Lực lượng dân binh biển Trung Quốc

quehuong15.5.210 Facebook Twitter Google+> https://www.baoquocdan.org/2021/05/luc-luong-dan-binh-bien-trung-quoc.html” rel=”noreferrer noopener” target=”_blank”>

Nhập nhằng về pháp lý, mơ hồ về chức danh, tinh vi về chiến thuật

Thứ năm, 13 Tháng 5 2021

Sơ đồ cơ chế chỉ huy các lực lượng dân binh biển Trung Quốc

a1

Nguồn: Conor M. Kennedy and Andrew S. Erickson, “Hainan’s Maritime Militia: China Builds a Standing Vanguard”

“Núp bóng” dưới tấm bình phong “tàu cá dân sự” hay cái “mác” là “dân thường”, lực lượng dân binh biển của Trung Quốc “tha hồ” quấy rối hoặc đe dọa các tàu dân sự, tàu quân sự của nước ngoài; kết hợp với hải quân, cảnh sát biển để hình thành các thế trận “nhiều lớp” nhằm giúp Trung Quốc thực thi yêu sách trái phép của nước này trên Biển Đông.

Dân binh biển Trung Quốc là một vấn đề đang thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế thời gian gần đây bởi lực lượng này đang hằng ngày “tung hoành” trên Biển Đông, giúp Trung Quốc thực thi trái phép các yêu sách chủ quyền, xong lại được “núp bóng” dưới tấm bình phong “tàu cá dân sự” hay cái “mác” là “dân thường”. Dưới tấm bình phong đó, lực lượng dân binh biển của Trung Quốc “tha hồ” quấy rối hoặc đe dọa các tàu dân sự, tàu quân sự của nước ngoài; kết hợp với hải quân, cảnh sát biển để hình thành các thế trận “nhiều lớp” nhằm giúp Trung Quốc thực thi yêu sách trái phép của nước này trên Biển Đông. Điều đáng lo ngại là, với phạm vi rộng, tính chất hoạt động “biến hóa khôn lường”, song, với cái “mác” là “dân thường”, Trung Quốc sẽ luôn phủ nhận sự “nhúng tay” của chính quyền vào các sự vụ trên thực địa, đồng thời, các nước cũng không thể “xử lý” lực lượng này như lực lượng vũ trang trong các tình huống cụ thể. Bài viết dưới đây sẽ thử “giải mã” lực lượng này của Trung Quốc dưới góc nhìn từ cả phía Trung Quốc và các nước phương Tây.

Có hay không sự tồn tại lực lượng dân binh biển Trung Quốc?

Trung Quốc từ trước tới nay chưa từng thừa nhận có sự hiện diện của lực lượng dân binh biển (海上民兵) theo cách hiểu của các nước phương Tây. Soi xét lại các văn kiện, tài liệu chính thống của Trung Quốc có thể thấy rõ điều này.

Theo Điều lệ công tác Dân binh định nghĩa, “dân binh Trung Quốc là lực lượng vũ trang quần chúng không thoát ly sản xuất, do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo; là một bộ phận của lực lượng vũ trang CHND Trung Hoa và là lực lượng trợ giúp, dự bị của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc”.[1][1]

Theo Điều 22 Chương 3 trong Luật Quốc phòng sửa đổi năm 2020, có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 của Trung Quốc quy định, lực lượng vũ trang của Trung Quốc gồm 3 lực lượng: Quân giải phóng (PLA), lực lượng vũ trang nhân dân và lực lượng dân binh[2][2].

Tương tự như vậy, trong Sách trắng Quốc phòng Trung Quốc trước năm 2010 cũng chỉ nhắc đến lực lượng dân binh theo nghĩa “dân quân tự vệ” được thành lập và làm nghĩa vụ ở các địa phương. Đến năm 2010, Sách trắng Quốc phòng Trung Quốc mới lần đầu tiên đặt ra nhiệm vụ “tập trung tăng cường xây dựng lực lượng dân binh phòng thủ biên giới và vùng biển” lên hàng đầu trong Sách trắng Quốc phòng (Chương 5)[3][3]. Đây là mốc mới nhất cho thấy Trung Quốc đẩy mạnh xây dựng và sử dụng lực lượng mà quốc tế vẫn gọi là “dân binh biển của Trung Quốc”.

