Daily Archives: May 15, 2021

Tháng 5 xuất hiện ‘siêu trăng máu’, báo hiệu điềm chẳng lành?

San San | DKN 14/05/2021

"Siêu trăng máu" sẽ xuất hiện vào tháng 5, người xưa hóa giải thiên tượng này như thế nào?
Ảnh minh họa: Jerry Ling / Unsplash.

Trước hiện tượng ‘siêu trăng máu’ sẽ xuất hiện vào ngày 26/5 năm nay, nhà thiên văn học ở thành phố Đài Bắc thuộc Đài Loan cho rằng: theo như sách cổ ghi chép thì “siêu trăng máu” xuất hiện báo hiệu điềm chẳng lành… 

Trong truyền thuyết cổ đại của Trung Quốc, “trăng máu” tượng trưng cho hiện tượng thiên thể gặp nguy hiểm, sợ rằng sẽ có thiên tai nhân họa. Trong “Kinh Thánh” ghi lại những lần xuất hiện trăng máu, phần lớn là báo hiệu sự xuất hiện của đại nạn xã hội. Trong lịch sử Trung Quốc cũng ghi lại nhiều lần đại nạn phát sinh đều là sau khi có xuất hiện hiện tượng thiên văn “trăng máu”. 

Lần xuất hiện “siêu trăng máu” gần đây nhất là 3 năm trước, lần tiếp theo sẽ là 2 năm sau. Tuy nhiên, có rất nhiều truyền thuyết trong quá khứ về sự xuất hiện của siêu trăng máu mang đến những thảm họa lớn. Khi hiện tượng thiên văn trăng máu xuất hiện, thế giới thường phát sinh những sự vụ vô cùng nghiêm trọng. Ví dụ, cảnh tượng trăng máu xảy ra vào ngày 15/4/2014, hôm sau phà Sewol của Hàn Quốc bị lật dẫn tới cái chết của 304 người, gây chấn động thế giới. Trăng máu xuất hiện năm 2003, sau đó là bùng phát dịch SARS ở Quảng Đông, Trung Quốc. Sự hiện diện của trăng máu vào năm 1949, ngay sau đó nhà nước Israel thành lập. Trăng máu xuất hiện vào năm 1967, tiếp theo là nổ ra cuộc chiến tranh kéo dài 6 ngày giữa Israel và các nước Ả Rập.

Thiên tượng trăng máu được ghi lại trong “Kinh Thánh” chủ yếu là dấu hiệu báo trước của thảm họa. Tại Đài Bắc, sau khi chứng kiến sự hiện diện của trăng máu, 3 ngày sau tàu hỏa của Đài Loan bị trật bánh khiến ít nhất 50 người thiệt mạng. 

Hiện tượng “trăng máu” sắp diễn ra vào ngày 26/5 và đây cũng là siêu trăng thứ hai trong năm nay, được gọi là “Siêu trăng máu”. Theo NASA, siêu trăng có nguồn gốc từ chiêm tinh học và dùng để chỉ trăng tròn và trăng non có đường kính nhìn thấy ​​lớn hơn khi đi qua vùng cận nhật. Trăng máu là tên gọi chung của hiện tượng thiên văn “nguyệt thực toàn phần”. Lúc này trăng tròn sẽ đi vào vùng bóng của mặt trời chiếu sáng trái đất khiến cho mặt trời, mặt trăng và trái đất tạo thành một đường thẳng. Ánh sáng của các màu khác trong quang phổ mặt trời bị tán xạ bởi khí quyển và chỉ có ánh sáng đỏ có thể đi xuyên qua khúc xạ chiếu lên mặt trăng, do vậy mặt trăng mới có màu đỏ cam. 

Tuy nhiên, quá khứ có rất nhiều truyền thuyết nói về “trăng máu”. Tại Trung Quốc cổ đại, ngoài truyền thuyết “Thiên cẩu thực nhật nguyệt”, người ta tin rằng khi trăng máu xuất hiện là thời khắc âm khí nặng nhất. Vì vậy mà nhiều người nói rằng “nhìn trăng máu thấy yêu nghiệt”. Cũng có sách ghi lại, trăng máu xuất hiện là điềm báo hung hiểm, có thể theo sau sẽ là thiên tại nhân họa, thế giới hỗn loạn. 

Đối với văn hóa phương Tây, sách “Kinh Thánh” của Giô-ên cũng có lời tiên tri về sự xuất hiện thiên tượng “trăng máu”. “Trước ngày Đức Giê-hô-va đến là thời điểm vô cùng đáng sợ, mặt trời sẽ biến thành u ám và mặt trăng sẽ biến thành máu”. Điều này cũng được đề cập trong sách Kinh Khải huyền: “Khi phong ấn thứ sáu được mở ra, tôi lại thấy mặt đất rung chuyển, mặt trời biến thành màu đen và mặt trăng tròn chuyển sang màu đỏ như máu”. Trong các tài liệu đều nói đến khi trăng máu xuất hiện là dấu hiệu báo trước “sự biến động của thế giới ”.

Vào tối ngày 29/3, một số người dân ở khu vực Đài Bắc chứng kiến ​​hiện tượng “mặt trăng màu đỏ”, khi đó, nhà khí tượng học Bành Khải Minh cũng đã đưa ra một bài báo giải thích rằng nguyên nhân chính dẫn đến trăng đỏ là do “Mễ thị tán xạ”, vì các chất ô nhiễm trôi về phía Bắc và PM2.5 – hạt bụi trong không khí cùng vật thể như sương mù trôi nổi rất nhiều. Hiện tượng này khiến cho mặt trăng thoạt nhìn có màu đỏ và tối. So với việc ngồi đó lo lắng thì việc cố gắng làm tốt công tác phòng chống quan trọng hơn. Tuy nhiên, ba ngày sau khi trăng máu xuất hiện, tàu Taroko trên đường sắt Đài Loan bị trật bánh gây ra vụ tai nạn nghiêm trọng, khiến người dân vô cùng đau lòng. 

Cha con Lang Nghị thông thạo thiên văn khuyên hoàng đế cải tà quy chính

Vào thời nhà Hán, cha của Lang Nghị là Lang Tông, tên hiệu Trọng Tuy, là người giỏi quan sát các hiện tượng thiên văn để dự đoán chuyện tốt xấu trong thiên hạ. Thời Hán An Đế, Lang Tông đảm nhiệm chức vụ huyện lệnh huyện Ngô. Thời điểm đó trời thường xuyên nổi giông bão, Lang Tông dự đoán rằng kinh thành sắp xảy ra hỏa hoạn, vì thế ông đã sai người ghi lại thời điểm và cho người đến nơi xem xét, kết quả đúng như những gì ông đã dự báo. Sau đó sự việc này đến tai hoàng đế, hoàng đế muốn mời ông về kinh phò tá nhưng Lang Tông cho rằng dùng việc dự đoán trước sự tình đổi lấy công danh là điều đáng xấu hổ. Vì vậy, ông đã treo ấn từ quan, nửa đêm rời khỏi huyện nha và từ đó về sau không ra làm quan nữa. 

Lang Nghị kế thừa sự nghiệp của cha, ông cũng tinh thông việc xem thiên tượng. Thời Hán Thuận Đế thường xuyên phát sinh thiên tai cùng hiện tượng dị thường, triều đình cho mời Lang Nghị đi xem xét tình hình. Lang Nghị đã dâng tấu nói ra nguyên nhân trời báo dị tượng, đất có tai họa, đây là Thượng Thiên nhắc nhở đế vương, muốn đế vương tu chính lại bản thân, bồi dưỡng đạo đức, thì mọi chuyện lại trở về bình thường. Trong tấu dâng lên hoàng đế, lời lẽ của Lang Nghị hết sức khẩn thiết, ông hy vọng hoàng đế có thể nghe ý kiến của mình, mỗi ngày đều nhìn nhận lại lỗi lầm đã phạm và cố gắng loại bỏ nó… có như vậy thì tai họa cũng được tiêu trừ. Hơn nữa, ông cũng dẫn ra những bằng chứng về việc triều đình chi tiêu hoang phí, không trọng dụng người hiền, thực thi hình phạt quá nặng, quan viên lười nhác phóng túng… Ông còn đưa ra cảnh báo thời điểm lập hạ sẽ phát sinh động đất, đất nứt, nạn hồng thủy tràn lan. 

