Biển Đông

Báo cáo điều tra gây sốc của Philippines

Philippines công bố báo cáo điều tra về vụ tàu Trung Quốc (9/6) đâm chìm tàu cá Philippines ở bãi Cỏ Rong thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, cho rằng tàu Trung Quốc không chủ động thực hiện các biện pháp tránh va chạm trong vụ đâm tàu Gem-Ver 1.

Báo cáo điều tra gây sốc của Philippines

Lực lượng tuần duyên Philippines và Cơ quan hàng hải Philippines (6/7) công bố báo cáo điều tra liên quan vụ tàu Trung Quốc đâm chìm tàu Gem-Ver 1 ở bãi Cỏ Rong thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Báo cáo cho rằng Trung Quốc không chủ động thực hiện các biện pháp tránh va chạm trong vụ đâm tàu Gem-Ver 1 và không hỗ trợ 22 ngư dân lúc tàu chìm.

Các nhà điều tra nêu rõ tàu Trung Quốc ban đầu rời đi sau cú va đâm nhưng bất chợt dừng lại rồi quay ngược về nơi vừa xảy ra va chạm khoảng 50 m. Điều này cho thấy thủy thủ đoàn Trung Quốc nhận thức được việc ngư dân Philippines gặp nạn. Tuy nhiên, báo cáo cho biết, thay vì giải cứu các nạn nhân của mình, tàu Trung Quốc tắt đèn và di chuyển tiếp. Các thủy thủ Philippines được một tàu cá Việt Nam giải cứu nhiều giờ sau đó.

Báo cáo cũng khẳng định, hành động không cung cấp hỗ trợ cho người gặp nạn trên biển này của tàu Trung Quốc vi phạm Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS) và Công ước quốc tế về an toàn sinh mạng con người trên biển (SOLAS). Theo báo cáo, vào thời điểm xảy ra vụ va đâm, bầu trời đầy sao, tầm nhìn rõ ràng và biển lặng.

Báo cáo kết quả điều tra của Philippines cũng chỉ đề cập một “tàu cá Trung Quốc không xác định”, chứ không phải tàu Yuemaobinyu 42212 như Đại sứ quán Trung Quốc tại Manila tuyên bố trước đó. Nhóm điều tra cũng không khẳng định đó là tàu cá thông thường hay tàu dân quân biển của Trung Quốc. Ngoài ra, kết quả điều tra phân loại vụ chìm tàu Gem-Ver 1 là “sự cố hàng hải rất nghiêm trọng”, nhưng không kết luận liệu đó có phải là do tàu Trung Quốc cố tình hay không.

Đáng chú ý, báo cáo cho rằng Lực lượng tuần duyên Philippines (PCG) đã làm đúng nhiệm vụ và những gì chúng tôi tìm được là đầy đủ. Ngoài ra, báo cáo khẳng định tàu cá của Philippines cũng có thiếu sót như: không duy trì quan sát khi đang di chuyển; tuyển dụng máy trưởng không có giấy phép; chở số người vượt quá quy định; ra khơi khi giấy phép đánh bắt cá thương mại đã hết hạn; 22 thành viên thủy thủ đoàn tàu Gemvir-1 chưa được đào tạo bài bản trước khi ra khơi đánh bắt cá.

Philippines chưa thể kiện Trung Quốc

Người phát ngôn của Tổng thống Philippines Salvador Panelo (7/7) giải thích lý do Chính phủ Philippines chưa khởi tố các thuyền viên của tàu Trung Quốc đâm chìm tàu Gem-Ver 1, cho rằng Manila cần được xem báo cáo điều tra của phía Trung Quốc trước khi tiến hành khởi tố dân sự hoặc hình sự đối với chủ và các thuyền viên tàu Trung Quốc.

Theo ông Salvador Panelo, Manila “cũng phải kiểm tra những phát hiện từ phía Trung Quốc vì nếu họ thừa nhận các thuyền viên có lỗi, họ phải chịu trách nhiệm”, cho rằng Philippines cần biết rõ lập trường của Trung Quốc về vụ việc trước khi có hành động kế tiếp; đồng thời cho biết, chủ tàu cá Trung Quốc có thể bị kiện dân sự vì đã gây thiệt hại cho tàu Gem-Ver 1 trong khi các thuyền viên tàu Trung Quốc có thể bị khởi tố về một số cáo buộc hình sự như khinh suất gây ra tổn thất.

Tuy nhiên, ông Salvador Panelo nhấn mạnh, vấn đề là Philippines “không biết phải kiện ai” và Manila phải xác định danh tính của thuyền trưởng và các thuyền viên Trung Quốc.

Giới nghị sỹ Philippines lên án mạnh mẽ báo cáo điều tra

Nhiều nghị sỹ đảng đối lập chỉ trích báo cáo mới đây của Philippines về vụ tàu cá bị đâm chìm ở Biển Đông, khẳng định chính quyền đang cố hạ thấp vụ việc. Theo Thượng nghị sĩ Sherwin Gatchalian, Chính phủ nên đệ trình vụ kiện chống lại tàu Trung Quốc gây ra vụ đâm chìm tàu cá Philippines Gem-Ver 1 và sau đó bỏ rơi 22 thuyền viên trên biển; đồng thời nhấn mạnh, “thực tế rất rõ ràng là họ bị bỏ lại ở đó và gần như đã chết. Họ không hề nhận được sự giúp đỡ nào từ người đâm mình. Nói cách khác, chúng ta phải tìm kiếm công lý cho ngư dân của mình”. Thượng nghị sĩ Sherwin Gatchalian cho rằng vụ việc có thể được đệ trình lên tòa án Philippines vì tính nghiêm trọng của nó; đồng thời kêu gọi chính chính phủ mạnh tay để ngăn chặn các vụ việc tương tự lặp lại bằng cách yêu cầu các bên liên quan đứng ra chịu trách nhiệm.

Trong khi đó, 2 nghị sỹ Carlos Zarate và Eufemia Cullamat thuộc đảng Bayan Muna nói rằng cuộc điều tra vụ tai nạn cho thấy chính quyền đang muốn hạ thấp vụ việc. Hai nghị sỹ trên trích dẫn báo cáo điều tra, cho rằng tàu Trung Quốc đâm vào tàu Gem-Ver khi biển lặng và không có chướng ngại, thủy thủ đoàn của họ bỏ rơi ngư dân của chúng ta. Nhưng thay vì lên án và bắt họ phải chịu trách nhiệm, Duterte và các quan chức của ông ta hành động như thể họ là bị cáo của Trung Quốc vậy.

Đáng chú ý, Thượng nghị sĩ Panfilo Lacson đặt nghi vấn liệu những người điều tra có kiểm tra về thiệt hại của con tàu để xác minh vụ đâm là cố ý hay vô ý hay không.

Tuy nhiên, có những ý kiến trái triều về kết quả điều tra vụ việc. Hiệu trưởng trường Đại học Hàng hải và Luật biển Philippines, ông Jay Batongbacal nhận định đây là kết quả điều tra công bằng với cả hai phía và đã được tiến hành dựa trên những dữ liệu thực tế. Ông cũng cho biết kết quả này chỉ tập trung vào vấn đề an toàn hàng hải trong vụ tai nạn.

Ông Paul Reichler, luật sư trưởng của Philippines trong vụ kiện Trung Quốc cho rằng chính phủ Trung Quốc phải chịu trách nhiệm pháp lý vụ đâm chìm tàu và bỏ mặc ngư dân Philippines ở bãi Cỏ Rong. Theo luật sư Reichler, vụ việc rõ ràng là sự vi phạm luật pháp quốc tế của Trung Quốc. Vi phạm trầm trọng thêm khi Trung Quốc dường như không thực hiện bất kỳ thủ tục pháp lý nào đối với thủ phạm của hành vi gây hấn này. Bên cạnh đó, luật sư Reichler cũng lập luận rằng tàu Trung Quốc “can thiệp vào quyền lợi” của ngư dân Philippines “bằng cách phá hủy tàu”. Theo đó, Trung Quốc không chỉ vi phạm Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS) mà còn một công ước khác về an toàn hàng hải. Ông Paul Reichler nhấn mạnh, sự hung hăng của tàu Trung Quốc và việc Cảnh sát biển và chính quyền Trung Quốc không có bất kỳ hành động nào để ngăn cản hành vi hung hăng đều là vi phạm công ước về an toàn hàng hải. Ngoài ra, luật sư Reichler lưu ý rằng trong hầu hết các trường hợp khác, “nếu đây là một tai nạn trên biển” và nếu hai tàu cá tư nhân va chạm nhau thì “đó là vấn đề giữa hai bên tư nhân”. Tuy nhiên, theo luật sư Reichler trong trường hợp này, sự bảo vệ thường xuyên của Cảnh sát biển Trung Quốc đối với các tàu cá của họ, đặc biệt là khi xâm nhập bất hợp pháp vào vùng biển tranh chấp thì cần truy cứu trách nhiệm của nhà nước. Do đó, Chính phủ Trung Quốc phải chịu trách nhiệm pháp lý về thiệt hại đã gây ra và về hành vi xâm nhập vùng biển tranh chấp, chứ không chỉ là các chủ sở hữu hoặc người điều khiển con tàu Trung Quốc gây thiệt hại.

Advertisements
Categories: Biển Đông | Leave a comment

Thuyền trưởng Philippines bất ngờ thay đổi phát ngôn khẳng định tàu TQ cố ý đâm chìm sau khi gặp Bộ trưởng Nông nghiệp

Thuyền trưởng Philippines bất ngờ thay đổi phát ngôn khẳng định tàu TQ cố ý đâm chìm sau khi gặp Bộ trưởng Nông nghiệp

Minh Khôi | 

Thuyền trưởng Philippines bất ngờ thay đổi phát ngôn khẳng định tàu TQ cố ý đâm chìm sau khi gặp Bộ trưởng Nông nghiệp
Thuyền trưởng tàu cá Philippines và Bộ trưởng Nông nghiệp trong cuộc họp báo. Ảnh: Rappler.

Cuộc đối thoại giữa Bộ trưởng Nông nghiệp Philippines Emmanuel Piñol và thuyền trưởng tàu cá Philippines được tổ chức dưới hình thức đối thoại kín có cảnh sát bao quanh.

Thuyền trưởng tàu đánh cá Philippines Gem-Ver đã thay đổi phát ngôn vào thứ Tư (19/6) về vụ chìm tàu sau cuộc họp kín với Bộ trưởng Nông nghiệp Emmanuel Piñol.

Quay trở lại với khẳng định trước đó của mình, thuyền trưởng Gem-Ver Junel Insigne hiện không chắc chắn liệu tàu Trung Quốc có cố tình đâm chìm tàu ​​của họ ở khu vực Bãi Cỏ Rong (thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam) hay không.

Thuyền trưởng tàu cá Philippines đưa ra tuyên bố mới này trong một cuộc họp báo cùng Bộ trưởng Nông nghiệp Piñol.

Tuyên bố mới của thuyền trưởng tàu cá Insigne được đưa ra sau khi Piñol tổ chức một cuộc đối thoại kín, tại một địa điểm được bao quanh bởi các cảnh sát được vũ trang.

Thuyền trưởng Philippines bất ngờ thay đổi phát ngôn khẳng định tàu TQ cố ý đâm chìm sau khi gặp Bộ trưởng Nông nghiệp - Ảnh 1.

Cuộc đối thoại kín giữa Bộ trưởng Nông nghiệp và thuyền trưởng tàu cá Philipphines diễn ra với sự bảo vệ của các cảnh sát được vũ trang. Ảnh: Rappler.

“Tôi bối rối vì tôi thực sự không biết liệu chúng tôi có thực sự bị đâm không”, thuyền trưởng tàu cá Philippines nói.

Insigne cho biết mình đã bị cuốn theo cảm xúc và đó là lý do ban đầu khiến ông chắc chắn một tàu Trung Quốc đã đâm chìm họ.

