Daily Archives: April 13, 2021

Ðức Huỳnh Giáo Chủ

Ðức Huỳnh Giáo Chủ
Vương KimÐức Phật, Hoàng thiên lịnh giáng trần,Huỳnh gia chuyển kiếp lập đời Tân.Giáo truyền đạo Thích dìu sanh chúng,Chủ ý chọn người vẹn Tứ ân.(Hình Tác giả: Vương Kim Phan Bá Cầm)Phần I:HÀNH TRẠNG Thiên thứ nhứtGiai đoạn ra đời mở đạo Chương I: Bối cảnh xã hộiChương II:Thân thếChương III: Ra Tế độChương IV: Đăng SơnChương V: Sứ MạngChương VI: Lưu CưChương VII: Vận Ðộng Ðộc LậpChương VIII: Tổ Chức Hàng NgũChương IX: Chuẩn Bị Ðấu Tranh Thiên thứ haiGiai đoạn hoạt động đấu tranh Chương X: Dấn Thân Thiên thứ baGiai Ðoạn Vắng Mặt Chương XI: Lý Do Thọ NạnChương XII: Còn Hay Mất Phần II:SỰ NGHIỆP Thiên thứ tưSự Nghiệp Về Mặt ÐạoTôn Phái Phật Giáo Hòa Hảo Chương XIII: Học PhậtChương XIV: Tu Nhân Thiên thứ nămSự Nghiệp Về Mặt Ðời:Công nghiệp cách mạng Chương XV: Quân Sự.Bộ Ðội Nguyễn Trung Trực Chương XVI: Chánh TrịViệt Nam Dân Chủ Xã Hội đảng Cùng một tác giả: Long Hoa xuất bản-         Tận Thế và Hội Long Hoa (1952)-         Đức Phật Thầy Tây An (1953) (hiệp với Đào Hưng)-         Để Hiểu Phật Giáo Hòa Hảo (1954) (hiệp với Thanh Sĩ)-         Ðời Hạ Ngươn (1960)-         Đời người dướI ánh sáng Đạo Phật (1960)-         Bửu Sơn Kỳ Hương (1966)-         Hành sử Đạo Nhân (1970)-         Tu Hiền (1972)-         Đời Thượng Ngươn (1973)-         Pháp Môn Tịnh Độ (1973)-         Tại Sao Ta Phải Tu (1974)Dân Xã Tùng Thư-         Chánh trị thường thức (1956)-         Tinh thần cán bộ (1971)-         Lập trường Dân Xã Đảng (1971) MUC LUC CHƯƠNG 1 | | CHƯƠNG 2 | | CHƯƠNG 3 | | CHƯƠNG 4 | | CHƯƠNG 5 | | CHƯƠNG 6 | | CHƯƠNG 7 | | CHƯƠNG 8 | | CHƯƠNG 9 | | CHƯƠNG 10 | | CHƯƠNG 11 | | CHƯƠNG 12 || CHƯƠNG 13 | | CHƯƠNG 14 | | CHƯƠNG 15 | | CHƯƠNG 16 | | CHƯƠNG 17|
Categories: Uncategorized | Leave a comment

