Chính-Trị Thời-Sự

Vấn đề lớn nhất’ của Mỹ-Trung là Biển Đông?

Vấn đề lớn nhất’ của Mỹ-Trung là Biển Đông?

'Vấn đề lớn nhất' của Mỹ-Trung là Biển Đông?Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image caption‘Vấn đề lớn nhất’ của Mỹ-Trung là Biển Đông?

Nhà kinh tế học Panos Mourdoukoutas vừa có bài viết trên Forbes cho rằng “vấn đề lớn nhất” giữa Bắc Kinh và Washington không phải là thương mại, mà chính là mâu thuẫn gia tăng giữa hai nước và về Biển Đông và Châu Phi.

Trong khi đó, Tiến sĩ Carl Thayer nói ông đồng tình với chuyên gia kinh tế Mourdoukoutas rằng Trung Quốc là “địch thủ” của Hoa Kỳ, tuy nhiên ông Thayer không cho rằng chính sách thương mại mà ông Trump đang theo đuổi liên kết với chiến lược an ninh quốc tế của Hoa Kỳ.

Trong một bài đăng trên Forbes hôm 19/1, ông Mourdoukoutas viết: “Vấn đề này [tranh chấp Biển Đông] có thể kéo dài nhiều năm, nếu không phải là thập kỷ, và nó có thể dẫn đến đối đầu quân sự giữa hai nước.”

Biển Đông hiện là mục tiêu hàng đầu cho chương trình nghị sự kinh tế và chính trị của Bắc Kinh – một dự án sẽ đưa Trung Quốc thành nhà lãnh đạo kinh tế lớn tiếp theo của thế giới.

Để làm điều đó, Bắc Kinh đã đưa ra những tuyên bố cho rằng nó có những quyền “lịch sử” đối với vùng biển.

“Bắc Kinh bảo vệ các quyền đó bằng cách đe dọa, thúc đẩy chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc, giúp tuyên truyền hơn nữa hiện trạng chính trị Trung Quốc,” Mourdoukoutas viết.

Quanh vụ báo VN nói TQ ‘cưỡng chiếm Hoàng Sa’

Quanh việc USS McCampbell tới Hoàng Sa và phản ứng của VN

TQ: Tăng trưởng kinh tế chậm nhất trong gần 30 năm

Tuy nhiên, ngoài Trung Quốc ra, Philippines, Malaysia, Brunei, Đài Loan và Việt Nam đều đưa ra những tuyên bố chủ quyền đối với vùng biển có khối lượng hàng hóa trị giá 5 nghìn tỷ đôla đi qua mỗi năm.

Úc, Nhật Bản, Anh, Pháp, Mỹ cũng vẫn mong muốn duy trì sự tự do hàng hải trong vùng biển khu vực.

“Đây chính là nguy cơ đối đầu quân sự tiềm tàng: một tình huống mà có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng lên thị trường tài chính và sự hội nhập kinh tế của nước khu vực,” Mourdoukoutas lập luận.

Nhà kinh tế học đang giảng dạy tại Đại học Columbia, Hoa Kỳ còn phân tích rằng Châu Phi cũng là một trọng điểm khác cho sự đối đầu giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.

Quốc kỳ Trung Quốc và Hoa Kỳ treo trên cột buồm của Tàu Bệnh viện 'Hòa bình' khi con tàu bắt đầu chuyến thăm 5 ngày tại Mỹ vào 2015 tại San Diego, California của Hoa Kỳ.Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionQuốc kỳ Trung Quốc và Hoa Kỳ treo trên cột buồm của Tàu Bệnh viện ‘Hòa bình’ khi con tàu bắt đầu chuyến thăm 5 ngày tại Mỹ vào 2015 tại San Diego, California của Hoa Kỳ.

Bắc Kinh cử các phái đoàn đến các thủ đô Châu Phi mỗi năm, giúp thiết lập các dự án cơ sở hạ tầng và châu Phi cung cấp cho Trung Quốc tài nguyên kinh tế ở mức rẻ mạt.

Bắc Kinh đang biến châu Phi thành “một lục địa thứ hai” cho Trung Quốc, Mourdoukoutas nhận định.

Trong khi đó, Hoa Kỳ vẫn là nhà “tài trợ” lớn nhất cho châu Phi theo Viện Nghiên cứu Trung-Phi John Hopkins.

Nhật Bản, một đồng minh của Hoa Kỳ, cũng có nhiều khoản đầu tư vào Châu Phi.

Điều này khiến Trung Quốc tố Nhật Bản “ích kỷ” và áp đặt lên các quốc gia Châu Phi và gây chia rẽ các nước Phi với Trung Quốc.

“Trung Quốc nói Nhật Bản ích kỷ thì thật mỉa mai vì bản chất ích kỷ trong các dự án đầu tư của họ ở Châu Phi. Hầu hết các quốc gia đầu tư ở Châu Phi đều làm vì [lợi ích của chính nước họ]. Thay vì chia rẽ Trung Quốc với các nước châu Phi, điều này chỉ làm chia rẽ thêm Trung Quốc và Hoa Kỳ.

“Thêm vào đó là những tác động đáng lo ngại từ việc Trung Quốc đang siết chặt Biển Đông, nó đặt nền tảng cho một ngòi thuốc nổ có thể gây nguy hại hơn bất kỳ cuộc chiến thương mại nào giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc,” Mourdoukoutas viết.

Giáo sư Carl Thayer, từ Đại học New South Wales của ÚcBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionGiáo sư Carl Thayer, từ Đại học New South Wales của Úc

Tiến sĩ Carl Thayer nói gì?

Tiến sĩ Carl Thayer nói ông đồng tình với chuyên gia kinh tế Mourdoukoutas rằng Trung Quốc là “địch thủ” của Hoa Kỳ.

Ông Thayer nói qua bài phát biểu của Phó Tổng thống Mike Pence (hồi tháng 10/2018) và việc Tổng thống Donald Trump vừa ký ban hành Luật Sáng kiến Tái đảm bảo Châu Á (ARIA) cho thấy có một sự cạnh tranh đối đầu với Trung Quốc đang gia tăng.

Tuy nhiên, chính sách thương mại mà ông Trump đang theo đuổi không liên kết với chiến lược an ninh quốc tế của Hoa Kỳ.

“Hoa Kỳ không sử dụng vấn đề thương mại để đạt lợi thế trong vấn đề Biển Đông và ngược lại,” ông Thayer nói.

Ông Thayer cũng cho rằng khả năng xảy ra đối đầu quân sự ở khu vực Biển Đông cũng rất thấp.

Hoa Kỳ đã tăng cường hoạt động tuần tra vào năm ngoái với hai hình thức: một là tuần tra tự do hàng hải và hai là tiếp tục sự hiện diện của các tàu tuần tra dưới thời Obama từ Guam, Diego Garcia, Nebraska…

“Điều này cho thấy Mỹ cũng có thể phản ứng và làm Trung Quốc e ngại”.

“Nhưng tại thời điểm này, Trung Quốc không cho thấy họ có hứng thú tỏ ra hung hãn. Chúng ta đang nói rất nhiều về thương mại và kinh tế Trung Quốc đang chậm lại. Trung Quốc đang có một vấn đề khác phải quan tâm hơn.”

“Và Mỹ cũng không liên kết giữa các hoạt động ở Biển Đông với một chiến lược rộng lớn hơn để gây áp lực với Trung Quốc. Bởi vì thực sự là không có chiến lược gì cả.”

“Cuối cùng thì chiến lược đó có thể là gì? Trung Quốc rút quân khỏi Biển Đông ư? Phi quân sự hóa ư? Ngừng tuyên bố chủ quyền ư? Chẳng có tác dụng gì.”

“Hoa Kỳ đã áp lực lên Trung Quốc buộc phải có các hành vi tuân thủ luật lệ và tôn trọng tự do hàng hải nhưng nó chẳng đi đến đâu cả. Trung Quốc chẳng làm bất cứ điều gì.”

“Tôi hi vọng trong năm 2019 này, Mỹ sẽ tiếp tục hoạt động tuần tra tự do hàng hải, hoàn tất việc bổ nhiệm tân Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, người sẽ tiếp tục chương trình này.”

Ông Thayer cũng cho rằng mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc đang trong thời kỳ “tốt đẹp nhất” kể từ sự kiện Giàn khoan HD981 vào 2014.

Năm ngoái, Trung Quốc gây áp lực lên các hoạt động khai thác dầu mỏ trên Biển Đông của Việt Nam, một phải ngừng, một bị bỏ hoang.

“Không một quan chức Việt Nam nào muốn nói về điều này,” ông Thayer nói. “Đó là thực trạng hiện tại.”

“Việt Nam, nói cách khác, bị cô lập và trơ trọi trong khu vực, là nước duy nhất có xích mích với Trung Quốc về vấn đề Biển Đông.”

Dư luận ở Việt Nam thực sự “rất độc hại” với thái độ chống Trung Quốc, ông Thayer nói.

“Thế hệ trước, vốn đã hi sinh trong các cuộc chiến, sắp trở thành lịch sử, cho nên cần phải tôn vinh những sự hi sinh của họ,” ông Thayer bình luận về các bài báo gần đây của báo chí Việt Nam nhân 45 kỷ niệm Trung Quốc xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa.

“Tôi nghĩ, thử thách nghiêm trọng nhất với chính quyền [Việt Nam] là bảo vệ chủ quyền đất nước. Nên việc cho phép các tờ báo nội địa viết bài về Trung Quốc là biện pháp an toàn thôi.”

Advertisements
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Khả năng đòi lại Hoàng Sa và Trường Sa trên phương diện pháp lý

Khả năng đòi lại Hoàng Sa và Trường Sa trên phương diện pháp lý

FB Ðào Tăng Dực

21-1-2019

I. Nhập đề:

Ngày 19 tháng 1, 2019 vừa qua, mùa tưởng niệm trận chiến anh dũng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bảo vệ Hoàng Sa bắt đầu. Báo chí hải ngoại loan tin như:

“Một số tờ báo lớn như Thanh Niên, Tuổi Trẻ, Sài Gòn Giải Phóng lần đầu tiên sau 45 năm đã dùng từ “cưỡng chiếm” đối với Trung Quốc khi nhắc đến trận hải chiến Hoàng Sa vào ngày 19 Tháng Giêng, 1974.(Người Việt)”

Tiếp theo đó, nhiều thức giả bình luận về lý do tại sao CSVN lại thay đổi chính sách kiểm duyệt đề tài nhạy cảm này.

Tuy nhiên có một điều chúng ta có thể khẳng định là, lịch sử đương đại cho thấy, nhiều đảng CS trên thế giới vẫn có khả năng tiếp tục tồn tại, sau khi chế độ CS toàn trị cáo chung, như tại Nga Sô và một số quốc gia Đông Âu, dưới tên nguyên thủy hoặc dưới một tên mới.

Xác xuất rất cao là ngay cả sau khi tiến trình dân chủ hóa hoàn tất tại Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Cuba thì các đảng CS liên hệ vẫn có khả năng sinh tồn như một chính đảng trong lịch sử, kể cả một đảng tàn ác như CS Bắc Triều Tiên.

Chỉ duy nhất đảng CSVN sẽ không thể tồn tại. Lý do đơn giản là vì trừ đảng CSVN, không có đảng CS nào công khai và hèn hạ bán nước để sinh tồn cả.
Đây cũng là nỗi kinh hoàng của Bộ Chính Trị và cũng là lý do tại sao đảng CSVN thà chết chứ không bao giờ gia nhập tiến trình dân chủ hóa đất nước.

Trong những vùng đất và lãnh hải đảng CSVN bán cho CSTQ thì Hoàng Sa và Trường Sa (Gạc Ma) là hiển nhiên nhất.

Hậu quả hành động bán nước của đảng CSVN di họa thật lâu dài cho toàn dân tộc. Câu hỏi trên vành môi của mọi công dân Việt Nam là gì?

Đó là chừng nào chúng ta mới lấy lại được những vùng đất và lãnh hải bị bán đứng cho CSTQ?

Câu trả lời thứ nhất là nếu chúng ta hùng mạnh hơn TQ cả về kinh tế lẫn quân sự thì chúng ta sẽ lấy lại bằng sức mạnh.

