Biển Đông

Pháp: Hội thảo về UNCLOS 1982 và Phán quyết PCA La Haye

Pháp: Hội thảo về UNCLOS 1982 và Phán quyết PCA La Haye

06 Tháng Ba 20207:44 SA(Xem: 78)

VĂN HÓA ONLINE – ĐÔNG HẢI LIỆT QUỐC – THỨ SÁU 06 MAR 2020

Ý kiến-Bài vở vui lòng gởi về:  vaamacali@gmail.com (VănHóa Online-California)

Pháp: Hội thảo về UNCLOS 1982 và Phán quyết PCA La Haye

VĂN HÓA ONLINE – HOÀNG SA TRƯỜNG SA – THỨ BA 03 MAR 2020

03 Tháng Ba 20208:07 SA(Xem: 33)

TGVN. Ngày 27/2/2020, Hội thảo quốc tế về Biển Đông đã diễn ra với sự bảo trợ của Chủ tịch Nhóm nghị sỹ hữu nghị Pháp – Việt tại trụ sở Quốc hội và Thượng viện Pháp. Lần đầu tiên, một Hội thảo quốc tế được tổ chức cùng ngày tại 2 trụ sở này

image041

Các đại biểu tham dự Hội thảo quốc tế về Quốc tế Đông Nam Á.

Hội thảo được tổ chức nhằm góp phần tăng cường hơn nữa quan hệ Đối tác chiến lược Việt – Pháp. Hội thảo thu hút sự tham gia của gần 200 đại biểu, là các nghị sĩ, nhà báo, các nhà nghiên cứu luật pháp quốc tế, lịch sử, văn hoá của các học viện và cơ quan nhà nước Pháp. Đại sứ Việt Nam tại Pháp Nguyễn Thiệp là khách mời danh dự và đồng khai mạc Hội thảo.

Sáng 27/2/2020, tại trụ sở Quốc hội, các đại biểu đã lắng nghe tham luận của nhà luật pháp quốc tế GS. Monique Chemilier Gendreau và ông Nguyễn Hồng Thao, Phó Chủ tịch Uỷ ban luật quốc tế của Liên hợp quốc.

Hai tham  luận viên trình bày về quy định của luật quốc tế, đặc biệt Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) để xác định chủ quyền quốc gia đối với vùng biển, đảo, phân định biên giới trên biển giữa các quốc gia cũng như ranh giới các vùng lãnh hải, đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, trong đó có phán quyết của Toà án Trọng tài Quốc tế La Haye 2016.

GS. Gendreau cho rằng, đây là những điều kiện tiên quyết không thể bỏ qua khi giải quyết tranh chấp ở Biển Đông.

image044

GS. J.M Crouzatier cho rằng, nguồn tài liệu lịch sử phong phú tại châu Âu có thể đóng góp hiệu quả vào việc giải quyết tranh chấp Biển Đông.

Còn GS. J.M Crouzatier đã đề cập nguồn tài liệu lịch sử phong phú tại châu Âu, có thể đóng góp hiệu quả vào việc giải quyết tranh chấp Biển Đông, bao gồm các văn thư ngoại giao, hành chính, thư từ, bản đồ, nhật ký các chuyến đi hàng hải và truyền giáo của các nước này tới châu Á, hiện vẫn còn lưu trữ tại Pháp, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Toà thánh Vatican.

Đáng chú ý, theo GS. Crouzatier, nhiều tư liệu quan trọng như các văn thư của nhà Nguyễn (Việt Nam) dù bị phá hủy trong chiến tranh vẫn có thể tìm thấy trong kho lưu trữ của chính quyền thuộc địa Pháp nhờ các bản sao lưu trữ ở Pháp.

Các đại biểu cũng quan tâm đến các phân tích toàn diện của nhà nghiên cứu Benoit Treglode, GS. Pierre Journoud về tác động trong lĩnh vực luật pháp, chính trị và địa chính trị đối với khu vực Đông Nam Á cũng như thế giới do nguyên trạng Biển Đông đã bị thay đổi đáng kể trong 3-4 năm gần đây, khiến cho nhiều nước khu vực và có lợi ích ở khu vực lo ngại về hoà bình ổn định ở Đông Nam Á, nhất là quyền tự do đi lại ở Biển Đông.

image046

Theo GS. Pierre Journoud, nguyên trạng Biển Đông đã bị thay đổi đáng kể trong 3-4 năm gần đây, khiến cho nhiều nước khu vực và có lợi ích ở khu vực lo ngại về hoà bình ổn định ở Đông Nam Á.

Các nghiên cứu, phân tích đều cho thấy, do vị trí đặc biệt quan trọng về nhiều mặt của Biển Đông khiến cho nó trở thành nơi biểu hiện rõ rệt của sự cạnh tranh ngày càng tăng giữa các cường quốc ở khu vực, thể hiện sự thay đổi phức tạp, khó lường của tình hình quốc tế. Điều này đòi hỏi sự tăng cường đối thoại, trao đổi, hợp tác, ủng hộ lẫn nhau giữa các nước khu vực với các nước có lợi ích gắn bó với khu vực như EU trong đó có Pháp.

Theo TS. Nguyễn Hùng Sơn, Viện trưởng Viện Biển Đông, Học viện Ngoại giao, tình hình Biển Đông không chỉ liên quan đến tranh chấp chủ quyền lãnh thổ mà còn có tác động, là phép thử đối với việc bảo vệ các nguyên tắc và quy định của luật pháp quốc tế, vốn đã được thiết lập vững chắc và làm cơ sở cho quan hệ giữa các quốc gia từ sau Thế chiến II.

Các đại biểu thabày tỏ đồng tình với lời kêu gọi Pháp cũng như các nước EU lên tiếng ủng hộ việc bảo vệ các nguyên tắc và luật lệ của luật pháp quốc tế, cơ sở cho việc giải quyết hoà bình và thông qua đối thoại tình hình tranh chấp ở Biển Đông.

image048

Hội thảo quốc tế về Biển Đông của sự tham gia của gần 200 đại biểu.

Chiều 27/2/2020, tại Thượng viện, Hội thảo tập trung vào các khía cạnh văn hoá, lịch sử và môi trường của cuộc tranh chấp ở Biển Đông.

Các tham luận của GS P.Journoud, nhà khoa học Marie Hermann, Francois Nicolas, M.A Tang dựa trên kết quả các nghiên cứu khoa học đã phân tích các tác động đối với môi trường biển, đời sống kinh tế quốc gia, kể cả của ngư dân… của các hoạt động khai thác tài nguyên biển, nhất là các công trình nhân tạo ở Biển Đông đối với môi trường sinh thái biển và đề xuất các hướng hợp tác mới giữa Pháp, các nước EU với Việt Nam trong lĩnh vực này.

Các đại biểu đã kiến nghị tập hợp và xuất bản các kỷ yếu tham luận thành sách để làm cơ sở cho các dự án sau này về Biển Đông tại Pháp cũng như tại Việt Nam.

Trước đó, tháng 4/2019, Ủy ban Đối ngoại Quốc hội đã tổ chức một phiên thảo luận về “Báo cáo thông tin về những vấn đề chiến lược tại Biển Đông” mà Quốc hội Pháp đã giao cho hai nghị sĩ xây dựng trong suốt nửa đầu 2019.

Tháng 7/2019, Bộ Quốc phòng Pháp đã ban hành “Chiến lược quốc phòng của Pháp tại Ấn Độ-Thái Bình Dương”; tháng 8/2019, Bộ Ngoại giao Pháp công bố tài liệu “Chiến lược của Pháp trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương vì một không gian bao trùm Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương”.

Trong các tài liệu trên, Pháp khẳng định sự gắn bó với khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương với tư cách là một nước có lãnh thổ và vùng đặc quyền kinh tế quan trọng ở khu vực, cam kết gắn bó với hoà bình ổn định, đảm bảo quyền tự do hàng hải, hàng không trong khu vực, ủng hộ việc tôn trọng luật pháp quốc tế, tăng cường chủ nghĩa đa phương và ngày càng tăng cường sự hiện diện ở đây.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Virus corona: TQ lại lấn át ở Biển Đông, VN còn trông đợi Mỹ được không?

Virus corona: TQ lại lấn át ở Biển Đông, VN còn trông đợi Mỹ được không?

south china seaBản quyền hình ảnhTED ALJIBE/GETTY IMAGES
Image captionẢnh minh họa

Trong lúc dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp, Trung Quốc triển khai nhiều hoạt động mới ở Biển Đông ngay sau khi tuyên bố giải quyết xong ổ dịch Vũ Hán.

Việt Nam có thể làm gì trong tình thế này khi cũng đang gồng mình chống dịch và liệu đồng minh Mỹ có đóng góp vai trò gì giúp Việt Nam khi cường quốc này vừa trở thành nước dẫn đầu thế giới về số ca lây nhiễm?

Khai thác khí tự nhiên trên Biển Đông

south china seaBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES

Mới đây nhất, ngày 26/3, Trung Quốc đã khai thác 861.400 mét khối khí tự nhiên từ khí metan, trong một tháng sản xuất thử nghiệm ở Biển Đông, truyền hình nước này đưa tin.

Thấy gì qua việc VN ‘lặng lẽ’ xây dựng ở Trường Sa?

USS Theodore Roosevelt thăm Đà Nẵng: Mỹ gửi tín hiệu gì cho VN và TQ?

VN bị ảnh hưởng gì khi Philippines muốn ‘gần Trung, xa Mỹ’?

Biển Đông: VN khó đạt đồng thuận tại thượng đỉnh ASEAN 2019

Bennet Murray: Việt Nam có ‘đồng minh’ mới trên Biển Đông?

Giới chức năng lượng Trung Quốc phát biểu rằng đây là bước quan trọng trong tiến trình công nghiệp hóa khí metan.

Metan đã được xác định là một nguồn khí đốt mới tiềm năng cho Trung Quốc và Biển Đông được cho là có chứa một số lượng khí metan dồi dào nhất trên thế giới.

Đem tàu và máy bay đến Biển Đông

south china seaBản quyền hình ảnhNICHOLAS YEO/GETTY IMAGES

Trung Quốc đã đưa máy bay quân sự tới Biển Đông để diễn tập trong tháng này ở Biển Đông, dường như để đáp trả các cuộc tuần tra qua khu vực này của các tàu chiến Mỹ, theo truyền thông Trung Quốc.

Mới hồi tháng Hai, tàu sân bay USS Theredore Roservelt cập cảng Đà Nẵng của Việt Nam, một động thái được cho là nhằm tăng cường quan hệ Mỹ-Việt, khẳng định sự hiện diện của Mỹ ở Biển Đông, nhưng đã khiến Trung Quốc tức giận.

Tiếp đến, đầu tháng Ba, tàu khu trục tên lửa dẫn đường USS McCampbell của Mỹ đã đi vào Biển Đông để thể hiện rằng đây là tuyến đường thủy quốc tế mở thay vì nằm dưới sự kiểm soát của Trung Quốc, theo Reuters.

Đáp lại, giữa tháng Ba, Trung Quốc tập trận chungvới Campuchia trên Biển Đông mặc dù có nguy cơ khiến Việt Nam và các nước Đông Nam Á khác phẫn nộ.

Khánh thành hai trạm nghiên cứu ở Biển Đông

south china seaBản quyền hình ảnhSOUTH CHINA MORNING POST/GETTY IMAGES

Trung Quốc cũng mới đưa vào hoạt động hai trạm nghiên cứu trên Đá Subi và Đá Chữ Thập ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Hai cơ sở này sẽ theo dõi, đo đạc các thay đổi về sinh thái địa chất, môi trường tại các vùng biển này.

Hai cơ sở này được cho là cùng tổ hợp với một trung tâm nghiên cứu của Trung Quốc xây dựng trước đó ở Đá Vành Khăn ở Trường Sa.

Mỹ lo Covid-19 nên‘không giúp được gì’?

Hàng không mẫu hạm Mỹ Theodore RooseveltBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionHàng không mẫu hạm Mỹ Theodore Roosevelt

Nhưng chính phủ Hoa Kỳ, trong khi đang phải chống chọi với sự lây lan chóng mặt của COVID-19, không giúp đỡ gì các nước châu Á khác chống lại Trung Quốc về lâu dài như đã từng trong quá khứ, theo các nhà phân tích trên VOA.

Theo Giáo sư Carl Thayer thì Mỹ không cho thấy vai trò lãnh đạo, và đó là một khoảng trống để Trung Quốc nhảy vào.

Mới hồi tháng Hai, một sự kiện được Việt Nam chào đón long trọng là việc tàu sân bay Theodore Roosevelt cập cảng Đà Nẵng. Theo các nhà phân tích, việc này cho thấy Việt Nam ủng hộ sự hiện diện của hải quân Mỹ. Và rằng ,Việt Nam hy vọng rằng việc tăng cường quan hệ quốc phòng với Mỹ sẽ ngăn chặn Trung Quốc tiếp tục bắt nạt.

Thế nhưng giới phân tích cho rằng mối liên minh này không thể kéo dài lâu.

Việt Nam và Mỹ ‘không tin nhau’?

aseanBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES

Để chống lại sự đe dọa của Trung Quốc, chiến lược của Mỹ là củng cố các cam kết về quan hệ đối tác và đồng minh đã có, đồng thời mở rộng và làm sâu sắc thêm quan hệ với các đối tác mới cùng chia sẻ quan điểm về tôn trọng chủ quyền, công bằng thương mại và luật quốc tế, theo phân tích của tác giả Mark J. Valencia trên SCMP.