Như vậy, có thể thấy, trong các văn kiện chính thức của Trung Quốc không đề cập đến lực lượng mang tên “dân binh biển” mà chỉ có lực lượng “dân binh” nói chung, hay lực lượng “dân binh làm nhiệm vụ phòng thủ biên giới đất liền và biển”. Nói cách khác, lực lượng “dân binh biển” theo cách hiểu của Trung Quốc chỉ là lực lượng “dân thường” (dân quân tự vệ) tham gia vào hoạt động sản xuất, đánh bắt cá, có trách nhiệm bảo vệ chính quyền, bảo vệ tài sản của nhân dân và Nhà nước. Theo đó, ở các tỉnh ven biển của Trung Quốc sẽ đều có các Tiểu đội dân binh hoạt động trên biển với chức năng và nhiệm vụ như được quy định trong Điều lệ Công tác Dân binh Trung Quốc.

Ngược lại với sự phủ nhận của Trung Quốc, các nghiên cứu của phương Tây đa phần đều có chung đánh giá dân binh biển Trung Quốc là một tổ chức vũ trang lớn chủ yếu bao gồm ngư dân và những người đi biển thuộc khu vực kinh tế dân sự, được huấn luyện và được điều động để phòng thủ hoặc nâng cao khả năng bảo vệ “quyền và lợi ích hàng hải” của Trung Quốc, và hỗ trợ cho hải quân trong thời gian có chiến tranh.

Năm 2017, Bộ Quốc phòng Mỹ đã công bố một nghiên cứu khá toàn diện về lực lượng này trong Báo cáo thường niên về sức mạnh quân sự của Trung Quốc. Lầu Năm Góc cho rằng, lực lượng dân binh biển được sử dụng để thực thi các yêu sách hàng hải và thúc đẩy lợi ích của Trung Quốc với mức độ được tính toán để nằm dưới ngưỡng có thể gây ra xung đột[4][4]. Trong Báo cáo năm 2018, Bộ Quốc phòng Mỹ cho biết, lực lượng dân binh biển đóng vai trò chính trong các hoạt động cưỡng chế nhằm đạt được các mục tiêu chính trị của Trung Quốc mà không cần gây ra xung đột vũ trang[5][5].

Theo ông Derek Grossman, nhà phân tích của RAND, khái niệm về lực lượng dân quân biển Trung Quốc khởi nguồn từ ngay sau khi CHND Trung Hoa thành lập và bắt đầu xây dựng lực lượng phòng thủ bờ biển. Từ khi đó, chính phủ Trung Quốc đã tài trợ và đào tạo một lực lượng dân quân hàng hải còn sót lại từ chế độ cũ. Một vài năm sau, việc tập thể hóa nghề cá địa phương đã tạo thêm một lớp kiểm soát mới của nhà nước đối với dân quân biển. Cũng theo ông Derek Grossman, trong những năm 1960, khi Hải quân phát triển, lực lượng này đã huấn luyện dân binh biển Trung Quốc các chiến thuật cũng như hoạt động quân sự và sử dụng lực lượng này trong nhiều nhiệm vụ của Hải quân.[6][6]

Cùng quan điểm trên, trong Báo cáo của Conor Kennedy và Andrew Erickson, hai chuyên gia quân sự hàng đầu của Mỹ cũng đánh giá “dân binh biển Trung Quốc là một lực lượng được nhà nước tổ chức, phát triển và kiểm soát, hoạt động theo một chuỗi chỉ huy quân sự trực tiếp để tiến hành các hoạt động do nhà nước Trung Quốc bảo trợ”[7][7]. Ông Carl Schuster, cựu Giám đốc điều hành tại Trung tâm tình báo chung của Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ cũng cho rằng, “lực lượng dân binh Trung Quốc không đánh cá. Lực lượng này có vũ khí tự động trên tàu và thân tàu được gia cố chắc chắn, nên rất nguy hiểm khi ở cự ly gần. Ngoài ra, tàu của dân binh biển Trung Quốc có tốc độ tối đa khoảng 18-22 hải lý/giờ, nhanh hơn 90% tàu đánh cá trên thế giới”[8][8].

Tóm lại, mặc dù Trung Quốc không chính thức thừa nhận có lực lượng mang tên “dân binh biển” mà chỉ gọi chung là “dân binh phòng thủ biên giới biển và đất liền”, song trên thực tế dân binh biển đã là một bộ phận trực thuộc lực lượng vũ trang và chiến lược quốc phòng Trung Quốc kể từ khi nước CHND Trung Hoa được thành lập năm 1949. Từ năm 2009-2010, với việc Trung Quốc chính thức công khai yêu sách đường lưỡi bò, Mỹ tuyên bố quay trở lại khu vực Châu Á, khi đó, Trung Quốc đẩy mạnh phát triển lực lượng này như một biện pháp thúc đẩy chiến lược biển của Trung Quốc. Nói cách khác, lực lượng dân binh biển Trung Quốc là một phần trong lực lượng dân binh Trung Quốc, với một số đặc thù riêng. Ngoài ra, lực lượng dân binh trên biển của Trung Quốc cũng được ẩn danh dưới nhiều tên gọi khác nhau như tàu cá, lực lượng bảo vệ bờ biển… nhưng tính chất hoạt động cơ bản giống nhau, hoặc đan xen nhiều chức năng trong nhau nhằm mục đích che mắt cộng đồng quốc tế nhưng vẫn đạt được ý đồ của mình.