Xác xuất này quá thấp và sẽ không xảy ra.

Thế thì trên phương diện pháp lý, có xác xuất cao hơn hay không?

Câu trả lời sẽ phức tạp và tôi xin cố gắng như sau.

II. Trên phương diện pháp lý:

Mặc dầu hệ thống luật pháp, nhất là nền luật pháp của Tây Phương, kể cả Công Pháp Quốc Tế, rất phức tạp. Tuy nhiên nếu nhìn kỹ thì cũng chỉ có 6 yếu tố quan trọng nhất liên hệ, khi giải quyết một sự tranh chấp giữa người và người hoặc quốc gia này và quốc gia kia:

1. Con người làm trọng tài hoặc quan tòa (mediator, arbitrator or judge)
2. Những định chế pháp lý (Legal institutions)
3. Những nguyên tắc pháp lý (legal principles)
4. Những sự kiện liên hệ.(relevant facts)
5. Phong thái của mỗi bên (the conduct of each party)
6. Sức mạnh (kể cả tài chánh lẫn vũ lực) của mổi bên (relative strength of the parties)

Trong cuộc tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc, khả năng đòi lại HoàngSa và Trường Sa phần lớn lệ thuộc vào các yếu tố trên.

1. Một người hoặc nhiều người làm trọng tài hoặc quan tòa:

Những con người này trước hết, theo luật pháp Tây Phương, đều được quan niệm là những con “người biết phải chăng” (reasonable persons) Quan điểm thế nào là “a reasonable person” là căn bản của luật pháp tây phương. Ðịnh nghĩa của quan điểm này như sau:

“Một người biết phải chăng là một người có thể hành xử khả năng chú tâm, hiểu biết, thông minh và phán xét mà xã hội đòi hỏi nơi một thành viên của mình để từ đó bảo vệ cho quyền lợi của chính mình cũng như của tha nhân trong xã hội.”( Trích WikiAnswers)

Muốn dung hòa quyền lợi của mình và của tha nhân, để giữ quân bình trong xã hội, một reasonable person không bao giờ cứng nhắc và quá chấp nguyên tắc.

2. Những định chế có thể giúp giải quyết sự tranh chấp gồm có:

Theo nhiều bình luận gia quốc tế, sự tranh chấp giữa các quốc gia trong “South China Sea” có thể được giải quyết qua các phương thức sau đây:
a. Mời một nhóm người có uy tín quốc tế (Imminent persons group) để giúp các bên hòa giải.

b. Mời một đệ tam nhân được cả hai bên tôn trọng và đồng thuận đứng ra làm trọng tài hòa giải (Third Party mediation)

c. Ðưa ra Tòa Án Công Lý Quốc Tế để xử (The International Court of Justice)

d. Ðưa ra Tổ ChứcLòng Ðại Dương Quốc Tế để thương thảo và giải quyết (The International Seabed Authority)

e. Đưa ra Tòa Trọng Tài Thường Trực (Permanent Court of Arbitration) tại The Hague

Thực ra, các bình luận gia nêu trên chỉ nói một cách vô thưởng vô phạt. Thực tế thì phương thức pháp lý nào nêu trên (trừ các Tòa Án Quốc Tế) cũng bất lợi cho chúng ta cả. Lý do là vì HS &TS là của chúng ta. Bây giờ có kẻ cướp vào đoạt lấy rồi lại đưa ra thương thuyết ngang hàng với chúng ta, làm sao gọi là công bằng cho được?

Tuy nhiên ngay cả Tòa Án Công Lý Quốc Tế cũng chưa chắc đã thuận lợi cho chúng ta vì phong thái hanh xử vô cùng phi lý của đảng CSVN như sẽ chứng minh sau.

Trên bình diện chính trị thì vấn đề này phải được chính phủ VIỆT NAM nêu ra trong Hội Ðồng Bảo An LHQ và trong Ðại Hội Ðồng LHQ. Tuy nhiên, CSVN không muốn làm phiền lòng quan thầy TQ. Ðồng thời TQ lại là Ủy Viên thường trực của Hội Đồng Bảo An LHQ với quyền phủ quyết tuyệt đối. Thế của VIỆT NAM không thể nào bằng thế của TQ.

3. Những nguyên tắc pháp lý:

Các nguyên tắc pháp lý được cô đọng trong Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 (The United Nations Convention on Law of the Sea). Bao gồm các nguyên tắc sau đây:

Nội thủy (internal waters): vùng biển nằm bên trong lằng thủy triều xuống thấp nhất thuộc chủ quyền tuyệt đối của quốc gia ven biển.

Lãnh hải (Territorial waters): vùng biển chạy ra 12 hải lý. Các quốc gia ven biển có chủ quyền. Tuy nhiên tàu bè quốc tế được quyền đi qua (right of innocent passage)

Vùng kinh tế đặc quyền (Exclusive economic zone): ra 200 hải lý tính từ lằng thủy triều xuống thấp nhất. Các quốc gia ven biển có quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên như đánh cá, dầu hỏa, khoáng sản v.v…

Thềm lục địa (continental shelf): Ðược định nghĩa như vùng biển 200 hải lý tính từ lằng thủy triều xuống thấp nhất, hoặc sự nối tiếp tự nhiên của thềm lục địa (nằm dưới biển) kéo dài cho đến bìa bên ngoài của thềm lục địa, cái nào dài nhất (whichever is greater), tuy nhiên không thể đi xa hơn 350 hải lý hoặc 100 hải lý ngoài 2,500 thước isobath. Các quốc gia ven biển có đặc quyền khai thác khoán sản (minerals & non-living material) từ tầng dưới (sub-soil) của thềm lục địa (continental shelf).

Phi Luật Tân đã chiến thắng vẻ vang CSTQ vào ngày 12 tháng 7, 2016 tại Tòa Trọng Tài Thường Trực, một phần lớn căn cứ trên công ước này và tính ngụy biện của chủ thuyết Đường Lưỡi Bò của TQ tại Biển Đông bị hoàn toàn hủy diệt trên pháp lý.

4. Những sự kiện liên hệ (relevant facts):

a. Ðịa dư & địa lý:

*Biển Nam Hải (the South Sea) còn gọi là biển Nam Trung Quốc (The South China Sea)
*HoàngSa cách Trung Quốc khoảng 270 hải lý, cách Việt Nam 155 hải lý.
*Trường Sa cách Trung Quốc khoảng 750 hải lý, cách Việt Nam 220 hải lý.

b. Lịch sử:

Từ 1816 thời Gia Long, nước VIỆT NAM đã có hải đội HoàngSa và Trường Sa.
Khi người Pháp xâm chiếm VIỆT NAM 1884 cũng đã xác nhận chủ quyền của Pháp qua chủ quyền Việt Nam (bia chủ quyền dựng năm 1938)

5. Phong thái của mỗi bên (conduct of each party)

Sau đây là phong thái và hành xử của các phe nhóm VIỆT NAM và TQ liên hệ:

a. Văn thư ngày 14 tháng 9 năm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Ðồng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt) gởi cho Thủ Tướng Chu Ân Lai thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc trên Hoàng Sa và Trường Sa.

b. Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa (Nam Việt) trong các năm 1956-66 đã xát quyết chủ quyền của Việt Nam. Ghi chú Hoàng Sa và Trường Sa được Pháp nhượng lại cho VNCH sau hiêp định Geneve 1954, không phải nhường cho Bắc Việt.

c. 1945 Trung Hoa xâm chiếm một số đảo thuộc HoàngSa.

d. 1958 CSVN công nhận chủ quyền Trung Quốc tại 2 quần đảo.

e. 1974 Hải Quân Trung Quốc đánh chiến toàn bộ HoàngSa bằng vũ lực. Hải quân Việt Nam Cộng Hòa anh dũng chiến đấu. CSVN lặng thinh chấp nhận sự chiếm đóng của TQ. Chính Phủ VNCH đã mạnh mẽ chính thức phản đối trước Liên Hiệp Quốc. Tuy nhiên lúc đó VNCH chỉ là quan sát viên, chưa phải là thành viên của LHQ nên không có hiệu quả. Ngày hôm nay, CSVN là ủy viên không thường trực của Hội Ðồng Bảo An LHQ. Ðến nay chưa thấy CSVN xử dụng tư cách này để bảo vệ HoàngSa và Trường Sa.

f. 1992 TQ chiếm bãi dầu khí Vạn An của Trường Sa, CSVN im lặng.

g. 2000 Trong hiệp Ước Vịnh Bắc Việt, CSVN nhượng Trung Quốc khỏang 21,000 cây số vuông lãnh hải.

h. 2/12/07 TQ thanh lập thanh phố Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam để chính thức quản trị Hoàng Sa và Trường Sa như là lãnh thổ của TQ.

i. Tháng 12, 2007, thanh niên Việt Nam rầm rộ biểu tình trong nước. Ðồng bào hải ngoại phản đối mạnh mẽ. CSVN im lặng chấp nhận và ngăn chận thanh niên và đồng bào phản kháng vì sợ mất lòng TQ.

6. Sức mạnh của mỗi bên (relative strength of the parties):

Trung quốc đang trên đà phát triển và xây dựng bá quyền. Việt Nam là một nước nhỏ hơn và uy thế trên trường quốc tế thua xa Trung Quốc.

Một sự thật phũ phàn là ngay cả trên bình diện công pháp quốc tế, kẻ có sức mạnh có nhiều quyền quyết định và ảnh hưởng hơn kẻ yếu. Câu nói trong thơ ngụ ngôn của Lafontaine: “la raison du plus fort est toujours la meilleure” (Cái lý của kẻ mạnh luôn luôn thắng) rất đáng lưu ý.

III. Kết Luận-Khả năng lấy lại:

Mặc dầu những nguyên tắc pháp lý và những sự kiện liên hệ đem lại cho chúng ta nhiều lợi điểm, tuy nhiên chúng ta vô cùng bất lợi vì những điểm sau đây:

1. Những người phân xử dù là những con người biết phải chăng, họ cũng chỉ là những con người bằng xương bằng thịt. Họ phải dung hòa quyền lợi và thậm chí còn phải nương theo kẻ mạnh để phân xử. Thêm vào đó, mặc dù những từ ngữ như South China Sea không có nghĩa là “cả vùng biển đó là của Trung Quốc”. Cũng như Japan Sea không có nghĩa là của Nhật Bổn, hoặc English Channel không có nghĩa là của Anh Quốc. Tuy nhiên dùng danh từ như thế có ảnh hưởng tâm lý trên con người.

2. Sự bất hạnh của dân tộc ta là CSVN từ thủa xa xưa đã quá sùng bái CSTQ như là một bật thầy, đã vay nợ TQ quá nhiều và bây giờ đang nương tựa TQ để bám víu độc quyền chính trị. Trong quá khứ họ đã nhân nhượng, và những chỉ dẫn bây giờ cho thấy họ chấp nhận mất chủ quyền trên lãnh thổ tổ tiên miễn là giữ được độc quyền chính trị.
Phong thái như thế của CSVN sẽ đem lại nhiều bất lợi pháp lý cho dân tộc, khi hai bên tranh tụng.
3. Có thể nói rằng những phản ứng của CSVN, trên phương diện pháp lý, đã đặt tổ quốc Việt Nam vào vị trí nhục nhã tương tự với một phụ nữ bị cưỡng dâm, mà không bày tỏ sự kháng cự nào. Trong trường hợp của CSVN vào thời Phạm Văn Ðồng (1958) còn bày tỏ sự đồng thuận nữa. Qua các hiệp ước sau đó về lãnh thổ và lãnh hải, lại nhường thêm đất đai và vùng biển, cũng như hợp tác thêm trên các vùng biển TQ chiếm được của dân tộc Việt Nam. Có khác nào một phụ nữ đã bị hiếp dâm, không phản kháng rồi sau đó lại hợp tác sống chung với kẻ đã cưỡng bức mình. Một nạn nhân như thế làm sao có thể yêu cầu tòa án, gồm những người “biết phải chăng” như trên, can thiệp để trả lại công lý và danh dự cho mình được?