Cũng trong cuộc họp báo, Bộ trưởng Nông nghiệp Philippines cho biết, họ không thể xác định liệu vụ va chạm có phải là cố ý hay không. “Họ không thể xác định xem sự việc là do cố ý hay vô tình vì theo Richard Blaza, có thể tàu Trung Quốc đã không nhìn thấy các ngư dân Philippines”, ông nói.

Vài ngày trước đó, thuyền trưởng Philippines đã khẳng định việc tàu Trung Quốc đâm vào thuyền ngư dân Philippines là cố ý. “Đó là cố ý vì nếu không, họ sẽ quay lại và giúp chúng tôi”, Insigne nói trong một cuộc phỏng vấn trước đó với các phóng viên.

Đây là diễn biến mới nhất trong sự cố ở Biển Đông kể từ cuộc va chạm năm 2012 giữa các tàu Philippines và Trung Quốc tại bãi cạn Scarborough.

Trước đó, Bộ trưởng Quốc phòng Delfin Lorenzana cũng đã thay đổi phát ngôn. Từ việc lên án vụ việc một tuần trước, ông Lorenzana hôm thứ Tư cho rằng, đó chỉ là một tai nạn, lặp lại lập trường của Trung Quốc.

Ngày 17/6, Tổng thống Duterte cho rằng sự việc chỉ là “sự cố hàng hải”, khiến dấy lên chỉ trích rằng chính phủ Duterte đang áp dụng chính sách thân thiện với Trung Quốc.

Vấp phải chỉ trích, chính phủ Philippines hôm thứ Tư đã tập trung sự chú ý vào việc giúp đỡ các ngư dân tàu cá bị đâm chìm, cung cấp lương thực, các khoản vay và trợ cấp bằng tiền mặt.

“Chúng tôi rất biết ơn những người đã giúp đỡ chúng tôi. Như vậy là đủ cho nhu cầu hàng ngày rồi”, thuyền trưởng tàu cá Philippines Insigne nói.

Khi được hỏi liệu đây có phải là tất cả những gì họ muốn không, và liệu họ có tiếp tục tìm kiếm công lý, Insigne trả lời: “Không cần nữa”.

theo Trí Thức Trẻ

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Người Philippines cảm kích trước hành động tử tế của tàu Việt Nam: Người bạn gặp trong lúc khó khăn hoạn nạn mới thực sự là bạn

Người Philippines cảm kích trước hành động tử tế của tàu Việt Nam: Người bạn gặp trong lúc khó khăn hoạn nạn mới thực sự là bạn

An An | 

Người Philippines cảm kích trước hành động tử tế của tàu Việt Nam: Người bạn gặp trong lúc khó khăn hoạn nạn mới thực sự là bạn
Ngư dân Philippines an toàn chuyển sang con tàu khác sau khi được tàu cá Việt Nam cứu giúp. Ảnh: AP

“Xin cảm ơn Việt Nam vì đã giải cứu những ngư dân Philippines khốn khổ – những người bị đâm bởi một chiếc thuyền TQ và bị bỏ lại trôi nổi giữa đại dương”, 1 cư dân mạng viết.

Mới đây, ngư dân JP Gordiones chia sẻ với tờ ABS-CBN News (Philippines) rằng, đêm khuya ngày 9/6, hầu hết các thành viên thủy thủ đoàn của tàu GEM-VIR1 đã ngủ say, anh bỗng bừng tỉnh vì sự hỗn loạn và la hét. Gordiones và các thành viên khác đã lao thẳng ra mũi thuyền – khoảnh khắc trước khi một tàu nước ngoài đâm vào tàu họ.

Tôi nghĩ đó chỉ là một giấc mơ nhưng hóa ra đó là sự thật“, Gordiones nói.

Trong khi đó, Ramil Gregorio – một thành viên khác – bị đánh thức và thấy mình chìm trong nước lạnh.

Khi tôi thức dậy, chúng tôi đã chìm xuống. Chúng tôi đã hét lên: “Cứu! Cứu!“, Gregorio nói.

Thuyền trưởng Junel Insigne cho biết, tàu cá Trung Quốc khi đó đã dừng lại một lúc và nháy đèn.

Họ thấy chiếc tàu đang chìm còn chúng tôi chới với trong nước“, ông nói thay vì giải cứu những ngư dân khốn khổ, tàu cá Trung Quốc đã chủ động quay ngược lại và vội vã rời đi, “Tôi nghĩ họ sẽ giúp chúng tôi nhưng thay vào đó họ lại bỏ rơi chúng tôi“.

Theo ông này, trong khi các ngư dân đang cố gắng bám trụ, họ đã nhìn thấy một tia hy vọng ở cách đó khoảng 8km.

Insigne yêu cầu Gordiones và Justine Pascual chèo một chiếc thuyền nhỏ để tìm kiếm sự giúp đỡ từ một tàu khác. Phải mất khoảng 2 giờ, họ đến được con tàu của các ngư dân Việt Nam.

Gordiones và Pascual ra hiệu rằng họ có đồng đội bị mắc kẹt trên biển. Các ngư dân Việt Nam sau đó đã đến hỗ trợ tàu cá bị đánh chìm của Philippines, giải cứu và tiếp tế thức ăn cho họ.

Họ đưa chúng tôi lên tàu của họ. Họ cho chúng tôi ăn, nước uống và chỗ nghỉ. Họ là những người đã giúp chúng tôi“, thuyền trưởng Insigne kể lại.

Khi được hỏi làm thế nào các ngư dân Philippines biết được đó là tàu Việt Nam. Insigne kể: “Tôi nói ‘Việt Nam? Philippines? Bạn bè”. Vì thế tôi biết họ là người Việt Nam“.

Trước hành động tàu cá Việt Nam cứu giúp 22 ngư dân Philippines gặp nạn, cộng đồng mạng Philippines đã liên tiếp gửi lời cảm ơn tới các thuyền viên Việt Nam trên mạng xã hội.

Cảm ơn Việt Nam! Các bạn là những người bạn đích thực!“,

Vẫn còn nhiều người tốt xung quanh“,

Chúng tôi, người Philippines cảm ơn các bạn vì đã cứu các ngư dân của chúng tôi“.

Họ đã dời lịch trình chỉ để giúp đỡ các ngư dân… Họ có một trái tim lớn và tốt bụng. Một lần nữa, chúng tôi rất biết ơn người Việt Nam (kèm thêm biểu tượng trái tim)“, các cư dân mạng khác chia sẻ.

Vô cùng cảm ơn Việt Nam! Các bạn là những người bạn thực sự của chúng tôi“.

Cảm ơn Việt Nam vì hành động tử tế của bạn!

Người bạn gặp trong lúc khó khăn hoạn nạn mới thực sự là bạn, xin cảm ơn, người hàng xóm Việt Nam tốt bụng“.

Thay mặt cho tất cả người dân Philippines, xin cảm ơn Việt Nam vì đã giải cứu những ngư dân Philippines khốn khổ – những người bị đâm bởi một chiếc thuyền Trung Quốc và bị bỏ lại trôi nổi giữa đại dương“.

Tôi rất tôn trọng người Việt Nam. Tôi có một vài người bạn Việt Nam khi còn làm việc ở Đài Loan và sự tôn trọng mà họ thể hiện với các dân tộc khác thật tuyệt vời“.

theo Trí Thức Trẻ

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Giới chuyên gia TQ: Những thách thức đối với chiến lược biển của Bắc Kinh

Giới chuyên gia TQ: Những thách thức đối với chiến lược biển của Bắc Kinh

Để hạn chế bị người dân trong nước và cộng đồng quốc tế chỉ trích về những hành vi trái phép trên Biển Đông, giới học giả và viện nghiên cứu của Trung Quốc đã tích cực đưa ra các nghiên cứu, viện dẫn “đổ lỗi” cho những yếu tố khách quan, buộc Trung Quốc phải có những hành động phi pháp trong khu vực.

Theo giới học giả Trung Quốc, biển chiếm khoảng 70% diện tích trái đất, chứa đựng ít nhất trên 65% nguồn tài nguyên thiên nhiên của trái đất, là nguồn năng lượng và khoáng sản quan trọng nhất trong tương lai gần của con người. Sự sinh tồn và phát triển của con người trong tương lai cho thấy biển vô cùng quan trọng, có thể nói “có biển sẽ hưng thịnh, mất biển sẽ suy vong”. Mặc dù Trung Quốc là một nước lớn có cả biển và đất liền, có hơn 18.000 km bờ biển và hơn 6.000 đảo, song do các nguyên nhân chủ quan và khách quan, lâu nay quyền lực trên đất liền tương đối mạnh, quyền lực trên biển tương đối yếu thế. Xét về góc độ chiến lược, chiến lược biển của Trung Quốc luôn ở trong tình cảnh tương đối bị động. Vì vậy, tình cảm của người dân Trung Quốc đối với biển vô cùng phức tạp. Xét từ góc độ lịch sử, biển vừa mang lại sự giàu có và vinh quang, vừa mang đến tai họa và sỉ nhục cho người Trung Quốc, còn xét từ hiện thực và tương lai thì đầy rẫy cơ hội và thách thức.

Việc nước Trung Quốc mới được thành lập năm 1949 đánh dấu một đất nước chịu đủ nỗi khổ về biển kể từ cận đại tới nay cuối cùng đã đứng dậy, giành được độc lập theo ý nghĩa thật sự. Việc giành được ghế chính thức của Liên hợp quốc năm 1971 đánh dấu sự thừa nhận phổ biến của cộng đồng quốc tế đối với chủ quyền của Trung Quốc (bao gồm quyền lực trên biển). 70 năm qua, Trung Quốc luôn dốc sức thay đổi cục diện lạc hậu bế quan tỏa cảng, không coi trọng biển trước đây, cũng đã đạt được những thành tựu khiến người khác ngưỡng mộ, song do hàng loạt nguyên nhân chủ quan và khách quan, trong các vấn đề liên quan đến biển, Trung Quốc vẫn chưa thể thoát khỏi tình thế bế tắc về chiến lược, vẫn là một nước lớn còn khó xử. Sự khó xử này thể hiện ở hai mặt sau: Một là xét địa vị thực lực khách quan, Trung Quốc nên là một nước lớn về biển, song lại là một nước nhỏ về quyền lực trên biển, ít có quyền phát ngôn đối với các vấn đề về biển, điểu này rất không tương xứng với địa vị nước lớn của Trung Quốc. Hai là quyền và lợi ích trên biển (bao gồm lãnh thổ biển) liên tục xảy ra tranh chấp, bất cứ nước nào dường như cũng đều dám bắt nạt, thách thức Trung Quốc, Trung Quốc dường như luôn rơi vào trạng thái đối phó bị động, phòng ngự tiêu cực. Sự hình thành tình thế khó xử này chủ yếu có nhân tố khách quan bên ngoài và nguyên nhân chủ quan bên trong.