Sau khi đọc tấu chương, Hoàng đế sai quan Thượng thư đến chất vấn Lang Nghị, đồng thời cũng cảnh báo Lang Nghị, nếu còn nói lời ‘lên lớp’ Hoàng đế thì sẽ có nguy cơ bị chặt đầu. Lang Nghị không vì thế mà cúi đầu khuất phục, ông trình bày rõ ràng mối quan hệ giữa chính sự với Trời và tai họa tại thế gian. Hơn nữa ông còn đưa ra phương pháp hóa giải từng phương diện một. Lang Nghị cũng đưa ra bốn việc có ích mà triều đình nên thực thi, ông nói rằng, nếu triều đình có thể lập tức cải thiện thái độ thì thời điểm lập hạ sẽ có mưa thuận gió hòa, nếu không đúng thì bản thân sẽ dùng cái chết để tạ tội. Lần này đọc tấu chương, Hoàng đế phong cho ông chức quan Lang Trung, tuy nhiên Lang Nghị lại cáo bệnh từ chối, ông rời kinh trở về quê nhà sinh sống. 

Thế gian phát sinh sự việc vi phạm Thiên Ý thì Thượng Thiên sẽ xuất hiện dị tượng hoặc tai họa để cảnh báo

Đáng tiếc, trước những lời khuyên của Lang Nghị, triều đình không sửa chữa những lỗi lầm của mình, việc cải thiện triều chính cũng không có khởi sắc. Tháng 4 năm đó quả nhiên xuất hiện động đất khiến đất sụt lún, mùa hè không có mưa gây nên hạn hán, tới mùa thu thì tộc Tiên Ti xâm lấn thành ấp. Năm sau, Tây Khương xâm lấn Lũng Tây. Các sự việc này không khác mấy so với những gì Lang Nghị từng tiên đoán từ trước đó. Sau này triều đình lại cho mời Lang Nghị ra diện kiến nhưng ông đã từ chối. 

Thiên tượng thay đổi, tương ứng với nó thì ở mặt đất cũng phát sinh biến hóa. Nếu như người thế gian vi phạm Thiên Ý thì Thượng Thiên sẽ dùng thiên tai hoặc xuất hiện dị tượng để cảnh báo. Nếu con người không kịp thời sửa chữa lỗi lầm, Trời sẽ giáng xuống tai họa lớn hơn để trừng phạt.

Người xưa chịu ảnh hưởng của văn hóa Thần truyền, kính Trời biết mệnh, có rất nhiều người biết xem thiên tượng, họ không màng danh lợi, thừa lệnh của Thượng Thiên mà truyền đạt tin tức đến cho con người. Trong triều đình thuở xưa cũng có các ban như “Tư Thiên giám”, “Khâm Thiên giám”… chuyên đảm nhiệm công việc này. 

Theo Vision Times
San San biên dịch

Có thể bạn quan tâm:

Categories: Uncategorized | Leave a comment

Lực lượng dân binh biển Trung Quốc

quehuong15.5.210 Facebook Twitter Google+> https://www.baoquocdan.org/2021/05/luc-luong-dan-binh-bien-trung-quoc.html” rel=”noreferrer noopener” target=”_blank”>

Nhập nhằng về pháp lý, mơ hồ về chức danh, tinh vi về chiến thuật

Thứ năm, 13 Tháng 5 2021

Sơ đồ cơ chế chỉ huy các lực lượng dân binh biển Trung Quốc

a1

Nguồn: Conor M. Kennedy and Andrew S. Erickson, “Hainan’s Maritime Militia: China Builds a Standing Vanguard”

“Núp bóng” dưới tấm bình phong “tàu cá dân sự” hay cái “mác” là “dân thường”, lực lượng dân binh biển của Trung Quốc “tha hồ” quấy rối hoặc đe dọa các tàu dân sự, tàu quân sự của nước ngoài; kết hợp với hải quân, cảnh sát biển để hình thành các thế trận “nhiều lớp” nhằm giúp Trung Quốc thực thi yêu sách trái phép của nước này trên Biển Đông.

Dân binh biển Trung Quốc là một vấn đề đang thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế thời gian gần đây bởi lực lượng này đang hằng ngày “tung hoành” trên Biển Đông, giúp Trung Quốc thực thi trái phép các yêu sách chủ quyền, xong lại được “núp bóng” dưới tấm bình phong “tàu cá dân sự” hay cái “mác” là “dân thường”. Dưới tấm bình phong đó, lực lượng dân binh biển của Trung Quốc “tha hồ” quấy rối hoặc đe dọa các tàu dân sự, tàu quân sự của nước ngoài; kết hợp với hải quân, cảnh sát biển để hình thành các thế trận “nhiều lớp” nhằm giúp Trung Quốc thực thi yêu sách trái phép của nước này trên Biển Đông. Điều đáng lo ngại là, với phạm vi rộng, tính chất hoạt động “biến hóa khôn lường”, song, với cái “mác” là “dân thường”, Trung Quốc sẽ luôn phủ nhận sự “nhúng tay” của chính quyền vào các sự vụ trên thực địa, đồng thời, các nước cũng không thể “xử lý” lực lượng này như lực lượng vũ trang trong các tình huống cụ thể. Bài viết dưới đây sẽ thử “giải mã” lực lượng này của Trung Quốc dưới góc nhìn từ cả phía Trung Quốc và các nước phương Tây.

Có hay không sự tồn tại lực lượng dân binh biển Trung Quốc?

Trung Quốc từ trước tới nay chưa từng thừa nhận có sự hiện diện của lực lượng dân binh biển (海上民兵) theo cách hiểu của các nước phương Tây. Soi xét lại các văn kiện, tài liệu chính thống của Trung Quốc có thể thấy rõ điều này.

Theo Điều lệ công tác Dân binh định nghĩa, “dân binh Trung Quốc là lực lượng vũ trang quần chúng không thoát ly sản xuất, do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo; là một bộ phận của lực lượng vũ trang CHND Trung Hoa và là lực lượng trợ giúp, dự bị của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc”.[1][1]

Theo Điều 22 Chương 3 trong Luật Quốc phòng sửa đổi năm 2020, có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 của Trung Quốc quy định, lực lượng vũ trang của Trung Quốc gồm 3 lực lượng: Quân giải phóng (PLA), lực lượng vũ trang nhân dân và lực lượng dân binh[2][2].

Tương tự như vậy, trong Sách trắng Quốc phòng Trung Quốc trước năm 2010 cũng chỉ nhắc đến lực lượng dân binh theo nghĩa “dân quân tự vệ” được thành lập và làm nghĩa vụ ở các địa phương. Đến năm 2010, Sách trắng Quốc phòng Trung Quốc mới lần đầu tiên đặt ra nhiệm vụ “tập trung tăng cường xây dựng lực lượng dân binh phòng thủ biên giới và vùng biển” lên hàng đầu trong Sách trắng Quốc phòng (Chương 5)[3][3]. Đây là mốc mới nhất cho thấy Trung Quốc đẩy mạnh xây dựng và sử dụng lực lượng mà quốc tế vẫn gọi là “dân binh biển của Trung Quốc”.

Như vậy, có thể thấy, trong các văn kiện chính thức của Trung Quốc không đề cập đến lực lượng mang tên “dân binh biển” mà chỉ có lực lượng “dân binh” nói chung, hay lực lượng “dân binh làm nhiệm vụ phòng thủ biên giới đất liền và biển”. Nói cách khác, lực lượng “dân binh biển” theo cách hiểu của Trung Quốc chỉ là lực lượng “dân thường” (dân quân tự vệ) tham gia vào hoạt động sản xuất, đánh bắt cá, có trách nhiệm bảo vệ chính quyền, bảo vệ tài sản của nhân dân và Nhà nước. Theo đó, ở các tỉnh ven biển của Trung Quốc sẽ đều có các Tiểu đội dân binh hoạt động trên biển với chức năng và nhiệm vụ như được quy định trong Điều lệ Công tác Dân binh Trung Quốc.

Ngược lại với sự phủ nhận của Trung Quốc, các nghiên cứu của phương Tây đa phần đều có chung đánh giá dân binh biển Trung Quốc là một tổ chức vũ trang lớn chủ yếu bao gồm ngư dân và những người đi biển thuộc khu vực kinh tế dân sự, được huấn luyện và được điều động để phòng thủ hoặc nâng cao khả năng bảo vệ “quyền và lợi ích hàng hải” của Trung Quốc, và hỗ trợ cho hải quân trong thời gian có chiến tranh.

Năm 2017, Bộ Quốc phòng Mỹ đã công bố một nghiên cứu khá toàn diện về lực lượng này trong Báo cáo thường niên về sức mạnh quân sự của Trung Quốc. Lầu Năm Góc cho rằng, lực lượng dân binh biển được sử dụng để thực thi các yêu sách hàng hải và thúc đẩy lợi ích của Trung Quốc với mức độ được tính toán để nằm dưới ngưỡng có thể gây ra xung đột[4][4]. Trong Báo cáo năm 2018, Bộ Quốc phòng Mỹ cho biết, lực lượng dân binh biển đóng vai trò chính trong các hoạt động cưỡng chế nhằm đạt được các mục tiêu chính trị của Trung Quốc mà không cần gây ra xung đột vũ trang[5][5].

