Biển Đông

Biển Đông: Việt Nam chèo lái ASEAN vững vàng trước Trung Quốc?

Biển Đông: Việt Nam chèo lái ASEAN vững vàng trước Trung Quốc?

Việt Nam có tận dụng tốt cơ hội là Chủ tịch ASEAN năm 2020 để tìm kiếm đồng thuận giữa các quốc gia thành viên trong quản điểm về Trung Quốc trên Biển Đông?Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionViệt Nam có tận dụng tốt cơ hội là Chủ tịch ASEAN năm 2020 để tìm kiếm đồng thuận giữa các quốc gia thành viên trong quản điểm về Trung Quốc trên Biển Đông?

Nửa năm đã trôi qua kể từ khi Việt Nam đóng vai trò Chủ tịch luân phiên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á – ASEAN. Liệu Việt Nam có tận dụng được cơ hội này để thúc đẩy hơn nữa sự đồng thuận trong khối, đặc biệt trong vấn đề tranh chấp trên Biển Đông với Trung Quốc?

BBC News Tiếng Việt có cuộc phỏng vấn TS Collin Koh, chuyên gia nghiên cứu thuộc Viện Nghiên cứu Quốc phòng và Chiến lược, Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam, Đại học Công nghệ Nanyang, Singapore, quanh vấn đề này.

Tiếng nói chung về TQ và tranh chấp trên Biển Đông

BBC: Với việc Việt Nam là chủ tịch ASEAN năm nay, ông có cho rằng khối này đã có tiếng nói chung đối với các vấn đềTrung Quốc và Biển Đông?

Collin Koh: Với việc Việt Nam là Chủ tịch ASEAN năm nay, các nước trong khối chắc chắn có quan điểm mạnh mẽ hơn đôi chút đối với vấn đề Biển Đông, được chứng thực qua Tuyên bố của Chủ tịch [Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc] được đưa ra sau Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 36.

Tuyên bố này lần đầu tiên đề cập đến việc Công ước Luật Biển Quốc tế (UNCLOS) là cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông.

VN bị ảnh hưởng gì khi Philippines muốn ‘gần Trung, xa Mỹ’?

Carl Thayer nhận định việc Mỹ mời VN tập trận Vành đai Thái Bình Dương

Bennet Murray: Việt Nam có ‘đồng minh’ mới trên Biển Đông?

Chúng ta có lẽ không nên chỉ “ghi điểm” cho Việt Nam, nhưng rõ ràng một số nước ASEAN có quyền lợi trên Biển Đông đã lên tiếng chỉ trích gay gắt hơn các động thái gần đây của Trung Quốc. Đáng chú ý, Philippines dưới thời chính quyền Tổng thống Duterte gần đây đã chỉ trích một cách bất thường Bắc Kinh. Những điều này đã xảy ra dưới sự giám sát của Việt Nam với tư cách là chủ tịch ASEAN.

Người ta cũng không thể phủ nhận ảnh hưởng của quốc gia thành viên khác đối với vấn đề này. Với việc Việt Nam luôn kiên định trong vấn đề Biển Đông, vị trí chủ tịch ASEAN của Việt Nam lẽ ra có thể đã giúp ít nhất một số nước – vốn đã thận trọng hơn với các hoạt động của Trung Quốc trong bối cảnh đại dịch COVID-19 – cũng trở nên kiên định hơn.

ASEAN đã đoàn kết hơn dưới sự dẫn dắt của Việt Nam?Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionASEAN đã đoàn kết hơn dưới sự dẫn dắt của Việt Nam?

Phán quyết của Tòa trọng tài Thường trực 2016

BBC: Trong bài viết gần đây trên SCMP, ông đề xuất rằng ASEAN nên xem xét lại phán quyết của Tòa án Trọng tài Thường trực năm 2016 [trong vụ Philippines kiện TQ về tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông) thay vì nhấn mạnh quá mức vào Công ước Luật Biển Quốc tế (UNCLOS). Tuy nhiên, phán quyết 2016 lại không ràng buộc về mặt pháp lý. Vậy thì ông có nghĩ rằng TQ sẽ bận tâm hoặc sẽ cải thiện hành vi của họ nếu các nước ASEAN làm theo đề xuất của ông?

Collin Koh: Phán quyết này có giá trị ràng buộc đối với các bên liên quan. Mặc dù tất nhiên cũng như nhiều công cụ [phân xử] quốc tế, có rất ít biện pháp để thực thi mà chủ yếu phụ thuộc vào các bên liên quan nhấn mạnh và chứng thực nó như thế nào.

Lý do tại sao tôi đặc biệt nêu ra phán quyết năm 2016 là vì điều này: Bản thân UNCLOS là một công cụ mơ hồ. Bởi lẽ nó là sản phẩm của một thời kỳ đàm phán gian khổ giữa rất nhiều chính phủ trong Chiến tranh Lạnh, và nó phải đạt được cân bằng về lợi ích giữa các quốc gia có bờ biển và hoạt động hàng hải.

Do đó, việc đề cập chung chung về UNCLOS trong các tuyên bố của ASEAN gần như không mang lại hiệu quả gì để giải quyết tranh chấp. Sự mơ hồ của UNCLOS mở ra cánh cửa cho những cách hiểu khác nhau – và đôi khi là sự xung đột – giữa các nước, liên quan đến các quy định trong công ước.

Phán quyết năm 2016, dù không phải là “cuối cùng” do vẫn có thể bị thách thức về mặt pháp lý nếu trong tương lai xuất hiện thêm những bằng chứng mới, nhưng nó thực sự đưa ra những phát hiện quan trọng mà không chỉ các bên có quyền lợi trên Biển Đông mà cả cộng đồng quốc tế quan tâm.

Quan trọng hơn là, phán quyết năm 2016 đã làm rõ tính hợp lệ hay không của yêu sách đường chín đoạn của Trung Quốc, và đáng chú ý là tình trạng pháp lý và các quyền lợi hàng hải liên quan đến các thực thể trên đất liền. Do đó, phán quyết năm 2016 nên được ASEAN nhấn mạnh như là một hành động pháp lý và là cơ sở hữu ích để giải quyết tranh chấp.

Biển ĐôngBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES

Cố tình không đề cập đến phán quyết này, trong khi không nói quá về tầm quan trọng của nó, giống như làm suy yếu chính UNCLOS và mở ra cánh cửa cho Trung Quốc tiếp tục bỏ qua các quy tắc đó và tiếp tục những gì mà họ đang theo đuổi theo chính sách của riêng họ.

Đó là lý do tại sao trong các bài viết của tôi, tôi đề nghị các quốc gia thành viên ASEAN thực sự cần xem xét kỹ hơn phán quyết này và đề cập tới nó trong các phát ngôn chính thức. Điều này có thể chỉ mang tính biểu tượng, nhưng cho thấy rằng ASEAN có chung quan điểm về cách tốt nhất để giải quyết tranh chấp.

Biển Đông: VN làm gì để giữ chủ quyền khi ‘ở vào thế yếu’?

Vụ Repsol: Phía sau hàng trăm triệu đôla VN phải đền bù là gì?

Bennet Murray: Việt Nam có ‘đồng minh’ mới trên Biển Đông?

Thay vì vô tình hỗ trợ cho các yêu sách chủ quyền mơ hồ của Trung Quốc và các cơ sở pháp lý mà họ muốn dùng để giải quyết các tranh chấp, một sự ủng hộ toàn diện của cả ASEAN cho phán quyết năm 2016 sẽ đặt dấu chấm hết cho sự mơ hồ này, và giúp các quốc gia ASEAN có vị thế vững vàng hơn trước Trung Quốc.

Đây cũng là lý do tại sao Indonesia gần đây đã nhấn mạnh phán quyết 2016, bởi vì nó củng cố lập trường ban đầu của họ rằng không có lý do gì để đàm phán với Trung Quốc về vùng biển Natuna đơn giản vì yêu sách đường chín đoạn là trái luật pháp. Việt Nam, nếu chọn sử dụng biện pháp pháp lý chống lại Trung Quốc, chẳng hạn như thông qua kiện tụng, có thể sử dụng phán quyết năm 2016 này để làm cơ sở.

Biển ĐôngBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES

Tương tự như vậy, Philippines cũng sẽ được hưởng lợi nếu nhấn mạnh tầm quan trọng của phán quyết 2016. Nếu ASEAN có thể cùng tập trung nhấn mạnh phán quyết này, tôi tin rằng nó sẽ buộc Trung Quốc phải chú ý và ít nhất là xem xét đẩy lùi các hành vi chèn ép của mình trên Biển Đông.

Bằng không, Bắc Kinh biết rằng họ có những con đường mở trong nội bộ ASEAN. Điều này sẽ khuyến khích Trung Quốc tiếp tục nhấn mạnh những yêu sách chủ quyền của mình vì họ biết rõ rằng không có sự đồng thuận trong ASEAN về phán quyết năm 2016.

Tóm lại, Bắc Kinh muốn không nước nào trong ASEAN đề cập đến phán quyết 2016, với mục tiêu cuối cùng là biến phán quyết này thành vô giá trị, mất đi sức mạnh hợp pháp đầy thuyết phục. Đây là những gì chúng ta nên ngăn chặn trước khi nó xảy ra.

Các xung đột song phương

BBC: Để có được sự đồng thuận trong ASEAN, ông cho rằng Việt Nam và Indonesia, cũng như Việt Nam và Malaysia nên giải quyết sự khác biệt trong vấn đề ranh giới trên biển và đánh bắt cá bất hợp pháp trên Biển Đông. Điều này có khả thi không?

Collin Koh: Điều đó là hoàn toàn có thể. Nhìn lại lịch sử các tranh chấp trên Biển Đông – vốn có tính đa phương vì nhiều bên liên quan – kể từ những năm 1990, các nước ASEAN đã có thể giải quyết một cách hòa bình các tranh chấp lãnh thổ và chủ quyền của họ, cho dù chúng ta nói về biên giới đất liền hay ranh giới hàng hải.

Họ thực hiện điều đó thông qua các quy định pháp lý quốc tế – như trường hợp xung đột giữa Indonesia-Malaysia trên quần đảo Ligitan và Sipadan, hay xung đột giữa Malaysia và Singapore về Pedra Branca – hoặc thông qua các thỏa thuận chính trị song phương, như trường hợp tranh chấp biên giới trên biển giữa Indonesia-Singapore.

Do đó, hoàn toàn khả thi để dự đoán rằng các khác biệt song phương đang được giải quyết. Nhưng các bên liên quan đến tranh chấp ranh giới hàng hải và xung đột về đánh bắt cá bất hợp pháp trên Biển Đông về cơ bản là đã kéo lê các vấn đề này từ nhiều năm.

Đã có một loạt các sự cố xảy ra do những bất đồng này, trong khi không thiếu các tuyên bố công khai của giới tinh hoa chính sách nhằm đẩy nhanh các cuộc đàm phán để giải quyết chúng. Nhưng cho đến nay chúng tôi thấy có rất ít tiến bộ. Nếu không giải quyết được các vấn đề nội bộ này, sẽ khó khăn hơn cho các nước ASEAN có quyền lợi trên Biển Đông để cùng nhau xây dựng một mặt trận mạnh mẽ chống lại “cá lớn” Trung Quốc.

‘Tiếc cho Việt Nam’

BBC:Ông có cho rằng chúng ta nên duy trì một ASEAN như vậy hay không, nếu dường như không có gì được cải thiện về các vấn đề trên Biển Đông và cũng không có sự đoàn kết trong khối kể từ khi tổ chức này ra đời?

Collin Koh: Câu hỏi nên là, chúng ta có trở nên tốt hơn không khi không có ASEAN? Câu trả lời là không.

bbc

Chắc chắn là ASEAN có những ưu điểm và nhược điểm. Mặc dù có những hạn chế cố hữu, nhưng một phần không nhỏ do cách thức làm việc ‘kiểu ASEAN” với nhau, khối này đã đạt được tiến bộ trong việc giải quyết các vấn đề quan ngại chính trong khu vực.

Giải pháp thay thế ASEAN là rất nguy hiểm khi mà các cường quốc sẽ kiểm soát an ninh khu vực, đó là điều mà chúng ta không nên hướng tới.

