Xô không còn là “đồng chí anh em”, mà là một kẻ thù mới của Trung Cộng.

3.- HOA KỲ VÀ TRUNG CỘNG TIẾP TỤC ĐỐI ĐẦU

Tại Đông bắc Á, chiến tranh Triều Tiên xảy ra năm 1950. Hoa Kỳ ủng hộ Nam Triều Tiên (NTT). Trung Cộng ủng hộ Bắc Triều Tiên (BTT). Sau 3 năm đánh nhau, hai bên ký hiệp ước đình chiến Panmunjom (Bàn Môn Điếm) ngày 27-7-1953. Để bảo vệ NTT, Hoa Kỳ ký với NTT Mutual Defense Treaty Between the United States and the Republic of Korea ngày 1-10-1953.

Tháng 9-1954, Trung Cộng pháo kích hai quần đảo Kim Môn – Mã Tổ (Kinmen-Mazu) thuộc quyền của THDQ (Đài Loan). Trước sự đe dọa của Trung Cộng, Hoa Kỳ liền ký với THDQ Sino-American Mutual Defense Treaty còn gọi là Mutual Defense Treaty between the United States of America and the Republic of China ngày 2-12-1955.

Với Nhật Bản, sau các hiệp ước 1951 và 1954, Hoa Kỳ ký thêm Treaty of Mutual Cooperation and Security between the United States and Japan (Hiệp định Hợp tác và An ninh Hỗ tương giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản) ngày 19-1-1960.

Các hiệp ước trên cho thấy Hoa Kỳ cương quyết bảo vệ ba nước NTT, THDQ (Đài Loan) và Nhật Bản, đồng thời lập một vòng đai bao vây Trung Cộng trên Thái Bình Dương.

Trong khi đó, sau hội nghị Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Hoa) từ 3 đến 5-7-1954 với thủ tướng Trung Cộng Chu Ân Lai về việc ký kết hiệp định Genève (20-7-1954), khi về nước, theo đúng chủ trương của Trung Cộng, HCM đưa ra chiêu bài “chống Mỹ cứu nước”. (Hồ Chí Minh toàn tập tập 7: 1953-1955, Hà Nội: Nxb. Chính Trị Quốc Gia, 2000, tt. 314-315.)

Trong chiến tranh 1954-1975 ở Việt Nam, tuy chống nhau, nhưng Liên Xô và Trung Cộng đều viện trợ cho Bắc Việt Nam (BVN) chống Mỹ như lời Lê Duẩn phát biểu: “Ta đánh Mỹ là đánh cho cả Trung Quốc, cho Liên Xô.” (Nguyễn Mạnh Cầm (ngoại trưởng CSVN từ 1991 đến 2000) trả lời phỏng vấn BBC ngày 24-1-2013.) Trong khi đó, Hoa Kỳ giúp đỡ Nam Việt Nam (NVN) chống sự xâm nhập ào ạt của bộ đội BVN. Tuy nhiên, Hoa Kỳ chủ trương chiến tranh giới hạn (limited war), không tấn công ra BVN để chận đứng nguồn tiếp tế của BVN cho bộ đội CS ở NVN, nên quân đội Hoa Kỳ không thành công trong việc giúp Việt Nam Cộng Hòa đánh dẹp du kích CS ở NVN.

Trước tình hình mới, Hoa Kỳ thay đổi sách lược, muốn làm thân với Trung Cộng nhằm chống Liên Xô, đồng thời nhờ Trung Cộng giúp Hoa Kỳ thảo luận với CSVN về việc rút quân khỏi Việt Nam. Đối với Trung Cộng, Hoa Kỳ và Liên Xô đều là hai kẻ thù, nhưng Hoa Kỳ ở xa, ít nguy hiểm hơn Liên Xô là nước nằm sát bên biên giới, nên Trung Cộng cũng muốn liên kết với Hoa Kỳ để chống Liên Xô.

4.- HOA KỲ VÀ TRUNG CỘNG HÒA HOÃN

Sau nhiều cuộc thăm dò và đàm phán bí mật, cả Hoa Kỳ lẫn Trung Cộng đều tỏ thiện chí xích lại gần nhau. Ngày 9-7-1971, trong một chuyến công du Pakistan, cố vấn An ninh Quốc gia Hoa Kỳ là Henry Kissinger bí mật đến Bắc Kinh, thủ đô Trung Cộng.

Trong cuộc gặp gỡ với Chu Ân Lai, ngoài những vấn đề song phương và thế giới, Kissinger còn thảo luận với Chu Ân Lai về vấn đề Việt Nam. Sau khi Kissinger về nước, Nixon lên đài truyền hình ngày 15-7-1971, công bố sẽ thăm Trung Cộng vào đầu năm tới.

Lót đường cho chuyến thăm viếng hữu nghị sắp đến, Hoa Kỳ không phủ quyết cuộc biểu quyết tại Đại hội đồng thứ 26 của LHQ ngày 25-10-1971, theo đó CHNDTH được cử giữ ghế đại biểu Trung Hoa tại LHQ thay cho THDQ (Đài Loan), là ghế hội viên thường trực, có quyền phủ quyết tại Hội đồng Bảo an LHQ.

Tổng thống Nixon cầm đầu phái đoàn Hoa Kỳ đến Bắc Kinh ngày 21-2-1972, chủ yếu bàn về bang giao giữa hai nước, và Hoa Kỳ thông báo kế hoạch rút quân khỏi Việt Nam của Hoa Kỳ. Trước khi về nước, tổng thống Nixon và thủ tướng Trung Cộng Chu Ân Lai ký kết bản “Thông cáo chung” tại Thượng Hải (Shanghai) ngày 28-2-1972, làm nền tảng bang giao giữa hai nước, gồm 16 điều:

Trung Cộng đưa ra quan điểm của Trung Cộng trong điều 6, Hoa Kỳ đưa ra quan điểm của Hoa Kỳ trong điều 7. Trong điều 8, hai bên đồng ý rằng, tuy hệ thống xã hội và chính sách ngoại giao khác nhau, nhưng hai bên đồng tôn trọng chủ quyền, sự toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia, không xâm lăng, không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác và chấp nhận sự sống chung hòa bình giữa các nước. Trong điều 9, Hoa Kỳ và Trung Cộng xác nhận không kiếm cách làm chủ khu vực châu Á-Thái Bình Dương, và chống đối bất kỳ nước nào hay nhóm nước nào muốn làm bá chủ vùng nầy. Quan trọng nhất đối với Trung Cộng trong bản thông cáo chung là điều 11 và điều 12. Theo điều 11, Trung Cộng nhấn mạnh rằng Đài Loan là một tỉnh của Trung Hoa và CHNDTH là nhà nước hợp pháp duy nhất của Trung Hoa. Chính phủ CHNDTH phản đối mạnh mẽ tất cả những mưu toan nhằm tạo “một Trung Hoa một Đài Loan”, “một Trung Hoa hai chính quyền”, “hai Trung Hoa”, hay một “Đài Loan độc lập”. Trong điều 12, Hoa Kỳ xác nhận chỉ có một Trung Hoa, và Đài Loan là một phần của Trung Hoa. Đồng thời Hoa Kỳ tái khẳng định lợi ích của họ trong việc giải quyết vấn đề Đài Loan một cách hòa bình. Hoa Kỳ cam kết sẽ từ từ rút hết quân và thiết bị quân sự ra khỏi Đài Loan khi khu vực giảm dần căng thẳng.

Hoa Kỳ chính thức công nhận Trung Cộng ngày 1-1-1979. Tuy vậy, ngay sau đó, Hoa Kỳ ban hành “Đạo luật Quan hệ Đài Loan” (Taiwan Relations Act) ngày 10-4-1979, xác định mối quan hệ chính thức với Đài Loan tuy không đặt nền ngoại giao, và vẫn tiếp tục bảo vệ Đài Loan. Điều nầy làm cho Trung Cộng không vừa lòng, nhưng Hoa Kỳ cương quyết theo đuổi chủ trương nầy cho đến ngày nay.

5.- TRUNG CỘNG CẢI CÁCH KINH TẾ VÀ QUÂN SỰ

Tháng 12-1978, hội nghị trung ương đảng CSTH quyết định cải cách và mở cửa, đưa ra 4 hiện đại hóa về nông nghiệp, kỹ nghệ, khoa học kỹ thuật và quân sự. Trung Cộng vẫn duy trì cơ chế CS độc tài đảng trị, nhưng từ bỏ kinh tế chỉ huy và bước vào kinh tế tự do, phát triển rất nhanh chóng. Khi các nước CS Đông Âu lần lượt sụp đổ trong các năm 1989-1990 và Liên Sô sụp đổ năm 1991, Trung Cộng trở thành nước CS lớn mạnh nhứt trong 5 nước CS còn lại. (Trung Cộng, Việt Nam, Bắc Hàn, Lào, Cuba.)

Về kinh tế, Trung Cộng bước qua kinh tế thị trường, nhưng thực sự vẫn là nền kinh tế do nhà nước hoạch định và tư bản nằm trong tay các công ty do nhà nước kiểm soát, nghĩa là tư bản vẫn nằm trong tay nhà nước. Vì vậy, nhà nước Trung Cộng càng ngày càng giàu mạnh. Dựa vào đó Trung Cộng phát triển kinh tế, thương mãi, nghiên cứu võ khí, canh tân quân đội, hiện đại hóa Hải quân, bành trướng ngoại giao, thực hiện những kế hoạch chính trị đầy tham vọng, hào phóng cho các nước nhỏ khắp năm châu, nhứt là Đông Nam Á và châu Phi, gặp khó khăn về tài chánh, vay nợ rộng rãi để chờ cơ hội trục lợi …

Trong giai đoạn nầy, đại tướng Lưu Hoa Thanh (Liu Huaqing, 1916-2011)), tư lệnh Hải quân Trung Cộng từ 1982, theo học thuyết của Alfred Thayer Mahan (Hoa Kỳ, 1840-1914), canh tân Hải quân Trung Cộng. Theo Thayer Mahan, quyền lực trên biển là điều kiện tối quan trọng để phát triển quyền lực quốc gia trên thế giới trong thời hiện đại, nhất là những nước có nhiều biển. Tổng thống Hoa Kỳ Theodore Roosevelt (cầm quyền 1901-1909), theo lý thuyết của Mahan, canh tân và hiện đại hóa Hải quân Hoa Kỳ, rồi đưa Hải quân chiếm đóng những hải đảo nhỏ trên Thái Bình Dương làm căn cứ. Từ đó Hải quân Hoa Kỳ càng ngày càng mạnh, lên hàng đầu thế giới sau thế chiến I (1914-1918), và kiểm soát toàn bộ Thái Bình Dương sau thế chiến II (1939-1945).

Lưu Hoa Thanh đưa ra chiến lược xây dựng Hải quân gồm ba giai đoạn: 2000-2010 (giai đoạn 1), 2010-2020 (giai đoạn 2), và 2020-2040 (giai đoạn 3). Đại tướng Lưu Hoa Thanh chủ trương Hải quân Trung Cộng cần trang bị hàng không mãu hạm để trở thành lực lượng Hải quân toàn cầu vào giữa thế kỷ 21.

Một học giả Hoa Kỳ, tiến sĩ Jonathan D. T. Ward, sau nhiều năm qua Trung Cộng nghiên cứu, đã trình bày lại đầy đủ cuộc cải cách và tham vọng của Trung Cộng trong sách China’s Vision of Victory, Nxb.The Atlas Publishing and Media Company LLC, mới phát hành vào tháng 3-2019.

Sách gồm 5 phần, có 5 tiểu đề do tác giả viết nguyên văn chữ Hoa (chữ Tàu) của Trung Cộng như sau: Phần 1: Trung Hoa dân tộc vĩ đại phục hưng (Dân tộc Trung Hoa vĩ đại phục hưng (tr. 1); phần 2: Lam sắc quốc thổ (Đất nước màu xanh) (tr. 45); phẩn 3: Can thương Mỹ Quốc, siêu quá Mỹ Quốc (Đuổi kịp nước Mỹ – Vượt qua nước Mỹ) (tr. 89); phần 4: Quốc gia lợi ích bất đoạn thác triển (Lợi ích quốc gia không ngừng khai thác và phát triển) (tr. 139); phần 5: Nhân loại mệnh vận cộng đồng thể (Hình thức vận mệnh cộng đồng nhân loại) (tr. 177).

Các tiểu đề trên cho thấy rõ tham vọng lớn lao của Trung Cộng, nhưng người đọc sẽ càng thấy rõ hơn nữa tham vọng nầy khi đi vào phần 5 của quyển sách, gồm 5 mục là: (5.1) China’s Vision for World Order (tr. 180); (5.2) A Global “Middle Kingdom” (tr. 185); (5.3) “Interior Vassals” and “Exterior Vassals in the “Community of Common Destiny for Mankind” (tr. 196); (5.4) A World Transformed: A Day in the Life of Chinese Power (tr. 209); (5.5) 2049: China’s Vision of a New World Order (tr. 222).

6.- TRUNG CỘNG BÀNH TRƯỚNG

Trước đây, các vua chúa Trung Hoa, với tâm lý điền chủ, chỉ chú trọng đến việc chiếm thêm đất đai về phía tây và phía nam, mà không chú ý đến phía đông vì phía đông là vùng biển Thái Bình. Trung Cộng cũng thế. Khi mới cầm quyền năm 1949, lãnh đạo Trung Cộng liền tiến hành ngay “giải phóng hòa bình” [từ ngữ của Trung Cộng] tức thống trị các xứ Tân Cương, Tây Tạng.

Trong khi đó, về mặt biển, cho đến đầu thế kỷ 20, nước Trung Hoa chỉ tới đảo Hải Nam. Một bản đồ năm 1948 thời Trung Hoa Dân Quốc vẽ thêm một đường gạch cách khoảng, nối 11 điểm trên Biển Đông mà Trung Hoa cho rằng thuộc chủ quyền Trung Hoa. Qua thời Trung Cộng, đường nầy rút lại còn 9 điểm, tạo thành một khu vực có hình chữ U, giống hình lưỡi bò, rộng khoảng 80% diện tích Biển Đông. Nếu kể từ đất liền của Trung Cộng, đường lưỡi bò dài hơn 1,000 hải lý, chỉ cách đất liền các nước Philippines, Malaysia và Việt Nam trên 100 hải lý, “ăn vào 67 lô” dầu khí của Việt Nam trên Biển Đông. (BBC tiếng Việt ngày 23-5-2018.) Trung Cộng quan niệm bất di bất dịch rằng đường lưỡi bò là của Trung Công, bất chấp luật biển của Liên Hiệp Quốc (LHQ)

Khi Trung Cộng xâm chiếm bãi Scarborough của Philippines, nước nầy kiện Trung Cộng năm 2013 ra trước Tòa án Trọng tài thường trực (Permanent Court of Arbitration), trụ sở ở La Haye (Hòa Lan). Năm 2016, Tòa nầy phán quyết rằng Trung Cộng không có cơ sở lịch sử và pháp lý về đường lưỡi bò, và Trung Cộng không có quyền độc quyền làm chủ biển và tài nguyên trong vùng đường lưỡi bò. Tuy nhiên, Trung Cộng chẳng quan tâm tí nào đến phán quyết tòa án La Haye, chỉ dùng lý của kẻ mạnh, dựa vào thế lực quân sự, thương thuyết song phương với từng nước để dễ dụ dỗ, dễ mua chuộc, và cũng dễ đe dọa.

Như thế, sau khi xây dựng nền kinh tế phồn thịnh, phát triển khoa học kỹ thuật, Trung Cộng còn chủ trương bành trướng bằng sức mạnh quân sự, và đe dọa đến trật tự thế giới, bất chấp luật lệ quốc tế, nhằm thực hiện giấc mộng Trung Hoa vĩ đại mà các nhà lãnh đạo CS ấp ủ từ thời Mao Trạch Đông.

Bên ngoài vùng Biển Đông, Trung Cộng áp dụng chiến thuật khác, dùng thế lực “mềm” về kinh tế lôi kéo các nước đang gặp khó khăn. Gần nhứt là các nước Đông Nam Á có nhiều Hoa Kiều như Lào, Cambodia, Thái Lan, Malaysia, Myanmar (Miến Điện), Indonesia. Xa hơn một chút là Sri Lanka, Pakistan, rồi qua các nước Âu Châu còn chậm phát triển sau thời kỳ CS sụp đổ. Trung Cộng bành trướng mạnh ở những nước Phi Châu nghèo đói. Trung Cộng qua Peru ở Mỹ Châu, đầu tư khai thác dầu khí, sản xuất đồng và dự án đường hỏa xa Peru và Bolivia. Trung Cộng còn vươn xuống tận Úc Châu từ khoảng 10 năm nay, tăng cường đầu tư mạnh mẽ khiến Úc cũng lo ngại Trung Cộng can thiệp vào chính trị nội bộ của nước Úc.

7.- HOA KỲ VÀ TRUNG CỘNG TÁI TRANH CHẤP

Hoa Kỳ nhận ra tham vọng của Trung Cộng trong cuộc cải cách kinh tế và nhứt là cải cách quân đội, canh tân Hải quân. Dưới thời tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama, tại diễn đàn các ngoại trưởng ASEAN ở Hà Nội năm 2010, ngoại trưởng Hillary Clinton công bố Hoa Kỳ quyết định xoay trục qua Á Châu, và Hoa Kỳ có lợi ích quốc gia đối với tự do hàng hải trên Biển Đông. Kế hoạch nầy làm Trung Cộng quan ngại

Đáp trả lại, năm 2013 Trung Cộng công khai dự án “một vành đai, một con đường” (nhất đới nhất lộ), phỏng theo “con đường tơ lụa” thời xưa cũng của Trung Hoa. Trung Cộng cho rằng đây là kế hoạch phát triển kinh tế, mở rộng giao thương của Trung Cộng, nhưng các nước khác cho rằng đây là chương trình của Trung Cộng nhằm chinh phục thế giới. Trung Cộng bỏ ra hàng tỷ Mỹ kim, mở rộng ảnh hưởng khắp các châu lục, từ Đông Nam Á qua Nam Âu, Phi Châu, Úc Châu và cả Nam Mỹ.