Theo ông Derek Grossman, nhà phân tích của RAND, khái niệm về lực lượng dân quân biển Trung Quốc khởi nguồn từ ngay sau khi CHND Trung Hoa thành lập và bắt đầu xây dựng lực lượng phòng thủ bờ biển. Từ khi đó, chính phủ Trung Quốc đã tài trợ và đào tạo một lực lượng dân quân hàng hải còn sót lại từ chế độ cũ. Một vài năm sau, việc tập thể hóa nghề cá địa phương đã tạo thêm một lớp kiểm soát mới của nhà nước đối với dân quân biển. Cũng theo ông Derek Grossman, trong những năm 1960, khi Hải quân phát triển, lực lượng này đã huấn luyện dân binh biển Trung Quốc các chiến thuật cũng như hoạt động quân sự và sử dụng lực lượng này trong nhiều nhiệm vụ của Hải quân.[6][6]

Cùng quan điểm trên, trong Báo cáo của Conor Kennedy và Andrew Erickson, hai chuyên gia quân sự hàng đầu của Mỹ cũng đánh giá “dân binh biển Trung Quốc là một lực lượng được nhà nước tổ chức, phát triển và kiểm soát, hoạt động theo một chuỗi chỉ huy quân sự trực tiếp để tiến hành các hoạt động do nhà nước Trung Quốc bảo trợ”[7][7]. Ông Carl Schuster, cựu Giám đốc điều hành tại Trung tâm tình báo chung của Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ cũng cho rằng, “lực lượng dân binh Trung Quốc không đánh cá. Lực lượng này có vũ khí tự động trên tàu và thân tàu được gia cố chắc chắn, nên rất nguy hiểm khi ở cự ly gần. Ngoài ra, tàu của dân binh biển Trung Quốc có tốc độ tối đa khoảng 18-22 hải lý/giờ, nhanh hơn 90% tàu đánh cá trên thế giới”[8][8].

Tóm lại, mặc dù Trung Quốc không chính thức thừa nhận có lực lượng mang tên “dân binh biển” mà chỉ gọi chung là “dân binh phòng thủ biên giới biển và đất liền”, song trên thực tế dân binh biển đã là một bộ phận trực thuộc lực lượng vũ trang và chiến lược quốc phòng Trung Quốc kể từ khi nước CHND Trung Hoa được thành lập năm 1949. Từ năm 2009-2010, với việc Trung Quốc chính thức công khai yêu sách đường lưỡi bò, Mỹ tuyên bố quay trở lại khu vực Châu Á, khi đó, Trung Quốc đẩy mạnh phát triển lực lượng này như một biện pháp thúc đẩy chiến lược biển của Trung Quốc. Nói cách khác, lực lượng dân binh biển Trung Quốc là một phần trong lực lượng dân binh Trung Quốc, với một số đặc thù riêng. Ngoài ra, lực lượng dân binh trên biển của Trung Quốc cũng được ẩn danh dưới nhiều tên gọi khác nhau như tàu cá, lực lượng bảo vệ bờ biển… nhưng tính chất hoạt động cơ bản giống nhau, hoặc đan xen nhiều chức năng trong nhau nhằm mục đích che mắt cộng đồng quốc tế nhưng vẫn đạt được ý đồ của mình.

Nhiệm vụ dân binh biển Trung Quốc: “vô danh hữu thực”

Vì Trung Quốc không chính thức công khai thừa nhận lực lượng dân binh trên biển nên không có văn bản quy định cụ thể nhiệm vụ, chức năng của lực lượng này. Nhiệm vụ của lực lượng này được nằm trong quy định về lực lượng dân binh Trung Quốc nói chung.

Theo Điều 22 Luật Quốc phòng sửa đổi của Trung Quốc năm 2020, có hiệu lực từ năm 2021, dưới sự chỉ huy của cơ quan quân sự, lực lượng dân binh Trung Quốc có nhiệm vụ “sẵn sàng chiến đấu, thực hiện các hoạt động quân sự phi chiến tranh và tác chiến phòng vệ”.[9][9] Theo Sách trắng về Quốc phòng năm 2010, lực lượng dân binh của Trung Quốc hiện có khoảng hơn 8 triệu người, đã tham gia tích cực vào các hoạt động như chống khủng bố, duy trì ổn định, ứng cứu khẩn cấp, cứu trợ thiên tai thảm họa, bảo vệ và kiểm soát biên giới, bảo vệ an ninh công,… và nhiều nhiệm vụ quân sự đa dạng khác. Trong Sách trắng Quốc phòng về Đa dạng hóa các lực lượng vũ trang Trung Quốc năm 2013 cũng ghi nhận, lực lượng dân binh của Trung Quốc đã “tích cực tham gia vào các hoạt động liên hiệp quân đội – công an – dân binh ở vùng biên giới và ven biển […] quanh năm làm nhiệm vụ tuần tra ở các vùng biên giới và ven biển Trung Quốc”[10][10].

Liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ của lực lượng dân binh biển, mặc dù không được quy định trong các văn kiện chính thức, song trong trả lời báo chí của Trung tướng Thịnh Bân, Bộ trưởng Bộ Động viên Quốc phòng, Quân ủy Trung ương Trung Quốc ngày 9/3/2016 cho thấy, lực lượng dân binh biển của Trung Quốc được chia ra thành 4 loại có quyền hạn và chức năng từ thấp đến cao gồm: (i) dân binh biển phổ thông; (ii) dân binh phòng vệ biên giới và biển; (iii) dân binh ứng phó tình huống khẩn cấp; và (iv) dân binh dự bị kiểu mới. Trong đó:

(i) lực lượng dân binh biển đầu tiên là lực lượng dân binh phổ thông. Theo  Luật Nghĩa vụ quân sự Trung Quốc, dân binh Trung Quốc được chia thành 2 loại chính là dân binh nòng cốt và dân binh phổ thông, trong đó dân binh nòng cốt là những người đã được huấn luyện quân sự; còn dân binh phổ thông là những thanh niên thuộc diện nghĩa vụ quân sự thông thường[11][11]. Lực lượng này tập trung làm các nhiệm vụ sản xuất thường thấy ở các tỉnh ven biển như ra khơi đánh cá và tham gia theo dõi an ninh cảng biển, khi cần có thể được huy động vào các nhiệm vụ tìm kiếm, cứu nạn…

(ii) lực lượng dân binh phòng vệ biên giới và biển: lực lượng này đã có sự tuyển chọn kỹ lưỡng hơn, là những cá nhân bên cạnh nhiệm vụ sản xuất đánh bắt thông thường còn bước đầu được huấn luyện và tham gia vào các nhiệm vụ như tuần tra, theo dõi giám sát, vận chuyển hoặc một số nhiệm vụ nhạy cảm hơn như hậu cần trong các chiến dịch của quân đội hay xây dựng đảo.

(iii) và (iv) lực lượng thứ ba và thứ tư là lực lượng ứng phó trong các tình huống khẩn cấp và lực lượng dự bị kiểu mới, đây là 2 lực lượng với chức năng và nhiệm vụ linh hoạt và biến hóa khôn lường hơn.

Theo học giả Trung Quốc phân tích, lực lượng dân binh biển của Trung Quốc sẽ phát huy vai trò quan trọng trong các tình huống khẩn cấp trên biển đặc biệt là trong giai đoạn mới xảy ra sự vụ cần vận động lực lượng khẩn cấp trên biển; ngoài ra, trong một số sự vụ khác, lực lượng dân binh sẽ được huy động để làm nhiệm vụ “câu giờ” trong khi chờ chính quyền Trung Quốc huy động lực lượng.[12][12]

Còn theo các nghiên cứu của phương Tây, lực lượng dân binh biển Trung Quốc đóng vai trò chèn ép, cưỡng bức các nước láng giềng để đạt được các mục tiêu chính trị của Trung Quốc mà không cần chiến tranh, là một trong những công cụ quan trọng trong chiến lược cải bắp (cabbage strategy) của Bắc Kinh, trong đó, khi có một vụ việc trên biển xảy ra, dân binh biển và ngư dân sẽ được triển khai ở vòng trong cùng và là lớp thứ nhất, cảnh sát biển là lớp thứ hai, hải quân là lớp ngoài cùng.

