Daily Archives: September 7, 2020

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔ và Phật Giáo Thời Ðại

…… … .  . .  .  . Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔ

và Phật Giáo Thời Ðại

Lê Hiếu Liêm

 

 

Chương một: Dẫn nhập Việt Nam và Phật Giáo đầu thế kỷ hai mươi.

 

Đầu thế kỷ 20, tư tưởng Nho Giáo, thống trị độc tôn đất nước từ Thời Hồ Quý Ly, nhà Lê và nhà Nguyễn suốt 400 năm, hoàn toàn sụp đổ. Tư tưởng Phật Giáo, ngự trị vinh quang trong thời đại Lý Trần từ thế kỷ thứ 11 đến cuối thế kỷ 14, suy đồi tận gốc. Tư tưởng Tây Phương và tôn giáo của nó, Thiên Chúa Giáo La Mã, bị đại đa số trí thức và nhân dân coi như sản phẩm và công cụ của chế độ Thuộc Địa và thực dân Pháp nên vẫn không được chấp nhận. Ý thức hệ Cộng Sản cũng như các tư tưởng mới khác chưa ra đời. Cả một khoảng trống tư tưởng, cũng có nghĩa là một khoảng trống tôn giáo và chính trị, to lớn bao trùm trên một nước Việt Nam bị nô lệ, bóc lột, áp bức, lạc hậu và nghèo đói. Nhưng đây cũng là môi trường lý tưởng cho sự ra đời của những tư tưởng mới, những tôn giáo mới, những chính đảng mới và những phong trào mới: Phong trào Đông Du và Việt Nam Duy Tân Hội của Phan Bội Châu từ năm 1904, Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can và các nhà Nho tiến bộ năm 1907, tư tưởng dân quyền và dân chủ của Phan Chu Trinh suốt hai mươi năm (1905-1925), phong trào chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908, vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội cùng năm, Việt Nam Quang Phục Hội năm 1912, cuộc khởi nghĩa ở Trung Kỳ và ở Huế năm 1916 của Thái Phiên, Trần Cao Vân, Lê Ngung, vua Duy Tân…, phong trào Hội Kín ở miền Nam năm 1913-1916 lan rộng khắp Lục Tỉnh và cuộc tấn công Sài Gòn năm 1916. Các hoạt động này đã liên tục diễn ra từ đầu thế kỷ 20 đến cuối đệ nhất thế chiến.

Tuy nhiên mãi đến đầu thập njiên 20 Việt Nam mới thật sự thức dậy với sự ra đời Việt Nam Thanh Niên Cách mạng Đồng Chí Hội và Tân Việt Cách Mạng Đảng năm 1925, Đạo Cao Đài năm 1926, Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1927, Cuộc khởi nghĩa Yên Bái và sự ra đời của Đảng Cộng Sản Đông Dương năm 1930 và phong trào Sô Viết Nghệ Tỉnh 1930-1931.

 

Trong thời gian sôi động này, từ 1925 trở đi, Phật Giáo cũng đã thức dậy. Từ năm 1923, thiền sư Khánh Hòa và thiền sư Thiện Chiếu đã thành lập, tại chùa Long Hòa ở Trà Vinh, Hội Lục Hòa Liên Hiệp với mục đích vận động thành lập một Hội Phật Giáo Việt Nam toàn quốc để chấn hưng Phật Giáo. Thiền sư Thiện Chiếu, khác hẳn tất cả tăng sĩ Phật Giáo đương thời, là một tăng sĩ có tân học. Ông đã đi ra Trung và Bắc vận động thống nhất Phật Giáo năm 1927 nhưng bất thành.

Năm 1928 thiền sư Khánh Hòa xây dựng Thích Học Đường và Phật Học Thư Xã tại Chùa Linh Sơn, Sài Gòn và năm 1929 Ông cho ấn hành tạp chí Viên Âm, tập san Phật Học đầu tiên bằng quốc ngữ tại Việt Nam, đặt trụ sở tại chùa Xoài Hột, Mỹ Tho. Cùng thời, thiền sư Thiện Chiếu xuất bản một tạp chí Phật Học nhắm vào giới thanh niên trí thức lấy tên là Phật Hòa Tân Thanh Niên, đặt tòa soạn tại chùa Chúc Thọ ở Gia Định.

 

Năm 1931 thiền sư Khánh Hòa cùng nhiều tăng sĩ và cư sĩ thành lập Hội Phật Học đầu tiên tại Việt Nam, lấy tên là Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học và thiền sư Từ Phong được mời làm Chánh Hội Trưởng. Hội ra tờ Từ Bi Âm năm 1932. Thiền sư Khánh Hòa, cùng người cộng sự thân tín là thiền sư Thiện Chiếu đã đóng vai trò tiền phong khai mở phong trào chấn hưng Phật Giáo và hiện đại hóa Phật Giáo, chuyển động sâu rộng lịch sử Phật Giáo và lịch sử Việt Nam trong suốt 65 năm qua.

Tại miền Trung, thiền sư Giác Tiên mở Phật Học Đường  tại chùa Trúc Lâm năm 1929 và ủy thác cho đệ tử là bác sĩ Lê Đình Thám thành lập Hội An Nam Phật Học năm 1932. Hội quy tụ đông đảo những danh tăng và cư sĩ trí thức tại miền Trung. Cư sĩ Lê Đình Thám được bầu làm Hội Trưởng và vua Bảo Đại được mời làm Hội Trưởng Danh Dự. Hội ra tạp chí Phật Học Viên Âm năm 1933. Năm 1934, thiền sư Giác Tiên, cư sĩ Lê Đình Thám… đã thành lập Trường An Nam Phật Học, trong đó có mở cấp Đại Học Phật Giáo. Đặc biệt hơn nữa là Hội đã phát động phong trào “Chỉnh Lý Tăng Già” rất quyết liệt để loại trừ ra khỏi tăng già những thành phần phạm giới, bất xứng. Chính nhờ những nổ lực cấp tiến này mà Phật Giáo miền Trung đã đóng được một vai trò quan trọng trong những thập niên sau đó.

Năm 1934 các thiền sư Trí Hải, Tâm Ứng, Tâm Bảo cùng với giới cư sĩ trí thức tên tuổi tại Hà Nội như Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Tố, Dương Bá Trạc, Trần Văn Giáp, Nguyễn Năng Quốc, Nguyễn Hữu Kha, Bùi Kỷ, Lê Dư… thành lập Bắc Kỳ Phật Giáo Hội, bầu cư sĩ Nguyễn Năng Quốc làm hội trưởng và suy tôn thiền sư Thanh Hanh làm Thiền Gia Pháp Chủ. Đặc biệt là trong buổi lễ suy tôn Pháp Chủ này, cư sĩ Trần Trọng Kim đã thuyết pháp về đề tài; “Thập Nhị Nhân Duyên”. Hội ra tạp chí Đuốc Tuệ năm 1935 và phát triển mạnh mẽ khắp miền Bắc (Nguyễn Lang, Phật Giáo Việt Nam Sử Luận, q 3, t 51-173).

Đặc tính của cả ba Hội Phật Học tại ba miền là vai trò nổi bật của giới trí thức cư sĩ, là thuần túy Phật học và sinh hoạt Phật sự. Thời điểm 1925-1945 là thời điểm chuẩn bị trong kiên nhẫn và thầm lặng. Các hội Phật Học đã làm đúng chức năng và vai trò lịch của mình, một cách khiêm tốn, từ đống gạch vụn đổ nát của nền Phật học và Phật Giáo Việt nam trong thời Thực Dân Pháp thống trị.

Trong thời kỳ này xuất hiện những con người đặc biệt, xuất sắc và những tư tưởng mạnh mẽ, quyết liệt, trong Phật Giáo cũng như ngoài Phật Giáo. Từ đầu thập niên 30, tư tưởng Phật Hộc của Thích Thiện Chiếu đã là những quả bom chấn động. Và năm 1939 Huỳnh Phú Sổ xuất hiện làm một cuộc cách mạng tôn giáo, cải cách toàn bộ và triệt để Phật Giáo chưa từng có trong hai ngàn năm lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Miền Nam, một vùng đất lạ lùng và kỳ diệu…

 

An Hòa Tự

Phan Chu Trinh từ Pháp trở về Sài Gòn năm 1925, đất nước bùng lên những làn sóng tư tưởng dân quyền và dân chủ. Ông khẳng định phải tìm nguyên nhân mất nước trong sự mất đạo đức, mất luân lý, trong bài diễn thuyết Đạo Đức và Luân Lý Đông Tây, và ông cũng khẳng định chế độ quân chủ chuyên chế là nguyên nhân chính làm mất nước trong bài thuyết giảng Quân Trị Chủ Nghĩa và Dân Trị Chủ Nghĩa tại Sài Gòn năm 1925. Ông mất năm sau đó và đám tang ông cùng với cuộc vận động ân xá nhà chí sĩ Phan Bội Châu đã khơi bùng phong trào yêu nước và yêu tự do dân chủ trên toàn quốc, đặc biệt là trong giới thanh niên.