Cũng lưu ý rằng các mối lo ngại về an ninh của ASEAN không chỉ giới hạn trong các vấn đề trên Biển Đông, bởi vì có những thách thức an ninh cấp bách khác mà nó cần phải xem xét, như tội phạm xuyên quốc gia và khủng bố.

Tuy nhiên, như tôi cảnh báo trong bài viết mới đây trên SCMP rằng các vấn đề trên Biển Đông có thể khiến ASEAN mất đi vị thế của mình. Hãy nhớ rằng ASEAN trong những thập kỷ gần đây đã bị “soi” về khả năng giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông.

Sẽ có lúc người ta đặt câu hỏi tại sao ASEAN lại vô tình tránh né hoặc không giải quyết đúng đắn các vấn đề nhức nhối như tranh chấp trên Biển Đông trong khi chỉ tập trung vào các vấn đề nhỏ bé hời hợt?

ASEAN cần phải giữ vững vị thế của mình nếu muốn duy trì vai trò trung tâm trong kiến trúc an ninh khu vực, và vấn đề Biển Đông trở thành một phép tiên quyết. Đây cũng là một bài kiểm tra mà ASEAN nên dồn tâm trí để thể hiện tốt, thay vì tự làm cho mình bị chỉ trích nhiều hơn.

Nói một cách thẳng thắn hơn, thay vì để Trung Quốc dẫn dắt ASEAN về các vấn đề Biển Đông, thì điều quan trọng đối với ASEAN là phải xoay chuyển tình thế và dẫn dắt, đặc biệt là về các cuộc đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC).

Thật là một đáng tiếc lớn khi mà Covid-19 đã khiến tiến trình đàm phán (COC) bị đình lại. Chủ tịch ASEAN năm nay, Việt Nam, lẽ ra đã có thể giúp củng cố thống nhất nội bộ trong ASEAN quanh vấn đề này. Nhưng như bạn biết, không thể tổ chức các cuộc đàm phán COC do Covid-19, mà phải đợi cho đến khi tình hình dịch bệnh được giải quyết. Đến lúc đó, Việt Nam không còn ở ghế chủ tịch nữa.

Một lần nữa, điều đó thật đáng tiếc vì so với các quốc gia thành viên ASEAN khác, Việt Nam có thể đáng được trông cậy hơn trong việc thể hiện lập trường cứng rắn hơn về Biển Đông.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Biển Đông: TQ dồn dập tập trận trong khi Mỹ phô trương hỏa lực

Biển Đông: TQ dồn dập tập trận trong khi Mỹ phô trương hỏa lực

Tiêm kích F-18 bay qua tàu sân bay USS Ronald Reagan trong cuộc tập trận trên Biển ĐôngBản quyền hình ảnhHẢI QUÂN HOA KỲ
Image captionTiêm kích F-18 bay qua tàu sân bay USS Ronald Reagan trong cuộc tập trận trên Biển Đông.

Hai nhóm tác chiến tàu sân bay USS Ronald Reagan và USS Nimitz đến Biển Đông để tập trận trong khi quân đội Trung Quốc cũng đang diễn tập nơi đây khiến tình hình khu vực ngày một căng thẳng.

Đây là một trong những cuộc tập trận hải quân lớn nhất của Mỹ ở Biển Đông trong nhiều năm qua và bắt đầu đúng ngày Quốc khánh Mỹ 4/7.

Động thái này của Mỹ được triển khai giữa lúc Trung Quốc cũng đang tiến hành tập trận ở khu vực quần đảo Hoàng Sa từ ngày 1/7 đến 5/7.

Quy mô lớn nhất từ trước đến nay

Tàu sân bay USS Ronald Regan và USS Nimitz đã bắt đầu tiến hành một trong những cuộc tập trận lớn nhất của Hải quân Mỹ trong những năm gần đây. Cuộc tập trận ở Biển Đông bao gồm các chuyến bay với cường độ cao, mô phỏng năng lực tác chiến ở mức độ cao nhằm đánh giá khả năng tác chiến của các máy bay trên 2 tàu sân bay này.

Trong các cuộc tập trận phòng không và tấn công, các máy bay từ USS Ronald Regan và USS Nimitz mô phỏng các cuộc tấn công của kẻ thù nhằm kiểm tra năng lực phát hiện, đánh chặn và đối phó các mối đe dọa của hải quân Mỹ. Các bài tập cũng nhằm nâng cao trình độ của phi công đồng thời cung cấp cho lực lượng trên tàu kinh nghiệm hiệp đồng tác chiến phòng thủ trong một môi trường thực tế.

Mỹ đưa tàu sân bay và nhiều tàu chiến đến Biển Đông

Việt Nam, Mỹ nói về nâng cấp quan hệ, phản đối Trung Quốc

Máy bay chiến đấu tấn công và máy bay phản lực chiến tranh điện tử đã cất cánh cả ngày lẫn đêm từ hai hàng không mẫu hạm ở Biển Đông để mô phỏng các cuộc tấn công vào căn cứ của kẻ địch.

Chuẩn Đô đốc George M. Wikoff cho biết “các chuyến bay diễn ra liên tục, hàng trăm chuyến mỗi ngày”, đồng thời khẳng định cuộc tập trận không nhằm đáp trả trực tiếp cuộc tập trận của Trung Quốc. Theo đài CNN, đợt huấn luyện này đã được lên kế hoạch từ lâu và nằm trong cam kết của Mỹ về đảm bảo tự do hàng hải.

Một buổi bay đêm trên tàu sân bay USS Ronald ReaganBản quyền hình ảnhHẢI QUÂN HOA KỲ
Image captionMột tập trận bay đêm trên tàu sân bay USS Ronald Reagan.

Sĩ quan Todd Whalen, chỉ huy nhóm tàu khu trục hộ tống USS Nimitz, cho biết ngoài các loại vũ khí tấn công diệt hạm tầm xa, các vũ khí chống tàu ngầm cũng được bắn thử trong cuộc tập trận này.

Trong thời gian gần đây, Mỹ có lúc triển khai cùng lúc 3 tàu sân bay đến khu vực này. Riêng cuộc tập trận nói trên là một trong những cuộc tập trận lớn nhất của Hải quân Mỹ ở Biển Đông trong những năm gần đây.

Mỹ gửi tín hiệu gì trên Biển Đông?

Báo Wall Street Journal dẫn lời chuẩn đô đốc George Wikoff nói: “Mục đích của việc tập trận là để phát đi tín hiệu rõ ràng cho các đối tác và đồng minh rằng chúng tôi cam kết đảm bảo an ninh và ổn định khu vực”.

Theo The New York Times, việc triển khai một tàu sân bay Mỹ và một số tàu chiến thường được sử dụng như một tín hiệu để ngăn chặn kẻ địch. Triển khai hai nhóm tàu sân bay cùng lúc được xem là sự phô diễn binh lực nổi bật. Vào năm 2016, Bộ trưởng Quốc phòng lúc đó là Ashton B. Carter đã thăm hai tàu sân bay đang hoạt động tại Biển Đông như một lời nhắc nhở tới Bắc Kinh về cam kết của Hoa Kỳ đối với các đồng minh trong khu vực.

Thượng úy James Adams, phát ngôn viên của Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ, cũng khẳng định chiến dịch này không nhằm đáp trả bất kỳ sự kiện chính trị nào. Nhưng vào đầu tuần này, Lầu Năm Góc cho biết họ đang theo dõi các cuộc tập trận quân sự của Trung Quốc tại vùng biển có nhiều tranh chấp gần quần đảo Hoàng Sa.

Đài Loan, Mỹ ‘cảnh giác’ với tin Trung Quốc sắp tập trận ‘chiếm Đông Sa’

Carl Thayer nhận định việc Mỹ mời VN tập trận Vành đai Thái Bình Dương

“Các cuộc tập trận (của Trung Quốc) là động thái mới nhất trong chuỗi hành động nhằm khẳng định các yêu sách hàng hải phi pháp, gây bất lợi cho các nước Đông Nam Á ở Biển Đông”, tuyên bố của Bộ Quốc phòng Mỹ nêu rõ.

“Sự hiện diện của hai tàu sân bay không nhằm phản ứng lại bất kỳ sự kiện chính trị hay sự kiện nào trên thế giới. Hoạt động này là một trong nhiều cách mà Hải quân Hoa Kỳ thúc đẩy an ninh, ổn định và thịnh vượng trên khắp Ấn Độ-Thái Bình Dương”, CNN dẫn lời ông Joe Jeiley, phát ngôn viên Hạm đội 7.

Trong một động thái liên quan, máy bay ném bom chiến lược B-52 từ Louisiana đã thực hiện một nhiệm vụ kéo dài 28 giờ để huấn luyện với máy bay phản lực từ các hàng không mẫu hạm USS Ronald Regan và USS Nimitz ở Biển Đông, theo thông tin từ Không quân Hoa Kỳ.

Trung tá Christopher Duff, chỉ huy phi đội ném bom 96, nhấn mạnh việc tham gia của lực lượng ném bom B-52 cho thấy “khả năng của Mỹ trong việc triển khai nhanh chóng máy bay ném bom chiến lược tới tiền phương và thực hiện tấn công tầm xa”.

Trung Quốc phản ứng ra sao?

Đáp trả tuyên bố của Lầu Năm Góc rằng các cuộc tập trận của Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa làm gia tăng căng thẳng, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Triệu Lập Kiên nói trong cuộc họp báo thường kỳ hôm thứ Sáu rằng quần đảo Hoàng Sa là một phần của lãnh thổ vốn có và không thể chối cãi của Trung Quốc.

Ông Triệu Lập Kiên lưu ý rằng nguyên nhân cơ bản gây mất ổn định ở Biển Đông là do các hoạt động quân sự quy mô lớn và sự phô diễn sức mạnh của một số quốc gia ngoài khu vực với những lời dối trá hàng chục ngàn dặm, một thông điệp rõ ràng là nhằm thẳng về phía Mỹ.

Biển Đông: Bình luận về đối đầu Mỹ – Trung, và diễn tiến sau vụ Repsol

Biển Đông: TQ phản ứng trước ba nhóm mẫu hạm Mỹ

Theo Hoàn cầu Thời báo, quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ ngày càng xấu đi do một chuỗi sự kiện diễn ra bao gồm chiến tranh thương mại, đại dịch COVID-19, vấn đề Đài Loan và Hong Kong.

Tờ này dẫn lời chuyên gia cho rằng hai nhóm tác chiến tàu sân bay Mỹ không khác gì hơn là những con hổ giấy trước ngưỡng cửa của Trung Quốc, vì khu vực này hoàn toàn nằm trong lòng bàn tay của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) với những vũ khí đặc biệt có thể phá hủy tàu sân bay.

“Cuộc tập trận của Mỹ chỉ đơn thuần là một màn phô diễn để khỏa lấp sự mất mặt của mình trong việc kiểm soát đại dịch, và điều này cho thấy họ đã đánh mất lá bài Hong Kong sau khi Trung Quốc ban hành luật An ninh quốc gia nên phải chuyển trọng tâm sang Biển Đông và Đài Loan để ngăn chặn Trung Quốc”, theo chuyên gia phân tích.

Máy bay ném bom chiến lược B-52H của không quân Mỹ tập trận trên Biển Đông cùng các máy bay của tàu sân bay USS Nimitz và USS Ronald Reagan hôm 4/7.Bản quyền hình ảnhBỘ TƯ LỆNH KHÔNG KÍCH TOÀN CẦU
Image captionMáy bay ném bom chiến lược B-52H của không quân Mỹ tập trận trên Biển Đông cùng các máy bay của tàu sân bay USS Nimitz và USS Ronald Reagan hôm 4/7.

Song Zhongping, một chuyên gia quân sự và bình luận viên truyền hình Trung Quốc, nói với Hoàn cầu Thời báo hôm Chủ nhật rằng động thái của Hoa Kỳ nhằm tăng cường sự hiện diện quân sự ở Tây Thái Bình Dương, được thiết kế để thể hiện rằng quyền bá chủ trong khu vực là không thể lay chuyển, và tăng cường niềm tin cho các đồng minh khu vực của Hoa Kỳ.

Wang Ya’nan, một chuyên gia về máy bay và biên tập viên chính của tạp chí Tri thức Hàng không, nói với Hoàn cầu Thời báo vào Chủ Nhật rằng chuyện máy bay và tàu sân bay Mỹ cùng gặp nhau trên Biển Đông không phải là “ngẫu nhiên”.

