Author Archives: huyentamhh

Mỹ nói Trung Quốc quay đầu với cam kết thương mại

Mỹ nói Trung Quốc quay đầu với cam kết thương mại

Cựu thượng nghị sĩ Mary Landrieu vừa mới gặp Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị hôm 30/4Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionCựu thượng nghị sĩ Mary Landrieu vừa mới gặp Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị hôm 30/4

Đại diện thương mại Mỹ Robert Lighthizer cáo buộc Trung Quốc quay đầu với các cam kết trong đàm phán thương mại, nhưng vẫn khẳng định rằng một thỏa thuận về thuế quan vẫn có thể xảy ra.

Ông nói rằng lời đe dọa sẽ áp thêm thuế của Tổng thống Trump đối với hàng xuất khẩu của Trung Quốc được đưa ra sau khi Trung Quốc từ bỏ các cam kết.

Chứng khoán TQ sụt giảm vì Mỹ dọa đánh thêm thuế

Quyền Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ: “Trung Quốc, Trung Quốc, Trung Quốc”

Trung Quốc kiểm soát fentanyl theo ý Mỹ

Apple phủ nhận lệnh cấm iPhone tại Trung Quốc

Nhưng ông nói Washington vẫn đón đợi một phái đoàn Trung Quốc vào thứ Năm cho vòng đàm phán tiếp theo.

Chứng khoán Mỹ đã lấy lại thăng bằng sau khi giảm mạnh trước đó.

Vào Chủ nhật, ông Trump viết trên Twitter, rằng Mỹ sẽ tăng gấp đôi mức thuế đối với lô hàng hóa Trung Quốc trị giá 200 tỷ đôla vào thứ Sáu và có thể sẽ ra thêm mức thuế mới.

Phát biểu với các phóng viên hôm thứ Hai, ông Lighthizer nói: “Trong suốt tuần qua, chúng tôi đã thấy sự xói mòn trong các cam kết của Trung Quốc. Điều đó theo quan điểm của chúng tôi không thể chấp nhận được.”

China's Vice Premier Liu He (L) speaks with US President Donald Trump during a trade meeting in the Oval Office at the White House in Washington, DC, on April 4, 2019Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionQuan chức thương mại hàng đầu của Trung Quốc, Phó Thủ tướng Lưu Hạc dự kiến vẫn sẽ trở lại Washington trong tuần này

Ông nói rằng Trung Quốc đã cố gắng thay đổi đáng kể nội dung văn bản thỏa thuận song phương khi quá trình đàm phán đã gần đến giai đoạn cuối.

“Chúng tôi sẽ không ngừng đàm phán vào thời điểm này. Nhưng bây giờ … đến thứ Sáu sẽ có thuế quan,” ông Lighthizer nói.

Trước đó, thị trường chứng khoán thế giới chìm xuống sau một loạt các tweet của tổng thống Trump, với Shanghai Composite giảm 5,6%.

Tuy nhiên, tại Mỹ, chỉ số Dow Jones đóng cửa chỉ giảm 0,3%, sau khi sụt 471 điểm – gần 1,8% – trong phiên giao dịch sớm.

Ông Trump nói gì?

Vào Chủ nhật, Tổng thống Mỹ đã tweet rằng thuế quan 10% đối với một số hàng hóa nhất định sẽ tăng lên 25% vào thứ Sáu và số hàng hóa 325 tỷ đôla chưa được xử lý có thể phải đối mặt với mức thuế 25% “trong thời gian ngắn”.

“Thỏa thuận thương mại với Trung Quốc vẫn tiếp tục, nhưng quá chậm, trong khi họ cố gắng tái đàm phán lại. Không!” ông Trump tweet.

Hôm thứ Hai ông lại tweet rằng Hoa Kỳ đã “mất” 500 tỷ đô la một năm khi giao dịch với Trung Quốc. “Xin lỗi, chúng tôi sẽ không làm điều đó nữa!”

Sau khi áp thuế đối với hàng hóa trị giá hàng tỷ đôla vào năm ngoái, Mỹ và Trung Quốc đã đàm phán và trong những tuần gần đây, dường như đã tiến gần đến một thỏa thuận.

Tuần trước, Bộ trưởng Tài chính Hoa Kỳ Steven Mnuchin nói các cuộc đàm phán tại Bắc Kinh đang có “hiệu quả”.

Presentational white space

Nhưng theo các báo cáo, trong những ngày gần đây, các quan chức Mỹ trở nên bực bội vì Trung Quốc từ chối sửa đổi luật như một phần của thỏa thuận, dù có vẻ trước đó, hai bên đã đồng ý.

Các vấn đề khác bao gồm cách thực thi thỏa thuận, và có nên rút lại các thuế quan đã áp đặt không và rút nhanh hay chậm, và các vấn đề xung quanh việc bảo vệ sở hữu trí tuệ.

Hôm thứ Hai, Bộ trưởng Tài chính Hoa Kỳ Steven Mnuchin nói với các phóng viên rằng các cuộc đàm phán đã hoàn tất 90% nhưng các nhà đàm phán Trung Quốc đang cố gắng “quay trở lại với ngôn ngữ đã được đàm phán trước đây”.

“[Đây là] những ngôn ngữ rất rõ ràng, có thể làm thay đổi thỏa thuận một cách đáng kể”, ông nói.

Cuộc thỏa thuận liệu đã thất bại?

Cho đến nay, Mỹ đã áp đặt thuế quan đối với hàng hóa Trung Quốc trị giá 250 tỷ đô a, và đã cáo buộc Bắc Kinh thực hành thương mại không công bằng.

Bắc Kinh đã đáp trả với mức thuế lên số hàng hóa trị giá 110 tỷ đôla của Hoa Kỳ, đổ lỗi cho Hoa Kỳ bắt đầu “cuộc chiến thương mại lớn nhất trong lịch sử kinh tế”.

Một cửa hàng đồ lót thương hiệu Mỹ Victoria's Secret tại Trung QuốcBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionMột cửa hàng đồ lót thương hiệu Mỹ Victoria’s Secret tại Trung Quốc

Tuy nhiên, một số nhà phân tích đã đặt câu hỏi liệu các lời đe dọa của ông Trump có phải là một chiến thuật đàm phán hay không.

William Reinsch, chuyên gia chính sách thương mại tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế, cho biết Trung Quốc sẽ không bao giờ đáp ứng tất cả các yêu cầu của Mỹ.

“Một lúc nào đó, tổng thống sẽ phải nhận ra rằng họ sẽ không cho ông ta mọi thứ ông ta muốn,” ông nói với hãng tin AFP.

Điều đó sẽ đặt ông Trump vào “một vị trí chính trị bấp bênh” rằng “chấp nhận một thỏa thuận thì sẽ bị chỉ trích là yếu kém còn không có thỏa thuận thì bị chỉ trích là thất bại”.

Việc tăng thuế sẽ ảnh hưởng gì?

Động thái mới nhất của ông Trump sẽ tăng thuế đối với hơn 5.000 sản phẩm được sản xuất bởi các nhà sản xuất Trung Quốc, từ hóa chất đến hàng dệt may và hàng tiêu dùng.

Tổng thống Mỹ ban đầu áp đặt mức thuế 10% đối với các mặt hàng này vào tháng 9, dự kiến ​​sẽ tăng vào tháng 1, nhưng đã hoãn việc này khi các cuộc đàm phán tiến triển.

Mối quan ngại về tình trạng thuế quan leo thang đã thị trường chứng khoán thế giới sụt giảm mạnh vào cuối năm ngoái.

IMF đã cảnh báo một cuộc chiến thương mại toàn diện sẽ làm suy yếu nền kinh tế toàn cầu.

Advertisements
Categories: Uncategorized | Leave a comment

Nguyên soái Georgi Zhukov là người đánh bại Hitler

Nguyên soái Georgi Zhukov là người đánh bại Hitler

Từ trái sang phải: Nguyên soái Liên Xô Konstantin K. Rokossovsky, Thống chế Anh Quốc Bernard Law Montgomery và Nguyên soái Liên Xô Georgi K. Zhukov tại Berlin ngày 13/7/1945Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTừ trái sang phải: Nguyên soái Liên Xô Konstantin K. Rokossovsky, Thống chế Anh Quốc Bernard Law Montgomery và Nguyên soái Liên Xô Georgi K. Zhukov tại Berlin ngày 13/7/1945

Nguyên soái Georgi Zhukov là vị chỉ huy Hồng Quân Liên Xô từ chỗ sắp sửa bị đánh bại tại Stalingrad sang thế đẩy lùi quân phát xít Đức về tận Berlin, nơi chế độ Đức quốc xã sụp đổ.

Ông trở thành người anh hùng của Liên bang Xô-viết nhưng Stalin, và sau đó là Khrushchev, vô cùng đố kỵ với tầm vóc của ông. Họ đã buộc ông đảm nhận một loạt các công việc tầm thường và cố gắng để tên ông nằm ngoài các cuốn sách lịch sử.

Nhắc lại cuộc đời Marx và Lenin – BBC Tiếng Việt

Khi nguyên soái Zhukov qua đời năm 1974, Chính quyền Xô-viết đã phục hồi lại công trạng to lớn của ông và cử hành lễ tang trọng thể theo nghi lễ quốc gia – khoảng một triệu người tham dự lễ tang và một vài người đã thiệt mạng bởi sự hỗn loạn của đám đông.

Vai trò ý thức hệ trong cuộc cách mạng cộng sản ở Việt Nam

So sánh hai nguyên soái Zhukov và Rokossovsky

Một số vụ thanh trừng khét tiếng lịch sử

Đức ‘nợ Ba Lan’ 850 tỷ USD vì tàn phá thời chiến?