Nhưng dữ dội, bốc lửa và sấm sét trong tư tưởng yêu nước chống thực dân cũng như tư tưởng tự do dân chủ, trong thời này, chỉ có Nguyễn An Ninh là đi xa nhất, quyết liệt nhất. Là một thanh niên miền Nam, Ông đi du học ở Pháp và trở về nước với bằng cử nhân Luật. Lợi dụng quy chế thuộc địa của Nam Kỳ, nơi mà báo chí bằng tiếng Pháp được tự do, không bị kiểm duyệt, Ông ra tờ La Cloche fèlèe (Tiếng Chuông Rè) từ năm 1923 đến năm 1926. Ông tự xưng tờ báo của Ông là “cơ quan tuyên truyền tư tưởng Pháp”, lấy tư tưởng của kẻ xâm lăng để đập những nhát búa tạ vào chế độ Thực Dân, đồng thời tờ báo cũng tự nhận là “cơ quan chuẩn bị cho tương lai dân tộc”. Thật là độc đáo và tuyệt vời.

Ngoài việc phê bình kịch liệt, thẳng tay chính sách và chế độ thực dân, Ông cổ võ cho việc đào tạo một tầng lớp thanh niên Việt Nam tân học, có văn hóa, có lý tưởng, có chí khí, có năng lực và có tổ chức và Ông tuyệt đối tin vào sức mạnh và vào tương lai của nhân dân Việt Nam. Ông chủ trương một nước Việt Nam thống nhất từ Nam chí Bắc và trở về lịch sử dân tộc để tìm niềm tin và sức mạnh. Ông hô hào, khi chỉ mới ngoài 20 tuổi, “Chẳng những phải duy trì những giấc mộng vĩ đại, mà còn phải tổ chức thành một nhóm quan trọng để chuẩn bị cho tương lai”. Không những tư tưởng táo bạo, độc đáo, mới lạ, kiến thức của Ông cũng rất uyên bác. Khi Thống Đốc Nam Kỳ tuyên bố: “Xứ này không cần trí thức”. Ông đã viết bài trả lời bốc lửa: “… Những thảm khổ của chúng ta ngày nay, còn gì nữa, đúng là do tổ tiên của chúng ta đã sờ mó vào cây kiến thức. Hạng trí thức đã làm đảo lộn thế giới, làm hư hỏng hạnh phúc của thế giới. Hãy nguyền rủa tên tuổi của Prométhé, kẻ đã lấy trộm chút lửa của Trời. Hãy nguyền rủa con người đã bày ra cái ná cao su cho trẻ con bắn đá vào trán ông khổng lồ… Trí Tuệ, đó là cái tai hại. Trí tuệ, đó là con rắn cuốn quanh thân cây đã làm cho chúng ta vĩnh viễn mất cõi thiên đường… Nói đến vai trò giáo dục, vai trò văn minh của các ông chủ xứ Đông Dương này, thưa các ông, điều ấy làm ta mỉm cười… Người ta đã quỳ lụy bái phục những vị “đem ánh sáng tới”, những vị “làm điều kỳ diệu ở Ấu Châu”… Cái gì kỳ diệu? Thực ra cái kỳ diệu đó là, chỉ trong một thời gian ngắn thôi, người ta đã có thể làm cho trình độ trí thức của người Nam đã thấp đi lại càng rơi vào chỗ cực kỳ dốt nát. Cái kỳ diệu đó là người ta đã có thể, trong một thời gian ngắn như thế, xô đẩy một dân tộc có tư tưởng dân chủ, ngã nhào vào tình trạng nô lệ hoàn toàn“. (Trần Văn Giàu, Sự Phát Triển Của Tư Tưởng ở Việt Nam Từ Thế Kỷ 19 đến Cách Mạng Tháng Tám, q2, t 311).

Nguyễn An Ninh cũng là một trong những nhà trí thức tân học đầu tiên nghiên cứu Phật Học và hoàn thành một tác phẩm Phật Học quan trọng, cuốn “Phê Bình Phật Giáo”. Sau thời kỳ hoạt động sôi nổi từ 1923 đến 1926, Nguyễn An Ninh bị ở tù trong thời gian 1926-1927, sau đó Ông về nghiên cứu Phật Giáo. Trên bàn làm việc của Ông, có một cái chuông, một cái mõ, Ông cạo trọc đầu và đi chân không. Ông nghiên cứu Phật Giáo qua tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức và các hoạt động Phật Giáo trong nước. Cuốn Phê Bình Phật Giáo xuất bản năm 1937 là kết quả của sự nghiên cứu này. Tựa đề của cuốn sách, 70 năm sau cũng không có ai dám viết một cuốn sách Phật Học có tựa đề thách thức và can đảm như vậy. Mục đích và phương pháp luận còn mới lạ, táo bạo hơn, đó là “so sánh Phật Giáo với thời đại của nó để chỉ chỗ hay, chỗ đúng hơn của nó đối với các thuyết khác và so sánh Phật Giáo với thời đại này để chỉ sai lầm của Phật Giáo“. Tác phẩm này được giới trí thức, giới chính trị cũng như giới Phật Giáo chú ý đặc biệt.

Nhưng không gây sóng gió và tranh luận suốt nhiều năm trời như những tác phẩm của Thích Thiện Chiếu. Đối với Tăng, Ni, Phật Tử thập niên 30, những tư tưởng Phật Học của Thích Thiện Chiếu là những tiếng sét ngang tai. Ngày nay đọc lại, chắc chắn quý vị tăng sĩ, cư sĩ và Phật Tử cũng không khỏi giựt mình, chấn động và suy nghĩ. Những tư tưởng này, được viết từ thập niên 30, ngày nay, cuối thập niên 90, vẫn còn mới, còn táo bạo, còn chứa đầy sức nặng của đá tảng và sức nổ của sấm sét. Thích Thiện Chiếu là tinh hoa sáng chói của Phật Giáo trong thập niên 20, 30. Ông đã đi tiền phong trong mọi lãnh vực chấn hưng và hiện đại hóa Phật Giáo Việt Nam trong thế kỷ 20 này.

Ta phải đứng trên một đỉnh núi cao, mới hy vọng nhìn thấy những cái gì chưa ai nhìn thấy, những cái gì nằm khuất sau dãy núi cao. đó có thể là những dãy núi cao hơn, hay là một đại dương mênh mông hay là một bình nguyên rực rỡ. Thích Thiện Chiếu là một ngọn núi cao của Phật học và Phật Giáo Việt Nam trước đệ nhị thế chiến. Ta hãy đứng trên đỉnh núi cao ngất, hùng tráng này để nhìn rõ một đỉnh núi cao ngất, hùng vĩ khác, là Cư sĩ, Bồ Tát, Giáo Chủ Huỳnh Phù Sổ.

 

|Muc Luc| |Ch.1| |Ch.2| |Ch.3| |Ch.4| |Ch.5| |Ch.6| |Ch.7| |Ch.8| |Ch.9| |Ch.10|TK|

[BHH430] [PGHH] [THƯ VIỆN PGHH]

Categories: Tin-Tức Thế-Giới | Leave a comment

Ðức Huỳnh Giáo Chủ

Ðức Huỳnh Giáo Chủ
Vương Kim

Ðức Phật, Hoàng thiên lịnh giáng trần,

Huỳnh gia chuyển kiếp lập đời Tân.

Giáo truyền đạo Thích dìu sanh chúng,

Chủ ý chọn người vẹn Tứ ân.

(Hình Tác giả: Vương Kim Phan Bá Cầm)

Phần I:

HÀNH TRẠNG

 

Thiên thứ nhứt

Giai đoạn ra đời mở đạo

 

Chương I: Bối cảnh xã hội

Chương II:Thân thế

Chương III: Ra Tế độ

Chương IV: Đăng Sơn

Chương V: Sứ Mạng

Chương VI: Lưu Cư

Chương VII: Vận Ðộng Ðộc Lập

Chương VIII: Tổ Chức Hàng Ngũ

Chương IX: Chuẩn Bị Ðấu Tranh

 

Thiên thứ hai

Giai đoạn hoạt động đấu tranh

 

Chương X: Dấn Thân

 

Thiên thứ ba

Giai Ðoạn Vắng Mặt

 

Chương XI: Lý Do Thọ Nạn

Chương XII: Còn Hay Mất

 

Phần II:

SỰ NGHIỆP

 

Thiên thứ tư

Sự Nghiệp Về Mặt Ðạo

Tôn Phái Phật Giáo Hòa Hảo

 

Chương XIII: Học Phật

Chương XIV: Tu Nhân

 

Thiên thứ năm

Sự Nghiệp Về Mặt Ðời:

Công nghiệp cách mạng

 

Chương XV: Quân Sự.

