PHÁP BẢO ĐÀN KINH

 PHÁP BẢO ĐÀN KINH

LỤC TỔ HUỆ NĂNG

 

 

MỤC LỤC

 

— *** —

 

I.-   CẢM ĐỀ                 —                  2

 

II.-  TỰA                               —                  4

 

III.-  LỜI KHEN                   —                 6

 

IV.-  LỜI NGƯỜI DỊCH    —                     13

 

V.- KINH

 

 

1.-   HÀNH DO                                          15

2.-   BÁT NHà                    —                     26

3.-   NGHI VẤN                    —                     37

4.-   ĐỊNH HUỆ                      —                     42

5.-   NGỒI THIỀN                 —                     45

6.-   SÁM HỐI                       —                     47

7.-   CƠ DUYÊN                   —                     55

8.-   ĐỐN TIỆM                   —                     74

9.-   TUYÊN CHIẾU                —                     82

10.- PHÓ CHÚC                                        85

 

VI.- PHỤ LỤC 

 

DUYÊN KHỞI NGOẠI KÝ              —                98

LỜI BẠT                            —                    101

TÀI LIỆU THAM KHẢO        —               102  

 

 

 

                                        CẢM ĐỀ

 

Bến Giác từ xưa vốn sẵn đò,

Rừng Thiền vi diệu khó tìm dò.

Hành nhân chưa có người đưa lối,

Pháp Bảo Đàn Kinh hướng dẫn cho

 

 

— *** —

 

Đức Phật Tổ thương đời tứ khổ,

Pháp vô vi đắc độ hằng sa.

Giác thuyền vào cõi ta bà,

Thiền tông Bát Nhã Ma Ha giáo truyền..

Tâm trần thế đảo điên nhân ngã,

Nẻo vô thường nghiệp quả triền miên.

Chất chồng vay trả tiền khiên,

Tháng năm tích lũy nào yên thân phàm.

Vô minh khởi muôn ngàn tội ác,

Sắc tướng sanh tánh giác lu mờ.

Trầm luân nào rõ bến bờ,

Thuyền Từ Bát Nhã nương nhờ thoát ra.

Ngộ Chánh Pháp lướt qua bỉ ngạn,

Huệ tâm khai chơn tánh hiện ra.

Gội nhuần nguồn nước Ma Ha,

Sáu căn bất nhiễm ngự tòa bảo liên.

 

Gắng tu học tông Thiền đốn ngộ,

Nơi Tào Khê Lục Tổ giáo truyền.

Đạt Ma chỉ rõ cơ huyền,

Sớm mau tỉnh thức, đoạn duyên ái hà.

Đang thời buổi tinh hoa Phật giáo,

Diễn dịch sai, hành đạo lạc lầm.

Không tin Phật tại nơi tâm,

Mãi lo vọng ngoại kiếm tầm đâu đâu!

Đuốc vô vi năm châu rực tỏa,

Pháp Ma Ha Bát Nhã tông thiền.

Dứt ác nghiệp, hết ưu phiền,

Giữ lòng thanh tịnh, chơn truyền bửu kinh.

Bát chánh đạo liễu minh vô thượng,

Thoát mê đồ nghiệp chướng tiêu vong.

Tu chánh pháp, học Nam tông,

Soi đèn trí huệ suốt thông đạo mầu.

Ánh thiền đăng từ lâu sáng tỏ,

Pháp Bửu Đàn Lục Tổ độ nhân.

Sớm mau rời dứt duyên trần,

Không sanh, chẳng diệt là chân Niết Bàn.

 

Xuân Ất Dậu – 03/2005

 

Dịch Giả:

 

Tu sĩ Thái Hoà và  Cư sĩ Hồ Minh Châu

Kính Cẩn.

 

 

 

 

     LỤC TỔ ĐẠI SƯ KINH PHÁP BẢO ĐÀN

 

                                               TỰA

 

 

Đạo pháp rất vi diệu, không thể bàn giải tận tường, có quên lời mới mong đạt lý và hiểu được ý nghĩa cao siêu, mầu nhiệm. Nên khi Đức Thế Tôn thuyết pháp tại hội Linh Sơn, trước tháp Đa Tử, Ngài phân đôi tọa cụ ¹ bảo Tôn giả Ca Diếp ngồi bên, tay Ngài cầm cành hoa đưa trước đại chúng, như ngầm chỉ mối diệu Đạo sẽ được truyền, như dùng lửa chuyền lửa, dùng tâm ấn tâm.

 

Đạo ở Tây Vực truyền đến đức Bồ Đề Đạt Ma là Tổ thứ 28, Ngài từ Ấn Độ mang theo qua phương Đông “chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật” hoằng khai giáo pháp tại xứ này. Đại sư Huệ Khả là vị thứ nhứt nghe giảng liền hiểu ngay, lạy Tổ sư Bồ Đề ba lạy thọ Y. Tổ khen Đại Sư hiểu tường tận như thấm nhập vào xương tủy và khiến tiếp nối ngôi Tổ, khai xiển chánh tông. Truyền đến Đại sư Hoằng Nhẫn, tức đức Huỳnh Mai, là đời thứ tư.²

 

Trong số hơn 700 cao tăng, môn đồ của Ngũ Tổ Huỳnh Mai, duy có Huệ Năng, tức cư sĩ Phụ Thung ³ chỉ làm một bài kệ mà được truyền Y, nối ngôi Tổ, đời thứ 6 – kể từ Tổ Đạt Ma – nhưng Tổ Huệ Năng phải ẩn lánh hơn 15 năm ở phương Nam trước khi chánh thức hoằng dương đạo pháp.

 

Ngày nọ, nhân dịp hai vị tăng ở chùa Pháp Tánh, Quảng Châu, biện luận về “lá phướn động hay gió động“, Huệ Năng khai thị Chánh Pháp nhãn tạng,⁴ Niết Bàn diệu tâm cho Ấn Tông. Từ đó cư sĩ mới thế phát và đăng đàn thuyết pháp môn Đông Sơn, ứng đúng theo sám ký của đức Bạt Đà La.

 

Thứ sử Vi Cừ, nhờ thiền sư Pháp Hải chép lời thuyết pháp của Tổ Huệ Năng, lập thành Kinh Pháp Bảo Đàn. Tổ ban đầu ở Ngũ Dương, sau đến Tào Khê, thuyết pháp 37 năm, rưới cam lộ pháp vị khắp nơi.⁵ Các vị nhập thánh, siêu phàm nhiều không kể xiết.

 

——-

1.– Chiếc nệm để trải ngồi. 

2.- Kể theo hệ thống Trung Hoa

3.– Cư sĩ giã gạo

4.- Phép truyền tâm ấn đăc biệt của Thiền tông.

5.- Cam lộ là nước có chất ngọt. Được xem như phép báu của Phật – Pháp vị.

 

 

Về hạng người thấu triệt tâm tông của Phật, thành bực đại tri thức, có lưu danh trong quyển Truyền Đăng Lục. Riêng hai vị thiền sư Nam Nhạc và Thanh Nguyên, nhờ theo phụng sự Tổ Huệ Năng lâu năm, nên được truyền diệu pháp. Mã Tổ và Thạch Đầu, hai vị sư này trí huệ sáng suốt, được diệu huyền thông đạt, đều nhờ hai vị thiền sư Nam Nhạc và Thanh Nguyên truyền dạy.

 

Còn thêm các phái: Lâm Tế, Vi Ngưỡng, Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhãn, lộng nhiên xuất hiện, đạo đức siêu quần, pháp môn quảng đại. Các vị này đều phấn chí hoằng dương giáo pháp, dày công dìu dắt chúng sanh. Giáo pháp mà 5 phái kể trên truyền bá, đều phát xuất từ Đàn Kinh.

 

Đàn Kinh lời giản dị, nghĩa phong phú, lý rõ ràng trong sáng, gồm đầy đủ vô lượng pháp môn của chư Phật, mỗi mỗi pháp môn, đầy đủ vô lượng diệu nghĩa, mỗi mỗi diệu nghĩa, phát huy vô lượng diệu lý của chư Phật, tức là diệu pháp Chơn không của đức Di Lặc và thần thông biến hóa của đức Phổ Hiền. Nếu ai đạt được diệu pháp này, tức đồng bực với Thiện Tài đồng tử ¹. Nếu trong một niệm tưởng mà công đức viên mãn, thì được chứng quả như đức Phổ Hiền Bồ Tát, đồng hàng với chư Phật.

 

Tiếc vì Đàn Kinh bị người đời sau tóm lược quá nhiều, nên chẳng thấy được tông chỉ đại toàn của Lục Tổ.

 

Đức Dị tôi lúc ấu niên thường xem bản xưa, sau này trải hơn 30 năm đi khắp nơi tìm kiếm, mãi lúc gần đây, nhờ một vị thượng nhơn, nên nhận được toàn văn, đem khắc bản giữ nơi thiền am của tôi, ở nước Ngô, để cùng các bậc thắng sĩ ² xử dụng.

 

Nguyện cầu khi chư vị khai mở quyển kinh này ra xem, liền được trực nhập đại viên giác hải,³ nối huệ mạng của Phật Tổ Như Lai muôn đời không dứt, được vậy mới thỏa mãn chí nguyện của tôi.

 

Đời Nguyên, năm thứ 27 Canh Dần, (1294) ngày Trung Xuân đề tựa.

 

Cổ Duân Tỳ Kheo Đức Dị soạn.

——

1.– Một vị đồng tử  theo học đạo với các Thánh. Xin đọc kinh Hoa Nghiêm.

2.- Bực tu học cao thâm

3.- Giác ngộ hoàn toàn – Biển Giác.

 

 

      LỤC TỔ ĐẠI SƯ PHÁP BẢO ĐÀN KINH TÁN

           Bài Khen Ngợi Kinh Pháp Bảo Đàn Lục Tổ Đại Sư

 

— *** —

 

Tán thán là lời ca tụng, tóm tắt phần mở đầu kinh. Nội dung Kinh Pháp Bảo Đàn là nơi mà Lục Tổ Huệ Năng, một bực chí nhơn, tuyên dương cái tâm. Vậy thì tâm là gì? Chính là tâm vi diệu do Phật truyền lại. Lớn lao thay tâm ấy, từ khởi thủy vẫn luôn thanh tịnh. Dù bực Thánh hay phàm, u hay hiển, ai ai cũng có tâm nầy.

 

Ở cương vị Thánh tất sáng, ở địa vị phàm thì tối. Tối do biến đổi, được trở lại liền sáng. Biến đổi hay trở lại tuy khác nhau, nhưng tâm vi diệu vẫn một.

 

Ban sơ Đức Phật Thích Ca đem tâm này truyền cho họ Đại Quy, từ họ Đại Quy truyền lần tới đời thứ 33, là Đại Giám, tức thụy hiệu của đức Lục Tổ. Thế rồi, Đại Giám tiếp tục giáo truyền, ngày càng thêm thạnh hành. Nếu bàn đến cái tâm thì thật nhiêu khê. Cho nên, tên gọi tuy giống, nhưng thực chất lại khác. Vì vậy, dầu có nhiều nghĩa, tâm vẫn một. Nào là tâm (tim) máu thịt, tâm duyên lự, tâm tập khởi, tâm kiên thật …

 

Còn luận về tâm sở của tâm thì nhiều vô số. Chẳng hạn tâm chơn như, tâm sinh diệt, tâm phiền não, tâm bồ đề… như các kinh đã phân loại, không thể kể xiết. Vì vậy, mới bảo nghĩa tuy nhiều, nhưng tâm chỉ một. Về nghĩa, có giác ngộ, có bất giác. Còn tâm, có tâm chơn thật, tâm hư vọng. Đó là do phân tích tâm chơn như mà ra. Ở đây, kinh Pháp Bảo Đàn, đức Lục Tổ giảng cái tâm về phương diện dụng, tức giác ngộ; về phương diện thể, là chơn thật.

 

Ngày xưa, khi Thánh nhơn sắp ẩn mình, dạy Quy Thị yếu lý truyền pháp ở ngoài giáo điển, bởi vì người đời vướng mắc vào văn tự mà quên trở về nguồn gốc. Do đó, muốn người đời sau dựa vào gốc để làm thẳng ngọn, nên kinh Niết Bàn chép: “Ta có chánh pháp vô thượng đã phó chúc cho Ma Ha Ca Diếp“.

 

Đạo trời nhằm dung dị, đạo của đất lấy đơn giản, đạo của Thánh nhơn ở cốt yếu. Cốt yếu nghĩa là cực kỳ vi diệu. Vì đạo của Thánh nhơn quý chỗ cốt yếu, nên có thể làm khuôn mẫu cho cả pháp giới, chỗ tụ hội cho vô lượng nghĩa lý, bánh xe kiên cố cho Đại thừa.

 

Kinh Pháp Hoa há chẳng dạy: “Nên biết diệu pháp này là bí yếu của chư Phật“. Kinh Hoa Nghiêm há chẳng chép: “Dùng phương tiện nhỏ nhưng được giác ngộ nhanh chóng“. Vì dựa vào chỗ cốt yếu nên đạo của Thánh nhơn thành tựu lớn lao. Bởi vậy, cương lĩnh của kinh Pháp Bảo Đàn tôn vinh tâm yếu. Tâm hoặc sáng, hoặc tối, hoặc không, hoặc linh, hoặc tịch, hoặc tỉnh. Thế thì, tâm có hình tướng, hay không hình tướng?

 

Gọi là một vật cho nên nó biến hóa thành muôn vật. Gọi muôn vật, nên nó thống nhứt thành một vật. Nhưng một vật biến ra muôn vật, muôn vật gồm lại một vật. Đó gọi là điều có thể nghĩ bàn, còn điều không thể nghĩ, cũng không thể nào bàn.

 

Thiên hạ gọi huyền giải (âm thầm hiểu) gọi thần hội (tự nhiên khế hợp), gọi tuyệt đãi (dứt bặt so sánh), gọi mặc thể (lặng lẽ thấu triệt), gọi minh thông (mặc nhiên thông suốt)... Cứ một mặt bỏ hết, loại trừ, loại trừ rồi loại trừ, thì cũng có thể đạt đến chỗ tinh vi. Đến được chỗ đó, hiển nhiên phù hợp với bực chí nhơn. Cho nên khó ai lường được. Suy rộng ra, nếu không dấn thân, thì không thể nào đạt được.

 

Tìm hiểu rồi suy nghiệm không có gì mà không thỏa đáng. Giá như kiến tánh, sự thấy rất gần gũi với chơn tâm; giá như tu tâm, chỗ đạt được rất chơn chánh; giá như sùng thượng đức hạnh, biện biệt sai lầm tất chơn vọng dễ hiển hiện; giá như xuất thế,  Phật đạo chóng thành; giá như cứu đời, trần lao dễ dứt. Đó chính tôn chỉ của đức Lục Tổ, nên kinh Pháp Bảo Đàn lưu hành được thiên hạ khắp nơi vui mừng tiếp nhận.

 

Trong kinh dạy “tức tâm tức Phật” (tâm đó chính là Phật). Hạng người thiển cận không biết tự lượng sức mình, dùng cái len gảy đào đất, cho rằng đất cạn, nhìn trời qua chỗ mái nhà dột tưởng rằng trời nhỏ. Sự thật trời đất há như vậy sao? Hầu như trăm nhà (chúng sanh) ai cũng nghĩ mình đạt được chơn tâm, kỳ thật đâu có đúng. Còn bực chí nhơn đã thông suốt, quán triệt, phù hợp với tinh thần của kinh điển, nên điều này thấy rõ.

 

Chí nhơn biến mà thông, nhưng nếu không dùng văn tự khó diễn đạt được chơn tâm. Cho nên giải rõ ràng, có cơ sở, có nghĩa lý; nói một cách bí mật thì không đầu, không đuôi. Những bực căn cơ bén nhạy mới đạt đến chỗ sâu xa, hàng căn cơ chậm lụt chỉ hiểu đến chỗ thấp cạn. Như vậy há có thể nghĩ được ư! Có thể bàn được ư! Khó được rốt ráo vì đó là giáo lý viên đốn, giáo lý tối thượng thừa, thiền định thanh tịnh của đức Như Lai, chánh tông của Bồ tát tạng. Đó là điều các luận sư gọi huyền học, chẳng rõ ràng lắm sao! Thiên hạ gọi là tông môn, há chẳng đúng lắm sao!

 

Kinh Pháp Bảo Đàn chép: “Định, Tuệ là gốc, tức đầu mối để đi đến đạo. Định, có nghĩa tịnh, Tuệ là sáng. Sáng dùng để quán, tịnh dùng để an. An được tâm mới có thể lãnh hội được bổn thể của tâm. Quán rõ đạo mới có thể giảng về đạo“.

 

Nhứt hạnh tam muội là tướng viên dung của pháp giới. Muôn điều thiện tuy sai khác, nhưng chỉ bao hàm trong một hạnh mà thôi. Lấy vô tướng làm thể là trân trọng tịnh giới; lấy vô niệm làm tông, là tôn vinh thiền định lấy vô trụ làm gốc, là sùng thượng trí tuệ. Giới, định, huệ là con đường trọng yếu đi đến Tam thừa. Diệu tâm là cơ sở vững chắc cho giới, định, huệ. Dùng một diệu tâm này mà dung thông cả ba pháp, nên gọi là Đại (lớn). Dùng giới vô tướng tu hành mới mau đạt đến chánh giác.

 

Còn 4 thệ nguyện lớn là: nguyện độ: độ khổ đau; nguyện đoạn: đoạn tập khí; nguyện học: học đạo lý; nguyện thành: thành tịch diệt. Diệt mà không diệt gì cả, nên không có gì không đoạn trừ. Đạo mà không có chi là lý đạo, thì không có gì không cứu độ.

 

Vô tướng sám là sám hối cái không thể sám. Tam quy giới tức quy về một. Vì là một, nên Tam Bảo xuất hiện. Giảng Ma Ha Bát Nhã là giải đến chỗ chí trung của tâm. Bát Nhã là phương tiện của Thánh nhơn, là đại trí của Thánh nhơn. Cho nên gọi là tịch, là minh, là quyền, là thật. Thiên hạ dùng tịch để dứt các điều ác. Thiên hạ dùng minh có thể kết tụ mọi điều thiện. Thiên hạ dùng quyền biến để khuếch trương thế hữu vi. Thiên hạ dùng chơn thật, để mở rộng pháp vô vi. Ôi! cùng cực thay Bát Nhã!

 

Đạo của Thánh nhơn nếu không có Bát Nhã không thể làm sáng tỏ, không thể nào thành tựu. Công việc của thiên hạ nếu không có Bát Nhã, thì không thích hợp, không thỏa đáng. Bực Chí nhơn dùng Bát Nhã chấn chỉnh tự tâm thì được viên mãn.

 

Pháp của đức Lục Tổ vì hàng thượng căn mà giảng mới thích hợp. Vật nhỏ dùng vào việc lớn không thể nào đảm đương được; vật lớn trao cho người nhỏ là có lỗi.

 

Từ xưa đến nay âm thầm truyền trao, phân phó là ý nghĩa của bí mật. Bí mật không phải không nói mà chứng ngộ một cách âm thầm. Đó là bí mật chơn chánh.

 

Những người không hiểu lý này sinh tâm hủy báng thì trăm đời ngàn kiếp sẽ đoạn tuyệt hột giống Phật tánh. Nhằm nhắc nhở người đời đừng quên tâm mình, đó là yếu chỉ vô cùng to lớn của kinh Pháp Bảo Đàn: Gốc là chánh, vết rất rõ, nhân thật chơn, quả viên dung.  Những bực Thánh đời trước, các vị Thánh đời sau căn cứ vào đó để phát khởi, dùng đó chỉ dạy, nhân đó trở về, thật bao la không bờ bến! Tựa hồ sự trôi chảy của sông rộng, như sự thông suốt của không gian, sáng soi của nhựt nguyệt, vô ngại của hình bóng, trật tự của tiến hóa. Diệu mà đạt được thì gọi là gốc; suy để ứng dụng gọi là dấu; dùng khái niệm không phải từ ban sơ để làm đầu mối, gọi là nhân, dùng biểu tượng không cần thành tựu vẫn thành tựu gọi là quả. Quả không khác với nhân, là chánh quả. Nhân không khác với quả, gọi là chánh nhân, dấu ắt chiếu cố đến gốc, là đại dụng. Gốc ắt chiêm nghiệm đến dấu, gọi Đại thừa. Thừa là khái niệm, Thánh nhơn dùng ví dụ cho đạo.

 

Nhằm đến công dụng nên Thánh nhơn bắt đầu dạy bảo. Ôi! Đạo của Thánh nhơn không gì hơn tâm mình. Sự dạy bảo của Thánh nhơn không gì hơn tu. Chuẩn bị tinh thần dấn thân vào đạo không gì hơn nhứt tướng. Phép chỉ quán dựa vào việc thiện để hoàn thành công đức không gì hơn nhứt hạnh tam muội. Hỗ trợ cho tất cả giới luật không gì hơn vô tướng. Hoàn chỉnh tất cả Thiền định không gì hơn vô niệm. Thông suốt tất cả trí không gì hơn vô trụ. Sinh thiện diệt ác không gì hơn giới vô tướng. Dốc lòng vì đạo, bồi đắp cho đức không gì hơn 4 thệ nguyện lớn. Khéo quán xét lỗi lầm không gì hơn sám hối vô tướng. Làm cho đạo được chơn chánh không gì hơn giới Tam quy. Làm ngay ngắn đại thể, bồi đắp cho đại dụng không gì hơn Đại Bát Nhã. Phát khởi niềm tin, dốc lòng với đại đạo không gì hơn Đại chí. Cùng lý tận tánh trong thiên hạ không gì hơn lặng lẽ trao truyền. Muốn tâm không vướng lỗi không gì hơn tránh nói xấu lẫn nhau.

Lấy Định Tuệ làm nhân tố khởi đầu đó là nền tảng của đạo. Dùng Nhứt hạnh tam muội tu tập là cơ sở của công đức. Dùng vô niệm làm tôn chỉ nên thành tựu giải thoát. Lấy vô trụ làm  gốc liền đạt trí tuệ. Thấu triệt lý vô tướng được dung thông với pháp thân. Dùng giới vô tướng để trì giới, là giới cao tột. Đem 4 nguyện lớn để lập nguyện, tức nguyện cùng cực. Sám hối bằng phương pháp vô sám là sám hối rốt ráo. Giới tam quy tức giới trở về đường chánh. Ma ha trí tuệ là phạm trù to lớn của thánh phàm. Vì hạng người thượng thượng căn mà tuyên thuyết, là cách thuyết pháp trực tiếp. Trao truyền bằng im lặng là cách truyền pháp ưu việt, nhằm mục đích ngăn ngừa những kẻ hủy báng.

 

Phàm diệu tâm thì không phải do tu mà thành, không phải chứng mà sáng. Vì nó vốn đã thành, đã sáng sẵn vậy. Vì mê mất nguồn sáng nên phải làm sáng lại mới được chứng. Do nghịch sự hoàn thiện, phải hoàn thiện lại, nên mới cần tu. Lấy việc chưa tu để tu, nên gọi chánh tu. Lấy việc chưa sáng để làm sáng nên gọi chánh chứng. Bực chí nhơn khù khờ, không tỏ lộ oai nghi nhưng đức độ thấm nhuần trời đất. Bực chí nhơn ung dung tựa hồ không giữ giới, mà đạo hạnh hiển bày khắp thiên hạ. Đó, vì dùng chánh tu để tu, dùng chánh chứng để chứng. Thế nên bảo: không tu, không chứng, không nhân, không quả. Những kẻ xuyên tạc chẻ sợi tóc làm tư, tranh nhau bàn luận, làm sai lạc ý chỉ của chí nhơn.

 

Ôi! Bỏ giới định tuệ thì đương nhiên rơi vào sự hỗn loạn của chấp không, tôi cũng chẳng biết phải làm sao. Hỡi ôi! Chúng sanh để chìm lấp chơn tâm cho khởi dậy tâm thức. Thức và nghiệp theo nhau như bóng với hình, chưa từng dừng lại bao giờ! Khi nó phát ra thành hình tướng, thì người và vật sinh sản tràn lan trong trời đất, nào ai có thể đếm hết. Được mang lại thân người thì hàng vạn mới có một.  Bậc giác ngộ cơ hồ rất ít. Bực Thánh Nhân ấp ủ điều đó, vận dụng nhiều phương tiện để làm sáng tỏ, nhưng người đời vẫn không thấu hiểu. Thánh nhơn muốn cứu đời, tuy dùng nhiều giải pháp mong sửa đổi, nhưng thiên hạ vẫn chưa thức tỉnh.

 

Người hiền thì bị trí làm rối loạn, kẻ bất tiếu bị u mê che khuất. Hạng bình thường thì bị vô ký làm cho hôn muội. Cho nên, khi tiếp xúc với cảnh vật, phát sinh tình cảm, bị những mừng, giận, buồn, vui, che khuất muôn ngàn mối, khác nào lữ khách lần dò trong đêm tối chẳng biết sẽ về đâu. Những ai theo lời dạy của thánh nhơn thì được kế thừa và phát huy. Còn những kẻ mù mờ có tham vọng viễn vong thì gọi nào có, nào không, nào chẳng có, chẳng không; nào vừa có, vừa không. Đó, chỉ vì không thấy nên bị khuất lấp, khiến trọn kiếp chẳng thể nào thông tỏ được.

 

Biển là nơi tập trung nước từ muôn nơi đổ về, cá rồng sống chết trong biển vẫn không hề thấy nước. Đạo tại tâm, nhưng có người suốt ngày bàn về đạo vẫn không hề thấy tâm. Thật đáng thương! Tâm rất vi diệu, cao vời, khó tỏ, khó thấu. Thánh nhơn đã ẩn khuất, thiên hạ trăm đời tuy viết sách truyền bá chánh đạo, chưa hề được chứng nghiệm. Thế nên, kinh Pháp Bảo Đàn nêu ra tôn chỉ: chỉ thẳng tâm này, bấy giờ thiên hạ mới thấy được tâm tánh của chính mình, khác nào vẹt mây mù chợt thấy trời xanh, lên đỉnh núi cao phóng mắt nhìn được khắp vũ trụ.

 

Kinh Niết bàn chép: “Khởi đầu từ vườn Lộc Uyển, chí đến lúc kết thúc tại sông Bạt đề, thời gian 50 năm, chưa từng giảng một chữ nào“, tức ngầm chỉ pháp chẳng phải do văn tự, để phòng những người chỉ căn cứ vào văn tự mà tìm cầu thật tướng.

 

Dạy: “Y pháp không y người” vì pháp thì chân mà người thì giả.

 

Dạy: “Y trí không y thức” bởi trí thì đến chỗ cùng tột, còn thức thì vọng.

 

Dạy: “Y nghĩa không y lời” vì nghĩa thì chơn, lời là giả.

 

Dạy: “Y kinh liễu nghĩa, chớ y kinh không liễu nghĩa” vì kinh liễu nghĩa thì tận lý, còn kinh không liễu nghĩa vẫn chưa rốt ráo.

 

Thế nên, Bồ tát mới tuyên thuyết Đại Niết Bàn, những điều thuyết ra đều phù hợp với kinh điển.

 

Bực thánh nhơn căn cứ vào 4 thứ này mà ra đời. Người hộ trì chánh pháp cần thấu triệt. Vì thấu triệt, nên bực chí nhơn mới nâng gốc để làm thẳng ngọn. Điều giảng giải phù hợp với kinh điển, nên bực chí nhơn giảng kinh đúng kinh. Y nghĩa, y kinh liễu nghĩa, nên bực chí nhơn tuyên thuyết rõ ràng phù hợp với nghĩa, phù hợp với kinh. Y pháp, y trí, nên bực chí nhơn mật thuyết liền thông suốt, không bị chướng ngại, vì muốn chỉ rõ pháp không phải do văn tự, nên bực chí nhơn vận dụng tôn chỉ mật truyền. Bực chí nhơn như cây cỏ mùa xuân, ngày càng phát triển. Bực chí nhơn như ánh sáng mùa thu, càng chiếu soi càng tỏ rạng.

 

Thánh nhơn truyền lịnh bực chí nhơn liền tuân theo. Phải bực chí nhơn mới xứng đáng môn đồ, và huân tập được đức độ thù thắng của Thánh nhơn.

 

Bực chí nhơn ban đầu vờ như mình thấp kém, không biết văn tự thế tục. Đến khi thành nghiệp lớn, giáo hóa một phương, tuyên dương đại pháp cứu độ đời, mới tỏ ra khế hợp với công dụng của bực Đại Thánh nhơn. Thế nên, đối với bực đức cao, thượng trí khi sinh ra đã biết, nhân vì muốn hiển bày diệu pháp mới bảo rằng mình không biết.

 

Trải qua gần 400 năm, giáo pháp lưu truyền khắp bốn phương không hề gián đoạn; nào là Đế vương, nào là Thánh hiền, suốt 30 đời, càng tìm đến đạo của Tổ càng thêm tôn kính, không ai là không đạt đến chỗ tận cùng của bực Đại Thánh nhơn.

 

Ngày nay, giáo pháp đang lu mờ. Ôi! Tôi không nỡ nào im lặng nhìn, nên cố gắng góp phần công mọn trong việc phục hưng nền đạo, dầu tự biết mình am tường đạo chẳng bao nhiều, nhưng tôi nhờ may mắn như muỗi mòng uống được nước biển, biết được chút ít hương vị, nên mạo muội cúi đầu bộc bạch, mong để lại đôi điều cho người hậu học.