“Bằng cách tiến hành các cuộc tập trận quy mô lớn ở Biển Đông, Mỹ rõ ràng đang muốn cho Trung Quốc thấy họ đang có gì tại khu vực”, Wang lập luận.

Về phía Việt Nam, người phát ngôn Lê Thị Thu Hằng hôm 2/7 cũng đã lên tiếng phản đối: “Việc Trung Quốc tiến hành tập trận ở khu vực quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam đã vi phạm chủ quyền của Việt Nam với quần đảo Hoàng Sa, đi ngược lại tinh thần tuyên bố DOC (Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông), làm phức tạp tình hình, không có lợi cho quy trình đàm phán COC (bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông) hiện nay giữa ASEAN và Trung Quốc, và việc duy trì hòa bình, ổn định và hợp tác ở Biển Đông”.

Bà Hằng cho biết Việt Nam đã giao thiệp, trao công hàm phản đối và yêu cầu Trung Quốc không lặp lại vi phạm tương tự trong tương lai.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Biển Đông: TQ lại nạo vét tại đảo Phú Lâm nơi VN tuyên bố chủ quyền?

Biển Đông: TQ lại nạo vét tại đảo Phú Lâm nơi VN tuyên bố chủ quyền?

Hình ảnh chụp vệ tinh trong ngày 17/4 và 25/6 cho thấy các hoạt động nạo vét của TQ tại đảo Phú LâmBản quyền hình ảnhPLANET LABS INC
Image captionHình ảnh chụp vệ tinh trong ngày 17/4 và 25/6 cho thấy các hoạt động nạo vét của TQ tại đảo Phú Lâm

Hình ảnh vệ tinh cho thấy Trung Quốc đang nạo vét tại một vịnh ở đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa trên Biển Đông, có vẻ như để mở rộng góc phía tây bắc của hòn đảo nhân tạo này, theo Benarnews.

Ảnh vệ tinh cho thấy việc nạo vét dường như đã được tiến hành trong vài tuần nay tại đảo Phú Lâm, nơi Trung Quốc xây dựng thành phố Tam Sa.

TQ lập hai huyện đảo quản lý Trường Sa, Hoàng Sa

Biển Đông: ‘TQ mượn gió bẻ măng’ nhưng ‘thời thế hiện không dễ cho họ’

Bốn kịch bản Bắc Kinh có thể thực hiện ‘nếu bị VN kiện ra tòa quốc tế’

Hình ảnh vệ tinh thương mại từ ngày 17/4 đến ngày 25/6 cho thấy rạn san hô ở bờ biển phía tây bắc đảo Phú Lâm đã bị nạo vét một đoạn ở trung tâm. Cũng có thể nhìn thấy các dải đất mới có thể là nền móng cho việc bồi đắp, mở rộng hòn đảo.

Có thể thấy các cẩu hoặc máy móc hạng nặng đang làm việc tại cùng địa điểm nói trên hôm 8/5. Dựa trên đánh giá của BenarNews, hình ảnh vệ tinh cho thấy cát được nạo vét ra khỏi đảo Phú Lâm để tạo ra cấu trúc mới này. Đường bờ biển gần khu vực này đã được gia cố bằng thứ trông giống như một bức tường biển. Một số cấu trúc giống như cầu tàu nhân tạo được xây dựng tại các điểm dọc theo bờ biển về phía đông.

Trung Quốc đã giành quyền kiểm soát đảo Phú Lâm từ năm 1956Bản quyền hình ảnhOTHER
Image captionTrung Quốc đã giành quyền kiểm soát đảo Phú Lâm từ năm 1956

Đảo Phú Lâm là nơi Trung Quốc thường tập hợp các tàu của Lực lượng Bảo vệ Bờ biển (CCG) và lực lượng dân quân hàng hải trước khi điều động đến nơi khác, quấy rối hoạt động của tàu các quốc gia khác cũng có yêu sách về chủ quyền trên Biển Đông, theo Benarnews.

Hình ảnh vệ tinh chụp vào thứ Sáu cho thấy ba tàu CCG đang đậu ở cảng của đảo này, cùng với những vật trông giống như một chiếc xà lan chở vật liệu.

Trung Quốc đã thực hiện một chiến dịch bồi đắp đảo nhân tạo rộng lớn từ năm 2014 đến năm 2016 ở Biển Đông, phá hủy môi trường tự nhiên và quân sự hóa các bãi đá và rạn san hô nơi nước này chiếm đóng.

Bốn căn cứ lớn nhất mà Trung Quốc duy trì ở Biển Đông – Đá Subi, Đá Chữ Thập, Đá Vành Khăn, và Đảo Phú Lâm – hầu như không thể nhận ra kể từ khi việc bồi đắp kết thúc vào năm 2017, tạo ra các bến cảng nước sâu, đường băng, và nơi sinh hoạt. Nhưng việc nạo vét quy mô nhỏ vẫn tiếp tục, như hình ảnh vệ tinh mới nhất này cho thấy.

Các mối quan ngại về tình trạng nạo vét

Việc nạo vét mới trên đảo Phú Lâm được Trung Quốc thực hiện vào thời điểm nhạy cảm, theo Benarnews.

Tháng trước, Indonesia đã cùng với Việt Nam, Philippines và Malaysia tố cáo Trung Quốc về việc khẳng định chủ quyền đối với toàn bộ Biển Đông trong một loạt các công hàm gửi lên Liên Hiệp Quốc.

Indonesia viện dẫn phán quyết năm 2016 của Tòa án Trọng tài Thường trực, bác bỏ hầu hết các yêu sách của Trung Quốc đối với vùng biển tranh chấp, khẳng định không một ‘hòn đảo’ nào của Trung Quốc có thể tạo ra các vùng đặc quyền kinh tế và chúng chỉ là các bãi đá.

Gần đây, Trung Quốc đã cố gắng đe dọa Việt Nam về việc hợp tác khai thác dầu trên Biển Đông với một đối tác quốc tế bằng cách đưa một tàu khảo sát vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam vào ngày 17/6.

Các tàu nạo vét của Trung Quốc được trông thấy ở vùng nước gần Đá Chữ Thập - hình ảnh do máy bay giám sát của Hải Quân Hoa Kỳ chụp hồi tháng 5/2015Bản quyền hình ảnhREUTERS
Image captionCác tàu nạo vét của Trung Quốc được trông thấy ở vùng nước gần Đá Chữ Thập – hình ảnh do máy bay giám sát của Hải Quân Hoa Kỳ chụp hồi tháng 5/2015

Việt Nam đã chủ trì hội nghị thượng đỉnh với các nhà lãnh đạo ASEAN hôm 26/6. Tất cả các nước có yêu sách chủ quyền ở Biển Đông đều tham gia, không bao gồm Trung Quốc và Đài Loan.

“Trong khi thế giới đang đấu tranh chống lại đại dịch COVID-19, thì lại có những hành động vô trách nhiệm, vi phạm luật pháp quốc tế, ảnh hưởng đến môi trường an ninh và ổn định ở một số khu vực, bao gồm khu vực ASEAN,” Benarnews dẫn lời Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc trong bài phát biểu khai mạc.

Mười nước thành viên ASEAN đã vật lộn để đạt được sự đồng thuận về các vấn đề liên quan đến Biển Đông, do đó, tuyên bố chung hôm Thứ Sáu ngầm chỉ trích kế hoạch thành lập Vùng Nhận diện phòng không trên Biển Đông của Bắc Kinh là một biểu hiện lo ngại bất thường về căng thẳng đang gia tăng.

Tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc

Việt Nam tuyên bố chủ quyền ở cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và vào năm 1982 đã thành lập đơn vị hành chính để quản lý các quần đảo này.

Nhắc về Hoàng Sa, Trung Quốc nói công hàm Việt Nam ‘phi pháp, vô hiệu’

TQ tăng hoạt động tại vùng tranh chấp ở Biển Đông

Bãi Tư Chính và lô 06-01: Rõ hơn về tàu Trung Quốc ‘quấy nhiễu’ Việt Nam

Huyện đảo Hoàng Sa hiện trực thuộc thành phố Đà Nẵng, còn huyện đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Khánh Hòa.

Tuy nhiên, kể từ năm 1974, Trung Quốc trên thực tế đã chiếm quyền kiểm soát toàn bộ Quần đảo Hoàng Sa (Bắc Kinh gọi là Tây Sa), trong đó bao gồm đảo Phú Lâm, nơi nay đặt trụ sở của huyện đảo Tây Sa.

Trung Quốc giành quyền kiểm soát đảo Phú Lâm từ năm 1956. Năm 2012, Trung Quốc thành lập ‘thành phố Tam Sa’ đặt thủ phủ ở đảo này và điều quân tới đóng trên đảo.

Đảo Phú Lâm hiện là nơi mà cả Trung Quốc, Việt Nam và Đài Loan đều tuyên bố chủ quyền.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Biển Đông: TQ lại nạo vét tại đảo Phú Lâm nơi VN tuyên bố chủ quyền?

Biển Đông: TQ lại nạo vét tại đảo Phú Lâm nơi VN tuyên bố chủ quyền?

Hình ảnh chụp vệ tinh trong ngày 17/4 và 25/6 cho thấy các hoạt động nạo vét của TQ tại đảo Phú LâmBản quyền hình ảnhPLANET LABS INC
Image captionHình ảnh chụp vệ tinh trong ngày 17/4 và 25/6 cho thấy các hoạt động nạo vét của TQ tại đảo Phú Lâm

Hình ảnh vệ tinh cho thấy Trung Quốc đang nạo vét tại một vịnh ở đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa trên Biển Đông, có vẻ như để mở rộng góc phía tây bắc của hòn đảo nhân tạo này, theo Benarnews.

Ảnh vệ tinh cho thấy việc nạo vét dường như đã được tiến hành trong vài tuần nay tại đảo Phú Lâm, nơi Trung Quốc xây dựng thành phố Tam Sa.

TQ lập hai huyện đảo quản lý Trường Sa, Hoàng Sa

Biển Đông: ‘TQ mượn gió bẻ măng’ nhưng ‘thời thế hiện không dễ cho họ’

Bốn kịch bản Bắc Kinh có thể thực hiện ‘nếu bị VN kiện ra tòa quốc tế’

Hình ảnh vệ tinh thương mại từ ngày 17/4 đến ngày 25/6 cho thấy rạn san hô ở bờ biển phía tây bắc đảo Phú Lâm đã bị nạo vét một đoạn ở trung tâm. Cũng có thể nhìn thấy các dải đất mới có thể là nền móng cho việc bồi đắp, mở rộng hòn đảo.

Có thể thấy các cẩu hoặc máy móc hạng nặng đang làm việc tại cùng địa điểm nói trên hôm 8/5. Dựa trên đánh giá của BenarNews, hình ảnh vệ tinh cho thấy cát được nạo vét ra khỏi đảo Phú Lâm để tạo ra cấu trúc mới này. Đường bờ biển gần khu vực này đã được gia cố bằng thứ trông giống như một bức tường biển. Một số cấu trúc giống như cầu tàu nhân tạo được xây dựng tại các điểm dọc theo bờ biển về phía đông.

Trung Quốc đã giành quyền kiểm soát đảo Phú Lâm từ năm 1956Bản quyền hình ảnhOTHER
Image captionTrung Quốc đã giành quyền kiểm soát đảo Phú Lâm từ năm 1956

Đảo Phú Lâm là nơi Trung Quốc thường tập hợp các tàu của Lực lượng Bảo vệ Bờ biển (CCG) và lực lượng dân quân hàng hải trước khi điều động đến nơi khác, quấy rối hoạt động của tàu các quốc gia khác cũng có yêu sách về chủ quyền trên Biển Đông, theo Benarnews.

Hình ảnh vệ tinh chụp vào thứ Sáu cho thấy ba tàu CCG đang đậu ở cảng của đảo này, cùng với những vật trông giống như một chiếc xà lan chở vật liệu.

Trung Quốc đã thực hiện một chiến dịch bồi đắp đảo nhân tạo rộng lớn từ năm 2014 đến năm 2016 ở Biển Đông, phá hủy môi trường tự nhiên và quân sự hóa các bãi đá và rạn san hô nơi nước này chiếm đóng.