Bộ Ðội Nguyễn Trung Trực

 

Chương XVI: Chánh Trị

Việt Nam Dân Chủ Xã Hội đảng

Cùng một tác giả:

Long Hoa xuất bản

–         Tận Thế và Hội Long Hoa (1952)

–         Đức Phật Thầy Tây An (1953) (hiệp với Đào Hưng)

–         Để Hiểu Phật Giáo Hòa Hảo (1954) (hiệp với Thanh Sĩ)

–         Ðời Hạ Ngươn (1960)

–         Đời người dướI ánh sáng Đạo Phật (1960)

–         Bửu Sơn Kỳ Hương (1966)

–         Hành sử Đạo Nhân (1970)

–         Tu Hiền (1972)

–         Đời Thượng Ngươn (1973)

–         Pháp Môn Tịnh Độ (1973)

–         Tại Sao Ta Phải Tu (1974)

Dân Xã Tùng Thư

–         Chánh trị thường thức (1956)

–         Tinh thần cán bộ (1971)

–         Lập trường Dân Xã Đảng (1971)

MUC LUC CHƯƠNG 1 | | CHƯƠNG 2 | | CHƯƠNG 3 | | CHƯƠNG 4 | | CHƯƠNG 5 | | CHƯƠNG 6 | | CHƯƠNG 7 | | CHƯƠNG 8 | | CHƯƠNG 9 | | CHƯƠNG 10 | | CHƯƠNG 11 | | CHƯƠNG 12 |

CHƯƠNG 13 | | CHƯƠNG 14 | | CHƯƠNG 15 | | CHƯƠNG 16 | | CHƯƠNG 17|

[TV. PGHH]

Categories: Tin-Tức Thế-Giới | Leave a comment

Ðức Huỳnh Giáo Chủ

Ðức Huỳnh Giáo Chủ
Vương Kim

Ðức Phật, Hoàng thiên lịnh giáng trần,

Huỳnh gia chuyển kiếp lập đời Tân.

Giáo truyền đạo Thích dìu sanh chúng,

Chủ ý chọn người vẹn Tứ ân.

(Hình Tác giả: Vương Kim Phan Bá Cầm)

Phần I:

HÀNH TRẠNG

 

Thiên thứ nhứt

Giai đoạn ra đời mở đạo

 

Chương I: Bối cảnh xã hội

Chương II:Thân thế

Chương III: Ra Tế độ

Chương IV: Đăng Sơn

Chương V: Sứ Mạng

Chương VI: Lưu Cư

Chương VII: Vận Ðộng Ðộc Lập

Chương VIII: Tổ Chức Hàng Ngũ

Chương IX: Chuẩn Bị Ðấu Tranh

 

Thiên thứ hai

Giai đoạn hoạt động đấu tranh

 

Chương X: Dấn Thân

 

Thiên thứ ba

Giai Ðoạn Vắng Mặt

 

Chương XI: Lý Do Thọ Nạn

Chương XII: Còn Hay Mất

 

Phần II:

SỰ NGHIỆP

 

Thiên thứ tư

Sự Nghiệp Về Mặt Ðạo

Tôn Phái Phật Giáo Hòa Hảo

 

Chương XIII: Học Phật

Chương XIV: Tu Nhân

 

Thiên thứ năm

Sự Nghiệp Về Mặt Ðời:

Công nghiệp cách mạng

 

Chương XV: Quân Sự.

Bộ Ðội Nguyễn Trung Trực

 

Chương XVI: Chánh Trị

Việt Nam Dân Chủ Xã Hội đảng

 

Cùng một tác giả:

Long Hoa xuất bản

–         Tận Thế và Hội Long Hoa (1952)

–         Đức Phật Thầy Tây An (1953) (hiệp với Đào Hưng)

–         Để Hiểu Phật Giáo Hòa Hảo (1954) (hiệp với Thanh Sĩ)

–         Ðời Hạ Ngươn (1960)

–         Đời người dướI ánh sáng Đạo Phật (1960)

–         Bửu Sơn Kỳ Hương (1966)

–         Hành sử Đạo Nhân (1970)

–         Tu Hiền (1972)

–         Đời Thượng Ngươn (1973)

–         Pháp Môn Tịnh Độ (1973)

–         Tại Sao Ta Phải Tu (1974)

Dân Xã Tùng Thư

–         Chánh trị thường thức (1956)

–         Tinh thần cán bộ (1971)

–         Lập trường Dân Xã Đảng (1971)

 

MUC LUC CHƯƠNG 1 | | CHƯƠNG 2 | | CHƯƠNG 3 | | CHƯƠNG 4 | | CHƯƠNG 5 | | CHƯƠNG 6 | | CHƯƠNG 7 | | CHƯƠNG 8 | | CHƯƠNG 9 | | CHƯƠNG 10 | | CHƯƠNG 11 | | CHƯƠNG 12 |

CHƯƠNG 13 | | CHƯƠNG 14 | | CHƯƠNG 15 | | CHƯƠNG 16 | | CHƯƠNG 17|

 

 

[TV. PGHH]

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

…… … .  . .  .  . Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔ và Phật Giáo Thời Ðại

…… … .  . .  .  . Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔ

và Phật Giáo Thời Ðại

Lê Hiếu Liêm

 

Viện Tư Tưởng Việt Phật Hoa Kỳ 1995

tái bản lần thứ hai 2001

 

Kính tặng những người mang tâm hạnh Bồ Tát tùy thuận phụng sự chúng sanh đã hy sinh tự do và thân mạng

cho lý tưởng cứu khổ cứu nạn con dân và đất nước Việt Nam thân yêu.

 

Viện Tư Tưởng Việt Phật

Chuyển luân chánh pháp vào thời đại,

chính sách quốc gia & đời sống quốc dân.

Mục Lục

Chương Một: Việt Nam và Phật Giáo đầu Thế Kỷ 20.

Chương Hai: Tư  Tưởng Phật Học Của Thiền Sư Thích Thiện Chiếu.

A/ Cuộc đời và hành trạng của thiền sư Thích Thiện Chiếu.

B/ Tư tưởng Phật học của thiền sư Thích Thiện Chiếu và các bạn cùng lý tưởng.

a/ Bác bỏ Thượng Đế.

b/ Bác bỏ thuyết linh hồn bất tử.

c/ Bác bỏ quan niệm thiên đàng, niết bàn.

d/ Thuyết vô ngã.

1/ Mâu thuẩn của niết bàn.

2/ Mâu thuẩn nhân quả.

 

Chương Ba: Cuộc đời của Huỳnh Phú Sổ.

A/ Cuộc đời thanh thiếu niên.

B/ Cuộc đời hành đạo.

C/ Những năm tháng bị quản thúc, lưu đày.

D/ Thời gian sống ở Sài Gòn và đi khuyến nông tại miền Tây.

E/ Quê hương bừng dậy trong cách mạng và kháng chiến.

F/ Dấn thân hoạt động cách mạng kháng chiến cứu quốc.

G/ Những ngày cuối cùng của Huỳnh Phú Sổ.

H/ Các tác phẩm của Huỳnh Phú Sổ.

 

Chương Bốn: Nguồn Gốc Lịch Sử, Bối Cảnh Chính Trị Và Truyền Thống Tâm Linh.

A/ Công cuộc Nam tiến.

B/ Cuộc kháng chiến chống Pháp.

C/ Truyền thống Đạo Pháp và Dân Tộc.

 

Chương Năm: Tinh Hoa Tư Tưởng Phật Học Và Phương Thức Chấn Hưng Phật Giáo Của Huỳnh Phú Sổ.

1/ Phương pháp luận của Huỳnh Phú Sổ.

2/ Hình thức giảng đạo.

3/ Đối tượng hoằng pháp.

4/ Phương thức cứu độ.

5/ Tinh yếu tư tưởng Huỳnh Phú Sổ.

 

Chương Sáu: Cuộc Cách Mạng Tôn Giáo Của Huỳnh Phú Sổ.

1/ Khuyến khích tu hành theo đạo Phật.

2/ Bài trừ mê tín dị đoan.

3/ Việt hóa nghi thức thờ phượng.

4/ Đề cao vai trò của người Phật tử tại gia.

5/ Áp dụng thuyết tứ ân, đưa đạo Phật vào đời.

6/ Đưa đạo Phật vào thời đại.

7/ Hình thành một tôn giáo dân tộc.

 

Chương Bảy: Con Đường Hành Động Phật Giáo Qua Hành Trạng Của Bồ Tát Huỳnh Phú Sổ.

A/ Tranh đấu cho độc lập, thống nhất, hòa giải và đoàn kết dân tộc.

B/ Nổ lực đoàn kết, thống nhất Phật giáo.

 

Chương Tám: Nội Dung Phật Pháp Của Phật Giáo Hòa Hảo.

– Đường trung đạo.

– Chư Phật có bốn đại đức.

– Tam nghiệp và thập ác.

1/ Sát sanh.

2/ Đạo tặc.

3/ Tà dâm.

4/ Lưỡng thiệt.

5/ Ỷ ngôn.

6/ Ác khẩu.