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔvà Phật Giáo Thời Ðại

…… …. .. . .Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔvà Phật Giáo Thời ÐạiLê Hiếu Liêm Chương một: Dẫn nhập Việt Nam và Phật Giáo đầu thế kỷ hai mươi. Đầu thế kỷ 20, tư tưởng Nho Giáo, thống trị độc tôn đất nước từ Thời Hồ Quý Ly, nhà Lê và nhà Nguyễn suốt 400 năm, hoàn toàn sụp đổ. Tư tưởng Phật Giáo, ngự trị vinh quang trong thời đại Lý Trần từ thế kỷ thứ 11 đến cuối thế kỷ 14, suy đồi tận gốc. Tư tưởng Tây Phương và tôn giáo của nó, Thiên Chúa Giáo La Mã, bị đại đa số trí thức và nhân dân coi như sản phẩm và công cụ của chế độ Thuộc Địa và thực dân Pháp nên vẫn không được chấp nhận. Ý thức hệ Cộng Sản cũng như các tư tưởng mới khác chưa ra đời. Cả một khoảng trống tư tưởng, cũng có nghĩa là một khoảng trống tôn giáo và chính trị, to lớn bao trùm trên một nước Việt Nam bị nô lệ, bóc lột, áp bức, lạc hậu và nghèo đói. Nhưng đây cũng là môi trường lý tưởng cho sự ra đời của những tư tưởng mới, những tôn giáo mới, những chính đảng mới và những phong trào mới: Phong trào Đông Du và Việt Nam Duy Tân Hội của Phan Bội Châu từ năm 1904, Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can và các nhà Nho tiến bộ năm 1907, tư tưởng dân quyền và dân chủ của Phan Chu Trinh suốt hai mươi năm (1905-1925), phong trào chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908, vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội cùng năm, Việt Nam Quang Phục Hội năm 1912, cuộc khởi nghĩa ở Trung Kỳ và ở Huế năm 1916 của Thái Phiên, Trần Cao Vân, Lê Ngung, vua Duy Tân…, phong trào Hội Kín ở miền Nam năm 1913-1916 lan rộng khắp Lục Tỉnh và cuộc tấn công Sài Gòn năm 1916. Các hoạt động này đã liên tục diễn ra từ đầu thế kỷ 20 đến cuối đệ nhất thế chiến.Tuy nhiên mãi đến đầu thập njiên 20 Việt Nam mới thật sự thức dậy với sự ra đời Việt Nam Thanh Niên Cách mạng Đồng Chí Hội và Tân Việt Cách Mạng Đảng năm 1925, Đạo Cao Đài năm 1926, Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1927, Cuộc khởi nghĩa Yên Bái và sự ra đời của Đảng Cộng Sản Đông Dương năm 1930 và phong trào Sô Viết Nghệ Tỉnh 1930-1931. Trong thời gian sôi động này, từ 1925 trở đi, Phật Giáo cũng đã thức dậy. Từ năm 1923, thiền sư Khánh Hòa và thiền sư Thiện Chiếu đã thành lập, tại chùa Long Hòa ở Trà Vinh, Hội Lục Hòa Liên Hiệp với mục đích vận động thành lập một Hội Phật Giáo Việt Nam toàn quốc để chấn hưng Phật Giáo. Thiền sư Thiện Chiếu, khác hẳn tất cả tăng sĩ Phật Giáo đương thời, là một tăng sĩ có tân học. Ông đã đi ra Trung và Bắc vận động thống nhất Phật Giáo năm 1927 nhưng bất thành.Năm 1928 thiền sư Khánh Hòa xây dựng Thích Học Đường và Phật Học Thư Xã tại Chùa Linh Sơn, Sài Gòn và năm 1929 Ông cho ấn hành tạp chí Viên Âm, tập san Phật Học đầu tiên bằng quốc ngữ tại Việt Nam, đặt trụ sở tại chùa Xoài Hột, Mỹ Tho. Cùng thời, thiền sư Thiện Chiếu xuất bản một tạp chí Phật Học nhắm vào giới thanh niên trí thức lấy tên là Phật Hòa Tân Thanh Niên, đặt tòa soạn tại chùa Chúc Thọ ở Gia Định. Năm 1931 thiền sư Khánh Hòa cùng nhiều tăng sĩ và cư sĩ thành lập Hội Phật Học đầu tiên tại Việt Nam, lấy tên là Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học và thiền sư Từ Phong được mời làm Chánh Hội Trưởng. Hội ra tờ Từ Bi Âm năm 1932. Thiền sư Khánh Hòa, cùng người cộng sự thân tín là thiền sư Thiện Chiếu đã đóng vai trò tiền phong khai mở phong trào chấn hưng Phật Giáo và hiện đại hóa Phật Giáo, chuyển động sâu rộng lịch sử Phật Giáo và lịch sử Việt Nam trong suốt 65 năm qua.Tại miền Trung, thiền sư Giác Tiên mở Phật Học Đường  tại chùa Trúc Lâm năm 1929 và ủy thác cho đệ tử là bác sĩ Lê Đình Thám thành lập Hội An Nam Phật Học năm 1932. Hội quy tụ đông đảo những danh tăng và cư sĩ trí thức tại miền Trung. Cư sĩ Lê Đình Thám được bầu làm Hội Trưởng và vua Bảo Đại được mời làm Hội Trưởng Danh Dự. Hội ra tạp chí Phật Học Viên Âm năm 1933. Năm 1934, thiền sư Giác Tiên, cư sĩ Lê Đình Thám… đã thành lập Trường An Nam Phật Học, trong đó có mở cấp Đại Học Phật Giáo. Đặc biệt hơn nữa là Hội đã phát động phong trào “Chỉnh Lý Tăng Già” rất quyết liệt để loại trừ ra khỏi tăng già những thành phần phạm giới, bất xứng. Chính nhờ những nổ lực cấp tiến này mà Phật Giáo miền Trung đã đóng được một vai trò quan trọng trong những thập niên sau đó.Năm 1934 các thiền sư Trí Hải, Tâm Ứng, Tâm Bảo cùng với giới cư sĩ trí thức tên tuổi tại Hà Nội như Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Tố, Dương Bá Trạc, Trần Văn Giáp, Nguyễn Năng Quốc, Nguyễn Hữu Kha, Bùi Kỷ, Lê Dư… thành lập Bắc Kỳ Phật Giáo Hội, bầu cư sĩ Nguyễn Năng Quốc làm hội trưởng và suy tôn thiền sư Thanh Hanh làm Thiền Gia Pháp Chủ. Đặc biệt là trong buổi lễ suy tôn Pháp Chủ này, cư sĩ Trần Trọng Kim đã thuyết pháp về đề tài; “Thập Nhị Nhân Duyên”. Hội ra tạp chí Đuốc Tuệ năm 1935 và phát triển mạnh mẽ khắp miền Bắc (Nguyễn Lang, Phật Giáo Việt Nam Sử Luận, q 3, t 51-173).