Có một điểm đáng chú ý, là Việt Nam nằm ở địa đầu lộ trình “một vành đai một con đường” của Trung Cộng trên đường tiến xuống phía nam. Vì vậy, Trung Cộng tìm cách khuất phục cho được Việt Nam, vì nếu không khuất phục được Việt Nam, thì Trung Cộng khó khuất phục được các nước khác tại vùng nầy.

Tham vọng bành trướng của Trung Cộng, dựa vào sức mạnh kinh tế và quân sự, bất chấp luật pháp quốc tế, gây bất ổn vùng Biển Đông, đi ngược hẳn với Hoa Kỳ, là nước chủ trương tự do hàng hải cho tất cả các nước trên thế giới, giao thương một cách hòa bình, công bằng, và minh bạch giữa các quốc gia, và tất cả các nước đều phải tôn trọng luật lệ hàng hải do Liên Hiệp Quốc quy định, không bắt nạt, áp chế nhau. Quan điểm giữa Trung Cộng và Hoa Kỳ hoàn toàn trái ngược nhau, không thể dung hòa được, nên chẳng bao lâu, Hoa Kỳ và Trung Cộng tái tranh chấp. Có người cho rằng đây là cuộc chiến tranh lạnh mới giữa hai nước, nhưng vì đây là hai cường quốc kinh tế, nên ảnh hưởng đến nhiều nước trên thế giới.

Ngoài Hoa Kỳ, chủ trương bành trướng của Trung Cộng làm cho cả thế giới quan ngại. Trong cuộc họp của khối ASEAN lần thứ 52 tại Bangkok ngày 31-7-2019, các ngoại trưởng ASEAN đưa ra bản tuyên bố chung dài 23 trang, đã nhấn mạnh rằng “…Chúng tôi đã thảo luận về tình hình ở Biển Đông, trong đó một số bộ trưởng bày tỏ lo ngại về việc cải tạo đất, các hoạt động và sự cố nghiêm trọng trong khu vực…” (BBC NEWS Tiếng Việt, 1-8-2019.)

Gần đây, tại London, thủ đô nước Anh, hội nghị thượng đỉnh 29 nước khối NATO thông qua bản tuyên bố chung ngày 4-12-2019, gồm 9 điều, trong đó điều thứ 6 lưu ý đến sự thách thức của Trung Cộng được tạm dịch như sau: “Chúng tôi thừa nhận rằng ảnh hưởng đang mở rộng và chính sách quốc tế của Trung Quốc vừa tạo ra nhiều cơ hội, đồng thời đem lại nhiều thách thức mà chúng tôi phải cùng nhau ứng phó trong tư thế liên minh.”

KẾT LUẬN

Trên đây là sơ lược mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng từ khi Trung Cộng được thành lập năm 1949 cho đến ngày nay. Trước khi kết luận, xin ôn lại một kinh nghiệm lịch sử. Trước thế chiến thứ nhứt (1914-1918), và trước thế chiến thứ hai (1939-1945), nước Đức phục hưng kinh tế, xây dựng đất nước, kèm theo tham vọng chính trị, bành trướng bằng quân sự nhằm nhanh chóng chinh phục quyền lực. Trước thế chiến thứ hai, Nhật Bản cũng chủ trương như thế. Chính sách của hai nước nầy đưa đến hai cuộc chiến thảm khốc trên thế giới.

Trái lại, sau thế chiến thứ hai, Tây Đức, Nhật Ban và Nam Triều Tiên nhờ Hoa Kỳ giúp đỡ, tái xây dựng đất nước một cách hòa bình, phục hưng kinh tế, phát triển kỹ nghệ, mở rộng giao thương, tôn trọng luật pháp quốc tế, không tham vọng bành trướng chính trị và quân sự, không xâm phạm đất đai của các nước khác. Nhờ thế, hiện nay các nước nầy trở thành những cường quốc kinh tế hàng đầu trên thế giới.

Như thế, nếu Trung Cộng cứ khăng khăng duy trì chủ trương hiện nay, coi thường luật pháp quốc tế, phát triển kinh tế, bành trướng quân sự, thì Trung Cộng có thể sẽ đi vào vết xe cũ của hai nước Đức và Nhật trước thế chiến. Thái độ khiêu khích bạo lực của Trung Cộng sẽ đụng độ nhiều nước, mà cuộc tranh chấp với Hoa Kỳ mới chỉ là điểm khởi đầu…

(Bài tiếp: “Đối đầu Hoa Kỳ-Trung Cộng)

Categories: Tin-Tức Thế-Giới | Leave a comment

Ngày Hồ Chí Minh nhờ Mao Trạch Đông giúp xây dựng quân đội

Ngày Hồ Chí Minh nhờ Mao Trạch Đông giúp xây dựng quân đội

Mao Trạch Đông và Hồ Chí MinhBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionMao Trạch Đông và Hồ Chí Minh

Một tác giả người gốc Trung Quốc vừa ra mắt sách về “tầm mức hỗ trợ quân sự của Trung Quốc” dành cho lực lượng cộng sản của Hồ Chí Minh.

“Building Ho’s Army: Chinese Military Assistance to North Vietnam” của giáo sư Xiaobing Li (Lý Tiểu Binh), do NXB Đại học Kentucky, Mỹ, ấn hành tháng Tám 2019.

Tác giả là giáo sư lịch sử tại Đại học Central Oklahoma, và từng phục vụ trong quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.

Nội chiến Trung Quốc, Tưởng Giới Thạch để mất ủng hộ của Mỹ

Bàn Tròn BBC: Điểm và bình luận sự kiện quốc tế và VN nổi bật năm 2019

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong bức hình lịch sử

Chu Ân Lai và vấn đề Hoàng Sa

Sách tập trung vào giai đoạn phôi thai 1950-1956 khi quân đội miền Bắc Việt Nam được chuyển hóa từ lực lượng nông dân thành quân đội chính quy hiện đại.

Về nguồn tư liệu, tác giả cho hay từ thập niên 1980, Trung Quốc bắt đầu công bố thông tin về sự can dự của Bắc Kinh trong hai cuộc chiến tại Việt Nam, chống Pháp và chống Mỹ.

Đến tận gần đây, do căng thẳng biển đảo giữa hai nước, Trung Quốc cũng khuyến khích công bố các tài liệu, kể cả hồi ký và bài báo, để chứng tỏ Trung Quốc đã “thân thiện, rộng rãi, và hy sinh trong Chiến tranh Việt Nam”.

Tác giả nói sách của ông chủ yếu dựa vào kho tư liệu của Trung Quốc, trong đó có tiếp cận với Đại học Quốc phòng và Học viện Chính trị Nam Kinh, Trung Quốc.

Tác giả cũng phỏng vấn các cựu chiến binh của Trung Quốc, Việt Nam và Nga.

Nhờ giúp đỡ

Mối quan hệ của Hồ Chí Minh với những người cộng sản Trung Quốc đã có ngay từ đầu thập niên 1920.

Như Chu Ân Lai, sau này là thủ tướng Trung Quốc, nhớ lại: “Ông ấy [Hồ Chí Minh] đã là nhà Marxist cao cấp khi tôi chỉ mới gia nhập Đảng Cộng sản. Ông là người anh lớn của tôi.”

Sau khi Mao Trạch Đông thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ngày 1/10/1949, Hồ Chí Minh ngay lập tức gửi hai nhóm đồng thời sang Trung Quốc xin giúp đỡ vào ngày 6/10.

Nhóm một do Lý Bích Sơn dẫn đầu, mang lá thư của ông Hồ gửi Chu Ân Lai, đi đường biển qua các nơi như Hong Kong, Thanh Đảo rồi tới Bắc Kinh. Nhóm thứ hai của Nguyễn Đức Thụy, đi đường bộ từ Lạng Sơn sang Quảng Tây rồi đến Bắc Kinh.

Điện BiênBản quyền hình ảnhCOLLECTION JEAN-CLAUDE LABBE
Image captionBộ đội Việt Minh kéo pháo vào Điện Biên tháng 5/1954 -hình tư liệu

Hai phái đoàn đề nghị Trung Quốc viện trợ tài chính, khoảng 10 triệu USD, và vũ khí.

Nhưng trong lúc hai đoàn ở Bắc Kinh tháng 12/1949, Mao Trạch Đông đang thăm Moscow, và sẽ chỉ quay về tháng Hai năm sau.

Lúc này, Tổng Bí thư Lưu Thiếu Kỳ thay Mao phụ trách công việc ở Bắc Kinh, và mở cuộc họp Bộ Chính trị ngày 24/12 để thảo luận về yêu cầu của Hồ Chí Minh.

Điều thú vị, theo sách của Xiaobing Li, đa số trong Bộ Chính trị Trung Quốc bày tỏ lo ngại và cho rằng không thể giúp đỡ vì Trung Quốc đang gặp khó khăn sau chiến tranh.

Lưu Thiếu Kỳ báo cáo cho Mao và đề nghị chỉ giúp đỡ ít ỏi.

Nhưng Mao bác bỏ, yêu cầu Bộ Chính trị có thái độ ủng hộ nhiều hơn với Việt Minh.

Trong lúc ở Moscow, Mao yêu cầu Stalin giúp không vận và đặc nhiệm để Trung Quốc tấn công Đài Loan.

Stalin từ chối, và cũng quyết định rút quân Liên Xô ra khỏi Trung Quốc. Như vậy sẽ không có quân Liên Xô có mặt giúp đỡ nếu nhỡ xảy ra cuộc tấn công vào Trung Quốc.

Trong cuộc gặp thứ hai của họ vào hôm 24/12, Stalin đề xuất Trung Quốc phải gánh vác trách nhiệm cho phong trào cộng sản thế giới, trong đó có việc giúp đỡ phong trào ở Á châu như Việt Nam.

Tại Moscow, Mao đồng ý với Stalin rằng Trung Quốc sẽ giúp Hồ Chí Minh.

Mao gửi điện cho Lưu Thiếu Kỳ ngày 24/12, chỉ đạo rằng Trung Quốc ban đầu sẽ đáp ứng một nửa yêu cầu của Hồ Chí Minh và phần còn lại sẽ gửi sau.

Ngày 25/12, Lưu Thiếu Kỳ gửi điện cho Đảng Cộng sản Đông Dương, hứa giúp đỡ.

Tháng Giêng 1950, nhóm công tác Trung Quốc do La Quý Ba dẫn đầu, sang Việt Nam. La Quý Ba sau này sẽ là đại sứ Trung Quốc đầu tiên ở Hà Nội vào năm 1954.

Gặp La Quý Ba trước chuyến đi, Lưu Thiếu Kỳ ước tính La sẽ ở lại Việt Nam ba tháng. Ông không hình dung rằng La Quý Ba sẽ ở lại đó bảy năm.

Chuyến đi tới Bắc Kinh và Moscow

Hồ Chí Minh có chuyến đi bí mật tới Bắc Kinh vào tháng Giêng 1950, được Lưu Thiếu Kỳ đón tiếp.

Ngày 3/2, ông Hồ rời Bắc Kinh, đi sang Moscow để gặp Stalin và Mao.

Cộng sảnBản quyền hình ảnhBETTMANN
Image captionNam Il của Bắc Triều Tiên, V. Molotov và Phạm Văn Đồng thăm villa của Thủ tướng TQ Chu Ân Lai (thứ nhì từ phải) tại Bắc Kinh năm 1954

Ngày 6/2, Moscow mở tiệc đón ông Hồ, nhưng Stalin không dự.

Stalin bảo với Mao rằng Trung Quốc nay là “trung tâm cách mạng châu Á” và rằng Trung Quốc cần “giữ trách nhiệm chủ lực” trong việc giúp Việt Nam.

Mao gặp ông Hồ tại Moscow, khẳng định sẽ giúp lực lượng Việt Minh.

Cả hai người cùng đi xe lửa từ Moscow về lại Bắc Kinh, chuyến đi kéo dài từ 17/2 tới 4/3.

Theo tác giả Xiaobing Li, vào hôm 26/2, khi xe lửa qua biên giới Trung Quốc, ông Hồ hỏi Mao về khả năng Trung Quốc gửi quân can thiệp.

“Mao nghĩ một lúc và từ chối yêu cầu của ông Hồ về lính Trung Quốc, nhưng ông đồng ý gửi cố vấn quân sự sang Việt Nam,” giáo sư Xiaobing Li viết.

Khi đến Bắc Kinh ngày 4/3, ông Hồ cử Hoàng Văn Hoan làm đại diện làm việc với Trung Quốc về viện trợ quân sự và về cố vấn Trung Quốc.

Bối cảnh quốc tế

Mùa thu 1950, Trung Quốc đưa quân can thiệp vào chiến tranh Triều Tiên, trực tiếp đối đầu quân sự với Mỹ.

Bối cảnh này có ảnh hưởng trực tiếp tới diễn biến ở Việt Nam, vì Bắc Kinh xem việc giúp đỡ đồng minh cộng sản ở Bắc Việt là cách hiệu quả để bảo vệ Trung Quốc trước đe dọa của khối tư bản do Mỹ dẫn đầu.

Theo cái nhìn của giáo sư Xiaobing Li, Mao nhận ra rằng Liên Xô sẽ không gửi quân giúp đỡ nếu Trung Quốc bị phương Tây xâm lược.

Thay vì chờ phương Tây đánh, Mao quyết định đối đầu với ngoại bang ở các nước láng giềng như Việt Nam và Triều Tiên.

Chiến lược “phòng thủ tích cực” này sẽ ngăn không để xảy ra đối đầu bên trong Trung Quốc.

Ngày 4/8/1950, Mao nói với Bộ Chính trị: “Chúng ta sẽ lấy lại Đài Loan, nhưng lúc này không thể ngồi yên mà nhìn Việt Nam và Triều Tiên.”

Sang đến thập niên 1960, Trung Quốc đã thiết lập được “vùng đệm an ninh” dọc đường biên giới.

Tuy vậy, trớ trêu thay, viện trợ của Trung Quốc, và sau này là của Liên Xô, tại Việt Nam không làm quan hệ đồng minh cộng sản trở nên tốt đẹp hơn.

Sự cạnh tranh Xô – Trung trong Chiến tranh Việt Nam chống Mỹ làm xấu đi quan hệ giữa Moscow và Bắc Kinh.

Tại Việt Nam, nhiều lãnh đạo cũng nghi ngờ Trung Quốc chỉ quan tâm đến an ninh quốc gia và ảnh hưởng chứ không phải vì độc lập của Việt Nam.

Sau khi Hồ Chí Minh qua đời năm 1969, Hà Nội ngày càng gắn bó với Moscow.

Quan hệ đồng minh truyền thống giữa Trung Quốc và Bắc Việt, như môi với răng trong thập niên 1950, nhanh chóng gãy đổ.

Xem thêm:

Ai từng trợ giúp Pol Pot và đồng minh?

Đánh giá mới về viện trợ Trung Quốc cho Hà Nội thời chiến

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong bức hình lịch sử

Ông Lê Duẩn từ 1973 đã lo ‘bị Mao tấn công’

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Nỗi sợ hãi Trung Quốc Mới: Tại sao Mỹ không nên hoảng sợ về kẻ thách thức mới nhất của mình

Nỗi sợ hãi Trung Quốc Mới: Tại sao Mỹ không nên hoảng sợ về kẻ thách thức mới nhất của mình

Foreign Affairs

Tác giả: Fareed Zakaria[i]

Dịch và chú giải: Một thân hữu của Viet-studies

6-12-2019

Khách tham quan trước bức ảnh của Xi tại Trung tâm Triển lãm Bắc Kinh, tháng 9/2019. Ảnh: Jason Lee / Reuters

Vào tháng Hai 1947, Tổng thống Mỹ Harry Truman đã hội ý với các cố vấn chính sách đối ngoại cao cấp nhất của ông ta, George Marshall và Dean Acheson, và một ít các nhà lãnh đạo quốc hội. Chủ đề là kế hoạch của chính quyền hỗ trợ chính phủ Hy Lạp trong cuộc chiến chống lại một cuộc nổi dậy của cộng sản. Marshall và Acheson đã trình bày lý lẽ của họ đối với kế hoạch ấy. Arthur Vandenberg, chủ tịch Ủy ban đối ngoại thượng viện, lắng nghe một cách kỹ lưỡng và sau đó đã đưa ra sự ủng hộ của mình kèm một lời cảnh báo. ‘Cách duy nhất ngài sẽ có được những gì ngài muốn’, ông được kể là đã nói với tổng thống, ‘là phát biểu và hù dọa cả nước’.

Trong vài tháng sau đó, Truman đã làm đúng điều ấy. Ông ta đã biến cuộc nội chiến ở Hy Lạp thành một phép thử về khả năng của Mỹ đối đầu với chủ nghĩa cộng sản quốc tế. Khi ngẫm tới lời hùng biện mở rộng của Truman về việc trợ giúp các nền dân chủ ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào, Acheson thú nhận trong hồi ký của mình rằng chính quyền đã đưa ra một lập luận ‘còn rõ hơn cả sự thật’.

Một cái gì đó tương tự thế đang xảy ra ngày nay trong cuộc tranh luận của người Mỹ về Trung Quốc. Một sự đồng thuận mới, bao gồm cả hai đảng, nhóm nắm quyền quân sự và các thành tố chính của truyền thông, cho rằng Trung Quốc hiện là mối đe dọa sống còn đối với Mỹ cả về kinh tế lẫn chiến lược, rằng chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc đã thất bại, và Washington cần một chiến lược mới, cứng rắn hơn nhiều để ngăn chặn nó. Sự đồng thuận này đã làm dịch chuyển lập trường của công chúng về phía một sự thù địch gần như có tính bản năng: theo thăm dò ý kiến, 60% người Mỹ hiện có quan điểm bất lợi về nước Cộng hòa Nhân dân này, một mức cao kỷ lục kể từ khi Trung tâm nghiên cứu Pew bắt đầu đặt câu hỏi đó vào năm 2005. Nhưng giới tinh hoa Washington đã làm cho lý lẽ của họ ‘còn rõ hơn cả sự thật’. Bản chất của thách thức từ Trung Quốc khác xa và phức tạp hơn nhiều so với những gì đám gieo rắc hoang mang mới miêu tả. Về vấn đề chính sách đối ngoại quan trọng nhất độc nhất vô nhị trong vài thập kỷ tới đây, nước Mỹ đang tự sắp đặt cho mình một thất bại đắt giá.