 

Đại sư KHẾ TUNG hiệu MINH GIÁO đời Tống, soạn. (Đ. 48, tr 346)

Dịch giả: Ẩn danh.

 

 

 

 

LỜI NGƯỜI DỊCH

 

— *** —

 

Theo kinh Đại Tạng do Ban tân tu của chùa Thiện Đạo ở Đài Bắc (Đài Loan) có 3 bản Kinh Pháp Bửu Đàn, một do Thiền sư Pháp Hải soạn; bản thứ hai, Tỳ kheo Linh Thao giữ tại Bửu tháp, nơi an trí chơn thân Đức Lục Tổ; bản thứ ba do Tỳ kheo Đức Dị sưu tầm, được Tỳ kheo Tông Bửu đúc kết, hiện để tại chùa Quang Hiếu.

 

Nhờ duyên may, chúng tôi đọc được hơn 10 bản dịch Kinh Pháp Bửu Đàn, về văn thể, cách trình bày, phần diễn dịch, mỗi bản đều có sắc thái riêng, về nội dung chỉ có vài khác biệt nhỏ.

 

Mỗi lần đọc một bản là thêm một lần chúng tôi xúc động. Xúc động vì thương cảm hoàn cảnh khó khăn, cay đắng, khốn khổ, cũng như xót xa, ngậm ngùi về những nguy hiểm mà Đức Lục Tổ kiên nhẫn chịu đựng, nhiều phen sinh mạng Người như sợi tơ treo.

 

Về phương diện giáo lý, tôn chỉ của Đức Lục Tổ cũng giản dị, thực tế, như đời sống của NgườiPHẬT tại TÂM, nhận được TÂM CHÚNG SANH liền thành Phật đạo. Với pháp môn ĐỐN GIÁO, Người khuyên môn đồ nên cố gắng trau TÂM, hành trì VÔ TƯỚNGVÔ NIỆMVÔ TRỤ… Cách tu học của Người cũng rất thực tiễn, Người thường nhắc nhở môn nhơn nên tìm hiểu nghĩa lý trong chơn kinh không nên chú trọng vào văn chương chữ nghĩa, có nghĩa “ngộ lý quên lời“.

 

Cũng kể từ Đức Lục Tổ công khai hoằng dương chánh pháp, Thiền tông mới được quảng bá và có căn bản vững vàng.

 

 

 

 

Điều quan trọng khác, là niềm hãnh diện của dân tộc, chúng tôi muốn nêu lên sự thật: Đức Lục Tổ là người Việt, mà từ bao trăm năm qua, sách sử phương bắc không giải thích rõ về thân thế Người.*

 

Vì những yếu tố trên, sau những đắn đo, cân nhắc, chúng tôi cố gắng dịch từ nguyên bản Hán ngữ của Tỳ kheo Tông Bửu, trình bày qua tập sách nhỏ này bằng thể văn nhẹ nhàng, bình dị, như một đóng góp khiêm nhường vào hành trang tu học, trân trọng chuyên chở đến đồng đạo PGHH ruột thịt, đặc biệt ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.

 

Trong bản văn chữ Hán, cách gọi nhau thời bấy giờ như  “ta – ngươi“, chúng tôi xin được thay bằng “tôi – ông” để nghe dịu dàng và thích hợp với cách xưng hô trong gia đình PGHH.

 

Tự biết kiến thức mình có giới hạn, không sao tránh khỏi sơ xuất, chúng tôi rất mong được sự chỉ giáo của quí đồng đạo và các bực cao minh, để lần tái bản thứ hai, Kinh Pháp Bửu Đàn này sẽ hoàn thiện hơn.

 

Tu sĩ Thái Hòa và Cư sĩ Hồ Minh Châu.

Kính Cẩn.

 

*- Sinh quán của đức Lục Tổ và thời gian Ngài tại thế 638 – 713 ở Lãnh Nam, mà Lãnh Nam thời bấy giờ là lãnh thổ của tộc Việt.

 

– Tái bản lần thứ nhứt – Đầu xuân Ất Dậu – 2005 dl.- Phật lịch 2559.

 

– Bản in lần thứ hai có một số từ ngữ được giản dị hoá. Đầu xuân Bính Tuất – 2006 dl – Phật l ịch 2560.

 

Dịch giả.

 

 

 

KINH

 

I.- HÀNH DO

                           

LỤC TỔ ĐẠI SƯ LƯỢC THUẬT TIỂU SỬ

 

Đây là bản văn ghi chép lời của Từ Tổ Tỳ Kheo Thích Tông Bửu, trụ trì Báo Ân Quang Hiếu thiền tự, về sự kiện gió động hay phướn động.                                                 

                                  

 

Bấy giờ Đại Sư đến chùa Bửu Lâm, Vi Cừ, Thứ sử Thiều Châu, cùng các quan viên, vào núi thỉnh Sư về chùa Đại Phạm để khai duyên thuyết pháp.

 

Đại Sư lên bục giảng, Thứ Sử, quan viên hơn 30 người, nho gia học sĩ hơn 30 người, tăng, ni, đạo, tục hơn ngàn người, đồng đảnh lễ, kính cẩn lắng nghe yếu lý Phật pháp. Đại Sư:

 

– “Thiện tri thức! Tánh Bồ đề, tức tánh Giác ngộ của mình, tự nhiên có sẵn và luôn trong sạch, nên dụng tâm này tu, Phật quả sẽ viên thành”.

 

– “Thiện tri thức! Hãy nghe nguyên do Huệ Năng tôi đi tu và đắc pháp: Thân sinh tôi quê ở Phạm Dương, bị giáng chức đày về Lãnh Nam, huyện Tân Châu. Thân này bất hạnh, cha mất sớm, mẹ già cô đơn, dời qua Nam Hải. Trải bao gian khổ, nghèo túng, tôi phải bán củi ngoài chợ nuôi sống. Một hôm có vị khách mua củi, bảo đem đến nhà trọ, khách nhận củi, trả tiền xong, Năng tôi ra cửa, thấy một vị tụng kinh, nghe lời kinh, tâm liền tỏ ngộ, tôi hỏi:

 

– “Ông tụng kinh gì vậy?”  Khách đáp:

 

– “Kinh Kim Cang”. Tôi hỏi tiếp:

 

– “Ông từ đâu đến đây tụng kinh này?”  Khách:

 

– “Tôi từ Kỳ Châu, huyện Huỳnh Mai, chùa Đông Thiền, do Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn Đại Sư chủ trì, nơi đó hóa độ môn nhơn hơn ngàn người. Tôi thường đến lễ bái và thỉnh được kinh này. Nhẫn Đại Sư khuyên tăng, tục thường nên tụng kinh Kim Cang, sẽ được thấy tánh, thành Phật”.

 

Năng tôi nghĩ mình có tiền duyên, được nghe lời kinh, vừa có 10 lượng bạc của vị khách tụng kinh cho và khuyên tôi về lo liệu áo cơm cho mẹ già, rồi nên đến huyện Huỳnh Mai tham lễ Ngũ Tổ. Sau khi sắp xếp cho mẹ, tôi từ giã lên đường. Đi chưa quá 30 ngày, đến huyện Huỳnh Mai, vào lễ, Ngũ Tổ hỏi:

 

– “Ông người xứ nào đến đây, muốn cầu việc gì?” Tôi bạch:

 

– “Đệ tử dân Lãnh Nam, huyện Tân Châu, từ xa đến đây lễ Hòa thượng, chỉ cầu làm Phật“.  Tổ bảo:

 

– “Người Lãnh Nam là Nam rợ, sao có thể thành Phật được?”.

 

– “Người tuy chia Nam Bắc, Phật tánh đâu có Bắc Nam, thân Nam rợ này đối với Hòa thượng không đồng, nhưng Phật tánh có gì khác biệt”.

 

Tổ muốn hỏi thêm, nhưng thấy nhiều người vây quanh, nên sai Năng tôi ra nhà sau làm việc. Tôi thưa:

 

– “Bạch Hòa thượng, tâm đệ tử thường sanh trí huệ, không rời tánh mình, đó là ruộng phước (phước điền); chẳng hay Hòa thượng còn dạy đệ tử làm việc chi?”  Tổ quở:

 

– “Người Nam rợ này căn tánh thông minh, nhưng thôi, đừng hỏi nữa, đi mau ra nhà sau”.

 

Khi đến hậu viện, một hành giả sai tôi bửa củi và đạp chày giã gạo. Tôi làm công việc này ròng rã hơn 8 tháng. Một hôm, Tổ bất chợt đến, thân mật an ủi:

 

– “Tôi nghĩ chỗ nhận thức của ông dùng được, vì sợ kẻ ác hại, nên chẳng tiện nói nhiều, ông hiểu không?” Tôi bạch:

 

– “Đệ tử cũng hiểu ý Thầy, nên không dám đến giảng đường, e chư tăng chú ý ”.

 

Ngày nọ, Tổ cho triệu tập các môn nhơn lại, dạy:

 

– “Người đời sanh tử là việc lớn, các ông suốt ngày chỉ lo cầu phước mà chẳng cầu thoát khỏi biển khổ sanh tử. Nếu tánh còn mê, phước kia đâu cứu được. Các ông hãy lui ra, xét lại trí Bát Nhã, mỗi người viết một bài kệ, trình tôi xem, ai ngộ lý Phật pháp, tôi sẽ truyền Y Bát, nối ngôi Tổ, đời thứ 6. Các ông đừng chậm trễ và nên hiểu, nếu phải suy nghĩ, thì không dùng được. Người thấy tánh khi vừa nghe liền thấy ngay, được như vậy, dầu phải ra trận, tung hoành giữa đao kiếm cũng thấy tánh. Đó là người sáng suốt”.

 

Đồ chúng nghe dạy, lui ra, hợp lại, cùng bàn:

 

– “Chúng ta khỏi cần nhọc tâm mệt trí viết kệ, đâu có ích gì, bởi Thượng Tọa Thần Tú hiện là thầy Giáo thọ,¹ chắc sẽ được kế truyền”.

 

Những người chung quanh nghe đều yên tâm, đồng nói:

 

– “Chúng ta từ nay theo thầy Thần Tú, viết kệ chi cho nhọc!”.

 

Về phần Thượng tọa Thần Tú, ông suy nghĩ: đồ chúng không trình kệ vì họ nể và ỷ vào ta, nên ta cần viết kệ trình Hòa thượng, nếu không, ngài làm sao biết kiến thức cạn sâu trong tâm ta. Trình kệ cầu pháp là điều tốt, nhược bằng vọng cầu ngôi Tổ, đó là nuôi ý xấu, như vậy, khác nào người phàm muốn đoạt ngôi thánh; còn không trình kệ, biết đến bao giờ mình mới được đắc pháp? Thiệt khó nghĩ !

 

Trước thiền đường có ba gian hành lang, Ngũ Tổ định mời họa sư Cung Phụng Lư Trân, đến họa những cảnh trong kinh Lăng Già, cùng đồ hình hệ thống kế truyền 5 đời tổ, lưu lại để cúng dường.² Thượng tọa Thần Tú hoàn thành kệ, mang trình nhiều lần, nhưng khi đến trước phòng của Tổ, trong lòng hoảng hốt, toàn thân đổ mồ hôi, trước sau 4 ngày, cả thảy 13 lần đến trình kệ không đặng. Thượng tọa suy nghĩ, chi bằng qua hành lang phía Nam biên kệ này, ngày mai khi Hòa thượng đến thấy, khen hay liền ra nhận kệ của mình, nếu bị chê… thật uổng cho công trình bao năm tu hành, nhận lễ bái của bá tánh trong khi đạo pháp mình  chẳng ra gì! Đến canh ba, thừa lúc mọi người yên giấc, Thượng tọa cầm đèn chép kệ trên vách hành lang phía Nam:

——

1.- Giáo thọ là thầy dạy đồ chúng học kinh trong chùa.

2.- Bộ kinh Lăng Già gồm 4 quyẻn, dạy về Thiền học, do tổ Đạt Ma mang từ Ấn độ sang với đồ hình, cùng kệ truyền tâm ấn – Từ tổ Đạt Ma đến tổ Hoàng Nhẫn là 5 đời. 

 

 

Kệ :

 

“Cội bồ đề là thân

 Tâm như đài gương sáng

 Lau chùi đừng xao lãng

 Chớ để bám bụi trần”.

 

Chép kệ xong, Thượng tọa trở về phòng riêng lo nghĩ, nếu sáng ngày Ngũ Tổ thấy kệ vui vẻ, tức ta với pháp có duyên, nhược bằng Tổ chê, đó là tại tâm mình còn mê, nghiệp chướng xưa nặng nên chưa đắc pháp. Thánh ý thật khó lường ! Năm canh trăn trở, nằm ngồi không yên!

 

Ngũ Tổ từ lâu vốn biết Thượng tọa Thần Tú chưa thấy tánh, chưa vào cửa đạo được. Sáng ngày, Tổ hướng dẫn Lư họa sư đến hành lang phía Nam để vẽ đồ tướng, chợt thấy bài kệ trên vách, liền bảo:

 

– “Thôi, họa sư không cần vẽ, thật nhọc công ông từ xa đến, bởi kinh Kim Cang chép: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” (Phàm có hình tướng thảy đều hư giả), nay có bài Kệ này, nên lưu lại cho người đời tụng, theo đó tu khỏi đọa ác đạo, được lợi ích lớn. Tổ liền khiến môn nhơn đốt hương lễ kính, và dạy:

 

– “Tất cả nên tụng kệ này sẽ được thấy tánh”.

 

Đồ chúng tụng kệ, vui mừng, đồng khen hay. Canh ba, Tổ gọi Thượng tọa Thần Tú vào phòng, hỏi:

 

– “Kệ chép ở nam lang phải của ông không?” Thần Tú bạch:

– “Thật của đệ tử, không dám vọng cầu ngôi Tổ, chỉ mong Hòa Thượng mở lòng từ bi xem đệ tử có chút trí huệ chăng?”

– “Ý kệ của ông chưa thấy tánh, chỉ mới đến cửa, chưa vào bên trong. Thấy và hiểu như vậy, khó tìm Vô thượng bồ đề. Vô thượng bồ đề khi nghe qua liền nhận được tâm, thấy được tánh, không sanh, chẳng diệt. Trong tất cả thời gian, lúc nào cũng thấy tánh, trước ngoại cảnh tâm luôn thông suốt. Nếu  biết chơn tướng một vật liền nhận được chơn tướng của vạn vật. Đối cảnh, tâm không lay động, vẫn như như, tâm như như là tâm chơn thật.¹ Thấy được như vậy là tự tánh Vô thượng bồ đề, tức Phật tánh của mình. Ông lui ra, trong vài ngày viết bài kệ khác đem đến đây, tôi xem thấy được sẽ truyền Y Pháp cho”

Thượng tọa Thần Tú lễ tạ lui ra, về phòng luôn mấy ngày đêm không nghĩ được kệ, lòng hốt hoảng, tinh thần không yên, ngồi đứng xốn xang như người trong mộng.

Hai ngày sau, một đồng tử đi ngang chỗ giã gạo, đọc kệ này. Tôi nghe liền biết kệ chưa thấy tánh, tuy chưa được Tổ chỉ dạy, nhưng đã rõ đại ý, mới hỏi đồng tử:

– “Đọc đó là kệ gì vậy?”   Đồng tử:

– “Ông Nam rợ này không biết gì hết, Đại Sư dạy: “Người đời sanh tử rất quan trọng. Ngài định tìm người thừa kế, nên khiến môn nhơn viết kệ trình, nếu ngộ đại ý, sẽ được Ngài truyền Y Pháp, nối ngôi Tổ, đời thứ 6 ”. Thượng tọa Thần Tú viết bài kệ vô tướng này trên vách hành lang phía Nam, Đại Sư dạy đồ chúng nên tụng và y theo đó tu, sẽ khỏi đọa ác đạo, được nhiều lợi ích”.  Tôi thưa:

– “Thượng nhơn ơi! Tôi ở đây đã hơn 8 tháng, chưa từng bước ra khỏi chỗ này, mong thượng nhơn dẫn tôi đến trước bài kệ để lễ bái”.  Đồng tử nhận lời.   Lễ xong, tôi thưa:

– “Huệ Năng tôi không biết chữ, xin thượng nhơn vui lòng đọc kệ”.

Lúc đó có quan Biệt Giá ở Giang Châu, họ Trương tên Nhựt Dụng, lớn tiếng đọc.   Nghe xong, tôi thưa:

– “Tôi cũng có một kệ, nhờ quan Biệt Giá chép dùm”. Quan Biệt Giá ngạc nhiên: – “Ngươi cũng làm kệ được sao?  Việc này ít có!”. Tôi thưa:

 

– “Muốn học đạo Vô thượng bồ đề không nên khi người mới học, nhiều người thấp hèn nhưng có thượng trí, người thượng lưu lắm khi không ý trí gì. Khi dể người có tội lớn!”

—-

1.- Khi thấy được chơn tướng là biết rõ thật tướng của một vật do nhơn duyên cấu tạo không có thực thể, dĩ nhiên biết được thật tướng của vạn vật, tất cả đều giống như vậy.

 

 

 

Có vẻ hối hận, quan Biệt giá căn dặn:

 

– “Hãy đọc kệ, ta chép giùm, nếu ngươi đắc pháp nhớ độ ta trước, chớ quên lời này”. Tôi đọc:

 

“Bồ đề vốn không cội

Gương sáng chẳng phải đài                       

Chơn như không một vật

Chỗ đâu bám trần ai?” 

 

 

Kệ chép xong, đồ chúng kinh ngạc, bàn tán xôn xao, than:

 

– “Không nên đánh giá người qua tướng mạo bề ngoài. Bấy lâu nay nỡ nào khi dể và hành hạ nhục thân Bồ Tát !”

 

Tổ thấy chúng nhơn kinh ngạc, sợ Năng tôi bị người ám hại, liền lấy giày bôi sạch bài kệ, bảo:

 

– “Cũng chưa thấy tánh”. Bấy giờ đồ chúng mới yên lòng.

 

Hôm sau, Tổ kín đáo đến, thấy Năng tôi lưng đeo đá (cho đủ nặng) đạp chày giã gạo, Ngài cảm động, than:

 

– “Người cầu đạo vì pháp quên mình đến thế sao?” Lại hỏi:

 

– “Gạo trắng chưa?” Tôi bạch:

 

– “Gạo trắng đã lâu, chỉ thiếu giần sàng”.

 

Tổ dùng gậy gõ vào cối 3 lần, rồi đi. Biết ý ngài, trống điểm canh ba, tôi lẻn vào phòng, Tổ lấy ca sa che quanh, rồi giảng kinh Kim Cang, đến câu: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”.¹ Tôi nghe qua liền đại ngộ, tất cả vạn vật không rời tánh mình, bạch tiếp:

 

“Nào ngờ tánh mình vốn sẵn trong sạch.

Nào ngờ tánh mình vốn không sanh diệt.

Nào ngờ tánh mình vốn sẵn đầy đủ.

Nào ngờ tánh mình vốn không lay động.

Nào ngờ tánh mình hay sanh muôn pháp”.

 

 

Tổ biết Năng tôi đã ngộ, liền dạy tiếp:

 

– “Không thấy được lòng mình, học pháp vô ích, thấy được lòng mình, hiểu tánh mình mới trượng phu, là Phật, Thầy cõi Trời và cõi Người”.

 

Canh ba thọ pháp, không ai hay biết, Ngũ Tổ truyền pháp Đốn giáo ²  trao Y Bát rồi dạy:

 

– “Ông là Tổ đời thứ 6, cố gắng giữ gìn đạo tâm, hóa độ chúng sanh, lưu truyền cho đời sau đừng để dứt mất”.

 

Nghe kệ:

 

 “Có tình nên gieo giống

  Do nhân, quả liền sanh

  Không tình cũng không giống

  Không tánh lấy gì sanh”.

 

Tổ dặn thêm:

 

– “Khi xưa Tổ Đạt Ma mới đến xứ này, lòng người chưa tin nên cần truyền Áo ca sa làm tín vật, đời đời thừa kế. Pháp tức dùng tâm truyền tâm để tự ngộ, tự hiểu. Từ xưa Phật với Phật chỉ truyền bổn thể, Tổ với Tổ truyền kín bổn tâm. Áo là đầu mối của việc tranh chấp, từ nay, ông không nên truyền nữa sẽ nguy hiểm tánh mạng người lãnh Áo. Ông hãy đi gấp, e có người mưu hại”. Tôi bạch:

 

– “Đệ tử nên đi xứ nào?”  Tổ dặn:

 

– “Gặp Hoài (Hoài Tập, tỉnh Quảng Tây) thì ngừng, đến Hội (Tứ Hội, tỉnh Quảng Đông)  nên ẩn”.  Tôi lãnh Y Bát, bạch:

 

– “Đệ tử người phương Nam, không biết đường núi này, làm sao ra đến cửa sông?”  Ngũ Tổ trấn an:

 

– “Chớ lo! Tôi sẽ đưa ông”. Tổ đưa tôi đến trạm Cửu Giang, bảo xuống thuyền, rồi tự cầm chèo, Tôi vội bạch:

 

– “Thỉnh Hòa thượng ngồi, để đệ tử chèo”. Tổ thân mật:

 

– “Lẽ ra tôi phải độ ông”. Tôi bạch:

 

– “Mê nhờ Thầy độ, ngộ xong phải tự độ. Độ tên tuy có một, chỗ xử dụng tùy lúc khác nhau. Đệ tử sanh tại biên giới, lời nói không chính xác, khó nghe, mong ơn Hòa thượng thương tình truyền pháp, nên biết dùng tánh để tự độ”.

——

1.- Câu này ở kinh Kim Cang Bát Nhã: theo tự điển nghĩa là không chỗ trụ mà sanh tâm. Nghĩa theo kinh: chỗ không trụ là thể của chơn như. Còn sanh tâm là dụng của chơn như. Nếu dùng ý căn để sanh phân biệt, thì vô minh khởi: thương, ghét, yêu, thích, ảnh hưởng đến sự phân đoán, tạo nên nghiệp, rồi phải luân hồi. Không nên để tâm dính bất cứ một thứ gì.

2.- Đốn ngộ là phép dạy tắt, khiến hành giả nghe giảng liền ngộ đạo.

 

 

Tổ khen:

 

– “Đúng vậy… phải như vậy! Sau này Phật pháp do ông mở rộng. Ông đi rồi, ba năm sau tôi tạ thế. Ông nên đi mau về hướng Nam, chớ giảng sớm, vì Phật pháp đang gặp khó”.

 

Từ biệt Tổ, tôi rán sức đi mau về hướng Nam, 2 tháng sau, đến núi Đại Dữu Lãnh.

 

Phần Ngũ Tổ về chùa mấy ngày liền không thăng đường, đồ chúng sanh nghi, đến thăm dò:

 

– “Bạch Hòa thượng có chút bịnh hay buồn phiền điều chi?

 

– “Bịnh thì không, nhưng Y Bát đã về Nam”. Đồ chúng thưa:

 

– “Chẳng hay ai được truyền thọ?” Ngũ Tổ ngập ngừng, đáp:

 

– “Ai… Năng thì được”.

 

Đồ chúng ước chừng trăm người hối hả đuổi theo, mong đoạt lại Y Bát. Trong số đó có vị tăng họ Trần tên Huệ Minh, trước kia là tứ phẩm tướng quân, tánh tình thô bạo, nóng nảy, rán sức vượt lên trước đuổi theo kịp. Tôi để Áo trên đá, trách:

 

– “Áo này là tín vật, muốn dùng sức mạnh đoạt sao ?”

 

Nói xong, Năng tôi ẩn vào đám cỏ rậm. Huệ Minh vội đến nhặt lên, nhưng Áo không nhúc nhích, hoảng sợ, kêu lớn:

 

– “Hành giả, hành giả, đệ tử vì Pháp đến đây, không phải vì Áo”. Năng tôi ra ngồi trên bàn thạch, Huệ Minh đảnh lễ:

 

– “Mong ơn hành giả thuyết pháp cho đệ tử nghe”.  Tôi đáp:

 

– “Nếu ông vì pháp đến đây, hãy ngưng hết mọi trần duyên, dứt các niệm tưởng, tôi sẽ giảng cho ông nghe”. Huệ Minh im lặng hồi lâu, tôi giảng:

 

– “Chẳng tưởng việc lành, không nghĩ điều ác, lúc đó chính là bổn lai diện mục, tức chơn tánh của Minh thượng tọa”.

Huệ Minh nghe liền đại ngộ, bạch:

 

– “Ngoài lời và ý này xin Đại sư cho đệ tử biết còn điều chi bí mật nữa chăng?”  Đại sư:

 

– “Lời tôi đã nói thì không còn bí mật, ông nên tự soi vào trong, sẽ thấy mầu nhiệm”.  Huệ Minh bạch:

 

– “Huệ Minh từ lâu tu ở Huỳnh Mai nhưng chưa thấy bổn lai diện mục, nay nhờ ơn Thầy chỉ dạy, như người uống nuớc, lạnh ấm tự biết. Từ bây giờ hành giả là Thầy của Huệ Minh”.  Tôi từ chối:

 

– “Nếu ông nghĩ vậy, chúng ta cùng thờ Sư Huỳnh Mai, cố gắng hộ trì pháp này”.  Huệ Minh bạch tiếp:

 

– “Kính xin Đại sư dạy đệ tử nên về hướng nào?”  Tôi đáp:

 

– “Gặp Viên (Viên Châu) nên dừng, đến Mong (Mong Sơn) ở lại ”. Huệ Minh lễ tạ, từ giã, xuống núi báo với đồ chúng:

 

– “Ta đã lên tới đỉnh núi, nhưng không thấy tung tích, các ông nên đi hướng khác tìm”. Tất cả đều tin.

 

Sau đó, Huệ Minh lấy hiệu Đạo Minh, cố ý tránh tên thầy.

 

Vừa tới Tào Khê, bọn ác theo kịp, Năng tôi phải lánh mình trong nhóm thợ săn, ở ấp Tứ Hội hơn 15 năm. Thời gian này, tôi tùy nghi thuyết pháp cho chúng nghe, dầu vậy, tôi vẫn thường bị sai giữ lưới. Khi thú cầm mắc lưới, Năng tôi đều kín đáo thả hết. Lúc nấu ăn, tôi để rau trong nồi thịt, chúng hỏi, tôi trả lời:

 

– “Chỉ ăn rau luộc bên thịt ”.

 

Ngày nọ, nghĩ không thể ẩn mãi nơi này, tôi liền đến chùa Pháp Tánh, Quảng Châu, nhằm lúc Ấn Tông pháp sư giảng kinh Niết Bàn. Bấy giờ có luồng gió nhẹ thổi lá phướn trước sân chùa lay động, một vị tăng lên tiếng:

 

– “Gió động”, vị tăng khác cải:

 

– “Phướn động”, nghị luận không ngưng. Tôi liền can:

 

– “Không phải gió hay phướn động, chính tâm hai ông động”.

 

Tất cả giật mình. Ấn Tông mời tôi lên đàn, hỏi về Phật lý, tôi giải đáp rõ ràng, lời giản dị. Nghe xong, Ấn Tông bạch:

– “Hành giả nhứt định người phi thường, từ lâu tôi nghe Y Bát Huỳnh Mai đã về Nam, phải hành giả chăng?” Tôi khiêm nhượng:

 

– “Không dám!” Ấn Tông đảnh lễ, thỉnh cầu cho đại chúng được xem Y Bát. Xong, Ấn Tông bạch thêm:

 

– “Cách truyền pháp của Sư Huỳnh Mai thế nào?”

 

– “Truyền trao thì không, chỉ dạy thấy tánh; chẳng luận về thiền định và giải thoát ”. Ấn Tông ngạc nhiên bạch:

 

– “Tại sao không luận thiền định và giải thoát ?” Tôi đáp:

 

– “Vì hai pháp đó không phải của Phật, Phật pháp vốn không hai ”. Ấn Tông hỏi thêm:

 

– “Sao gọi Phật pháp không hai ?” Tôi giải thích:

 

– “Pháp sư giảng kinh Niết Bàn đã rõ, Phật tánh tức pháp không hai của Phật pháp. Như Bồ Tát Cao Quí Đức Vương bạch với Phật: “Người phạm 4 tội trọng, 5 điều nghịch và nhứt xiển đề, có dứt thiện căn Phật tánh chăng ?”  Phật dạy: “Thiện căn có 2 thứ, một là thường, hai vô thường, Phật tánh chẳng phải thường cũng chẳng phải không thường, nên Phật tánh không dứt, đó gọi pháp không hai. Căn cũng có hai, một thiện hai không thiện, Phật tánh không thiện cũng không phải không thiện, nên gọi Phật tánh không hai. Uẩn với giới người phàm thấy hai, người trí hiểu tánh ấy không hai, tánh không hai tức Phật tánh”.

 

Ấn Tông nghe giảng vui mừng, chấp tay bạch:

 

– “Tôi giảng kinh như gạch ngói, nhơn giả luận nghĩa như vàng ròng”. Nhơn đó, xuống tóc cho tôi và tôn là Thầy.