Đặc tính của cả ba Hội Phật Học tại ba miền là vai trò nổi bật của giới trí thức cư sĩ, là thuần túy Phật học và sinh hoạt Phật sự. Thời điểm 1925-1945 là thời điểm chuẩn bị trong kiên nhẫn và thầm lặng. Các hội Phật Học đã làm đúng chức năng và vai trò lịch của mình, một cách khiêm tốn, từ đống gạch vụn đổ nát của nền Phật học và Phật Giáo Việt nam trong thời Thực Dân Pháp thống trị.Trong thời kỳ này xuất hiện những con người đặc biệt, xuất sắc và những tư tưởng mạnh mẽ, quyết liệt, trong Phật Giáo cũng như ngoài Phật Giáo. Từ đầu thập niên 30, tư tưởng Phật Hộc của Thích Thiện Chiếu đã là những quả bom chấn động. Và năm 1939 Huỳnh Phú Sổ xuất hiện làm một cuộc cách mạng tôn giáo, cải cách toàn bộ và triệt để Phật Giáo chưa từng có trong hai ngàn năm lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Miền Nam, một vùng đất lạ lùng và kỳ diệu… An Hòa TựPhan Chu Trinh từ Pháp trở về Sài Gòn năm 1925, đất nước bùng lên những làn sóng tư tưởng dân quyền và dân chủ. Ông khẳng định phải tìm nguyên nhân mất nước trong sự mất đạo đức, mất luân lý, trong bài diễn thuyết Đạo Đức và Luân Lý Đông Tây, và ông cũng khẳng định chế độ quân chủ chuyên chế là nguyên nhân chính làm mất nước trong bài thuyết giảng Quân Trị Chủ Nghĩa và Dân Trị Chủ Nghĩa tại Sài Gòn năm 1925. Ông mất năm sau đó và đám tang ông cùng với cuộc vận động ân xá nhà chí sĩ Phan Bội Châu đã khơi bùng phong trào yêu nước và yêu tự do dân chủ trên toàn quốc, đặc biệt là trong giới thanh niên.Nhưng dữ dội, bốc lửa và sấm sét trong tư tưởng yêu nước chống thực dân cũng như tư tưởng tự do dân chủ, trong thời này, chỉ có Nguyễn An Ninh là đi xa nhất, quyết liệt nhất. Là một thanh niên miền Nam, Ông đi du học ở Pháp và trở về nước với bằng cử nhân Luật. Lợi dụng quy chế thuộc địa của Nam Kỳ, nơi mà báo chí bằng tiếng Pháp được tự do, không bị kiểm duyệt, Ông ra tờ La Cloche fèlèe (Tiếng Chuông Rè) từ năm 1923 đến năm 1926. Ông tự xưng tờ báo của Ông là “cơ quan tuyên truyền tư tưởng Pháp”, lấy tư tưởng của kẻ xâm lăng để đập những nhát búa tạ vào chế độ Thực Dân, đồng thời tờ báo cũng tự nhận là “cơ quan chuẩn bị cho tương lai dân tộc”. Thật là độc đáo và tuyệt vời.Ngoài việc phê bình kịch liệt, thẳng tay chính sách và chế độ thực dân, Ông cổ võ cho việc đào tạo một tầng lớp thanh niên Việt Nam tân học, có văn hóa, có lý tưởng, có chí khí, có năng lực và có tổ chức và Ông tuyệt đối tin vào sức mạnh và vào tương lai của nhân dân Việt Nam. Ông chủ trương một nước Việt Nam thống nhất từ Nam chí Bắc và trở về lịch sử dân tộc để tìm niềm tin và sức mạnh. Ông hô hào, khi chỉ mới ngoài 20 tuổi, “Chẳng những phải duy trì những giấc mộng vĩ đại, mà còn phải tổ chức thành một nhóm quan trọng để chuẩn bị cho tương lai”. Không những tư tưởng táo bạo, độc đáo, mới lạ, kiến thức của Ông cũng rất uyên bác. Khi Thống Đốc Nam Kỳ tuyên bố: “Xứ này không cần trí thức”. Ông đã viết bài trả lời bốc lửa: “… Những thảm khổ của chúng ta ngày nay, còn gì nữa, đúng là do tổ tiên của chúng ta đã sờ mó vào cây kiến thức. Hạng trí thức đã làm đảo lộn thế giới, làm hư hỏng hạnh phúc của thế giới. Hãy nguyền rủa tên tuổi của Prométhé, kẻ đã lấy trộm chút lửa của Trời. Hãy nguyền rủa con người đã bày ra cái ná cao su cho trẻ con bắn đá vào trán ông khổng lồ… Trí Tuệ, đó là cái tai hại. Trí tuệ, đó là con rắn cuốn quanh thân cây đã làm cho chúng ta vĩnh viễn mất cõi thiên đường… Nói đến vai trò giáo dục, vai trò văn minh của các ông chủ xứ Đông Dương này, thưa các ông, điều ấy làm ta mỉm cười… Người ta đã quỳ lụy bái phục những vị “đem ánh sáng tới”, những vị “làm điều kỳ diệu ở Ấu Châu”… Cái gì kỳ diệu? Thực ra cái kỳ diệu đó là, chỉ trong một thời gian ngắn thôi, người ta đã có thể làm cho trình độ trí thức của người Nam đã thấp đi lại càng rơi vào chỗ cực kỳ dốt nát. Cái kỳ diệu đó là người ta đã có thể, trong một thời gian ngắn như thế, xô đẩy một dân tộc có tư tưởng dân chủ, ngã nhào vào tình trạng nô lệ hoàn toàn“. (Trần Văn Giàu, Sự Phát Triển Của Tư Tưởng ở Việt Nam Từ Thế Kỷ 19 đến Cách Mạng Tháng Tám, q2, t 311).Nguyễn An Ninh cũng là một trong những nhà trí thức tân học đầu tiên nghiên cứu Phật Học và hoàn thành một tác phẩm Phật Học quan trọng, cuốn “Phê Bình Phật Giáo”. Sau thời kỳ hoạt động sôi nổi từ 1923 đến 1926, Nguyễn An Ninh bị ở tù trong thời gian 1926-1927, sau đó Ông về nghiên cứu Phật Giáo. Trên bàn làm việc của Ông, có một cái chuông, một cái mõ, Ông cạo trọc đầu và đi chân không. Ông nghiên cứu Phật Giáo qua tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức và các hoạt động Phật Giáo trong nước. Cuốn Phê Bình Phật Giáo xuất bản năm 1937 là kết quả của sự nghiên cứu này. Tựa đề của cuốn sách, 70 năm sau cũng không có ai dám viết một cuốn sách Phật Học có tựa đề thách thức và can đảm như vậy. Mục đích và phương pháp luận còn mới lạ, táo bạo hơn, đó là “so sánh Phật Giáo với thời đại của nó để chỉ chỗ hay, chỗ đúng hơn của nó đối với các thuyết khác và so sánh Phật Giáo với thời đại này để chỉ sai lầm của Phật Giáo“. Tác phẩm này được giới trí thức, giới chính trị cũng như giới Phật Giáo chú ý đặc biệt.Nhưng không gây sóng gió và tranh luận suốt nhiều năm trời như những tác phẩm của Thích Thiện Chiếu. Đối với Tăng, Ni, Phật Tử thập niên 30, những tư tưởng Phật Học của Thích Thiện Chiếu là những tiếng sét ngang tai. Ngày nay đọc lại, chắc chắn quý vị tăng sĩ, cư sĩ và Phật Tử cũng không khỏi giựt mình, chấn động và suy nghĩ. Những tư tưởng này, được viết từ thập niên 30, ngày nay, cuối thập niên 90, vẫn còn mới, còn táo bạo, còn chứa đầy sức nặng của đá tảng và sức nổ của sấm sét. Thích Thiện Chiếu là tinh hoa sáng chói của Phật Giáo trong thập niên 20, 30. Ông đã đi tiền phong trong mọi lãnh vực chấn hưng và hiện đại hóa Phật Giáo Việt Nam trong thế kỷ 20 này.Ta phải đứng trên một đỉnh núi cao, mới hy vọng nhìn thấy những cái gì chưa ai nhìn thấy, những cái gì nằm khuất sau dãy núi cao. đó có thể là những dãy núi cao hơn, hay là một đại dương mênh mông hay là một bình nguyên rực rỡ. Thích Thiện Chiếu là một ngọn núi cao của Phật học và Phật Giáo Việt Nam trước đệ nhị thế chiến. Ta hãy đứng trên đỉnh núi cao ngất, hùng tráng này để nhìn rõ một đỉnh núi cao ngất, hùng vĩ khác, là Cư sĩ, Bồ Tát, Giáo Chủ Huỳnh Phù Sổ.   |Muc Luc| |Ch.1| |Ch.2| |Ch.3| |Ch.4| |Ch.5| |Ch.6| |Ch.7| |Ch.8| |Ch.9| |Ch.10|TK|[BHH430] [PGHH] [THƯ VIỆN PGHH]
Categories: Uncategorized | Leave a comment