7/ Vọng ngữ.

8/ Tham lam.

9/ Sân nộ.

10/ Mê si.

 

– Sơ giải về tứ diệu đế.

– Luận về bát chánh.

1/ Chánh kiến.

2/ Chánh tư duy.

3/ Chánh nghiệp.

4/ Chánh tinh tấn.

5/ Chánh mạng.

6/ Chánh ngữ.

7/ Chánh niệm.

8/ Chánh định.

 

– Cư sĩ Huỳnh Phú Sổ và danh tăng Narada Maha Thera.

– Thập nhị nhơn duyên.

– Môn hoàn diệt.

– Đức Phật đối với chúng sanh.

– Lời khuyên bổn đạo.

– Trong việc tu thân xử kỷ.

 

Chương chín: Hình Thức Tín Ngưỡng Của Phật Giáo Hòa Hảo.

A/ PGHH là một tông phái Phật giáo tu hành tại gia.

B/ Hình thức thờ phượng, lễ bái, cầu nguyện.

– Thờ phượng.

– Hành lễ.

– Tang lễ.

– Hôn nhân.

– Những điều cấm làm.

– Đối với các tôn giáo và nhân sanh.

– Điều kiện vo đạo.

– Sự cúng lay của người cư sĩ tại gia.

 

C/ Tám điều răn cấm.

– Lời khuyên bổn đạo.

 

Chương Mười: Thi Kệ Của Huỳnh Phú Sổ.

– Thi kệ của Huỳnh Phú Sổ và thi kệ của Nhất Hạnh.

– Huỳnh Phú Sổ là một phần mầu nhiệm của chúng ta.

 

Phụ Lục.

– Nhận định Tình Hình Tôn Giáo Tại Việt Nam của tác giả.

– Đức Huỳnh Giáo Chủ Như Là Một Triết Gia Việt Nam của Học Giả Phạm Công Thiện.

– Huỳnh Phú Sổ Và Chúng Ta của Tiến Sĩ Lý Khôi Việt.

 

 

Bồ Tát Huỳnh Phú Sổ Và Phật Giáo Thời Đại là một tác phẩm sử học và Phật học nên tác giả đã không thể viết khác hơn về một số sự thật lịch sử và một số nhận định, phê bình. Lịch sử là lịch sử. Và tự do tư tưởng là quyền tự do căn bản nhất, thiêng liêng nhất của mọi con người trong thế giới văn minh ngày nay.

Tác giả hoan nghênh và sẵn sàng thảo luận với bất cứ ai về bất cứ vấn đề gì được nêu lên trong tác phẩm nầy.

 

* Các hình của Huỳnh Phú Sổ được chụp lại từ trong cuốn Phật Giáo Hòa Hảo Trong Dòng Lịch Sử Dân Tộc của Nguyễn Long Thành Nam.

 

Viện Tư Tưởng Việt Phật

P.O Box 915

Danville, CA 94526. USA

 

 

Tác Giả & Tác Phẩm

 

* Tác giả Lê Hiếu Liêm sinh năm 1952 tại Huế, tốt nghiệp Cử nhân Luật Khoa đại Học Sài Gòn năm 1974 và Tiến Sĩ Luật Khoa, chuyên ngành về Luật Các Tổ Chức Quốc Tế Và Bang Giao Kinh Tế Quốc Tế, đại Học Sorbonne năm 1978, sáng lập Tạp Chí Khai Phóng (1981), báo Thanh Niên Hành động (1984), báo The Berkeley Times (1986), Viện Tư Tưởng Việt Phật (1990), Tạp Chí Bông Sen (1991) và Trường Phật Học Lý Trần (1991).

Trong hơn hai thập niên qua, tác giả đã hoàn thành các tác phẩm sau đây:

– Ý Thức Hệ Của Các Quốc Gia Đang Phát Triển (1970),

– Chiến Tranh Việt Nam Và Luật Quốc Tế (1973),

– Hợp Tác Và Hội Nhập Tại Đông Nam Á (1976),

– Việt Nam Và Hoa Kỳ Trong Thời đại Mới 1976-2000 (1976),

– Bản Điều Trần Nguyễn Trường Tộ Mới (1977),

– Khía Cạnh Pháp Lý Và Thực Tế Của Sự Giao Thương Nga-Mỹ (luận án tiến sĩ, 1978),

– Việt Nam Tranh Đấu Sử Luận (1980),

– Hai Ngàn Năm Việt Nam Và Phật Giáo (1981).

 

Tác giả đã viết trên 200 bài nghiên cứu, tham luận, bình luận, phóng sự, bút ký… dưới các bút hiệu khác nhau, về các vấn đề Phật Giáo, Phật Học và Đất Nước, được đăng tải trên các tạp chí Phật Giáo Việt Nam, Khai Phóng, Giao Điểm, Hoa Sen, Bông Sen, Bông Sen Âu Châu… và được trích đăng lại trong nhiều tờ báo khác.

Tác giả Lê Hiếu Liêm là chủ biên của bộ Phật Học Lý Trần, Khóa Căn Bản (Năm thứ nhất Cao Đẳng Phật học), Khóa Trung Cấp (Năm thứ hai Cao Đẳng Phật học) và Khóa Cao Cấp (năm thứ ba Cử Nhân Phật học) tổng cộng 6.000 trang.

Ngay từ tác phẩm đầu tiên “Ý Thức Hệ Của Các Quốc Gia đang Phát Triển”, được viết khi 18 tuổi, tác giả đã đề nghị lấy Phật Giáo để dung hòa, hóa giải các nguồn ý thức hệ đang tàn phá Việt Nam và làm chủ đạo văn hóa-chính trị mới cho Việt Nam.

Lời kêu gọi này tiếp tục được đưa ra trong Bản Điều Trần gởi các nhà lãnh đạo Việt Nam, được viết khi 24 tuổi, và được tác giả mang đến trao cho phái đoàn Thủ Tướng Phạm Văn Đồng đang công du tại Pháp trong năm 1977.

Thông điệp giải cứu và quang hưng đất nước trong tinh thần khoan dung, khai phóng, từ bi và trí tuệ của đạo Phật, đồng thời cũng là của truyền thống văn hóa dân tộc và của thời đại, được tác giả tiếp tục khẳng định trong hầu hết các tác phẩm được viết từ suốt 20 năm qua.

 

* Tác phẩm Bồ Tát Huỳnh Phú Sổ Và Phật Giáo Thời Đại được viết từ cuối năm 1994 và hoàn thành, quyển một, vào tháng tư năm 1995. Đây là quyển đầu tiên của bộ sách ba cuốn viết về Huỳnh Phú Sổ. Quyển một giới thiệu cuộc đời – tư tưởng Bồ Tát Huỳnh Phú Sổ và nội dung giáo lý – hình thức tín ngưỡng của Phật Giáo Hòa Hảo, như một tông phái Phật giáo được Việt hóa và hiện đại hóa. Quyển hai so sánh Huỳnh Phú Sổ và các vị giáo chủ khác, cùng đối chiếu Phật Giáo với các tôn giáo khác, đây là một bản tổng kết và đánh giá di sản tôn giáo của dân tộc và nhân loại. Quyển ba trình bày những tiên đoán về tương lai của các tôn giáo và của Phật Giáo Việt Nam, và đưa ra những đề nghị để xây dựng một nền Phật Giáo Thời đại trong Thời đại Phật Giáo, là thế kỷ 21 sắp đến.

 

“Bồ Tát Huỳnh Phú Sổ đã đưa lịch sử vượt qua tương lại, đã nối liền Đạo Pháp với Dân Tộc, và đã đến hiện đại từ truyền thống. Ý thức  mới trong văn hóa, tôn giáo và chính trị của Ông vẫn còn rực sáng để đánh thức chúng ta, dẫn đường cho thời đại, cho sinh mệnh Việt Nam và tương lai Phật Giáo Việt Nam. Tất cả chúng ta, những ai vẫn còn mang trong trái tim truyền thống văn hóa và tâm linh của dân tộc, chính là hóa thân của Huỳnh Phú Sổ, của Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Tuệ Trung, của Khuông Việt, Vạn Hạnh, Lý Công Uẩn.

Huỳnh Phú Sổ bất tử.

Vì sự nghiệp của ông chính là sự nghiệp Phật Giáo.

Vì sự nghiệp của ông chính là sự nghiệp Việt Nam.

Vì Huỳnh Phú Sổ đã trở thành một phần mầu nhiệm của Việt Nam, của Phật Giáo, của mỗi chúng ta…”

 

|Muc Luc| |Ch.1| |Ch.2| |Ch.3| |Ch.4| |Ch.5| |Ch.6| |Ch.7| |Ch.8| |Ch.9| |Ch.10|TK|

[BHH430] [PGHH] [THƯ VIỆN PGHH]

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Người mẹ mang yêu thương và hy vọng đến 300 đứa trẻ mồ côi

Người mẹ mang yêu thương và hy vọng đến 300 đứa trẻ mồ côi

An Liên | DKN 4 giờ trước 259 lượt xem
Ảnh: facebook nhân vật
Từ bỏ vị trí Giám đốc Nhân sự nhiều người mơ ước, chị Dung bước trên hành trình cưu mang những đứa trẻ có hoàn cảnh khó khăn, hỗ trợ các em cả vật chất lẫn tinh thần, giúp các em theo đuổi ước mơ.