 

Nơi cội bồ đề, tôi khởi sự giảng:

 

– “Năng tôi đắc Pháp môn Đốn giáo này tại Đông Sơn, đã chịu nhiều cực khổ, mạng từng nguy hiểm như sợi tơ treo, ngày nay được cùng sử quân và quí vị quan viên, tăng, ni, đạo, tục, tựu họp một hội nơi đây, do có duyên nhiều đời, cúng dường chư Phật nhiều kiếp, đã trồng căn lành, mới được nghe nguyên nhân đắc pháp và pháp môn đốn giáo. Pháp, do các bậc Thánh đời trước truyền lại, không phải tôi tự đặt. Nguyện khi nghe những lời dạy của các bậc Thánh xưa, quí vị nên lắng tâm thanh tịnh, nghe xong tự trừ nghi hoặc, sẽ chứng đắc như chư Thánh, không khác biệt ”.

 

Tất cả nghe pháp đều vui mừng, đảnh lễ lui ra.

 

– *** –

 

 

II.- BÁT NHÃ

 

LỤC TỔ GIẢI NGHĨA TRÍ HUỆ

 

— *** —

 

Qua ngày sau, Vi Sử Quân xin được chỉ dạy thêm, Đại Sư lên bục giảng, bảo đại chúng:

 

– “Tất cả quí vị nên tịnh tâm niệm: Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa”. Đại Sư giảng tiếp:

 

– “Thiện tri thức! ¹ Mỗi người đều có trí Bồ đề Bát Nhã, vì tâm mê muội không thể tỏ ngộ, phải nhờ đại thiện tri thức chỉ dẫn mới được thấy tánh. Nên hiểu, người mê kẻ trí đều có Phật tánh, không khác biệt, vì mê ngộ không đồng mới có kẻ tối người sáng. Nay tôi giảng pháp Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật cho quí vị được đắc trí huệ, nên lắng tâm nghe kỹ ”.

 

– “Thiện tri thức! Người đời suốt ngày miệng niệm Bát Nhã mà không rõ Bát Nhã có sẵn trong tánh mình, ví như nói ăn nhưng không ăn sao no; miệng nói tâm không mà không biết chơn không để tu, muôn kiếp cũng chẳng thấy tánh, rốt cuộc không ích lợi”.

 

– “Thiện tri thức! Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật, tiếng Phạn, ² người Trung Hoa dịch: Đại trí huệ đáo bỉ ngạn, có nghĩa trí huệ lớn, đến bờ bên kia, tức bờ giác. Tu do tâm hành chẳng do miệng niệm. Miệng niệm tâm không hành như mộng ảo, như biến hóa, như sương mù, như điện chớp. Miệng niệm tâm phải hành, lòng và miệng hợp nhau. Chơn tánh là Phật, rời tánh không có Phật”.

 

– “Thiện tri thức! Sao gọi Ma Ha? Ma Ha là lớn, lượng của tâm rộng lớn bao la như không gian, chẳng có giới hạn bến bờ, không vuông tròn, lớn nhỏ, chẳng xanh đỏ trắng vàng, không trên dưới, ngắn dài, không giận, không vui, không phải quấy, không thiện ác, không đầu đuôi. Các cõi của chư Phật cũng bao la rộng lớn như không gian vậy”.

 

– “Thiện tri thức! Tánh huyền diệu của người đời vốn trống —-

1.- Bạn hiền về đạo lý. Người có đạo hạnh cao.

2.- Văn tự cổ Ấn độ.

không, chẳng thứ gì có thể tìm được trong đó, tánh chơn không của chúng ta cũng giống như vậy”.

 

– “Thiện tri thức! Đừng nghe tôi giảng không, liền chấp không. Cần nhứt, chớ chấp không, nếu để tâm không ngồi yên liền rơi vào vô ký không”. (không nghĩ, không nhớ gì hết).

 

– “Thiện tri thức! Thế giới tuy trống không nhưng bao gồm vạn vật, các cảnh sắc có hình trạng như: mặt trời, trăng, sao, núi, sông, đất liền, suối, nguồn, sông, rạch, cây, cỏ, rừng, bụi, người ác, kẻ hiền, việc ác, điều lành, thiên đường, địa ngục, tất cả biển lớn, các núi Tu Di, đều ở trong không gian, chơn tánh của người đời cũng trống không như vậy”.

 

– “Thiện tri thức! Chơn tánh của chúng ta có khả năng dung chứa tất cả cảnh vật, nên gọi rộng lớn. Các cõi đều ở trong chơn tánh người đời. Không chứa chấp trong lòng việc ác, điều lành của người khác, không giữ bỏ, không nhiễm mắc, vẫn bình lặng như không trung rộng bao la, gọi Ma Ha”.

 

– “Thiện tri thức! Người mê niệm suông ngoài miệng, kẻ trí thực hành trong tâm. Người mê ngồi yên lặng để tâm trống rỗng, các việc đều không nghĩ đến, tự cho mình cao siêu. Hạng người này đã rơi vào tà kiến, khó trao đổi với họ”.

 

– “Thiện tri thức! Thể tích của tâm (sức chứa đựng), rộng lớn vô cùng tận, bao trùm các cõi, nên gọi lớn. Công dụng của tâm giúp ta xét đoán, hiểu biết tường tận, phân minh sự việc. Tất cả đều do một tâm, nên gọi tất cả là một. Do một tâm, khi dùng hiểu rành tất cả, nên gọi một là tất cả. Thể của tâm luôn tự do lui tới, sáng tỏ, thông suốt, không vướng ngại, là Trí Huệ Bát Nhã”.

 

– “Thiện tri thức! Tất cả trí Bát Nhã đều từ tánh sanh, không tìm bên ngoài đem vào, chớ lầm dùng ý thức, phải dùng chơn tánh.¹ Khi dùng chơn tánh tất cả đều chơn”.²

 

– “Thiện tri thức! Lượng của tâm phải dùng vào việc lớn, chẳng theo điều nhỏ.³ Chớ nên suốt ngày miệng nói không mà trong tâm chẳng tu hạnh này, như vậy khác gì người thường mê muội nuôi tham vọng mạo xưng vương, rốt lại chẳng được gì. Hạng người này không phải đệ tử của tôi”.

 

– “Thiện tri thức! Sao gọi Bát Nhã? Là tiếng Trung Hoa, đời  Đường, có nghĩa trí huệ sáng suốt. Tất cả nơi chốn, bất cứ thời gian, các niệm tưởng không mê, thường hành sáng suốt, gọi hạnh Bát Nhã. Một niệm tưởng hôn muội Bát Nhã dứt, một niệm tưởng sáng suốt Bát Nhã liền sanh”.

 

– “Thiện tri thức! Người đời mê muội chẳng thấy Bát Nhã, miệng luôn niệm Bát Nhã mà trong tâm mê tối, họ thường tự hào rằng tu Bát Nhã, lúc nào cũng nói không nhưng chẳng biết lý chơn không. Bát Nhã không hình tướng, tâm sáng suốt tức Bát Nhã. Hiểu rõ như thế, tức trí Bát Nhã”.

 

– “Thiện tri thức! Sao gọi Ba La Mật? Là tiếng Ấn Độ, Trung Hoa dịch: đáo bỉ ngạn, tức đến bờ bên kia, (có nghĩa giải thoát, dứt sanh diệt). Chấp cảnh, sanh diệt liền khởi như nước dậy sóng, là còn bờ bên này. Rời các cảnh, sanh diệt dứt, nước lưu thông liền đến bờ bên kia, tức bờ giải thoát là hết sanh diệt, gọi Ba La Mật”.

 

– “Thiện tri thức! Người mê miệng niệm nhưng trong tâm còn vọng động, tưởng điều sai quấy. Mỗi niệm tưởng tâm thường hành Bát Nhã, là chơn tánh. Ngộ lý này gọi pháp Bát Nhã, tu hạnh này tức hạnh Bát Nhã. Chẳng tu, còn phàm phu, một niệm tu hành tự thân bằng Phật”.

 

– “Thiện tri thức! Phàm phu giác ngộ là Phật, phiền não dứt sạch tức bồ đề. Niệm tưởng trước còn mê là phàm phu, niệm tưởng sau tỏ ngộ tức Phật. Niệm tưởng trước chấp cảnh còn phiền não, niệm tưởng sau dứt các cảnh là bồ đề”.

 

– “Thiện tri thức! Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật tối cao, tối thuợng, là đệ nhứt. Không trụ, không đến, chẳng tới lui.

—–

1 – 2.- Nhận được chơn tánh và dùng chơn tánh thì thấy biết các việc đều chơn. Khi rõ được chính xác một vật, thì hiểu được muôn vật, nên gọi một chơn tất cả đều chơn. Nếu dùng ý thức để phân biệt sự việc, thì bị ảnh hưởng của ngoại cảnh làm sai lầm, tạo nên nghiệp, sẽ phải  luân hồi chịu trả quả.

3.- Làm chuyện lớn là dùng trí Bát Nhã tu thành Phật. Làm việc nhỏ là tu phước để hưởng lạc thú ở cõi Trời và cõi người. Khi hết phước phải chịu đọa trầm luân.

 

 

Ba đời chư Phật nương đây tu thành. Dùng đại trí huệ chiếu sạch ngũ uẩn và các phiền não trần lao, biến ba độc: Tham, Sân, Si thành Giới, Định, Huệ, tu được vậy nhứt định viên thành Phật quả”.

 

– “Thiện tri thức! Pháp môn của tôi từ một Bát Nhã, sanh tám vạn bốn ngàn trí huệ. Vì sao? Vì người đời gây ra tám vạn bốn ngàn trần lao, tức phiền não; không còn phiền não trí huệ liền hiện, chẳng rời tánh mình. Ngộ pháp này là không niệm: lòng không nhớ vẩn vơ, không mê chấp, không tưởng nghĩ sai quấy. Dùng tánh chơn như, lấy trí huệ chiếu soi, đối cảnh lòng không giữ, chẳng bỏ, liền thấy tánh thành Phật đạo”.

 

– “Thiện tri thức! Nếu muốn vào cảnh giới vi diệu của Bát Nhã Chánh Định, nên hành hạnh Bát Nhã và tu theo kinh Kim Cang sẽ được thấy tánh. Nên biết công đức kinh này vô lượng vô biên, những lời trong kinh ca ngợi hạnh Bát Nhã rõ ràng không thể kể hết. Pháp môn này là tối thượng thừa, dùng giảng cho bực đại trí, giải thích với người thượng căn”.

 

– “Thiện tri thức! Người căn trí kém, khi nghe lòng không tin. Vì sao? Ví như trận mưa to xuống cõi Diêm phù, thành thị, làng xóm, bộ lạc đều bị nước ngập lụt, cuốn trôi như trôi lá táo, như trôi cỏ rác; nếu mưa xuống biển lớn khó phân biệt lượng nước thêm hay bớt. Người đại thừa, người tối thượng thừa, nghe kinh Kim Cang tâm liền tỏ ngộ. Nên hiểu, chơn tánh của người đời sẵn có trí Bát Nhã, vậy, nên dùng trí Bát Nhã tự soi sét, phân đoán sự việc, đừng chấp văn chương, chữ nghĩa. Ví như nước mưa không phải có tự nơi trời, mà do rồng rút lên¹, khiến chúng sanh, thảo mộc, các loài hữu tình (có tri giác), vô tình (không tri giác), đều được thấm nhuần. Nước từ sông rạch chảy ra biển, hợp thành một thứ nước, trí Bát Nhã của chơn tánh chúng sanh cũng vậy”.

 

—-

1.- Trước khi khoa học chứng minh hơi nước bốc lên thành mây, rồi tan rả rơi xuống là mưa. Người xưa tin rồng hút nước làm mưa.

 

 

– “Thiện tri thức! Người căn cơ kém, khi nghe pháp đốn giáo  như cây cỏ gốc rễ nhỏ, gặp mưa to phải xiêu ngã, không tăng trưởng được. Trí Bát Nhã sẵn có trong mỗi người, không khác biệt, tại sao nghe pháp chẳng tự sáng tỏ, vì tà kiến, nghiệp chướng quá nặng, gốc rễ phiền não rất sâu, như mây lớn che khuất mặt trời, nếu chẳng nhờ gió mạnh thổi tan, ánh sáng không chiếu ra được. Trí Bát Nhã cũng không lớn nhỏ, vì tâm chúng sanh mê, sáng chẳng đồng. Người tu hành tâm mê tìm Phật theo hình tướng bên ngoài, vì chưa nhận được chơn tánh, tức căn cơ kém. Nếu hiểu pháp đốn giáo không chấp hình thức bên ngoài, chỉ cần trong tâm luôn giữ chánh kiến thì phiền não trần lao không nhiễm được, liền thấy tánh”.

 

– “Thiện tri thức! Tâm ta trong ngoài không nhiễm mắc, chẳng vướng cảnh, lui tới tự do, thông suốt, tu được hạnh này, đối với kinh Bát Nhã không khác”.

 

– “Thiện tri thức! Tất cả văn tự trong kinh Tu Đa La đại tiểu hai thừa, 12 bộ kinh, đều do người trí huệ viết. Nếu không có người đời, vạn pháp đương nhiên không có”.

 

– “Thiện tri thức! Nên hiểu, vạn pháp vốn do người đời thành lập, kinh sách do người giảng giải, biên chép mới có. Người thế gian có mê có sáng, mê gọi tiểu nhơn, sáng là đại nhơn.  Kẻ mê hỏi người sáng, người sáng giảng cho kẻ mê được tỏ ngộ, tâm trí thông suốt, đâu còn phân biệt mê sáng nữa”.

 

– “Thiện tri thức! Chưa ngộ, Phật còn trong chúng sanh. Tỏ ngộ, chúng sanh thành Phật. Nên biết, vạn pháp do tâm, tại sao không dùng tâm ta để thấy chơn như bổn tánh, tức Phật tánh? Kinh Bồ Tát giới chép: “Bổn nguyên tự tánh vốn trong sạch. Nếu ngộ được tâm, thấy được tánh liền thành Phật đạo. Kinh Tịnh Danh chép: “Tức thời tâm trí thông suốt, liền phục hồi được bổn tâm”. ¹

 

– “Thiện tri thức! Khi tôi ở nơi Nhẫn Hòa thượng nghe một lời giảng liền tỏ ngộ, thấy Chơn Như Bổn Tánh, nên tôi đem giáo pháp này truyền lưu, giúp người học đạo sớm ngộ bồ đề, tự soi tâm thấy tánh. Nếu tự mình chưa ngộ, cần nhờ thiện tri thức giảng giải pháp tối thượng thừa và chỉ đường tu chơn chánh, vì thiện tri thức có nhơn duyên với chúng sanh, hướng dẫn mới được thấy tánh. Các pháp lành đều do thiện tri thức lập. Chư Phật ba đời, ² 12 bộ kinh ³ trong tánh mỗi người có đủ. Nếu tự mình hiểu, khỏi cầu người ngoài. Nhược bằng ỷ lại hoàn toàn vào thiện tri thức nhờ giải thoát dùm là không ý thức. Vì sao? Vì tâm ta sẵn có tri thức tự ngộ, nếu luôn khởi tà mê, vọng niệm điên đảo, dầu thiện tri thức tận tình chỉ dạy cũng không sao giúp được. Khi dùng chánh kiến Bát Nhã chiếu soi, trong chớp mắt vọng niệm điên đảo diệt hết. Thấy được tánh, một niệm tưởng giác ngộ liền đạt đến địa vị Phật”.

 

– “Thiện tri thức! Dùng trí huệ chiếu soi trong ngoài sáng tỏ, rõ ràng, liền nhận được chơn tâm, tức giải thoát, được giải thoát là Bát Nhã Chánh Định, mới gọi Không niệm. Sao gọi Không niệm? Thấy cảnh vật tâm không nhiễm, là Không niệm. Dụng của tâm bao trùm các cõi không vướng mắc nơi nào. Cứ tịnh tâm, khiến 6 thức ⁴ ra 6 cửa hợp với 6 trần, tâm không tạp nhiễm, lui tới tự do, thông dụng không trở ngại, tức Bát Nhã Chánh Định tự tại giải thoát, là hạnh Không niệm. Nếu cố đè nén tâm, không cho nghĩ ngoại cảnh, khiến tư tưởng ngưng dứt vĩnh viễn, là bị pháp trói buộc, gọi biên kiến, (thấy một chiều) thật sai lầm”.

 

– “Thiện tri thức! Hiểu rõ pháp Không niệm liền suốt thông vạn pháp, hiểu rõ pháp Không niệm tức thấy cảnh giới chư Phật, hiểu rõ pháp Không niệm là đạt đến địa vị Phật”.

 

– “Thiện tri thức! Đời sau nếu ngộ Pháp môn Đốn giáo, nên cùng những người đồng chí hướng tu học, phát nguyện bảo tồn, chung thân không thối chuyển cũng như phụng sự chư Phật, được vậy, chắc chắn sẽ nhập Thánh vị. Từ nay về sau nên truyền cho đúng và chẳng đặng giấu chánh pháp, tuy nhiên, không nên truyền cho người khác chí hướng, không quyết lòng hành đạo, người khác phái, vì kẻ mê không hiểu, chê bai pháp môn Đốn giáo, khiến họ phải chịu trăm kiếp ngàn đời dứt mất giống Phật tánh”.

—–

1.- Kinh Duy Ma Cật.   2 – 3.- Xin xem lời giải ở cuối Phẩm.

4.- Thức là sự hay biết, của Mắt: Nhãn thức. Của Tai: Nhĩ thức. Của Mũi: Tỹ thức. Của Lưỡi: Thiệt thức. Của Thân: Thân thức. Của Ý: Ý thức. – 6 Cửa: Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý. – 6 Trần:  Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp.

 

 

 

– “Thiện tri thức! Tôi có bài kệ không tướng, các ông nên siêng tụng, dầu ở tại nhà hay vào chùa, cứ y theo đó tu, nếu không tu mà chỉ nhớ lời của tôi cũng không ích lợi. Nghe kệ:

 

 

“Tâm thông giảng suốt thông

Như mặt trời trên không.

Chỉ truyền pháp thấy tánh,

Vào đời phá tà tông.

Pháp không phân mau chậm,

Mê ngộ có chậm mau.

Pháp môn thấy tánh này,

Còn mê khó hiểu thấu.

Giảng ra muôn ngàn lối,

Chân lý vốn một thôi.

Phiền não lòng mê tối,

Đuốc huệ luôn chiếu soi.

Khởi tà sanh phiền não,

Tâm chánh, mê tối tan.

Chánh tà không vướng bận,

Thanh tịnh tức Niết bàn.

Bồ đề tự tánh minh,

Tâm khởi vọng liền sanh.

Nơi vọng có tịnh tánh,

Dứt chướng nhờ tâm thanh.

Người đời muốn tu hành,

Lòng đừng vương ngoại cảnh.

Thường soi xét lỗi mình,

Với đạo đồng một hạnh.

Sanh vật đều có đạo,

Không nên hại lẫn nhau.

Rời tâm, ngoài tìm đạo,

Suốt kiếp chịu lao đao.

Bôn ba trọn một đời,

Rốt lại thêm phiền não.

Muốn thấy được chơn đạo,

Tâm chánh ấy đạo mầu.

Chưa phát được đạo tâm,

Tạo quấy đạo khó tầm.

Người tu hành ngay thật,

Không nhìn lỗi thế nhân.

Tìm điều sai người khác,

Chê bai là chưa đạt.

Người trái ta đừng sai,

Ta sai do bài bác.

Nên quên hết tà tâm,

Lánh xa điều phiền não.

Thương ghét cũng không màng,

Thảnh thơi an nhàn nghỉ.

Muốn độ người cạn trí,

Phương tiện phải sẵn sàng. ⁵

Hóa giải hết nghi nan,

Chơn tánh hiện rõ ràng.

Phật pháp nơi thế gian,

Chớ xa đời tầm giác.

Tìm bồ đề lánh trần,

Kiếm sừng thỏ nào khác.

Chánh kiến là xuất thế,

Tà kiến còn trần gian.

Chánh tà đều quên hết,

Bồ đề hiện rõ ràng.

Kệ này là đốn giáo,

Đồng danh đại pháp thoàn.

Mê, cần tu nhiều kiếp,

Ngộ, khoảnh khắc thời gian”.

 

 

Phỏng dịch:

 

 “Tâm suốt thông giảng lời thông suốt,             

Như mặt Trời sáng rực trên không.

Thực hành kiến tánh pháp môn,

Phật lực hóa giải tà tông cõi trần.

Phật pháp vốn không phân mau chậm,

Tùy mỗi người mau chậm hiểu thôi.

Pháp môn kiến tánh ra đời,

Còn mê đâu dễ thấu lời dạy khuyên.

Giảng giải ra dầu thiên vạn lối,

Nhưng lý chân một mối không hai.  

Phiền não sanh, dạ u hoài,

Cần nương đuốc huệ đêm ngày chiếu soi.                

Tà tâm khởi, cả đời thống thiết,

Chánh kiến sanh thông suốt trong ngoài.

Thấp, cao, hơn, thiệt, đúng, sai,

Gìn lòng chánh trực thấy ngay Niết Bàn.

Tâm thanh tịnh do nương Bát Nhã,    

Sạch vô minh, giác tánh hiện ra.

Gạn trong lắng đục lòng ta,                

Dứt xong ba chướng ái hà thoát qua.  

Người chân tu thiết tha hành đạo,

Đừng để lòng rong dạo khắp nơi.

Sửa lỗi mình, cẩn ý lời,

Học môn định huệ đạo đời đều thông.

Người với vật máu nồng cùng thắm,

Nỡ lòng nào tàn nhẫn hại nhau.

Đạo không thứ bực thấp cao,

Chớ nên thay đổi sớm vào chiều ra.

Dầu xuôi ngược bôn ba hết kiếp,

Tàn hơi rồi, hối tiếc mà thôi.               

Thiền tông gắng giữ trọn đời,

Làm điều ngay thẳng phục hồi chơn tâm.

Không lập chí tu môn đốn pháp,

Như người mù đi lạc rừng đêm.

Đức hạnh luôn chuốt trau thêm,

Thói hư nết xấu, việc riêng mặc người.

Đừng ghé mắt vào đời nhân thế,

Mới thiệt hành định huệ suốt thông. 

Cõi trần vạn sự đều không,

Mặc người phải trái, sạch trong phận mình.

Dứt cho hết trọng khinh nhân ngã,

Lòng buồn phiền tất cả xả tan.

Giàu nghèo, thương ghét không màng,        

Rèn tâm luyện tánh an nhàn thảnh thơi.

Muốn hóa độ lớp người cạn trí,

Phương tiện cần giải tỏa lầm sai.

Xóa tan chấp mắc lâu nay,                  

Tức thì trước mắt liên đài hiện ra.

Phật pháp tại cõi ta bà,           

Chớ đi tầm giác rừng già núi non      

Bồ đề kiếm gầy mòn thân xác,

Như tìm sừng thỏ khác chi đâu.

Chánh kiến xuất thế nhiệm mầu,

Tà kiến nhập thế gây sầu thế nhân.

Chánh với tà một lần dứt tuyệt,

Tánh bồ đề nhất quyết hiện ra.

Pháp đốn giáo từ Phật gia,

Đại pháp thoàn cũng là đồng danh.

Người mê bền chí tu hành,

Ngộ,trong giây phút vãng sanh Phật đài”.

 

Đại Sư dạy thêm:

 

– “Buổi giảng tại chùa Đại Phạm hôm nay, tôi nguyện cầu chúng sanh có duyên trong các cõi, nghe pháp môn Đốn giáo này được thấy tánh thành Phật ”.

 

Bấy giờ Sử Quân cùng quan viên, đạo, tục, nghe Đại Sư giảng, đều tỉnh ngộ, đồng đảnh lễ và khen:

 

– “Nào dè Lãnh Nam có Phật ra đời !”

 

— *** —

 

 

 

                       Giải thích các lời chú trang 32:

— *** —

 

1. Kinh Lăng GiàPhật thuyết tại núi Lăng Già đảo Tích Lan. 4 quyển nay còn 3 quyển.

a. Đời Tống Cầu Na Bạt Đà La dịch: tên Lăng Già A Bạt Đà La bửu kinh (4 quyển).

b. Đời Nguyên, Ngụy Bồ Đề Lưu Chi dịch: tên Nhập Lăng Già kinh (10 quyển).

c. Đời ĐườngThật Xoa Nam Đà dịch: tên Đại thừa nhập Lăng già kinh (7 quyển).

 

2. Phật ba đời: Tức Tam Thế Tam Thiên Phật: Quá khứ thế Trang Nghiêm Kiếp – Hiện tại thế Hiền Kiếp và Vị lai thế Tinh Tú Kiếp. Mỗi kiếp 1,000 vị Phật ra đời.

— *** —

                   

                                                                                            Phụ giải về 12 bộ Đại Thừa kinh:

 

 

 

1.- Tu đa la (Sùtra) dịchKhế kinh, Pháp bổn kinh Trường hàng. Khế kinh (hợp căn cơ chúng sanh).

2.- Kỳ dạ (Geya) dịch: Ứng tụng, hay Trùng tụng  (thuyết nghĩa lý của kinh trường hàng).

3.- Hòa ca la na (Vyakarana) dịch: Thọ ký (thọ ký các đệ tử sẽ thành Phật).

4.- Già đà (Gàthà) dịch: Phúng tụng, Cô khởi tụng  (kệ tụng).

5.- Ưu đà na (Udana) dịch: Tự thuyết  (tự Phật thuyết không ai hỏi).

6.- Ni đà na (Nidàna) dịch: Nhơn duyên  (có duyên được nghe pháp, và căn bản của vũ trụ).

7.- A ba đà na (Avadàna) dịch: Thí dụ  (thí dụ cho hiểu giáo pháp).

8.- Y đế mục đa già (Itivrtaka) dịch: Bổn sự (đời quá khứ Bồ Tát và các đệ tử).

9.- Xà đà già (Jàtaka) dịch: Bổn sanh  (đời quá khứ đức Phật).

10.- Tỳ Phật lược (Vaipulya) dịch: Phương quảng (giải nghĩa lý cao siêu tuyệt đối của đại thừa).

11.- A Phù đà đạt ma (Adbhutahdarma) dịch: Vị tằng hữu (oai lực thần thông của Phật).

12.- Ưu ba đề xá (Upadêsa) dịch: Luận nghị, thuyết về lý luận (phân biệt chánh tà).

 

 

5.- Lời giải thích hợp căn cơ, giúp người tu được giác ngộ.

 

 

 

III.- NGHI VẤN

 

HỎI CHỖ NGHI

— *** —

 

Ngày nọ, Vi thứ sử mở tiệc chay lớn đãi Đại Sư, xong tiệc, Thứ sử thỉnh Đại Sư đăng đàn, quan viên, sĩ phu, thứ dân, đảnh lễ, đồng cung kính bạch:

 

– “Chúng tôi nghe Đại Sư thuyết pháp lý lẽ quá cao siêu, thật không thể nghĩ suy, bàn luận được, nay có chút nghi ngờ, nguyện cầu Đại Sư từ bi giải thích”. Đại Sư:

 

– “Quí vị có điều nào nghi, xin bày tỏ, tôi sẽ giải”. Vi Công:

 

– “Bạch Đại Sư, phần giảng giải của Đại Sư phải tông chỉ của Tổ Đạt Ma không?”  Đại Sư:

 

– “Phải”. Vi Công:

 

– “Bạch Đại Sư, đệ tử được nghe Tổ Đạt Ma ban sơ hóa độ Lương Võ đế, Võ đế hỏi: “Trẫm một đời tạo chùa độ tăng, bố thí, đãi tiệc chay, như vậy có công đức chi chăng?” Tổ Đạt Ma đáp: “Thật không công đức! “ Đệ tử chưa hiểu lý này, kính xin Đại Sư từ bi chỉ dạy”. Đại Sư giải thích:

 

– “Thật không công đức, chớ nghi lời của Thánh trước kia. Võ đế tâm tà, chẳng biết chánh pháp. Tạo chùa độ tăng, bố thí, đãi chay, là cầu phước, không thể lấy phước đó kể vào công đức được. Công đức ở nơi pháp thân(tức từ trong đức tính căn bản của mình, chớ chẳng phải do tạo phước)“.

 

Đại Sư tiếp:

 

– “Thấy tánh, là công, giữ lòng bình đẳng, là đức.¹ Tâm thông suốt, luôn giữ gìn chơn tánh, hành động chơn chánh mới thật công đức. Trong lòng lúc nào cũng khiêm nhượng tức công, bên ngoài giữ lễ gọi đức”.

 

– “Thiện tri thức! Tánh mình lập muôn pháp ² là công, tâm dứt vọng niệm gọi đức, không quên tánh là công, ứng dụng không nhiễm điều sái quấy gọi đức. Muốn tìm công đức ở pháp thân phải y theo đó hành mới thật chơn công đức”.

—–

1.- Lòng bình đẳng tức là tâm như như đối với tất cả chúng sanh cùng vạn vật đều xem đồng một thể, không phân biệt, không phân chia giai cấp.

 

 

– “Thiện tri thức! Tu công đức tâm không nhơn ngã, không tự cao tự đại, luôn hòa nhã và lễ độ với tất cả. Nếu trong tâm còn khinh người là nhân ngã chưa dứt, tức không công, tánh tình gian trá, giả dối, là không đức”.