Xét nhân tố khách quan bên ngoài, chủ yếu có ba điểm: (1) Môi trường địa chính trị biển của Trung Quốc rất xấu. So với các nước lớn trên thế giới hiện nay, môi trường địa chính trị biển của Mỹ tốt nhất, nó không gặp bất cứ trở ngại nào, tiếp giáp với ba đại dương (Thái Bình Dương, Đại Tây Dương và Bắc Băng Dương), các tuyến đường chiến lược trên biển vô cùng thông suốt; thứ hai là Nga, tiếp giáp với hai đại dương (Thái Bình Dương và Bắc Băng Dương); môi trường địa chính trị biển của Trung Quốc xấu nhất, chỉ tiếp giáp với một đại dương (Thái Bình Dương), hơn nữa trên các tuyến đường chiến lược hướng ra đại dương bị ngăn trở bởi nhiều quốc gia và khu vực có chế độ chính trị và ý thức hệ khác nhau, tuyến đường chiến lược trên biển vô cùng chật hẹp, dễ bị nước khác kiềm chế. Xét từ góc độ nào đó, với mặt hướng ra biển nhỏ hẹp như vậy, có thể nói Trung Quốc “có biển mà không có đại dương”. (2) Còn nhiều vấn đề tàn dư của lịch sử, mâu thuẫn liên quan tới nhiều mặt. Đài Loan vẫn nằm ở nước ngoài, trở thành khiếm khuyết của quyền lực trên biển phía Đông Trung Quốc; ở Đông Hải (Biển Hoa Đông), Trung Quốc còn có tranh chấp đảo Điếu Ngư/Senkaku với Nhật Bản; ở Hoàng Hải tranh chấp với Hàn Quốc về bãi đá ngầm Socotra; ở Nam Hải (Biển Đông) tranh chấp cáo đảo với nhiều quốc gia; hơn nữa, tranh chấp về các đảo san hô này ngày càng có xu thế gay gắt. (3) Sức ép của hệ thống quốc tế do sự trỗi dậy của Trung Quốc mang lại. Trung Quốc trỗi dậy là sự kiện quan trọng nhất của cộng đồng quốc tế gần 30 năm qua, nó có những ảnh hưởng to lớn tới cục diện và trật tự quốc tế, song cũng khó tránh khỏi đứng trước sức ép lớn của hệ thống quốc tế. Đặc biệt là những năm gần đây, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, nhịp độ trỗi dậy của Trung Quốc đã bị “đẩy nhanh” nên dẫn tới sức ép của hệ thống quốc tế cũng tăng lên chưa từng có. Hiện sức ép lớn nhất đối với Trung Quốc là đến từ Mỹ. Sau cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, bá quyền đơn cực Mỹ suy yếu nhanh, mặc dù Mỹ vẫn có ảnh hưởng và kiểm soát lớn ở châu Á, song cùng với sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc ở châu Á, cuộc đọ sức giữa Mỹ và Trung Quốc về lợi ích hiện thực, địa chính trị và tranh giành quyền chủ đạo khu vực cũng trở nên gay gắt hơn, việc Mỹ đẩy mạnh mức độ kiềm chế đối với Trung Quốc đã hình thành sự phối hợp công khai với kiểu “dựa vào Mỹ kiềm chế Trung Quốc” của các nước xung quanh. “Chuỗi đảo thứ nhất, chuỗi đảo thứ hai” được Mỹ dày công xây dựng nhằm vào Trung Quốc hơn 60 năm trước lại phát huy tác dụng, các nước đồng minh của Mỹ trong chuỗi đảo như Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines, Indonesia và Singapore… tự nhiên được đẩy lên tuyến đầu. Không chỉ có vậy, một số trong những quốc gia này lại có tranh chấp quyền và lợi ích biển hoặc có xung đột lợi ích về biển với Trung Quốc, điều này đã tạo những cơ hội quý báu để Mỹ “gây hấn có định hướng” các chuỗi đảo, và tín hiệu trực tiếp của việc “gây hấn có định hướng” chính là “chiến dịch chuyển về phía Đông” và “quay trở lại châu Á” mà Mỹ cao giọng nhấn mạnh. Vì vậy, sự điều chỉnh chiến lược của Mỹ lần này cũng trở thành nguyên nhân quan trọng nhất khiến các vấn để biển xung quanh Trung Quốc hiện liên tiếp xảy ra.

Về nhân tố chủ quan bên trong, chủ yếu có hai điểm: (1) Nhận thức tổng thể về biển của Trung Quốc tương đối kém, quan niệm về quyền lực trên biển mờ nhạt. Do chịu ảnh hưởng của văn hóa quyền lực trên đất liền truyền thống, cộng với đóng cửa đất nước hàng trăm năm, người dân Trung Quốc vẫn khá xa lạ đối với biển, thiếu “tình cảm mãnh liệt” cần có. Người dân Trung Quốc có tình cảm rất sâu đậm đối với đất đai trên đất liền mà tổ tiên đã phải dùng mồ hôi và sinh mệnh để khai khẩn, ý thức gìn giữ đất đai vô cùng mạnh mẽ, song thiếu sự quan tâm đúng mức với lãnh thổ biển, quyền và lợi ích biển, thiếu “cảm giác đau khổ” cần có đối với phần lãnh thổ biển bị mất và quyền lợi biển bị xâm phạm. Ví dụ, trong cuộc điều tra năm 2010 của Cục Hải dương Quốc gia có một câu hỏi như sau: “Trung Quốc có lãnh thổ rộng lớn, tài nguyên phong phú, hơn nữa duy trì mối quan hệ hòa thuận với các nước láng giềng có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc tạo ra  môi trường bên ngoài tốt đẹp để phát triển kinh tế, vì vậy, việc tranh giành một số đảo nhỏ ở xa, không có người ở, khai thác gặp nhiều khó khăn không có mấy ý nghĩa”. Trên 60% số người được hỏi giữ thái độ trung lập và ủng hộ đối với vấn đề này, cho thấy ý thức bảo vệ của mọi người đối với lãnh thổ biển hết sức mờ nhạt. Ngoài ra, trong số những người được hỏi, chỉ có 10,7% biết đất nước có vùng biển quản lý rộng khoảng 3 triệu km2; 13% biết tổng chiều dài bờ biển; chỉ có 10,5% biến có trên 6500 đảo trên 500 m2; lần lượt có 5,4%, 4% và 4,2% hiểu chính xác các khái niệm như lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; phần lớn mọi người đều không hiểu nhiều về “Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển”; chỉ có 16,7% biết rõ biển chiếm khoảng 70% diện tích trái đất. Trong ý thức của nhiều người Trung Quốc, biển cách chúng ta rất xa, Tam Á ở Hải Nam đã là “chân trời góc biển”, thật không ngờ chúng ta còn có bãi ngầm Tăng Mẫu ở xa hơn. Sự mờ nhạt về ý thức biển dẫn tới việc xem nhẹ đối với quyền lực trên biển; sự xem nhẹ đối với quyền lực trên biển lại làm Trung Quốc chưa thật coi trọng việc xây dựng năng lực trên biển lại làm cho Trung Quốc chưa thật coi trọng việc xây dựng năng lực kiểm soát đối với biển (ví dụ xây dựng hải quân, thành lập cơ quan quản lý giám sát biển), và đây chính là điều chí mạng. (2) Chưa nắm bắt tốt một số thời cơ chiến lược nào đó. Do thiếu chiến lược lớn về biển có hệ thống, cộng thêm tư tưởng coi trọng quyền lực trên đất liền làm cho Trung Quốc đánh mất một số thời cơ chiến lược nào đó trong việc giành được và bảo vệ quyền và lợi ích biển, điều này lại làm cho tình cảnh khó khăn ở biển của Trung Quốc hiện nay thêm trầm trọng. Ví dụ, trong vấn đề đảo Điếu Ngư ở Đông Hải, Trung Quốc từng có cơ hội lợi dụng sự chủ động chiến lược và ưu thế hình thành nhân chuyến thăm bí mật của Nixon tới Trung Quốc năm 1972, dựa vào việc nhà cầm quyền Nhật Bản năm đó muốn thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc để đưa ra đúng lúc vấn đề chủ quyền đảo Điếu Ngư thuộc về Trung Quốc, vì sự hữu nghị lâu dài của nhân dân Trung – Nhật, Trung Quốc đã chủ động từ bỏ khoản bồi thường sau chiến tranh của Chính phủ Nhật Bản, do đó năm 1972 đã trở thành cơ hội tuyệt vời để giải quyết vấn đề đảo Điếu Ngư. Trong vấn đề đảo san hô ở Nam Sa (Trường Sa), Trung Quốc cũng có 3 cơ hội giải quyết vấn đề này với Việt Nam. Ba thời cơ này lần lượt là vào năm 1974, 1979 và 1988. Thời cơ đầu tiên là nhân uy lực còn lại của chiến thắng ở Tây Sa (Hoàng Sa) tiến về phía Nam giành lại các bãi đá san hô ở Nam Sa; thời cơ thứ hai có thể lợi dụng cuộc phản kích tự vệ đối với Việt Nam năm 1979, thu hồi Nam Sa; thời cơ thứ ba là nên mở rộng đúng lúc thành quả chiến đấu của cuộc hải chiến Trường Sa ngày 14/3/1988, đánh vào sự khiêu khích kiêu ngạo của Việt Nam, thu lại nhiều đảo san hô bị xâm chiếm. Trong khu vực các đảo san hô có tranh chấp, quyền kiểm soát thực tế có ý nghĩa hiện thực hết sức to lớn, nó có thể đảm bảo cho các cuộc đàm phán của đất nước. Song do hàng loạt nguyên nhân, Trung Quốc chưa nắm được những thời cơ do chiến lược tốt có thể giải quyết tình thế bế tắc ở biển.

Trước những “khó khăn và thách thức trên”, giới học giả Trung Quốc cho rằng, Bắc Kinh cần “rút kinh nghiệm của lịch sử, nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của biển, phá vỡ tình thế tiến thoái lưỡng nan ở biển bấy lâu nay”.

Thứ nhất, nâng cao nhận thức và bồi dưỡng tình cảm của người dân đối với biển, nỗ lực phát huy vai trò của người dân trong việc bảo vệ quyền và lợi ích trên biển. Nâng cao nhận thức của người dân đối với biển là một công trình hệ thống, cần sự nỗ lực chung của chính phủ và các bên trong xã hội. Nhìn chung, nhận thức của người dân Trung Quốc về biển tương đối thấp, trình độ nói chung cần được nâng lên, mức độ hiểu biết của phần đôgn người dân đối với biển khá thấp, thiếu nhận thức cơ bản đối với khoa học biển, điều này không phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, cũng không phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, cũng không phù hợp với yêu cầu thực thi chiến lược cường quốc biển của Trung Quốc. Để thay đổi tình trạng này, Trung Quốc cần phải ra sức tăng cường xây dựng văn hóa biển, phổ biến rộng rãi kiến thức về biển, nâng cao “tình cảm mãnh liệt” của người dân với biển. Mấy năm gần đây, cùng với sự trỗi dậy của Trung Quốc, mức độ quan tâm của người dân đối với biển được nâng lên nhiều, ngày càng có nhiều người bày tỏ ý thức và tình cảm mãnh liệt trong việc bảo vệ quyền và lợi ích biển. Đây là cơ sở tốt để Trung Quốc phát huy sức mạnh của lực lượng quần chúng nhân dân trong việc bảo vệ quyền và lợi ích biển. Xét thực tiễn ngoại giao hiện đại, các lực lượng quần chúng nhân dân đóng vai trò vô cùng đặc biệt trong các cuộc tranh chấp quốc tế, có lúc có thể đóng vai trò đặc biệt mà chính phủ không làm được. Trong các tranh chấp quyền và lợi ích biển cũng vậy, Trung Quốc có thể cân nhắc áp dụng phương pháp kết hợp giữa chính phủ và quần chúng nhân dân để kiện tụng và bảo vệ đối với phần lãnh thổ có tranh chấp. Ví dụ, có thể cân nhắc học hỏi các mô hình như “công trình hy vọng”, “công trình yêu nước” (gương điển hình người tốt việc tốt), thiết lập “công trình Nam Sa”, phát huy hết mức sức mạnh yêu nước trong dân chúng, một số đảo san hô không có người ở của Nam Sa do các lực lượng quần chúng nhân dân quyên góp tiền “đỡ đầu” được gọi tên bằng các địa danh. Ví dụ, đảo san hô được lực lượng quần chúng ở Bắc Kinh, Quảng Châu “đỡ đầu” có thể gọi là “đảo Bắc Kinh”, “đảo Quảng Châu”, người dân các khu vực có thể định kỳ tổ chức quyên góp tiền để gửi tới các đảo san hô này tiến hành các hoạt động bảo vệ môi trường biển hoặc khảo sát khoa học biển. Phương thức hoạt động bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các lực lượng quần chúng nhân dân phù hợp với phương thức tham gia các công việc quốc tế của các tổ chức quốc tế với thế giới hiện nay (ví dụ “Tổ chức hòa bình xanh”, “Tổ chức cấm đánh bắt cá voi quốc tế”…), dễ nhân được sự đồng tình và ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Hơn nữa, Trung Quốc còn có thể thông qua phương thức bảo vệ quyền lợi hợp pháp này tiến hành giáo dục chủ nghĩa yêu nước đối với người dân, để tình cảm yêu nước của người dân tìm được chỗ gửi gắm.