Ðất nước và dân tộc Việt Nam tuyệt đối không có trách nhiệm trả lại món nợ lớn lao CSVN vay mượn từ CSTQ, nhất là bằng danh dự và sự vẹn toàn lãnh thổ của tổ quốc VIỆT NAM. Nếu có phải trả thì CSVN phải tự mình trả lấy.

Dĩ nhiên hàng ngũ lãnh đạo hiện nay trong đảng rất am tường một chân lý bất di bất dịch của lịch sử. Ðó là một tập đoàn cắt đất, cắt biển để đem dâng cho ngoại bang sẽ không còn chỗ đứng tương lai trong lòng dân tộc. Tuy nhiên các lãnh tụ này sẵn sàn hủy diệt tương lai của các thế hệ trẻ của chính đảng CSVN, miễn là trong thời gian ngắn hạn trước mắt, họ có thể bám víu quyền lực và đục khoét quyền lợi cho cá nhân mà thôi. Tương lai của đảng không phải là ưu tiên của họ.

Thêm vào đó TQ có đủ sức mạnh quân sự để uy hiếp và đủ sức mạnh tài chính để mua chuộc cả đồng minh lẫn đối thủ. Chính vì thế khả năng lấy lại của dân tộc VIỆT NAM rất cam go. TQ có dư tiền mua nguyên cả Bộ Chính Trị hoặc Trung Ương Ðảng Bộ CSVN dễ dàng.

Việt Nam cần phải lập tức tách rời TQ, xích lại gần với Hoa Kỳ và các nước Tây Phương. Xây dựng lại quân đội (nhất là Hải Quân và Không Quân) trang bị bằng vũ khí hiện đại nhất của Hoa Kỳ Vì vũ khí của Hoa Kỳ phẩm chất cao hơn của Nga Sô hoặc Trung Quốc), xây dựng một chủ thuyết quân sự mới với mục tiêu rõ rệt là chống lại ngoại thù phương Bắc. Vì có biên giới chung với kẻ thù nguy hiểm như thế, chúng ta phải suy nghĩ đến sự kiện V IỆT NAM sở hữu hàng không mẫu hạm và võ khí nguyên tử. Chỉ có một nước VIỆT NAM hùng mạnh về kinh tế, uy lực về quân sự và có nhiều đồng minh tây phương như thế, TQ mới không còn ý định xâm lấn bờ cõi VIỆT NAM.

_____

1. Đây nguyên thủy là Bài thuyết trình cuả LS Đào Tăng Dực trong buổi Hội luận Paltalk ngày 22 tháng 12 năm 2007 tại diễn đàn “MatTruongSaHoangSaPhaiLamGi”

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Thấy gì quanh vụ báo VN nói TQ ‘cưỡng chiếm Hoàng Sa’?

Thấy gì quanh vụ báo VN nói TQ ‘cưỡng chiếm Hoàng Sa’?

huy đứcBản quyền hình ảnhOTHER
Image captionÔng Tâm Chánh tiết lộ báo Sài Gòn Tiếp Thị được lệnh phải ngưng đăng hai bài sau của ký sự “Biên giới tháng Hai” của tác giả Huy Đức

Hôm 17/1, làng báo Việt Nam ngạc nhiên trước việc báo Thanh Niên đăng bài “45 năm Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa của Việt Nam: Mưu đồ độc chiếm Biển Đông“.Bài viết của tác giả Khánh An mở đầu với câu: “Trung Quốc đã có hàng loạt hành động phi pháp để phục vụ mục tiêu độc chiếm Biển Đông kể từ khi ngang ngược chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.”

“Cách đây 45 năm, Trung Quốc đưa quân cưỡng chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam vào ngày 19/1/1974 sau khi đã chiếm cụm phía Đông hồi thập niên 1950,” bài báo viết.

Giọng điệu mạnh mẽ của bài viết nói trên có thể được xem là chỉ dấu của việc báo chí Việt Nam từ nay có thể nhắc tên “Trung Quốc” khi viết bài kỷ niệm 40 năm chiến tranh Biên giới Việt-Trung vào tháng tới, thay vì né tránh như mọi năm hay không?Ông Tâm Chánh, cựu tổng biên tập báo Sài Gòn Tiếp Thị, chia sẻ nhận định của mình với BBC hôm 17/1, qua cuộc phỏng vấn dưới đây:

Nhà báo từng chiến đấu ở Campuchia nói gì?

‘Phải nới rộng không gian quản lý báo chí’

Báo VN sửa lời phát ngôn Chủ tịch Quang

Báo Tuổi Trẻ trước ‘Đêm trước Đổi mới lần hai’

‘Ngày này năm 79 là ngày tôi lên biên giới’BBC: Dường như Ban Tuyên giáo năm nay có chỉ thị khác khi báo Thanh Niên đăng bài “45 năm Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa của Việt Nam…”? Ông ngạc nhiên hay thấy bình thường khi đọc bài này?Nhà báo Tâm Chánh: Thực ra theo chỗ tôi được biết, những nước cờ như vậy đã được nghe nói chuẩn bị từ rất sớm. Trong Đảng từ lâu cũng đã có ý kiến phạm vi áp dụng “4 tốt 16 chữ vàng” với đồng chí láng giềng, phân biệt rõ việc Đảng với việc nước.

Nhưng có lẽ những ý kiến có cả ở lãnh đạo cấp cao ấy chưa đủ sự ảnh hưởng, chưa đủ chiếm thế đa số nên lép vế trong Đảng. Chính trị Việt Nam luôn là một cuộc vận động để đạt đến quyền lực áp đặt quan điểm chính thống trong đảng và xã hội.

trung quốcBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionNgười dân Lạng Sơn, gồm phụ nữ, trẻ em chạy khỏi thị xã hôm 23/2/1979 sau khi quân Trung Quốc tấn công vào các tỉnh biên giới của Việt Nam

BBC:Trong 10 năm qua, ông đã thấy có những thay đổi gì về cách Ban Tuyên giáo chỉ thị báo chí khi viết về cuộc chiến với Trung Quốc, về ngày 17/2?

Nhà báo Tâm Chánh: Sự thay đổi căn bản thì… không có. Vẫn là một quy trình: Ban Tuyên giáo chủ trì cùng Bộ Thông tin và Truyền thông, lực lượng an ninh chuyên trách của Bộ Công an tổ chức một lực lượng cộng tác viên chuyên đọc báo, nhận xét về những nội dung xuất hiện trên báo chí.

Thường là cách thức tiếp cận và đánh giá cũ kỹ, không thuyết phục với giới báo chí nhưng họ phải chấp hành.

Thông tin đối ngoại là một lĩnh vực hầu như được chỉ đạo sát sao, tới mức phải đăng ở vị trí nào, độ lớn của bài vở…

Nhưng cũng có một chuyển biến thực sự đáng kinh ngạc là hầu như Ban Tuyên giáo không thể thực hiện quy trình như vậy với báo chí.

Mạng xã hội đã hình thành một môi trường thông tin mới mẻ, nhanh chóng, đa dạng và tự do hơn hệ thống báo chí hiện thời nhiều lần, mà người dân lại được tiếp cận hầu như miễn phí.

Nhiều trang cá nhân trên mạng xã hội có sự tín nhiệm cao của cộng đồng, bởi không bị kiểm điểm xử lý, lại có những tiếp cận, tác nghiệp độc đáo. Ngày càng có nhiều các chuyên gia uy tín, những nhân vật có ảnh hưởng “chơi” mạng xã hội cung cấp những thông tin sâu sắc, nóng bỏng, đa diện tạo thành những điểm tựa suy nghĩ cho người đọc trong thời buổi đa dạng thông tin hiện nay.

BBC: Được biết ông viết trên trang cá nhân: “Nhiều năm qua, chúng tôi chưa từng được giải thích về mệnh lệnh không cho báo chí đăng tin về cuộc chiến biên giới”. Vậy theo ông, ai sẽ giải thích và sẽ giải thích thế nào?

Nhà báo Tâm Chánh: Tôi rất mong các nhà báo đang là đại biểu Quốc hội chất vấn bộ trưởng Thông tin và Truyền thông, các ủy viên Trung ương Đảng là nhà báo có thể chất vấn lãnh đạo Đảng về nội dung này. Và đại hội Đảng sắp tới ở các cấp phải chất vấn Ban Tuyên giáo về cũng cách lãnh đạo báo chí và đặc biệt là về việc thực hiện thỏa thuận cấp cao liên quan đến thông tin, tuyên truyền về cuộc chiến tranh với Trung Quốc năm 1979, cũng như các xung đột, và chạm với người hàng xóm phía Bắc này.

Tôi nghĩ ở cấp cao, Ban Đối ngoại Trung ương, Ban Tuyên giáo và cao nhất là tổng bí thư phải có trách nhiệm trả lời những chất vấn này.

trung quốcBản quyền hình ảnhMARK RALSTON/AFP/GETTY IMAGES
Image captionNghĩa trang liệt sĩ Trung Quốc ở Malipo. Các nguồn của Trung Quốc được AFP trích dẫn nói ít nhất 26.000 quân Trung Quốc bị giết sau bốn tuần giao tranh ở Việt Nam

BBC: Giả sử 10 năm trước, khi còn là tổng biên tập báo Sài Gòn Tiếp Thị, ông cương quyết đăng trọn ba kỳ của ký sự “Biên giới tháng Hai” do tác giả Huy Đức viết thì hệ lụy gì sẽ xảy ra?

Nhà báo Tâm Chánh: Đương nhiên là tôi sẽ bị phế chức. Tờ báo có thể bị đóng cửa ngay lập tức. Vì trong thực tế, báo chí trong nước đang được điều hành chủ yếu bới các qui định của Đảng.

Các đảng viên hoạt động báo chi phải tuân thủ quy định về thông tin nhạy cảm, hay được gọi nôm na bằng số của văn bản này là Quy định 157 của Ban Bí thư. Đây là bùa “phế võ công” các tổng biên tập có hiệu lực lập tức và hầu như có thể vận dụng trong hầu hết các trường hợp được coi là “nhạy cảm”. Thông tin về Trung Quốc được coi là món nhạy cảm trong nhiều năm vừa qua.

BBC:Khi đặt ra những câu hỏi trên trang cá nhân: “Ai đục bia mộ liệt sĩ chống Trung Quốc theo khẩu vị chính trị của lãnh đạo? Ai đã để diễn ra tình cảnh hoang tàn, lạnh lẽo ở các nghĩa trang liệt sĩ dọc tuyến biên giới phía Bắc?”, ông có kỳ vọng được trả lời?

Nhà báo Tâm Chánh: Chính trị Việt Nam chuyển động theo cách như tôi nói ở trên luôn cần đến công luận như một áp lực.

Dư luận xã hội được hình thành và tìm đến được nghị trình chính trị có thể tạo được thay đổi phải đi qua cánh cửa công khai. Tôi không nghĩ những người lãnh đạo hiện thời sẽ trả lời không nể mặt mũi tiền bối là những lãnh đạo cấp cao chịu trách nhiệm về các chỉ đạo hay chung hơn là chủ trương này.

Nhưng tôi hy vọng nhiều đảng viên sẽ hiểu, sử dụng đúng đắn quyền và trách nhiệm của mình. Cũng như vậy, người dân biết mình có quyền yêu cầu chứ không phải xin được cung cấp thông tin rằng một nội dung không phải là quy phạm pháp luật, chỉ là một biện pháp chính trị thỏa thuận giữa hai đảng cầm quyền có bắt buộc được nhân dân tuân thủ hay không.

Cuộc chiến 1979: Góc nhìn của Trung Quốc

2/1979: Chiến tranh ‘không phải là lựa chọn tốt nhất’

Đâu là nguyên nhân cuộc chiến Việt-Trung 1979?

Ý kiến về lễ kỷ niệm 50 năm Mậu Thân ‘rầm rộ’

‘Vụ án Xét lại chống Đảng’ lên báo Việt Nam

BBC: Vậy thì theo ông, đến bao giờ, báo chí Việt Nam không còn khái niệm “nhạy cảm” khi viết về các chủ đề liên quan đến Trung Quốc, lịch sử như thời gian qua?

Nhà báo Tâm Chánh: Tôi không thể biết được chính xác là lúc nào. Nhìn vào những vấn đề được coi là nhạy cảm thì một nền chính trị khỏe mạnh không thể yếu ớt như vậy.