Thành lập Quỹ từ thiện Khát Vọng, chị Vũ Thị Dung sinh năm 1976 (quê Nam Định) từng bị người thân và bạn bè phản đối vì cho rằng chị “ôm rơm nặng bụng” nhưng chị hiểu rõ hơn ai hết con đường mình lựa chọn chính là mang hy vọng tương lai đến cho những em bé mồ côi, không nơi nương tựa.

Không muốn trao quà mà trao niềm tin và hy vọng

Cách đây 8 năm, trong một lần đi cùng đoàn từ thiện đến trao quà cho một trung tâm nuôi dạy trẻ mồ côi ở ngoại thành Hà Nội, chị Dung nhìn thấy khuôn mặt buồn rầu của những đứa trẻ đang ngồi chờ được nhận quà và tự hỏi “Tương lai, những đứa trẻ này sẽ về đâu?”. Bởi chị biết, nếu chỉ cấp học bổng một, hai lần sẽ không giải quyết được vấn đề căn bản của các em.

Từ đây, chị quyết định chia sẻ ý tưởng thành lập một quỹ từ thiện giúp các em có được tương lai bằng chính năng lực của mình chứ không phải chờ đợi sự ban phát từ người khác. Tháng 9/2012, Quỹ Khát Vọng (do chị Dung và nhiều tổ chức, cá nhân quyên góp tài trợ và điều hành) ra đời nhằm hỗ trợ vật chất, tinh thần cho các em học sinh nghèo, học sinh cấp 2, cấp 3, lực học khá giỏi có hoàn cảnh khó khăn hoặc mồ côi.

Chị Dung và bạn Nguyễn Thị Thường, một trong những người con của Khát Vọng vừa nhận được hỗ trợ tài chính 2,2 tỷ đồng cho 4 năm học tại Đại học Fulbright (Ảnh: facebook nhân vật)

Những ngày đầu lập Quỹ, chị gặp phải rất nhiều khó khăn. Khi nghe chị chia sẻ về mong muốn của mình, chồng chị tỏ ra không quan tâm, mẹ thì mắng chị lo chuyện bao đồng, bạn bè thì phản đối vì cho rằng những đứa trẻ mồ côi này chắc gì đã nên người.

Ít ai biết rằng, chị sinh ra trong gia đình bố mẹ ly hôn, 6 đứa em học hết lớp 9, là người duy nhất trong nhà được đi học đại học. Hơn ai hết, chị hiểu khát khao được đi học là như thế nào. Vượt qua định kiến và hoài nghi của mọi người chị vẫn kiên trì với con đường mình đã chọn.

Hiện tại, đối tượng được giúp đỡ của Quỹ hầu hết là các trẻ em mồ côi. Quỹ hỗ trợ kinh phí cho các em đến hết lớp 12, trường hợp nào tiếp tục vào đại học hoặc học nghề sẽ được Quỹ hỗ trợ thêm 6 tháng để có thời gian tìm kiếm công việc.

Những đứa trẻ được chắp cánh ước mơ

Năm 2015, chị Dung quyết định nghỉ việc với vị trí Giám đốc nhân sự để chuyên tâm chăm sóc cho các em.

Nhớ lại khoảng thời gian 2 năm trước đó, gần như ngày nào chị cũng quay cuồng với cả núi công việc khi phải vừa hoàn thành tốt công tác ở công ty vừa chăm sóc các em. Chưa kể, hàng tháng chị lặn lội đến các tỉnh xa để xác minh các trường hợp. Nhiều lần chị bị ngất xỉu do suy kiệt, dù vậy chị vẫn không từ bỏ các em.

Không phụ tấm lòng và sự quan tâm chăm sóc của chị, những đứa con đầu tiên của Quỹ đã đạt được những thành tích ngoài sự mong đợi.

Sau 8 năm hoạt động, Quỹ hiện có gần 70 mạnh thường quân cùng đồng hành và 80 em đang là sinh viên đại học và đi làm, có nghề nghiệp phù hợp, có em quay lại làm tình nguyện viên cho Quỹ.

Điển hình như Vũ Chi Mai (SN 1995, sinh viên ĐH Thương mại) và Trần Thị Huệ (sinh viên ĐHQG Hà Nội) là những đứa con trong lứa đầu tiên của Quỹ. Hiện tại, hai em đang làm tình nguyện viên cho Quỹ. Bị bố bỏ rơi 3 mẹ con, sau đó mẹ Mai bị suy nhược nặng, không có khả năng lao động. Em trai của Mai đã bỏ học 5 năm để chị có điều kiện đi học tiếp. Với Huệ, một cô gái có nghị lực mạnh mẽ khi bị liệt nửa người nhưng vẫn quyết tâm thi đỗ khoa Tâm lý để đồng hành, nâng đỡ các em về mặt tinh thần trong gia đình Khát Vọng.

Cậu bé khiếm thị Trần Việt Hoàng, quê Hà Tĩnh, Hoàng không cha, mẹ ốm yếu vì hơn 20 năm phải chạy thận. Nhờ sự động viên khích lệ và sự dẫn dắt của chị Dung, Hoàng đã trúng tuyển với hỗ trợ tài chính 2,2 tỷ đồng cho 4 năm học của Đại học Fulbright. Điều mà cậu không bao giờ có thể nghĩ mình làm được. Thành tích này của Hoàng tạo thêm hy vọng cho các em nhỏ ở Quỹ Khát Vọng.

Mỗi em là một câu chuyện cảm động về hành trình vươn lên, nỗ lực vì bản thân và sẻ chia vì mọi người. Còn nhiều em nhỏ khác, đang được chị Dung và Quỹ chắp cánh ước mơ để các em có thể tự bước trên đôi chân của mình đến với tương lai tốt đẹp hơn.

Video xem thêm: Từ cô gái gốc Hà Thành đến cán bộ nhà ở Liên Hợp Quốc: Không bao giờ là muộn để tìm thấy “ngôi nhà” của chính mình

 

 

 

Categories: Tin-Tức Thế-Giới | Leave a comment

Sức khoẻ em bé bị bỏ giữa khe tường đã phục hồi, có thể xuất viện

Sức khoẻ em bé bị bỏ giữa khe tường đã phục hồi, có thể xuất viện

Trần Phong | DKN 06/09/2020 443 lượt xem
Ảnh chụp màn hình báo Lao động.
Sau hơn 2 tuần điều trị, hiện tại, bé trai bị vứt bỏ giữa khe tường ở Gia Lâm, Hà Nội đã tăng cân, tự thở và có thể bú bìnhtheo Xã Luận.

Hiện bé Đ. đang được theo dõi và chăm sóc tại khoa Sơ sinh, Bệnh viện Xanh Pôn. Các bác sĩ cho biết, em bé đã đủ điều kiện xuất viện trong vài ngày tới và cũng đã tăng được 0,4kg. Khi mới vào việ‌n, bé chỉ nặng 2,2kg, còn cân nặng hiện tại đã tăng lên 2,6kg.

Dù diễn biến sức khỏe có tiến triển tích cực, tuy nhiên, do chưa có kết quả xé‌t ngh‌iệm ADN của người nhận là ông ngoại cháu bé, nên trong trường hợp bé Đ. xuất việ‌n sẽ được giao về Trung tâm Bảo trợ xã hội Hà Nội để tiếp tục chăm sóc.

Theo ghi nhận của PV báo Lao động, người vứt bỏ cháu bé ở khe tường chính là mẹ ruột, tên N.K.H, là một nữ sinh năm thứ 2 đang học tại trường Đại học Nông Nghiệp, quê ở Ninh Bình. Theo thông tin ban đầu, lý do H. vứt con sau khi sinh vì có thai ngoài ý muốn, do tâm lý lo sợ ảnh hưởng đến việc học nên đã giấu bạn bè và gia đình.

Rất may, công an huyện Gia Lâm và người dân địa phương đã kịp thời giải cứu cháu bé để đưa đi cấp cứu. Và sau hơn 2 tuần điều trị, sinh linh bé bỏng đã hồi phục kỳ diệu!

Video xem thêm: Hành trình người cha chữa bệnh suy giảm tiểu cầu vô căn cho con gái

Categories: Tin Trong Nước | Leave a comment

Phụ huynh ‘sốc’ vì bộ sách lớp 1 giá 807 nghìn đồng

Phụ huynh ‘sốc’ vì bộ sách lớp 1 giá 807 nghìn đồng

Hiểu Minh | DKN 04/09/2020 34,929 lượt xem
Ảnh minh hoạ: Bobo/chụp màn hình K14.
Chị Ng. bất ngờ khi nhà trường báo tiền mua sách giáo khoa vào lớp 1 là 807.000 đồng. lúc nộp hồ sơ nhập học, giáo viên mầm non đã tự ý đóng luôn tiền mua sách mà không thông báo. Phụ huynh chỉ được thông báo khi mọi chuyện đã hoàn tất.