Hãy nói cho rõ: Trung Quốc là một chế độ đàn áp sử dụng các chính sách hoàn toàn hẹp hòi, từ việc cấm tự do ngôn luận đến giam giữ các nhóm thiểu số tôn giáo. Trong năm năm qua, nó đã tăng cường kiểm soát chính trị và tập trung quyền lực kinh tế trong nước. Ở nước ngoài, nó đã trở thành người cạnh tranh và ở một số nơi thì là đối thủ của Mỹ. Nhưng câu hỏi chiến lược cốt yếu cho người Mỹ ngày nay là liệu những thực tế này có khiến Trung Quốc trở thành một mối đe dọa sống còn [với Mỹ] hay không, và tới mức mà các thực tế ấy như thế, mối đe dọa đó nên được giải quyết như thế nào?

Các hậu quả của việc phóng đại mối đe dọa của Liên Xô đã là rất lớn: những lạm dụng thô bạo trong nước trong thời kỳ McCarthy; một cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân nguy hiểm; một cuộc chiến dài, vô ích và không thành công ở Việt Nam; và vô số các can thiệp quân sự khác ở nhiều quốc gia được gọi là Thế giới thứ ba. Các hậu quả của việc không nắm được cái thách thức Trung Quốc ngay hôm nay sẽ còn lớn hơn. Mỹ có nguy cơ phung phí những lợi ích đã giành được một cách khó nhọc từ bốn thập kỷ can dự với Trung Quốc, khuyến khích Bắc Kinh áp dụng các chính sách đối đầu của riêng nó, và đưa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới vào một cuộc xung đột nguy hiểm với quy mô và phạm vi không biết được mà nó sẽ gây ra nhiều thập kỷ bất ổn và không an toàn. Một cuộc chiến tranh lạnh với Trung Quốc có thể sẽ kéo dài và tốn kém hơn nhiều so với chiến tranh lạnh đối với Liên Xô, với một kết cục không chắc chắn.

Cam kết đứt quãng

Henry Kissinger đã lưu ý rằng Mỹ đã tham gia vào tất cả các can dự quân sự lớn của mình kể từ năm 1945 – tại Hàn Quốc, Việt Nam, Afghanistan và Iraq – với sự nhiệt tình và hỗ trợ lưỡng đảng to lớn. ‘Và sau đó, khi chiến tranh phát triển’, Kissinger nói, ‘sự hỗ trợ trong nước cho nó bắt đầu tan rã’. Một cách mau chóng, mọi người đều đã tìm kiếm một chiến lược [để] thoát ra.

Để tránh đi lại cái con đường đó, Mỹ nên dành thời gian để xem xét kỹ các giả định đằng sau sự đồng thuận mới [về] Trung Quốc. Theo nghĩa rộng, chúng là như sau. Thứ nhất, sự tham dự đã thất bại vì nó đã không ‘làm chuyển đổi được sự phát triển bên trong và hành vi bên ngoài của Trung Quốc’, như các cựu quan chức Mỹ Kurt Campbell và Ely Ratner đã viết trong tạp chí này vào năm 2018. Thứ hai, chính sách đối ngoại của Bắc Kinh hiện là mối đe dọa đáng kể nhất đối với lợi ích của Mỹ, và bằng cách bành trướng, là mối đe dọa quan trọng nhất tới trật tự quốc tế dựa trên quy tắc mà Mỹ tạo ra sau năm 1945. Ngoại trưởng Mỹ, Mike Pompeo, đã đi còn xa hơn, khi nói trong một bài phát biểu năm 2019 tại Viện Hudson rằng ‘Đảng Cộng sản Trung Quốc là một đảng Marx-Lenin tập trung vào đấu tranh và thống trị quốc tế’. Và thứ ba, một chính sách đối đầu chủ động với Trung Quốc sẽ chống lại mối đe dọa đó tốt hơn là một sự tiếp tục cách tiếp cận trước đó.

Sự đồng thuận lưỡng đảng này đã hình thành để đáp lại những thay đổi đáng kể và đáng lo ngại theo nhiều cách ở Trung Quốc. Kể từ khi chủ tịch Tập Cận Bình trở thành người cầm quyền tối cao của đất nước, tự do hóa kinh tế của Trung Quốc đã chậm lại và cải cách chính trị của nó – trong mọi trường hợp đều hạn chế – đã bị đảo ngược. Bắc Kinh giờ đây kết hợp sự đàn áp chính trị với tuyên truyền dân tộc chủ nghĩa tương tự như trong thời đại của Mao. Ở nước ngoài, Trung Quốc đầy tham vọng và quyết đoán. Những thay đổi này là có thật và đáng lo ngại. Nhưng chúng nên làm thay đổi chính sách của Mỹ như thế nào?

Thành hình nên một phản ứng hiệu quả thì đòi hỏi phải bắt đầu với một sự hiểu biết rõ ràng về chiến lược [về] Trung Quốc của Mỹ cho tới thời điểm này. Điều mà sự đồng thuận mới đang bỏ lỡ là trong gần 5 thập kỷ kể từ việc mở cánh cửa vào Bắc Kinh của tổng thống Mỹ Richard Nixon, chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc chưa bao giờ đơn thuần là cam kết tham dự cả; nó đã là sự kết hợp của tham dự và răn đe. Vào cuối những năm 1970, các nhà hoạch định chính sách của Mỹ đã kết luận rằng việc tích hợp Trung Quốc vào hệ thống kinh tế và chính trị toàn cầu tốt hơn là để nó ngồi ngoài, bực bội và quậy phá. Nhưng Washington đã kết hợp nỗ lực đó với sự hỗ trợ nhất quán cho các quốc gia quyền lực châu Á khác – bao gồm, tất nhiên, tiếp tục bán vũ khí cho Đài Loan. Cách tiếp cận đó, đôi khi được mô tả như là một ‘chiến lược phòng ngừa rủi ro’, đảm bảo rằng khi Trung Quốc trỗi dậy, sức mạnh của nó đã được kiểm tra và các nước láng giềng của nó cảm thấy an toàn.

Trong những năm 1990, không còn kẻ thù Liên Xô nào để mà ngăn chặn nữa, Lầu Năm Góc đã cắt giảm chi tiêu, đóng cửa các căn cứ và giảm số quân trên khắp thế giới – ngoại trừ ở châu Á. Chiến lược châu Á-Thái Bình Dương 1995 của Lầu Năm Góc, được gọi là Sáng kiến ​​Nye, đã cảnh báo về các tham vọng chính sách đối ngoại và xây dựng quân đội của Trung Quốc và tuyên bố rằng Mỹ sẽ không giảm sự hiện diện quân sự tại khu vực này. Thay vào đó, ít nhất 100 ngàn lính Mỹ sẽ ở lại châu Á trong tương lai gần. Việc bán vũ khí cho Đài Loan sẽ tiếp tục vì lợi ích hòa bình ở eo biển Đài Loan – nghĩa là răn đe Bắc Kinh sử dụng vũ lực chống lại hòn đảo tự trị ấy mà chính phủ đại lục coi là một phần của Trung Quốc.

Cách tiếp cận phòng ngừa rủi ro này được duy trì bởi các tổng thống của cả hai đảng. Chính quyền George W. Bush đã lật ngược hàng thập kỷ chính sách lưỡng đảng và ôm lấy Ấn Độ như một cường quốc hạt nhân, phần lớn để thêm một kiểm tra khác về Trung Quốc. Dưới thời tổng thống Barack Obama, Mỹ đã tăng cường răn đe, mở rộng dấu chân ở châu Á bằng các thỏa thuận quân sự mới với Úc và Nhật Bản, và nuôi dưỡng mối quan hệ gần gũi hơn với Việt Nam. Đó cũng là mục đích của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương, được thiết kế để cung cấp cho các nước châu Á một nền tảng kinh tế cho phép họ chống lại sự thống trị của thị trường Trung Quốc. (Chính quyền Trump đã rút khỏi thỏa thuận đó vào đầu năm 2017). Cá nhân Obama đã đối đầu với ông Tập về vấn đề không gian mạng của Trung Quốc và áp thuế nhập khẩu lốp xe để trả đũa các chính sách thương mại không công bằng của Trung Quốc.

Nói rằng [chiến lược] bảo hiểm rủi ro đã thất bại thì toát lên tính thiếu quan điểm lịch sử. Đầu những năm 1970, trước khi Nixon mở cánh cửa vào Trung Quốc, Bắc Kinh đã là chế độ đểu cáng vĩ đại nhất thế giới. Mao Trạch Đông bị ám ảnh bởi ý tưởng rằng ông ta là người cầm lái một phong trào cách mạng sẽ hủy diệt thế giới tư bản phương Tây. Đã chẳng có biện pháp nào là quá cực đoan cho mục đích đó – kể cả sự hủy diệt hạt nhân cũng không loại trừ. ‘Trong trường hợp xấu nhất và nếu một nửa nhân loại đã chết’, Mao giải thích trong một bài phát biểu tại Moscow năm 1957, ‘nửa còn lại sẽ còn lại trong khi chủ nghĩa đế quốc sẽ bị san phẳng tới tận mặt đất và cả thế giới sẽ trở thành xã hội chủ nghĩa’. Trung Quốc của Mao đã xúi bẩy và tài trợ cho các cuộc nổi dậy chống phương Tây, các phong trào du kích và các phong trào tư tưởng trên khắp thế giới, từ Mỹ Latinh đến Đông Nam Á. Theo một ước tính, Bắc Kinh đã chi từ 170 triệu đến 220 triệu USD từ năm 1964 đến 1985 chỉ riêng ở Châu Phi, đào tạo 20 ngàn chiến binh từ ít nhất 19 quốc gia.

Để so sánh, Trung Quốc ngày nay là một quốc gia có trách nhiệm đáng kể trên mặt trận địa chính trị và quân sự. Nó đã không tham chiến từ năm 1979. Nó đã không sử dụng lực lượng quân sự giết chóc ở nước ngoài kể từ năm 1988. Nó cũng đã không tài trợ hoặc hỗ trợ cho các lực lượng ủy nhiệm hay các cuộc nổi dậy vũ trang ở bất cứ đâu trên thế giới kể từ đầu những năm 1980. Kỷ lục không can thiệp đó là độc nhất vô nhị trong số các cường quốc trên thế giới. Tất cả các thành viên thường trực khác của Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc (LHQ) đều đã sử dụng vũ lực nhiều lần ở nhiều nơi trong vài thập kỷ qua – một danh sách, tất nhiên, do Mỹ dẫn đầu.

Trung Quốc cũng đã đi từ chỗ tìm cách làm suy yếu hệ thống quốc tế đến chi một khoản lớn để củng cố nó. Bắc Kinh hiện là nhà tài trợ lớn thứ hai của LHQ và chương trình gìn giữ hòa bình của LHQ. Nó đã triển khai 2500 nhân viên gìn giữ hòa bình, nhiều hơn tất cả các thành viên thường trực khác của Hội đồng bảo an cộng lại. Từ năm 2000 đến 2018, Trung Quốc đã ủng hộ 182 trong số 190 nghị quyết của Hội đồng bảo an áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với các quốc gia được coi là đã vi phạm các quy tắc hoặc chuẩn mực quốc tế. Hẵng cứ cho là như thế này, các nguyên tắc neo giữ chính sách đối ngoại của Bắc Kinh hiện nay – ‘tôn trọng chủ quyền’, ‘toàn vẹn lãnh thổ’, và ‘không can thiệp’ – được cổ vũ phần lớn bởi một mong muốn chống lại sự can thiệp của phương Tây. Tuy nhiên, chúng nhấn mạnh một sự chuyển dịch đáng chú ý từ một chương trình nghị sự cách mạng cấp tiến sang một mối quan tâm bảo thủ về sự ổn định. Ai đó đã dự đoán vào năm 1972 rằng Trung Quốc sẽ trở thành người bảo vệ nguyên trạng quốc tế, song ít ai đã tin được điều đó là có thể.

Địa vị thương mại

Sự đồng thuận mới về hành vi kinh tế của Trung Quốc thì cho rằng Trung Quốc đã buộc các công ty đa quốc gia chuyển giao công nghệ của họ, đã trợ cấp cho ‘các công ty thành công nhất của quốc gia’ và đặt các rào cản chính thức và không chính thức trên con đường các công ty nước ngoài tìm cách thâm nhập thị trường Trung Quốc. Nói tóm lại, Bắc Kinh đã sử dụng nền kinh tế quốc tế mở để củng cố hệ thống trung ương tập quyền và chủ nghĩa trọng thương của riêng mình.

Đúng là những chính sách không công bằng này đòi hỏi phải chú ý và hành động từ phần còn lại của thế giới. Chính quyền Trump xứng đáng nhận được một sự tín nhiệm nhất định nào đó cho việc giải quyết vấn đề này – đặc biệt là trong bối cảnh Tập đã ôm lấy [kinh tế] trung ương tập quyền sau nhiều thập kỷ tự do hóa. Nhưng sự đảo ngược này lớn và lâu dài đến thế nào? Các tập quán của Trung Quốc thì khác với các nước thị trường mới nổi khác hiện nay ra sao? Và một lần nữa, phản ứng đúng của người Mỹ là gì?

Hầu hết tất cả các nhà kinh tế đều đồng ý rằng Trung Quốc có được nhiều thành công kinh tế của mình nhờ ba yếu tố cơ bản: chuyển đổi từ kinh tế học cộng sản sang cách tiếp cận dựa trên thị trường hơn, một tỷ lệ tiết kiệm cao giúp đầu tư vốn lớn, và tăng năng suất. Trong ba thập kỷ qua, nước này cũng đã mở cửa đáng kể cho đầu tư nước ngoài – nhiều hơn so với nhiều thị trường mới nổi lớn khác – cho phép vốn đổ vào. Trung Quốc là một trong chỉ có hai nước đang phát triển được xếp hạng trong 25 thị trường hàng đầu đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài kể từ năm 1998. Trong nhóm BRICS gồm các thị trường mới nổi lớn (bao gồm Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi), Trung Quốc luôn được xếp hạng là nền kinh tế mở và cạnh tranh nhất. Còn như tác động của các chính sách trọng thương của Trung Quốc đối với nền kinh tế Mỹ, cựu Bộ trưởng tài chính Mỹ, Lawrence Summers, đã lưu ý rằng ‘không thể tranh luận một cách nghiêm túc rằng các thực tế thương mại không công bằng của Trung Quốc đã ảnh hưởng đến tăng trưởng của Mỹ thậm chí là 0,1% mỗi năm’.

Điều đáng chú ý là trên mặt trận kinh tế, hầu hết mọi trách nhiệm đổ cho Trung Quốc ngày nay – chuyển giao công nghệ bắt buộc, thực hành thương mại không công bằng, việc tiếp cận hạn chế đối dành cho các công ty nước ngoài, thiên vị pháp lý cho các công ty địa phương – cũng đã được đổ cho Nhật Bản trong những năm 1980s và 1990s. Vào thời điểm đó, cuốn sách đầy ảnh hưởng ‘Địa vị thương mại: Nước Mỹ đang nhượng tương lai của mình lại cho Nhật Bản như thế nào và Làm thế nào để giành lại nó’ (Trading Places: How America Is Surrendering Its Future to Japan and How to Win It Back) của Clyde Prestowitz đã giải thích rằng Mỹ chưa bao giờ tưởng tượng ra được việc giao dịch với một quốc gia mà ‘công nghiệp và thương mại [có lẽ được] tổ chức như một phần của một nỗ lực nhằm đạt được các mục tiêu quốc gia cụ thể’. Một cuốn sách được đọc rộng rãi khác của thời đại đó có tựa đề ‘Cuộc chiến sắp tới với Nhật Bản’. Khi tăng trưởng của Nhật Bản giảm dần, những nỗi sợ hãi thái quá này cũng vậy.

Trung Quốc hôm nay đặt ra một số thách thức mới, đặc biệt là quyết tâm của Tập Cận Bình để nhà nước đóng vai trò hàng đầu trong việc giúp nước này giành được địa vị thống trị về kinh tế trong các lĩnh vực quan trọng. Nhưng trong lịch sử rộng lớn với nhiều điều ít được để ý, lợi thế lớn nhất của Trung Quốc trong hệ thống thương mại toàn cầu không đến từ việc họ sẵn sàng vi phạm các quy tắc mà chỉ từ quy mô/kích cỡ của nó. Các quốc gia và công ty muốn tiếp cận với Trung Quốc và sẵn sàng nhượng bộ để có được nó. Điều này hầu như không làm cho Trung Quốc trở nên bất thường. Các quốc gia khác có ảnh hưởng tương tự thường đi xa nữa với hành vi tương tự hoặc tệ hơn – không ai khác hơn là chính Mỹ cũng vậy. Một báo cáo năm 2015 của gã khổng lồ về dịch vụ tài chính, Credit Suisse, cung cấp một danh sách hữu ích về các rào cản chống lại hàng hóa nước ngoài đã được các nước lớn đưa ra từ năm 1990 đến 2013. Với tổng số gần 450 rào cản, Mỹ là một liên minh riêng mình. Tiếp theo là Ấn Độ, sau đó là Nga. Trung Quốc đứng ở vị trí thứ 5, với chỉ một phần ba các rào cản phi thuế quan được áp đặt so với Mỹ. Bức tranh đã không thay đổi mấy trong những năm kể từ đó.

Hầu hết các thay đổi gần đây trong chính sách kinh tế của Bắc Kinh đã là tiêu cực, nhưng thậm chí cái đó cũng vẫn chưa phải là toàn bộ câu chuyện. Trung Quốc đang thay đổi theo một số đường lối, đôi khi mâu thuẫn nhau. Ngay cả với việc quay trở lại sự kiểm soát nhà nước lớn hơn dưới thời Tập, thì một thị trường tự do hoang dã cũng đã phát triển mạnh mẽ trong các lĩnh vực rộng lớn như hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ. Cũng đã có việc tự do hóa trong lập quy thực sự nào đó – thậm chí là cải cách hành chính và tư pháp, như nhà khoa học chính trị Yuen Yuen Ang[i][2] đã nêu chi tiết. Sự hỗ trợ của chính phủ cho các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước lớn hơn so với vài năm trước, nhưng Bắc Kinh đã từ bỏ cái một thời đã từng là một phần trung tâm của chiến lược trọng thương của mình: sử dụng một đồng tiền được [có chủ ý] định giá thấp để thúc đẩy tăng trưởng. Nhà kinh tế học Nicholas Lardy[ii][3] đã tính toán rằng sự kết thúc của chủ nghĩa trọng thương tiền tệ chiếm ‘khoảng một nửa sự chậm lại tăng trưởng của Trung Quốc kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu’.