 

– “Thiện tri thức! Niệm tưởng chơn chánh, liên tục, là công, tâm hành ngay thẳng gọi đức; tự tu tánh là công, tự tu thân gọi đức”.

 

– “Thiện tri thức! Công đức phải thấy từ trong tánh, chẳng phải do bố thí, cúng dường, cố tạo hình thức bên ngoài mà được, vì thế phước đức với công đức khác nhau.Võ đế không rõ chân lý chớ chẳng phải Tổ Sư sai lầm”. Thứ sử:

 

– “Đệ tử thường thấy tăng tục niệm A Di Đà Phật cầu nguyện vãng sanh về Tây phương, vậy các vị ấy có được sanh về đó hay không?  Kính xin Đại Sư phá nghi dùm”.

 

– “Thứ sử nên nghe kỹ, khi đức Thế Tôn nơi thành Xá Vệ giảng về sự tiếp dẫn và hóa độ vào cõi Tây phương, Ngài giải rõ, cõi đó không cách xa đây, nếu luận về tướng và số dặm,  có 10 vạn tám ngàn, nghĩa là trong thân ta có 10 điều ác, ³ 8 điều tà,⁴ đó là khoản cách giữa trần gian với Tây phương Cực lạc; rất xa đối với người căn cơ thấp nhưng thật gần với người thượng trí. Người đời có hai hạng tối, sáng, pháp tu không hai bực, vì mê ngộ khác nhau nên sự hiểu biết có chậm mau, kẻ mê niệm Phật cầu vãng sanh về Tây phương, người ngộ tự tịnh nơi tâm. Phật dạy: “Tùy tâm tịnh tức Phật độ tịnh”, Sử Quân người phương Đông nếu tâm thanh tịnh, vô tội; người phương Tây tâm không thanh tịnh cũng có lỗi. Người phương Đông tạo tội, niệm Phật cầu sanh về Tây phương, còn người phương Tây tạo tội, niệm Phật cầu sanh về nước nào?

——-

2.- Tánh ta lập ra muôn pháp nghĩa là có đủ 3 đức lớn: Giải  Tín  Hạnh.

3.- 10 điều ác: Sát sanh – Trộm cướp – Tà dâm – Nói đâm thọc cho hai bên giận nhau – Nói lớn lối, cậy thế – Nói điều ác , chưởi mắng, thô tục – Kêu Trời, Phật, Thần, Thánh – Nói thêm bớt huyễn hoặc – Tham, S ân, Si – Mê muội ngu tối. 

4.- 8 điều tà: 1/-Tà kiến (thấy điều tà) 2/– Nghĩ tà. 3/- Không tinh tấn, lười biếng. 4/- Nói tà. 5/- Nghề nghiệp tà. 6/– Mạng tà. 7/– Niệm tà. 8/- Định tà.

 

 

Người mê không rõ tánh mình, chẳng biết tịnh độ tại thân, lo nguyện Đông nguyện Tây! Người giác ngộ, dầu ở xứ nào vẫn một lòng thanh tịnh.Vì vậy, Phật dạy: “Tùy chỗ ở hằng an lạc”, (người giác ngộ bất luận ở nơi nào cũng thấy an vui). Sử Quân tâm giữ trong lành thì đến cõi Tây phương không xa, nhược bằng ôm ấp lòng hiểm độc, dầu niệm Phật cầu vãng sanh suốt kiếp, Phật cũng không độ được. Tôi khuyên quí vị, trước nên trừ 10 điều ác trong tâm, tức đi được 10 vạn, sau dứt 8 điều tà là qua 8 ngàn; mỗi niệm tưởng đều thấy tánh, thường hành ngay thẳng, khảy móng tay liền thấy Đức Di Đà. Sử Quân lúc nào cũng thực hiện 10 điều lành, đâu cần nguyện vãng sanh, còn chứa 10 điều ác trong lòng,  Phật nào đến nơi đón rước!”

 

– “Thiện tri thức! Tỏ ngộ đốn pháp vô sanh, thấy Tây phương chỉ trong chớp mắt, nếu chưa tỏ ngộ, cứ lo niệm Phật cầu sanh, đường xa làm sao đến được?”

 

– “Thiện tri thức! Quí vị muốn thấy không, Huệ Năng tôi dời cõi Tây phương về đây trong chớp mắt”. Đồ chúng:

 

 

– “Nếu thấy trước mắt, đâu cần nguyện vãng sanh về đó nữa. Kính xin Đại Sư từ bi hiện cảnh Tây phương để chúng tôi được thấy ”. Đại Sư:

 

– “Thiện tri thức! Sắc thân người đời như thành trì, mắt, tai, mũi, lưỡi là cửa, trong có cửa ý, tâm là lãnh thổ, tánh là vua, vua ở lãnh thổ của tâm. Tánh còn vua còn, tánh đi vua mất. Tánh còn thân tâm còn, tánh mất thân tâm hoại. Tìm Phật nên nhìn nơi tánh, đừng hướng ngoài thân tìm cầu vô ích. Tánh mê là chúng sanh, giác ngộ tức Phật. Lòng từ bi là hiện thân của Đức Quan Âm Bồ tát, hỷ xả tức Đại Thế Chí Bồ tát, lòng luôn thanh tịnh tức Phật Thích Ca, tâm bình đẳng chánh chơn là Phật A Di Đà. Lòng nuôi nhân ngã là núi Tu Di, tham dục, tà tâm như nước biển, phiền não tràn đầy như sóng xao, độc hại như rồng dữ, gian xảo, dối trá là ác quỷ, sầu khổ trần lao giống cá rùa, tham sân thành địa ngục, mê si như  súc sanh”.

 

– “Thiện tri thức! Thường hành 10 điều lành thiên đường liền đến, dứt nhơn ngã núi Tu Di đổ, bỏ tham dục nước biển cạn, hết phiền não sóng xao lặng, trừ độc hại cá rồng tuyệt. Tu được vậy giác tánh Như Lai tự tâm thanh tịnh phát ra ánh sáng. Bên ngoài chiếu 6 cửa được thanh tịnh lại có công năng vượt khỏi 6 cõi trời dục giới.¹ Nương tánh này soi chiếu vào trong tiêu trừ ba độc: Tham  Sân – Si, nhờ đó các tội ở địa ngục một lúc tiêu tan, trong ngoài sáng suốt chẳng khác Tây phương. Không tu theo cách này làm sao đến đó được”.

 

Đồ chúng nghe giảng đều thấy tánh, đồng lễ bái khen thật hay, cùng kính cẩn khấn:

 

– “Nguyện cầu chúng sanh trong các cõi nghe xong liền hiểu rõ”.  Đại Sư giảng tiếp:

 

– “Thiện tri thức! Muốn tu, tại nhà cũng được, không nhứt thiết phải vào chùa. Tại nhà thực hành nghiêm cẩn như người phương Đông tâm lành. Ở chùa không tu như nguời phương Tây tâm ác; tâm trong sạch, (tức thanh tịnh) là cõi Tây phương”. Vi Công bạch:

 

– “Tại nhà tu cách nào. Kính xin Đại Sư chỉ dạy”. Đại Sư:

 

– “Tôi đọc bài kệ Không tướng, quí vị y theo đó tu như thường có tôi bên cạnh. Nếu không thực hành đúng, dầu quí vị cạo tóc, vào chùa, với đạo pháp cũng không ích lợi.” Kệ:

 

“Tâm bình đâu cần giữ giới,

Hạnh thẳng há nhọc tu thiền.

Ân, hiếu thảo phận con hiền,

Nghĩa, anh em hòa thân ái.

Nhượng, dưới trên không tranh cãi,

Nhẫn, dứt ác, hết ưu phiền.

Bền tâm, dùi cây ra lửa,

Bùn đọng, sẽ trổ hồng liên.

——-

1.-  Sáu sự ham muốn do 6 căn nhiễm với 6 trần: tức gặp những cảnh thích về: mắt – tai – mũi – lưỡi – thân và ý. Về 6 cõi trời Dục giới là 6 cảnh tiên trong cõi Dục giới, cũng gọi Lục dục thiên, Tứ vương thiên, Đao lợi thiên, Tô dạ ma thiên, Đâu suất thiên, Hoá lạc thiên và Tha hoá tự tại thiên.

 

 

Thuốc đắng bịnh được giảm thuyên,

Nghịch tai, đúng lời trung nghĩa.

 

Hết lỗi liền sanh trí huệ,

Che tội, trong dạ chẳng hiền.

Hằng ngày gắng làm điều thiện,

Thành đạo không do thí tiền.

Bồ đề hướng tâm tìm thấy,

Chớ vọng ngoại cầu hảo huyền.

Nghe giảng trau sửa cần chuyên,

Tây phương thấy liền trước mắt.”

 

 

Phỏng dịch:  

 

Tâm bình lặng đâu cần giữ giới,        

 Hạnh thẳng ngay há nhọc tu thiền.

 Ân, hiếu thảo phận con hiền,            

 Nghĩa, tình huynh đệ tương liên hài hòa.

 Nhượng, thuận thảo, thật thà ưu ái,

 Nhẫn, không gây thiệt hại cho ai.

 Bền tâm, dùi lửa trong cây,     

 Bùn lầy lắng đọng nở ngay sen hồng.

Thuốc thật đắng mới mong hết tật,

Lời thẳng ngay nghe rất nghịch tai.

Sửa hết lỗi, trí huệ khai,

Dấu che tánh xấu còn đầy ác tâm.

Hằng ngày cố gắng làm điều thiện,

Đạo không chấp lời huyễn hư danh.

Bồ đề do được tâm thanh,

Đừng nên vọng ngoại khấn xin Thánh Thần.

Nghe giảng trau sửa chuyên cần,

Chỉ trong chớp mắt được gần Tây phương”.

 

– “Thiện tri thức!  Tóm lại, quí vị nên y theo kệ tu hành, sẽ thấy tánh minh liền thành Phật đạo. Thời gian không chờ đợi, quí vị nên giải tán, tôi về Tào Khê, nếu vị nào còn điều chi nghi ngờ, xin đến hỏi”.

 

Bấy giờ, Thứ Sử, quan viên tại hội, thiện nam tín nữ, thảy đều  tỉnh ngộ, đồng nghiêm cẩn tuân hành lời Đại Sư dạy.

 

 

IV.- ĐỊNH HUỆ

THIỀN ĐỊNH VÀ TRÍ HUỆ

— *** —

Đại Sư giảng:

 

– “Thiện tri thức! Pháp môn của tôi dùng Định Huệ làm gốc. Quí vị chớ lầm cho Định và Huệ hai thể khác nhau. Định Huệ vốn một không phải hai. Định là thể của Huệ, Huệ là dụng của Định, lúc Huệ, Định nơi Huệ, khi Định, Huệ tại Định. Hiểu rõ nghĩa, nên học Định và Huệ cùng một lúc. Người học đạo không nên nghĩ Định trước phát Huệ sau, hay ngược lại, Huệ trước mới phát Định. Hiểu như vậy là lầm giáo pháp có 2 thể khác biệt. Miệng nói lời lành, lòng chẳng lành tức không Định Huệ, như vậy Định Huệ chẳng đồng. Nếu lòng và miệng đều lành, trong ngoài như một, Định Huệ quân bình”.

 

– “Thiện tri thức! Tu hành cần giác ngộ chẳng do tranh luận. Nếu tranh luận về Định Huệ, phân biệt Định trước hay Huệ trước vẫn còn mê, không dứt hơn thua liền tăng chấp ngã, lạc vào bốn tướng ”* (xin xem lời giải ở cuối phẩm)

 

– “Thiện tri thức! Định Huệ giống thứ gì? Thí dụ như ngọn đèn và ánh sáng, có đèn mới sáng, không đèn thì tối, đèn là gốc của sáng, tức thể của sáng; sáng là kết quả và công dụng của đèn. Tên tuy hai, nhưng thể chỉ một, pháp Định Huệ cũng vậy”.

 

– “Thiện tri thức! Tôi giảng về Nhứt hạnh Chánh Định, có nghĩa trong các thời gian đi, đứng, nằm, ngồi, đều giữ lòng thẳng ngay. Kinh Tịnh Danh chép: “Lòng thẳng ngay là đạo tràng, là Tịnh độ.” Chớ nên miệng nói tu Nhứt hạnh Chánh định mà không giữ lòng ngay thẳng. Trước ngoại cảnh lòng phải thẳng ngay, không chấp mắc”.

 

– “Thiện tri thức! Người mê chấp hình tướng, chấp cách tu Nhứt hạnh Chánh định, hiểu lầm là ngồi yên giữ lòng không khởi ý niệm. Hiểu và tu như vậy khác gì loại vô tình, vô tri giác, gây chướng ngại cho đạo!”

 

– “Thiện tri thức! Đạo phải thông suốt, đừng cho ngưng trệ. Tâm không chấp cảnh, đạo lưu thông, nếu tâm chấp dính ngoại cảnh là tự trói buộc. Nếu bảo ngồi chẳng động là tu Chánh định, thì sao ngài Xá Lợi Phất ngồi lặng im trong rừng bị Đức Duy Ma Cật quở?”

 

– “Thiện tri thức! Có người dạy ngồi yên soi xét lòng, ngưng nghĩ nhớ, không đi đứng, không cử động, cho đó là công phu, người mê không hiểu vội làm theo thành điên cuồng. Hạng người này rất nhiều, dạy nhau như vậy thật sai lầm!”

 

– “Thiện tri thức! Xưa nay chánh giáo không phân đốn tiệm(có nghĩa mau, chậm) do tâm người có sáng có mê. Người mê tu tiệm, kẻ sáng tu đốn, nếu biết tâm, thấy được tánh thì không còn phân biệt đốn hay tiệm, cho nên tạm giả danh gọi đốn tiệm”.

 

– “Thiện tri thức! Pháp môn của tôi lập Không niệm làm tông, Không tướng làm thể, Không trụ làm gốc:

 

– Không niệm, đang niệm mà chẳng chấp niệm,

 

– Không tướng, đối cảnh không chấp cảnh,

 

– Không trụ, trước các sự việc lành, dữ, tốt, xấu, với kẻ thù, người thân, lời châm chích, lúc tranh luận, đều không chấp giữ, không nuôi ý hơn thua gây oán, trả thù”.

 

– “Thiện tri thức! Đối cảnh tâm không nhiễm, tức không niệm. Từ niệm tưởng, tâm không bị cảnh làm loạn động. Nếu ép buộc tâm dứt mọi suy tư để được giải thoát, thật sai lầm. Nếu ngưng các tư tưởng, dứt niệm tưởng là chết nhưng phải đầu sanh nơi khác. Người học đạo phải rõ điều đó. Nếu chưa thấu hiểu yếu lý Phật pháp mà truyền dạy người khác thật tai hại. Mình lầm đành chịu, sợ người mê không hiểu chơn lý, nhạo báng kinh Phật, tội lỗi vô cùng, nên lập không niệm làm tông”.

 

– “Thiện tri thức! Người mê miệng nói thấy tánh nhưng khi đối cảnh tâm còn loạn động, khởi tà niệm, do đó tất cả phiền não, vọng tưởng liền sanh. Tánh ta vốn trong sạch không thể tìm được vật gì trong đó. Nếu cho rằng có thể tìm được vật gì trong chơn tánh rồi đem phân tách, luận bàn điều họa việc phước là nguyên nhân khởi tâm trần lao tà kiến. Vì thế pháp môn này lập không niệm làm tông”.

 

– “Thiện tri thức! Không để ngoại cảnh ảnh hưởng đến tâm,  lòng luôn giữ bình lặng, an nhiên tự tại, là không tướng; chẳng chấp các cảnh, thể tánh thanh tịnh, nên dùng không tướng làm thể ”.

 

– “Thiện tri thức! Nếu niệm tưởng: niệm trước, còn nhớ các việc đã qua; đang niệm, lòng suy nghĩ chuyện hiện tại; sẽ niệm, tính toan điều sắp tới; liên tục như vậy liền bị trói buộc. Trong các thời gian, đối cảnh lòng không chấp mắc, không dính cảnh, sẽ không bị trói buộc, nên lấy không trụ làm gốc”.

 

– “Thiện tri thức! không niệm là chẳng nghĩ tưởng vật gì! không nghĩ gì về ghét ưa hay so sánh, do đó tâm không phiền não. Niệm là nghĩ, tưởng, luôn nghĩ nhớ chơn như bổn tánh. Chơn như là thể của niệm, niệm tức công dụng của chơn như. Tánh chơn như là gốc của niệm, không phải niệm ở mắt, tai, mũi, lưỡi. Vì thế tánh chơn như khởi niệm tưởng, nếu không còn tánh chơn như thì mắt, tai, màu sắc, âm thinh đều hoại diệt ”.

 

– “Thiện tri thức! Tánh chơn như khởi niệm tưởng, 6 căn tuy thấy, nghe, hay hiểu biết mà không nhiễm các cảnh, do đó chơn tánh được an nhiên tự tại. Kinh chép: “Nên khéo phân biệt tường tận các cảnh tướng, bổn tánh thanh tịnh chẳng động”.

— *** —

 

Giải thích tứ tướng trang 42

 

* Tứ tướng:

 

1.- Ngã tướng:  tướng mình.

2.- Nhơn tuớngtướng người.

3.- Chúng sanh tướngtướng chúng sanh.

4.- Thọ giả tướngtướng thọ mạng (đời sống)

 

 

 

V.- TỌA THIỀN

 

NGỒI THIỀN

 

— *** —

Đại Sư giảng:

 

– “Thiện tri thức! Phương pháp môn ngồi thiền này không để tâm vướng mắc, cũng không chấp thanh tịnh, cũng chẳng phải không động. Nếu chấp vào tâm, tâm vốn vọng. Biết tâm như huyễn giả nên không chấp dính. Nếu chấp vào thanh tịnh, tánh người vốn thanh tịnh, bởi vọng niệm khởi tánh chơn như mới bị che khuất; dứt vọng tưởng, tánh tự nhiên thanh tịnh”.

 

– “Thiện tri thức! Khởi tâm chấp về thanh tịnh liền sanh ra vọng tưởng về thanh tịnh. Vọng tưởng vốn không xứ sở nhất định, nếu để tâm dính mắc vào vọng tưởng là sai lầm. Thanh tịnh vốn không hình tướng, nếu lập ra hình tướng tu tịnh rồi cho đó là công phu tu tịnh, hiểu biết như vậy tự che lấp tánh chơn như, liền bị chính chỗ thanh tịnh đó trói buộc”.

 

– “Thiện tri thức! Tu hạnh bất động là không khởi vọng niệm, khi nhìn người không cần tìm biết những việc phải quấy, lành dữ, lỗi lầm của họ, do đó tánh mình không động”.

 

– “Thiện tri thức! Người mê thân tuy không động, nhưng khi thảo luận lại khen phải, chê quấy, kể lỗi lầm, tốt xấu của người khác, như vậy trái với lẽ đạo. Nếu chấp nơi tâm, dính vào thanh tịnh đạo bị che khuất”.

 

– “Thiện tri thức! Sao gọi ngồi thiền? Chẳng có gì làm trở ngại được pháp môn này, nếu trước cảnh thiện ác bên ngoài lòng không khởi niệm tưởng, giữ được an nhiên, thanh tịnh, đó là ngồi. Tánh bên trong không loạn động gọi thiền”.

 

 

– “Thiện tri thức! Sao gọi thiền định? Không nhiễm ngoại cảnh là thiền, lòng không loạn động tức định. Nếu chấp cảnh, tâm liền loạn, dứt cảnh, tâm được thanh tịnh. Tánh ta vốn sẵn thanh tịnh, sẵn an định, vì thấy cảnh liền nhiễm cảnh nên sanh loạn động. Nếu thấy ngoại cảnh mà tâm không loạn động mới thiệt chơn định”.

 

– “Thiện tri thức! Ngoài không nhiễm cảnh tức thiền, trong tâm không loạn là địnhNgoài thiền trong định, gọi thiền định. Kinh Bồ Tát giới chép: “Bản tánh vốn tự nhiên thanh tịnh”.

 

– “Thiện tri thức! Trong mỗi niệm tưởng tự thấy bổn tánh thanh tịnh, tự tu, tự hành, tự thành Phật đạo ”.

 

— *** —

 

 

VI.- SÁM HỐI

 

ĂN NĂN ĐIỀU LỖI

 

— *** —

 

 

Bấy giờ, nhân sĩ, thứ dân thuộc Quảng Châu, Thiều Châu, cùng các địa phương khác, chen nhau vào núi nghe pháp, Đại Sư lên đàn, giảng:

 

– “Thiện tri thức! Quí vị đến đây nghe giảng, nên hiểu, tu phải khởi từ trong tâm, bất cứ lúc nào tâm cũng giữ thanh tịnh; luôn trau sửa tánh hạnh, để thấy được pháp thân, nhận được Phật tâm rồi tự độ, tự răn. Được vậy, việc đến đây của quí vị mới lợi ích”.

 

– “Thiện tri thức! Quí vị từ xa đến trong một hội như thế này, đều cùng có duyên. Vậy, quí vị hãy quỳ xuống. Trước hết, tôi truyền năm phần chơn hương của pháp thân trong tự tánh, kế đó, pháp sám hối không tướng”.

 

Cả thảy đồng quỳ. Đại Sư dạy:

 

– “Thứ nhứtGiới hương, tức tâm không nghĩ quấy, không tính điều ác, không ganh ghét, không tham sân, không mưu hại ai, gọi giới hương”.

 

– “Thứ nhìĐịnh hương, khi thấy các cảnh lành dữ tự tâm không loạn động, đó, gọi định hương”.

 

– “Thứ baHuệ hương, tâm không bị ngăn che, luôn dùng trí huệ chiếu soi tánh mình, tránh gây điều ác. Thực hiện việc lành, lòng không nghĩ điều ơn, nghĩa; kính trên nhường dưới, thương xót kẻ côi cút nghèo khó, gọi huệ hương”.

 

– “Thứ tưGiải thoát hương, lòng không nhiễm ngoại cảnh, chẳng nghĩ điều lành, không tưởng việc ác, lúc nào cũng thông suốt, an nhàn, tự tại, gọi giải thoát hương”.

 

– “Thứ nămGiải thoát tri kiến hương, lòng tuy không vướng mắc ngoại cảnh, không tưởng nghĩ điều lành việc ác, nhưng cũng đừng ép dứt tuyệt các tư tưởng để rơi vào cõi không. Nên cố gắng học rộng nghe nhiều, phải thấy chơn tâm, thông đạt đạo lý của chư Phật, nên vào đời giúp người cứu vật, không ngã, không nhơn, lòng không động, luôn hướng về Chánh giác, gọi giải thoát tri kiến hương”.

 

– “Thiện tri thức! Hương này xông lên từ lòng mình, tức Bổn giác Chơn như, tìm bên ngoài vô ích”.

 

– “Thiện tri thức! Giờ đây, tôi truyền thêm cho quí vị pháp Sám hối không tướng, pháp này tiêu diệt hết tội lỗi ba đời, cho ba nghiệp: Thân – Khẩu – Ý được thanh tịnh”.

 

– “Thiện tri thức! Quí vị hãy cùng một lượt nguyện theo tôi:

 

– “Đệ tử chúng con, từ những thời gian trước đến nay, và sau này, lúc nào cũng nguyện không để lòng bị nhiễm sự u mê, ngu muội. Tất cả những ác nghiệp, tội lỗi, do u mê, ngu muội gây ra từ những thời gian trước, đến nay, thảy đều sám hối, nguyện một lúc tiêu diệt, vĩnh viễn không khởi lại.”

 

– “Đệ tử chúng con, từ những thời gian trước đến nay, và sau này, lúc nào cũng nguyện không để lòng bị nhiễm sự kiêu căng, dối trá. Tất cả tội lỗi do ác nghiệp kiêu căng, dối trá, gây ra từ những thời gian trước, đến nay, thảy đều sám hối, nguyện một lúc tiêu diệt, vĩnh viễn không khởi lại ”.

 

– “Đệ tử chúng con, từ những thời gian trước, đến nay, và sau này, lúc nào cũng nguyện không để lòng bị nhiễm sự ganh ghét, tật đố. Các tội do nghiệp ác ganh ghét, tật đố gây ra từ những thời gian trước, đến nay, thảy đều sám hối, nguyện một lúc tiêu diệt, vĩnh viễn không khởi lại ”.

 

– “Thiện tri thức! Trên đây là Sám hối không tướng. Sao gọi  Sám? Sao gọi Hối? Sám là sám tội lỗi trước, từ trước nếu có các tội ác u mê, kiêu dối, ganh ghét, thảy đều sám hết, vĩnh viễn chẳng khởi lại, đó là Sám”.

 

– “Hối là ngăn ngừa các lỗi sau của mình. Từ nay đã giác ngộ, tất cả tội lỗi đều đoạn dứt vĩnh viễn, không gây lại, đó là Hối, gọi Sám Hối. Người đời mê tối, chỉ biết ăn năn các tội trước, không biết ngăn ngừa lỗi sau. Vì chẳng hối nên tội trước không diệt hết lỗi sau sanh thêm, sao gọi sám hối được?”

 

– “Thiện tri thức! Đã sám hối xong, tôi truyền cho quí vị “Bốn điều thệ nguyện lớn” (4 đại nguyện của các bậc tu học):

– “Tự tâm chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”.

– “Tự tâm phiền não vô lượng thệ nguyện đoạn”.

– “Tự tánh pháp môn vô tận thệ nguyện học”.

– “Tự tánh vô thượng Phật đạo thệ nguyện thành”.

 

– “Thiện tri thức! Tôi há chẳng giảng chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, như thế không phải Huệ Năng độ. Gọi tâm chúng sanh là tâm tà mê, tâm vọng dối, tâm ganh ghét, tâm ác độc. Các tâm như thế gọi tâm chúng sanh, phải dùng tánh mình tự độ, đó là chơn độ. Sao gọi dùng tánh mình tự độ? Có nghĩa các chúng sanh, tức các tánh xấu trong tâm như: tà kiến, phiền não, mê si… phải đem chánh kiến (sự thấy, sự hiểu biết chơn chánh) hóa giải, trừ dứt. Đã có chánh kiến, nên dùng trí bát nhã (trí huệ sáng suốt) giải trừ các chúng sanh mê si, tham vọng. Mình phải độ lấy mình. Tà đến dùng chánh độ, mê đến đem ngộ độ, ngu đến lấy trí độ, ác đến mượn lành độ. Độ như thế gọi độ chơn chánh”.

 

– “Thiện tri thức! Tất cả phiền não không kể xiết đều thề nguyện bỏ hết, tức dùng trí Bát Nhã của tánh mình ngăn ngừa lòng nghĩ tưởng giả dối. Đó, gọi độ chơn thật”.

 

– “Thiện tri thức! Tất cả pháp môn không cùng tận, đều thề nguyện học, tự mình phải thấy tánh, thường xuyên tu hành chánh pháp, đó, gọi học chơn chánh”.

 

– “Thiện tri thức! Phật đạo cao thâm thề nguyện tu đến thành công, tức phải thường hạ tâm, khiêm tốn, tu hành chánh pháp, trừ bỏ mê lẫn giác, liền sanh trí bát nhã, dứt chơn lẫn vọng, tức khắc thấy Phật tánh. Đó, gọi Phật đạo thành. Nên cố gắng tu theo nguyện lực này”.

 

– “Thiện tri thức! Nay đã phát 4 điều thệ nguyện lớn, tiếp theo tôi truyền cho quí vị lời răn dạy về 3 phép qui y không tướng:

 

– Qui y giác là lưỡng túc tôn,

– Qui y chánh tức ly dục tôn,

– Qui y tịnh gọi chúng trung tôn”.

 

– “Thiện tri thức! Từ nay, quí vị hãy tôn xưng chơn tánh giác ngộ của mình là Thầy, không qui y tà ma, ngoại đạo. Phải dùng tánh tam bảo, (ba đức quí báu) để chứng minh chơn tánh của mình”.

 

– “Thiện tri thức!  Nương tam bảo của tánh mình:

 

– Phật nghĩa giác, là tánh giác ngộ.

– Pháp là chánh, tức tánh chơn chánh.

– Tăng gọi tịnh, gọi tánh thanh tịnh”.

 

– “Thiện tri thức! Tâm mình khi nương theo tánh giác ngộ, tà mê không sanh, lòng ít ham muốn, thường biết sống giản dị, rời xa tiền tài, sắc dục, đó, gọi lưỡng túc tôn”.

 

– “Thiện tri thức! Tâm ta nương theo chánh, những nhận định, phán xét các sự việc chẳng sai lầm, do đó không sanh tà kiến, không tà kiến liền hết nhơn ngã, dứt tuyệt cao ngạo, tham ái, chấp mắc, đó, gọi ly dục tôn”.

 

– “Thiện tri thức! Tâm ta nương theo tánh thanh tịnh, trước các cảnh trần lao, ái dục, ham muốn… không nhiễm mắc, đó, gọi chúng trung tôn”.

 

– “Thiện tri thức! Tu các hạnh này, nương theo chơn tánh của mình, nên gọi tự qui y”.

 

– “Thiện tri thức! Người đời không thấu hiểu, ngày đêm luôn khoe tôi đã thọ giới tam qui, nhưng chẳng biết rõ lý qui y. Nếu qui y Phật, vậy Phật ở đâu? Không thấy Phật nương vào đâu mà qui? Cho rằng qui y Phật mà không tu theo tánh giác ngộ, lời khoe đó thành giả dối”.