Nhà quân sự thiên tài

Nhưng ở phương Tây, tên tuổi của nguyên soái Zhukov vẫn chưa được nhiều người biết đến.

Và cuốn sách của Albert Axell mang tên: “Zhukov: Vị tướng đánh bại Hitler” ra mắt năm 2003, được viết với sự giúp đỡ của hai con gái của ông là một nỗ lực nhằm đưa mọi thứ trở về đúng vị trí của nó.

Axell tin rằng Zhukov là nhà quân sự thiên tài, sánh ngang với Napoleon và Alexander đại đế.

Đến nay, Học viện quân sự Hoa Kỳ West Point và Học viện quân sự Hoàng gia Anh Sandhurst cũng như các Học viện quân sự hàng đầu của Nga vẫn đang nghiên cứu về vai trò lãnh đạo của ông trong suốt “cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại”.

Nhưng Axell cũng làm sáng tỏ cuộc đối đầu còn ít được biết đến năm 1939, được cho rằng đã làm thay đổi quá trình lịch sử.

Zhukov đã chỉ huy quân đội Xô-viết đánh bại cuộc xâm lược nguy hiểm của quân Nhật tại Kalkin-Gol thuộc Mongolia.

Và theo Axell, điều đặc biệt ấn tượng chính là khi Đức quốc xã xâm lược Liên bang Xô -viết vào mùa hè năm 1941, Nhật Bản đã quyết định không tham gia cùng quân đội Đức mà quay sang tấn công Mỹ.

Zhukov là một trong số ít các vị chỉ huy Hồng Quân thoát khỏi sự thanh trừ của Stalin vào cuối những năm 1930.

Sau đó ông đã chỉ huy Hồng Quân giành chiến thắng tại Stalingrad và Kursk, đồng thời giải vây cho Leningrad và bảo vệ Moscow trước quân Đức quốc xã. Chính ông cũng là người lên kế hoạch chiếm Berlin và khiến Hitler sụp đổ.

Sự đố kỵ của Stalin

Tượng nguyên soái Zhukov ở MoscowBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTượng nguyên soái Zhukov ở Moscow

Nhưng sau cuộc chiến, Stalin trở nên đố kỵ với Zhukov và trùm mật vụ của Stalin là Lavrenti Beria đã tìm cách nguỵ tạo một số tội danh giả buộc tội Zhukov.

Zhukov thực sự trở thành một người vô danh đến khi Stalin chết vào năm 1953.

Cũng chính thời điểm này ông là người chỉ huy vụ bắt giữ và thi hành án tử hình Beria.

Nhưng Khrushchev là người tiếp theo đã buộc Zhukov từ một vị Bộ trưởng quốc phòng trở thành một nhân vật không có ảnh hưởng trên trường quốc tế.

“Đảng Cộng Sản đã thành công trong việc không để công luận biết đến hình ảnh của Zhukov, nhưng họ không có cách nào loại ông ra khỏi trái tim những người lính Hồng Quân”, đại sứ Ấn Độ tại Moscow, Krishna Menon, viết năm 1957.

Vào cuối những năm 1960, Zhukov được phục hồi chức vụ và ông bắt đầu viết hồi ký.

Các nhà kiểm duyệt đã cắt giảm 1/10 cuốn hồi ký dầy 1500 trang của ông.

Ông cũng bị buộc phải thêm vào cuốn hồi ký phần viết hoàn toàn không có thật về ông Leonid Brezhnev, người sau này là lãnh đạo Đảng Cộng Sản, trong thời gian chiến tranh.

Leonid Brezhnev muốn tên mình được gắn với người anh hùng vĩ đại Zhukov trong tâm trí công luận.

Ngày nay, chỉ có những đảng viên cộng sản then chốt và lão thành tôn vinh Stalin, tất cả người dân Nga vẫn coi Zhukov là một vị anh hùng dân tộc.

Nhà ái quốc

“Giống như tất cả các vị tướng lĩnh cao cấp, Zhukov là một người cộng sản trung thành. Ông coi bản thân là một đảng viên tốt nhưng ông cũng là một nhà quân sự và trên tất cả, ông là một người ái quốc”, Axell nói.

ZhukovBản quyền hình ảnhYEGOR ALEYEV
Image captionHuy hiệu có hình nguyên soái Zhukov

Khi được hỏi các kỹ năng tài tình của Zhukov là gì, Axell nói:

“Ông là nhà chiến lược và nghi binh tài ba, ông là nhà kế hoạch thiên tài, đồng thời có khả năng thôi thúc binh sỹ. Nhưng ông cũng là người nhẫn tâm, cực kỳ nghiêm khắc và không khoan dung”.

Cuốn sách của Axell cũng tiết lộ tình bạn sâu sắc giữa Zhukov và Tướng Eisenhower, người sau này là tổng thống Hoa kỳ.

Axell chỉ ra hai người bạn này, sau chiến tranh, đã hợp tác tốt đẹp với nhau trong việc giám sát sự chiếm đóng nước Đức và tự hỏi liệu Chiến Tranh Lạnh có xảy ra nếu hai bên đã không rút các tổng tư lệnh của họ.

Bài viết từng đăng trên BBC Tiếng Việt năm 2005.

Categories: Uncategorized | Leave a comment

NÓNG: Israel bị tấn công lớn chưa từng có kể từ 2014 – Mỹ điều tàu sân bay tới ứng cứu?

NÓNG: Israel bị tấn công lớn chưa từng có kể từ 2014 – Mỹ điều tàu sân bay tới ứng cứu?

N. Tuấn Sơn | 

NÓNG: Israel bị tấn công lớn chưa từng có kể từ 2014 - Mỹ điều tàu sân bay tới ứng cứu?
Hệ thống phòng thủ tên lửa Iron Dome của Israel khai hỏa. Ảnh minh họa.

“Mật mã đỏ” báo động phòng không đã được phát đi trên toàn thành phố Ashkelon, khu công nghiệp Ashkelon và nhiều nơi khác ở Israel. Hệ thống phòng thủ tên lửa Iron Dome khai hỏa.

Vui lòng bấm F5 để liên tục cập nhật

9h46: Truyền thông Palestine cho biết Israel và các nhóm khủng bố ở Gaza đã đạt được thỏa thuận ngừng bắn và sẽ có hiệu lực bắt đầu từ 4h30 sáng giờ địa phương. Hiện chưa có bất cứ nguồn tin chính thức nào khẳng định, tuy nhiên trong vòng hơn 1 giờ qua đã không có thêm quả rocket nào bắn về phía Israel.

Trước đó chỉ chừng 3h, còi báo động phòng không vẫn rú lên ở Kissufim thuộc khu vực Eshkol gần phía Nam dải Gaza. IDF đã điều tra xem loạt đạn này có phải là phóng vào tấn công Israel hay không.

8h48: Nguồn tin của Hamas cho hay vài giờ tới sẽ là cực kỳ quan trọng thử thách sự kiềm chế của các bên. Liên Hợp Quốc, Qatar và Ai Cập đã gửi tới Israel đề xuất ngừng bắn và quá trình đàm phán hòa bình ở Cairo vẫn đang diễn ra căng thẳng.

8h24: Tổng thống Mỹ Donald Trump viết trên Tweet: “Một lần nữa, Israel phải đối mặt với đòn tấn công ồ ạt và chết chóc bằng rocket của các nhóm khủng bố Hamas và Hồi giáo Thánh chiến. Chúng tôi ủng hộ Israel 100% về quyền bảo vệ công dân của họ”.

“Đối với người Gaza – những hành động khủng bố nhằm vào Israel này sẽ chẳng mang lại điều gì mà chỉ chuốc lấy thêm nhiều bất hạnh”. Hãy CHẤM DỨT ngay bạo lực và nỗ lực hướng tới hòa bình – mọi chuyện sẽ tốt đẹp”. TT Trump nhấn mạnh.

8h15: Mỹ triển khai tàu sân bay tới vùng Vịnh mang theo thông điệp cứng rắn đối với Iran rằng bất kỳ vụ tấn công nào vào lợi ích của Hoa Kỳ hoặc các đồng minh của Mỹ đều sẽ phải trả giá.

Ông John Bolton – Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ cảnh báo: “Hoa Kỳ không gây chiến với Iran, nhưng chúng tôi đã chuẩn bị sẵn sàng để đáp trả bất kỳ đòn tấn công nào”.

NÓNG: Israel bị tấn công lớn chưa từng có kể từ 2014 - Mỹ điều tàu sân bay tới ứng cứu? - Ảnh 2.

Dân thường Israel bị thương do các quả rocket phóng đi từ dải Gaza.

7h45: “Mật mã đỏ” báo động phòng không đã được phát đi trên toàn thành phố Ashkelon, khu công nghiệp Ashkelon và nhiều nơi khác ở Israel. Hệ thống phòng thủ tên lửa Iron Dome đã khai hỏa bắn hạ một số quả rocket nguy hiểm. Hiện chưa có báo cáo thương vong và thiệt hại của Israel.

theo Trí Thức Trẻ

Categories: Uncategorized | Leave a comment

Mỹ muốn giúp Việt Nam xây dựng năng lực trên biển

Các sĩ quan Mỹ trên tàu sân bay Hải quân Hoa Kỳ Carl Vinson tại cảng Đà Nẵng, Việt Nam

Mỹ muốn giúp Việt Nam xây dựng năng lực trên biển

© AP Photo / Hau Dinh
VŨ KHÍ

URL rút ngắn
10

Đô đốc Mỹ khẳng định hợp tác quốc phòng hai nước dựa trên lợi ích chiến lược chung và tăng năng lực bảo vệ chủ quyền, thực thi luật pháp trên biển cho Việt Nam.