Hoặc xem đó là cái gì, cái nói theo Peter Navarro, cố vấn thương mại hàng đầu của tổng thống Mỹ Donald Trump, vấn đề số một trong tranh chấp thương mại của Mỹ với Trung Quốc: ‘hành vi trộm cắp tài sản trí tuệ của chúng ta’. Việc Trung Quốc tham gia vào chuyện trộm cắp tràn lan sở hữu trí tuệ là một thực tế được chấp nhận rộng rãi – ngoại trừ trong số các công ty Mỹ đang kinh doanh tại Trung Quốc. Trong một cuộc khảo sát gần đây về các công ty như vậy do Hội đồng doanh nghiệp Mỹ-Trung (U.S.-China Business Council) thực hiện, bảo vệ sở hữu trí tuệ đứng thứ 6 trong danh sách các mối quan tâm cấp bách, đã giảm xuống từ vị trí thứ 2 trong năm 2014. Các công ty này lo ngại nhiều hơn về tài trợ của nhà nước cho các công ty đối thủ và việc trì hoãn phê duyệt giấy phép cho sản phẩm của họ. Tại sao sự thay đổi này lại từ năm 2014? Năm đó, Trung Quốc đã tạo ra các tòa án chuyên ngành đầu tiên để xử lý các vụ án sở hữu trí tuệ. Năm 2015, các nguyên đơn nước ngoài đã đưa 63 vụ ra Tòa án Sở hữu trí tuệ Bắc Kinh. Tòa án đã phán quyết cho các công ty nước ngoài thắng kiện trong tất cả 63 vụ.

Tất nhiên, những cải cách như thế này thường chỉ được thực hiện khi đối mặt với áp lực của phương Tây và, mặc dù thế, bởi vì chúng phục vụ lợi ích cạnh tranh của chính Trung Quốc – công ty nộp đơn xin cấp bằng sáng chế lớn nhất trên toàn thế giới năm ngoái là gã khổng lồ viễn thông Trung Quốc Huawei. Nhưng cũng đúng là nhiều nhà kinh tế và nhà hoạch định chính sách cấp cao của Trung Quốc đã lập luận rằng nước này sẽ hiện đại hóa và phát triển kinh tế chỉ khi nó theo đuổi cải cách hơn nữa. Không làm thế, họ đã cảnh báo, sẽ khiến đất nước bị mắc kẹt trong ‘bẫy thu nhập trung bình’ – số phận chung của các quốc gia thoát nghèo nhưng vấp phải bức tường với mức GDP khoảng 10 ngàn USD trên đầu người, đã thất bại trong việc hiện đại hóa nền kinh tế, hệ thống pháp quy và pháp lý của họ hơn nữa.

Chừng nào sự phát triển chính trị của Trung Quốc còn đáng quan ngại, phán quyết này vẫn còn không rõ ràng. Trung Quốc đã không mở cửa chính trị của mình đến mức như nhiều người đã dự đoán; trong thực tế nó đã tiến tới sự đàn áp và kiểm soát lớn hơn. Đối xử tồi tệ của Bắc Kinh với người Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương, một khu vực ở tây bắc Trung Quốc, đã tạo ra một cuộc khủng hoảng nhân quyền. Nhà nước cũng đã bắt đầu sử dụng các công nghệ mới, như phần mềm nhận dạng khuôn mặt và trí tuệ nhân tạo, để tạo ra một hệ thống kiểm soát xã hội kiểu Orwell[iii][4]. Những thực tế này là một thảm kịch đối với người dân Trung Quốc và là một trở ngại cho đất nước tham gia lãnh đạo toàn cầu. Tuy nhiên, sẽ là một sự cường điệu khi thêm chúng vào làm bằng chứng cho sự thất bại của chính sách của Mỹ. Trong thực tế, rất ít quan chức Mỹ từng lập luận rằng sự tham dự sẽ dẫn một cách không thể lay chuyển nổi tới nền dân chủ tự do ở Trung Quốc. Họ hy vọng rằng nó sẽ diễn ra như vậy, thậm chí mong đợi điều ấy, nhưng trọng tâm của họ luôn đặt vào việc tiết chế hành vi bên ngoài của Trung Quốc, điều mà họ đã đạt được.

Băng qua lằn ranh

Dưới thời Tập, chính sách đối ngoại của Trung Quốc đã trở nên tham vọng và quyết đoán hơn, từ việc theo đuổi vai trò lãnh đạo của nó trong các cơ quan của LHQ cho tới Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI, Belt and Road Initiative) mênh mông ​và việc xây dựng các hòn đảo ở Biển Đông. Những động thái này đánh dấu một bước đột phá đối với sự thụ động xưa của đất nước trên trường quốc tế, bị kìm giữ bởi câu ngạn ngữ của nhà lãnh đạo Trung Quốc trước đây là Đặng Tiểu Bình ‘Giấu sức mạnh, chờ thời’[iv][5]. Đặc biệt, việc xây dựng quân đội của Trung Quốc là quy mô và được thiết kế theo cách gợi ý rằng một kế hoạch dài hạn đang được thực hiện một cách có hệ thống. Nhưng mức độ ảnh hưởng chấp nhận được đối với Trung Quốc sẽ là gì, với trọng lượng kinh tế của nó trên thế giới? Nếu Washington không đặt câu hỏi này trước tiên, họ không thể đưa ra những tuyên bố nghiêm túc về những việc sử dụng quyền lực nào của Trung Quốc là vượt qua lằn ranh.

Trung Quốc, theo một số thước đo, đã là nền kinh tế lớn nhất thế giới. Trong vòng 10 đến 15 năm nữa, nó có thể sẽ chiếm vị trí này theo mọi thước đo. Đặng đã đưa ra lời khuyên của mình ‘chờ thời’ đến khi nền kinh tế của đất nước chiếm khoảng 1% GDP toàn cầu. Ngày nay, nó đang đại diện cho hơn 15%. Trung Quốc thực sự đã chờ đợi đến thời của mình, và giờ đây, một Trung Quốc mạnh mẽ hơn nhiều một cách tự nhiên sẽ tìm kiếm một vai trò khu vực và toàn cầu lớn hơn.

Hãy xem trường hợp của một quốc gia khác đang trỗi dậy mạnh mẽ, điều này trở lại vào thế kỷ XIX, mặc dù không gần như trên quy mô của Trung Quốc ngày nay. Mỹ vào năm 1823 đã là nước mà bây giờ gọi là một quốc gia đang phát triển – thậm chí không nằm trong số 5 nền kinh tế hàng đầu thế giới – ấy vậy mà với Học thuyết Monroe, nó đã tuyên bố yêu sách toàn bộ bán cầu Tây cấm không được bén mảng đối với các cường quốc ở châu Âu. Trường hợp của Mỹ là một sự tương tự không hoàn hảo, nhưng nó như một lời nhắc nhở rằng khi các nước có được sức mạnh kinh tế, chúng sẽ tìm kiếm sự kiểm soát và ảnh hưởng lớn hơn đối với môi trường của mình. Nếu Washington xác định mọi nỗ lực như vậy của Trung Quốc là nguy hiểm, thì nó sẽ khiến Mỹ chống lại các động lực tự nhiên của đời sống quốc tế và rơi vào cái mà học giả Graham Allison đã gọi là ‘cái bẫy Thucydides’[v][6] – nguy cơ của một cuộc chiến giữa một cường quốc đang trỗi dậy và một nước bá chủ lo lắng.

Đối với Mỹ, đối phó với một đối thủ cạnh tranh như vậy là một thách thức mới và độc nhất vô nhị. Kể từ năm 1945, các quốc gia lớn vươn lên giàu có và nổi bật đều là những đồng minh thân cận nhất của Washington, nếu không phải là những nước gần như là được bảo hộ: Đức, Nhật Bản và Hàn Quốc. Một đặc tính thường gây rối trong cuộc sống quốc tế – các cường quốc mới đang trỗi dậy – do đó đều cực kỳ lành tính đối với Mỹ. Tuy vậy, Trung Quốc không chỉ lớn hơn nhiều so với các cường quốc đang trỗi dậy trước đó; nó cũng luôn nằm ngoài cấu trúc liên minh và phạm vi ảnh hưởng của Mỹ. Kết quả là, nó chắc chắn sẽ tìm kiếm một phạm vi ảnh hưởng độc lập lớn hơn. Thách thức đối với Mỹ, và phương Tây nói chung, sẽ là xác định phạm vi có thể chấp nhận được đối với ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc và thích ứng với nó – để có được sự tín nhiệm khi các hành động của Bắc Kinh vượt qua lằn ranh.

Cho đến nay, hồ sơ theo dõi của phương Tây về việc thích nghi với sự trỗi dậy của Trung Quốc rất kém. Thí dụ, cả Mỹ và Châu Âu đều miễn cưỡng nhượng lại bất kỳ mảnh đất nào cho Trung Quốc trong các thể chế cốt lõi quản trị kinh tế toàn cầu, Ngân hàng thế giới WB (World Bank) và Quỹ tiền tệ quốc tế IMF (International Monetary Fund), vẫn là các câu lạc bộ Âu-Mỹ. Trong nhiều năm, Trung Quốc đã tìm kiếm một vai trò lớn hơn trong Ngân hàng phát triển Châu Á ADB (Asian Development Bank), nhưng Mỹ đã chống lại. Kết quả là vào năm 2015, Bắc Kinh đã thành lập tổ chức tài chính đa phương của riêng mình, Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á AIIB (Asian Infrastructure Investment Bank) (mà Washington chống lại song không có kết quả).

Pompeo đã khẳng định – trong một tuyên bố kiểu bề trên mà chắc chắn sẽ chọc giận bất cứ công dân Trung Quốc nào – rằng Mỹ và các đồng minh phải giữ Trung Quốc ở ‘đúng chỗ của nó’. Tội lỗi của Trung Quốc, theo Pompeo, là họ chi nhiều cho quân đội hơn mức cần thiết cho quốc phòng của mình. Nhưng điều tương tự vậy, tất nhiên, cũng có thể nói về Mỹ – và của Pháp, Nga, Vương quốc Anh và hầu hết các nước lớn khác. Trong thực tế, một định nghĩa hữu ích về một cường quốc là một nước có liên quan tới nhiều hơn là chỉ liên quan tới an ninh riêng của mình.

Trật tự cũ – trong đó các nước châu Âu nhỏ đóng vai trò những đối thủ nặng ký toàn cầu trong khi những con hà mã to vật như Trung Quốc và Ấn Độ lại bị loại khỏi những thứ hạng hàng đầu của các tổ chức toàn cầu – không thể duy trì được nữa. Trung Quốc sẽ phải được dành một vị trí bên bàn và phải được tích hợp một cách thành thật vào các cấu trúc ra quyết định, hoặc họ sẽ tự do và đơn phương tạo ra các cấu trúc và các hệ thống mới của riêng mình. Sự thăng tiến của Trung Quốc tới quyền lực toàn cầu là yếu tố mới quan trọng nhất trong hệ thống quốc tế trong nhiều thế kỷ. Nó phải được công nhận như vậy.

Không tự do, chẳng quốc tế lẫn chả có trật tự

Đối với nhiều người, sự trỗi dậy của Bắc Kinh đã báo hiệu về hồi chuông báo tử của trật tự quốc tế tự do – tập hợp các chính sách và các định chế, được rèn dập phần lớn bởi Mỹ sau Thế chiến thứ II, tạo nên tổng thể một hệ thống dựa trên luật lệ, trong đó chiến tranh giữa các nước đã mất dần tầm quan trọng trong khi thương mại tự do và nhân quyền đã phát triển mạnh mẽ. Đặc điểm chính trị trong nước của Trung Quốc – một quốc gia độc đảng không cho phép sự phản đối hay bất đồng chính kiến ​​- và một số hành động quốc tế của nó khiến nó trở thành một người chơi không dễ dàng gì trong hệ thống này.

Tuy nhiên, đáng ghi nhớ là trật tự quốc tế tự do chưa bao giờ là tự do, quốc tế, hay có trật tự như bây giờ vẫn được mô tả một cách luyến tiếc cả. Ngay từ đầu, nó đã vấp phải sự khăng khăng phản đối từ Liên Xô, tiếp theo sau là một loạt các đổ vỡ trong hợp tác giữa các đồng minh (qua cuộc khủng hoảng Suez năm 1956, qua Việt Nam một thập kỷ sau) và sự đào ngũ phần nào đó của Mỹ dưới thời Nixon, người vào năm 1971 đã chấm dứt thực tiễn bảo lãnh của Washington đối với trật tự tiền tệ quốc tế bằng việc sử dụng dự trữ vàng của Mỹ. Một hình ảnh thực tế hơn là một trật tự quốc tế tự do non trẻ, đã hư hỏng từ đầu bởi những ngoại lệ, sự bất hòa và tính mong manh. Nước Mỹ, về phần mình, lại thường hành động ra ngoài các quy tắc của trật tự này, khi thực hiện các can thiệp quân sự thường xuyên có hoặc không có sự chấp thuận của LHQ; trong những năm từ 1947 đến 1989, khi Mỹ được cho là đang xây dựng trật tự quốc tế tự do, nó đã cố gắng thay đổi chế độ 72 lần trên khắp thế giới. Nó bảo lưu quyền hành giống như vậy trong lĩnh vực kinh tế, tham gia vào chủ nghĩa bảo hộ ngay cả khi nó chống lại các biện pháp khiêm tốn hơn được áp dụng bởi các quốc gia khác.

Sự thật về trật tự quốc tế tự do, như với tất cả các khái niệm như vậy, là chưa từng bao giờ thực sự có một thời kỳ hoàng kim, nhưng cũng không có thứ trật tự bị phân rã quá như nhiều người tuyên bố. Các thuộc tính cốt lõi của trật tự này – hòa bình và ổn định – vẫn còn tồn tại, với sự suy giảm rõ rệt do chiến tranh và thôn tính kể từ năm 1945. (Hành vi của Nga ở Ucraina là một ngoại lệ quan trọng). Về mặt kinh tế, đó là một thế giới thương mại tự do. Thuế quan trung bình giữa các nước đã công nghiệp hóa là dưới 3%, giảm từ 15% trước Vòng đàm phán thương mại quốc tế Kennedy trong thập niên 1960. Thập kỷ vừa qua đã chứng kiến ​​sự thụt lùi về một số độ đo mức toàn cầu hóa nhưng từ mức cơ bản cực kỳ cao. Toàn cầu hóa từ năm 1990 có thể được mô tả là đã tiến lên ba bước và chỉ lùi một bước.

Trung Quốc hầu như không đủ điều kiện là một mối nguy hiểm chết người đối với trật tự không hoàn hảo này. Hãy so sánh hành động của nó với Nga – một quốc gia mà trong nhiều đấu trường chỉ đơn giản là kẻ phá hoại, cố gắng phá vỡ thế giới dân chủ phương Tây và các mục tiêu quốc tế của nó, thường được hưởng lợi trực tiếp từ sự bất ổn do nó tăng giá dầu (nguồn tài sản lớn nhất của Kremlin). Trung Quốc không có vai trò như vậy. Khi nó bẻ cong các quy tắc và, thí dụ như, tham gia vào chiến tranh mạng, thì nó đánh cắp các bí mật quân sự và kinh tế thay vì cố gắng phá hoại tính hợp pháp của các cuộc bầu cử dân chủ ở Mỹ hoặc Châu Âu. Bắc Kinh lo ngại sự bất đồng quan điểm và sự phản đối và đặc biệt đau thần kinh với các vấn đề của Hongkong và Đài Loan, sử dụng ảnh hưởng kinh tế của mình để kiểm duyệt các công ty phương Tây trừ khi họ theo đúng đường lối của đảng. Nhưng đây là những nỗ lực để bảo tồn những gì Bắc Kinh coi là chủ quyền của mình – không có gì giống như Moscow, những nỗ lực có hệ thống nhằm gây trở ngại và phá vỡ nền dân chủ phương Tây ở Canada, Mỹ và Châu Âu. Nói tóm lại, Trung Quốc đã hành động theo các cách can thiệp, trọng thương và đơn phương – nhưng thường ít hơn rất nhiều so với các cường quốc khác.

Sự trỗi dậy của một nhà nước độc đảng mà nó tiếp tục bác bỏ các khái niệm cốt lõi về quyền con người thì thể hiện một thách thức. Ở một số khu vực nhất định, các chính sách đàn áp của Bắc Kinh đã đe dọa các thành tố của trật tự quốc tế tự do, như thể các nỗ lực của nó nhằm làm suy yếu các tiêu chuẩn nhân quyền toàn cầu cũng như hành vi của nó ở Biển Đông và các phần ‘nước ngoài gần’ khác của nó. Những trường hợp đó cần được kiểm tra một cách trung thực. Đối với vấn đề đầu, chẳng mấy điều có thể nói được để giảm nhẹ trách nhiệm. Trung Quốc thì rất muốn né tránh/thoát khỏi [vấn đề về] các hành vi vi phạm nhân quyền nghiêm trọng của mình, và chương trình nghị sự đó cần được phơi bày và chống lại. (Quyết định của chính quyền Trump rút khỏi Hội đồng nhân quyền LHQ đã đạt được điều hoàn toàn ngược lại bằng cách nhượng lại lĩnh vực này cho Bắc Kinh).

Nhưng trật tự quốc tế tự do đã có thể thích ứng với nhiều chế độ khác nhau – từ Nigeria tới Saudi Arabia cho đến Việt Nam – và vẫn cung cấp một khung khổ dựa trên các quy tắc mà chúng khuyến khích hòa bình, ổn định và ứng xử văn minh giữa các quốc gia. Quy mô và các chính sách của Trung Quốc đặt ra một thách thức mới đối với việc mở rộng quyền con người chủ yếu đã diễn ra từ năm 1990. Nhưng chuyện một lĩnh vực thoái trào tiềm năng thì không nên được xem là mối đe dọa chết người đối với công cuộc lớn hơn nhiều của một hệ thống quốc tế thương mại tự do, dựa trên quy tắc và rộng mở.