Các nghiên cứu phương Tây chỉ ra rằng, rất nhiều vụ việc đã cho thấy sự tham gia một cách có hệ thống của lực lượng dân binh biển Trung Quốc vào nhiều sự cố trên  Biển Đông và Biển Hoa Đông, như việc Trung Quốc chiếm giữ phần phía Tây quần đảo Hoàng Sa từ Việt Nam Cộng Hoà năm 1974; năm 1978 tràn vào lãnh hải của Quần đảo Senkaku; năm 1995 lấy cớ xây chòi trú ngụ cho ngư dân để chiếm đóng bãi Vành Khăn mà Philippines đang chiếm đóng (trái phép); quấy rối, ngăn cản tàu USNS Impeccable (2009) và tàu USNS Howard O. Lorenzen (2014) của Mỹ; năm 2012, 2013 quấy rối các tàu khảo sát địa chấn Bình Minh và Viking của Việt Nam; năm 2012 tham gia vào việc tạo cớ để hải quân Trung Quốc chiếm giữ bãi Scarborough từ Philippines; năm 2014, hàng trăm tàu dân binh đã phong tỏa bãi cạn Cỏ Mây mà Philippines đang chiếm đóng; cũng năm 2014, dân binh Trung Quốc tham gia ngăn cản các tàu Cảnh sát biển và Ngư chính của Việt Nam cản phá Giàn khoan HD981 xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, và gần đây nhất là sự hiện diện của hàng trăm tàu dân binh Trung Quốc ở khu vực Đá Ba Đầu.[13][13]

Mặc dù không thừa nhận sự hiện diện của lực lượng dân binh biển trong việc thực thi yêu sách chủ quyền trái phép trên Biển Đông, song truyền thông Trung Quốc cũng gián tiếp “để lộ” những thông tin cho thấy sự can dự của lực lượng này vào cơ chế kiểm soát Biển Đông của Trung Quốc. Khi nêu những tấm gương dân binh biển điển hình, truyền thông Trung Quốc đã ca ngợi ông Vương Thư Mậu, Phó đội trưởng của liên đội dân binh trên biển thuộc huyện Đàm Môn, tỉnh Hải Nam, Trung Quốc. Theo bài báo, trong thời gian làm nhiệm vụ, ông Vương đã tham gia xây dựng tại một số thực thể trên Biển Đông như Gạc Ma, Châu Viên,… Ngoài ra, ông Vương còn đảm trách việc điều phối lực lượng tàu vận chuyển nguyên vật liệu ra các thực thể Trung Quốc xây dựng trên Biển Đông; đưa và chỉ đạo dân binh trong việc “đấu tranh” với các tàu thuyền nhập cảnh “trái phép”. Năm 2012 trong cuộc đối đầu với tàu thuyền nước ngoài, ông này cũng chỉ huy đội dân binh biển cho đến khi các tàu nước ngoài rút hẳn. Năm 2014, khi hoạt động của giàn khoan Trung Quốc bị tàu nước ngoài can thiệp, ông Vương đã dẫn lực lượng dân quân biển ra hiện diện ở khu vực sự cố, tuyên bố chủ quyền đồng thời xua đuổi tàu thuyền nước ngoài.[14][14]

Sự chỉ đạo thống nhất từ trên xuống dưới và cơ chế chỉ đạo kép đối với lực lượng dân binh biển Trung Quốc

Với vai trò là “dân”, dân binh thuộc quản lý hành chính trực tiếp của một địa phương nào đó, như Hải Nam đối với dân binh biển hoạt động ở Biển Đông. Với vai trò là “binh”, dân binh thuộc quản lý gián tiếp của Quân uỷ Trung ương thông qua hệ thống các Ban điều động quốc phòng Quốc gia Trung Quốc và hệ thống Ban này ở các Tỉnh. Ban điều động quốc phòng Quốc gia và hệ thống ban này tại các tỉnh là cơ chế mới được Quân uỷ trung ương Trung Quốc thiết lập sau đợt cải tổ quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc năm 2016 nhằm theo dõi và quản lý việc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng tại các địa phương, bao gồm cả việc điều động.

Sơ đồ dưới đây làm rõ cơ chế chỉ huy các lực lượng dân binh trên biển của Trung Quốc

Có thể thấy, các đơn vị dân binh của Trung Quốc chịu sự quản lý trực tiếp của địa phương và gián tiếp của Quân ủy trung ương mà người đứng đầu là Chủ tịch Tập Cận Bình. Ở cấp tỉnh, huyện, xã Trung Quốc đều thành lập các Ban điều động phối hợp với Quân khu các cấp và chính quyền địa phương các cấp để điều phối hoạt động của dân binh. Ngoài ra, trong các sự vụ cụ thể, lực lượng dân binh sẽ hoạt động dưới sự chỉ huy tạm thời của lực lượng quân cảnh, hải quân và cảnh sát biển Trung Quốc. Điều này cho thấy sự thống nhất từ cấp trung ương đến địa phương trong cách thức chỉ huy lực lượng dân binh; đồng thời cũng có thấy cơ chế kép vừa chịu sự chỉ đạo của lực lượng hải quân, vừa dưới sự chỉ huy của lực lượng cảnh sát biển Trung Quốc trong các sự vụ và tình huống phát sinh trên biển. Nhờ vậy mà lực lượng dân binh biển của Trung Quốc sẽ phát huy hết vai trò và tác dụng trong các sự vụ và là cánh tay nối dài của chính quyền trung ương trong nhiều trường hợp cụ thể trên Biển Đông.

Sự nhập nhằng, ngụy biện, thiếu minh bạch và những tác động tiêu cực tới tình hình Biển Đông

Với những điểm đặc thù trong chức năng, nhiệm vụ và địa vị pháp lý như trên mà lực lượng dân binh trên biển của Trung Quốc đã phát huy vai trò trong chiến lược tằm ăn dâu hay chiến thuật vùng xám trên Biển Đông của Trung Quốc.

Với lực lượng này, Trung Quốc đã có thêm công cụ mở rộng bành trướng, thực thi yêu sách trái phép ở Biển Đông. Trung Quốc có thể sử dụng dân binh để kiểm soát thêm các thực thể có giá trị chiến lược ở Biển Đông mà không cần phải chiếm đóng; quấy rối hoạt động của tàu bè các nước; ngăn cản hoặc phá hoại hoạt động kinh tế trên biển của ngư dân các nước. Những hoạt động này làm tăng tính chất phức tạp của cạnh tranh, xung đột ở trên biển; gia tăng nguy cơ đụng độ, đối đầu cũng như các va chạm không mong muốn, nhất là khi Trung Quốc huy động lực lượng này với số lượng lớn và có mặt gần như “thường trực” ở rộng khắp Biển Đông. Do lực lượng dân binh không có tính chuyên nghiệp, không có hiểu biết chính trị, cơ chế chỉ huy lỏng lẻo hơn nên được cho là dễ gây ra xung đột không mong muốn trên biển hơn.

Để đối phó với chiến thuật vùng xám, các nước trong khu vực cũng sẽ phải có các bước đi mới, chiến thuật mới, có khả năng tiếp tục làm phức tạp hoá tranh chấp Biển Đông. Ví dụ, Philippines mới đây đang kêu gọi phải xây dựng các tiền đồn ở Biển Đông để bảo vệ chủ quyền, nhất là sau vụ Đá Ba Đầu.[15][15] Mỹ tuyên bố sẽ đối xử với tàu dân binh Trung Quốc như tàu hải quân trong các tình huống xung đột.[16][16] Các nước như Mỹ, Nhật… sẽ gia tăng các hoạt động hợp tác tay đôi, tay ba hoặc nhiều bên để đối phó với dân binh Trung Quốc ở cả Hoa Đông và Biển Đông.