Trong chuyến thăm Việt Nam kéo dài 4 ngày, Đô đốc Philip S. Davidson, chỉ huy Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ đã thảo luận về việc tiếp tục triển khai hợp tác an ninh Việt – Mỹ trong nhiều lĩnh vực, gồm giải quyết vấn đề chiến tranh để lại, tăng cường năng lực của Việt Nam trong hoạt động gìn giữ hòa bình, xây dựng năng lực thực thi pháp luật trên biển, đảm bảo sự tự do và rộng mở của khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, theo thông cáo của đại sứ quán Mỹ.

“Hợp tác quốc phòng giữa Mỹ và Việt Nam dựa trên lợi ích chiến lược chung của hai nước trong việc đảm bảo chủ quyền và độc lập của Việt Nam, thúc đẩy trật tự quốc tế dựa trên luật lệ”, đô đốc Davidson hôm qua phát biểu khi kết thúc chuyến thăm tới Hà Nội, Khánh Hòa và Thành phố Hồ Chí Minh.

Đô đốc Davidson hôm 17/4 đến thăm tỉnh Khánh Hòa, dự lễ khánh thành phòng điều trị mới do quân đội Mỹ hỗ trợ xây dựng tại Bệnh viện Da liễu Khánh Hòa.

Quan hệ hợp tác Việt – Mỹ được cải thiện trên nhiều lĩnh vực trong những năm gần đây. Sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ vào năm 1995, kim ngạch thương mại hai chiều tăng từ 451 triệu USD năm 1995 lên đến 52 tỷ USD năm 2016, biến Việt Nam trở thành một trong những thị trường xuất khẩu tăng trưởng nhanh nhất của Mỹ.

Trong hợp tác quốc phòng, Việt Nam đã được mời tham gia các cuộc diễn tập hải quân quy mô lớn của Mỹ, trong khi Mỹ chuyển giao nhiều khí tài quân sự và điều các tàu chiến tới thăm Việt Nam. Đại diện Đại sứ quán Mỹ hôm 1/4 cũng đã bàn giao 6 xuồng tuần tra Metal Shark cho Bộ tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 3 Việt Nam tại Khánh Hoà.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Đô đốc Tư lệnh Davidson: Hợp tác quốc phòng Mỹ-Việt dựa trên lợi ích chiến lược chung của hai nước

Đô đốc Tư lệnh Davidson: Hợp tác quốc phòng Mỹ-Việt dựa trên lợi ích chiến lược chung của hai nước

21 Tháng Tư 20195:56 CH(Xem: 214)

“>

VĂN HÓA ONLINE – ĐIỂM NÓNG A  – THỨ HAI 22 APRIL 2019

Đô đốc Tư lệnh Davidson: Hợp tác quốc phòng Mỹ-Việt dựa trên lợi ích chiến lược chung của hai nước

19/04/2019

image002

Đô đốc Philip Davidson và Bí thư Thành ủy HCM Nguyễn Thiện Nhân, ngày 17/4/2019. Photo VOV via SGGP.

Ngày 18/4/2019, Đô đốc Philip S. Davidson đã kết thúc chuyến thăm đầu tiên tới Việt Nam trên cương vị Tư lệnh Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương–Thái Bình Dương Hoa Kỳ (USINDOPACOM) sau chuyến đi dài 4 ngày tới Hà Nội, tỉnh Khánh Hòa và thành phố Hồ Chí Minh.

Trong chuyến công du này, “Đô đốc Davidson và các quan chức Việt Nam đã thảo luận về việc tiếp tục triển khai một cách sâu sắc hơn hoạt động hợp tác an ninh giữa Hoa Kỳ và Việt Nam trong nhiều lĩnh vực, bao gồm giải quyết các vấn đề chiến tranh để lại, tăng cường năng lực của Việt Nam trong hoạt động gìn giữ hòa bình, xây dựng năng lực thực thi pháp luật trên biển, và đảm bảo sự tự do và rộng mở của khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”, Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam cho biết trong một thông cáo hôm 19/4.

Hợp tác quốc phòng giữa Hoa Kỳ và Việt Nam dựa trên lợi ích chiến lược chung của hai nước.

“Hợp tác quốc phòng giữa Hoa Kỳ và Việt Nam dựa trên lợi ích chiến lược chung của hai nước trong việc đảm bảo chủ quyền và độc lập của Việt Nam và thúc đẩy một trật tự quốc tế dựa trên luật lệ”, Đô đốc Davidson phát biểu trong chuyến thăm.

Hôm 17 và 18/4, Đô đốc Davidson đến thăm thành phố Hồ Chí Minh và gặp gỡ với Bí thư Thành ủy Nguyễn Thiện Nhân.

Trong cuộc gặp với các lãnh đạo doanh nghiệp tại thành phố, Đô đốc Davidson và các lãnh đạo doanh nghiệp đã thảo luận về cách thức Hoa Kỳ và Việt Nam có thể hợp tác để hỗ trợ khu vực tư nhân đầu tư vào cơ sở hạ tầng, như một phần trong Chiến lược Ấn Độ Dương–Thái Bình Dương của Tổng thống Donald Trump.

Hôm 17/4, Đô đốc Davidson đã tham dự lễ khánh thành các phòng điều trị mới tại Bệnh viện Da liễu Khánh Hòa do quân đội Hoa Kỳ hỗ trợ xây dựng.

Cũng hôm 17/4, ông Davidson nói với ông Trần Sơn Hải, Phó chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa rằng ông “muốn có chuyến thăm chính thức của tàu sân bay Mỹ đến Khánh Hòa vào mùa hè này”, theo báo Người Lao động.

Trước đó, trong thời gian ở Hà Nội từ ngày 15-16/4, Đô đốc Davidson đã gặp các quan chức chính phủ và quốc phòng cấp cao của Việt Nam, bao gồm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Ngô Xuân Lịch; Thứ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn, và Phó Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, ông Nguyễn Mạnh Cường.

Trong một diễn biến liên quan, chiều ngày 18/4, Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Thị Kim Ngân tiếp Đoàn đại biểu Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ do Thượng nghị sĩ Patrick Leahy – Phó Chủ tịch Ủy ban Chuẩn chi Thượng viện Hoa Kỳ, làm Trưởng đoàn nhân chuyến thăm làm việc tại Việt Nam.

image003

Thượng Nghị sĩ Hoa Kỳ Patrick Leahy và Chủ tịch QH Nguyễn Thị Kim Ngân, hôm 18/4/2019 tại Hà Nội. Photo VNA

(theo VOA)

++++++++++++++++++++++++++++++++++++

XEM THÊM:

Đô đốc Philip S. Davidson: ” … chỉ trừ chiến tranh với Hoa Kỳ”

22/04/2018

image004

Đô đốc Philip S. Davidson

Võ Hồng Ly FB

Nhận định này được đưa ra trong một văn bản của gửi cho Ủy Ban Quân Vụ Thượng Viện Hoa Kỳ hôm 17 tháng 4, trước cuộc điều trần chuẩn thuận ông vào chức Chỉ Huy Bộ Tư Lệnh Thái Bình Dương PACOM.

Đô đốc Davidson viết rằng, một khi đã chiếm trọn Biển Đông, Trung Cộng sẽ có khả năng mở rộng ảnh hưởng của mình hàng ngàn dặm về hướng nam và phóng chiếu sức mạnh sâu vào vùng Châu Đại Dương.

Theo ông, quân đội Trung Cộng có thể sử dụng các căn cứ ở Biển Đông để thách thức sự hiện diện của Hoa Kỳ trong vùng, và bất cứ lực lượng nào được Trung Cộng điều đến các đảo nhân tạo cũng sẽ dễ dàng áp đảo các lực lượng quân sự của bất cứ nước nào khác có yêu sách chủ quyền ở Biển Đông.

image001

Đô đốc Davidson cho rằng, chỉ trừ trường hợp chiến tranh với Hoa Kỳ, Trung Cộng hiện nay có đủ khả năng kiểm soát Biển Đông trong mọi tình huống.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Máy bay tàng hình TQ sẵn sàng tác chiến trong năm nay?

Máy bay tàng hình TQ sẵn sàng tác chiến trong năm nay?

Trung Quốc có thể tuyên bố máy bay tàng hình của nước này sẵn sàng tác chiến ngay trong năm nay, chỉ huy Thái Bình Dương của Không quân Mỹ cho biết.

Bloomberg ngày 2-5 dẫn lời tướng Charles Brown nói việc máy bay tàng hình J-20 có thể sẵn sàng tác chiến trong năm nay là tín hiệu cho thấy “mối đe dọa lớn hơn, năng lực mạnh hơn” của Trung Quốc tại Thái Bình Dương. Ngoài ra, Bắc Kinh cũng phát triển máy bay ném bom tầm xa có khả năng mang đầu đạn hạt nhân.

Theo ông Brown, Mỹ luôn giám sát chặt chẽ việc Trung Quốc tăng cường năng lực quân sự tại khu vực.

Ông nhấn mạnh rằng Mỹ sẽ có động thái đối phó với các diễn tiến trên, bao gồm việc tăng cường triển khai dòng máy bay thế hệ mới F-35 và tiếp tục bay qua các khu vực chiến lược như Biển Đông.

“Tôi thấy hoạt động của Trung Quốc có phần gia tăng” – Gen Brown nói trong cuộc phỏng vấn với Bloomberg.