 

– “Thiện tri thức! Quí vị nên suy nghiệm, tự xét cho thông suốt, chớ hiểu lầm. Kinh văn dạy rõ ràng, qui y Phật tại tánh chớ không dạy qui y Phật nơi nào khác. Phật tại tánh chẳng qui, chẳng y, nếu tìm bên ngoài không gặp Phật thì qui y với ai?  Rốt lại không chỗ nương tựa”.

 

– “Thiện tri thức! Nay đã giác ngộ, quí vị nên qui y tam bảo tại tâm, bên trong điều phục tâm tánh, bên ngoài cung kính tất cả, đó, gọi qui y tại tâm”.

 

– “Thiện tri thức! Qui y tam bảo xong, quí vị nên lắng tâm nghe tôi giảng Phật một thể ba thân trong tự tánh, khiến quí vị rõ ba thân, liền được thấy tánh”.

 

– “Thiện tri thức! Quí vị nguyện theo tôi:

 

– “Từ sắc thân qui y Thanh tịnh Pháp thân Phật“,

– “Từ sắc thân qui y Viên mãn Báo thân Phật“,

– “Từ sắc thân qui y Trăm ngàn ức Hóa thân Phật“.

 

– “Thiện tri thức! Sắc thân là nhà ở, là quán trọ, không thể qui được. Nên tìm ba thân Phật trong chơn tánh, ai cũng sẵn có, chớ mê muội đi kiếm ba thân Như Lai bên ngoài vô ích”.

 

– “Thiện tri thức! Sao gọi Thanh tịnh Pháp thân Phật? Người đời tánh vốn thanh tịnh, muôn sự đều do tánh mình sanh, suy tính điều ác liền sanh hạnh ác, nghĩ các việc lành được sanh hạnh lành. Như vậy, những suy nghĩ, các hành động đều phát xuất từ tánh mình. Ví như bầu trời bình thường thanh lặng, nhựt nguyệt sáng tỏ, nếu bị mây che trên sáng dưới tối, khi gió thổi mây trôi đi dĩ nhiên trên dưới đều sáng, cảnh vật hiện rõ. Tánh người đời cũng thường thay đổi như mây trên trời”.

 

– “Thiện tri thức! Trí như mặt trời, huệ như mặt trăng, trí huệ thường sáng suốt, chỉ vì tâm bị vướng cảnh bên ngoài, nên mây vọng niệm che khuất. Nếu gặp thiện tri thức, nghe giảng giải chánh pháp, tự mình trừ các điều mê vọng, chơn tánh liền hiện rõ trong ngoài đều sáng suốt. Người thấy tánh cũng như vậy, đó, gọi Thanh tịnh Pháp thân Phật?”

 

– “Thiện tri thức! Tâm qui y tự tánh, là qui y chơn Phật. Tự qui y tức bỏ sạch các điều xấu trong tâm, như: nghĩ tưởng ác, ganh ghét, nịnh bợ, chia rẽ, lòng vọng dối, khinh người, ỷ tài cao khi dể kẻ khác, nhiều tà kiến, kiêu căng cùng các điều ác. Nên thường xuyên xét lỗi mình, đừng bao giờ phê bình điều hay, tốt, thói hư, tật xấu của người, đó là qui y tự tánh. Lúc nào cũng khiêm tốn, hạ mình, kính trọng tất cả liền thấy tánh thông suốt, không bị ngăn che, tức qui y tự tánh”.

– “Thiện tri thức! Sao gọi Viên mãn Báo thân Phật? Ví như ánh sáng một ngọn đèn có thể làm sáng tỏ chỗ đã tối ngàn năm, một trí huệ có thể diệt được muôn đời mê muội”.

 

– “Thiện tri thức! Quí vị đừng nghĩ về dĩ vãng, việc đã qua không thể sửa đổi được, hãy hướng về tương lai. Các tư tưởng đều sáng suốt liền thấy được chơn tánh”.

 

– “Thiện tri thức! Điều lành, việc dữ tuy có khác, nhưng chơn tánh không hai, tánh không hai là thật tánh. Thật tánh không nhiễm các điều thiện ác, gọi Viên mãn Báo thân Phật”.

 

– “Thiện tri thức! Tánh khởi một niệm tưởng ác liền mất vạn kiếp nhân lành. Tánh khởi một niệm tưởng lành, bao nhiêu tội ác đều dứt, liền chứng quả vô thượng bồ đề. Trong các hoàn cảnh đều thấy được tánh, không mất chánh niệm, gọi Báo thân Phật”.

 

 

– “Thiện tri thức! Sao gọi ngàn trăm ức Hóa thân? Nếu không nghĩ tưởng đến các sự việc, bổn tánh thông suốt. Khởi niệm tưởng, lo nghĩ, toan tính, gọi biến hóa”.

 

– “Thiện tri thức! Trong tâm suy tính điều ác liền hóa địa ngục, nghĩ việc lành là thiên đường, mưu toan điều độc hại tức sanh rồng rắn, nghĩ tưởng từ bi thành Bồ Tát, trí huệ tức thượng giới, ngu si là hạ phương. Vì tánh mình còn mê, biến hóa rất nhiều nên không tỉnh giác được”.

 

– “Thiện tri thức! Ví như trong tâm lúc nào cũng khởi niệm ác, luôn nghĩ tưởng điều hung dữ, tự đi theo con đường độc ác, tối tăm, nếu hồi tâm hướng thiện, khởi một niệm tưởng lành, trí huệ liền sanh, gọi tự tánh Hóa thân Phật”.

 

– “Thiện tri thức! Pháp thân vốn sẵn đầy đủ, dầu ở thời điểm nào cũng thấy tánh thông suốt, tức Báo thân Phật. Từ Báo thân Phật nghĩ tưởng, phát sanh trí huệ, gọi Hóa thân Phật. Tự giác ngộ, tự tu các công đức trong tánh, gọi qui y chơn chánh”.

 

– “Thiện tri thức! Da thịt là sắc thân, sắc thân là nhà trọ, không thể gọi qui y nơi sắc thân được. Nếu hiểu rõ ba thân trong tự tánh, liền thấy Phật tại tánh”.

 

– “Thiện tri thức! Tôi có bài tụng vô tướng, nếu thường tụng, nhờ nghĩa lý trong lời kệ, tội mê tích lũy nhiều kiếp của quí vị liền tiêu diệt”. Nghe kệ:

 

“Còn mê lo phước quên hành đạo,

Không dè ba độc xưa nay tạo.

Bố thí cúng dường phước vô biên,

Hiểu lầm gieo phước tức là đạo.

Nghĩ rằng tích phước thay được tội,

Đời sau hưởng phước tội còn nguyên.

Cần trau sửa tâm, dứt tội duyên,

Đó gọi tự tánh chơn sám hối.

Ngộ được thượng thừa môn sám hối,

Bỏ tà hành chánh tiêu tan tội.

Học đạo, tánh mình luôn chiếu soi,

Tức cùng chư Phật đồng một hội.

Tổ truyền đốn giáo, cứu mê tân,

Nguyện cầu kiến tánh đồng một cách.

Nếu muốn sau này thấy pháp thân,

Rời xong pháp tướng, tâm trong sạch.

Nỗ lực dụng trí dứt ưu sầu,

Ngưng hết ác niệm một đời rảnh.

Sớm ngộ thượng thừa được thấy tánh,

Chấp tay cung kính chí tâm cầu”.

 

 Phỏng dịch:

 

“Người mê ham phước quên hành đạo,

Mãi hiểu lầm tạo phước là tu.

Cúng dường bố thí lu bù,

Trong tâm ba độc tạo từ lâu nay.

Hiểu sai, tích phước thay được tội,

Đời sau hưởng phước, tội còn nguyên.     

Chiếu soi tâm, dứt ác duyên,

Tự tánh cải hối, lòng nguyền ăn năn.

Sớm ngộ thượng thừa sám tan tội lỗi,

Gần chánh xa tà tội hết sanh.

Tu hành thấy tánh tịnh thanh,

Tức cùng chư Phật liễu minh đồng hàng.

Tổ của tôi chỉ đàng đốn giáo,

Nguyện những người học đạo mai sau.

Pháp thân muốn đặng thấy mau,

Rời xa pháp tướng mới hầu tâm an.

Dụng trí huệ chiếu tan phiền muộn,

Dứt tuyệt ác niệm, dưỡng thân nhàn.

Thượng thừa thấy tánh rõ ràng,

Nguyện cầu tỉnh ngộ Niết Bàn tại tâm”.

 

– “Thiện tri thức! Đại Sư tiếp: Quí vị nên trì tụng kệ này và y theo tu. Tụng xong sẽ được thấy tánh. Hành đúng lời tôi chỉ dạy, dầu cách xa ngàn dậm cũng như thường hiện diện bên tôi, nhược bằng không tu theo lời dặn này, dầu quí vị ở bên cạnh tôi, cũng không lợi ích, uổng công cực nhọc từ xa tìm đến. Xin giã từ quí vị”.

 

Đồ chúng nghe pháp đều khai ngộ, cùng nhau vui vẻ tuân hành.

 

–***–

 

 

VII.- CƠ DUYÊN

 

CÓ DUYÊN VỚI TỔ

 

— *** —

 

 

Sau khi đắc pháp tại Huỳnh Mai, Đại Sư về Thiều Châu, thôn Tào Hầu, ít người hay biết. Chỉ riêng nho sĩ Lưu Chí Lược, đối đãi với Đại Sư rất cung kính. Chí Lược có người cô xuất gia, tên Vô Tận Tạng, thường tụng kinh Đại Niết Bàn. Đại Sư nghe qua liền hiểu rõ diệu nghĩa, nên giảng giải cho ni cô. Ni cô cầm quyển kinh lại, hỏi chữ. Đại Sư thành thật:

 

– “Chữ thì tôi không biết, về nghĩa, xin ni cô cứ hỏi”. Ni cô ngạc nhiên, bạch:

 

– “Chữ còn chẳng biết, làm sao Đại Sư hiểu được nghĩa mà giải?” Đại Sư xác quyết:

 

– “Diệu lý của chư Phật chẳng liên quan đến văn tự”.

 

Ni sư kinh ngạc, liền truyền rao khắp các nhân sĩ tuổi cao đức trọng trong xóm hay:

 

– “Đại Sư là bậc tri thức, đạo đức cao thâm, chúng ta nên thỉnh Ngài ở lại để được học hỏi và cúng dường”.

 

Nhân đó, người cháu 4 đời của Ngụy Vũ Hầu, (tức Tào Tháo, một nhân vật quan trọng thời Tam Quốc) tên Tào Thúc Lương, hiệp với cư dân trong vùng, cùng nhau đến tham lễ Đại Sư.

 

Bửu Lâm Cổ Tự đã hoang phế vì binh lửa từ cuối đời Tùy, bấy giờ chỉ còn nền cũ, dân chúng chung nhau, cùng góp công, của, xây dựng lại. Chẳng bao lâu, nơi đó, hoàn thành một ngôi chùa khang trang, tráng lệ. Lục Tổ Đại Sư được thỉnh về trụ trì.

 

Mới hơn chín tháng, đảng ác lại tìm đến, Đại sư phải ẩn mình trong núi phía trước chùa, chúng phóng hỏa đốt rụi cây cỏ quanh núi, Đại Sư chen mình vào kẹt đá, tránh lửa. Nay dấu đầu gối và lằn áo bố của Ngài còn hằn trên đá, nên mới có tên tỵ nạn thạch. Đại Sư nhớ lời Ngũ Tổ dặn: “Ấp Hoài, ấp Hội ngưng tàng”, nên Ngài ẩn trú hai nơi này.

 

Tăng Pháp Hải, người Khúc Giang, thuộc Thiều Châu, đến:

 

– “Kính xin Đại Sư vui lòng chỉ dạy, thế nào là Tức Tâm tức Phật”?  Đại Sư giải:

 

– “Niệm tưởng trước không sanh tức tâm, niệm tưởng sau chẳng diệt tức Phật. Tạo dựng mọi việc do tâm, rời dứt các cảnh tướng là Phật. Nếu tôi giải đầy đủ suốt kiếp cũng không hết. Hãy nghe kệ:

 

“Tức tâm là huệ, tức Phật gọi định

Định huệ đồng hành, ý được thanh tịnh

Học pháp môn này, do ông tập tánh

Thể Dụng không sanh, song tu là chánh”.

 

 

Pháp Hải nghe xong, đại ngộ, đọc kệ khen:

 

“Tâm nguyên vốn là Phật,

Chưa ngộ tự che khuất

Rõ được định huệ nhân,

Song tu, rời các vật”.

 

 

— *** —

 

 

 

Tăng Pháp Đạt người Hồng Châu, bảy tuổi xuất gia, thường tụng kinh Pháp Hoa, đến lễ Đại Sư, đầu không chấm đất.

 

Đại Sư trách nhẹ:

 

– “Lễ đầu không đến đất, thà đừng lễ, hẳn ông có tâm sự gì đây?”  Vẻ tự mãn, Pháp Đạt bạch:

 

– “Tôi tụng Kinh Pháp Hoa được 3.000 bộ!”  Đại Sư:

 

– “Nếu ông tụng đến vạn bộ, thông suốt hết ý nghĩa của kinh, nhưng lòng vẫn luôn từ tốn, khiêm nhượng, không cho đó là hơn người mới có thể đi chung đường được với tôi. Nay ông đến đây, chỉ dựa vào một chút sự nghiệp này đã vội tự phụ, sao chưa biết lỗi? Nghe kệ đây:

 

“Lễ, là bỏ tự kiêu

Đầu sao không sát đất?

Chấp, ngã, tội liền theo

Quên công, phước lớn thật”.

 

– “Ông tên chi?“ Đại sư hỏi,

 

– “Bạch Đại sư, học nhơn tên Pháp Đạt”. Đại Sư:

 

– “Ông tên Pháp Đạt, nhưng chưa từng đạt pháp . Tôi có bài kệ:

 

“Ông mang tên Pháp Đạt

Siêng năng tụng không dứt

Nương theo tiếng, ê a

Minh tâm gọi Bồ Tát.

Ông nhọc công đến nơi

Tôi tùy duyên giải đáp

Hãy tin Phật không lời

Hoa sen từ miệng phát”.

 

 

Pháp Đạt nghe kệ, tạ lỗi và nguyện từ nay về sau sẽ khiêm nhượng, nhún nhường. Bạch tiếp:

 

– “Học nhơn tụng Kinh Pháp Hoa nhưng chưa thông nghĩa lý, trong tâm có điều còn nghi, Đại Sư trí huệ quảng đại, kính xin lược giải diệu lý của kinh cho tôi được hiểu rõ”. Đại Sư:

 

– “Này Pháp Đạt, Pháp tức thông đạt nghĩa lý, mà tâm ông không đạt. Kinh vốn chẳng có chỗ nghi ngờ, tại lòng ông tự nghi. Vậy, ông tụng kinh này lấy gì làm tông?” Pháp Đạt bạch:

 

– “Học nhơn căn tánh mê muội, từ trước đến nay cứ theo kinh văn mà tụng, đâu tìm hiểu tôn chỉ”. Đại Sư:

 

– “Tôi không biết chữ, ông thử lấy kinh tụng một biến, tôi sẽ giải thích”.

 

Pháp Đạt lớn tiếng tụng, đến phẩm thí dụ, Đại Sư ngăn:

 

– “Ngưng lại, kinh này nguyên lai lấy nhân duyên xuất thế làm tông, dầu nhiều thí dụ cũng không vượt khỏi lý này. Vậy, thế nào là nhân duyên? Kinh chép: “Chư Phật Thế Tôn, chỉ vì đại sự Nhân duyên mà xuất hiện”. Một việc lớn đó là Tri kiến Phật, (tức khai mở cho chúng sanh được thấy biết sự cao siêu vi diệu của chư Phật). Người đời mê, ngoài chấp tướng, trong chấp không. Nếu đối với tướng rời tướng, đối với không dứt không, tức trong ngoài chẳng mê. Hiểu rõ pháp này, tâm liền khai mở, đó gọi Khai Phật tri kiến ¹. Phật đây nghĩa Giác ngộ, phân ra 4 môn: Khai giác tri kiến ². Thị giác tri kiến ³. Ngộ giác tri kiến ⁴ và Nhập giác tri kiến ⁵ . Khi nghe giảng khai thị, liền ngộ nhập vào Giác tri kiến, tức bổn lai chơn tánh xuất hiện. Ông cẩn thận, chớ lầm hiểu lý kinh, khi nghe đề cập Khai, Thị, Ngộ, Nhập ⁶, vội cho đó là sự giác ngộ riêng của chư Phật, còn chúng ta không có duyên phần đạt được sự thấy biết ấy. Hiểu như vậy là chế kinh, diễu Phật. Đã là Phật, dĩ nhiên đủ sáng suốt, đâu cần khai mở. Nay, ông hãy tin sự thấy biết sáng suốt đó, chính do từ nơi Tâm của ông, chớ không phải do Phật nào khác. Vì tâm của chúng sanh do tham ái trần cảnh che mờ chơn tánh, ngoài bị cảnh vật vấn vương, trong thì rối loạn, nên đành chịu cuốn lôi vào biển trần khổ, phải luân hồi. Cho nên Đức Thế Tôn mới từ Chánh Định khởi, dùng nhiều phương cách khuyên dạy người đời dẹp lòng ham muốn, ngưng dứt việc tìm giác ngộ bên ngoài, được vậy mới đồng hàng với Phật, nên gọi Khai tri kiến Phật”. Đại Sư giảng tiếp:

 

– “Tôi khuyên ông nên từ tâm mình luôn khai tri kiến Phật. Người đời tâm tà, mê muội gây tội, miệng lành lòng ác, tham sân, tật đố, tự cao, tự đại, xâm nhơn, hại vật, là tự khai chúng sanh tri kiến. Nếu giữ lòng chơn chánh thường sanh trí huệ, chiếu soi tâm mình, ngưng ác làm lành, liền tự khai tri kiến Phật. Ông nên mỗi niệm tưởng đều khai tri kiến Phật, chớ Khai tri kiến chúng sanh. Khai tri kiến Phật, là xuất thế. Khai tri kiến chúng sanh, tức thế gian. Nếu ông mãi nhọc công cố chấp tụng niệm, cho đó là công khóa, khác gì con trâu Mao tiếc lông đuôi dài của nó.”

 

Pháp Đạt bạch:

 

– “Nếu vậy, học nhơn chỉ cần rõ nghĩa kinh, khỏi phải nhọc công tụng niệm sao?”

——

1.- Mở sự thấy biết sáng suốt của Phật.     4.-Tỏ tánh thấy biết giác ngộ.

2.- Mở tánh thấy biết giác ngộ.                   5.– Vào tánh thấy biết iác ngộ.

3.– Chỉ cái tánh thấy biết giác ngộ.        6.– Mở ra. Chỉ bảo. Bày tỏ. Đắc nhập.

 

 

 

– “Kinh có lỗi gì ngăn trở ông tụng niệm, vì mê ngộ tại ông, tổn hại hay ích lợi do mình, miệng tụng tâm hành là chuyển kinh, miệng tụng tâm không hành tức bị kinh chuyển”.

 

Nghe kệ:

 

“Tâm mê, Pháp Hoa chuyển

Ngộ được, chuyển Pháp Hoa

Tụng lâu không hiểu lý

Đối nghĩa tạo oan gia.

Không niệm, niệm tức chánh

Có niệm, niệm thành tà

Có, không, đều quên hết

Luôn ngồi bạch ngưu xa”.

 

 

Pháp Đạt nghe kệ liền đại ngộ, bất giác tủi khóc. Bạch:

 

– “Pháp Đạt từ xưa đến nay chưa từng chuyển Pháp Hoa mà  bị Pháp Hoa chuyển”. Liền bạch tiếp, Kinh chép: “Các Đại Thanh Văn cho đến Bồ Tát, đều tận nghĩ cùng suy, vẫn không thể đo lường được trí sáng suốt siêu việt của chư Phật”, nay Đại Sư dạy kẻ phàm phu này, chỉ cần tỏ sáng tâm mình, liền được Khai tri kiến Phật. Điều này, nếu không phải bậc thượng căn, ắt chẳng khỏi nghi ngờ. Kinh chép 3 xe, nai, trâu, với bạch ngưu xa, khác biệt thế nào, nguyện Đại Sư từ bi giải rõ”.  Đại Sư:

 

– “Ý kinh rõ ràng, tại ông hiểu nghịch nghĩa, các bậc tam thừa không nghĩ lường được trí của Phật, bởi vì họ mãi suy nghĩ, càng dụng tâm suy nghĩ lại càng cách xa trí Phật. Phật vì người phàm mà thuyết kinh, chớ chẳng phải vì Phật mà giảng, lý này người mê không tin, chẳng biết mình đang ngồi trong xe trâu trắng, (đã sẵn tánh Phật trong tâm) lại bỏ ra ngoài đi tìm xe khác. Huống chi kinh chép rõ ràng: “Chỉ một Phật thừa duy nhứt, không thừa nào khác, không hai, không ba, cho đến vô số phương tiện, các thứ nhân duyên, các ngôn từ, các thí dụ”, tất cả cũng chỉ một Phật thừa. Sao ông không thức tỉnh, 3 xe là giả, khi xưa tạm mượn tên làm thí dụ. Chỉ một thừa là thật, hướng dẫn người trần bỏ giả về chơn, sau khi về thật rồi không còn tên nữa. Ông nên rõ, trí hiểu biết, sáng suốt của Phật là tài sản, là báu vật, đã thuộc về ông, ông có toàn quyền xử dụng. Ông đừng tưởng của đó thuộc thế hệ trước, là của cha; cũng không nên nghĩ của đó thuộc đời sau, là của con; cũng đừng nghĩ là của riêng ông. Hãy bỏ hết cái tưởng, cái nghĩ, như vậy mới hiểu nghĩa kinh Pháp Hoa. Từ kiếp này đến kiếp khác, tay chẳng rời quyển kinh, ngày chí đêm không lúc nào quên tụng niệm”.

 

Pháp Đạt hiểu rõ, vui mừng, dùng kệ khen:

 

 

“Tụng kinh ba ngàn bộ

Tào Khê thảy bỏ luôn

Chưa rành lý xuất thế

Chịu suốt kiếp mê cuồng.

Dê, nai, trâu quyền lập

Sơ, trung, hậu, sắp tuồng

Nào dè trong nhà lửa

Vua pháp tại đây luôn”.

 

Đại Sư khen:

 

– “Từ nay về sau ông được gọi tăng niệm kinh”.

Pháp Đạt từ lãnh hội nghĩa lý sâu kín, không ngưng tụng niệm kinh.

— *** —

 

Tăng Trí Thông người ở An Phong, Thọ Châu, tụng kinh Lăng Già ước hơn ngàn biến mà chưa hiểu ý nghĩa ba thân bốn trí, đến lễ Đại Sư thỉnh cầu giải lý. Đại Sư giảng:

 

– “Ba thân là: Thanh tịnh Pháp thân (tức tánh)Viên mãn Báo thân (là trí). Thiên bá ức Hóa thân (là hạnh). Nếu rời bổn tánh, giải riêng về ba thân tức có thân mà không trí. Ông nên rõ, ba thân đều từ nơi tánh sanh, không phải mỗi thân có tánh riêng, đó là Tứ trí bồ đề. Nghe kệ:

 

“Tự tánh đủ ba thân

Phát sanh thành bốn trí

Không rời duyên thấy nghe

Vẫn được vào Phật vị.

Tôi nay vì ông giải

Nghe rõ chẳng còn mê

Chớ nhọc công cầu khấn

Suốt ngày tìm Bồ đề”.

 

 

Trí Thông lại bạch:

 

– “Kính xin Đại sư cho học nhơn được nghe nghĩa bốn trí?“

 

– “Đã hiểu ba thân liền rõ bốn trí, sao còn hỏi nữa? Nếu rời ba thân bàn riêng bốn trí, gọi có trí không thân, nghĩa là có trí trở thành không trí”. Liền đọc kệ:

 

 

“Đại viên cảnh trí, tánh thanh tịnh

Bình đẳng trí, tâm không bịnh

Diệu quan sát trí, thấy không công

Thành sở tác trí, đồng viên cảnh.

Năm, tám, sáu, bảy, quả nhân chuyển

Chỉ dùng tên gọi, không thật tánh

Trong lúc vận chuyển chẳng nhiễm cảnh

Dầu ở nơi nào cũng đại định”.

 

Giải nghĩa:

 

– “Như trên chuyển thức thành trí, có nghĩa: chuyển 5 thức trên thành sở tác trí, chuyển thức thứ 6 thành diệu quan sát trí, chuyển thức thứ 7 thành bình đẳng tánh trí, chuyển thức thứ 8 thành đại viên cảnh trí. Tuy 6, 7 là nhân chuyển, 5, 8  là quả chuyển, chuyển tên nhưng không chuyển thể.”

 

Trí Thông nghe xong, tánh trí liền tỏ ngộ, trình kệ:

 

“Ba thân vốn tánh mình

Bốn trí tự tâm minh

Tâm trí thông không ngại

Ứng đáp tùy duyên sinh.

Khởi tu nên sanh vọng

Lặng yên cũng không minh

Thấy tánh nhờ Sư dạy

Hết bị nhiễm ô danh”.

— *** —

 

 

Tăng Trí Thường, người huyện Quí Khê, phủ Tín Châu, xuất gia từ thiếu niên, chí cầu kiến tánh, một hôm đến tham lễ.

 

Đại Sư hỏi:

 

– “Ông từ đâu đến, muốn cầu việc chi”? Trí Thường bạch:

 

– “Học nhơn khi đến Hồng Châu, núi Bạch Phong, lễ Đại Thông Hòa thượng, xin ngài giải nghĩa: “Thấy tánh thành Phật,” nhưng chưa hiểu rõ, nay kính mong Đại Sư chỉ dạy”.

 

Đại Sư hỏi:

 

– “Hòa thượng giải thích thế nào? Ông thuật lại tôi nghe”.

 

– “Học nhơn đến đó chờ hơn ba tháng nhưng chưa được chỉ dạy, bởi nóng lòng cầu pháp, đêm nọ một mình học nhơn vào phòng riêng của Hòa thượng thỉnh vấn:

 

– “Thế nào là bổn tâm, bổn tánh của tôi?”   Hòa thượng hỏi:

 

– “Ông có thấy hư không chăng?” Học nhơn bạch:

 

– “Dạ thấy”.  Hòa thượng hỏi:

 

– “Hư không có tướng mạo không?” Học nhơn bạch:

 

– “Hư không vô hình, đâu có tướng mạo chi”. Hòa thượng:

 

– “Bổn tánh của ông cũng như hư không, chẳng thể tìm một vật gì trong đó, gọi chánh kiến, (tức thấy đúng) không thể biết được một vật gì trong đó, gọi chơn tri (tức biết chơn thật). Không xanh, vàng, dài, vắn, chỉ thấy bổn nguyên thanh tịnh (tức gốc nguồn trong sạch), giác thể tròn sáng, đó, gọi thấy tánh thành Phật, cũng gọi Như Lai tri kiến”.

 

– “Học nhơn tuy nghe giải thích, nhưng còn phân vân. Kính xin Đại Sư từ bi chỉ dạy”.  Đại Sư:

 

– “Hòa thượng Đại Thông chưa giảng rốt ráo về tri kiến, tức vấn đề thấy và biết, nên ông không rõ, tôi chỉ ông một kệ:

 

 

“Chẳng thấy một pháp, lại chấp không

Như mây dày che khuất minh mông

Chẳng rõ một pháp, giữ không biết

Ví như sấm chớp giữa hư không.

Còn thấybiết nên sanh bối rối

Bởi lầm dùng phương tiện chưa thông

Ông nên tự xét mà sửa lỗi

Giữ được chơn tâm luôn sạch trong”.

 

 

Tăng Trí Thường nghe xong liền ngộ, trình một kệ:

 

“Vô cớ khởi tri kiến

Chấp tướng cầu bồ đề

Còn mong một niệm ngộ

Đâu khác lúc xưa mê.

Tự tánh giác là thể

Khi chiếu bị đổi dời

Không vào Tổ Sư thất

Mờ mịt lạc hai nơi” (thấy, biết). 

 

 

Một hôm, Trí Thường bạch với Đại Sư:

 

– “Phật thuyết Pháp Tam Thừa, sao còn dạy tối thượng thừa, đệ tử chưa hiểu rõ, kính xin Đại Sư hướng dẫn”.Đại Sư giải:

 

– “Ông nên tự soi lòng, đừng chấp cảnh bên ngoài. Pháp vốn không 4 thừa, vì tâm tánh người đời có nhiều khác biệt: Thấy, Nghe, Đọc, Tụng gọi tiểu thừa là còn sơ cấp; ngộ pháp hiểu nghĩa là bực trung; y pháp tu hành tức bực thượng; vạn pháp làu thông, thấu rõ đầy đủ, ngoại cảnh chẳng nhiễm, không ham mau đắc, các pháp tướng đều không, gọi tối thượng thừa. Thừa là thực hành, không phải để tranh cãi. Ông nên tự tu, lúc nào cũng giữ tánh thanh tịnh, tự nhiên như nhiên”.

 

Trí Thường lễ tạ và nguyện theo hầu Đại Sư trọn đời.