Từ sự kiện Đá Ba Đầu nhìn về chiến thuật “Vùng xám” & “Chiến tranh nhân dân trên biển” của Trung Quốc

quehuong11.4.210 Facebook Twitter Google+> https://www.baoquocdan.org/2021/04/tu-su-kien-ba-au-nhin-ve-chien-thuat.html” rel=”noreferrer noopener” target=”_blank”>

a1

Rất nhiều tàu Trung Quốc, được cho là do dân quân biển Trung Quốc điều khiển, neo đậu ở khu vực Đá Ba Đầu ngày 27/3/2021.

Ảnh: Cảnh sát Biển Philippines/Reuteurs

Trung Quốc đã và đang sử dụng chiến thuật “vùng xám”, đặc biệt là “Chiến tranh nhân dân trên biển” trong việc thực hiện tham vọng bành trướng của nước này ở Biển Đông. TS. Vũ Hồng Lâm, một chuyên gia hàng đầu về vấn đề biển Đông và an ninh châu Á, thuộc Trung tâm Nghiên cứu An ninh Châu Á-Thái Bình Dương Hoa Kỳ (APCSS) cho rằng, để đối phó hiệu quả với những chiến thuật này của Trung Quốc, các quốc gia nhỏ có tuyên bố chủ quyền trong khu vực như Philippines và Việt Nam cần sớm đưa các vi phạm của Trung Quốc ra công luận quốc tế đồng thời kiên trì đấu tranh với Trung Quốc ngay tại khu vực xảy ra xung đột.

RFA: Một số chuyên gia cho rằng Trung Quốc đang thực hiện Chiến tranh nhân dân trên biển (people’s war at sea) trong vụ việc Đá Ba Đầu– một chiến thuật mà cựu Bộ trưởng Quốc phòng Thường Vạn Toàn của nước này đã đề cập tới trong một vài năm gần đây. Ông nghĩ gì về nhận định này và theo ông, Trung Quốc đã sử dụng chiến thuật này như thế nào để thực hiện tham vọng của họ ở biển Đông?

TS Vũ Hồng Lâm: Chiến tranh nhân dân trên biển (CTNDTB) đúng là một chiến thuật rất quan trọng của Trung quốc ở biển Đông và họ đã thực hiện chiến thuật này từ lâu. Ban đầu họ sử dụng một số quân nhân trá hình giả làm ngư dân. Dần dần họ phát triển lực lượng dân quân biển và bây giờ lực lượng này đã phát triển khá hùng hậu với hàng trăm, hàng ngàn tàu cùng với số lượng người rất lớn. Một số trong lực lượng này là quân nhân phục viên chuyển ngành (ví dụ trước đây từng là lính hải quân) và rất nhiều người vốn là ngư dân nhưng được tuyển dụng làm dân binh.

Trung Quốc đã huy động lính giả dạng làm ngư dân để chiếm các đảo ở Trường Sa từ những năm 1980. Chẳng hạn vào năm 1988, khi xuống Đá Chữ Thập với lý do xây dựng trạm khí tượng, Trung Quốc đã dùng lính hải quân đóng giả ngư dân, dùng tàu cá để đi trinh sát. Sau đó, cũng với chiến thuật này, họ chiếm Đá Vành Khăn vào năm 1995 và gần đây là chiếm Bãi cạn Scarborough vào năm 2012.

Trung Quốc chiếm được bãi cạn này bằng chiến thuật  cải bắp với vòng đầu là ngư dân, vòng hai  là cảnh sát biển và vòng ngoài là hải quân, hiện diện ở rất xa, ngoài đường chân trời.  Tại khu vực vòng đầu, ngư dân Trung Quốc tập hợp thành đám đông vào đánh bắt và xua đuổi ngư dân của Philippines đi, rồi dần dần họ bao vây, không cho thuyền của các nước như Philippines hay Việt Nam ra vào. Sau một thời gian, họ đã chiếm đóng và kiểm soát bãi cạn Scarborough trên thực tế. Đấy là chiến thuật sử dụng dân binh phối hợp với tàu cảnh sát biển  đã giúp nước này chiếm các đảo đá ở Trường Sa.