Nhóm NCTQ, Viện Biển Đông, Học viện Ngoại giao, Bài viết thể hiện quan điểm của riêng của nhóm tác giả

Categories: Uncategorized | Leave a comment

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔvà Phật Giáo Thời Ðại

…… …. .. . .Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔvà Phật Giáo Thời Ðại Chương một: Dẫn nhập Việt Nam và Phật Giáo đầu thế kỷ hai mươi. Đầu thế kỷ 20, tư tưởng Nho Giáo, thống trị độc tôn đất nước từ Thời Hồ Quý Ly, nhà Lê và nhà Nguyễn suốt 400 năm, hoàn toàn sụp đổ. Tư tưởng Phật Giáo, ngự trị vinh quang trong thời đại Lý Trần từ thế kỷ thứ 11 đến cuối thế kỷ 14, suy đồi tận gốc. Tư tưởng Tây Phương và tôn giáo của nó, Thiên Chúa Giáo La Mã, bị đại đa số trí thức và nhân dân coi như sản phẩm và công cụ của chế độ Thuộc Địa và thực dân Pháp nên vẫn không được chấp nhận. Ý thức hệ Cộng Sản cũng như các tư tưởng mới khác chưa ra đời. Cả một khoảng trống tư tưởng, cũng có nghĩa là một khoảng trống tôn giáo và chính trị, to lớn bao trùm trên một nước Việt Nam bị nô lệ, bóc lột, áp bức, lạc hậu và nghèo đói. Nhưng đây cũng là môi trường lý tưởng cho sự ra đời của những tư tưởng mới, những tôn giáo mới, những chính đảng mới và những phong trào mới: Phong trào Đông Du và Việt Nam Duy Tân Hội của Phan Bội Châu từ năm 1904, Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can và các nhà Nho tiến bộ năm 1907, tư tưởng dân quyền và dân chủ của Phan Chu Trinh suốt hai mươi năm (1905-1925), phong trào chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908, vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội cùng năm, Việt Nam Quang Phục Hội năm 1912, cuộc khởi nghĩa ở Trung Kỳ và ở Huế năm 1916 của Thái Phiên, Trần Cao Vân, Lê Ngung, vua Duy Tân…, phong trào Hội Kín ở miền Nam năm 1913-1916 lan rộng khắp Lục Tỉnh và cuộc tấn công Sài Gòn năm 1916. Các hoạt động này đã liên tục diễn ra từ đầu thế kỷ 20 đến cuối đệ nhất thế chiến.Tuy nhiên mãi đến đầu thập njiên 20 Việt Nam mới thật sự thức dậy với sự ra đời Việt Nam Thanh Niên Cách mạng Đồng Chí Hội và Tân Việt Cách Mạng Đảng năm 1925, Đạo Cao Đài năm 1926, Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1927, Cuộc khởi nghĩa Yên Bái và sự ra đời của Đảng Cộng Sản Đông Dương năm 1930 và phong trào Sô Viết Nghệ Tỉnh 1930-1931. Trong thời gian sôi động này, từ 1925 trở đi, Phật Giáo cũng đã thức dậy. Từ năm 1923, thiền sư Khánh Hòa và thiền sư Thiện Chiếu đã thành lập, tại chùa Long Hòa ở Trà Vinh, Hội Lục Hòa Liên Hiệp với mục đích vận động thành lập một Hội Phật Giáo Việt Nam toàn quốc để chấn hưng Phật Giáo. Thiền sư Thiện Chiếu, khác hẳn tất cả tăng sĩ Phật Giáo đương thời, là một tăng sĩ có tân học. Ông đã đi ra Trung và Bắc vận động thống nhất Phật Giáo năm 1927 nhưng bất thành.Năm 1928 thiền sư Khánh Hòa xây dựng Thích Học Đường và Phật Học Thư Xã tại Chùa Linh Sơn, Sài Gòn và năm 1929 Ông cho ấn hành tạp chí Viên Âm, tập san Phật Học đầu tiên bằng quốc ngữ tại Việt Nam, đặt trụ sở tại chùa Xoài Hột, Mỹ Tho. Cùng thời, thiền sư Thiện Chiếu xuất bản một tạp chí Phật Học nhắm vào giới thanh niên trí thức lấy tên là Phật Hòa Tân Thanh Niên, đặt tòa soạn tại chùa Chúc Thọ ở Gia Định. Năm 1931 thiền sư Khánh Hòa cùng nhiều tăng sĩ và cư sĩ thành lập Hội Phật Học đầu tiên tại Việt Nam, lấy tên là Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học và thiền sư Từ Phong được mời làm Chánh Hội Trưởng. Hội ra tờ Từ Bi Âm năm 1932. Thiền sư Khánh Hòa, cùng người cộng sự thân tín là thiền sư Thiện Chiếu đã đóng vai trò tiền phong khai mở phong trào chấn hưng Phật Giáo và hiện đại hóa Phật Giáo, chuyển động sâu rộng lịch sử Phật Giáo và lịch sử Việt Nam trong suốt 65 năm qua.Tại miền Trung, thiền sư Giác Tiên mở Phật Học Đường  tại chùa Trúc Lâm năm 1929 và ủy thác cho đệ tử là bác sĩ Lê Đình Thám thành lập Hội An Nam Phật Học năm 1932. Hội quy tụ đông đảo những danh tăng và cư sĩ trí thức tại miền Trung. Cư sĩ Lê Đình Thám được bầu làm Hội Trưởng và vua Bảo Đại được mời làm Hội Trưởng Danh Dự. Hội ra tạp chí Phật Học Viên Âm năm 1933. Năm 1934, thiền sư Giác Tiên, cư sĩ Lê Đình Thám… đã thành lập Trường An Nam Phật Học, trong đó có mở cấp Đại Học Phật Giáo. Đặc biệt hơn nữa là Hội đã phát động phong trào “Chỉnh Lý Tăng Già” rất quyết liệt để loại trừ ra khỏi tăng già những thành phần phạm giới, bất xứng. Chính nhờ những nổ lực cấp tiến này mà Phật Giáo miền Trung đã đóng được một vai trò quan trọng trong những thập niên sau đó.Năm 1934 các thiền sư Trí Hải, Tâm Ứng, Tâm Bảo cùng với giới cư sĩ trí thức tên tuổi tại Hà Nội như Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Tố, Dương Bá Trạc, Trần Văn Giáp, Nguyễn Năng Quốc, Nguyễn Hữu Kha, Bùi Kỷ, Lê Dư… thành lập Bắc Kỳ Phật Giáo Hội, bầu cư sĩ Nguyễn Năng Quốc làm hội trưởng và suy tôn thiền sư Thanh Hanh làm Thiền Gia Pháp Chủ. Đặc biệt là trong buổi lễ suy tôn Pháp Chủ này, cư sĩ Trần Trọng Kim đã thuyết pháp về đề tài; “Thập Nhị Nhân Duyên”. Hội ra tạp chí Đuốc Tuệ năm 1935 và phát triển mạnh mẽ khắp miền Bắc (Nguyễn Lang, Phật Giáo Việt Nam Sử Luận, q 3, t 51-173).Đặc tính của cả ba Hội Phật Học tại ba miền là vai trò nổi bật của giới trí thức cư sĩ, là thuần túy Phật học và sinh hoạt Phật sự. Thời điểm 1925-1945 là thời điểm chuẩn bị trong kiên nhẫn và thầm lặng. Các hội Phật Học đã làm đúng chức năng và vai trò lịch của mình, một cách khiêm tốn, từ đống gạch vụn đổ nát của nền Phật học và Phật Giáo Việt nam trong thời Thực Dân Pháp thống trị.Trong thời kỳ này xuất hiện những con người đặc biệt, xuất sắc và những tư tưởng mạnh mẽ, quyết liệt, trong Phật Giáo cũng như ngoài Phật Giáo. Từ đầu thập niên 30, tư tưởng Phật Hộc của Thích Thiện Chiếu đã là những quả bom chấn động. Và năm 1939 Huỳnh Phú Sổ xuất hiện làm một cuộc cách mạng tôn giáo, cải cách toàn bộ và triệt để Phật Giáo chưa từng có trong hai ngàn năm lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Miền Nam, một vùng đất lạ lùng và kỳ diệu… An Hòa TựPhan Chu Trinh từ Pháp trở về Sài Gòn năm 1925, đất nước bùng lên những làn sóng tư tưởng dân quyền và dân chủ. Ông khẳng định phải tìm nguyên nhân mất nước trong sự mất đạo đức, mất luân lý, trong bài diễn thuyết Đạo Đức và Luân Lý Đông Tây, và ông cũng khẳng định chế độ quân chủ chuyên chế là nguyên nhân chính làm mất nước trong bài thuyết giảng Quân Trị Chủ Nghĩa và Dân Trị Chủ Nghĩa tại Sài Gòn năm 1925. Ông mất năm sau đó và đám tang ông cùng với cuộc vận động ân xá nhà chí sĩ Phan Bội Châu đã khơi bùng phong trào yêu nước và yêu tự do dân chủ trên toàn quốc, đặc biệt là trong giới thanh niên.Nhưng dữ dội, bốc lửa và sấm sét trong tư tưởng yêu nước chống thực dân cũng như tư tưởng tự do dân chủ, trong thời này, chỉ có Nguyễn An Ninh là đi xa nhất, quyết liệt nhất. Là một thanh niên miền Nam, Ông đi du học ở Pháp và trở về nước với bằng cử nhân Luật. Lợi dụng quy chế thuộc địa của Nam Kỳ, nơi mà báo chí bằng tiếng Pháp được tự do, không bị kiểm duyệt, Ông ra tờ La Cloche fèlèe (Tiếng Chuông Rè) từ năm 1923 đến năm 1926. Ông tự xưng tờ báo của Ông là “cơ quan tuyên truyền tư tưởng Pháp”, lấy tư tưởng của kẻ xâm lăng để đập những nhát búa tạ vào chế độ Thực Dân, đồng thời tờ báo cũng tự nhận là “cơ quan chuẩn bị cho tương lai dân tộc”. Thật là độc đáo và tuyệt vời.Ngoài việc phê bình kịch liệt, thẳng tay chính sách và chế độ thực dân, Ông cổ võ cho việc đào tạo một tầng lớp thanh niên Việt Nam tân học, có văn hóa, có lý tưởng, có chí khí, có năng lực và có tổ chức và Ông tuyệt đối tin vào sức mạnh và vào tương lai của nhân dân Việt Nam. Ông chủ trương một nước Việt Nam thống nhất từ Nam chí Bắc và trở về lịch sử dân tộc để tìm niềm tin và sức mạnh. Ông hô hào, khi chỉ mới ngoài 20 tuổi, “Chẳng những phải duy trì những giấc mộng vĩ đại, mà còn phải tổ chức thành một nhóm quan trọng để chuẩn bị cho tương lai”. Không những tư tưởng táo bạo, độc đáo, mới lạ, kiến thức của Ông cũng rất uyên bác. Khi Thống Đốc Nam Kỳ tuyên bố: “Xứ này không cần trí thức”. Ông đã viết bài trả lời bốc lửa: “… Những thảm khổ của chúng ta ngày nay, còn gì nữa, đúng là do tổ tiên của chúng ta đã sờ mó vào cây kiến thức. Hạng trí thức đã làm đảo lộn thế giới, làm hư hỏng hạnh phúc của thế giới. Hãy nguyền rủa tên tuổi của Prométhé, kẻ đã lấy trộm chút lửa của Trời. Hãy nguyền rủa con người đã bày ra cái ná cao su cho trẻ con bắn đá vào trán ông khổng lồ… Trí Tuệ, đó là cái tai hại. Trí tuệ, đó là con rắn cuốn quanh thân cây đã làm cho chúng ta vĩnh viễn mất cõi thiên đường… Nói đến vai trò giáo dục, vai trò văn minh của các ông chủ xứ Đông Dương này, thưa các ông, điều ấy làm ta mỉm cười… Người ta đã quỳ lụy bái phục những vị “đem ánh sáng tới”, những vị “làm điều kỳ diệu ở Ấu Châu”… Cái gì kỳ diệu? Thực ra cái kỳ diệu đó là, chỉ trong một thời gian ngắn thôi, người ta đã có thể làm cho trình độ trí thức của người Nam đã thấp đi lại càng rơi vào chỗ cực kỳ dốt nát. Cái kỳ diệu đó là người ta đã có thể, trong một thời gian ngắn như thế, xô đẩy một dân tộc có tư tưởng dân chủ, ngã nhào vào tình trạng nô lệ hoàn toàn“. (Trần Văn Giàu, Sự Phát Triển Của Tư Tưởng ở Việt Nam Từ Thế Kỷ 19 đến Cách Mạng Tháng Tám, q2, t 311).Nguyễn An Ninh cũng là một trong những nhà trí thức tân học đầu tiên nghiên cứu Phật Học và hoàn thành một tác phẩm Phật Học quan trọng, cuốn “Phê Bình Phật Giáo”. Sau thời kỳ hoạt động sôi nổi từ 1923 đến 1926, Nguyễn An Ninh bị ở tù trong thời gian 1926-1927, sau đó Ông về nghiên cứu Phật Giáo. Trên bàn làm việc của Ông, có một cái chuông, một cái mõ, Ông cạo trọc đầu và đi chân không. Ông nghiên cứu Phật Giáo qua tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức và các hoạt động Phật Giáo trong nước. Cuốn Phê Bình Phật Giáo xuất bản năm 1937 là kết quả của sự nghiên cứu này. Tựa đề của cuốn sách, 70 năm sau cũng không có ai dám viết một cuốn sách Phật Học có tựa đề thách thức và can đảm như vậy. Mục đích và phương pháp luận còn mới lạ, táo bạo hơn, đó là “so sánh Phật Giáo với thời đại của nó để chỉ chỗ hay, chỗ đúng hơn của nó đối với các thuyết khác và so sánh Phật Giáo với thời đại này để chỉ sai lầm của Phật Giáo“. Tác phẩm này được giới trí thức, giới chính trị cũng như giới Phật Giáo chú ý đặc biệt.Nhưng không gây sóng gió và tranh luận suốt nhiều năm trời như những tác phẩm của Thích Thiện Chiếu. Đối với Tăng, Ni, Phật Tử thập niên 30, những tư tưởng Phật Học của Thích Thiện Chiếu là những tiếng sét ngang tai. Ngày nay đọc lại, chắc chắn quý vị tăng sĩ, cư sĩ và Phật Tử cũng không khỏi giựt mình, chấn động và suy nghĩ. Những tư tưởng này, được viết từ thập niên 30, ngày nay, cuối thập niên 90, vẫn còn mới, còn táo bạo, còn chứa đầy sức nặng của đá tảng và sức nổ của sấm sét. Thích Thiện Chiếu là tinh hoa sáng chói của Phật Giáo trong thập niên 20, 30. Ông đã đi tiền phong trong mọi lãnh vực chấn hưng và hiện đại hóa Phật Giáo Việt Nam trong thế kỷ 20 này.Ta phải đứng trên một đỉnh núi cao, mới hy vọng nhìn thấy những cái gì chưa ai nhìn thấy, những cái gì nằm khuất sau dãy núi cao. đó có thể là những dãy núi cao hơn, hay là một đại dương mênh mông hay là một bình nguyên rực rỡ. Thích Thiện Chiếu là một ngọn núi cao của Phật học và Phật Giáo Việt Nam trước đệ nhị thế chiến. Ta hãy đứng trên đỉnh núi cao ngất, hùng tráng này để nhìn rõ một đỉnh núi cao ngất, hùng vĩ khác, là Cư sĩ, Bồ Tát, Giáo Chủ Huỳnh Phù Sổ.   |Muc Luc| |Ch.1| |Ch.2| |Ch.3| |Ch.4| |Ch.5| |Ch.6| |Ch.7| |Ch.8| |Ch.9| |Ch.10|TK|[BHH430] [PGHH] [THƯ VIỆN PGHH 
HOMEGIỚI THIỆU TỔNG QUÁTHỌC TRÌNHHỘI ÐỒNG GIẢNG HUẤNTHƯ VIỆNSINH VIÊN VỤBẢN TIN PHV
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Categories: Uncategorized | Leave a comment