Chính sách ngăn chặn và các phí tổn

Giả định cuối cùng ủng hộ sự đồng thuận mới là chuyện một hình thức đối đầu dai dẳng nào đó với Trung Quốc sẽ răn đe được chủ nghĩa phiêu lưu của nó ra nước ngoài và tạo tiền đề cho một sự chuyển đổi trong nội bộ. Rất ít người hào hứng chấp nhận thuật ngữ ‘ngăn chặn’ của thời chiến tranh lạnh, nhưng nhiều người chấp nhận một phiên bản logic nào đó của nó. Lý thuyết là một đường lối cứng rắn chống lại Trung Quốc sẽ buộc nước này phải cư xử đàng hoàng và thậm chí cải cách. Không nói ra nhưng rõ ràng trung tâm của chiến lược diều hâu ấy là ý niệm rằng ngăn chặn Trung Quốc sẽ sớm làm sụp đổ chế độ của nó, giống như đã xảy ra với Liên Xô.

Nhưng Trung Quốc không phải là Liên Xô, một đế chế bất tự nhiên được xây dựng dựa trên sự bành trướng thô bạo và thống trị quân sự. Với Trung Quốc, Mỹ sẽ đối đầu với một nền văn minh, và một quốc gia, với ý thức mạnh mẽ về sự đoàn kết và niềm tự hào dân tộc đã vươn lên để giành lấy vị trí trong số các cường quốc của thế giới. Trung Quốc đang trở thành một quốc gia ngang hàng về kinh tế, thực sự là một nhà lãnh đạo công nghệ trong một số lĩnh vực. Dân số của nó làm cho dân số Mỹ thành nhỏ bé và thị trường lớn nhất thế giới cho hầu hết mọi hàng hóa thì hiện đang nằm ở Trung Quốc. Nó sở hữu một số máy tính nhanh nhất hành tinh và nắm giữ lượng dự trữ ngoại hối lớn nhất trên trái đất. Ngay cả khi nó trải qua một số loại thay đổi chế độ, các đặc điểm rộng lớn hơn về sự trỗi dậy và sức mạnh của nó sẽ vẫn cứ tồn tại.

Lầu năm góc đã ôm lấy ý niệm Trung Quốc là ‘đối thủ cạnh tranh chiến lược’ hàng đầu của Mỹ. Từ một quan điểm quan liêu, chỉ định này có ý nghĩa hoàn hảo. Trong 20 năm qua, quân đội Mỹ đã chiến đấu chống lại các cuộc nổi dậy và du kích ở các quốc gia yếu ớt, và hết lần này đến lần khác phải giải thích tại sao bộ máy đắt tiền của nó đã thất bại trước những kẻ thù thiếu tiền bạc, được trang bị kém này. Ngược lại, để làm kẻ thù của Trung Quốc là quay trở lại những tháng ngày hoàng kim của chiến tranh lạnh, khi Lầu năm góc có thể tăng ngân sách thật lớn bằng cách gợi lên bóng ma của một cuộc chiến tranh chống lại một quân đội giàu có, hiện đại với công nghệ tiên tiến của riêng mình. Suốt thời gian ấy, logic của răn đe hạt nhân và sự thận trọng của các cường quốc đã đảm bảo rằng một cuộc chiến tổng lực giữa hai bên sẽ không bao giờ xảy ra. Tuy nhiên, bất kể lợi thế thế nào về ngân sách của Lầu Năm Góc, chi phí cho một cuộc chiến tranh lạnh như vậy với Trung Quốc sẽ là vô cùng lớn, làm biến dạng nền kinh tế Mỹ và làm phình thêm tổ hợp công nghiệp-quân sự[vi][7] mà tổng thống Mỹ Dwight Eisenhower từng cảnh báo chống lại.

Hãy thêm vào đó là mức độ phụ thuộc lẫn nhau lớn giữa Mỹ và Trung Quốc. Xuất khẩu của Mỹ sang Trung Quốc tăng 527% kể từ năm 2001 và vào năm 2018, Trung Quốc là nhà cung cấp hàng hóa lớn nhất cho Mỹ. Cũng còn có sự phụ thuộc lẫn nhau của con người – hàng trăm ngàn sinh viên Trung Quốc học tập tại Mỹ, cùng với gần năm triệu công dân và người định cư Mỹ gốc Hoa. Mỹ đã được hưởng lợi rất nhiều từ việc là nơi tập trung những bộ óc thông minh nhất để thực hiện nghiên cứu tiên tiến nhất rồi sau đó áp dụng nó vào mục đích thương mại. Nếu Mỹ cấm các cửa người tài năng như vậy vì tài năng đó đi với hộ chiếu không hợp lệ, nó sẽ nhanh chóng mất vị trí đặc quyền trong thế giới công nghệ và đổi mới.

Cách tiếp cận hiện nay với Trung Quốc của chính quyền Trump, chạy dọc theo hai đường riêng biệt và mâu thuẫn, cùng một lúc tránh sự phụ thuộc lẫn nhau lẫn đi theo nó. Về thương mại, mục tiêu của Washington nói rộng ra là hội nhập: để Trung Quốc mua thêm từ Mỹ, đầu tư nhiều hơn vào Mỹ và cho phép người Mỹ bán và đầu tư nhiều hơn vào Trung Quốc. Nếu thành công, nỗ lực này sẽ tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau nhiều hơn giữa hai nước. Đó là một nỗ lực đáng khen ngợi, mặc dù té ra là thuế quan thường gây phí tổn cho bên áp đặt thuế nhiều hơn bên người bị áp thuế. Theo một số ước tính, thuế quan lốp xe của chính quyền Obama làm tốn khoảng 1 triệu USD cho mỗi việc làm mà Mỹ tiết kiệm được. Cách tiếp cận tổng thể, tuy vậy, là khôn ngoan, ngay cả khi được thực hiện nhằm theo đuổi chương trình nghị sự ‘nước Mỹ trên hết’, vì sự phụ thuộc lẫn nhau mang lại cho Mỹ đòn bẩy lớn hơn đối với Trung Quốc.

Trong các vấn đề về công nghệ, mặt khác, cách tiếp cận của chính quyền Trump là nhất quyết phân rã. Chiến lược ở đây là cắt đứt quan hệ với Trung Quốc và buộc phần còn lại của thế giới phải làm điều tương tự – tạo ra một thế giới bị chia cắt giữa hai phe. Chiến dịch toàn cầu của chính quyền Trump chống lại Huawei đã tuân theo logic này; kết quảnghèo nàni của chiến dịch đó cho thấy các lỗ hổng logic. Phần còn lại của thế giới không đi theo sự dẫn dắt của Mỹ (mà nó thiếu công nghệ thay thế để cạnh tranh với các chào mời 5G của Huawei). Chính quyền Trump đã yêu cầu 61 quốc gia cấm công ty ấy. Cho đến nay, chỉ có ba nước tham gia, cả ba nước trong số đó đều là đồng minh của Mỹ.

Tỷ lệ thành công ảm đạm này là một dấu hiệu chỉ báo sớm cho thấy chiến lược ‘tách rời nhau’ rộng hơn sẽ ra như thế nào. Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của nhiều quốc gia ngoài Mỹ, bao gồm nhiều người chơi chủ chốt ở Tây bán cầu, chẳng hạn như Brazil. Khi được hỏi họ sẽ phản ứng thế nào với việc tách rời [giữa Mỹ và Trung Quốc], các nhà lãnh đạo cấp cao trên toàn thế giới hầu như đều đưa ra một phiên bản nào đó của câu trả lời mà một người đứng đầu chính phủ đã đưa ra cho tôi: ‘Xin đừng yêu cầu chúng tôi phải chọn giữa Mỹ và Trung Quốc. Bạn sẽ không thích câu trả lời bạn nhận được đâu’. Điều này không có nghĩa là họ nhất thiết phải đứng về phía Trung Quốc – nhưng họ có thể thích ở lại không vào phe nào, hoặc chơi ván bài hai cường quốc đó chống lại nhau. Còn hơn thế, một Trung Quốc bị cô lập mà nó sẽ xây dựng chuỗi cung ứng và công nghệ nội địa của riêng mình thì sẽ không bị áp lực bởi Mỹ nữa.

Sự vắng mặt kỳ lạ trong hầu hết các cuộc thảo luận về chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc là câu hỏi về phản ứng của Trung Quốc. Bắc Kinh cũng vậy, có những người tạo lập đường lối cứng rắn, những người đã cảnh báo trong suốt nhiều năm rằng Mỹ tìm cách giữ cho Trung Quốc yếu và rằng bất kỳ dấu hiệu tham vọng nào của Trung Quốc cũng sẽ gặp phải một chiến lược ngăn chặn. Còn hơn thế nhiều nữa, thái độ của Mỹ đối với Trung Quốc đang cho phép những tiếng nói đó đòi phải được minh oan, từ đó cho họ đòn bẩy để thúc đẩy chính loại hành vi quyết đoán và gây bất ổn mà chính sách của Mỹ nhắm tới ngăn ngừa.

Mỹ đang trong cuộc đua tranh với Trung Quốc – đó là một thực tế và sẽ vẫn như vậy trong phần lớn thế kỷ này. Vấn đề là liệu Mỹ có nên cạnh tranh trong khuôn khổ quốc tế ổn định hay không, tiếp tục cố gắng hội nhập Trung Quốc [với thế giới hay không] thay vì cố gắng cô lập nó bằng mọi giá. Một trật tự quốc tế bị phá vỡ, phân mảnh, được đánh dấu bởi những hạn chế được đặt ra bởi chính phủ và các loại thuế đối với thương mại, công nghệ và du lịch, sẽ dẫn đến sự thịnh vượng giảm sút, sự bất ổn dai dẳng và triển vọng thực sự của xung đột quân sự đối với tất cả các bên liên quan.

Sự sụp đổ của toàn cầu hóa, tất nhiên, là mục tiêu của nhiều trong số những quan niệm hàng đầu của chính quyền Trump. Bản thân tổng thống đã công khai chỉ trích ‘chủ nghĩa toàn cầu’ và coi thương mại tự do là cách để các nước khác cướp bóc ngành công nghiệp Mỹ. Ông coi các liên minh của Mỹ là lỗi thời, còn những định chế và chuẩn mực quốc tế là những ràng buộc hạn chế không đáng có đối với chủ quyền quốc gia. Những người dân túy cánh hữu đã ôm chặt lấy những quan điểm này trong nhiều năm. Và nhiều người trong số họ – đặc biệt là ở Mỹ – hiểu chính xác rằng cách dễ nhất để phá vỡ toàn bộ kiến trúc quốc tế tự do sẽ là gây ra một cuộc chiến tranh lạnh với Trung Quốc. Khó hiểu hơn nữa nằm ở chỗ những người đã dành hàng thập kỷ để xây dựng cái kiến trúc đó đang sẵn sàng hỗ trợ một chương trình nghị sự chắc chắn sẽ phá hủy nó.

Chiến lược không quá bí mật của Mỹ

Một chính sách khôn ngoan hơn của Mỹ, hướng đến việc biến Trung Quốc thành một ‘cổ đông có trách nhiệm’, vẫn có thể đạt được. Washington nên khuyến khích Bắc Kinh phát huy ảnh hưởng lớn hơn trong khu vực của mình và xa hơn, miễn là họ sử dụng ảnh hưởng này để củng cố hệ thống quốc tế. Sự tham gia của Trung Quốc vào những nỗ lực giải quyết [các vấn đề của loài người] sự nóng lên toàn cầu, phổ biến hạt nhân, rửa tiền và khủng bố nên được khuyến khích – và đánh giá cao. Sáng kiến ​​Vành đai và Con đường của Bắc Kinh có thể là một lợi ích cho thế giới đang phát triển nếu được theo đuổi một cách cởi mở và minh bạch, ngay cả khi hợp tác với các nước phương Tây ở bất cứ nơi nào có thể. Về phần mình, Bắc Kinh sẽ cần chấp nhận sự chỉ trích của Mỹ về các vấn đề nhân quyền, tự do ngôn luận và tự do nói một cách tổng quát hơn.

Những điểm bắt cháy nguy hiểm nhất có thể là Hongkong và Đài Loan, nơi hiện trạng rất mong manh và cán cân quyền lực thì ủng hộ Bắc Kinh. Lầu năm góc đã ban hành 18 bài tập mô phỏng chiến tranh chống lại Trung Quốc trên Đài Loan và lần nào thì Trung Quốc cũng đã thắng. Washington nên làm rõ rằng bất kỳ chiến thắng nào như vậy cũng sẽ là chiến thắng kiểu Pyrros[vii][8], dẫn đến sự sụp đổ kinh tế ở Hongkong hoặc Đài Loan, sự di cư hàng loạt từ các đảo đó và sự lên án của quốc tế. Nếu Bắc Kinh hành động một cách mau lẹ [nguyên văn: dốc/dựng đứng] ở Hongkong hoặc Đài Loan, chính sách hợp tác của Mỹ sẽ trở nên không thể biện hộ được trong nhiều năm.

Sự đồng thuận mới về Trung Quốc bắt nguồn từ nỗi sợ hãi rằng một lúc nào đó nước này có thể chiếm lấy toàn cầu. Nhưng có lý do để có niềm tin vào sức mạnh và mục đích của Mỹ. Cả Liên Xô lẫn Nhật Bản đều không thể chiếm lĩnh thế giới, bất chấp những lo ngại tương tự về sự trỗi dậy của họ. Trung Quốc đang trỗi dậy nhưng phải đối mặt với một loạt thách thức nội bộ, từ sự suy vi nhân khẩu học đến hàng núi nợ nần. Nó đã thay đổi trước đó và sẽ buộc phải thay đổi một lần nữa nếu các lực tích hợp và răn đe tiếp tục đè lên nó. Giới tinh hoa Bắc Kinh biết rằng đất nước của họ đã thịnh vượng trong một thế giới cởi mở và ổn định. Họ không muốn phá hủy thế giới đó. Và mặc dù có một thập kỷ trì trệ chính trị trên đại lục, mối liên hệ giữa sự trỗi dậy của tầng lớp trung lưu và đòi hỏi mở cửa chính trị lớn hơn nữa là có thật, như đối với hai xã hội Trung Quốc vẫn được Bắc Kinh theo dõi sát sao – Hồng Kông và Đài Loan.

Một số nhà quan sát Mỹ nói về quan điểm lâu dài của Trung Quốc, về kế hoạch bí mật, kiên nhẫn của nó thống trị thế giới, liên tục được thực hiện kể từ năm 1949, nếu không phải là từ trước đó. Học giả và cựu quan chức Bộ quốc phòng Mỹ, Michael Pillsbury, đã gọi nó là ‘cuộc đua marathon trăm năm’ của Trung Quốc trong một cuốn sách thường được chính quyền Trump ca ngợi. Nhưng một bức tranh chính xác hơn là về một đất nước đã chần chừ một cách phù hợp từ một liên minh chặt chẽ với Liên Xô đến sự chia rẽ Trung-Xô, từ Đại nhảy vọt tới Cách mạng văn hóa đến một câu chuyện thành công tư bản, và từ sự thù địch sâu sắc đối với phương Tây tới quan hệ chặt chẽ với Mỹ rồi quay trở lại việc tán tỉnh với thái độ thù địch. Nếu đây là một cuộc đua marathon, nó đã thực hiện một số bước ngoặt kỳ lạ, nhiều trong số đó có thể đã chấm dứt nó hoàn toàn.

Trong khi đó, kể từ năm 1949, Mỹ đã kiên nhẫn đưa ra các cấu trúc và chính sách để tạo ra một thế giới ổn định, cởi mở và hội nhập hơn; đã giúp các nước bước vào thế giới đó; và đã răn đe những kẻ tìm cách phá hủy nó – tất cả đều thành công đáng kinh ngạc. Washington đã là cái đối ngược với sự do dự/dao động hay tập trung quá mức xét về ngắn hạn. Vào năm 2019, quân đội Mỹ vẫn ở bên bờ sông Rhine, họ vẫn đang bảo vệ Seoul và họ vẫn ở Okinawa.

Trung Quốc đưa ra một thách thức mới và lớn. Nhưng nếu Washington có thể giữ bình tĩnh và kiên nhẫn tiếp tục theo đuổi chính sách cam kết cộng với răn đe, buộc Trung Quốc phải điều chỉnh, trong khi [Mỹ] cũng tự điều chỉnh để tạo không gian cho nó, một học giả nào đó trong nhiều thập kỷ từ bây giờ có thể viết về kế hoạch không có gì là bí mật của Mỹ nhằm mở rộng khu vực hòa bình, thịnh vượng, cởi mở và quản trị tốt trên toàn cầu – một chiến lược marathon đã có kết quả.

________

[i] Fareed Zakaria: Nhà báo Mỹ gốc Ấn Độ, năm nay mới 55 tuổi song đã rất thành công trong sự nghiệp báo chí. Tốt nghiệp ĐH Yale và lấy bằng PhD tại ĐH Harvard, F. Zakaria giữ nhiều mục cho các kênh tivi như CNN hay các tạp chí danh tiếng như Foreign Affairs, Washington Post, Newsweek… Khá nổi tiếng, mặc dù còn khá trẻ, với những suy nghĩ tự do, độc đáo và độc lập.

[i] Yuen Yuen Ang: Nhà khoa học chính trị người gốc Singapore, PGS về khoa học chính trị tại ĐH Michigan, trước khi về làm PGS cho ĐH Michigan (2011) cô đã là trợ lý giáo sư tại ĐH Columbia. Tốt nghiệp loại xuất sắc nhất (Summa Cum Laude) ĐH Colorado, lấy bằng thạc sĩ (2003) và PhD (2009) về khoa học chính trị. Là một chuyên gia am hiểu về Trung Quốc, diễn giảng nhiều và viết nhiều cho các tạp chí/báo (như Bloomberg, Foreign Affairs, Project Syndicate, Wall Street Journal…) về Trung Quốc. Các tác phẩm (sách, bài báo…) của cô được nhiều giải thưởng và được nhiều hãng tin, báo, tạp chí trích dẫn.