Gia đình & Xã hội đưa tin, đầu năm học 2020 – 2021, nhiều phụ huynh tại một số trường học đã hết sức bất ngờ với bộ sách giáo khoa lớp 1 mà nhà trường thông báo lên tới 700.000đ – 800.000 đồng/bộ với hàng chục cuốn. Trong đó, ngoài các cuốn sách giáo khoa học chính là “cõng” theo hàng loạt sách bài tập, sách tham khảo.

Chia sẻ với báo chí, một số phụ huynh có con năm nay vào lớp 1 một trường tiểu học ở quận 8, TP.HCM cho hay, bộ sách lớp 1 chương trình mới năm nay quá đắt. Giá tổng cộng của bộ sách này là 807.000 đồng, bao gồm sách giáo khoa, sách bổ trợ, sách tiếng Anh, vở bài tập, tập và bảng viết…

Đắt nhất là sách tiếng Anh I-Learn Smart Start có giá 146.000 đồng/cuốn, bộ sách thực hành Toán, tiếng Việt 1 có giá 173.400 đồng.

Phụ huynh có con vào lớp 1 ở nhiều nơi cũng cho biết, đầu năm học ngoài SGK, các trường có nhiều sách bổ trợ, dụng cụ học liệu đi kèm… Nếu mua gộp, số tiền lên đến cả triệu đồng. Trong khi các loại sách giáo khoa, bài tập, sách tham khảo và một số dụng cụ học liệu đều không được giải thích cặn kẽ.

Theo một số phụ huynh có con học tiểu học, việc đưa danh mục tất cả các loại sách lên đến hàng chục cuốn có thể là do thiếu sót của giáo viên, nhà trường, nhưng đây cũng có thể là “nhập nhèm”, vì thiếu hướng dẫn, giải thích từ nhà trường mà sẽ có trường hợp phụ huynh mua tất cả các loại sách theo danh mục.

SGK lớp 1 bắt buộc chỉ gồm 8 cuốn, không phải 25 cuốn như danh mục này (ảnh: Zing).

Có con vào lớp 1 trường Tiểu học An Phong (quận 8, TP.HCM), chị Ng. bất ngờ với khoản tiền dành cho việc mua sách, vở đầu năm.

Người mẹ cho hay từ giữa tháng 7, trường mầm non của con làm hồ sơ cho trẻ vào lớp 1, báo tiền mua sách giáo khoa là 807.000 đồng. Khi nộp hồ sơ nhập học ở trường tiểu học, giáo viên mầm non đóng luôn tiền mua sách theo danh mục trường tiểu học đã gửi. Phụ huynh được thông báo khi mọi chuyện đã hoàn tất, theo báo Zing.

Tuy nhiên, ông Nguyễn Hoàng Phong, Hiệu trưởng trường Tiểu học An Phong cho biết, nhà trường không yêu cầu, bắt ép phụ huynh phải mua toàn bộ sách giáo khoa, bài tập, bổ trợ trong danh mục. Ông cho rằng phụ huynh hiểu nhầm thông báo của trường hoặc giáo viên không thông tin đầy đủ đến phụ huynh.

Theo đại diện của NXB Giáo dục Việt Nam, bộ SGK lớp 1 bao gồm 9 hoặc 10 cuốn sử dụng cho 8 môn học bắt buộc – nhiều hơn bộ SGK hiện hành từ 3 đến 4 cuốn. Các trường học không được bắt buộc học sinh mua sách tham khảo, sách bổ trợ. Mọi tổ chức, cá nhân không được ép buộc học sinh phải mua tài liệu tham khảo.

Categories: Tin Trong Nước | Leave a comment

10 năm cõng bạn tới trường: Đôi bạn cùng nhau viết nên cổ tích khi đỗ đại học trên 28 điểm

10 năm cõng bạn tới trường: Đôi bạn cùng nhau viết nên cổ tích khi đỗ đại học trên 28 điểm

Văn Tùy | DKN 31/08/2020 3,908 lượt xem
Đôi bạn 10 năm cõng bạn tới trường cùng nhau vào ĐH với trên 28 điểm 3 môn
Ảnh chụp màn hình Nld/Zing
Câu chuyện cảm động của đôi bạn thân 10 năm cõng bạn tới trường Ngô Minh Hiếu và Nguyễn Tất Minh, học sinh Trường THPT Triệu Sơn 5 (huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa) đã làm tan chảy bao con tim.

Những ngày qua, ngôi nhà nhỏ ở vùng quê chiêm trũng thuộc xóm 1, xã Đồng Thắng, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa – nơi Nguyễn Tất Minh sinh ra và lớn lên – có rất nhiều người dân lui tới hỏi thăm, chúc mừng khi hay tin Minh đạt điểm số rất cao trong kỳ thi vừa qua.

Không may mắn như những đứa trẻ khác, ngay từ khi lọt lòng mẹ, Minh đã bị tật nguyền khiến đôi chân và cánh tay phải cứ co quắp và càng lớn nó lại càng teo tóp lại. Dù dị tật nhưng Minh rất ham học, em luôn mơ ước được đi học như các bạn cùng trang lứa. Thương bạn, Ngô Minh Hiếu đã tự nguyện làm “đôi chân” cõng bạn đến trường.

Suốt 10 năm qua, không quản nắng mưa, Nguyễn Tất Minh đến trường bằng đôi chân của Ngô Minh Hiếu, và giờ đây ước mơ thi đậu vào các trường như mong muốn của Hiếu và Minh đã thành sự thực.

Trong thì thi THPT Quốc gia năm 2020, đôi bạn này đã có điểm thi rất cao. Hiếu thi khối B với số điểm 28,15 (Toán: 9,40; Hóa: 9,75; Sinh: 9,0), còn Minh đậu khối A với điểm số 28,10 (Toán: 9,60; Lý: 9,25; Hóa: 9,25). Ước mơ của Minh sẽ thi đậu vào Khoa công nghệ thông tin của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, còn mơ ước của Hiếu sẽ trở thành bác sĩ giỏi để có thể chữa bệnh cứu người khi đăng ký thi vào trường Đại học Y Hà Nội.

Ảnh chụp màn hình báo NLD.

Với Ngô Minh Hiếu, người 10 năm tình nguyện cõng bạn tới trường, cũng có hoàn cảnh rất khó khăn, mẹ Hiếu làm công ty may, còn bố hằng ngày đi làm phụ hồ tận Hà Nội, Bắc Ninh. Ngay sau buổi thi cuối cùng, Hiếu đã lên đường ra Bắc Ninh để làm phụ hồ cùng bố. Hiếu bảo, tranh thủ để kiếm tiền để khi đậu đại học thì có thêm tiền trang trải cho bố mẹ bớt khổ.

Hiếu cho biết, ước mơ vào trường y là để chữa bệnh cho người nghèo, cho những hoàn cảnh thiếu may mắn trong cuộc sống và đặc biệt, nếu làm bác sĩ Hiếu sẽ có cơ hội chữa lành chân cho Minh.

Một cái kết đẹp như cổ tích của đôi bạn thân 10 năm cõng bạn tới trường: Minh và Hiếu đã được viết nên. Nghị lực của hai em, tình cảm hai em dành cho nhau là một tấm gương cho tất cả chúng ta cùng nhìn vào và suy ngẫm. Tất cả khó khăn và bất hạnh trong cuộc đời đều có thể vượt qua khi chúng ta biết sống vì người khác.

Chúc Minh và Hiếu sẽ ngày càng thành công trên con đường phía trước!

Video xem thêm: Không sợ trời, không sợ đất, chính quyền Trung Quốc sợ nhất điều gì?

 

 

Categories: Tin-Tức Thế-Giới | Leave a comment

Vua Hàm Nghi: Đi đày châu Phi vẫn áo dài khăn đống An Nam, an nghỉ trong nắng ấm miền Tây Nam nước Pháp

Vua Hàm Nghi: Đi đày châu Phi vẫn áo dài khăn đống An Nam, an nghỉ trong nắng ấm miền Tây Nam nước Pháp

Khiêm Từ | DKN 26/08/2020 10,304 lượt xem
Ảnh: Tổng hợp
Tỉnh Dordogne thuộc vùng Aquitaine, miền Tây Nam nước Pháp được phủ kín bởi màu xanh mát của rừng, của đồng ngô, của dòng sông uốn lượn và bầu trời cao thẳm… Phong cảnh nơi đây nổi tiếng với những lâu đài cổ kính, đồi núi cây xanh, nắng hạ ấm áp, tiện lợi cho việc tĩnh dưỡng nghỉ ngơi.