Tôi nghĩ sự tham gia của người dân vào việc nước, việc xã hội càng nhiều, càng đông thì chắc chắn sẽ chữa được cái bệnh như cảm nhiệt này. Bởi sự tham gia đó một mặt buộc lãnh đạo quốc gia phải tôn trọng pháp luật, một mặt chủ quyền quốc gia được ủy quyền một cách thận trọng và chính xác hơn.

BBC:Ông có những dự báo gì về tình hình báo chí tại Việt Nam trong thời gian tới?

Nhà báo Tâm Chánh: Ở Việt Nam, dự báo được hiểu như kỳ vọng của người dự báo. Tôi hy vọng người dân biết dùng quyền tiếp cận thông tin của mình mà luật tiếp cận thông tin đã quy định để có nhiều hơn nữa những bài báo duy trì và lôi cuốn ngày một nhiều hơn sự tham gia chính trị của người dân. Tôi nghĩ đó cũng là đất sống cho một nền báo chí chuyên nghiệp.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Vệ tinh Micro Dragon của Việt Nam đã được phóng vào quỹ đạo

Vệ tinh Micro Dragon của Việt Nam đã được phóng vào quỹ đạo

VIỆT NAM

URL rút ngắn
 0  0  0

Theo phóng viên TTXVN tại Nhật Bản, vào 9 giờ 50 ngày 18/1 (giờ Nhật Bản, tức 7 giờ 50 theo giờ Việt Nam), Cơ quan Nghiên cứu và Phát triển hàng không Vũ trụ Nhật Bản (JAXA) đã phóng vệ tinh Micro Dragon của Việt Nam vào quỹ đạo.

Vụ phóng vệ tinh được tiến hành tại Trung tâm vũ trụ Uchinoura, cách Tokyo hơn 1.000km. Tên lửa Epsilon đã đưa 7 vệ tinh, trong đó có 6 vệ tinh của Nhật Bản và vệ tinh Micro Dragon của Việt Nam vào quỹ đạo.

Trước đó, vụ phóng vệ tinh này được dự kiến tiến hành vào sáng 17/1 song đã bị lùi lại 1 ngày do điều kiện thời tiết nhiều mây mù, không thuận lợi cho hoạt động phóng vệ tinh.

Dự kiến sau khoảng 1 giờ, vệ tinh Micro Dragon sẽ tách khỏi tên lửa đẩy và sau đó 1-2 ngày sẽ có thể thu nhận những tín hiệu đầu tiên từ vệ tinh. Theo kế hoạch, sau thời gian hoạt động thử nghiệm từ 1-3 tháng trên vũ trụ, vệ tinh Micro Dragon sẽ vận hành ổn định.

Vệ tinh Micro Dragon trong quá trình lắp đặt và thử nghiệm
Vệ tinh Micro Dragon trong quá trình lắp đặt và thử nghiệm

Sáng nay, vệ tinh do kỹ sư Việt thiết kế sẽ bay vào vũ trụ

Vệ tinh Micro Dragon là sản phẩm được Việt Nam thực hiện trong khuôn khổ Dự án Trung tâm Vũ trụ Việt Nam, hợp phần đào tạo vệ tinh cơ bản thực hiện nhiệm vụ “Đào tạo 36 thạc sỹ công nghệ vũ trụ và thực hành chế tạo thử nghiệm 1 vệ tinh Micro (khối lượng khoảng 50 kg) tại một số trường đại học của Nhật Bản.”

Micro Dragon được phát triển bởi 36 học viên, là cán bộ nghiên cứu của Trung tâm Vũ trụ Việt Nam thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, theo học tại 5 trường đại học hàng đầu Nhật Bản gồm Đại học Tokyo, Đại học Keio, Đại học Hokkaido, Đại học Tohoku và Học viện Công nghệ Kyushu với sự đào tạo và hướng dẫn của các giáo sư, chuyên gia từ năm 2013 — 2017.

Vệ tinh Micro Dragon sử dụng hệ hai máy ảnh đa phổ với bộ lọc tinh thể lỏng có thể điều chỉnh (LCTF), có thể chụp được ở 12 dải phổ (từ 412 nm đến 1020 nm), ảnh độ phân giải mặt đất tốt nhất là 78 m, kích thước ảnh khoảng 36×48 km khi vệ tinh hoạt động ở quỹ đạo 500 km.

Ảnh vệ tinh Micro Dragon là cơ sở để trao đổi dữ liệu vệ tinh với cộng đồng Micro trên thế giới nhằm tăng cường khả năng đáp ứng nhanh trong các hoạt động phòng chống thiên tai và biến đổi khí hậu.

Ngoài ra, ảnh vệ tinh Micro Dragon có thể dùng để phối hợp dữ liệu với các dữ liệu viễn thám sẵn có để tìm kiếm các ứng dụng mới, tăng cường chất lượng của ứng dụng cũ nhằm xác nhận khả năng ứng dụng của dòng vệ tinh Micro.

Nhiệm vụ của vệ tinh Micro Dragon là quan sát vùng biển ven bờ nhằm đánh giá chất lượng nước, định vị nguồn thủy sản, theo dõi sự thay đổi các hiện tượng xảy ra ở vùng biển ven bờ để phục vụ cho ngành nuôi trồng thủy sản Việt Nam.

Trước đó, các kỹ sư của Trung tâm Vũ trụ Việt Nam đã chế tạo thành công vệ tinh siêu nhỏ Pico Dragon (khối lượng 1kg). Vệ tinh này được phóng lên quỹ đạo vào tháng 11/2013 và vận hành đạt mục tiêu đề ra. Hiện tại, Việt Nam đang phát triển vệ tinh Nano Dragon nặng 10kg.

Theo kế hoạch, sau Micro Dragon, Việt Nam sẽ sản xuất vệ tinh Lotusat-1 và Lotusat-2 với công nghệ radar hiện đại, mỗi vệ tinh nặng 600kg, có thời gian hoạt động 5 năm trong quỹ đạo./.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Tại Hoàng Sa, Bắc Kinh từ năm 2005

URL rút ngắn
 0  0  0

Trung Quốc đã có hàng loạt hành động phi pháp để phục vụ mục tiêu độc chiếm Biển Đông kể từ khi ngang ngược chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, theo thanhnien.

Cách đây 45 năm, Trung Quốc đưa quân cưỡng chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam vào ngày 19.1.1974 sau khi đã chiếm cụm phía đông hồi thập niên 1950.

Từ đó đến nay, nước này liên tục ngang ngược tiến hành hàng loạt biện pháp nhằm củng cố hiện diện dân sự lẫn quân sự phi pháp tại Hoàng Sa, nhất là trong những năm gần đây, bất chấp sự phản đối quyết liệt của Việt Nam và làn sóng lên án từ cộng đồng quốc tế.

Ngoài mục tiêu áp đặt tuyên bố chủ quyền phi pháp tại Hoàng Sa, những hành động này còn nhằm tạo cơ sở bàn đạp để tiếp tục bành trướng ra toàn bộ Biển Đông.

T phát trin trái phép

Tại Hoàng Sa, Bắc Kinh từ năm 2005 đã tiến hành xây dựng bia chủ quyền phi pháp tại một số điểm trên quần đảo này. Đến năm 2007, Quốc vụ viện Trung Quốc ngang ngược phê chuẩn thành lập cái gọi là “TP.Tam Sa” thuộc tỉnh Hải Nam để đơn phương áp đặt quản lý quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Từ cuối tháng 5.2010, Trung Quốc đưa tàu khảo sát M/V Western Spirit cùng nhiều tàu bảo vệ tiến hành khảo sát địa chấn tại khu vực đảo Tri Tôn và tại các lô dầu khí 141, 142 và 143 trên thềm lục địa Việt Nam, cách đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi khoảng 90 — 116 hải lý. Nước này còn tiến hành san lấp, mở rộng đảo Tri Tôn để xây dựng công trình phi pháp.

Song song đó, các hoạt động quân sự được tăng cường từ tháng 2.2011 khi Hạm đội Nam Hải diễn tập phòng ngự tại Hoàng Sa, theo Đài phát thanh quốc tế Trung Quốc (CRI). Cũng trong năm này, Cục Hải dương nhà nước Trung Quốc công bố “Báo cáo phát triển hải dương Trung Quốc năm 2011”, trong đó đơn phương tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với Biển Đông và 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam, in một số bản đồ có vẽ “đường lưỡi bò” chiếm đến 80% diện tích Biển Đông, đồng thời nêu kế hoạch triển khai tự thăm dò, khai thác dầu khí ở khu vực quần đảo Trường Sa và mở tuyến du lịch ra quần đảo Hoàng Sa.

Sự ngang ngược của Bắc Kinh lại lấn thêm một bước lớn vào năm 2012 khi giới chức tỉnh Hải Nam thông báo kế hoạch tăng tốc xây dựng cơ sở hạ tầng cái gọi là “TP.Tam Sa” tại đảo Phú Lâm. Đến tháng 12.2012, Trung Quốc thông báo xây các trạm giám sát biển và khởi công dự án mở rộng 2 con đường ở đảo Phú Lâm để kết nối với bến tàu, các đơn vị dân sự và quân sự đồn trú trái phép tại đây. Song song đó, biên đội tàu hộ vệ của Trung Quốc tiến hành huấn luyện bắn đạn thật ở vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa và Tổng công ty dầu khí hải dương Trung Quốc (CNOOC) ngang nhiên mời thầu dầu khí 19 lô ở khu vực phía bắc Biển Đông, trong đó có lô 65/24 cách đảo Cây thuộc Hoàng Sa khoảng 1 hải lý.

Cũng trong năm 2012, tàu du lịch Coconut Princess của Công ty cổ phần vận tải biển Hải Hiệp Hải Nam bắt đầu thực hiện hành trình thử nghiệm tuyến du lịch đường biển từ Tam Á (Hải Nam) đến đảo Đá Bắc ở Hoàng Sa. Ngày 29.9.2012, giới chức Trung Quốc phác thảo kế hoạch phát triển cho 4 dự án cơ sở hạ tầng ở đảo Phú Lâm. Các dự án bao gồm tu sửa và xây mới 7 con đường với tổng chiều dài 5 km, xây dựng cơ sở tách muối để lọc nước biển có công suất 1.000 m3 mỗi ngày và hệ thống cấp thoát nước cùng bến tàu, mạng lưới vận tải trên đảo Phú Lâm.

Mới đây, vào tháng 7.2018, truyền thông Trung Quốc dẫn văn bản của Cục Hải dương và Ngư nghiệp Hải Nam ngang nhiên kêu gọi “mọi tổ chức hay cá nhân” đăng ký tham gia “phát triển du lịch và xây dựng” những đảo không người ở tại các khu vực mà nước này chiếm đóng phi pháp trên Biển Đông. Kế hoạch này bước đầu chủ yếu nhằm vào Hoàng Sa, nơi vẫn còn hàng trăm thực thể chưa có người ở. Rõ ràng, Trung Quốc đang tiến hành bước tiếp theo để thể hiện cái gọi là “chủ quyền” tại những địa điểm chiếm đóng phi pháp thông qua dân sự.

Trả lời Thanh Niên, PGS-TS Vũ Thanh Ca, nguyên Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế và khoa học công nghệ (Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam), nhận định: “Trung Quốc biết rõ rằng chỉ củng cố quân sự các đảo đá thì không bao giờ có thể hợp pháp hóa tuyên bố chủ quyền trái luật pháp quốc tế của họ. Vì vậy, họ đang tìm cách dân sự hóa các hoạt động của họ, trong đó có các hoạt động cho phép các cá nhân khai thác những đảo đá nêu trên”.

… Đến quân s hóa phi pháp

Bên cạnh các kế hoạch phát triển dân sự ngang ngược, Trung Quốc tiếp tục tiến hành tập trận và nhiều lần đưa tàu hải giám, trực thăng đến tuần tra phi pháp ở Biển Đông trước khi đưa giàn khoan Hải Dương 981 đến Hoàng Sa. Vụ việc bắt đầu từ ngày 1.5.2014 và kéo dài suốt 2 tháng rưỡi khiến tình hình khu vực vô cùng căng thẳng. Trung Quốc thậm chí huy động hơn 120 tàu thuyền ngang ngược đâm va tàu của Việt Nam đến khẳng định chủ quyền và kêu gọi Bắc Kinh dừng các hành động phi pháp xâm phạm lãnh hải.