Bốn căn cứ lớn nhất mà Trung Quốc duy trì ở Biển Đông – Đá Subi, Đá Chữ Thập, Đá Vành Khăn, và Đảo Phú Lâm – hầu như không thể nhận ra kể từ khi việc bồi đắp kết thúc vào năm 2017, tạo ra các bến cảng nước sâu, đường băng, và nơi sinh hoạt. Nhưng việc nạo vét quy mô nhỏ vẫn tiếp tục, như hình ảnh vệ tinh mới nhất này cho thấy.

Các mối quan ngại về tình trạng nạo vét

Việc nạo vét mới trên đảo Phú Lâm được Trung Quốc thực hiện vào thời điểm nhạy cảm, theo Benarnews.

Tháng trước, Indonesia đã cùng với Việt Nam, Philippines và Malaysia tố cáo Trung Quốc về việc khẳng định chủ quyền đối với toàn bộ Biển Đông trong một loạt các công hàm gửi lên Liên Hiệp Quốc.

Indonesia viện dẫn phán quyết năm 2016 của Tòa án Trọng tài Thường trực, bác bỏ hầu hết các yêu sách của Trung Quốc đối với vùng biển tranh chấp, khẳng định không một ‘hòn đảo’ nào của Trung Quốc có thể tạo ra các vùng đặc quyền kinh tế và chúng chỉ là các bãi đá.

Gần đây, Trung Quốc đã cố gắng đe dọa Việt Nam về việc hợp tác khai thác dầu trên Biển Đông với một đối tác quốc tế bằng cách đưa một tàu khảo sát vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam vào ngày 17/6.

Các tàu nạo vét của Trung Quốc được trông thấy ở vùng nước gần Đá Chữ Thập - hình ảnh do máy bay giám sát của Hải Quân Hoa Kỳ chụp hồi tháng 5/2015Bản quyền hình ảnhREUTERS
Image captionCác tàu nạo vét của Trung Quốc được trông thấy ở vùng nước gần Đá Chữ Thập – hình ảnh do máy bay giám sát của Hải Quân Hoa Kỳ chụp hồi tháng 5/2015

Việt Nam đã chủ trì hội nghị thượng đỉnh với các nhà lãnh đạo ASEAN hôm 26/6. Tất cả các nước có yêu sách chủ quyền ở Biển Đông đều tham gia, không bao gồm Trung Quốc và Đài Loan.

“Trong khi thế giới đang đấu tranh chống lại đại dịch COVID-19, thì lại có những hành động vô trách nhiệm, vi phạm luật pháp quốc tế, ảnh hưởng đến môi trường an ninh và ổn định ở một số khu vực, bao gồm khu vực ASEAN,” Benarnews dẫn lời Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc trong bài phát biểu khai mạc.

Mười nước thành viên ASEAN đã vật lộn để đạt được sự đồng thuận về các vấn đề liên quan đến Biển Đông, do đó, tuyên bố chung hôm Thứ Sáu ngầm chỉ trích kế hoạch thành lập Vùng Nhận diện phòng không trên Biển Đông của Bắc Kinh là một biểu hiện lo ngại bất thường về căng thẳng đang gia tăng.

Tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc

Việt Nam tuyên bố chủ quyền ở cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và vào năm 1982 đã thành lập đơn vị hành chính để quản lý các quần đảo này.

Nhắc về Hoàng Sa, Trung Quốc nói công hàm Việt Nam ‘phi pháp, vô hiệu’

TQ tăng hoạt động tại vùng tranh chấp ở Biển Đông

Bãi Tư Chính và lô 06-01: Rõ hơn về tàu Trung Quốc ‘quấy nhiễu’ Việt Nam

Huyện đảo Hoàng Sa hiện trực thuộc thành phố Đà Nẵng, còn huyện đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Khánh Hòa.

Tuy nhiên, kể từ năm 1974, Trung Quốc trên thực tế đã chiếm quyền kiểm soát toàn bộ Quần đảo Hoàng Sa (Bắc Kinh gọi là Tây Sa), trong đó bao gồm đảo Phú Lâm, nơi nay đặt trụ sở của huyện đảo Tây Sa.

Trung Quốc giành quyền kiểm soát đảo Phú Lâm từ năm 1956. Năm 2012, Trung Quốc thành lập ‘thành phố Tam Sa’ đặt thủ phủ ở đảo này và điều quân tới đóng trên đảo.

Đảo Phú Lâm hiện là nơi mà cả Trung Quốc, Việt Nam và Đài Loan đều tuyên bố chủ quyền.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Trung Quốc tính lập vùng nhận dạng phòngkhông ở biển Philippines, Mỹ tổ chức tập trận 

Trung Quốc tính lập vùng nhận dạng phòngkhông ở biển Philippines, Mỹ tổ chức tập trận 

Hai nhóm tàu sân bay của Mỹ đã kết thúc các cuộc tập trận chung ở Biển Philippines hôm thứ Ba (23/6). Giới quan sát cho rằng đây là một màn trình diễn thực lực trong bối cảnh Trung Quốc dự định thiết lập một vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) trên Biển Đông, bao gồm vùng Biển Tây Philippines.

Hôm Chủ nhật vừa rồi (21/6), hai tàu sân bay USS Theodore Roosevelt và USS Nimitz “bắt đầu triển khai hoạt động ở các vùng biển quốc tế, thể hiện khả năng đặc biệt của Mỹ trong việc vận hành tác chiến nhiều tàu sân bay trong cự ly gần”, tờ Rappler dẫn tuyên bố của chỉ huy Hạm đội Thái Bình Dương của Hoa Kỳ.

Một nhóm tàu sân bay tác chiến thứ ba, tàu USS Ronald Reagan, đang được điều động ở Biển Philippines cùng lúc, Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ cho biết trên trang Facebook của mình.

 Biển Philippines là một khu vực rộng lớn bao phủ khu vực bờ biển phía đông của Philippines, Đài Loan và Nhật Bản, kéo đến tận quần đảo Mariana gồm đảo Guam và Palau thuộc quần đảo Caroline.

Mỹ đã triển khai các cuộc tuần tra thường xuyên hơn ở Tây Thái Bình Dương khi các hành động gây hấn của Trung Quốc gia tăng gần đây, ngay cả trong đại dịch.

Ở Biển Đông, các tàu hải quân và dân quân Trung Quốc đã tiếp tục quấy rối tàu bè từ các nước có tuyên bố chủ quyền khác, bao gồm Việt Nam, Malaysia và Philippines.

Lấy ví dụ, hồi đầu tháng 4, một tàu Hải cảnh Trung Quốc đã đâm chìm tàu đánh cá Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa. Tuy nhiên sau đó, Trung Quốc lại tuyên bố tàu Việt Nam cố tình đâm vào tàu Trung Quốc rồi bị chìm.

Tương tự, hồi tháng 2, một tàu chiến Trung Quốc đã hướng nòng súng vào một tàu hải quân Philippines, khiến Manila phải nộp công hàm phản đối cho đại sứ quán Trung Quốc.

 Vào ngày 31/5, tờ Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng báo cáo Bắc Kinh có kế hoạch thiết lập một vùng nhân dạng phòng không ADIZ trên Biển Đông bao gồm quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Việc thiết lập vùng nhận dạng phòng không ADIZ cho phép một nước yêu cầu máy bay từ các quốc gia khác phải tự xác định danh tính trước khi tiến vào không phận tự nhận dạng của nước này, và có thể can thiệp vũ trang nếu yêu cầu không được chấp thuận. Chính vì vậy, động thái này là bước tiến của Trung Quốc nhằm kiểm soát chặt chẽ khu vực.

Thông qua việc xây dựng các đảo nhân tạo quân sự hóa trên những rạn san hô chìm ở Biển Tây Philippines, trong những năm gần đây Trung Quốc đã hạn chế việc qua lại của máy bay và tàu thuyền Philippines. Các máy bay và tàu hải quân Philippines đã thường xuyên bị Trung Quốc cảnh báo và đe dọa khi tiến đến gần các tiền đồn quân sự này.

Trung Quốc cũng thiết lập các trạm radar trên một số rạn san hô Zamora (Subi), Panganiban (Mischief) và Kagitingan (Fiery Cross) giám sát không lưu và điều hướng trên biển. Bệ phóng tên lửa được trang bị trên các công trình này có khả năng tấn công các máy bay và tàu mà Trung Quốc cho là kẻ xâm nhập.

Trung Quốc hiện cũng có một vùng ADIZ khác trên Biển Hoa Đông, bao gồm một khu vực tranh chấp với Nhật Bản.

 Hồi đầu tháng, Mỹ kêu gọi Trung Quốc tuân thủ phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài Thường trực tại Hague, theo đó vô hiệu hóa các yêu sách chủ quyền “quá mức” của Trung Quốc ở Biển Đông.

Việt Nam, Malaysia và Indonesia trước đó cũng đưa ra lời kêu gọi tương tự với Trung Quốc.

Trong cùng thời điểm, hồi đầu tháng 2, Tổng thống Philippines Duterte đã hủy bỏ Hiệp ước Thăm viếng Quân sự với Mỹ (VFA), một thỏa thuận được ký năm 1998, trong đó cho phép Hoa Kỳ đưa quân đội tới Philippines để tập trận chung hoặc giúp đỡ chống khủng bố. Động thái này nối tiếp quan điểm ngả về Trung Quốc và chia tay Mỹ của ông Duterte từ khi lên nắm quyền cách đây 4 năm trước.

Tuy nhiên, cách đây không lâu, Philippines đã ra quyết định tạm đình chỉ quyết định này do “các diễn biến chính trị và các vấn đề khác trong khu vực”, mà nhiều khả năng là do căng thẳng Philippines-Trung Quốc xoay quanh vấn đề Biển Đông.

Hoa Kỳ đã hoan nghênh động thái này, và coi nó như một sự thừa nhận vai trò quan trọng của Mỹ trong hồ sơ quốc phòng và an ninh của Philippines.

 Việc Hải quân Hoa Kỳ tuần tra ở Tây Thái Bình Dương, đặc biệt là ở Biển Đông, đã góp phần thực thi hiệu quả phán quyết của Tòa án Hague bằng cách khẳng định quyền đi lại tự do của các tàu quốc tế và phủ nhận tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc, cựu phó thẩm phán Tòa án Tối cao, Philippines ông Antonio Carpio nói.

Các cuộc tuần tra tự do hàng hải như vậy là cách Mỹ duy trì sự hiện diện trong khu vực để áp chế một Trung Quốc ngày càng hung hăng và muốn gia tăng quyền kiểm soát.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Thách thức ở Biển Đông, từ không trung tới đáy biển

Thách thức ở Biển Đông, từ không trung tới đáy biển

GS James Borton (ĐH Tufts, Mỹ), người đang viết cuốn sách mới về Biển Đông “Dispatches from the South China Sea”, ngày 21/6 gửi cho Tiền Phong bài phân tích kế hoạch Trung Quốc áp đặt vùng nhận diện phòng không, phát triển “con đường tơ lụa thông tin”, thách thức nhiều nước trên thế giới.

Hơn một thập kỷ qua, Trung Quốc lên kế hoạch áp đặt vùng nhận diện phòng không (ADIZ) ở Biển Đông. Giờ đây, lợi dụng đại dịch toàn cầu COVID-19, biểu tình chống kì thị chủng tộc lan khắp nước Mỹ và vai trò lãnh đạo của Nhà Trắng suy giảm, Bắc Kinh đang thách thức Washington và các nước láng giềng ở châu Á bằng các tuyên bố, kế hoạch về không phận và cáp quang dưới biển. Tháng trước, cơ quan quốc phòng Đài Loan cảnh báo một nguy cơ ngày càng tăng là Trung Quốc sẽ áp đặt ADIZ ở Biển Đông.