Vừa qua, Trung Quốc tiếp tục sử dụng chiến thuật CTNDTB ở Đá Ba Đầu. Những gì Trung Quốc làm ở Đá Ba Đầu trong tháng 3 cũng là điều họ đã làm ở đây hàng năm vào mùa này vì đây là thời gian biển không động, thời tiết tương đối tốt. Năm nay là lần Trung Quốc sử dụng một số lượng rất lớn, với hơn 200 tàu cá để bao vây khu vực Đá Ba Đầu với mưu đồ thiết lập quyền kiểm soát trên thực tế  và xua đuổi ngư dân của các nước khác như Việt Nam và Philippines ra khỏi đây. Đáng  lưu ý, Trung Quốc đã sử dụng chiến thuật này trong hơn 2 năm gần đây tại khu vực gần đảo Thị Tứ do Philippines kiểm soát. Họ cũng sử dụng cả trăm tàu dân binh để bao vây khu vực này, không đánh bắt nhưng cứ neo đậu ở đó để “tạo quyền kiểm soát trên thực tế” đồng thời xua đuổi tàu thuyền nước khác, đặc biệt là tàu thuyền của các nước có tuyên bố chủ quyền trong khu vực.

Như vậy, có thể nói rằng chiến thuật này là sự lặp lại của những gì Trung Quốc đã làm trong lịch sử và đã làm ở khu vực đảo Thị Tứ trong mấy năm gần đây.

RFA: Ông đánh giá như thế nào về hiệu quả của chiến thuật này?

TS Vũ Hồng Lâm: Chiến thuật này đặc biệt hiệu quả đối với trường hợp bãi cạn Scarborough và trên thực tế Trung Quốc đã chiếm đoạt được thực thể này. Mặc dù đã có phán quyết của Tòa Trọng tài quốc tế nhưng Trung Quốc vẫn không tuân thủ, họ vẫn xua đuổi ngư dân của Philippines và Việt Nam đến đánh cá và bản thân tàu chấp pháp của Philippines cũng không còn ra vào khu vực này nữa.

Hiện Trung Quốc và Philippines vẫn tranh chấp ở khu vực đảo Thị Tứ, tuy tình hình đã bớt nóng nhưng vẫn còn giằng co. Chiến thuật này thường phát huy hiệu quả khi đối phương không đủ thuyền bè để đối phó, nghĩa là không tạo được sức ép trên thực địa đồng thời giữ im lặng hoặc không tạo được sức ép dư luận quốc tế và do đó dẫn tới mất quyền kiểm soát.

RFA: Theo ông, những nước nhỏ như Việt Nam và Philliplines có thể làm gì để đáp trả chiến thuật CTNDTB cũng như đội ngũ dân binh và cảnh sát biển hùng hậu của Trung Quốc?

TS Vũ Hồng Lâm: Để đối phó, chủ yếu mình phải làm được ở hai mặt trận. Một là phải đưa vấn đề này ra công luận quốc tế để tạo lập dư luận và tận dụng sức ép của công luận, đặc biệt từ chính phủ các nước cũng như truyền thông của quốc tế. Hai là, trên thực địa, mình cũng cần có lực lượng để giằng co. Tuy lực lượng của mình mỏng hơn, ít hơn nhưng phải kiên quyết để duy trì sự hiện diện của mình ở đó.

Trong năm 2014, khi Trung Quốc đưa dàn khoan Hải Dương 981 vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, Việt Nam đã làm đúng hai điều này và đã thành công. Tuy trên biển, lực lượng dân quân và hải cảnh của Việt Nam yếu hơn Trung Quốc rất nhiều nhưng Việt Nam vẫn cương quyết bám trụ. Mặc khác, Việt Nam đã đưa vấn đề này ra quốc tế, thậm chí còn gửi kiến nghị lên Liên Hợp Quốc và mời nhà báo nước ngoài đến tận hiện trường để chứng kiến. Nhờ tất cả những việc làm này, Việt Nam đã khiến Trung Quốc đã phải rút giàn khoan trước hạn.

RFA: Nguy cơ thương vong đối với các nước nhỏ sẽ như thế nào nếu thực hiện theo phương án này thưa ông?

TS Vũ Hồng Lâm: Khả năng xảy ra thương vong là có nhưng rất ít vì tính chất của câu chuyện này là tất cả các bên đều cố gắng giữ để xung đột không leo thang thành xung đột vũ trang.

Vì tính chất này nên Trung Quốc thường dùng CTNDTB và chiến thuật vùng xám để lấn dần, chứ không nhắm đến các trận giao tranh lớn bằng vũ trang.

RFA: Chiến tranh nhân dân trên biển và chiến thuật “vùng xám” mà giới chuyên môn gần đây hay đề cập là một hay là hai chiến thuật khác nhau thưa ông?

TS Vũ Hồng Lâm: Đây là 2 phạm trù khác nhau. Chiến tranh nhân dân (CTND) là  dựa vào nhân dân để tiến hành chiến tranh và CTND thường có dạng không chính quy như “chiến tranh du kích”, “chiến tranh phi quy ước” . CTND trên biển của Trung Quốc có khía cạnh chính là sử dụng dân binh và ngư dân tham gia vào  cuộc chiến chủ quyền của nước này.

Vùng xám là nơi không có hòa bình nhưng cũng không có chiến tranh. Chiến thuật vùng xám cũng sử dụng một số dạng chiến tranh không quy ước. CTND là một hình thái mà chiến thuật vùng xám sử dụng. Chiến thuật vùng xám còn có nhiều hình thái khác như: “Cắt lát xúc xích (salami slice)” [mỗi hôm lấn chiếm một chút, không để tạo xung đột lớn], “Tạo sự đã rồi” [ví dụ chiếm đóng trong một đêm] hay chiến thuật cải bắp như trong trường hợp Trung Quốc chiếm bãi cạn Scarborough như đã phân tích ở trên.