Cũng trong thời gian này, Trung Quốc gấp rút tiến hành kế hoạch xây dựng phi pháp ở Hoàng Sa, bao gồm hải đăng trên đảo Đá Bắc, Đá Hải Sâm, Cồn cát Nam, Duy Mộng và Hòn Tháp. Đến tháng 10, đường băng quân sự dài 2 km trên đảo Phú Lâm được xây dựng hoàn tất.

Đường băng cùng các cơ sở hạ tầng tiếp tục được cải tạo và đến tháng 2.2016, ảnh chụp từ vệ tinh của trung tâm ImageSat (ISI) cho thấy Trung Quốc đã triển khai trái phép 2 hệ thống tên lửa đất đối không với 8 giàn phóng và một radar tại đảo Phú Lâm. Đài Fox News dẫn lời một quan chức Mỹ cho rằng đây là hệ thống tên lửa phòng không HQ-9, tương tự loại S-300 của Nga với tầm bắn lên đến 201 km, có thể là mối đe dọa cho bất cứ máy bay quân sự hoặc dân sự nào bay gần đó. Chưa hết, Bắc Kinh còn triển khai gần 10 máy bay chiến đấu gồm tiêm kích J-11 và máy bay chiến đấu ném bom JH-7 cùng máy bay không người lái trinh sát tầm xa Harbin BZK-005 đến đảo này.

Theo Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS, Mỹ), đến năm 2017, Trung Quốc đã nâng cấp hàng loạt cơ sở quân sự phi pháp trên 8 đảo ở Hoàng Sa gồm đảo Cây, Phú Lâm, Lin Côn, Tri Tôn, Quang Ảnh, Quang Hòa, Hoàng Sa và Duy Mộng. Hình ảnh vệ tinh cho thấy 3 trong số 8 đảo (đảo Cây, Phú Lâm và Quang Hòa) hiện có những cảng có thể tiếp nhận một số lượng lớn các tàu dân sự và hải quân. Năm đảo có sân bay trực thăng, đảo Quang Hòa có một căn cứ trực thăng và đảo Phú Lâm có đường băng, nhà chứa máy bay và các dàn tên lửa đất đối không HQ-9.

Trong năm 2018, Trung Quốc tiếp tục tiến hành nhiều cuộc tập trận tại Hoàng Sa, bao gồm diễn tập của oanh tạc cơ H-6K và tập trận bắn đạn thật vào tháng 5. Tờ PLA Daily còn ngang nhiên đưa tin một số tàu hải cảnh và tàu hải quân nước này lần đầu tiên tuần tra chung tại vùng biển xung quanh Hoàng Sa.

Mới đây vào tháng 11, chương trình Sáng kiến minh bạch hàng hải châu Á (AMTI) chia sẻ hình ảnh chụp từ vệ tinh cho thấy Trung Quốc tiếp tục hành vi phi pháp ở Biển Đông khi xây dựng cấu trúc trái phép nghi phục vụ mục đích quân sự, được giấu dưới mái che radar trên Đá Bông Bay tại Hoàng Sa.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Bỏ đảng vì e tội “cõng rắn”!

Bỏ đảng vì e tội “cõng rắn”!

26/07/2017
Hà Sĩ Phu

Mao Trạch Đông – Hồ Chí Minh – Chu Ân Lai. Ảnh: internet
Một cụ già 92 tuổi từ Hà Nội vào Đà Lạt du lịch, tìm đến thăm tôi. Ông cụ 92 tuổi này là đảng viên (có lẽ cũng từ tiền khởi nghĩa) nói đã tự ý bỏ đảng (không tuyên bố) từ lâu, từ lúc ông cụ giật mình nhận ra mình đang ở trong đảng của một “thần tượng” cứu nước mà vô tình hóa ra… Cõng rắn cắn gà nhà”, hoặc ít ra cũng là “rước rắn vào nhà”,thì không có lý do gì một người VN yêu nước biết trọng danh dự lại còn ở trong đảng của ông ấy nữa! (Chứng tỏ từ lâu đã có những đảng viên nhận thức được như vậy).
Lời tâm sự mộc mạc của ông cụ tuy không phải điều phát hiện gì mới mẻ, vì nhiều người đã biết, nhưng gợi cho tôi nhiều suy nghĩ. Tôi thường được nghe một số đảng viên bỏ đảng vì thấy đảng bây giờ thoái hóa không còn trung thành với HCM, chứ bỏ đảng vì nghi ngờ tác dụng cứu nước của chính ngọn cờ HCM thì quả thực còn hiếm.
Nghĩ kỹ mà xem, người đảng viên già này có lý.
Trước hết phải hệ thống lại quá trình cố thủ của CSVN trước cơn bão táp sụp đổ của CS toàn thế giới và làn sóng dân chủ hóa đất nước.
– Đầu tiên, thấy Mác-Lê đã bị thế giới bóc trần tính ảo tưởng, phi lý, phi dân chủ và phản tiến hóa, đảng ta giảm nhẹ dần Mác-Lê để rút về với “Bác Hồ”. Nhân vật vĩ đại ắt phải có tư tưởng vĩ đại, nhưng cái pháo đài “tư tưởng HCM” không vững vì chính HCM đã nói “Tôi chẳng có tư tưởng gì ngoài tư tưởng chủ nghĩa Mác-Lê, các vị Stalin, Mao Trạch Đông đã viết hết cả rồi”, và thực tế tất cả giáo lý của HCM không có gì ngoài những quan điểm Chuyên chính Vô sản đã được “Khổng- Mạnh hóa và Nông dân hóa” (dễ hiểu thôi, vì Nho giáo và Nông dân chính là mảnh đất lý tưởng để gieo rắc chủ nghĩa Mác-Lê).
– Sau đó chống chế rằng HCM có tư tưởng chứ, đó là “Kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa xã hội”, nhưng rồi cái đuôi “chủ nghĩa xã hội” cũng chẳng vững chắc gì, bèn tô đậm thêm cho HCM chẳng những ưu việt về tư tưởng mà cả về “đạo đức, phong cách”, nhưng “đạo đức và phong cách” của HCM cũng không ít chuyện rắc rối.
– Chừng ấy thành trì đều lung lay, nên những đảng viên thức thời nhất đã bỏ phắt cái đuôi Mác-Lê để cứu HCM và cũng để cứu mình khỏi chết chùm với con tàu CS thế giới, nên lập luận “HCM chỉ là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không phải người Cộng sản, chỉ dùng CS làm phương tiện!!!. Đã rút về một HCM lại thu gọn về một “chủ nghĩa yêu nước”, bỏ tuốt tuột những yếu tố cộng sản, tư tưởng, với đạo đức vẫn thường gây rắc rối, thì sự cố thủ trong lô-cốt ấy tưởng vững như bàn thạch, vì cụ Hồ giương cao cờ đánh giặc cứu nước, giành độc lập cho dân tộc thì ai còn cãi được?
Nhưng không, ác hại là bọn giặc Tàu xâm lược không để cho cái lô-cốt ấy được yên. Chúng phải khai triển cái chương trình bành trướng đã hoạch định từ lúc ông Hồ còn sống, chúng cứ lấn từng bước, ngoạm từng mảng như tằm ăn dâu, miếng ngoạm nào cũng nhân danh “tình hữu nghị mà bác Hồ và bác Mao đã dày công xây đắp, đó là tài sản vô giá của hai dân tộc”! Thế là câu chuyện “cõng rắn” ngày càng vỡ lở.
(Nói rõ thêm: Thế là những gì trong trang sử quá khứ phải được lật ra xem lại. Là người Việt Nam đích thực không ai có thể quên một nghìn năm Bắc thuộc do kẻ thù phương Bắc gây ra, các chế độ của Trung quốc có thể thay đổi nhưng dã tâm ấy thì xuyên suốt không hề phai nhạt. Vậy thì một người Việt Nam yêu nước có thể quên điều ấy hay không? Nếu còn nhớ mối nguy truyền kiếp là Tàu thì sao lại lập một chương trình cứu nước xuất phát từ Tàu, lấy căn cứ địa là Tàu, đi lính cho Tàu, lấy vợ Tàu, nhận viện trợ toàn diện của Tàu, nhận cố vấn Tàu, ốm đau chỉ sang Tàu chữa bệnh, khi ngồi với các lãnh tụ Tàu thì bộc lộ sự vui sướng hơn ngồi với những người ruột thịt…?.
Tóm lại một câu: Dù với động cơ muốn cứu nước chăng nữa nhưng những chuỗi ứng xử như thế dứt khoát mở đường cho Trung Cộng xâm nhập vào Việt Nam, trải thảm đỏ cho con chó sói đàng hoàng đặt cả 4 chân vào căn nhà Việt Nam. Gọi thế là “cõng rắn cắn gà nhà” hay “rước voi giày mả tổ” chắc không có gì quá đáng. Những Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc ngày xưa mang danh phản quốc cũng chưa thực hiện được một phần trăm công việc giúp Tàu xâm nhập Việt Nam đến thế. Mục đích tốt nhưng cách đi sai lầm nên gây hiệu quả ngược. Kích thích dã tâm bành trướng của Trung Cộng còn vô tình làm ảnh hưởng xấu đến tình hữu nghị của nhân dân hai nước nữa.)
Có thể giải thích rằng HCM đã bị cái ảo tưởng “thế giới đại đồng” của CS che mắt nên không nhìn ra kẻ thù, tưởng rằng Tàu CS là anh em trong gia đình XHCN thì khác hẳn Tàu phong kiến. Nếu thế thì ý thức CS đã chiếm lĩnh cả tâm hồn HCM, khiến HCM quên cả chiến lược giữ nước của tổ tiên trước kẻ thù phương Bắc, sao lại bảo HCM chỉ yêu nước chứ thực sự không phải người CS? Và dù bị ý thức CS che mắt nên mới mắc sai lầm thì hậu quả tai hại sẽ mất nước trước hết vẫn đặt lên vai người dẫn đường, sau đó là do “tầm” của cả dân tộc nói chung, không phải riêng một người hay một số người, đến khi nhận ra thì cái giá phải trả quá lớn.
Có thể bảo đó là sự hạn chế của lịch sử chăng? Sự cố lịch sử nào cũng do con người tiến hành, đều là sự hội tụ của những yếu tố chủ quan và khách quan, nhưng muốn chủ quan là yếu tố năng động có thể hành động tốt hơn thì phải tìm ra ưu điểm-khuyết điểm chủ quan, tìm đúng nguyên nhân thành công và thất bại để rút ra bài học cho những việc sắp tới.
Một hiện tượng thường gặp, trước một quá khứ đã được đánh giá là sai lầm, người ta thường chốt lại một câu “bây giờ biết thế là sai nhưng lúc ấy tôi chọn con đường ấy là đúng, là tất yếu, nếu lịch sử lặp lại tôi vẫn đi con đường đó, vì đó là điều kiện khách quan của Lịch sử, là sự hạn chế của Lịch sử”. Thằng Lịch sử luôn được lôi ra làm Lê Lai cứu chúa, nhưng xin hỏi: Lúc ấy đã xuất hiện nhiều con đường, đã có người khác, nơi khác chọn con đường khác và họ đã thành công kia mà? Sự chọn sai đường là do chủ quan mình có sai lầm về nhận thức hoặc tâm lý, là do trình độ. Đổ lỗi cho khách quan chẳng qua là để nhận sự sáng suốt về cho mình kiểu tự hào AQ. Tự cho mình là “sáng suốt” như vậy thì tất yếu sẽ tiếp tục đi từ “sáng suốt sai lầm” này đến những “sáng suốt sai lầm” khácmà thôi, sự hạn chế vẫn cứ do Lịch sử chứ không phải do trình độ. Dù là trình độ chung của dân tộc, hay một vài dân tộc, của dân trí, không phải của một cá nhân riêng lẻ, cũng phải tự phê phán mới mong thoát khỏi nạn lạc hậu triền miên của một đất nước được suy tôn là bậc “không chịu phát triển”!
Nay trở lại quá khứ để xem xét, với nhận thức toàn cầu hôm nay, rõ ràng việc chọn con đường Cộng sản để cứu nước và phát triển đất nước là sai lầm. Đi sai quy luật, phản khoa học nên xã hội không phát triển được đã đành, nhưng phải mượn sức mạnh của Liên xô, nhất là Trung quốc để cứu nước mới là sai lầm tai hại hơn, vì như Phan Châu Trinh đã nói mà Nguyễn Ái Quốc không chịu nghe lời: “Lực mình yếu mà muốn dùng bạo lực tất phải nhờ vả người khác, thế thì “thảng như cái phương pháp của ông Phan (Phan Bội Châu) mà thành công, thì quốc dân đồng bào vẫn nguyên là cái lưng con ngựa, chỉ thay người cỡi mà thôi”. (thư PCT gửi Nguyễn Ái Quấc)
Tàu muốn cưỡi lên lưng Việt Nam một lần nữa do tận dụng cơ hội VN đã thành đứa em nhỏ mắc nợ trong “đại gia đình CS” và do những ràng buộc của cá nhân HCM như trên đã nói. Kế hoạch bành trướng kiểu “tằm ăn dâu” của Trung Cộng cứ bám chặt vào “tình hữu nghị Việt-Trung quý báu mà bác Hồ và bác Mao đã dày công xây đắp”, đó là “tài sản quý báucủa nhân dân hai nước”. Cứ trương cái “tình hữu nghị, tài sản quý báu” giả tạo mà nuốt dần, nuốt hết tài sản thật của người ta. Tàu xưa nay vẫn thâm, Tàu Cộng Sản lại càng thâm hơn bao giờ hết. Dựa vào “Bác Hồ” để bàn kế Thoát Trung là trúng kế của địch, là mở cửa thành cho Bành trướng tiến vàoVì thế “muốn Thoát Trung phải Thoát Cộng, muốn Thoát Cộng phải Thoát Hồ”, triết lý cuối cùng của sự nghiệp Thoát Trung là như vậy, nhưng bước đi cụ thể thì không thể cứng nhắc mà phải từng bước phối hợp linh hoạt giữa 3 cuộc “Thoát” nói trên. Người đảng viên Cộng sản còn yêu nước cũng phải thoát khỏi “cái gông CS” mới cứu được nước, tất nhiên Thoát Cộng là thoát trong tư tưởng, trong ý thức (và điều này dễ dàng kiểm chứng) chứ không ở chỗ có tuyên bố Thoát Cộng hay không.
Phương pháp, cách đi cụ thể thì có nhiều, mỗi người có thể tận dụng thế mạnh của mình để góp phần xứng đáng, nhưng nhận thức thì phải hiểu tận cùng bản chất, không nên mơ hồ duy cảm hay tự biện hộ.
Trong cơn thoái trào Cộng Sản, để tự vệ người CS Việt Nam thường trút bỏ Mác-Lê trụ lại với HCM, trong HCM thì trút bỏ chất CS giữ lại chất yêu nước như nơi cố thủ cuối cùng. Nhưng câu chuyện nhỏ của người đảng viên già bỏ đảng khiến tôi thấy rõ nơi cố thủ cuối cùng đó chính là nơi dễ đổ nhất, yên tâm bám vào chút “hào quang le lói” đó khác nào bám vào sợi chỉ mành trước cơn giông bão của tri thức thời đại và nguy cơ Bắc thuộc mới.
Tôi không phải đảng viên Cộng sản, nhưng vẫn luôn được các đảng viên Cộng sản chia sẻ tâm sự, từ Nguyễn Hộ, Trần Độ…đến Nguyễn Hữu Đang, Hoàng Minh Chính, Lê Hồng Hà, Nguyễn Kiến Giang, Lê Hiếu Đằng…và vô số đảng viên đang sống hôm nay, trong đó có những đảng viên bỏ đảng như người đảng viên 92 tuổi vẫn lặn lội vào Đà Lạt thăm tôi như nói trên. Vì thế chuyện bỏ đảng hay ở lại trong đảng để đấu tranh tuy không phải việc của tôi, nhưng đã chung nhau một gánh nặng nước non thì cũng xin phép chia sẻ lại đôi lời bàn góp, nhân được sự thổ lộ chí tình của một đảng viên già bỏ đảng.
Hãy từ bỏ những điểm tựa sai lầm chỉ gây sự phân ly, để cùng nhau kết lại cứu nước khỏi tình trạng “quốc gia không chịu phát triển” và thảm họa Bắc thuộc mới mỗi lúc một tới gần!
http://baotiengdan.com/2017/07/26/bo-dang-vi-e-toi-cong-ran
http://www.boxitvn.net/bai/49607 ;
https://boxitvn.blogspot.fr/2017/07/bo-ang-vi-e-toi-cong-ran.html#more
http://danlambaovn.blogspot.com/2017/07/bo-ang-vi-e-toi-cong-ran.html
https://nhatnguyet2014.wordpress.com/2017/07/26/bo-dang-vi-e-toi-cong-ran/#more-50005
http://www.danchimviet.info/bo-dang-vi-e-toi-cong-ran/07/2017/5728