Nhiệm vụ dân binh biển Trung Quốc: “vô danh hữu thực”

Vì Trung Quốc không chính thức công khai thừa nhận lực lượng dân binh trên biển nên không có văn bản quy định cụ thể nhiệm vụ, chức năng của lực lượng này. Nhiệm vụ của lực lượng này được nằm trong quy định về lực lượng dân binh Trung Quốc nói chung.

Theo Điều 22 Luật Quốc phòng sửa đổi của Trung Quốc năm 2020, có hiệu lực từ năm 2021, dưới sự chỉ huy của cơ quan quân sự, lực lượng dân binh Trung Quốc có nhiệm vụ “sẵn sàng chiến đấu, thực hiện các hoạt động quân sự phi chiến tranh và tác chiến phòng vệ”.[9][9] Theo Sách trắng về Quốc phòng năm 2010, lực lượng dân binh của Trung Quốc hiện có khoảng hơn 8 triệu người, đã tham gia tích cực vào các hoạt động như chống khủng bố, duy trì ổn định, ứng cứu khẩn cấp, cứu trợ thiên tai thảm họa, bảo vệ và kiểm soát biên giới, bảo vệ an ninh công,… và nhiều nhiệm vụ quân sự đa dạng khác. Trong Sách trắng Quốc phòng về Đa dạng hóa các lực lượng vũ trang Trung Quốc năm 2013 cũng ghi nhận, lực lượng dân binh của Trung Quốc đã “tích cực tham gia vào các hoạt động liên hiệp quân đội – công an – dân binh ở vùng biên giới và ven biển […] quanh năm làm nhiệm vụ tuần tra ở các vùng biên giới và ven biển Trung Quốc”[10][10].

Liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ của lực lượng dân binh biển, mặc dù không được quy định trong các văn kiện chính thức, song trong trả lời báo chí của Trung tướng Thịnh Bân, Bộ trưởng Bộ Động viên Quốc phòng, Quân ủy Trung ương Trung Quốc ngày 9/3/2016 cho thấy, lực lượng dân binh biển của Trung Quốc được chia ra thành 4 loại có quyền hạn và chức năng từ thấp đến cao gồm: (i) dân binh biển phổ thông; (ii) dân binh phòng vệ biên giới và biển; (iii) dân binh ứng phó tình huống khẩn cấp; và (iv) dân binh dự bị kiểu mới. Trong đó:

(i) lực lượng dân binh biển đầu tiên là lực lượng dân binh phổ thông. Theo  Luật Nghĩa vụ quân sự Trung Quốc, dân binh Trung Quốc được chia thành 2 loại chính là dân binh nòng cốt và dân binh phổ thông, trong đó dân binh nòng cốt là những người đã được huấn luyện quân sự; còn dân binh phổ thông là những thanh niên thuộc diện nghĩa vụ quân sự thông thường[11][11]. Lực lượng này tập trung làm các nhiệm vụ sản xuất thường thấy ở các tỉnh ven biển như ra khơi đánh cá và tham gia theo dõi an ninh cảng biển, khi cần có thể được huy động vào các nhiệm vụ tìm kiếm, cứu nạn…

(ii) lực lượng dân binh phòng vệ biên giới và biển: lực lượng này đã có sự tuyển chọn kỹ lưỡng hơn, là những cá nhân bên cạnh nhiệm vụ sản xuất đánh bắt thông thường còn bước đầu được huấn luyện và tham gia vào các nhiệm vụ như tuần tra, theo dõi giám sát, vận chuyển hoặc một số nhiệm vụ nhạy cảm hơn như hậu cần trong các chiến dịch của quân đội hay xây dựng đảo.

(iii) và (iv) lực lượng thứ ba và thứ tư là lực lượng ứng phó trong các tình huống khẩn cấp và lực lượng dự bị kiểu mới, đây là 2 lực lượng với chức năng và nhiệm vụ linh hoạt và biến hóa khôn lường hơn.