Việc đưa J-20 ra thực địa sẽ giúp tăng cường cho lực lượng không quân Trung Quốc, hiện lớn nhất khu vực và lớn thứ ba thế giới, với hơn 2.500 máy bay, bao gồm 1.700 máy bay chiến đấu, máy bay ném bom chiến lược, máy bay ném bom chiến thuật và máy bay chiến thuật và tấn công đa nhiệm vụ, theo báo cáo của Cơ quan Tình báo quốc phòng Mỹ.

Máy bay tàng hình Trung Quốc sẵn sàng tác chiến trong năm nay? - Ảnh 2.

Tướng Charles Brown – Ảnh: THE SENTINEL

Máy bay chiến đấu J-20 là một phần trong nỗ lực hiện đại hóa của Trung Quốc nhằm “thu hẹp khoảng cách năng lực với các lực lượng không quân phương Tây trên một phạm vi rộng, như hiệu suất máy bay, chỉ huy và điều khiển và chiến tranh điện tử”, báo cáo cho biết.

Ông Brown cũng cho rằng Trung Quốc đang chuyển sang phát triển máy bay ném bom công dụng kép “tương tự máy bay ném bom của Mỹ” về khả năng mang vũ khí hạt nhân và vũ khí dẫn đường chính xác phi hạt nhân.

“Tôi không nghĩ rằng sẽ là quá sớm để nói rằng họ cũng có thể làm điều đó”, ông nói.

Quyền Bộ trưởng Quốc phòng Patrick Shanahan, trong một tuyên bố ngày 1-5 gửi tiểu ban đánh giá quốc phòng Hạ viện, cho biết máy bay ném bom tầm xa của Trung Quốc “nếu thành công, sẽ đưa Trung Quốc thành một trong ba quốc gia sở hữu bộ ba hạt nhân”, gồm năng lực hạt nhân trên bộ, trên biển và trên không.

Theo ông Brown, Mỹ có nhiều cách để đối phó với động thái này của Bắc Kinh, bao gồm triển khai không báo trước các máy bay ném bom B-1B, B-52 và B-2.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

TQ giàu nhì thế giới, vẫn được ưu đãi cho vay

TQ giàu nhì thế giới, vẫn được ưu đãi cho vay

Nhật Bản cân nhắc vẫn chấp nhận đầu tư Trung Quốc nhưng không hỗ trợ tài chính.

Bộ trưởng tài chính Nhật Bản Taro Aso hôm 4/5 tuyên bố trong Hội nghị thường niên của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) cho rằng, cần giảm các khoản vay dễ dãi cho những nước như Trung Quốc.

Theo lập luận của ông Taro Aso, Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, mức thu nhập cũng tăng nhưng cho đến nay vẫn nhận được các khoản vay lãi suất thấp.

Trung Quốc chiếm đến 12% các hợp đồng của ADB trong năm 2018, chỉ đứng sau Ấn Độ.

Bộ trưởng Nhật Bản cho rằng, Trung Quốc nên bị giảm các khoản vay dễ dãi được hỗ trợ bởi ADB.

“Để sử dụng hiệu quả nguồn lực có giới hạn, ADB nên ưu tiên hỗ trợ những nước dễ bị tổn thương và có thu nhập thấp, bao gồm các đảo quốc nhỏ” –  Bộ trưởng Aso nhận định.

Nhiều ý kiến tại hội nghị cũng chỉ trích việc Bắc Kinh mạnh tay cho các nền kinh tế đang phát triển vay tiền thông qua sáng kiến “Vành đai Con đường”. Những khoản vay như vậy khiến các nước ngập trong nợ nần và gọi kiểu đầu tư của Bắc Kinh là “bẫy nợ”.

Nhật Bản đã chấm dứt hỗ trợ phát triển cho Bắc Kinh từ tháng 3/2019.

Đây không chỉ là mối quan ngại của Nhật Bản.

Ngay cả ADB cũng nhận ra điều này. Tháng trước, Chủ tịch ADB Takehiko Nakao cho biết ngân hàng này sẽ tập trung vào các dự án thân thiện môi trường tại Trung Quốc và những dự án có tác động tích cực đến các nước láng giềng.

Ngân hàng thế giới (WB), cùng Mỹ là nước đóng góp lớn nhất cho ADB, cũng dự kiến cắt giảm các khoản vay cho Trung Quốc.

Tân Chủ tịch Ngân Hàng Thế giới là người Mỹ- ông David Malpass khẳng định, các khoản vay góp phần giúp các nền kinh tế phát triển, nhưng ông đồng thời cảnh báo về vấn đề cho vay của Trung Quốc.

“Nếu việc cho vay không được tiến hành trong minh bạch, nếu việc vay nợ không mang lại kết quả thuyết phục (về mặt phát triển của một quốc gia), thì khối nợ có thể là một gánh nặng đáng kể cho nền kinh tế” – ông David Malpass cảnh báo.

Hai ngân hàng thuộc quyền kiểm soát của nhà nước Trung Quốc là Ngân hàng Phát triển Trung Quốc và Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc đã cho các nước đang phát triển vay một lượng tiền còn lớn hơn cả khoản tiền cho vay của WB, theo báo cáo từ Tạp chí Tài chính Mỹ Financial Times.

Hai ngân hàng trên đã cung cấp khoản vốn vay ít nhất cũng là 110 tỷ USD (69,2 tỷ Euro) tới các chính phủ hoặc các công ty tại các nước đang phát triển trong 2 năm 2009 và 2010.

Chính phủ Trung Quốc vốn vẫn đang “ngồi” trên 2 nghìn tỷ USD (1,26 nghìn tỷ Euro) từ nguồn dự trữ ngoại hối sẵn sàng cấp vốn vay để thúc đẩy các mục tiêu chiến lược.

Lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) do các công ty Trung Quốc thực hiện (không bao gồm các ngân hàng) chỉ là khoảng 50 tỷ USD (31,5 tỷ Euro) trong năm 2018, bằng khoảng ½ lượng vốn FDI mà các công ty nước ngoài đổ vào Trung Quốc.

Điều này cho thấy hoặc các công ty Trung Quốc chưa thực sự tự tin đầu tư mạnh ra bên ngoài, hoặc Trung Quốc bắt đầu đối mặt với những lời từ chối rót vốn từ các quốc gia khác.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Biển Đông: Mỹ nói sẽ có chiến lược mới để phản pháo lại TQ

Biển Đông: Mỹ nói sẽ có chiến lược mới để phản pháo lại TQ

Mỹ, Hoa Kỳ, Đài Loan, Trung Quốc, tàu chiến, hải quânBản quyền hình ảnhTOMOHIRO OHSUMI/GETTY IMAGES
Image captionHải quân Hoàng gia Anh tham gia diễn tập cùng Hải quân Mỹ và Nhật Bản tháng 3/2019

Hoa Kỳ sẽ công bố một chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương mới trong tháng này nhằm chống lại nỗ lực của Trung Quốc muốn quân sự hóa Biển Đông.

Căng thẳng giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc tiếp tục leo thang, và Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng phụ trách an ninh khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương của Mỹ đã phản ứng bằng thông điệp là một chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương mới sẽ được khởi động vào tháng Năm.

Chiến lược mới được ông Randall Schriver công bố tại Kuala Lumpur, Malaysia vào tuần trước và khu vực này đã được xác định là “vùng ưu tiên” trong bối cảnh Hoa Kỳ tiếp tục tập trung sự quan tâm và hiện diện tại đây.

Quan hệ giữa hai nước có căng thẳng trong những tuần gần đây, sau khi hai tàu khu trục của hải quân Hoa Kỳ đi qua eo biển Đài Loan và có lời đe dọa của người đứng đầu hải quân Hoa Kỳ nhắm vào các tàu phi vũ trang của Trung Quốc.

Trong số bốn quốc gia được liệt kê là mối đe dọa trong Chiến lược Quốc phòng Hoa Kỳ năm 2018, hai quốc gia thuộc khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương là Trung Quốc, nước đang gây ảnh hưởng mở rộng ở Thái Bình Dương và quân sự hóa các đảo và bãi cạn ở Biển Đông và Bắc Hàn do có chương trình phát triển vũ khí hạt nhân.

Tuyên bố được đưa ra sau khi người đứng đầu Hải quân Hoa Kỳ đe dọa các tàu không có vũ trang của Trung Quốc hồi đầu tuần này để đáp trả các hành động gây hấn của hải quân Trung Quốc tại đây.

Quân đội Mỹ vào hôm 28/4 cho biết đã điều hai tàu chiến Hải quân qua eo biển Đài Loan trong bối cảnh Lầu Năm Góc tăng tần suất hoạt động qua tuyến đường thủy chiến lược này, bất chấp phản đối của Trung Quốc, theo Reuters.

Chuyến đi có nguy cơ làm gia tăng thêm căng thẳng với Trung Quốc trong bối cảnh xích mích ngày càng tăng giữa Đài Bắc và Bắc Kinh.

Đài Loan là một trong những điểm nóng trong mối quan hệ Hoa Kỳ-Trung Quốc, bao gồm cả chiến tranh thương mại, lệnh trừng phạt của Hoa Kỳ và sự hiện diện quân sự ngày càng tăng của Trung Quốc trên Biển Đông, nơi Hoa Kỳ cũng tiến hành các hoạt động tự do tuần tra hàng hải.

Chủ quyền TQ ở Trường Sa đến từ ‘lỗi dịch thuật’?

VN làm gì để bảo vệ ngư dân bị Indonesia bắt?

Ra khỏi EU, Anh hướng về Biển Đông?

Tàu ngầm Nhật ‘lần đầu’ diễn tập ở Biển Đông

Trung Quốc kỷ niệm 70 năm thành lập Hải quân

Hai tàu khu trục được xác định là William P. Lawrence và Stethem. Eo biển Đài Loan rộng 180 km ngăn cách Đài Loan với Trung Quốc.

“Hai tàu chiến quá cảnh trên eo biển Đài Loan thể hiện cam kết của Hoa Kỳ đối với một Ấn Độ-Thái Bình Dương tự do và cởi mở hàng hải,” ông Clay Doss, phát ngôn viên Hạm đội bảy của Hải quân Hoa Kỳ cho biết trong một thông cáo.

Ông Doss cho biết không có tương tác không an toàn hoặc không chuyên nghiệp với tàu của các quốc gia khác trong quá trình hai tàu chiến này di chuyển.

Bắc Kinh lo ngại rằng Đài Loan có thể sẽ làm tăng đáng kể ngân sách quốc phòng Trung Quốc năm nay, sau phát biểu vào năm mới của Chủ tịch Tập Cận Bình, đe dọa tấn công Đài Loan nếu không chấp nhận sự cai trị của Trung Quốc.

Trung Quốc đã nhiều lần đưa máy bay và tàu quân sự đi vòng quanh Đài Loan trong các cuộc tập trận trong vài năm qua, nỗ lực để cô lập Đài Loan trên phạm vi quốc tế, và làm giảm số đồng minh còn lại của Đài Loan.

Vào tháng trước Hoa Kỳ dường như đã điều một hàng không mẫu hạm tới khu vực gần rặng san hô chiến lược, nơi đang có tranh chấp giữa Bắc Kinh và Manila.

Phía Mỹ không xác nhận nhưng cũng không bác bỏ tàu chiến hiện diện gần Bãi cạn Scarborough có phải là tàu USS Wasp hay không.

Trung Quốc trên thực tế đã chiếm quyền kiểm soát Bãi cạn Scarborough kể từ 2012 tới nay, sau khi cuộc đối đầu giữa các tàu của Philippines và Trung Quốc kết thúc.

Kể từ đó, Trung Quốc trên thực tế đã phong tỏa khu vực này, nơi vốn là ngư trường màu mỡ của ngư dân Philippines, và thường xuyên cho tàu cá cùng các tàu “cảnh sát biển” tới nơi.

Trong một nỗ lực nhằm kiềm chế thái độ của Trung Quốc tại đây, hồi tháng Giêng năm ngoái, hải quân Mỹ đã gửi một tàu khu trục tiến sát phạm vi 12 hải lý của bãi cạn này, nhằm thực thi quyền tự do đi lại ở Biển Đông.

TQ tuyên bố chủ quyền theo đường 9 đoạn ở Biển Đông
Image captionTQ tuyên bố chủ quyền theo đường 9 đoạn ở Biển Đông

Ngoài Bãi cạn Scaborough, Manila còn đối đầu với Bắc Kinh về nhiều địa điểm khác trên Biển Đông.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Tên lửa phòng không “khét tiếng” Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam

Tên lửa phòng không “khét tiếng” Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam

Việt Hùng | 

Tên lửa phòng không "khét tiếng" Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam

Tên lửa phòng không MIM-23 Hawk.

MIM-23, loại tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ trước khi bắn hạ hàng loạt máy bay Liên Xô đã từng được triển khai tại miền Nam Việt Nam, tuy nhiên chúng đã không thực hiện được phi vụ nào tại chiến trường này.

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 1.

Năm 1965, Quân đội Mỹ đã triển khai tên lửa phòng không MIM-23 Hawk tới Việt Nam để “phòng xa” trong trường hợp Không quân Nhân dân Việt Nam “mở rộng tác chiến vào miền Nam”

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 2.

Loại tên lửa này được triển khai tại Đà Nẵng vào năm 1965. Đây là hệ thống phòng không hiện đại nhất lúc bấy giờ của Mỹ.

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 3.

Tuy vậy tại chiến trường Việt Nam, MIM-23 đã không có màn thể hiện ấn tượng nào.

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 4.

Dù bị Mỹ loại biên từ lâu, nhưng MIM-23 vẫn đang hoạt động tích cực trong biên chế các quốc gia đồng minh.

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 5.

Loại tên lửa này hiện đang tham chiến tại chiến trường Trung Đông khi chúng nằm trong biên chế quân đội Thổ Nhĩ Kỳ và được triển khai tại Syria.

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 6.

Trong quá khứ, kể từ sau chiến tranh Việt Nam, MIM-23 từng bắn hạ các chiến đấu cơ do Liên Xô sản xuất.

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 7.

Hệ thống tên lửa MIM-23 Hawk bắt đầu phục vụ trong Quân đội Mỹ từ tháng 8-1960, nhưng đến năm 1971 phiên bản cải tiến của Hawk mới được đưa vào phục vụ.

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 8.

Loại vũ khí này do công ty Raytheon thiết kế, khoảng 40.000 quả tên lửa đã được chế tạo suốt thế kỷ 20.

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 9.

Loại tên lửa này được thiết kế với vai trò tấn công các mục tiêu ở tầm bắn trung bình, độ cao lớn.

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 10.

Tuy tầm bắn, độ cao với tới của hệ thống tên lửa Hawk kém hơn S-75 Dvina nhưng Hawk lại có đầu tự dẫn radar bán chủ động – công nghệ rất mới thời điểm bấy giờ so với thế hệ S-75 và S-125.

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 11.

Tổ hợp MIM-23 thường được trang bị 4 đài radar bắt mục tiêu – dẫn đường tên lửa, 6 bệ phóng (3 đạn tên lửa/bệ) và một số thành phần hỗ trợ khác.

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 12.

Bốn loại radar gồm: đài radar bắt mục tiêu tầm cao AN/MQP-35, đài radar bắt mục tiêu bay thấp AN/MPQ-34, đài radar chiếu dọi mục tiêu năng lượng cao AN/MPQ-33/39 (dùng để theo dõi mục tiêu, dẫn đường tên lửa) và đài radar xác định cự ly AN/MPQ-37.

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 13.

Tổ hợp MIM-23 trang bị đạn tên lửa MIM-23A dài 5,08m, đường kính thân 0,37m, sải cánh 1,21m, lắp đầu đạn nổ mảnh nặng 54 kg và trọng lượng phóng 584 kg.

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 14.

Tên lửa có thể tiêu diệt mục tiêu ở cự ly 2-25 km, đạt độ cao tối đa 11.000m, tốc độ hành trình Mach 2,4. MIM-23A lắp đầu tự dẫn radar bán chủ động.

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 15.

Thành tích đáng nể phục mà tên lửa này đạt được đó là trong cuộc “Chiến tranh tiêu hao”, hệ thống tên lửa Hawk đã hạ 1 chiếc Il -28, 4 chiếc Su-7, 4 chiếc MiG-17, 3 chiếc MiG-21 của Không quân Ai cập.

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 16.

Còn trong cuộc “Chiến tranh tháng Mười” nạn nhân của nó là 4 chiếc MiG-17, 1 MiG-21, 3 chiếc Su-7, 1 chiếc “Hunter”, 1 chiếc Mirage-5, 2 chiếc Mi-8 của Không quân Ai cập, Syria, Jorrdan và Lybia.

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 17.

Lần cuối, vào năm 1982, 1 chiếc MiG-25 và có thể thêm 1 chiếc MiG-23 nữa đã bị tổ hợp này bắn hạ trên không phận Li băng.

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 18.

Trong cuộc Chiến trang Iraq – Iran (1980 – 1988), hệ thống tên lửa Hawk của Iran “tự ” bắn rơi 2 – 3 chiếc tiêm kích F-14 và 1 chiếc F-5 của chính Không quân Iran, và khoảng 40 máy bay Iraq.

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 19.

Tháng 9-1987, tổ hợp Hawk của Pháp đã hạ 1 máy bay ném bom Tu-22 của Lybia trên bầu trời thủ đô N’Djamena của Tchad.

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 20.

Ngày 2-8-1990, Hawk cải tiến của Kuwait đã bắn rơi 1 chiếc Su-22 và 1 chiếc MiG-23BN của Không quân Iraq khi xâm nhập Kuwait.

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 21.

Cho đến thời điểm hiện tại MIM-23 Hawk là hệ thống phòng không tiêu diệt được nhiều chủng loại máy bay nhất do Liên Xô cũ sản xuất.

https://anninhthudo.vn/quan-su/anh-ten-lua-phong-khong-khet-tieng-my-tung-trien-khai-trong-chien-tranh-viet-nam/808774.antd

theo An ninh thủ đô

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Phân tích lập trường của VN về Bộ Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông

Phân tích lập trường của VN về Bộ Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông

17 Tháng Tư 20197:04 CH(Xem: 280)

“>

VĂN HÓA ONLINE – THẾ GIỚI HÔM NAY  – THỨ NĂM 18 APRIL 2019

image023

Từ DOC tới COC

Phân tích lập trường của Việt Nam về Bộ Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông

image025

Nguồn: Lê Hồng Hiệp, “Vietnam’s Position on the South China Sea Code of Conduct“, ISEAS Perspective, no. 22/2019, 08/04/2019.

Biên dịch: Nguyễn Hoàng Sa

Giới thiệu

Các quốc gia thành viên ASEAN và Trung Quốc hiện đang đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC) để thay thế Tuyên bố  ASEAN – Trung Quốc năm 2002 về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) chủ yếu mang tính chính trị.

Ngày 3 tháng 8 năm 2018, một bước tiến đáng kể đã được thực hiện khi ngoại trưởng 10 nước thành viên ASEAN và Trung Quốc thông báo rằng họ đã đạt được một Văn Bản Dự Thảo Đàm Phán Duy Nhất (SDNT) để làm cơ sở cho các cuộc đàm phán COC. Văn bản này làm sáng tỏ lập trường ban đầu của các bên tham gia đàm phán, trong đó có Việt Nam. Cách thức mà các thành viên ASEAN và Trung Quốc thương thảo dựa trên lập trường thể hiện trong SDNT trong những năm tới sẽ định hình kết quả của quá trình đàm phán.

Bài viết này phân tích lập trường của Việt Nam về COC bằng cách nghiên cứu các đề xuất trong SDNT hiện tại và đối chiếu với lập trường trước đó của Hà Nội về bản COC của ASEAN năm 1999 mà Việt Nam và Philippines là hai bên soạn thảo chính. Theo đó, bài viết phân tích lập trường của Việt Nam trên bốn lĩnh vực trọng tâm của COC, đó là phạm vi địa lý, tình trạng pháp lý, giải quyết tranh chấp và nghĩa vụ hợp tác.

Mục đích tổng thể của bài viết là trình bày một góc nhìn từ phía Việt Nam về các nội dung cốt lõi của một bản COC “thực chất và hiệu quả”.

Sự tham gia của Việt Nam vào tiến trình COC

Là một quốc gia có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, phải đối mặt với những căng thẳng thường xuyên do xung đột với các bên tranh chấp khác, đặc biệt là Trung Quốc, Việt Nam từ lâu đã ủng hộ việc thông qua một COC ở Biển Đông để có thể quản lý tốt hơn các tranh chấp.

Giai đoạn những năm 1990, Việt Nam đã tìm cách thiết lập các nguyên tắc cho COC bằng cả biện pháp song phương lẫn đa phương. Về song phương, Việt Nam và Philippines đã thông qua một Tuyên bố chung tại cuộc Tham vấn song phương hàng năm lần thứ tư ngày 7 tháng 11 năm 1995, trong đó quy định chín nguyên tắc cơ bản cho COC trong khu vực tranh chấp ở Biển Đông. Về đa phương, vào tháng 3 năm 1999, ASEAN giao cho Philippines và Việt Nam nhiệm vụ soạn thảo một bản COC nội bộ của ASEAN, trên cơ sở đó ASEAN sẽ làm việc với Trung Quốc để hình thành một COC ASEAN-Trung Quốc. Vào tháng 11 năm 1999, hai nước đã đệ trình dự thảo COC lên Hội nghị thượng đỉnh ASEAN không chính thức lần thứ 3 ở Manila. Thông cáo báo chí của Chủ tịch trong hội nghị lưu ý rằng:

Về vấn đề Biển Đông, lãnh đạo các nhà nước/chính phủ đã tái khẳng định sự cần thiết của một Bộ quy tắc ứng xử trong khu vực Biển Đông. Các bên ghi nhận báo cáo của các Bộ trưởng rằng ASEAN hiện đã có một dự thảo bộ quy tắc ứng xử khu vực và các cuộc tham vấn tiếp theo về dự thảo sẽ được thực hiện nhằm thúc đẩy quá trình thông qua một Bộ quy tắc ứng xử.[1]

Dự thảo COC của ASEAN đã được gửi cho Trung Quốc và vào tháng 3 năm 2000, cuộc tham vấn đầu tiên giữa ASEAN và Trung Quốc về COC đã được tổ chức tại Hua Hin, Thái Lan. Tuy nhiên, sự khác biệt giữa hai bên vẫn còn và có rất ít tiến triển hướng tới một bản COC chung.

Cuối cùng, các quốc gia thành viên ASEAN đã đồng ý “xuống nước” và quyết định ký DOC ASEAN – Trung Quốc vào ngày 4 tháng 11 năm 2002 trong Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 8 tại Phnom Penh, Campuchia.

DOC đã không đáp ứng hết kỳ vọng của một số thành viên ASEAN, bao gồm Việt Nam, vì không quy định phạm vi địa lý áp dụng và không cấm xây dựng các công trình mới trên các thực thể ngầm,[2] hai điều khoản chính mà Việt Nam tìm cách đưa vào COC tương lai. Tuy nhiên, DOC vẫn là một thành tựu có ý nghĩa trong việc quản lý các tranh chấp Biển Đông. Bộ trưởng Ngoại giao Philippines Blas F. Ople gọi Tuyên bố này là “bước nhảy vọt lớn cho hòa bình”, trong khi Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc lúc bấy giờ là Vương Nghị [Wang Yi] nói rằng Tuyên bố này sẽ cho phép hòa bình được duy trì và giúp các bên yêu sách tập trung vào phát triển kinh tế.[3] Việt Nam cũng coi DOC là một công cụ thiết yếu để bảo vệ lợi ích của mình ở Biển Đông. Các tuyên bố của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam (MOFA) cho thấy DOC thường được viện dẫn làm cơ sở cho các phản đối ngoại giao của Việt Nam chống lại các hành động hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông.[4]

Tuy nhiên, theo thời gian, DOC cũng bộc lộ những hạn chế, đặc biệt là vì tính chất không ràng buộc nên dẫn đến hiệu lực thực thi thấp. Kể từ năm 2002, nhiều sự cố đã xảy ra trên Biển Đông khiến hiệu quả của DOC bị nghi ngờ.

Các sự cố đáng chú ý nhất bao gồm cuộc đối đầu ở bãi cạn Scarborough năm 2012 giữa Trung Quốc và Philippines; cuộc khủng hoảng giàn khoan năm 2014 giữa Trung Quốc và Việt Nam; và việc xây và quân sự hóa bảy đảo nhân tạo ở Trường Sa của Trung Quốc.

Các sự cố ít nghiêm trọng nhưng không kém phần đáng lo ngại khác liên quan đến các vụ Trung Quốc liên tục quấy rối hoạt động khai thác dầu khí của Việt Nam tại vùng đặc quyền kinh tế (EEZ), hoặc tấn công bạo lực ngư dân Việt Nam, đặc biệt là ở vùng biển xung quanh quần đảo Hoàng Sa đang tranh chấp. Do đó, việc xây dựng một COC thực chất và hiệu quả đã trở thành mục tiêu cho cả Việt Nam cũng như các quốc gia khác trong khu vực.

Tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN – Trung Quốc lần thứ 15 tại Phnom Penh vào năm 2012, các nhà lãnh đạo ASEAN và Trung Quốc đã thông qua một tuyên bố chung nhân dịp kỷ niệm 10 năm ký kết DOC. Bên cạnh việc ca ngợi ý nghĩa của DOC trong việc thúc đẩy hòa bình, ổn định và tin tưởng lẫn nhau ở Biển Đông, tuyên bố chung cũng nhắc lại sự cần thiết phải xây dựng COC.[5]

Vào tháng 9 năm 2013, ASEAN và Trung Quốc chính thức bắt đầu tham vấn về COC.[6] Tuy nhiên, những năm tiếp do căng thẳng gia tăng ở Biển Đông vì nhiều vấn đề khác nhau, như vụ kiện trọng tài của Philippines đối với Trung Quốc, khủng hoảng giàn khoan năm 2014 giữa Việt Nam và Trung Quốc và việc Trung Quốc xây dựng các đảo nhân tạo ở Trường Sa, các tiến triển đạt được là rất chậm.

Mãi đến sau phán quyết lịch sử do Toà Trọng tài tại The Hague ban hành vào tháng 7 năm 2016, Trung Quốc mới bắt đầu xem xét đẩy nhanh tham vấn về COC.[7]

Vào tháng 2 năm 2017, cuộc họp lần thứ 19 của Nhóm làm việc chung ASEAN-Trung Quốc về việc thực hiện DOC (JWG-DOC) đã đạt được đề cương cơ bản của khung dự thảo cho COC. Dự thảo đã được chỉnh sửa trong các cuộc họp song phương sau đó trước khi được các bộ trưởng ngoại giao của Trung Quốc và ASEAN thông qua vào ngày 6 tháng 8 năm 2017 tại Manila.[8]

Một năm sau, vào ngày 03/08/2018, hai bên đã thông qua SDNT, về cơ bản đã chuyển tiến trình COC từ giai đoạn “tham vấn” sang giai đoạn “đàm phán”.

Lập trường COC của Việt Nam: hiện tại và trước đây

Là một bên tranh chấp chính ở Biển Đông, Việt Nam có lợi ích đáng kể liên quan đến kết quả của tiến trình COC và luôn ủng hộ các nỗ lực của ASEAN và Trung Quốc nhằm đạt được COC. Tuy nhiên, Việt Nam tìm kiếm một COC hiểu quả thực chất chứ không phải một tài liệu chính trị thiếu hiệu quả khác. Bình luận về đề xuất của Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường [Li Keqiang] vào tháng 11 năm 2018 rằng ASEAN và Trung Quốc nên đặt mục tiêu đạt được COC trong vòng ba năm,[9] Phó phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Trà tuyên bố rằng “Quan trọng nhất là phải đạt được một COC thực chất, hiệu lực, hiệu quả và phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982, qua đó thực sự đóng góp cho hòa bình, ổn định và an ninh ở Biển Đông nói riêng và khu vực nói chung.”[10] Nói cách khác, mối quan tâm chính của Việt Nam là nội dung thực chất của COC tương lai.

Vậy theo quan điểm của Việt Nam, điều gì cấu thành nên một bản COC thực chất và hiệu quả? Xem xét kỹ sự tham gia của Việt Nam vào tiến trình này cho thấy Việt Nam đã duy trì một lập trường khá nhất quán trong các vấn đề chính của COC. Bảng dưới đây so sánh lập trường hiện tại của Việt Nam về COC được phản ánh trong SDNT và lập trường trong những năm 1990 được phản ánh trong quá trình soạn thảo COC của ASEAN.

Bảng 1 : Lập trường của Việt Nam đối với COC ASEAN 1999 và trong đàm phán COC hiện nay

Vấn đề COC ASEAN Đàm phán COC hiện nay
Phạm vi địa lý Áp dụng cho cả Hoàng Sa và Trường Sa và các vùng biển tranh chấp.

 

Áp dụng cho tất cả các thực thể tranh chấp và các vùng biển chồng lấn được xác định theo UNCLOS 1982 ở Biển Đông.
Tình trạng pháp lý Không nêu – Các bên ký kết đồng ý chịu sự ràng buộc của COC

– COC sẽ được phê chuẩn theo thủ tục nội bộ tương ứng của các bên ký kết; văn kiện phê chuẩn sẽ được gửi lên Tổng thư ký ASEAN, người sẽ đăng ký COC với Liên Hợp Quốc.

– Không bên ký kết nào có quyền tuyên bố bảo lưu điều nào khi ký COC.

Giải quyết tranh chấp Không nêu – Tranh chấp được giải quyết thông qua các biện pháp thân thiện như đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải và các biện pháp khác theo thoả thuận của các bên tranh chấp ký kết COC. Nếu không thành công, các bên tranh chấp cũng có thể sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp theo các điều khoản phù hợp của Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á.

– Không có nội dung nào trong COC ngăn cản việc giải quyết tranh chấp một cách hòa bình thông qua trọng tài, tòa án, các cơ quan hoặc tổ chức khu vực hoặc theo thỏa thuận của các bên; hoặc các biện pháp hòa bình khác do các bên hữu quan quyết định.

– Để giám sát việc thực hiện COC, một Ủy ban của các Bộ trưởng ngoại giao hoặc đại diện của họ sẽ được thành lập.

Nhiệm vụ hợp tác – Giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế;

– Cấm sử dụng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực;

– Tự kiềm chế;

– Tìm kiếm và áp dụng các biện pháp xây dựng lòng tin;

– Hợp tác trong các hoạt động hàng hải như bảo vệ môi trường biển; nghiên cứu khoa học biển; an toàn hàng hải và thông tin liên lạc; hoạt động tìm kiếm cứu nạn; và chống tội phạm xuyên quốc gia;

– Tham vấn;

– Tôn trọng tự do hàng hải và hàng không quốc tế;

– Không xây dựng các công trình mới trên các thực thể ngầm.

27 điểm, trong đó bao gồm:

– Tôn trọng các vùng biển được quy định và xác lập theo UNCLOS 1982;

– Thông báo trước 60 ngày về các cuộc tập trận/diễn tập quân sự chung/kết hợp sắp diễn ra;

– Không xây dựng bất kỳ đảo nhân tạo nào; không quân sự hóa các thực thể;

– Không phong tỏa tàu chở hàng tiếp tế hoặc luân chuyển nhân sự;

– Không tuyên bố Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) ở Biển Đông;

– Không tiến hành các cuộc tấn công mô phỏng vào tàu và máy bay của các quốc gia khác.

 

Nguồn: Biên soạn của tác giả dựa trên bài viết của Nguyễn Hồng Thao [11] và Carl Thayer [12].

Về phạm vi địa lý, Việt Nam luôn tìm kiếm một COC áp dụng cho cả Hoàng Sa và Trường Sa cũng như các vùng biển tranh chấp trên Biển Đông. Điều này là do Việt Nam xem quần đảo Hoàng Sa là lãnh thổ đang bị tranh chấp nhưng Trung Quốc không thừa nhận có tranh chấp, trong khi một nửa quần đảo Hoàng Sa đã bị Trung Quốc cưỡng chiếm từ Việt Nam vào năm 1974. Hơn nữa, các cơ quan chấp pháp của Trung Quốc thường xuyên quấy rối hoặc tấn công ngư dân Việt Nam trong vùng biển xung quanh Quần đảo Hoàng Sa. Ví dụ gần đây nhất liên quan đến một tàu cá Việt Nam khi đang neo đậu gần Đá Lồi thuộc Quần đảo Hoàng Sa vào ngày 6 tháng 3 năm 2019 thì bị một tàu Hải giám Trung Quốc truy đuổi và bắn vòi rồng. Chiếc tàu này sau đó đã bị chìm khi va phải đá ngầm trong lúc bị truy đuổi.[13] Do đó, theo quan điểm của Hà Nội, COC cần phải được áp dụng cho cả Hoàng Sa để ngăn chặn các sự cố tương tự xảy ra và làm gia tăng căng thẳng trên biển giữa Trung Quốc và các quốc gia khác.

Về địa vị pháp lý của COC, trong những năm 1990, Việt Nam và các quốc gia thành viên ASEAN khác đã không nêu ra vấn đề này bởi vì các thành viên ASEAN tại thời điểm đó chủ yếu coi COC là một công cụ xây dựng lòng tin chủ yếu nhằm mục đích khuyến khích các quốc gia yêu sách tự kiềm chế. Hơn nữa, về bản chất, COC là “luật mềm” và thông thường không đi kèm các cơ chế thực thi chặt chẽ. Việc thực hiện COC thường dựa trên thiện chí của các nước tham gia. Tuy nhiên, thực tế trong hai thập niên qua, cùng với sự vi phạm DOC nhiều lần của các bên ký kết, cho thấy một niềm tin như vậy là sai lầm và một COC không ràng buộc sẽ ít có tác dụng trong việc đạt được mục đích duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông. Do đó, lần này Việt Nam có xu hướng nhấn mạnh tính ràng buộc pháp lý của COC bằng cách đề xuất rằng các quốc gia ký kết phải chịu ràng buộc toàn bộ bởi COC mà không có quyền bảo lưu. Đồng thời, việc Việt Nam yêu cầu COC phải được phê chuẩn bởi các quốc gia ký kết theo thủ tục pháp lý trong nước có nghĩa là Việt Nam muốn xem COC là “luật cứng” mặc dù có tên gọi là “Bộ Quy tắc”.

Tương tự như vấn đề địa vị pháp lý, trong những năm 1990, Việt Nam không nêu ra vấn đề giải quyết tranh chấp liên quan đến việc thực hiện COC tương lai. Điều này là do, như đã đề cập ở trên, Việt Nam và các thành viên ASEAN khác không hình dung COC tương lai sẽ mang tính ràng buộc pháp lý, do vậy không cần phải đưa ra các cơ chế giải quyết tranh chấp về việc thực thi COC. Hiện tại, Việt Nam muốn có một COC ràng buộc nên đã đề xuất các biện pháp giải quyết tranh chấp phát sinh từ việc thực thi COC bằng các biện pháp hữu nghị như đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải hoặc các cơ chế giải quyết tranh chấp theo các điều khoản liên quan của Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á.

Đáng chú ý, Việt Nam cũng nói rõ rằng không có điều khoản nào trong COC ngăn cản việc sử dụng các biện pháp giải quyết tranh chấp hòa bình khác, như trọng tài, tòa án, các cơ quan hoặc tổ chức khu vực, hoặc theo dàn xếp do các bên tự thỏa thuận. Điều này ngụ ý rằng Việt Nam muốn tiếp tục để ngỏ lựa chọn pháp lý nhằm đối phó với Trung Quốc trong các tranh chấp lãnh thổ và trên biển cũng như các tranh chấp phát sinh từ việc thực thi COC. Lập trường này là có thể hiểu được nếu xét những nỗ lực bền bỉ của Việt Nam trong việc tích lũy các bằng chứng lịch sử và pháp lý nhằm chuẩn bị cho một cuộc đấu tranh pháp lý, trong đó Việt Nam sẽ vận dụng các cơ quan tài phán quốc tế để giải quyết các bất bình đối với Trung Quốc ở Biển Đông, đặc biệt là hành vi cưỡng chiếm Hoàng Sa của Trung Quốc vào năm 1974. Trong một cuộc họp báo về vụ giàn khoan vào năm 2014, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lúc đó khẳng định Việt Nam đang xem xét các lựa chọn khác nhau để bảo vệ lợi ích trên biển của mình chống lại sự xâm lấn của Trung Quốc, trong đó có biện pháp pháp lý phù hợp với luật pháp quốc tế.[14] Cũng cần lưu ý rằng khi Philippines đệ trình vụ kiện trọng tài chống lại các yêu sách Biển Đông của Trung Quốc vào năm 2013, Trung Quốc đã phản đối mạnh mẽ hành động này bằng cách trích dẫn điều khoản của DOC rằng các Bên nên giải quyết các khác biệt thông qua “tham vấn và đối thoại”.

Cuối cùng, liên quan đến nghĩa vụ hợp tác, Việt Nam đã đưa ra danh sách những điều cần thiết cho một COC thực chất và hiệu quả. Trong khi các yêu cầu của Việt Nam cũng như các thành viên ASEAN khác thể hiện trong COC ASEAN 1999 mang tính bao quát và không cụ thể, thì các yêu cầu của Hà Nội trong đàm phán COC hiện nay cụ thể hơn nhiều và dựa trên kinh nghiệm đối phó với Trung Quốc trong quá trình thực hiện DOC 2002. Ví dụ, đòi hỏi các Bên phải tôn trọng các vùng biển theo quy định của UNCLOS 1982 dường như là do Trung Quốc từng xâm nhập vào EEZ của Việt Nam (ví dụ như cuộc khủng hoảng giàn khoan 2014) hoặc việc nước này liên tục quấy rối các hoạt động thăm dò dầu khí của Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế. Các yêu cầu về việc không xây dựng đảo nhân tạo hoặc không quân sự hóa các thực thể đã được đưa ra trong bối cảnh Trung Quốc xây dựng và quân sự hóa các đảo nhân tạo ở Biển Đông trong những năm gần đây. Tương tự như vậy, yêu cầu về việc không chặn các tàu chở hàng tiếp tế hoặc luân chuyển nhân sự phát sinh từ việc Trung Quốc từng tìm cách chặn các tàu Việt Nam cung cấp các đồ tiếp tế tới các điểm đảo mà Việt Nam đang đóng giữ tại quần đảo Trường Sa. Trong khi đó, Việt Nam phản đối tuyên bố của bất kỳ Bên nào về thiết lập ADIZ ở Biển Đông là do Việt Nam từ lâu ủng hộ tự do hàng hải và hàng không quốc tế cũng như lo ngại rằng Bắc Kinh sẽ thành lập một ADIZ trên Biển Đông giống như Trung Quốc đã làm ở Biển Hoa Đông năm 2013. Do đó, yêu cầu cấm hành vi trên của Hà Nội là một động thái chặn trước khôn ngoan nhằm đưa Bắc Kinh vào tầm ngắm dư luận nếu Trung Quốc cân nhắc phương án này.[15]

Kết luận

Các phân tích trên cho thấy lập trường của Việt Nam về COC là khá nhất quán trong 20 năm qua. Sự cụ thể, rõ ràng hơn trong đàm phán COC hiện nay chủ yếu bắt nguồn từ sự thất vọng với những hạn chế của DOC 2002 trong việc kìm hãm sự hung hăng trên biển của Trung Quốc. Một số quan chức Việt Nam khi trao đổi cũng có ý cho rằng “thà không có thỏa thuận còn hơn là có một thỏa thuận tồi”. Chính vì vậy, Việt Nam đã nói rõ COC cần bao hàm những gì để trở thành một thỏa thuận tốt. Nói cách khác, những yêu cầu của Việt Nam tạo thành các nội dung cốt lõi của một COC thực chất và hiệu quả nhìn từ quan điểm của Việt Nam.

Danh sách dài các yêu cầu của Việt Nam dường như là một đòi hỏi quá cao trong mắt nhiều nhà quan sát. Tuy nhiên, khi các cuộc đàm phán đang ở giai đoạn ban đầu, tất cả các bên đều hướng tới mục tiêu cao nhất để tạo dư địa cho các thỏa hiệp có thể xảy ra sau này. Trong quá trình đàm phán, Việt Nam cũng như các bên khác có thể nhượng bộ bằng cách bỏ qua hoặc thay đổi một số yêu cầu không cốt lõi nhất định. Tuy nhiên, tới thời điểm tháng 3 năm 2019, các Bên vẫn đang trong quá trình rà soát SDNT lần đầu tiên trong tổng cộng ba lần. Như vậy, vẫn còn quá sớm để biết liệu Việt Nam có sửa đổi bất kỳ điểm nào trong lập trường ban đầu hay không.

Vai trò chủ tịch ASEAN vào năm 2020 sẽ giúp Hà Nội có cơ hội  làm nổi bật vấn đề Biển Đông trong chương trình nghị sự của ASEAN. Để chứng minh vai trò dẫn dắt của mình, Việt Nam cũng có thể cố gắng đẩy nhanh tiến độ đàm phán COC. Tuy nhiên, như Phó phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Trà nhấn mạnh, Việt Nam sẽ thúc đẩy một COC thực chất và hiệu quả thay vì cố gắng đạt được một thỏa thuận mang tính biểu tượng trong khung thời gian xác định trước. Các bên đàm phán khác, đặc biệt là Trung Quốc, cũng có khả năng  duy trì các yêu cầu cốt lõi của họ. Như vậy, quá trình đàm phán COC dự kiến sẽ ​​là một bài toán đầy thách thức và tốn thời gian. Lựa chọn giữa việc đạt được một COC sớm và một COC thực chất và hiệu quả sẽ là những lựa chọn cực kỳ nan giải đối với tất cả các bên liên quan.

Lê Hồng Hiệp là nghiên cứu viên của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (ISEAS  Yusof Ishak Institute), Singapore. Nguyễn Hoàng Sa là nghiên cứu sinh thạc sỹ trong lãnh vực Luật quốc tế và là cộng tác viên năm thứ ba của Dự án Đại Sự Ký Biển Đông. 

————

Chú thích

[1] Thông cáo báo chí của Chủ tịch Hội nghị cấp cao không chính thức ASEAN lần thứ 3 tại Manila, Philippines, 28/11/1999, truy cập tại <https://asean.org/?static_post=ouchman-s-press-statement-on-asean-3rd-informal -summit-manila-philippines-28-tháng 11 năm 1999>.

[2] Nguyễn Đăng Thắng & Nguyễn Thị Thanh Hà, “Một số suy nghĩ về Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông”, bài trình bày tại hội nghị quốc tế về tranh chấp Biển Đông: Lịch sử , Địa chính trị và Luật quốc tế, Hà Nội 26/4/2011. Có thể đọc phiên bản cuối cùng tại https://daisukybiendong.wordpress.com/2017/04/29/mot-so-suy-nghi-ve-bo-quy-tac-ung-xu-o-bien-dong/.

[3] “Asean, China sign pact on disputed Spratlys”, CNN 4/11/2002. 

[4] Các tuyên bố của người phát ngôn MOFA của Việt Nam, truy cập tại <http://www.mofa.gov.vn/vi/tt_baochi/pbnfn&gt;.

[5] Tuyên bố chung của Hội nghị cấp cao ASEAN-Trung Quốc lần thứ 15 nhân kỷ niệm 10 năm Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông, ngày 19/11/2012, truy cập tại <https://www.asean.org/&gt;

[6] Carlyle A. Thayer, “New Commitment to a Code of Conduct in the South China Sea?” NBR 9/10/2013, truy cập tại https://www.nbr.org/publication/new-commitment-to-a-code-of-conduct-in-the-south-china-sea/

[7] “Asean urges self-restraint in South China Sea activities, no mention of tribunal ruling”, The Straits Times 25/7/2016, < https://www.straitstimes.com/asia/se-asia/asean-foreign-ministers-address-south-china-sea-issue-in-communique-but-not-tribunal&gt;

[8] Để biết tổng quan về Dự thảo khung COC, xem Ian Storey, Đánh giá Dự thảo khung ASEAN-Trung Quốc về Quy tắc ứng xử đối với Biển Đông , ISEAS Perspective, no. 62 (2017).

Chú thích của BTV: Một bản dịch tiếng Việt được đăng tại https://daisukybiendong.wordpress.com/2017/08/24/danh-gia-ban-khung-cua-asean-va-trung-quoc-ve-bo-quy-tac-ung-xu-tren-bien-dong/

[9] “Asean and China should aim to conclude talks on maritime code of conduct in 3 years: PM Lee”, The Straits Times, 4/11/2018, <https://www.straitstimes.com/singapore/asean-and-china-should-aim-to-conclude-talks-on-maritime-code-of-conduct-in-3-years-pm-lee&gt;

[10] Tuyên bố truy cập tại <http://www.mofa.gov.vn/vi/tt_baochi/tcbc/ns181122164946&gt;

[11] Nguyen Hong Thao, “Vietnam and the Code of Conduct for the South China Sea”, Ocean Development & International Law 32, no.2 (2001): 105-130.

[12] Carl Thayer, “A Closer Look at the ASEAN-China Single Draft South China Sea Code of Conduct”, The Diplomat, 3/8/2018, <https://thediplomat.com/2018/08/a-closer-look-at-the-asean-china-single-draft-south-china-sea-code-of-conduct/&gt;

Chú thích của BTV: Một bản dịch tiếng Việt được đăng tại https://daisukybiendong.wordpress.com/2018/08/05/mot-cai-nhin-ky-hon-du-thao-duy-nhat-bo-quy-tac-ung-xu-o-bien-dong-cua-asean/

[13] “Vietnam protests to China over South China Sea boat sinking”, The Straits Times, 22/3/2019, https://www.straitstimes.com/asia/east-asia/vietnam-protests-to-china-over-south-china-sea-boat-sinking

[14] “Thủ tướng: ‘Không đánh đổi chủ quyền lấy hữu nghị viễn vong’”, VnExpress 22/5/2014, https://vnexpress.net/the-gioi/thu-tuong-khong-danh-doi- chu-quyen-lay-huu-nghi-lâm-vong-2994075.html. Theo Quyết định số 10/2019/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Uỷ ban Biên giới quốc gia trực thuộc Bộ Ngoại giao, Uỷ ban Biên giới quốc gia được giao nhiệm vụ đề xuất chủ trương và xây dựng đề án, hồ sơ pháp lý để phục vụ cho việc giải quyết tranh chấp về biên giới, lãnh thổ trước các cơ quan tài phán quốc tế.

[15] Le Hong Hiep, “How to Read Hanoi’s Position on the South China Sea COC?”, ISEAS Commentary, 03/01/2019, <https://www.iseas.edu.sg/medias/commentaries/item/8797-how-to-read-hanois-position-on-the-south-china-sea-coc-by-le-hong-hiep&gt;

Nguồn: Dự án Đại Sự ký Biển Đông

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.