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Về việc kêu gọi EU ‘hoãn phê chuẩn EVFTA’ tới khi VN cải thiện nhân quyền 12 tháng 1 2019

Về việc kêu gọi EU ‘hoãn phê chuẩn EVFTA’ tới khi VN cải thiện nhân quyền

EUBản quyền hình ảnhGEORGES GOBET
Image captionBà Heidi Hautala, Phó Chủ tịch Nghị viện châu Âu (bìa trái) vừa có chuyến thăm Việt Nam tuần này

Có nhận định rằng chắn chắn Hiệp định thương mại tự do châu Âu-Việt Nam (EVFTA) sẽ được bỏ phiếu phê duyệt để đi đến ký kết, thông qua, dù có tổ chức quốc tế kêu gọi hoãn cho tới khi Việt Nam cải thiện nhân quyền.

“Tôi chắc chắn là EVFTA có nhiều khả năng sẽ được thông qua vì nó phục vụ lợi ích của cộng đồng doanh nghiệp châu Âu. Đấy là những cộng đồng vận động chính sách rất mạnh mẽ, họ rất có thế lực với cả Nghị viện và Hội đồng châu Âu,” nhà bất đồng chính kiến Nguyễn Quang A nói với BBC hôm 11/1.

Hội đồng châu Âu và Ủy ban châu Âu dự kiến sẽ có vòng bỏ phiếu then chốt đối với EVFTA vào tuần tới.

Trả lời BBC trong ngày 11/1 từ Berlin, nhà báo tự do Lê Mạnh Hùng nói:

“FTA và Hiệp định bảo hộ đầu tư IPA hiện là tâm điểm trong quan hệ hợp tác giữa EU và Việt Nam thời gian hiện nay, phục vụ lợi ích thiết thực của cả hai bên, chính vì vậy đều được cả hai bên nỗ lực để cùng đến đích.”

“Thực tế 14 vòng đàm phán căng thẳng trong quá khứ cũng đã minh chứng cho điều này. Không ai nên coi mối hợp tác này sẽ chỉ có lợi cho một bên và bên khác sẽ bị thiệt.”

Ông Hùng nhận định từ Đức, nước chủ chốt của EU:

“Nghị viện châu Âu đang xem xét và liệu việc phê chuẩn hai Hiệp định có kịp diễn ra vào đầu năm 2019 hay không.”

“Hiện chưa có câu trả lời chắc chắn, nhưng có một điều rõ ràng là ít nhất những tiếng nói từ chính giới Đức – quốc gia có tiếng nói quan trọng trong khối EU, nơi tôi đang sống – không thấy có những phản ứng tiêu cực rõ ràng chống lại việc phê chuẩn và lại càng không có chỉ dấu nào cho thấy một vấn đề lớn như vậy lại có thể bị ảnh hưởng trực tiếp, quyết định bởi việc Việt Nam có trao trả ông Trịnh Xuân Thanh lại cho Đức hay không.”

Nhiều đại sứ đọc tuyên ngôn nhân quyền ở Hà Nội

‘Không có sức ép quốc tế, tôi không đi dự EVFTA được’

Chính khách khắp nơi kêu gọi VN cải thiện nhân quyền

Quan chức Anh bị chỉ trích vì không lên án Luật ANM của VN

Tiến sỹ Nguyễn Quang A từng được cho xuất ngoại ngắn để dự phiên điều trần tại Nghị viện châu Âu hồi tháng 10/2018 liên quan việc phê chuẩn Hiệp định EVFTA.

“Chỉ có điều chưa rõ khi nào họ ký và cá nhân tôi cho rằng sau khi ký, việc phê chuẩn ít có khả năng xảy ra trước tháng 5/2019 – thời điểm Quốc hội châu Âu bầu ra một nghị viện mới. Thủ tục phê chuẩn của Quốc hội châu Âu có thể sẽ phải kéo ra thêm một đến hai năm nữa.”

“Một lý do duy nhất là vì Quốc hội châu Âu chỉ còn một phiên họp nữa thôi trước khi bầu một nghị viện mới, mà trong một thời gian ngắn thế họ không thể làm xong thủ tục phê chuẩn EVFTA.”

“Chúng ta chưa biết chính kiến của Quốc hội châu Âu mới sẽ như thế nào? Một Quốc hội châu Âu mới sẽ còn rất nhiều việc phải làm, việc thông qua EVFTA trong năm 2019 không phải là ưu tiên của họ.”

Ông Quang A cũng cho hay việc EVFTA không được ký vào tháng 10 năm ngoái và đến nay vẫn chưa ký là nằm trong đúng kế hoạch và lịch trình của Ủy ban châu Âu “chứ không phải bị cản trở gì cả.”

“Không có một kế hoạch nào là hai bên ký kết thông qua EVFTA vào tháng 10 năm ngoái. Quy trình là thế này: Lúc đó Ủy ban châu Âu hoàn tất thủ tục để chuẩn bị cho việc ký, sau đó họ phải trình hồ sơ này lên Hội đồng châu Âu. Rồi Hội đồng châu Âu bật đèn xanh cho việc ký kết thì Ủy ban châu Âu mới k‎ý EVFTA. Sau khi ký xong thì phải làm thủ tục trình Quốc hội châu Âu xem xét phê chuẩn.”

Cũng tại phiên điều trần 10/10/2018, Đại sứ Vũ Anh Quang tại Bỉ thừa nhận “nhân quyền của Việt Nam là không hoàn hảo” nhưng nước này, theo ông “không nằm trong danh sách các nước bị Hội đồng Nhân quyền LHQ đánh giá là thường xuyên vi phạm nhân quyền một cách trầm trọng và có hệ thống”.

Sau khi Tổng thống Mỹ, Donald Trump tỏ ra coi nhẹ vấn đề nhân quyền ở nước ngoài, giới vận động hy vọng EU sẽ đóng vai trò mạnh mẽ hơn để thúc đẩy tôn trọng quyền con người trên thế giới, gồm cả Việt Nam.

Hiện hai bên EU và Việt Nam đã có những tiếp xúc cao cấp.

Hôm 7/1, bà Heidi Hautala, Phó Chủ tịch Nghị viện châu Âu (EP) đã có mặt tại Hà Nội trong chuyến thăm Việt Nam và được Chủ tịch QH Nguyễn Thị Kim Ngân đón tiếp.

Báo Việt Nam trích lời bà Kim Ngân bày tỏ mong muốn Nghị viện châu Âu sớm phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do EU-Việt Nam (EVFTA).

Chủ tịch QH VN cũng “khẳng định Việt Nam luôn lắng nghe những ý kiến đóng góp của các nhà hoạch định chính sách kinh tế và doanh nghiệp châu Âu để Hiệp định được triển khai một cách hiệu quả nhất, đem lại lợi ích thiết thực cho cả hai bên”.

Hôm 08/1, bà Heidi Hautala có cuộc gặp với thủ tướng chính phủ Nguyễn Xuân Phúc.