[ii] Nicholas Lardy: Nhà kinh tế học, thành viên cao cấp danh hiệu Anthony M. Solomon tại PIIE (Peterson Institute for International Economics, Viện Peterson về kinh tế quốc tế, Washington D.C.), chuyên gia giỏi về kinh tế Trung Quốc, tác giả của vài chục đầu sách về Trung Quốc. N. Lardy đồng thời là thành viên và là biên tập viên trong ban biên tập của Asia Policy và China Review, Hội đồng quan hệ quốc tế CFR (Council on Foreign Relations, một think-tank hàng đầu thế giới về quan hệ quốc tế, có ảnh hưởng nhất ở Mỹ). N. Lardy tốt nghiệp ĐH Wisconsin (1968) và lấy bằng PhD tại ĐH Michigan (1975), đều về kinh tế học.

[iii] Hệ thống kiểu Orwell: Mang tên nhà văn, nhà báo và nhà phê bình người Anh từng mô tả một kiểu điều kiện xã hội ‘biểu thị một thái độ và chính sách tàn bạo kiểm soát hà khắc bằng công tác tuyên truyền, giám sát, thông tin sai, chối bỏ sự thật và thao túng quá khứ’.

[iv] Tiếng Việt thường được dịch là ‘Giấu mình chờ thời’. Nguyên bản tiếng Trung Quốc của câu ngạn ngữ đó là 韜光養晦 (thao quang dưỡng hối), nghĩa đen là ‘giấu ánh sáng nuôi dưỡng bóng tối’, do Đặng Tiểu Bình sử dụng để ẩn dụ về chính sách đối ngoại của Trung Quốc khi đó.

[v] Cái bẫy Thucydides (Thucydides trap): Thucydides (nhà sử học thực chứng đầu tiên trên thế giới) đã viết từ hơn 2400 năm trước trong cuốn ‘Lịch sử chiến tranh Peloponnesus’ về nguyên nhân của cuộc chiến tranh: ‘sự lớn mạnh của cường quốc Athens và nỗi lo sợ mà nó gây ra ở Sparta’. Nói một cách khác, khi một cường quốc trỗi dậy, một cường quốc đã sẵn có sẽ lo ngại và chuẩn bị chiến tranh, với cái này biến thành một vòng luẩn quẩn thì rút cục sẽ dẫn đến chiến tranh. Khái niệm ‘cái bẫy Thucydides’ đã được G. T. Allison (GS nổi tiếng về khoa học chính trị tại Trường hành chính Kennedy, ĐH Harvard) đặt ra và sử dụng để ám chỉ rằng sự lo ngại của Mỹ trước sức mạnh đang tăng lên của Trung quốc có thể chuyển hóa thành chiến tranh (nóng hay lạnh). Trong bài báo có tựa đề ‘The Thucydides Trap’, Foreign Policy 9-6-2017, G. Allison đã tổng kết rằng ‘trong 500 năm qua đã có 16 trường hợp trong đó một cường quốc đang nổi lên đe doạ sẽ thay thế một cường quốc cầm quyền. Mười hai trong số này đã kết thúc trong chiến tranh.’ Bốn trường hợp còn lại, theo G. Allison là ‘Tây Ban Nha vượt qua Bồ Đào Nha vào cuối thế kỷ 15, Mỹ vượt qua Anh vào đầu thế kỷ 20, và sự trỗi dậy của Đức ở châu Âu từ năm 1990 – sự đi lên của Liên bang xô viết là một bài học độc nhất vô nhị ngày hôm nay. Mặc những khoảnh khắc mà một cuộc đụng độ dữ dội dường như đã chắc chắn diễn ra, một sự dâng trào trí tưởng tượng chiến lược đã giúp cả hai bên phát triển các cách cạnh tranh mà không xảy ra một cuộc xung đột thảm khốc. Cuối cùng, Liên bang xô viết đổ ụp và Chiến tranh lạnh kết thúc với một tiếng rên chứ không phải bằng một tiếng nổ.’

[vi] Tổ hợp công nghiệp-quân sự (MIC, Military-Industrial Complex): Liên minh nhằm những mục đích chung giữa những nhân vật hoạch định chính sách, các tướng lĩnh quân đội với các công ty sản xuất/cung ứng đồ quân sự cũng như những tầng lớp trong xã hội quan tâm tới ngân sách quốc phòng, bao gồm cả những người vận động hành lang. Tổng thống Mỹ Dwight D. Eisenhower, đưa ra khái niệm này lần đầu vào năm 1961 trong diễn văn từ biệt đọc trước quốc hội, cảnh báo về nguy cơ có thể gây hại cho xã hội của liên minh công nghiệp-quân phiệt móc ngoặc và thao túng đó. Xin lưu ý không nên nhầm lẫn với khái niệm Tổ hợp công nghiệp quốc phòng (DIC, Defence-Industrial Complex, trong tiếng Nga là Военно-Промышленный Комплекс, nếu được dịch sát từng chữ cũng sẽ là ‘Tổ hợp công nghiệp-quân sự’ nên hay gây nhầm lẫn) vẫn được các nhà nghiên cứu lịch sử thiên về kinh tế của các nước phương Tây sử dụng để chỉ Phức hợp công nghiệp-quân sự trong quá trình nghiên cứu về công nghiệp quân sự Liên xô trước đây – bao gồm công nghiệp quốc phòng, các đơn vị nghiên cứu và sản xuất của nó, lực lượng lao động và hệ thống quản lý, các nhà máy và các nhà lãnh đạo, không bao hàm các lãnh đạo Đảng, nhà nước, quân đội chuyên nghiệp cũng như một số thành phần khác.

[vii] Chiến thắng kiểu Pyrros (Pyrrhic victory): Là chiến thắng mang tính hủy diệt đối phương song bên chiến thắng cũng tổn thất nặng nề, có thể dẫn tới diệt vong. Pyrros là vua và là chỉ huy quân sự kiệt xuất xứ Ipiros (Hy Lạp cổ đại), từng chiến thắng, đánh tan tác quân La Mã trong các trận đánh tại Heraclea (280 TCN) và Asculum (279 TCN) song mất rất nhiều binh lực và tướng tài, bản thân nhà vua cũng bị thương. Sau chiến thắng Asculum, quần thần dâng lời tôn vinh chiến công, nhà vua nói rằng ‘Thêm một trận thắng như vậy thì sự nghiệp của trẫm cũng đi đời’. Thực tế thì, mặc dù quân La Mã bị tổn thất nặng hơn quân Ipiros rất nhiều trong các trận Heraclea và Asculum song La Mã có tiềm lực hơn hẳn Ipiros (các thiệt hại không bù đắp được) nên tới năm 275 TCN thì La Mã đánh bại Ipiros.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

UNCLOS là “Hiến pháp của Đại dương”

UNCLOS là “Hiến pháp của Đại dương”

Tại Đà Nẵng, một thành phố miền Trung của Việt Nam vừa diễn ra một Diễn đàn quan trọng. Đây là một cuộc gặp gỡ của đông đảo các quan chức, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu quốc tế. Cuộc gặp gỡ mang tên Diễn đàn Biển ASEAN (AMF) lần thứ 9 và Diễn đàn Biển ASEAN mở rộng (EAMF) lần thứ 7.

Toàn cảnh Diễn đàn Biển ASEAN (AMF) lần thứ 9 diễn ra ngày 5/12 tại Đà Nẵng, Việt Nam

Diễn đàn này được tổ chức trong bối cảnh tình hình Biển Đông tiếp tục có những diễn biến căng thẳng, nguyên nhân chủ yếu so Trung Quốc tiếp tục có nhiều hoạt động leo thang quân sự và Mỹ có những động thái cứng rắn. Bắc Kinh mô tả những hành động này là “phô diễn cơ bắp”, yêu cầu Washinghton phải dừng ngay “trò lố”!

Các quan khách đã nhấn mạnh nguyên tắc tự kiềm chế, không có các hành động làm phức tạp tình hình và gia tăng tranh chấp. Yêu cầu các bên liên quan triệt để tuân thủ luật pháp, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, mọi tranh chấp phải được giải quyết trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước quốc tế về luật biển năm 1982 (UNCLOS).

Muốn thực hiện được điều đó, yêu cầu các quốc gia, không phân biệt “lớn” hay “nhỏ”, đều bình đẳng trước luật pháp quốc tế. Phải coi UNCLOS là “Hiến pháp của Đại dương”. Hiến pháp ấy là nền tảng, là cơ sở của mọi cơ sở, lí lẽ của mọi lí lẽ thiết lập trật tự pháp lý, điều chỉnh mọi hoạt động trên biển của các nước.

Trong những năm qua, Trung Quốc đã cố tình vi phạm “Hiến pháp của Đại dương”. Mặc dù UNCLOS không công nhận “quyền lịch sử” mà Bắc Kinh tự vẽ ra. Những yêu sách bất hợp pháp không thể coi là cơ sở để khẳng định “đang có tồn tại các vùng biển tranh chấp do bị chồng lấn”.Thực ra cái mà Trung Quốc la ó đang bị tranh chấp giữa quốc gia này với các nước khác không hề có tranh chấp. Không thể có chuyện một quốc gia nhỏ yếu hơn lại âm mưu chiếm đảo, chiếm biển của một quốc gia lớn, có tiềm năng kinh tế, quân sự lớn hơn mình.

Bạn đọc chỉ cần quan sát trên thực địa đủ thấy hành động vây ép, xâm lấn của Trung Quốc. Đó là tại các khu vực hoạt động của nhóm tàu khảo sát Hải Dương 8 tại bãi Tư Chính cách bờ biển Việt Nam chưa đến 200 hải lý. Trong khi bãi này cách bờ biển Trung Quốc tới hơn 500 hải lý. Chả cần tính toán cao siêu gì, ai cũng thấy đó là đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam.

Chỉ có quốc gia nào có quần đảo mới có quyền thiết lập đường cơ sở quần đảo bao quanh. Căn cứ vào đường cơ sở mà thiết lập vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Theo đó, Trường Sa là của Việt Nam, đó quyết không phải quốc gia quần đảo. Vì thế làm gì có cái gọi là “đường cơ sở quần đảo”. Sau khi các cơ sở hậu cần, bảo đảm ở Trường Sa hoàn thành Trung Quốc đã thực hiện chiến thuật “Căng thẳng cường độ chậm” trên Biển Đông. Các đảo nhân tạo vừa được móc san hô từ đáy biển lên bồi đắp đã hóa cơ sở cung cấp dịch vụ chỉ huy, kiểm soát, thông tin liên lạc và dự báo thời tiết. Từ đây lũ lượt tàu hải giám và tàu thân trắng của Trung Quốc tràn xuống Trường Sa giễu võ giương oai, hết nhiên liệu lại chạy về tiếp tế.

Vậy là những đá mới được tôn tạo trở thành các căn cứ quân sự, hậu cần-kỹ thuật ở Trường Sa. Nước này đã lấy đó làm “mốc” để vươn vòi bạch tuộc tới các vùng biển. Các đá như Vành Khăn, Chữ Thập, Xu Bi… mà Trung Quốc cưỡng chiếm của Việt Nam không thể đính thêm viên “ngọc” là vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Rõ ràng hành động tự ý diễn giải quy định của UNCLOC là điều không thể chấp nhận trong một thế giới văn minh, cần phải lên án mạnh mẽ hơn và ngăn chặn bằng những giải pháp tổng hợp về kinh tế, ngoại giao và quân sự.

 

Toàn cảnh Diễn đàn Biển ASEAN (AMF) lần thứ 9 diễn ra ngày 5/12 tại Đà Nẵng, Việ

Categories: Biển Đông | Leave a comment

PHẬT PHÁP GIỮA ĐỜI THƯỜNG 5

PHẬT PHÁP GIỮA ĐỜI THƯỜNG 5
Cao Thanh Bình
Nhà xuất bản Hồng Đức

Phật Pháp Giữa Đời Thường 5 cover (1)

 

LỜI TỰA

Đức Phật từng dạy, chúng sinh còn trong lục đạo luân hồi thì phải chịu nhiều nỗi khổ. Sướng vui trên đời thường ngắn ngủi, còn lại không ai tránh được quy luật Sanh, Lão, Bệnh, Tử. Không chỉ thế, ngày ngày ta còn đối mặt với nhiều nỗi khổ khác như gặp điều mình không ưa thích, sống cách xa người mình yêu thương, mong cầu nhiều nhưng không đạt… Thực hiếm ai được may mắn vẹn toàn, vì thông thường người được cái này lại mất cái kia.

Sự khác nhau giữa người tu hành và người chưa tu hành chính là ở chỗ cách nhìn nhận và thái độ khi đối mặt với khổ đau. Thường thì sẽ có người gục ngã, có người oán hận, có người chạy trốn. Nhưng với người đã học và hành theo lời Phật dạy, họ quán chiếu được khổ đau hay hạnh phúc cũng đều là giả tạm. Nhờ vậy, họ ngày ngày dạo chơi trong cuộc đời, dạo chơi trong bể khổ mà tâm vẫn an lạc.

Khổ trong tâm mà ra nên người tu hành luôn quay vào trong tâm để quan sát, để hiểu, để bao dung và để buông bỏ. Còn chấp thì còn khổ, buông bỏ là giải thoát. Khi thấy có thì nó có, khi thấy không thì không, đơn giản chỉ vậy thôi.

TP. HCM, 2019

MỤC LỤC

Bài 1: Những Giấc Mơ
Bài 2: Rồi Một Ngày Nó Nhận Ra

Bài 3: Trên Đường Ta Đi
Bài 4: Sống Thật
Bài 5: Mỗi Ngày Một Ngày Vui
Bài 6: Đừng Quên Làm Điều Mình Muốn
Bài 7: Có Phải Thừa Còn Hơn Thiếu?
Bài 8: Một Nửa Sự Thật Không Phải Là Sự Thật
Bài 9: 24 Giờ
Bài 10: Biết Ơn
Bài 11: Khoan Dung
Bài 12: Cảm Thông
Bài 13: Than Thở
Bài 14: Tự Ái
Bài 15: Im Lặng Đáng Sợ
Bài 16: Thương Nhau Đừng Làm Khó Cho Nhau …
Bài 17: Vô Cảm
Bài 18: Đừng Giữ Kín Khó Khăn
Bài 19: Cô Độc
Bài 20: Chắc Gì Ta Đã Hiểu
Bài 21: Hài Lòng Với Chính Mình?
Bài 22: Không Có Nghiệp Nào Là Nhỏ
Bài 23: Không Phải Tại Trời Bất Công
Bài 24: Chớ Vay Khi Chưa Cần Thiết
Bài 25: Nhẹ Nhàng Thanh Thản
Bài 26: Thói Quen Trói Buộc
Bài 27: Làm Phúc Là Bón Phân Cho Đất
Bài 28: Chắt Chiu Phước Báu
Bài 29: Thiểu DụcTri Túc
Bài 30: Bóng Đêm Và Ánh Sáng
Bài 31: Bóng Mát Theo Ta
Bài 32: Ba Người Trong Nhà Lửa
Bài 33: Học Giả Và Hành Giả
Bài 34: Hý Luận
Bài 35: Hít VàoThở Ra
Bài 36: Yêu Thương
Bài 37: Nước Mắt Chảy Xuôi
Bài 38: Trong Con Có Ba Có Mẹ
Bài 39: Quê Nội
Bài 40: Ký Ức
Bài 41: Mùa Xuân
Bài 42: Ngồi Thiền Và Câu Bát Nhã
Bài 43: Cảnh Giác Với Nội Ma
Bài 44: Đức Phật Hàng Phục Ma Vương
Bài 45: Vạn Pháp Giai Không
Bài 46: Vô Ngã
Bài 47: Vô Thường
Bài 48: Thọ Là Khổ
Bài 49: Tam Pháp Ấn
Bài 50: Ngày Cuối Năm

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Sea Games 30: Tuyển Việt Nam lọt vào chung kết sau 10 năm

Sea Games 30: Tuyển Việt Nam lọt vào chung kết sau 10 năm

  • 7 tháng 12 2019
Tuyển U22 bóng đá nam của Việt NamBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTuyển U22 bóng đá nam của Việt Nam trưởng thành qua từng trận đấu tại Sea Games 30 ở Philippines

Thầy trò HLV Park Hang-seo đã không cho U22 Campuchia bất cứ cơ hội nào để tạo nên bất ngờ khi sớm định đoạt trận đấu ngay trong hiệp một, qua đó ghi tên mình vào trận chung kết bóng đá nam SEA Games 30.

Dù đối thủ U22 Campuchia bị đánh giá thấp hơn khá nhiều song tính chất quan trọng của vòng bán kết khiến HLV Park Hang-seo chỉ đưa ra đúng hai sự thay đổi so với trận gặp Thái Lan hai ngày trước: Đức Chinh thay Tấn Tài và Đức Chiến thay Việt Hưng.

Với sự thận trọng

Sự thận trọng trước hết được thể hiện ở cách bố trí đội hình xuất phát của HLV Park Hang-seo khi Đức Chiến, người vốn sở trường là một trung vệ được đẩy lên đá tiền vệ phòng ngự.

SEA Games 30: Việt Nam ngược dòng, loại Thái Lan

‘Việt Nam chưa bao giờ thắng Thái Lan ở Sea Games’

Bóng đá SEA Games: Việt Nam đá hay, nhưng còn hồi hộp

Sự góp mặt của Đức Chiến cùng với việc Đức Chinh ra sân ngay từ đầu bên cạnh Tiến Linh trên hàng công tạo nên lần đầu tiên ở SEA Games năm nay, U22 Việt Nam xuất phát với hệ thống 3-5-2, một sơ đồ chiến thuật giúp đảm bảo sự chắc chắn ở tuyến giữa.

Đơn giản nhưng hiệu quả

Trước một U22 Campuchia tràn đầy hưng phấn và quyết tâm, U22 Việt Nam dù không thi đấu thật sự lấn lướt về mặt thế trận nhưng vẫn dễ dàng giải quyết cuộc chơi bằng những miếng đánh đơn giản nhưng vô cùng hiệu quả.

Image captionHuấn luyện viên Park Hang-seo dẫn dắt U22 Việt Nam lọt vào chung kết U22 bóng đá nam sau 10 năm

Trong bốn bàn thắng của U22 Việt Nam, hai bàn thắng đầu tiên đến từ những tình huống chuyển trạng thái mẫu mực với chỉ cần hai, ba đường chuyền để đưa trái bóng từ phần sân nhà áp sát khung thành đối phương; đặc biệt bàn thứ nhất và bàn thứ ba đến từ những pha tạt cánh đánh đầu cơ bản trong bóng đá.