Ðức Huỳnh Giáo Chủ
Vương KimÐức Phật, Hoàng thiên lịnh giáng trần,Huỳnh gia chuyển kiếp lập đời Tân.Giáo truyền đạo Thích dìu sanh chúng,Chủ ý chọn người vẹn Tứ ân.(Hình Tác giả: Vương Kim Phan Bá Cầm)Phần I:HÀNH TRẠNG Thiên thứ nhứtGiai đoạn ra đời mở đạo Chương I: Bối cảnh xã hộiChương II:Thân thếChương III: Ra Tế độChương IV: Đăng SơnChương V: Sứ MạngChương VI: Lưu CưChương VII: Vận Ðộng Ðộc LậpChương VIII: Tổ Chức Hàng NgũChương IX: Chuẩn Bị Ðấu Tranh Thiên thứ haiGiai đoạn hoạt động đấu tranh Chương X: Dấn Thân Thiên thứ baGiai Ðoạn Vắng Mặt Chương XI: Lý Do Thọ NạnChương XII: Còn Hay Mất Phần II:SỰ NGHIỆP Thiên thứ tưSự Nghiệp Về Mặt ÐạoTôn Phái Phật Giáo Hòa Hảo Chương XIII: Học PhậtChương XIV: Tu Nhân Thiên thứ nămSự Nghiệp Về Mặt Ðời:Công nghiệp cách mạng Chương XV: Quân Sự.Bộ Ðội Nguyễn Trung Trực Chương XVI: Chánh TrịViệt Nam Dân Chủ Xã Hội đảng Cùng một tác giả: Long Hoa xuất bản-         Tận Thế và Hội Long Hoa (1952)-         Đức Phật Thầy Tây An (1953) (hiệp với Đào Hưng)-         Để Hiểu Phật Giáo Hòa Hảo (1954) (hiệp với Thanh Sĩ)-         Ðời Hạ Ngươn (1960)-         Đời người dướI ánh sáng Đạo Phật (1960)-         Bửu Sơn Kỳ Hương (1966)-         Hành sử Đạo Nhân (1970)-         Tu Hiền (1972)-         Đời Thượng Ngươn (1973)-         Pháp Môn Tịnh Độ (1973)-         Tại Sao Ta Phải Tu (1974)Dân Xã Tùng Thư-         Chánh trị thường thức (1956)-         Tinh thần cán bộ (1971)-         Lập trường Dân Xã Đảng (1971) MUC LUC CHƯƠNG 1 | | CHƯƠNG 2 | | CHƯƠNG 3 | | CHƯƠNG 4 | | CHƯƠNG 5 | | CHƯƠNG 6 | | CHƯƠNG 7 | | CHƯƠNG 8 | | CHƯƠNG 9 | | CHƯƠNG 10 | | CHƯƠNG 11 | | CHƯƠNG 12 || CHƯƠNG 13 | | CHƯƠNG 14 | | CHƯƠNG 15 | | CHƯƠNG 16 | | CHƯƠNG 17|  [TV. PGHH]
Ðức Huỳnh Giáo Chủ
Vương KimÐức Phật, Hoàng thiên lịnh giáng trần,Huỳnh gia chuyển kiếp lập đời Tân.Giáo truyền đạo Thích dìu sanh chúng,Chủ ý chọn người vẹn Tứ ân.(Hình Tác giả: Vương Kim Phan Bá Cầm)Phần I:HÀNH TRẠNG Thiên thứ nhứtGiai đoạn ra đời mở đạo Chương I: Bối cảnh xã hộiChương II:Thân thếChương III: Ra Tế độChương IV: Đăng SơnChương V: Sứ MạngChương VI: Lưu CưChương VII: Vận Ðộng Ðộc LậpChương VIII: Tổ Chức Hàng NgũChương IX: Chuẩn Bị Ðấu Tranh Thiên thứ haiGiai đoạn hoạt động đấu tranh Chương X: Dấn Thân Thiên thứ baGiai Ðoạn Vắng Mặt Chương XI: Lý Do Thọ NạnChương XII: Còn Hay Mất Phần II:SỰ NGHIỆP Thiên thứ tưSự Nghiệp Về Mặt ÐạoTôn Phái Phật Giáo Hòa Hảo Chương XIII: Học PhậtChương XIV: Tu Nhân Thiên thứ nămSự Nghiệp Về Mặt Ðời:Công nghiệp cách mạng Chương XV: Quân Sự.Bộ Ðội Nguyễn Trung Trực Chương XVI: Chánh TrịViệt Nam Dân Chủ Xã Hội đảng Cùng một tác giả: Long Hoa xuất bản-         Tận Thế và Hội Long Hoa (1952)-         Đức Phật Thầy Tây An (1953) (hiệp với Đào Hưng)-         Để Hiểu Phật Giáo Hòa Hảo (1954) (hiệp với Thanh Sĩ)-         Ðời Hạ Ngươn (1960)-         Đời người dướI ánh sáng Đạo Phật (1960)-         Bửu Sơn Kỳ Hương (1966)-         Hành sử Đạo Nhân (1970)-         Tu Hiền (1972)-         Đời Thượng Ngươn (1973)-         Pháp Môn Tịnh Độ (1973)-         Tại Sao Ta Phải Tu (1974)Dân Xã Tùng Thư-         Chánh trị thường thức (1956)-         Tinh thần cán bộ (1971)-         Lập trường Dân Xã Đảng (1971) MUC LUC CHƯƠNG 1 | | CHƯƠNG 2 | | CHƯƠNG 3 | | CHƯƠNG 4 | | CHƯƠNG 5 | | CHƯƠNG 6 | | CHƯƠNG 7 | | CHƯƠNG 8 | | CHƯƠNG 9 | | CHƯƠNG 10 | | CHƯƠNG 11 | | CHƯƠNG 12 || CHƯƠNG 13 | | CHƯƠNG 14 | | CHƯƠNG 15 | | CHƯƠNG 16 | | CHƯƠNG 17|  [TV. PGHH]
Categories: Uncategorized | Leave a comment