‘Dùng EVFTA để cải thiện nhân quyền ở Việt Nam’

Việt Nam, EVFTA, châu ÂuBản quyền hình ảnhEUROPEAN PARLIAMENT
Image captionTiến sỹ Nguyễn Quang A cho BBC hay việc ông dự phiên điều trần là nhờ có áp lực ‘rất mãnh liệt’ của quốc tế

Trước câu hỏi có phải ông lạc quan cả về việc ký kết EVFTA và vấn đề cải thiện nhân quyền ở Việt Nam, Tiến sỹ Nguyễn Quang A nói với BBC ông chỉ phân tích khách quan khi đặt bản thân mình vào vị trí các chính trị gia châu Âu muốn đòi nhân quyền cho Việt Nam.

“Tình hình nhân quyền của Việt Nam đúng là xấu đi. Đây là một sự thật không ai có thể bác bỏ được. Tuy nhiên đây là một hiệp định thương mại tự do, không phải là một hiệp định về nhân quyền. Và trọng lượng của các vấn đề kinh tế, địa chính trị có thể lấn át vấn đề nhân quyền.”

“Mặt khác, về dài hạn, khi thông qua được hiệp định này thì nó cũng có tác động lâu dài đến cải thiện vấn đề nhân quyền ở Việt Nam.”

“Bởi vì nếu có hiệp định này, thực sự châu Âu sẽ có một cây gậy lớn để đòi cải thiện vấn đề nhân quyền ở Việt Nam. Trước khi họ cũng có một công cụ, một ‘cây gậy’, là đối thoại nhân quyền hàng năm. Tuy rất quan trọng, chúng ta biết là nó không thể bằng một hiệp định thương mại tự do.”

“Nếu tình hình nhân quyền không được cải thiện hoặc xấu đi, thì châu Âu có thể đe dọa, thực hiện một chế tài nhất định. Và tôi nghĩ đấy là công cụ mạnh mẽ mà châu Âu không muốn bỏ qua. Và tôi nghĩ những người tính toán dài hạn sẽ không bỏ qua công cụ đó.”

“Giả như tôi là các chính trị gia của châu Âu mà tôi thực sự muốn đòi nhân quyền cho Việt Nam thì tôi sẽ hành xử như thế. Chúng ta nên lưu ý đây là hiệp định thương mại, phục vụ cho mục đích của các doanh nghiệp là chính. Nhân quyền đúng là có quan trọng nhưng nó không là chủ đề chính của hiệp định này. Tôi hoàn toàn tán thành việc chúng ta đòi cải thiện nhân quyền. Nhưng đặt điều kiện phải cải thiện nhân quyền, sau đó mới có EVFTA thì tôi nghĩ có thể hơi chệch một chút về mặt tư duy chiến lược.”

Còn ông Lê Mạnh Hùng thì tin rằng nhân quyền chỉ là một phần của câu chuyện:

“EU không phải là một tổ chức từ thiện và việc hợp tác với họ đòi hỏi mỗi đối tác phải đáp ứng đủ những tiêu chuẩn cần thiết. Những trở ngại chính từ phía Việt Nam vẫn là những vấn đề cố hữu: nhân quyền và quyền người lao động.”

Tổ chức Nhân quyền kêu gọi hoãn ký EVFTA

Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW) vừa kêu gọi Hội đồng châu Âu hoãn phê duyệt EVFTA “cho đến khi chính phủ Việt Nam thực hiện các bước cụ thể để cải thiện hồ sơ nhân quyền”, HRW cho hay hôm 10/1.

Kêu gọi của HRW được đưa ra trong bối cảnh Luật An ninh mạng của Việt Nam có hiệu lực hồi 1/1/2019 và vòng bỏ phiếu then chốt cho việc ký kết EVFTA dự kiến diễn ra vào tuần tới.

“Do áp lực từ cộng đồng doanh nghiệp Châu Âu, một số đảng trong Nghị viện châu Âu hiện đang cố gắng để thỏa thuận thương mại EVFTA được thông qua, ngay cả khi Việt Nam liên tiếp bỏ qua các kêu gọi giải quyết hồ sơ nhân quyền.”

“Vội vã thông qua thỏa thuận thương mại tự do với Việt Nam sẽ là một sai lầm nghiêm trọng,” ông John Sifton, Giám đốc Vận động Chính sách châu Á được trích lời trong thông cáo báo chí của HRW.

Vào tháng 9/2018, 32 thành viên của Nghị viện châu Âu đã ký một bức thư ngỏ bày tỏ quan ngại về việc Việt Nam liên tục đàn áp về nhân quyền và kêu gọi nước này cải thiện tình hình trước bất kỳ cuộc bỏ phiếu nào về thỏa thuận EVFTA.

Những lo ngại tương tự đã được đặt ra với thứ trưởng thương mại Việt Nam hồi tháng 10/2018 tại phiên điều trần tại Nghị viện châu Âu, và một lần nữa trong một cuộc họp vào tháng 11.

Lá thư viết:

“Luật an ninh mạng mới của Việt Nam dường như nhằm mục đích đóng cửa con đường duy nhất còn lại để người Việt Nam bày tỏ sự bất đồng quan điểm của họ, tại một quốc gia nơi tất cả các phương tiện truyền thông thuộc sở hữu nhà nước hoặc do nhà nước kiểm soát và các hoạt động của các nhóm phi chính phủ bị hạn chế nghiêm trọng.”

“Nhiều blogger ôn hòa, các nhà phê bình, nhà hoạt động, và các nhà lãnh đạo tôn giáo đang ở trong tù liên quan đến tự do ngôn luận bị hình sự hóa quá mức. Những người lên tiếng công khai có nguy cơ bị đánh đập, bắt giữ, đe dọa và các lạm dụng khác.”

“Các công đoàn độc lập không được phép hoạt động và hàng loạt cam kết trước đây của Việt Nam để phê chuẩn một số công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) vẫn chưa được thực hiện.”

“Hội đồng châu Âu và Nghị viện châu Âu cần gửi một thông điệp rõ ràng rằng EVFTA không thể được thông qua cho đến khi chính phủ Việt Nam nghiêm túc trong việc giải quyết các vấn đề nhân quyền,” ông Keith Sifton được trích lời trong thông cáo của HRW.

“Việt Nam nên hiểu rằng nếu châu Âu trì hoãn thỏa thuận thì đó sẽ là lỗi của Hà Nội, chứ không phải Brussels.”

Tiếp cận mềm?

Có vẻ như các quan chức Phương Tây, nhất là châu Âu, thường chọn cách phát biểu, ra thông điệp gián tiếp về tình hình quyền con người tại Việt Nam.

Hôm 10/12/2018 là ngày Nhân quyền Quốc tế và cũng là 70 năm ngày thông qua Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế.
Image captionHôm 10/12/2018 là ngày Nhân quyền Quốc tế và cũng là 70 năm ngày thông qua Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế

Chẳng hạn, nhân ngày Nhân quyền Quốc tế hôm 10/12/2018, trong một động thái chưa từng có, 21 đại sứ và phó đại sứ nước ngoài tại Việt Nam đã đọc bản tuyên ngôn nhân quyền bằng ngôn ngữ nước họ, và đăng tải video này trên mạng xã hội.

Trên trang Facebook của mình, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Daniel J. Kritenbrinkkêu gọi việc cùng chia sẻ video được đưa lên cùng ngày “để cùng chúng tôi tôn vinh các quyền phổ quát, vĩnh cửu và không thể tách rời”.

Các đại sứ Anh, Pháp, Đan Mạch, Ba Lan… cũng tham gia đọc trong video này.

Hồi tháng 2/2018, một tổ chức nhân quyền ở CH Czech đã trao giải cho cây bút ủng hộ cho lý tưởng dân chủ và nhân quyền ở VN, bà Phạm Đoan Trang.

Giải thưởng Homo Homini được tổ chức độc lập của CH Czech trao hằng năm cho những cá nhân có đóng góp to lớn cho đấu tranh vì nhân quyền và dân chủ.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

TQ phát triển radar theo dõi khu vực rộng hơn 3 triệu km vuông Ngày đăng 10-01-2019

TQ phát triển radar theo dõi khu vực rộng hơn 3 triệu km vuông

Hệ thống radar này sẽ được đặt trên tàu để giám sát các vùng biển tiếp giáp với Trung Quốc.

Nguyên lý hoạt động của radar vượt đường chân trời (OTH). Ảnh: RAAF

Các nhà khoa học quân sự Trung Quốc đang phát triển hệ thống radar có kích thước nhỏ gọn, nhưng có khả năng giám sát khu vực rộng hơn 3,4 triệu km vuông cho nhóm tàu sân bay của hải quân. Hệ thống radar cho phép chiến hạm Trung Quốc phát hiện sớm hơn các mối đe dọa từ chiến hạm, máy bay chiến đấu và tên lửa của đối phương, theo các nhà khoa học tham gia chương trình phát triển radar vượt đường chân trời (OTH) của Trung Quốc, SCMP đưa tin ngày 9/12.

“Dựa vào các công nghệ truyền thống, hệ thống theo dõi và giám sát của chúng tôi chỉ quản lý khoảng 20% khu vực biển giáp Trung Quốc. Với hệ thống mới chúng tôi có thể theo dõi được toàn bộ khu vực”, theo giáo sư Liu Yongtan thuộc khoa kỹ thuật điện tử thông tin của Viện Kỹ thuật Cáp Nhĩ Tân. Liu phụ trách chương trình phát triển radar OTH và được Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trao giải thưởng cho nhà khoa học xuất sắc nhất đất nước hôm 8/1.

Hệ thống radar OTH của Trung Quốc sẽ được đặt trên một tàu biển, sóng radar được truyền lên tầng điện ly và phản xạ lại, vệ tinh hoặc máy bay tiếp sóng sẽ chuyển hướng sóng radar đến tàu sân bay. Các nhà khoa học Trung Quốc đang tìm giải pháp khắc phục khó khăn khi chế tạo trạm radar OTH nổi như điều chỉnh tần số radar, khử cực và định hướng để phù hợp với khoảng cách của mục tiêu và điều kiện tầng điện ly.

Trung Quốc không phải nước duy nhất phát triển công nghệ chế tạo radar OTH trên biển. Năm 2016, hãng Raytheon của Mỹ được cấp bằng sáng chế cho một hệ thống tương tự. Thiết kế của Raytheon bao gồm một tàu radar phát sóng và một số tàu tiếp nhận gắn ăng ten, có tầm phát hiện hơn 1.000 km và có thể giám sát diện tích hơn 1 triệu hải lý vuông, tương đương 3,4 triệu km vuông – xấp xỉ diện tích Ấn Độ.

Radar OTH mặt đất được Mỹ và Liên Xô phát triển trong Chiến tranh Lạnh, giúp quân đội hai nước giám sát hàng ngàn km lãnh thổ. Sóng radar được phát hướng lên tầng điện ly, tầng khí quyển này sẽ phản xạ sóng điện từ về mặt đất.