 

–*** —

 

 

 

Tăng Chí Đạo, người Nam Hải, tỉnh Quảng Châu, đến lễ Đại Sư, bạch:

 

– “Học nhơn từ xuất gia đã xem kinh Niết Bàn hơn mười lần, nhưng chưa rõ đại ý, xin Đại Sư từ bi chỉ dạy.”  Đại Sư:

 

 

– “Chỗ nào ông chưa rõ?”  Chí Đạo bạch:

 

– “Kinh chép: “Vạn vật đều vô thường, thuộc về pháp sanh diệt. Khi sanh diệt dứt, vui nơi tịch diệt ” nên tôi sanh nghi.

 

– ”Ông nghi chỗ nào? ” Chí Đạo bạch:

 

– “Tất cả chúng sanh đều có 2 thân: sắc thân và pháp thân. Sắc thân vô thường nên có sanh có diệt. Pháp thân là thường còn, nhưng vô tri vô giác. Kinh chép: “Sinh diệt dứt rồi, vui nơi tịch diệt”, học nhơn không rõ, có tịch diệt thì thân nào được vui. Nếu sắc thân hưởng vui, khi sắc thân bị diệt, tứ đại tan rã, toàn là khổ, đã khổ thì không thể gọi vui được. Nếu pháp thân tịch diệt, tức đồng với loại vô tình, như cây cỏ, ngói, đá, sao hưởng được sự vui? Hơn nữa, pháp tánh là thể (thân) của sanh diệt, năm uẩn là dụng của sanh diệt. Một thể 5 dụng (sắcthọ, tưởng, hành, thức) sanh diệt luôn nối tiếp. Sanh là thể khởi ra dụng. Diệt là thâu dụng trở về thể. Nếu cho rằng có tái sanh như loại hữu tình, không dứt, không diệt. Lại cho rằng chẳng còn tái sanh, nghĩa là vĩnh viễn trở về chỗ tịch diệt  như vật vô tình. Nếu vậy, thì vạn vật đều bị cảnh giới rất hạn chế của Niết Bàn ngăn trở. Sanh còn chẳng được có gì mà vui?” Đại Sư trách:

 

– “Ông là Thích tử, sao học tà kiến của ngoại đạo chấp đoạn, chấp thường rồi nghi ngờ pháp tối thượng thừa của Phật. Theo lời ông, ngoài sắc thân còn có pháp thân, rời sanh diệt cầu tịch diệt, lại nghĩ Niết Bàn là cảnh thường vui, nơi đó có thân đang hưởng cái vui ấy, vì còn mê nên khư khư bảo thủ nghiệp sanh tử, ham cảnh vui của thế gian. Ông nên biết, Phật vì người mê nhận lầm ngũ uẩn làm thể tướng của mình, rồi phân biệt những cảnh vật khác, nhận đó là tướng của ngoại trần, nên ham sống sợ chết, luôn đổi dời mà không rõ đó là mộng ảo, hư giả để phải chịu sanh tử luân hồi. Họ sai lầm, khi lấy cảnh thường lạc của Niết Bàn cho là tướng khổ, rồi suốt ngày tham cầu viễn vông. Phật thương xót hạng người này, nên chỉ rõ chơn lạc của Niết Bàn, chốn đó không giây phút nào có sanh hay có diệt; không còn sanh diệt để trừ, nên cảnh Niết Bàn hiện rõ trước mắt hoàn toàn an bình, thanh lặng. Đối cảnh không khởi tâm suy nghĩ, so sánh mới thường lạc.Vui này không người thọ dụng, cũng không người không thọ dụng, thì do đâu có tên một thể 5 dụng. Huống chi ông nghĩ Niết Bàn ngăn chế, làm muôn vật vĩnh viễn không sanh, vậy là chế Phật nhạo pháp. Nghe kệ:

 

“Cao tột đại Niết bàn,

Sáng tròn thường lặng chiếu.

Người đời: chết là hết,

Ngoại đạo, bảo đoạn diệt.

Người tu bên nhị thừa,

Cho rằng không tạo tác.

Đều nương theo tình thức,

Sáu mươi hai kiến chấp.¹ xin xem lời giải cuối phẩm

Tạm lập tên hư giả,

Đâu phải nghĩa chơn thật.

Duy những hàng siêu việt,

Thông đạt không giữ bỏ.

Hiểu rõ pháp ngũ uẩn,

Còn cái ta trong uẩn.

Luôn hiện tượng thế gian,

Các sắc tướng thanh âm.

Tất cả đều mộng ảo

Không phân biệt Thánh phàm

Chẳng luận giải Niết bàn

Hai bên ba đời dứt.

Thường hay dùng các căn

Không nghĩ tướng xử dụng

Thông suốt tất cả pháp

Chẳng khởi ý biệt phân

Tận diệt, lửa thiêu biển

Gió thổi núi chọi nhau

Niết Bàn chơn tịch diệt

Gió lửa không nhiễm vào.

Tôi nay gắng thuyết ra

Ngộ, liền dứt tà kiến

Rõ lý chớ theo lời

Hiểu được ít phần thôi.”

 

Phỏng dịch:  

   

“Thể Niết Bàn tịnh thanh cao tột,

Dụng viên minh sáng rực hào quang.

Phàm phu chết, gọi dứt trần gian,

Ngoại đạo bảo, tiêu tan một kiếp.

Hãy tìm đọc nhị thừa sẽ biết,

Họ hiểu rằng vô tác vô vi.

Nhiễm thất tình tâm tánh mê si,

Cộng với sáu mươi hai tà kiến.

Thảy tạm giả phô danh mượn tiếng,

Đâu đúng đường đạo đức chánh chơn.

Duy có hàng thượng trí cao nhơn,

Tâm thông suốt không còn giữ bỏ.

Ngũ uẩn: Sắc, Tưởng, Hành, Thức, Thọ,

Cũng cùng chung ngã tướng vô thường.

Với ngoại trần sắc tướng vấn vương,       

Hiệp thinh âm, vốn phường quyến rũ.

Tạm bình đẳng mà không hiện hữu,

Rời Thánh phàm, tâm giữ như như.

Chẳng giải Niết Bàn, luận thật hư,

Dứt hiện tại, vị lai, quá khứ.

Dụng sáu căn tùy duyên ứng xử,    

Vẫn an nhiên, lòng giữ sạch không.

Tất cả pháp đều hiểu làu thông,

Tâm sáng trong ý không phân biệt.

Dầu đáy biển lửa thiêu khô kiệt,

Dầu gió bay xoáy núi chạm nhau.

Niết Bàn tịch diệt thanh cao,

Chơn thường vắng lặng xiết bao an nhàn.

Tôi giảng giải rõ ràng chơn lý,

Khuyên nên dùng đèn trí chiếu soi.

Xem kinh ngộ lý quên lời,

Mới mong hiểu biết tạm thời ít thôi”.

 

Chí Đạo nghe kệ đại ngộ, vui mừng lễ tạ lui ra.

 

— *** —

 

Hành Tư thiền sư, sanh quán ở An Thành, phủ Kiết Châu, họ Lưu, nghe giáo pháp của Lục Tổ ở Tào Khê truyền bá thạnh hành, đến đảnh lễ, bạch:

 

– “Hành giả nên làm việc chi để khỏi phải đặt vào giai cấp tăng lữ?” Đại Sư hỏi:

 

– “Ông từ đâu đến và đã từng làm việc chi?”  Hành Tư bạch:

 

–  “Thánh đế cũng chẳng làm”. Đại Sư hỏi tiếp:

 

– “Hiện ông đã lạc vào giai cấp nào?”  Hành Tư bạch:

 

– “Thánh đế còn chẳng làm, đâu còn giai cấp mà lạc?”

 

Đại Sư mến trọng tài cao hiểu rộng, dạy Hành Tư giữ trách nhiệm trưởng quản, hướng dẫn các vị tăng.

 

Ngày nọ, Đại Sư gọi Hành Tư, dạy:

 

– “Ông nên hóa độ một phương, đừng để dứt pháp Đốn giáo”.

 

 

Hành Tư đắc pháp, trở về núi Thanh Nguyên, ở Kiết Châu, hoằng dương chánh giáo, hoá độ chúng sanh với pháp danh Thiền sư Hoằng Tế.

 

— *** —

 

 

Thiền sư Hoài Nhượng, ở xã Kim Châu, họ Đỗ, đến học đạo với Tung Sơn An Quốc Sư, nhưng được người khuyên nên đến Tào Khê tham kiến Đức Lục Tổ. Hoài Nhượng đến lễ.

 

Đại Sư hỏi:

 

– “Ông ở nơi nào đến?” Hoài Nhượng bạch:

 

– “Học nhơn từ Tung Sơn đến”. Đại Sư hỏi:

 

– “Vậy, ông đem vật chi đến đây?” Hoài Nhượng bạch:

 

– “Nói một vật là không trúng”. Đại Sư:

 

– “Có phải chờ đến chứng đắc mới được chăng?” Bạch:

 

– “Tu chứng chẳng phải là không, ô nhiễm thì chẳng được”.

 

Đại Sư khen:

 

– “Chỉ chẳng ô nhiễm chỗ chư Phật hộ niệm, ông đã như thế, tôi cũng như vậy. Đức Bát Nhã Đa La ở Tây thiên có lời sấm: “Dưới chân ông sẽ hiện ra một con ngựa tơ mạnh mẽ đạp chết người trong thiên hạ, đó là ứng tại tâm ông, chớ nên vội nói ” (ám chỉ về Mã Tổ sau này). Hoài Nhượng thiền sư liền suốt thông, ở lại hầu hạ Đại Sư suốt 15 năm. Sau này Hoài thiền sư đến Nam Nhạc mở rộng Thiền Tông.

 

— *** —

 

 

Thiền sư Huyền Giác, họ Đới, ở phủ Ôn Châu, Vĩnh Gia, lúc trẻ đã học Kinh Luận, làu thông pháp môn Chỉ Quán của tông Thiên Thai. Nhân xem Kinh Duy Ma Cật tâm được sáng tõ. Ngày nọ tình cờ gặp đệ tử của Lục Tổ là Thiền sư Huyền Sách, hai vị cùng nhau đàm luận rất tương đắc. Khi nghe Thiền sư Huyền Giác luận bàn giáo lý thích hợp với tông chỉ của các vị Tổ sư, Thiền sư Huyền Sách mới hỏi:

 

– “Chẳng hay nhân giả đắc pháp với Thầy nào?”

 

Huyền Giác đáp:

 

– “Tôi chỉ xem kinh Phương Đẳng và các luận, theo tôi hiểu,  muốn tu phải có thầy chỉ dạy. Sau này nhờ đọc kinh Duy Ma Cật biết rõ tông Phật tâm, nhưng chưa có thầy chứng minh”.   Huyền Sách bảo:

 

– “Từ đời Phật Oai Âm Vương về trước, tự tu, tự ngộ thì được, nhưng sau này, không có thầy truyền mà tự ngộ là ngoại đạo”. Huyền Giác thưa:

 

– “Nếu vậy, xin nhân giả vui lòng ấn chứng”.

Huyền Sách chối từ:

 

– “Sự hiểu biết của tôi còn kém, ở Tào Khê có Lục Tổ, được Phật tử bốn phương ngưỡng phục, nhân giả nên đến đó thọ pháp. Nếu thuận, chúng ta đồng hành”.

 

Hai vị thiền sư đến Tào Khê vào lễ Lục Tổ, Huyền Giác đi 3 vòng rồi chống tích trượng đứng. Đại Sư thân mật trách:

 

– “Phàm là Sa môn phải giữ đầy đủ ba ngàn oai nghi, 8 vạn tế hạnh. Đại đức từ phương nào đến đây mà tự kiêu vậy?”

 

Huyền Giác nghiêm trang bạch:

 

– “Sanh tử là việc lớn, vô thường qua quá mau.” Đại Sư hỏi:

 

– “Sao chẳng nhận lý không sanh, để liễu kết gốc không mau?” Huyền Giác bạch:

 

– “Thể của tánh vốn không sanh, đâu còn mau hay không mau”. Đại Sư khen:

 

– “Đúng vậy! Thật như vậy”. Bấy giờ Huyền Giác mới dùng đủ oai nghi lễ lạy. Phút chốc, xin cáo từ.   Đại Sư hỏi:

 

– “Sao về mau vậy?”   Huyền Giác bạch:

 

– “Bổn tánh tự nhiên chẳng động, làm gì có chậm, hay mau?”  Đại Sư hỏi lại:

 

– “Ai biết chẳng động?”  Huyền Giác bạch:

 

– “Nhơn giả tự sanh phân biệt”. Đại Sư khen:

 

– “Đại đức đã đạt được ý không sanh”.  Huyền Giác hỏi lại:

 

– “Không sanh há lại dụng ý sao?”  Đại Sư đáp:

 

– “Không dùng ý lấy chi để phân biệt?” Huyền Giác bạch:

 

– “Phân biệt cũng không khởi ý”.  Đại Sư:

 

– “Hay lắm! Hãy lưu lại đây một đêm”.

 

Thời ấy, Thiền sư Huyền Giác được người đời xưng tụng Nhứt Túc Giác (người giác ngộ được mời ở với Tổ một đêm). Về sau, Thiền sư Huyền Giác trước tác bài ca Chứng Đạo, truyền bá rất thạnh hành. Thiền sư Nhứt Túc Giác được triều đình sắc phong Vô Tướng hay Thiền Sư Chơn Giác.

 

 

— *** —

 

 

Thiền sư Trí Hoàng sau khi tham lễ Ngũ Tổ về, tự cho đã đắc pháp thiền định chánh thọ, ngồi thiền trong am liên tiếp 20 năm, không gián đoạn. Đệ tử của Lục Tổ là Huyền Sách, du phương đến Hà Sóc, nghe danh Trí Hoàng lập am, đến hỏi:

 

– “Sư làm gì nơi đây?” Trí Hoàng đáp:

 

– “Nhập định”. Sư Huyền Sách hỏi:

 

– “Trong lúc Sư nhập định có tâm nhập hay vô tâm nhập, nếu không tâm mà nhập thì tất cả loại vô tình, cây cỏ gạch ngói cũng đều được định. Nếu có tâm nhập, tất cả loại hữu tình, (hàm thức chuyển động) cũng đắc định”.  Trí Hoàng:

 

– “Chính lúc nhập định tôi chẳng thấy tâm có ý thức hay không  ý thức”. Sư Huyền Sách:

 

– “Thấy có, hay không là thường định, sao được gọi xuất, nhập? Nếu có xuất, nhập tức không phải đại định”.

 

Sư Trí Hoàng không đáp được, giây lâu hỏi:

 

– “Thầy nối pháp của vị nào vậy?”  Sư Huyền Sách đáp:

 

– “Thầy tôi Lục Tổ, ở Tào Khê”.  Sư Trí Hoàng hỏi:

 

– “Lục Tổ dạy pháp Thiền định thế nào?”  Sư Huyền Sách:

 

– “Thầy tôi dạy: “Thiền Định là giữ tánh luôn trong sạch, thanh lặng, toàn sáng, thể, dụng như như, 5 uẩn vốn không, 6 trần chẳng có, không ra, không vào, chẳng định, chẳng loạn. Tánh Thiền không ở một chỗ nhứt định, rời cả ý thiền. Tánh thiền không sanh, dứt ý tưởng về nơi sanh ra thiền. Tâm như hư không nhưng chẳng tưởng nghĩ, đo lường về hư không”.

 

Sư Trí Hoàng nghe sư Huyền Sách thuyết giải như vậy, liền đến xin yết kiến Lục Tổ.  Đại Sư hỏi:

 

– “Nhân giả ở đâu đến?”

 

Sư Trí Hoàng thuật các việc trước. Đại Sư ân cần giải thích:

 

– “Thật như những lời ấy. Ông nên giữ tâm như hư không, chẳng chấp vào không, ứng dụng thông suốt, động tịnh tâm không khởi, phàm Thánh đều quên, tâm năng tâm sở đều dứt, tánh tướng như như, lúc nào cũng định”.

 

Đại Sư thương từ xa đến nên hết lòng chỉ dẫn, nhờ đó Trí Hoàng đại ngộ, rồi nghĩ lại chỗ sở đắc của mình trong 20 năm qua không còn chút ảnh hưởng gì. Đêm ấy, sĩ dân Hà Bắc nghe trên không trung có tiếng: “Thiền sư Trí Hoàng ngày nay đắc đạo”. Sau đó, Trí Hoàng lễ tạ, về Hà Bắc khai hoá tứ chúng. ¹

 

— ***–

 

Có vị tăng hỏi Đại Sư:

 

– “Ý chỉ của Sư Huỳnh Mai người nào đắc?”   Đại Sư đáp:

 

– “Người hội Phật pháp đắc”.  Vị tăng lại bạch:

 

– “Hòa thượng đắc chăng?”  Đại Sư khiêm nhượng:

 

– “Tôi không hội Phật pháp”.

 

— *** —

 

Ngày nọ, Đại Sư muốn giặt Pháp y nhưng chưa tìm được suối trong. Nhân thấy sau chùa lối năm dậm, núi rừng sầm uất, thanh khí xoay quanh, Đại Sư chống tích trượng xuống đất, mạch nước theo tay vọt lên, khoảnh khắc thành ao. Đại Sư quì gối giặt áo. Nơi vồ đá bỗng xuất hiện một vị tăng, đến lễ bái và bạch:

 

– “Tôi tên Phương Biện, người Tây Thục, khi trước gặp Tổ Đạt Ma ở Nam Thiên trúc, Ngài dặn: “Phương Biện, hãy đến nước đại Đường, Chánh pháp nhãn tạng và Tăng già lê ² của Đại Ca Diếp đã truyền đến đời thứ 6 tại Thiều Châu, Tào Khê. Ông nên đến đó chiêm lễ”. Phương Biện từ xa đến, tâm nguyện thấy Y Pháp của Thầy tôi ”.

 

Đại Sư đưa cho xem, rồi hỏi:

 

– “Thượng nhơn khéo về nghề chi?” Phương Biện bạch:

 

– “Chuyên về đắp tượng”. Đại Sư chỉnh sắc:

 

– “Ông thử đắp tượng tôi xem”.

 

Phương Biện bối rối, vài hôm sau mới đắp thành chơn tượng, cao 7 tấc, trông rất khéo. Đại Sư cười:

 

– “Ông chỉ biết đắp tượng tánh, chẳng biết Phật tánh”. Đại Sư duỗi tay vò đảnh Phương Biện, thân mật dạy:

 

– “Hãy làm việc phước điền ở cõi người và cõi trời cho lâu dài”. Đại Sư lấy áo đưa cho Phương Biện để đáp công. Phương Biện chia áo làm 3, một, trang bị đồ tượng; một, giữ riêng; một chôn xuống đất và nguyện:

——

1.- Bốn chúng xuất gia: Tỳ kheo, Tỳ kheo ni. Sa di, Sa di ni.

2.- Chánh pháp nhãn tạng là phép truyền tâm ấn đặc biệt của Thiền tông.

–  Một áo trong bộ Tam y của hàng Tỳ kheo:  a/- Tăng già lêáo ngoài.   b/- Uất đa la áo giữa.  c/- An đà hộiáo trong.

 

 

 

– “Ngày sau người được áo này, là tôi ra đời, trụ trì nơi đây, và trùng tu ngôi chùa”.

 

Đến đời Tống Gia Hựu năm thứ 8, có Tăng Duy Tiên tu sửa điện, đào đất được áo trông như mới. Tượng còn lưu tại Cao Tuyền Tự, cầu điều gì cũng linh ứng.

 

 

— *** —

 

Có vị Tăng đọc kệ Ngọa Luân Thiền sư:

 

“Ngọa Luân có tài giỏi

Hay đoạn trăm tư tưởng

Đối cảnh tâm không khởi

Bồ đề ngày tăng trưởng”.

 

 

Đại Sư nghe, liền dạy:

 

– “Kệ này chưa rõ chơn tâm, nếu y theo tu hành thêm trói buộc, nhân đó cho một kệ:

 

 

“Huệ Năng không tài giỏi

Chẳng đoạn trăm tư tưởng

Đối cảnh tâm luôn khởi

Bồ đề sao tăng trưởng?”

 

— *** —

 

 

 

                                    GIẢI THÍCH:

 

— *** —

 

 

Chú giải về 62 tà kiến: theo “Phật học đại tự điển” do hội tu đính Đại Tạng Kinh ấn hành tại Thiện Đạo Tự, Trung Hoa Dân Quốc, năm thứ 73 Đài Bắc – Đài Loan:

 

62 kiến  (627- 1128) :

1./ Sắc là thường

2./ Sắc là vô thường

3./ Sắc là thường vô thường

4./ Sắc là phi thường phi vô thường

 

 

Các thứ Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng như thế:

Ngũ uẩn: Sắc uẩn, Thọ uẩn, Hành uẩn, Thức uẩn thành          20

Hiện tại hữu biên, vô biên, ngũ ấm có  ——————         20

Sau khi chết, như đi, chẳng đi có         —————–           20

Thành                                60

Thần với 1 thân, thần với thân khác có           ——–            02

Cộng  —-          62

 

Đoạn thường, hữu vô là biên kiến (thấy một bên)

Dùng đoạn thường 2 kiến làm căn bản, là                —-        62  kiến

 

62 kiến ngoại đạo:

 

– Sắc uẩn cho là ta có 4 câu:

– a-/ sắc là ta.

– b-/ lìa sắc mà có ta.

– c-/ sắc là lớn, ta là nhỏ – ta trụ trong sắc.

– d-/ ta là lớn, sắc là nhỏ – sắc trụ trong ta.

 

– 4 uẩn khác: Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng như trên. Họp lại thành 20. Trải qua 3 đời họp thành 60. Dùng Đoạn và Thường, 2 kiến làm căn bản thành 62 kiến.

–***–

 

 

VIII.- ĐỐN TIỆM

 

PHƯƠNG PHÁP DẠY TẮT VÀ DẠY THEO THỨ LỚP

 

 

 

— *** —

Bấy giờ Lục Tổ ngụ tại chùa Bửu Lâm, Tào Khê, Thượng Tọa Thần Tú ở chùa Ngọc Tuyền, Kinh Nam, hai phái truyền bá rất thạnh hành, người đời ca tụng: Nam Năng – Bắc Tú, chia ra Đốn Giáo và Tiệm giáo, khiến những người học đạo phân vân, chưa biết phải theo tông chỉ nào. Trước tình trạng đó, Lục Tổ khuyên đồ chúng:

 

– “Đạo Pháp vốn từ một gốc, người có Bắc Nam, pháp duy có một nhưng chỗ thấy và hiểu có chậm, mau. Tại sao gọi đốn tiệm? Pháp không đốn tiệm, người có sáng có mê, sự hiểu biết mau chậm khác nhau, nên gọi đốn tiệm”.

 

Tuy nhiên, môn đồ của Thượng tọa Thần Tú thuờng hay chê Tổ Sư Nam Tông:

 

-“Chẳng biết một chữ, có gì sở trường”. Thượng tọa Thần Tú can:

 

– “Đại sư Huệ Năng được trí vô sư, đã thâm ngộ chơn lý thượng thừa, tôi không sánh bằng. Hơn nữa, Đại Sư Huệ Năng còn được Thầy tôi, Ngũ Tổ, đích thân truyền Y Pháp, đâu phải tự nhiên mà được? Tôi tiếc vì đang thọ ơn vua, không thể đi xa để được gần gũi hầu học thêm nơi người. Các ông hãy đến Tào Khê, trước tham lễ, sau tìm lãnh hội những điều chưa hiểu biết”.

 

Ngày nọ, Thượng tọa Thần Tú gọi riêng môn nhơn Chí Thành, người  ở Thái Hòa, huyện Kiết Châu, dặn:

 

– “Ông thông minh, đa trí, nên vì tôi, đến Tào Khê nghe Lục Tổ giảng pháp và tận tâm ghi nhớ, về thuật lại tôi nghe”.

 

Chí Thành vâng mạng đến Tào Khê, dấu tông tích, lẫn vào đồ chúng nghe giảng.

 

Bấy giờ, trong buổi thuyết pháp, Tổ sư cảnh cáo:

 

– “Có người trộm pháp ẩn trong hội này”. Chí Thành liền ra lễ bái, trình bày các việc. Đại Sư hỏi:

 

– “Ông từ Ngọc Tuyền đến, phải chăng để thám thính?”

 

Chí Thành bạch:

 

– “Không phải”. Đại Sư hỏi:

 

– “Tại sao không phải?” Chí Thành bạch:

 

– “Khi tôi chưa nói ra là phải, giờ đã nói thì không phải”. Đại Sư hỏi tiếp:

 

– “Thầy ông dạy đồ chúng những gì?” Chí Thành bạch:

 

– “Thường dạy chúng tôi trụ tâm quán tịnh, ngồi tập trung tư tưởng, không nằm”. Đại Sư:

 

– “Trụ tâm quán tịnh là bịnh, không phải thiền, ngồi lâu câu thúc thân thể, về lý, đâu có ích gì. Ông nghe kệ đây:

 

“Sống ngồi không nằm

Chết nằm chẳng ngồi

Đống xương thịt thúi

Công phu gì?… Ôi!”

 

Chí Thành liền lạy, bạch:

 

– “Học nhơn theo Đại sư Thần Tú học đạo 9 năm chưa sáng tỏ, nay nghe Hòa thượng một lời, bổn tâm liền ngộ. Sanh tử là việc lớn, kính xin Hòa thượng từ bi chỉ dạy”. Đại Sư:

 

– “Tôi nghe thầy ông dạy môn nhơn Giới, Định, Huệ, chẳng rõ Đại sư Thần Tú giảng nghĩa lý ra sao, thuật lại tôi nghe”.

 

Chí Thành bạch:

 

– “Đại sư Thần Tú giảng: “Các việc ác không làm gọi Giới, làm các điều lành gọi Huệ, luôn Tịnh ý mình gọi Định”. Chẳng hay Hòa thượng dùng pháp nào dạy người?” Đại Sư:

 

– “Nếu tôi nói có pháp dạy cho người, là dối ông, tôi chỉ tùy phương tiện mở trói buộc. Phương tiện ấy tức Chánh Định. Lời thầy ông dạy về giới, định, huệ, tôi không thể luận bàn. Chỗ thấy của tôi về giới, định, huệ lại khác”.

 

Chí Thành bạch:

 

– “Giới, Định, Huệ chỉ có một, sao lại khác?”  Đại Sư:

 

– “Giới, định, huệ, của thầy ông để tiếp độ người đại thừa, còn giới, định, huệ của tôi dùng tiếp độ người tối thượng thừa. Vì liễu ngộ chẳng đồng, nên thấy có chậm, mau. Ông hãy nghe tôi giải rồi đối chiếu với điều Thầy ông dạy, có giống nhau không? Tôi thuyết pháp không rời chơn tánh. Rời bổn thể dạy pháp là tướng thuyết, tánh còn mê. Nên hiểu tất cả pháp đều từ tự tánh khởi dụng, đó mới chơn pháp Giới, Định, Huệ.

 

Nghe kệ:

 

“Tâm không quấy tự tánh giới

Tâm không mê tự tánh huệ

Tâm không loạn tự tánh định

Không tăng không giảm tự Kim Cang

Thân vẫn tới lui, lòng thanh tịnh”.

 

 

Chí Thành nghe xong hối hận, tạ lỗi và trình một kệ:

 

\    “Năm uẩn như ảo ảnh,

Không thể đạt cứu cánh.

Nên về với chơn như,

Chấp pháp lòng chưa tịnh”.

 

Đại Sư khen phải, bảo Chí Thành:

 

– “Giới, Định, Huệ, của thầy ông dùng dạy người tiểu căn, thiểu trí, Giới, Định, Huệ, của tôi dạy người đại căn, đại trí.   Tánh nếu sáng tỏ không cần lập Bồ đề và Niết bàn, cũng không cần tạo Giải thoát tri kiến. Không một vật gì tìm được trong chơn tánh, như thế mới có thể thành lập muôn pháp.  Rõ được lý này, gọi Phật thân, gọi Bồ Đề Niết Bàn, cũng gọi Giải thoát tri kiến. Người thấy tánh, lập muôn pháp cũng đặng, không lập cũng được, tới lui tự do, không ngăn không ngại, ứng dụng tùy cơ, ứng lời tùy đáp, ứng việc tùy hành, hóa thân cùng khắp vẫn chẳng rời tánh mình, như vậy tức đặng Tự tại thần không du hí Chánh Định, đó, gọi thấy tánh”. ¹

—–

1.- Tự tại thần thông là huệ tánh thiêng liêng ứng dụng suốt thông trong mọi hoàn cảnh, ở mọi nơi. Du hí Chánh Định là phép Chánh Định tự do của chư vị Bồ Tát. Vào ra các nơi, các cảnh, dầu mau dầu chậm cũng đều tự do tự tại.

 

Chí Thành:

 

– “Bạch Hòa Thượng, thế nào gọi nghĩa chẳng lập?” Đại Sư:

 

– “Tánh ta không quấy, không si, không loạn, bất cứ lúc nào cũng dùng trí Bát Nhã chiếu soi, thường rời cảnh tướng, tự do, tự tại, dọc ngang đều được thì có gì cần phải lập? Tự ngộ tánh, đốn ngộ đốn tu, không lần hồi thứ lớp, tất cả pháp không cần lập. Các pháp vắng lặng đâu cần thứ lớp”.