Theo học giả Trung Quốc phân tích, lực lượng dân binh biển của Trung Quốc sẽ phát huy vai trò quan trọng trong các tình huống khẩn cấp trên biển đặc biệt là trong giai đoạn mới xảy ra sự vụ cần vận động lực lượng khẩn cấp trên biển; ngoài ra, trong một số sự vụ khác, lực lượng dân binh sẽ được huy động để làm nhiệm vụ “câu giờ” trong khi chờ chính quyền Trung Quốc huy động lực lượng.[12][12]

Còn theo các nghiên cứu của phương Tây, lực lượng dân binh biển Trung Quốc đóng vai trò chèn ép, cưỡng bức các nước láng giềng để đạt được các mục tiêu chính trị của Trung Quốc mà không cần chiến tranh, là một trong những công cụ quan trọng trong chiến lược cải bắp (cabbage strategy) của Bắc Kinh, trong đó, khi có một vụ việc trên biển xảy ra, dân binh biển và ngư dân sẽ được triển khai ở vòng trong cùng và là lớp thứ nhất, cảnh sát biển là lớp thứ hai, hải quân là lớp ngoài cùng.

Các nghiên cứu phương Tây chỉ ra rằng, rất nhiều vụ việc đã cho thấy sự tham gia một cách có hệ thống của lực lượng dân binh biển Trung Quốc vào nhiều sự cố trên  Biển Đông và Biển Hoa Đông, như việc Trung Quốc chiếm giữ phần phía Tây quần đảo Hoàng Sa từ Việt Nam Cộng Hoà năm 1974; năm 1978 tràn vào lãnh hải của Quần đảo Senkaku; năm 1995 lấy cớ xây chòi trú ngụ cho ngư dân để chiếm đóng bãi Vành Khăn mà Philippines đang chiếm đóng (trái phép); quấy rối, ngăn cản tàu USNS Impeccable (2009) và tàu USNS Howard O. Lorenzen (2014) của Mỹ; năm 2012, 2013 quấy rối các tàu khảo sát địa chấn Bình Minh và Viking của Việt Nam; năm 2012 tham gia vào việc tạo cớ để hải quân Trung Quốc chiếm giữ bãi Scarborough từ Philippines; năm 2014, hàng trăm tàu dân binh đã phong tỏa bãi cạn Cỏ Mây mà Philippines đang chiếm đóng; cũng năm 2014, dân binh Trung Quốc tham gia ngăn cản các tàu Cảnh sát biển và Ngư chính của Việt Nam cản phá Giàn khoan HD981 xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, và gần đây nhất là sự hiện diện của hàng trăm tàu dân binh Trung Quốc ở khu vực Đá Ba Đầu.[13][13]

Mặc dù không thừa nhận sự hiện diện của lực lượng dân binh biển trong việc thực thi yêu sách chủ quyền trái phép trên Biển Đông, song truyền thông Trung Quốc cũng gián tiếp “để lộ” những thông tin cho thấy sự can dự của lực lượng này vào cơ chế kiểm soát Biển Đông của Trung Quốc. Khi nêu những tấm gương dân binh biển điển hình, truyền thông Trung Quốc đã ca ngợi ông Vương Thư Mậu, Phó đội trưởng của liên đội dân binh trên biển thuộc huyện Đàm Môn, tỉnh Hải Nam, Trung Quốc. Theo bài báo, trong thời gian làm nhiệm vụ, ông Vương đã tham gia xây dựng tại một số thực thể trên Biển Đông như Gạc Ma, Châu Viên,… Ngoài ra, ông Vương còn đảm trách việc điều phối lực lượng tàu vận chuyển nguyên vật liệu ra các thực thể Trung Quốc xây dựng trên Biển Đông; đưa và chỉ đạo dân binh trong việc “đấu tranh” với các tàu thuyền nhập cảnh “trái phép”. Năm 2012 trong cuộc đối đầu với tàu thuyền nước ngoài, ông này cũng chỉ huy đội dân binh biển cho đến khi các tàu nước ngoài rút hẳn. Năm 2014, khi hoạt động của giàn khoan Trung Quốc bị tàu nước ngoài can thiệp, ông Vương đã dẫn lực lượng dân quân biển ra hiện diện ở khu vực sự cố, tuyên bố chủ quyền đồng thời xua đuổi tàu thuyền nước ngoài.[14][14]

Sự chỉ đạo thống nhất từ trên xuống dưới và cơ chế chỉ đạo kép đối với lực lượng dân binh biển Trung Quốc

Với vai trò là “dân”, dân binh thuộc quản lý hành chính trực tiếp của một địa phương nào đó, như Hải Nam đối với dân binh biển hoạt động ở Biển Đông. Với vai trò là “binh”, dân binh thuộc quản lý gián tiếp của Quân uỷ Trung ương thông qua hệ thống các Ban điều động quốc phòng Quốc gia Trung Quốc và hệ thống Ban này ở các Tỉnh. Ban điều động quốc phòng Quốc gia và hệ thống ban này tại các tỉnh là cơ chế mới được Quân uỷ trung ương Trung Quốc thiết lập sau đợt cải tổ quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc năm 2016 nhằm theo dõi và quản lý việc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng tại các địa phương, bao gồm cả việc điều động.