Thứ hai, vạch ra chiến lược lớn về biển phù hợp với tình hình đất nước, khiến Trung Quốc trong tương lai có phương hướng chiến lược đúng đắn rõ ràng đối với việc khai thác sử dụng biển. Về mặt khách quan, Trung Quốc có khiếm khuyết địa lý biển tự nhiên, phía Bắc tình từ quần đảo Aleutian, “chuỗi đảo thứ nhất” tính từ phía Nam tới Singapore “ôm chặt” đất nước Trung Quốc. Về tổng thể, Trung Quốc ở trong trạng thái bị bao vây. Muốn phá vỡ tình thế này, Trung Quốc phải có chiến lược lớn về biển lâu dài, giống như Peter Đại đế của nước Nga năm đó khăng khăng tìm đường ra biển, thực hiện mục tiêu chiến lược biển của Trung Quốc bằng sự nỗ lực của một hoặc bao thế hệ, thực hiện sự chuyển đổi từ nước lớn về biển thành cường quốc biển. Chiến lược lớn về biển cần bao gồm nhiều mặt, gồm các mục tiêu chiến lược như chính trị, kinh tế và quân sự, trong đó nhất định phải có sự thiết kế chiến lược phá vỡ vòng vây của “chuỗi đảo thứ nhất” không phải là chuỗi đảo phong tỏa Trung Quốc mà là tuyến phòng thủ thứ nhất để Trung Quốc bảo vệ an ninh lãnh thổ phía Đông. Có thể gọi nó là “vòng cung an ninh châu Á”. Vị trí của nó cơ bản trùng hợp với “chuỗi đảo thứ nhất”. Mục đích của việc lập “vòng cung an ninh Đông Á” là để xây dựng chiều sâu phòng ngự chiến lược, bảo vệ an ninh lãnh thổ phía Đông của Trung Quốc vì phần lãnh thổ này tập trung trên 60% của cải và là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa quan trọng của đất nước (ví dụ Bắc Kinh, Thượng Hải và Quảng Châu). Trong tương lai, các lực lượng trên biển của Trung Quốc sẽ thường xuyên hoạt động gần “chuỗi đảo thứ nhất” để các nước phương Tây đặc biệt là Nhật Bản thích ứng với sự thực này, chớ nên luôn kinh ngạc rằng “hải quân Trung Quốc lại một lần xuyên qua chuỗi đảo thứ nhất rồi!”.

Cuối cùng, ra sức duy trì và tăng cường quyền lực trên biển, tăng cường sức cạnh tranh trên biển. Quyền lực trên biển là nền tảng của cường quốc biển, không có quyền lực trên biển lớn mạnh thì không thể đảm bảo quyền và lợi ích biển của đất nước. Nhìn tổng quát lịch sử thế giới cận đại, các nước lớn đã trỗi dậy cơ bản đều là các cường quốc có quyền lực trên biển. Trong cuộc tranh giành lợi ích quốc gia, các cường quốc có biển luôn đạt được nhiều lợi ích nhất. Những kỳ tích Trung Quốc đạt được trong 30 năm cải cách mở cửa ở chừng mực rất lớn đều được lợi từ biển, bất kể thương mại, đầu tư quốc tế hay là đặc khu kinh tế ven biển đều không tách rời nguyên tố biển, và những điều này đều cần được bảo vệ bằng quyền lực trên biển hùng mạnh. Xét xu thế phát triển của Trung Quốc trong tương lai, nguồn tài nguyên trong nước hiện nay không thể đáp ứng yêu cầu cải thiện điều kiện sống của 1,4 tỷ người, vì vậy rất cần nguồn tài nguyên của bên ngoài và việc giành được nguồn tài nguyên bên ngoài cũng cần sự bảo vệ của quyền lực trên biển.

Xây dựng hải quân là bộ phận cấu thành quan trọng nhất trong sự cấu thành quyền lực trên biển. Từ khi nước Trung Quốc mới được thành lập đến nay, lực lượng hải quân đã giành được những thành tựu rất lớn, song vẫn chưa thật tương xứng với địa vị nước lớn về biển của Trung Quốc, vẫn còn khoảng cách lớn so với cường quốc hải quân số 1 thế giới. Đối với Trung Quốc, việc phát triển lực lượng hải quân hùng mạnh có hai ý nghĩa: Một là chọc thủng vòng vây chuỗi đảo, giành được tuyến đường chiến lược ở biển xa, là bộ phận cấu thành quan trọng tạo thành “vòng cung an ninh Đông Á”; hai là hình thành khả năng răn đe lớn, “khuất phục kẻ thù mà không cần chiến đấu”, bảo vệ hòa bình khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Vì lý do đó, về mặt tư tưởng chiến lược, Trung Quốc phải thay đổi sách lược phòng ngự tiêu cực ở biển gần, xây dựng hải quân thành lực lượng có khả năng hoạt động ở biển xa.

Từ lý luận quyền lực trên biển cho thấy những ý tưởng chiến lược này đều có tầm nhìn xa trông rộng, hải quân Trung Quốc quả thực phải có sự thiết kế chiến lược như vậy, nếu không sẽ có khả năng bị trói buộc ở biển gần. Bán kính tác chiến của hải quân Trung Quốc trong tương lai ít nhất nên mở rộng tới ngoài chuỗi đảo thứ nhất, phía Bắc nên tới quần đảo Ogasawara, phía Đông tới quần đảo Micronêxia, phía Tây tới biển Adaman. Đây không chỉ là nhu cầu bảo vệ an ninh quốc gia Trung Quốc mà còn là nhu cầu bảo vệ hòa bình khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Chỉ khi thực lực của hải quân Trung Quốc đạt tới bước tương xứng với sức mạnh đất nước thì mới có thể đạt được hiệu quả “không đánh mà chiến thắng kẻ địch”. Đặc biệt là trong vấn đề Nam Hải, chỉ khi Hạm đội Nam Hải có ưu thế tuyệt đối thì mới có thể mạo hiểm khiêu khích các nước có tranh chấp với Trung Quốc, nếu ưu thế không rõ rệt sẽ kích động dã tâm chạy đua vũ trang của họ, tìm cách dựa vào phương pháp mấy chiếc tàu chiến để khiêu khích Trung Quốc, tiếp tục xâm chiếm thậm chí tăng cường xâm chiếm lãnh thổ biển của Trung Quốc.

Nhìn chung, đây là những nhận định chủ quan, phiến diện của giới học giả Trung Quốc nhằm đánh lừa cộng đồng quốc tế. Để đạt được âm mưu độc chiếm toàn bộ Biển Đông, Trung Quốc sẽ không từ bỏ bất cứ thủ đoạn nào. Cộng đồng quốc tế, nhất là những nước có lợi ích ở Biển Đông cần đề phòng với âm mưu của Trung Quốc.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Philippines giận dữ khi Trung Quốc nói vụ chìm tàu trên Biển Đông bị “chính trị hóa”

Philippines giận dữ khi Trung Quốc nói vụ chìm tàu trên Biển Đông bị “chính trị hóa”

CHÂU Á

URL rút ngắn
 0  0

Người phát ngôn Tổng thống Philippines Salvador Panelo ngày 14.6 phản ứng lại phát ngôn của Bắc Kinh rằng Manila đang chính trị hóa vụ chìm tàu ở Biển Đông, Thanh Niên tham chiếu ABS-CBN khẳng định.

Tuyên bố được đưa ra nhằm đáp trả lại lời lẽ của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Cảnh Sảng liên quan đến vụ tàu cá Philippines bị chìm gần bãi Cỏ Rong trên Biển Đông vào tối 9.6.

“Chúng tôi không chính trị hóa vụ việc đó. Điều chúng tôi nhắm đến là hành động bỏ mặc [các ngư dân] chứ không phải là việc va chạm tàu. Tai nạn xảy ra ở vùng biển xa nhưng hành động bỏ mặc ngư dân là vi phạm Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS)”, ông Salvador Panelo nói với đài ABS-CBN.

Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Delfin Lorenzana cho biết tàu cá nước này bất ngờ bị “tàu Trung Quốc” đụng phải trong lúc đang neo đậu và bị chìm. Phía Trung Quốc sau đó rời khỏi hiện trường, bỏ rơi 22 ngư dân nhưng một tàu cá Việt Nam gần đó đã kịp thời cứu toàn bộ nạn nhân. Tuy nhiên, ông Lorenzana ngày 13.6 nói chưa rõ tàu gây va chạm có phải là tàu Trung Quốc hay không.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Cảnh Sảng nói đó chỉ là “tai nạn hàng hải thông thường”, đồng thời chỉ trích Philippines “chính trị hóa” vụ việc một cách vô trách nhiệm khi chưa làm rõ nguyên nhân.

“Không cần thiết phải có luật quốc tế về điều đó. Đó là hành động nhân văn khi chìa tay ra cứu người trong lúc nguy cấp”, ông Panelo phản pháo. Trước đó, người phát ngôn Tổng thống Philippines cảnh báo quan hệ ngoại giao song phương có thể bị cắt đứt nếu vụ va chạm được xác định là hành động cố ý của Trung Quốc.

Trả lời về việc Tổng thống Rodrigo Duterte đến nay vẫn chưa có bình luận gì, ông Panelo giải thích rằng nước này vẫn đang trong quá trình điều tra liệu đó có phải là tàu Trung Quốc hay không, đồng thời nhấn mạnh Tổng thống Duterte là người “rất cẩn trọng và phản ứng có cân nhắc”.

Philippines đã trao công hàm phản đối Trung Quốc sau tai nạn trong khi Đại sứ Trung Quốc tại Manila Triệu Giám Hoa nói chính quyền Bắc Kinh đang điều tra nghiêm túc và kỹ lưỡng vụ việc.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

BTQP Philippines: TQ đâm chìm tàu rồi hèn nhát bỏ chạy để mặc ngư dân, cảm ơn tàu Việt Nam giải cứu

BTQP Philippines: TQ đâm chìm tàu rồi hèn nhát bỏ chạy để mặc ngư dân, cảm ơn tàu Việt Nam giải cứu

Một tàu Philippines đã bị chìm hôm 8/6 sau khi va chạm với tàu Trung Quốc ở biển Đông – hãng ABS-CBN News (Philippines) đưa tin.

Bộ trưởng quốc phòng Delfin Lorenzana (Ảnh: ABS-CBN News)

Vụ và chạm đã khiến tính mạng của 22 ngư dân người Philippines trên tàu gặp nguy hiểm – Bộ trưởng quốc phòng Delfin Lorenzana ngày hôm nay, 12/6, cho biết.

Ông Lorenzana chỉ trích phía Trung Quốc đã bỏ mặc các ngư dân Philippines trên chiếc tàu số hiệu F/B GIMVER1 sau vụ va chạm trên biển Đông.

“Chúng tôi phản đối hành động của tàu đánh cá Trung Quốc khi ngay lập tức rời khỏi hiện trường sự cố và bỏ mặc 22 thuyền viên Philippines,” Bộ trưởng quốc phòng Philippines nói trong thông cáo báo chí.

“Chúng tôi lên án mạnh mẽ hành vi hèn nhát của tàu đánh cá Trung Quốc cùng thủy thủ đoàn của họ khi bỏ mặc các thủy thủ Philippines. Đây không phải là hành động được trông đợi từ những người có trách nhiệm và hữu nghị,” ông nói, cho biết tàu Philippines bị tàu Trung Quốc đâm vào khi đang thả neo.

Theo ông Lorenzana, một tàu đánh cá của Việt Nam trong khu vực đã xuất hiện và phối hợp giải cứu các ngư dân nước này.

“Chúng tôi cảm ơn thuyền trưởng và thủy thủ đoàn của tàu Việt Nam vì đã cứu tính mạng của 22 thuyền viên Philippines,” ông Lorenzana bày tỏ.

Bộ trưởng quốc phòng Philippines kêu gọi chính phủ khởi động một cuộc điều tra chính thức về sự cố ngày 8/6 và có phản ứng ngoại giao đối với Trung Quốc nhằm “ngăn chặn sự cố tương tự tái diễn”.

Trong những tháng qua, chính quyền tổng thống Rodrigo Duterte đã thể hiện quan ngại về sự xuất hiện dày đặc của các tàu thuyền Trung Quốc ở xung quanh các thực thể trên biển Đông. Manila cáo buộc hành động của Bắc Kinh làm leo thang căng thẳng trong khu vực và đe dọa an ninh nước này.

Quân đội Philippines nói kể từ tháng 1 năm nay, họ đã giám sát hơn 600 tàu Trung Quốc hiện diện gần đảo Thị Tứ (thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, hiện bị Philippines chiếm đóng trái phép-PV).

Những hình ảnh vệ tinh ghi được từ năm 2018 cũng cho thấy số lượng lớn tàu bè Trung Quốc hoạt động trên các vùng nước ở quần đảo Trường Sa.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Sự cần thiết phải đưa vấn đề an ninh biển ra thảo luận tại các diễn đàn an ninh khu vực

Sự cần thiết phải đưa vấn đề an ninh biển ra thảo luận tại các diễn đàn an ninh khu vực

An ninh biển là một bộ phận của an ninh quốc gia, khu vực và thế giới, có mối quan hệ chặt chẽ với sự phát triển hòa bình, ổn định và phát triển của các nước. Vì vậy, vấn đề này rất cần được các nước quan tâm, đưa ra thảo luận tại các diễn đàn an ninh quốc tế và khu vực.

Như chúng ta đã biết, hợp tác an ninh biển trong giai đoạn hiện nay trở lên cấp bách hơn bao giờ hết. Bởi vì, trong bối cảnh toàn cầu hóa, các vấn đề xảy ra tại bất kể địa điểm, hay quốc gia nào trên thế giới đều có thể ảnh hưởng tới các quốc gia khác hoặc ảnh hưởng đến toàn cầu. Việc vận chuyển hàng hoá bằng đường biển vẫn là phương thức chủ đạo trên toàn cầu hiện nay. Ước tính khoảng 90% lượng hàng hóa trên thế giới được vận chuyển bằng đường biển; với sự gia tăng về dân số và phát triển kinh tế như hiện nay, ước tính lượng hàng hoá vận chuyển bằng đường biển trong những năm 2030-2050 sẽ tăng gấp đôi về số lượng. Cho đến nay, mặc dù trên thế giới chưa có thuật ngữ chính thức được thừa nhận về an ninh biển, tuy nhiên khái niệm về “an ninh biển” có thể được hiểu là trạng thái ổn định, an toàn, không có các mối đe dọa xuất phát từ biển và các vùng đất đối với các hoạt động bình thường của các nước, các tổ chức, cá nhân trên biển hoặc các mối đe dọa từ biển đối với các hoạt động bình thường của các nước, các tổ chức, cá nhân trên đất liền.

Nội hàm của an ninh biển cũng giống như an ninh trên đất liền, bao gồm an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống. Các vấn đề an ninh truyền thống trên biển liên quan đến chiến tranh, xung đột, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trên biển. Trong khi, các vấn đề an ninh phi truyền thống trên biển bao gồm khủng bố, cướp biển, di dân bất hợp pháp, ô nhiễm môi trường biển, thảm họa thiên nhiên, tội phạm xuyên quốc gia… Trên thực tế, các tổ chức quốc tế và khu vực đã được thiết lập, để đẩy mạnh sự hợp tác và chia sẻ thông tin giữa các tổ chức và giữa các quốc gia để đảm bảo an ninh biển, như Tổ chức hàng hải quốc tế (IMO), Hiệp định Khu vực về chống cướp biển và cướp có vũ trang chống lại tàu thuyền tại châu Á (ReCCAP).

Đối với vấn đề giải quyết tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông, các bên liên quan cần tuân thủ luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), Tuyên bố Nguyên tắc 6 điểm của ASEAN về Biển Đông, hướng tới xây dựng Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) để giải quyết các vấn đề tranh chấp. Đây là một nội dung đặc biệt quan trọng vì nó sẽ là cơ sở pháp lý để các bên liên quan trao đổi giải quyết vấn đề trên biển. Trong điều kiện lập trường của các nước còn khác xa nhau thì Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 là chuẩn mực để các quốc gia đối chiếu, xem xét lại các yêu sách của mình cho phù hợp.

Nếu tất cả các bên liên quan đều giới hạn các yêu sách chủ quyền của mình trong các chuẩn mực của Công ước thì các bất đồng, tranh chấp trên Biển Đông sẽ sớm được giải quyết, đem lại lợi ích to lớn cho tất cả các bên cũng như lợi ích của hòa bình ổn định và thịnh vượng của cả khu vực. Đối với các vấn đề liên quan đến tự do hàng hải và quyền lợi của các bên cả ở trong và ngoài khu vực thì cần có sự tham gia rộng rãi của các quốc gia có liên quan. Việc duy trì bảo đảm an ninh trên Biển Đông hiện nay và trong thời gian tới sẽ phải giải quyết nhiều khó khăn, thách thức, đòi hỏi nỗ lực chung của tất cả các nước trong khu vực. Trong duy trì bảo đảm an ninh trên Biển Đông, các nước cần tuân thủ luật pháp quốc tế, giải quyết các tranh chấp, bất đồng thông qua thương lượng hòa bình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, xây dựng Biển Đông thành một khu vực hòa bình, ổn định và hợp tác, góp phần xây dựng môi trường hòa bình và thịnh vượng ở châu Á – Thái Bình Dương.

Đối với Việt Nam, quốc gia có ba mặt phía Đông, Nam và Tây Nam giáp biển, có bờ biển dài 3.260 km, có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; có gần 3.000 đảo lớn, nhỏ, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Do đó, an ninh biển có tầm quan trọng đặc biệt đối với Việt Nam về kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và môi trường.

Hiện nay có 4 “hồ sơ” chủ yếu ở Biển Đông liên quan tới Việt Nam, đó là: i) Tranh chấp chủ quyền quần đảo Hoàng Sa giữa Việt Nam và Trung Quốc. Các triều đại phong kiến Việt Nam đã quản lý quần đảo Hoàng Sa một cách hòa bình, liên tục từ thế kỷ 16. Năm 1956, Trung Quốc đã đánh chiếm cụm đảo phía Đông và năm 1974, tiếp tục dùng sức mạnh quân sự chiếm các đảo phía Tây quần đảo này của Việt Nam. Cả hai lần, Trung Quốc đều dùng vũ lực để chiếm đóng quần đảo này. ii) Khu vực cửa Vịnh Bắc Bộ. Sau khi ký Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá năm 2001, hai nước Việt Nam và Trung Quốc thống nhất sẽ đàm phán tiếp để phân định khu vực cửa vịnh. Đến nay hai bên đã qua 7 vòng đàm phán nhưng vẫn chưa thành công. Trong khi đang diễn ra đàm phán, Trung Quốc coi đây là vùng “tranh chấp” và đơn phương tiến hành các hoạt động khảo sát, thăm dò ở phía Tây đường trung tuyến “giả định” (nằm gần Việt Nam hơn). iii) Tranh chấp ở quần đảo Trường Sa liên quan đến 5 nước (Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Brunei) và một vùng lãnh thổ là Đài Loan. Tháng 3/1988, Trung Quốc đã dùng vũ lực chiếm đóng một số đảo ở quần đảo Trường Sa. iv) Yêu sách “đường chín đoạn” của Trung Quốc không có cơ sở pháp lý và không được quốc tế công nhận. Yêu sách này liên quan đến vùng thềm lục địa và chủ quyền, lợi ích của nhiều nước ven biển cũng như liên quan an ninh và tự do hàng hải quốc tế.

Quan điểm của Việt Nam là đối với vấn đề giải quyết tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông là các bên liên quan cần tuân thủ luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), Tuyên bố Nguyên tắc 6 điểm của ASEAN về Biển Đông, hướng tới xây dựng Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) để giải quyết các vấn đề tranh chấp. Đây là một nội dung đặc biệt quan trọng vì nó sẽ là cơ sở pháp lý để các bên liên quan trao đổi giải quyết vấn đề trên biển. Trong điều kiện lập trường của các nước còn khác xa nhau thì Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 là chuẩn mực để các quốc gia đối chiếu, xem xét lại các yêu sách của mình cho phù hợp. Nếu tất cả các bên liên quan đều giới hạn các yêu sách chủ quyền của mình trong các chuẩn mực của Công ước thì các bất đồng, tranh chấp trên Biển Đông sẽ sớm được giải quyết, đem lại lợi ích to lớn cho tất cả các bên cũng như lợi ích của hòa bình ổn định và thịnh vượng của cả khu vực.

Do các tranh chấp trên Biển Đông rất phức tạp nên cần phải thông qua đàm phán cả song phương và đa phương để giải quyết. Đối với tranh chấp trên biển chỉ liên quan đến hai bên, cần thực hiện đàm phán song phương để giải quyết. Đối với tranh chấp liên quan đến nhiều bên thì các bên liên quan phải ngồi lại với nhau để cùng giải quyết. Đối với các vấn đề liên quan đến tự do hàng hải và quyền lợi của các bên cả ở trong và ngoài khu vực thì cần có sự tham gia rộng rãi của các quốc gia có liên quan. Trong trường hợp này, nếu chỉ đàm phán song phương mà không có sự tham gia của các bên khác có thể dẫn đến sự hiểu lầm, nghi kỵ và làm cho đàm phán đi vào bế tắc.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng Mỹ tố thẳng ông Tập Cận Bình nuốt lời hứa về biển Đông

Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng Mỹ tố thẳng ông Tập Cận Bình nuốt lời hứa về biển Đông

Lãnh đạo quân đội Mỹ ngày 29/5 nói chủ tịch Trung Quốc tập Cận Bình đã nuốt lời hứa không quân sự hóa ở biển Đông, và kêu gọi “hành động tạp thể” để buộc Bắc Kinh chịu trách nhiệm.

Tướng Joseph Dunford, Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng Liên quân Mỹ (Ảnh: AFP)

Tướng Joseph Dunford, Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng Liên quân Mỹ, cho biết ông không kêu gọi các bên hành động quân sự, nhưng nhấn mạnh cần phải tăng cường thực thi luật pháp quốc tế.

“Vào cuối năm 2016, Chủ tịch Tập Cận Bình đã hứa với Tổng thống [Barack] Obama rằng họ (Trung Quốc) sẽ không quân sự hóa trên các đảo [ở biển Đông]. Vậy mà giờ đây chúng ta nhìn thấy những đường băng dài 10.000 foot (hơn 3km), các cơ sở tích trữ đạn dược, và các trang thiết bị phòng thủ tên lửa, phòng không được triển khai đều đặn,” ông Dunford nói trong bài phát biểu về an ninh và quốc phòng Mỹ tại Viện Brooking.

“Rõ ràng là họ đã từ bỏ cam kết đó (không quân sự hóa biển Đông).”

“Theo đánh giá của tôi, biển Đông không chỉ là những đống đá,” tướng Mỹ nói, đề cập các thực thể bị Trung Quốc áp đặt yêu sách chủ quyền phi lý, xâm chiếm và mở rộng trái phép để cho phép lưu trú các lực lượng quân sự cùng máy bay cỡ lớn.

“Những điều đang bị đe dọa ở biển Đông và những nơi có yêu sách chủ quyền như thế là các chuẩn mực, quy tắc quốc tế, luật pháp quốc tế và việc thực thi luật pháp,” ông nói. “Khi chúng ta bỏ qua những hành vi không tuân thủ quy định, quy tắc và tiêu chuẩn quốc tế, thì chúng ta đã tạo ra một tiêu chuẩn mới.”

“Điều cần thực hiện… là hành động tập thể rõ ràng nhằm vào những bên vi phạm quy tắc và chuẩn mực quốc tế. Họ cần phải chịu trách nhiệm bằng cách nào đó, nhằm ngăn chặn những vi phạm trong tương lai.”

Cho đến nay, Washington dường như thất vọng bởi những nỗ lực đã đưa ra chưa thể ngăn chặn sự bành trướng quân sự của Bắc Kinh trên biển Đông. Hải quân Mỹ tiến hành thường xuyên và định kỳ các cuộc tuần tra tự do hàng hải (FONOP) qua biển Đông, và tướng Dunford xác nhận hoạt động xây cất phi pháp của Trung Quốc trên các thực thể chiếm đóng đã bị chậm lại.

Tuy nhiên, ông nói, “Tôi cho rằng điều đó là bởi vì các đảo [nhân tạo] hiện đã được phát triển tới mức đủ khả năng quân sự theo yêu cầu mà Trung Quốc đặt ra”.

Trong tháng này, hai tàu khu trục USS Preble và USS Chung Hoon của Mỹ đã di chuyển vào vùng nước 12 hải lý của Đá Gạc Ma và Đá Ga Ven, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, nhằm thách thức yêu sách chủ quyền và hoạt động cải tạo, quân sự hóa trái phép của Bắc Kinh trên những thực thể này.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

TQ tăng hai khu trục hạm mới, hiện đại cho hải quân

TQ tăng hai khu trục hạm mới, hiện đại cho hải quân

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTàu khu trục Quý Dương, một trong các tàu Type 052D, tham dự lễ kỷ niệm 70 năm thành lâp hải quân Trung Quốc tại Thanh Đảo hôm 23/4/2019, sự kiện có sự tham dự của Chủ tịch Tập Cận Bình

Trung Quốc nâng cấp hải quân với việc đưa vào sử dụng thêm hai khu trục hạm gắn tên lửa có điều khiển đời mới, Type 052D.

Hai chiến hạm được hạ thủy tại cảng Đại Liên, tỉnh Liêu Ninh, đông bắc Trung Quốc hôm thứ Sáu 10/5/2019, các nguồn tin nói. Đây cũng là nơi đã đóng các khu trục hạm Type 055, vốn được ca tụng là các chiến hạm tối tân nhất so với các tàu cùng hạng mục tại Á châu.

Các nguồn tin từ quân đội Trung Quốc nói rằng tàu Type 055 và 052D sẽ là lực lượng chính trong đội tàu khu trục của hải quân nước này.

Nâng cấp hải quân

Để so sánh, thì tàu Type 052D là loại đời mới hơn so với Type 052C, lớn hơn, nhưng giảm bớt phần công nghệ tiết diện chống phản xạ radar (radar cross-section) và tăng phần vũ khí tối tân.

Trung Quốc kỷ niệm 70 năm thành lập Hải quân

Tàu Type 052D có chỗ chứa một trực thăng, và hoạt động với thủy thủ đoàn 280 thành viên.

Tàu có khả năng đảm nhận nhiệm vụ hộ tống và phòng không, các chuyên gia nói.

Trang web chuyên về vũ khí quốc phòng Military Today nói rằng các tàu Type 052D thuộc vào loại các tàu khu trục lớn nhất, có năng lực chiến đấu cao nhất thế giới.

Với sự ra mắt của hai tàu mới, đến nay hải quân Trung Quốc có tổng số 20 chiếc khu trục hạm Type 052D, tính cả các tàu đã hoạt động và các tàu chuẩn bị được đưa vào khai thác, Hoàn cầu Thời báo nói.

Tuy nhiên, một số nhà phân tích tin rằng tốc độ đóng tàu từ nay sẽ chậm lại, bởi quân đội Trung Quốc bắt đầu chuyển trọng tâm sang việc đào tạo nhân sự.

“Tốc độ đóng tàu chiến mới đã lên tới đỉnh điểm trong năm nay, được thực hiện theo quyết định đưa ra từ thời của dàn lãnh đạo cũ, trước khi ông Tập Cận Bình lên nắm quyền và tiến hành cải tổ quân đội,” phân tích gia Zhou Chenming từ Bắc Kinh được South China Morning Post dẫn lời.

Bên cạnh việc đưa các tàu Type 055 và 052D vào làm lực lượng nòng cốt, hải quân Trung Quốc cũng cần xử lý các điểm còn yếu ở các loại tàu chiến cũ mà họ đang có, như khu trục hạm Type 051, khu trục hạm Type 053, và tàu hộ tống Type 037, quân đội nước này nói.

Cạnh tranh với Mỹ

Việc ra mắt hai tàu Type 052D mới càng làm dâng cao các đồn đoán về việc Bắc Kinh muốn mở rộng và nâng cấp lực lượng hải quân để cạnh tranh với Mỹ.

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTàu Type 055 của Trung Quốc được đánh giá là tàu khu trục mạnh thứ nhì thế giới

Tuy nhiên, nếu so sánh các tàu này với khu trục hạm lớp Arleigh Burke của hải quân Hoa Kỳ thì vẫn có nhiều khoảng cách.

Chẳng hạn như các tàu lớp Arleigh Burke có phạm vi di chuyển khoảng 4.400 hải lý với tốc độ 20 knot, trong lúc thông số tương ứng ở Type 052D là 4000 hải lý và 15 knot.

Nhìn vào toàn bộ đội tàu của hải quân Trung Quốc thì tàu Type 055 là các khu trục hạm tối tân hơn cả, với sức rẽ nước trên 10 ngàn tấn, lớn hơn môt chút so với tàu khu trục lớp Arleigh Burke của hải quân Hoa Kỳ (sức rẽ nước 9.800 ngàn tấn), và lớn hơn hẳn Type 052D (7.500 ngàn tấn).

Về lý thuyết, tàu Type 055 của Trung Quốc được đánh giá là tàu khu trục mạnh thứ nhì thế giới, chỉ sau tàu DDG-1000, tức tàu lớp Zumwalt, của hải quân Hoa Kỳ, và có kích thước to lớn giống với tàu tuần dương hơn là tàu khu trục.

Tàu Type 055 đã có cuộc ra mắt trình làng trong lễ kỷ niệm 70 năm hải quân Trung Quốc hôm 23/4, với sự tham dự của tàu Nam Xương vốn được hạ thủy từ 6/2017.

Đến nay hải quân Trung Quốc mới chỉ có tám chiếc Type 055 và 20 chiếc Type 052D, tính cả những chiếc đang được đóng và chưa lắp ráp hoàn thiện.

Tuy nhiên, nước này dường như chưa có kế hoạch thay thế các tàu Type 052D bằng tàu Type 055 trong thời gian tới, Hoàn cầu Thời báo dẫn lời các chuyên gia quân sự nói.

Lý do là bởi việc sử dụng các tàu nhỏ sẽ thích hợp hơn trong nhiều sứ vụ, và cũng tiết kiệm chi phí hơn.

Trong lúc đó, hải quân Hoa Kỳ hiện có trong tay hơn 60 tàu khu trục lớp Airleigh Burke và hơn 20 tàu tuần dương lớp Ticonderoga đang hoạt động, Hoàn cầu Thời báo so sánh.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Phân tích lập trường của VN về Bộ Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông

Phân tích lập trường của VN về Bộ Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông

17 Tháng Tư 20197:04 CH(Xem: 280)

“>

VĂN HÓA ONLINE – THẾ GIỚI HÔM NAY  – THỨ NĂM 18 APRIL 2019

image023

Từ DOC tới COC

Phân tích lập trường của Việt Nam về Bộ Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông

image025

Nguồn: Lê Hồng Hiệp, “Vietnam’s Position on the South China Sea Code of Conduct“, ISEAS Perspective, no. 22/2019, 08/04/2019.

Biên dịch: Nguyễn Hoàng Sa

Giới thiệu

Các quốc gia thành viên ASEAN và Trung Quốc hiện đang đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC) để thay thế Tuyên bố  ASEAN – Trung Quốc năm 2002 về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) chủ yếu mang tính chính trị.

Ngày 3 tháng 8 năm 2018, một bước tiến đáng kể đã được thực hiện khi ngoại trưởng 10 nước thành viên ASEAN và Trung Quốc thông báo rằng họ đã đạt được một Văn Bản Dự Thảo Đàm Phán Duy Nhất (SDNT) để làm cơ sở cho các cuộc đàm phán COC. Văn bản này làm sáng tỏ lập trường ban đầu của các bên tham gia đàm phán, trong đó có Việt Nam. Cách thức mà các thành viên ASEAN và Trung Quốc thương thảo dựa trên lập trường thể hiện trong SDNT trong những năm tới sẽ định hình kết quả của quá trình đàm phán.

Bài viết này phân tích lập trường của Việt Nam về COC bằng cách nghiên cứu các đề xuất trong SDNT hiện tại và đối chiếu với lập trường trước đó của Hà Nội về bản COC của ASEAN năm 1999 mà Việt Nam và Philippines là hai bên soạn thảo chính. Theo đó, bài viết phân tích lập trường của Việt Nam trên bốn lĩnh vực trọng tâm của COC, đó là phạm vi địa lý, tình trạng pháp lý, giải quyết tranh chấp và nghĩa vụ hợp tác.

Mục đích tổng thể của bài viết là trình bày một góc nhìn từ phía Việt Nam về các nội dung cốt lõi của một bản COC “thực chất và hiệu quả”.

Sự tham gia của Việt Nam vào tiến trình COC

Là một quốc gia có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, phải đối mặt với những căng thẳng thường xuyên do xung đột với các bên tranh chấp khác, đặc biệt là Trung Quốc, Việt Nam từ lâu đã ủng hộ việc thông qua một COC ở Biển Đông để có thể quản lý tốt hơn các tranh chấp.

Giai đoạn những năm 1990, Việt Nam đã tìm cách thiết lập các nguyên tắc cho COC bằng cả biện pháp song phương lẫn đa phương. Về song phương, Việt Nam và Philippines đã thông qua một Tuyên bố chung tại cuộc Tham vấn song phương hàng năm lần thứ tư ngày 7 tháng 11 năm 1995, trong đó quy định chín nguyên tắc cơ bản cho COC trong khu vực tranh chấp ở Biển Đông. Về đa phương, vào tháng 3 năm 1999, ASEAN giao cho Philippines và Việt Nam nhiệm vụ soạn thảo một bản COC nội bộ của ASEAN, trên cơ sở đó ASEAN sẽ làm việc với Trung Quốc để hình thành một COC ASEAN-Trung Quốc. Vào tháng 11 năm 1999, hai nước đã đệ trình dự thảo COC lên Hội nghị thượng đỉnh ASEAN không chính thức lần thứ 3 ở Manila. Thông cáo báo chí của Chủ tịch trong hội nghị lưu ý rằng:

Về vấn đề Biển Đông, lãnh đạo các nhà nước/chính phủ đã tái khẳng định sự cần thiết của một Bộ quy tắc ứng xử trong khu vực Biển Đông. Các bên ghi nhận báo cáo của các Bộ trưởng rằng ASEAN hiện đã có một dự thảo bộ quy tắc ứng xử khu vực và các cuộc tham vấn tiếp theo về dự thảo sẽ được thực hiện nhằm thúc đẩy quá trình thông qua một Bộ quy tắc ứng xử.[1]

Dự thảo COC của ASEAN đã được gửi cho Trung Quốc và vào tháng 3 năm 2000, cuộc tham vấn đầu tiên giữa ASEAN và Trung Quốc về COC đã được tổ chức tại Hua Hin, Thái Lan. Tuy nhiên, sự khác biệt giữa hai bên vẫn còn và có rất ít tiến triển hướng tới một bản COC chung.

Cuối cùng, các quốc gia thành viên ASEAN đã đồng ý “xuống nước” và quyết định ký DOC ASEAN – Trung Quốc vào ngày 4 tháng 11 năm 2002 trong Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 8 tại Phnom Penh, Campuchia.

DOC đã không đáp ứng hết kỳ vọng của một số thành viên ASEAN, bao gồm Việt Nam, vì không quy định phạm vi địa lý áp dụng và không cấm xây dựng các công trình mới trên các thực thể ngầm,[2] hai điều khoản chính mà Việt Nam tìm cách đưa vào COC tương lai. Tuy nhiên, DOC vẫn là một thành tựu có ý nghĩa trong việc quản lý các tranh chấp Biển Đông. Bộ trưởng Ngoại giao Philippines Blas F. Ople gọi Tuyên bố này là “bước nhảy vọt lớn cho hòa bình”, trong khi Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc lúc bấy giờ là Vương Nghị [Wang Yi] nói rằng Tuyên bố này sẽ cho phép hòa bình được duy trì và giúp các bên yêu sách tập trung vào phát triển kinh tế.[3] Việt Nam cũng coi DOC là một công cụ thiết yếu để bảo vệ lợi ích của mình ở Biển Đông. Các tuyên bố của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam (MOFA) cho thấy DOC thường được viện dẫn làm cơ sở cho các phản đối ngoại giao của Việt Nam chống lại các hành động hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông.[4]

Tuy nhiên, theo thời gian, DOC cũng bộc lộ những hạn chế, đặc biệt là vì tính chất không ràng buộc nên dẫn đến hiệu lực thực thi thấp. Kể từ năm 2002, nhiều sự cố đã xảy ra trên Biển Đông khiến hiệu quả của DOC bị nghi ngờ.

Các sự cố đáng chú ý nhất bao gồm cuộc đối đầu ở bãi cạn Scarborough năm 2012 giữa Trung Quốc và Philippines; cuộc khủng hoảng giàn khoan năm 2014 giữa Trung Quốc và Việt Nam; và việc xây và quân sự hóa bảy đảo nhân tạo ở Trường Sa của Trung Quốc.

Các sự cố ít nghiêm trọng nhưng không kém phần đáng lo ngại khác liên quan đến các vụ Trung Quốc liên tục quấy rối hoạt động khai thác dầu khí của Việt Nam tại vùng đặc quyền kinh tế (EEZ), hoặc tấn công bạo lực ngư dân Việt Nam, đặc biệt là ở vùng biển xung quanh quần đảo Hoàng Sa đang tranh chấp. Do đó, việc xây dựng một COC thực chất và hiệu quả đã trở thành mục tiêu cho cả Việt Nam cũng như các quốc gia khác trong khu vực.

Tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN – Trung Quốc lần thứ 15 tại Phnom Penh vào năm 2012, các nhà lãnh đạo ASEAN và Trung Quốc đã thông qua một tuyên bố chung nhân dịp kỷ niệm 10 năm ký kết DOC. Bên cạnh việc ca ngợi ý nghĩa của DOC trong việc thúc đẩy hòa bình, ổn định và tin tưởng lẫn nhau ở Biển Đông, tuyên bố chung cũng nhắc lại sự cần thiết phải xây dựng COC.[5]

Vào tháng 9 năm 2013, ASEAN và Trung Quốc chính thức bắt đầu tham vấn về COC.[6] Tuy nhiên, những năm tiếp do căng thẳng gia tăng ở Biển Đông vì nhiều vấn đề khác nhau, như vụ kiện trọng tài của Philippines đối với Trung Quốc, khủng hoảng giàn khoan năm 2014 giữa Việt Nam và Trung Quốc và việc Trung Quốc xây dựng các đảo nhân tạo ở Trường Sa, các tiến triển đạt được là rất chậm.

Mãi đến sau phán quyết lịch sử do Toà Trọng tài tại The Hague ban hành vào tháng 7 năm 2016, Trung Quốc mới bắt đầu xem xét đẩy nhanh tham vấn về COC.[7]

Vào tháng 2 năm 2017, cuộc họp lần thứ 19 của Nhóm làm việc chung ASEAN-Trung Quốc về việc thực hiện DOC (JWG-DOC) đã đạt được đề cương cơ bản của khung dự thảo cho COC. Dự thảo đã được chỉnh sửa trong các cuộc họp song phương sau đó trước khi được các bộ trưởng ngoại giao của Trung Quốc và ASEAN thông qua vào ngày 6 tháng 8 năm 2017 tại Manila.[8]

Một năm sau, vào ngày 03/08/2018, hai bên đã thông qua SDNT, về cơ bản đã chuyển tiến trình COC từ giai đoạn “tham vấn” sang giai đoạn “đàm phán”.

Lập trường COC của Việt Nam: hiện tại và trước đây

Là một bên tranh chấp chính ở Biển Đông, Việt Nam có lợi ích đáng kể liên quan đến kết quả của tiến trình COC và luôn ủng hộ các nỗ lực của ASEAN và Trung Quốc nhằm đạt được COC. Tuy nhiên, Việt Nam tìm kiếm một COC hiểu quả thực chất chứ không phải một tài liệu chính trị thiếu hiệu quả khác. Bình luận về đề xuất của Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường [Li Keqiang] vào tháng 11 năm 2018 rằng ASEAN và Trung Quốc nên đặt mục tiêu đạt được COC trong vòng ba năm,[9] Phó phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Trà tuyên bố rằng “Quan trọng nhất là phải đạt được một COC thực chất, hiệu lực, hiệu quả và phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982, qua đó thực sự đóng góp cho hòa bình, ổn định và an ninh ở Biển Đông nói riêng và khu vực nói chung.”[10] Nói cách khác, mối quan tâm chính của Việt Nam là nội dung thực chất của COC tương lai.

Vậy theo quan điểm của Việt Nam, điều gì cấu thành nên một bản COC thực chất và hiệu quả? Xem xét kỹ sự tham gia của Việt Nam vào tiến trình này cho thấy Việt Nam đã duy trì một lập trường khá nhất quán trong các vấn đề chính của COC. Bảng dưới đây so sánh lập trường hiện tại của Việt Nam về COC được phản ánh trong SDNT và lập trường trong những năm 1990 được phản ánh trong quá trình soạn thảo COC của ASEAN.

Bảng 1 : Lập trường của Việt Nam đối với COC ASEAN 1999 và trong đàm phán COC hiện nay

Vấn đề COC ASEAN Đàm phán COC hiện nay
Phạm vi địa lý Áp dụng cho cả Hoàng Sa và Trường Sa và các vùng biển tranh chấp.

 

Áp dụng cho tất cả các thực thể tranh chấp và các vùng biển chồng lấn được xác định theo UNCLOS 1982 ở Biển Đông.
Tình trạng pháp lý Không nêu – Các bên ký kết đồng ý chịu sự ràng buộc của COC

– COC sẽ được phê chuẩn theo thủ tục nội bộ tương ứng của các bên ký kết; văn kiện phê chuẩn sẽ được gửi lên Tổng thư ký ASEAN, người sẽ đăng ký COC với Liên Hợp Quốc.

– Không bên ký kết nào có quyền tuyên bố bảo lưu điều nào khi ký COC.

Giải quyết tranh chấp Không nêu – Tranh chấp được giải quyết thông qua các biện pháp thân thiện như đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải và các biện pháp khác theo thoả thuận của các bên tranh chấp ký kết COC. Nếu không thành công, các bên tranh chấp cũng có thể sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp theo các điều khoản phù hợp của Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á.

– Không có nội dung nào trong COC ngăn cản việc giải quyết tranh chấp một cách hòa bình thông qua trọng tài, tòa án, các cơ quan hoặc tổ chức khu vực hoặc theo thỏa thuận của các bên; hoặc các biện pháp hòa bình khác do các bên hữu quan quyết định.

– Để giám sát việc thực hiện COC, một Ủy ban của các Bộ trưởng ngoại giao hoặc đại diện của họ sẽ được thành lập.

Nhiệm vụ hợp tác – Giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế;

– Cấm sử dụng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực;

– Tự kiềm chế;

– Tìm kiếm và áp dụng các biện pháp xây dựng lòng tin;

– Hợp tác trong các hoạt động hàng hải như bảo vệ môi trường biển; nghiên cứu khoa học biển; an toàn hàng hải và thông tin liên lạc; hoạt động tìm kiếm cứu nạn; và chống tội phạm xuyên quốc gia;

– Tham vấn;

– Tôn trọng tự do hàng hải và hàng không quốc tế;

– Không xây dựng các công trình mới trên các thực thể ngầm.

27 điểm, trong đó bao gồm:

– Tôn trọng các vùng biển được quy định và xác lập theo UNCLOS 1982;

– Thông báo trước 60 ngày về các cuộc tập trận/diễn tập quân sự chung/kết hợp sắp diễn ra;

– Không xây dựng bất kỳ đảo nhân tạo nào; không quân sự hóa các thực thể;

– Không phong tỏa tàu chở hàng tiếp tế hoặc luân chuyển nhân sự;

– Không tuyên bố Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) ở Biển Đông;

– Không tiến hành các cuộc tấn công mô phỏng vào tàu và máy bay của các quốc gia khác.

 

Nguồn: Biên soạn của tác giả dựa trên bài viết của Nguyễn Hồng Thao [11] và Carl Thayer [12].

Về phạm vi địa lý, Việt Nam luôn tìm kiếm một COC áp dụng cho cả Hoàng Sa và Trường Sa cũng như các vùng biển tranh chấp trên Biển Đông. Điều này là do Việt Nam xem quần đảo Hoàng Sa là lãnh thổ đang bị tranh chấp nhưng Trung Quốc không thừa nhận có tranh chấp, trong khi một nửa quần đảo Hoàng Sa đã bị Trung Quốc cưỡng chiếm từ Việt Nam vào năm 1974. Hơn nữa, các cơ quan chấp pháp của Trung Quốc thường xuyên quấy rối hoặc tấn công ngư dân Việt Nam trong vùng biển xung quanh Quần đảo Hoàng Sa. Ví dụ gần đây nhất liên quan đến một tàu cá Việt Nam khi đang neo đậu gần Đá Lồi thuộc Quần đảo Hoàng Sa vào ngày 6 tháng 3 năm 2019 thì bị một tàu Hải giám Trung Quốc truy đuổi và bắn vòi rồng. Chiếc tàu này sau đó đã bị chìm khi va phải đá ngầm trong lúc bị truy đuổi.[13] Do đó, theo quan điểm của Hà Nội, COC cần phải được áp dụng cho cả Hoàng Sa để ngăn chặn các sự cố tương tự xảy ra và làm gia tăng căng thẳng trên biển giữa Trung Quốc và các quốc gia khác.

Về địa vị pháp lý của COC, trong những năm 1990, Việt Nam và các quốc gia thành viên ASEAN khác đã không nêu ra vấn đề này bởi vì các thành viên ASEAN tại thời điểm đó chủ yếu coi COC là một công cụ xây dựng lòng tin chủ yếu nhằm mục đích khuyến khích các quốc gia yêu sách tự kiềm chế. Hơn nữa, về bản chất, COC là “luật mềm” và thông thường không đi kèm các cơ chế thực thi chặt chẽ. Việc thực hiện COC thường dựa trên thiện chí của các nước tham gia. Tuy nhiên, thực tế trong hai thập niên qua, cùng với sự vi phạm DOC nhiều lần của các bên ký kết, cho thấy một niềm tin như vậy là sai lầm và một COC không ràng buộc sẽ ít có tác dụng trong việc đạt được mục đích duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông. Do đó, lần này Việt Nam có xu hướng nhấn mạnh tính ràng buộc pháp lý của COC bằng cách đề xuất rằng các quốc gia ký kết phải chịu ràng buộc toàn bộ bởi COC mà không có quyền bảo lưu. Đồng thời, việc Việt Nam yêu cầu COC phải được phê chuẩn bởi các quốc gia ký kết theo thủ tục pháp lý trong nước có nghĩa là Việt Nam muốn xem COC là “luật cứng” mặc dù có tên gọi là “Bộ Quy tắc”.

Tương tự như vấn đề địa vị pháp lý, trong những năm 1990, Việt Nam không nêu ra vấn đề giải quyết tranh chấp liên quan đến việc thực hiện COC tương lai. Điều này là do, như đã đề cập ở trên, Việt Nam và các thành viên ASEAN khác không hình dung COC tương lai sẽ mang tính ràng buộc pháp lý, do vậy không cần phải đưa ra các cơ chế giải quyết tranh chấp về việc thực thi COC. Hiện tại, Việt Nam muốn có một COC ràng buộc nên đã đề xuất các biện pháp giải quyết tranh chấp phát sinh từ việc thực thi COC bằng các biện pháp hữu nghị như đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải hoặc các cơ chế giải quyết tranh chấp theo các điều khoản liên quan của Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á.

Đáng chú ý, Việt Nam cũng nói rõ rằng không có điều khoản nào trong COC ngăn cản việc sử dụng các biện pháp giải quyết tranh chấp hòa bình khác, như trọng tài, tòa án, các cơ quan hoặc tổ chức khu vực, hoặc theo dàn xếp do các bên tự thỏa thuận. Điều này ngụ ý rằng Việt Nam muốn tiếp tục để ngỏ lựa chọn pháp lý nhằm đối phó với Trung Quốc trong các tranh chấp lãnh thổ và trên biển cũng như các tranh chấp phát sinh từ việc thực thi COC. Lập trường này là có thể hiểu được nếu xét những nỗ lực bền bỉ của Việt Nam trong việc tích lũy các bằng chứng lịch sử và pháp lý nhằm chuẩn bị cho một cuộc đấu tranh pháp lý, trong đó Việt Nam sẽ vận dụng các cơ quan tài phán quốc tế để giải quyết các bất bình đối với Trung Quốc ở Biển Đông, đặc biệt là hành vi cưỡng chiếm Hoàng Sa của Trung Quốc vào năm 1974. Trong một cuộc họp báo về vụ giàn khoan vào năm 2014, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lúc đó khẳng định Việt Nam đang xem xét các lựa chọn khác nhau để bảo vệ lợi ích trên biển của mình chống lại sự xâm lấn của Trung Quốc, trong đó có biện pháp pháp lý phù hợp với luật pháp quốc tế.[14] Cũng cần lưu ý rằng khi Philippines đệ trình vụ kiện trọng tài chống lại các yêu sách Biển Đông của Trung Quốc vào năm 2013, Trung Quốc đã phản đối mạnh mẽ hành động này bằng cách trích dẫn điều khoản của DOC rằng các Bên nên giải quyết các khác biệt thông qua “tham vấn và đối thoại”.

Cuối cùng, liên quan đến nghĩa vụ hợp tác, Việt Nam đã đưa ra danh sách những điều cần thiết cho một COC thực chất và hiệu quả. Trong khi các yêu cầu của Việt Nam cũng như các thành viên ASEAN khác thể hiện trong COC ASEAN 1999 mang tính bao quát và không cụ thể, thì các yêu cầu của Hà Nội trong đàm phán COC hiện nay cụ thể hơn nhiều và dựa trên kinh nghiệm đối phó với Trung Quốc trong quá trình thực hiện DOC 2002. Ví dụ, đòi hỏi các Bên phải tôn trọng các vùng biển theo quy định của UNCLOS 1982 dường như là do Trung Quốc từng xâm nhập vào EEZ của Việt Nam (ví dụ như cuộc khủng hoảng giàn khoan 2014) hoặc việc nước này liên tục quấy rối các hoạt động thăm dò dầu khí của Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế. Các yêu cầu về việc không xây dựng đảo nhân tạo hoặc không quân sự hóa các thực thể đã được đưa ra trong bối cảnh Trung Quốc xây dựng và quân sự hóa các đảo nhân tạo ở Biển Đông trong những năm gần đây. Tương tự như vậy, yêu cầu về việc không chặn các tàu chở hàng tiếp tế hoặc luân chuyển nhân sự phát sinh từ việc Trung Quốc từng tìm cách chặn các tàu Việt Nam cung cấp các đồ tiếp tế tới các điểm đảo mà Việt Nam đang đóng giữ tại quần đảo Trường Sa. Trong khi đó, Việt Nam phản đối tuyên bố của bất kỳ Bên nào về thiết lập ADIZ ở Biển Đông là do Việt Nam từ lâu ủng hộ tự do hàng hải và hàng không quốc tế cũng như lo ngại rằng Bắc Kinh sẽ thành lập một ADIZ trên Biển Đông giống như Trung Quốc đã làm ở Biển Hoa Đông năm 2013. Do đó, yêu cầu cấm hành vi trên của Hà Nội là một động thái chặn trước khôn ngoan nhằm đưa Bắc Kinh vào tầm ngắm dư luận nếu Trung Quốc cân nhắc phương án này.[15]

Kết luận

Các phân tích trên cho thấy lập trường của Việt Nam về COC là khá nhất quán trong 20 năm qua. Sự cụ thể, rõ ràng hơn trong đàm phán COC hiện nay chủ yếu bắt nguồn từ sự thất vọng với những hạn chế của DOC 2002 trong việc kìm hãm sự hung hăng trên biển của Trung Quốc. Một số quan chức Việt Nam khi trao đổi cũng có ý cho rằng “thà không có thỏa thuận còn hơn là có một thỏa thuận tồi”. Chính vì vậy, Việt Nam đã nói rõ COC cần bao hàm những gì để trở thành một thỏa thuận tốt. Nói cách khác, những yêu cầu của Việt Nam tạo thành các nội dung cốt lõi của một COC thực chất và hiệu quả nhìn từ quan điểm của Việt Nam.

Danh sách dài các yêu cầu của Việt Nam dường như là một đòi hỏi quá cao trong mắt nhiều nhà quan sát. Tuy nhiên, khi các cuộc đàm phán đang ở giai đoạn ban đầu, tất cả các bên đều hướng tới mục tiêu cao nhất để tạo dư địa cho các thỏa hiệp có thể xảy ra sau này. Trong quá trình đàm phán, Việt Nam cũng như các bên khác có thể nhượng bộ bằng cách bỏ qua hoặc thay đổi một số yêu cầu không cốt lõi nhất định. Tuy nhiên, tới thời điểm tháng 3 năm 2019, các Bên vẫn đang trong quá trình rà soát SDNT lần đầu tiên trong tổng cộng ba lần. Như vậy, vẫn còn quá sớm để biết liệu Việt Nam có sửa đổi bất kỳ điểm nào trong lập trường ban đầu hay không.

Vai trò chủ tịch ASEAN vào năm 2020 sẽ giúp Hà Nội có cơ hội  làm nổi bật vấn đề Biển Đông trong chương trình nghị sự của ASEAN. Để chứng minh vai trò dẫn dắt của mình, Việt Nam cũng có thể cố gắng đẩy nhanh tiến độ đàm phán COC. Tuy nhiên, như Phó phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Trà nhấn mạnh, Việt Nam sẽ thúc đẩy một COC thực chất và hiệu quả thay vì cố gắng đạt được một thỏa thuận mang tính biểu tượng trong khung thời gian xác định trước. Các bên đàm phán khác, đặc biệt là Trung Quốc, cũng có khả năng  duy trì các yêu cầu cốt lõi của họ. Như vậy, quá trình đàm phán COC dự kiến sẽ ​​là một bài toán đầy thách thức và tốn thời gian. Lựa chọn giữa việc đạt được một COC sớm và một COC thực chất và hiệu quả sẽ là những lựa chọn cực kỳ nan giải đối với tất cả các bên liên quan.

Lê Hồng Hiệp là nghiên cứu viên của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (ISEAS  Yusof Ishak Institute), Singapore. Nguyễn Hoàng Sa là nghiên cứu sinh thạc sỹ trong lãnh vực Luật quốc tế và là cộng tác viên năm thứ ba của Dự án Đại Sự Ký Biển Đông. 

————

Chú thích

[1] Thông cáo báo chí của Chủ tịch Hội nghị cấp cao không chính thức ASEAN lần thứ 3 tại Manila, Philippines, 28/11/1999, truy cập tại <https://asean.org/?static_post=ouchman-s-press-statement-on-asean-3rd-informal -summit-manila-philippines-28-tháng 11 năm 1999>.

[2] Nguyễn Đăng Thắng & Nguyễn Thị Thanh Hà, “Một số suy nghĩ về Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông”, bài trình bày tại hội nghị quốc tế về tranh chấp Biển Đông: Lịch sử , Địa chính trị và Luật quốc tế, Hà Nội 26/4/2011. Có thể đọc phiên bản cuối cùng tại https://daisukybiendong.wordpress.com/2017/04/29/mot-so-suy-nghi-ve-bo-quy-tac-ung-xu-o-bien-dong/.

[3] “Asean, China sign pact on disputed Spratlys”, CNN 4/11/2002. 

[4] Các tuyên bố của người phát ngôn MOFA của Việt Nam, truy cập tại <http://www.mofa.gov.vn/vi/tt_baochi/pbnfn&gt;.

[5] Tuyên bố chung của Hội nghị cấp cao ASEAN-Trung Quốc lần thứ 15 nhân kỷ niệm 10 năm Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông, ngày 19/11/2012, truy cập tại <https://www.asean.org/&gt;

[6] Carlyle A. Thayer, “New Commitment to a Code of Conduct in the South China Sea?” NBR 9/10/2013, truy cập tại https://www.nbr.org/publication/new-commitment-to-a-code-of-conduct-in-the-south-china-sea/

[7] “Asean urges self-restraint in South China Sea activities, no mention of tribunal ruling”, The Straits Times 25/7/2016, < https://www.straitstimes.com/asia/se-asia/asean-foreign-ministers-address-south-china-sea-issue-in-communique-but-not-tribunal&gt;

[8] Để biết tổng quan về Dự thảo khung COC, xem Ian Storey, Đánh giá Dự thảo khung ASEAN-Trung Quốc về Quy tắc ứng xử đối với Biển Đông , ISEAS Perspective, no. 62 (2017).

Chú thích của BTV: Một bản dịch tiếng Việt được đăng tại https://daisukybiendong.wordpress.com/2017/08/24/danh-gia-ban-khung-cua-asean-va-trung-quoc-ve-bo-quy-tac-ung-xu-tren-bien-dong/

[9] “Asean and China should aim to conclude talks on maritime code of conduct in 3 years: PM Lee”, The Straits Times, 4/11/2018, <https://www.straitstimes.com/singapore/asean-and-china-should-aim-to-conclude-talks-on-maritime-code-of-conduct-in-3-years-pm-lee&gt;

[10] Tuyên bố truy cập tại <http://www.mofa.gov.vn/vi/tt_baochi/tcbc/ns181122164946&gt;

[11] Nguyen Hong Thao, “Vietnam and the Code of Conduct for the South China Sea”, Ocean Development & International Law 32, no.2 (2001): 105-130.

[12] Carl Thayer, “A Closer Look at the ASEAN-China Single Draft South China Sea Code of Conduct”, The Diplomat, 3/8/2018, <https://thediplomat.com/2018/08/a-closer-look-at-the-asean-china-single-draft-south-china-sea-code-of-conduct/&gt;

Chú thích của BTV: Một bản dịch tiếng Việt được đăng tại https://daisukybiendong.wordpress.com/2018/08/05/mot-cai-nhin-ky-hon-du-thao-duy-nhat-bo-quy-tac-ung-xu-o-bien-dong-cua-asean/

[13] “Vietnam protests to China over South China Sea boat sinking”, The Straits Times, 22/3/2019, https://www.straitstimes.com/asia/east-asia/vietnam-protests-to-china-over-south-china-sea-boat-sinking

[14] “Thủ tướng: ‘Không đánh đổi chủ quyền lấy hữu nghị viễn vong’”, VnExpress 22/5/2014, https://vnexpress.net/the-gioi/thu-tuong-khong-danh-doi- chu-quyen-lay-huu-nghi-lâm-vong-2994075.html. Theo Quyết định số 10/2019/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Uỷ ban Biên giới quốc gia trực thuộc Bộ Ngoại giao, Uỷ ban Biên giới quốc gia được giao nhiệm vụ đề xuất chủ trương và xây dựng đề án, hồ sơ pháp lý để phục vụ cho việc giải quyết tranh chấp về biên giới, lãnh thổ trước các cơ quan tài phán quốc tế.

[15] Le Hong Hiep, “How to Read Hanoi’s Position on the South China Sea COC?”, ISEAS Commentary, 03/01/2019, <https://www.iseas.edu.sg/medias/commentaries/item/8797-how-to-read-hanois-position-on-the-south-china-sea-coc-by-le-hong-hiep&gt;

Nguồn: Dự án Đại Sự ký Biển Đông

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.