Với riêng người Việt Nam, Dordogne còn gợi lên một nỗi u hoài khi về tới Château de Losse (Lâu đài Losse) của hoàng tộc An Nam xưa kia, và cách đó không xa là nơi hoàng đế Hàm Nghi an nghỉ sau một cuộc đời mất nước đau thương và đi đày biệt xứ.

Hàm Nghi (1871 – 1944), tên thật Nguyễn Phúc Ưng Lịch, là vị hoàng đế thứ tám của nhà Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. Ưng Lịch từ nhỏ sống trong cảnh bần hàn, dân dã với mẹ chứ không như hai người anh ruột ở trong cung. Ngày 2 tháng 8 năm 1884 ở điện Thái Hoà, ông được các phụ chính đại thần chủ trương chống Pháp là Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đưa lên ngôi ở tuổi 13.

Chân dung được phục dựng của Hoàng đế Hàm Nghi (Nguồn: Wikipedia)

Vị vua có lòng tự tôn dân tộc

Nửa tháng sau, Đại tá Guerrier cầm đầu 185 sĩ quan binh lính đến hoàng thành dự lễ phong vương. Guerrier buộc triều đình Huế phải để phái đoàn đi lối giữa vào Ngọ Môn thường dành riêng cho vua. Triều Nguyễn cự tuyệt. Quân Pháp phải nhượng bộ, chấp nhận mọi thành phần quan khách đi cửa phụ hai bên trừ 3 người là đại tá Guerrier, khâm sứ Rheinart và đô đốc Wallarrmé vào cổng chính.

Tính khí khái của vị hoàng đế trẻ vừa lên ngôi vô tình khơi lại niềm kiêu hãnh dân tộc tự chủ, gióng lên tiếng chuông thức tỉnh thần dân. Bất kể lính Pháp đóng quân tại cố đô, vua Hàm Nghi và triều đình Huế vẫn tỏ thái độ đối đầu không hèn…

Năm sau 1885, thống tướng De Courcy biệt phái sang Đông Dương để phụ lực đặt nền bảo hộ. Khi sửa soạn yết kiến vua Hàm Nghi, De Courcy ra yêu sách cũ là phái đoàn tháp tùng 500 người phải đi vào cung vua bằng cửa giữa. Triều đình Huế lại đề nghị như lần trước cho đúng lễ nghi nhưng De Courcy từ chối thẳng thừng.

Thấy người Pháp khinh mạn vua mình như vậy nên Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết quyết định ra tay trước: đem quân tấn công trại binh của Pháp ở đồn Mang Cá. Lính Pháp phản công tảng sáng hôm sau, quân triều Nguyễn thua, bỏ kinh thành Huế chạy đến Tân Sở. Nơi đây, vào đầu tháng 7 năm 1885, vua Hàm Nghi tuyên hịch Cần Vương kêu gọi sĩ phu và nông dân nổi dậy chống Pháp giành độc lập.

Toàn văn Chiếu Cần Vương. (Nguồn: Wikipedia)

Trong suốt thời gian kháng chiến của vua Hàm Nghi, vua anh Đồng Khánh và 3 bà Thái hậu liên tục gửi thư kêu gọi vua trở về nhưng ông khẳng khái từ chối. Toàn quyền Pháp ở Đông Dương là Paul Bert cũng đã định lập Hàm Nghi làm vua 4 tỉnh Thanh Nghệ Tĩnh Bình nhưng cũng không thành. Nhà vua thường nói mình ưa chết trong rừng hơn là trở về làm vua mà ở trong vòng cương tỏa của người. (1)

Dân chúng hưởng ứng phong trào Cần Vương rất đông. Gosselin trong cuốn “L’Empire de l’Annam” cho rằng: “Tên của ông ta đã trở thành ngọn cờ của nền độc lập quốc gia… Từ Bắc chí Nam, đâu đâu dân chúng cũng nổi lên theo lời gọi của ông vua xuất hạnh”. Tiếc thay vì lực lượng tản mát nên thế cô! Tháng 9 năm 1888, nhà vua bị bắt do nội phản, khi mới 17 tuổi.

Ngày nay, lịch sử Việt Nam xem vua Hàm Nghi cùng với Thành Thái, Duy Tân là ba vị vua yêu nước trong thời kỳ Pháp thuộc. Các học giả nhận định rằng:

“Vua Hàm Nghi đã phải chịu nhiều khổ ải vì phải luồn lách giữa núi rừng hiểm trở, thời tiết khắc nghiệt, giữa muôn vàn thiếu thốn, bệnh tật, đói khát và sự hiểm nguy về tính mạng luôn đe dọa”. (2)

“Nhà vua bị những gian lao mà luyện thành người nhẫn nại và đón cuộc phong trần bằng thái độ rất thản nhiên”. (3)

Lưu đày biệt xứ vẫn đau đáu trời Nam

Người Pháp quyết định đày vua Hàm Nghi sang xứ Algérie ở Bắc Phi. Khâm sứ Rheinart báo cho ông biết là thái hậu đang ốm nặng, nếu nhà vua muốn thăm hỏi thì sẽ cho rước về gặp mặt. Nghe vậy, vua Hàm Nghi đáp: “Tôi thân đã tù, nước đã mất, còn dám nghĩ gì đến cha mẹ, anh em nữa”, rồi ông cáo từ về phòng riêng. Sau khi bị truất, cựu hoàng được chính thức gọi là quận công Ưng Lịch.

Vào 4 giờ sáng ngày 25 tháng 11 năm 1888, vua Hàm Nghi bị đưa xuống tàu đi vào Lăng Cô. Trước phút rời xa quê hương, nhà vua nhìn lên bờ, không nén được cảm xúc vì nỗi niềm riêng và vận nước nên đã òa khóc. (4)

Từ Sài Gòn, ngày 13 tháng 12 năm 1888, vua Hàm Nghi bị đưa xuống chiếc tàu mang tên “Biên Hòa” vượt đại dương đi Bắc Phi. Do không quen đi trên biển, nhà vua bị say sóng liên miên nhưng vẫn không hề thốt ra một lời kêu ca, oán thán. Chiều chủ nhật, 13 tháng 1 năm 1889, Hàm Nghi đến thủ đô Alger của Algérie. Lúc này ông vừa bước qua tuổi 18.

Suốt cuộc đời lưu vong, cựu hoàng không bao giờ nguôi ngoai niềm thương nước cũ. Thời gian đầu ở Alger, ông từ chối học tiếng Pháp vì cho rằng đây là ngôn ngữ của kẻ xâm lăng. Chỉ bắt đầu từ tháng 7, có nghĩa là 6 tháng sau, ông mới chấp nhận học tiếng Pháp. Có lẽ Hàm Nghi hiểu ra rằng phiên dịch của ông sẽ không vĩnh viễn ở lại Alger, và ông cần phải tự lập về ngôn ngữ để có thể giao tiếp và sinh sống tại xứ này.

Đến năm 1904, vua Hàm Nghi bước vào tuổi trung niên, kết hôn với cô Marcelle Laloe, con gái của chánh án tòa thượng thẩm Alger. Đám cưới long trọng trở thành một hiện tượng văn hóa của thủ đô Alger mà chú rể xứ An Nam vẫn trịnh trọng khăn đống áo dài bên cạnh chiếc áo cưới lộng lẫy của cô dâu Tây phương.

Đám cưới cựu hoàng Hàm Nghi. (Nguồn: Wikipedia)

Vua Hàm Nghi cùng bà Marcelle Laloe xây một ngôi nhà mới, có tên là “Biệt thự Gia Long”, do Guiauchain, một kiến trúc sư người Pháp tại Alger thiết kế. Nhà vua sống trọn đời tại đây cùng với gia đình. Họ có ba người con là công chúa Như Mai (1905 – 1999), công chúa Như Lý (1908 – 2005) và hoàng tử Minh Đức (1910 – 1990).

Duyên phận với Thonac, Dordogne

Thonac là quê vợ nên vua Hàm Nghi và bà Laloe đã mua Château de Losse lúc sinh thời. Thời gian sau, công chúa Như Mây sống cuộc đời độc thân trong lâu đài. Những năm cuối vì thiếu tiền bảo quản nên công chúa phải bán đi rồi dọn sang căn hộ nhỏ ở chung với quản gia. Dân làng Thonac đánh giá hạnh phúc của gia đình cựu hoàng rất cao.

Công chúa Như Mây là người phụ nữ đầu tiên đậu thủ khoa kỹ sư canh nông Pháp, được cư dân ở đây mến mộ và lưu truyền những kỷ niệm tốt đẹp.

Hoàng tử Minh Đức xuất thân từ trường quân đội Saint-Cyr, năm 1946 từ chối nhiệm vụ sang Đông Dương với lời tuyên bố: “Tôi không thể cầm súng bắn lại đồng bào tôi”. Ông không có con thừa kế và mất năm 1990.

Công chúa Như Lý tốt nghiệp tiến sĩ y khoa, lập gia đình với công tước François Barthomivat de la Besse và có 3 người con.