Chiến lược này nhằm thực hiện tầm nhìn vĩ đại của Mỹ về một Ấn Độ-Thái Bình Dương tự do và cởi mở, bao gồm tự do hàng hải, tôn trọng luật pháp, tôn trọng chủ quyền, doanh nghiệp tư nhân và thị trường mở…

Do tranh chấp trên Biển Đông với Trung Quốc, từ lâu các nhà quan sát đã cho rằng Việt Nam là một nước chống Trung phò Mỹ mạnh mẽ nhất trong toàn khối ASEAN.

Thế nhưng, thực tế là Việt Nam không chia sẻ nguyên lý cốt lõi của một Ấn Độ-Thái Bình Dương tự do và cởi mở – tự do hàng hải cho các tàu chiến.

Việt Nam từ lâu đã có những chính sách hạn chế cho tàu chiến đi vào lãnh hải của mình – tương tự như Trung Quốc. Đặc biệt, Việt Nam có cả đường lãnh hải cơ sở và các nước phải được phép của Việt Nam mới được vượt qua các đường cơ sở này, theo ông Mark J. Valencia – nhà phân tích chính sách hàng hải, nhà bình luận chính trị và nhà tư vấn chính sách châu Á nổi tiếng.

Do đó, việc Hoa Kỳ đưa các tàu chiến đi vào trong vùng lãnh hải xung quanh Hoàng Sa không chỉ nhắm vào Trung Quốc mà còn vào Việt Nam.

Hơn nữa, Hoa Kỳ không công nhận các yêu sách của Việt Nam đối với các thực thể nằm dưới mực thủy triều ở Trường Sa, đồng thời phản đối việc quân sự hóa của Việt Nam, cũng giống như với Trung Quốc.

Sự va chạm trong các diễn giải và các chính sách pháp lý liên quan đến tự do hàng hải là biểu tượng cho sự lệch tông mang tính chiến lược cơ bản giữa Mỹ và Việt Nam.

Ngoài ra, dù chống Trung, Việt-Trung lại có mối quan hệ khăng khít giữa hai đảng, và về kinh tế.

Việt Nam cũng luôn kiên định chính sách ‘ba không’ – không tham gia vào các liên minh quân sự, không có căn cứ quân sự nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam và không phụ thuộc vào một quốc gia để chống lại một quốc gia khác.

Không có điểm chung về văn hóa, ý thức hệ, hệ thống chính trị hay thế giới quan – ngoại trừ mối đe dọa của Trung Quốc. Đó là bản chất của mối quan hệ chiến lược Việt -Mỹ, vẫn theo tác giả Mark J. Valencia.

Trên thực tế, Việt Nam và Mỹ không tin nhau – vì những lý do chính đáng và từ cả hai phía – và điều đó khiến cho việc xây dựng một mối quan hệ chiến lược vững chắc và lâu dài giữa hai bên là không thể, Tiến sỹ Mark J. Valencia bình luận.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Giới nghiên cứu Việt Nam: TQ dùng “trung tâm nghiên cứu khoa học” để âm mưu độc chiếm Biển Đông

Giới nghiên cứu Việt Nam: TQ dùng “trung tâm nghiên cứu khoa học” để âm mưu độc chiếm Biển Đông

Sau khi Trung Quốc đưa vào vận hành trái phép hai trung tâm nghiên cứu khoa học trên đá Chữ Thập và đá Subi, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, giới nghiên cứu trong nước cho rằng Bắc Kinh vẫn đang âm mưu kiểm soát, độc chiếm Biển Đông.

Vừa qua, Trung Quốc đã đưa hai trạm nghiên cứu trên Đá Subi và Đá Chữ Thập ở quần đảo Trường Sa (Việt Nam) vào hoạt động. Động thái này diễn ra trong bối cảnh cả thế giới đang vật lộn với cuộc chiến chống dịch Covid-19. Tân Hoa Xã cho hay, việc xây dựng các trạm nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Tổng hợp Đảo và Đá thuộc Viện hàn lâm Khoa học Trung Quốc (CAS) nằm trong kế hoạch tăng cường năng lực khai phá và cung cấp các sản phẩm về khoa học và công nghệ biển/hàng hải đáp ứng nhu cầu của cả Trung Quốc và các nước ven Biển Đông.

Bản tin dẫn lời một nhà nghiên cứu Trung Quốc cho biết “cơ sở nghiên cứu tổng hợp về rạn san hô và biển sâu” được thiết lập với hai trạm nghiên cứu mới cùng một trung tâm nghiên cứu, được xây dựng trước đó trên Đá Vành Khăn ở Trường Sa. Truyền thông Trung Quốc ngang ngược tuyên truyền rằng việc xây dựng các trạm nghiên cứu của CAS nằm trong kế hoạch “thúc đẩy năng lực khai phá và cung cấp các sản phẩm về khoa học và công nghệ biển để đáp ứng nhu cầu của cả Trung Quốc và các nước ven Biển Đông”. Bên cạnh đó, các cơ sở nghiên cứu này cũng sẽ giúp “cải thiện năng lực quan sát thực địa và thí nghiệm về sinh thái học, địa chất học, môi trường, vật liệu và tối ưu hóa năng lượng từ biển trong môi trường biển nhiệt đới”.

Theo Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Quang Ngọc (Viện trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội) nhận định , trong khi cả thế giới đang dồn sức vào cuộc chiến chống đại dịch Covid-19, Trung Quốc lại âm thầm tiến hành các hoạt động “nghiên cứu” khoa học ở Biển Đông cho thấy đây là hành động nằm trong âm mưu độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc; đồng thời khẳng định “đó là hành động có chủ đích, thể hiện bản chất thâm hiểm, cơ hội chủ nghĩa của chính quyền Bắc Kinh. Trung Quốc rất giỏi sử dụng những tình huống như này, vốn đã được kiểm chứng trong chiều dài lịch sử”. Ông bày tỏ quan điểm đồng tình với chuyên gia an ninh hàng hải Tiến sĩ Collin Koh (chuyên gia quốc phòng tại Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam thuộc Đại học Công nghệ Nanyang, Singapore) rằng, bất chấp đại dịch Covid-19 đang diễn ra, Bắc Kinh vẫn dành sự quan tâm tới các điểm nóng trên Biển Đông. Và Quân đội Giải phóng nhân dân Trung Quốc sẵn sàng tác chiến bất chấp dịch bệnh do coronavirus. Cùng với đó là vấn đề, Bắc Kinh sử dụng bình phong “khoa học dân sự” để tuyên bố yêu sách trên Biển Đông. Đó là một trong những phương thức mà Trung Quốc thường làm, mà thế giới có thể bỏ qua. Bên cạnh đó, Trung Quốc sẽ tiếp tục các hoạt động trên Biển Đông bất chấp dịch bệnh Covid-19 đang diễn ra nghiêm trọng như hiện nay.

Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Quang Ngọc nhấn mạnh “Trung Quốc vẫn luôn nói một đằng, làm một nẻo trên Biển Đông. Cho nên kinh nghiệm của chúng ta từ xưa đến nay là đừng nghe những lời hoa mỹ của họ, vì sự thật khác xa như vậy. Đối với hành động đặt 2 trạm nghiên cứu trên đảo Subi và Đá Chữ Thập, chúng ta cần nói thẳng vào vấn đề: Đó là hành động xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ quốc gia của Việt Nam”. Vì vậy, hành động đặt trạm nghiên cứu này cũng nằm trong chiến lược “gặm nhấm” Biển Đông của Trung Quốc. Trong tương lai, Bắc Kinh sẽ còn tiếp tục sử dụng chiến thuật này hoặc thay đổi sang một hình thức “chiếm đoạt” khác. Chúng ta phải hết sức cảnh giác, không được lơ là trước âm mưu, thủ đoạn của Trung Quốc.

Được biết, đá Chữ Thập, Xu Bi và Vành Khăn nằm trong số 7 thực thể trong quần đảo Trường Sa, thuộc chủ quyền Việt Nam, bị Trung Quốc bồi đắp thành đảo nhân đạo phi pháp. Trung Quốc đã biến những đảo nhân tạo này thành các tiền đồn có cảng, đường băng và cơ sở liên lạc nhằm mở rộng khả năng kiểm soát hoạt động của các bên tranh chấp khác ở Biển Đông. Tại đá Chữ Thập, từ năm 2010, Trung Quốc bắt đầu cải tạo, bồi đắp mở rộng quy mô lớn đá này, trong đó đã xây dựng một toà nhà bê tông dài hơn 60m. Trên ngôi nhà có nhiều ăng-ten, gồm cả một ăngten radar thu phát sóng cao tần Yagi của hải quân cùng hai vòm che radar và phủ sóng mạng điện thoại trên đá này. Từ năm 2014, Trung Quốc bắt đầu cải tạo mở rộng đá Chữ Thập thành đảo nhân tạo lớn nhất quần đảo Trường Sa với diện tích khoảng 2,74 km2 (7/2015). Trung Quốc xây dựng trên đá Chữ Thập 9 cầu tàu, 2 bãi đáp trực thăng, 10 ăng ten liên lạc qua vệ tinh và một trạm radar. Đặc biệt là việc xây dựng một đường băng dài 3.125m và rộng 60m, đây là đường băng duy nhất đủ lớn cho máy bay ném bom chiến lược tại Trường Sa, cho phép quân đội Trung Quốc bao quát không phận rộng lớn từ Tây Thái Bình Dương gồm cả Guam (nơi có các căn cứ Mỹ) đến Ấn Độ Dương. Tại đá Vành Khăn, Trung Quốc bắt xây một đường băng trên đá này và đến tháng 7/2016 thì một đường băng dài 2.644m, rộng 55m này đã hoàn thành. Ngoài ra, Trung Quốc cũng đã xây dựng ngọn hải đăng, kho bãi, các mái che radar, tháp truyền tín hiệu viễn thông, cảng vận chuyển quy mô lớn… trên đá Vành Khăn. Đến tháng 5/2018, Trung Quốc đã đưa tên lửa hành trình chống hạm YJ-12B và tên lửa đất đối không HQ-9B đã được Trung Quốc lắp đặt trên đá Vành Khăn. Tháng 1/2018 Trung Quốc điều hai máy bay vận tải quân sự Xian Y-7 đến đá Vành Khăn. Tại đá Subi, Trung Quốc đã tiến hành cải tạo, xây dựng kênh tiếp cận, cầu cảng, các thiết bị thông tin liên lạc, radar, đê chắn sóng gia cố, bãi đáp trực thăng, cơ sở quận sự và có thể xây một đường băng dài 3.000m. Những hình ảnh mới đây chụp từ vệ tinh DigitalGlobe cho thấy có gần 400 tòa nhà mới được xây cất trên đá Subi. Tính đến nay, Subi là đảo nhân tạo lớn nhất trong số 7 đảo Trung Quốc xây dựng trái phép tại Trường Sa. Cơ sở hạ tầng tương tự cũng được triển khai tại đá Vành Khăn và Chữ Thập, bao gồm vị trí đặt tên lửa, đường băng dài 3 km, nhà kho lớn và một loạt thiết bị có thể theo dõi vệ tinh, hoạt động quân sự nước ngoài và thông tin liên lạc.

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Tỉnh cơn mộng dịch, TQ lại hiếu chiến ở Biển Đông

Tỉnh cơn mộng dịch, TQ lại hiếu chiến ở Biển Đông

Trung Quốc có tham vọng chiếm đoạt biển Đông từ rất lâu. Từ những năm 1950, thấy được những lợi ích từ biển và đại dương, Trung Quốc đã tích cực tham gia vào các Hội nghị của Liên Hợp Quốc về Luật biển. Trung Quốc cũng ủng hộ chiều rộng của lãnh hải là 12 hải lý, cho dù năm ấy các quốc gia vẫn còn những quan điểm khác nhau về vấn này. Những năm 1980, tướng Lưu Hoa Thanh – Đô đốc Hải quân Trung Quốc lúc đó, đã vạch ra chiến lược tiến ra biển cho Hải quân Trung Quốc.

Với tham vọng đó, Chính quyền Trung Quốc phải tìm được lý do để thuyết phục người dân Trung Quốc. Chính vì vậy, Chính quyền Trung Quốc đã dựa vào một bản đồ không rõ ràng về mục đích và nguồn gốc để thực hiện tham vọng. Đó chính là bản đồ “đường lưỡi bò” đầy tai tiếng. Tuy nhiên, bản đồ này chỉ thực sự chính thức xuất hiện trước cộng đồng quốc tế trong hai công hàm ngày 7/5/2009 của Trung Quốc gửi lên Liên Hợp Quốc. Mặc dù không có cơ sở pháp lý nào, nhưng Trung Quốc vẫn chủ trương dùng sức mạnh của mình để nó thực hiện nó trong thực tế. Các học giả Trung Quốc gửi đi khắp nơi các giải thích khác nhau về “đường lưỡi bò” đó. Một trong các luận điểm quan trọng mà phía Trung Quốc hay sử dụng, cho là “đường lưỡi bò” thể hiện “quyền lịch sử” của Trung Quốc trên biển Đông.