Trong khi đó, bàn thứ tư lại đến từ một kịch bản quen thuộc khác là tình huống cố định, miếng đánh được xem là sở trường của các đội tuyển Việt Nam dưới thời HLV Park Hang-seo, nhất là khi đội bế tắc trong tấn công.

Nhân tố Hà Đức Chinh

Chiến thắng trước Campuchia xứng đáng là màn trình diễn của riêng Hà Đức Chinh khi tiền đạp người Phú Thọ đóng góp hai bàn thắng cùng một kiến tạo.

Trong đó, đáng chú ý khi cả hai bàn thắng của Đức Chinh đều được ghi bằng đầu, tính rộng ra trong 7 bàn thắng của Đức Chinh tính tới thời điểm này thì có tới 6 bàn được ghi bằng đầu.

Tuy nhiên, nếu chỉ xét về đóng góp trong khâu kiến tạo hay ghi bàn thì chưa đủ với những gì Đức Chinh đã thể hiện.

Tiền đạo đang khoác áo Đà Nẵng luôn mang đến sự đột biến cho hàng công U22 Việt Nam mỗi khi xuất hiện trên sân nhờ tốc độ, sức mạnh và khả năng hoạt động rộng.

Sự trở lại của Đức Chinh giúp HLV Park Hang-seo đang có trong tay một cặp tiền đạo hoàn hảo Đức Chinh – Tiến Linh, những người mà phẩm chất của họ vừa đủ bù khuyết cho nhau một cách hài hòa.

Điều này sẽ giúp thầy Park có thể tính đến phương án sử dụng hệ thống 3-5-2 thường xuyên hơn, một hệ thống có sự cân bằng giữa phòng ngự và tấn công tốt hơn so với 3-4-3.

Campuchia quá non”

Image captionTiền đạo Hà Đức Chinh ăn mừng bàn thắng thứ tư của Việt Nam vào lưới Campuchia

Trong khi U22 Việt Nam cho thấy sự già rơ và lọc lõi trong cách bày binh bố trận thì ở chiều ngược lại, U22 Campuchia trong lần đầu tiên vào bán kết SEA Games lại tỏ ra quá “non nớt”.

Thay vì chọn thế trận của đội “cửa dưới” quen thuộc, U22 Campuchia lại dồn quân lên đôi công với U22 Việt Nam ngay sau tiếng còi khai cuộc và ngay lập tức phải trả giá với hai bàn thua đầu tiên đều đến từ một kịch bản là các tình huống rót bóng ra sau lưng hàng phòng ngự dâng cao đến từ U22 Việt Nam.

Ngay cả trong cơ hội rõ rệt nhất để có bàn thắng danh dự những phút cuối trận, tiền đạo của U22 Campuchia cũng dứt điểm quá hiền để thủ môn Văn Toản cản phá.

‘Thỏa nỗi chờ mong’

Chiến thắng trước U22 Campuchia đã giúp U22 Việt Nam trở lại với trận chung kết SEA games sau ròng rã 10 năm chờ đợi.

Thật trùng hợp khi nếu như 10 năm trước, Thành Lương và các đồng đội đã để thua đau đớn trước Malaysia, đối thủ mà chúng ta đã đánh bại tại vòng bảng năm ấy thì đến trận chung kết sắp tới, đối thủ của U22 Việt Nam là Indonesia, đối thủ mà thầy trò HLV Park Hang-seo giành chiến thắng 2-1 tại vòng bảng.

Đó sẽ là một trận đấu hứa hẹn cực kỳ khó khăn cho U22 Việt Nam trước lối chơi tốc độ, mạnh mẽ của Indonesia.

Lợi thế của U22 Việt Nam là chất lượng nhân sự cũng như vấn đề thể lực khi chúng ta không mất quá nhiều sức để thắng Campuchia trong khi U22 Indonesia cần tới hai hiệp phụ để vượt qua U22 Myanmar.

Tuy nhiên, U22 Indonesia lại sở hữu lợi thế về mặt tâm lý khi họ được xếp “cửa dưới” và không chịu nhiều áp lực như U22 Việt Nam.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả.

Categories: Tin-Tức Thế-Giới | Leave a comment

Ảnh hưởng của cha mẹ đối với sự thăng tiến của con

Ảnh hưởng của cha mẹ đối với sự thăng tiến của con

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES

Có vô số yếu tố có thể ảnh hưởng đến cách bạn cư xử với đồng nghiệp.

Có nhiều thứ cách khác nhau trong công sở, như tính cách của sếp và rộng hơn là môi trường văn hóa công ty.

Bạn có phải là người có tố chất lãnh đạo?

Cách tuyển dụng truyền thống của Nhật đang mất đi?

Người bị quá nhiều việc cần dùng chiến thuật gì?

Tuy nhiên, nếu bạn thấy bản thân liên tục rơi vào tình cảnh vô dụng – như là bạn phải khổ sở tìm cách tiếp nhận những phản hồi tiêu cực, tránh né việc phải nhờ vả đồng nghiệp giúp đỡ, hay nỗi sợ thất bại – thì có thể có những nguyên nhân khác khó thấy hơn đứng đằng sau.

Bản chất mối quan hệ của cha mẹ bạn, và đặc biệt là cách họ giải quyết vấn đề – thân thiện, có tính xây dựng, hay xung đột, gây gổ nhau – có thể là các yếu tố định hình cách bạn giao tiếp, ứng xử với người xung quanh.

Nếu cha mẹ bạn thường xuyên cãi nhau, hay thậm chí còn xung đột gay gắt hơn, thì theo ngôn ngữ tâm lý học, họ đã định hình ở bạn “tính gắn bó”. Tính cách này có thể làm lu mờ khả năng hình thành quan hệ lành mạnh tại công sở của bạn.

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionNếu bạn khổ sở khi phải đón nhận những lời phê bình tiêu cực thì không hẳn đây là tính cách của bạn – nó có thể liên quan đến “tính gắn bó” của bạn

Thuyết gắn bó lần đầu tiên được công bố bởi nhà tâm lý học người Anh John Bowlby hồi giữa thế kỷ trước.

Nhà rộng làm cuộc sống gia đình tốt hơn?

Những cặp vợ chồng phải sống xa nhau ở Hong Kong

Mẹo lừa hữu hiệu khiến người khác làm theo ý mình

Ông cho rằng các mối quan hệ ban đầu của con người – đặc biệt là quan hệ với cha mẹ – sẽ định hình cách ta ứng xử với những người khác trong suốt cuộc đời, gọi là “tính gắn bó”.

Nói một cách căn bản thì con người có thể có sự “gắn bó an toàn”, “gắn bó lo âu”, hay “gắn bó tránh né”.

“Gắn bó an toàn” có ở người tự tin vào giá trị bản thân và tin tưởng người khác.

Những ai có xu hướng “gắn bó lo âu” thì coi nhẹ bản thân và sợ bị người khác từ chối và bỏ mặc, liên tục tìm kiếm sự trấn an.

Còn những người “gắn bó tránh né” thì cực kỳ không tự tin và không tin tưởng người khác. Họ tìm cách thích nghi bằng cách ngay từ đầu tránh né quá gần gũi với người khác.

Có rất nhiều yếu tố tạo ra các kiểu gắn bó phát triển trong ta, trong đó bao gồm cả phản ứng của cha mẹ cũng như tính cách bản thân ta, và phần tính cách này tự thân cũng thể hiện nhiều yếu tố liên quan đến môi trường và gene.

Tuy nhiên, có một yếu tố khác nữa, đó là mối quan hệ giữa cha và mẹ.

Với con trẻ, cha mẹ là hình mẫu thể hiện gợi ý sự bất đồng nên được giải quyết ra sao trong mối quan hệ tình cảm gần gũi – và liệu bất đồng đó có được giải quyết không – nghiên cứu chỉ ra điều này gây ảnh hưởng đến kiểu gắn bó của trẻ trong tương lai.

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES

Những nghiên cứu kiểu này thông thường chịu ảnh hưởng từ sự trùng gene – nghĩa là bất cứ liên hệ nào giữa hành vi của con cái và hành vi của cha mẹ đều có thể giải thích, ít nhất là phần nào đó, dựa trên những gene giống nhau họ có.

Tuy nhiên, giới hạn này xem xét một nghiên cứu thực hiện với 157 cặp đôi, phát hiện ra những người có cha mẹ ly hôn khi họ còn nhỏ thường có kiểu gắn bó lo âu khi trưởng thành.

Một nghiên cứu do các nhà tâm lý học từ Đại học Purdue Calumet ở bang Indiana, đề nghị 150 sinh viên nhớ lại những xung đột trong tình cảm của cha mẹ và sau đó tự đánh giá kiểu gắn bó của bản thân. Những sinh viên nhớ được nhiều xung đột hơn có xu hướng theo kiểu gắn bó lo âu và tránh né hơn.

Trong nhiều năm, thuyết gắn bó gần như luôn được áp dụng để tìm hiểu kiểu gắn bó của con người, hình thành từ khi thơ bé, tác động đến hành vi và mối quan hệ tình cảm khi họ trưởng thành (cũng không có gì đáng ngạc nhiên, hai kiểu gắn bó bất an có liên hệ với đời sống tình cảm không tốt khi trưởng thành).

Tuy nhiên, ngày càng nhiều nhà tâm lý học công sở đang dùng đến thuyết gắn bó để giải thích hành vi của nhân viên trong văn phòng, với ngày càng nhiều nghiên cứu chọn cách tiếp cận này trong vài năm gần đây.

Xu hướng cá nhân

Kiểu gắn bó của bạn có thể ảnh hưởng đến hành vi trong công việc theo nhiều cách khác nhau.

Chẳng hạn, nếu bạn là người gắn bó lo âu, bạn dễ cảm thấy lo sợ khi phải đối diện với nguy cơ bị từ chối và dẫn đến thể hiện kém trong công việc (tuy nhiên ưu điểm là bạn sẽ cảnh giác trước nguy cơ hơn, và thể điều này sẽ khiến bạn là người rất thích hợp để tiết lộ ra những tin liên quan tới hành vi sai trái).

Nếu bạn có kiểu gắn bó tránh né, bạn có xu hướng không tin tưởng lãnh đạo và đồng nghiệp.

Quá trình tâm lý rất sâu này cũng ảnh hưởng đến người làm sếp – chẳng hạn, những người theo kiểu gắn bó yên tâm sẽ có xu hướng dễ trao quyền hơn.

Những phát hiện trên được chứng minh bằng nhiều câu chuyện cá nhân.

Sabrina Ellis, 32 tuổi, y tá về sức khỏe tâm thần và nhà tâm lý học tư vấn về các vấn đề trong công sở, nhớ lại những xô xát về lời nói và hành động của cha mẹ cô, và sau đó là giữa mẹ và người cha dượng.

“Suốt thời gian lớn lên… không có bất cứ người lớn nào dù là đàn ông hay phụ nữ trong nhà mà tôi có thể tin tưởng, và tôi cảm thấy như mình phải tự bảo vệ bản thân dù còn rất trẻ,” cô kể lại.

Sabrina tin rằng điều này gây ra nhiều vấn đề trong thời gian đầu cô mới bước vào sự nghiệp, đặc biệt là trong việc cố xây dựng lại niềm tin với những đồng nghiệp nam khiến cô thất vọng.

Kiran Kauer, tư vấn quản trị 34 tuổi, tin rằng mối quan hệ của cha mẹ cô đã ảnh hưởng đến cô theo cả hướng tích cực lẫn tiêu cực.

Họ tránh xung đột với nhau và thể hiện bề ngoài hòa hợp (đây là điều mà thỉnh thoảng Kauer cũng cố gắng bắt chước trong nhóm làm việc của cô), nhưng đồng thời họ cũng cố tìm cách áp chế người kia bất kỳ khi nào hai bên có khác biệt quan điểm.

“Điều này ảnh hưởng tới cách tôi tiếp cận công việc với nhóm vì tôi cũng không kêu gọi thảo luận cởi mở,” cô chia sẻ.

Dù vậy, kiểu gắn bó của bạn không phải là định mệnh. Một nghiên cứu gần đây cho thấy kiểu gắn bó sẽ biến đổi ở mức độ nào đó trong đời tùy theo hoàn cảnh trong từng thời kỳ.

Nếu bạn may mắn có một người bạn đời đáng tin cậy và tin yêu, bạn sẽ có thêm nhiều tự tin và biết tin tưởng vào người khác – thể hiện ở kiểu gắn bó an toàn. Đây là quá trình “nghịch lý phụ thuộc” – nghĩa là có ai đó để dựa vào và từ đó tăng tính độc lập.

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES

Đồng thời, khi bạn nhận thức rõ hơn về xu hướng trong mối quan hệ của bản thân, từ những trải nghiệm ấu thơ, bạn có thể từng bước cải thiện hay biến đổi để tận dụng xu hướng đó.

Kauer cho biết sự né tránh xung đột và đầu óc không cởi mở, điều mà cô tin rằng đã hình thành trong cô từ những gì xảy ra trong gia đình, là thứ mà cô bắt đầu tìm cách giải quyết từ 10 năm trước khi một đồng nghiệp chỉ ra cho cô. “Tôi [hiện giờ] sẵn sàng thảo luận và cố gắng cởi mở nhất có thể,” cô nói.

Ellis cũng tìm ra cách thích nghi theo hướng tích cực.

“Trong suốt sự nghiệp của mình, tôi đã luôn tránh né xung đột và ý thức học về những cách thức mới để giải quyết vấn đề, thể hiện sự lo lắng chuyên nghiệp bằng cách tập trung vào tìm kiếm giải pháp,” cô chia sẻ.

“Điều này rất năng suất và [đã giúp tôi] thành công khi làm lãnh đạo nhóm và là đồng nghiệp với những chuyên gia khác.”

Cách bạn ứng xử với mọi người trong công việc có thể bắt nguồn từ rất sâu xa đâu đó, nhưng nếu như tâm lý học có thể dạy ta điều gì thì đó chính là ta luôn có thể học tập suốt đời.

Điều đó cũng đúng với kiểu gắn bó và nhân cách của bạn, tương tự như khi học ngôn ngữ mới hay tập môn thể thao nào đó mới.

Nói theo cách của các nhà tâm lý học, thì việc nhận thức rõ hơn về những mối quan hệ giữa con người với nhau và nguồn gốc của chúng có nghĩa là bạn có thể thích nghi và trở thành đồng nghiệp hay nhà quản lý hiệu quả hơn.

Bài tiếng Anh đã đăng trên BBC Worklife.

Categories: Tin-Tức Thế-Giới | Leave a comment

Giới học giả tại Nga, Hàn Quốc, Mỹ và Thụy Sĩ tích cực thể hiện quan điểm và tiếng nói trong vấn đề Biển Đông trong năm 2019

Giới học giả tại Nga, Hàn Quốc, Mỹ và Thụy Sĩ tích cực thể hiện quan điểm và tiếng nói trong vấn đề Biển Đông trong năm 2019

Năm 2019, giới nghiên cứu và học giả quốc tế, khu vực đã đóng góp tiếng nói quan trọng trong quá trình giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông. Những hội thảo quốc tế tại các nước như Nga, Hàn Quốc, Mỹ và Thụy Sĩ… là nơi các sự kiện, diễn biến tại Biển Đông được đưa ra phân tích, đánh giá trên cơ sở luật pháp quốc tế bằng thực tiễn và học thuật. Điều này đã giúp dư luận có những nhận thức đầy đủ, khách quan và chính xác về tình hình.

Tại Nga

1. Hội thảo quốc tế “Tranh cãi trên biển Biển Đông và tìm kiếm giải pháp hòa bình” do Quỹ quốc tế “Con đường hòa bình” phối hợp Hội Luật gia dân chủ quốc tế (IADL) tổ chức tại thủ đô Matxcova (27-28/6), với sự tham gia của đông đảo các học giả, nhà nghiên cứu chính trị, luật gia, các chuyên gia về lĩnh vực Biển Đông, các nhà ngoại giao đến từ Nga, Mỹ, Philippines, Nhật Bản, Pakistan, Việt Nam. Tại hội thảo, các đại biểu đã trình bày nhiều báo cáo khoa học với nội dung tập trung vào các vấn đề hoàn cảnh lịch sử và diễn biến hiện tại trên khu vực Biển Đông, quan điểm chính của các nước liên quan, cũng như các giải pháp hòa bình, trong đó có những đề xuất được đưa lần đầu tiên thu hút chú ý của giới chuyên gia. Các ý kiến cho rằng cần phải gia tăng các hội nghị, hội thảo quốc tế có sự tham dự của tất cả các bên liên quan. Các đại biểu cũng đưa ra nhiều đề xuất nhằm giải quyết tranh chấp ở Biển Đông một cách hòa bình, dựa trên Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), bao gồm việc không sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực; thúc đẩy đối thoại và hợp tác trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, quyền và lợi ích chính đáng của mọi quốc gia; dựa vào các cơ chế đa phương, đặc biệt ASEAN và các cơ chế do ASEAN dẫn dắt, như ARF, EAS, ADMM+, để kiểm soát bất ổn, xây dựng lòng tin, và ngăn ngừa xung đột. Xây dựng một Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) thực chất, ràng buộc và hiệu quả sẽ giúp duy trì hoà bình, ổn định, an ninh và an toàn hàng hải, hàng không ở Biển Đông; tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt UNCLOS 1982 trong quá trình giải quyết tranh chấp. Trong khi COC đang trong tiến trình hình thành, các bên cần chấm dứt các hoạt động xây đảo nhân tạo bất hợp pháp và ngừng triển khai các thiết bị và phương tiện quân sự và các hành động quân sự hóa khác khiến căng thẳng leo thang. Các bên liên quan nên bắt đầu ngay tiến trình xây dựng lòng tin, góp phần giữ gìn an ninh khu vực và môi trường biển, tôn trọng và tuân thủ Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), đồng thời sớm thiết lập và thực thi COC có tính ràng buộc pháp lý và dựa trên luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982.