Năm 2013, Trung Quốc tuyên bố ADIZ trên Biển Hoa Đông chồng lấn với không phận và các đảo mà Nhật Bản cũng như Đài Loan tuyên bố chủ quyền. Việc Trung Quốc áp đặt ADIZ dẫn tới căng thẳng với Mỹ, Nhật Bản và Đài Loan, nhưng các chuyến bay thương mại vẫn hoạt động bình thường. Thời điểm đó, chính quyền của Tổng thống Mỹ Barack Obama thúc giục các chuyến bay dân sự tuân thủ nguyên tắc nhận dạng của Trung Quốc. Nhưng giờ đây, cách phản ứng của chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump sẽ khác, trong bối cảnh căng thẳng gia tăng giữa Washington và Bắc Kinh. Gần đây nhất, Nhà Trắng cấm tất cả các chuyến bay thương mại chở khách của Trung Quốc bay tới Mỹ.

Vì một ADIZ trên Biển Đông sẽ liên quan vùng trời phía trên các quần đảo Pratas, Hoàng Sa và Trường Sa nên Mỹ tái khẳng định rằng, yêu sách phi pháp của Trung Quốc ở Biển Đông cũng đe dọa nghiêm trọng quyền tự do đi lại trên các vùng biển. Mỹ vẫn đang duy trì các tiêu chuẩn tự do hàng hải. Trong một tháng qua, Mỹ đã gia tăng hiện diện quân sự ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Có thêm tàu hải quân Mỹ và máy bay ném bom B-1 của Không quân Mỹ đi qua khu vực Biển Đông. Mỹ muốn sự hiện diện của mình trong khu vực được các đồng minh, đối tác và Trung Quốc cảm nhận một cách rõ ràng. Gần đây, Trung Quốc liên tục quấy rối một số nước láng giềng có tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông, như Việt Nam, Philippines, Malaysia. Phía Trung Quốc đâm va tàu cá, quấy nhiễu tàu cảnh sát biển, xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của các nước Đông Nam Á này.

Các động thái của Trung Quốc bắt nguồn từ mưu đồ và kế hoạch có hệ thống của họ. Trung Quốc ngang nhiên cải tạo các bãi đá ngầm ở quần đảo Trường Sa, biến chúng thành các tiền đồn để triển khai máy bay, hệ thống tên lửa phòng không, radar, khí tài chống tàu nổi, tàu ngầm. Trung Quốc cũng tìm cách gia tăng kiểm soát các mạng lưới toàn cầu và hệ thống cáp dưới biển dùng để truyền thông tin, dữ liệu. “Hầu hết những người theo dõi Biển Đông sát sao nhất đều thấy rằng, các đảo nhân tạo mà Trung Quốc biến thành tiền đồn là nhân tố chính thay đổi cuộc chơi nếu có bất kỳ xung đột Mỹ-Trung nào xảy ra trong tương lai”, ông Greg Poling, giám đốc Sáng kiến Minh bạch hàng hải của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (Mỹ), nhận định.

“Con đường tơ lụa thông tin”

Không chỉ sử dụng ADIZ và các đảo nhân tạo ở Trường Sa để giám sát bầu trời, coi đây là hệ thống cảnh báo sớm, Trung Quốc còn đang phát triển “con đường tơ lụa thông tin”. Đó là hệ thống cáp dưới biển phục vụ cả mục đích dân sự và quân sự. Chúng được dùng để thu thập thông tin giám sát quân sự và khoa học, truyền dữ liệu về Trung Quốc. Việc này tạo ra một nguy cơ an ninh tiềm tàng. Các nhà phân tích cảnh báo rằng, Hải quân Trung Quốc tìm cách gia tăng kiểm soát eo biển Luzon và Biển Đông để nước này tạo ra một khu vực liên kết rộng lớn, có thể kết nối với đảo Phú Lâm thuộc Hoàng Sa, đá Chữ Thập, đá Subi và đá Vành Khăn thuộc Trường Sa (của Việt Nam) thông qua mạng cáp quang dưới biển. Các nước cần tìm hiểu sâu về các kênh liên lạc nhạy cảm đóng vai trò quan trọng trong việc thu thập thông tin tình báo và bảo đảm năng lực quân sự.

“Trong khi xem xét các thách thức mà Trung Quốc tạo ra trên bề mặt Biển Đông, chúng ta cũng cần nhìn sâu xuống đáy biển u tối để xem họ làm gì dưới đó”, đô đốc Hải quân Mỹ đã nghỉ hưu James Stavridis nói. Hiện có khoảng 400 tuyến cáp quang dưới biển truyền dữ liệu với tốc độ gần bằng tốc độ ánh sáng. Khối dữ liệu này bao gồm email, văn bản và các giao dịch tài chính của thế giới trị giá 15.000 tỷ USD.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Biển Đông: ‘TQ mượn gió bẻ măng’ nhưng ‘thời thế hiện không dễ cho họ’

Biển Đông: ‘TQ mượn gió bẻ măng’ nhưng ‘thời thế hiện không dễ cho họ’

Ảnh chụp ngày 4/7 2016 cho thấy các tàu TQ tham gia tập trận ở Biển ĐôngBản quyền hình ảnhSTR/GETTY IMAGES
Image captionẢnh chụp ngày 4/7 2016 cho thấy các tàu TQ tham gia tập trận ở Biển Đông

TS Trần Công Trục, nguyên trưởng ban Biên giới chính phủ Việt Nam phản hồi ‘bốn kịch bản Trung Quốc (TQ) có thể làm nếu bị Việt Nam (VN) kiện ra tòa quốc tế‘ do ông Ngô Sỹ Tồn (Wu Shicun) Giám đốc Viện Nghiên cứu Quốc gia Trung Quốc về Biển Đông (NISCSS) công bố mới đây.

Trao đổi với BBC News Tiếng Việt, TS Trần Công Trục cho hay ông từng gặp ông Ngô Sỹ Tồn trong một cuộc đám phán giữa Việt Nam và Trung Quốc về giải quyết vấn đề tranh chấp trên vịnh Bắc Bộ cách đây nhiều năm và từng đọc một số bài nghiên cứu của ông Tồn, trong đó có bài viết về ‘bốn kịch bản’.

Bốn kịch bản Bắc Kinh có thể thực hiện ‘nếu bị VN kiện ra tòa quốc tế’

TQ lại lấn át ở Biển Đông, VN còn trông đợi Mỹ được không?

Biển Đông: Tham vọng Trung Quốc và chiến lược Việt, Mỹ thời Covid-19

“Theo nhận định của tôi, với tư cách là một người nghiên cứu về luật pháp, tôi cho rằng ông này không phải là một chuyên gia luật. Vì những điều ông ấy viết không phản ánh tư duy khách quan của một chuyên gia luật pháp. Bốn kịch bản này thực sự chỉ là những lời mang tính chất hăm dọa, kích động, và không có gì mới. Trong thực tế TQ đã làm những điều này từ lâu,” ông Trục nói.

BBC: Theo ông nếu đúng là Trung Quốc sẽ tiến hành bốn kịch bản này, chính phủ Việt Nam có ‘dám’ kiện nữa không?

TS Trần Công Trục: Như tôi nói ở trên, bốn kịch này này Trung Quốc đã làm từ lâu. TQ chỉ lặp lại các các đe dọa trên phương diện ngoại giao kèm theo các hành động thô bạo trên thực tế.

Kịch bản một: TQ dọa sẽ công bố hệ thống đường cơ sở ở quần đảo Trường Sa của VN mà họ gọi là Nam Sa.

Trên thực tế, TQ đã làm điều này từ 1996, khi họ nối tất cả các điểm ngoài cùng của các thực thể thuộc quần đảo Hoàng Sa của VN mà TQ gọi là Tây Sa, để tạo thành đường cơ sở, như là một quốc gia quần đảo. Đây là việc TQ giải thích và áp dụng hoàn toàn sai Công ước Quốc tế về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982).

Nhiều học giả đã phân tích về hành động sai trái này. Đặc biệt trong công hàm của phái đoàn thường trực CHXHCNVN gửi cho Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc vừa qua cũng khẳng định quan điểm của UNCLOS 1982, quy định rằng không thể nối tất cả các điểm của các thực thể ở ngoài cùng quần đảo Trường Sa để biến nó thành một đường cơ sở, như là một quốc gia quần đảo.

Đường cơ sở thẳng do TQ tự công bố quanh quần đảo Hoàng SaBản quyền hình ảnhBỘ NGOẠI GIAO MỸ
Image captionĐường cơ sở thẳng do TQ tự công bố quanh quần đảo Hoàng Sa

Tôi cho rằng TQ đang làm tương tự với quần đảo Trường Sa. Sở dĩ họ chưa công bố đường cơ sở ở đây là do bị lên án rất nhiều, cho nên họ đang tính toán. Họ cũng đang tính toán để mở rộng, chiếm đóng thêm một số bãi cạn nằm ngoài quần đảo Trường Sa, gần thềm lục địa đặc quyền kinh tế của VN, Malaysia, Brunei, Indonesia và Philippines.

Đây là việc cố tình giải thích, áp dụng sai công ước để hiện thực hiện yêu sách đường chín đoạn phi pháp. Bây giờ họ chỉ nhắc lại chuyện cũ này, nó không có giá trị gì về mặt luật pháp quốc tế.

Kịch bản hai: TQ đe dọa đẩy mạnh việc ngăn cấm, đánh đập, giam cầm các ngư dân VN hoạt động trên vùng biển Hoàng Sa, Trường Sa. Điều này họ cũng làm lâu rồi. Năm nào TQ cũng công bố quyết định cấm đánh bắt cá, năm nào cũng đốt tàu, bắt giam, đánh đập ngư dân VN.

Quốc tế cũng đã đánh giá đây là hành động “cướp biển” mang tính chất nhà nước. Nhưng tôi cho rằng TQ sẽ tiếp tục làm điều này chừng nào họ đạt được tham vọng khống chế, độc chiếm Biển Đông, chứ không cần chờ đến lúc VN kiện.

Kịch bản ba: TQ dọa tăng cường ngăn cản VN quân sự hóa ở Trường Sa. Việc họ nói VN quân sự hóa là hoàn toàn bịa đặt. TQ mới chính là nước đang quân sự hóa trên Biển Đông.

Việt Nam có mặt ở đó, trên 21 vị trí trên quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền VN, và có các lực lượng quân đội, khoa học kỹ thuật, nhân sự để quản lý và bảo vệ chủ quyền của mình trên các thực thể đó là điều rất bình thường mà VN vẫn làm từ trước đến nay để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.

Từ lâu TQ đã uy hiếp VN, thậm chí dùng vũ lực để đánh chiếm, gây ra thảm họa cho người Việt Nam trong lúc đang làm nhiệm vụ bảo vệ quần đảo Hoàng Sa, như vụ Gạc Ma.

TQ sẽ tiếp tục các hành động này, nhưng trong bối cảnh hiện nay khi nhiều nước trên thế giới đã lên tiếng phản đối, họ có làm được hay không chúng ta cần phải chờ xem.

Kịch bản thứ tư: TQ dọa triển khai khai thác dầu khí ở Bãi Tư Chính. Trên thực tế TQ đã thực hiện rồi, nhưng mà làm không được. Năm ngoái TQ đưa tàu địa chất Hải Dương vào hoạt động ở Bãi Tư Chính hơn một tháng để thăm dò điều kiện nhằm tiến hành khai thác ở đây.

Mục tiêu của họ là hợp pháp hóa đường lưỡi bò và biến các bãi cạn hoặc chìm dưới mặt nước trở thành một cấu trúc địa lý thuộc quần đảo Trường Sa. Đây là điều hết sức vô lý mà trong công hàm tôi nói ở trên, Việt Nam đã phản đối điều này. Các bãi cạn nửa nổi nửa chìm, hoặc hoàn toàn chìm dưới nước, không phải là đối tượng để biến thành bộ phận của một lãnh thổ nước nào.

UNCLOS 1982 đã nói rõ điều này: Nghiêm cấm biến các bãi cạn nằm trên thềm lục địa trở thành một bộ phận lãnh thổ của một quốc gia. Nhưng TQ vẫn cứ làm liều. Họ muốn áp đặt tư duy phi pháp của mình để thực hiện tham vọng vô lý.

BBC: Trong bốn kịch bản mà học giả Trung Quốc đưa ra, theo ông thì kịch bản nào TQ có nhiều khả năng thực hiện nhất và kịch bản nào ít khả năng nhất? Kịch bản nào ‘đáng sợ’ nhất đối với Việt Nam?