Năm 2013, “tuyệt vọng” trước sự hung hăng của Trung Quốc, đặc biệt sau sự kiện Philippines mất kiểm soát tại Bãi cạn Scarborough vào tay Trung Quốc, Chính quyền Tổng thống Aquino III đã khởi kiện Trung Quốc tại một Toà trọng tài thành lập theo Phụ lục VII của UNCLOS.Năm 2016, sau ba năm thụ lý, Toà trọng tài đã ra phán quyết, theo đó, cái gọi là “yêu sách về quyền lịch sử” đối với các vùng biển bên trong “đường lưỡi bò” là vô giá trị do không có cơ sở pháp lý. Tuy nhiên, Chính quyền Trung Quốc đã “không tham gia”; “không thừa nhận” và “không áp dụng” đối với Phán quyết này.

Tổng thống Philippines đương nhiệm Duterte rất thân thiết với Trung Quốc, không muốn nhắc tới Phán quyết này. Tuy nhiên, mới đây, Bộ Ngoại giao Philippines khi gửi công hàm ngoại giao lên Liên Hợp Quốc phản đối Báo cáo về ranh giới thềm lục địa của Malaysia vẫn tiếp tục viện dẫn Phán quyết. Điều đó cho thấy, Phán quyết sẽ luôn là “nỗi đau nhức nhối” của Trung Quốc.

Do đó, để xoá nhoà Phán quyết này, Chính quyền Trung Quốc đã và đang sử dụng chiến dịch truyền thông để chống lại Phán quyết, đồng thời tô vẽ cho hình ảnh của Trung Quốc. Người Trung Quốc tỏ ra rất giỏi về truyền thông đánh vào tâm lý như vậy. Với các chiến dịch truyền thông liên tục, “mưa dầm thấm lâu”, Trung Quốc tin rằng họ có thể “đổi trắng thay đen” được.

Đã có rất nhiều ví dụ về việc Trung Quốc tuyên truyền như vậy. Ngay gần đây, việc Trung Quốc đổ vấy virus Vũ Hán sang cho Hoa Kỳ là một ví dụ tiêu biểu.

Ngoài ra, Trung Quốc còn muốn đổ vấy nguyên nhân dẫn đến tình hình căng thẳng trên biển Đông cho các quốc gia khác. Cụ thể là Trung Quốc luôn khẳng định rằng tình hình trên biển Đông là ổn định. Việc Hoa Kỳ xuất hiện tại khu vực biển Đông mới là nguyên nhân dẫn đến căng thẳng. Trong khi tất cả mọi người đều biết, “biển Đông dậy sóng” chính là do các hành động hung hăng của Trung Quốc trên biển Đông.

Để tiếp tục “hiện thực hoá” “đường lưỡi bò” tai tiếng và vô lý này. Trung Quốc đã dùng sức mạnh của mình đe doạ và uy hiếp các hoạt động của các quốc gia khác ngay tại vùng biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của họ.

Năm 2019 vừa qua, Trung Quốc đã cho tàu hải cảnh cùng các tàu dân quân biển quấy phá trên vùng biển của Philippines, Malaysia, Việt Nam và Indonesia. Các quốc gia đã lên tiếng phản đối hành động này của Trung Quốc rất quyết liệt. Tuy nhiên, Trung Quốc đang sử dụng chiến thuật “đổ vấy” cho các quốc gia khác, hòng “biến không thành có”, thông qua các chiến dịch truyền thông của mình.

Ngày 3/2/2020, một Think Tank của Trung Quốc là SCSPI đã đăng một báo cáo khẳng định rằng nhiều tàu cá Việt Nam đã xâm phạm trái phép vùng biển xung quanh đảo Hải Nam của Trung Quốc nhằm mục đích do thám. Nhiều báo chí quốc tế đã dẫn lại thông tin từ báo cáo này.

Đến ngày 5/3/2020, Think Tank này tiếp tục ra báo cáo thứ hai. Trong báo cáo này, họ đưa ra dữ liệu để khẳng định rằng, có 311 tàu cá Việt Nam vi phạm vùng biển của Trung Quốc, bao gồm cả khu vực đảo Hải Nam.

Think Tank này trong phần giới thiệu cho biết họ thuộc Trường đại học Bắc Kinh. Trường đại học Bắc Kinh là một trong những trường đại học công lập lớn nhất của Trung Quốc. Và vì thế, không khó mà đoán biết được sức mạnh thực sự của Think Tank này cùng với những liên hệ với Chính quyền Trung Quốc.

Có một nhóm nghiên cứu tự phát ở Việt Nam có tên tiếng Việt là Dự án Đại sự ký biển Đông (SCSCI) tranh luận về các cáo buộc cũng như kiểm tra các dữ liệu mà SCSPI của Trung Quốc đưa ra. Vì là nhóm tự phát, với nguồn lực vô cùng hạn chế, cho nên Dự án Đại sự ký biển Đông chưa thể kiểm tra hết các dữ liệu mà phía SCSPI cung cấp.

Phía Dự án Đại sự ký biển Đông sau khi kiểm tra khoảng 5% số dữ liệu mà phía SCSPI cung cấp thì chưa phát hiện được nguồn dữ liệu này có vấn đề gì.

Qua trao đổi với một số nguồn có liên hệ trực tiếp với ngư dân Việt Nam thì được biết thực tế, có một số tàu cá của ngư dân Việt Nam có vào vùng biển của Trung Quốc. Có hai lý do mà ngư dân cho biết khi họ mang tàu cá đi vào trong vùng biển của Trung Quốc. Đó là:

  1. Thông thường, các khu vực biển này, nếu thuộc vùng biển của Trung Quốc thì lực lượng chấp pháp Trung Quốc ngăn cản các tàu cá từ nước khác xâm nhập rất quyết liệt. Thậm chí ngay tại các khu vực mà phía Việt Nam cho là thuộc vùng biển của Việt Nam thì nhiều tàu cá Việt Nam thời gian trước đây cũng bị nhiều tàu chấp pháp Trung Quốc bắt giữ hoặc đâm chìm. Tuy nhiên, hiện nay, các tàu cá Việt Nam có thể đi vào vùng biển của Trung Quốc một cách khoải mái, không bị ngăn cản gì.
  2. Khi đi vào các vùng biển của Trung Quốc để bán cá, ngư dân Việt Nam sẽ thu được lợi nhuận cao hơn bởi vì mặt bằng giá cả các loại hải sản của Trung Quốc cao hơn ở Việt Nam.

Như vậy, với bối cảnh nhiều báo cáo từ EU cho thấy tình trạng đánh bắt cá trái phép của ngư dân Việt Nam (IUU) không giảm. Cộng với việc bỗng dưng các lực lượng Trung Quốc rất “bao dung” với các tàu cá Việt Nam được “thoải mái” vào sâu trong vùng biển của Trung Quốc. Rất có thể đây là một chiến thuật “cao tay” từ Trung Quốc. Một mặt,họ ngầm “tạo điều kiện” cho các tàu cá Việt Nam vào sâu trong vùng biển Trung Quốc. Mặt khác, cơ quan chức năng Trung Quốc thu thập dữ liệu các tàu cá này làm bằng chứng cáo buộc trước quốc tế là các tàu cá Việt Nam xâm nhập trái phép vùng biển của Trung Quốc không ngoại trừ mục đích do thám.

Đứng trước tình hình này, thiết nghĩ, Chính quyền Việt Nam cần thực hiện hai việc sau:

  1. Cần phải thông báo cho các ngư dân Việt Nam biết được các tác hại đối với hình ảnh Việt Nam của việc xâm nhập vào các vùng biển của Trung Quốc. Khi Chính quyền Trung Quốc đột ngột thay đổi thái độ thì sự an toàn của các ngư dân sẽ bị đối mặt với nguy hiểm khó có thể biết trước.
  2. Các cơ quan chức năng Việt Nam, hàng năm thường thông tin là có hàng ngàn tàu cá “lạ” xâm nhập trái phép vùng biển Việt Nam, trong đó có các tàu cá Trung Quốc. Tuy nhiên, thông tin chỉ chung chung như vậy. Các cơ quan chức năng Việt Nam cần cung cấp rõ thông tin cụ thể từng tàu cá vi phạm này, để phía Việt Nam có thể sử dụng thông tin để cung cấp cho quốc tế nếu thấy cần thiết.
Categories: Biển Đông | Leave a comment

Hải quân TQ tập trận chống tàu ngầm ở Biển Đông

Hải quân TQ tập trận chống tàu ngầm ở Biển Đông

Trung Quốc thông báo hải quân nước này tập trận chống tàu ngầm ở Biển Đông vào đầu tháng 3. Các học giả cho biết Bắc Kinh đang quyết tâm cải thiện khả năng chống tàu ngầm.

Máy bay quân sự Trung Quốc gần đây tiến hành tập trận chống tàu ngầm trên Biển Đông, Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc (PLA) cho biết hôm 20/3.

Cuộc tập trận có sự tham gia của hai máy bay được tiến hành vào đầu tháng, không lâu trước khi các đơn vị hải quân Mỹ tham gia khóa huấn luyện tấn công viễn chinh ở Biển Đông, Hải quân PLA cho biết trong một báo cáo.

Trong khi thừa nhận những khó khăn liên quan đến hoạt động tập trận, báo cáo cho biết máy bay đã xác định thành công một số vật thể đáng ngờ.

“Các bài tập chống tàu ngầm giống mò kim đáy bể. Rất khó khăn, điều kiện thủy văn dưới nước rất phức tạp”, ông Yu Yang, cơ trưởng của một trong những chiếc máy bay, nói trong báo cáo.

PLA công bố báo cáo này ra sau khi Mỹ tổ chức một cuộc tập trận kéo dài bốn ngày ở Biển Đông vào tuần trước có sự tham gia của nhóm tác chiến tàu sân bay Theodore Roosevelt, lực lượng viễn chinh và đơn vị Viễn chinh Thủy quân lục chiến số 31.

Vào cuối tháng trước, Hải quân Mỹ đã cáo buộc PLA có hành vi không an toàn và thiếu chuyên nghiệp sau khi một tàu khu trục Trung Quốc chĩa tia laser vào máy bay tuần tra hàng hải của Mỹ đang bay qua vùng biển quốc tế phía tây đảo Guam.

Ông Collin Koh, nhà nghiên cứu tại Trường Nghiên cứu Quốc tế S Rajaratnam tại Đại học Công nghệ Nanyang ở Singapore, cho biết quân đội Trung Quốc rất muốn phát huy khả năng chống tàu ngầm của mình.

“Điều này có nghĩa là chúng ta có thể thấy nhiều cuộc tập trận như vậy trong tương lai. Virus corona sẽ không thể ngăn cản điều này”, ông nói.

“Cũng có thể xem đây là phản ứng không chỉ đối với các hoạt động của nhóm tác chiến tàu sân bay mà còn là sự hiện diện quân sự ngày càng tăng của Mỹ ở Biển Đông”, ông nói thêm.

“Tôi cũng sẽ không ngạc nhiên nếu một tàu ngầm tấn công hạt nhân ở gần khu vực của nhóm tác chiến tàu sân bay”, ông cho biết.

Các tin khác

Categories: Biển Đông | Leave a comment

TQ “phá luật” ở Biển Đông, Liên minh châu Âu không thể “làm ngơ”

Posted on by huyentamhh

TQ “phá luật” ở Biển Đông, Liên minh châu Âu không thể “làm ngơ”

Kể từ khi Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982) ra đời đến nay, cộng đồng quốc tế và nhân loại không thể phủ nhận tầm quan trọng và vị trí pháp lý của nó trong đời sống luật pháp quốc tế, được coi là bản Hiến chương của biển và đại dương?

Tính đến nay tháng 03/2020, đã có168 quốc gia và Cộng đồng châu Âu (EC) tham gia UNCLOS 1982. Đáng chú ý, Công ước quy định, khi trở thành thành viên tham gia UNCLOS 1982, các quốc gia dù lớn hay nhỏ đều phải có trách nhiệm tuân thủ đầy đủ các quy định trong Công ước, không có ngoại lệ và không có bảo lưu. Như vậy có nghĩa, không thể có quốc gia nào khi tham gia sân chơi luật pháp chung này lại chỉ viện dẫn và áp dụng những quy định trong Công ước có lợi cho quốc gia mình, hoặc không tuân thủ, thậm chí phủ nhận những quy định không có lợi cho nước mình. Thế mà, giờ đây có một quốc gia lại đang “đầu têu” làm việc đó.

Cần phải chỉ đích danh quốc gia đó là Trung Quốc. Đây là nước đã ký tham gia UNCLOS 1982 từ năm 1996, nhẽ ra thì cũng giống như các nước tham gia khác, họ phải có trách nhiệm và nghĩa vụ thực thi Công ước. Thế nhưng, Trung Quốc đã và đang “phá luật” để tìm cách “độc chiếm Biển Đông” theo yêu sách “đường chín khúc” phi lý.