Giờ đây, họ đều đã thành người thiên cổ. Hai người Việt xa xứ từng chia sẻ cảm xúc của mình khi viếng thăm phần mộ của vua Hàm Nghi ở nghĩa trang làng Thonac (5):

“Mặt trời tháng Bảy vừa tỏa ánh nắng đầu ngày trên sông Vézère, Lân và Trinh đã lên đường thăm Thonac nơi tọa lạc Château de Losse rồi viếng mộ hoàng tộc ở nghĩa trang. Vừa bước vào, hai người đã thấy nhiều khu vực cũ thiếu bảo trì. Những ngôi mộ bỏ hoang, không được chăm sóc theo định kỳ thì xã trưởng dán thông báo sẽ bốc tro cốt đi nơi khác.

Giữa không gian thê lương cố hữu ở nơi chôn cất, nỗi buồn không tên chiếm hữu tâm hồn người tảo mộ lúc nào không hay và còn buồn hơn khi đứng trước tấm bia của vị hoàng đế lạc lõng nơi quê người. Màu thời gian trên mộ tạo hình ảnh hoang tàn tại khu đất hoàng gia. Rêu phong mọc trên lớp đá vân cẩm thạch thành màu đen che kín.

(…)

Từ khi hoàng tử và hai công chúa khuất mất thì khu đất của vua Hàm Nghi hầu như không người chăm sóc.

Xã trưởng vì nể tình và thấu hiểu hoàn cảnh vị vua An Nam bất hạnh nên vẫn giữ nguyên, không dán giấy nhưng Lân và Trinh đã động lòng, không thể để mộ bia của một quân vương anh hùng nước Việt trong tình trạng tối tăm u uất như thế!

Trinh hỏi thăm bà Culine về người quản lý chuyên lo chỉnh trang phần mộ. Họ tiếp xúc và sẵn lòng chi trả tất cả phí tổn để làm mới lại khu an nghỉ của hoàng gia trước khi kết thúc chuyến nghỉ hè dự tính an nhàn mà biến thành công tác xã hội mang theo những kỷ niệm khó quên…

Ngẫm nghĩ lại câu chuyện vừa kể, vua Hàm Nghi vì muốn bảo tồn danh dự của dân tộc Việt trước thực dân Pháp mà bị đày ải một đời gian truân. Quân vương nước Nam đã dám nói không với đại tá Guerrier và khi tướng De Courcy nói không với triều đình thì ngài nổ súng, rời ngai vàng và tuyên hịch “Cần Vương”. Vua Hàm Nghi không ngần ngại làm những gì phải làm dựa theo đạo lý giống như lời ngài dạy dỗ các con: “Si vous ne pouvez pas être de bon Vietnamien, soyez de bien Francais” (Nếu các con không thể là người Việt Nam tốt thì hãy là người Pháp tốt.)”

Dòng máu hoàng tộc nước Nam vẫn chảy

Vào năm 2014, đài RFI (6) đã đăng một bài phỏng vấn cô Amandine Dabat, cháu năm đời của vua Hàm Nghi đang làm luận văn tiến sĩ về cuộc đời và sự nghiệp của vua Hàm Nghi tại đại học Sorbonne-Paris 4. Lịch sử dường như còn tiếc thương vị vua nước Việt, và hồn Việt Nam như còn phảng phất tại kinh đô Paris.

Các thành viên hậu duệ gia đình vua Hàm Nghi đã từng tới du lịch Việt Nam với mong muốn khám phá quê hương tổ tiên mình. Bản thân Amandine Dabat là người sống tại Việt Nam lâu nhất, khoảng 18 tháng, để phục vụ luận văn nghiên cứu của cô. Tuy nhiên, hậu duệ vua Hàm Nghi vẫn giữ di hài ông yên nghỉ tại Dordogne, Pháp để họ có thể dễ dàng đến viếng mộ tổ tiên.

Tỉnh Dordogne còn được gọi là Périgord, cái tên cổ bắt nguồn từ người Gaulois “Pétrocores”, có nghĩa là dân tộc của Bốn Đạo Quân. “Périgord bây giờ được chia làm bốn vùng nhỏ, mang tên tương ứng với sản phẩm đặc trưng cho từng vùng. Périgord Vert, ở phía Bắc, xanh màu rừng dẻ. Périgord Blanc ở trung tâm, trắng màu vách đá vôi. Périgord Purpre ở phía Tây Nam, tím màu rượu vang và lá nho mùa thu. Périgord Noir, phía Đông Nam, đen màu rừng sồi âm u và màu nấm truffe. Tôi hình dung vị vua An Nam đáng kính đang mỉm cười giữa bốn màu dịu dàng của Dordogne.

Khiêm Từ
(Tổng hợp và biên soạn)

Cổ nhân thường nói “tích đức, thất đức” – Đức ấy là gì?

Chú thích:

(1) Phan Trần Chúc. Vua Hàm Nghi. Hà Nội, Chinh Ký, 1952, tr. 142.

(2) Nguyễn Quang Trung Tiến. Vị vua trưởng thành từ niên thiếu. Tạp chí thông tin Khoa học và Công nghệ, số 1(7), 1995.

(3) Phan Trần Chúc. Vua Hàm Nghi. Hà Nội, Chinh Ký, 1952, tr. 142.

(4) Phạm Văn Sơn. Việt Nam cách mạng cận sử và Phan Trần Chúc. Vua Hàm Nghi.

(5) Ngôi mộ Vua Hàm Nghi ở Thonac (Pháp): Một “Nghĩa cử Cần Vương”, danchimviet.info.

(6) “Những năm tháng lưu đày của vua Hàm Nghi ở Alger”, vi.rfi.fr.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Đức gia nhập “câu lạc bộ” Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương

Đức gia nhập “câu lạc bộ” Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương

Chính phủ Đức thông qua chiến lược đối với Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương có tên gọi “Định hướng đối với khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương”, nhằm hướng tới một chiến lược chung của châu Âu với khu vực.

 

Khinh hạm lớp F125 Baden-Württemberg của Hải quân Đức.

Chính phủ Đức cho rằng trong thế kỷ XXI, các lực lượng kinh tế và chính trị đang ngày càng chuyển dịch theo hướng khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Trung Quốc, Nhật Bản và Mỹ – ba nền kinh tế lớn nhất thế giới – là các quốc gia Thái Bình Dương, trong khi 20/33 siêu đô thị trên thế giới cũng nằm trong khu vực và có vai trò quan trọng trong việc định hình trật tự quốc tế.

Với một chiến lược cho khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, chính phủ Đức muốn định hình các chính sách thông qua việc nêu bật các lợi ích, nguyên tắc, sáng kiến trong các lĩnh vực hành động chính cũng như những đề xuất với các đối tác trong khu vực.

Chính phủ Đức coi định hướng nêu trên là cơ sở nền tảng cho một chiến lược của Liên minh châu Âu (EU) trong tương lai. Berlin chủ trương đa dạng hóa mối quan hệ của mình cả về mặt địa lý cũng như trong các lĩnh vực; đẩy mạnh quan hệ với các nước ASEAN, Australia và Ấn Độ, như việc ký kết thêm các thỏa thuận thương mại tự do (FTA).

Mục đích của định hướng này là xây dựng một khung chiến lược với nhiều giải pháp chính trị đối với khu vực và hình thành các điểm kết nối cho việc tăng cường hợp tác, kể cả trong chính sách an ninh, với các đối tác ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Phát biểu nhân dịp chính phủ Đức thông qua định hướng nêu trên, Ngoại trưởng Đức Heiko Maas khẳng định chính sách của phương Tây cũng ở cả phương Đông, trong đó khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương là một ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Đức.

Với việc thông qua định hướng, chính phủ Đức mong muốn tăng cường quan hệ với khu vực quan trọng này, trong đó có xây dựng hợp tác trong các lĩnh vực như chủ nghĩa đa phương, biến đổi khí hậu, thương mại tự do dựa trên các quy tắc, kết nối, số hóa…, đặc biệt trong chính sách an ninh.

Theo người đứng đầu ngành ngoại giao Đức, sự ổn định trong khu vực cũng rất quan trọng về mặt kinh tế đối với Đức. Do thương mại quốc tế chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nền kinh tế, nên sự thịnh vượng của Đức phụ thuộc trực tiếp vào tự do thương mại và tự do các tuyến hàng hải mà phần lớn dẫn qua Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Ngoại trưởng Maas cũng cho biết, Đức sẽ hợp tác cùng các đối tác EU, đặc biệt là với Pháp, để xây dựng một chiến lược của châu Âu đối với khu vực này.

Theo The Diplomat, Đức là quốc gia châu Âu thứ hai, sau Pháp, chính thức thông qua chiến lược về Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Việc gia nhập “câu lạc bộ” này được nhiều nhà bình luận cho rằng là có “nhiều hàm ý” đối với sự nổi lên của “Bộ tứ” gồm Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ và Australia.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.