TS Trần Công Trục: Tôi cho rằng bốn kịch bản đó TQ đều có thể triển khai và đang tính toán thực hiện cả bốn. Tất nhiên là họ phải chọn thời điểm thích hợp, nhất là sau vụ dịch Covid-19.

Nhưng kịch bản tôi cho rằng họ có khả năng làm được nhất là kịch bản thứ nhất: Công bố đường cơ sở của quần đảo Nam Sa, để thực thi sách lược mà TQ gọi là Tứ Sa, biện minh cho yêu sách đường lưỡi bò phi pháp.

Trung Quốc 'mượn gió bẻ măng' nhưng thời thế hiện không dễ cho họ'

TCT
TQ ‘mượn gió bẻ măng’ nhưng thời thế hiện không dễ cho họ.
TS Trần Công Trục
Nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ VN

Khi họ công bố đường cơ sở này thì các nước có thể phản đối, nhưng thực ra công bố đó chỉ trên giấy tờ thôi, giống như TQ từng tuyên bố đường cơ sở ở quần đảo Tây Sa. Còn các kịch bản khác, họ có thể chỉ làm ở những phạm vi và điều kiện cho phép.

Ví dụ như việc TQ đánh đập, bắt bớ, đốt tàu cá thì đang gặp phải phản đối. Vì càng ngày quốc tế càng nhận ra bản chất phi pháp, phi đạo lý của TQ. Họ làm được các kịch bản còn lại như thế nào thì còn phụ thuộc vào thái độ của VN và quốc tế. Tôi nghĩ rằng VN sẵn sàng lên án và tìm mọi cách để đối phó lại các hoạt động phi pháp và trắng trợn của TQ.

VN bị ảnh hưởng gì khi Philippines muốn ‘gần Trung, xa Mỹ’?

Mỹ gửi công hàm lên LHQ phản đối yêu sách ‘bất hợp pháp’ của TQ trên Biển Đông

Còn việc TQ đe dọa sẽ ngăn chặn hoạt động bảo vệ, quản lý của các lực lượng của VN trên các thực thể thuộc chủ quyền của VN thì liệu có làm được không trong tình hình hiện nay? Không phải dễ, bởi VN đang nỗ lực hợp tác cùng các quốc gia khác để tăng cường sức phòng thủ và sức chiến đấu của mình.

Khi chạm đến lãnh thổ thiêng liêng thì theo truyền thống của người VN “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Dù kiềm chế xung đột, nhưng nếu lãnh thổ bị xâm phạm, thì chắc chắn người VN sẽ cầm súng đứng lên bảo vệ và chiến đấu đến phút cuối cùng. Do đó TQ không dễ dàng làm được điều này.

Việc thăm dò khai thác dầu ở Bãi Tư Chính liệu TQ cũng có làm được như đe dọa không? Các công ty trên thế giới có hợp tác với họ không? Với điều kiện địa lý kinh tế xa xôi như vậy thì lợi ích kinh tế TQ đạt được là gì hay họ chỉ nhằm vào mục đích khác: cố tính khuấy động khu vực này để VN không thể tiến hành thăm dò dầu khí được? Nên nhớ là TQ đã làm việc này nhiều lần và cho tới nay VN vẫn đứng vững ở đó, vẫn tiến hành thăm dò khai thác dầu khí và vẫn bảo vệ được các quyền hợp pháp của mình trong khu vực này.

Trong bối dịch bệnh Covid-19 hiện nay, dù TQ đang tính toán để “đục nước béo cò”, “mượn gió bẻ măng”, nhưng nên nhớ những nước khác trong khu vực, cả kể những nước trước đây mềm mỏng với TQ như Malaysia, Philippines, Indonesia nay cũng có những tiếng nói phản đối mạnh mẽ TQ và ủng hộ lập trường của VN.

Các nước mạnh trên thế giới như Mỹ, EU, Ấn Độ, Nhật Bản đều lên tiếng phản đối TQ và kêu gọi cộng đồng quốc tế thượng tôn pháp luật. Nếu TQ tiếp tục các hành động trắng trợn này thì nhân loại sẽ không để yên. Với tình thế đó thì tôi cho rằng dù TQ đe dọa, hung hăng, nhưng có làm được không còn là câu chuyện khác.

BBC: Theo ông chính phủ Việt Nam có lường trước hết được các rủi ro của việc kiện Trung Quốc hay không và đã chuẩn bị cho việc này thế nào?

TS Trần Công Trục: Để chuẩn bị một hồ sơ để gửi lên các cơ quan tài phán quốc tế, VN đã nghiên cứu rất kỹ tất cả các điều kiện trong nhiều năm qua. Vấn đề là Việt Nam không thể kiện TQ bất cứ nội dung nào.

Nhiều người lầm tưởng nếu kiện là kiện về vấn đề chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa. Không phải vậy. Nếu sau các đàm phán song phương, đa phương không có kết quả, Việt Nam chỉ có thể đơn phương kiện việc TQ áp dụng sai công ước UNCLOS 1982. Giống như Philippines đã làm.

Việt Nam không thể đơn phương kiện TQ vấn đề chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa hay chủ quyền ở các vùng nước chồng lấn. Vì việc này không thuộc phạm vi điều chỉnh của UNCLOS 1982. Để kiện những vấn đề này thì phải có sự thỏa thuận của các nước liên quan. Đơn phương kiện các nội dung đó thì các cơ quan tài pháp không xem xét đâu.

Nhiều người nói VN sợ TQ nên không kiện là không đúng. Khi có chân lý, pháp luật thì VN sẵn sàng làm, vì chính điều đó mới là cách đối xử văn minh, giữ vững hòa hiếu, bảo vệ uy tín của các bên liên quan. Khi đưa ra kiện có nghĩa động cơ của VN là thượng tôn pháp luật, đưa mọi việc ra dưới ánh sáng pháp lý.

Nếu thua, VN sẵn sàng không tiếp tục những điều mà từ trước đến nay VN đã làm một cách sai trái nếu đó là phán quyết của tòa. Nhưng để kiện thì cần phải tính đến nội dung, thủ tục, thời cơ, hiệu quả của việc kiện.

BBC:Theo nhận định của ông, nếu đặt lên bàn cân các thiệt hại mà Trung Quốc có thể gây ra cho VN, và cái mà VN đạt được nếu kiện, thì ông ủng hộ kiện hay không?

TS Trần Công Trục: Tôi nghĩ rằng kiện là cách giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình. Việt Nam chưa bao giờ nói rằng sẽ không sử dụng biện pháp đó. Nhưng rõ ràng trong bối cảnh hiện nay, thì vấn đề kiện đòi chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa sẽ gác lại đó.

Cái có thể kiện hiện nay là như Philippines đã làm, kiện TQ về việc áp dụng sai công ước UNCLOS 1982. Nhưng nên nhớ rằng dù có phán quyết của tòa án, việc thực thi phán quyết lại không triển khai được do cơ chế thi hành án của các cơ quan tài phán quốc tế hiện nay phải thông qua Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc mà TQ là thành viên thường trực, có quyền phủ quyết.

Bãi Tư Chính: “Đã đến lúc VN kiện TQ ra tòa quốc tế”?

Biển Đông: VN làm gì để giữ chủ quyền khi ‘ở vào thế yếu’?

Nghĩa là, thắng kiện thì được lợi về chính trị, ngoại giao, pháp lý, dư luận, và kết quả thắng đó sẽ trở thành một thực tiễn trong luật pháp quốc tế để người ta căn cứ vào đó đấu tranh để bảo vệ công lý. Nhưng như đã nói, việc thi hành phán quyết trên thực tế là không có. Do đó Việt Nam phải tính. Việc tập hợp ý kiến của các chuyên gia, luật sư, dư luận để cùng nhau có tiếng nói thống nhất là rất cần thiết.

BBC:Trong bối cảnh chính trị, xã hội toàn cầu hiện nay, khi các nước đang đương đầu với dịch bệnh Covid-19 và nền kinh tế nhiều nước trên thế giới đang phụ thuộc vào Trung Quốc, chính phủ VN cần chuẩn bị thêm những gì so để có thể đương đầu với Trung Quốc?

TS Trần Công Trục: Nhưng như phân tích của tôi ở trên, có lẽ chúng ta chưa cần thiết đưa vấn đề ra cơ quan tài phán lúc này, nhất là vấn đề liên quan đến giải thích, áp dụng công ước UNCLOS 1982. Do hiệu quả của nó trong thực tế là hạn chế, như đã nói ở trên. Cần tập hợp thêm dư luận để đấu tranh ngoại giao, tăng cường đoàn kết để duy trì công ước UNCLOS 1982. Đây là điều quan trọng hiện nay.

Tôi không nói VN không nên kiện, nhưng cần tính kỹ nội dung, thủ tục, thời điểm và hiệu quả. Đến lúc mà tình hình xấu hơn, TQ trắng trợn hơn thì VN cũng sẽ phải mạnh mẽ hơn trong các phương diện đấu tranh, cả về quân sự và pháp lý.

Carl Thayer nhận định việc Mỹ mời VN tập trận Vành đai Thái Bình Dương

Xung quanh lời kêu gọi ‘loại TQ’ khỏi Hội đồng Bảo an LHQ

Cơ quan quản lý, lãnh đạo VN đã lường tước mọi tình huống có thế xảy trên mọi mặt trận và đã từng bước thực hiện. Trước việc TQ bất chấp tất cả để thực hiện các hành vi phi pháp thì trước mắt tự bản thân VN phải đoàn kết, đánh giá bản chất các sự kiện một cách bình tĩnh, khoa học chứ không phải trên cơ sở duy ý chí. Muốn như vậy phải thể hiện rõ ràng lập trường pháp lý của mình để bạn bè quốc tế đồng tình ủng hộ. Tôi nghĩ vừa rồi VN đã làm được một số điều trong các việc này, do đó nhận được sự ủng hộ của nhiều nước trên thế giới.

Tiềm lực quốc phòng của VN ngày càng được cải thiện hơn. VN đủ sức tự vệ trước hành động phi pháp của các nước khác, đặc biệt là TQ.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Repsol nhượng cổ phần ba lô dầu: TQ đe dọa thành công VN trên Biển Đông?

Repsol nhượng cổ phần ba lô dầu: TQ đe dọa thành công VN trên Biển Đông?

Một giàn khoan của tập đoàn Repsol - hình chụp không phải ở Biển Đông và chỉ có tính minh họaBản quyền hình ảnhBLOOMBERG
Image captionMột giàn khoan của tập đoàn Repsol (hình chỉ có tính minh họa)

Tập đoàn dầu khí Repsol của Tây Ba Nha đã ký thỏa thuận với PetroVietnam để chuyển nhượng cổ phần tại ba lô thăm dò dầu khí thuộc vùng đặc quyền kinh tế VN – vốn không hoạt động được từ ba năm nay do sức ép từ Trung Quốc, trong đó có dự án Cá Rồng Đỏ.

Cụ thể, Repsol sẽ chuyển nhượng cho Petro Vietnam 51,75% cổ phần ở lô 07/03 PSC và 40% cổ phần ở lô 135-136/03 PSC.

Bằng cách này, Repsol được cho là đã hóa giải được cuộc xung đột với Tập đoàn Dầu khí Việt Nam liên quan đến tình trạng của các lô này và làm giảm sự hiện diện của họ ở Việt Nam, “một quốc gia được coi là rủi ro, bởi trong những năm gần đây, các hoạt động của họ đã bị ảnh hưởng bởi cuộc xung đột lãnh thổ trên Biển Đông,” theo bình luận trên trang Archyde.

Năm 2018, Repsol từng nhận được yêu cầu của PetrolVietnam về việc ngưng dự án Cá Rồng Đỏ tại lô 07/03, nơi Repsol có 52% cổ phần, do sức ép từ Trung Quốc.

BBC News Tiếng Việt có cuộc trao đổi với GS Carl Thayer, nhà nghiên cứu chính trị Đông Nam Á từ Úc, quanh động thái mới của Repsol và các tác động tới Việt Nam.

BBC: Ông có cho rằng động thái này đã chứng minh rằng Trung Quốc đã thành công trong việc dọa nạt Việt Nam và các đối tác kinh doanh, khi Việt Nam và các đối tác đã phải từ bỏ các quyền lợi trên Biển Đông vốn được luật pháp quốc tế công nhận?