Sự “phá luật” rõ nhất của Trung Quốc gần đây là sự kiện nước này chống lại phán quyết của Tòa trọng tài thường trực quốc tế về Luật Biển (PCA) trong vụ Philipines kiện Trung Quốc ở Biển Đông năm 2016. Theo đó, do biết chắc chắn rằng phần thắng sẽ không thuộc về mình, nên trước khi Philippines đưa vụ kiện trên ra tòa trọng tài quốc tế, Trung Quốc đã tuyên bố không chấp nhận bất kỳ một phán quyết nào từ các tòa trọng tài. Khi PCA ra phán quyết cuối cùng bác bỏ yêu sách “đường chín khúc” và các đòi hỏi phi lý khác của Trung Quốc ở Biển Đông, Bắc Kinh đã thể hiện sự coi thường luật pháp quốc tế khi một lãnh đạo cấp cao của Trung Quốc trong buổi gặp mặt Chủ tịch Hội đồng châu Âu và Chủ tịch Ủy ban châu Âu ngày 12/07/2016 đã nói rằng: “Từ cổ chí kim, các đảo ở Biển Đông đều là lãnh thổ của Trung Quốc. Trong bất cứ tình hình nào, chủ quyền lãnh thổ và các quyền lợi hàng hải của Trung Quốc trên Biển Đông đều không chịu ảnh hưởng từ phán quyết của PCA. Trung Quốc không chấp nhận bất cứ chủ trương và hành động nào xuất phát từ phán quyết của PCA”. Thậm chí, Bộ Ngoại giao Trung Quốc lúc đó còn cho rằng, vụ kiện này là “một trò hề đội lốt pháp luật”; Trung Quốc không chấp nhận, không tham gia PCA là nhằm “bảo vệ nền pháp quyền quốc tế và quy tắc khu vực theo pháp luật”…

Ai cũng biết, PCA là tòa trọng tài quốc tế, được lập ra theo những quy định của UNCLOS 1982 để xử lý những tranh chấp xung quanh tiến trình thực thi Công ước. Do đó, PCA được cả cộng đồng quốc tế công nhận, trong đó có cả Trung Quốc khi tham gia Công ước. Nhưng nay họ lại tuyên bố rằng không chấp nhận, không tham gia PCA và không chấp hành phán quyết của PCA thì hóa ra chẳng phải là hành động “phá luật” đó sao? Hiện nay trên thế giới, không chỉ ở Biển Đông mà nhiều khu vực khác cũng đang có tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ. Và để giải quyết các tranh chấp đó, xu hướng chung là các nước đều dựa vào luật pháp quốc tế, đàm phán, thương lượng hòa bình. Thử hỏi, quốc gia nào cũng hành xử ngang ngược như Trung Quốc thì thiên hạ rồi đây có rơi vào “đại loạn” hay không?

Bước tiếp theo sau những tuyên bố trắng trợn nêu trên, Trung Quốc đã tiến hành “phá luật” ở Biển Đông bằng những hành động “kẻ cướp” trên thực địa. Bất chấp sự phản đối của các nước có lợi ích liên quan và cộng đồng quốc tế, Bắc Kinh vẫn ngang nhiên triển khai hoạt động cải tạo các đảo, đá họ “cưỡng chiếm” được trên Biển Đông, quân sự hóa chúng và mở rộng tầm kiểm soát ra khắp Biển Đông. Cho đến hiện nay, họ đã hoàn thiện ba đường băng sân bay dài 3.000m, thiết lập hệ thống tên lửa tầm ngắn và tầm trung, mạng lưới radar, anten… tại một số đá ở quần đảo Trường Sa; lắp đặt trang thiết bị mở rộng phạm vi giám sát trên không, trên biển và tác chiến điện tử ở quần đảo Hoàng Sa, đồng thời có kế hoạch xây dựng đảo Phú Lâm, đảo Cây và đảo Duy Mộng thành “căn cứ hậu cần chiến lược”. Tại đảo Hải Nam, Trung Quốc đã nâng cấp 4 căn cứ không quân và xây dựng căn cứ tên lửa chiến lược liên lục địa. Nếu triển khai các loại máy bay chiến đấu hiện đại với phạm vi hoạt động từ 1.000 – 1.500km tại các căn cứ trên, thì Trung Quốc đủ khả năng kiểm soát trên không toàn bộ Biển Đông và một phần lãnh thổ các nước ven Biển Đông. Họ còn đẩy mạnh triển khai hệ thống cảnh báo, giám sát dưới mặt biển bằng cách bí mật triển khai Khu nhận dạng hàng hải (MNIZ) và Khu nhận dạng âm thanh dưới mặt biển (UAIZ) ở Biển Đông.

Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng tăng cường hiện diện lực lượng hải quân, chấp pháp, kiểm ngư để tuần tra, xua đuổi, bắt giữ trái phép phương tiện, tàu thuyền các nước ở Biển Đông; tích cực sử dụng hàng nghìn tàu cá vỏ sắt có công suất lớn, tàu cá dân binh như một mạng lưới trinh sát trên Biển Đông; quấy rối hoạt động khai thác dầu mỏ của Malaysia, gây sức ép với Philipppines tại đảo Thị Tứ, đưa tàu khảo sát địa chất xâm phạm quyền chủ quyền của Việt Nam… Trung Quốc cũng thường xuyên tổ chức nhiều cuộc tập trận với tần suất và quy mô ngày càng mở rộng, trong đó có cuộc duyệt binh hải quân trên biển (tháng 4/2018) gần đảo Hải Nam với quy mô lớn nhất từ trước tới nay nhằm phô trương sức mạnh, xa hơn là răn đe các nước.

Những hành động “phá luật” như trên của Trung Quốc rõ ràng đã làm cho tình hình an ninh Biển Đông trở nên phức tạp, lấy đâu ra “bình yên” như họ thông báo, lấy đâu ra “sự bình thường của các tàu bè lưu thông trên biển” như họ trấn an. Ngược lại, các nước, các bên có liên quan tới vùng biển này đã phải tăng cường năng lực quốc phòng, gia tăng các hoạt động bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và các lợi ích hợp pháp của họ, khiến cho tình hình phức tạp hơn. Mỹ và nhiều nước lớn ngoài khu vực đã gia tăng hiện diện quân sự ở Biển Đông để duy trì và bảo vệ lợi ích.

Như vậy, lần lượt nhiều quốc gia có liên quan đã và đang, theo cách của mình, phản ứng lại hành động “phá luật” của Trung Quốc. Còn một tổ chức, một tổ chức có tới 27 quốc gia thành viên, có đầy sức mạnh kinh tế, chính trị, quân sự và đầy quyền lực là Cộng đồng châu Âu (EC), năm 1993 đổi tên thành Liên minh châu Âu (EU), cũng đồng thời là một bên tham gia ký kết UNCLOS 1982, chẳng lẽ lại “làm ngơ”.

Thực tế không như vậy. Sau sự kiện Trung Quốc ngang nhiên đưa tàu khảo sát địa chất Hải Dương 8 xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam ở bãi Tư Chính từ đầu tháng 7 đến tháng 10/2019, giới nghiên cứu chính trị quốc tế tại Viện Chatham House (London/Anh) đã lên tiếng. Theo giới này, các tuyên bố và hành động “sặc mùi” hiếu chiến và bất chấp luật pháp quốc tế của Trung Quốc thời gian qua với mục đích đòi quyền khai thác chung, đòi phân chia tài nguyên biển với các nước láng giềng Đông Nam Á trong chính Vùng đặc quyền kinh tế của họ là phi đạo đức, phi nhân tính. Họ chỉ ra: “Các hành vi của Trung Quốc đã làm ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các công ty đang hợp tác khai thác dầu khí như Shell của Anh và Hà Lan, Repsol của Tây Ban Nha, đây là những quốc gia thuộc EU. Không những thế, điều này còn đe dọa đến an ninh – kinh tế năng lượng của Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Brunei và Philippines”.

Tiếp theo, nhiều chuyên gia, học giả nghiên cứu của EU cũng đồng thanh hưởng ứng khi vạch rõ: Tuyên bố mà Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị phát biểu tại Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN – Trung Quốc ở Thái Lan ngày 31/07/2019 rằng “các vụ va chạm xảy ra giữa Trung Quốc và các nước ở Biển Đông vừa qua là tại vùng biển tranh chấp giữa Trung Quốc và các nước” chẳng qua là một cách đánh tráo khái niệm mà thôi. Họ cũng lên án hành động nguy hại trên của Trung Quốc thông qua lập luận sau:

Trung Quốc và các nước láng giềng ở phía Nam đang trong một tranh chấp khu vực, nhưng ý nghĩa mang tầm quốc tế. Luật pháp quốc tế – nền tảng cho việc gìn giữ trật tự ổn định của thế giới đang bị đe dọa nghiêm trọng. Đó là việc các quốc gia có thể sẽ không còn tôn trọng các hiệp ước mà chính họ đã đặt bút ký vào. Trung Quốc là quốc gia đã phê chuẩn UNCLOS 1982 vào năm 1996 và chịu sự ràng buộc bởi các quy định của Công ước này. UNCLOS 1982 đã cụ thể hóa vấn đề chủ quyền biển bằng cách trao những đặc quyền quản lý cho các quốc gia ven biển trong phạm vi 200 hải lý kể từ đường bờ biển của họ, gọi là Vùng đặc quyền kinh tế – EEZ. Bờ biển của Trung Quốc nằm cách khu vực tranh chấp hơn 1.000km nhưng Bắc Kinh lại tuyên bố đó là vùng biển của mình. Họ đưa ra lý lẽ rằng khu vực này gần với quần đảo Trường Sa (vốn là của Việt Nam, nhưng Trung Quốc nhận của họ). Với lý lẽ này, Trung Quốc hoàn toàn sai, không chỉ sai với UNCLOS 1982, mà còn sai với phán quyết của PCA bởi trong phán quyết đó, PCA tuyên bố rằng, không có thực thể nào ở quần đảo Trường Sa có thể xem là đảo hoàn chỉnh. Chúng quá nhỏ và không thể duy trì sự sống của con người trong một khoảng thời gian, vì vậy những thực thể này không thể tạo thành EEZ… Các luật lệ và thỏa thuận quốc tế là thành tố quan trọng đối với việc duy trì hòa bình trên toàn thế giới. Nếu tại một nơi nào đó, những trật tự này bị phá bỏ, điều đó đồng nghĩa với việc luật pháp quốc tế sẽ bị suy yếu đi trên toàn cầu. Nếu Trung Quốc tiếp tục xem thường UNCLOS 1982, các nước khác cũng có thể sẽ quyết định phá vỡ tính tự kiềm chế mà luật lệ quốc tế đã tạo nên. Kết quả là luật pháp quốc tế sẽ dần bị suy yếu và bất lực trước những vũ lực và sự đe dọa bằng sức mạnh.

Bên cạnh đó, Người phát ngôn của Ủy ban châu Âu phụ trách vấn đề ngoại giao và chính sách an ninh Maja Kocijancic cho rằng các hành động đơn phương của Trung Quốc ở Biển Đông dẫn đến căng thẳng gia tăng và làm xói mòn môi trường an ninh hàng hải, là mối đe dọa nghiêm trọng với sự phát triển kinh tế hòa bình của khu vực. Điều quan trọng đối với tất cả các bên trong khu vực là tự kiềm chế, thực hiện các bước cụ thể để trở lại nguyên trạng, kiềm chế quân sự hóa khu vực và giải quyết tranh chấp thông qua các biện pháp hòa bình theo luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS). Các bên nếu thấy hữu ích cũng có thể tìm kiếm sự hỗ trợ của bên thứ ba bằng hình thức hòa giải hoặc phân xử để tạo thuận lợi cho việc giải quyết các khiếu nại.

Trước nguy cơ luật pháp quốc tế bị xói mòn, thậm chí có thể sụp đổ từ cách hành xử của Trung Quốc ở Biển Đông, nhiều chuyên gia của EU đã khuyến nghị Liên minh cần có những hành động rõ ràng và quyết liệt. Theo đó họ đề xuất: Về quan điểm, EU cần thể hiện sự ủng hộ chủ quyền của các quốc gia ven biển trong phạm vi EEZ đã được quy định trong UNCLOS 1982, cụ thể là các quốc gia được làm chủ nguồn tài nguyên trong EEZ của họ; cần phân biệt rõ sự khác nhau về bản chất giữa hành động vi phạm chủ quyền và hành động bảo vệ chủ quyền để từ đó có sự điều chỉnh chính sách đối với khu vực này cho phù hợp. Về hành động, với hệ thống vệ tinh và viễn thám hiện đại, EU có thể thu thập thông tin cụ thể về những hành vi vi phạm chủ quyền ở Biển Đông. Đồng thời cung cấp các thông tin tình báo hỗ trợ cho lực lượng cảnh sát biển và ngư dân của các quốc gia ven biển vì sự an toàn và tăng cường ý thức về lãnh hải trong các hoạt động của họ. Ở mức độ cao hơn, EU có thể nghĩ đến việc triển khai các phương tiện để bảo vệ các quốc gia có EEZ bị xâm phạm. Khi một quốc gia ven biển thực thi hành động hợp pháp trong EEZ hợp pháp của họ, EU có thể cử tàu hải quân quan sát và công bố các vi phạm và thậm chí có thể có hành động can thiệp hợp lý nếu xảy ra xung đột. EU cũng có thể sử dụng uy tín của mình như một định chế xây dựng luật pháp để khuyến khích các hành vi tốt, chỉ đích danh và có biện pháp trừng phạt những hành vi xấu trong các diễn biển xảy ra trên Biển Đông.