RFA: Ông nói rằng các nước nạn nhân như Philippine cần sớm lên tiếng lên án vi phạm của Trung Quốc. Vậy theo ông, việc Philippines lên tiếng về vụ việc Đá Ba Đầu vừa rồi có bị muộn quá không trong khi nước này đã phát hiện ra tàu cá Trung Quốc neo đậu từ 2 tuần trước đó?

TS Vũ Hồng Lâm: Tôi cho rằng Philippines lên tiếng như vậy không hẳn là muộn vì không phải lúc nào nước này cũng biết những gì đang xảy ra cho đến khi họ đi tuần tra. Thêm vào đó, khi lượng tàu của Trung Quốc mới chỉ là một con số nhỏ, 5,7,10 hay 20 tàu thì nếu  lên tiếng cũng chưa thích hợp lắm vì chưa rõ ràng, chưa đáng nói.

RFA: Theo ông, chiến thuật này đã và đang gây ra những khó khăn, bất lợi gì cho các nước có tranh chấp liên quan cũng như cho sự can thiệp của các cường quốc, trong đó có Mỹ?

TS Vũ Hồng Lâm: Theo tôi, các nước có tranh chấp và các cường quốc có liên quan có bất lợi là họ chưa chuẩn bị kỹ cho chiến thuật vùng xám và CTND trong khi đó đây lại là những thế mạnh và truyền thống của Trung Quốc. Ví dụ, trừ Việt Nam, tất cả các nước hiện không có lực lượng dân quân biển vì họ bị ràng buộc bởi luật pháp và học thuyết quân sự của họ, do đó không có khả năng răn đe Trung Quốc ở vùng xám. Việt Nam tuy có dân quân biển nhưng lực lượng này còn nhỏ vì mới chỉ được thành lập từ khoảng chục năm trở lại đây.

Như vậy, có thể thấy về mặt lực lượng quân sự chính quy thì phần nào, Mỹ có thể răn đe được nhờ có tàu sân bay, tàu ngầm, tên lửa nhưng nước này không răn đe được Trung Quốc ở khu vực Vùng xám.  Tính chất của vùng xám là “lách luật” nên cứ đàng hoàng dùng “luật” để chơi thì khó hiệu quả.

RFA: Mỹ đã có bài học ở Scarborough và biết rất rõ tính chất của chiến tranh vùng xám. Theo ông, nếu Mỹ thực sự muốn cải thiện tình hình ở Biển Đông thì nước này nên làm điều gì?

TS Vũ Hồng Lâm: Thực ra dưới thời chính quyền của Tổng thống Trump,  có tướng lĩnh Mỹ đã từng tuyên bố sẽ đối xử với tàu dân binh và hải cảnh Trung Quốc giống như đối với tàu thuyền quân sự. Nhưng đó chỉ là tuyên bố nhất thời và cũng không khả thi để biến thành chính sách vì điều này vướng rất nhiều rào cản luật pháp. Có thể nói Mỹ chưa có những bước đi lớn để đối phó với chiến thuật vùng xám cũng như khả năng tham gia chiến thuật vùng xám của Mỹ vẫn còn yếu.

Mặc dầu vậy, tôi nghĩ Mỹ vẫn có thể làm một số việc để cải thiện tình hình khu vực.

Thứ nhất Mỹ có thể đẩy manh hợp tác cảnh sát biển với các nước ven bờ như Việt Nam và Philippines để giúp những nước này nâng cao năng lực bảo vệ vùng biển hợp pháp của họ.

Thứ hai, là giúp đỡ các nước này sử dụng các công cụ kỹ thuật cao (ví dụ máy bay không người lái hoặc những vật thể không phải là vũ khí gây sát thương) để phục vụ việc trinh sát và xua đuổi.

Thư ba là ủng hộ Việt Nam và Philippines phát triển lực lượng dân binh biển của họ. Điều này có thể khiến Mỹ vấp phải những khó khăn về mặt luật pháp, học thuyết quân sự (học thuyết quân sự của Mỹ không có khái niệm dân binh biển) nhưng nếu muốn đối phó hiệu quả với Trung Quốc thì Mỹ phải thay đổi học thuyết quân sự của mình.

RFA: Xin cảm ơn ông!

Categories: Uncategorized | Leave a comment

Biển Đông: TQ gây căng thẳng ở Bãi Ba Đầu, VN phản ứng chưa đủ mạnh?

  • Bùi Thư
  • BBC News Tiếng Việt

24 phút trước

Getty Images

Trung Quốc đang muốn thực hiện một kịch bản cũ để mở rộng sự chiếm đóng Trường Sa tại Bãi Ba Đầu?

Việc Trung Quốc cho nhiều tàu cá, mà truyền thông Việt Nam cũng như giới chức Philippines gọi là “dân quân biển”, đậu trong thời gian dài tại Bãi Ba Đầu được đánh giá là bước đi nguy hiểm với chủ quyền của Việt Nam.

Đáp lại động thái của Trung Quốc, Philippines đã có những phản ứng nhanh chóng và mạnh mẽ, được truyền thông quốc tế nói đến rộng rãi. Trong khi đó, chính quyền Việt Nam có vẻ kín tiếng hơn.

Các chuyên gia cho rằng Việt Nam cần chủ động và công khai hơn các phản ứng của mình.

Mưu đồ của Trung Quốc

Trao đổi với BBC News Tiếng Việt, chuyên gia, giảng viên Nguyễn Thế Phương từ Dự án Đại Sự Ký Biển Đông đánh giá:

“Nếu lật lại các sự kiện trong lịch sử, như việc Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa năm 1974 hay thảm sát Gạc Ma năm 1988 đều phải dựa vào yếu tố thời cơ. Năm 1974 là nhân lúc Việt Nam Cộng hòa đang gặp khó khăn trong chiến tranh, và quá trình xích lại gần nhau giữa Trung Quốc và Mỹ.”