 

Chí Thành nghe xong, lễ bái tạ ơn, và nguyện hầu hạ Đại Sư, sớm tối không xao lãng.

 

— *** —

 

 

Tăng Chí Triệt, người Giang Tây, họ Trương tên Hành Xương, lúc trẻ là hiệp sĩ. Từ khi Nam Bắc chia rẽ, phân ra việc hóa độ, hai tông chủ tuy không bỉ ngã, nhưng học trò, bè bạn của hai phái tranh chấp nhau rồi sanh lòng ưa ghét. Bấy giờ, môn nhơn Bắc tông lập Thượng tọa Thần Tú làm Tổ thứ 6, nhưng ngại việc Lục Tổ được Ngũ Tổ truyền Y Bát, khắp thiên hạ đều nghe biết, nên ngầm sai Hành Xương đến ám sát Lục Tổ. Đại Sư tâm thông, dự biết việc này, nên để sẵn 10 lượng vàng trong phòng. Nhân đêm khuya, Hành Xương lẻn vào phòng Tổ, toan ám hại, Tổ đưa cổ ra, Hành Xương múa đao 3 phen mà không chém được. Đại Sư thương hại:

 

– “Gươm chánh không dùng việc tà, kiếm tà không hại được người chánh, tôi chỉ nợ ông vàng chớ không nợ mạng”.

 

Hành Xương kinh hải, ngã xỉu, hồi lâu mới tỉnh, hối hận lạy, thành khẩn xin Đại Sư tha tội và tự nguyện xuất gia. Đại Sư đưa vàng dặn:

 

– “Ông nên ra đi, đồ chúng hay được họ sẽ hại ông. Ngày khác, cải dạng rồi hãy đến, khi đó tôi sẽ thâu nhận”.

 

Hành Xương vâng lệnh, nửa đêm trốn đi. Sau đầu tăng xuất gia, cụ giới tinh tấn. Ngày nọ, nhớ lời Đại Sư dặn, Hành Xương từ xa đến lễ hầu. Đại Sư ân cần, trách:

 

– “Tôi nhớ ông từ lâu, sao đến muộn vậy?”

 

Hành Xương bạch:

 

– “Ngày trước học nhơn nhờ ơn Hòa thượng tha tội, tuy đã xuất gia, khổ hạnh, nhưng vẫn nghĩ, dầu tu suốt kiếp, cũng khó mong báo đền được ơn đức này. Nay đến đây, nguyện cầu Hòa thượng truyền pháp, để học nhơn ráng sức hoằng dương độ chúng sanh. Học nhơn thường xem kinh Niết Bàn, chưa hiểu rõ nghĩa thường và vô thường, kính xin Hòa thượng từ bi lược giải”. Đại Sư:

 

– “Vô thường tức Phật tánh, hữu thường là tâm phân biệt tất cả cảnh thiện ác”. Hành Xương kính cẩn bạch:

 

– “Học nhơn xin được hỏi, lời giải đó của Hòa thượng có trái với kinh văn không”. Đại Sư khẳng định:

 

– “Tôi truyền tâm ấn của Phật, nào dám giải sai kinh Phật”.

Hành Xương bạch:

 

– “Kinh chép: “Phật tánh là thường” Hòa thượng cho là vô thường. Các điều thiện ác cho đến tâm bồ đề đều vô thường, Hòa thượng giải trở lại là thường, như vậy trái ngược, khiến học nhơn này càng thêm nghi hoặc”. Đại Sư:

 

– “Ngày xưa nghe ni sư Vô Tận Tạng đọc kinh Niết Bàn một lần, tôi đã vì ni sư giảng giải, không một chữ một nghĩa sai với kinh văn. Hôm nay, tôi giảng cho ông cũng không hai lý”. Hành Xương:

 

– “Học nhơn sức hiểu mê cạn, nguyện Hòa thượng giải thích rõ chi tiết”. Đại Sư giảng:

 

– “Ông nên biết, Phật tánh nếu thường, thì các pháp thiện ác, cho đến cùng kiếp cũng không một người phát tâm bồ đề? Vì thế, tôi giải vô thuờng, Phật thuyết đạo chơn thường. Lại nữa, tất cả các pháp nếu vô thường, tức mọi vật đều có tánh riêng, phải chịu sanh tử, tánh chơn thường không thay đổi, nên tôi giải thường, chính Phật giảng nghĩa chơn vô thường. Phật vì thấy phàm phu ngoại đạo hiểu sai lầm đạo thường cho là tà thường. Người tu hàng nhị thừa, thường cho là vô thường, cộng thành bát đảo ¹ (8 điều trái ngược). Nên kinh Niết Bàn liễu nghĩa dạy: “Phá biên kiến ”của người khác bằng cách giải tỏa sự thấy một chiều của họ, để chỉ rõ chỗ chơn thường, chơn lạc, chơn ngã, chơn tịnh. Nay ông theo lời văn mà hiểu trái nghĩa của Phật, cho rằng tất cả những gì có thay đổi là vô thường, những gì không thay đổi là thường. Đó là ông hiểu lầm lời huyền vi, viên diệu tối hậu của Phật. Như vậy, dầu ông xem kinh đến ngàn lần cũng không có ích gì”.

 

Hành Xương liền đại ngộ, đọc kệ:

 

“Nhân chấp tâm vô thường

Phật thuyết hữu thường tánh

Chẳng rõ là phương tiện

Như đáy ao lượm sỏi sành.

Tôi nay chẳng nhọc công

Hiện tiền thấy Phật tánh

Chẳng nhờ Sư chỉ giáo

Tôi không thể đắc đạo”.

Đại sư:

 

– “Nay ông thấu triệt, đáng gọi Chí Triệt”.

 

Chí Triệt lễ tạ, lui ra.

 

— *** —

 

 

Cậu bé tên Thần Hội, họ Cao, quê ở Hoài Dương, 13 tuổi, từ chùa Ngọc Tuyền (nơi sư Thần Tú dạy đạo) đến lễ Đại sư.

 

– “Tri thức khó nhọc, từ xa đến, đã thấy được bổn lai chưa? Nếu có gốc phải biết ngôi chủ, nói thử tôi nghe?” Thần Hội:

 

– “Không mắc dính làm gốc, thấy tức là chủ”. Đại Sư trách:

 

– “Ấy! Sa di tranh cãi thế nào, hãy nói thứ tự ”.

 

Thần Hội bạch:

——

Bát đảo:

A.- 4 trái ngược của phàm phu : 1.- Thường các pháp đều vô thường, họ cho thường. 2.- Lạc : thế gian chịu các khổ, họ cho vui sướng, tức Lạc. 3.- Ngã thế gian không có cái ta, họ chấp ngã, có ta. 4.- Tịnh các pháp đều bất tịnh, họ cho là tịnh.

B.- 4 trái ngược của nhị thừa: 1.-Vô thườngvới Niết Bàn là thường, họ cho vô thường. 2.-Vô lạc: với Niết Bàn là lạc, họ cho vô lạc. 3.-Vô Ngãvới Niết Bàn là ngã, họ cho vô ngã. 4.- Vô tịnhvới Niết Bàn là thanh tịnh, họ vô tịnh.

 

 

– “Hòa thượng ngồi thiền, thấy hay chẳng thấy?”

 

Đại Sư trắc nghiệm, dùng gậy gõ nhẹ ba cái, hỏi:

 

– “Tôi đánh cậu em đau hay không đau?” Thần Hội bạch:

 

– “Đau mà cũng chẳng đau”. Đại Sư:

 

– “Tôi thấy mà cũng chẳng thấy”. Thần Hội bạch:

 

– “Thế nào là thấy cũng chẳng thấy?” Đại Sư giải:

 

– “Chỗ thấy của tôi là thường thấy các lầm lỗi của bổn tâm, chẳng thấy thị phi tốt xấu của người khác. Đó là thấy cũng chẳng thấy. Cậu em đáp đau cũng chẳng đau nghĩa là sao? Nếu không đau thì đồng với cây đá vô tri, nếu đau tức đồng với phàm phu, dễ sanh tức giận; cứ như chỗ hỏi trước: “Thấy hay chẳng thấy? “ vậy còn chấp hai bên, câu “Đau cũng không đau “ tức còn sanh diệt. Tánh của mình còn không thấy, sao lại dám đùa giỡn với người khác?”

 

Thần Hội lạy tạ, hối lỗi. Đại Sư thương tình, dạy tiếp:

 

– “Nếu tâm còn mê chưa thấy bổn tánh, nên hỏi thiện tri thức chỉ đường, nếu đã ngộ thấy tánh nên y pháp tu hành; còn mê chưa thấy bổn tâm lại đến hỏi tôi thấy với không thấy. Tôi thấy tôi tự biết, há thay được cái mê của cậu sao? Nếu cậu tự thấy cũng không thay cái mê của tôi được, sao chẳng tự biết tự thấy, lại hỏi tôi thấy với không thấy?”

 

Thần Hội lễ hơn trăm lạy, cầu tạ lỗi lầm và ân cần phục vụ, hầu hạ bên Đại Sư chẳng rời.

 

— *** —

 

Ngày nọ, Đại Sư hỏi đồ chúng:

 

– “Tôi có một vật, không đầu, không đuôi, không tên, không chữ, không lưng, không mặt, các ông có biết chăng?”

 

Thần Hội vội bước ra bạch:

 

– “Đó là cội nguồn của chư Phật, Phật tánh của Thần Hội”.

Đại Sư quở:

– “Tôi đã gọi vật không tên, không chữ, sao bảo đó là nguồn gốc Phật tánh, như vậy, dầu có đi đến chánh đạo, thì cũng như người ngồi lấy mái tranh che đầu; học thêm bao lâu cũng chỉ là một tông đồ giỏi luận về Phật pháp qua kinh sách mà thôi”.

 

Sau khi Tổ Sư diệt độ, Thần Hội vào kinh, mở rộng môn Tào Khê đốn giáo, sáng tác sách Hiển Tông Ký, truyền bá rất thạnh hành thời bấy giờ. Đó là Thiền sư Hà Trạch.

 

Ngày nọ, Đại Sư thấy môn đồ các tông, ngồi quanh dưới pháp tòa, khi thảo luận nhiều người khởi tâm ác, cố ý vấn nạn, bắt bẻ, xem nhau như thù địch. Động lòng thương xót, Đại Sư thân mật khuyên giải:

 

– “Người học đạo nên dứt bỏ tất cả niệm tưởng lành, niệm tưởng ác mới thích hợp, nhưng không có tên nào kêu xưng cho đúng, vậy tạm gọi tánh không hai, tức tánh không thương không ghét, là thật tánh; từ thật tánh lập ra tất cả giáo môn. Vậy, sau khi nghe thuyết pháp đốn giáo này liền thấy bổn tánh để hành đạo”.

 

Đồ chúng nghe dạy, đồng lễ tạ, xin thờ Đại Sư là thầy.

 

— *** —

 

 

IX.- TUYÊN CHIẾU

 

CHIẾU TRIỆU

 

— *** —

 

 

Niên hiệu Thần Long, năm thứ nhứt, ngày thượng nguơn, Hoàng thái hậu Võ Tắc Thiên và Hoàng đế Trung Tông ban chiếu:

 

– “Trẫm thỉnh Huệ An, Thần Tú, hai đại sư vào cung cúng dường, và nhân lúc nhàn rỗi cùng nghiên cứu nhứt thừa”.

 

Hai vị Đại sư thối thoát, tâu:

 

– “Phương Nam hiện có Thiền sư Huệ Năng được Tổ Hoằng Nhẫn mật truyền Y Pháp, là người được truyền tâm ấn của Phật, nên triệu thỉnh để hỏi ”.

 

– “Nay Trẫm sai nội thị Tiết Giản, mang chiếu triệu thỉnh, mong Đại Sư từ bi niệm tình, sớm về kinh”.

 

Đại Sư thượng biểu, viện cớ bịnh, từ chối, và phát nguyện trọn đời ở nơi lâm dã. Tiết Giản bạch:

 

– “Các vị thiền đức nơi kinh thành dạy: “Muốn được ngộ đạo phải ngồi thiền và tập định, nếu chẳng nhờ thiền định mà được giải thoát, là điều chưa từng có “. Chẳng rõ Đại Sư giảng pháp thế nào?” Đại Sư giải thích:

 

– “Đạo do tâm ngộ, đâu phải tại ngồi. Kinh chép: “Nếu bảo Như Lai dạy ngồi hoặc nằm, là hành tà đạo”, vì sao? Từ không chỗ đến, cũng không chỗ đi, không sanh không diệt, gọi Như Lai thanh tịnh thiền. Các pháp đều vắng lặng là Như Lai thanh tịnh tọa, rốt ráo vẫn không chứng, hà huống do ngồi”. Tiết Giản:

 

– “Đệ tử hồi kinh, chúa thượng sẽ hỏi, nguyện Đại Sư từ bi chỉ chỗ tâm yếu, để đệ tử tấu trình hai cung, cùng các vị học đạo ở kinh thành. Được vậy, ví như một đèn mồi trăm ngàn đèn, khắp nơi u tối đều được sáng, sáng sáng vô cùng tận”.

 

Đại Sư:

 

– “Đạo không sáng tối, sáng tối là nghĩa thay thế, sáng sáng vô tận, nhưng cũng có khi hết, sáng và tối đối đãi nhau mới thành tên. Kinh Tịnh Danh chép: “Pháp không so sánh, không  đối đãi”.  Tiết Giản lại bạch:

 

– “Sáng ví như trí huệ, tối ví như phiền não, người tu nếu chẳng dùng trí huệ chiếu phá phiền não thì nương vào đâu mà thoát khỏi được vòng sinh tử từ vô thỉ?”  Đại Sư:

 

– “Phiền não tức bồ đề, không phải hai, cũng không phải khác nhau. Nếu dùng trí huệ chiếu phá phiền não, đó là sự hiểu biết của hàng nhị thừa; các xe dê, nai, trâu, đều do căn cơ của bực Thinh văn và Duyên giác; bực thượng trí đại căn không hiểu như vậy”.  Tiết Giản lại bạch:

 

– “Chỗ thấy biết của bực đại thừa thế nào?” Đại Sư giảng:

 

– “Sáng với không sáng, người phàm thấy hai, với người trí liễu đạt, tánh ấy không hai, tánh không hai tức thật tánh. Thật tánh ở người phàm không giảm, Thánh Hiền không tăng, trụ nơi phiền não không loạn, tại thiền định không lặng yên, chẳng dứt chẳng thường, không đến chẳng đi, không tại trung gian, cũng không trong ngoài, không sanh, chẳng diệt, tánh và tướng tự như như, thường trụ không dời đổi, nên gọi thật tánh là đạo“. Tiết Giản bạch tiếp:

 

– “Nghe Đại Sư giảng lý bất sanh bất diệt, đệ tử trộm nghĩ không khác giới ngoại đạo?” Đại Sư:

 

– “Người ngoại đạo gọi bất sanh bất diệt là đem diệt ngưng sanh, dùng sanh hiển rõ diệt, diệt như chẳng diệt, sanh gọi không sanh. Còn tôi giảng bất sanh bất diệt là tánh bổn lai, vốn tự không sanh, nên chẳng diệt, vì thế không đồng với người ngoại đạo. Nếu ngài muốn rõ chỗ yếu chỉ của tâm, thì tất cả thiện ác đều không nghĩ đến, tự nhiên tâm thể được thanh tịnh, vắng lặng, diệu dụng vô cùng”.

 

Tiết Giản nhờ chỉ giáo, tâm tánh liền sáng tỏ, cung kính hành lễ từ giã về triều, tấu trình các lời Đại Sư dạy.

 

Năm ấy, ngày mùng 3 tháng 9, chiếu dụ đến cho Đại Sư như sau:

 

– “Đại Sư cáo bịnh chối từ không về kinh, vậy hãy vì Trẫm tu hành để tạo phước điền cho nước. Đại Sư cũng như Sư Tịnh Danh cáo bịnh, cũng ở lại thành Tỳ Da Li để xiển dương môn Đại Thừa, truyền pháp tâm đàm “bất nhị”của chư Phật“.

 

– “Tiết Giản được Đại Sư chỉ dạy về tri kiến của Như Lai. Trẫm nhờ tích thiện, phước dư, vốn trồng căn lành nên được gặp Đại Sư ra đời, mà hiểu được pháp thượng thừa. Trẫm cảm đội ơn Đại Sư. Cùng với việc dâng Ma nạp ca sa và Bát thủy tinh, Trẫm còn lịnh cho Thiều Châu thứ sử tu sửa tự viện, và sắc tứ hiệu chùa là Quốc Ân Tự“.

 

— *** —

 

 

X.- PHÓ CHÚC

 

NHỮNG LỜI DẶN DÒ CỦA LỤC TỔ

 

— *** —

 

Ngày nọ, Đại Sư gọi các môn nhơn: Pháp Hải, Chí Thành, Pháp Đạt, Thần Hội, Trí Thường, Trí Thông, Chí Triệt, Chí Đạo, Pháp Trân, Pháp Như … đến dạy:

 

– “Các ông khác người thường, sau khi tôi diệt độ, mỗi người nên làm Thầy một phương. Hôm nay tôi dạy các ông cách thuyết pháp, để khỏi sai lạc bổn tông, tức Thiền tông”:

 

– “Trước hết, nên xử dụng 3 khoa, rồi dùng 36 phép đối. Khi đưa ra lúc ẩn kín phải rời cả hai bên. Lúc thuyết các pháp, nên gìn chơn tánh. Nếu có người hỏi các ông về Phật pháp, thì mỗi lời nói đều phải đi đôi, giữ phép đối, lui tới nương nhau, sau cùng cả 2 phép đều bỏ dứt, cũng không chấp chỗ bỏ. Ba khoa giáo lý là: ẤM – GIỚI – NHẬP:

 

ẤM, có 5 ấm: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức.

 

GIỚI, có 18 giới, gồm:

 

– 6 Trần: Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, Pháp.

(màu sắc, tiếng, mùi, nếm, tiếp xúc, va chạm)

 

– 6 Cửa tức 6 căn: Nhãn, Nhĩ, Tĩ, Thiệt, Thân, Ý.

 (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể, ý tưởng)

 

– 6 Thức: Nhãn, Nhĩ, Tĩ, Thiệt, Thân và Ý thức.

 

NHẬP, là 12 chỗ vào, ngoài có 6 Trần, trong có 6 Cửa.

 

Bổn tâm bao hàm vạn pháp, nên gọi hàm tàng thức (kho chứa tất cả điều lành dữ). Nếu tâm khởi suy nghĩ, lo lường, tức tâm chuyển thành thức. Thức này sanh 6 thức ra 6 cửa, rồi thấy 6 trần. Đó là 18 giới, đều từ bổn tâm khởi ra xử dụng. Nếu tâm tà khởi 18 điều tà, nếu tâm chánh khởi 18 điều chánh. Nếu bổn tánh ứng dụng theo điều ác, là ứng dụng của chúng sanh. Bổn tánh ứng dụng điều lành, tức ứng dụng của Phật”.

 

– “Vậy dụng do đâu mà có? Từ bổn tánh sanh. Về phép đối:

 

– “Ngoại cảnh vô tình, có 5 đối: trời đối đất, mặt trời đối mặt trăng, sáng đối tối, âm đối dương, nước đối lửa, là 5 đối”.

 

– “Pháp tướng ngôn ngữ, có 12 đối: tiếng nói đối với pháp, có đối không, có sắc đối không sắc, có tướng đối không tướng, hữu lậu (tức phiền não), đối vô lậu, sắc đối không, động đối tịnh, thanh đối trược, phàm đối thánh, tăng đối tục, già đối trẻ, lớn đối nhỏ, cộng 12 đối”.

 

– “Tự tánh khởi dụng, có 19 đối: dài đối ngắn, tà đối chánh, si đối huệ, ngu đối trí, loạn đối định, hiền từ đối ác độc, giới đối quấy, ngay đối cong, thật đối hư, hiểm đối bình, phiền não đối bồ đề, thường đối vô thường, từ bi đối độc hại, vui đối giận, bố thí đối keo kiệt, tấn đối thối, sanh đối diệt, pháp thân đối sắc thân, hóa thân đối báo thân, cộng 19 đối”.

 

Đại Sư giảng tiếp:

 

– “Đó là 36 pháp đối, nếu thấu hiểu và ứng dụng tức là đạo. Quán thông tất cả kinh pháp, xuất nhập đều rời hai bên. Tự tánh động dụng khi cùng với người đối đáp, bên ngoài: đối với tướng phải rời tướng, bên trong: đối không phải dứt không. Tâm còn chấp tướng liền tăng thêm tà kiến. Tâm nếu chấp không tăng trưởng thêm vô minh. Người chấp không thường có ý chê kinh, cho rằng không dùng văn tự. Đã không dùng văn tự thì đừng nói ra lời, vì lời nói là tướng của văn tự. Họ lại cho rằng:

 

– “Cứ nói thẳng không lập văn tự, vậy hai chữ không lập cũng là văn tự”. Nghe người nói vội chê lời, là chấp văn tự. Các ông nên biết, tự mình mê, có thể dung chế được, còn tranh luận, chê bai kinh Phật bị tội chướng vô số. Nếu chấp tướng bên ngoài lại dối tạo ra pháp để cầu chơn, hoặc mở rộng đạo tràng, giảng những điều lầm lỗi về Có về Không, người như thế, dù tu vô số kiếp cũng không thấy tánh được”.

 

– “Nghe giảng dạy, y chánh pháp tu hành, nếu trăm việc không nghĩ tới làm cho chơn tánh bị ngăn trở. Nghe giảng mà chẳng tu hành ắt khiến người sanh tà niệm. Nên y pháp, khi giảng đừng chấp tướng. Các ông nếu hiểu rõ, y theo đó giảng, theo đó dụng, theo đó tu thì không lạc mất bổn tông”.

 

– “Nếu có người hỏi nghĩa các ông, hỏi có, đem không đối, hỏi không dùng có đối, hỏi phàm lấy thánh đối, hỏi thánh đem phàm đối, hai đường đối nhau sanh ra nghĩa trung đạo. Như một hỏi một đối, hỏi các thứ khác y theo đó đáp, không mất lý. Như có người hỏi sao gọi tối? Thì đáp: “Sáng là nhân, tối là duyên, hết sáng liền tối”.

 

Đại Sư dạy tiếp:

 

– “Dùng sáng chỉ rõ tối, lấy tối hiển sáng, tới lui đối nhau thành nghĩa trung đạo, hỏi các thứ khác thảy đều đáp như vậy. Các ông sau này truyền pháp, phải y theo đó chỉ cho nhau, đừng để lạc mất tông chỉ”.

 

–***–

 

 

 

Tháng 7 năm Nhâm Tý, niên hiệu Thái Cực (tháng 5 lại cải hiệu Diên Hòa, tháng 8 Huyền Tông tức vị, cải hiệu Tiên Thiên, năm sau lại cải hiệu Khai Nguyên) Đại Sư sai môn nhơn đến Tân Châu, đốc thúc nhơn công xây một tháp tại chùa Quốc Ân. Cuối hè năm sau tháp hoàn thành. Ngày 1 tháng 7, Đại Sư hợp đồ chúng, dạy:

 

– “Đến tháng 8 tôi sẽ rời thế gian, các ông có điều gì chưa rõ nên hỏi, tôi giải chỗ nghi ngờ cho dứt mê, kẻo sau này không còn ai chỉ dạy các ông nữa”.

 

Pháp Hải cùng các người khác đều rơi lệ, chỉ có Thần Hội, thần tình chẳng động, không buồn, không khóc. Đại Sư khen:

 

– “Tiểu sư Thần Hội đã đạt đến chỗ tâm không còn thấy sự khác biệt giữa lành và chẳng lành, chê khen chẳng động, buồn vui không sanh. Các người khác chưa bằng được”.

 

Đại Sư than:

 

– “Tôi không hiểu bao nhiêu năm vào núi, các ông tu hành cách nào? Hôm nay các ông tủi khóc, vì lo cho ai? Nếu lo tôi không biết nơi đi, tôi tự biết chỗ đi. Nếu tôi không biết nơi đến sao lại dự báo cho các ông? Các ông tủi khóc vì chẳng biết nơi tôi đến. Nếu biết được chỗ tôi đến, tức các ông không còn buồn khóc. Pháp tánh vốn không sanh diệt tới lui, các ông hết thảy ngồi xuống, cùng tôi tụng một bài kệ, gọi Chơn giả động tịnh kệ. Tụng kệ này, nếu tâm ý đồng với tôi, các ông theo đó tu hành, không mất tông chỉ”. Kệ:

 

 

“Tất cả không chơn thật,

Chớ nghĩ thấy được chơn.

Nếu lúc thấy chỗ chơn,

Thấy đó rốt không chơn.

Lúc cần thấy chơn thời,

Hết giả ngộ tâm chơn.

Bổn tâm vốn không giả,

Không chơn nơi nào chơn.

Hữu tình tức có động,

Vô tình vốn chẳng động.

Lầm tu hạnh bất động,

Đồng vô tình không động.

Muốn tìm chơn bất động,

Nơi động có bất động.

Bất động là chẳng động,

Vô tình không Phật chủng (hạt giống Phật).

Nên khéo phân biệt tướng,

Nghĩa đệ nhứt bất động.

Ngộ được pháp tu này,

Tức là dụng chơn như.

Báo các người học đạo,

Nỗ lực nên ngộ lý.

Tu pháp môn đại thừa,

Chớ chấp sanh tử trí.

Lời bàn luận thích hợp,

Cùng trao đổi Phật nghĩa.

Nhược bằng không hoà ý,

Chấp tay xin hoan hỉ.

Tông này vốn không tranh,

Tranh luận mất đạo lý.

Tranh cải về pháp môn,

Tự nhập sanh tử trí”.

 

Phỏng dịch:

 

 “Thế gian vạn vật đều không thật,

Chớ vội vàng cho thấy là chơn.

Mới nhìn qua rõ ràng chơn,

Rốt cuộc lại hoàn toàn không phải thật.  

Tự tâm vốn sẵn chân thật có,

Bỏ giả dứt tà ngộ được chơn.

Huyền giả còn tâm chưa chơn,

Tâm mình sẵn tịnh tìm chơn làm gì ?

Tâm có, tình tránh sao khỏi động,

Tâm bất động là giống vô tình.

Lầm theo chẳng động tu hành,

Cùng loài bất động trở thành vô tri.

Nếu muốn tu trì tâm bất động,

Nơi các cảnh động, tâm không lay.

Tâm bất động, chẳng đổi thay,

Vô tình mất giống Như Lai Niết Bàn.

Rõ thông suốt nguyên nhân các tướng,

Đó thật là tối thượng hạnh tu,         

Chẳng nhiễm động tĩnh thật hư.

Tức là ứng dụng chơn như Bồ đề,

Đường tu học ai người thượng trí.

Hãy gắng tìm chân lý mà noi,

Môn đại thừa gắng xét soi.                        

Học sanh tử trí chấp liền khổ đau,

Nếu thích hợp cùng nhau góp ý.    

Luận bàn tìm chân lý Phật tông,

Như chẳng đẹp ý vui lòng.

Thạnh tình hoan hỉ chớ không ép nài,

Tu học sao suốt ngày tranh cải ?

Gây tổn thương hòa ái là sai,

Biệt phân phải, trái hôm nay,

Lạc vào sanh tử luân hồi mai sau”.

 

 

Đồ chúng nghe kệ xong, đồng đảnh lễ và vâng lời Đại Sư cùng nhiếp tâm theo pháp tu, không còn tranh luận nữa.

 

Biết Đại sư còn ở thế không lâu, Thượng tòa Pháp Hải lạy bạch:

 

– “Hòa thượng sau khi nhập diệt, Y Pháp truyền cho người nào?” Đại Sư dặn:

 

– “Những lời tôi giảng từ chùa Đại Phạm cho đến hôm nay, các ông gom hết, chép lại, tựa đề Kinh Pháp Bảo Đàn, rán cẩn thận giữ gìn và cố gắng cùng nhau truyền bá để cứu độ quần sanh. Y theo lời kinh này tu, đó là chánh pháp. Với các ông, tôi chỉ truyền pháp chớ không truyền Y, vì các ông tín căn đều thuần thục, quyết định chẳng nghi, đủ khả năng đảm nhận đại sự. Theo ý kệ của Sơ Tổ Đạt Ma, Áo không thích hợp truyền nữa”.  Nghe kệ:

 

  “Tôi vốn đến xứ này

Truyền pháp cứu mê tình

Một hoa nở năm cánh

Kết quả tự viên thành”.

 

 

Đại Sư giảng thêm:

 

– “Thiện tri thức! Các ông nên tịnh tâm nghe tôi giảng: Muốn tất cả giống trí Phật được thành tựu, phải đạt được Nhứt tướng Chánh Định và Nhứt hạnh Chánh Định. Trước các cảnh giữ tâm không nhiễm, không sanh lòng ưa, ghét, cũng không giữ, bỏ, không nghĩ các việc lợi ích, thành hoại, luôn an nhàn, điềm tịnh, hư dung, đạm bạc, đó gọi Nhứt tướng Chánh Định. Lúc đi, đứng hay nằm, ngồi, đều giữ lòng luôn ngay thẳng, không động đạo tâm, chơn thành tịnh độ, đó gọi Nhứt hạnh Chánh Định. Người nào hội đủ hai phép chánh định, như đất có giống tốt, hàm chứa sự tăng trưởng cho hột giống lớn nhanh đến kỳ trái chín. Nhứt tướng, Nhứt hạnh cũng như vậy. Tôi hôm nay thuyết pháp như mưa thấm ướt đất, Phật tánh của các ông như hột giống, gặp đất ướt, mầm mộng phát sinh. Ai tu đúng theo tông chỉ của tôi, quyết sẽ được chứng quả bồ đề, tu y theo hạnh của tôi, nhứt định chứng được diệu quả”.