GS Carl Thayer: Có thể lập luận rằng Trung Quốc đã thành công trong việc dọa nạt Việt Nam từ ba năm trước.

Việc Repsol quyết định trả lại ba lô thăm dò (135-136 / 03 và 07/03) chỉ là hệ quả vì trong hai năm qua, Repsol đã không thể tiến hành các hoạt động thương mại liên quan đến các dự án này.

Cá Voi Xanh: ‘ExxonMobil muốn gây sức ép lên chính phủ VN’

VN ở thế ‘tiến thoái lưỡng nan’ sau Cá Rồng Đỏ?

Việt Nam ‘bỏ Cá Rồng Đỏ’ ở Biển Đông

VN tạm dừng hay chấm dứt hẳn ‘Cá Rồng Đỏ?

Theo luật quốc tế, Việt Nam có quyền chủ quyền đối với các mỏ khí trong các lô này vì chúng nằm trong Vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Trung Quốc đã thành công trong việc đe dọa Việt Nam vào tháng 7/2017 và một lần nữa vào tháng 3/2018 khi Việt Nam đình chỉ và sau đó tạm dừng hoạt động khai thác lô dầu đang được Repsol tiến hành trong các khối 07/03 và 136/03.

Việt Nam đã không tiến hành bất kỳ hoạt động thăm dò dầu thương mại nào trong các lô này kể từ đó.

Carl Thayer

BBC: Hành động này sẽ ảnh hưởng đến việc đầu tư của các công ty dầu khí quốc tế khác vào thị trường khai thác dầu ở Việt Nam do lo sợ áp lực của Trung Quốc?

Các công ty dầu khí quốc tế hiện đang hoạt động tại vùng biển Việt Nam bao gồm ONGC Videsh của Ấn Độ, Exxon Mobil của Mỹ, và Roseft của Nga – từ lâu đã nhận thức được những rủi ro mà họ đang gặp phải.

Trong quá khứ, chính phủ Ấn Độ đã thúc giục ONGC Videsh tiếp tục hoạt động khai thác dầu khí tại đây.

Năm 2018 đã có tin đồn rằng Exxon Mobil sẽ rời khỏi Việt Nam vì lý do tài chính. Tuy nhiên, đầu tháng này, một quan chức cấp cao của ExxonMobil đã điện đàm với Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc để bày tỏ mối quan tâm của công ty mình trong việc phát triển các nhà máy điện khí hóa lỏng (LNG) trên đất liền.

Bất kỳ áp lực nào của Trung Quốc đối với Exxon Mobil tại thời điểm này có thể sẽ khiến Hoa Kỳ nhảy vào can thiệp.

Rosneft đã giữ vững quan điểm của mình vào năm ngoái. Có báo cáo rằng các hoạt động thăm dò dầu khí có thể tiếp tục trong các lô đã được cấp phép cho Rosneft. Giàn khoan dầu Clyde Boudreaux gần đây đã được kéo đến Vũng Tàu.

Việt Nam, Respol, Cá Rồng Đỏ, PetroVietnamBản quyền hình ảnhBAN DO DAU KHI VN 12/2016
Image captionLô 07/03 nằm cạnh Lô 136-03 mà VN phải ngưng khai thác hồi 7/2017

BBCViệt Nam được cho là sẽ phải chịu thiệt hại tài chính lớn do động thái mới đây của Repsol. Thiệt hại này sẽ ảnh hưởng đến tình trạng ngành dầu khí Việt Nam như thế nào?

GS Carl ThayerCác lô dầu khí mà Repsol vận hành được ước tính chứa 172 tỷ feet khối khí tự nhiên có thể phục hồi, 45 triệu thùng dầu thô và 2,3 triệu thùng nước ngưng (dầu thô nhẹ).

Nếu các lô này có thể bơm dầu và khí đốt lên bờ để sản xuất điện, chúng sẽ góp phần quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu năng lượng của Việt Nam.

Vào tháng 5/2018, có thông tin rằng Respol đã tham gia các cuộc đàm phán với Tập đoàn Dầu khí Việt Nam để được bồi thường khi chính phủ Việt Nam ra lệnh cho họ ngừng hoạt động. Ước tính vào thời điểm đó, nếu Repsol bị đình chỉ hoạt động hoàn toàn, các nhà đầu tư sẽ mất trắng gần 200 triệu đô la đã bỏ ra.

Bất kỳ việc đình chỉ khai thác dầu nào cũng sẽ ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng tăng của Việt Nam và đè nặng lên các tác động do dịch Covid-19 gây ra đối với tăng trưởng kinh tế nói riêng tại Việt Nam và trên toàn cầu nói chung.

BBC: Liệu động thái này có nói lên rằng chính phủ Việt Nam sẽ không bao giờ dám kiện Trung Quốc ra tòa quốc tế liên quan đến các tranh chấp trên Biển Đông?

Có ý kiến cho rằng Việt Nam bị ràng buộc bởi luật pháp quốc tế liên quan đến cách thức chọn hành động pháp lý mà Việt Nam có thể khởi xướng.

Ví dụ, Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) chỉ bao gồm “các tranh chấp liên quan đến việc giải thích hoặc ứng dụng” Công ước.

UNCLOS không thể giải quyết các tranh chấp về chủ quyền, phân định ranh giới trên biển và các hoạt động quân sự.

Carl Thayer nhận định việc Mỹ mời VN tập trận Vành đai Thái Bình Dương

Xung quanh lời kêu gọi ‘loại TQ’ khỏi Hội đồng Bảo an LHQ

Tòa trọng tài quốc tế cần có sự đồng ý của cả hai bên. Và như chúng ta đã chứng kiến từ vụ Philippines kiệnTrung Quốc, UNCLOS không có bất kỳ biện pháp thực thi nào.

Điều này không có nghĩa là Việt Nam sẽ không bao giờ kiện, nhưng họ sẽ phải lựa chọn các vấn đề của mình một cách cẩn thận. Cách tiếp cận của Philippines là yêu cầu Tòa Trọng tài – được thành lập theo Phụ lục VII của UNCLOS – để xác định các quyền lợi của họ theo Luật Biển.

Quyết định chuyển nhượng hợp đồng sản xuất chung của mình trong lô 07/03 và 135-136 / 03 cho Tập đoàn Dầu khí được thực hiện trên cơ sở thương mại.

Tập đoàn Dầu khí Việt Nam có lẽ không có đủ nguồn lực để tự phát triển các khối này. Tập đoàn này sẽ phải tìm kiếm đối tác nước ngoài.

Điều này sẽ khó khăn vào thời điểm sự hiếu chiến của Trung Quốc gia tăng và căng thẳng giữa Bắc Kinh và Washington leo thang.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Tàu chiến TQ và Mỹ áp sát nhau trên Biển Đông

Tàu chiến TQ và Mỹ áp sát nhau trên Biển Đông

Tờ South China Morning Post dẫn nguồn tin quân sự tiết lộ tàu chiến Mỹ và Trung Quốc từng chạy cách nhau chỉ 100 m trong cuộc chạm mặt trên Biển Đông hồi tháng 4.

Tàu khu trục Mỹ USS Decatur (trái) và tàu khu trục Trung Quốc tại Biển Đông hồi năm 2018

Tờ South China Morning Post ngày 16.6 dẫn lời giới chuyên gia hàng hải Trung Quốc cho rằng nước này và Mỹ có thể có nguy cơ xung đột trên Biển Đông và nên tìm giải pháp ngăn ngừa tình trạng này trong bối cảnh tàu chiến hai bên giáp mặt nhau.

Tờ báo dẫn lời một nguồn tin quân đội Trung Quốc tiết lộ tàu chiến hai nước từng chạy cách nhau chỉ 100 m trong một sự việc hồi tháng 4. Nguồn tin này không nêu rõ tên tàu chiến liên quan nhưng nói sự việc này cho thấy sự thiếu lòng tin chính trị giữa quân đội Mỹ và Trung Quốc.

Ông Hồ Ba, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu chiến lược hàng hải thuộc Đại học Bắc Kinh cho biết cả hai bên đều giữ được sự kiềm chế và chuyên nghiệp trong lần chạm mặt hồi tháng 4. Tuy nhiên, ông cảnh báo những sự việc này có nguy cơ dẫn đến tính toán sai và leo thang thành xung đột quân sự.

Đây được cho không phải là lần đầu tiên tàu chiến hai nước áp sát nhau tại Biển Đông. Hồi tháng 10.2018, hải quân Mỹ công bố những bức ảnh chụp từ trên không cho thấy một tàu khu trục Trung Quốc di chuyển chỉ cách tàu khu trục USS Decatur của Mỹ chỉ 41 m và suýt đâm vào nhau.

Hồi tháng 4, trong bối cảnh các nước đang phải đối phó với dịch Covid-19, Trung Quốc điều nhóm tác chiến tàu sân bay Liêu Ninh đến Biển Đông để tập trận. Trung Quốc còn khoe mẽ rằng hải quân nước này kiểm soát dịch Covid-19 tốt hơn, nói rằng trong lúc nhóm tác chiến tàu sân bay Liêu Ninh đang tập trận thì tàu sân bay USS Theodore Roosevelt của Mỹ lại phải ngưng hoạt động vì thủy thủ bị nhiễm Covid-19.

Cũng trong tháng 4, Trung Quốc còn lớn tiếng thông báo đã triển khai lực lượng ngăn cản khi tàu chiến USS Barry của Mỹ thực hiện hoạt động tuần tra bảo vệ tự do hàng hải tại quần đảo Hoàng Sa (vốn thuộc chủ quyền Việt Nam nhưng bị Trung Quốc chiếm đóng phi pháp).

Tin mới

Các tin khác

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Công hàm Hoa Kỳ và quyết tâm chính trị của lãnh đạo Việt Nam

Posted on by huyentamhh

Công hàm Hoa Kỳ và quyết tâm chính trị của lãnh đạo Việt Nam

Nhà giàn của Việt Nam ở Trường SaBản quyền hình ảnhKIEN PHAM
Image captionNhà giàn của Việt Nam ở Trường Sa

Có thể nhắc một loạt các hành động hung hăng của Trung Quốc tại Biển Đông gần đây, từ việc đâm chìm tàu cá của ngư dân Việt Nam gần Hoàng Sa, rồi cho thành lập chính quyền cấp khu ở cái gọi là “Tây Sa” (Hoàng Sa) và “Nam Sa” (Trường Sa), cho đến việc đặt tên cho 80 thực thể nằm rải rác ở Biển Đông.

Biển Đông: Các bản đồ cổ giúp gì VN trong cuộc chiến pháp lý với TQ?

Carl Thayer: ‘Việc trục xuất tàu Mỹ mà TQ tuyên bố hoàn toàn bịa đặt’

TQ nói VN ‘không có quyền’ phản đối lệnh cấm đánh cá trên Biển Đông

Quan hệ Việt – Trung: Phương châm 16 chữ vàng ‘vẫn ảnh hưởng lớn’

Đặc biệt gần đây, rất quan tâm khi báo South China Morning Post hé lộ Trung Quốc có thể tuyên bố một vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) trên Biển Đông .

Tất cả các hành động đó của Trung Quốc đã khiến khu vực Biển Đông trở thành “chảo dầu châu Á”, có nguy cơ “bùng nổ” bất cứ lúc nào.

Cuộc chiến công hàm

Trong bối cảnh đó, cuộc chiến pháp lý lại Biển Đông lại càng “nóng” hơn bao giờ hết, sau khi Hoa Kỳ lần đầu tiên chính thức gửi công hàm lên Liên Hợp Quốc, phản đối các yêu sách biển quá đáng, trái với luật biển quốc tế của Trung Quốc vào ngày 1/6//2020.

Mặc dù công hàm này được gửi từ 1/6/2020 nhưng công chúng chỉ biết đến khi đích thân Ngoại trưởng Hoa Kỳ Pompeo đích thân đưa tin này kèm theo link trên tài khoản Twitter của mình.