Các chuyên gia của EU rõ ràng đã nhìn thấy trước những hệ lụy tiêu cực rất lớn cho luật pháp quốc tế nếu như Trung Quốc tạo ra được tiền lệ “phá luật” ở Biển Đông. Vì thế, họ không chỉ “nói suông” mà đang hối thúc EU phải hành động. Tuy các biện pháp họ khuyến nghị EU chưa phải là “tuyệt chiêu” và đầy đủ, nhưng cũng đủ để gióng lên hồi chuông cảnh báo rằng, giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia bằng các biện pháp hòa bình là xu hướng đúng đắn, hợp lòng người và được tuyệt đại đa số các nước trên thế giới, trong đó có EU ủng hộ. Nếu Trung Quốc bất chấp tất cả, tiếp tục có những hành động vi phạm luật pháp quốc tế ở Biển Đông, chắc chắn họ sẽ vấp phải những biện pháp ngăn chặn kịp thời, mạnh mẽ và có hiệu quả hơn trong thời gian tới.

Tin mới

Các tin khác

Categories: Biển Đông | Leave a comment

“Chính sách Hành động hướng Đông” và “Tầm nhìn Ấn Độ Dương-TBD” của Ấn Độ

Posted on by huyentamhh

ASEAN bao gồm Biển Đông nằm ở trung tâm “Chính sách Hành động hướng Đông” và “Tầm nhìn Ấn Độ Dương-TBD” của Ấn Độ

Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN-Ấn Độ lần thứ 16 (11/2019), Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đã nhấn mạnh ASEAN, bao gồm Biển Đông nằm ở trung tâm “Chính sách Hành động hướng Đông” và “Tầm nhìn Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương” của Ấn Độ. Điều này cho thấy sự quan tâm của nền kinh tế lớn thứ 5 thế giới đối với khu vực Đông Nam Á hiện nay.

Chính sách “Hành động hướng Đông”, được nâng cấp từ “Chính sách Hướng Đông”, trên cơ sở tiếp cận khu vực Đông Nam Á, là một trong những điều chỉnh quan trọng trong chính sách ngoại giao của Ấn Độ. Chính sách này đã tác động mạnh mẽ đến mối quan hệ Việt Nam – Ấn Độ.

Ấn Độ từ “Chính sách Hướng đông đến “Hành động phía Đông” và “Tầm nhìn Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương”

Sau khi giành độc lập năm 1947, Ấn Độ là nước đầu tiên trên thế giới đưa ra chính sách đối ngoại trung lập, chính sách không liên kết, đây là con đường tốt nhất để thực hiện các mục tiêu dân tộc của Ấn Độ. Với chính sách không liên kết và xu hướng phát triển hướng nội, Ấn Độ chủ trương phát triển nền kinh tế độc lập, tự lực cánh sinh với chính sách đóng cửa và thay thế nhập khẩu. Tuy nhiên, chính sách này đến những năm 1970 bắt đầu bộc lộ những nhược điểm, nền kinh tế phát triển chậm, kém năng động và tụt hậu so với nhiều nước vốn thua kém về tiềm năng và khoa học công nghệ.

Sau Chiến tranh Lạnh, cùng với bối cảnh mới của khu vực và quốc tế, cuộc khủng hoảng toàn diện ở Ấn Độ đã buộc các nhà lãnh đạo phải thay đổi toàn bộ tư duy và chính sách, trong đó có chính sách đối ngoại. Chính sách ngoại giao của Ấn Độ chuyển đổi theo hướng: từ sự ủng hộ của Ấn Độ với phong trào không liên kết và thế giới thứ ba được thay thế bằng chủ trương linh hoạt, thực tế hơn, tập trung cho chính sách kinh tế tự do mới cả trong nước và ngoài nước, các lĩnh vực thương mại và đầu tư ra nước ngoài là mối quan tâm của Chính phủ Ấn Độ. Sự thay đổi đó thể hiện ở Chính sách Hướng đông, một chính sách ngoại giao chiến lược quan trọng sau khi Ấn Độ bắt đầu thực hiện cải cách kinh tế, tự do hóa thương mại vào đầu thập niên 90 của thế kỷ XX. “Chính sách Hướng đông là sự thay đổi căn bản trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ từ chủ nghĩa lý tưởng sang chủ nghĩa thực dụng”. Mục tiêu của Chính sách Hướng Đông được đặt ra trong chiến lược phát triển của Ấn Độ, ban đầu là tăng cường quan hệ với các nước Đông Nam Á. Sau đó, chính sách này dần được mở rộng ra khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Ngay từ năm 1935, giới Lãnh đạo Ấn Độ cho rằng Thái Bình Dương có khả năng thay thế Đại Tây Dương với tư cách là trung tâm đầu não của thế giới trong tương lai. Và Ấn Độ, tuy không phải là một quốc gia ở Thái Bình Dương, nhưng Ấn Độ sẽ phải có sự ảnh hưởng quan trọng ở đó. Với chủ trương lấy “chủ nghĩa khu vực” vươn lên bá chủ châu Á và cường quốc của thế giới, Chính sách Hướng đông đã thể hiện rõ cuộc chạy đua giữa Ấn Độ và Trung Quốc ở châu Á.

Như vậy, về cơ bản, mục tiêu chung nhất của Chính sách Hướng đông là đưa Ấn Độ trở thành một cường quốc kinh tế và quân sự, không chỉ ở khu vực châu Á, mà còn trên phạm vi toàn thế giới. Về mục tiêu cụ thể, Chính sách Hướng đông của Ấn Độ được triển khai nhằm thực hiện hai nhóm mục tiêu chủ yếu, bao gồm:

(1) Nhóm mục tiêu chính trị chiến lược: Thông qua việc triển khai Chính sách Hướng đông, Ấn Độ mong muốn hướng tới xây dựng và mở rộng ảnh hưởng ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, cạnh tranh ảnh hưởng với Trung Quốc ở khu vực để phần nào kiềm chế ảnh hưởng của Trung Quốc tại Đông Á và Nam Á, nhất là Ấn Độ Dương – khu vực ảnh hưởng truyền thống của Ấn Độ.

(2) Nhóm các mục tiêu kinh tế – xã hội: Ấn Độ triển khai Chính sách Hướng Đông nhằm phát triển các quan hệ kinh tế chặt chẽ với các quốc gia Đông Á, đặc biệt là thương mại, thông qua đó duy trì mức tăng trưởng cao và ổn định của nền kinh tế Ấn Độ. Thông qua phát triển quan hệ thương mại với các quốc gia ở Đông Á, Ấn Độ hướng đến việc hội nhập kinh tế với khu vực châu Á – Thái Bình Dương, trong đó Ấn Độ hướng tới mục tiêu xây dựng cộng đồng kinh tế châu Á.

Có thể nói, sau quá trình triển khai Chính sách Hướng Đông, quan hệ Ấn Độ – ASEAN đã có những bước chuyển biến tích cực. Bằng chứng rõ ràng cho sự phát triển này là sau 20 năm quan hệ đối thoại, ASEAN và Ấn Độ đã quyết định đưa quan hệ lên tầm đối tác chiến lược từ năm 2012. Quan hệ đối tác chiến lược đã thể hiện một nội hàm mới, rộng và sâu sắc hơn, trong đó nổi bật là hai bên sẽ quyết tâm xây dựng khu vực mậu dịch tự do toàn diện và Ấn Độ sẽ thể hiện vai trò của mình một cách mạnh mẽ hơn như là một nhân tố cho đảm bảo hòa bình và ổn định ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Tuy nhiên, dù quan hệ giữa Ấn Độ và ASEAN đã có bước phát triển nhất định, nhưng trong thực chất, Chính sách Hướng đông vẫn chưa giúp Ấn Độ đạt được những mong muốn đặt ra và dường như Ấn Độ vẫn chỉ là “người quan sát” trong các vấn đề của khu vực Đông Nam Á.

Xuất phát từ thực tế trên, cùng với những diễn biến phức tạp trong khu vực, nhất là việc Mỹ thực hiện chính sách “xoay trục” sang châu Á, kéo theo những sự điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của các cường quốc trên thế giới đối với châu Á – Thái Bình Dương, Ấn Độ đã thực hiện một bước chuyển hết sức quan trọng trong chính sách đối ngoại khu vực. Ngày 30/9/2014, ông Narendra Modi, Thủ tướng đương nhiệm của Ấn Độ, đã có một tuyên bố quan trọng trong cuộc gặp cấp cao với Tổng thống Mỹ Barack Obama, quyết định đẩy nhanh Chính sách Hướng Đông lên tầm cao mới. Trên cơ sở những tuyên bố đó, ngày 5/10/2014, Chính phủ Liên minh Dân chủ quốc gia (NDA) do Thủ tướng Narendra Modi đứng đầu, đã quyết định chuyển từ Chính sách Hướng Đông sang Hành động Phía Đông.

Việc chuyển hướng trong chính sách đối ngoại khu vực châu Á của Ấn Độ cho thấy sự chủ động hơn của quốc gia này trong việc tăng cường quan hệ giữa hai cực tăng trưởng trong một châu Á đang nổi lên. Trong chuyến thăm Singapore cuối năm 2014, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Ấn Độ Sushma Swaraj cũng đã khẳng định: “Hướng đông không còn phù hợp, giờ đây chúng tôi cần Hành động phía Đông”.

Các quan chức Ấn Độ khẳng định, sự thay đổi trên không mang động cơ chính trị mà chỉ đơn thuần là làm sâu sắc, thúc đẩy liên kết ngày càng chặt chẽ hơn trong quan hệ hợp tác với các nước ASEAN. Ấn Độ cho rằng, dùng từ “hành động” chỉ nhằm thể hiện sự quan tâm hơn của Chính quyền Thủ tướng Modi trong việc xúc tiến các chương trình kinh tế với các nước Đông Nam Á để thu hút đầu tư, đặc biệt là trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng, cũng như thúc đẩy kết nối các điểm thương mại trong khu vực. Điều này sẽ mang lại lợi ích kinh tế lớn hơn cho khu vực Đông Bắc Ấn Độ. Chính sách này về cơ bản là sự tiếp nối Chính sách Hướng Đông nhưng trong thế chủ động hơn.

Hàng loạt các chuyến công du dồn dập của Thủ tướng Ấn Độ Modi và các quan chức cấp cao tới các nước châu Á – Thái Bình Dương vào cuối năm 2014 và đầu năm 2015, cũng như các chuyến thăm ngược lại đã cho thấy sự khởi đầu cho một giai đoạn mới trong triển khai chính sách đối ngoại của Ấn Độ. Đúng như tên gọi Hành động Hướng Đông, với sự trỗi dậy hoà bình được các nước trong khu vực ủng hộ, Ấn Độ sẽ gia tăng hợp tác một cách thực chất hơn, hành động nhiều hơn trong hợp tác phát triển với các nước láng giềng Đông Nam Á và các quốc gia trong Vành đai châu Á – Thái Bình Dương, nhằm bảo đảm các lợi ích chiến lược của mình cũng như duy trì sự hoà bình, ổn định trong khu vực và thế giới.

Mặc dù Ấn Độ cho rằng, Hành động Hướng đông cũng giống như Chính sách Hướng đông, tuy nhiên, nhìn vào thực tế thì rõ ràng đây là một bước tiến của Ấn Độ trong việc kết nối với các quốc gia ASEAN. Ấn Độ không chỉ thụ động đơn thuần ngồi nhìn về phía Đông mà có những hành động thiết thực để bảo vệ các lợi ích của mình, đồng thời thể hiện một vai trò lớn hơn, xứng đáng hơn với vị thế cường quốc ở khu vực và thế giới, từ đó thực hiện tham vọng phát triển, củng cố các mối quan hệ với các nước lớn ở khu vực Đông Á và điều này giúp Ấn Độ có thể thiết lập và khẳng định vai trò nước lớn ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Dĩ nhiên, Đông Nam Á, với cơ chế hợp tác năng động, sẽ được Ấn Độ coi là hạt nhân của các mối quan hệ này.

Ngày 01/6/2018, Thủ tướng Modi lần đầu tiên tham gia Đối thoại Shangri-La và có bài phát biểu quan trọng về chính sách đối ngoại của Ấn Độ, trong đó chính thức đưa ra Tầm nhìn của Ấn Độ về khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Ấn Độ coi đây là một khu vực địa lý tự nhiên, đồng thời nhấn mạnh chủ trương xây dựng khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do, rộng mở và bao trùm, bảo đảm tự do hàng hải, hàng không, thương mại không bị cản trở, giải quyết các tranh chấp không dựa trên sức mạnh mà đối thoại dựa trên luật pháp quốc tế, tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không phân biệt đối xử.

Tầm nhìn Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương là sự phát triển và tích hợp từ các chủ trương Láng giềng trên hết, sáng kiến SAGAR và chính sách Hành động hướng Đông vào một Tầm nhìn chung bao quát cả khu vực rộng lớn từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương. Ấn Độ coi đây không phải là một tập hợp nhằm giành sự thống trị và chống nước nào, mà là chủ trương hợp tác giữa các nước trong khu vực nhằm đối phó với những thách thức chung về an ninh, tự do hàng hải, hàng không, thương mại và kết nối trong khu vực, đặc biệt từ sự mất cân bằng quyền lực trong khu vực, đe dọa khu vực ảnh hưởng của Ấn Độ cũng như hòa bình, ổn định và tự do hàng hải hàng không ở Biển Đông và Ấn Độ Dương.

