Biển Đông

Những sự kiện đáng chú ý nhất liên quan mục đích, ý đồ và các hoạt động phi pháp của TQ ở Biển Đông trong năm 2019

Những sự kiện đáng chú ý nhất liên quan mục đích, ý đồ và các hoạt động phi pháp của TQ ở Biển Đông trong năm 2019

Trong năm 2019 chứng kiến những diễn biến phức tạp trong tranh chấp ở Biển Đông mà chủ yếu là do những hành động đơn phương của Trung Quốc. Năm sự kiện đáng chú ý nhất trong những diễn biến đó phải kể đến như việc Trung Quốc đưa tàu khảo sát địa chất Hải Dương 8 và nhóm tàu hộ tống vào hoạt động trái phép trong vùng thềm lục địa và EEZ của Việt Nam; đâm chìm tàu cá Philippines rồi bỏ mặc không cứu vớt ngư dân; biên chế chính thức tàu sân bay nội địa đầu tiên mang tên “Sơn Đông” cho hạm đội Nam Hải; lần đầu tiên tập trận chung hải quân với ASEAN ở Biển Đông và tổ chức duyệt hạm quốc tế kỷ niệm 70 năm ngày thành lập hải quân.

1. TQ đưa tàu khảo sát địa chất Hải Dương 8 và nhóm tàu hộ tống vào hoạt động trái phép trong vùng thềm lục địa và EEZ của Việt Nam

Kể từ đầu tháng 7, Trung Quốc đã ngang nhiên đưa tàu khảo sát địa chất Hải Dương 8 tiến hành thăm dò trái phép tại Bãi Tư Chính thuộc Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa của Việt Nam với sự hộ tống của lực lượng tuần duyên có vũ trang và cảnh sát biển. Hành động của Trung Quốc là hoàn toàn trái với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS) và các cam kết, thoả thuận của nước này với Việt Nam và cộng đồng quốc tế. Khu vực mà Trung Quốc gọi là “Bãi Vạn An” thực chất là bãi ngầm, là một phần của đáy biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam được xác định phù hợp với Công ước của UNCLOS. Đây hoàn toàn không phải là khu vực tranh chấp hay có chồng lấn vì Trung Quốc không có bất kỳ cơ sở pháp lý quốc tế nào để đưa ra yêu sách đối với khu vực này. Trong vụ việc này, phản ứng và hành động của Trung Quốc là hoàn toàn ngang ngược. Trước dư luận phản đối mạnh mẽ của Việt Nam và các nước, Bộ Ngoại giao Trung Quốc thậm chí còn nhiều lần tuyên bố Bãi Tư Chính thuộc lãnh thổ của Bắc Kinh và tiếp tục các hoạt động dầu khí tại đây, đồng thời quy trách nhiệm cho Việt Nam và các nước bên ngoài đã “gây phức tạp tình hình”. Trái với phản ứng của Bắc Kinh, Việt Nam đã xử lý vụ việc một cách thận trọng, linh hoạt, phù hợp với luật pháp quốc tế và trách nhiệm đối với các nỗ lực đảm bảo hoà bình, ổn định, hợp tác ở Biển Đông. Quan điểm và ứng xử của Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế đánh giá cao và hoàn toàn ủng hộ. Cùng với đó, cộng đồng quốc tế từ khắp các châu lục như Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia, Anh, Pháp, Đức… đến các tổ chức quốc tế như ASEAN, EU, Liên hợp quốc… đã lên án mạnh mẽ hành động của Trung Quốc và thể hiện sự ủng hộ đối với Việt Nam. Mỹ là nước phản ứng mạnh mẽ nhất. Anh, Pháp, Đức lần đầu tiên ra Tuyên bố chung bày tỏ quan ngại về tình hình Biển Đông và các hành động của Trung Quốc. Giới chuyên gia học giả, chuyên gia pháp lý tại các nước đã tổ chức hàng chục buổi hội thảo và ra nhiều tuyên bố, phân tích về tình pháp lý của Việt Nam và chỉ trích tính phi pháp của Trung Quốc khi đưa tàu khảo sát địa chất Hải Dương 8 và nhóm tàu hộ tống vào hoạt động trái phép trong vùng thềm lục địa và EEZ của Việt Nam, cũng như nêu ra các giải pháp cho tình hình. Đến ngày 24/10, Trung Quốc buộc phải rút nhóm tàu này ra khỏi EEZ và thềm lục địa của Việt Nam.

2. TQ đâm chìm tàu cá Philippines rồi bỏ mặc không cứu vớt ngư dân

Tối 9/6, tàu cá FB Gimver 1 của Philippines đã va chạm với tàu Trung Quốc gần Bãi Cỏ Rong thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam trên Biển Đông. Vụ va chạm khiến tàu Philippines bị chìm, còn tàu Trung Quốc rời hiện trường ngay lập tức, bỏ mặc 22 thủy thủ Philippines trên chiếc tàu đắm, phải lênh đênh trên biển. Vụ việc đã gây bức xúc trong Chính quyền, người dân Philippines và các nước. Phủ Tổng thống Philippines gọi hành vi bỏ rơi các thuyền viên Philippines là “mọi rợ” trong khi Bộ trưởng Quốc phòng Delfin Lorenzana lên án “hành động đáng khinh bỉ hèn nhát” của tàu cá Trung Quốc. Phản ứng tương tự như các vụ việc khác do Trung Quốc gây ra, Bắc Kinh khẳng định vụ va chạm của tàu cá nước này với tàu Philippines chỉ là một tai nạn hàng hải thông thường và cáo buộc Philippines vô trách nhiệm khi chính trị hóa vụ việc mà không xác minh. Đại sứ quán Trung Quốc tại Manila nói những người trên tàu đã tìm cách giải cứu ngư dân Philippines nhưng bỏ chạy sau khi “bất thình lình bị bao vây bởi bảy hoặc tám tàu cá Philippines”. Vụ việc dấy lên quan ngại về đội tàu đánh cá khổng lồ của Trung Quốc, mà các chuyên gia cho rằng đã được dùng để hoạt động như lực lượng dân quân của Bắc Kinh và tăng cường sự hiện diện của lực lượng bảo vệ bờ biển liên tục trong vùng biển mà Trung Quốc cũng có tranh chấp với Malaysia, Đài Loan, Việt Nam, Philippines và Brunei. Vụ việc cũng cho thấy chính sách ngả về Trung Quốc của Chính quyền Tổng thống Duterte vì những phản ứng làm giảm mức độ nghiêm trọng vụ việc của ông Duterte sau đó.

3. TQ biên chế chính thức tàu sân bay nội địa đầu tiên mang tên “Sơn Đông” cho hạm đội Nam Hải

Hôm 17/12, Trung Quốc tổ chức lễ bàn giao tàu Sơn Đông tại quân cảng Tam Á ở tỉnh Hải Nam, với sự tham gia trực tiếp của Chủ tịch Tập Cận Bình, Phó Thủ tướng Lưu Hạc cùng các tướng lĩnh thuộc Bộ Tư lệnh miền nam và nhiều quan chức cấp cao khác của Chính phủ Trung Quốc. Tàu sân bay Sơn Đông đi vào hoạt động được xem là đánh dấu một bước phát triển quan trọng cho sức mạnh hải quân Trung Quốc, cùng với Mỹ, Anh và Italy trở thành quốc gia thứ tư trên thế giới sở hữu nhiều tàu sân bay. Truyền thông Trung Quốc nhanh chóng ca ngợi đây là thành tựu phát triển kỳ diệu của Bắc Kinh trong lĩnh vực làm chủ công nghệ chế tạo tàu sân bay. Hàng loạt các trang báo lớn đều đưa tin. Giới quan sát khu vực cho rằng tàu Sơn Đông không có quá nhiều cải tiến bước ngoặt so với tàu Liêu Ninh, nó được dựa trên thiết kế lỗi thời nên có những điểm hạn chế cố hữu. Tuy nhiên, có một sự khác biệt lớn là Trung Quốc hoàn toàn tự lực đóng tàu này, dấu hiệu cho thấy họ sẽ tiếp tục đóng mới thêm nhiều tàu sân bay nữa. Đây là bước tiến không nhỏ, một tín hiệu cho thấy tham vọng bành trướng hải quân của Trung Quốc. Một là, phục vụ tham vọng chiến lược của Trung. Các tuyến đường hàng hải huyết mạch đối với Trung Quốc vượt khỏi hai vùng biển này. Đơn cử như phần lớn hàng hóa xuất khẩu của Trung Quốc tới châu Âu đều được vận chuyển qua Ấn Độ Dương và đây cũng là tuyến đường nhập khẩu nhiên liệu thiết yếu từ Trung Đông. Hệ quả là, để tránh bị phụ thuộc vào cung đường ở Biển Đông và Eo biển Malacca, Trung Quốc đang phát triển các hạ tầng xuất khẩu và nhập khẩu ở nhiều nước ven biển Ấn Độ Dương. Điều này cũng đồng nghĩa với phát triển năng lực hàng hải, các căn cứ cơ sở, mạng lưới hậu cần cần thiết để luôn giữ cho các hành lang này mở trong trường hợp xảy ra xung đột ở phía Đông Trung Quốc. Hai là, học thuyết hải quân Trung Quốc hiện nay hướng tới duy trì hiện diện tàu sân bay thường trực ở Ấn Độ Dương. Trung Quốc sẽ có lợi ích lớn hơn trong những chiến dịch tác chiến kiểu này khi hướng quan tâm ưu tiên ra bên ngoài, nhất là tại những khu vực mà Bắc Kinh cho rằng Mỹ không hào hứng ngăn chặn Trung Quốc và trong bối cảnh Trung Quốc tìm cách chứng tỏ trước các nước láng giềng rằng Bắc Kinh có thể cung cấp các lợi ích an ninh khu vực tương tự như vai trò của Mỹ hiện nay. Ba là, ở cấp độ tối thiểu, tàu sân bay Trung Quốc là biểu tượng danh tiếng quốc gia. Bắc Kinh có động cơ chính trị khi muốn người dân trong nước quen với ý niệm Đảng Cộng sản đang biến Trung Quốc thành siêu cường. Cuối cùng, Bắc Kinh cho rằng sức ép về chính trị và ngân sách có thể đẩy Mỹ vào thế ngày càng bị cô lập, tạo cơ hội để Trung Quốc nổi lên thành một cường quốc áp đảo ở Tây Thái Bình Dương mà không cần tốn một viên đạn. Lợi ích tàu sân bay đem lại cho Trung Quốc có lẽ được mô tả chuẩn xác nhất dưới góc độ là một nỗ lực để giữ các lựa chọn mở. Trung Quốc không thể toàn quyền quyết định đâu là mẫu cường quốc hải quân mà nước này sẽ hướng tới, có quá nhiều nhân tố nằm ngoài vòng kiểm soát của Bắc Kinh. Tuy nhiên, Trung Quốc muốn sẵn sàng đẩy ảnh hưởng hải quân ra bên ngoài khi xuất hiện cánh cửa mở.

4. TQ lần đầu tiên tập trận chung hải quân với ASEAN ở Biển Đông

Ngày 22-28/10, cuộc tập trận chung đầu tiên giữa lực lượng hải quân 10 nước thành viên ASEAN và Trung Quốc trên Biển Đông đã bắt đầu diễn ra ở ngoài khơi thành phố Trạm Giang, tỉnh Quảng Đông, miền Nam Trung Quốc. Hải quân Singapore, nước hiện giữ chức Chủ tịch ASEAN năm 2018 và hải quân Trung Quốc đồng tổ chức sự kiện này. Cuộc tập trận có sự tham gia của 1.200 quân nhân và nhiều phương tiện quân sự của 11 nước. Tư lệnh Hải quân Singapore, Chuẩn Đô đốc Lew Chuen Hong đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của Biển Đông đối với khu vực, đồng thời khẳng định sự ổn định và an ninh được bảo toàn trên Biển Đông là cơ sở duy nhất có thể đảm bảo sự thịnh vượng chung cho cả khu vực. Không khó để nhận ra rằng việc Trung Quốc cho rằng các cuộc tập trận chung trên biển sẽ “tăng cường sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau, mở rộng giao lưu và hợp tác, giữ gìn hòa bình và ổn định của khu vực”, song phải khẳng định rằng tình hình Biển Đông căng thẳng như hiện nay chủ yếu là do các hoạt động đơn phương, đòi hỏi chủ quyền phi pháp của Trung Quốc ở Biển Đông, trong đó Trung Quốc đã liên tục gây phức tạp tình hình bằng hoạt động quân sự hóa, bồi đắp và mở rộng các đảo nhân tạo quy mô lớn ở Biển Đông… Do vậy, để “tăng cường sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau, mở rộng giao lưu và hợp tác, giữ gìn hòa bình và ổn định của khu vực” thì chính Trung Quốc phải ngừng ngay các hành động nói trên, nếu không, mọi sáng kiến hay tuyên bố của Trung Quốc đưa ra chỉ là hình thức, nhằm đánh lừa dư luận. Bên cạnh đó, các cuộc tập trận chung sẽ giúp Trung Quốc phô trương sức mạnh quân sự, gửi đi thông điệp cảnh báo đối với các nước bên ngoài như Mỹ, Nhật Bản, Australia, Ấn Độ… không nên can dự vào vấn đề Biển Đông. Trung Quốc đã nhiều lần chỉ trích sự can dự của Mỹ và phương Tây vì cho rằng các nước này “không có tranh chấp lãnh thổ tại Biển Đông, nên để cho các quốc gia trong khu vực quản lý tranh chấp của mình một cách hữu nghị và hiệu quả”. Đây cũng là dịp để Trung Quốc chứng tỏ khả năng dẫn dắt các nước khu vực thực hiện theo các sáng kiến do Trung Quốc khởi xướng. Trung Quốc sẽ sử dụng các cuộc tập trận chung để tuyên truyền theo dụng ý rằng tình hình Biển Đông đang ổn định, phát triển và hợp tác nhờ vào những nỗ lực của Trung Quốc và các nước ASEAN. Trong đó, Trung Quốc và các nước hoàn toàn có thể xây dựng các cơ chế giải quyết tranh chấp mà không cần sự can dự của các nước bên ngoài. Các cuộc tập trận chung cũng nhằm xoa dịu dư luận về hoạt động quân sự hóa ồ ạt của Trung Quốc hiện nay ở Biển Đông; song cũng nhằm phục vụ cho ý đồ này một cách thuận lợi hơn, tránh các phản ứng quyết liệt từ các nước.

5. TQ tổ chức duyệt hạm quốc tế kỷ niệm 70 năm ngày thành lập hải quân song không đạt được dụng ý do thời tiết xấu

Ngày 23/4, Trung Quốc tổ chức lễ kỷ niệm 70 năm ngày thành lập hải quân nước này, trong đó có buổi duyệt hạm quốc tế với khách mời từ nhiều nước. Tại sự kiện này, Trung Quốc đã phô diễn trưng ra các tàu chiến mới bao gồm hàng không mẫu hạm Liêu Ninh, các loại tàu ngầm hạt nhân mới, các loại tàu khu trục mới, cũng như các máy bay chiến đấu. Cuộc duyệt binh của máy bay và hạm tàu hải quân các nước diễn ra trên vùng trời, vùng biển Thanh Đảo và phụ cận. Lực lượng tham gia duyệt binh của Trung Quốc có tàu sân bay Liêu Ninh, các tàu ngầm kiểu mới, tàu khu trục, tàu hộ vệ tàu đổ bộ và máy bay, trong đó có một số loại lần đầu tiên được công khai. Ngoài lực lượng của Trung Quốc, tham gia đội hình duyệt binh còn có gần 20 tàu chiến của hơn 10 nước như Nga, Thái Lan, Ấn Độ, Singapore, Nhật, Philippines, Pháp, Pakistan, Hàn Quốc…với các loại tàu khu trục, tàu hộ vệ, tàu đổ bộ, đại diện cho lực lượng trên biển của các nước, trong đó không có Mỹ. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã trực tiếp tham gia buổi lễ. Tuy nhiên, do thời tiết xấu, nhiều sương mù tầm nhìn hạn chế nên gần như buổi lễ duyệt binh của Trung Quốc đã thất bại và không thể đạt được hiệu ứng, ngay cả ở mức hình ảnh. Giới quan sát nhận định mục đích của Trung Quốc trong sự kiện này là nhằm: Một là, tuyên truyền về năng lực hải quân, tìm cách đẩy mạnh tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc của người dân trong nước nhằm định hướng dư luận, tránh để người dân cảm thấy thất vọng về chính sách, biện pháp bảo vệ “chủ quyền” mà Trung Quốc vẫn tuyên truyền bấy lâu nay. Hai là, răn đe một số nước lớn, đặc biệt là Mỹ và Nhật Bản không được can thiệp vào vấn đề Biển Đông. Việc Trung Quốc huy động một số lượng lớn các tàu chiến hiện đại tập trận nhằm thể hiện sức mạnh và năng lực hải quân trước các cường quốc trên thế giới. Ngoài ra, Bắc Kinh cũng muốn gửi thông điệp tới cộng đồng quốc tế rằng “Trung Quốc có đủ sức mạnh để bảo vệ chủ quyền ở khu vực này, Mỹ và các nước hãy rè chừng khi muốn can thiệp vào tranh chấp ở Biển Đông”. Ba là, ngầm cảnh cáo một số nước có tồn tại tranh chấp “chủ quyền” ở Biển Đông với Trung Quốc, hãy “cân nhắc” lại năng lực quốc phòng trước khi tìm kiếm các giải pháp giải quyết tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông. Bốn là, quảng bá về năng lực và trình độ khoa học kỹ thuật của Trung Quốc, qua đó tuyên truyền, giới thiệu sản phẩm và mở rộng thị trường xuất nhập khẩu vũ khí của Trung Quốc.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Việt Nam và vai trò tích cực, chủ động trên Biển Đông Ngà

Việt Nam và vai trò tích cực, chủ động trên Biển Đông

Các chuyên gia và học giả quốc tế đều cho rằng Việt Nam đã có ứng xử linh hoạt, phù hợp khi phát sinh vấn đề trên biển.

Xử lý thích hợp tình huống phát sinh

“Để nhận được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế về vấn đề Biển Đông, Việt Nam cần phải thể hiện sự chủ động và tích cực của mình, đặc biệt là trên mặt trận truyền thông để đưa thông tin chính xác về tình hình Biển Đông đến cộng đồng quốc tế. Việt Nam cần tận dụng sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế trong vấn đề Biển Đông”, ông Carl Thayer, Giáo sư danh dự tại đại học New South Wales, Australia gợi ý trong cuộc trả lời phỏng vấn bên lề Hội thảo Khoa học Quốc tế về Biển Đông với chủ đề “Hợp tác vì An ninh và Phát triển tại Khu vực” tháng 11/2019 tại Hà Nội.

Chủ trương của Việt Nam trong giải quyết tranh chấp với bất kỳ nước nào chứ không chỉ riêng Trung Quốc là đảm bảo nguyên tắc sử dụng các biện pháp hòa bình và không loại trừ bất kỳ một biện pháp nào mà luật pháp quốc tế cho phép. Cụ thể những biện pháp này nằm ở điều 33 của Hiến chương Liên Hợp Quốc, bao gồm: thương lượng ngoại giao, trao đổi quan điểm, sử dụng bên thứ 3 không ràng buộc, sử dụng trung gian hòa giải… Ngoài ra còn có các biện pháp tư pháp như tòa án, tòa trọng tài…

Việt Nam đã nhiều lần tuyên bố muốn giải quyết tranh chấp trên Biển Đông theo đúng luật pháp quốc tế bởi tất cả các bên liên quan đều không muốn đẩy căng thẳng đến mức xung đột và cộng đồng quốc tế cũng không muốn dồn ép Trung Quốc quá mức mà chỉ muốn Trung Quốc hiểu rằng, nước này cần tôn trọng chủ quyền của các nước khác.

Về phía Trung Quốc, nước này cũng nói rằng đối thoại là cách duy nhất để giải quyết tranh chấp ở Biển Đông. Tuy nhiên, đây dường như chỉ là chiêu bài để kéo dài thời gian bởi Bắc Kinh sẽ không chấp nhận nhượng bộ và chưa tìm được lý do nào khả dĩ để bao biện cho hành động của mình.

“Việt Nam hiểu rõ tầm quan trọng trong việc cần phải nhận được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế và có mối quan hệ đa phương với tất cả các nước lớn trên thế giới và hơn 100 đối tác khác chứ không chỉ riêng với Mỹ hay Trung Quốc. Việt Nam đang tận dụng rất tốt ưu thế này và không chấp nhận bị dồn ép về một phía”, Giáo sư Carl Thayer nói.

Liên hệ câu chuyện với việc Việt Nam sẽ đảm nhiệm vai trò ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2020-2021, ông Thayer cho rằng: “Ngay cả Australia cũng gặp rất nhiều khó khăn trong việc nhận được phiếu bầu của các nước để trở thành thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an. Vậy mà Việt Nam đã làm được tới 2 lần và lần nào cũng nhận được số phiếu bầu rất cao. Điều này có được là nhờ các nước trên thế giới hiểu rằng, Việt Nam luôn có quan điểm độc lập và không nghiêng về bất kỳ bên nào và sẽ tự đưa ra quyết định của mình. Họ cũng hiểu rõ rằng, Việt Nam sẽ đóng góp rất lớn cho việc gìn giữ hòa bình trên thế giới”.

Giáo sư Thayer nhấn mạnh: “Việt Nam luôn có quan điểm xây dựng trong mọi vấn đề và luôn tìm kiếm sự đồng thuận của tất cả các quốc gia trong ASEAN trong việc giải quyết những tranh chấp ở Biển Đông”.

Tiến sĩ Stanley Weeks, chuyên gia cao cấp tại Tập đoàn Ứng dụng Khoa học Quốc tế (SAIC) chuyên cung cấp thông tin và hỗ trợ công nghệ cho Chính phủ Mỹ có chung nhận định khi cho rằng Việt Nam có quan điểm rõ ràng và nhất quán trong việc chỉ rõ những hành vi vi phạm luật pháp quốc tế của Trung Quốc ở Biển Đông, trong đó có việc Bắc Kinh ngang nhiên tuyên bố chủ quyền đối với gần như toàn bộ diện tích Biển Đông và sử dụng vũ lực để o ép các nước khác. Điều này đi ngược lại với Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển. Các biện pháp đối phó với Trung Quốc của Việt Nam cho đến thời điểm này là rất hiệu quả và Việt Nam rất biết lựa chọn thời điểm cụ thể để có cách hành xử thích hợp.

“Chiến lược của Việt Nam là linh hoạt trong mọi tình huống, bất cứ khi nào Trung Quốc có những động thái làm leo thang căng thẳng, Việt Nam sẽ có phản ứng thích hợp”, Giáo sư – Tiến sĩ Leszek Buszynski thuộc Trung tâm Nghiên cứu Quốc phòng thuộc Đại học Quốc gia Australia nhận định.

Các gợi ý cho Việt Nam

Giới chuyên gia, học giả quốc tế đa phần đều có chung quan điểm cho rằng Việt Nam và các quốc gia trong khu vực cần phản ứng mạnh mẽ hơn nữa trước các hành vi sai trái của Trung Quốc, điều này sẽ khiến cộng đồng quốc tế quan tâm hơn đến vấn đề Biển Đông.

Ông Buszynski chia sẻ: “Tôi từng nói với rất nhiều người mà tôi gặp tại Việt Nam rằng, các bạn nên công khai vấn đề này và nói với thế giới về những gì đang diễn ra thay vì tiếp tục nhượng bộ Trung Quốc. Bằng cách này, Trung Quốc không thể tiếp tục thúc đẩy tham vọng của mình và cộng đồng quốc tế, trong đó có Mỹ, Anh, Pháp, Nhật Bản, Australia có thể tham gia vào vấn đề này”.

Giáo sư Luật Hàng hải quốc tế tại Đại học Hải chiến Mỹ James Kraska cho rằng, Việt Nam cũng cần tiếp tục tăng cường năng lực quốc gia và đẩy mạnh việc hợp tác chặt chẽ về nhiều mặt với các đối tác có ảnh hưởng lớn trên thế giới để nhận được sự ủng hộ tích cực từ nhiều phía trong quá trình đấu tranh bảo vệ chủ quyền hợp pháp của nước này ở Biển Đông thay vì phải đơn độc đối đầu với Trung Quốc.

“Nếu Việt Nam có thể tiến hành các dự án thăm dò dầu khí ngoài khơi với các đối tác như Mỹ, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản hay Australia, điều này sẽ gây tác động không nhỏ đến những toan tính của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông”, ông Kraska gợi ý.

Một biện pháp khác mà Việt Nam có thể làm là phối hợp với các nước ASEAN đẩy nhanh tiến trình ký kết Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) với Trung Quốc. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo, việc này cũng không hề dễ dàng bởi Trung Quốc không muốn bị ràng buộc về mặt pháp lý một khi nước này đặt bút ký vào COC. Trung Quốc sẽ chỉ chấp nhận làm điều này nếu họ hoàn tất được quá trình quân sự hóa và tiến tới kiểm soát Biển Đông. Khi đó hoặc COC sẽ không còn nhiều giá trị như mục đích ban đầu mà các quốc gia trong khu vực hướng đến hoặc những điều khoản trong COC sẽ trở nên có lợi cho Trung Quốc.

Nhà nghiên cứu James Borton thì gợi ý: “Việt Nam có thể tiến hành một loạt các cuộc hội thảo khoa học về môi trường biển và mời các chuyên gia hàng đầu tham dự. Điều này sẽ không khiến Trung Quốc cảm giác bị đối đầu trong vấn đề này. Thay vì thế, các cuộc hội thảo khoa học sẽ dần thay đổi nhận thức và quan điểm của Trung Quốc trong trách nhiệm của nước này đối với môi trường ở Biển Đông”.

“Trung Quốc là quốc gia có tầm ảnh hưởng không nhỏ và có thể dễ dàng áp đặt quan điểm của nước này ra khắp khu vực và trên toàn thế giới. Chính vì thế, Việt Nam cần thông qua các hội thảo, diễn đàn khoa học bày tỏ chính kiến của mình chống lại những hành vi sai trái của Trung Quốc. Việt Nam cần đặc biệt nêu cao việc giải quyết những vấn đề còn tồn tại ở Biển Đông bằng cách đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật để chống lại những hành động đơn phương và phi pháp của Trung Quốc trong khu vực”, Giáo sư John Rennie Short thuộc trường Đại học Maryland, Mỹ nhận định.

Trung Quốc có thể ngang nhiên thực hiện những hành vi sai trái ở Biển Đông là bởi Trung Quốc tự tin vào tương quan lực lượng quá chênh lệch giữa Trung Quốc và các quốc gia trong khu vực, Giám đốc cơ quan Sáng kiến Minh bạch Hàng hải (AMTI) Greg Poling cho rằng, chính vì thế, các nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam cần tránh đối đầu trực tiếp với Trung Quốc bằng vũ lực. Thay vào đó Việt Nam có thể tính đến việc khởi kiện Trung Quốc.

“Việt Nam có thể đe dọa khởi kiện Trung Quốc để buộc Trung Quốc phải tiến hành đàm phán theo hướng tích cực hơn với Việt Nam. Nếu Trung Quốc không chấp nhận đàm phán, Việt Nam hãy khởi kiện. Các biện pháp đàm phán song phương sẽ không có hiệu quả nếu Trung Quốc chỉ chăm chăm quan tâm đến lợi ích đơn phương của mình và không chịu nhượng bộ”, ông Poling đề xuất.

Trên thực tế, nói về quyết định khởi kiện, có rất nhiều yếu tố Việt Nam cần phải cân nhắc. Về mặt tình cảm, chắc hẳn người Việt Nam và những người yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới ai cũng thấy trong bối cảnh Trung Quốc ngang ngược xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lực địa của Việt Nam như hồi tháng 7-10/2019 thì Việt Nam phải sử dụng hết tất cả mọi biện pháp có thể có, trong đó bao gồm cả biện pháp pháp lý.

“Việc này cần phải tính toán nhiều vấn đề chứ không chỉ đơn giản là nộp đơn kiện. Quan trọng nhất là chọn biện pháp gì cũng phải đảm bảo đạt hiệu quả cao nhất. Thứ nữa, không phải hôm trước quyết định khởi kiện là hôm sau có thể kiện được ngay. Điều này phải có sự tính toán.

Cơ chế pháp lý quốc tế chưa có cơ chế nào để cưỡng chế thi hành phán quyết như của Tòa trọng tài trong vụ kiện Biển Đông do Philippines tiến hành mà chỉ có thể dùng áp lực của công luận, áp lực của cộng đồng quốc tế tại các diễn đàn hay việc các quốc gia viện dẫn phán quyết thì giá trị của phán quyết được tăng lên”, Phó Tổng Thư ký Hội Luật gia Việt Nam Nguyễn Thanh Hà nói.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Nhìn lại những gì mà cái gọi là “Trung tâm cứu hộ hàng hải của TQ trên đá Chữ Thập” đã làm được trong một năm qua

Nhìn lại những gì mà cái gọi là “Trung tâm cứu hộ hàng hải của TQ trên đá Chữ Thập” đã làm được trong một năm qua

Tháng 01/2019, Trung Quốc loan báo đã thành lập một trung tâm cứu hộ hàng hải đặt trên đá Chữ Thập, thực thể bị Trung Quốc chiếm đóng phi pháp, sau đó tiến hành bồi đắp, mở rộng và quân sự hoá. Trong suốt một năm qua, trung tâm này chỉ phục vụ việc củng cố cho các yêu sách chủ quyền của Bắc Kinh ở Biển Đông.

Báo chí và Bộ Giao thông vận tải Trung Quốc lúc đó loan báo đã khai trương một trung tâm cứu hộ hàng hải ở đá Chữ Thập, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Bộ này tuyên bố rằng trung tâm đã được xây dựng để bảo vệ tốt hơn an toàn giao thông và vận tải ở Biển Đông. Trung tâm này còn cung cấp các dự báo hàng hải và báo động thảm họa ở phía Nam Biển Đông. Các nguồn tin cho biết, Trung Quốc đã triển khai đồn trú khoảng 2 “tàu cứu hộ hàng hải” ở trung tâm này. Đá Chữ Thập cũng là một thực thể điển hình cho hoạt động mở rộng, bồi đắp đảo nhân tạo và quân sự hoá của Trung Quốc. Ở đây, Bắc Kinh đã cho xây dựng một đường băng dài 3.125m và một địa điểm radar cảnh báo sớm. Theo Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (Mỹ), đây là “căn cứ tiên tiến nhất của Trung Quốc” tại các khu vực tranh chấp ở Biển Đông, với 12 hầm trú ẩn cứng với mái có thể thu vào để phóng tên lửa di động đã hoàn thành. Nó có đủ nhà chứa để chứa 24 máy bay chiến đấu và 4 máy bay ném bom chiến lược H-6. Đáp lại những quan ngại về việc quân sự hóa các đảo, Trung Quốc liên tục nói rằng các cơ sở đều có mục đích phòng vệ và có mục đích dân sự, cung cấp dịch vụ điều hướng cho các tàu trong khu vực lân cận. Nhưng một số nhà quan sát bày tỏ lo ngại rằng động thái trên có thể giúp tăng cường yêu sách chủ quyền của Bắc Kinh đối với các đảo.

Tuy nhiên, trong suốt một năm qua, không hề có thông tin hay số liệu nào được phía Trung Quốc công bố về hoạt động cứu hộ hàng hải của trung tâm này thực hiện. Trong khi đó, dư luận lại đón nhận nhiều thông tin sốc về các vụ việc như tàu Trung Quốc ngăn cản hoạt động cứu nạn của ngư dân các nước hay tàu Trung Quốc từ chối cứu hộ, thậm chí là đâm chìm tàu thuyền các nước. Các vụ việc điển hình phải kể đến như các vụ việc đối với ngư dân, tàu cá của Việt Nam. Hôm 05/10, tại khu vực cách tỉnh Khánh Hòa 112 hải lý, ba tàu Trung Quốc truy đuổi tàu cá Bình Định số hiệu 91386, không cho đánh bắt. Trước đó 4 ngày, một tàu Trung Quốc cũng đã từ chối cứu hộ 12 ngư dân Quảng Nam trên tàu cá lâm nạn ở Hoàng Sa, vùng biển đang trong vòng tranh chấp giữa hai nước. Hồi tháng 3 vừa qua, một tàu Trung Quốc đã đâm và đánh chìm một tàu cá Việt Nam từ Quảng Ngãi khi tàu này đang đánh bắt ở nơi được coi là ngư trường truyền thống của họ ở khu vực quần đảo Hoàng Sa. Bộ Ngoại giao Việt Nam sau đó đã trao công hàm phản đối và yêu cầu Trung Quốc đền bù thích đáng cho ngư dân Việt Nam. Hay vụ việc tàu cá ĐNa 90929 TS chở theo 9 ngư dân Việt Nam bị phá nước, chìm ngày 26/9, cách đảo Bạch Quy khoảng 5 hải lý. Chủ tàu bị nạn đã thuê 2 tàu cá (QNg 90019TS và QNg 66018TS) đến hiện trường. Tuy nhiên, ngày 3/10, phía Trung Quốc điều một ca nô ra ngăn cản hoạt động trục vớt tàu chìm của ngư dân.

Đối với ngư dân và tàu cá Philippines, đỉnh điểm là vụ việc tối 9/6, tàu cá FB Gimver 1 của Philippines va chạm với tàu Trung Quốc gần bãi Cỏ Rong thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam trên Biển Đông. Vụ va chạm khiến tàu Philippines bị chìm, còn tàu Trung Quốc rời hiện trường ngay lập tức, bỏ mặc 22 ngư dân Philippines trên chiếc tàu đắm. Nhóm ngư dân này phải bơ vơ giữa biển trong nhiều giờ trước khi được một tàu Việt Nam cứu hộ. Hành động của Trung Quốc đã vấp phải sự chỉ trích lên án mạnh mẽ của dư luận Philippines và các nước. Bộ Quốc phòng Philippines lên án hành động “đáng khinh bỉ và hèn nhát” của tàu cá Trung Quốc. Manila thậm chí còn cảnh báo cắt quan hệ với Bắc Kinh nếu xác minh vụ đâm tàu là hành động có chủ đích.

Âm mưu, ý đồ của Trung Quốc khi dựng lên cái gọi là “Trung tâm cứu hộ hàng hải của Trung Quốc trên đá Chữ Thập”, thực chất là nhằm che đậy cho những âm mưu ý đồ kiểm soát toàn bộ Biển Đông của Bắc Kinh. Trước mắt, những loại hình núp bóng dân sự hay nhân đạo như trên là nhằm bao biện cho những hành vi bồi đắp, mở rộng quân sự hoá đảo nhân tạo của Trung Quốc ở Biển Đông; đồng thời củng cố sự chiếm đóng và những căn cứ yêu sách chủ quyền của Bắc Kinh. Hoạt động của cái gọi là “Trung tâm cứu hộ hàng hải của Trung Quốc trên đá Chữ Thập” thực chất là phục vụ cho các lực lượng của Trung Quốc ở trên các thực thế này. Ngoài ra, nó còn được sử dụng như một lực lượng tuần tra do thám, sẵn sàng tham gia ngăn cản, quấy nhiễu hay can dự đụng độ như từng xảy ra đối với lực lượng tàu cá dân binh của Trung Quốc và các nước ở Biển Đông.

Tin mới

Các tin khác

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Mỹ chơi lớn: Chi số tiền kỷ lục sắm loạt tàu ngầm mới mang tên lửa Tomahawk “dằn mặt” TQ

Posted on by huyentamhh

Mỹ chơi lớn: Chi số tiền kỷ lục sắm loạt tàu ngầm mới mang tên lửa Tomahawk “dằn mặt” TQ

Mỹ hiện đang phải đối diện với sức ép chưa từng có tiền lệ ở Thái Bình Dương mà chủ yếu đến từ sự phát triển đột phá về số lượng và chất lượng của các tàu ngầm Hải quân Trung Quốc.

Hợp đồng đóng tàu ngầm lớn chưa từng có

Ngày 2/12/2019, Hải quân Mỹ đã chính thức đặt bút ký một hợp đồng đóng mới 9 tàu ngầm tấn công tiên tiến nhất thế giới chạy bằng năng lượng hạt nhân lớp Virginia trị giá 22,2 tỷ USD, một khoản ngân sách kỷ lục chưa từng có từ trước tới nay.

Động thái trên diễn ra chỉ vài tháng sau khi Tư lệnh Hải quân Mỹ ở Thái Bình Dương lên tiếng cảnh bảo về việc Trung Quốc tăng cường phát triển hải quân đồng thời ông cũng bày tỏ lo ngại Washington không có đủ tàu ngầm để đối phó với Bắc Kinh.

“Hợp đồng này chính là phản ứng mới nhất của Hải quân Mỹ trước sức mạnh quân sự và các hành động gây hấn ngày càng gia tăng của Trung Quốc ở Tây Thái Bình Dương”, Carl Schuster, cựu Giám đốc phụ trách các chiến dịch thuộc Trung tâm Tình báo Liên hợp, Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Hải quân Mỹ bình luận.

“Hải quân Trung Quốc (PLAN) đang ngày càng trở lên tốt hơn và phát triển ở quy mô lớn hơn, vì vậy Mỹ cần phải đối phó. Hải quân Mỹ không coi Trung Quốc là kẻ thù nhưng các hành động của Trung Quốc phải được theo dõi chặt chẽ”, ông Carl Schuster nhấn mạnh.

Các tàu ngầm lớp Virginia là phương tiện tác chiến chủ chốt đa năng dưới nước của Hải quân Mỹ. Chúng có thể tấn công các tàu ngầm khác, tàu chiến mặt nước, các mục tiêu trên đất liền cũng như thực hiện các chiến dịch đặt biệt thu thập thông tin tình báo và do thám.

8 tàu ngầm loại này đã có trong biên chế của Hải quân Mỹ và thêm 10 tàu ngầm nữa đang được đóng theo từng giai đoạn khác nhau.

Tuy nhiên, 9 tàu ngầm Virginia mới sẽ đánh dấu một bước nâng cấp đột phá so với các tàu ngầm tiền nhiệm cùng lớp. Hải quân Mỹ cũng đang để ngỏ lựa chọn đóng chiếc tàu thứ 10 và nếu như vậy tổng giá trị hợp đồng sẽ lên tới 24 tỷ USD.

Bước nhảy vọt về khả năng đối phó với Trung Quốc

Trong thông báo phát đi ngày thứ Hai, Chuẩn Đô đốc David Goggins, sĩ quan phụ trách chương trình tàu ngầm của Hải quân Mỹ gọi đây là “một bước nhảy vọt cả thế hệ về khả năng tác chiến ngầm”.

Các tàu ngầm mới sẽ có kích cỡ lớn hơn với lượng choán nước 10.200 tấn (so với 7.800 tấn ở các tàu hiện tại), dài hơn (460 feet so với 377 feet) và sẽ được trang bị hỏa lực mạnh mẽ mới khi có thể tấn công bằng 40 tên lửa hành trình Tomahawk (so với chỉ 12 quả trên các tàu hiện nay).

Hải quân Mỹ cho biết, số tàu ngầm mới này dự kiến sẽ được chuyển giao trong giai đoạn từ 2025 – 2029.

Các chuyên gia cho rằng Mỹ hiện đang phải đối diện với sức ép chưa từng có tiền lệ ở Thái Bình Dương mà chủ yếu đến từ những bước phát triển đột phá về số lượng và chất lượng các tàu ngầm của Hải quân Trung Quốc.

Báo cáo sức mạnh quân sự Trung Quốc công bố hồi tháng 5/2019 của Bộ Quốc phòng Mỹ cho biết, đến năm 2020 PLAN sẽ đưa vào biên chế khoảng từ 65 – 70 tàu ngầm.

Lực lượng tàu ngầm Trung Quốc dự kiến sẽ còn tiếp tục gia tăng sau giai đoạn này. Trong vòng 5 năm kế tiếp PLAN sẽ đóng mới thêm nhiều tàu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân tương tự như các tàu lớp Virginia của Mỹ.

Trong một báo cáo đưa ra vào tháng 8/2019, các chuyên gia phân tích ở Australia đã chấn vấn Mỹ về khả năng bắt kịp đà phát triển của Trung Quốc đồng thời cảnh báo Washington đang phải đối diện với một cuộc khủng hoảng “đổ vỡ về chiến lược”:

“Khi môi trường trên mặt nước ngày càng trở nên nguy hiểm hơn trước việc Trung Quốc tăng cường triển khai tên lửa hành trình, vũ khí siêu thanh và các hệ thống phòng không thì lợi thế vượt trội của Mỹ về tác chiến ngầm phải đóng một vai trò ngày càng quan trọng để cân bằng sức mạnh tại khu vực”.

Trong phiên điều trần trước Quốc hội Mỹ đầu năm nay, Đô Đốc Philip Davidson, chỉ huy Bộ tư lệnh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ cho biết, hoạt động tàu ngầm của 3 đối thủ ở Thái Bình Dương, gồm Trung Quốc, Nga và Triều Tiên đã gia tăng gấp 3 lần kể từ năm 2008.

Davidson đã yêu cầu được gia tăng số lượng tàu ngầm để duy trì ưu thế của Hải quân Mỹ trong khu vực vì nếu không “chúng ta sẽ mất lợi thế về số lượng vào khoảng năm 2025 và tôi cho rằng đây là một thách thức đối với lợi ích của chúng ta”.

Các tin khác

Categories: Biển Đông | Leave a comment

UNCLOS là “Hiến pháp của Đại dương”

Posted on by huyentamhh

UNCLOS là “Hiến pháp của Đại dương”

Tại Đà Nẵng, một thành phố miền Trung của Việt Nam vừa diễn ra một Diễn đàn quan trọng. Đây là một cuộc gặp gỡ của đông đảo các quan chức, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu quốc tế. Cuộc gặp gỡ mang tên Diễn đàn Biển ASEAN (AMF) lần thứ 9 và Diễn đàn Biển ASEAN mở rộng (EAMF) lần thứ 7.

Toàn cảnh Diễn đàn Biển ASEAN (AMF) lần thứ 9 diễn ra ngày 5/12 tại Đà Nẵng, Việt Nam

Diễn đàn này được tổ chức trong bối cảnh tình hình Biển Đông tiếp tục có những diễn biến căng thẳng, nguyên nhân chủ yếu so Trung Quốc tiếp tục có nhiều hoạt động leo thang quân sự và Mỹ có những động thái cứng rắn. Bắc Kinh mô tả những hành động này là “phô diễn cơ bắp”, yêu cầu Washinghton phải dừng ngay “trò lố”!

Các quan khách đã nhấn mạnh nguyên tắc tự kiềm chế, không có các hành động làm phức tạp tình hình và gia tăng tranh chấp. Yêu cầu các bên liên quan triệt để tuân thủ luật pháp, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, mọi tranh chấp phải được giải quyết trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước quốc tế về luật biển năm 1982 (UNCLOS).

Muốn thực hiện được điều đó, yêu cầu các quốc gia, không phân biệt “lớn” hay “nhỏ”, đều bình đẳng trước luật pháp quốc tế. Phải coi UNCLOS là “Hiến pháp của Đại dương”. Hiến pháp ấy là nền tảng, là cơ sở của mọi cơ sở, lí lẽ của mọi lí lẽ thiết lập trật tự pháp lý, điều chỉnh mọi hoạt động trên biển của các nước.

Trong những năm qua, Trung Quốc đã cố tình vi phạm “Hiến pháp của Đại dương”. Mặc dù UNCLOS không công nhận “quyền lịch sử” mà Bắc Kinh tự vẽ ra. Những yêu sách bất hợp pháp không thể coi là cơ sở để khẳng định “đang có tồn tại các vùng biển tranh chấp do bị chồng lấn”.Thực ra cái mà Trung Quốc la ó đang bị tranh chấp giữa quốc gia này với các nước khác không hề có tranh chấp. Không thể có chuyện một quốc gia nhỏ yếu hơn lại âm mưu chiếm đảo, chiếm biển của một quốc gia lớn, có tiềm năng kinh tế, quân sự lớn hơn mình.

Bạn đọc chỉ cần quan sát trên thực địa đủ thấy hành động vây ép, xâm lấn của Trung Quốc. Đó là tại các khu vực hoạt động của nhóm tàu khảo sát Hải Dương 8 tại bãi Tư Chính cách bờ biển Việt Nam chưa đến 200 hải lý. Trong khi bãi này cách bờ biển Trung Quốc tới hơn 500 hải lý. Chả cần tính toán cao siêu gì, ai cũng thấy đó là đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam.

Chỉ có quốc gia nào có quần đảo mới có quyền thiết lập đường cơ sở quần đảo bao quanh. Căn cứ vào đường cơ sở mà thiết lập vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Theo đó, Trường Sa là của Việt Nam, đó quyết không phải quốc gia quần đảo. Vì thế làm gì có cái gọi là “đường cơ sở quần đảo”. Sau khi các cơ sở hậu cần, bảo đảm ở Trường Sa hoàn thành Trung Quốc đã thực hiện chiến thuật “Căng thẳng cường độ chậm” trên Biển Đông. Các đảo nhân tạo vừa được móc san hô từ đáy biển lên bồi đắp đã hóa cơ sở cung cấp dịch vụ chỉ huy, kiểm soát, thông tin liên lạc và dự báo thời tiết. Từ đây lũ lượt tàu hải giám và tàu thân trắng của Trung Quốc tràn xuống Trường Sa giễu võ giương oai, hết nhiên liệu lại chạy về tiếp tế.

Vậy là những đá mới được tôn tạo trở thành các căn cứ quân sự, hậu cần-kỹ thuật ở Trường Sa. Nước này đã lấy đó làm “mốc” để vươn vòi bạch tuộc tới các vùng biển. Các đá như Vành Khăn, Chữ Thập, Xu Bi… mà Trung Quốc cưỡng chiếm của Việt Nam không thể đính thêm viên “ngọc” là vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Rõ ràng hành động tự ý diễn giải quy định của UNCLOC là điều không thể chấp nhận trong một thế giới văn minh, cần phải lên án mạnh mẽ hơn và ngăn chặn bằng những giải pháp tổng hợp về kinh tế, ngoại giao và quân sự.

 

Toàn cảnh Diễn đàn Biển ASEAN (AMF) lần thứ 9 diễn ra ngày 5/12 tại Đà Nẵng, Việ

Các tin khác

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Giới học giả tại Nga, Hàn Quốc, Mỹ và Thụy Sĩ tích cực thể hiện quan điểm và tiếng nói trong vấn đề Biển Đông trong năm 2019

Posted on by huyentamhh

Giới học giả tại Nga, Hàn Quốc, Mỹ và Thụy Sĩ tích cực thể hiện quan điểm và tiếng nói trong vấn đề Biển Đông trong năm 2019

Năm 2019, giới nghiên cứu và học giả quốc tế, khu vực đã đóng góp tiếng nói quan trọng trong quá trình giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông. Những hội thảo quốc tế tại các nước như Nga, Hàn Quốc, Mỹ và Thụy Sĩ… là nơi các sự kiện, diễn biến tại Biển Đông được đưa ra phân tích, đánh giá trên cơ sở luật pháp quốc tế bằng thực tiễn và học thuật. Điều này đã giúp dư luận có những nhận thức đầy đủ, khách quan và chính xác về tình hình.

Tại Nga

1. Hội thảo quốc tế “Tranh cãi trên biển Biển Đông và tìm kiếm giải pháp hòa bình” do Quỹ quốc tế “Con đường hòa bình” phối hợp Hội Luật gia dân chủ quốc tế (IADL) tổ chức tại thủ đô Matxcova (27-28/6), với sự tham gia của đông đảo các học giả, nhà nghiên cứu chính trị, luật gia, các chuyên gia về lĩnh vực Biển Đông, các nhà ngoại giao đến từ Nga, Mỹ, Philippines, Nhật Bản, Pakistan, Việt Nam. Tại hội thảo, các đại biểu đã trình bày nhiều báo cáo khoa học với nội dung tập trung vào các vấn đề hoàn cảnh lịch sử và diễn biến hiện tại trên khu vực Biển Đông, quan điểm chính của các nước liên quan, cũng như các giải pháp hòa bình, trong đó có những đề xuất được đưa lần đầu tiên thu hút chú ý của giới chuyên gia. Các ý kiến cho rằng cần phải gia tăng các hội nghị, hội thảo quốc tế có sự tham dự của tất cả các bên liên quan. Các đại biểu cũng đưa ra nhiều đề xuất nhằm giải quyết tranh chấp ở Biển Đông một cách hòa bình, dựa trên Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), bao gồm việc không sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực; thúc đẩy đối thoại và hợp tác trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, quyền và lợi ích chính đáng của mọi quốc gia; dựa vào các cơ chế đa phương, đặc biệt ASEAN và các cơ chế do ASEAN dẫn dắt, như ARF, EAS, ADMM+, để kiểm soát bất ổn, xây dựng lòng tin, và ngăn ngừa xung đột. Xây dựng một Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) thực chất, ràng buộc và hiệu quả sẽ giúp duy trì hoà bình, ổn định, an ninh và an toàn hàng hải, hàng không ở Biển Đông; tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt UNCLOS 1982 trong quá trình giải quyết tranh chấp. Trong khi COC đang trong tiến trình hình thành, các bên cần chấm dứt các hoạt động xây đảo nhân tạo bất hợp pháp và ngừng triển khai các thiết bị và phương tiện quân sự và các hành động quân sự hóa khác khiến căng thẳng leo thang. Các bên liên quan nên bắt đầu ngay tiến trình xây dựng lòng tin, góp phần giữ gìn an ninh khu vực và môi trường biển, tôn trọng và tuân thủ Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), đồng thời sớm thiết lập và thực thi COC có tính ràng buộc pháp lý và dựa trên luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982.

2. Hội thảo“Luật quốc tế, công lý quốc gia và quốc tế, chủ quyền quốc gia trên ví dụ ứng xử giữa các nước ở Biển Đông” do Đại học Tư pháp quốc gia Nga (RGUP) trực thuộc Tòa án Tối cao Liên bang Nga tổ chức (01/11). Đây là sự kiện thường niên trong khuôn khổ hội nghị toàn Nga và chương trình trường học của nhà khoa học trẻ, thu hút đông đảo giảng viên, nghiên cứu sinh, sinh viên các trường đại học, học viện khối luật hàng đầu trên toàn Nga như Đại học Tư pháp quốc gia Nga, Viện Nhà nước và Pháp luật thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga (RAN), Đại học Tổng hợp Tomsk, Đại học Tổng hợp Nhân văn Nga, Đại học Tổng hợp Sư phạm Moskva, Học viện Kinh tế quốc dân và Hành chính công, Đại học Luật quốc gia Kutafin. Đáng chú ý, lần đầu tiên, chủ đề Biển Đông được đưa vào chương trình hội nghị dành cho các sinh viên, nghiên cứu sinh tài năng, những nhà khoa học trẻ ngành luật của Nga. Tại hội thảo, các chuyên gia đã chỉ rõ việc cải tạo các bãi đá, xây dựng đường băng, đặc biệt là tiến hành thử nghiệm đường băng trên Đá Chữ thập mà Trung Quốc xây dựng trái phép; các hoạt động quân sự hóa của Trung Quốc tại Biển Đông. Chuyên gia Nga khẳng định những hành động này đều đi ngược lại luật pháp quốc tế, UNCLOS 1982; khẳng định trong một thập kỷ gần đây, những hành động của Trung Quốc vi phạm luật pháp quốc tế trên Biển Đông là có hệ thống, khiến Biển Đông trở thành điểm “nóng” quốc tế. Một số ý kiến cho rằng Trung Quốc muốn biến khu vực không phải tranh chấp hay chồng lấn tại Biển Đông thành khu vực có tranh chấp, đồng thời cản trở hoạt động khai thác dầu khí hợp pháp của Việt Nam với Nga và các nước khác. Các chuyên gia phát biểu tại hội thảo đều khẳng định rằng tất cả các bên tranh chấp cần tuân thủ những chuẩn mực của luật pháp quốc tế đã được thừa nhận, trong đó có UNCLOS mà Trung Quốc cũng là thành viên. Các nước ASEAN và Trung Quốc cần nhanh chóng thông qua COC mang tính ràng buộc pháp lý và có tính đến lợi ích hợp pháp của tất cả các bên. Trên phương diện pháp luật, khu vực Biển Đông hiện nay rất nguy hiểm, đòi hỏi các bên phải có trách nhiệm, nhưng chưa có sự quan tâm đầy đủ của cộng đồng luật quốc tế. Mặc dù đã có luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc, UNCLOS, các tài liệu pháp lý khác để giải quyết tình hình ở Biển Đông, nhưng Trung Quốc vẫn đang có các vi phạm liên quan đến quyền chủ quyền hợp pháp được luật pháp quốc tế công nhận, trước hết là của Việt Nam, Malaysia, Indonesia, Philippines và Brunei.

Tại Hàn Quốc

1. Ngày 26/11/2019, tại trường Đại học Youngsan (Busan, Hàn Quốc), Hội những người Hàn Quốc yêu Việt Nam VESAMO, trường Đại học Youngsan (Trung tâm nghiên cứu luật biển, Trung tâm nghiên cứu Việt Nam học, Khoa Quốc tế học) và trường Đại học Khoa học Kỹ thuật Dongwon đã tổ chức cuộc hội thảo khoa học năm 2019 với chủ đề: “Hợp tác chung vì một môi trường hàng hải an toàn và phát triển bền vững”. Tham dự hội thảo có đông đảo đại biểu là giáo sư đại học, học giả ngành luật quốc tế; chuyên gia nghiên cứu cao cấp về hải dương học; sinh viên đại học các chuyên ngành liên quan và đại diện một số cơ quan văn hóa của thành phố Busan, các tổ chức và cá nhân Hàn Quốc quan tâm và nghiên cứu về văn hóa, lịch sử của Việt Nam. Tại hội thảo, các học giả đã tập trung vào việc phân tích về các vấn đề luật pháp quốc tế và an ninh môi trường biển, an toàn hàng hải ở Biển Đông; tìm kiếm các giải pháp cho hòa bình ở biển Đông. Các ý kiến đều thể hiện sự quan ngại đối với việc Trung Quốc tiếp tục triển khai các hoạt động gây căng thẳng ở biển Đông; cho rằng các hành động này của Trung Quốc đã vi phạm các quy định của Công ước luật biển năm 1982 (UNCLOS) và càng làm cho các vấn đề tranh chấp trở lên phức tạp, đe dọa đến hòa bình, ổn định và lợi ích của các quốc gia trong khu vực. Hội thảo kêu gọi các bên liên quan xuất phát từ tinh thần và trách nhiệm chung cần tôn trọng luật pháp quốc tế và Công ước ước của Liên hợp quốc về Luật Biển, chấm dứt các hành động căng thẳng, thiện chí hợp tác gìn giữ hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực. Các đại biểu đều nhất trí rằng, rằng việc duy trì môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển ở biển Đông là bổn phận và trách nhiệm của các quốc gia và giải pháp duy nhất cho vấn đề hòa bình ở biển Đông là sự tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế.

2. Ngày 26/5/2019 vừa qua, Hội Sinh viên Việt Nam tại Hàn Quốc (VSAK) đã tổ chức thành công Hội thảo Khoa Học Sinh viên Việt Nam tại Hàn Quốc lần thứ VI (ACVYS 2019) tại hội trường tòa nhà The 100th Memorial Hall, trường Đại học Khoa học và Công nghệ Seoul (SeoulTech), thu hút sự tham gia của hàng trăm nhà khoa học, nghiên cứu sinh cùng các bạn sinh viên Việt Nam và quốc tế đang học tập và sinh sống tại Hàn Quốc. Các đại biểu tham gia Hội thảo đều cho rằng tình hình Biển Đông hiện nay phức tạp do những hành động đơn phương, coi thường pháp luật của Trung Quốc. Việc xây dựng một COC thực chất, ràng buộc và hiệu quả sẽ giúp duy trì hoà bình, ổn định, an ninh và an toàn hàng hải, hàng không ở Biển Đông; tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt UNCLOS 1982 trong quá trình giải quyết tranh chấp. Trong khi COC đang trong tiến trình hình thành, các bên cần chấm dứt các hoạt động xây đảo nhân tạo bất hợp pháp và ngừng triển khai các thiết bị và phương tiện quân sự và các hành động quân sự hóa khác khiến căng thẳng leo thang.

Tại Mỹ

Hội thảo về Biển Đông thường niên lần thứ 9 do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (CSIS), Mỹ tổ chức diễn ra ở Washington (24/7) với sự tham gia của các học giả quốc tế. Các ý kiến đều bày tỏ quan ngại về những diễn biến tại Biển Đông. Chuyên gia Nhật Bản đánh giá, Nhật Bản là nước “rất dễ bị tổn thương” trước những diễn biến tiêu cực trên Biển Đông. Ông giải thích hơn 90% giao thương của Nhật Bản lệ thuộc vào vận chuyển bằng đường biển và Biển Đông là huyết mạch hàng hải hết sức quan trọng đối với Tokyo. Do đó, nếu con đường này bị chặn hoặc một quốc gia đơn lẻ nào đó làm chủ vùng biển này thì Nhật Bản sẽ rơi vào tình thế dễ bị tổn thương. Trong khi đó, chuyên gia Ấn Độ đánh giá New Delhi có nhiều lợi ích ở Biển Đông và cũng sẽ là một “nạn nhân” nếu vùng biển này xảy ra bất ổn. Trong khuôn khổ chính sách đối ngoại “Hướng Đông”, những năm qua Ấn Độ đã tích cực tăng cường sự hiện diện về kinh tế, chính trị và quân sự với các nước xung quanh Biển Đông. Chuyên gia Australia khẳng định ưu tiên của nước này là duy trì hòa bình và ổn định trên Biển Đông. Những năm qua, Canberra luôn bày tỏ quan ngại đối với các cường quốc đang nổi thách thức luật lệ trên biển, trên không, và xem đó là mối đe dọa đối với sự ổn định của khu vực

Tại Thụy Sĩ

Ngày 7/6, hội thảo quốc tế “Diễn tiến nào trong tranh chấp tại Biển Đông sau phán quyết của Tòa trọng tài La Haye?” đã diễn ra tại Câu lạc bộ báo chí Thụy Sĩ ở thành phố Geneva, Thụy Sĩ. Hội thảo thu hút sự tham gia của các nhà nghiên cứu về quan hệ quốc tế, các vấn đề an ninh như Tiến sĩ Felix Heiduk (Viện Nghiên cứu quốc tế và an ninh Đức); nhà nghiên cứu Bill Hayton (Viện Quan hệ quốc tế Hoàng gia Chatham House – London, Anh); Tiến sĩ Theresa Fallon (nhà sáng lập đồng thời là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Á- Âu tại Brussels, Bỉ); Giáo sư Erik Franckx (Đại học Tự do Brussels, Bỉ); chuyên gia James Fanell (Trung tâm Chính sách an ninh Geneva) và Tiến sĩ Nicola Casarini (Viện Nghiên cứu vấn đề quốc tế Italy). Các chuyên gia đã tập trung phân tích “thái độ” của Trung Quốc đối với luật pháp và các chuẩn mực quốc tế ở Biển Đông, kể cả những động cơ chiến lược của Trung Quốc, những tính toan về chi phí/lợi ích của nước này tại Biển Đông, các lựa chọn chính sách và cả những tình huống mà Trung Quốc sẽ phải đối mặt trong tương lai, mối quan hệ giữa luật pháp và quyền lực trong các tranh chấp hàng hải và lãnh thổ ở Biển Đông. Dù còn nhiều vấn đề phải giải quyết tại Biển Đông, các nhà nghiên cứu nhấn mạnh việc tôn trọng luật pháp quốc tế, tự do hàng hải, ủng hộ tự do của các quốc gia có tuyên bố chủ quyền chính đáng với các vùng biển và hải đảo. Thách thức của các nước trong khu vực hiện nay và tương lai là hàn gắn niềm tin cũng như đưa khu vực trở lại hòa bình và ổn định.

Các tin khác

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Nếu gây hấn với Việt Nam, TQ sẽ bị thảm bại

Posted on by huyentamhh

Nếu gây hấn với Việt Nam, TQ sẽ bị thảm bại

Trước tình hình Trung Quốc ngày càng có thái độ gây hấn trên Biển Đông, đặc biệt là với Việt Nam. Nhiều nhà nghiên cứu quân sự Thế giới, kể cả người Trung Quốc đều cho rằng Trung Quốc không nên mạo hiểm gây hấn với Việt Nam.

Các nhà phân tích đã đưa ra các lí do sau:

Thứ nhất: Người dân Việt Nam có truyền thống chống ngoại xâm. Họ thường phải chống lại kẻ thù đông hơn, mạnh hơn. Trong lịch sử Trung Quốc đã hơn mười lần xâm lược Việt Nam nhưng đều thất bại. Trong Thế kỷ XX, Việt Nam đã đánh thắng các đế quốc lớn như Nhật, Pháp, Mỹ. Trong chiến tranh toàn diện thì không thể cứ nước lớn có thể thắng được nước nhỏ mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác, đặc biệt là tính chính nghĩa hay phi nghĩa của cuộc chiến tranh. Nếu chiến tranh xảy ra thì rõ ràng nhân dân Việt Nam là chính nghĩa, họ sẽ đoàn kết được cả dân tộc, được Thế giới ủng hộ. Còn Trung Quốc thì ngay nội bộ cũng có nhiều quan điểm khác nhau.

Thứ hai: Trong quân đội Trung Quốc có phái hiếu chiến luôn kích động việc đánh chiếm các đảo của Việt Nam. Trong thực tế các đảo ấy không mang lại nhiều lợi ích cho Trung Quốc, nhưng nhờ vậy mà quân đội Trung Quốc được đầu tư về trang bị, quân số và nhiều quyền lợi khác. Nhưng thực tế quân đội Trung Quốc trong nhiều năm không có chiến tranh lớn, không có kinh nghiệm tác chiến. Họ chủ yếu là “dẹp loạn” trong nước như đàn áp biểu tình ở Thiên An môn, ở Tây Tạng… Còn quân đội Việt Nam là một quân đội thiện chiến, đã đánh thắng cả quân đội Pháp, Nhật, Mỹ. Ngay năm 1979, quân đội Trung Quốc đã dùng nhiều sư đoàn, tiến công trên toàn tuyến biên giới Việt Nam. Lúc đó quân chủ lực của Việt Nam đang chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và giúp nhân dân Campuchia chống bọn diệt chủng. Nên thực tế chống quân Trung Quốc lúc đó chỉ là dân quân, du kích và bộ đội địa phương. Chỉ trong một tháng Trung Quốc đã bị diệt tới 6 vạn quân. Khi quân chủ lực Việt Nam cơ động ra Bắc thì Trung Quốc đã phải vội vã rút quân. Nhiều tướng lĩnh Trung Quốc lúc đó đã thừa nhận thất bại, thừa nhận sức mạnh của quân và dân Việt Nam.

Rõ ràng trong bối cảnh hiện nay dù quân đội Trung Quốc đông, được trang bị nhiều vũ khí hiện đại nhưng rất khó có thể thắng được quân đội Việt Nam. Đặc biệt, nếu Trung Quốc thực hiện chiến tranh cục bộ, chỉ trên biển đảo thì càng có nhiều bất lợi. Mấy đảo chiếm được của Việt Nam ở Trường Sa dù có sân bay, tên lừa nhưng vẫn nhỏ và quá xa Trung Quốc nên Việt Nam có thể dễ dàng vô hiệu hoá, thậm chí sẽ là mồ chôn quân Trung Quốc.

Thứ ba: Nếu Trung Quốc đánh Việt Nam thì Trung Quốc là phi nghĩa, sẽ bị cả Thế giới chửi rủa, lên án. Còn Việt Nam sẽ được cả Thế giới ủng hộ. Thực tế không chỉ Việt Nam có quyền lợi ở Biển Đông mà nhiều nước, trước hết là Mỹ, Nhật, Hàn, Úc, Ấn đều có quyền lợi ở đây. Họ sẽ ủng hộ chi viện cho Việt Nam chống lại Trung Quốc. Rồi, từ bị cô lập về chính trị, ngoại giao, quân sự, Trung Quốc sẽ bị cô lập về kinh tế.

Trung Quốc sẽ không chỉ thất bại trước Việt Nam mà thất ại trước toàn Thế giới. Nhân dân Trung Quốc hãy hành động, phản đối thái độ hiếu chiến của lãnh đạo Trung Quốc, đừng để Trung Quốc rơi vào thảm hoạ.

Các tin khác

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Động thái mới của Indonesia

Posted on by huyentamhh

Động thái mới của Indonesia

In bài này

Khi cái “lưỡi bò” tham lam của TQ thò ra xa hơn, số phận quần đảo Natuna ít người nhưng khá giàu tài nguyên của Indonesia khó có thể toàn vẹn. Vậy nên, nếu Jakarta tự tách khỏi cộng đồng ASEAN, thể hiện thái độ một cách trung dung thì chưa biết là khôn hay dại.

TQ thực hiện chiến thuật “chia để trị”

Mọi người đều biết, tranh chấp chủ quyền biển Đông gồm các tranh chấp về vùng biển và đảo, liên quan đến 5 quốc gia và vùng lãnh thổ, bao gồm: Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Đài Loan. Ngoài các quốc gia, vùng lãnh thổ nêu trên có tranh chấp trực tiếp, biển Đông cũng là vùng biển mà nhiều cường quốc gián tiếp quan tâm, trong đó, có các cường quốc Mỹ, Nhật Bản, Australian, Ấn Độ.

Đương nhiên, căng thẳng trước tiên liên quan các bên có yêu sách, tranh chấp trực tiếp, trong đó, “nóng” nhất là giữa TQ với các bên còn lại.

Các bên còn lại là cách gọi chung. Trong thực tế, tranh chấp diễn ra quyết liệt, phức tạp, gay cấn nhất trong mấy năm vừa qua là vể chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán giữa TQ với VN, TQ với PLP, vì VN, PLP là hai quốc gia hứng chịu nhiều nhất sự ngang ngược, hung hăng của TQ. Các bên còn lại nhìn chung giữ thái độ gần như trung dung, trừ khi họ là nạn nhân cụ thể của các hành vi đe dọa, quấy nhiễu trực tiếp về tàu cá, tàu chở hàng…

Thậm chí, trong vấn đề này, Lào, Campuchia, có thể gọi là “ngậm miệng ăn tiền” để không mếch lòng TQ – gã nhà giàu ngang ngược.“Ngậm miệng ăn tiền” không phải họ không biết thế nào là công lý. Làm thế, họ được, hoặc được hứa hẹn nhiều nhiều các khoản viện trợ tài chính từ Bắc Kinh, tuy nhiên, xét về trách nhiệm với cộng đồng ASEAN, kiểu “khôn lỏi” đó thật khó chấp nhận. Vì nó mà lần đầu tiên trong lịch sử 45 năm ASEAN, Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN năm 2012, do Campuchia đăng cai tổ chức, đã không ra được Tuyên bố chung, tựa như thất bại của của cả khối.

Liên quan vấn đề này, những năm gần đây, thái độ của Indonesia nhìn chung, kiềm chế – theo đánh giá của dư luận.

Tất nhiên, Jakarta có lý do để tính toán. Họ thừa biết, xét về mức độ, giữa họ và Bắc Kinh, quần đảo Quần đảo Natuna – chuỗi gồm 270 đảo nằm ở phía Nam Biển Đông mà họ đang kiểm soát, tới thời điểm hiện tại, mới nằm trong khả năng có thể xảy ra tranh chấp với TQ. Liên quan trực tiếp quyền lợi của họ, có thể chỉ mới dừng ở sự bực mình đối với việc cấm biển đơn phương của TQ khiến ngư dân Indonesia cũng như ngư dân các nước trong vùng bị đe dọa, khó khăn trong hành nghề trên biển.

Tuy nhiên, trước một TQ tham lam, thèm khát, không từ bất kỳ thủ đoạn nào để áp đặt yêu sách “đường lưỡi bò” nhằm biến biển Đông thành “ao nhà” của mình, rất có thể, chỉ mai, kia thôi, cũng như hai nước láng giềng VN, PLP, Indonesia lại là nạn nhân tiếp theo của họ.

Và trong trường hợp đó, khi cái “lưỡi bò” tham lam của TQ thò xa hơn, số phận quần đảoNatuna ít người nhưng khá giàu tài nguyên của Indonesia khó có thể toàn vẹn. Vậy nên, tự tách khỏi cộng đồng ASEAN, thể hiện thái độ một cách trung dung chưa biết là khôn hay dại.

Có lẽ vì thế, tại Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (ADMM Retreat) diễn ra tại Bangkok (Thái Lan) trung tuần tháng 11 vừa qua, Bộ trưởng Indonesia, ông Prabowo Subianto bỗng dưng có những tuyên bố, theo đánh giá của dư luận, là mạnh mẽ, thể hiện được tinh thần trách nhiệm của một thành viên ASEAN trong bối cảnh diễn biến biển Đông ngày càng phức tạp, căng thẳng.

Cụ thể, ông Prabowo Subianto khẳng định rằng:“Các nước thành viên ASEAN không được tách rời hoặc phân cực vì nó chỉ gây ra xung đột và bất hòa. Indonesia mạnh mẽ thách thức mọi hình thức xâm lược từ bất kỳ quốc gia nào trong khu vực Đông Nam Á”.

Tuyên bố, lời kêu gọi, thông điệp của người đứng đầu Bộ Quốc phòng Indonesia như trên, xem ra có thể coi như đã bắt đúng mối lo về một ASEAN không đoàn kết, thiếu tinh thần cộng đồng trách nhiệm.

Một ASEAN vớimỗi quốc gia mải mê tính toán, theo đuổi lợi ích riêng hẹp hòi,tách rời, phân tán – đó chính là điều TQ muốn. Nó trùng với chiến thuật “chia để trị” nguy hiểm của TQ nhằm làm suy yếu ASEAN trong giải quyết vấn đề biển Đông.

 

Các tin khác

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Tàu hải quân Nga sắp diễn tập với Việt Nam tại Biển Đông

Posted on by huyentamhh

Tàu hải quân Nga sắp diễn tập với Việt Nam tại Biển Đông

Tàu cứu hộ của Hạm đội Thái Bình Dương Nga sẽ tham gia cuộc diễn tập với Hải quân Việt Nam tại Biển Đông vào tháng 12.

Văn phòng báo chí của Hạm đội Thái Bình Dương Nga ngày 19/11 cho biết tàu cứu hộ Igor Belousov sẽ tham gia cuộc diễn tập Nga – Việt vào tháng 12 tại Biển Đông để thực hành nội dung hỗ trợ cho thủy thủ đoàn tàu ngầm trong tình huống nguy cấp.

“Theo kế hoạch hành động năm 2019 do Bộ Quốc phòng Nga phê chuẩn về phát triển mối quan hệ với các lực lượng quân sự nước ngoài, tàu cứu hộ Igor Belousov sẽ tham gia cuộc diễn tập Nga – Việt để hỗ trợ cho thủy thủ đoàn của tàu ngầm gặp nạn dưới đáy biển”, thông báo của Hạm đội Thái Bình Dương Nga cho biết.

Thủy thủ đoàn tàu cứu hộ Igor Belousov đã hoàn tất việc chuẩn bị cuộc cuộc diễn tập sắp tới với Việt Nam. Vài ngày trước, thủy thủ đoàn cũng tham gia cuộc diễn tập tại một khu vực huấn luyện tác chiến trên biển Nhật Bản.

Theo hãng thông tấn Tass (Nga), lực lượng tàu ngầm Việt Nam hiện vận hành 6 tàu ngầm Đề án 636 được đóng tại xưởng ở tây bắc Nga. Ngoài ra, Nga cũng giúp Việt Nam xây dựng trung tâm huấn luyện thủy thủ đoàn tàu ngầm.

Tin mới

Các tin khác

Categories: Biển Đông | Leave a comment

ối sách của ASEAN trước mưu đồ độc chiếm Biển Đông của TQ

Posted on by huyentamhh

ối sách của ASEAN trước mưu đồ độc chiếm Biển Đông của TQ

Trung Quốc tiến hành phân hóa các nước ASEAN nhằm phân tán sức mạnh đoàn kết của ASEAN. Một khi ASEAN bị chia rẽ, không coi Biển Đông là vấn đề chung của Hiệp hội mà chỉ là vấn đề giữa Trung Quốc với một nước ASEAN thì Trung Quốc có thể dễ đạt được các thoả hiệp có lợi nhất về vấn đề Biển Đông

Trò bẩn của Trung Quốc đối với ASEAN

Trung Quốc tiến hành chia rẽ, phân hóa các nước ASEAN, nhất là chia rẽ ASEAN với Việt Nam, nhằm phân tán sức mạnh đoàn kết của ASEAN. Một khi ASEAN bị chia rẽ, không coi Biển Đông là vấn đề chung của Hiệp hội mà chỉ là vấn đề giữa Trung Quốc với một nước ASEAN thì Trung Quốc có thể dễ đạt được các thoả hiệp có lợi nhất về vấn đề Biển Đông. Nhằm mục tiêu ấy, Trung Quốc đã lợi dụng sự bất đồng về lợi ích, về quan điểm giải quyết các tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông của các nước ASEAN có tuyên bố chủ quyền để gây chia rẽ, không để các nước này đoàn kết thành một khối để đối trọng với Trung Quốc; bên cạnh đó, Trung Quốc sử dụng con bài “viện trợ” để các nước này vì lợi ích quốc gia trước mắt mà không ủng hộ các nước ASEAN khác trong “hồ sơ Biển Đông”; chủ trương đàm phán riêng rẽ đối với các nước có liên quan trực tiếp đến tranh chấp ở Biển Đông để đạt lợi ích riêng, tạo nghi ngờ giữa các nước ASEAN có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông.Trung Quốc tăng cường ảnh hưởng đối với các nước ASEAN khác nhằm tách họ khỏi các vấn đề Biển Đông, tập trung bao vây, cô lập Việt Nam với các nước ASEAN, vì Trung Quốc cho rằng Việt Nam là lực cản lớn nhất đối với chiến lược độc chiếm Biển Đông của họ. Điều đó giải thích vì sao có những nước có quan hệ rất tốt với Việt Nam, nhưng không dám bày tỏ ủng hộ mạnh mẽ Việt Nam trong vấn đề Biển Đông, thậm chí coi đây là chuyện riêng giữa Trung Quốc với Việt Nam, giữa Trung Quốc với Phi-líp-pin, hoặc né tránh bày tỏ quan điểm bằng lý do “không can thiệp công việc nội bộ nước khác”.Trung Quốc cũng đưa ra các sáng kiến “Vịnh Bắc Bộ mở rộng” với chủ trương “gác tranh chấp cùng khai thác”, muốn biến Biển Đông thành “con đường tơ lụa trên biển” trong thế kỷ 21, để lôi kéo các nước ASEAN có liên quan đến tranh chấp ở Biển Đông và chứng tỏ với ASEAN là Trung Quốc muốn giải quyết hòa bình vấn đề Biển Đông,

Không những vậy, Trung Quốc chủ trương đàm phán song phương với từng nước ASEAN, không đàm phán chung với cả Hiệp hội về vấn đề Biển Đông. Chủ trương của Trung Quốc là chủ quyền ở Biển Đông thuộc về Trung Quốc và hạ thấp vai trò, sức mạnh tập thể của ASEAN trong các vấn đề an ninh khu vực, dùng sức mạnh của nước lớn để giải quyết riêng rẽ với từng nước thành viên ASEAN có tranh chấp chủ quyền, qua đó làm tăng vai trò nước lớn của Trung Quốc.Cùng với việc phản đối đàm phán về vấn đề Biển Đông với ASEAN, Trung Quốc đồng thời vô hiệu hóa các nội dung DOC mà hai bên phải mất 12 năm đàm phán mới đi đến ký kết năm 2002. Trung Quốc luôn nói tuân thủ DOC, nhưng thực tế Trung Quốc trắng trợn hạ đặt trái phép giàn khoan HD-981 và điều nhóm tàu khảo sát Hải Dương 8 vào sâu vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam,đưa các tàu, kể cả tàu chiến và máy bay quân sự chủ động đâm va, dùng vũ lực đối với các lực lượng chấp pháp dân sự, thậm chí đâm chìm tàu cá của ngư dân Việt Nam, đe dọa an toàn hàng hải, hàng không trên Biển Đông, bất chấp phản đối của Việt Nam và nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế. Hành động này không chỉ vi phạm Hiến chương Liên Hợp Quốc, UNCLOS 1982, mà còn vi phạm DOC mà Trung Quốc là một bên ký kết. Trung Quốc còn công bố một tấm bản đồ “đường 10 đoạn” dựa trên cơ sở “đường 9 đoạn” phi lý, phi pháp, ngang ngược ghi chú các quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam hay quần đảo đang tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư với Nhật Bản vào lãnh thổ của Trung Quốc. Ngoài ra, Trung Quốc tìm lý do trì hoãn bàn và ký kết với ASEAN về Bộ Quy tắc Ứng xử của các bên liên quan ở Biển Đông (COC). Trong khi chưa ký được COC, Trung Quốc đã tự mình từ bỏ DOC.

Trung Quốc vận động để ASEAN không ủng hộ lập trường của Mỹ trong vấn đề Biển Đông và sử dụng vấn đề này nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực. Trung Quốc luôn coi Đông Nam Á là “khu vực ảnh hưởng truyền thống” của mình. Trước việc Mỹ thực hiện chính sách “tái cân bằng” ở khu vực, lấy Biển Đông làm khâu đột phá để làm suy yếu ảnh hưởng của Trung Quốc, nước này đã tìm cách phản công lại bằng cách quy kết lập trường của Mỹ về Biển Đông chỉ mang lại lợi ích cho Mỹ, không có lợi cho ASEAN.

Trung Quốc cũng ban hành các quy định về vùng đặc quyền kinh tế, cấm các nước khác khảo sát, đo đạc trong vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc; phản đối hoạt động của các tàu do thám Mỹ, mưu toan đẩy hải quân Mỹ ra khỏi Biển Đông nhằm phá thế bao vây về quân sự của Mỹ. Đồng thời, Trung Quốc mưu toan dùng quân sự để khống chế các đường hàng hải quốc tế ở Biển Đông nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực và hạn chế khả năng Mỹ can thiệp vào vấn đề Đài Loan khi có tình huống xảy ra. Việc Trung Quốc mới công bố bản đồ “đường 10 đoạn” một lần nữa khẳng định âm mưu độc chiếm Biển Đông, để từ đây Hải quân Trung Quốc tiếp cận Thái Bình Dương, giáp với Mỹ cũng như tiến ra Ấn Độ dương.

Mưu toan “gặm nhấm” Biển Đông bằng sức mạnh

Trung Quốc chủ trương dùng sức mạnh tổng hợp để uy hiếp ASEAN, buộc các nước ASEAN phải nhượng bộ trong vấn đề Biển Đông; chủ trương kiểm soát thực tế trên biển, khiến thế giới phải thừa nhận Biển Đông nằm trong phạm vi lợi ích của Trung Quốc.

Trung Quốc tăng cường đầu tư cho quân sự, quyết tâm thực hiện ba nhiệm vụ quan trọng (mạnh về Hải quân để trở thành cường quốc biển; chạy đua trên vũ trụ; giành ưu thế về công nghệ thông tin, chiến tranh mạng), tạo ra cục diện có lợi cho Trung Quốc, quyết đoán, mạnh mẽ, sử dụng vũ lực trắng trợn hơn trong khẳng định yêu sách chủ quyền. Kể từ năm 1998 đến nay, Trung Quốc đã tăng ngân sách quốc phòng lên 13 lần, do đó hải quân Trung Quốc đã thành hải quân hùng mạnh nhất châu Á. Việc các lực lượng hải quân, không quân, chấp pháp biển của Trung Quốc liên tục mở rộng phạm vi, cường độ hoạt động tại các vùng biển tranh chấp và tư duy sẵn sàng sử dụng vũ lực của Trung Quốc, nhất là sau Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 18, đang làm gia tăng nguy cơ va chạm với các nước. Hải quân và kiểm ngư Trung Quốc tăng cường hoạt động ở khu vực “đường 10 đoạn” để gây sức ép với các nước ASEAN, tạo sự lo ngại va chạm của các nước có liên quan để các nước này không dám phản đối Trung Quốc. Nước này đã sử dụng các tàu thăm dò, tàu đánh cá hoạt động ở những vùng tranh chấp và tiến hành các biện pháp nhằm dân sự hóa sự hiện diện của họ.

Song song với việc áp đặt chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa, ngang nhiên đưa nhiều tàu đánh cá vào hoạt động ở ngư trường truyền thống của Việt Nam, Trung Quốc còn phái một đoàn tàu đánh cá đến Trường Sa. Khi dựa trên một đoàn tàu “dân sự” ngày càng hùng mạnh của Cục Quản lý Đại dương hay của cơ quan Ngư chính, với tàu thuyền được trang bị vũ khí nặng, Trung Quốc đang dùng chính sách “sự đã rồi” để áp đặt chủ quyền của họ. Năm 2010, Trung Quốc đã nâng Biển Đông lên hàng lợi ích cốt lõi, ngang hàng với Đài Loan, Tây Tạng và Tân Cương, điều này có nghĩa là Trung Quốc không chấp nhận bất kỳ thỏa hiệp nào.

Chưa hết, Trung Quốc trắng trợn san lấp biển, mở rộng đảo tại 5 đảo, bãi đá ở Biển Đông, tiến hành quân sự hóa các thực thể đang chiếm đóng trái phép ở quần đảo Trường Sa, biến chúng thành căn cứ quân sự kiên cố trên biển. Tại Đá Chữ Thập, Trung Quốc cải tạo mở rộng đá Chữ Thập thành đảo nhân tạo lớn nhất quần đảo Trường Sa với diện tích khoảng 2,74 km2 (7/2015), xây dựng trên đá Chữ Thập 9 cầu tàu, 2 bãi đáp trực thăng, 10 ăng ten liên lạc qua vệ tinh và một trạm radar. Đặc biệt là việc xây dựng một đường băng dài 3.125m và rộng 60m, đây là đường băng duy nhất đủ lớn cho máy bay ném bom chiến lược tại Trường Sa, cho phép quân đội Trung Quốc bao quát không phận rộng lớn từ Tây Thái Bình Dương gồm cả Guam (nơi có các căn cứ Mỹ) đến Ấn Độ Dương. Tại Đá Vành Khăn, Trung Quốc bắt xây một đường băng trên đá này và đến tháng 7/2016 thì một đường băng dài 2.644m, rộng 55m này đã hoàn thành. Ngoài ra, Trung Quốc cũng đã xây dựng ngọn hải đăng, kho bãi, các mái che radar, tháp truyền tín hiệu viễn thông, cảng vận chuyển quy mô lớn… Tại Đá Gạc Ma, Trung Quốc đã tiến hành đào đắp đất cát để xây đường băng tại đây, trên bãi đá chỉ có một nền bê tông nhỏ với một cơ sở liên lạc, cầu cảng và một đơn vị đồn trú. Trung Quốc đã hoàn thiện cải tạo phi pháp đá Gạc Ma và đưa vào sử dụng trái phép nhiều hạng mục công trình như: Tòa nhà kiên cố cao 26 – 27m gồm 8 tầng, tại 4 góc nhà đều bố trí các lỗ châu mai – lỗ bắn. Trên nóc nhà bố trí 2 ra đa hàng hải, 2 ăng ten parabol và 1 thiết bị đảm bảo bay có quả cầu che, cùng một số thiết bị thông tin liên lạc khác. Trên tầng 6 của tòa nhà, phía Trung Quốc lắp radar điều khiển hỏa lực, hệ thống kính ngắm quang học hiện đại. Tầng 5 của tòa nhà được lắp 2 bệ pháo 30mm (7 nòng) và tầng 1 lắp 2 bệ pháo 76mm. Ngoài hệ thống súng pháo trên nhà 8 tầng, còn có 1 vị trí hỏa lực lắp đặt pháo 76mm, pháo 30mm quay hướng Đông Bắc luôn có quân nhân trực canh 24/24 trong tư thế sẵn sàng chiến đấu và họ chỉ chui ra khỏi bệ pháo khi đổi ca trực. Ngoai ra, còn có các công trình khác trên bãi Gạc Ma như: 2 tháp radar đối không – đảm bảo bay cho máy bay, 1 tháp viễn thông thu phát sóng 4G cao khoảng 50m, 2 cột điện gió cùng hệ thống pin năng lượng mặt trời, 1 ngọn hải đăng cao 50m, bán kính chiếu xa khoảng 40 km… Bên cạnh đó, Trung Quốc còn nạo vét luồng rạch theo hướng Bắc – Nam với chiều dài 900 – 1.000m, rộng khoảng 250 – 400m thuận tiện cho các tàu trọng tải 4.000 tấn ra vào âu tàu phía trong bãi và cập cảng phía Bắc đá Gạc Ma. Tại Đá Subi, Trung Quốc đã xây kênh tiếp cận, cầu cảng, các thiết bị thông tin liên lạc, radar, đê chắn sóng gia cố, bãi đáp trực thăng, cơ sở quận sự và có thể xây một đường băng dài 3.000m. Tại Đá Tư Nghĩa, Trung Quốc cải tạo khoảng 9,5 ha bao gồm nhà kiên cố 8 tầng cao khoảng 26 – 27m, tại 4 góc nhà của các tầng đều bố trí lỗ bắn. Trên nóc bố trí 2 radar hàng hải và 2 ăngten parabol, 1 thiết bị có quả cầu che và các thiết bị thông tin liên lạc, quan sát. Ở tầng 6 của tòa nhà lắp rada điều khiển hỏa lực, kính ngắm quang học, còn tầng 5 lắp 4 bệ pháo 30 mm (7 nòng), tầng 1 lắp 4 bệ pháo 76 mm… Ngoài ra, vị trí hỏa lực lắp đặt pháo 76 mm, pháo 30 mm quay hướng Đông; tháp viễn thông thu phát sóng 4G cao khoảng 50 m; bãi đáp trực thăng, cầu cảng hướng Đông – Tây dài khoảng 80 – 100 m. Tại Đá Châu Viên, Trung Quốc hiện đã cải tạo phi pháp và mở rộng diện tích phần đất nhân tạo trên bãi đá Châu Viên lên đến 119.711 m2. Những công trình xuất hiện tại đây gồm kênh tiếp cận, đê chắn sóng, bãi đáp trực thăng, các tòa nhà hỗ trợ, cơ sở quân sự, ăng ten liên lạc vệ tinh, radar, hải đăng… Tại Đá Gaven, Trung Quốc đã cải tạo, mở rộng trái phép diện tích 114.000 m2 trên đá Gaven. Bãi đá này có kênh tiếp cận, súng phòng không, súng hải quân, thiết bị liên lạc, kiến trúc hỗ trợ xây dựng, tháp phòng thủ, cơ sở quân sự, bãi đáp trực thăng và đê chắn sóng.

Biện pháp đối phó của ASEAN

Việc Trung Quốc vi phạm UNCLOS 1982, vi phạm DOC, trì hoãn đàm phán thực chất COC, trắng trợn hạ đặt giàn khoan vào sâu vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, phớt lờ phản ứng của cộng đồng quốc tế…, báo hiệu một tương lai khó xác định về hiện thực hóa và tính màu nhiệm của COC. Các nước ASEAN (và cộng đồng quốc tế) cần nhận rõ những thủ đoạn trên, để tìm ra những biện pháp hiệu quả ngăn cản chiến lược của Trung Quốc độc chiếm Biển Đông. ASEAN cần và có thể thực hiện một số biện pháp sau để hạn chế tham vọng của Trung Quốc:

Hơn lúc nào hết, ASEAN cần có nhận thức đi cùng một quyết tâm và trách nhiệm chính trị cao hơn. Trong số các nước có yêu sách đòi chủ quyền ở Biển Đông, thì bốn nước ASEAN có tranh chấp trực tiếp tại vùng biển này. Các nước khác như Indoneisa, Singapore, Thái Lan và Campuchia là những nước nằm ven bờ Biển Đông, đều chia sẻ lợi ích chiến lược to lớn, cả kinh tế, tự do thương mại, lẫn an ninh và quốc phòng. Tuy Myanmar không nằm trên bờ Biển Đông, nhưng Biển Đông là con đường thông thương hàng hải thuận lợi nhất cho nước này trong phát triển quan hệ với các nước ven bờ Thái Bình Dương, khi tuyến Hành lang Kinh tế Đông – Tây thuộc Hợp tác Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng trở nên thuận tiện, thì lợi ích của Myanmar sẽ được nhân lên nhiều lần. Tuy không có biển, nhưng Lào cũng được hưởng lợi lớn khi sử dụng giao thông hàng hải cũng như được tham gia đánh bắt lượng hải sản dư thừa sau khi Việt Nam hoàn thành tính toán nhu cầu, mức độ, khả năng đánh bắt hải sản của ngư dân Việt Nam ở Biển Đông. Do vậy, một khi tranh chấp Biển Đông leo thang không chỉ đe dọa lợi ích quốc gia – dân tộc của các nước ASEAN ven bờ, mà còn làm xấu đi môi trường hợp tác và phát triển của toàn khối, nhất là quan hệ của ASEAN và các nước thành viên với các đối tác bên ngoài, trước hết là với Trung Quốc, Nhật Bản… Các nước Đông Nam Á, nhất là các nước có yêu sách chủ quyền, dù muốn hay không, đều phải dành ngân sách nhiều hơn cho chi phí quốc phòng, làm gia tăng cuộc chạy đua vũ trang ở khu vực. Điều đó không chỉ làm tổn hại đến đầu tư phát triển kinh tế, mà còn làm tăng nghi kỵ về an ninh.

Hơn nữa, việc tham gia ngăn ngừa xung đột ở Biển Đông còn giúp ASEAN duy trì và củng cố vai trò trung tâm, động lực thúc đẩy, kết nối, kiến tạo các cơ chế hợp tác đa phương ở châu Á – Thái Bình Dương, nhất là vai trò của ASEAN trong Diễn đàn An ninh khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS) và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN và các nước đối tác (ADMM+). Điều đó làm tăng sức đề kháng của ASEAN và các nước thành viên trước sức ép gia tăng về địa – chính trị do cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, trước hết là giữa Mỹ và Trung Quốc; đồng thời làm tăng sức hấp dẫn và tính hiệu quả của ASEAN và các nước thành viên trong việc mở rộng hợp tác với các đối tác bên ngoài, đưa vị thế của ASEAN lên tầm cao mới, củng cố vị thế của ASEAN như là một nhân tố không thể thiếu trong kiến tạo môi trường hòa bình, cũng như các cơ chế hợp tác đa phương đã và đang hình thành ở khu vực. Như vậy, việc ASEAN tham gia giải quyết mâu thuẫn, ngăn ngừa xung đột ở Biển Đông đạt được ba mục đích: Góp phần hiện thực hóa APSC; hạn chế ASEAN và các nước thành viên rơi vào vòng xoáy cạnh tranh địa – chính trị của các nước lớn, duy trì vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực đang hình thành và góp phần giảm thiểu thế độc quyền chiến lược của một số nước lớn, trước hết là Mỹ và Trung Quốc, ở khu vực này, làm tăng phần hợp tác, chia sẻ lợi ích giữa họ và giữa họ với các nước ASEAN. Kết quả đó đã và sẽ góp phần củng cố môi trường hợp tác và an ninh khu vực, trong đó chủ quyền quốc gia – dân tộc của các thành viên ASEAN sẽ được tôn trọng. Như vậy, có thể nói, việc ASEAN tham gia giải quyết mâu thuẫn, ngăn ngừa xung đột ở Biển Đông vừa là trách nhiệm, vừa là lợi ích chiến lược của tổ chức này cũng như của mỗi quốc gia thành viên. Đây cũng là một trong những phép thử đối với hiện thực hóa APSC.

Không những vậy, ASEAN cần sớm hoàn chỉnh cơ chế ra quyết định những vấn đề trọng yếu. Nếu nguyên tắc đồng thuận) phát huy tác dụng từ ngày ASEAN ra đời tới nay, thì gần đây nguyên tắc này đã bộc lộ những hạn chế, làm giảm tính tập trung, thống nhất mạnh mẽ cần có của Hiệp hội. ASEAN cần dũng cảm điều chỉnh nguyên tắc “concensus” khi ra quyết định tập thể, coi đây là một trong những điểm mấu chốt, quan trọng nhất để ASEAN đạt được thống nhất nội bộ trước khi giải quyết tranh chấp.Đồng thời cần nghiên cứu áp dụng bổ sung cơ chế đảm bảo thống nhất, phát huy trách nhiệm và kế thừa liên tục chính sách chung của ASEAN qua các nhiệm kỳ Chủ tịch ASEAN theo kiểu “troika”. Hai nội dung cần đổi mới trên đây trước hết cần thiết cho các phương án đấu tranh về Biển Đông nói riêng cũng như cho việc xây dựng Cộng đồng ASEAN nói chung.

ASEAN cũng cần đẩy mạnh“quốc tế hóa” tự do, an ninh hàng hải, hàng không trên Biển Đông . Trong bối cảnh hiện nay, ASEAN cần chủ động đưa ra các sáng kiến mới, tạo dựng các cơ chế, hình thức hợp tác hòa bình mới. Việc đảm bảo tự do, an toàn, an ninh hàng hải, hàng không cho tất cả các nước có lợi ích ở Biển Đông sẽ cho phép các quốc gia thành viên ASEAN thúc đẩy “quốc tế hóa” vấn đề này. Hiện nay, không ít quốc gia ngoài khu vực quan tâm đến tự do, an ninh hàng hải và hàng không. ASEAN cần chọn chủ đề “tự do an ninh hàng hải, hàng không” ở Biển Đông là khâu đột phá. Đây cũng là điều Trung Quốc lâu nay né tránh, nên rất ít khả năng Trung Quốc tham gia đàm phán. Bốn nước (Việt Nam, Phihlippines, Malaysia và Brunei) nói riêng và khối ASEAN nói chung có thể mời các quốc gia có lợi ích liên quan đến an toàn hàng hải, hàng không ở khu vực như Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia… tham gia đàm phán đa phương, tiến tới xây dựng một Thỏa thuận (hoặc Hiệp định) về đảm bảo an ninh hàng hải, hàng không ở Biển Đông. Thỏa thuận (hoặc Hiệp định) này để ngỏ (mở) cho tất cả các nước trong và ngoài khu vực tham gia. Điều đó sẽ tạo tiền lệ quan trọng, làm cho Trung Quốc không thể đứng bên lề các cuộc đàm phán cũng như điều ước quốc tế này nếu Trung Quốc nghiêm túc mong muốn giải quyết các tranh chấp. Như vậy, bằng cách đàm phán, ký điều ước quốc tế đa phương về các giải pháp đảm bảo tự do, an toàn hàng hải và hàng không ở Biển Đông, ASEAN và các nước Việt Nam, Phihlippines, Malaysia và Bruneicó thể tạo tiền đề, xác lập các điều khoản cho cuộc đàm phán đa phương tương lai với Trung Quốc.

Các nước ASEAN cần sẵn sàng giải quyết tranh chấp bằng công cụ pháp lý quốc tế. Trung Quốc luôn né tránh việc giải quyết vấn đề bằng luật pháp quốc tế, vì nước này chủ trương giải quyết tranh chấp Biển Đông theo con đường song phương, loại trừ việc tham gia của bất kỳ bên thứ ba nào khác. Đây là “điểm yếu” của Trung Quốc mà ASEAN cần triệt để khai thác.Sử dụng công cụ pháp lý hiệu quả sẽ mở ra khả năng sử dụng các cơ quan tài phán quốc tế để giải quyết tranh chấp, hoặc chí ít hạn chế các hành động gây hấn, các tuyên bố yêu sách vô lý không tuân thủ UNCLOS 1982. Do vậy, không chỉ “quốc tế hóa” vấn đề an toàn hàng hải, hàng không trên Biển Đông, ASEAN (ít nhất là các nước có tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông với Trung Quốc) không nên ngần ngại đưa tranh chấp ra Tòa án quốc tế về Luật Biển (ITLOS), Tòa án Công lý quốc tế (ICJ), hoặc Tòa Trọng tài thường trực (PCA) theo Phụ lục VII của UNCLOS 1982 (tùy thái độ của Trung Quốc), bởi không ít vùng biển tranh chấp trên thế giới không phân định được qua đàm phán, cuối cùng phải nhờ đến phán quyết của Tòa án, từ đó mới có ổn định bền vững.

Ngoài ra, ASEAN cần tích cực đưa vấn đề Biển Đông ra các hội nghị, diễn đàn đa phương, song phương. Tại các diễn đàn An ninh khu vực (ARF), Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á (EAS), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+), Đối thoại Shangri-La…, nhiều tiếng nói ủng hộ lập trường “quốc tế hóa”, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình và tự do hàng hải tại Biển Đông. ASEAN cần tiếp tục sử dụng các diễn đàn này để buộc các bên liên quan tìm kiếm giải pháp duy trì hòa bình, qua đó đẩy mạnh “quốc tế hóa” phương cách giải quyết tranh chấp; đẩy mạnh truyền thông về vấn đề Biển Đông theo hướng vì lợi ích của cộng đồng khu vực. Đây chính là sự kết hợp sức mạnh của thời đại với sức mạnh của Hiệp hội để giải quyết vấn đề liên quan tới lợi ích chiến lược của ASEAN. Bên cạnh đó, ASEAN cần cùng Trung Quốc đàm phán, ký kết về COC sớm chừng nào hay chừng ấy. Chúng ta thiếu cơ sở để kỳ vọng vào sự nhiệm màu của COC, nhưng cần kiên trì đấu tranh tìm mọi giải pháp, dù là nhỏ nhất, giải quyết tranh chấp ở Biển Đông trước khi quá muộn.

Nhìn chung, với vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2020, Việt Nam cần chủ động cùng một số thành viên chủ chốt phát huy vai trò trong ASEAN, đưa ra các sáng kiến củng cố đoàn kết, thống nhất nội khối, cũng như phối hợp thực hiện các bước đi đàm phán đa phương. Bên cạnh đó, Việt Nam kiên trì và kiên quyết phản đối yêu sách “đường 9 đoạn”, “đường 10 đoạn” của Trung Quốc, kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo; giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế, không để xảy ra xung đột; cũng như cảnh giác phòng ngừa các thế lực thù địch lợi dụng sự kiện này để kích động tinh thần dân tộc cực đoan, thậm chí có những hành động làm tổn hại lợi ích đất nước; đồng thời, cần chủ động hoàn chỉnh hồ sơ pháp lý về chủ quyền biển, đảo để bày tỏ quan điểm khi cần thiết.

Tin mới

Các tin khác

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Blog at WordPress.com.