Covid-19: Ấn Độ lây nhiễm kỷ lục, cạn oxi cho bệnh nhân

Covid-19: Ấn Độ lây nhiễm kỷ lục, cạn oxi cho bệnh nhân

https://bbc.com/ws/av-embeds/cps/vietnamese/media-56845691/p09ffyq2/viCovid-19: Ấn Độ lây nhiễm kỷ lục, cạn oxi cho bệnh nhân22 tháng 4 2021

Rơi vào làn sóng dịch bệnh lần thứ hai, Ấn Độ trở thành quốc gia bị Covid-19 tàn phá dữ dội nhất thế giới.

Trong tuần rồi, có lúc chỉ trong vòng 24 giờ đồng hồ đã có hơn 2.000 người thiệt mạng và gần 300 ngàn ca lây nhiễm mới được ghi nhận tại nước này.

Video do Yogita Limaye, Fred Scott và Sanjay Ganguly thực hiện.

Categories: Uncategorized | Leave a comment

Bạo lực Gaza-Israel: Đặc phái viên Hoa Kỳ đến đàm phán giảm leo thang

4 giờ trước

Palestinians leave their neighbourhood to head to a safer location as Israeli warplanes continue air strikes on Gaza Strip, in Gaza City, Gaza on May 12, 2021. (Photo by Ali Jadallah/Anadolu Agency via Getty Images)
Chụp lại hình ảnh,Nhiều người Palestine đã rời nhà để đến các địa điểm an toàn hơn

Một phái viên Hoa Kỳ đã đến Tel Aviv để đàm phán giảm leo thang khi căng thẳng giữa Israel và Palestine tiếp diễn.

Ông Hady Amr sẽ tham gia các cuộc đàm phán với các quan chức Israel, Palestine và Liên Hiệp Quốc với hy vọng đạt được thỏa thuận về một lệnh ngừng bắn.

Đầu ngày thứ Bảy, Israel đã tiến hành các cuộc không kích ở Gaza và các tay súng Palestine đáp trả bằng cách bắn tên lửa vào Israel.

‘Chúng tôi không thể ngủ’: Những bà mẹ trong cuộc xung đột Israel-GazaQUẢNG CÁOhttps://5456be796762cb0fc884459d4fc1ad41.safeframe.googlesyndication.com/safeframe/1-0-38/html/container.html

Israel-Gaza: Israel bị bắn phá ồ ạt sau khi các chiến binh bị giết

Israel củng cố biên giới Gaza khi xung đột bùng phát

Các cuộc đụng độ trong 5 ngày qua đánh dấu thời kỳ bạo lực tồi tệ nhất trong khu vực trong nhiều năm.

Xung đột bắt đầu vào thứ Hai và kéo theo nhiều tuần căng thẳng giữa Israel và Palestine ở Đông Jerusalem. Sự thù địch gia tăng lên đến đỉnh điểm trong các cuộc đụng độ tại một thánh địa được cả người Hồi giáo và người Do Thái tôn kính. Hamas – nhóm phiến quân Hồi giáo cai trị Gaza – bắt đầu bắn tên lửa sau khi cảnh báo Israel rút khỏi địa điểm này, khiến các cuộc không kích trả đũa nổ ra.

Smoke and flames rise during Israeli air strikes, in Gaza city
Chụp lại hình ảnh,Ít nhất 133 người chết ở Gaza và 8 người chết ở Israel

Ít nhất 133 người thiệt mạng ở Gaza và 8 người chết ở Israel kể từ khi cuộc giao tranh bắt đầu.

Giới chức Bộ Y tế Palestine nó imột cuộc không kích của Israel vào đầu ngày thứ Bảy đã giết chết ít nhất 7 người Palestine, bao gồm cả phụ nữ và trẻ em, tại một trại tị nạn ở phía tây thành phố Gaza.

Hàng chục năm xung đột Israel-Gaza: Những điều cần biết

Israel gia tăng pháo kích vào Gaza, Hamas không nhượng bộCác chiến binh ở Gaza đáp trả bằng tên lửa nhắm vào thành phố Beersheba của Israel.Hôm thứ Sáu, các cuộc đụng độ lan sang Bờ Tây, với ít nhất 10 người Palestine thiệt mạng và hàng trăm người bị thương. Lực lượng Israel sử dụng hơi cay, đạn cao su và đạn thật khi người Palestine ném bom xăng.

The site of destroyed houses in the northern Gaza strip
Chụp lại hình ảnh,Các cuộc đụng độ trong 5 ngày qua đánh dấu thời kỳ bạo lực tồi tệ nhất trong khu vực trong nhiều năm.