Biển Đông luôn là vấn đề quan trọng trong chính sách, chiến lược phát triển của Ấn Độ

Biển Đông nằm ở giữa tuyến đường hàng hải trải dài từ Đông Ấn Độ Dương đến Tây Thái Bình Dương, có vai trò đặc biệt quan trọng đối với các quốc gia trong và ngoài khu vực trong phát triển kinh tế và quốc phòng – an ninh. Tầm quan trọng của Biển Đông được thể hiện ở các góc độ kinh tế, chính trị và quân sự. Về góc độ kinh tế, Biển Đông là một trong số 10 tuyến đường hàng hải lớn nhất thế giới. Giao thông ở khu vực Biển Đông nhộn nhịp đứng thứ 2 thế giới chỉ sau Địa Trung Hải. Hàng ngày, có khoảng 200 – 300 tàu từ 5.000 tấn trở lên qua lại, chưa kể đến các tàu dưới 5.000 tấn, chiếm 1/4 lưu lượng tàu hoạt động trên biển của thế giới. Khu vực Biển Đông án ngữ các tuyến đường hàng hải và hàng không huyết mạch của các nền kinh tế quan trọng ở khu vực và thế giới, chuyên chở 1/2 sản lượng dầu thô và các sản phẩm thương mại khác của toàn cầu. Ngoài ra Biển Đông cũng sở hữu nhiều nguồn tài nguyên quý hiếm, đặc biệt là nguồn tài nguyên dầu hỏa và khí đốt. Đây cũng là một trong những nhân tố dẫn đến tình trạng tranh chấp chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán ở một số vùng biển đảo, đồng thời một số nước lớn muốn gây phạm vi ảnh hưởng ở khu vực Biển Đông.

Về chính trị, quốc phòng và an ninh, Biển Đông là điểm nóng quan trọng của khu vực, nơi tập trung nhiều lớp mâu thuẫn cả về chính trị lẫn kinh tế, quốc phòng – an ninh. Thực tế cho thấy, Biển Đông đã diễn ra các tranh chấp về chủ quyền biển đảo quyết liệt, phức tạp nhất của thế giới và khu vực, những tranh chấp đó khó giải quyết do còn tồn tại những bất đồng, mâu thuẫn giữa các quốc gia hữu quan về chủ quyền và cách thức giải quyết tranh chấp. Bên cạnh đó, vị trí của Biển Đông có liên quan đến nền kinh tế, quốc phòng của nhiều quốc gia, kể cả nước có chủ quyền và không có chủ quyền, cũng như các nước trong và ngoài khu vực.

Lợi ích địa chính trị và địa kinh tế của Biển Đông đối với Ấn Độ thể hiện rõ qua sự can dự của Ấn Độ ở Biển Đông trên hai khía cạnh sau:

Thứ nhất, giống như các bên khác trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, lợi ích chiến lược căn bản của Ấn Độ ở Biển Đông là địa chính trị, trong đó có liên quan đến an ninh hàng hải. Theo quan điểm này, việc Trung Quốc đơn phương tuyên bố chủ quyền đối với các đảo và vùng lãnh thổ ở Biển Đông đã đe dọa trực tiếp đối với tự do hàng hải và hoạt động khai thác tài nguyên của các quốc gia có chủ quyền khác trong khu vực. Ngoài ra, các hành động của Trung Quốc trực tiếp thách thức nguyên trạng, ảnh hưởng tới hòa bình và ổn định của khu vực. Do lợi ích địa chính trị của Ấn Độ liên quan tới vùng biển trải dài giữa Ấn Độ Dương và Tây Thái Bình Dương, nên việc đi lại an toàn qua các vùng biển ở Biển Đông nằm giữa hai khu vực này trở thành lợi ích chiến lược quan trọng đối với Ấn Độ. Bởi vậy, sự can dự lớn hơn của Ấn Độ ở Biển Đông là cách thức ngăn chặn sự hiện diện ngày càng tăng của Trung Quốc ở Ấn Độ Dương.

Thứ hai, Biển Đông chiếm vị trí trung tâm trong lợi ích địa kinh tế của Ấn Độ, dựa trên các lợi ích chiến lược hai mặt của Ấn Độ: i) Thương mại của Ấn Độ với các nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và các nước Đông Á. ii) Nguồn cung năng lượng cho Ấn Độ như dầu mỏ và khí đốt tự nhiên từ các mỏ nằm ở Biển Đông. Cả hai yếu tố này đóng vai trò chiến lược trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ. Có tới gần 92-95% hàng hóa thương mại của Ấn Độ đi qua Ấn Độ Dương, khoảng 55% đi qua eo biển Malacca. Hơn nữa, nhằm đáp ứng nhu cầu năng lượng tăng cao, Ấn Độ đã đa dạng hóa chuỗi cung ứng năng lượng của nước này. 70% lượng dầu mỏ nhập khẩu của Ấn Độ được vận chuyển bằng đường biển. Vì vậy, Biển Đông đã trở thành một phần không thể tách rời của vành đai an ninh của Ấn Độ, đóng vai trò quyết định đối với ngoại thương, năng lượng và lợi ích quốc gia.

Nhín chung, trong định hướng chung gia tăng sự can dự với các nước ở Đông Á và Đông Nam Á, các mục tiêu chiến lược của Ấn Độ là đóng vai trò cường quốc bên ngoài khu vực Đông Nam Á dựa trên mục tiêu kép: i) tham vọng của Ấn Độ trở thành cường quốc nổi bật ở Đông Bắc Ấn Độ Dương, tập trung vào Vịnh Bengal và Biển Andaman, tại đây Ấn Độ đóng vai trò nhân tố phòng vệ chủ chốt nhằm chống các mối đe dọa tiềm tàng ở quần đảo Đông Nam Á. ii) mục tiêu lớn hơn là nhằm đảm nhận vai trò chiến lược lớn hơn trong khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương. Lợi ích này chủ yếu xuất phát từ nhu cầu cấp thiết nhằm cân bằng ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc tại Đông Nam Á, cũng như mong muốn của Ấn Độ về mở rộng không gian chiến lược của nước này.

Tin mới

Các tin khác

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Thủy quân lục chiến Mỹ dự định mua tên lửa tấn công hải quân nhằm đối phó với các mối đe dọa an ninh ở Biển Đông

Posted on by huyentamhh

Thủy quân lục chiến Mỹ dự định mua tên lửa tấn công hải quân nhằm đối phó với các mối đe dọa an ninh ở Biển Đông

Trung tướng Eric Smith, Tư lệnh Tác chiến của Thủy quân Lục chiến Mỹ cho biết quân đội Mỹ đang có kế hoạch mua tên lửa đất đối hải trang bị cho tàu chiến nhằm đối phó với các mối đe dọa, thách thức an ninh ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Phát biểu trước Ủy ban Quân vụ Hạ viện, Trung tướng Eric Smith, Tư lệnh Tac chiến của Thủy quân Lục chiến (05/3), cho biết Thủy quân lục chiến Mỹ muốn một hệ thống vũ khí có năng lực chủ động tìm kiếm và đuổi theo một con tàu đang di chuyển , thứ mà hiện nay họ chưa có. Trung tướng Eric Smith cho biết, “chúng ta phải có một hệ thống có thể đuổi theo tàu, đó là thứ quan trọng trong một môi trường tranh chấp ở Biển Đông hoặc trong khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương”. Thủy quân lục chiến hiện đang xem xét loại tên lửa chống hạm thế hệ thứ 5 Naval Strike Missile (NSM), có tầm bắn khoảng 1400km và đây có thể là dòng tên lửa bờ đối hải (GBASM) được lựa chọn. Tướng Smith cho biết thủy quân lục chiến Mỹ sẽ thử nghiệm hệ thống này vào tháng 6/2020.

NSM có khả năng bay sát mặt biển, khả năng cơ động cao và có thể tấn công mục tiêu từ phía bên, thay vì từ trên xuống. Tên lửa này cũng đã được triển khai trên các tàu tac chiến ven bờ của Hải quân Mỹ, một trong số đó được triển khai tới Thái Bình Dương cùng với tên lửa vào năm ngoái. NSM sẽ được bắn từ một bệ phóng trên xe chiến thuật hạng nhẹ không người lái. Giới chuyên gia quân sự cho biết, NSM là loại tên lửa hành trình chống hạm có khả năng tàng hình và rất khó phát hiện trên radar. Ngoài ra, nó có thể cơ động để tránh hệ thống phòng thủ của đối phương. Một điểm đáng chú ý là NSM có tầm bắn hơn 185 km, xa hơn 30% so với tên lửa diệt hạm Harpoon hải quân Mỹ sử dụng lâu nay. Tên lửa NSM còn được kết nối với trực thăng không người lái MQ-8B Fire Scout để trinh sát và truy lùng nhiều mục tiêu khác nhau.

Trước đó, có nhiều thông tin cho biết Mỹ triển khai chiến hạm USS Gabrielle Giffords (LCS 10) mang theo tên lửa chống hạm tàng hình mới là thông điệp mạnh mẽ đến Trung Quốc và các nước đối tác ở châu Á – Thái Bình Dương. LCS 10 là tàu chiến đấu ven bờ rất nhanh và mạnh của Hải quân Mỹ; được đóng theo lớp Independence và là chiếc thứ năm trong tổng số 9 chiếc đang phục vụ trong hải quân nước này. USS Gabrielle Giffords có trị giá khoảng 500 triệu USD cho mỗi tàu, được thiết kế cực kỳ đặc biệt với ba thân và có độ giãn nước rất thấp chỉ khoảng 3100 tấn; tàu dài127,4 m (418 ft), tốc độ 47 hải lý/h, phạm vi hoạt động 8.000 km; sức chứa      210 tấn, phi hành đoàn 40 nhân viên… Do là một tàu chiến đấu ven bờ, hoả lực được trang bị cho các tàu Independence là không quá mạnh. Cụ thể, tàu được trang bị pháo chính loại 57mm cùng với một tổ hợp tên lửa phòng thủ tầm gần SeaRAM. Ngoài ra, trên tàu còn có 4 khẩu súng máy 12,7mm cùng với 2 khẩu pháo 30mm và 24 ống phóng tên lửa AGM-114L Hellfire – hoả lực mạnh nhất trên tàu. Đáng chú ý, USS Gabrielle Giffords vừa được triển khai đến Biển Đông là chiếc đầu tiên được trang bị tên lửa tên lửa chống hạm thế hệ thứ 5 Naval Strike Missile (NSM). Thông thường, LCS 10 mang theo tên lửa chống hạm siêu thanh NSM, có tầm bắn hơn 180 km, phát hiện mục tiêu bằng công nghệ thụ động thông qua hình ảnh lưu trong bộ nhớ của tên lửa. NSM được dẫn đường đến mục tiêu kết hợp quán tính, GPS, tham chiếu địa hình và hồng ngoại chủ động và dữ liệu hình ảnh mục tiêu giai đoạn cuối. Công nghệ dẫn đường của NSM chính xác đến mức người điều khiển có thể chỉ định tên lửa bắn vào một điểm cụ thể trên tàu như phòng máy hoặc tháp chỉ huy. Ngoài sát thủ diệt hạm NSM, LCS 10 còn mang theo trực thăng trinh sát không người lái MQ-8C Fire Scout. MQ-8C mang theo gói cảm biến trinh sát tối tân giúp nâng cao khả năng nhận thức tình huống và hỗ trợ dẫn đường cho vũ khí.

Giới chuyên gia, phân tích quân sự nhận định việc Mỹ triển khai vũ khí mới gửi đi một thông điệp quan trọng và cuối cùng có thể “thay đổi cuộc chơi” ở Tây Thái Bình Dương. Theo đó, các vũ khí mới sẽ không chỉ gửi tín hiệu đến Trung Quốc mà cả những đối tác của Mỹ ở khu vực về năng lực răn đe cũng như sự cam kết của Washington đối với khu vực. Mỹ luôn khẳng định họ là một đối tác đáng tin cậy hơn Trung Quốc, đặc biệt trên Biển Đông, nơi Washington đang duy trì hoạt động tự do hàng hải như một phần của nỗ lực mà họ gọi là cam kết cho khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương mở và tự do. Ngoài ra, đây là bước đầu tiên tiến tới việc khắc phục tình trạng mất cân bằng quân sự ở khu vực.

Carl Schuster, nhà phân tích quốc phòng cho biết việc triển khai vũ khí mới gửi thông điệp quan trọng và cuối cùng có thể “thay đổi cuộc chơi” ở vùng biển Tây Thái Bình Dương, nơi Trung Quốc đang có lợi thế 3 trên 1 về vệ tinh và tên lửa so với Mỹ. Đây là bước đầu tiên để khắc phục sự mất cân bằng trong những năm tới. Bên cạnh đó, các vũ khí có thể gửi thông điệp không chỉ cho Trung Quốc, mà còn các đối tác của Mỹ ở khu vực châu Á, bao gồm các quốc gia Đông Nam Á. Hiệu ứng tổng thể sẽ củng cố uy tín và sức mạnh răn đe của Mỹ trong khu vực. Nó làm cho quan hệ đối tác với Mỹ ít rủi ro hơn, vì việc triển khai thể hiện cam kết của Washington đối với khu vực.

Được biết, Mỹ nhiều lần nhấn mạnh họ là đối tác đáng tin cậy hơn so với Bắc Kinh, đặc biệt là ở Biển Đông, nơi Hải quân Mỹ thường xuyên thực hiện hoạt động tuần tra đảm bảo tự do hàng hải, một phần trong cam kết Ấn Độ – Thái Bình Dương, tự do, cởi mở. Trong khi đó, Trung Quốc, quốc gia tuyên bố chủ quyền phi lý chiếm trọn gần như toàn bộ Biển Đông, nói rằng sự hiện diện của Mỹ trong khu vực đe dọa hòa bình và ổn định. Việc Mỹ bổ sung bất kỳ hỏa lực mới nào chắc chắn sẽ gặp phải phản ứng tiêu cực từ Trung Quốc.