2. Hội thảo“Luật quốc tế, công lý quốc gia và quốc tế, chủ quyền quốc gia trên ví dụ ứng xử giữa các nước ở Biển Đông” do Đại học Tư pháp quốc gia Nga (RGUP) trực thuộc Tòa án Tối cao Liên bang Nga tổ chức (01/11). Đây là sự kiện thường niên trong khuôn khổ hội nghị toàn Nga và chương trình trường học của nhà khoa học trẻ, thu hút đông đảo giảng viên, nghiên cứu sinh, sinh viên các trường đại học, học viện khối luật hàng đầu trên toàn Nga như Đại học Tư pháp quốc gia Nga, Viện Nhà nước và Pháp luật thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga (RAN), Đại học Tổng hợp Tomsk, Đại học Tổng hợp Nhân văn Nga, Đại học Tổng hợp Sư phạm Moskva, Học viện Kinh tế quốc dân và Hành chính công, Đại học Luật quốc gia Kutafin. Đáng chú ý, lần đầu tiên, chủ đề Biển Đông được đưa vào chương trình hội nghị dành cho các sinh viên, nghiên cứu sinh tài năng, những nhà khoa học trẻ ngành luật của Nga. Tại hội thảo, các chuyên gia đã chỉ rõ việc cải tạo các bãi đá, xây dựng đường băng, đặc biệt là tiến hành thử nghiệm đường băng trên Đá Chữ thập mà Trung Quốc xây dựng trái phép; các hoạt động quân sự hóa của Trung Quốc tại Biển Đông. Chuyên gia Nga khẳng định những hành động này đều đi ngược lại luật pháp quốc tế, UNCLOS 1982; khẳng định trong một thập kỷ gần đây, những hành động của Trung Quốc vi phạm luật pháp quốc tế trên Biển Đông là có hệ thống, khiến Biển Đông trở thành điểm “nóng” quốc tế. Một số ý kiến cho rằng Trung Quốc muốn biến khu vực không phải tranh chấp hay chồng lấn tại Biển Đông thành khu vực có tranh chấp, đồng thời cản trở hoạt động khai thác dầu khí hợp pháp của Việt Nam với Nga và các nước khác. Các chuyên gia phát biểu tại hội thảo đều khẳng định rằng tất cả các bên tranh chấp cần tuân thủ những chuẩn mực của luật pháp quốc tế đã được thừa nhận, trong đó có UNCLOS mà Trung Quốc cũng là thành viên. Các nước ASEAN và Trung Quốc cần nhanh chóng thông qua COC mang tính ràng buộc pháp lý và có tính đến lợi ích hợp pháp của tất cả các bên. Trên phương diện pháp luật, khu vực Biển Đông hiện nay rất nguy hiểm, đòi hỏi các bên phải có trách nhiệm, nhưng chưa có sự quan tâm đầy đủ của cộng đồng luật quốc tế. Mặc dù đã có luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc, UNCLOS, các tài liệu pháp lý khác để giải quyết tình hình ở Biển Đông, nhưng Trung Quốc vẫn đang có các vi phạm liên quan đến quyền chủ quyền hợp pháp được luật pháp quốc tế công nhận, trước hết là của Việt Nam, Malaysia, Indonesia, Philippines và Brunei.

Tại Hàn Quốc

1. Ngày 26/11/2019, tại trường Đại học Youngsan (Busan, Hàn Quốc), Hội những người Hàn Quốc yêu Việt Nam VESAMO, trường Đại học Youngsan (Trung tâm nghiên cứu luật biển, Trung tâm nghiên cứu Việt Nam học, Khoa Quốc tế học) và trường Đại học Khoa học Kỹ thuật Dongwon đã tổ chức cuộc hội thảo khoa học năm 2019 với chủ đề: “Hợp tác chung vì một môi trường hàng hải an toàn và phát triển bền vững”. Tham dự hội thảo có đông đảo đại biểu là giáo sư đại học, học giả ngành luật quốc tế; chuyên gia nghiên cứu cao cấp về hải dương học; sinh viên đại học các chuyên ngành liên quan và đại diện một số cơ quan văn hóa của thành phố Busan, các tổ chức và cá nhân Hàn Quốc quan tâm và nghiên cứu về văn hóa, lịch sử của Việt Nam. Tại hội thảo, các học giả đã tập trung vào việc phân tích về các vấn đề luật pháp quốc tế và an ninh môi trường biển, an toàn hàng hải ở Biển Đông; tìm kiếm các giải pháp cho hòa bình ở biển Đông. Các ý kiến đều thể hiện sự quan ngại đối với việc Trung Quốc tiếp tục triển khai các hoạt động gây căng thẳng ở biển Đông; cho rằng các hành động này của Trung Quốc đã vi phạm các quy định của Công ước luật biển năm 1982 (UNCLOS) và càng làm cho các vấn đề tranh chấp trở lên phức tạp, đe dọa đến hòa bình, ổn định và lợi ích của các quốc gia trong khu vực. Hội thảo kêu gọi các bên liên quan xuất phát từ tinh thần và trách nhiệm chung cần tôn trọng luật pháp quốc tế và Công ước ước của Liên hợp quốc về Luật Biển, chấm dứt các hành động căng thẳng, thiện chí hợp tác gìn giữ hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực. Các đại biểu đều nhất trí rằng, rằng việc duy trì môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển ở biển Đông là bổn phận và trách nhiệm của các quốc gia và giải pháp duy nhất cho vấn đề hòa bình ở biển Đông là sự tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế.

2. Ngày 26/5/2019 vừa qua, Hội Sinh viên Việt Nam tại Hàn Quốc (VSAK) đã tổ chức thành công Hội thảo Khoa Học Sinh viên Việt Nam tại Hàn Quốc lần thứ VI (ACVYS 2019) tại hội trường tòa nhà The 100th Memorial Hall, trường Đại học Khoa học và Công nghệ Seoul (SeoulTech), thu hút sự tham gia của hàng trăm nhà khoa học, nghiên cứu sinh cùng các bạn sinh viên Việt Nam và quốc tế đang học tập và sinh sống tại Hàn Quốc. Các đại biểu tham gia Hội thảo đều cho rằng tình hình Biển Đông hiện nay phức tạp do những hành động đơn phương, coi thường pháp luật của Trung Quốc. Việc xây dựng một COC thực chất, ràng buộc và hiệu quả sẽ giúp duy trì hoà bình, ổn định, an ninh và an toàn hàng hải, hàng không ở Biển Đông; tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt UNCLOS 1982 trong quá trình giải quyết tranh chấp. Trong khi COC đang trong tiến trình hình thành, các bên cần chấm dứt các hoạt động xây đảo nhân tạo bất hợp pháp và ngừng triển khai các thiết bị và phương tiện quân sự và các hành động quân sự hóa khác khiến căng thẳng leo thang.

Tại Mỹ

Hội thảo về Biển Đông thường niên lần thứ 9 do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS), Mỹ tổ chức diễn ra ở Washington (24/7) với sự tham gia của các học giả quốc tế. Các ý kiến đều bày tỏ quan ngại về những diễn biến tại Biển Đông. Chuyên gia Nhật Bản đánh giá, Nhật Bản là nước “rất dễ bị tổn thương” trước những diễn biến tiêu cực trên Biển Đông. Ông giải thích hơn 90% giao thương của Nhật Bản lệ thuộc vào vận chuyển bằng đường biển và Biển Đông là huyết mạch hàng hải hết sức quan trọng đối với Tokyo. Do đó, nếu con đường này bị chặn hoặc một quốc gia đơn lẻ nào đó làm chủ vùng biển này thì Nhật Bản sẽ rơi vào tình thế dễ bị tổn thương. Trong khi đó, chuyên gia Ấn Độ đánh giá New Delhi có nhiều lợi ích ở Biển Đông và cũng sẽ là một “nạn nhân” nếu vùng biển này xảy ra bất ổn. Trong khuôn khổ chính sách đối ngoại “Hướng Đông”, những năm qua Ấn Độ đã tích cực tăng cường sự hiện diện về kinh tế, chính trị và quân sự với các nước xung quanh Biển Đông. Chuyên gia Australia khẳng định ưu tiên của nước này là duy trì hòa bình và ổn định trên Biển Đông. Những năm qua, Canberra luôn bày tỏ quan ngại đối với các cường quốc đang nổi thách thức luật lệ trên biển, trên không, và xem đó là mối đe dọa đối với sự ổn định của khu vực

Tại Thụy Sĩ

Ngày 7/6, hội thảo quốc tế “Diễn tiến nào trong tranh chấp tại Biển Đông sau phán quyết của Tòa trọng tài La Haye?” đã diễn ra tại Câu lạc bộ báo chí Thụy Sĩ ở thành phố Geneva, Thụy Sĩ. Hội thảo thu hút sự tham gia của các nhà nghiên cứu về quan hệ quốc tế, các vấn đề an ninh như Tiến sĩ Felix Heiduk (Viện Nghiên cứu quốc tế và an ninh Đức); nhà nghiên cứu Bill Hayton (Viện Quan hệ quốc tế Hoàng gia Chatham House – London, Anh); Tiến sĩ Theresa Fallon (nhà sáng lập đồng thời là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Á- Âu tại Brussels, Bỉ); Giáo sư Erik Franckx (Đại học Tự do Brussels, Bỉ); chuyên gia James Fanell (Trung tâm Chính sách an ninh Geneva) và Tiến sĩ Nicola Casarini (Viện Nghiên cứu vấn đề quốc tế Italy). Các chuyên gia đã tập trung phân tích “thái độ” của Trung Quốc đối với luật pháp và các chuẩn mực quốc tế ở Biển Đông, kể cả những động cơ chiến lược của Trung Quốc, những tính toan về chi phí/lợi ích của nước này tại Biển Đông, các lựa chọn chính sách và cả những tình huống mà Trung Quốc sẽ phải đối mặt trong tương lai, mối quan hệ giữa luật pháp và quyền lực trong các tranh chấp hàng hải và lãnh thổ ở Biển Đông. Dù còn nhiều vấn đề phải giải quyết tại Biển Đông, các nhà nghiên cứu nhấn mạnh việc tôn trọng luật pháp quốc tế, tự do hàng hải, ủng hộ tự do của các quốc gia có tuyên bố chủ quyền chính đáng với các vùng biển và hải đảo. Thách thức của các nước trong khu vực hiện nay và tương lai là hàn gắn niềm tin cũng như đưa khu vực trở lại hòa bình và ổn định.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Biển Đông nguy hiểm như thế nào?

Biển Đông nguy hiểm như thế nào?

Australian Institute of Inter Affairs

3-12-2019

Trong khi các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông đang được bàn cãi sôi nổi trong quan hệ quốc tế, thì chúng có trọng lượng tương đối nhỏ trong kế hoạch lớn về vấn đề an ninh của Trung Quốc.

Cả Trung Quốc và Hoa Kỳ đều nhấn mạnh đến tầm quan trọng chiến lược ở Biển Đông trong các tài liệu chính thức gần đây của họ.

Sách trắng Quốc phòng Trung Quốc 2019 nhấn mạnh: Các hòn đảo ở Biển Đông và quần đảo Điếu Ngư là những phần không thể tách rời của lãnh thổ Trung Quốc. Trung Quốc cam kết giải quyết các tranh chấp liên quan, thông qua việc đàm phán với các quốc gia có dính líu trực tiếp, trên cơ sở tôn trọng các sự kiện lịch sử và luật pháp quốc tế. Trung Quốc tiếp tục cộng tác với các nước trong khu vực để cùng bảo vệ hòa bình và sự ổn định. Họ kiên quyết duy trì tự do hàng hải và hàng không của tất cả các quốc gia theo luật pháp quốc tế và bảo vệ an ninh các tuyến thông tin liên lạc trên biển.

Chiến lược Quốc phòng năm 2018 của Mỹ đã liệt kê Trung Quốc cùng với Nga là những đối thủ ngang hàng. Nó tuyên bố: thách thức mà Trung Quốc đưa ra đặc biệt đáng sợ… Trung Quốc đang sử dụng các biện pháp quân sự, bán quân sự và ngoại giao để cưỡng ép các đồng minh và đối tác của Mỹ, từ Nhật Bản đến Ấn Độ; thách thức luật pháp quốc tế và tự do hàng hải trên các tuyến đường thủy quan trọng như Biển Đông; làm suy yếu vị thế của Hoa Kỳ ở Đông và Đông Nam Á; và mặt khác, tìm kiếm một vị trí thống trị địa chính trị.

Một cuộc khảo sát gần đây của Pew Global Attitude cho thấy, suy nghĩ tiêu cực của công chúng Mỹ về Trung Quốc trong năm 2018 đã tăng từ 47% lên 60%, và 24% xem Trung Quốc là mối đe dọa hàng đầu của Mỹ.

Biển Đông có phải là nguyên nhân dẫn đến sự xung đột quân sự giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc không? Hậu quả đối với các quốc gia trong khu vực là gì? Dự án khảo sát do Đại học Griffith và Đại học Tsinghua phối hợp thực hiện và các cuộc khảo sát của các nhà nghiên cứu Trung Quốc trong Quan hệ Quốc tế (IR), tại hội nghị thường niên của Cộng đồng Khoa học Chính trị và Nghiên cứu Quốc tế Trung Quốc, từ năm 2014 đến 2017, cho thấy các mối đe dọa lớn nhất của Trung Quốc trong 10 năm sắp tới là Đài Loan, Bắc Triều Tiên, và Biển Hoa Đông (ESC), chứ không phải Biển Đông (SCS).

Tranh chấp lãnh thổ là mối đe dọa hàng đầu đối với nền an ninh quốc gia Trung Quốc, và quan hệ Mỹ-Trung, Đài Loan và Biển Đông ngày càng trở nên nguy hiểm. Tuy nhiên, Biển Đông chỉ là những xung đột ngoại giao và quân sự ở quy mô thấp. Theo cuộc khảo sát, Biển Hoa Đông (ESC) nguy hiểm hơn và Mỹ có nhiều khả năng can thiệp vào cuộc xung đột giữa Trung Quốc và Nhật Bản.

Trong năm 2017, 71% những người tham gia nghĩ rằng trật tự dựa trên quy tắc đã bàn trong cuộc hội thảo ở Shangri-La là “hợp lý” hay “rất hợp lý”. Tuy vậy, mặc dù có tranh chấp ở Biển Đông (SCS), quan hệ giữa Trung Quốc và ASEAN phần lớn vẫn “tốt” hay “rất tốt”.

Một bài viết trong các ấn phẩm khoa học Trung Quốc đăng trên các tạp chí IR hàng đầu của Trung Quốc tán thành kết quả cuộc khảo sát khi phân tích Biển Đông nguy hiểm nhưng không xung đột. Các học giả Trung Quốc cho rằng những tranh chấp ở Biển Đông phản ảnh sự khác biệt trong nhận thức về trật tự quốc tế giữa Mỹ và Trung Quốc. Trong khi Trung Quốc nhấn mạnh trật tự quốc tế dựa vào chủ quyền thì Mỹ, Việt Nam và Philippines nhấn mạnh trật tự quốc tế dựa trên luật lệ.

Việc Hoa Kỳ tham gia vào Biển Đông có hai mặt: kìm hãm Trung Quốc nhưng cũng có thể khuyến khích các đồng minh và đối tác của Hoa Kỳ hành xử rủi ro, dẫn đến việc leo thang ngoài ý muốn ở Biển Đông. Học giả Trung Quốc chỉ trích các phương tiện truyền thông đã tập trung quá nhiều vào chiến lược của Trung Quốc và phóng đại chuyện Trung Quốc xây dựng đảo, vốn “sẽ không hữu ích để giảm bớt căng thẳng vì không quốc gia nào muốn xung đột.” Họ nhấn mạnh đến nhu cầu phối hợp tổ chức giữa các nhà ngoại giao, quân đội và thương mại, hải cảnh, cơ quan thủy sản, khí tượng, v.v.  

Họ cũng đề xuất xây dựng hợp tác hàng hải song phương, đặc biệt là với ASEAN, tham vấn và quản lý khủng hoảng, cứu hộ và cứu trợ thảm họa hàng hải, ngư nghiệp, bảo vệ môi trường hàng hải, bảo vệ sự đa dạng của đại dương và các dự án nghiên cứu khác. Về phán quyết của Hague, các học giả Trung Quốc cho là không hợp lệ, không thể áp dụng và thiên vị.

Nếu các học giả Trung Quốc là kim chỉ nam cho quan điểm của giới tinh hoa chính trị Trung Quốc, thì những phát hiện trên cho thấy, mặc dù mức độ quan trọng trong chương trình nghị sự an ninh của Trung Quốc gia tăng, Biển Đông đã không trở thành bãi chiến trường giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ. Trung Quốc không nhận thấy mối nguy hiểm nghiêm trọng ở Biển Đông so với Biển Hoa Đông, vì Hoa Kỳ đã công khai tuyên bố cam kết liên minh của Mỹ với Nhật Bản bao gồm cả quần đảo Điếu Ngư / Senkaku. Thay vào đó, các học giả Trung Quốc tin rằng Biển Đông chỉ là sân chơi để các cường quốc, đặc biệt là Hoa Kỳ và Trung Quốc, thể hiện quyết tâm chiến lược và sức mạnh quân sự của họ.

Các tranh chấp ở Biển Đông được coi như một phần của cuộc cạnh tranh an ninh Mỹ-Trung: nguy hiểm, nhưng có thể kiểm soát được. Hoạt động Tự do Hàng hải (FON) của Hoa Kỳ là yếu tố tối cần để Hoa Kỳ chứng tỏ quyết tâm và vai trò lãnh đạo của mình với việc “thách thức các yêu sách hàng hải quá đáng và bảo vệ quyền tiếp cận các tuyến đường thủy theo luật pháp quốc tế”.

Mặc dù Trung Quốc nhấn mạnh đến sự toàn vẹn lãnh thổ trong vấn đề Biển Đông, các hành động của Bắc Kinh mang ý nghĩa tượng trưng hơn đối với quần chúng trong nước và để gửi thông điệp rõ ràng đến Hoa Kỳ và những nước khác. ASEAN và các diễn viên khác trong khu vực có thể thận trọng nắm lấy cơ hội chiến lược này để tăng cường nỗ lực xây dựng các thể chế hiện có. Họ cũng có thể dựa vào các thể chế quốc tế và luật pháp quốc tế để giới hạn hành vi của các nhà nước, đặc biệt là nhà nước Hoa Kỳ và Trung Quốc.

Categories: Tin-Tức Thế-Giới | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.