Trong công hàm này, phía Hoa Kỳ phản đối các vấn đề như sau trong yêu sách của Trung Quốc:

Thứ nhất, Hoa Kỳ phản đối yêu sách “quyền lịch sử” ở Biển Đông của Trung Quốc, bởi vì các quy định về các vùng biển của mỗi một quốc gia ven biển được quy định rõ trong Công ước Luật biển 1982 (UNCLOS). Và bất cứ quyền nào của Trung Quốc, nếu có, đều không thể vượt lên trên UNCLOS mà Trung Quốc là một thành viên. Trước đó, Trung Quốc đã đưa ra giải thích là họ có “quyền lịch sử” đối với toàn bộ các vùng nước và các thực thể bên trong “đường lưỡi bò”. “Đường lưỡi bò” tai tiếng này đã bị công kích dữ dội trên toàn thế giới, đặc biệt Phán quyết năm 2016 của Toà Trọng tài trong vụ Philippines kiện Trung Quốc đã chính thức bác bỏ “quyền lịch sử” của Trung Quốc ở đây.

Thứ hai, Hoa Kỳ phản đối việc Trung Quốc tự ý áp dụng đường cơ sở thẳng bao quanh các cấu trúc trên Biển Đông , cụ thể là Trung Quốc năm 1996 đã tự ý tuyên bố một đường cơ sở thẳng bao quanh quần đảo Hoàng Sa, trong khi việc vạch đường cơ sở thẳng như vậy chỉ có thể được áp dụng trong trường hợp quốc gia quần đảo như Indonesia hoặc Philippines. Mà Trung Quốc không phải là quốc gia quần đảo, thêm nữa, các cấu trúc tại Biển Đông đều không đáp ứng được yêu cầu là “đảo”. Cho nên việc đơn phương tuyên bố đường cơ sở của Trung Quốc như ở Hoàng Sa là trái với luật biển quốc tế, bao gồm cả UNCLOS.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, ảnh ngày 20/5Bản quyền hình ảnhEPA
Image captionThủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, ảnh ngày 20/5

Thứ ba, trong các yêu sách của Trung Quốc, họ hay nhập nhèm tuyên bố rằng, tất cả các cấu trúc tại Biển Đông mà Trung Quốc gọi là Nam Hải Chư Đảo đều là đảo, do đó đều có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa kèm theo, và do Trung Quốc có chủ quyền trên tất cả các cấu trúc này, nên họ cũng có quyền chủ quyền và quyền tài phán tại các vùng nước và đáy biển, lòng đất dưới đáy biển ở đây. Như đã nêu ở trên, không có cấu trúc nào ở Biển Đông có thể đáp ứng yêu cầu là “đảo” theo điều 121 UNCLOS cho nên không thể có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa được. Thêm nữa, nhiều cấu trúc trên Biển Đông chỉ là bãi ngầm luôn chìm dưới mặt nước biển cũng như các cấu trúc lúc chìm lúc nổi, theo nguyên tắc “đất thống trị biển” của luật biển quốc tế thì các cấu trúc dạng này không thể là đối tượng để yêu sách chủ quyền được, càng không thể nói chuyện có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa được. Với yêu sách như vậy, Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng tới luật biển quốc tế.

Thứ tư, Toà trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII UNCLOS trong vụ Philippines kiện Trung Quốc là một thiết chế hợp pháp của UNCLOS, do đó, Phán quyết năm 2016 của Toà này có giá trị chung thẩm và ràng buộc pháp lý với Trung Quốc và Philippines. Trong Phán quyết 2016 này, tất cả các vấn đề nêu trên về “quyền lịch sử”, đường cơ sở thẳng, các cấu trúc là “đảo” hay không đều được Toà Trọng tài giải thích rõ ràng. Là một thành viên của UNCLOS, Trung Quốc có nghĩa vụ phải tuân thủ Phán quyết 2016 này, Hoa Kỳ yêu cầu Trung Quốc tôn trọng và chấp hành Phán quyết 2016.

Hà Nội ngày 4/6Bản quyền hình ảnhAFP
Image captionHà Nội ngày 4/6

Trước đó, ngày 6/3/2020 Philippines đã gửi công hàm lên LHQ; Việt Nam gửi công hàm lên LHQ ngày 30/3/2020; Indonesia gửi công hàm lên LHQ ngày 26/5/2020.

Không hẹn mà gặp, trong lập trường của Philippines, Việt Nam, Indonesia, Hoa Kỳ cũng như Malaysia (cho dù Malaysia chưa đưa ra quan điểm chính thức, nhưng với việc Đệ trình thềm lục địa mở rộng ngày 12/12/2019 cũng cho thấy Malaysia thể hiện sự tôn trọng Phán quyết 2016) đều có chung quan điểm giống nhau trong việc phản đối các yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông như đã nêu trên.

Đặc biệt, nội dung phản đối trong công hàm của Hoa Kỳ ngày 1/6/2020 với công hàm của Việt Nam ngày 30/3/2020 có hầu hết các điểm chung, trên cả 4 vấn đề đã nêu.

Thông điệp từ Hoa Kỳ

Nhiều người đặt câu hỏi Hoa Kỳ chọn thời điểm này để lần đầu gửi công hàm lên LHQ phản đối các yêu sách của Trung Quốc với thông điệp gì?

Đặt trong bối cảnh sự cạnh tranh quyết liệt giữa Hoa Kỳ với Trung Quốc và quan hệ ngày càng xấu đi của cả hai bên cùng với việc Trung Quốc gia tăng các hành động hung hăng, ức hiếp các quốc gia khác trên Biển Đông .

Ta có thể thấy công hàm vào thời điểm này của Hoa Kỳ như một “liều thuốc” trợ giúp tinh thần cho các quốc gia ASEAN đang bị Trung Quốc bắt nạt, đe doạ trên Biển Đông . Ngoài ra, thông điệp của Hoa Kỳ lúc này được hiểu là Hoa Kỳ ủng hộ và sát cánh các quốc gia ASEAN chống lại các yêu sách biển phi lý cũng như các hành động khiêu khích từ Trung Quốc.

Công hàm này từ phía Mỹ có thể được hiểu như là sự khích lệ các bên, nếu các bên có các hành động hoặc yêu sách phù hợp với luật pháp quốc tế thì Hoa Kỳ sẵn sàng ủng hộ.

Một vấn đề quan trọng tiếp theo là bên cạnh các tuyên bố mang tính pháp lý của các quốc gia liên quan như đã nêu trên thì các quốc gia liên quan cần phải làm gì để luật pháp quốc tế trong đó có Phán quyết 2016 được tôn trọng và áp dụng trong thực tế?

Hà Nội ngày 4/6Bản quyền hình ảnhAFP
Image captionHà Nội ngày 4/6

Chính sách nào đối với Biển Đông?

Trong thực tế, mỗi một quốc gia ASEAN liên quan đến tranh chấp Biển Đông đều có một chính sách của riêng mình.

Tuy nhiên, ngay cả chính quyền Philippines đương nhiệm của Tổng thống Duterte – vốn nổi tiếng thất thường và “thân Trung Quốc” vẫn tiếp tục viện dẫn Phán quyết 2016. Cho dù ông Duterte nhiều lần tuyên bố “gác lại” Phán quyết 2016 để giành những lợi ích kinh tế từ Trung Quốc nhưng việc viện dẫn Phán quyết 2016 cho thấy Phán quyết 2016 là một phần quan trọng của luật biển quốc tế và UNCLOS.

Indonesia thì cương quyết bảo vệ lợi ích quốc gia của mình tới cùng nhưng cũng sẵn sàng “xuống thang” trong việc đối đầu với Trung Quốc trên biển.

Malaysia thì kiên trì “chính sách ngoại giao im lặng”. Mặc dù không lớn tiếng chỉ trích Trung Quốc nhưng Malaysia cũng kiên quyết bảo vệ các lợi ích biển của mình.

Vợ chồng Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình thăm Hà Nội tháng 11/2015Bản quyền hình ảnhEPA
Image captionVợ chồng Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình thăm Hà Nội tháng 11/2015

Việt Nam cũng là một quốc gia trực tiếp liên quan đến tranh chấp Biển Đông . Thời gian vừa qua, Việt Nam là một trong các quốc gia chịu nhiều quấy rối nhất từ Trung Quốc trên Biển Đông .

Chính sách của Việt Nam đối với vấn đề Biển Đông thời gian vừa qua thể hiện “dĩ bất biến ứng vạn biến”. “Bất biến” ở đây là tập trung giữ vững những gì đang có, tức là bảo vệ vững chắc 21 cấu trúc tại Trường Sa mà Việt Nam đang kiểm soát, đồng thời phải bảo vệ bằng được vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình, vì theo UNCLOS, Việt Nam đương nhiên được hưởng các quyền chủ quyền và quyền tài phán trên các vùng biển ấy. “Vạn biến” có nghĩa là Việt Nam có thể phải sử dụng nhiều biện pháp và nguồn lực khác nhau để bảo vệ lợi ích trên biển của quốc gia và dân tộc.

Liệu Việt Nam có quyết tâm?

Mặc dù Việt Nam vẫn giữ vững “tất cả những gì đang có”, nhưng cũng có những vấn đề nhất định trong chính sách về Biển Đông .

Nếu như trong năm 2014, Việt Nam đã rất thành công trong việc sử dụng biện pháp hoà bình, dùng sức ép ngoại giao và công luận quốc tế buộc Trung Quốc phải rút giàn khoan Hải Dương 981 ra khỏi vùng biển thuộc EEZ của Việt Nam.

Nhưng với những bước lùi khi phải rút khỏi việc thăm dò tại lô 136.03 với mỏ Cá Kiếm Nâu hồi năm 2017, rồi rút khỏi lô 07.03 tại mỏ Cá Rồng Đỏ năm 2018 đã khiến cho uy thế của Việt Nam giảm đi một cách đáng kể. Và Trung Quốc vốn rất giỏi trong việc tạo sức ép đối với các quốc gia khác, đã tận dụng cơ hội để “đe doạ”, gia tăng sức ép đối với Việt Nam trên nhiều lĩnh vực.

Thông tin mới nhất cho biết, hiện nay Chính phủ Việt Nam đang xem xét khả năng khai thác trở lại lô 06-01.

Quyết định có khai thác trở lại hay không sẽ được quyết định trong nay mai.

Đây là mỏ khí có trữ lượng khá lớn, khoảng 9,5 triệu m3 khí xuất về bờ nếu khai thác thành công. Mỏ này nằm tại bể Nam Côn Sơn, hoàn toàn nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, không phải là nằm trong vùng tranh chấp với bất kỳ quốc gia nào. Tuy nhiên, năm 2019, Trung Quốc đã cho đoàn tàu hải cảnh của họ cùng với tàu Hải Dương Địa Chất 8 quấy rối liên tục tại khu vực mỏ này hơn 100 ngày. Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc còn lớn tiếng tuyên bố đây là vùng thuộc Bãi Tư Chính, là vùng tranh chấp với “đường lưỡi bò” của Trung Quốc, trong khi mỏ này nằm trên Bể Nam Côn Sơn, cách Bãi Tư Chính khá xa.

Chính sức ép và đe doạ từ Trung Quốc đã ảnh hưởng đến việc quyết định có khai thác trở lại lô 06-01 hay không của Chính phủ Việt Nam. Cho dù về luật pháp quốc tế, Việt Nam hoàn toàn vững tâm có đầy đủ cơ sở pháp lý để khai thác mỏ này.

Trong một phát biểu mới đây của bà Bonnie Glaser – chuyên gia từ Hoa Kỳ, bà ta cho rằng cần một quyết định chính trị để Việt Nam có thể kiện Trung Quốc như Philippines đã làm.

Và có lẽ, việc quyết định khai thác trở lại hay không lô 06-01 cũng đang cần một quyết tâm chính trị của lãnh đạo Việt Nam.

Một mặt, điều này sẽ mở đường rất quan trọng cho việc khai thác dầu khí sau này của Việt Nam.

Khi các mỏ dần khí gần bờ đã khai thác cạn kiệt, còn các mỏ tuy giàu trữ lượng nhưng nằm xa bờ và luôn bị Trung Quốc đe doạ gây sức ép phải rút.

Mặt khác đây cũng là dịp Việt Nam có thể thể hiện với cộng đồng quốc tế và ASEAN về việc Việt Nam có giữ vững lập tường dựa trên UNCLOS để quyết tâm bảo vệ các lợi ích biển của mình hay không?

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, chuyên gia nghiên cứu Biển Đông, Đại học Luật TP.HCM.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Blog at WordPress.com.