Tin mới

Các tin khác

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Những tính toán của Bắc Kinh trong vấn đề Biển Đông, Sông Mekong và kinh tế khu vực để cạnh tranh siêu cường với Mỹ

Posted on by huyentamhh

Những tính toán của Bắc Kinh trong vấn đề Biển Đông, Sông Mekong và kinh tế khu vực để cạnh tranh siêu cường với Mỹ

Trung Quốc đã công khai việc cạnh tranh chiến lược với Mỹ trên mọi mặt trận có thể, trong đó đặc biệt là trong vấn đề Biển Đông, Sông Mekong và kinh tế khu vực. Toan tính toàn cầu của Trung Quốc nhằm phục vụ lợi ích và quyền lực của Bắc Kinh trong khu vực chiến lược Đông Nam Á.

“Vành đai, con đường” đối chọi với “Chiến lược châu Á -TBD” và Chiến lược “Ấn Độ -TBD tự do và rộng mở”

Để đối trọng với việc Tổng thống Obama tái cân bằng Chiến lược châu Á – Thái Bình Dương, Chủ tịch Tập Cận Bình có ngay sáng kiến “Vành đai, con đường” (BRI), nhằm tranh thủ được các đối tác về cả ngoại giao, kinh tế, kết nối địa chiến lược và giúp Bắc Kinh “tiêu thụ” sự thặng dư nguồn lực của mình.BRI đã khiến Tổng thống mới của Mỹ sau ông Obama là Donald Trump lại phải thêm một lần điều chỉnh bằngChiến lược “Ấn Độ – Thái Bình Dương tự do và rộng mở”. Sự lớn mạnh của Trung Quốc chắp cánh cho những toan tính sẵn có. Toan tính ấy là toan tính toàn cầu nhưng trước hết nhằm phục vụ lợi ích và quyền lực của Trung Quốc trong khu vực chiến lược sát sườn Đông Nam Á. Trung Quốc luôn lớn tiếng ASEAN là hạt nhân, là trung tâm giữ vai trò quyết định trong hợp tác và an ninh khu vực nhưng vai trò ấy phải trong vòng kiềm tỏa. Năm 2010, trong một cuộc làm việc ở Hà Nội, có sự tham gia của cả Ngoại trưởng Mỹ và các Ngoại trưởng ASEAN, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc, một cách rất nước lớn, đã chỉ vào đại diện của Singapore và Việt Nam mà bảo rằng các anh chỉ là những nước nhỏ, rồi giận dữ bỏ ra ngoài.

Các cơ chế hợp tác Tiểu vùng sông Mekong trong tính toán của TQ

Các nước Đông Nam Á lục địa cùng chung hệ thống sông Mekong. Dòng sông này bắt nguồn từ Tây Tạng với Lan Thương (Trung Quốc) ở thượng nguồn. Năm 1995, Việt Nam, Thái Lan, Lào, Campuchia lập ra Ủy hội sông Mekong (MRC) để cùng quản lý dòng sông này. Một trong những việc đầu tiên của MRC là thúc đẩy việc cấm xây dựng các đập thủy điện lớn. Mọi thứ đang còn ngổn ngang thì tháng 3/2016 một cơ chế hợp tác khác, Hợp tác Lan Thương – Mekong, LMC, do Trung Quốc khởi xướng, bao gồm Trung Quốc và các nước trên cộng thêm Myanmar ra đời. Trung Quốc đề nghị lập một cơ cấu quản lý và cơ cấu này nên nằm ở Vân Nam. Khỏi cần một cơ cấu quản lý, ai cũng biết chính các con đập quản lý nguồn nước, nguồn cá, nguồn phù sa của dòng sông. Riêng Trung Quốc đã xây tới 11 con đập, chứa lượng nước khổng lồ 47 tỉ m3. Một lượng nước như vậy bị trữ lại đã gây thiệt hại rất nhiều cho vùng hạ lưu, đặc biệt đồng bằng sông Cửu Long nằm ở cuối nguồn. Đã có dự báo từ sớm, xâm nhập mặn ở vùng này sẽ khốc liệt chưa từng vào quý I/2020. Và thực tế đã diễn ra như vậy. Hạ nguồn (Thái Lan, Campuchia, Việt Nam) đang thực sự khủng hoảng.

Lượng thủy sản của hệ thống sông này được coi là một trong những nguồn thủy sản nội địa lớn nhất thế giới, chiếm gần 1/4 lượng đánh bắt cá nước ngọt toàn cầu. Ngư dân Thái Lan cho biết mực nước và lượng cá đã đang giảm hẳn từ khi Trung Quốc xây dựng các con đập. Muốn vận chuyển lớn, họ xả nước, còn không thì giữ lại. Mực nước không ổn định khiến cá không đẻ trứng. Nổ mìn, phá đá mở rộng lòng sông và nạo vét cát sỏi ở thượng nguồn đã phá hệ sinh thái và đe dọa an ninh lương thực của hàng triệu người phụ thuộc vào nó. Theo thông tin vừa cập nhật, Nội các Thái Lan đã tuyên hủy Dự án khơi thông luồng lạch, ghềnh đá trên sông Mekong vào ngày 11/2/2020 và đây được coi là thắng lợi chưa từng có.

Biển Đông là vấn đề lớn nhất trong quan hệ giữa TQ với các nước ASEAN và mối quan hệ với Mỹ tại đây

Sự quan tâm của Trung Quốc đến Biển Đông, những tuyên bố và hành động gần như đột ngột của nước này đến vùng biển chung của các nước Đông Nam Á mà họ muốn một mình sở hữu đã gây nên sự hoang mang lẫn phẫn nộ trong vùng. Đặc biệt với Việt Nam, nước gắn bó nhiều lợi ích nhất với Biển Đông (hơn hẳn Trung Quốc) và cũng là nước có nhiều duyên nợ với Trung Quốc về lịch sử, địa lý, văn hóa,… Biển Đông có gì? Biển Đông có tất cả. Một nguồn lợi cá và hải sản khổng lồ, một nguồn lợi về tài nguyên dầu khí lên tới hàng ngàn tỉ đô la Mỹ và nhất là một tuyến hàng hải, một tuyến thương mại quốc tế không thể thay thế. Khống chế được tuyến này là có thể bắt nạt các quốc gia cần đến nó, bắt nạt các nước lớn, bắt nạt cả thế giới.

Gắn với tranh chấp Biển Đông, gắn với sự tham lam của Trung Quốc là “đường 9 đoạn”. Con đường này không hiểu vì lý do gì mươi năm gần đây lúc thì Trung Quốc gọi 9 đoạn, lúc thì 11 đoạn, lúc thì 10 đoạn một cách tùy tiện và chỉ được gọi theo hình thức cắt đoạn như vậy, không một lần có tên gọi theo nội dung, nhưng Trung Quốc ngầm cho hiểu nó là đường biên giới quốc gia trên biển của họ (không dính bất cứ một quy định hay thông lệ quốc tế nào, kể cả điều mà Trung Quốc viện dẫn là “vùng nước lịch sử”). Lập trường về “đường 9 đoạn” được Trung Quốc chính thức đề cập đến lần đầu là văn bản được trình lên Liên hợp quốc ngày 7/5/2009. Họ từng tuyên bố không đòi hỏi quyền lợi vùng biển trong “đường chín đoạn” theo Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS) mà theo tập quán quốc tế, là quyền lợi lịch sử như tiền lệ tư pháp quốc tế nhưng lại không chứng minh được đường này qua các bản đồ lịch sử mà chỉ dựa vào chứng cứ mơ hồ thông qua các tuyên bố “hàng ngàn năm lịch sử” “hai ngàn năm lịch sử”, “từ thời nhà Hán”… Nếu nói về đời nhà Hán có thể đưa thêm một dẫn chứng ngược. Thư tịch Trung Quốc thời đó mô tả tàu thuyền đi qua vùng biển Hoàng Sa/Tây Sa, nhất là tàu thuyền có chốt sắt, thường bị bẻ ra hoặc bị giữ lại làm đắm thuyền vì các hòn đảo ấy toàn đá nam châm (?) Bây giờ ta có thể hiểu đó là những bãi đá nước lên xuống theo thủy triều, không có đá nam châm nào cả, gặp lúc nước rút tàu không thoát kịp sẽ trơ trọi nằm lại với đá. Một khu vực nguy hiểm “toàn đá nam châm”, không có dân cư, không có điều kiện sống lại cách xa Trung Quốc như vậy thì “tổ tiên” đòi hỏi chủ quyền làm gì? Chưa nói văn kiện nào tuyên bố chủ quyền mấy ngàn năm trước từ thời Hán để đến bây giờ các giới trách nhiệm Trung Quốc tranh nhau nói về vùng nước lịch sử và việc phải bảo vệ “đất đai tiên tổ” (?)

TQ muốn COC không có sự can thiệp của bên ngoài, nhất là Mỹ trong tiến trình thảo luận

Cuộc đàm phán về Bộ Quy tắc ứng xử các bên ở Biển Đông (COC) bắt đầu được các bên tiến hành vào năm 2013, mười một năm sau khi có Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC). Trung Quốc không muốn COC, họ coi DOC là đủ rồi. Tổng thư ký của tổ chức ASEAN lúc đó than phiền rằng tổ chức này không thể lôi kéo Trung Quốc vào các cuộc thảo luận thực chất. Bắt đầu rồi mà như chưa bắt đầu, cứ như sên bò vậy. Bằng cách đó Trung Quốc muốn cho mọi người thấy rằng họ cơi nới chưa xong, họ còn phải mang vũ khí đặt lên đấy đã,… Không thể lộ liễu hơn, Trung Quốc chơi trò câu giờ. Trong 7 bãi đá (Chữ Thập, Gạc Ma, Châu Viên, Tư Nghĩa, Gaven, Vành Khăn, Xubi) mà Trung Quốc cơi nới thì đá Chữ Thập đã được mở rộng tăng kích thước lên gấp 11 lần, lớn hơn cả đảo Ba Bình là đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa/Nam Sa mà Đài Loan đang chiếm giữ. Cho đến trước khi mở rộng, Trung Quốc là bên duy nhất không có đường băng ở Trường Sa (Đài Loan có ở Ba Bình, Philippines có ở Thị Tứ, Malaysia có ở đá Hoa Lau, Việt Nam có ở đảo Trường Sa Lớn) thì bây giờ đường băng đã xuất hiện ở Chữ Thập, Vành Khăn, Xubi. Câu giờ đủ rồi, Trung Quốc mới quay sang COC. Trong hai năm 2017, 2018 họ công bố rằng “văn bản duy nhất” của COC đã được các bên cùng đọc. Thế nào là văn bản duy nhất? Theo các nguồn tin, đây là 11 văn bản do 11 quốc gia đưa ra và nó còn quá xa cách nhau về nội dung, nhất là những vấn đề cơ bản như: phạm vi các thực thể địa lý được đề cập, các yếu tố chế tài trên cơ sở pháp luật quốc tế…

Có một điều chắc chắn là COC không phải để giải quyết vấn đề chủ quyền lãnh thổ. Trung Quốc luôn cho chủ quyền các đảo, đá là vấn đề song phương mà COC chỉ có thể kiểm soát ổn thỏa những bất đồng phát sinh từ Biển Đông, bản nâng cấp chút đỉnh của DOC mà thôi. Thực tế cũng có thể không hẳn như vậy, vì thế nào là “bất đồng” và phạm vi những bất đồng ấy là gì và kiểm soát thì như thế nào. Chưa nói, Trung Quốc muốn COC không có sự can thiệp của bên ngoài trong tiến trình thảo luận (cũng vì vậy mà tiến trình này được bảo mật) nhưng các nước “bên ngoài” lại rất muốn tham gia vì vấn đề tự do hàng hải. Mà vấn đề này lại liên quan đến thế nào là phi quân sự hóa đang được các bên tranh cãi. Trung Quốc cho rằng phi quân sự hóa là tàu quân sự đi qua khu vực 12 hải lý quanh các đảo “của họ” phải có sự xin phép, còn Mỹ và các nước nói chung thì coi việc Trung Quốc xây dựng sân bay, đưa vũ khí khí tài ra các đảo đá được xây đắp, mở rộng đã là quân sự hóa rồi.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình từng tuyên bố tại Hội nghị về các biện pháp xây dựng lòng tin ở châu Á năm 2014: “Việc điều hành công việc, giải quyết các vấn đề châu Á, bảo vệ an ninh châu Á là giành cho người châu Á”. Và Trung Quốc yêu cầu trong văn kiện COC thì việc thăm dò và phát triển dầu khí và tài nguyên biển nói chung ở các vùng tranh chấp sẽ do các nước trong khu vực tiến hành, không hợp tác với các quốc gia bên ngoài. Cũng như sẽ không có các cuộc tập trận chung với các quốc gia ngoài khu vực. Yêu cầu này cho thấy, COC sẽ có thể tạo ra một dàn xếp mang tính độc quyền, trái với công ước Liên hiệp quốc về luật biển. Bà Dewi Fortuna Anwar, nhà quan sát người Indonesia đặt câu hỏi: “Làm thế nào để đảm bảo rằng COC sẽ không thể chế hóa mối quan hệ rất bất đối xứng gây bất lợi không chỉ cho các nước ASEAN mà còn cho các bên liên quan rộng lớn hơn ở Biển Đông, bao gồm cả việc không chú ý đến tất cả các điều khoản của UNCLOS? Các nước Việt Nam, Malaysia, Philippines đã khẳng định COC sẽ không bao gồm bất kỳ điều gì gây ảnh hưởng tới các quyền và nghĩa vụ của các bên theo luật pháp quốc tế…” Trung Quốc đã từng viện dẫn đoạn 4 của DOC quy định về giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán giữa các bên liên quan để phủ nhận thẩm quyền của Tòa Trọng tài và chỉ trích Philippines đã vi phạm DOC. Nhưng DOC chỉ là một tuyên bố ứng xử lỏng lẻo, thế nào mới được gọi là đàm phán, mà Trung Quốc lại chỉ muốn song phương mà thôi.