Sự xuất hiện của ông Amr diễn ra trước cuộc họp của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc vào Chủ nhật. Đại sứ quán Mỹ tại Israel cho biết mục đích chuyến đi của ông là “củng cố sự cần thiết phải hành động để đạt được một sự bình tĩnh bền vững”.Nhưng những lời kêu gọi tới các lãnh đạo Israel và Palestine cho đến nay vẫn không đạt được thỏa thuận ngừng bắn.Các cuộc không kích của Israel vào Hamas ở Gaza đã buộc Trung Đông phải nằm trong chương trình nghị sự của Tổng thống Joe Biden. Chính quyền Biden đã phải nhanh chóng đẩy mạnh cuộc chơi của mình trên mặt trận ngoại giao mà không có một đội ngũ đầy đủ: thậm chí chưa có một ứng cử viên nào cho vị trí đại sứ tại Israel.Phóng viên BBC Barbara Plett Usher nói ông Amr là một nhà ngoại giao cấp trung không thuộc loại cấp bậc của các đặc phái viên trong các chính quyền trước đây của Hoa Kỳ.

Hôm thứ Năm, quân đội Israel đã điều động 7.000 quân dự bị, triển khai binh lính và xe tăng gần biên giới với Gaza. Quan đội nước này nói một cuộc tấn công trên bộ vào Gaza là một trong những lựa chọn đang được cân nhắc nhưng vẫn chưa đưa ra quyết định.Theo Liên Hiệp Quốc, ước tính khoảng 10.000 người Palestine đã rời bỏ nhà cửa ở Gaza kể từ hôm thứ Hai vì cuộc xung đột.

Map showing Israel and the Gaza Strip

Bờ Tây rung chuyển

Nhiều thị trấn và thành phố ở Bờ Tây bị chiếm đóng đã rung chuyển bởi các cuộc biểu tình giận dữ vào thứ Sáu.

Biên tập viên các vấn đề Ả Rập của BBC Sebastian Usher cho biết đã có những cuộc chiến giữa binh lính Israel và thanh niên Palestine.

Trong khi đó, đã có các cuộc biểu tình tại biên giới Jordan và Lebanon với Israel, để ủng hộ người Palestine, vào thứ Sáu. Một người đàn ông chết sau khi trúng đạn pháo của Israel trong khi biểu tình, truyền thông nhà nước ở Lebanon đưa tin.

Quân đội Israel nói họ đã tiến hành một chiến dịch trong đêm để phá hủy một mạng lưới đường hầm của Hamas mà nước này gọi là “tàu điện ngầm”, nhưng không có binh lính nào tiến vào Gaza. Quân đội Isreal nói thêm rằng – trong suốt tối thứ Năm và sáng thứ Sáu – đã có thêm 220 quả đạn được bắn từ Dải Gaza.

Ở miền nam Israel, một phụ nữ 87 tuổi chết sau khi ngã trên đường xuống hầm tránh bom gần Ashdod. Các khu vực khác bao gồm Ashkelon, Beersheba và Yavne cũng bị nhắm mục tiêu.

Bộ Y tế Gaza cho biết 31 trẻ em nằm trong số những người thiệt mạng kể từ khi giao tranh bắt đầu, và nhiều thường dân khác đã thiệt mạng. 950 người Gazans bị thương. Israel cho biết hàng chục người thiệt mạng ở Gaza là dân quân và một số chết do tên lửa bắn nhầm từ Gaza.

Hôm thứ Sáu, Liên Hiệp Quốc nói ước tính có khoảng 10.000 người Palestine đã rời bỏ nhà cửa ở Gaza kể từ thứ Hai vì cuộc xung đột.

Các nhóm Do Thái và Israel-Ả Rập giao tranh ngay trong Israel, khiến tổng thống phải cảnh báo về nội chiến. Bộ trưởng Quốc phòng Benny Gantz đã ra lệnh cho lực lượng an ninh trấn áp tình hình bất ổn nội bộ vào hôm thứ Năm, hơn 400 người bị bắt giữ.

Cảnh sát nói những người Ả Rập Israel phải chịu trách nhiệm về hầu hết các vụ rắc rối và bác bỏ cáo buộc rằng họ chỉ đứng nhìn khi các nhóm thanh niên Do Thái tấn công nhà của người Ả Rập.

Tại Gaza, người Palestine lo ngại sự xâm nhập của quân đội Israel đã chạy khỏi các khu vực gần biên giới với Israel. Những cư dân đã rời Shejaiya ở thành phố Gaza cho biết, đạn pháo đã rơi xuống nhà.

“Chúng tôi có cảm giác như đang ở trong một bộ phim kinh dị”, một người dân địa phương, Salwa Al-Attar, người đã thoát khỏi trận pháo kích cùng gia đình, nói. “Máy bay ở phía trên chúng tôi, xe tăng và hải quân đang ném bom – và chúng tôi không thể di chuyển. Trẻ em, phụ nữ và đàn ông đang la hét.”

Trong một tuyên bố được đưa ra vào sáng sớm thứ Sáu, Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu cho biết chiến dịch quân sự chống lại các tay súng Palestine sẽ tiếp tục “chừng nào cần thiết”. Ông nói thêm rằng Hamas sẽ phải trả giá đắt, cũng như các “nhóm khủng bố” khác.

Một phát ngôn viên quân đội của Hamas nói nhóm đã sẵn sàng dạy cho quân đội Israel “những bài học khắc nghiệt” nếu nước này quyết định tiến hành một cuộc tấn công mặt đất.

An Israeli soldier gets into position during clashes with Palestinian demonstrators in the West Bank

Hàng loạt xung đột

Phân tích của Paul Adams, phóng viên ngoại giao tại Jerusalem

Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu đã nói về việc Israel tiến hành một trận chiến trên hai mặt trận.

Nhưng ông ta có thể đã không thực thi công lý đối với một loạt các cuộc xung đột hiện đang hoành hành khắp Israel, Gaza và Bờ Tây. Hiếm khi trong những năm gần đây, bạo lực bùng phát ở tất cả những nơi này cùng một lúc.

Một tuần trước, nỗi lo sợ rằng người Palestine ở đông Jerusalem có thể bị đuổi ra khỏi nhà để dọn đường cho những người Do Thái định cư, cùng với các cuộc đột kích liên tục của lực lượng an ninh Israel vào khu vực quanh nhà thờ Hồi giáo al-Aqsa của Jerusalem, đã khiến người Ả Rập Israel lo ngại, và gây ra cuộc tấn công tên lửa của Hamas.

Những phẫn nộ âm ỉ kéo dài trong cộng đồng thiểu số Ả Rập của Israel đã bùng nổ ở một số thành phố mà các cộng đồng này cùng chung sống. Các băng đảng bạo lực, Do Thái và Ả Rập, đã tận dụng sự căng thẳng này.

2px presentational grey line

Đến thứ Sáu, bạo lực đã quay trở lại Bờ Tây, nơi số người chết trong các cuộc đụng độ với quân đội Israel tăng lên.

Jerusalem, quyền sở hữu đất đai, thánh địa và nhiều thập kỷ xung đột chưa được giải quyết: bạo lực gia tăng trong tuần này đã nhấn mạnh tấn cả những điều này.

Khi giao tranh bước sang ngày thứ năm, Tổng thư ký Liên Hiệp quốc António Guterres kêu gọi “giảm leo thang ngay lập tức và chấm dứt xung đột ở Gaza và Israel”.

Lời kêu gọi của ông lặp lại lời kêu gọi của các nhà ngoại giao khác – kể cả từ đồng minh của Israel là Mỹ – nhưng lời kêu gọi các lãnh đạo Israel và Palestine cho đến nay vẫn không đạt được thỏa thuận ngừng bắn.

Một quan chức cấp cao của Hamas nói nhóm này sẵn sàng ngừng bắn “có đi có lại” nếu cộng đồng quốc tế gây áp lực buộc Israel phải “trấn áp các hành động quân sự” tại Nhà thờ Hồi giáo al-Aqsa đang tranh chấp ở Jerusalem.

Tuy nhiên, một cố vấn cấp cao của ông Netanyahu nói với BBC rằng những lời kêu gọi kiềm chế của quốc tế đã đặt sai chỗ.

Mark Regev nói: “Chúng tôi không muốn cuộc xung đột này xảy ra, nhưng bây giờ khi nó bắt đầu, nó phải kết thúc với một khoảng thời gian yên tĩnh kéo dài. Điều đó chỉ có thể đạt được khi Israel hạ gục Hamas – cơ cấu quân sự, quyền chỉ huy và kiểm soát của họ.”

Categories: Uncategorized | Leave a comment

Blog at WordPress.com.