“Đối với Thảm sát Gạc Ma năm 1988, Việt Nam khi đó gặp khó khăn rất lớn cả về đối nội và đối ngoại. Chính sách Đổi Mới mới thực hiện được có 2 năm, chưa thể phát huy được tác dụng, và khủng hoảng kinh tế và xã hội vì thế chưa thể được giải quyết. Việt Nam lúc bấy giờ đang gặp bao vây cấm vận, sức ép rất lớn từ tất cả các quốc gia liên quan tới vấn đề Campuchia (Trung Quốc, Mỹ, phương Tây, các nước Đông Nam Á) khiến cho nguồn lực trong an ninh quốc phòng bị hạn chế.”

Biển Đông: Bãi Ba Đầu thuộc Việt Nam, Trung Quốc hay Philippines?

Biển Đông: Trung Quốc định làm gì ở bãi đá Ba Đầu?

“Bên cạnh đó, quan hệ với Liên Xô trên danh nghĩa là đồng minh hiệp ước, nhưng bản thân Liên Xô khi đó cũng đã lâm vào khủng hoảng và Moscow cũng đang trong quá trình điều chỉnh quan hệ với Mỹ (và Trung Quốc), dẫn đến trợ giúp về mặt thực tế của Liên Xô bị hạn chế rất lớn.”, chuyên gia Thế Phương phân tích.

Ông Phương nói rằng sự kiện Gạc Ma năm 1988 chính là bài học mà Việt Nam luôn nhắc đi nhắc lại khi đề cập tới lựa chọn chính sách hiện nay, tác động rất lớn tới việc hình thành tư duy “tái cân bằng” của Việt Nam hiện tại.

Theo chuyên gia của Dự án Đại Sự Ký Biển Đông, có nhiều lo ngại cho rằng Trung Quốc cũng đang chờ thời cơ tương tự để kiểm soát thêm các thực thể ở Trường Sa. Ông nói tham vọng của Trung Quốc ở Trường Sa là lớn hơn rất nhiều so với chỉ 7 thực thể mà họ đã chiếm đóng và cải tạo như hiện tại.

Getty Images/Chính phủ Philippines
Chụp lại hình ảnh,Hình chụp ngày 24/3 cho thấy tàu Trung Quốc neo đậu tại Bãi Ba Đầu thuộc cụm Sinh Tồn trong quần đảo Trường Sa

Hôm 6/4, Đài Phát thanh quốc tế Trung Quốc dẫn lời Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Triệu Lập Kiên nói rằng “bãi đá Ngưu Ách và các vùng biển lân cận luôn là nơi tác nghiệp quan trọng và nơi tránh gió của tàu cá Trung Quốc, các tàu cá Trung Quốc tác nghiệp và tránh gió tại đó là hợp lý và hợp pháp…”. Ngưu Ách là tên mà Trung Quốc dùng để gọi Bãi Ba Đầu.

Dù Trung Quốc luôn nói rằng tàu cá của họ chỉ tránh gió, nhưng truyền thông Việt Nam và giới chức Philippines cho rằng đây là các tàu “dân quân biển” và việc tàu đậu nhiều ngày ở đây là có ý đồ tăng cường sự hiện diện, tiến dần tới chiếm đóng trên thực tế. Phía chính quyền Philippines đã liên tục lên tiếng phản đối và điều phương tiện ra khu vực này. Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng đã chính thức phản đối.

Biển Đông: Trung Quốc và Philippines khẩu chiến vụ đá Ba Đầu

Philippines cho phi cơ quân sự theo dõi tàu TQ ở Biển Đông

“Việc Trung Quốc tập trung tàu cá ở Ba Đầu, và sau đó là Ken Nan cho thấy khả năng của nước này trong việc triển khai lực lượng trên thực tế, và thông qua đó cho thấy khả năng kiểm soát của Trung Quốc trên thực địa,” chuyên gia Nguyễn Thế Phương đánh giá. Theo ông Phương, cụm đảo Sinh Tồn là không gian tranh chấp giữa Việt Nam, Philippines và Trung Quốc trong đó Việt Nam có 4 điểm đảo và Trung Quốc chiếm giữ 2. Tuy nhiên, cả về cơ sở hạ tầng lẫn độ sâu về lực lượng và công nghệ, Trung Quốc là bên có lợi thế lớn hơn cả.

“Bất kể việc các tàu cá neo đậu ở cụm Sinh Tồn thuộc dân quân biển hay thuần dân sự, sự hiện diện áp đảo của Trung Quốc là không thể bàn cãi,” ông Phương nói.

Chuyên gia của Dự án Đại Sự Ký Biển Đông cho rằng, xét về mặt chiến lược, với Trung Quốc, lý tưởng nhất là phải kiểm soát cho được toàn bộ Trường Sa. Cụm Sinh Tồn là điểm mà họ chưa hoàn toàn kiểm soát 100%. Nếu trong trường hợp Trung Quốc cải tạo Ba Đầu thành một căn cứ mạnh, có sân bay hay bến cảng thì thứ nhất, Ba Đầu sẽ giúp Trung Quốc có khả năng kiểm soát 100% cụm Sinh Tồn theo hướng Bắc-Nam, do tất cả các tàu muốn vào cụm này phải đi qua một eo nhỏ phía tây nam Ba Đầu.

Google Maps
Chụp lại hình ảnh,Vị trí Bãi Ba Đầu trong cụm Sinh Tồn

Thứ hai là tạo thành một cứ điểm hậu cần lớn tiếp theo ngoài Gạc Ma để Trung Quốc có thể triển khai lực lượng ra xung quanh, bổ sung nguồn lực cho Tư Nghĩa, và là điểm hỗ trợ cho Vành Khăn. Thứ ba, khi có xung đột Trung Quốc có thể vô hiệu hóa nhanh hơn các cụm cứ điểm của Việt Nam ở xung quanh, nhất là Sinh Tồn Đông.

Dù vậy, ông Phương đánh giá rằng khả năng Trung Quốc tiến hành xây dựng đảo nhân tạo ở Ba Đầu hiện tại là không cao, vì như vậy sẽ làm gia tăng căng thẳng tới mức không cần thiết, nhiều khi sẽ vượt qua lằn ranh đỏ của Việt Nam.

“Khả năng cao nhất vẫn là tăng cường hiện diện và kiểm soát thực tế, như những gì mà Trung Quốc đã làm ở Scarborough. Đây là nguy cơ thường trực,” chuyên gia Nguyễn Thế Phương nói.

Dù vậy, ông Phương cho rằng không thể loại trừ bất kỳ kịch bản nào và cần phải tiếp tục theo dõi các động thái tiếp theo trong tương lai.

“Dù lý do là gì, là ngẫu nhiên hay không, thì vị thế của Ba Đầu rõ ràng là quan trọng,” ông nói.

Việt Nam ‘bất lợi’ về mặt truyền thông

Trong câu chuyện căng thẳng ở Bãi Ba Đầu, Philippines là quốc gia lên tiếng sớm, mạnh mẽ, liên tục và có các động thái tích cực nhất, như điều tàu thủy, máy bay ra giám sát động tĩnh. Nước này cũng tuyên bố mỗi ngày đều sẽ ra công hàm phản đối đến khi nào tàu Trung Quốc rút đi.

Phản ứng của Philippines đã khiến Mỹ chú ý. Trong cuộc điện đàm với Ngoại trưởng Teodoro Locsin của Philippines vào tuần trước, Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken nhấn mạnh rằng hiệp ước tương trợ quốc phòng giữa Washington và Manila có thể áp dụng cho vấn đề Biển Đông. Cùng thời gian, đội tàu sân bay USS Theodore Roosevelt đã đến Biển Đông.

Tập trận chung diễn ra sau căng thẳng giữa Philippines và Trung Quốc tại một khu vực thuộc EEZ của Philippines.
Chụp lại hình ảnh,Tập trận chung của Mỹ và Philippines diễn ra sau căng thẳng giữa Philippines và Trung Quốc tại khu vực bên trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines.

Trong khi đó, dù được coi là nước có cơ sở pháp lý mạnh đối với chủ quyền Bãi Ba Đầu, Việt Nam lại phản ứng chậm và không rầm rộ như Philippines. Chuyện xảy ra từ đầu tháng 3, nhưng sau đó nhiều ngày Bộ Ngoại giao Việt Nam mới lên tiếng, sau Philippines rất nhiều.

Philippines luôn truyền thông rộng rãi các hoạt động của tàu và máy bay tại vùng Bãi Ba Đầu để gây áp lực đối với Trung Quốc và đánh động dư luận quốc tế thì Việt Nam lại tỏ ra kín tiếng trong các hoạt động thực địa trong vụ căng thẳng này.

Mãi đến ngày 25/3, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng mới khẳng định tàu cá Trung Quốc ở Bãi Ba Đầu đã xâm phạm chủ quyền Việt Nam, vi phạm quy định của UNCLOS 1982 về hoạt động của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải quốc gia ven biển và đi ngược lại Tuyên bố về ứng xử các bên trên Biển Đông (DOC).

Ngày 8/4, bà Lê Thị Thu Hằng nói: “Các cơ quan chức năng Việt Nam luôn theo dõi sát diễn biến trên Biển Đông, bảo vệ và thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền trên các vùng biển, phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982.”

Philippines tập trận cùng Hoa Kỳ

Mỹ cảnh báo Bắc Kinh về việc sử dụng vũ lực ở Biển Đông

“Việc Việt Nam chậm trễ trong phát ngôn gây ra bất lợi, ít nhất là về mặt truyền thông, khi báo đài và các học giả quốc tế đề cập tới vấn đề này dựa trên thông tin và hình ảnh được phía Philippines đưa ra. Điều này vô tình làm xói mòn nỗ lực khẳng định chủ quyền của Việt Nam ở cụm Sinh Tồn nói chung và Ba Đầu nói riêng,” chuyên gia Nguyễn Thế Phương đánh giá.

Tranh chấp Trường Sa là chủ đề dễ khơi dậy tinh thần chống Trung Quốc tại Việt Nam
Chụp lại hình ảnh,Tranh chấp Trường Sa là chủ đề dễ khơi dậy tinh thần chống Trung Quốc tại Việt Nam (Ảnh minh họa)

Theo ông Phương, cho tới hiện nay, hải quân và cảnh sát biển Việt Nam vẫn hoạt động tích cực tại các khu vực biển có tranh chấp. Đây là điều mà Việt Nam vẫn làm thường xuyên.

“Tuy nhiên, ở đây có hai điều cần lưu ý. Thứ nhất là tương quan lực lượng bất cân xứng khiến cho các biện pháp của Việt Nam đa số vẫn mang tính phản ứng nhiều hơn là chủ động. Thứ hai, Việt Nam không thường xuyên công khai các hoạt động bảo vệ chủ quyền ở Trường Sa nói riêng và Biển Đông nói chung. Trong một số trường hợp, điều này gây bất lợi cho công tác truyền thông,” ông Phương đánh giá.

Chuyên gia Dự án Đại Sự Ký Biển Đông cũng cho rằng chính phủ Việt Nam cần phải chủ động hơn nữa trong công tác nắm bắt thực địa, công tác dự báo, công tác trinh sát và kiểm soát, và cuối cùng là công tác truyền thông, đặc biệt là với đối tác quốc tế. Điều này có lợi nhiều hơn là có hại.

“Bài học về việc Trung Quốc tiến hành bồi đắp các đảo nhân tạo ở Trường Sa mà không ai dự báo và ngăn chặn được là một bài học nhãn tiền,” ông Phương cảnh báo.

Categories: Uncategorized | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.