 

Nghe kệ:

 

“Tâm chứa các hạt giống

Mưa thấm mầm nảy sanh

Đốn ngộ hoa tâm nở

Bồ đề quả viên thành”.

 

 

Đọc kệ xong, Đại Sư lại dặn thêm:

 

– “Pháp vốn không hai, bổn tâm cũng vậy. Đạo vốn thanh tịnh nên không có hình tướng. Các ông cẩn thận chớ quán tịnh và chấp tâm không. Vì tâm vốn sẵn tịnh, không giữ, chẳng bỏ, nên nỗ lực tùy duyên. Thôi, các ông hãy lui ra”.

 

Đồ chúng lễ tạ lui ra.

 

Ngày mồng 8 tháng 7, Đại sư gọi môn nhơn, bảo:

 

– “Tôi muốn về Tân Châu, các ông mau sắm sửa thuyền chèo”.  Đại chúng buồn thảm, tha thiết cầu xin Sư ở lại.

 

Đại Sư an ủi:

 

– “Chư Phật ra đời rồi cũng vào Niết Bàn, có đến tất có đi, đó lẽ thường, hình hài này của tôi đã có chỗ về”.

 

Đồ chúng bạch:

 

– “Đại Sư đi phen này nên sớm trở lại”. Đại Sư an ủi:

 

– “Lá rụng về cội, không hẹn ngày trở lại”.

 

Đồ chúng lại bạch:

 

– “Chánh pháp nhãn tạng sẽ truyền phó cho người nào?”

 

Đại sư:

 

– “Người có tâm đạo thì đặng, vô tâm thì thông suốt!”

 

Đồ chúng lại bạch:

– “Sau này có nạn chi chăng?” Đại Sư dặn:

 

– “Sau khi tôi tịch diệt, năm sáu năm sau sẽ có một người đến lấy đầu tôi.

 

Các ông nên ghi nhớ mấy lời này:

 

“Trên đầu dưỡng thân

Trong miệng nuôi ăn

Gặp nạn của Mãn

Dương liễu làm quan”.

 

 

Đại Sư dặn thêm:

 

– “Tôi đi rồi, 70 năm sau, có hai vị Bồ tát từ phương Đông đến, một xuất gia, một tại gia, đồng chấn hưng, quảng bá tông phái này và kiến thiết Phật tự”.

 

Đồ chúng bạch:

 

– “Chẳng rõ từ Phật Tổ ứng hiện đến nay, truyền xuống mấy đời, kính mong Đại Sư khai thị?”

 

Đại Sư tuần tự kể:

 

– “Cổ Phật ra đời đã vô số lượng, không thể kể hết. Tôi chỉ kể 7 vị Phật gần đây.

 

Thời quá khứ Trang Nghiêm kiếp, có:

 

1.- Tỳ Bà Thi Phật,

2.- Thi Khí Phật,

3.- Tỳ Xá Phù Phật.

 

Thời hiện tại Hiền kiếp, có:

 

1.- Câu Lưu Tôn Phật,

2.- Câu Na Hàm Mâu Ni Phật,

3.- Ca Diếp Phật,

4.- Thích Ca Văn Phật.

 

Bảy vị Phật trên đây, Từ Thích Ca Văn Phật, là vị Phật đầu tiên, truyền xuống:

 

Thứ nhứt: Ma Ha Ca Diếp tôn giả

Thứ hai: A Nan Đà tôn giả

Thứ ba: Thương Na Hòa Tu tôn giả

Thứ tư: Ưu Ba Cúc Đa tôn giả

Thứ năm: Đề Đa Ca tôn giả

Thứ sáu: Di Giá Ca tôn giả

Thứ bảy: Bà Tu Mật Đa tôn giả

Thứ tám: Phật Đà Nan Đề tôn giả

Thứ chín: Phục Đà Mật Đa tôn giả

Thứ mười: Hiếp tôn giả

Thứ 11: Phú Na Dạ Xa tôn giả

Thứ 12: Mã Minh Đại Sĩ

Thứ 13: Ca Tỳ Ma La tôn giả

Thứ 14: Long Thọ Đại Sĩ

Thứ 15: Ca Na Đề Bà tôn giả

Thứ 16: La Hầu La Đa tôn giả

Thứ 17: Tăng Gìa Nan Đề tôn giả

Thứ 18: Gìa Da Xá Đa tôn giả

Thứ 19: Cưu Ma La Đa tôn giả

Thứ 20: Đồ Dạ Đa tôn giả

Thứ 21: Bà Tu Bàn Đầu tôn giả

Thứ 22: Ma Nã Loa tôn giả

Thứ 23: Hạt Lặc Na tôn giả

Thứ 24: Sư Tử tôn giả

Thứ 25: Bà Xá Tư Đa tôn giả

Thứ 26: Bất Như Mật Đa tôn giả

Thứ 27: Bát Nhã Đa La tôn giả

Thứ 28: Bồ Đề Đạt Ma tôn giả, Sơ tổ đông độ

Thứ 29: Huệ Khả Đại sư

Thứ 30: Tăng Xán Đại sư

Thứ 31: Đạo Tín Đại sư

Thứ 32: Hoằng Nhẫn Đại sư

Huệ Năng này là Tổ thứ 33.

 

– “Từ trước, các vị Tổ đều có kế thừa. Các ông về sau, thay thế nhau lưu truyền chánh pháp, chớ làm trái nghịch, sai lầm”.

 

Ngày mùng 3 tháng 8 năm Qúy Sửu, niên hiệu Tiên Thiên thứ hai, (713, đến tháng 12 năm ấy, đổi niên hiệu là Khai Nguyên nguyên niên) tại chùa Quốc Ân, sau khi thọ trai, Đại Sư bảo đồ chúng:

 

– “Các ông hãy ngồi theo thứ tự, để tôi từ biệt”.

 

Pháp Hải bạch:

 

– “Hòa thượng lưu lại giáo pháp nào khiến cho đời sau người mê được thấy Phật tánh?”

 

– “Các ông nghe kỹ, người mê đời sau nếu biết được tâm chúng sanh, tức thấy Phật tánh. Không biết được tâm chúng sanh muôn kiếp tìm Phật cũng khó gặp. Nay tôi dạy các ông biết tâm chúng sanh của mình và thấy Phật tại tâm. Muốn cầu thấy Phật phải biết tâm chúng sanh. Vì chúng sanh không biết mình có tánh Phật, nên mê muội để tâm chúng sanh che mờ tâm Phật, chớ chẳng phải tâm Phật làm mê muội chúng sanh. Nếu tánh của chúng sanh giác ngộ, thì chúng sanh là Phật. Tánh mê, Phật là chúng sanh. Tánh bình đẳng, tâm chúng sanh là Phật. Tánh tà hiểm, gian ác, Phật tánh bị tâm chúng sanh che khuất. Nếu tâm quanh co hiểm khúc tức tánh Phật ở trong tâm chúng sanh. Một niệm tưởng ngay thẳng, trong sạch, tức chúng sanh thành Phật. Tâm ta tự có Phật, Phật tại tâm mới là Phật thiệt. Không tìm Phật ở ngay trong tâm, đi tìm cầu chơn Phật ở xứ nào? Tự tâm các ông là Phật, chớ nên nghi ngờ. Các ông cần biết rõ, ngoài tâm ra, không một thứ gì có thể tạo được vạn pháp. Chính tự tâm sanh ra muôn giống pháp. Bởi vậy, kinh chép: “Tâm sanh vạn vật sanh, tâm diệt các vật liền diệt“.

 

– “Nghe tôi đọc một bài kệ để giã biệt các ông. Kệ này gọi Tự tánh chơn Phật kệ. Người đời sau biết được ý bài kệ này, tự thấy tánh liền thành Phật đạo”:

 

 

“Chơn như tự tánh là chơn Phật,

Tà kiến ba độc vốn Ma vương.

Lúc còn mê Ma vương choán chỗ,

Đắc chánh kiến sẵn Phật tại nhà.

Khởi tâm tà ba độc sanh ra,

Tự mở cửa mời thỉnh quỉ ma.

Chánh kiến sanh tiêu tan ba độc,

Ma tu thành Phật, thật không xa.

Pháp thân, Báo thân và Hóa thân,

Ba thân nguyên lai vốn một thân.

Nếu hướng vào tâm luôn soi chiếu,

Tức đắc thành Phật bồ đề nhân.

Từ nơi Hóa thân sanh tánh tịnh,

Tịnh tánh thường tại nơi hóa thân.

Nương chơn tánh hóa thân hành đạo chánh,

Tâm viên minh quí báu vô ngần.

Tánh dâm vốn từ nhân tịnh tánh,

Dứt dâm tức đắc tịnh tánh thân.

Ngộ tự tánh rời xa ngũ dục,

Thấy tánh tức khắc trở về chơn.

Duyên lành may gặp môn đốn giáo,

Được giác ngộ liền thấy Thế Tôn.

Nếu muốn tu sớm thành Phật đạo,

Phải biết nơi vào đúng Phật môn.

Quán tự tâm thấy ra chơn tánh,

Rõ tánh chơn tức nhân thành Phật.

Chưa thấy tánh, bên ngoài tìm Phật,

Khởi tâm như vậy, thật si nhơn.

Pháp môn đốn giáo nay lưu lại,

Cứu độ người đời chí tâm tu.

Chỉ lối hậu nhân đường học đạo,

Không rõ đốn môn lạc mịt mù”.

 

 

Phỏng dịch:

 

Chơn như bổn tánh là thật Phật,

Lòng tà, ba độc, vốn Ma vương.

Tâm mê, ma quỉ dựa nương,

Thiệt hành chánh kiến, Phật thường tại tâm.

Tà tâm khởi liền sanh ba độc,

Do tự mình mở cửa rước ma.

Đắc chánh kiến, chúng lánh xa,

Ma tu thành Phật xem qua chuyện thường.

Pháp, Báo, Hóa, ba thân là Phật,

Tuy rằng ba, vốn thật một thân.

Chiếu soi thấy được chơn tâm,

Tức liền ngộ đắc chánh chân bồ đề.

Hóa thân nơi tịnh tánh là nhân,

Tánh tịnh thường tại Hóa thân.

Rõ được Hóa thân hành Chánh đạo,

Tâm viên minh, tức tại Niết Bàn.

Từ tịnh tánh, khởi sang dâm tánh,

Xa rời dâm, ý sạch lòng thanh.     

Dứt ngũ dục, giữ tâm lành,

Giác trong khoảnh khắc tánh hoàn chơn như.

Duyên hạnh đắc thuyền từ đốn giáo,

Ngộ nhứt thời thấy Đức Thế tôn.

Người tu muốn nhập Phật môn,

Quán tâm thanh tịnh pháp thân Phật Đà.

Tự chiếu soi thấy ra chơn tánh,    

Ngộ tánh chơn tức Phật tại tâm.

Khổ công tìm Phật xa xăm,

Tu hành như vậy mê lầm, còn si.

Nay đốn giáo hợp kỳ truyền bá,

Cứu độ người quyết dạ tu hành.

Hỡi ai tâm chánh lòng thành,

Không thông đốn pháp Đạo lành lạc xa “.

 

 

Đại Sư thuyết kệ xong, ân cần dặn:

 

– “Các ông nhớ kỹ, sau khi tôi diệt độ, không nên bắt chước thói thường của người đời, khóc kể, đừng nhận phúng điếu cũng không mặc tang phục. Nếu làm trái lời dặn này, không phải đệ tử của tôi, vì những hình thức đó chẳng phải chánh pháp. Chỉ cần các ông biết tâm, thấy tánh, lòng không động, không tịnh, không sanh, không diệt, không đi, không đến, không phải, không quấy, không ở nhứt định nơi nào, cũng không dời đổi. Tôi lo các ông còn mê, không lãnh hội được ý này, nên ân cần dặn lại, khiến các ông thấy tánh. Sau khi tôi diệt độ, hãy y phép tu như lúc tôi hiện diện. Nếu không tuân những lời dặn này, dầu tôi còn tại thế cũng không ích lợi”.

 

Nghe kệ:

 

 

“Ngơ ngơ chẳng làm lành

Lâng lâng không tạo ác

Vắng lặng hết thấy nghe

Rỗng thông lòng không nhiễm”.

 

 

Đại Sư thuyết kệ xong, ngồi im đến canh ba, bổng gọi môn nhơn:

 

– “Tôi đi đây!”

 

Rồi lặng lẽ viên tịch. Lúc đó hương thơm khắp nhà, mống trắng đầy đất, cây rừng nhượm màu tang, thú cầm kêu thảm thiết.

 

–***–

 

 

Tháng 11, Quảng Châu, Thiều Châu, Tân Châu, quan viên, môn nhơn, tăng, tục đổ về tranh nhau rước chơn thân Ngài, nhưng không ai quyết định được sẽ đưa chơn thân về nơi nào, nên đốt hương khấn nguyện, khói hương bay hướng Tào Khê.

 

Ngày 13 tháng 11, dời thần khám, bên trong xuất hiện một đạo bạch quang xung thẳng lên không, 3 ngày mới tan. Viên huyện Thiều Châu dâng sớ tấu trình lên đức vua. Triều đình sắc phong, lập bia, ghi rõ đạo hạnh của Đại Sư :

 

Đại Sư thọ 76 tuổi, được truyền Y lúc 24 tuổi, thế phát lúc 39 tuổi. Thuyết pháp lợi ích quần sanh 37 năm. Nối pháp cho Ngài được 43 vị, còn số người tỏ ngộ chánh đạo, siêu phàm thoát tục thì vô số. Tín Y của Tổ Đạt Ma truyền lại từ Tây Vực, là thứ vải bố Khuất Uyển. Áo Ma nạp và bửu bát của vua Trung Tôn ban, cùng chơn tượng của Ngài do Phương Biện đắp, với tất cả đạo cụ, đều vĩnh viễn lưu giữ tại đạo tràng Bửu Lâm.

 

Lưu truyền Đàn Kinh này, nhằm mục đích làm sáng tỏ tông chỉ Đức Lục Tổ, cùng phát huy Tam Bảo, hầu làm lợi ích cho bá tánh thập phương.

 

LỤC TỔ ĐẠI SƯ  KINH PHÁP BẢO ĐÀN

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

 

 

HẾT

PHỤ LỤC

— *** —

LỤC TỔ ĐẠI SƯ DUYÊN KHỞI NGOẠI KÝ

Môn nhơn Pháp Hải cùng kết tập

 

 

Đại sư tên Huệ Năng. Thân phụ Ngài họ Lư, tên húy là Hành Thao. Đời Đường Vũ Đức, tháng 9 năm thứ 3, bị giáng chức, đày về Tân Châu. Thân mẫu Ngài là Lý Thị, nằm mộng thấy trước sân hoa trắng đua nở, bạch hạc bay cả đôi, mùi thơm lạ khắp nhà, khi thức dậy có cảm giác thọ thai, lại tinh khiết thanh tịnh trai giới.

 

Bà mang thai 6 năm mới sanh Ngài, nhằm Đường Trinh Quán năm thứ 12, giờ Tý ngày mùng 8 tháng 2 năm Mậu Tuất. Bấy giờ hào quang khắp không trung, mùi hương thơm ngào ngạt. Sáng ra có hai vị tăng đến xin yết kiến thân phụ Ngài, bảo rằng:

 

– “Con ngài sanh đêm hôm nên đặt tên trên Huệ, dưới Năng”.

Thân phụ Ngài hỏi:  “Sao tên Huệ Năng?”  Tăng đáp:

 

– “Huệ là dùng pháp huệ tế độ chúng sanh, Năng là hay làm Phật sự”. Nói xong ra đi, chẳng biết đi nơi nào.

 

Ngài không bú sửa mẹ, ban đêm thần nhơn dùng cam lộ nuôi dưỡng. Đến 3 tuổi, thân phụ Ngài từ trần, táng bên cạnh nhà. Mẫu thân Ngài thủ tiết nuôi dưỡng Ngài.Lớn lên Ngài đốn củi nuôi mẹ. Năm 24 tuổi, Ngài nghe kinh tỉnh ngộ, đến Huỳnh Mai tham lễ Ngũ Tổ, được mật truyền Y Pháp và khiến nối ngôi Tổ đời thứ 6. Lúc ấy nhằm niên hiệu Long Sóc năm Tân Dậu.

 

Ngài về phương Nam ẩn lánh. Đến niên hiệu Nghi Phụng, mùng 8 tháng giêng năm Bính Tý, Ngài gặp Ấn Tông pháp sư, gạn hỏi luận bàn chỗ huyền áo. Ấn Tông khế ngộ ý chỉ của Đại Sư. Rằm tháng giêng, Ấn Tông pháp sư hội tứ chúng, thế phát cho Đại Sư. Ngày mùng 8 tháng 2, Ấn Tông tập hội các danh đức, truyền thọ cụ túc giới cho Đại Sư. Tây Kinh Trí Quang luật sư là thọ giới sư. Tô Châu Huệ Tịnh luật sư là Yết Ma. Kinh Châu Thông Ứng luật sư là giáo thọ. Đa La luật sư Trung Thiên Trúc là thuyết giới sư. Mật Đa Tam Tạng ở Tây quốc là chứng giới. Giới đàn này do Tống triều, Ngài Cầu Na Bạt Đà La Tam Tạng kiến lập, có ghi: “Sau này sẽ có nhục thân bồ tát thọ giới nơi đây”. Đời Lương, niên hiệu Thiên Giám, có Trí Dược Tam Tạng từ Tây Trúc quốc, đi thuyền theo đường biển đến đây, đem cây bồ đề trồng bên cạnh giới đàn này, cũng ghi cho nhớ: ”170 năm sau, có nhục thân bồ tát ở dưới cội cây này, khai diễn Thượng Thừa, độ vô số chúng sanh, là Pháp Chủ Chơn Truyền Tâm Ấn của Phật“.

 

Đại Sư từ khi xuống tóc thọ giới, cùng tứ chúng khai thị tông chỉ đơn truyền, đúng theo lời ghi trước tại bia. (Đời Lương niên hiệu Thiên Giám, năm Nhâm Ngũ đến đời Đường niên hiệu Nghi Phụng, năm Bính Tý, được 175 năm).

 

Mùa xuân năm sau, Đại Sư từ giả đồ chúng về Bửu Lâm, Ấn Tông cùng đồ chúng tiển Đại Sư hơn ngàn người, thẳng về Tào Khê, bấy giờ, Kinh Châu Thông Ứng luật sư cùng học giả lối trăm người theo ở luôn với Đại Sư. Đại Sư đến Tào Khê, chùa Bửu Lâm, thấy chỗ chật hẹp, chẳng đủ dung chứa đồ chúng. Muốn mở rộng thêm ra, nên đến yết kiến chủ đất là Trần Á Tiên, thưa:

 

– “Lão tăng muốn nhờ thí chủ cho chỗ đất trải tọa cụ đặng chăng?”

 

Á Tiên bạch: “Tọa cụ của Hòa thượng ước rộng bao nhiêu?” Tổ đưa tọa cụ ra cho xem, Á Tiên vâng chịu. Tổ liền lấy tọa cụ tung ra trùm bốn cảnh Tào Khê, có 4 thiên vương hiện thân ngồi trấn 4 hướng. Đến nay tại cảnh chùa này có Thiên Vương Lãnh. Nhân đó mới có tên. Á Tiên bạch:

 

– “Biết được Hòa thượng pháp lực rộng lớn, nhưng vì mộ phần cao tổ đều tại nơi đây, ngày sau có tạo tháp, xin chừa lại các ngôi mộ này. Còn bao nhiêu tôi tình nguyện vĩnh viễn cúng làm bửu phường. Tuy nhiên, đất này là nơi sanh long bạch tượng đến kết mạch, chỉ nên bằng trên chớ nên bình nơi đất”.

 

Về sau xây cất chùa theo y lời dặn này.

 

Đại Sư dạo sơn thủy gặp các nơi thắng cảnh ngừng lại nghỉ ngơi, đều trở thành nơi lan nhã, (nơi yên tịnh của nhà tu ở) có 13 chỗ gọi hoa quả viện, đều nhập vào của chùa.

 

Bửu Lâm đạo tràng nguyên trước kia Ngài Trí Dược Tam Tạng ở Tây Vực, từ Nam Hải sang qua cửa Tào Khê, bụm nước lên uống, nghe mùi vị thơm ngon lạ thường, gọi đồ chúng bảo:

 

– “Nước này với nước bên Tây Thiên không khác, trên dòng khe này ắt có thắng địa, sơn thủy xoay quanh phong lân kỳ tú, y như núi Bửu Lâm bên Tây Thiên”. Liền bảo cư dân thôn Tào Hầu:

– “Khá nên kiến lập một cảnh chùa nơi núi này, 170 năm sau sẽ có vô thượng pháp bửu diễn hóa nơi đây, kẻ đắc đạo như rừng, nên để hiệu Bửu Lâm”.

 

Bấy giờ nơi Thiều Châu, quan Châu mục Hầu Kính Trung theo lời này dâng biểu tấu, vua y lời thỉnh cầu, sắc tứ bảng đề là Bửu Lâm Phật điện, thuộc về niên hiệu Thiên Giám đời Lương năm thứ 3. Trước chùa có một sở đầm, rồng thường trồi lặn nơi đó, rung động rừng cây. Ngày nọ rồng hiện hình lớn, nổi sóng sôi vọt, mây mù che lấp, đồ chúng sợ hải.   Tổ nạt rồng, bảo:

 

– “Ngươi chỉ hiện được hình lớn chẳng hiện thân nhỏ, nếu là thần long thì biến hóa lớn nhỏ đều được.”

Rồng hốt nhiên lẩn mất, khoảnh khắc lại hiện nhỏ, vọt nổi lên.  Đại Sư đưa bát thử rồng:

 

– “Người lại không dám vào bát của lão tăng?”

 

Rồng hớn hở bơi đến trước. Đại Sư lấy bát hứng rồng, rồng không thể cử động. Đại sư bưng bát về chùa thuyết pháp cho rồng nghe, rồng liền lột xác thăng mất. Bộ xương dài lối 7 tất, đầu đuôi, sừng, chân đủ cả, lưu truyền tại cửa chùa.  Sau Đại Sư dùng đất và đá lấp đầm này.

 

Nay trước điện bên trái có tháp bằng sắt để trấn tại đó. Đại Sư có viên đá trị yêu, chạm 8 chữ: “Long Sóc nguyên niên Lư cư sĩ chí.” Đá này trước để ở viện Đông Thiền, huyện Huỳnh Mai.Đến Vương Duy đời Đường, Thần Hội đại sư làm bài Tổ sư ký, rằng:

 

– “Đại sư chung lộn với nhóm lao động đến 16 năm, gặp Ấn Tông giảng kinh, nhân đó mới thế phát”.

 

Lại Thứ sử Liễu Tông Nguyên làm bia thụy hiệu Tổ sư: “Sư thọ tín cụ, ẩn nơi Nam Hải trọn 16 năm, đến lúc nên hành đạo, Sư về Tào Khê làm thầy dạy người đời”.

 

Lại Thừa tướng Trương Thượng Anh biên bài ký Ngũ Tổ rằng: “Ngũ Tổ diễn hóa nơi huyện Huỳnh Mai, Đông Thiền viện, vì muốn tiện bề phụng dưỡng mẹ già, nên niên hiệu Long Sóc truyền Y Pháp cho Lục Tổ rồi giải tán đồ chúng, tạo am ở Đông Sơn, có cư dân Phùng Mậu hiến núi cho Ngũ Tổ làm đạo tràng”.

Do đó mà suy, Lục Tổ đến Huỳnh Mai thừa thọ Y Pháp của Ngủ Tổ, thật là niên hiệu Long Sóc năm Tân Dậu, đến Nghi Phụng Bính Tý 16 năm, Sư mới đến chùa Pháp Tánh xuống tóc.

 

 

LỜI BẠT

 

— *** —

 

 

Lúc bình sanh, Lục Tổ Đại Sư thuyết pháp tông chỉ Đại thừa viên đốn, nên gọi KINH. Lời giản dị, ý nghĩa rõ sáng, tông chỉ sâu xa. Người đọc hoặc tụng đều được lợi ích. Minh Giáo Khiết Công thường khen: “Người thông minh thấu rõ được chỗ thâm sâu, người mê dốt thì cũng hiểu được chút ít ”. Lời nói ấy rất thành thật.

 

Tôi – người viết lời Bạt này – mới vào đạo, cảm động về lời nói đó. Nhưng đọc qua 3 bản KINH PHÁP BẢO ĐÀN, thấy có nhiều chỗ sai biệt, thiếu sót, vì bị hư mất, mục hoặc rách nát, nên tôi đối chiếu 3 bản khác nhau, thấy chỗ nào không ổn thì hiệu chính, chỗ nào sơ lược quá thì viết rõ ra. Dịp này nhờ cơ duyên, tôi được vị Án Sát Vân Công, quí danh Tùng Long, thâm hiểu về tông chỉ Tào Khê, dẫn giải thêm. Ngày nọ, qua sơn phòng, chỗ các vị biên chép, Tùng Long xem bản của tôi, thấy được toàn bộ ĐÀN KINH, Ông rất cảm kích, nên xin cho phổ biến, để Tông phái Tào Khê không đoạn tuyệt. Có người cho rằng: “Đạt Ma Tổ Sư không lập văn tự, chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật”, và ngài đã nói: “Một hoa sanh 5 cánh là chánh truyền”, đó không phải văn tự sao? Tôi nói Kinh này phi văn tự vậy. Tổ Đạt Ma đơn truyền tông chỉ là chỉ thẳng, và Nam Nhạc, Thanh Nguyên, nhị vị đại lão sư dùng tông chỉ này làm sáng tỏ tâm của mình mà còn mở sáng cho hai vị Mã Tổ, Thạch Đầu. Nay Thiền Tông được truyền bá khắp thiên hạ là xuất phát từ tông chỉ này.

 

Từ nay về sau, người đời há không phải nhờ Tông Chỉ này mà được minh tâm kiến tánh sao? Ai hỏi, chỉ bái tạ, đáp: “Tôi chẳng dám, chỉ xin giới thiệu thôi”.

 

Chí Nguyên, Tân Mão, mùa Hạ. Nam Hải Thích Tông Bửu,

 

 

BẠT.

 

 

LỊCH TRIỀU SÙNG PHỤNG SỰ TÍCH

 

 

 

*- Đường Hiến Tông Hoàng đế, Ích Đại sư gọi Đại Giám thiền sư.

 

*- Tống Thái Tông Hoàng đế, Gia Ích Đại Giám Chơn Không thiền sư, chiếu biên tên tháp của Sư: Tháp Thái Bình hưng quốc.

 

*- Tống Nhơn Tông Hoàng đế, Thiên Thánh năm thứ 10, nghinh chơn thân Sư cùng Y Bát vào đại nội thành cúng dường, Gia Ích Đại Giám Chơn Không Phổ Giác thiền sư.

 

*- Tống Thần Tông Hoàng đế, Gia Ích Đại Giám Chơn Không Phổ Giác viên minh thiền sư.

 

 

 

                       TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

 

– Kinh Pháp Bảo Đàn: 3 bản trong kinh Đại tạng (Hán ngữ)

– Phật học Đại tự điển của Trọng Hỗ Đinh Phước Bảo (Hán ngữ)

– Phật học tự điển của Đoàn Trung Còn (Việt ngữ)

– Hán Việt tự điển của Thiều Chửu

– Hán Việt tự điển của Đào Duy Anh

– Cổ kim Hán Việt Ngữ tự điển của Trần Văn Chánh

– Các bản dịch Kinh Pháp Bảo Đàn của các dịch giả sau đây:

* – Đoàn Trung Còn, Tịnh độ cư sĩ

* – Giáo sư Từ Quang

* – Thiền sư Minh Trực

* – Tạp chí Từ Bi Âm, Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học

* – Tạp chí Pháp Âm Phật học, Trà Vinh

* – Hoà thượng Thích Mẫn Giác

* – Hoà thượng Từ Quang

* – Hoà Thượng Thích Thanh Từ

* – Tỳ Kheo Thích Duy Lực

* – Tỳ Kheo Thích Nguyên Ngôn (Anh quốc)

* – Trí Hải

* – Cư Sĩ Mai Hạnh Đức

* – Cư Sĩ Đinh Sĩ Trang

* – Thiều Chủ

           XIN CHÚ Ý

— *** —

 

– Kinh PHÁP BỬU ĐÀN chỉ kính biếu.

– Bản gốc có chữ ký của người dịch, được lưu trữ tại hội sở

PGHH hải ngoại dùng làm tài liệu tham khảo và đối chiếu.

– Mọi trích đoạn, sửa chữa, yêu cầu chú thích rõ.

– Địa chỉ liên lạc:

Mr. Hồ Minh Châu

50, rue des Chalets

94450 Limeil Brevannes

FRANCE

Categories: Tài Liệu Tham Khảo | Leave a comment

Post navigation

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

Create a free website or blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: