Biển Đông

Ảnh vệ tinh cho thấy TQ gia tăng đánh bắt ở Biển Đông

Ảnh vệ tinh cho thấy TQ gia tăng đánh bắt ở Biển Đông

Một phân tích về hình ảnh vệ tinh phát hiện nhiều tàu Trung Quốc xuất hiện ở quần đảo Trường Sa, cho thấy các hoạt động đánh bắt của nước này đang gia tăng ở Biển Đông, theo tổ chức Sáng kiến Minh bạch Hàng hải Châu Á (AMTI) có trụ sở tại Washington.

Trong một báo cáo có tên “Chiếu sáng Hạm đội đánh bắt cá đêm ở Biển Đông” được công bố hôm thứ Tư (9/1), giám đốc AMTI, ông Gregory Poling cho biết có “sự hiện diện lớn của các tàu” trong và xung quanh hai tiền đồn lớn nhất của Trung Quốc tại các rạn san hô Đá Subi và Đá Vành Khăn, GMA News đưa tin.

Báo cáo trình bày dữ liệu thu được bằng công nghệ Radar khẩu độ tổng hợp (SAR), cho thấy số lượng tàu Trung Quốc đã gia tăng trong lần quan sát vào tháng 8 và vào tháng 11. Cụ thể, số lượng tàu Trung Quốc hồi tháng 8 xuất hiện xung quanh hai rạn san hô nói trên là 187, vào tháng 11 con số này là 209.

Hình ảnh vệ tinh chụp các tàu của Trung Quốc ở Trường Sa. (Ảnh: Gmanetwork)

Ông Poling cho biết: “Hai lần [vệ tinh] đi qua Đá Subi vào tháng 8 nhận được 117 lần tín hiệu SAR từ vùng nước quanh rạn san hô đó, và 61 tín hiệu khác tại các vùng biển gần đó, bao gồm cả đảo Thị Tứ do Philippines chiếm đóng chỉ cách đó hơn 12 hải lý”.

Phân tích cho thấy, vào cuối tháng 10, hai lần vệ tinh đi qua cho thấy “số lượng thậm chí còn lớn hơn nhưng phân tán hơn”, với 19 chiếc ở đầm phá và 190 chiếc ở vùng biển gần đó.

Trong khi đó, AMTI cho biết một phân tích về hình ảnh vệ tinh có độ phân giải cao cho thấy “các tàu cá Trung Quốc chiếm số lượng lớn nhất trong số các tàu hoạt động ở quần đảo Trường Sa từ trước đến nay”.

Theo ông Poling, hình ảnh “cho thấy số lượng tàu cá tại Đá Subi và Đá Vành khăn thậm chí còn cao hơn cả [số lượng mà công nghệ] SAR nhận định”. Ông giải thích rằng điều này là do các tàu “thường liên kết với nhau thành các nhóm lớn, nên chúng có vẻ như là một tàu duy nhất theo [phân tích của công nghệ] SAR.”

Một tàu Trung Quốc giăng lưới tại khu vực biển quanh Đá Vành Khăn, quần đảo Trường Sa, Biển Đông (Ảnh: Digital Globe/GMA)

Trích dẫn bức ảnh quá khứ, ông Poling lưu ý rằng số lượng tàu Trung Quốc tại Đá Subi và Đá Vành Khăn năm 2018 “cao hơn nhiều” so với năm 2017. “Vào tháng 8, dường như là tháng bận rộn nhất, đã có khoảng 300 tàu neo đậu tại hai rạn san hô này tại bất kỳ thời điểm nào”, ông nói.

Ông Poling cho biết : “Việc cải thiện hoạt động giám sát các đội tàu này sẽ rất quan trọng nếu các bên có tuyên bố chủ quyền hy vọng cứu được nghề cá ở Biển Đông và giảm tần suất các sự cố không mong muốn giữa các tàu”.

Ông nhấn mạnh rằng “số lượng tàu dân quân hoạt động trong khu vực thay mặt cho Trung Quốc hiện lớn hơn nhiều và dai dẳng hơn so với mức độ thường được nhìn nhận trước đó”.

Giám đốc AMTI nói thêm: “Các chuyên gia và các nhà hoạch định chính sách tập trung vào Biển Đông sẽ cần dành một phần tương ứng sự chú ý của họ vào các nhân tố này, cũng như vai trò của chúng trong khu vực”.

https://www.facebook.com/plugins/comments.php?app_id=&channel=https%3A%2F%2Fstaticxx.facebook.com%2Fconnect%2Fxd_arbiter%2Fr%2Fj-GHT1gpo6-.js%3Fversion%3D43%23cb%3Dfedd052f2fbca8%26domain%3Dbiendong.net%26origin%3Dhttp%253A%252F%252Fbiendong.net%252Ff215139da21f748%26relation%3Dparent.parent&color_scheme=light&container_width=664&height=100&href=http%3A%2F%2Fbiendong.net%2Fbi-n-nong%2F25784-anh-ve-tinh-cho-thay-tq-gia-tang-danh-bat-o-bien-dong.html&locale=vi_VN&sdk=joey&skin=light

Advertisements
Categories: Biển Đông | Leave a comment

Nhìn về Biển Đông năm 2019

Nhìn về Biển Đông năm 2019

Nguyễn Ngọc Sẵng (Danlambao) – Tin đầu năm trên BBC, Pháp gởi Hàng không mẫu hạm Charles de Gaulle đến Biển Đông với sức mạnh chưa từng có, theo quyết định của vị Bộ trưởng Quốc phòng Pháp Florence Parly.
Hàng không mẫu hạm Charles de Gaulle sẽ thực hiện chuyến tuần tra trên Biển Đông bằng toàn bộ khả năng tác chiến với gần 40 máy bay tiêm kích Rafale M. Rafale M là chiến đấu cơ đa năng có tầm tác chiến bao trùm hơn 3.000 km và là loại chiến đấu cơ ngoại quốc duy nhất được phép hoạt động trên các hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ. Theo ông Thành Đỗ, Cựu kỹ sư Sagem, Paris, (BBC ngày 1 tháng 1 năm 2019).
Hàng không mẫu hạm Charles de Gaulle tiếp nhận được loại chiến đấu cơ Mỹ F18 C/D đáp xuống và bay đi an toàn trong giới hạn 80 lượt cất cánh/ngày.
Charles de Gaulle có lịch sử hoạt động khá ấn tượng và là một trong những hàng không mẫu hạm tham chiến nhiều nhất trên thế giới.
Trong năm 2001, Hàng không mẫu hạm Charles de Gaulle đã thực hiện 770 phi vụ chiến đấu phục vụ chiến trường Taliban, và đã tham dự trực tiếp vào cuộc chiến Libya với hơn 1.400 phi vụ trên bầu trời Địa Trung Hải và Libya.
Mẫu hạm nguyên tử Charles de Gaulle có gần 2000 thuỷ thủ cộng với 700 nhân viên phi hành, hoàn toàn độc lập về hỏa lực tác chiến trong vòng 50 ngày.
Kèm theo bản tin trên, hai hàng không mẫu hạm HMS Queen Elizabeth R08 và HMS Prince of Wales R09 sẽ được đưa đến Biển Đông. Hai hàng không mẫu hạm này có thể tiếp nhận máy bay F35 hoặc các máy bay không người lái Drone.
Tưởng cũng cần biết Hải quân Hoàng gia Anh vẫn là hải quân lớn nhất thế giới vào tháng 9 năm 1939, bao gồm:
* 15 Thết giáp hạm và Tàu chiến tuần dương, trong đó có 2 chiếc được đóng ngay sau Thế chiến thứ I. Ngoài ra còn có 5 chiếc thiết giáp hạm thuộc lớp Thiết giáp hạm “King George V”.
* 7 tàu sân bay. Trong đó có một chiếc mới và 6 chiếc tàu sân bay ham đội được đóng theo kế hoạch. Không có tàu sân bay hộ tống.
* 66 tuần dương hạm, chủ yếu được đóng ngay sau Thế chiến thứ I, trong đó có một vài chiếc cũ được chuyển giao. 23 chiếc tuần dương hạm có khả năng đặt thủy lôi được đóng mới và hạ thủy.
* 184 khu trục hạm các loại. Hơn một nửa được đóng mới hiện đại, một vài khu trục hạm cũ thuộc lớp “V” và lớp “W” được chuyển đổi sang nhiệm vụ hộ tống. Ngoài ra còn có 32 khu trục hạm hạm đội và 20 tuần tra lớp “Hunt” đang được đóng.
* 60 tàu ngầm chủ yếu là loại hiện đại.
* 45 tàu tuần tra và hộ tống,
Bản tin BBC hôm nay 2/1 cho biết thêm Bộ trưởng Quốc phòng Anh Gavin Williamson phát biểu hôm cuối năm 2018 rằng Anh Quốc có kế hoạch xây một căn cứ quân sự ở Đông Nam Á và một ở vùng biển Caribbe. Các báo Anh tin rằng chính phủ đang bàn thảo để chọn đặt căn cứ ở Singapore hoặc Brunei cho vùng Đông Nam Á. Thật là tin không vui cho ông Tập và giới lãnh đạo cộng sản Trung quốc.
Hải quân Ấn Độ sẽ đưa hàng không mẫu hạm Vikrant vào Biển Đông. Vikrant thuộc lớp STOL (Short Take off, Vertical Landing) sẽ đi vào hoạt động năm 2019 nhưng chỉ thích hợp với máy bay Nga như Mig-29, Su-25 và Su-27. Nếu tham chiến trên Biển Đông, hàng không mẫu hạm Vikrant sẽ phải hoạt động độc lập.
Trong chuyến thăm đến Việt Nam từ ngày 21 đến 25/5. Hạm đội miền Đông hải quân Ấn Độ có ba tàu chiến gồm tàu chở dầu INS SHAKTI, tàu khu trục INS SAHYADRY và tàu hộ tống INS KAMORTA.
Tàu hộ tống INS KAMORTA là lớp tàu săn tàu ngầm tàng hình hiện đại của hạm đội Miền Đông, được trang bị vũ khí, thiết bị săn tàu ngầm và phòng không mạnh.
Tàu khu trục INS SAHYADRY được trang bị sàn đáp và kho chứa trực thăng. Trên tàu được trang bị hệ thống ngư lôi, hỏa tiển chống tàu ngầm.
Tàu khu trục INS SAHYADRY được trang bị hỗn hợp vũ khí của Nga, Ấn Độ và Israel, bao gồm hệ thống ống phóng thẳng đứng cho hỏa tiễn tầm ngắn và tầm trung Shtil-1. Ngoài ra tàu còn được trang bị pháo bắn nhanh cận chiến AK-630 CIWS.
Và một chiến hạm đảm nhiệm vai trò tiếp liệu cho nhóm tác chiến của hải quân Ấn Độ là tàu chở dầu INS SHAKTI.(theo Báo Mới.com, tháng 5/2018).
Trên Biển Đông còn có mặt của hải quân Nhật Bản, một đồng minh cốt lõi của Hoa Kỳ ở Châu Á. Sức mạnh hải quân của Nhật Bản là các tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường lớp Kongo, có bốn chiếc Kongo, Kirishima, Myoko và Chokai.
Tàu chiến lớp Kongo trang bị hệ thống chiến đấu Aegis, có khả năng theo dõi và đánh chặn các mối đe dọa trên không. Nó cũng cung cấp một hệ thống phòng thủ chống hoả tiễn đạn đạo. Nhật tự hào chỉ cần 2 chiến hạm lớp Kongo là có thể bảo vệ phần lớn lãnh thổ mình.
Vũ khí trang bị cho các khu trục hạm gồm có 90 ống phóng hỏa tiển thẳng đứng Mark 41, ở phía trước và sau boong tàu, hoả tiễn phòng không SM-2MR và hỏa tiển đánh chặn đạn đạo SM-3 Block IB. Các tàu khu trục còn trang bị 1 khẩu pháo chính cỡ nòng 127mm, 8 hỏa tiển chống hạm Harpoon, 6 ống phóng ngư lôi chống ngầm và 2 hệ thống phòng thủ tầm gần Phalanx 20 mm.
Một tàu chiến khác của Nhật Bản khiến đối phương nên tránh là tàu sân bay trực thăng Izumo. Với lượng giãn nước 27.000 tấn và chiều dài hơn 244m, có một khoang chứa máy bay bằng chiều dài của thân tàu.
Nhật Bản khẳng định Izumo là một tàu khu trục trực thăng. Izumo không thể mang các chiến đấu cơ cánh cố định nhưng có thể chở đến 14 máy bay trực thăng với nhiệm vụ từ tác chiến chống tàu ngầm, dò tìm thủy lôi cho đến tiến hành các cuộc tấn công đổ bộ bằng trực thăng. Điều này khiến Izumo trở thành một nền tảng linh hoạt, có khả năng thực thi hàng loạt nhiệm vụ khác nhau. (theo Viet Times).
Cùng ngày, tờ South China Morning Post đăng bài báo tựa đề “tăng cường luyện tập và chuẩn bị chiến tranh là ưu tiên của quân đội trong năm 2019”. Đó là lệnh của Tập ban ra cho quân đội nhân kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Quân Đội Nhân Dân .
Quân Tàu
Bài báo đưa thêm chi tiết, chúng ta phải chuẩn bị kỹ lưỡng trong mọi tình huống và tăng cường khả năng ứng phó của quân đội trong trường họp khẩn cấp, để bảo đảm chúng ta chận đứng những thách thức và chiến thắng trong mọi hoàn cảnh. Kế hoạch bao gồm việc hoạch định, áp dụng toàn bộ trong việc canh tân, bồi dưỡng, cải tổ, đổi mới quân đội giải phóng nhân dân Trung Cộng.
Từ khi lên nắm quyền 2012, Tập Cận Bình đã thúc đẩy việc canh tân quân đội, vì vậy kế hoạch canh tân, luyện tập, chuẩn bị quân đội sẵn sàng để đối phó khiến những nhà quan sát coi đó là dấu hiệu quan trọng trong kế hoạch năm 2019.
Bình luận viên Zeng Zhing, cựu Trung tá, ở Nam Kinh cho rằng “luyện tập và chuẩn bị cho chiến tranh luôn là nhiệm vụ hàng đầu của quân đội, nhưng việc nầy hơi khác, khi việc luyện tập và chuẩn bị cho chiến cuộc được nêu bật vào đầu năm, có nghĩa là kết hoạch của cả năm, cho dù chúng ta không biết sự thật đàng sau những khoa trương trong tình hình hiện tại”.
Cựu Thứ trưởng quốc phòng Đài Loan, Lin Chong-Pin cho rằng “ưu tiên trong việc luyện tập và chuẩn bị sẵn sàng cho chiến tranh không ngoài việc làm tăng sức mạnh ngoại giao mà Quân Đội Nhân Dân (Trung Cộng) muốn biểu lộ trong nhiều thập kỷ qua, cho dù họ chưa giao tranh với ai trong thời gian đó.
Việc nầy xảy ra trong lúc Mỹ gia tăng nhiều áp lực quân sự lên Trung Cộng. Tôi tin chắc 100 phần trăm Quân Đội Nhân Dân không dám phát động cuộc chiến, cho dù ở Biển Đông, hoặc tai eo biển Đài Loan. Chỉ nên lưu tâm khi vụ việc diễn biến nhanh chóng”.
Ông tiếp: “trong khi 38 Đại Tá được thăng Thiếu Tướng trong tháng 12. Họ được ông Tập tự chọn kỹ lưỡng, ông Tập muốn xây dựng quân đội riêng cho mình. Cái gọi là lực lượng của Tập”.
Trong 6 năm qua, Quân Đội Nhân Dân đã trải qua nhiều sóng gió, nhiều Tướng Lãnh đã bị hạ bệ trong chiến dịch thanh trừng tham nhũng.
Theo Tiến sĩ Mark J. Valencia, một phân tích gia về luật hàng hải, một phân tích gia chính trị và cố vấn về Châu Á. Ông cho rằng Cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ James Mattis là người cứng rắn, được coi là người đáng tin cậy, biết cân nhắc. Ông chủ trương không nên đối đầu khi không cần thiết. Ông không mang giọng điệu hiếu chiến. Nhưng sự ra đi bất ngờ của ông Mattis, đồng thời quan điểm, phong cách của người kế nhiệm được giới học giả chú ý và từ đó dự đoán mối liên quan Mỹ Trung trong chiến lược Biển Đông.
Họ cho rằng chiến lược và quyền lợi Mỹ có thể không thay đổi nhiều, nhưng có thể xuất hiện một số vấn nạn đòi hỏi những quyết định mang tầm chánh sách. Hay nói khác đi, sự ra đi của Mattis có thể là chỉ dấu thay đổi chiến lược về Biển Đông của Tổng Thống Trump. Vì vậy việc luyện tập và chuẩn bị sẵn sàng cho chiến tranh của Trung Cộng được hiểu là họ thực sự lo lắng cho cuộc chiến.
Sự căng thẳng trên Biển Đông giữa Mỹ Trung là đo sự sắp xếp trật tự vùng Châu Á và vai trò của hai cường quốc nầy trong vùng. Nói rõ hơn là Mỹ muốn giữ nguyên vai trò lãnh đạo trong vùng, nhưng Trung Cộng muốn thay thế vai trò nầy.
Ông Tập khẳng định “không ai có thể khuyên bảo người dân Trung Hoa phải làm gì và làm thế nào” Với sự lớn mạnh về kinh tế và quân sự, Trung Cộng sẽ không là mối đe dọa và sẽ hành sử thận trọng hơn trong khu vực. (theo South China Morning Post 1/1/2019).
Dù cẩn trọng, sáng suốt trong quyết định, nhưng chính Trung Cộng chưa chắc đã giải quyết được những vấn nạn nội tại của họ như những lãnh đạo có tinh thần quốc gia cực đoan, muốn chứng tỏ họ là nền kinh tế lớn phải được đối xử như siêu cường; những công dân mạng lôi cuốn xã hội vớì những khiêu khích gây chiến tranh; những toan tính sai lầm trên biển v.v… có thể làm bùng nổ chiến tranh cho dù Trung Cộng biết sức mình còn quá kém trong hải chiến.
Chiến tranh thương mại Mỹ Trung làm nền kinh tế Trung Cộng bị đình đốn nhất từ 30 năm qua, làm lung lay lòng tin của dân chúng vào chế độ. Gay góc hơn nữa là những nhà đối kháng trong nước nhân cơ hội nầy phản đối chính sách kinh tế của Tập, nhất là kế hoạch “Một vành đai, một con đường” lấp ló nhiều rủi ro trước mặt. Tập phải giải quyết thoả đáng mới mong tiếp tục được tại vị.
Theo hãng thông tấn AP hôm nay 2/1 có bài “China’s leader urges action on unification with Taiwan” (tạm dịch: Lãnh đạo Trung cộng thúc giục thống nhất với Đài Loan).
Có phải chăng đây là trò ma mãnh của Trung Cộng? Nếu thống nhất được Đài Loan sẽ làm Tàu nổ tung lên vì vui mừng, nhóm dân tộc cực đoan hả dạ, hạ nhiệt sự chống đối, một thành công to lớn của Tập, và Tập sẽ vĩ đại mãi mãi.
Nhưng nếu thống nhất phải dùng vũ lực, Mỹ sẽ can thiệp với hiêp định bảo vệ Đài Loan. Có nghiã là Tàu chọn Chiến Trường trên sân nhà. Họ lợi dụng ưu thế đó để làm cuộc trường kỳ chống Mỹ. Đó cũng là yếu tố để Tập làm vua suốt đời.
Cho dù có nhiều đánh giá khác nhau từ những nhà phân tích, nhưng sự chuẩn bị của Tàu không phải là không có cơ sở. Và sự tập hợp hải quân của các siêu cường trên Biển Đông chắc chắn không phải là ngẫu nhiên.
Mà đang ra đòn triệt buột Tàu.
Categories: Biển Đông | Leave a comment

THẾ GIỚI ĐẠI DƯƠNG Chiến lược phát triển kinh tế biển của Việt Nam: Hiện trạng và xu hướng phát triển In bài này Ngày đăng 20-12-2018 … Với hơn 1 triệu km2 vùng đặc quyền kinh tế, có trên 3.000 hòn đảo lớn nhỏ các loại, chủ yếu nằm ở Vịnh Bắc Bộ, với diện tích khoảng 1.700 km2, Việt Nam nằm trong số 10 nước trên thế giới có chỉ số cao nhất về chiều dài bờ biển so với diện tích lãnh thổ. Ở nước ta, tính bình quân cứ 100 km2 đất liền nước ta có 1 km bờ biển, cao gấp sáu lần chỉ số trung bình của thế giới, đồng thời bờ biển lại mở ra cả ba hướng Đông, Nam và Tây Nam, rất thuận lợi cho việc thông thương qua lại đại dương. Vì vậy, trước mắt cũng như lâu dài biển gắn bó mật thiết với đời sống con người và là cơ sở cho sự phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường của mọi miền đất nước. Điều kiện thuận lợi để Việt Nam phát triển kinh tế biển: Việt Nam là nước có tiềm năng tự nhiên to lớn, có bờ biển dài, diện tích lãnh hải thuộc chủ quyền rộng, khả năng tiếp cận dễ dàng đến các đại dương, có các nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú. Biển Đông có nguồn tài nguyên sinh vật phong phú và đa dạng, có đến hơn 160.000 loài, gần 10.000 loài thực vật và 260 loài chim sống ở biển. Trữ lượng các loài động vật ở biển ước tính khoảng 32,5 tỷ tấn, trong đó, các loài cá chiếm 86% tổng trữ lượng. Vùng biển Việt Nam có hơn 2.458 loài cá, gồm nhiều bộ, họ khác nhau, trong đó có khoảng 110 loài có giá trị kinh tế cao. Trữ lượng cá ở vùng biển nước ta khoảng 5 triệu tấn/năm, trữ lượng cá có thể đánh bắt hàng năm khoảng 2,3 triệu tấn. Các loài động vật thân mềm ở Biển Đông có hơn 1.800 loài, trong đó có nhiều loài là thực phẩm được ưa thích, như: mực, hải sâm. Ngoài động vật, biển còn cung cấp cho con người nhiều loại rong biển có giá trị. Đây là nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng và là nguồn dược liệu phong phú. Biển nước ta có khoảng 638 loài rong biển. Các loại rong biển dễ gây trồng, ít bị mất mùa và cho năng suất thu hoạch cao nên sẽ là nguồn thực phẩm quan trọng của loài người trong tương lai. Không những vậy, biển Việt Nam còn có nguồn tài nguyên dầu khí lớn, có tầm chiến lược quan trọng. Đến nay, chúng ta đã xác định được tổng tiềm năng dầu khí tại bể trầm tích: Sông Hồng, Phú Khánh, Nam Côn Sơn, Cửu Long, Malay – Thổ Chu, Tư Chính – Vũng Mây. Trữ lượng dầu khí dự báo của toàn thềm lục địa Việt Nam khoảng 10 tỷ tấn quy dầu. Ngoài dầu, Việt Nam còn có khí đốt với trữ lượng khai thác khoảng 3.000 tỷ m3/năm. Trữ lượng đã được xác minh là gần 550 triệu tấn dầu và trên 610 tỷ m3 khí. Trữ lượng khí đã được thẩm lượng, đang được khai thác và sẵn sàng để phát triển trong thời gian tới vào khoảng 400 tỷ m3. Ngoài ra, vùng biển nước ta nằm gọn trong phần phía Tây của vành đai quặng thiếc Thái Bình Dương, có trữ lượng thiếc lớn, và tiềm năng to lớn về quặng sa khoáng của các nguyên tố hiếm, có triển vọng băng cháy lớn. Bờ biển Việt Nam có vị trí địa – kinh tế và địa – chiến lược đặc biệt quan trọng. Việt Nam có đường bờ biển chạy theo hướng Bắc – Nam dọc theo chiều dài đất nước, lại nằm kề trên các tuyến đường biển quốc tế quan trọng của thế giới, có những vụng sâu kín gió là điều kiện thuận lợi để phát triển giao thông vận tải biển và mở rộng giao lưu với bên ngoài. Biển Đông được coi là con đường chiến lược về giao lưu và thương mại quốc tế giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, ở cả bốn phía đều có đường thông ra Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương qua các eo biển. Từ các hải cảng ven biển của Việt Nam thông qua eo biển Malacca để đi đến Ấn Độ Dương, Trung Đông, châu Âu, châu Phi; qua eo biển Basi có thể đi vào Thái Bình Dương đến các cảng của Nhật Bản, Nga, Nam Mỹ và Bắc Mỹ; qua các eo biển giữa Philippines, Indonesia, Singapore đến Australia và New Zealand… Hầu hết các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương đều có các hoạt động thương mại hàng hải rất mạnh trên Biển Đông. Trong tổng số 10 tuyến đường biển lớn nhất trên thế giới hiện nay, có 5 tuyến đi qua Biển Đông hoặc có liên quan đến Biển Đông. Hàng năm, qua biển Đông vận chuyển khoảng 70% lượng dầu mỏ nhập khẩu từ Trung Đông và Đông Nam Á, khoảng 45% hàng xuất của Nhật Bản và 60% hàng xuất nhập khẩu của Trung Quốc. Vùng biển Việt Nam án ngữ trên con đường này. Việt Nam có nhiều bãi biển đẹp, có tiềm năng phát triển về du lịch biển. Bờ biển dài có nhiều bãi cát, vịnh, hang động tự nhiên đẹp là tiềm năng về du lịch lớn của nước ta. Do đặc điểm kiến tạo khu vực, các dãy núi đá vôi vươn ra sát bờ biển tạo nhiều cảnh quan thiên nhiên sơn thủy rất đa dạng, nhiều vụng, vịnh, bãi cát trắng, hang động, các bán đảo và các đảo lớn nhỏ liên kết với nhau thành một quần thể du lịch hiếm có trên thế giới như di sản thiên nhiên Hạ Long được UNESCO xếp hạng. Hệ thống gần 82 hòn đảo ven bờ có diện tích trên 01 km2, trong đó 24 đảo có diện tích trên 10 km2 (10 – 320 km2), cách bờ không xa là những hệ sinh thái đảo hấp dẫn. Ở đây không khí trong lành, nước biển trong và sạch, bãi cát trắng mịn. Các thắng cảnh trên đất liền nổi tiếng như Phong Nha, Bích Động, Non Nước… Các di tích lịch sử và văn hoá như Cố đô Huế, phố cổ Hội An, Tháp Chàm, nhà thờ đá Phát Diệm,… phân bố ngay ở vùng ven biển. Các trung tâm kinh tế thương mại, các thành phố du lịch nằm ven biển hoặc cách bờ biển không xa như Hạ Long, Hải Phòng, Vinh, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Vũng Tàu, Hà Tiên, Hà Nội, Sài Gòn,… Hệ thống đường bộ, đường xe lửa xuyên Việt và liên vận quốc tế chất lượng cao được xây dựng dọc bờ biển. Hiện trạng kinh tế biển Việt Nam Kinh tế biển Việt Nam những năm đổi mới vừa qua đã tăng trưởng đáng kể về qui mô và thay đổi rõ rệt về ngành nghề, đóng góp quan trọng cho tăng trưởng GDP. Tuy nhiên nếu so sánh với một số nước có biển trong khu vực thì giá trị hoạt động của kinh tế biển Việt Nam chỉ bằng 24% của Trung Quốc, 14% của Hàn Quốc và 1% của Nhật Bản. Hiện nay, Việt Nam đã mở cửa hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Nhưng, đánh giá một cách thực chất, trong một thời gian dài, Việt Nam mới chỉ chú trọng việc mở hàng loạt cửa khẩu và phát triển khu kinh tế cửa khẩu trên biên giới đất liền mà ít mở ra biển, qua các cảng biển. Gần đây, mấy chục tỉnh sát biển đua nhau làm cảng biển, đã xây dựng gần một trăm cảng biển. Việt Nam cũng đã hình thành bốn vùng kinh tế trọng điểm và hàng chục khu kinh tế dọc theo bờ biển. Tất cả đều hướng ra biển và có tiềm năng to lớn từ kinh tế biển. Nhưng việc tận dụng lợi thế và khai thác tiềm năng to lớn này còn xa mới đạt hiệu quả mong muốn. Công tác tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí của nước ta cũng ngày càng được đẩy mạnh và đạt được những thành quả nhất định; quy mô và phạm vi cũng được mở rộng từ vùng nước nông, ra các vùng nước sâu, xa bờ và một số điểm thuộc vùng biển Quốc tế. Khối lượng công tác thăm dò, khai thác dầu khí đã thực hiện trên toàn bộ vùng biển và thềm lục địa Việt Nam là khá lớn. Khảo sát điều tra cơ bản toàn bộ 160 lô, đo địa chấn 2D trên 158 nghìn km, đo địa chấn 3D là 50 nghìn km2. Nhiều bể trầm tích có triển vọng khai thác dầu và khí tự nhiên trên vùng biển và thềm lục địa nước ta; Đã phát hiện thêm nhiều lô dầu khí mới, xác định thu hồi 1,37 tỷ tấn quy dầu và tiềm năng khí các bể còn lại khoảng 2,6 – 3,6 tỷ tấn quy dầu. Kết quả công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí đã xác định được các bể/cụm bể trầm tích có triển vọng dầu khí: Sông Hồng, Phú Khánh, Hoàng Sa, Cửu Long, Nam Côn Sơn, Trường Sa – Tư Chính – Vũng Mây, Malay – Thổ Chu và Phú Quốc, trong đó các bể: Sông Hồng, Cửu Long, Nam Côn Sơn và Malay – Thổ Chu đã phát hiện và đang khai thác dầu khí. Tổng sản lượng khai thác dầu thô trên thềm lục địa Việt Nam đạt 130,27 triệu tấn, khoảng 63,52 tỷ m3 khí tự nhiên và tổng sản lượng dầu thô xuất khẩu đạt 102,25 triệu tấn; bình quân mỗi năm trên thềm lục địa nước ta có thể khai thác được 16 triệu tấn dầu thô/năm, khoảng 7,9 tỷ m3/năm khí tự nhiên. Trong những năm gần đây do thị trường tiêu thụ titan và các khoáng sản đi kèm trên thế giới biến động mạnh theo chiều hướng gia tăng về giá cả; ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình khai thác sa khoáng titan ở nước ta. Hoạt động khai thác quặng titan tập trung nhiều ở một số địa phương như Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định. Đến nay, riêng ở các tỉnh Miền Trung có trên 50 đơn vị tổ chức khai thác, ở 38 khu mỏ và có 18 xưởng tuyển tinh quặng và đã được khai thác gần 8 triệu tấn quặng titan. Việc quản lý hoạt động khoáng sản được thực hiện thông qua các giấy phép khai thác do 2 cấp quản lý cấp cho các doanh nghiệp trong đó Bộ Công nghiệp (trước năm 2002) hoặc Bộ Tài nguyên & Môi trường (sau năm 2002) cấp giấy phép khai thác cho các mỏ lớn còn ở nông nghiệp (trước năm 2002) hoặc ở Tài nguyên & Môi trường (sau năm 2002) cấp giấy phép khai thác cho khai thác tận thu khoáng sản. Cả nước có 21 tỉnh sản xuất muối, trải dài từ Hải Phòng đến Cà Mau. Tổng diện tích sản xuất muối toàn quốc có 14.528,2 ha. Các tỉnh có diện tích sản xuất muối nhiều như tỉnh Bạc Liêu (2.774 ha), Ninh Thuận (2.380 ha), Bến Tre (1.431 ha), TP. Hồ Chí Minh (1.532,2 ha), Quảng Nam (35 ha), Thái Bình (60,51 ha). Diện tích sản xuất muối công nghiệp năm tập trung ở 3 tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa. Trong những năm qua, các Bộ, ngành Trung ương và địa phương đã tích cực chỉ đạo đẩy mạnh tổ chức sản xuất khai thác hải sản, trong đó tập trung vào tổ chức lại sản xuất, hiện đại hóa tàu cá, đẩy mạnh đánh bắt xa bờ, đổi mới và tăng cường năng lực khai thác thân thiện với môi trường, ứng phó với BĐKH và hướng tới phát triển bền vững. Đồng thời đẩy mạnh đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật nghề cá trên các vùng biển, các tuyến đảo xa, đảo tiền tiêu và đảo trọng yếu quốc gia như Hoàng Sa, Trường Sa, Bạch Long Vĩ, Lý Sơn, Cồn Cỏ, Phú Quốc, Phú Quý; Nâng cao năng lực đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, đẩy mạnh áp dụng khoa học công nghệ trong khai thác hải sản. Trong giai đoạn từ năm 2007-2012, khai thác hải sản trên biển có những tăng trưởng đáng ghi nhận, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân về số lượng tàu thuyền tăng 4,3%/năm, công suất tàu thuyền tăng 3,6%/năm, sản lượng tăng 5,2%/năm và giá trị khai thác tăng 5,9%/năm. Theo số liệu điều tra ban đầu của chính phủ, Việt Nam có khoảng 17.400 ha được đánh giá là thích hợp cho các dự án, công trình phát triển năng lượng gió. Thời gian qua, tại các tỉnh Bình Định, Ninh Thuận và Bình Thuận đã và đang đi tiên phong trong triển khai một số dự án phong điện, tiềm năng phát triển ở khu vực này khoảng hơn 8 nghìn MW. Phát triển điện gió với đặc thù là phân tán, nhỏ lẻ, cục bộ, hiện đang được các doanh nghiệp trong và ngoài nước nghiên cứu đầu tư, song việc triển khai còn gặp rất nhiều khó khăn: Chưa có chính sách và các quy định, trợ giá trong việc mua điện từ nguồn năng lượng gió; Thiếu kiến thức và năng lực kỹ thuật để thực hiện một công trình điện gió hoàn chỉnh, cũng như các kỹ thuật cơ bản và dịch vụ đi kèm sau lắp đặt; Các Công ty Điện lực địa phương chưa sẵn sàng vào cuộc, việc xây dựng hạ tầng đáp ứng cho các dự án phong điện sẽ mất thời gian khá lâu. Hiện tại, hoạt động du lịch biển Việt Nam thu hút tới 80% lượng khách du lịch và khoảng 70% tổng số các điểm du lịch của toàn quốc. Với bờ điển dài trên 3.260 km, có nhiều bãi tắm đẹp và nhiều hang, vịnh kỳ thú như ở Móng Cái, Vân Đồn, Vịnh Hạ Long, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Cửa Lò, Cửa Tùng, Vân Phong, Vũng Tàu…cùng có nhiều di sản văn hoá vật thể và phi vật thể, di sản thiên nhiên thế giới được UNESCO công nhận là Vịnh Hạ Long, Cố đô Huế, Nhã nhạc cung đình Huế, đô thị cổ Hội An, khu đền tháp Mỹ Sơn và hang động Phong Nha – Kẻ Bàng. Những công trình kiến trúc, di tích lịch sử này, ngoài những giá trị khoa học, văn hóa truyền thống còn là những tiềm năng thu lợi lớn, nếu được đầu tư trùng tu tôn tạo kết hợp với ngành du lịch để khai thác. Trong vùng có nhiều bãi biển như Sầm Sơn, Cửa Lò, Thiên Cầm, Đá Nhảy, Cửa Tùng, Lăng Cô, Thuận An, Non Nước, Mỹ Khê, Nha Trang, Ninh Chữ, Mũi Né…, nhiều danh lam thắng cảnh như đèo Ngang, đèo Hải Vân, bán đảo Sơn Trà…, nhiều di tích lịch sử gắn liền với bề dày dựng nước và giữ nước như thành Huế, thành cổ Quảng Trị, Cửa Việt, Vĩnh Mốc, cảng Đà Nẵng, di tích Sơn Mỹ, Vạn Tường, Chu Lai,… Đó là những tiềm năng du lịch biển gắn với du lịch núi và du lịch văn hoá, du lịch nghỉ dưỡng,… tạo cho ven biển Việt Nam trở thành một vùng du lịch độc đáo, hấp dẫn khách du lịch và đưa ngành du lịch đang dần trở thành một ngành mũi nhọn, có ý nghĩa với cả nước. Về chiến lược phát triển kinh tế biển của Việt Nam Mặc dù đến nay, Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng trong việc thiết kế và thực thi chiến lược kinh tế biển, song, về nguyên tắc, vẫn chưa định hình một tư duy phát triển mới, tổng thể về kinh tế biển. Để định hình tư duy mới này, có hai điểm cần lưu ý. (1) Kinh nghiệm phát triển trên đất liền và theo tư duy “đất liền” nhiều năm của Việt Nam, cộng với thực tiễn phát triển kinh tế biển của nhiều nước đi trước cho thấy việc định hình chiến lược kinh tế biển cần được thực hiện đồng thời và tổng thể ở ba phương diện: Khai thác vùng không gian biển (mặt biển, dưới biển và bầu trời trên biển); Khai thác vùng bờ biển (vùng duyên hải với các cảng biển, bãi biển, thành phố biển, khu kinh tế ven biển); Phát triển các lĩnh vực “hậu cần” cho kinh tế biển và các khu vực kết nối (các ngành phục vụ phát triển kinh tế biển, phát triển khoa học – công nghệ biển, nguồn nhân lực cho kinh tế biển, kết nối tuyến du lịch đất liền…). (2) Cùng với cách tiếp cận chuỗi, cần chú ý nguyên tắc tập trung phát huy lợi thế trong phát triển. Với nguồn lực có hạn, trong bối cảnh quốc tế hiện nay, việc lựa chọn mục tiêu trọng tâm trong chiến lược biển để ưu tiên thực hiện là một yêu cần bắt buộc đối với Việt Nam. Bắt buộc vì nó xuất phát từ sự hạn chế của các nguồn lực, buộc phải tập trung nguồn lực cho một số mục tiêu hạn chế nhằm tạo sự đột phá mạnh và sức lan tỏa rộng. Bắt buộc vì nó đáp ứng những yêu cầu mang tính sống còn trong cuộc cạnh tranh quốc tế cũng như những tranh chấp lãnh hải, đặc biệt là ở vùng Biển Đông, đang trở nên ngày càng gay gắt hiện nay. Để phát triển kinh tế biển, Việt Nam cần triển khai các biện pháp: (1) Lực lượng hàng hải viễn dương, đặt mục tiêu và lộ trình vươn lên thành một cường quốc hàng hải một cách khẩn trương, hiện thực khả thi; xác lập và tăng cường các tuyến bay qua các hành lang biển; củng cố và phát triển các đảo thuộc chủ quyền ở tất cả các khía cạnh khẳng định chủ quyền – không chỉ quân sự mà tập trung mạnh cho các khía cạnh chủ quyền dân sự: dân cư, kinh tế, văn hóa. (2) Phát triển nhanh, mạnh du lịch biển đảo với tư cách là một hình thức hiện diện chủ quyền được thừa nhận quốc tế. (3) Hình thành một số dự án nghiên cứu, khai thác kinh tế biển, nhất là các dự án ở vùng biển xa, có tầm cỡ, chú trọng liên doanh với nước ngoài (các tập đoàn lớn) với những điều kiện thỏa đáng và đặt trong tầm nhìn chiến lược. (4) Ưu tiên xây dựng một số cứ điểm phát triển chiến lược mạnh ven biển. Những cứ điểm này là các tổ hợp phát triển lớn bao gồm: đô thị biển + cảng biển lớn + khu kinh tế mở (hay khu kinh tế tự do). (5) Xây dựng sớm chiến lược đối phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, coi đây là một điều kiện cơ bản để xây dựng chiến lược tổng thể. Đặc biệt có các tiếp cận nhà nước mới đến sự sinh tồn và phát triển của dân cư các vùng duyên hải, bỏ lối tiếp cận đối phó thiên tai thụ động, dựa vào lòng từ thiện để thể hiện sự quan tâm quốc gia mà có chiến lược chủ động tạo nền tảng để đối phó và phát triển hiệu quả trong điều kiện thiên tai. Xu hướng phát triển kinh tế biển Việt Nam Đến năm 2030, Việt Nam sẽ phát triển thành công, đột phá về các ngành kinh tế biển theo thứ tự ưu tiên: (1) Du lịch và dịch vụ biển; (2) Kinh tế hàng hải; (3) Khai thác dầu khí và các tài nguyên khoáng sản biển khác; (4) Nuôi trồng và khai thác hải sản; (5) Công nghiệp ven biển; (6) Năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới. Cụ thể: Du lịch và dịch vụ biển: Chú trọng đầu tư hạ tầng du lịch; khuyến khích, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế tham gia phát triển du lịch sinh thái, thám hiểm khoa học, du lịch cộng đồng, các khu du lịch nghỉ dưỡng biển chất lượng cao tại các vùng ven biển; xây dựng, phát triển, đa dạng hoá các sản phẩm, chuỗi sản phẩm, thương hiệu du lịch biển đẳng cấp quốc tế trên cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học, phát huy giá trị di sản thiên nhiên, văn hoá, lịch sử đặc sắc của các vùng, miền, kết nối với các tuyến du lịch quốc tế để Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của thế giới. Nghiên cứu thí điểm phát triển du lịch ra các đảo, vùng biển xa bờ. Tăng cường năng lực tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn; đẩy mạnh các hoạt động thám hiểm khoa học; chú trọng công tác giáo dục, y tế biển… Hỗ trợ, tạo điều kiện để người dân ven biển chuyển đổi nghề từ các hoạt động có nguy cơ xâm hại, tác động tiêu cực đến biển sang bảo vệ, bảo tồn, tạo sinh kế bền vững, việc làm mới ổn định, nâng cao thu nhập cho người dân. Kinh tế hàng hải: Trọng tâm là khai thác có hiệu quả các cảng biển và dịch vụ vận tải biển. Quy hoạch, xây dựng, tổ chức khai thác đồng bộ, có hiệu quả các cảng biển tổng hợp, cảng trung chuyển quốc tế, cảng chuyên dùng gắn với các dịch vụ hỗ trợ; xây dựng hoàn thiện hạ tầng logistics và các tuyến đường giao thông, kết nối liên thông các cảng biển với các vùng, miền, địa phương trong nước và quốc tế. Đẩy mạnh phát triển đội tàu vận tải biển với cơ cấu hợp lý, ứng dụng công nghệ hiện đại, nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng nhu cầu thị trường vận tải nội địa, tham gia sâu vào các chuỗi cung ứng vận tải, từng bước gia tăng, chiếm lĩnh thị phần quốc tế. Khai thác dầu khí và các tài nguyên, khoáng sản biển khác: Nâng cao năng lực của ngành Dầu khí và các ngành tài nguyên, khoáng sản biển khác; từng bước làm chủ công tác tìm kiếm, thăm dò, khai thác, đáp ứng nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong thời kỳ mới. Đẩy mạnh công tác tìm kiếm, thăm dò, gia tăng trữ lượng dầu khí; nghiên cứu, thăm dò các bể trầm tích mới, các dạng hydrocarbon phi truyền thống; gắn việc tìm kiếm, thăm dò dầu khí với điều tra, khảo sát, đánh giá tiềm năng các tài nguyên, khoáng sản biển khác, khoáng sản biển sâu, đặc biệt là các khoáng sản có trữ lượng lớn, giá trị cao, có ý nghĩa chiến lược. Nâng cao hiệu quả khai thác các tài nguyên khoáng sản biển gắn với chế biến sâu; kết hợp hài hoà giữa khai thác, chế biến với bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học biển. Nuôi trồng và khai thác hải sản: Chuyển từ nuôi trồng, khai thác hải sản theo phương thức truyền thống sang công nghiệp, ứng dụng công nghệ cao. Tổ chức lại hoạt động khai thác hải sản theo hướng giảm khai thác gần bờ, đẩy mạnh khai thác tại các vùng biển xa bờ và viễn dương phù hợp với từng vùng biển và khả năng phục hồi của hệ sinh thái biển đi đôi với thực hiện đồng bộ, có hiệu quả công tác đào tạo, chuyển đổi nghề cho ngư dân. Thúc đẩy các hoạt động nuôi trồng, khai thác hải sản bền vững, tăng cường bảo vệ, tái sinh nguồn lợi hải sản, nghiêm cấm các hoạt động khai thác mang tính tận diệt. Hiện đại hoá công tác quản lý nghề cá trên biển; đẩy mạnh liên kết sản xuất theo hình thức tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; xây dựng một số doanh nghiệp mạnh tham gia khai thác hải sản xa bờ và hợp tác khai thác viễn dương. Đầu tư nâng cấp các cảng cá, bến cá, khu neo đậu tàu thuyền, tổ chức tốt dịch vụ hậu cần nghề cá. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến trong nuôi trồng, khai thác, bảo quản, chế biến hải sản, tạo ra các sản phẩm chủ lực, có chất lượng, giá trị kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu của thị trường. Công nghiệp ven biển: Phải dựa trên cơ sở quy hoạch, cân nhắc lợi thế về điều kiện tự nhiên của từng vùng, ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao thân thiện với môi trường, công nghiệp nền tảng, công nghệ nguồn. Phát triển hợp lý các ngành sửa chữa và đóng tàu, lọc hoá dầu, năng lượng, cơ khí chế tạo, công nghiệp chế biến, công nghiệp phụ trợ. Năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới: Thúc đẩy đầu tư xây dựng, khai thác điện gió, điện mặt trời và các dạng năng lượng tái tạo khác. Phát triển ngành chế tạo thiết bị phục vụ ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, tiến tới làm chủ một số công nghệ, thiết kế, chế tạo và sản xuất thiết bị; ưu tiên đầu tư phát triển năng lượng tái tạo trên các đảo phục vụ sản xuất, sinh hoạt, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Quan tâm phát triển một số ngành kinh tế dựa vào khai thác tài nguyên đa dạng sinh học biển như dược liệu biển, nuôi trồng và chế biến rong, tảo, cỏ biển… Việt Nam cần phát triển đồng bộ, từng bước hình thành khu kinh tế, khu công nghiệp, khu đô thị sinh thái ven biển. Tập trung xây dựng và nhân rộng các mô hình khu kinh tế, khu công nghiệp sinh thái ven biển gắn với hình thành và phát triển các trung tâm kinh tế biển mạnh. Khu kinh tế ven biển phải đóng vai trò chủ đạo trong phát triển vùng và gắn kết liên vùng. Đổi mới tư duy trong xây dựng và thực hiện các quy hoạch, kế hoạch phát triển hệ thống đô thị ven biển có cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đồng bộ, hiện đại theo mô hình, tiêu chí tăng trưởng xanh, đô thị thông minh. Đẩy nhanh xây dựng hoàn thiện kết cấu hạ tầng các khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển theo hướng tiếp cận mô hình khu kinh tế, khu công nghiệp sinh thái, có sức hấp dẫn các nhà đầu tư, thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; giải quyết tốt vấn đề môi trường, xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân. Phát triển các vùng biển dựa trên lợi thế về điều kiện tự nhiên, hài hoà giữa bảo tồn và phát triển. Quy hoạch không gian biển theo các vùng bảo vệ – bảo tồn, vùng đệm và vùng phát triển kinh tế – xã hội để phát triển bền vững kinh tế biển trên cơ sở phát huy tối đa lợi thế so sánh về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, bản sắc văn hoá, tính đa dạng của hệ sinh thái, bảo đảm tính liên kết vùng, giữa địa phương có biển và không có biển. (1) Vùng biển và ven biển phía Bắc (Quảng Ninh – Ninh Bình): Tiếp tục xây dựng khu vực Hải Phòng – Quảng Ninh trở thành trung tâm kinh tế biển; là cửa ngõ, động lực phát triển vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ gắn với cảng quốc tế Lạch Huyện; phát triển Quảng Ninh trở thành trung tâm du lịch quốc gia kết nối với các trung tâm du lịch quốc tế lớn của khu vực và thế giới. (2) Vùng biển và ven biển Bắc Trung Bộ, Duyên hải Trung Bộ (Thanh Hoá – Bình Thuận): Phát triển các cảng biển nước sâu trung chuyển quốc tế, cảng biển chuyên dụng gắn với các khu liên hợp công nghiệp, dầu khí, điện, năng lượng tái tạo, công nghiệp sạch; phát triển các trung tâm du lịch lớn; nuôi trồng, khai thác, chế biến hải sản, dịch vụ hậu cần và hạ tầng nghề cá. (3) Vùng biển và ven biển Đông Nam Bộ (Bà Rịa – Vũng Tàu – Thành phố Hồ Chí Minh): Phát triển cảng biển container quốc tế, dịch vụ hậu cần cảng biển, dịch vụ bảo đảm an toàn hàng hải, công nghiệp khai thác, chế biến dầu khí, công nghiệp hỗ trợ và các dịch vụ ngành Dầu khí. (4) Vùng biển và ven biển Tây Nam Bộ (Tiền Giang – Cà Mau – Kiên Giang): Tập trung xây dựng phát triển Phú Quốc thành trung tâm dịch vụ, du lịch sinh thái biển mạnh mang tầm quốc tế; phát triển công nghiệp khí, chế biến khí, điện khí, năng lượng tái tạo, nuôi trồng, khai thác hải sản, dịch vụ hậu cần, hạ tầng nghề cá; kết nối với các trung tâm kinh tế lớn trong khu vực và thế giới. Bảo vệ môi trường, bảo tồn, phát triển bền vững đa dạng sinh học biển; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng và phòng, chống thiên tai. Mở rộng diện tích, thành lập mới các khu vực bảo tồn biển trên cơ sở quy hoạch không gian biển quốc gia; chú trọng bảo tồn đa dạng sinh học, phục hồi các hệ sinh thái, đặc biệt là các rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển; bảo đảm tính toàn vẹn và mối quan hệ tự nhiên giữa các hệ sinh thái đất liền và biển. Xây dựng các tiêu chí, yêu cầu kỹ thuật nghiêm ngặt theo chuẩn quốc tế về môi trường đối với các dự án đầu tư có nguy cơ ô nhiễm môi trường cao khu vực ven biển, bảo đảm phòng ngừa, ngăn chặn không để xảy ra các sự cố gây ô nhiễm môi trường, giảm thiểu và xử lý hiệu quả các nguồn gây ô nhiễm. Đầu tư xây dựng, củng cố lực lượng, trang thiết bị giám sát, cảnh báo tự động về chất lượng môi trường, ứng phó với sự cố môi trường, hoá chất độc hại trên biển; quản lý rác thải biển, nhất là rác thải nhựa; cải thiện, nâng cao chất lượng môi trường biển. Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo, chủ động phòng, tránh và giảm nhẹ thiệt hại thiên tai, động đất, sóng thần, thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng trên cơ sở ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến, đặc biệt là áp dụng các mô hình thông minh có khả năng thích ứng, chống chịu với thiên tai và tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu. Đẩy mạnh các biện pháp phòng, chống biển xâm thực, xói lở bờ biển, ngập lụt, xâm nhập mặn… Nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng văn hoá biển, xã hội gắn bó, thân thiện với biển. Nâng cao đời sống, bảo đảm an ninh, an toàn cho dân cư vùng ven biển, trên đảo và những người lao động trên biển. Chú trọng phát triển các thiết chế văn hoá cho cộng đồng dân cư biển và ven biển; phát huy bản sắc, giá trị lịch sử và văn hoá dân tộc, tri thức tốt đẹp trong ứng xử với biển, coi đây là nền tảng quan trọng để xây dựng văn hoá biển. Bảo tồn không gian văn hoá, kiến trúc và di sản thiên nhiên. Nâng cao nhận thức về biển và đại dương, xây dựng xã hội, ý thức, lối sống, hành vi văn hoá gắn bó, thân thiện với biển. Phát huy tinh thần tương thân tương ái của cộng đồng dân cư vùng biển, ven biển. Bảo đảm quyền tiếp cận, tham gia, hưởng lợi và trách nhiệm của người dân đối với biển một cách công bằng, bình đẳng.

THẾ GIỚI ĐẠI DƯƠNG

Chiến lược phát triển kinh tế biển của Việt Nam: Hiện trạng và xu hướng phát triển

Với hơn 1 triệu km2 vùng đặc quyền kinh tế, có trên 3.000 hòn đảo lớn nhỏ các loại, chủ yếu nằm ở Vịnh Bắc Bộ, với diện tích khoảng 1.700 km2, Việt Nam nằm trong số 10 nước trên thế giới có chỉ số cao nhất về chiều dài bờ biển so với diện tích lãnh thổ. Ở nước ta, tính bình quân cứ 100 km2 đất liền nước ta có 1 km bờ biển, cao gấp sáu lần chỉ số trung bình của thế giới, đồng thời bờ biển lại mở ra cả ba hướng Đông, Nam và Tây Nam, rất thuận lợi cho việc thông thương qua lại đại dương. Vì vậy, trước mắt cũng như lâu dài biển gắn bó mật thiết với đời sống con người và là cơ sở cho sự phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường của mọi miền đất nước.

Điều kiện thuận lợi để Việt Nam phát triển kinh tế biển:

Việt Nam là nước có tiềm năng tự nhiên to lớn, có bờ biển dài, diện tích lãnh hải thuộc chủ quyền rộng, khả năng tiếp cận dễ dàng đến các đại dương, có các nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú. Biển Đông có nguồn tài nguyên sinh vật phong phú và đa dạng, có đến hơn 160.000 loài, gần 10.000 loài thực vật và 260 loài chim sống ở biển. Trữ lượng các loài động vật ở biển ước tính khoảng 32,5 tỷ tấn, trong đó, các loài cá chiếm 86% tổng trữ lượng. Vùng biển Việt Nam có hơn 2.458 loài cá, gồm nhiều bộ, họ khác nhau, trong đó có khoảng 110 loài có giá trị kinh tế cao. Trữ lượng cá ở vùng biển nước ta khoảng 5 triệu tấn/năm, trữ lượng cá có thể đánh bắt hàng năm khoảng 2,3 triệu tấn. Các loài động vật thân mềm ở Biển Đông có hơn 1.800 loài, trong đó có nhiều loài là thực phẩm được ưa thích, như: mực, hải sâm. Ngoài động vật, biển còn cung cấp cho con người nhiều loại rong biển có giá trị. Đây là nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng và là nguồn dược liệu phong phú. Biển nước ta có khoảng 638 loài rong biển. Các loại rong biển dễ gây trồng, ít bị mất mùa và cho năng suất thu hoạch cao nên sẽ là nguồn thực phẩm quan trọng của loài người trong tương lai. Không những vậy, biển Việt Nam còn có nguồn tài nguyên dầu khí lớn, có tầm chiến lược quan trọng. Đến nay, chúng ta đã xác định được tổng tiềm năng dầu khí tại bể trầm tích: Sông Hồng, Phú Khánh, Nam Côn Sơn, Cửu Long, Malay – Thổ Chu, Tư Chính – Vũng Mây. Trữ lượng dầu khí dự báo của toàn thềm lục địa Việt Nam khoảng 10 tỷ tấn quy dầu. Ngoài dầu, Việt Nam còn có khí đốt với trữ lượng khai thác khoảng 3.000 tỷ m3/năm. Trữ lượng đã được xác minh là gần 550 triệu tấn dầu và trên 610 tỷ m3 khí. Trữ lượng khí đã được thẩm lượng, đang được khai thác và sẵn sàng để phát triển trong thời gian tới vào khoảng 400 tỷ m3. Ngoài ra, vùng biển nước ta nằm gọn trong phần phía Tây của vành đai quặng thiếc Thái Bình Dương, có trữ lượng thiếc lớn, và tiềm năng to lớn về quặng sa khoáng của các nguyên tố hiếm, có triển vọng băng cháy lớn.

Bờ biển Việt Nam có vị trí địa – kinh tế và địa – chiến lược đặc biệt quan trọng. Việt Nam có đường bờ biển chạy theo hướng Bắc – Nam dọc theo chiều dài đất nước, lại nằm kề trên các tuyến đường biển quốc tế quan trọng của thế giới, có những vụng sâu kín gió là điều kiện thuận lợi để phát triển giao thông vận tải biển và mở rộng giao lưu với bên ngoài. Biển Đông được coi là con đường chiến lược về giao lưu và thương mại quốc tế giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, ở cả bốn phía đều có đường thông ra Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương qua các eo biển. Từ các hải cảng ven biển của Việt Nam thông qua eo biển Malacca để đi đến Ấn Độ Dương, Trung Đông, châu Âu, châu Phi; qua eo biển Basi có thể đi vào Thái Bình Dương đến các cảng của Nhật Bản, Nga, Nam Mỹ và Bắc Mỹ; qua các eo biển giữa Philippines, Indonesia, Singapore đến Australia và New Zealand… Hầu hết các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương đều có các hoạt động thương mại hàng hải rất mạnh trên Biển Đông. Trong tổng số 10 tuyến đường biển lớn nhất trên thế giới hiện nay, có 5 tuyến đi qua Biển Đông hoặc có liên quan đến Biển Đông. Hàng năm, qua biển Đông vận chuyển khoảng 70% lượng dầu mỏ nhập khẩu từ Trung Đông và Đông Nam Á, khoảng 45% hàng xuất của Nhật Bản và 60% hàng xuất nhập khẩu của Trung Quốc. Vùng biển Việt Nam án ngữ trên con đường này.

Việt Nam có nhiều bãi biển đẹp, có tiềm năng phát triển về du lịch biển. Bờ biển dài có nhiều bãi cát, vịnh, hang động tự nhiên đẹp là tiềm năng về du lịch lớn của nước ta. Do đặc điểm kiến tạo khu vực, các dãy núi đá vôi vươn ra sát bờ biển tạo nhiều cảnh quan thiên nhiên sơn thủy rất đa dạng, nhiều vụng, vịnh, bãi cát trắng, hang động, các bán đảo và các đảo lớn nhỏ liên kết với nhau thành một quần thể du lịch hiếm có trên thế giới như di sản thiên nhiên Hạ Long được UNESCO xếp hạng. Hệ thống gần 82 hòn đảo ven bờ có diện tích trên 01 km2, trong đó 24 đảo có diện tích trên 10 km2 (10 – 320 km2), cách bờ không xa là những hệ sinh thái đảo hấp dẫn. Ở đây không khí trong lành, nước biển trong và sạch, bãi cát trắng mịn. Các thắng cảnh trên đất liền nổi tiếng như Phong Nha, Bích Động, Non Nước… Các di tích lịch sử và văn hoá như Cố đô Huế, phố cổ Hội An, Tháp Chàm, nhà thờ đá Phát Diệm,… phân bố ngay ở vùng ven biển. Các trung tâm kinh tế thương mại, các thành phố du lịch nằm ven biển hoặc cách bờ biển không xa như Hạ Long, Hải Phòng, Vinh, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Vũng Tàu, Hà Tiên, Hà Nội, Sài Gòn,… Hệ thống đường bộ, đường xe lửa xuyên Việt và liên vận quốc tế chất lượng cao được xây dựng dọc bờ biển.

Hiện trạng kinh tế biển Việt Nam

Kinh tế biển Việt Nam những năm đổi mới vừa qua đã tăng trưởng đáng kể về qui mô và thay đổi rõ rệt về ngành nghề, đóng góp quan trọng cho tăng trưởng GDP. Tuy nhiên nếu so sánh với một số nước có biển trong khu vực thì giá trị hoạt động của kinh tế biển Việt Nam chỉ bằng 24% của Trung Quốc, 14% của Hàn Quốc và 1% của Nhật Bản.

Hiện nay, Việt Nam đã mở cửa hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Nhưng, đánh giá một cách thực chất, trong một thời gian dài, Việt Nam mới chỉ chú trọng việc mở hàng loạt cửa khẩu và phát triển khu kinh tế cửa khẩu trên biên giới đất liền mà ít mở ra biển, qua các cảng biển. Gần đây, mấy chục tỉnh sát biển đua nhau làm cảng biển, đã xây dựng gần một trăm cảng biển. Việt Nam cũng đã hình thành bốn vùng kinh tế trọng điểm và hàng chục khu kinh tế dọc theo bờ biển. Tất cả đều hướng ra biển và có tiềm năng to lớn từ kinh tế biển. Nhưng việc tận dụng lợi thế và khai thác tiềm năng to lớn này còn xa mới đạt hiệu quả mong muốn.

Công tác tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí của nước ta cũng ngày càng được đẩy mạnh và đạt được những thành quả nhất định; quy mô và phạm vi cũng được mở rộng từ vùng nước nông, ra các vùng nước sâu, xa bờ và một số điểm thuộc vùng biển Quốc tế. Khối lượng công tác thăm dò, khai thác dầu khí đã thực hiện trên toàn bộ vùng biển và thềm lục địa Việt Nam là khá lớn. Khảo sát điều tra cơ bản toàn bộ 160 lô, đo địa chấn 2D trên 158 nghìn km, đo địa chấn 3D là 50 nghìn km2. Nhiều bể trầm tích có triển vọng khai thác dầu và khí tự nhiên trên vùng biển và thềm lục địa nước ta; Đã phát hiện thêm nhiều lô dầu khí mới, xác định thu hồi 1,37 tỷ tấn quy dầu và tiềm năng khí các bể còn lại khoảng 2,6 – 3,6 tỷ tấn quy dầu. Kết quả công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí đã xác định được các bể/cụm bể trầm tích có triển vọng dầu khí: Sông Hồng, Phú Khánh, Hoàng Sa, Cửu Long, Nam Côn Sơn, Trường Sa – Tư Chính – Vũng Mây, Malay – Thổ Chu và Phú Quốc, trong đó các bể: Sông Hồng, Cửu Long, Nam Côn Sơn và Malay – Thổ Chu đã phát hiện và đang khai thác dầu khí. Tổng sản lượng khai thác dầu thô trên thềm lục địa Việt Nam đạt 130,27 triệu tấn, khoảng 63,52 tỷ m3 khí tự nhiên và tổng sản lượng dầu thô xuất khẩu đạt 102,25 triệu tấn; bình quân mỗi năm trên thềm lục địa nước ta có thể khai thác được 16 triệu tấn dầu thô/năm, khoảng 7,9 tỷ m3/năm khí tự nhiên.

Trong những năm gần đây do thị trường tiêu thụ titan và các khoáng sản đi kèm trên thế giới biến động mạnh theo chiều hướng gia tăng về giá cả; ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình khai thác sa khoáng titan ở nước ta. Hoạt động khai thác quặng titan tập trung nhiều ở một số địa phương như Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định. Đến nay, riêng ở các tỉnh Miền Trung có trên 50 đơn vị tổ chức khai thác, ở 38 khu mỏ và có 18 xưởng tuyển tinh quặng và đã được khai thác gần 8 triệu tấn quặng titan. Việc quản lý hoạt động khoáng sản được thực hiện thông qua các giấy phép khai thác do 2 cấp quản lý cấp cho các doanh nghiệp trong đó Bộ Công nghiệp (trước năm 2002) hoặc Bộ Tài nguyên & Môi trường (sau năm 2002) cấp giấy phép khai thác cho các mỏ lớn còn ở nông nghiệp (trước năm 2002) hoặc  ở Tài nguyên & Môi trường (sau năm 2002) cấp giấy phép khai thác cho khai thác tận thu khoáng sản.

Cả nước có 21 tỉnh sản xuất muối, trải dài từ Hải Phòng đến Cà Mau. Tổng diện tích sản xuất muối toàn quốc có 14.528,2 ha. Các tỉnh có diện tích sản xuất muối nhiều như tỉnh Bạc Liêu (2.774 ha), Ninh Thuận (2.380 ha), Bến Tre (1.431 ha), TP. Hồ Chí Minh (1.532,2 ha), Quảng Nam (35 ha), Thái Bình (60,51 ha). Diện tích sản xuất muối công nghiệp năm tập trung ở 3 tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa.

Trong những năm qua, các Bộ, ngành Trung ương và địa phương đã tích cực chỉ đạo đẩy mạnh tổ chức sản xuất khai thác hải sản, trong đó tập trung vào tổ chức lại sản xuất, hiện đại hóa tàu cá, đẩy mạnh đánh bắt xa bờ, đổi mới và tăng cường năng lực khai thác thân thiện với môi trường, ứng phó với BĐKH và hướng tới phát triển bền vững. Đồng thời đẩy mạnh đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật nghề cá trên các vùng biển, các tuyến đảo xa, đảo tiền tiêu và đảo trọng yếu quốc gia như Hoàng Sa, Trường Sa, Bạch Long Vĩ, Lý Sơn, Cồn Cỏ, Phú Quốc, Phú Quý; Nâng cao năng lực đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, đẩy mạnh áp dụng khoa học công nghệ trong khai thác hải sản. Trong giai đoạn từ năm 2007-2012, khai thác hải sản trên biển có những tăng trưởng đáng ghi nhận, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân về số lượng tàu thuyền tăng 4,3%/năm, công suất tàu thuyền tăng 3,6%/năm, sản lượng tăng 5,2%/năm và giá trị khai thác tăng 5,9%/năm.

Theo số liệu điều tra ban đầu của chính phủ, Việt Nam có khoảng 17.400 ha được đánh giá là thích hợp cho các dự án, công trình phát triển năng lượng gió. Thời gian qua, tại các tỉnh Bình Định, Ninh Thuận và Bình Thuận đã và đang đi tiên phong trong triển khai một số dự án phong điện, tiềm năng phát triển ở khu vực này khoảng hơn 8 nghìn MW. Phát triển điện gió với đặc thù là phân tán, nhỏ lẻ, cục bộ, hiện đang được các doanh nghiệp trong và ngoài nước nghiên cứu đầu tư, song việc triển khai còn gặp rất nhiều khó khăn: Chưa có chính sách và các quy định, trợ giá trong việc mua điện từ nguồn năng lượng gió; Thiếu kiến thức và năng lực kỹ thuật để thực hiện một công trình điện gió hoàn chỉnh, cũng như các kỹ thuật cơ bản và dịch vụ đi kèm sau lắp đặt; Các Công ty Điện lực địa phương chưa sẵn sàng vào cuộc, việc xây dựng hạ tầng đáp ứng cho các dự án phong điện sẽ mất thời gian khá lâu.

Hiện tại, hoạt động du lịch biển Việt Nam thu hút tới 80% lượng khách du lịch và khoảng 70% tổng số các điểm du lịch của toàn quốc. Với bờ điển dài trên 3.260 km, có nhiều bãi tắm đẹp và nhiều hang, vịnh kỳ thú như ở Móng Cái, Vân Đồn, Vịnh Hạ Long, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Cửa Lò, Cửa Tùng, Vân Phong, Vũng Tàu…cùng có nhiều di sản văn hoá vật thể và phi vật thể, di sản thiên nhiên thế giới được UNESCO công nhận là Vịnh Hạ Long, Cố đô Huế, Nhã nhạc cung đình Huế, đô thị cổ Hội An, khu đền tháp Mỹ Sơn và hang động Phong Nha – Kẻ Bàng. Những công trình kiến trúc, di tích lịch sử này, ngoài những giá trị khoa học, văn hóa truyền thống còn là những tiềm năng thu lợi lớn, nếu được đầu tư trùng tu tôn tạo kết hợp với ngành du lịch để khai thác. Trong vùng có nhiều bãi biển như Sầm Sơn, Cửa Lò, Thiên Cầm, Đá Nhảy, Cửa Tùng, Lăng Cô, Thuận An, Non Nước, Mỹ Khê, Nha Trang, Ninh Chữ, Mũi Né…, nhiều danh lam thắng cảnh như đèo Ngang, đèo Hải Vân, bán đảo Sơn Trà…, nhiều di tích lịch sử gắn liền với bề dày dựng nước và giữ nước như thành Huế, thành cổ Quảng Trị, Cửa Việt, Vĩnh Mốc, cảng Đà Nẵng, di tích Sơn Mỹ, Vạn Tường, Chu Lai,… Đó là những tiềm năng du lịch biển gắn với du lịch núi và du lịch văn hoá, du lịch nghỉ dưỡng,… tạo cho ven biển Việt Nam trở thành một vùng du lịch độc đáo, hấp dẫn khách du lịch và đưa ngành du lịch đang dần trở thành một ngành mũi nhọn, có ý nghĩa với cả nước.

Về chiến lược phát triển kinh tế biển của Việt Nam

Mặc dù đến nay, Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng trong việc thiết kế và thực thi chiến lược kinh tế biển, song, về nguyên tắc, vẫn chưa định hình một tư duy phát triển mới, tổng thể về kinh tế biển. Để định hình tư duy mới này, có hai điểm cần lưu ý. (1) Kinh nghiệm phát triển trên đất liền và theo tư duy “đất liền” nhiều năm của Việt Nam, cộng với thực tiễn phát triển kinh tế biển của nhiều nước đi trước cho thấy việc định hình chiến lược kinh tế biển cần được thực hiện đồng thời và tổng thể ở ba phương diện: Khai thác vùng không gian biển (mặt biển, dưới biển và bầu trời trên biển); Khai thác vùng bờ biển (vùng duyên hải với các cảng biển, bãi biển, thành phố biển, khu kinh tế ven biển); Phát triển các lĩnh vực “hậu cần” cho kinh tế biển và các khu vực kết nối (các ngành phục vụ phát triển kinh tế biển, phát triển khoa học – công nghệ biển, nguồn nhân lực cho kinh tế biển, kết nối tuyến du lịch đất liền…). (2) Cùng với cách tiếp cận chuỗi, cần chú ý nguyên tắc tập trung phát huy lợi thế trong phát triển. Với nguồn lực có hạn, trong bối cảnh quốc tế hiện nay, việc lựa chọn mục tiêu trọng tâm trong chiến lược biển để ưu tiên thực hiện là một yêu cần bắt buộc đối với Việt Nam. Bắt buộc vì nó xuất phát từ sự hạn chế của các nguồn lực, buộc phải tập trung nguồn lực cho một số mục tiêu hạn chế nhằm tạo sự đột phá mạnh và sức lan tỏa rộng. Bắt buộc vì nó đáp ứng những yêu cầu mang tính sống còn trong cuộc cạnh tranh quốc tế cũng như những tranh chấp lãnh hải, đặc biệt là ở vùng Biển Đông, đang trở nên ngày càng gay gắt hiện nay.

Để phát triển kinh tế biển, Việt Nam cần triển khai các biện pháp: (1) Lực lượng hàng hải viễn dương, đặt mục tiêu và lộ trình vươn lên thành một cường quốc hàng hải một cách khẩn trương, hiện thực khả thi; xác lập và tăng cường các tuyến bay qua các hành lang biển; củng cố và phát triển các đảo thuộc chủ quyền ở tất cả các khía cạnh khẳng định chủ quyền – không chỉ quân sự mà tập trung mạnh cho các khía cạnh chủ quyền dân sự: dân cư, kinh tế, văn hóa. (2) Phát triển nhanh, mạnh du lịch biển đảo với tư cách là một hình thức hiện diện chủ quyền được thừa nhận quốc tế. (3) Hình thành một số dự án nghiên cứu, khai thác kinh tế biển, nhất là các dự án ở vùng biển xa, có tầm cỡ, chú trọng liên doanh với nước ngoài (các tập đoàn lớn) với những điều kiện thỏa đáng và đặt trong tầm nhìn chiến lược. (4) Ưu tiên xây dựng một số cứ điểm phát triển chiến lược mạnh ven biển. Những cứ điểm này là các tổ hợp phát triển lớn bao gồm: đô thị biển + cảng biển lớn + khu kinh tế mở (hay khu kinh tế tự do). (5) Xây dựng sớm chiến lược đối phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, coi đây là một điều kiện cơ bản để xây dựng chiến lược tổng thể. Đặc biệt có các tiếp cận nhà nước mới đến sự sinh tồn và phát triển của dân cư các vùng duyên hải, bỏ lối tiếp cận đối phó thiên tai thụ động, dựa vào lòng từ thiện để thể hiện sự quan tâm quốc gia mà có chiến lược chủ động tạo nền tảng để đối phó và phát triển hiệu quả trong điều kiện thiên tai.

Xu hướng phát triển kinh tế biển Việt Nam

Đến năm 2030, Việt Nam sẽ phát triển thành công, đột phá về các ngành kinh tế biển theo thứ tự ưu tiên: (1) Du lịch và dịch vụ biển; (2) Kinh tế hàng hải; (3) Khai thác dầu khí và các tài nguyên khoáng sản biển khác; (4) Nuôi trồng và khai thác hải sản; (5) Công nghiệp ven biển; (6) Năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới. Cụ thể:

Du lịch và dịch vụ biển: Chú trọng đầu tư hạ tầng du lịch; khuyến khích, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế tham gia phát triển du lịch sinh thái, thám hiểm khoa học, du lịch cộng đồng, các khu du lịch nghỉ dưỡng biển chất lượng cao tại các vùng ven biển; xây dựng, phát triển, đa dạng hoá các sản phẩm, chuỗi sản phẩm, thương hiệu du lịch biển đẳng cấp quốc tế trên cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học, phát huy giá trị di sản thiên nhiên, văn hoá, lịch sử đặc sắc của các vùng, miền, kết nối với các tuyến du lịch quốc tế để Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của thế giới. Nghiên cứu thí điểm phát triển du lịch ra các đảo, vùng biển xa bờ. Tăng cường năng lực tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn; đẩy mạnh các hoạt động thám hiểm khoa học; chú trọng công tác giáo dục, y tế biển… Hỗ trợ, tạo điều kiện để người dân ven biển chuyển đổi nghề từ các hoạt động có nguy cơ xâm hại, tác động tiêu cực đến biển sang bảo vệ, bảo tồn, tạo sinh kế bền vững, việc làm mới ổn định, nâng cao thu nhập cho người dân.

Kinh tế hàng hải: Trọng tâm là khai thác có hiệu quả các cảng biển và dịch vụ vận tải biển. Quy hoạch, xây dựng, tổ chức khai thác đồng bộ, có hiệu quả các cảng biển tổng hợp, cảng trung chuyển quốc tế, cảng chuyên dùng gắn với các dịch vụ hỗ trợ; xây dựng hoàn thiện hạ tầng logistics và các tuyến đường giao thông, kết nối liên thông các cảng biển với các vùng, miền, địa phương trong nước và quốc tế. Đẩy mạnh phát triển đội tàu vận tải biển với cơ cấu hợp lý, ứng dụng công nghệ hiện đại, nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng nhu cầu thị trường vận tải nội địa, tham gia sâu vào các chuỗi cung ứng vận tải, từng bước gia tăng, chiếm lĩnh thị phần quốc tế.

Khai thác dầu khí và các tài nguyên, khoáng sản biển khác: Nâng cao năng lực của ngành Dầu khí và các ngành tài nguyên, khoáng sản biển khác; từng bước làm chủ công tác tìm kiếm, thăm dò, khai thác, đáp ứng nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong thời kỳ mới. Đẩy mạnh công tác tìm kiếm, thăm dò, gia tăng trữ lượng dầu khí; nghiên cứu, thăm dò các bể trầm tích mới, các dạng hydrocarbon phi truyền thống; gắn việc tìm kiếm, thăm dò dầu khí với điều tra, khảo sát, đánh giá tiềm năng các tài nguyên, khoáng sản biển khác, khoáng sản biển sâu, đặc biệt là các khoáng sản có trữ lượng lớn, giá trị cao, có ý nghĩa chiến lược. Nâng cao hiệu quả khai thác các tài nguyên khoáng sản biển gắn với chế biến sâu; kết hợp hài hoà giữa khai thác, chế biến với bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học biển.

Nuôi trồng và khai thác hải sản: Chuyển từ nuôi trồng, khai thác hải sản theo phương thức truyền thống sang công nghiệp, ứng dụng công nghệ cao. Tổ chức lại hoạt động khai thác hải sản theo hướng giảm khai thác gần bờ, đẩy mạnh khai thác tại các vùng biển xa bờ và viễn dương phù hợp với từng vùng biển và khả năng phục hồi của hệ sinh thái biển đi đôi với thực hiện đồng bộ, có hiệu quả công tác đào tạo, chuyển đổi nghề cho ngư dân. Thúc đẩy các hoạt động nuôi trồng, khai thác hải sản bền vững, tăng cường bảo vệ, tái sinh nguồn lợi hải sản, nghiêm cấm các hoạt động khai thác mang tính tận diệt. Hiện đại hoá công tác quản lý nghề cá trên biển; đẩy mạnh liên kết sản xuất theo hình thức tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; xây dựng một số doanh nghiệp mạnh tham gia khai thác hải sản xa bờ và hợp tác khai thác viễn dương. Đầu tư nâng cấp các cảng cá, bến cá, khu neo đậu tàu thuyền, tổ chức tốt dịch vụ hậu cần nghề cá. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến trong nuôi trồng, khai thác, bảo quản, chế biến hải sản, tạo ra các sản phẩm chủ lực, có chất lượng, giá trị kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu của thị trường.

Công nghiệp ven biển: Phải dựa trên cơ sở quy hoạch, cân nhắc lợi thế về điều kiện tự nhiên của từng vùng, ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao thân thiện với môi trường, công nghiệp nền tảng, công nghệ nguồn. Phát triển hợp lý các ngành sửa chữa và đóng tàu, lọc hoá dầu, năng lượng, cơ khí chế tạo, công nghiệp chế biến, công nghiệp phụ trợ.

Năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới: Thúc đẩy đầu tư xây dựng, khai thác điện gió, điện mặt trời và các dạng năng lượng tái tạo khác. Phát triển ngành chế tạo thiết bị phục vụ ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, tiến tới làm chủ một số công nghệ, thiết kế, chế tạo và sản xuất thiết bị; ưu tiên đầu tư phát triển năng lượng tái tạo trên các đảo phục vụ sản xuất, sinh hoạt, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Quan tâm phát triển một số ngành kinh tế dựa vào khai thác tài nguyên đa dạng sinh học biển như dược liệu biển, nuôi trồng và chế biến rong, tảo, cỏ biển…

Việt Nam cần phát triển đồng bộ, từng bước hình thành khu kinh tế, khu công nghiệp, khu đô thị sinh thái ven biển. Tập trung xây dựng và nhân rộng các mô hình khu kinh tế, khu công nghiệp sinh thái ven biển gắn với hình thành và phát triển các trung tâm kinh tế biển mạnh. Khu kinh tế ven biển phải đóng vai trò chủ đạo trong phát triển vùng và gắn kết liên vùng. Đổi mới tư duy trong xây dựng và thực hiện các quy hoạch, kế hoạch phát triển hệ thống đô thị ven biển có cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đồng bộ, hiện đại theo mô hình, tiêu chí tăng trưởng xanh, đô thị thông minh. Đẩy nhanh xây dựng hoàn thiện kết cấu hạ tầng các khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển theo hướng tiếp cận mô hình khu kinh tế, khu công nghiệp sinh thái, có sức hấp dẫn các nhà đầu tư, thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; giải quyết tốt vấn đề môi trường, xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân.

Phát triển các vùng biển dựa trên lợi thế về điều kiện tự nhiên, hài hoà giữa bảo tồn và phát triển. Quy hoạch không gian biển theo các vùng bảo vệ – bảo tồn, vùng đệm và vùng phát triển kinh tế – xã hội để phát triển bền vững kinh tế biển trên cơ sở phát huy tối đa lợi thế so sánh về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, bản sắc văn hoá, tính đa dạng của hệ sinh thái, bảo đảm tính liên kết vùng, giữa địa phương có biển và không có biển. (1) Vùng biển và ven biển phía Bắc (Quảng Ninh – Ninh Bình): Tiếp tục xây dựng khu vực Hải Phòng – Quảng Ninh trở thành trung tâm kinh tế biển; là cửa ngõ, động lực phát triển vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ gắn với cảng quốc tế Lạch Huyện; phát triển Quảng Ninh trở thành trung tâm du lịch quốc gia kết nối với các trung tâm du lịch quốc tế lớn của khu vực và thế giới. (2) Vùng biển và ven biển Bắc Trung Bộ, Duyên hải Trung Bộ (Thanh Hoá – Bình Thuận): Phát triển các cảng biển nước sâu trung chuyển quốc tế, cảng biển chuyên dụng gắn với các khu liên hợp công nghiệp, dầu khí, điện, năng lượng tái tạo, công nghiệp sạch; phát triển các trung tâm du lịch lớn; nuôi trồng, khai thác, chế biến hải sản, dịch vụ hậu cần và hạ tầng nghề cá. (3) Vùng biển và ven biển Đông Nam Bộ (Bà Rịa – Vũng Tàu – Thành phố Hồ Chí Minh): Phát triển cảng biển container quốc tế, dịch vụ hậu cần cảng biển, dịch vụ bảo đảm an toàn hàng hải, công nghiệp khai thác, chế biến dầu khí, công nghiệp hỗ trợ và các dịch vụ ngành Dầu khí. (4) Vùng biển và ven biển Tây Nam Bộ (Tiền Giang – Cà Mau – Kiên Giang): Tập trung xây dựng phát triển Phú Quốc thành trung tâm dịch vụ, du lịch sinh thái biển mạnh mang tầm quốc tế; phát triển công nghiệp khí, chế biến khí, điện khí, năng lượng tái tạo, nuôi trồng, khai thác hải sản, dịch vụ hậu cần, hạ tầng nghề cá; kết nối với các trung tâm kinh tế lớn trong khu vực và thế giới.

Bảo vệ môi trường, bảo tồn, phát triển bền vững đa dạng sinh học biển; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng và phòng, chống thiên tai. Mở rộng diện tích, thành lập mới các khu vực bảo tồn biển trên cơ sở quy hoạch không gian biển quốc gia; chú trọng bảo tồn đa dạng sinh học, phục hồi các hệ sinh thái, đặc biệt là các rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển; bảo đảm tính toàn vẹn và mối quan hệ tự nhiên giữa các hệ sinh thái đất liền và biển.

Xây dựng các tiêu chí, yêu cầu kỹ thuật nghiêm ngặt theo chuẩn quốc tế về môi trường đối với các dự án đầu tư có nguy cơ ô nhiễm môi trường cao khu vực ven biển, bảo đảm phòng ngừa, ngăn chặn không để xảy ra các sự cố gây ô nhiễm môi trường, giảm thiểu và xử lý hiệu quả các nguồn gây ô nhiễm. Đầu tư xây dựng, củng cố lực lượng, trang thiết bị giám sát, cảnh báo tự động về chất lượng môi trường, ứng phó với sự cố môi trường, hoá chất độc hại trên biển; quản lý rác thải biển, nhất là rác thải nhựa; cải thiện, nâng cao chất lượng môi trường biển.

Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo, chủ động phòng, tránh và giảm nhẹ thiệt hại thiên tai, động đất, sóng thần, thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng trên cơ sở ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến, đặc biệt là áp dụng các mô hình thông minh có khả năng thích ứng, chống chịu với thiên tai và tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu. Đẩy mạnh các biện pháp phòng, chống biển xâm thực, xói lở bờ biển, ngập lụt, xâm nhập mặn…

Nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng văn hoá biển, xã hội gắn bó, thân thiện với biển. Nâng cao đời sống, bảo đảm an ninh, an toàn cho dân cư vùng ven biển, trên đảo và những người lao động trên biển. Chú trọng phát triển các thiết chế văn hoá cho cộng đồng dân cư biển và ven biển; phát huy bản sắc, giá trị lịch sử và văn hoá dân tộc, tri thức tốt đẹp trong ứng xử với biển, coi đây là nền tảng quan trọng để xây dựng văn hoá biển. Bảo tồn không gian văn hoá, kiến trúc và di sản thiên nhiên. Nâng cao nhận thức về biển và đại dương, xây dựng xã hội, ý thức, lối sống, hành vi văn hoá gắn bó, thân thiện với biển. Phát huy tinh thần tương thân tương ái của cộng đồng dân cư vùng biển, ven biển. Bảo đảm quyền tiếp cận, tham gia, hưởng lợi và trách nhiệm của người dân đối với biển một cách công bằng, bình đẳng.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Trung Quốc Thu Tóm Biển Đông

Trung Quốc Thu Tóm Biển Đông

Project Syndicate

Tác giả: Brahma Chellaney

Dịch giả: Đỗ Kim Thêm

14-12-2018

Lời người dịch: Trung Quốc đã biến Biển Đông thành ao nhà khi họ tuyên bố 1.3 triệu dặm vuông ở Biển Đông là thuộc chủ quyền Trung Quốc, một yêu sách ngụy tạo. Trung Quốc đã cắm cờ, cải tạo đất, xây tiền đồn ở các đảo, các bãi cạn và sẽ còn tiếp tục bành trướng khu vực, nơi không còn là “Á Châu-Thái Bình Dương”, mà nay trở thành “Ấn Độ-Thái Bình Dương”, một chiến lược mới song hành với Sáng kiến Vành đai và Con đường.

Sự ổn định của khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương, kể cả bờ biển phía Tây châu Phi và Nam Phi sẽ do Trung Quốc khống chế. Kết quả này là do một đối sách mềm yếu của Mỹ dưới thời Obama, thiếu tinh thần đoàn kết của khối ASEAN và nô lệ tự nguyện của Việt Nam, đặc biệt nhất là Philipinnes đã không tận dụng ưu thế pháp lý của phe thắng cuộc trong tranh chấp.

Hoa kỳ không có tranh chấp lãnh thổ trong khu vực Biển Đông, nhưng phải đối phó vấn đề quyền tự do hải hành cho việc thương mại toàn cầu, một lợi ích quan trọng về chiến lược. Trong bối cảnh của cuộc chiến tranh thương mại với Trung Quốc còn đang tiếp diễn, nên giải pháp Biển Đông của chính quyền Donald Trump được giải quyết hoàn toàn độc lập hay có ảnh hưởng hổ tương, đó chỉ là một giả thiết.

Thực tế cho thấy là trong năm qua, Hoa Kỳ đã có đối đầu trực tiếp với Trung Quốc ở Biển Đông. Hoa Kỳ đã có 9 đợt tuần tra tự do hàng hải để thách thức các yêu sách chủ quyền của Trung Quốc. Tháng 9 vừa qua, tàu chiến của hai phe suýt va chạm nhau.

Rồi sẽ ra sao trong năm 2019? Một cuộc hải chiến của Hoa Kỳ với Trung Quốc có thể bùng nổ trên Biển Đông không? Mọi suy đoán đều thiếu cơ sở khi có quá nhiều yếu tố liên quan đầy bất trắc chung quanh: tranh chấp mới qua vụ Hoa Vi, triệt thoái khỏi Syria và Afghanistan, với tính khí bất thường cùa Donald Trump và chính sách bất toàn của Mỹ, khó ai lường đoán hồi kết cuộc.

Một giải pháp êm đẹp nhất là khi chiến tranh thương mại tạm ổn định và thiện chí hiếu hoà của hai bên có thể xác định, tình huống đe dọa trực tiếp về an ninh và tự do hàng hải quốc tế ít được quan tâm và cũng không buộc Mỹ phải phản ứng mạnh bằng quân sự. Do đó, hai phe có thể ngăn chặn xung đột bùng nổ trên Biển Đông. Ngược lại, chuyện không muốn sẽ đến.

Còn Việt Nam? Học viện Ngoại giao đã tổ chức Hội thảo với chủ đề “Biển Đông trong cục diện mới và đối sách của Việt Nam”. Nhưng một giải pháp thu hồi các biển đảo bị Trung Quốc chiếm là ảo ảnh. Lãnh đạo Việt Nam cho rằng, thế hệ mai sau sẽ giải quyết chuyện đã rồi của lịch sử do họ gây ra, một quyết định của Đảng mà Học viện phải tuân thủ.

 

***

Trong năm năm qua, Trung Quốc đã biến các yêu sách vể Biển Đông do giả tạo lịch sử của mình thành hiện thực và đạt được thành qủa về mặt chiến lược vượt xa hơn bờ biển. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã không để cho kết quả đó thành chuyện tình cờ.

Đã năm năm qua kể từ khi Trung Quốc khởi xướng cải tạo vùng đất chính ở Biển Đông và đã thay đổi hiện trạng lãnh thổ có lợi cho mình – mà không gặp phải bất kỳ phản ứng chống trả nào của quốc tế. Lễ kỷ niệm khởi công xây dựng hòn đảo nhấn mạnh về một nền địa chính trị bị biến đổi trong một hành lang chủ yếu của một trật tự quốc tế về hàng hải.

Vào tháng 12 năm 2013, chính phủ Trung Quốc đã đưa tàu nạo vét Thiên Kinh khổng lồ vào phục vụ tại rạn san hô Đá Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa, cách xa lục địa Trung Quốc. Trường Sa nằm ở phía nam quần đảo Hoàng Sa, nơi Trung Quốc chiếm giữ từ năm 1974, tận dụng khi lực lượng của Mỹ rời khỏi Nam Việt Nam. Năm 1988, rạn san hô là cảnh quan của một cuộc tấn công của Trung Quốc đã giết chết 72 thủy thủ người Việt Nam và đánh chìm hai tàu của họ.

Công việc của tàu nạo vét là phân mảnh các trầm tích dưới đáy biển và đưa nó vào trên một rạn san hô cho đến khi thành hình một hòn đảo nhân tạo thấp trũng. Với hệ thống hoạt động theo động lực riêng và khả năng khai thác trầm tích với tốc độ 4.530 khối mét vuông (5.924 cubic yards) mỗi giờ, Thiên Kinh tự hào đã thực hiện công việc rất nhanh, tạo ra 11 ha đất mới, bao gồm cả một bến cảng, trong thời gian chưa đầy bốn tháng. Trong khi đó, Trung Quốc có một chiến hạm tuần tra.

Kể từ đó, Trung Quốc đã xây dựng thêm sáu hòn đảo nhân tạo ở Biển Đông và liên tục mở rộng cơ sở quân sự tại khu vực có tầm vóc chiến lược quan trọng này, đường hàng hải cho một phần ba thương mại toàn cầu đi qua. Trung Quốc xây dựng các cơ sở cảng, tòa nhà quân sự, lắp đặt đài kiểm soát radar, các nơi trú ẩn cho hoả tiển, kho tiếp vận rộng lớn cho nhiên liệu, nước và đạn dược, và thậm chí cả phi đạo và nhà chứa máy bay trên các đảo nhân tạo. Để củng cố vị thế hơn nữa, Trung Quốc đã vũ trang mạnh mẽ các nơi lân cận đình chỉ khai thác tài nguyên thiên nhiên trong vùng đặc quyền kinh tế của họ.

Do đó, Trung Quốc đã biến các yêu sách về Biển Đông do giả tạo lịch sử thành hiện thực và đạt được ý nghĩa sâu xa về mặt chiến lược, bất chấp phán quyết năm 2016 của tòa trọng tài quốc tế vô hiệu hóa các yêu sách đó. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc dường như có ý định chứng minh câu ngạn ngữ cổ rằng “sở hữu là chín phần mười của luật pháp“. Và dường như thế giới đang để yên cho họ chiếm.

Người Trung Quốc đã không để cho kết quả đó thành chuyện tình cờ. Trước khi bắt đầu xây dựng các hòn đảo của mình ở Biển Đông, họ đã dành vài tháng để thử nghiệm xem có thể có các phản ứng của Hoa Kỳ thông qua các động thái tượng trưng không. Đầu tiên, vào tháng 6 năm 2012, Trung Quốc đã chiếm giữ Bãi cạn Scarborough còn đang tranh chấp với Philippines, mà quốc tế không có một phản ứng hữu hình nào.

Gần như ngay lập tức, Tập đoàn Công nghiệp Đóng tàu Nhà nước Trung Quốc – hiện đang chế tạo hàng không mẩu hạm thứ ba của Trung Quốc – đã xuất bản trên trang mạng bản phác thảo cho các đảo nhân tạo trên đỉnh các rạn san hô, bao gồm các bản vẽ các cấu trúc của các công trình xác định chương trình xây dựng Trường Sa của Trung Quốc. Nhưng các bản phác thảo đã nhận được rất ít thông báo ghi nhận của quốc tế, và đã sớm bị xóa khỏi trang mạng, mặc dù sau đó các bản này đã lưu hành trên một số trang mạng tin tức của Trung Quốc.

Vào tháng 9 năm 2013, Trung Quốc đã tiến hành thử nghiệm tiếp theo: họ đã gửi tàu nạo vét Thiên Kinh đến rạn san hô Châu Viên, nơi họ ở lưu lại trong ba tuần mà không bắt đầu cải tạo đất. Các hình ảnh vệ tinh khả dụng trên thị trường sau đó cho thấy là một tàu nạo vét tại Đá Chữ Thập, một rạn san hô khác, làm việc lần nữa, nhưng rất ít. Một lần nữa, Hoa Kỳ, dưới thời Tổng thống Barack Obama, đã không đẩy lùi, thúc đẩy cho Trung Quốc bắt đầu dự án xây dựng đảo đầu tiên của mình tại Đá Gạc Ma.

Nói tóm lại, khi Trung Quốc tiếp tục xây dựng và quân sự hóa các đảo, họ đã thực hiện một cách hoàn chỉnh, dần dần tăng cường các hoạt động trong khi theo dõi phản ứng của Mỹ. Hai năm cuối cùng của tổng thống Obama được đánh dấu bằng việc Trung Quốc xây dựng cuồng nhiệt.

Tất cả những điều này đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt đại dương trong khu vực. Trung Quốc đã phá hủy các rạn san hô để sử dụng làm nền cho các đảo cung cấp thức ăn và nơi trú ẩn cho nhiều loài sinh vật của đại dương, cũng như cung cấp ấu trùng cho các loài thủy sản quan trọng của Châu Á. Thêm vào đó là dòng chảy tẩm hóa chất từ các đảo nhân tạo mới và các hoạt động của Trung Quốc đang tàn phá các hệ sinh thái Biển Đông.

Ash Carter, Bộ trưởng Quốc phòng cuối cùng của Obama, đã chỉ trích nhà lãnh đạo của mình về phương sách mềm yếu đối với Trung Quốc. Trong một bài tiểu luận phát hành gần đây, Carter đã viết rằng Obama đã lầm lạc bằng cách phân tích của chính mình, đã nghi ngờ khi cứu xét “những khuyến nghị của tôi và những người khác về thách thức gây hấn hơn trước các yêu sách hàng hải quá mức của Trung Quốc và các hành vi phản tác dụng khác.“ Carters nói, trong khi đó Obama mang viễn kiến của Trung Quốc trong sự sắp xếp với Mỹ theo khuôn khổ của G2.

Hiện nay, chính quyền của Tổng thống Donald Trump, đang đối phó với các hậu quả của sách lược Obama. Trump muốn thực hiện một viễn kiến về một chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương tự do và cởi mở. Nó là sự kế thừa cho chính sách chuyển trục về châu Á của Obama.

Nhưng, từ những địa thế mới được xây dựng ở Biển Đông, Trung Quốc có vị trí tốt hơn không chỉ để duy trì các cuộc tuần tra trên không và trên biển trong khu vực, mà còn thúc đẩy chiến lược dự phóng về điện qua Ấn Độ Dương và Tây Thái Bình Dương. Làm thế nào có thể có bất kỳ hy vọng nào về một Ấn Độ-Thái Bình Dương tự do và cởi mở, khi hành lang quan trọng nối liền các đại dương Ấn Độ và Thái Bình Dương đang ngày càng bị chế ngự bởi chế độ chuyên chế lớn nhất thế giới?

Lấn chiếm lãnh thổ của Trung Quốc, một chiến thắng của cường quốc thô bạo xem thường luật pháp, phơi bày tính cách tổn thương của một trật tự thế giới tự do hiện tại. Các gánh nặng về môi trường và địa chính trị có thể sẽ tăng lên, gây ra chi phí lớn lao cho các quốc gia khu vực và định hình lại các mới quan hệ hàng hải quốc tế.

***

Brahma Chellaney: Giáo sư Nghiên cứu Chiến lược, Trung tâm Nghiên cứu Chính sách và Nghiên cứu Chính sách, New Delhi, Học viện Robert Bosch, Berlin, tác giả của chín cuốn sách, kể cả Asian Juggernaut, Water: Asia’s New Battleground, and Water, Peace, and War: Confronting the Global Water Crisis.

Nguyên tác: China’s South China Sea Grab

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Biển Đông 4.0

Biển Đông 4.0

FB Nguyễn Thọ

14-12-2018

Không ngờ loạt bài chém gió “Cách mạng 4.0“ của tiều phu với các khái niệm “Tư bản số“, “Độc tài số“, “Giun digital“ lại liên quan đến Biển Đông.

Thiên hạ lạm dụng khái niệm “Cách mạng 4.0“, sao mình lại không chia lịch sử Biển Đông cũng từ 1.0 đến 4.xx cho nó oách nhỉ?

Biển Đông 1.0 có thể bắt đầu từ thế kỷ 15, khi vua Lê Thánh Tông cho vẽ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào bản đồ (theo Đại Việt Sử ký toàn thư). Đến thế kỷ 18, khi chúa Nguyễn cho lập Đội Bắc Hải và Đội Hoàng Sa ra đó khai thác và khẳng định chủ quyền có thể là 1.1.

Biển Đông 2.0 bắt đầu vào lúc Pháp chiếm Việt Nam cuối thế kỷ 19, sau khi hiệp ước biên giới Pháp – Thanh ký năm 1887. Update 2.1 phải là lúc toàn quyền Paul Doumer quyết định xây cột hải đăng ở Hoàng Sa, nhưng thiếu tiền nên chỉ cử người ra đó… Thời kỳ này rất quan trọng vì Việt Nam nhờ Pháp mà lấn át được cả nhà Thanh lẫn Quốc Dân Đảng trong việc bảo vệ chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa. 2.2 là lúc Nhật thay Pháp quản lý cả hai quần đảo.

Năm 1951, tại Hội nghị quốc tế về Hiệp ước hòa bình với Nhật ở San Fransisco, cụ Trần Văn Hữu đã đại diện cho Quốc gia Viêt Nam của Bảo Đại tuyên bố chủ quyền Việt Nam trên các quần đảo này. Đây có thể coi là release 2.3, update cuối cùng của Vesion2.

Biển Đông 3.0 bắt đầu bằng việc ký hiệp định Genève ngày 20.7.1954, chia đôi Việt Nam. Theo đó nhà nước Việt Nam Cộng Hòa quản lý các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Nhân lúc tranh tối tranh sáng, ngày 31.5.1956 Đài Loan cho tàu ra chiếm đảo Ba-Bình, đảo lớn nhất thuộc quần đào Trường sa, đánh dấu Update 3.1.

Rồi 3.2 là bước nâng cấp quan hệ Việt-Trung trên biển, khi Bắc Kinh trả lại đảo Bạch Long Vĩ cho ta tháng 1.1957. Từ đó mà có Update 3.3, khi ông Đồng ký công hàm gửi đồng nghiệp Chu Tổng lý, ủng hộ quan điểm về thềm lục địa của Trung Quốc? Còn cuộc hải chiến Hoàng sa tháng giêng 1974 phải chăng là release cuối cùng của version 3?

Sự kiện 30.4.1975, có thể coi là version 4.0 của tranh chấp Biển Đông, trong đó sự kiện Gạc Ma 1988 liệu có phải là 4.1? Việt Nam thành lập hai huyện đảo Hoàng Sa và Trường Sa, có văn phòng trong phố Đà Nẵng và Nha Trang là 4.2? Cuộc biểu tình của thanh niên Việt Nam chống Trung Quốc xâm lược tháng 12.2007 có thể coi là 4.3. Sự kiện CHXHCN Việt Nam công nhận thừa kế vai trò của VNCH trên trên hai quần đảo là 4.4. Vụ tòa trọng tài Den Haag theo đơn kiện của Philippin, bác bỏ yêu sách của TQ là 4.5 v.v và v.v.

Kết thúc 4.xx chắc sẽ là ngày mấy ông Đô đốc Mỹ gốc Việt lái tàu về phá tan các đảo bồi đắp của TQ, đòi hộ lãnh thổ chođồng bào mình. Trong khi đó có nhiều người ở Việt Nam đã coi đó là những cồn cát chim ỉa. Thậm chí đã có lúc, khái niệm “bọn Hoàng-Sa, Trường-Sa” được phổ biến nội bộ để ám chỉ kẻ xấu.

Và 5.0 là giấc mơ trọn vẹn?

Tất nhiên đó chỉ là cách sắp xếp của một tay thợ máy tính, dốt về lịch sử. Có thể các nhà nghiên cứu Biển Đông sẽ có ý kiến khác. Nhưng ít ra cách sắp xếp này hay ở chỗ: đã có 1.0 thì có 1.1, 1.2 cho tới 4.xx. Mấy ông bô bô „Cách mạng 4.0“ khi bị hỏi 4.1. 4.2 là gì, tịt mít.

Nhưng Biển Đông thì có liên quan gì đến “Tư bản số” và “Độc tài số”?

https://www.facebook.com/tho.nguyen.9231/posts/2492106894140702

Chuyện thế này: Hai thế lực trên đã đặt thế giới trước một cuộc chiến tranh mạng (Cyber war). Vì vậy quân đội Đức (Bundeswehr) đã thành lập một binh chủng mới để chống lại các cuộc tấn công mạng. Cần nói thêm là từ năm 2011, quân đội Đức đã trở thành một quân đội chuyên nghiệp, không có lính nghĩa vụ nữa. Ai đi bộ đội sẽ thành quân nhân chuyên nghiệp, có thể đeo lon suốt đời. Do vậy quân đội Đức đã từ 450.000 người rút xuống chỉ còn 180.000.

“Bộ tư lệnh chiến tranh mạng“ (Command Cyber- and Information CIR)[1] sẽ có khoảng 13.500 quân nhân chuyên nghiệp. Lực lượng này tuy nhỏ hơn Hải quân (16.500), nhưng rất tinh nhuệ, vì chủ yếu là hạ sỹ quan trở lên. Lý do là số này được tuyển dụng từ các chuyên gia tin học đã có kinh nghiệm, sau mấy tháng huấn luyện quân sự sẽ thành hạ sỹ quan hay sỹ quan, tùy theo trình độ.

Peter, bạn tiều phu cũng đi bộ đội! Vốn cũng là dân làm ăn tự lập, lăn lộn với nghề máy tính để nuôi vợ con, nay nghe theo tiếng gọi của các loại đảng, Peter đầu quân để không cho bọn độc tài số tấn công nước Đức. Gã kể: Đời lính thì vất vả hơn, nhưng lương cao và không phải lo kiếm ăn hàng ngày như hồi làm tự do.

Peter có vợ Việt nên cách đây vài năm, gã đã xem bộ phim “Hoàng Sa – Nỗi đau mất mát“ của anh Menras André Hồ Cương Quyết. Hồi đó, phim này bị coi là “nhậy cảm“, nhiều người ngại dính vào, thế là tiều phu phải tự đứng ra tổ chức ở Köln. Vợ chồng Peter cùng hơn 100 người, có cả báo chí Đức, đến dự và quyên góp cho bà con ngư dân. Xem xong Peter bức xúc lắm.

Trường võ bị Hamburg, nơi Peter đang học, muốn bổ túc kiến thức quốc tế cho các học viên. Peter nghĩ đến quê vợ và đề nghị đưa “Xung đột Biển Đông“ vào giáo trình ngoại khóa. Trường chấp nhận, thế là Peter nhờ tiều phu kiếm giáo trình.

May mắn là bạn Pham Thanh Van, thành viên của „Dự án Đại ký sự biển Đông” nhận giúp đỡ. Sau nhiều đêm cặm cụi làm việc, cô đã gửi sang một bản thuyết trình power point bằng tiếng Anh. Tiều phu đã dịch sang tiếng Đức cho Peter. Gã mừng lắm, bảo sẽ khuyên ban giám hiệu sử dụng tài liệu này cho những khóa sau.

Hôm nay Peter báo tin là gã đã hoàn thành buổi báo cáo về đề tài Biển Đông. Nhiều sỹ quan Đức giờ mới biết đến đường chín đoạn, đến các đảo nhân tạo “made by China”.

Và họ cũng biết đến đến những người lính Việt Nam đã hy sinh ở Hoàng Sa, Gạc Ma.

[1] https://www.tagesspiegel.de/…/verteidigung-bu…/19608528.html

Tái bút: Bản thuyết trình Powerpoint về Biển Đông được làm rất công phu bằng tiếng Anh, nay đã được dịch sang tiếng Pháp và tiếng Đức. Vậy bà con nào thấy có cơ hội để giới thiệu cho bạn bè quốc tế về nỗi đau của dân tộc, có thể liên hệ với chúng tôi để quảng bá. Cảm ơn Yên Con đã giúp dich ra tiếng Pháp.

Bình Luận từ Facebook
Categories: Biển Đông | Leave a comment

Biển Đông 2019: Đông đảo hàng không mẫu hạm của đồng minh

Biển Đông 2019: Đông đảo hàng không mẫu hạm của đồng minh

Tàu khu trục USS Decatur (DDG-73)Bản quyền hình ảnhJACK GUEZ
Image captionTàu khu trục USS Decatur (DDG-73) của Mỹ suýt va chạm tàu Trung Quốc trên Biển Đông hồi đầu tháng 10

Các cuộc tuần tra trên Biển Đông của các nước phương Tây dường như nay không còn hiệu quả, ngoài việc chọc tức Tập Cận Bình và dân Trung Quốc, bởi chính Hoa Kỳ đã lên tiếng khẳng định rằng Trung Quốc đã hoàn tất chương trình trang bị hoả tiễn chống hạm tại bảy căn cứ “bồi đắp trái phép” ở Trường Sa.

Trung Quốc ngày nay phải chăng đã trở thành hổ dữ?

Biển Đông: ‘Cảnh giác TQ sau sự cố Nga-Ukraine’

Mỹ: TQ ‘uy hiếp láng giềng’ ở Biển Đông

Phi cơ ném bom TQ hạ cánh xuống Biển Đông

Vậy sự chuẩn bị của Phương Tây nay ra sao?

Nước Pháp

Giới quan sát tình hình thế giới hơi ngạc nhiên khi nghe Bộ trưởng Quốc phòng Pháp Florence Parly vừa qua tuyên bố rằng Pháp sẽ gửi hàng không mẫu hạm Charles de Gaulle đến Biển Đông với lực lượng mạnh chưa từng có vào tháng 01/2019.

Hàng không mẫu hạm Charles de Gaulle vừa hoàn tất chương trình tu chỉnh định kỳ vào năm 2017, sẽ thực hiện chuyến tuần tra trên biển đầu tiên bằng toàn bộ khả năng tác chiến với gần 40 tiêm kích Rafale M.

Rafale M là chiến đấu cơ đa năng có tầm tác chiến bao trùm hơn 3.000 km và là loại chiến đấu cơ ngoại quốc duy nhất được phép hoạt động trên các hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ.

Hàng không mẫu hạm Charles de Gaulle lần đầu tiên cho thấy tiêm kích Rafale hôm 5/1/2001Bản quyền hình ảnhPATRICK AVENTURIER/GAMMA-RAPHO
Image captionHàng không mẫu hạm Charles de Gaulle lần đầu tiên cho thấy tiêm kích Rafale hôm 5/1/2001

Charles de Gaulle cũng là hàng không mẫu hạm duy nhất của đồng minh nhận mọi loại chiến đấu cơ Mỹ tính từ F18 C/D đáp xuống và bay đi an toàn trong giới hạn 80 lượt cất cánh/ngày.

Charles de Gaulle có lịch sử hoạt động khá ấn tượng và là một trong những hàng không mẫu hạm tham chiến nhiều nhất trên thế giới.

Năm 2001, tàu lần đầu tham chiến trong chiến dịch Tự do Bền vững do Mỹ dẫn đầu chống lại Taliban. Trong đợt triển khai đầu tiên này, Charles de Gaulle đã thực hiện 770 phi vụ chiến đấu.

Chiếc tàu cũng đạt kỷ lục về tác chiến trên toàn thế giới, qua mặt cả các hàng không mẫu hạm Mỹ về số lượng tham chiến và số lượng bay và đáp, vì đã tham gia trực tiếp vào cuộc chiến Libya với hơn 1.400 phi vụ trên bầu trời Địa Trung Hải và Libya.

Anh Quốc

Hai hàng không mẫu hạm HMS Queen Elizabeth R08 và HMS Prince of Wales R09 sẽ được điều đến Biển Đông.

Hai hàng không mẫu hạm này chỉ có thể tiếp nhận máy bay F35 hoặc các drone không người lái.

Cho đến nay, Lockheed-Martin chỉ mới giao cho Anh quốc 15 chiếc F35, và mới chỉ có 4 chiếc đầu tiên đã thực sự bay về Anh từ tháng 6/2018.

Anh phải chờ đến 2021 mới thật sự có thể triển khai sức mạnh của HMS Queen Elizabeth và HMS Prince of Wales ra biển lớn.

Tuy nhiên, theo South Morning China Post thì Anh và Úc, tháng 7 vừa qua, đã phác thảo kế hoạch chung đưa HMS Queen Elizabeth đến Biển Đông vào đầu năm 2019 để có thể yểm trợ hỏa lực và làm bãi đáp hỗ trợ cho các F35 của Nhật và Mỹ khi cần thiết.

HMS Queen Elizabeth R08Bản quyền hình ảnhCHRISTOPHER FURLONG
Image captionHàng không mẫu hạm HMS Queen Elizabeth R08 cập cảng New York hôm 19/10/2018

Các nước khác

Hải quân Ấn Độ sẽ điều hàng không mẫu hạm Vikrant vào Biển Đông.

Vikrant thuộc lớp STOL (Short Take off, Vertical Landing) sẽ đi vào hoạt động năm 2019 nhưng chỉ thích hợp với máy bay Nga như Mig-29, Su-25 và Su-27. Nếu tham chiến trên Biển Đông, nó sẽ phải hoạt động độc lập.

Nhật sẽ đưa tàu chở trực thăng Izumo vào Biển Đông.

Trung Quốc lại đem tên lửa ra Biển Đông

Nhật điều ba tàu khu trục đến Biển Đông

Tàu ngầm Nhật ‘lần đầu’ diễn tập ở Biển Đông

Pháp có nhiều lý do để quan tâm Biển Đông

Ta thấy với kế hoạch này thì Charles de Gaulle của Pháp là cánh tay đắc lực duy nhất trong phe đồng minh của Mỹ trên mọi vùng biển trên thế giới, đặc biệt là ở châu Á-Thái Bình Dương.

Chiếc mẫu hạm nguyên tử Charles de Gaulle có gần 2000 thuỷ thủ cộng với 700 nhân viên bay, hoàn toàn độc lập về hỏa lực tác chiến trong vòng 50 ngày, trừ thực phẩm cho thủy thủ đoàn là phải cung ứng thường xuyên.

Tàu chở trực thăm Izumo của Nhật Bản ở cảng YokosukaBản quyền hình ảnhREUTERS TV
Image captionTàu chở trực thăng Izumo của Nhật Bản ở cảng Yokosuka

Từ khi được đưa vào hoạt động năm 2001, đây là lần đầu tiên Charles de Gaulle đi thật xa với dàn hoả lực mạnh chưa từng có, một đội tàu chiến yểm trợ gồm các tàu chống ngầm và soái hạm Mistral.

Về phía Mỹ, ngày 24/11 vừa qua, hàng không mẫu hạm nguyên tử USS Ronald Reagan đã cập cảng Hong Kong và hiện có mặt trong vùng thay cho chiếc Carl Vinson phải trở về San Diego để sửa chữa định kỳ.

Để hiểu Phương Tây và Mỹ đang tính toán gì tại đây, ta cần xem các động thái của Nga và Trung Quốc.

Sự chuẩn bị lực lượng của Trung Quốc và Nga

Chắc chắn là Trung Quốc không dại dột gì trông cậy vào lực lượng hải quân với duy nhất một hàng không mẫu hạm Liêu Ninh hiện có, kém cả hiệu quả và hỏa lực cũng như thiếu kinh nghiêm tác chiến trầm trọng so với phương tây.

Hàng không mẫu hạm Liêu Ninh được mua lại của Ukraine. Tuy nhiên, Trung Quốc đã thử nghiệm hàng không mẫu hạm Type-001A đóng mới trong nước và đang chế tạo tàu sân bay thế hệ mới của Trung Quốc Type 002, truyền thông nước này đưa tin.

Trung Quốc cũng không thể trông đợi gì ở đồng minh duy nhất nhưng hay chỉ chờ cơ hội để đâm sau lưng họ.

Hơn nữa, chỉ số kinh tế hiện nay của Nga cho thấy Nga đang ở mức tương đương với Tây Ban Nha tại châu Âu và thua xa Pháp và Đức, nghĩa là thuộc về khối các quốc gia nghèo.

Hàng không mẫu hạm Liêu Ninh cùng tàu và máy bay chiến đấu tham gia tập trận trên Biển Đông, 4/2018Bản quyền hình ảnhVCG
Image captionHàng không mẫu hạm Liêu Ninh cùng tàu và máy bay chiến đấu tham gia tập trận trên Biển Đông, 4/2018

Với hơn 56 chiếc tàu ngầm động cơ diesel và năm tàu ngầm hạt nhân, liệu Trung Quốc đủ tự tin về sức mạnh quân sự tại Biển Đông, Biển Hoa Đông và eo biển Đài Loan?

Nếu sau các cuộc gặp gỡ Tập – Trump, bàn cờ chính trị vẫn tồi tệ, Mỹ không chịu nhượng Trung Quốc trên Biển Đông, hay ngăn cản Một Vành đai, Một Con đường hoặc cố ý tiếp tay cho bà Thái Anh Văn hướng Đài Loan về phía độc lập trước ngày bầu cử lại tổng thống năm 2020, thì sức mạnh quân sự của Trung Quốc trên biển sẽ được thể hiện như thế nào?

Câu nói đùa “thận trọng như quân đội Pháp”, ý nói quân đội Pháp nhát, bởi vì Pháp đã học nhiều bài học quý giá khi đánh nhau với những kẻ yếu hơn họ.

Cuộc chiến Điện Biên Phủ là một ví dụ. Tình hình cũng có phần trùng hợp với những gì đang diễn ra trên Biển Đông hiện nay.

Đôi lúc, chúng ta có nghe nói đến một loại vũ khí gần như vô địch nhưng ít ai biết rõ, đó là bom xung điện từ (Electromagnetic Pulse – EMP).

Thật ra, tất cả các nước tiên tiến đều đã nghiên cứu để có những hiểu biết cơ bản về loại bom EMP, nhưng Nga mới là nước đã thử nghiệm thành công đầu tiên bom “ép phê EMP”, còn gọi là E-bom, do công trình nghiên cứu 60 năm về trước của nhà bác học Andrei Sakharov và các cộng sự Athshuler, Voitenko và Bichenko.

Góc nhìn từ Pháp: Việt Nam cần vũ khí điện tử tối tân

Pháp đã hai lần thử nghiệm sức mạnh của EMP khi cho nổ bom hạt nhân trên tầm cao 100 km ở Polynésie Français.

Mỹ từ năm 1960 đã có hơn 10 lần thử nghiệm, họ kích hoạt một bom hạt nhân từ không gian 400 km, bắn đi từ đảo Johnson gần Hawaii và họ biết rất rõ cách có thể xóa sổ một lực lượng hùng hậu trên biển hay một số vệ tinh tình báo làm cho đối phương trở nên mù lòa trong cuộc chiến.

Duy chỉ có lực lượng tầu ngầm là có thể thoát khỏi tầm tấn công của bom EMP.

Dường như hiện tại Trung Quốc đang suy nghĩ nhiều về con đường này khi liên tục tìm cách tập bắn hạ các vệ tinh của chính họ, trên biển và trên đất liền và phát triển các thiết bị ngầm như xây dựng một Vạn lý Trường thành dưới lòng Biển Đông.

Chưa biết “mèo nào cắn mỉu nào” khi cuộc chiến thật sự xảy ra, nhưng chắc chắn kẻ chiến thắng sẽ là kẻ thống trị thế giới trong thế kỷ 21.

Trước đó thì mọi đồn đoán về sức mạnh cũng chỉ là lời đồn đoán mà thôi.

Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả, một cựu kỹ sư về công nghệ quốc phòng Pháp, hiện sống tại Paris.

Xem thêm bài về Biển Đông:

Biển Đông: ‘Cảnh giác TQ sau sự cố Nga-Ukraine’

ASEAN làm gì nếu có xung đột ở Biển Đông?

Biển Đông: TQ nâng cấp danh mục quân sự

Philippines-TQ sẽ ‘sớm hợp tác ở Biển Đông’?

ASEAN tránh đụng TQ trên bầu trời Biển Đông?

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Biển Đông 2019: Đông đảo hàng không mẫu hạm của đồng minh

Biển Đông 2019: Đông đảo hàng không mẫu hạm của đồng minh

Tàu khu trục USS Decatur (DDG-73)Bản quyền hình ảnhJACK GUEZ
Image captionTàu khu trục USS Decatur (DDG-73) của Mỹ suýt va chạm tàu Trung Quốc trên Biển Đông hồi đầu tháng 10

Các cuộc tuần tra trên Biển Đông của các nước phương Tây dường như nay không còn hiệu quả, ngoài việc chọc tức Tập Cận Bình và dân Trung Quốc, bởi chính Hoa Kỳ đã lên tiếng khẳng định rằng Trung Quốc đã hoàn tất chương trình trang bị hoả tiễn chống hạm tại bảy căn cứ “bồi đắp trái phép” ở Trường Sa.

Trung Quốc ngày nay phải chăng đã trở thành hổ dữ?

Biển Đông: ‘Cảnh giác TQ sau sự cố Nga-Ukraine’

Mỹ: TQ ‘uy hiếp láng giềng’ ở Biển Đông

Phi cơ ném bom TQ hạ cánh xuống Biển Đông

Vậy sự chuẩn bị của Phương Tây nay ra sao?

Nước Pháp

Giới quan sát tình hình thế giới hơi ngạc nhiên khi nghe Bộ trưởng Quốc phòng Pháp Florence Parly vừa qua tuyên bố rằng Pháp sẽ gửi hàng không mẫu hạm Charles de Gaulle đến Biển Đông với lực lượng mạnh chưa từng có vào tháng 01/2019.

Hàng không mẫu hạm Charles de Gaulle vừa hoàn tất chương trình tu chỉnh định kỳ vào năm 2017, sẽ thực hiện chuyến tuần tra trên biển đầu tiên bằng toàn bộ khả năng tác chiến với gần 40 tiêm kích Rafale M.

Rafale M là chiến đấu cơ đa năng có tầm tác chiến bao trùm hơn 3.000 km và là loại chiến đấu cơ ngoại quốc duy nhất được phép hoạt động trên các hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ.

Hàng không mẫu hạm Charles de Gaulle lần đầu tiên cho thấy tiêm kích Rafale hôm 5/1/2001Bản quyền hình ảnhPATRICK AVENTURIER/GAMMA-RAPHO
Image captionHàng không mẫu hạm Charles de Gaulle lần đầu tiên cho thấy tiêm kích Rafale hôm 5/1/2001

Charles de Gaulle cũng là hàng không mẫu hạm duy nhất của đồng minh nhận mọi loại chiến đấu cơ Mỹ tính từ F18 C/D đáp xuống và bay đi an toàn trong giới hạn 80 lượt cất cánh/ngày.

Charles de Gaulle có lịch sử hoạt động khá ấn tượng và là một trong những hàng không mẫu hạm tham chiến nhiều nhất trên thế giới.

Năm 2001, tàu lần đầu tham chiến trong chiến dịch Tự do Bền vững do Mỹ dẫn đầu chống lại Taliban. Trong đợt triển khai đầu tiên này, Charles de Gaulle đã thực hiện 770 phi vụ chiến đấu.

Chiếc tàu cũng đạt kỷ lục về tác chiến trên toàn thế giới, qua mặt cả các hàng không mẫu hạm Mỹ về số lượng tham chiến và số lượng bay và đáp, vì đã tham gia trực tiếp vào cuộc chiến Libya với hơn 1.400 phi vụ trên bầu trời Địa Trung Hải và Libya.

Anh Quốc

Hai hàng không mẫu hạm HMS Queen Elizabeth R08 và HMS Prince of Wales R09 sẽ được điều đến Biển Đông.

Hai hàng không mẫu hạm này chỉ có thể tiếp nhận máy bay F35 hoặc các drone không người lái.

Cho đến nay, Lockheed-Martin chỉ mới giao cho Anh quốc 15 chiếc F35, và mới chỉ có 4 chiếc đầu tiên đã thực sự bay về Anh từ tháng 6/2018.

Anh phải chờ đến 2021 mới thật sự có thể triển khai sức mạnh của HMS Queen Elizabeth và HMS Prince of Wales ra biển lớn.

Tuy nhiên, theo South Morning China Post thì Anh và Úc, tháng 7 vừa qua, đã phác thảo kế hoạch chung đưa HMS Queen Elizabeth đến Biển Đông vào đầu năm 2019 để có thể yểm trợ hỏa lực và làm bãi đáp hỗ trợ cho các F35 của Nhật và Mỹ khi cần thiết.

HMS Queen Elizabeth R08Bản quyền hình ảnhCHRISTOPHER FURLONG
Image captionHàng không mẫu hạm HMS Queen Elizabeth R08 cập cảng New York hôm 19/10/2018

Các nước khác

Hải quân Ấn Độ sẽ điều hàng không mẫu hạm Vikrant vào Biển Đông.

Vikrant thuộc lớp STOL (Short Take off, Vertical Landing) sẽ đi vào hoạt động năm 2019 nhưng chỉ thích hợp với máy bay Nga như Mig-29, Su-25 và Su-27. Nếu tham chiến trên Biển Đông, nó sẽ phải hoạt động độc lập.

Nhật sẽ đưa tàu chở trực thăng Izumo vào Biển Đông.

Trung Quốc lại đem tên lửa ra Biển Đông

Nhật điều ba tàu khu trục đến Biển Đông

Tàu ngầm Nhật ‘lần đầu’ diễn tập ở Biển Đông

Pháp có nhiều lý do để quan tâm Biển Đông

Ta thấy với kế hoạch này thì Charles de Gaulle của Pháp là cánh tay đắc lực duy nhất trong phe đồng minh của Mỹ trên mọi vùng biển trên thế giới, đặc biệt là ở châu Á-Thái Bình Dương.

Chiếc mẫu hạm nguyên tử Charles de Gaulle có gần 2000 thuỷ thủ cộng với 700 nhân viên bay, hoàn toàn độc lập về hỏa lực tác chiến trong vòng 50 ngày, trừ thực phẩm cho thủy thủ đoàn là phải cung ứng thường xuyên.

Tàu chở trực thăm Izumo của Nhật Bản ở cảng YokosukaBản quyền hình ảnhREUTERS TV
Image captionTàu chở trực thăng Izumo của Nhật Bản ở cảng Yokosuka

Từ khi được đưa vào hoạt động năm 2001, đây là lần đầu tiên Charles de Gaulle đi thật xa với dàn hoả lực mạnh chưa từng có, một đội tàu chiến yểm trợ gồm các tàu chống ngầm và soái hạm Mistral.

Về phía Mỹ, ngày 24/11 vừa qua, hàng không mẫu hạm nguyên tử USS Ronald Reagan đã cập cảng Hong Kong và hiện có mặt trong vùng thay cho chiếc Carl Vinson phải trở về San Diego để sửa chữa định kỳ.

Để hiểu Phương Tây và Mỹ đang tính toán gì tại đây, ta cần xem các động thái của Nga và Trung Quốc.

Sự chuẩn bị lực lượng của Trung Quốc và Nga

Chắc chắn là Trung Quốc không dại dột gì trông cậy vào lực lượng hải quân với duy nhất một hàng không mẫu hạm Liêu Ninh hiện có, kém cả hiệu quả và hỏa lực cũng như thiếu kinh nghiêm tác chiến trầm trọng so với phương tây.

Hàng không mẫu hạm Liêu Ninh được mua lại của Ukraine. Tuy nhiên, Trung Quốc đã thử nghiệm hàng không mẫu hạm Type-001A đóng mới trong nước và đang chế tạo tàu sân bay thế hệ mới của Trung Quốc Type 002, truyền thông nước này đưa tin.

Trung Quốc cũng không thể trông đợi gì ở đồng minh duy nhất nhưng hay chỉ chờ cơ hội để đâm sau lưng họ.

Hơn nữa, chỉ số kinh tế hiện nay của Nga cho thấy Nga đang ở mức tương đương với Tây Ban Nha tại châu Âu và thua xa Pháp và Đức, nghĩa là thuộc về khối các quốc gia nghèo.

Hàng không mẫu hạm Liêu Ninh cùng tàu và máy bay chiến đấu tham gia tập trận trên Biển Đông, 4/2018Bản quyền hình ảnhVCG
Image captionHàng không mẫu hạm Liêu Ninh cùng tàu và máy bay chiến đấu tham gia tập trận trên Biển Đông, 4/2018

Với hơn 56 chiếc tàu ngầm động cơ diesel và năm tàu ngầm hạt nhân, liệu Trung Quốc đủ tự tin về sức mạnh quân sự tại Biển Đông, Biển Hoa Đông và eo biển Đài Loan?

Nếu sau các cuộc gặp gỡ Tập – Trump, bàn cờ chính trị vẫn tồi tệ, Mỹ không chịu nhượng Trung Quốc trên Biển Đông, hay ngăn cản Một Vành đai, Một Con đường hoặc cố ý tiếp tay cho bà Thái Anh Văn hướng Đài Loan về phía độc lập trước ngày bầu cử lại tổng thống năm 2020, thì sức mạnh quân sự của Trung Quốc trên biển sẽ được thể hiện như thế nào?

Câu nói đùa “thận trọng như quân đội Pháp”, ý nói quân đội Pháp nhát, bởi vì Pháp đã học nhiều bài học quý giá khi đánh nhau với những kẻ yếu hơn họ.

Cuộc chiến Điện Biên Phủ là một ví dụ. Tình hình cũng có phần trùng hợp với những gì đang diễn ra trên Biển Đông hiện nay.

Đôi lúc, chúng ta có nghe nói đến một loại vũ khí gần như vô địch nhưng ít ai biết rõ, đó là bom xung điện từ (Electromagnetic Pulse – EMP).

Thật ra, tất cả các nước tiên tiến đều đã nghiên cứu để có những hiểu biết cơ bản về loại bom EMP, nhưng Nga mới là nước đã thử nghiệm thành công đầu tiên bom “ép phê EMP”, còn gọi là E-bom, do công trình nghiên cứu 60 năm về trước của nhà bác học Andrei Sakharov và các cộng sự Athshuler, Voitenko và Bichenko.

Góc nhìn từ Pháp: Việt Nam cần vũ khí điện tử tối tân

Pháp đã hai lần thử nghiệm sức mạnh của EMP khi cho nổ bom hạt nhân trên tầm cao 100 km ở Polynésie Français.

Mỹ từ năm 1960 đã có hơn 10 lần thử nghiệm, họ kích hoạt một bom hạt nhân từ không gian 400 km, bắn đi từ đảo Johnson gần Hawaii và họ biết rất rõ cách có thể xóa sổ một lực lượng hùng hậu trên biển hay một số vệ tinh tình báo làm cho đối phương trở nên mù lòa trong cuộc chiến.

Duy chỉ có lực lượng tầu ngầm là có thể thoát khỏi tầm tấn công của bom EMP.

Dường như hiện tại Trung Quốc đang suy nghĩ nhiều về con đường này khi liên tục tìm cách tập bắn hạ các vệ tinh của chính họ, trên biển và trên đất liền và phát triển các thiết bị ngầm như xây dựng một Vạn lý Trường thành dưới lòng Biển Đông.

Chưa biết “mèo nào cắn mỉu nào” khi cuộc chiến thật sự xảy ra, nhưng chắc chắn kẻ chiến thắng sẽ là kẻ thống trị thế giới trong thế kỷ 21.

Trước đó thì mọi đồn đoán về sức mạnh cũng chỉ là lời đồn đoán mà thôi.

Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả, một cựu kỹ sư về công nghệ quốc phòng Pháp, hiện sống tại Paris.

Xem thêm bài về Biển Đông:

Biển Đông: ‘Cảnh giác TQ sau sự cố Nga-Ukraine’

ASEAN làm gì nếu có xung đột ở Biển Đông?

Biển Đông: TQ nâng cấp danh mục quân sự

Philippines-TQ sẽ ‘sớm hợp tác ở Biển Đông’?

ASEAN tránh đụng TQ trên bầu trời Biển Đông?

Categories: Biển Đông | Leave a comment

my va bien dong

Dai su My: Washington co chien luoc '3 mui nhon' rat ro tai Bien Dong hinh anh 2

Đại sứ Mỹ tại Việt Nam khẳng định Washington có chiến lược “ba mũi nhọn” rất rõ ràng tại Biển Đông và tranh chấp chủ quyền không ảnh hưởng đến những dự án hợp tác giữa hai nước.

Trong chuyến công tác tại TP. HCM tuần trước, Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Daniel Kritenbrink đã dành cho Zing.vn cuộc trò chuyện riêng xoay quanh chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Washington. Đến nay, với một số sáng kiến đã công bố, chiến lược an ninh – kinh tế này đang từng bước bộc lộ những đường nét rõ ràng hơn, song vẫn chưa thể xóa đi nhiều hoài nghi trong bối cảnh Trung Quốc đang nỗ lực cạnh tranh ảnh hưởng.

Đại sứ Kritenbrink nhấn mạnh tương lai của Mỹ gắn liền với an ninh và thịnh vượng của khu vực và muốn xây dựng quan hệ vững chắc, mang tính xây dựng với các đối tác “mạnh, độc lập và thành công” như Việt Nam. Ông cũng cho rằng tranh chấp Biển Đông không ảnh hưởng đến những dự án hợp tác giữa hai nước.

– Chiến lược “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương Tự do và Rộng mở” được đưa ra từ cuối năm ngoái, song hiện vẫn còn nhiều hoài nghi về cam kết của Washington. Ông có thể giải thích rõ ràng hơn về những gì mà Mỹ sẽ thực hiện tại khu vực?

– Như Tổng thống Donald Trump nói rõ tại Hội nghị CEO APEC năm ngoái ở Đà Nẵng, tương lai của nước Mỹ gắn trực tiếp với hòa bình, thịnh vượng và an ninh của khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Trong tầm nhìn của chúng tôi, khu vực này được định hình bởi quan hệ đối tác giữa các quốc gia vững mạnh, độc lập tự chủ và thành công.

Tại Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, Mỹ tìm kiếm đối tác chứ không phải bá quyền, không tìm kiếm quốc gia vệ tinh, quốc gia phụ thuộc. Chúng tôi tìm kiếm những đất nước như Việt Nam, cùng chia sẻ tầm nhìn của chúng tôi và cùng chia sẻ những lợi ích từ một khu vực ổn định – nơi tất cả các nước đều tuân thủ đúng luật chơi, không chịu sự cưỡng ép và bắt nạt, có thể đưa ra những quyết định của riêng họ.

Tôi cũng muốn nhấn mạnh một điều: Chính quyền Tổng thống Trump thường nói về chính sách đối ngoại “Nước Mỹ trước tiên”. Tuy nhiên, “Nước Mỹ trước tiên” không có nghĩa là nước Mỹ đơn độc. Tầm nhìn của Tổng thống Trump về tương lai của nước Mỹ – tự do và thịnh vượng – phụ thuộc vào quan hệ đối tác của chúng tôi với các quốc gia tuyệt vời trên toàn thế giới, trong đó bao gồm quan hệ đối tác mà Mỹ đang xây dựng với Việt Nam.

Dai su My: Washington co chien luoc '3 mui nhon' rat ro tai Bien Dong hinh anh 5

– Những chương trình như “EDGE châu Á” cũng như các sáng kiến khác trong khuôn khổ chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương mà Mỹ công bố đang được tiến hành đến đâu rồi?

– Mùa hè rồi, Ngoại trưởng Mike Pompeo công bố các trụ cột kinh tế liên quan đến chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương mà Tổng thống Trump công bố năm ngoái. “EDGE châu Á” là một trong số sáng kiến kinh tế đó.

EDGE là tên viết tắt của sáng kiến “Thúc đẩy Phát triển và Tăng trưởng thông qua Năng lượng” tại châu Á. Chiến lược của Mỹ là kết hợp giữa nguồn lực chính phủ với vốn và chuyên môn trong khu vực tư nhân, từ đó hỗ trợ các quốc gia như Việt Nam giải quyết nhu cầu về năng lượng.

Nhu cầu về năng lượng của Việt Nam là rất lớn và ngày càng tăng, liên quan trực tiếp đến câu hỏi liệu Việt Nam có thể tiếp tục tăng trưởng kinh tế, duy trì an ninh năng lượng và môi trường bền vững. Nước Mỹ với những chiến lược như EDGE hay đạo luật BUILD (Đạo luật Sử dụng hiệu quả hơn các khoản đầu tư phát triển – PV) có thể giúp ích. Và đây là cách chúng tôi làm điều đó:

Tại hội thảo vừa qua (hội thảo về tiềm năng phát triển điện khí và khí hóa lỏng Việt Nam, ngày 6/12 tại TP. HCM – PV) đã tập hợp những công ty năng lượng lớn nhất nước Mỹ cùng với nhiều chuyên gia. Họ có thể mang đến vốn, chuyên môn và phương pháp làm việc để hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng ở Việt Nam, bao gồm cơ sở hạ tầng năng lượng liên quan đến khí hóa lỏng.

Cùng lúc đó, chính phủ Mỹ cũng có thể đóng góp vai trò của mình. Chẳng hạn, Cơ quan Thương mại và Phát triển Mỹ (USTDA) đang chi hàng triệu đô-la cho việc nghiên cứu tính khả thi (của các dự án đầu tư) tại Việt Nam. Thông qua đó, chính phủ Việt Nam có thể quyết định địa điểm đặt kho cảng tiếp nhận khí hóa lỏng, cách thức phát triển năng lượng gió và năng lượng mặt trời, cách phát triển công nghệ pin để hỗ trợ lưới điện… Cơ quan Phát triển Quốc tế Mỹ (USAID) cũng đang hỗ trợ Việt Nam xây dựng Kế hoạch phát triển năng lượng số 8, giúp Việt Nam thiết lập lộ trình đảm bảo an ninh năng lượng.

Chính phủ cùng dòng vốn từ khu vực tư nhân của Mỹ có thể hỗ trợ các quốc gia như Việt Nam phát triển. Đó là ví dụ hoàn hảo cho thấy chiến lược kinh tế của Mỹ tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương là gì.

Dai su My: Washington co chien luoc '3 mui nhon' rat ro tai Bien Dong hinh anh 6

– Dường như với chiến lược mới, Mỹ nhấn mạnh đòn bẩy từ khu vực tư hơn là khu vực công, vì sao vậy?

– Chúng tôi cho rằng Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương có nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng vô cùng lớn. Không một quốc gia nào đủ sức một mình đáp ứng nhu cầu này. Nguồn vốn duy nhất đủ sức cung ứng chính là khu vực tư nhân toàn cầu, trong đó bao gồm nhiều công ty tại Mỹ. Đó là cách duy nhất để các nước trong khu vực giải quyết được nhu cầu về đầu tư và cơ sở hạ tầng.

Bên cạnh đó, bằng cách tập trung vào dòng vốn từ khu vực tư nhân, mọi quốc gia có thể bảo đảm được chủ quyền, độc lập và quyền tự do lựa chọn trong quá trình này. Những nước vay nợ quá nhiều từ chính phủ nước ngoài thường cuối cùng phải thỏa hiệp về độc lập và chủ quyền.

Toàn bộ chiến lược “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương Tự do và Rộng mở” của Mỹ là dành cho việc xây dựng quan hệ vững chắc, mang tính xây dựng với các đối tác mạnh, độc lập và thành công như Việt Nam. Tương lai của Mỹ gắn liền với khu vực phát triển nhanh, năng động nhất thế giới này, cũng là một trong những khu vực quan trọng nhất với Mỹ.

– Mỹ nói tương lai của mình gắn liền với khu vực nhưng lại rút khỏi Hiệp định TPP, thỏa thuận từng được kỳ vọng tạo nên khu vực thương mại tự do lớn nhất thế giới. Liệu có cơ hội nào để Washington quay trở lại TPP khi ông Trump cũng đã để ngỏ khả năng này?

– Tôi sẽ để những thảo luận đó lại cho tổng thống vì, như bạn đã thấy, tổng thống từng bình luận công khai về vấn đề đó trong quá khứ. Chỉ đạo của tổng thống dành cho chúng tôi là tập trung vào quan hệ song phương tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, đảm bảo quan hệ kinh tế và thương mại với từng đối tác được điều chỉnh đúng đắn.

– Có thể thấy thời gian qua, việc giảm thiểu thâm hụt thương mại với các nước là một trong những ưu tiên hàng đầu của chính quyền Trump. Với Việt Nam thì như thế nào thưa ông?

– Tại Việt Nam, quan hệ về kinh tế và thương mại lúc này đối với chúng tôi quan trọng hơn bao giờ hết. Kim ngạch thương mại hai chiều đã đạt 58 tỷ USD/năm và tiếp tục tăng. Việt Nam là một trong những thị trường xuất khẩu tăng trưởng nhanh nhất của Mỹ trên toàn thế giới. Nơi đây có vô số cơ hội để các công ty Mỹ tham gia hỗ trợ Việt Nam phát triển trong các lĩnh vực như năng lượng, hàng không, chăm sóc sức khỏe, công nghệ thông tin. Đó đều là những lĩnh vực có tiềm năng phát triển rất lớn.

Dĩ nhiên cũng còn tồn tại nhiều thách thức. Thâm hụt thương mại đang tăng, đạt mức 38 tỷ USD. Chúng tôi cần nỗ lực nhiều hơn để khuyến khích Việt Nam mua thêm các sản phẩm đẳng cấp thế giới từ Mỹ để giải quyết thâm hụt. Chúng tôi cũng có những quan ngại chính sách về các vấn đề như luật an ninh mạng, giá điện và ôtô. Chúng tôi tự tin rằng các vấn đề này có thể đạt được tiến triển thông qua duy trì đối thoại.

Tôi xin nhấn mạnh rằng quan hệ thương mại Việt – Mỹ hiện quan trọng hơn bao giờ hết. Mức độ đầu tư của Mỹ đang rất cao. Như một diễn giả cấp cao vừa mô tả, đầu tư Mỹ tại Việt Nam có tầm quan trọng mang tính then chốt. Mỹ là một trong những nhà đầu tư lớn nhất ở Việt Nam. Đặc biệt về phương diện chất lượng đầu tư, vị diễn giả đó nói Mỹ đang đứng vị trí số 1.

Dai su My: Washington co chien luoc '3 mui nhon' rat ro tai Bien Dong hinh anh 8

– Trong hai năm qua, Mỹ đã thực hiện ít nhất 9 “hoạt động tự do hàng hải” (FONOP) ở Biển Đông. Một cựu quan chức Bộ Quốc phòng Mỹ nhận định: “Thời Obama, Mỹ có chiến lược cho Đông Nam Á nhưng không có FONOP. Thời Trump, Mỹ có FONOP nhưng chẳng có chiến lược cho khu vực. FONOP là cần thiết nhưng không đủ để đảm bảo lợi ích của Mỹ”. Ông bình luận gì về chính sách của Mỹ tại Biển Đông thời gian qua?

– Chiến lược của Mỹ tại Biển Đông tôi phải nhấn mạnh là đã rõ như gương.

Thứ nhất, Mỹ rất chủ động về mặt ngoại giao với các đối tác như Việt Nam và những quốc gia có cùng tư duy trong khu vực. Các nước trong khu vực muốn tranh chấp được giải quyết một cách hòa bình và tuân thủ đúng luật pháp quốc tế. Tuyên bố chủ quyền của các nước cần dựa trên luật pháp quốc tế. Tất cả các nước cần được hưởng quyền tự do hàng hải và hàng không. Có thể thấy, về mặt ngoại giao, những hoạt động chúng tôi đang rất mạnh mẽ và thông điệp của chúng tôi rất rõ ràng.

Thứ hai, Mỹ rất chủ động trong việc xây dựng năng lực an ninh và quốc phòng của các đối tác trên toàn khu vực, trong đó có Việt Nam.

Riêng tại Việt Nam, chúng tôi đã chi gần 100 triệu USD để nâng cao năng lực quốc phòng, đặc biệt là phương diện hàng hải, cụ thể là lực lượng cảnh sát biển. Các bạn sẽ tiếp tục nhìn thấy sự chủ động của Mỹ trong khía cạnh này, không chỉ riêng với Việt Nam mà còn với nhiều đối tác khác như Philippines, Malaysia và Indonesia.

Thứ ba, Mỹ sẽ tiếp tục tập trung vào những hoạt động và năng lực của mình. Chúng tôi thường xuyên tiến hành các hoạt động tự do hàng hải và hiện diện để chứng tỏ rằng Mỹ, cũng như mọi quốc gia, dưới luật pháp quốc tế, đều được hưởng một số quyền nhất định và chúng tôi sẽ thực hiện các quyền này.

Mỹ cũng tiếp tục đầu tư phát triển năng lực quốc phòng để thực thi và bảo vệ các quyền của chúng tôi.

Một lần nữa, tôi muốn nhấn mạnh chiến lược của Mỹ là chiến lược đa khía cạnh. Chiến lược tập trung vào ba mũi nhọn mà tôi đã đề cập. Tôi nghĩ rằng toàn khu vực đều thấy rõ lập trường của Mỹ trong vấn đề Biển Đông.

– Liệu tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông có ảnh hưởng đến những dự án hợp tác giữa Mỹ và Việt Nam hay không, chẳng hạn như các dự án khai thác dầu khí?

– Tôi không nghĩ vậy. Mỹ đã nói rất rõ ràng về chính sách của mình với Biển Đông, chẳng hạn như tuyên bố của các nước cần phải dựa trên luật quốc tế, tranh chấp phải được giải quyết một cách hòa bình theo luật quốc tế, tất cả quốc gia phải tuân thủ luật quốc tế khi tiến hành các hoạt động.

Chúng tôi đã nói rất rõ rằng tất cả các bên, bao gồm Mỹ, đều có thể hoạt động ở bất cứ nơi nào luật quốc tế cho phép. Chúng tôi tin rằng nguyên tắc chung được áp dụng cho tất cả các bên cũng như các doanh nghiệp.

Dai su My: Washington co chien luoc '3 mui nhon' rat ro tai Bien Dong hinh anh 11

– Liên quan đến chuyện hợp tác khai thác ở Biển Đông thì tôi muốn hỏi về dự án sản xuất điện từ khí khai thác ở mỏ Cá Voi Xanh, mỏ khí có trữ lượng lớn nhất Việt Nam hiện tại. Hiện dự án này đã được triển khai đến đâu rồi?

– Tôi nghĩ hôm nay có lẽ tốt hơn là tôi không nên nói về cá nhân một công ty hay một dự án nào (Cá Voi Xanh là dự án hợp tác với tập đoàn dầu khí ExxonMobil của Mỹ – PV). Điều tôi có thể nói là nhiều công ty lớn nhất, đẳng cấp thế giới của Mỹ đang có mặt tại đây và phối hợp với các đối tác Việt Nam trên nhiều lĩnh vực. Nhiều dự án đang được bàn bạc, chúng tôi ủng hộ những dự án này và hy vọng chúng sẽ được triển khai.

Tôi tin tưởng rằng Mỹ và các công ty Mỹ sẽ trở thành những đối tác rất thân thiết của Việt Nam. Tại sao chúng tôi làm vậy? Chúng tôi đầu tư vào sự thành công của Việt Nam vì chúng tôi nghĩ thành công của Việt Nam là lợi ích của Mỹ cũng như của thế giới.

– Hiện Việt Nam đang đối mặt với việc thiếu hụt nguồn cung điện, từ năm 2015 đã phải nhập khẩu. Ông nghĩ việc sản xuất điện từ khí hóa lỏng có vai trò thế nào đối với an ninh năng lượng của Việt Nam?

– Tôi nghĩ khí hóa lỏng có thể và nên đóng vai trò quan trọng đối với nhu cầu năng lượng trong tương lai của Việt Nam. Việt Nam đang có nhu cầu rất lớn và ngày càng tăng về khí hóa lỏng, vì vậy lãnh đạo và người dân Việt Nam phải đối mặt với một số quyết định quan trọng có tác động lớn đến an ninh năng lượng cũng như khả năng duy trì tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Tôi nghĩ khí hóa lỏng mang lại rất nhiều cơ hội cho Việt Nam bởi vì chẳng hạn như Mỹ là nước có trữ lượng khí tự nhiên khổng lồ và chúng tôi đã xuất khẩu tài nguyên này đi khắp thế giới, dự kiến xuất khẩu sang Việt Nam.

Chúng tôi sẽ làm việc với Việt Nam để đảm bảo Việt Nam xây dựng cơ sở hạ tầng, thị trường và môi trường chính sách phù hợp để khí hóa lỏng có thể đóng vai trò quan trọng trong việc giúp Việt Nam giải quyết nhu cầu năng lượng. Than vẫn sẽ đóng vai trò quan trọng nhưng nếu chúng ta nghĩ về những mục tiêu như duy trì an ninh năng lượng, tăng trưởng kinh tế một cách bền vững với môi trường thì tôi nghĩ khí hóa lỏng là lựa chọn hoàn hảo.

Dai su My: Washington co chien luoc '3 mui nhon' rat ro tai Bien Dong hinh anh 13

– Đầu năm nay, lần đầu tiên kể từ 1975 chúng ta chứng kiến một tàu sân bay của Mỹ ghé thăm Việt Nam. Liệu năm sau có chuyến thăm tương tự không?

– Chúng tôi vô cùng vui mừng vì chuyến thăm thành công của tàu USS Carl Vinson. Tôi nghĩ đây là biểu tượng vĩ đại cho quan hệ đối tác ngày càng phát triển giữa Việt Nam và Mỹ, bao gồm sự hợp tác chặt chẽ trong lĩnh vực an ninh. Tôi tin tưởng những chuyến ghé thăm của các tàu hải quân Mỹ sẽ được duy trì thường xuyên và trở thành một phần quan trọng trong hợp tác an ninh giữa hai nước.

Song nói chung, quan hệ của chúng ta tập trung vào việc tăng cường năng lực cho Việt Nam, trong đó có năng lực của lực lượng cảnh sát biển, lực lượng gìn giữ hòa bình, bao gồm các y bác sĩ của bệnh viện quân y 175 vừa được cử đến làm nhiệm vụ tại Nam Sudan, cũng như hợp tác trong các vấn đề khác như Triều Tiên.

– Ông nói Mỹ đang làm việc để tăng cường năng lực quân sự của Việt Nam, giúp Việt Nam chủ động hơn trong việc theo đuổi các lợi ích của mình. Ông có thể giải thích rõ hơn không? Điều này có đồng nghĩa với việc sẽ có các hợp đồng mua bán vũ khí?

– Như tôi vừa nói, Mỹ và Việt Nam đang hợp tác trong nhiều lĩnh vực trong đó có nâng cao năng lực an ninh, đặc biệt là lực lượng cảnh sát biển Việt Nam.

Chẳng hạn, trong năm vừa qua, Mỹ đã hỗ trợ cung cấp một số tàu thuyền cho lực lượng cảnh sát biển Việt Nam. Điều này giúp phía Việt Nam nắm bắt tốt hơn những gì đang diễn ra trong lãnh thổ của mình và tuần tra lãnh thổ hiệu quả hơn. Chúng tôi đồng thời hỗ trợ huấn luyện và nhiều khía cạnh khác nữa để Việt Nam có thể nâng cao năng lực an ninh của mình.

Dĩ nhiên chúng tôi không phải là đối tác duy nhất của Việt Nam mà còn nhiều đối tác khác cùng chí hướng đang hỗ trợ Việt Nam. Chúng tôi hoan nghênh Việt Nam đảm trách một vai trò lớn hơn cả trong khu vực và trên trường quốc tế. Và chúng tôi rất tự hào được trở thành đối tác của các bạn trên con đường này.

– Có thông tin về hợp tác chia sẻ tình báo giữa Việt Nam và Mỹ, ông có thể cho biết chi tiết hơn không?

– Mỹ hợp tác với một số quốc gia trong khu vực để đảm bảo họ có thể thấu hiểu những gì đang diễn ra trên lãnh thổ của mình. Như tôi vừa đề cập, Mỹ đang đầu tư vào việc nâng cao năng lực an ninh của các quốc gia trong khu vực. Chúng tôi nghĩ rằng điều này sẽ nâng ngưỡng xung đột và khiến xung đột khó xảy ra hơn. Nếu các nước biết rõ những gì đang diễn ra trong lãnh thổ và có năng lực tự tuần tra lãnh thổ của họ, chúng tôi tin rằng cuối cùng khu vực sẽ ổn định hơn.

– Xin cảm ơn ngài đại sứ!

Đại sứ Kritenbrink: Mỹ không nhấn chìm đối tác trong biển nợ

Đại sứ Mỹ tại Việt Nam tái khẳng định cam kết của Washington ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương trước sự cạnh tranh của “Vành đai, Con đường” của Trung Quốc.

Phó tổng thống Mỹ: Biển Đông không thuộc riêng nước nào

Tuyên bố của Phó tổng thống Mỹ Mike Pence được xem là lời thách thức đối với yêu sách chủ quyền phi lý của Trung Quốc ở Biển Đông.

Vũ Mạnh – Thanh Danh thực hiện

Ảnh: Liêu Lãm. Đồ họa: Nhân Lê

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Hợp tác an ninh ở Biển Đông: Không ai có thể tồn tại ‘riêng một mình’

Hợp tác an ninh ở Biển Đông: Không ai có thể tồn tại ‘riêng một mình’

Tại hội thảo “Thúc đẩy hợp tác an ninh biển trên Biển Đông”, phó đại sứ Anh cùng đại diện các nước nhất trí rằng hợp tác là giải pháp giúp Biển Đông duy trì hòa bình và ổn định.

Trong bài phát biểu khai mạc hội thảo “Thúc đẩy hợp tác an ninh biển trên Biển Đông” diễn ra ngày 4/12, ông Steph Lysaght, phó đại sứ Anh tại Việt Nam, nhấn mạnh tầm quan trọng của quan hệ đối tác và hợp tác quốc tế trong một thế giới phức tạp với xu hướng hành động đơn phương đang nổi lên.

“Quan hệ đối tác là vấn đề cốt lõi mà chúng ta sẽ thảo luận ngày hôm nay. Có câu nói rằng ‘không ai là một hòn đảo, tự tại riêng một mình mình’. Điều này cũng đúng với các quốc gia. Tuy nhiên, xu hướng tiếp cận và hành động đơn phương đối với các vấn đề chính đang được phản ánh ở Đông Nam Á”, ông nói.

Theo ông, ngày càng ít cam kết đối với các hoạt động đa phương và quan hệ đối tác để giải quyết những vấn đề lớn nhất. Các tổ chức đa phương cũng đang gặp khó khăn trong việc tìm kiếm sự đồng thuận và giải pháp.

Hop tac an ninh o Bien Dong: Khong ai co the ton tai 'rieng mot minh' hinh anh 1
Phó đại sứ Anh tại Việt Nam Steph Lysaght phát biểu khai mạc tại hội thảo. Ảnh: Hương Ly.

“Chúng ta ở đây hôm nay để thảo luận vấn đề này qua lăng kính an ninh hàng hải ở Đông Nam Á. Đó là một vấn đề đa chiều và quan trọng, liên quan đến câu hỏi lớn hơn mà chúng ta phải đối mặt, đó là liệu các nước có đủ cam kết đối với các quy tắc dựa trên hệ thống quốc tế hay không.

Do đó, điều quan trọng là các diễn đàn như hôm nay góp phần khẳng định rằng các quy tắc dựa trên hệ thống quốc tế hoạt động hiệu quả. Nếu nơi nào luật pháp quốc tế chưa hoạt động, thì chúng ta có thể khiến nó hoạt động”, phó đại sứ Anh nói thêm.

Với sự hợp tác đồng tổ chức của Học viện Ngoại giao (DAV), Đại sứ quán Anh và Đại sứ quán Australia, hội thảo có sự tham dự của hơn 100 đại biểu đại diện gần 30 phái đoàn ngoại giao tại Việt Nam cùng các chuyên gia và học giả trên nhiều lĩnh vực.

Qua ba phiên thảo luận, các đại biểu đã chia sẻ kinh nghiệm, góc nhìn và đi đến nhất trí rằng thúc đẩy hợp tác giữa các nước dựa trên tinh thần thượng tôn pháp luật quốc tế sẽ giúp cho khu vực Biển Đông nói riêng và thế giới nói chung trở nên hòa bình, ổn định và thịnh vượng hơn.

Hop tac an ninh o Bien Dong: Khong ai co the ton tai 'rieng mot minh' hinh anh 2
Các đại biểu tại phiên thảo luận thứ nhất của hội thảo “Thúc đẩy hợp tác an ninh biển ở Biển Đông”. Ảnh: Hương Ly.

Trả lời phỏng vấn tại hội thảo, Đại sứ Australia tại Việt Nam Craig Chittick cho biết đã chia sẻ kinh nghiệm thành công của nước này trong việc hòa giải tranh chấp ranh giới trên biển với Timor Leste năm 2017.

“Quá trình hòa giải không chỉ mang lại kết quả tốt đẹp cho hai nước Australia và Timor Leste, mà còn là minh chứng rằng chúng ta có thể sử dụng luật pháp để giải quyết được những tranh chấp một cách hòa bình. Các nước như Malaysia và Nhật Bản cũng đã chia sẻ về kinh nghiệm tương tự của chính nước họ”, Đại sứ Chittick nói.

“Đây là cách mà các nước trong khu vực hỗ trợ lẫn nhau để thúc đẩy quá trình thượng tôn pháp luật mà các nước cần tuân thủ. Từ đó, các nước có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông có thể xem xét để rút ra giải pháp mang tính lâu dài và dựa trên luật pháp quốc tế, đảm bảo hòa bình, ổn định trong khu vực”, ông Chittick nói thêm.

Hop tac an ninh o Bien Dong: Khong ai co the ton tai 'rieng mot minh' hinh anh 3
Hội thảo có sự tham dự của hơn 100 đại biểu đại diện gần 30 phái đoàn ngoại giao tại Việt Nam cùng các chuyên gia và học giả trên nhiều lĩnh vực. Ảnh: Hương Ly.

Theo bà Phạm Lan Dung, phó giám đốc Học viện Ngoại giao, hội thảo thể hiện tinh thần chủ động và trách nhiệm của Việt Nam trong việc bảo vệ hoà bình, trật tự khu vực và luật pháp quốc tế. Dự kiến sau hội thảo, các bên tham gia sẽ hợp tác xuất bản nghiên cứu trên tạp chí khoa học quốc tế.

Đây là lần thứ ba hội thảo được Học viện Ngoại giao và Đại sứ quán Anh phối hợp cùng các đối tác tổ chức, với lần đầu tiên sự kiện diễn ra năm 2016. Trọng tâm của hội thảo về an ninh hàng hải và nỗ lực ủng hộ hệ thống quốc tế dựa trên pháp luật.

Việt Nam phản đối Đài Loan tập trận bắn đạn thật trên Biển Đông

Việc Đài Loan bất chấp phản đối của Việt Nam tổ chức tập trận bắn đạn thật tại đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa là hành động xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam.

VN yêu cầu TQ chấm dứt ngay việc xây dựng mới trái phép ở Hoàng Sa

Việt Nam kiên quyết phản đối Trung Quốc xây dựng trái phép cấu trúc mới tại đá Bông Bay thuộc chủ quyền của Việt Nam và yêu cầu nước này không tái diễn hành động tương tự.

Hương Ly

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Hai cuộc đối đầu ở biển Đông?

Hai cuộc đối đầu ở biển Đông?

Một biểu hiện của sự hiếu chiến, tiếp tục thể hiện tư tưởng bành trướng của Bắc Kinh trên Biển Đông: Đại tá không quân kiêm chủ tịch Viện Hợp tác và An toàn Hải dương Trung Quốc Đai Xu vừa trình lên chính quyền Bắc Kinh đề nghị triển khai tàu chiến chặn tàu Mỹ ở biển Đông.

Tại hội nghị thường niên của tờ Thời báo Hoàn cầu hôm 8-12, ông Dai Xu tuyên bố: “Nếu tàu chiến Mỹ tiếp tục đi vào vùng biển của Trung Quốc, tôi đề nghị triển khai hai chiến hạm, trong đó một chiếc có nhiệm vụ chặn tàu Mỹ, chiếc còn lại đâm vào đối phương”.

Lý do mà Đại tá Dai đề nghị là: tự do hàng hải mà Mỹ ủng hộ trên thực tế là hành động khiêu khích chống lại Trung Quốc và “can thiệp chủ quyền” của nước này.  Ông Dai lớn tiếng: “Bắc Kinh chưa bao giờ gây ảnh hưởng đến tự do hàng hải của Washington trong vùng biển quốc tế nên Mỹ cũng không nên đi vào vùng biển Trung Quốc”.

Tại hội nghị do Hoàn Cầu tổ chức, các chuyên gia quân sự Trung Quốc nhận định, tình hình Biển Đông sẽ căng thẳng hơn trong năm 2019. Ông Huang Jing, trưởng khoa nghiên cứu quốc gia và khu vực tại Trường ĐH Ngôn ngữ và Văn hóa Bắc Kinh, cho rằng, với sự can thiệp của Mỹ, giờ đây có hai cuộc đối đầu ở biển Đông: một là giữa Trung Quốc và Mỹ, hai là giữa Trung Quốc và các nước khác. Ông Huang Jingnói : “Trung Quốc đã thúc đẩy các nguyên tắc hành động ở biển Đông cùng với các nước ASEAN. Nếu điều này được triển khai, Mỹ sẽ mất thế chủ động”.

Về vấn đề Đài Loan, ông Dai Xu cho rằng nếu tình hình trở nên căng thẳng, Bắc Kinh sẽ đẩy nhanh tốc độ thống nhất Đài Loan. Theo ông Dai, Trung Quốc không nên e ngại mà hãy chuẩn bị và chờ cơ hội chiến lược.

Mỹ chưa có phản ứng chính thức, nhưng lâu nay trước các hành động gây tranh cãi của Trung Quốc trên Biển Đông, lập trường của chính quyền Trump là nhất quán.Trong 70 năm qua, Mỹ duy trì sự hiện diện đều đặn ở Biển Đông, không tăng giảm quá nhiều.

Mỹ phản đối mạnh mẽ yêu sách “chủ quyền” của Trung Quốc với hầu hết Biển Đông, cũng như việc Bắc Kinh bồi lấp hàng trăm héc ta đảo nhân tạo để củng cố yêu sách phi lý, phi pháp ấy. Theo đó Mỹ thường xuyên tiến hành các hoạt động bảo vệ tự do hàng hải ở Biển Đông để thách thức các tuyên bố của Trung Quốc, thúc đẩy tự do hàng hải qua vùng biển quốc tế nơi một nửa số lượng tàu thuyền quốc tế chạy qua, chuyên chở hàng ngàn tỷ USD hàng hóa mỗi năm.

Lực lượng Hải quân Mỹ ủng hộ các quy tắc, chuẩn mực đã góp phần thúc đẩy sự phát triển thịnh vượng của các nền kinh tế châu Á. Tham mưu trưởng Hải quân Hoa Kỳ khẳng định: “Chúng tôi sẽ luôn ở đó. Và chúng tôi sẽ sẵn sàng bênh vực những nước nào bị hành lên hành xuống trong đấu tranh, khi cần”.

Mặc dù Trung Quốc và ASEAN đãđạt được tiến bộ mới trong tiến trình đàm phán bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC), nhưng để đi đến bộ quy tắc cuối cùng còn một chặng đường dài. Bắc Kinh đang phải gồng mình chống lại cuộc chiến thương mại với Mỹ và tìm cách hấp thụ cú sốc xung đột với Washington.

Nếu giảm căng thẳng trên Biển Đông với các nước láng giềng có thể đẩy nhanh việc ký kết hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực, giảm bớt nguy cơ bị Mỹ cô lập.Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã đề xuất tiến hành tuần tra chung, tập trận chung và thăm dò khai thác chung trên Biển Đông với các nước ASEAN.

Chỉ có Việt Nam, nước duy nhất phản đối việc Trung Quốc xây dựng đảo nhân tạo (bất hợp pháp, trên các cấu trúc địa lý trong quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam) và quân sự hóa các đảo này. Hai nước có thể mâu thuẫn về COC, bởi Việt Nam yêu cầu bộ quy tắc ứng xử này phải có tính ràng buộc về pháp lý theo luật pháp quốc tế, còn Trung Quốc lại luôn phản đối.

Về vấn đề này Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo tuyên bố, Mỹvà Việt Nam cần chung tay duy trì tự do hàng hải, tự do hàng không ở Biển Đông.

Nhìn tổng thể, cục diện địa chính trị ở Biển Đông hiện nay khá mong manh, bất chấp việc Trung Quốc đã thành công trong việc đe dọa các nước nhỏ. Tuy nhiên xu thế hợp tác với Mỹ là tất yếu. Chẳng hạn Philippines đã tổ chức tập trận chung với Mỹtrên Biển Đông, nơi Trung Quốc cũng yêu sách, với sự hiện diện của một tàu sân bay Mỹ.Hải quân Philippines cũng tham gia cuộc tập trận đa quốc gia Vành đai Thái Bình Dương 2018 cùng với Indonesia, Malaysia và Singapore.

Đến hiện tại, các nước ASEAN đang phải tìm kiếm các biện pháp chống lại hành vi hung hăng, bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông bằng cách tập trung phát triển sức mạnh phòng thủ ven biển.Việt Nam, Philippines, Indonesia và Malaysia đều đã mở rộng khả năng bảo vệ bờ biển cũng như các hoạt động nhằm đối phó với sự leo thang quân sự của Bắc Kinh trong khu vực.

Điểm mấu chốt là Mỹ sẽ không bao giờ chấp nhận hiện trạng Trung Quốc duy trì các tiền đồn quân sự trên đảo, đá mà Bắc Kinh mới chiếm đóng. Còn hành động mà đại tá không quân Trung Quốc đe đọa sẽ đâm trực diện tầu Mỹ thì các chuyên gia quân sự Mỹ cho rằng đó là… “trò trẻ con”.

https://www.facebook.com/plugins/comments.php?app_id=&channel=https%3A%2F%2Fstaticxx.facebook.com%2Fconnect%2Fxd_arbiter%2Fr%2FLviKjJ9cymB.js%3Fversion%3D43%23cb%3Df3b973486af2f6c%26domain%3Dbiendong.net%26origin%3Dhttp%253A%252F%252Fbiendong.net%252Ff80d56d4524b1c%26relation%3Dparent.parent&color_scheme=light&container_width=664&height=100&href=http%3A%2F%2Fbiendong.net%2Fdam-luan%2F25197-hai-cuoc-doi-dau-o-bien-dong.html&locale=vi_VN&sdk=joey&skin=light

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Blog at WordPress.com.