Sơ đồ dưới đây làm rõ cơ chế chỉ huy các lực lượng dân binh trên biển của Trung Quốc

Có thể thấy, các đơn vị dân binh của Trung Quốc chịu sự quản lý trực tiếp của địa phương và gián tiếp của Quân ủy trung ương mà người đứng đầu là Chủ tịch Tập Cận Bình. Ở cấp tỉnh, huyện, xã Trung Quốc đều thành lập các Ban điều động phối hợp với Quân khu các cấp và chính quyền địa phương các cấp để điều phối hoạt động của dân binh. Ngoài ra, trong các sự vụ cụ thể, lực lượng dân binh sẽ hoạt động dưới sự chỉ huy tạm thời của lực lượng quân cảnh, hải quân và cảnh sát biển Trung Quốc. Điều này cho thấy sự thống nhất từ cấp trung ương đến địa phương trong cách thức chỉ huy lực lượng dân binh; đồng thời cũng có thấy cơ chế kép vừa chịu sự chỉ đạo của lực lượng hải quân, vừa dưới sự chỉ huy của lực lượng cảnh sát biển Trung Quốc trong các sự vụ và tình huống phát sinh trên biển. Nhờ vậy mà lực lượng dân binh biển của Trung Quốc sẽ phát huy hết vai trò và tác dụng trong các sự vụ và là cánh tay nối dài của chính quyền trung ương trong nhiều trường hợp cụ thể trên Biển Đông.

Sự nhập nhằng, ngụy biện, thiếu minh bạch và những tác động tiêu cực tới tình hình Biển Đông

Với những điểm đặc thù trong chức năng, nhiệm vụ và địa vị pháp lý như trên mà lực lượng dân binh trên biển của Trung Quốc đã phát huy vai trò trong chiến lược tằm ăn dâu hay chiến thuật vùng xám trên Biển Đông của Trung Quốc.

Với lực lượng này, Trung Quốc đã có thêm công cụ mở rộng bành trướng, thực thi yêu sách trái phép ở Biển Đông. Trung Quốc có thể sử dụng dân binh để kiểm soát thêm các thực thể có giá trị chiến lược ở Biển Đông mà không cần phải chiếm đóng; quấy rối hoạt động của tàu bè các nước; ngăn cản hoặc phá hoại hoạt động kinh tế trên biển của ngư dân các nước. Những hoạt động này làm tăng tính chất phức tạp của cạnh tranh, xung đột ở trên biển; gia tăng nguy cơ đụng độ, đối đầu cũng như các va chạm không mong muốn, nhất là khi Trung Quốc huy động lực lượng này với số lượng lớn và có mặt gần như “thường trực” ở rộng khắp Biển Đông. Do lực lượng dân binh không có tính chuyên nghiệp, không có hiểu biết chính trị, cơ chế chỉ huy lỏng lẻo hơn nên được cho là dễ gây ra xung đột không mong muốn trên biển hơn.

Để đối phó với chiến thuật vùng xám, các nước trong khu vực cũng sẽ phải có các bước đi mới, chiến thuật mới, có khả năng tiếp tục làm phức tạp hoá tranh chấp Biển Đông. Ví dụ, Philippines mới đây đang kêu gọi phải xây dựng các tiền đồn ở Biển Đông để bảo vệ chủ quyền, nhất là sau vụ Đá Ba Đầu.[15][15] Mỹ tuyên bố sẽ đối xử với tàu dân binh Trung Quốc như tàu hải quân trong các tình huống xung đột.[16][16] Các nước như Mỹ, Nhật… sẽ gia tăng các hoạt động hợp tác tay đôi, tay ba hoặc nhiều bên để đối phó với dân binh Trung Quốc ở cả Hoa Đông và Biển Đông.

Nhóm NCTQ, Viện Biển Đông, Học viện Ngoại giao, Bài viết thể hiện quan điểm của riêng của nhóm tác giả

Categories: Uncategorized | Leave a comment

Post navigation

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

Blog at WordPress.com.

%d bloggers like this: