Biển Đông

Sự bịa đặt, vu cáo trắng trợn của Cảnh Sảng

Sự bịa đặt, vu cáo trắng trợn của Cảnh Sảng

Phát biểu của ông Cảnh Sảng vu cáo Việt Nam “chiếm đảo” là sự leo thang mới trong những bịa đặt, vu cáo trắng trợn của Trung Quốc liên quan Biển Đông.

Ngày 8/11, tại buổi họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, trả lời câu hỏi của phóng viên về việc “Việt Nam có thể xem xét các lựa chọn pháp lý để giải quyết tranh chấp với Trung Quốc ở Biển Đông, phản ứng của Trung Quốc là gì?”, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Cảnh Sảng ngang ngược cho biết: “Cốt lõi của vấn đề Biển Đông là vấn đề lãnh thổ, liên quan đến sự chiếm đóng quần đảo Nam Sa của Trung Quốc bởi Việt Nam và các nước khác có liên quan”.

Ông Cảnh còn nói rằng: “Tôi hy vọng Việt Nam đối mặt với thực tế lịch sử, giữ sự đồng thuận cao cấp của chúng tôi và giải quyết sự khác biệt thông qua đối thoại và tham vấn. Việt Nam cần tránh các hành động có thể làm phức tạp vấn đề hoặc làm suy yếu hòa bình và ổn định ở Biển Đông cũng như mối quan hệ song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc”.

Cần phải khẳng định rằng, những phát biểu trên là bước leo thang mới trong sự bịa đặt, vu cáo trắng trợn của Trung Quốc liên quan đến Biển Đông.

Cái mà Trung Quốc ngang ngược gọi là “quần đảo Nam Sa” thực chất là quần đảo Trường Sa của Việt Nam mà Trung Quốc đã nhiều lần lên tiếng yêu sách bất chấp thực tế lịch sử và bằng chứng pháp lý.

Việt Nam nhiều lần khẳng định, “Việt Nam có đầy đủ chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa phù hợp luật pháp quốc tế. Thực tế lịch sử cho thấy rõ điều này”, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng nêu rõ trong tuyên bố ngày 13/11.

Bà Hằng cũng khẳng định lại chủ trương nhất quán của Việt Nam là mọi tranh chấp quốc tế, trong đó có tranh chấp về vấn đề chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa phải giải quyết bằng các biện pháp hoà bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc.

Phát ngôn của ông Cảnh Sảng một lần nữa cho thấy sự trơ tráo của Trung Quốc với thói “vừa ăn cướp vừa la làng”. Không một quốc gia văn minh nào trong thời đại này tự nhiên lại tuyên bố “nhà của người ta” là “nhà của mình” một cách trắng trợn mà chẳng ngại gì mếch lòng hàng xóm và cộng đồng quốc tế cả.

Thời gian qua, không chỉ Việt Nam mà nhiều nước và các chuyên gia quốc tế nhiều lần lên án việc Trung Quốc phớt lờ luật pháp quốc tế, ngang nhiên thực hiện các hành vi “bắt nạt” các nước láng giềng. Gần đây nhất và việc Trung Quốc điều tàu khảo sát Hải Dương 8 cùng lực lượng hộ tống vào hoạt động trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam suốt từ đầu tháng 7 đến cuối tháng 10.

Trung Quốc ngang ngược liên tục đơn phương yêu sách các vùng biển chồng lấn với vùng biển của Việt Nam mặc dù các yêu sách này đã bị Tòa trọng tài quốc tế bác bỏ.

Trung Quốc tự mình vẽ ra “đường lưỡi bò” phi pháp, bị Tòa Trọng tài Quốc tế bác bỏ từ năm 2016 nhưng vẫn không ngừng “rêu rao”, tuyên truyền về những điều sai trái đó. Không chỉ tuyên truyền với người Trung Quốc, Bắc Kinh còn đề ra cả chiến dịch truyền thông bài bản hòng biến “tin giả”, điều bịa đặt ấy thành sự thật bằng cách cài cắm “đường lưỡi bò” trong các sản phẩm và phổ biến chúng ra nước ngoài.

Trung Quốc có những hoạt động đơn phương cản trở các hoạt động khai thác kinh tế của Việt Nam trong vùng biển Việt Nam. Trung Quốc xây dựng các căn cứ quân sự tại các đảo nhân tạo phi pháp của mình trong vùng Biển Đông và làm ảnh hưởng nghiêm trọng môi trường biển tại đây.

Trung Quốc né tránh sử dụng các biện pháp giải quyết tranh chấp hòa bình như sử dụng hòa giải, trọng tài và tòa án, để giải quyết mâu thuẫn tại Biển Đông khiến các tranh chấp tại đây trở nên dai dẳng và ngày càng phức tạp.

Tuyên bố mới nhất của người phát ngôn Cảnh Sảng cho thấy độ liều lĩnh, chẳng cần đếm xỉa gì tới luật pháp quốc tế của Trung Quốc.

Tuy nhiên, vấn đề không chỉ dừng lại ở phát ngôn của ông Cảnh Sảng mà là mưu đồ độc chiếm biển Đông của Trung Quốc vốn có từ rất lâu rồi, nay nó hiện nguyên hình và ngày càng được thể hiện ra một cách trắng trợn hơn thôi!

Categories: Biển Đông | Leave a comment

TQ xâm phạm chủ quyền của Việt Nam tại bãi Tư Chính: Nhìn từ dư luận nước Nga Ngày đăng 15-11-2019

TQ xâm phạm chủ quyền của Việt Nam tại bãi Tư Chính: Nhìn từ dư luận nước Nga

Vấn đề Biển Đông lâu nay được coi là nhạy cảm đối với Cộng hòa Liên bang Nga khi nước này có quan hệ mật thiết với cả Việt Nam và Trung Quốc. Về mặt chính thức, nhìn chung Nga vẫn giữ lập trường trung lập, không để các bên lôi kéo vào tranh chấp, xung đột ở Biển Đông. Quan điểm này mang lại cho Moskva sự linh hoạt trong xử lý các vấn đề nhạy cảm với các nước đối tác. Tuy nhiên, thực tế vài năm gần đây cho thấy lập trường của Moskva có thể bị các bên, trong đó có Trung Quốc, tác động theo hướng có lợi cho mình. Nhất là từ năm 2014 đến nay, quan hệ Nga – Trung tuy còn tồn tại những nghi kỵ, bất đồng, nhưng về tổng thể, đã có bước phát triển đột phá trên tất cả các lĩnh vực. Thậm chí, nguyên thủ của cả hai nước này đều công nhận quan hệ của họ gần gũi đến mức “chưa từng có” trong lịch sử quan hệ hai bên. Đặc biệt, họ dường như đã tìm được điểm đồng thuận, ngấm ngầm ủng hộ nhau về các vấn đề liên quan đến “lợi ích cốt lõi” của nhau. Minh chứng cho điều này được thể hiện rõ qua 2 sự kiện nổi bật sau:

Một là, sau khi Nga sáp nhập bán đảo Crimeavào lãnh thổ của mình (2014) và mở chiến dịch quân sự chống IS ở Syria, Trung Quốc đã ủng hộ Nga, không lên tiếng phản đối. Ngược lại, dư luận Nga cũng hầu như không đả động gì đến phán quyết cuối cùng của Tòa trọng tài thường trực quốc tế về Luật Biển (PCA) về vụ Philippines kiện Trung Quốc liên quan đến tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông (12/07/2016) mà phần thắng nghiêng về Philippines. Trong khi dư luận các nước trong và ngoài khu vực như Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, EU, Indonesia, Singapore, Thái Lan… đều lên tiếng hoan nghênh phán quyết của PCA, mong muốn các bên liên quan tuân thủ nội dung phán quyết. Chưa hết, bên lề Hội nghị thượng đỉnh Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi (G20) nhóm họp vào tháng 9/2016, Tổng thống Nga Vladimir Putin còn tuyên bố: “Chúng tôi ủng hộ quan điểm của Trung Quốc là không công nhận phán quyết của PCA”.

Hai là, trong sự kiện giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông năm 2014, truyền thông Nga đưa tin về Trung Quốc với những trích dẫn đậm nét các tuyên bố chính thức của Bắc Kinh, trong khi tỷ trọng thông tin về lập trường của Việt Nam lại chiếm rất ít, thậm chí có những bài bình luận mang tính chủ quan, công kích Việt Nam, gây phẫn nộ đối với dư luận.

Những tưởng sự kiện lần này Trung Quốc đưa tàu khảo sát địa chất Hải Dương 8 vào vùng biển bãi Tư Chính do Việt Nam kiểm soát thì phản ứng của Nga sẽ lại giống với 2 sự kiện kể trên. Ngờ đâu lại khác hẳn, lần này dư luận học giả, chính giới và báo chí Nga lại đưa tin nhiều hơn và có xu hướng “bênh vực” Việt Nam. Cụ thể:

Về phía học giả và chính giới Nga: Đầu tiên, ngày 31/07/2019, trả lời phỏng vấn tờ báo Độc Lập của Nga, chuyên gia nghiên cứu thuộc Phân viện Viễn Đông, Viện Hàn lâm khoa học Nga Grirory Lokshin đã cho rằng, việc tàu khảo sát địa chất Hải Dương 8 của Trung Quốc tiến hành các hoạt động thăm dò tại vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam (bãi Tư Chính) là phi pháp. Ông này nói: “Ngày 03/07/2019, tàu khảo sát của Trung Quốc được sự hộ tống của hai tàu bảo vệ đã đi vào khu vực vùng đặc quyền kinh tế thuộc chủ quyền của Việt Nam, tiến hành các hoạt động nghiên cứu. Những hành động như vậy không được Việt Nam cho phép là phi pháp”. Ông cũng tỏ ra lo ngại tình hình sẽ nghiêm trọng hơn, ảnh hưởng tới lợi ích của các công ty Nga đang hoạt động hợp pháp trong khu vực theo thỏa thuận đã được Chính phủ hai nước Việt Nam và Liên bang Nga ký trước đó. Ông cho biết, phía Việt Nam đã phản ứng hoàn toàn chính đáng khi đưa các tàu bảo vệ bờ biển ra bảo vệ chủ quyền và ngăn chặn các tàu Trung Quốc xâm phạm. Việt Nam đã thể hiện sự kiềm chế trước sự việc, bằng chứng là suốt hai tuần đầu tiên không có bất kỳ tuyên bố chính thức nào được đưa ra cho đến khi báo chí nước ngoài lên tiếng. Theo ông Lokshin, Việt Nam đã chính thức yêu cầu các tàu Trung Quốc rút khỏi vùng đặc quyền kinh tế, nhưng các tàu đó vẫn ngoan cố, gây ra tình hình căng thẳng.

Tiếp đó, tại các cuộc gặp bên lề Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 52 và các nước đối tác ở Bangkok, Thailand, Ngoại trưởng Nga S.Lavrov không nêu quan điểm cụ thể về tình hình căng thẳng ở Biển Đông, chỉ nhấn mạnh cần phải xây dựng cấu trúc an ninh tương đồng và không chia tách ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Ông Lavrov cho rằng, trong tình hình phức tạp hiện nay, mỗi quốc gia có triết lý ngoại giao riêng, nhưng sẽ tương đồng trong cách tiếp cận với việc giải quyết các vấn đề thời sự thông qua đàm phán và đối thoại. Trước đó, quan điểm chính thức của Nga về vấn đề Biển Đông đã được người phát ngôn Bộ Ngoại giao Maria Zakharova nêu rõ: “Lập trường của Nga là nhất quán và không thay đổi: Chúng tôi ủng hộ việc các quốc gia liên quan trong tranh chấp lãnh thổ ở vùng biển này cần tuân thủ triệt để việc không sử dụng vũ lực và tiếp tục tìm kiếm các giải pháp chính trị, ngoại giao để giải quyết vấn đề trên cơ sở luật pháp quốc tế, trước hết là Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982). Chúng tôi ủng hộ ASEAN và Trung Quốc soạn thảo Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông”. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nga cũng khẳng định, Moskva không phải là một bên tranh chấp ở Biển Đông và về nguyên tắc sẽ không đứng về bên nào trong vấn đề này.

Đáng lưu ý là, so với vụ PCA ra phán quyết và lần Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, thì đến lần này, cho dù giới chức ngoại giao Nga né tránh đề cập vấn đề Biển Đông, nhưng các diễn biến xung quanh việc Trung Quốc đưa tàu khảo sát địa chất Hải Dương 8 vào vùng biển thuộc bãi Tư Chính của Việt Nam đã được các hãng thông tấn, báo chí lớn của Nga đưa tin thường xuyên và mật độ nhiều hơn.

Theo đó, các hãng truyền thông Nga đã đưa tin theo hướng ưu tiên trích dẫn các phát biểu và tuyên bố chính thức không có lợi cho Trung Quốc từ phía các nước như Mỹ, Philippines… Thậm chí, hãng thông tấn chính thức của Nga là TASS đã giật tít đầy ẩn ý rằng “Trung Quốc cần kiềm chế các hành động khiêu khích tại Biển Đông” khi trích dẫn phát biểu của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ. Ngày 17/07/2019, TASS còn dẫn lời của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định Việt Nam có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển ở Biển Đông được xác định theo đúng các quy định của UNCLOS 1982. Mọi hoạt động của nước ngoài tại các vùng biển Việt Nam nếu không được phép của Việt Nam đều vô giá trị, xâm phạm vùng biển Việt Nam, vi phạm luật pháp quốc tế và UNCLOS 1982. Theo TASS, Việt Nam kiên quyết đấu tranh trước bất cứ hành vi nào xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển được xác định phù hợp với UNCLOS 1982.

Các hãng thông tấn như TASS, RIA Novosti… trong ngày 20/07/2019 đã trích dẫn tuyên bố của Bộ Ngoại giao Mỹ bày tỏ quan ngại về những thông tin rằng, Trung Quốc đang cản trở hoạt động dầu khí của các nước khác ở Biển Đông, chỉ trích Bắc Kinh có hành động khiêu khích và gây bất ổn tại vùng biển này. TASS đã trích dẫn lời phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ, bà Morgan Ortagus, bày tỏ quan ngại việc Trung Quốc can thiệp vào các hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí tại Biển Đông mà Việt Nam đã thực hiện từ lâu. TASS cũng cho biết, bà Morgan Ortagus nhấn mạnh việc tiến hành cải tạo và “quân sự hóa” các tiền đồn ở Biển Đông, cùng với các hành động khác nhằm khẳng định những đòi hỏi bất hợp pháp của Bắc Kinh ở vùng biển này, bao gồm cả việc sử dụng quân sự trên biển để hăm dọa, cưỡng ép và đe dọa các quốc gia khác, là hành động làm xói mòn hòa bình và an ninh khu vực. Còn hãng Interfax, ngày 30/07/2019 đã dẫn phát biểu của Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Delfin Lorenzana chỉ trích Trung Quốc vì những hành động mà ông cho là “hăm dọa” tại Biển Đông. Đồng thời cảnh báo những hành động tương tự của Trung Quốc tại vùng biển này sẽ ngày càng gia tăng.

Truyền thông Nga cũng công bố công khai thư khen ngợi của Tổng thống Nga V.Putin đối với Giám đốc Rosneft Vietnam BV (công ty con của liên doanh giữa PetroVN và tập đoàn Rosneft của Nga), đơn vị đang chịu trách nhiệm nghiên cứu thăm dò theo thỏa thuận đã ký trước đó giữa hai chính phủ Việt Nam và Nga. Động thái này được giới quan sát coi là biểu tượng cho sự ủng hộ khéo léo của Nga đối với Việt Nam. Điều này khác hẳn với những gì đã từng xảy ra hồi năm 2014.

Việc giới chức, học giả, các nhà nghiên cứu và báo chí Nga đưa tin nhiều hơn và có xu hướng ủng hộ Việt Nam cho thấy, phải chăng giới truyền thông, thậm chí là chính giới Nga giờ đây đã nhận thức rõ hơn chân lý và lẽ phải về các tuyên bố chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông? Và họ không có sự lựa chọn nào khác là ủng hộ lập trường và những giải pháp mà Việt Nam đã và đang lựa chọn trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông.

Ngoài việc đưa tin có xu hướng ủng hộ quan điểm, lập trường của Việt Nam trong giải quyết vấn đề Biển Đông, dư luận Nga cũng đưa ra nhiều phân tích về vị trí, vai trò của Biển Đông đối với thế giới, Nga và Việt Nam, từ đó đưa ra một số khuyến nghị để thúc đẩy hợp tác Việt – Nga trên Biển Đông.

Theo dư luận Nga, với vị thế đặc biệt quan trọng, Biển Đông đã, đang và sẽ là tâm điểm của các chính sách, chiến lược của các cường quốc trong và ngoài khu vực. Tham vọng địa chính trị của các nước lớn như Nga, Trung Quốc, Mỹ ở khu vực nói chung và Đông Nam Á nói riêng chắc chắn sẽ tác động đến lợi ích của Việt Nam, đặc biệt trong vấn đề bảo vệ và khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông.

Đối với Nga, vấn đề Biển Đông từ lâu đã được cho là nhạy cảm khi nước này có quan hệ đối tác chiến lược với cả Việt Nam và Trung Quốc. Phần lớn các chuyên gia ở Nga đều có chung nhận định rằng, Moskva mong muốn duy trì quan hệ cân bằng với cả Việt Nam và Trung Quốc, đồng thời kiên trì lập trường không đứng về bên nào trong các cuộc xung đột tiềm tàng. Tuy nhiên, Bắc Kinh một mặt tích cực lôi kéo Nga làm đối trọng với Mỹ, mặt khác, không sẵn sàng chia sẻ ảnh hưởng với Moskva ở khu vực. Trong khi đó, tham vọng của Trung Quốc đối với Biển Đông đã quá rõ ràng và nước này sẽ hành động ngày càng hung hăng hơn. Mỹ phản đối tham vọng này, nhưng cũng không từ bỏ mục tiêu biến các quốc gia Đông Nam Á thành tiền đồn chống Trung Quốc. Thực tế này đòi hỏi Moskva phải có các bước đi phù hợp với tình hình mới.

Việc Mỹ công bố và triển khai chiến lược “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở”, đồng thời tăng cường các cuộc tuần tra hải quân, không quân ở khu vực sẽ kéo theo phản ứng mạnh mẽ của Trung Quốc cả về lời nói lẫn hành động. Các diễn biến gần đây cho thấy, Trung Quốc ngày càng thiếu kiềm chế và sẽ không ngần ngại gây ra va chạm, đụng độ với các lực lượng tuần tra của Mỹ khi đi qua Biển Đông. Truyền thông Trung Quốc sẽ tăng cường công kích hành động của Mỹ, đồng thời tạo dư luận cho việc nước này tiếp tục “quân sự hóa” các đảo họ đang chiếm đóng trái phép ở Biển Đông, triển khai các vũ khí hiện đại nhằm tạo ưu thế về quân sự. Ngày 01/08/2019, phát biểu tại lễ kỷ niệm ngày thành lập Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình đã kêu gọi tiếp tục cải cách để tăng cường sức mạnh quân đội nước này. Đây sẽ là một trong những thách thức lớn đối với quốc phòng – an ninh của các nước trong khu vực, nhất là những nước có yêu sách chủ quyền ở Biển Đông.

Cũng theo dư luận Nga, Nga vừa là đối tác chiến lược của Việt Nam, vừa là đối tác quan trọng của Trung Quốc. Về phương diện ngoại giao, việc phát triển quan hệ hài hòa giữa Việt Nam – Nga – Trung Quốc sẽ đáp ứng lợi ích của tất cả các bên. Trong vấn đề Biển Đông, Trung Quốc một mặt tích cực lôi kéo Nga bằng mọi cách, mặt khác luôn sẵn sàng thử thách phản ứng, thậm chí lợi dụng lập trường không đứng về bên nào của Nga cho mục đích tuyên truyền gây hiểu nhầm và chia rẽ quan hệ Nga – Việt, đồng thời tùy theo tình hình sẽ có các hành động liều lĩnh ở Biển Đông, bất chấp phản ứng của cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, trong quan hệ Nga – Trung hiện nay, Bắc Kinh cũng cần quan hệ gần gũi hơn với Moskva nên phải cân nhắc các bước đi mang tính khiêu khích, đụng chạm tới lợi ích của Nga tại khu vực. Do đó, Việt Nam trên cơ sở quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Nga, cần chủ động lôi kéo Nga về phía mình thông qua việc thường xuyên trao đổi các cuộc tiếp xúc cấp cao của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực; đẩy mạnh ngoại giao nhân dân giữa hai nước; mở rộng các dự án kinh tế cùng có lợi tại Biển Đông với sự tham gia của Nga và các đối tác gần gũi như Ấn Độ, Nhật Bản; mời các tổ chức khoa học uy tín ở Nga tham gia các dự án chung quy mô lớn nghiên cứu hải dương học ở Biển Đông, hỗ trợ các nhà nghiên cứu Nga có đề tài, dự án nghiên cứu khoa học về Biển Đông; phối hợp với các đối tác truyền thông Nga tích cực thông tin tuyên truyền về Biển Đông trên các phương tiện truyền thông đại chúng Nga để các tầng lớp nhân dân Nga hiểu rõ hơn về tính chất chính nghĩa của Việt Nam trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông.

Việc dư luận Nga năm nay chuyển hướng, bày tỏ thái độ ủng hộ ngày càng nhiều hơn các hoạt động của Việt Nam trong giải quyết tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông với Trung Quốc, nhất là tại bãi Tư Chính hiện nay cho thấy, tuyên bố và cách ứng xử của Việt Nam là hoàn toàn phù hợp với quy định của luật pháp quốc tế, phù hợp với xu thế trong giải quyết các vấn đề tranh chấp hiện nay trên thế giới, do đó ngày càng nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của nhiều nước trong và ngoài khu vực. Trong khi đó, với hành động sai trái của mình, Bắc Kinh đang bị các nước lên án, chỉ trích quyết liệt, không chỉ từ các nước trong khu vực, từ phía các nước lớn ngoài khu vực như Mỹ, Nhật Bản, Anh, Pháp, Đức… mà hiện còn có cả chính giới và dư luận Nga. Cách tốt nhất để giữ uy tín của mình và tránh một lần nữa bị “cô đơn” trước thế giới, Trung Quốc nên hành xử theo đúng những gì đã từng tuyên bố và cam kết, tôn trọng chủ quyền của Việt Nam và các nước trong khu vực, góp phần duy trì bảo đảm an ninh, hòa bình, ổn định đối với Biển Đông.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Tham vọng của Bắc Kinh tại Biển Đông ngày càng thu hút sự chú ý của Mỹ

Tham vọng của Bắc Kinh tại Biển Đông ngày càng thu hút sự chú ý của Mỹ

Hoàng Vũ | 

Tham vọng của Bắc Kinh tại Biển Đông ngày càng thu hút sự chú ý của Mỹ
Tàu USS Ronald Reagan và các tàu của Mỹ triển khai hoạt động ở Biển Đông trong tháng 10 – Ảnh: AFP

Trung Quốc đang không ngừng triển khai các đội tàu tuần duyên khổng lổ cùng tàu đánh cá kết hợp dân quân biển để đòi hỏi một cách phi lý về chủ quyền tại Biển Đông. Đáp lại, Mỹ hiện cũng đưa các tàu thuộc Lực lượng Tuần duyên tới khu vực.

Trung Quốc đang không ngừng triển khai các đội tàu tuần duyên khổng lổ cùng tàu đánh cá kết hợp dân quân biển để đòi hỏi một cách phi lý về chủ quyền tại Biển Đông. Đáp lại, Mỹ hiện cũng đưa các tàu thuộc Lực lượng Tuần duyên tới khu vực.

Theo SCMP, trong những năm gần đây, Bắc Kinh đã sử dụng một cách khéo léo lực lượng tàu dân sự núp dưới vỏ “hòa bình, thân thiện” để đe dọa và lấn át các nước khác có chủ quyền trên Biển Đông.

Tuy nhiên, theo những gì các nhà phân tích gọi là chiến lược “chiến tranh Nhân dân trên biển”, Trung Quốc đã triển khai hàng loạt các tàu đánh cá kiêm cả vai trò dân quân biển và các đội tàu tuần duyên khổng lồ ở Biển Đông, nhằm khẳng định yêu sách chủ quyền phi lý của Bắc Kinh tại vùng biển chiến lược này.

Trước sự bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông, các nước trong khu vực buộc phải xem xét lại chiến lược đối phó của mình.

Phản ứng với các động thái của Trung Quốc, Mỹ cũng đã đưa các tàu thân trắng thuộc Lực lượng Tuần duyên Mỹ (USCG) tới khu vực. Cách tiếp cận của Mỹ đã phản ánh lập trường của Washington trong việc đối phó với nguy cơ xảy ra cuộc chiến tranh lạnh mới ở Đông Á, khi hai siêu cường cùng “tranh đấu” trên biển.

Nhận thức được các chính quyền tiền nhiệm đã thất bại trong việc kìm hãm Trung Quốc khi nước này chuyển đổi nhanh chóng bối cảnh chiến lược khu vực – đặc biệt là chương trình cải tạo đảo lớn và quân sự hóa phi pháp các đảo trên Biển Đông -, chính quyền Mỹ dưới thời Tổng thống Donald Trump đã đưa ra nhiều các tiếp cận mới ở Biển Đông.

Nhà Trắng đã trao quyền tự quyết chính sách lớn hơn cho Lầu Năm Góc (Bộ Quốc phòng Mỹ) để thách thức một Trung Quốc đang ngày càng gia tăng ảnh hưởng trong khu vực. Kết quả của chính sách này được thể hiện qua nhiều chiến dịch đảm bảo tự do hàng hải (FONOPS) do hải quân Mỹ thực hiện trên khắp Châu Á và tại Biển Đông.

FONOPS cho phép Mỹ nhiều lần triển khai các tàu chiến tiến vào khu vực 12 hải lý xung quanh các đảo do Trung Quốc chiếm đóng tại Biển Đông. Hơn nữa, FONOPS còn mở rộng sang các khu vực địa lý mới, đặc biệt là Bãi cạn Scarborough.

Khi có được quyền tự quyết nhiều hơn, Lầu Năm Góc cũng áp dụng một ngôn ngữ cứng rắn hơn, bao gồm công khai kêu gọi Trung Quốc tháo dỡ các tài sản quân sự trái phép mà nước này đã triển khai trên các đảo nhân tạo.

Quan trọng hơn, hải quân Mỹ đã thay đổi cách tiếp cận hoạt động. Bắt đầu từ cuối năm 2018, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ lúc đó là ông James Mattis đã cảnh báo rằng, Lầu Năm Góc sẽ bắt đầu “đối xử” với lực lượng dân quân biển Trung Quốc, còn được gọi là Lực lượng Dân quân Hàng hải Quân đội Giải phóng Nhân dân, như một nhánh mở rộng của lực lượng vũ trang Bắc Kinh.

Sự thay đổi hoạt động này sau đó đã được xác nhận và triển khai trong năm nay bởi đô đốc John Richardson, người đứng đầu các hoạt động hải quân của Mỹ, khi ông cảnh báo về các hành động khiêu khích của Trung Quốc, cụ thể qua các cuộc đối đầu giữa các tàu núp dưới vỏ bọc hòa bình của Trung Quốc với tàu của các nước khác trong khu vực.

Ban lãnh đạo Lầu Năm Góc đã cam kết sẽ chống lại chiến lược chiến tranh không cần đổ máu của Trung Quốc bằng cách xây dựng cách tiếp cận cụ thể nhằm đối phó các lực lượng tuần duyên và bán quân sự vốn đang càng phát triển của Bắc Kinh. Sau khi cảnh báo Bắc Kinh về các hành vi cản trở hoạt động của tàu Mỹ trong khu vực, đô đốc Richardson hứa hẹn sẽ có cách tiếp cận “cơ bắp” với Trung Quốc.

Điều này cho thấy sự leo thang căng thẳng rất lớn, vì tàu chiến Mỹ có thể bắt đầu áp dụng cách thức đối phó tương tự với các tàu quân sự “vỏ xám” của Trung Quốc cũng như các tàu bán quân sự và tàu tuần duyên của nước này, đồng nghĩa với việc gia tăng đáng kể các nguy cơ xảy ra các vụ chạm trán trên biển.

Sau vụ nghi ngờ tàu bán quân sự Trung Quốc đâm chìm tàu cá Philippines trên Biển Đông hồi tháng 6, Washington đã cảnh báo công khai Bắc Kinh rằng, nước này có hiệp ước phòng vệ chung với Manila và có thể áp dụng nhằm chống lại trước các mối đe dọa “vùng xám” của Trung Quốc trên Biển Đông.

Bên cạnh đó, lực lượng tuần duyên Mỹ (USCG) cũng đã bắt đầu tham gia vào cuộc tranh chấp, đồng thời mở rộng các cuộc tập trận chung nhằm nâng cao năng lực phòng vệ của các của các quốc gia có liên quan.

Khi được hỏi về các kế hoạch nhằm đối phó các cuộc xung đột ở Biển Đông với Trung Quốc, tư lệnh của USCG, đô đốc Karl Schultz, đã nói trong Diễn đàn An ninh Quốc tế Halifax (Canada) năm ngoái rằng, các cuộc thảo luận và những nỗ lực lên kế hoạch vẫn đang diễn ra.

“Chúng tôi có liên quan với nhau, chúng tôi đã hợp tác đào tạo với các đồng minh khu vực nhằm tăng cường an ninh khu vực. Chúng tôi muốn tập trung vào các đối tác có chung chí hướng nhằm xây dựng một cách tiếp cận mang tầm khu vực”, đô đốc Schultz nhấn mạnh.

Đô đốc Philip Davidson, người đứng đầu Bộ Tư lệnh Ấn Độ – Thái Bình Dương Mỹ, đã nhắc lại cách tiếp cận toàn diện này qua việc khẳng định trọng tâm vào việc thách thức cái gọi là “Vạn lý Trường thành SAM” – hệ thống tên lửa đất đối không do Trung Quốc triển khai tại Biển Đông.

Các tàu của tuần duyên Mỹ cũng đã tham gia các chiến dịch “Tự do hàng hải” (FONOPS) cùng hải quân Mỹ ở nhiều khu vực bao gồm cả eo biển Đài Loan. USCG cũng tăng cường triển khai các chiến dịch khác như triển khai 3 tàu phản ứng nhanh ở đảo Guam và tham gia tập trận chung ở Tây Thái Bình Dương với các đồng minh ngoài châu Á.

Gần đây, các tàu USCGC Walnut và USCGC Joseph Gerczak đã thực hiện các nhiệm vụ chung với tàu hải quân Úc HMAS Choules và hải quân New Zealand HMNZS Otago. Điều này báo hiệu sự thúc đẩy các hoạt động lâu dài của Mỹ trong khu vực.

Biển Đông hiện là một trong những điểm nóng ngày càng gia tăng căng thẳng trong mối quan hệ Trung – Mỹ, bao gồm một cuộc chiến thương mại, các chế tài của Mỹ và vấn đề Đài Loan.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Liên hợp quốc: Cần đảm bảo hoà bình, ổn định, tự do, an ninh hàng hải và hàng không ở Biển Đông

Liên hợp quốc: Cần đảm bảo hoà bình, ổn định, tự do, an ninh hàng hải và hàng không ở Biển Đông

Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN-Liên hợp quốc lần thứ 10, ; Liên hợp quốc khẳng định ủng hộ lập trường ASEAN về Biển Đông giải quyết các bất đồng bằng đối thoại trên cơ sở luật pháp quốc tế.

Trong khuôn khổ Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 35 và các hội nghị cấp cao liên quan, đã diễn ra Hội nghị Cấp cao ASEAN-Liên hợp quốc lần thứ 10 (3/11). Tại Hội nghị, các nhà Lãnh đạo đánh giá cao tầm quan trọng của Liên hợp quốc và ASEAN trong hợp tác giải quyết các thách thức trên thế giới.

Trong bối cảnh tình hình thế giới chuyển biến nhanh chóng, phức tạp, nhiều mối an ninh phi truyền thống, tội phạm mạng, bệnh dịch, biến đổi khí hậu, diễn biến tình hình ở Biển Đông… hai bên nhấn mạnh nhu cầu hợp tác ứng phó biến đổi khí hậu và thiên tai; chống tội phạm xuyên biên giới, khủng bố, phát triển bền vững, chống nước biển dâng, ô nhiễm, rác thải nhựa; thúc đẩy hợp tác ASEAN với Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF). Về Biển Đông, Hội nghị đánh giá có những diễn biến đáng lo ngại, cho rằng các hành động đơn phương đi ngược lại luật pháp quốc tế vừa qua đang ảnh hưởng tiêu cực tới hòa bình, ổn định và an ninh, an toàn và tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông; Liên hợp quốc ủng hộ lập trường ASEAN về Biển Đông giải quyết các bất đồng bằng đối thoại trên cơ sở luật pháp quốc tế. Hội nghị tin rằng với Indonesia và Việt Nam là Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc năm 2020, ASEAN và Liên hợp quốc sẽ gia tăng hơn nữa hợp tác, góp thúc đẩy hòa bình, an ninh và phát triển bền vững ở khu vực và trên thế giới.

Thay mặt các nước ASEAN, Chủ tịch ASEAN 2019 Thái Lan phát biểu ghi nhận nỗ lực hiện thực hóa 93% mục tiêu trong kế hoạch hành động ASEAN-Liên hợp quốc, hướng tới thực hiện Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2025 và Các mục tiêu phát triển bền vững (SDG) 2030; cảm ơn Liên hợp quốc hỗ trợ, khai trương Trung tâm Nghiên cứu và Đối thoại bền vững.

Tổng thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres nhấn mạnh tầm quan trọng và vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực, đánh giá cao những thành tựu ASEAN đạt được trong phát triển kinh tế xã hội, tuy nhiên cho rằng vẫn còn nhiều thách thức cần giải quyết để không ai bị bỏ lại phía sau. Tổng thư ký khẳng định Liên hợp quốc sẵn sàng hỗ trợ ASEAN, mong muốn ASEAN tiếp tục mục tiêu phát triển bền vững. Về biến đổi khí hậu, Tổng thư ký Liên hợp quốc kêu gọi cắt giảm 45% lượng khí thải nhà kính, đánh thuế carbon, không xây dựng nhà máy nhiệt điện dùng nhiên liệu hóa thạch; nhắc lại cam kết các quốc gia phát triển cung cấp 100 tỷ USD để giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu.

Trong cuộc gặp bên lề giữa Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc với Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Antonio Guterres. Thủ tướng khẳng định Việt Nam ủng hộ chủ nghĩa đa phương, quyết tâm thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững (SDG) 2030 và Thoả thuận Paris về ứng phó với biến đổi khí hậu, ủng hộ nỗ lực của Tổng thư ký trong việc cải tổ hệ thống phát triển của Liên Hợp Quốc. Việt Nam sẵn sàng tiếp tục có những đóng góp tích cực hơn nữa vào các hoạt động gìn giữ hòa bình, ủng hộ sáng kiến của Tổng thư ký về “Hành động vì hoạt động gìn giữ hòa bình”.

Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Antonio Guterres bày tỏ tình cảm đặc biệt sâu sắc với Việt Nam trong những năm tháng đấu tranh giải phóng dân tộc trước kia cũng như xây dựng đất nước hiện nay. Tổng thư ký đánh giá Việt Nam là nước đi tiên phong trong nhiều lĩnh vực như phát triển bền vững, xoá đói giảm nghèo, đánh giá cao sự tham gia hiệu quả và mong muốn Việt Nam đóng góp tích cực hơn nữa cho nỗ lực gìn giữ hoà bình của Liên Hợp Quốc, mong muốn Việt Nam phát huy vai trò nêu gương trong lĩnh vực ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, sử dụng năng lượng sạch có tầm quan trọng sống còn đối với tương lai nhân loại. Hai nhà lãnh đạo nhất trí sẽ tăng cường các hoạt động hợp tác, kết nối giữa ASEAN và Liên Hợp Quốc trong Năm Chủ tịch Asean 2020 và nhiệm kỳ Ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc 2020-2021 của Việt Nam. Về tình hình Biển Đông, hai nhà lãnh đạo chia sẻ quan điểm về việc cần đảm bảo hoà bình, ổn định, tự do, an ninh hàng hải và hàng không, sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử của các bên trên Biển Đông (COC) trên tinh thần đảm bảo tôn trọng luật pháp quốc tế và Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS).

Tin mới

Các tin khác

Categories: Biển Đông | Leave a comment

ASEAN: Làm thế nào để đoàn kết khi người xây, kẻ phá?

Posted on by huyentamhh

ASEAN: Làm thế nào để đoàn kết khi người xây, kẻ phá?

Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 35 và các Hội nghị liên quan diễn ra ngày 2-4/11 với sự tham dự của lãnh đạo cấp cao các nước ASEAN và đối tác. Lãnh đạo nhiều nước đã có phát biểu liên quan đến Biển Đông.

Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc khẳng định cần đẩy mạnh các nỗ lực ở cả cấp độ song phương và đa phương nhằm đề cao tuân thủ luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982, không để lặp lại các hành động đi ngược lại luật pháp quốc tế, tạo môi trường thuận lợi cho việc thúc đẩy đối thoại, xây dựng lòng tin, giải quyết hòa bình các khác biệt trên cơ sở luật pháp quốc tế, thực hiện nghiêm túc, đầy đủ Tuyên bố DOC và nỗ lực hoàn tất Bộ quy tắc ứng xử COC hiệu quả, hiệu lực, phù hợp với luật pháp quốc tế và được cộng đồng quốc tế ủng hộ.

Thủ tướng Malaysia Mahathir Mohamad chỉ nói rằng “Trung Quốc cũng tỏ ra ủng hộ hòa bình trên Biển Đông” mà không giải thích gì thêm.[1]

Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte nói Philippines sẵn sàng hợp tác với các bên để đàm phán thành công bộ quy tắc ứng xử COC có tính ràng buộc trên Biển Đông. Ông cũng nhấn mạnh thắng lợi của Philippines trong vụ kiện Trung Quốc, khẳng định hòa bình là con đường duy nhất tại Biển Đông, các nước cần phải giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế và UNCLOS 1982. Ông kêu gọi ASEAN phải đoàn kết và giữ vững môi trường thuận lợi cho việc đàm phán và thương lượng công bằng.[2]

Tuy nhiên, ngay tại Manila, Người Phát ngôn Phủ Tổng thống Salvador Panelo nói rằng vụ tàu hải quân Trung Quốc quấy rối một tàu chở dầu của Hy Lạp gần Bãi cạn Scarborough không liên quan tới Philippines. “Miễn là họ [Trung Quốc] không động vào tàu của Philippines thì đó sẽ vẫn là vấn đề của chỉ quốc gia mà tàu đó treo cờ.”

Phát ngôn này của ông Panelo gặp sự phản ứng dữ dội từ các chuyên gia, luật sư và chính trị gia ở Philippines. Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Delfin Lorenzana đã yêu cầu Trung Quốc phải tôn trọng pháp luật hàng hải quốc tế và kêu gọi các nước tôn trọng quyền tự do hàng hải ở Biển Tây Philippines. Ông nhấn mạnh rằng Bãi cạn Scarborough nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines. Nghị sĩ Philippines Panfilo Lacson cũng tỏ ra bất bình trước vụ việc – làm sao mà tàu nước ngoài “qua lại trong vùng biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Philippines bị chính quyền Trung Quốc chặn lại thì không liên quan tới Philippines?”

Trong bối cảnh đang diễn ra cuộc họp cấp cao ASEAN lần thứ 35 và trước phát biểu của Tổng thống Duterte, phát ngôn của ông Panelo dường như đang thể hiện một mặt khác trong chính sách của Philippines – chỉ tỏ vẻ bất bình suông trước các hành vi xâm lấn ở Biển Đông của Trung Quốc. Liệu lời kêu gọi ASEAN đoàn kết của Tổng thống Duterte còn có giá trị trong khi chính Philippines lại làm ngơ như vậy?[3]

Thêm vào đó, khi nói đến nhân tố làm chia rẽ ASEAN thì không thể không nói đến Campuchia với sự kiện Hội nghị ASEAN lần đầu tiên không đưa ra được tuyên bố chung năm 2012. Các nước khác trong ASEAN hoặc là ít lên tiếng, hoặc không dám lên tiếng chỉ trích trực tiếp Trung Quốc. Dường như Việt Nam vẫn là nước duy nhất kiên quyết, kiên trì với các tranh chấp tại Biển Đông và kêu gọi sự ủng hộ từ cộng đồng quốc tế và ASEAN khó có thể thống nhất quyết định và có tiến triển tích cực trong các vấn đề Biển Đông.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

ông trên “thực địa”, Hải cảnh 35111 của TQ chuẩn bị quấy phá trên biển?

Posted on by huyentamhh

Tin Biển Đông: “Đường lưỡi bò” tấn công trên “thực địa”, Hải cảnh 35111 của TQ chuẩn bị quấy phá trên biển?

BTV Tiếng Dân

6-11-2019

Báo Thời Đại đưa tin: Nhiều ô tô Trung Quốc cài “đường lưỡi bò” nhập khẩu vào Việt Nam bị phát hiện. Ngày 5/11/2019, ông Nguyễn Văn Thanh, Chi cục trưởng Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đình Vũ, xác nhận, đơn vị vừa kiểm tra và phát hiện lô hàng của Công ty TNHH ô tô Hoa Mai, chứa 7 xe ô tô nghi vấn vi phạm chủ quyền quốc gia. Lô hàng gồm 12 ô tô, mở tờ khai ngày 29/10/2019, trong đó có 7 xe bị phát hiện ngày 31/10, hiển thị hình ảnh bản đồ “đường lưỡi bò” trên màn hình ứng dụng định vị dẫn đường.

Báo Người Đưa Tin có video: Bộ GD&ĐT nói về trách nhiệm khi để xảy ra việc giáo trình có hình “đường lưỡi bò”.

Video Player

00:00
02:01

VTC dẫn lời LS Quốc Trị nhận định vụ ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội tự ý in giáo trình ‘đường lưỡi bò’ khi nhà xuất bản chưa đồng ý: Trường dạy sách lậu. LS Trị phân tích, chuyện lãnh đạo trường này biện hộ do không đủ kinh phí để xin NXB gốc cấp phép là không chuyên nghiệp và rõ ràng đó là “sách lậu”. Thậm chí trường vi phạm cả về Luật sở hữu trí tuệ, giả sử phía NXB phía TQ kiện ngược lại, thì là vấn đề rắc rối.

Theo LS Trị, hành động sao chép giáo trình tràn lan của khoa tiếng Trung- Nhật là trái quy định pháp luật: “Tình trạng sách photocoppy bán tràn lan, chẳng khác nào giết chết công trình trí não của tác giả và cuốn sách gốc. Qua sự việc lần này chúng ta cần nhìn nhận lại vấn nạn sách lậu mặc nhiên tồn tại ở rất nhiều trường đại học, cao đẳng hiện nay”.

Sai phạm của ĐH Kinh doanh và Công Nghệ Hà Nội chưa dừng lại ở đó, bên cạnh giáo trình có “đường lưỡi bò”, cơ quan chức năng còn phát hiện và thu hồi giáo trình đại học ghi quần đảo Trường Sa thành Nam Sa, theo VietNamNet.

GS.TS Đinh Văn Tiến, Phó Hiệu trưởng trường này thừa nhận, trong quá trình kiểm định, Phòng Khoa học và Đảm bảo chất lượng của trường đã phát hiện giáo trình “Tổng quan về Trung Quốc”, của NXB Đại học Bắc Kinh, 2018, lồng vào những hình ảnh ghi quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của VN lần lượt là Nam Sa và Tây Sa, là cách gọi của TQ đối với các quần đảo này: “Đó là sự cố ý, tuyên truyền sai trái của phía Trung Quốc”.

Tàu Hải cảnh Trung Quốc 35111

Trang Dự án Đại Sự Ký Biển Đông đặt câu hỏi: Tàu Hải cảnh 35111 lại chuẩn bị một đặc vụ mới? Đây là tàu hải cảnh của Trung Quốc thường xuyên quấy nhiễu các hoạt động khai thác dầu khí của Malaysia, gần đây nhất là hoạt động của Việt Nam cùng các đối tác tại lô 06.1, Nam Côn Sơn, nơi có mỏ Lan Tây – Lan Đỏ.

Hải cảnh 35111 là một trong những tàu hải cảnh hiếu chiến nhất của Trung Quốc. Tàu này đã xuất hiện ở phía tây bãi Tư Chính ngay từ ngày 18/6/2019, theo GS Martinson, nó không tham gia trực tiếp vào việc hộ tống tàu thăm dò Hải Dương 8, mà quấy phá ở lô dầu 06-1, do tập đoàn Rosneft của Liên bang Nga và Việt Nam khai thác.

Ngày 2/11 vừa rồi, tàu hải cảnh 35111 rời cảng Tam Á ở đảo Hải Nam, tiến xuống phía nam, hướng ra căn cứ trên đảo nhân tạo Subi, một trong các căn cứ tiếp tế hậu cần cho nhóm tàu Trung Quốc trong suốt thời gian xâm phạm vùng biển Việt Nam, và có thể của Malaysia và Philippines.

Thường khi một tàu Trung Quốc rời khỏi cảng nhà và tiến xuống neo đậu tại các căn cứ do nước này bồi đắp trái phép ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, khả năng rất cao là tàu đó chuẩn bị thực hiện nhiệm vụ quấy phá lãnh hải các nước ASEAN.

Tàu hải cảnh 35111 rời cảng Tam Á từ ngày 2/11/2019 và tiến xuống đá Subi. Nguồn: DA ĐSK Biển Đông

Báo Pháp Luật TP HCM đưa tin: Ấn Độ âm thầm gia tăng sự hiện diện ở biển Đông. Lộ trình của New Delhi nhằm tăng cường hiện diện tại Biển Đông: “Bên cạnh hợp tác kinh tế, hợp tác chiến lược cũng được mở rộng thông qua các cuộc tập trận chung, huấn luyện quân sự và bán vũ khí cho các nước trong khu vực”, cùng với “sự hiện diện mạnh mẽ của các khí tài quân sự của Ấn Độ trong khu vực”.

______

Mời đọc thêm: Những sự việc ở biển Đông đi ngược lại luật pháp quốc tế (TP). – Nỗ lực xây dựng lòng tin để khu vực Biển Đông hoà bình (VOV). – Mỹ – Trung “ăn miếng trả miếng” về Biển Đông tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN (Infonet). – Hội nghị Cấp cao Mê Kông – Nhật Bản 11: Tái khẳng định lập trường về Biển Đông (CL).

– Bộ GD&ĐT nói gì về giáo trình có in “đường lưỡi bò” phi pháp? (VnMedia). – Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu thu hồi giáo trình có nội dung ảnh hưởng an ninh quốc gia (BNews). – Bộ GD-ĐT yêu cầu xử nghiêm vụ giáo trình có “đường lưỡi bò” (SGGP). – Giáo trình lọt ‘đường lưỡi bò’: Vì sao chưa phê duyệt nhưng vẫn giảng dạy cho sinh viên? (VTC). – Giáo trình có “đường lưỡi bò”: Thừa nhận sốc (ĐV).

– Sau ‘đường lưỡi bò’, phát hiện thêm giáo trình đại học xâm phạm chủ quyền (TP). – Các Bộ tổng lực rà soát các nội dung liên quan tới bản đồ “đường lưỡi bò” (TQ). – Hàng loạt sản phẩm có hình “đường lưỡi bò” xuất hiện tại Việt Nam, lãnh đạo các Bộ nói sao? (ANTĐ). – “Truy” trách nhiệm vụ giáo trình có bản đồ “đường lưỡi bò” (VOV). – “Đường lưỡi bò” lọt vào sản phẩm, ô tô, sách… là trách nhiệm của cơ quan nào? (GDVN).

– Hải quan Hải Phòng:  Phát hiện 7 ô tô Trung Quốc nghi chứa “Bản đồ đường lưỡi bò” (HQ). – Bộ Công Thương yêu cầu siết chặt kiểm tra hàng hóa có đường lưỡi bò (Zing). – Bộ Công Thương không nương tay với hoạt động thương mại có “đường lưỡi bò” (PT). – Thứ trưởng Cao Quốc Hưng: Kiểm tra chặt các doanh nghiệp nhập khẩu ô tô (BNews). Không có biện pháp khác, chỉ Yêu cầu DN nhập khẩu ô tô không sử dụng bản đồ có “đường lưỡi bò“ (VOV). – Sẽ sung công quỹ chiếc Volkswagen sau khi gỡ bản đồ đường lưỡi bò (GT).

Bình Luận từ Facebook
Categories: Biển Đông | Leave a comment

Kịch bản “sự đã rồi” trong tranh chấp lãnh thổ và vài gợi ý chính sách cho ngăn chặn “sự đã rồi” ở Biển Đông

Posted on by huyentamhh

Kịch bản “sự đã rồi” trong tranh chấp lãnh thổ và vài gợi ý chính sách cho ngăn chặn “sự đã rồi” ở Biển Đông

Trong bối cảnh tình hình thế giới hiện nay có nhiều diễn biến phức tạp, cùng với đó là sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng tăng lên, người ta chưa thấy có cuộc chiến tranh xâm lược biên giới, lãnh thổ lớn nào xảy ra trong vài năm gần đây, nhưng tranh chấp lãnh thổ giữa các quốc gia vẫn không hề suy giảm. Có một số nước đã áp dụng kịch bản “sự đã rồi” để xâm chiếm những vùng đất có giới hạn của quốc gia có chủ quyền để đơn phương thay đổi nguyên trạng lãnh thổ trước khi nước đối phương có thể đưa ra phản ứng hiệu quả. Đây cũng là cách để họ vừa chiếm đóng được đất đai của người khác, vừa không gây ra chiến tranh lớn với nước đối phương, tránh được “búa rìu” của dư luận và sự can thiệp của bên thứ ba. Trong vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, Trung Quốc dường như đang đi theo kịch bản này. Vì thế, các quốc gia hữu sự ở Biển Đông cần hết sức quan tâm đến kịch bản “sự đã rồi” và nghiên cứu phương cách đối phó với nó.

Đầu tiên là lôgích của kịch bản “sự đã rồi”. Những sự kiện đã từng xảy ra trên thế giới cho thấy, những nước tìm cách mở rộng lãnh thổ thường có 3 lựa chọn kịch bản: (1) Dùng vũ lực; (2) Cưỡng ép; (3) Gây ra “sự đã rồi”. Trong kịch bản sử dụng vũ lực, bên xâm chiếm trước hết sẽ đánh bại bên đối phương trên chiến trường, sau đó đưa ra các đòi hỏi về lãnh thổ. Bị đánh bại về quân sự, bên đối phương không còn lựa chọn nào khác ngoài việc chấp nhận những yêu cầu của bên chiến thắng. Nếu không, bên xâm chiếm có thể ép buộc bên đối phương phải giao nộp một số vùng lãnh thổ của họ. Đối mặt với sức ép và trong một số trường hợp khi nguy cơ chiến tranh đang cận kề, bên đối phương có thể quyết định rằng, tốt hơn hết là họ nên chấp nhận các yêu cầu của bên xâm chiếm thay vì mạo hiểm leo thang chiến tranh.

Tuy nhiên, việc sử dụng vũ lực buộc phải huy động nguồn lực tổng hợp của quốc gia và thường rất tốn kém cả về nhân lực lẫn vật lực. Thậm chí, trong trường hợp bị “sa lầy” chiến tranh thì có thể làm cho nước xâm chiếm bị kiệt quệ bởi ngay cả những nạn nhân yếu ớt nhất cũng sẽ chống trả quyết liệt nếu như sự tồn tại của họ thực sự bị đe dọa. Do đó, một cuộc chiến dự định diễn ra trong một thời gian ngắn có thể nhanh chóng biến thành một vũng lầy không thể thoát ra được. Đây là lý do giải thích tại sao sử dụng vũ lực có thể là lựa chọn duy nhất khi bên xâm chiếm tìm cách chinh phục toàn bộ lãnh thổ của một nước khác nhưng nó sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu họ chỉ theo đuổi các mục tiêu lãnh thổ có giới hạn.

Kịch bản cưỡng ép đỡ tốn kém hơn so với việc sử dụng vũ lực, nhưng lịch sử của nó lại tương đối ảm đạm, nhất là khi các đòi hỏi mang tính cưỡng ép có liên quan đến lãnh thổ. Hơn nữa, bằng cách gây sức ép cho nước đối phương, bên xâm chiếm chắc chắn sẽ để lộ các ý đồ của họ, mặc nhiên đưa ra một cảnh báo sớm cho nước đối phương biết khiến họ có thể chuẩn bị sẵn sàng về mọi mặt, kể cả về quân sự để đối phó nhằm làm giảm lợi thế tấn công trước của bên xâm chiếm nếu có. Nói cách khác, kịch bản cưỡng ép thường không thật hiệu quả để chinh phạt lãnh thổ, làm giảm các lựa chọn sẵn có để bên xâm chiếm đạt được mục tiêu giành lãnh thổ.

Đây là lý do giải thích tại sao các nước sử dụng kịch bản “sự đã rồi” nhiều hơn, nghĩa là chiếm được những vùng lãnh thổ có giới hạn trong khi không phải leo thang chiến tranh. Một kịch bản “sự đã rồi” cho phép bên xâm chiếm đơn phương thay đổi nguyên trạng lãnh thổ trước khi nước đối phương có thể kịp thời đưa ra phương cách đối phó hiệu quả. Điều này đẩy nước đối phương vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan” vì họ phải lựa chọn giữa 2 phương cách không mấy hấp dẫn: (1) Cố gắng đánh bật những kẻ xâm lược ra khỏi vùng lãnh thổ bị chiếm đóng và dẫn đến nguy cơ chiến tranh mở rộng, leo thang; (2) Chấp nhận mất đi một phần lãnh thổ. Do đó, đối với bên xâm chiếm, khi sử dụng kịch bản “sự đã rồi”, họ đều hi vọng và đặt cược vào khả năng: Nước đối phương sẽ thà để mất một phần lãnh thổ còn hơn là chống trả để rồi phải chấp nhận đương đầu với một cuộc xung đột lớn hơn. Đây là lý do giải thích tại sao sự quyết đoán và quy mô hạn chế là những đặc điểm thuộc về bản chất của mọi sự xâm chiếm lãnh thổ bằng kịch bản “sự đã rồi”.

Mặc dù bất kỳ kịch bản “sự đã rồi” nào cũng chỉ liên quan trực tiếp đến hai quốc gia, nhưng nó thường có tác động đáng kể đến các bên thứ ba, nhất là trong bối cảnh Toàn cầu hóa. Việc nước Nga sáp nhập bán đảo Crimea vào lãnh thổ của họ là một tổn thất về lãnh thổ đối với riêng Ukraine, nhưng Mỹ và các nước châu Âu khác lại có mối quan ngại chính đáng về những tác động rộng lớn hơn từ hành vi xâm chiếm của Nga. Các nhà lãnh đạo châu Âu có lý khi cho rằng, Crimea chỉ là bước đi đầu tiên và sự bành trướng của Nga về phía Tây sẽ không dừng lại ở Ukraine. Ngay cả trường hợp họ được thuyết phục và có bằng chứng chắc chắn về việc tham vọng lãnh thổ của Moskva được giới hạn chỉ tới đó mà thôi, thì nhiều nước vẫn có động cơ mạnh mẽ để tìm cách đảo ngược kịch bản “sự đã rồi” của Nga vì nếu không làm như vậy, có thể khuyến khích các nước khác “theo gương” Nga mà cũng tìm cách mở rộng lãnh thổ.

Tuy vậy, kịch bản “sự đã rồi” còn là một chiến thuật hướng đến mục tiêu ngăn chặn sự can thiệp từ bên ngoài. Bởi việc sử dụng vũ lực và cưỡng ép trong một thời gian dài hơn sẽ cho phép các bên thứ ba như Liên Hợp Quốc hoặc một cường quốc khác can thiệp vào. Còn áp dụng “sự đã rồi” thì nhất thiết phải nhanh chóng thay đổi tình hình trên thực địa, bên xâm chiếm phải đạt được mục tiêu lãnh thổ trước khi bất kỳ bên thứ ba nào có thể can thiệp. Khi phải đối mặt với một “sự đã rồi”, các bên thứ ba nếu muốn can thiệp thì chỉ có thể can thiệp bằng cách cố gắng giành lại vùng lãnh thổ bị xâm chiếm bằng sử dụng vũ lực. Nhưng việc sử dụng vũ lực rất tốn kém và nhiều rủi ro, nên các bên thứ ba ít có khả năng can thiệp hơn sau khi kịch bản “sự đã rồi” diễn ra. Vì vậy, kịch bản “sự đã rồi” thường cùng lúc nhằm vào 2 đối phương: Nạn nhân trực tiếp và những bên thứ ba có khả năng can thiệp. Khi tiến hành kịch bản này, bên xâm chiếm cố gắng tìm cách giảm thiểu 2 nguy cơ: (1) Nguy cơ xung đột kéo dài (nếu nước đối phương chống trả) và (2) Nguy cơ xung đột mở rộng (nếu bên thứ ba can thiệp).

Sau khi xảy ra “sự đã rồi”, đối phó thế nào với việc tổn thất lãnh thổ đây. Giả sử các nước bị xâm chiếm luôn tìm cách giành lại vùng lãnh thổ đã mất, thì họ chỉ có 2 lựa chọn cơ bản: Hoặc là cố gắng giành lại ngay lập tức vùng lãnh thổ đã mất, hoặc là có thể chờ thời cơ thích hợp để đòi lại vùng lãnh thổ đã mất trong tương lai xa. Quyết định đáp trả ngay lập tức hoặc trì hoãn trong việc giành lại lãnh thổ phụ thuộc chủ yếu vào 2 yếu tố: Giá trị của vùng lãnh thổ bị xâm chiếm và khả năng dễ nhận ra của kịch bản “sự đã rồi”.

Một lãnh thổ bị tranh chấp có thể rất có giá trị vì những lý do chiến lược hoặc mang tính biểu tượng. Với lý do chiến lược, vùng lãnh thổ đó thường mang lại lợi thế quân sự tức thì cho nước nắm quyền kiểm soát chúng hoặc khẳng định cho nước xâm chiếm ưu thế vượt trội về kinh tế hay tài nguyên. Bán đảo Crimea với căn cứ hải quân Sevastopol là một ví dụ về lãnh thổ chiến lược khi nó kiểm soát được cả Biển Đen lẫn biển Azov. Tương tự, eo biển Malacca ở nam Biển Đông khiến biển này là lãnh thổ chiến lược khi 1/3 số lượng hàng hóa của thế giới phải đi qua đây. Với lý do biểu tượng, một số vùng lãnh thổ có ý nghĩa quan trọng vì chúng mang tính biểu tượng, hoặc chúng được coi là những vùng đất linh thiêng (chẳng hạn như đền thờ Mount/Haram al-Sharif) hoặc vì chúng tượng trưng cho một cuộc tranh giành quyền lực lớn hơn (chẳng hạn như Berlin trong Chiến tranh Lạnh). Giới lãnh đạo của một quốc gia đang phải đối mặt với việc mất đi một vùng lãnh thổ có giá trị cao hay một vùng lãnh thổ có ý nghĩa biểu tượng đều cần có những hành động mạnh mẽ để đánh đuổi những kẻ xâm chiếm ngay lập tức vì việc đó có thể gây nguy hiểm cho an ninh quốc gia. Ngay cả khi an ninh không bị đe dọa, việc không phản ứng ngay trước kịch bản “sự đã rồi” có thể dẫn tới hình phạt nghiêm trọng về chính trị vì người dân sẽ không tha thứ cho việc để mất đi một vùng lãnh thổ quan trọng mang tính biểu tượng. Đây là lý do giải thích tại sao Ukraine đã phản ứng ngay lập tức để giành lại Crimea sau khi bị Nga sáp nhập năm 2014.

Điều gì xảy ra khi một kịch bản “sự đã rồi” nhắm mục tiêu vào một vùng lãnh thổ gần như không có giá trị thực chất? Trong những trường hợp như vậy, các nhà lãnh đạo ít có khả năng phản ứng ngay lập tức, chỉ khi kịch bản “sự đã rồi” rất dễ bị người dân nhận ra thì họ mới hành động. Cuộc tranh chấp lãnh thổ giữa Argentina và Anh là một ví dụ. Khi Argentina chiếm giữ phía nam đảo Thule năm 1976, Chính quyền Callaghan đã nhắm mắt làm ngơ trước vụ việc này, thậm chí giấu cả Quốc hội và người dân Anh trong suốt 18 tháng trước khi kịch bản “sự đã rồi” được biết đến rộng rãi. Ngược lại, khi Argentina chiếm đảo Falklands năm 1982, Thủ tướng Thatcher đã ngay lập tức cầu viện sự trợ giúp của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc và phái hải quân Anh vượt Đại Tây Dương tới giành lại hòn đảo này. Cả đảo Falkland lẫn Nam Thule đều rất có giá trị trong mắt các nhà hoạch định chính sách của Anh. Nhưng điểm khác biệt quan trọng ở đây là trong khi Argentina lén lút chiếm Nam Thule, họ lại công khai chiếm Falklands. Hành động công khai xâm chiếm Falklands chẳng khác gì là đòn tấn công trực diện vào danh dự quốc gia của Anh và do đó, nó là một nỗi nhục nhã. Bà Thatcher không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải đáp trả ngay lập tức trước kịch bản “sự đã rồi” của Argentina. Nếu không làm vậy, bà sẽ phải chịu sự công kích của các đối thủ chính trị và người dân, chính phủ của bà chắc chắn sẽ phải ra đi.

Đối với vấn đề tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông, kịch bản “sự đã rồi” đã từng diễn ra và rất dễ lặp lại.

Những diễn biến trên thực tế ở Biển Đông nhiều năm qua cho thấy, Trung Quốc, bên duy nhất trong các bên có yêu sách tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông đã sử dụng vũ lực để chiếm lấy những hòn đảo thuộc quyền kiểm soát của các quốc gia khác theo kịch bản “sự đã rồi”. Họ đã dùng vũ lực chiếm quần đảo Hoàng Sa ở miền Nam Việt Nam năm 1974. Tương tự, năm 1988, Hải quân Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) một lần nữa đã nổ súng để giành quyền kiểm soát một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa do Việt Nam chiếm giữ. Tiếp đó là sự kiện đá Vành Khăn năm 1995 và gần đây hơn là cuộc đối đầu với Philippines tại bãi cạn Scarborough năm 2012. Tất cả những sự kiện này nhắc nhở mọi người rằng, Bắc Kinh sẽ sử dụng vũ lực để thực thi các tuyên bố chủ quyền của họ trong khu vực bị tranh chấp. Thậm chí, khi nước Nga bất ngờ sáp nhập Crimea hồi đầu năm 2014, giới quân sự Trung Quốc đã hỏi nhau rằng: Người Nga sáp nhập được Crimea, cớ sao Trung Quốc không sáp nhập Biển Đông. Và vụ hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam tháng 5/2014 cho thấy sự sắp đặt cho một âm mưu của kịch bản “sự đã rồi”. Rất may, Biển Đông không phải là Crimea và người Việt Nam không phải là người Ukraine.

Tuy nhiên thời gian tới, nguy cơ xảy ra một kịch bản “sự đã rồi” nữa của Trung Quốc ở Biển Đông cũng rất cao vì nhiều yếu tố hiện đang ngả theo hướng có lợi cho họ. Do mức độ phụ thuộc kinh tế rất không cân xứng giữa các quốc gia, các nước láng giềng của Trung Quốc bị mất đất như Philippines và Việt Nam sẽ phải trả những giá rất đắt một khi tìm cách giành lại một hòn đảo nào đó mà Trung Quốc đang chiếm giữ. Hơn nữa, do sự mất cân bằng rõ ràng về sức mạnh theo hướng có lợi cho Trung Quốc, các nước nhỏ khó có khả năng sử dụng vũ lực để đánh bật Trung Quốc ra khỏi các hòn đảo, chưa nói đến việc phản ứng đó sẽ kích động một cuộc xung đột lớn hơn và gây tổn hại nặng nề hơn cho bên bị mất đất. Sự kiện năm nay Trung Quốc đưa tàu thăm dò địa chất Hải Dương 8 dai dẳng xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam ở Bãi Tư Chính buộc người ta phải nghĩ đến một kịch bản “sự đã rồi” nữa có thể xảy ra và nếu như nó xảy ra, làm thế nào để ngăn chặn?

Giới nghiên cứu quốc tế cho rằng: Cường quốc duy nhất đủ khả năng ngăn chặn tham vọng ngông cuồng và phiêu lưu của Trung Quốc ở Biển Đông vào thời điểm này là Mỹ. Lý tưởng nhất là Mỹ tuyên bố họ không dung thứ cho bất kỳ nỗ lực nào nhằm giải quyết tranh chấp bằng vũ lực, tương tự như lời đe dọa úp mở rằng họ sẽ ngăn chặn Trung Quốc xâm lược Đài Loan nếu có. Tuy nhiên, điều này khó có khả năng xảy ra trong tương lai gần vì các động thái của Mỹ cho đến nay cho thấy họ không đủ quyết tâm để trực tiếp thách thức Trung Quốc ở Biển Đông.

Có lẽ, cách tốt nhất để ngăn chặn Trung Quốc tiến hành kịch bản “sự đã rồi” ở Biển Đông là cần thuyết phục Bắc Kinh rằng họ không thể chiếm thêm các vùng biển hay hòn đảo bằng một kịch bản “sự đã rồi” chóng vánh mà không phải trả giá, thậm chí đổ máu. Các nước đang ngày càng tin vào đối sách này thay vì gây chiến hoặc cưỡng ép vì đó là một lựa chọn thay thế có phí tổn và rủi ro thấp mà có thể đạt được những mục tiêu giữ gìn lãnh thổ. Kết quả là, kịch bản “sự đã rồi” sẽ trở nên kém hấp dẫn hơn nếu những bên đang toan tính làm điều đó tin rằng nó chứa đựng nhiều rủi ro và tốn kém hơn là những gì họ từng hy vọng. Những nước có nguy cơ bị xâm chiếm lãnh thổ bằng kịch bản “sự đã rồi” phải thuyết phục các bên xâm chiếm rằng, chắc chắn họ sẽ nỗ lực giành lại lãnh thổ đã mất, bất chấp giá trị thực của nó. Cũng cần gửi “thông điệp” tới lãnh đạo các bên xâm chiếm rằng, đụng tới một hệ thống hay một thể chế là điều có thể, nhưng đụng đến cả một dân tộc lại là điều không thể.

Ai cũng biết, Biển Đông không phải là vùng biển riêng của bất cứ quốc gia nào. Chính vì lẽ đó nên những tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông không còn là vấn đề của một hay vài nước trong khu vực, cũng không còn là vấn đề quan tâm của khu vực mà đã trở thành vấn đề của quốc tế. Nói như các nhà nghiên cứu là vấn đề tranh chấp Biển Đông đã “quốc tế hóa”. Trung Quốc chỉ là một bên trong giải quyết vấn đề này với các bên hữu quan. Một khi Trung Quốc gây ra xung đột ở Biển Đông để thực hiện kịch bản “sự đã rồi” thì yếu tố “quốc tế hóa” xung đột ở Biển Đông cũng có thể xảy ra và nó cũng nên được xem như là một phương cách ngăn chặn. Còn nhớ, người Trung Quốc trước đây dị ứng lắm với câu chuyện “quốc tế hóa” Biển Đông. Vậy liệu “quốc tế hóa” xung đột ở Biển Đông có làm họ chùn tay?

Mặc dù hiện nay, Trung Quốc chưa sử dụng hết lực lượng quân sự để mở rộng quyền kiểm soát lãnh thổ của họ ở Biển Đông, nhưng các nước có liên quan không có lý do gì để “bình chân như vại”. Chưa ai dám khẳng định những tranh chấp ở Biển Đông liệu có lắng dịu và ổn định hoàn toàn trong những năm sắp tới hay không, bất chấp những nỗ lực không ngừng nhằm đàm phán về một bộ quy tắc ứng xử (COC) mang tính ràng buộc sắp ra đời. Việc Trung Quốc ngay từ bây giờ đang dốc sức cho hoàn thành xây dựng “xã hội khá giả” vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày thành lập Đảng cộng sản Trung Quốc (2021) và việc họ phô trương lực lượng quân sự hùng hậu trong cuộc duyệt binh nhân kỷ niệm 70 năm ngày quốc khánh Trung Quốc (1949 – 2019) dường như là một chỉ dấu cảnh báo các nước rằng, lãnh thổ của họ vẫn có thể bị xâm chiếm một cách chớp nhoáng. Do đó, các bên tranh chấp ở Biển Đông cần chuẩn bị sẵn sàng ngăn chặn một kịch bản “sự đã rồi” có khả năng xảy ra, đặc biệt là khi lịch sử hiện đại cho thấy, các quốc gia ngày càng có xu hướng lựa chọn kịch bản này thay vì sử dụng vũ lực để chiếm đoạt vùng lãnh thổ mới.

Tin mới

Các tin khác

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Việt Nam sẽ bị Trung cộng đánh để “thử phổi” cho chiến trận Biển Đông?

Posted on by huyentamhh

Việt Nam sẽ bị Trung cộng đánh để “thử phổi” cho chiến trận Biển Đông?

< A >
Nguyên Thạch (Danlambao) – Đây là những nhận định cá nhân căn cứ trên thực tế mà những gì đang xảy ra. Nếu những nhận định trở nên hiện thực thì điều đó đã chứng minh rằng ĐCSVN cùng những “chính trị gia” với chủ trương hòa hoãn, nhịn nhục (nếu không muốn nói là qui hàng) với hy vọng là đấu tranh ôn hòa bằng con đường ngoại giao sẽ làm Trung cộng chùn bước, thương tình mà sẽ không sử dụng vũ lực. Những lý luận cho rằng ĐCSVN đã hoàn toàn thần phục Trung cộng, nhà nước CHXHCNVN luôn một mực ngoan ngoãn tôn thờ khuôn vàng thước ngọc “16 chữ vàng cùng 4 Tốt” thì Tàu cộng sẽ không cần làm một chuyện dư thừa là đánh Việt Nam. Nhưng trên diễn tiến của những ngày tháng rất gần, cuối cùng rồi Việt Nam cũng phải đáp trả bằng biện pháp quân sự dù có bị đặt vào tình trạng không chuẩn bị trước, với hơn 300.000 Tàu cộng đang áp sát biên giới phía Bắc cùng không quân, hải quân và hỏa tiển từ các căn cứ ở Biển Đông yểm trợ. Chúng ta hãy kiên nhẫn thêm một thời gian không bao lâu nữa để xem ai đúng, ai sai.
 
*
Một trong những chiến thuật trong chiến lược thu tóm Biển Đông của Trung cộng là tiến hành đánh Việt Nam nhằm thăm dò dư luận cùng phản ứng của Hoa Kỳ, Nga, Anh, Pháp, Ấn Độ, Nhật Bản cùng các quốc gia khác thuộc liên minh quân sự của Mỹ như thế nào.
Tập Cận Bình và đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) xét rằng với lượng thời gian cùng tổn phí cho các việc xây dựng bồi đắp các đảo nhân tạo, cũng như thiết lập các căn cứ quân sự kiên cố, sân bay hiện đại, kho chứa nhiên liệu, vũ khí và nơi trú ẩn tàu ngầm, siêu hỏa tiển liên lục địa khủng, và lực lượng hải lục không quân của Trung cộng đã đủ mạnh để hậu thuẫn cho sự tuyên bố chủ quyền về lãnh hải cũng như không phận của Trung Quốc ở Biển Đông, nơi có diện tích trên 3 triệu km2.
Trung cộng đã cố tâm xây dựng những gì mà nước này hiện đang có, để rồi phải rút bỏ đi là một chuyện không thiết thực, mà họ sẽ phải tiến hành những chiến thuật nào đó để thu hồi kết quả cho hiện tại, nhằm củng cố cho những bước khác trong tương lai. Và dĩ nhiên những hành động sắp đến chỉ là những chiến thuật mang tính “thử phổi”, chứ nó không nằm trong ý định của sách lược chiến tranh toàn diện với Việt Nam và ngay cả với Hoa Kỳ cùng liên minh quân sự của phe Đồng Minh.
Trong chiến thuật “dò xét” này, Trung cộng sẽ đạt đến những điểm lợi như sau:
1- Chứng minh cho Mỹ và cả thế giới biết rằng Trung Quốc đang là một quốc gia hùng mạnh về cả kinh tế lẫn quân sự.
2- Nếu diễn tiến xảy ra mà kết quả quá bất lợi cho Trung Quốc thì nước này sẽ tạm ngưng và như thế cũng đã đủ để Trung Quốc giữ được thể diện.
3- Cuộc chiến có giới hạn sẽ khơi dậy và nung nấu lòng yêu nước, gia tăng sự tự hào về đất nước của người Trung Quốc. Đây cũng được coi là cuộc chiến tranh tâm lý, nó nằm trong chiến lược toàn diện của Trung cộng.
4- Lùi một bước để chuẩn bị cho việc tiến hai bước khi thời cơ thuận lợi cho Trung cộng, chẳng hạn như sẽ có một vài vị Tổng thống nhát gan hay chủ trương hiếu hòa không muốn chiến tranh với Trung Quốc.
5- Sử dụng và loại bỏ mộ số vũ khí phạm nhiều lỗi kỹ thuật như tàu ngầm, hỏa tiển, tàu chiến, máy bay tiêm kích để rút tỉa kinh nghiệm cải tiến cho những vũ khí mới được hoàn chỉnh hơn mà chế độc tài như Trung cộng luôn xem vật chất là những thứ quan trọng hơn con người. Họ sẵn sàng đem con người làm những vật thí nghiệm. Nói rộng hơn là Trung cộng không là một quốc gia coi trọng Nhân Quyền và Dân Chủ nên mạng sống của các phi công, thủy thủ, binh sĩ sẽ không có giá trị bằng máy bay, tàu ngầm, tàu chiến…
6- Trong chiến tranh, nếu đối thủ mất một số nhân mạng thì đó sẽ là những nỗi ám ảnh của dân chúng của các nước lâm chiến, và điều đó sẽ có ít nhiều ảnh hưởng đến các cuộc chiến trong tương lai. Bên cạnh, những binh lính của Trung cộng có bị các đối thủ tiêu diệt thì đó cũng sẽ là điều lợi vì nhân dân Tàu cộng sẽ căm hận kẻ thù hơn, điều chính yếu mà ĐCSTQ muốn nhìn thấy.
Trên là những nhận định cá nhân căn cứ trên thực tế mà những gì đang xảy ra. Nếu những nhận định trở nên hiện thực thì điều đó đã chứng minh rằng ĐCSVN cùng những “chính trị gia” với chủ trương hòa hoãn, nhịn nhục (nếu không muốn nói là qui hàng) với hy vọng là đấu tranh ôn hòa bằng con đường ngoại giao sẽ làm Trung cộng chùn bước, thương tình mà sẽ không sử dụng vũ lực. Những lý luận cho rằng ĐCSVN đã hoàn toàn thần phục Trung cộng, nhà nước CHXHCNVN luôn một mực ngoan ngoãn tôn thờ khuôn vàng thước ngọc “16 chữ vàng cùng 4 Tốt” thì Tàu cộng sẽ không cần làm một chuyện dư thừa là đánh Việt Nam. Nhưng trên diễn tiến của những ngày tháng rất gần, cuối cùng rồi Việt Nam cũng phải đáp trả bằng biện pháp quân sự dù có bị đặt vào tình trạng không chuẩn bị trước, mà hiện nay chiến tranh đang ngày càng tiến đến gần kề, với hơn 300.000 Tàu cộng đang áp sát biên giới phía Bắc cùng không quân, hải quân và hỏa tiển từ các căn cứ ở Biển Đông yểm trợ.
Chúng ta hãy kiên nhẫn thêm một thời gian không bao lâu nữa để xem ai đúng, ai sai.
Nguyên Thạch
danlambaovn.blogspot.com
Categories: Biển Đông | Leave a comment

Tàu Hải Dương Thạch Du 620 vào khảo sát sâu trong khu EEZ thuộc Vịnh Bắc Bộ

Posted on by huyentamhh

Tàu Hải Dương Thạch Du 620 vào khảo sát sâu trong khu EEZ thuộc Vịnh Bắc Bộ

< A >
CTV Danlambao – Ngày 1 và ngày 2 tháng 11/2019, tàu Haiyang Shiyou 620 (Hải Dương Thạch Du 620) đã đi qua đường phân định trên biển và đi sâu vào vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam, cách bờ biển Quảng Bình khoảng 65km. Như vậy có thể thấy, sau khi nhóm tàu Hải Dương Địa Chất 8 vừa rút khỏi khu vực Bãi Tư Chính, Trung Cộng đã lập tức có kế hoạch nắn gân Ba Đình. Báo đảng nhà nước CSVN vẫn chưa lên tiếng về thông tin trên.
Khởi hành từ cảng Macur (tại đảo Hải Nam) ngày 25/10/2019, tàu Hải Dương Thạch Du 620 đi vòng qua phần phía Bắc đảo này và sau đó đi xuống khu vực giàn khoan “HAI YANG SHI YOU 944” của Trung Quốc đang hạ đặt. Giàn khoan này nằm sát ngay mép phải của đường phân định trên biển tại Vịnh Bắc Bộ. Trong thời gian di chuyển. Hải Dương Thạch Du luôn thay đổi tín hiệu AIS liên quan đến thông số thời gian dự kiến đến đích.
Sau đó Hải Dương Thạch Du tiếp tục đi qua đường phân định trên biển tại Vịnh Bắc Bộ và tiến sâu vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Khoảng 8 giờ tối ngày 2/11/2019, vị trí của Hải Dương Thạch Du 420 chỉ cách bờ biển 35,1 hải lý (khoảng 65 km). Tại thời điểm con tàu này bắt đầu lấn sang bên trái đường phân định chủ quyền trên Vịnh Bắc Bộ thì tín hiệu AIS bị tắt. Một lúc khá lâu sau đó AIS mới được bật lại.

Đường đi của Hải Dương Thạch Du 620. Nguồn : FB Pham Thang Mai
Trong ngày 30/10/2019, Trung Cộng tiếp tục điều tàu Haiyang Shiyou 618 (Hải Dương Thạch Du 618) đến sát đường phân định trên biển tại Vịnh Bắc Bộ. Cả hai con tàu 618 và 620 đều có nhiệm vụ hỗ trợ việc hạ đặt, thăm dò, khai thác cho các giàn khoan dầu khí. Từ ngày 1 đến ngày 2/11, Hải Dương Thạch Du 620 đã thực hiện một cuộc khảo sát ngay bên trong khu vực đặc quyền kinh tế của Việt Nam, với khoảng 7 đường khảo sát, mỗi đừờng dài trung bình 14.7 hải lý (khoảng 27 km).
Để đánh giá chính xác sự nghiêm trọng của việc lấn sang vùng biển chủ quyền của Việt Nam lần này, một nhóm những người có chuyên môn như Phạm Thắng Nam, Song Phan và Trần Nam Hải đã vẽ các hình đồ họa trong đó đường phân định biên giới trên biển được đặt chính xác trên quỹ đạo hành trình thực của Hải Dương Thạch Du 620 trong các ngày vừa qua. Kết quả cuối cùng các bằng chứng cho thấy sự xâm nhập ngang ngược của Trung Cộng trên vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam.

Đường khảo sát Hải Dương Thạch Du 620 thực hiện so với đương phân định trên biển. Nguồn FB Pham Thang Mai
Nguyên nhân ban đầu được dự đoán về chuyện xâm lấn này, theo những người có chuyên môn là liên quan đến mỏ khí DF 13-2. Nếu phần mỏ khí nằm dưới đáy biển được Trung Quốc tổ chức khai thác thì dẫn đến việc Việt Nam bị mất tài nguyên. Việt Nam nếu không lên tiếng vụ này sẽ bị thiệt hại nghiêm trọng.
Việt Nam đang làm gì?

Họp kín về vấn đề biển Đông trong phòng lạnh, né tránh gọi tên Trung Quốc và phát ngôn mới nhất tại Thái Lan của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc “có những vụ việc nghiêm trọng vi phạm luật pháp quốc tế xảy ra trên vùng biển khu vực và Việt Nam, tuy mới chấm dứt gần đây nhưng để lại những bài học sâu sắc cho ASEAN.”

Bắc Kinh đang thâu tóm chủ quyền, khai thác quyền lợi của Việt Nam bằng cách nắm đầu Ba Đình rất hiệu quả.
Categories: Biển Đông | Leave a comment

Tin Biển Đông: Ngư dân bị “tàu lạ” bắn chết, TQ lại xâm phạm lãnh hải VN và đường lưỡi bò đã vào tới trường đại học

Posted on by huyentamhh

Tin Biển Đông: Ngư dân bị “tàu lạ” bắn chết, TQ lại xâm phạm lãnh hải VN và đường lưỡi bò đã vào tới trường đại học

BTV Tiếng Dân

4-11-2019

Báo chí trong nước đưa tin: Một ngư dân bị bắn chết khi đánh bắt trên biển. Ngày 2/11/2019, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Kiên Giang xác nhận, hôm 30/10, ngư dân Nguyễn Văn Khởi đã bị trúng đạn tử vong khi đang đánh bắt cá tại “vùng biển giáp biên”.

Theo ông Lê Ngọc Hiền, thuyền trưởng tàu cá số hiệu KG-90785TC, cho biết, trên tàu khi đó có 14 ngư dân, đang đánh bắt ở vùng biển tọa độ 7 độ 15 phút 00N – 108 độ 56 phút 00E thì bị một tàu khác dùng súng tấn công. Trong lúc tàu bỏ chạy, ngư dân Nguyễn Ngọc Khởi bị bắn trúng đạn, tử vong. Báo chí trong nước chỉ đưa tin tọa độ tàu, không nói tàu cá Việt Nam đang đánh bắt ở vùng biển giáp ranh với nước nào, hay tàu nước ngoài bắn anh Khởi là tàu nào.

Thi thể ngư dân Nguyễn Ngọc Khởi được đưa vào bờ. Ảnh: T.VINH/Tuổi Trẻ

Mời đọc thêm: Một ngư dân bị bắn chết gần quần đảo Trường Sa (RFA). – 1 ngư dân 23 tuổi bị tàu chưa rõ nước nào bắn chết trên biển (TT). – Một ngư dân Kiên Giang bị ‘tàu lạ’ bắn chết trên biển (NV).

Hải Dương Thạch Du 620 xâm phạm lãnh hải VN

Vụ tàu Hải Dương Thạch Du 620 của Trung Quốc xâm phạm lãnh hải Việt Nam ở khu vực gần vịnh Bắc Bộ, nhà nghiên cứu Biển Đông Phan Văn Song đặt câu hỏi“Tàu tiếp tế HYSY 620 của Tàu Cộng có đích đến là mỏ khí DF 13-2 (Đông phương 13-2) trong bồn trũng biển Oanh Ca (Yingfehai basin) nhưng lại ‘đi lạc’ qua vùng biển VN chỉ cách bờ biển VN hơn 60 km và cách đích đến của nó gần 80 km, cách đường phân giới khoảng 58 km. Sao lại ‘đi lạc’ xa thế này?!”

Facebooker Phạm Thắng Nam cung cấp video“ghi lại toàn bộ hành trình của ‘Haiyang Shiyou 620’ (Hải Dương Thạch Du 620), từ ngày 25/10 đến trưa 2/11/2019 , trong đó chỉ rõ sự thâm nhập bất hợp pháp của con tàu này vào vùng biển hoàn toàn thuộc chủ quyền của VIệt nam”.


Ông Nam chỉ ra, trong hai ngày 1 và 2/11/2019, tàu Hải Dương Thạch Du 620 “đã đi rất sát bờ biển VN, gần khu vực xã Quảng Đông (huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng bình). Có một khoảng thời gian dài tàu chỉ cách bờ biển nước ta khoảng 65 km, có khi chỉ là 60 km.

Dù Hải Dương Thạch Du 620 đã chấm dứt hoạt động xâm phạm lãnh hải Việt Nam, nhưng khác với tàu Hải Dương Địa Chất 8 đã quay về cảng nhà ở tận Quảng Châu, Hải Dương 620 chỉ quay về đảo Hải Nam, là căn cứ hải quân chiến lược của Trung Quốc hướng ra Biển Đông và nằm sát vịnh Bắc Bộ, nên tàu này có thể dễ dàng quay lại xâm phạm lãnh hải Việt Nam bất cứ lúc nào.

***

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tham dự hội nghị Cấp cao ASEAN 35 diễn ra hôm 2/11 ở Thái Lan. Báo Chính Phủ dẫn lời Thủ tướng: Việt Nam quyết tâm, kiên trì bảo vệ luật pháp quốc tế trong vấn đề Biển Đông. Phát biểu tại Thái Lan chiều 2/11, ông Phúc nói:

“An ninh và ổn định trên Biển Đông hiện rất mong manh, đòi hỏi cam kết nghiêm túc và trách nhiệm gìn giữ của tất cả các quốc gia trong khu vực, để đảm bảo rằng những vụ việc tương tự không lặp lại. Việt Nam quyết tâm và kiên trì bảo vệ luật pháp quốc tế trong các quan hệ quốc tế nói chung và trong vấn đề Biển Đông nói riêng”.

Mấy từ “kiên trì”, “quyết tâm” thường xuyên bị lãnh đạo CSVN lạm dụng mà không cần biết có thích hợp với ngữ cảnh hay không. Tàu Hải Dương Địa Chất 8, rồi Hải Dương Thạch Du 620 liên tiếp xâm phạm lãnh hải Việt Nam nhưng lãnh đạo CSVN không có kế sách ngăn chặn hữu hiệu, để cho Trung Quốc ra vào như chốn không người. Trong khi đó, lãnh đạo CSVN vẫn vác mặt qua Tàu “hữu nghị”, gửi cán bộ qua đó đào tạo, nên chuyện quyết tâm bảo vệ chủ quyền chỉ là lừa dân.

Mời đọc thêm: Quan điểm của VN về tình hình Biển Đông rõ ràng, nhất quán (Zing). – Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc: An ninh và ổn định ở Biển Đông rất mong manh (TT). – Thủ tướng: Đề nghị Trung Quốc tôn trọng các hoạt động kinh tế biển của Việt Nam (VTC).

– Những vụ việc nghiêm trọng ở biển Đông để lại bài học sâu sắc cho ASEAN (TP). – Biển Đông: Trung Quốc không vội thông qua Bộ Quy tắc Ứng xử COC (RFI). – Trung Quốc cam kết hợp tác với ASEAN về Biển Đông (VNE). – “Trung Quốc đã sẵn sàng hợp tác với ASEAN vì hòa bình ở Biển Đông” (VOV). Tổng thống Philippines kêu gọi ASEAN giải quyết vấn đề Biển Đông (VTC).

Đường lưỡi bò đã vào tới trường đại học

Báo Người Lao Động đưa tin: “Đường lưỡi bò” phi pháp xuất hiện trong giáo trình của Trường ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội. Ông Vũ Văn Hóa, Phó hiệu trưởng ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội xác nhận, nhà trường đã phát hiện hình ảnh “đường lưỡi bò” phi pháp trong cuốn giáo trình Đọc sơ cấp 1 “Developing Chinese”, được được sử dụng cho giảng viên, sinh viên khoa Trung – Nhật.

“Đường lưỡi bò” trái phép trong giáo trình của Trường ĐH Kinh doanh và công nghệ Hà Nội. Ảnh: TPO/NLĐ

Báo Thời Đại đặt câu hỏi: Giáo trình có “đường lưỡi bò”, ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội nói gì? Ông Vũ Văn Hóa, Phó hiệu trưởng nhà trường cho biết, cuốn giáo trình này có tên: Đọc sơ cấp 1 “Developing Chinese”. Trong đó, bản đồ “đường lưỡi bò” xuất hiện ở bài 7, trang 36. Ông nói: “Tôi khẳng định đây là giáo trình mới được mua về vào đầu năm học 2019-2020. Khi phát hiện có hình ảnh ‘đường lưỡi bò’ trong sách, ban giám hiệu đã họp và có quyết định tịch thu tất cả số giáo trình này”.

Còn ông Trần Văn Thanh, Chủ nhiệm khoa Trung – Nhật thừa nhận trách nhiệm ban đầu thuộc về ban Chủ nhiệm khoa này: “Những năm trước, Khoa Trung Nhật sưu tầm, sử dụng tài liệu chắp vá không được biên soạn, còn năm nay mới sử dụng tài liệu này. Một số cuốn sách được bán tới tay sinh viên nhanh chóng được thu hồi”.

Báo Pháp Luật TP HCM bàn về vụ giáo trình in ‘đường lưỡi bò’: Rà soát nhưng không phát hiện. Bài báo chỉ ra mâu thuẫn trong lời kể của ông Vũ Văn Hóa và Trần Văn Thanh. Ông Hóa nói rằng, việc phát hiện cuốn giáo trình có in hình “đường lưỡi bò” là do sinh viên báo với nhà trường, còn ông Thanh lại khẳng định việc phát hiện là do nhà trường chủ động rà soát.

Ông Thanh trước đó còn khẳng định, khoa tiếng Trung-Nhật từng rà soát nội dung của cuốn giáo trình trên trước khi đưa vào giảng dạy nhưng không thấy có nội dung nào đề cập về tranh chấp biển đảo, trong phần bản đồ chỉ có “một tí dính vào” nên không phát hiện được.

VTC Now có clip: Giáo trình ĐH Kinh doanh và Công nghệ có “đường lưỡi bò”.

Mời đọc thêm: ‘Đường lưỡi bò’ xuất hiện trong giáo trình của ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội (MTG). – ‘Truy’ trách nhiệm vụ giáo trình Đại học Kinh doanh và Công nghệ có ‘đường lưỡi bò’ (VTC). – Giáo trình có “đường lưỡi bò”: Trách nhiệm thuộc về khoa tiếng Trung – Nhật (KTĐT). – ĐH Kinh doanh và Công nghệ thu hồi gấp giáo trình có bản đồ in hình lưỡi bò (ANTĐ). – ĐH Kinh doanh và Công nghệ hủy toàn bộ giáo trình có bản đồ ‘đường lưỡi bò’ (TP). – Trường ĐH Kinh doanh và Công nghệ HN tiêu hủy toàn bộ giáo trình có “đường lưỡi bò” phi pháp (DT).

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Blog at WordPress.com.