Trong khi làm ra vẻ thúc đẩy COC Trung Quốc luôn luôn nói rằng tình hình Biển Đông vẫn yên ổn thì thực tế đã xảy ra nhiều chuyện bất ổn. Một tàu cá Philippines bị tàu Trung Quốc đâm chìm vào tháng 6/2019 và hơn hai chục ngư dân lênh đênh giữa biển khiến dư luận nước này sôi sục, ba tháng sau họ mới có lời xin lỗi. Và suốt từ tháng 7 đến cuối tháng 10/2019 tàu thăm dò và hải cảnh Trung Quốc liên tục cản trở, quấy phá Việt Nam hoạt động ở vùng đặc quyền kinh tế của mình, bãi Tư Chính, dù Việt Nam nhiều lần lên án và dư luận quốc tế phản đối. Trước đó, các tàu này cũng đã thường xuyên cản trở hoạt động của Malaysia ở bãi Luconia. Và sau đó, cho đến tận đầu tháng 1/2020, hải cảnh và tàu cá Trung Quốc liên tục thâm nhập hải phận Bắc Natuna của Indonesia.

Tin mới

Các tin khác

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Việt Nam – Nhật Bản tăng cường hợp tác hàng hải, cứu hộ nạn nhân trên biển

Posted on by huyentamhh

Việt Nam – Nhật Bản tăng cường hợp tác hàng hải, cứu hộ nạn nhân trên biển

Trong cuộc gặp giữa Đại tướng Yamazaki Koji, Tham mưu trưởng Liên quân Nhật Bản và Thượng tướng Phan Văn Giang, Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam (02/3), hai bên đã nhất trí tăng cường hợp tác trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng, cứu hộ trên biển.

Thực hiện thỏa thuận giữa Bộ Quốc phòng Việt Nam và Bộ Quốc phòng Nhật Bản, Đại tướng Yamazaki Koji, Tham mưu trưởng Liên quân Nhật Bản thăm chính thức Việt Nam từ ngày 1- 4/3/2020. Trong sáng 2/3, Đại tướng Yamazaki Koji và các thành viên Đoàn đã chào xã giao Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; hội đàm với Thượng tướng Phan Văn Giang, Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam.

Đánh giá kết quả quan hệ quốc phòng Việt Nam – Nhật Bản, Thượng tướng Phan Văn Giang và Đại tướng Yamazaki Koji thống nhất cho rằng, hợp tác giữa Quân đội nhân dân Việt Nam và Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản đã được triển khai hiệu quả trên cơ sở Tuyên bố Tầm nhìn chung về hợp tác quốc phòng hướng tới thập niên tiếp theo giữa Bộ Quốc phòng Việt Nam và Bộ Quốc phòng Nhật Bản ký tháng 4/2018. Các đoàn tàu, máy bay của Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản thường xuyên đến thăm, giao lưu với các đơn vị Không quân, Hải quân Việt Nam. Cơ chế Tham vấn Sỹ quan tham mưu của ba quân chủng Lục, Hải, Không quân được duy trì thông qua các hoạt động tham vấn có hiệu quả. Chương trình hỗ trợ nâng cao năng lực cho cán bộ chuyên môn của Việt Nam được hai bên tích cực phối hợp, triển khai; tổ chức các khóa tập huấn, trao đổi chuyên ngành trên các lĩnh vực như: an toàn bay, y học hàng không, y học dưới nước, cứu nạn hàng không, công nghệ thông tin, an ninh mạng, công binh tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc…

Sự phối hợp, ủng hộ lẫn nhau giữa Việt Nam – Nhật Bản trên các diễn đàn đa phương, nhất là Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+) được tăng cường. Việt Nam ủng hộ các hoạt động trong khuôn khổ sáng kiến Tầm nhìn Vientiane (Viêng Chăn) do Nhật Bản đề xuất nhằm tăng cường hợp tác quốc phòng ASEAN – Nhật Bản; ủng hộ Nhật Bản tích cực tham gia vào các cơ chế hợp tác, góp phần duy trì hòa bình, ổn định, phát triển của khu vực và thế giới.

Hai bên thống nhất trong năm 2020 và những năm tiếp theo sẽ tiếp tục đưa hợp tác quốc phòng song phương đi vào chiều sâu, hiệu quả, thiết thực; phát huy hiệu quả các cơ chế hợp tác hiện có, đẩy mạnh hợp tác quốc phòng song phương theo các thỏa thuận đã ký kết, đặc biệt là Tuyên bố Tầm nhìn chung về hợp tác quốc phòng hướng tới thập niên tiếp theo; tiếp tục triển khai các nội dung đã được thiết lập trên các lĩnh vực hợp tác như: Đào tạo, hỗ trợ nâng cao năng lực, công nghệ thông tin, cứu trợ thảm họa, hỗ trợ nhân đạo, gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, ủng hộ lẫn nhau trên diễn đàn đa phương. Đồng thời, hai bên cũng nhất trí đẩy mạnh hợp tác các nội dung về quân y, công nghiệp quốc phòng.

Tại hội đàm, hai bên đề xuất một số nội dung hợp tác trong thời gian tới, trong đó có việc tiếp tục triển khai trao đổi đoàn các cấp và các cơ chế hợp tác đã thiết lập. Việt Nam đề nghị Nhật Bản mở rộng loại hình đào tạo, tăng số lượng học bổng cấp cho học viên Việt Nam, nhất là chuyên ngành kỹ thuật, công nghệ cao và tiếng Nhật. Đồng thời, Việt Nam mời các sỹ quan cao cấp của Nhật Bản sang tham dự khóa học quốc tế tại Học viện Quốc phòng và học viên quân sự Nhật Bản sang học tiếng Việt; đề nghị triển khai hoạt động liên kết đào tạo giữa Học viện Kỹ thuật Quân sự, Trường Sỹ quan Thông tin của Việt Nam với Đại học Phòng vệ và các nhà trường khác của Nhật Bản. Nhằm góp phần thúc đẩy hợp tác thực chất giữa Quân đội nhân dân Việt Nam và Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản, hai bên thống nhất xem xét đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực đào tạo chuyên môn về y học dưới nước, y học tàu ngầm, cứu hộ, cứu nạn; hỗ trợ trang thiết bị y tế, trang bị cứu hộ nạn nhân trên biển cho Hải quân Việt Nam; đưa các đoàn tàu, máy bay của Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản sang thăm Việt Nam.

Đồng thời, Việt Nam – Nhật Bản sẽ tăng cường hợp tác về đào tạo, nghiên cứu khoa học, y học quân sự; chia sẻ kinh nghiệm về cứu trợ thảm họa, hỗ trợ nhân đạo, hợp tác, hỗ trợ về các nhóm giải pháp đồng bộ, nâng cao chất lượng quản lý bệnh viện, hiệu quả khám, chữa bệnh, chuyển giao kỹ thuật mới. Hai bên triển khai hợp tác trong lĩnh vực đóng tàu, chuyển giao các công nghệ ngành đóng tàu quân sự; hợp tác sản xuất các mặt hàng kinh tế. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đề nghị Nhật Bản hỗ trợ đào tạo chuyên gia kỹ thuật lĩnh vực công nghiệp quốc phòng, tiếp nhận công nhân tay nghề cao sang làm việc; chia sẻ kinh nghiệm quản lý nhà nước về công nghiệp quốc phòng trong kinh tế thị trường; tăng cường hợp tác xây dựng chiến lược phát triển các lực lượng gìn giữ hòa bình của Việt Nam…

Trong những năm gần đây, hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam và Nhật Bản không ngừng được đẩy mạnh trên tất cả các lĩnh vực. Nhật Bản ngoài việc hỗ trợ Việt Nam trong việc nâng cao năng lực thực thi, chấp pháp hàng hải, còn thường xuyên đưa ra các tuyên bố, hành động thể hiện sự ủng hộ đối với Việt Nam trong việc đảm bảo an ninh hàng hải, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ ở Biển Đông. Trong năm 2019, hai nước liên tục có các hoạt động giao lưu, thăm viếng quân sự cấp cao. Trong đó, Lực lượng tự vệ trên biển Nhật Bản (12-15/12/2019) đã cử hai tàu quét mìn cùng gần 200 thủy thủ đoàn thăm hữu nghị Việt Nam nhằm nhằm làm sâu sắc hơn mối quan hệ Đối tác chiến lược sâu rộng giữa hai nước Việt Nam – Nhật Bản nói chung, giữa quân đội và hải quân hai nước nói riêng. Trước đó, biên đội tàu chiến gồm khu trục hạm trực thăng JS Izumo, tàu khu trục đa dụng JS Murasame cùng 5 trực thăng và 800 binh sĩ (14-17/6/2019) đã cập cảng Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa để có chuyến thăm Việt Nam. Đây là một phần trong đợt huấn luyện dài ba tháng tại Biển Đông và Ấn Độ Dương của nhóm chiến hạm Nhật Bản. Từ ngày 25-28/7/2019, tàu huấn luyện Kojima của Cảnh sát biển Nhật Bản cùng thủy thủ đoàn 87 người do hạm trưởng Tonozaki Hironobu dẫn đầu đã cập cảng Tiên Sa để thăm thành phố Đà Nẵng.

Không chỉ tăng cường hợp tác giao lưu thông qua các chuyến thăm, Việt Nam và Nhật Bản (3/6/2019) cũng đã tổ chức Đối thoại Đối tác chiến lược Việt Nam – Nhật Bản lần thứ bảy tại Hà Nội, nhằm thúc đẩy quan hệ song phương và trao đổi các vấn đề cùng quan tâm. Tại Đối thoại, hai bên đánh giá cao sự phát triển tích cực và toàn diện của quan hệ hai nước thời gian qua; nhấn mạnh cần duy trì thường xuyên các chuyến thăm, tiếp xúc các cấp, đặc biệt là cấp cao, nâng cao hiệu quả của các cơ chế đối thoại hiện có, góp phần tăng cường sự tin cậy chính trị và hiểu biết lẫn nhau. Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác tại các diễn đàn quốc tế và khu vực, phối hợp chặt chẽ để thúc đẩy hợp tác giữa ASEAN và Nhật Bản phát triển ngày càng sâu rộng trong bối cảnh Việt Nam đang là nước điều phối quan hệ ASEAN – Nhật Bản giai đoạn 2018 – 2021 và là nước Chủ tịch ASEAN năm 2020. Về vấn đề Biển Đông, hai bên nhất trí về tầm quan trọng của bảo đảm hòa bình, an ninh, an toàn và tự do hàng hải và hàng không, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, thúc đẩy giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước của Liên Hợp Quốc về luật biển 1982, tôn trọng đầy đủ các tiến trình ngoại giao và pháp lý, thực hiện hiệu quả và đầy đủ Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm hoàn tất Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) thực chất, có hiệu lực và phù hợp với luật pháp quốc tế.

Đáng chú ý, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Taro (29/7/2019) đã công bố Sách Trắng Quốc phòng Nhật Bản 2019, trong đó đề cập hoạt động đơn phương của Trung Quốc ở Biển Đông, cho rằng Bắc Kinh đang là nguyên nhân đe dọa hòa bình, ổn định trong khu vực. Sách Trắng nhấn mạnh Trung Quốc có những hoạt động đơn phương mới nhằm thay đổi hiện trạng Biển Đông. Hơn thế nữa, nước này còn phái rất nhiều tàu trong đó có tàu Liêu Ninh tham gia tập trận, bố trí binh lực ở khu vực Biển Đông và mở rộng hoạt động sang khu vực Thái Bình Dương. Sách Trắng lo ngại rằng thời gian tới, Trung Quốc tiếp tục mở rộng hoạt động của lực lượng trên biển, cho không quân tiến sâu vào khu vực Biển Đông và Thái Bình Dương.

Được biết, Nhật Bản tuy không có tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, song lợi ích, an ninh quốc gia của Tokyo có liên quan trực tiếp đến hòa bình, ổn định trong khu vực. Chính vì vậy, trong nhiều năm qua, Nhật Bản luôn là một trong những nước tích cực đóng góp vào việc đảm bảo hòa bình, ổn định ở Biển Đông thông qua việc ủng hộ, hỗ trợ các nước ven biển tăng cường năng lực chấp pháp trên biển, cũng như lên án, chỉ trích các hoạt động phi pháp của Trung Quốc ở Biển Đông.

Tin mới

Các tin khác

Categories: Biển Đông | Leave a comment

Blog at WordPress.com.