Hệ thống radar OTH đòi hỏi mức năng lượng khổng lồ, xây trên khu vực có diện tích rộng và địa hình bằng phẳng. Các trạm radar OTH dễ bị tấn công do phải bố trí cố định khiến nhiều lực lượng vũ trang chuyển sang sử dụng các hệ thống cảnh báo sớm trên không.

https://www.facebook.com/plugins/comments.php?app_id=&channel=https%3A%2F%2Fstaticxx.facebook.com%2Fconnect%2Fxd_arbiter%2Fr%2Fj-GHT1gpo6-.js%3Fversion%3D43%23cb%3Df35a7a7bac1cac%26domain%3Dbiendong.net%26origin%3Dhttp%253A%252F%252Fbiendong.net%252Ff25c702ba423398%26relation%3Dparent.parent&color_scheme=light&container_width=664&height=100&href=http%3A%2F%2Fbiendong.net%2Fdoc-bao-viet%2F25743-tq-phat-trien-radar-theo-doi-khu-vuc-rong-hon-3-trieu-km-vuong.html&locale=vi_VN&sdk=joey&skin=light

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

TQ đã thay đổi giọng điệu như thế nào khi nói về chế độ Pol Pot? Ngày đăng 09-01-2019 … Khmer Đỏ bắt đầu chuỗi thảm sát đẫm máu bằng một lời nói dối đối với toàn thể người dân Campuchia. Khmer Đỏ tấn công vào Phnom Penh ngày 17/4/1975. Ảnh: CNN Quan hệ Trung Quốc – Khmer Đỏ Mối liên hệ giữa Trung Quốc và Khmer Đỏ vẫn được coi là vấn đề nhạy cảm trong lịch sử Trung Quốc. Theo Nhân dân nhật báo, từ tháng 6 đến tháng 8/1975, trong khi Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã ba lần gặp gỡ Pol Pot và đề nghị không nên tiếp tục thi hành các chính sách đương thời bởi hệ lụy đáng tiếc về sau thì lãnh tụ Trung Quốc Mao Trạch Đông lại tán dương rằng, “Khmer Đỏ đã làm được nhưng điều mà Trung Quốc muốn nhưng không làm được”. Do đó, Pol Pot đã “tự hào” tuyên bố rằng, “các nhà cách mạng trên toàn thế giới đều có thể học hỏi được nhiều kinh nghiệm từ Campuchia”. Trang Phượng Hoàng (Hồng Kông) mô tả, vào ngày 21/6/1975, tại Trung Nam Hải, Mao Trạch Đông đã gặp gỡ đoàn đại biểu do Pol Pot dẫn đầu. “Trong cuộc gặp khoảng 1 giờ đồng hồ, Mao Trạch Đông đã trình bày rõ về vấn đề đấu tranh đường lối. Ông nói: “Chúng tôi tán thành với các anh! Kinh nghiệm của các anh nhiều kinh nghiệm hơn chúng tôi. Trung Quốc không có tư cách chỉ trích cách anh, trong 50 năm phạm 10 đường lối sai lầm, có vấn đề thuộc về tính toàn quốc, có vấn đề thuộc về cục bộ…”. Sau khi chế độ diệt chủng của Pol Pot bị đánh đổ, năm 1984, lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình nói: “Tôi không hiểu vì sao có người muốn loại bỏ Pol Pot? Đúng là ông ta có phạm một số sai lầm trong quá khứ nhưng ông ta đang lãnh đạo cuộc chiến chống Việt Nam…” Tuy nhiên, đến phiên tòa xét xử Khmer Đỏ diễn ra vào năm 2009, ông Jiang Yu – người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc bấy giờ đã lên tiếng bảo vệ mối quan hệ với chế độ Khmer Đỏ khi nói rằng đây là một phần của mối quan hệ ngoại giao thông thường của Bắc Kinh. “Từ trước tới nay, Trung Quốc có mối quan hệ hữu nghị và thông thường với chính phủ Campuchia, bao gồm đảng Campuchia dân chủ (tức Khmer Đỏ)”, ông Jiang Yu nói. Năm 2010 khi phiên tòa xét xử Khmer Đỏ thứ hai chuẩn bị diễn ra, Đại sứ Trung Quốc tại Campuchia Zhang Jinfeng phủ nhận việc Bắc Kinh giúp đỡ Khmer Đỏ thời kỳ trước đây. “Chính phủ Trung Quốc không bao giờ tham gia hay can thiệp vào chính trị của đảng Campuchia Dân chủ”, bà này bao biện, “Trung Quốc không ủng hộ các chính sách sai trái của chế độ này nhưng [Bắc Kinh] cố gắng cung cấp viện trợ lương thực và dụng cụ làm nông”. Cuộc thảm sát vô tiền khoáng hậu Những năm gần đây, trước sự lên án mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế đối với chế độ diệt chủng Pol Pot, truyền thông Trung Quốc đã bắt đầu có sự thay đổi khi đăng tải nhiều hơn những bài viết về tội ác tàn bạo của chế độ này. Báo đảng Trung Quốc Nhân dân nhật báo năm 2010 viết, vào ngày 17/4/1975, Khmer Đỏ lật đổ chính quyền Lon Nol, bắt đầu năm đầu tiên của chính quyền mới nhưng ngày này cũng trở thành ngày mà người dân Campuchia không thể nào quên. Lãnh đạo Khmer Đỏ Saloth Sar đổi tên thành Pol Pot, thực hiện chính sách gọi là “muốn sai bảo dân thì không thể để họ hiểu biết”. Tờ này viết, Pol Pot đã ban hành sắc lệnh đầu tiên: Dùng chiến tranh làm cái cớ để đưa dân cư ra khỏi thành phố. Quyết định này được đưa ra hai tháng trước khi đội quân Khmer Đỏ tiến vào thành phố nhưng vẫn giữ bí mật với cả những thành viên quan trọng nhất, đồng thời lừa dối tất cả người dân Campuchia rằng, người Mỹ sẽ đánh bom Phnom Penh nên không ai được phép ở lại và không được mang theo hành lý bởi họ chỉ phải rời thành phố khoảng 3 ngày. Dưới sự cưỡng chế của lính Khmer Đỏ, trong vòng 4 ngày, tất cả người dân Phnom Penh bị buộc phải rời bỏ nhà cửa, từ bỏ tất cả tài sản và trở thành người hoàn toàn trắng tay. Phnom Penh – nơi được mệnh danh là Paris Phương Đông với dân số 2 triệu người đã trở thành một thành phố trống rỗng chỉ trong vài ngày. Cũng theo bài viết trên của Nhân dân Nhật báo, chính từ ngày hôm đó, người dân Campuchia bắt đầu bị đẩy vào biển lửa cực kỳ đau đớn. Tháng 9 cùng năm, toàn bộ cư dân thành thị trên toàn quốc đều bị trục xuất về quê, và hầu hết người Phnom Penh không ngờ được rằng, chuyến đi này thực sự không có đường quay lại. Trong hành trình này, những người sức khỏe yếu đã phải bỏ mạng trên đường đi, người may mắn vừa đặt chân đến đích thì đã phải bắt đầu những ngày cày cuốc. Trong chớp mắt, Khmer Đỏ cấm sở hữu tư nhân, không cho phép bán hàng hóa, lưu thông tiền tệ đến cả hình thức trao đổi nguyên thủy – dùng vật đổi vật – cũng không được phép tiến hành. Cuộc đại di cư được Pol Pot thực hiện đã trực tiếp dẫn đến cái chết của hàng trăm ngàn người. Sau khi lên nắm quyền, Khmer Đỏ đã bắt đầu bốn năm cai trị đẫm máu. Đầu tiên, chính quyền này biến tất cả cư dân thành thị thành nông dân và chia người dân Campuchia thành hai đối tượng “người cũ” và “người mới’. “Người cũ” là những người đã ở nông thôn trước khi Phnom Penh bị tấn công, chủ yếu là nông dân. “Người mới” là quân nhân, phần tử trí thức, tăng lữ, kỹ sư, thương nhân, cư dân thành thị của chính quyền cũ, cần phải cải tạo. Thường những người đã phục vụ trong chính quyền Lon Nol, những người bất mãn với chính quyền mới, địa chủ, phú nông hay những người không chủ động rời khỏi Phnom Penh đều bị giết sạch. Tiếp đó, Khmer Đỏ ra tay với đội ngũ giai cấp, bao gồm người có tài sản, chủ doanh nghiệp, giới tư sản và phần tử trí thức, giáo viên, bác sĩ và các chuyên gia trong các lĩnh vực khác, thậm chí những người đeo kính cũng không được tha, sau đó là đàn áp dân tộc và tôn giáo, biết ngoại ngữ cũng là “tội chết”. Nhân dân Nhật báo cũng viết rằng, dưới thời Pol Pot, tất cả các tín ngưỡng tôn giáo đều bị cấm, mọi nhà thờ, chùa chiền đều bị đóng cửa hoặc bị phá hủy, tăng sư buộc hoàn tục, người theo Hồi giáo buộc phải ăn thịt lợn. Khmer Đỏ coi tri thức là tội ác nên không lập trường học chính quy, cấm sách, thư tịch, chỉ được phép hát các bài hát, nhảy những điệu nhạc của chính quyền Khmer Đỏ, cấm những bài hát, điệu nhảy truyền thống, cấm truyền bá văn hóa phương Tây. “Người mới” dưới sự giám sát và kiểm soát của “người cũ”, phải nhịn đói lao, xắn tay lao động quần quật, họ bị ép phải học nghề nông, canh tác đất đai và để hoàn thành lượng công việc được giao đúng thời hạn, họ phải làm việc trên đồng mười mấy tiếng đồng hồ vào ban ngày và học tập vào ban đêm. Theo thống kê không đầy đủ, ít nhất hơn 1 triệu người đã mất mạng trong thời gian này vì kiệt sức, đói, bệnh tật, suy dinh dưỡng. Trong thời gian 3 năm 8 tháng 20 ngày Pol Pot nắm quyền, tội ác kinh hoàng của Khmer Đỏ là vô tiền khoáng hậu. Mùa hè năm 1976, Pol Pot chính thức nhậm chức Thủ tướng sau thời gian dài đứng sau hậu trường. Cuối năm đó, Pol Pot lo lắng cho rằng “cơ thể chính quyền Khmer Đỏ sinh bệnh” nên bắt đầu thanh trừng nội bộ với lý do loại bỏ những “thành viên thân Việt Nam, gián điệp Liên Xô, đặc vụ CIA” và thành viên mới trong chính quyền. Bài viết của báo Trung Quốc nêu con số gần 10.000 người đã bị sát hại chỉ trong một cuộc đàn áp vào năm 1978. Nhà tù khét tiếng S21 trở thành hiện trường tàn khốc nhất, chủ yếu dùng để thẩm vấn, tra tấn và hành quyết những người được cho là đối địch chính quyền Khmer Đỏ. Ước tính có khoảng 20.000 người bị xử tử ở nhà tù này. Đầu những năm 80 thế kỷ 20, gần 9.000 thi thể đã được phát hiện ở S21 và còn rất nhiều ngôi mộ tập thể khác vẫn chưa được khai quật. Những nạn nhân này đã bị sát hại vô cùng tàn bạo, Khmer Đỏ vì để tiết kiệm đạn nên đã giết người bằng cánh dùng gậy đánh hoặc chém đầu bằng rìu. Nhiều hộp sọ được tìm thấy đều lưu lại vết nứt bị tác động bởi rìu. Trong khi đó, cựu Vương Campuchia Sihanouk bị quản thúc tại gia, người thân của ông bị coi là “người mới” và được đưa đi cải tạo. Đồng thời với vụ thảm sát lớn, người dân Campuchia ở trong trạng thái bế quan tỏa cảng, đất nước bị đóng cửa, các nạn nhân không có đường trốn thoát. Đến cuối năm 1978, chỉ có một vài quốc gia mới có thể trao đổi nhân viên ngoại giao với chính quyền Khmer Đỏ. Ngày 25/12/1978, quân đội Việt Nam tiến vào Campuchia. Chỉ trong 2 tuần, Khmer Đỏ đã bị đánh bại. Ngày 7/1/1979, thủ đô Phnom Penh được giải phóng. Một ngày sau đó, Hội đồng Nhân dân Cách mạng nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia do ông Heng Samrin làm Chủ tịch đã được thành lập, sau này khai sinh ra nước Cộng hòa nhân dân Campuchia. Thời kỳ chính quyền Khmer Đỏ chấm dứt. Sau đó, đội quân này rút về vùng núi tây bắc và tây nam Campuchia, xây dựng căn cứ và tổ chức các cuộc đấu tranh vũ trang có tổ chức. inShare Tin mới Đàm phán thương mại Mỹ-Trung: Báo Đảng TQ cảnh báo Mỹ đừng “được voi đòi tiên” – 09/01/2019 13:30 “PLA – lực lượng sẵn sàng dùng vũ lực thống nhất Đài Loan đón tin vui gì trong năm nay?” – 09/01/2019 12:30 TQ có thực sự xuống thang để hạ nhiệt căng thẳng với Mỹ? – 09/01/2019 11:30 Đông Nam Á nghi ngại TQ, e dè Mỹ – 09/01/2019 10:30 Các tin khác TQ lần đầu công khai hình ảnh UAV tàng hình Thiên Ưng – 09/01/2019 07:30 TQ muốn loại Mỹ khỏi ‘cuộc chơi’ ở Biển Đông bằng Bộ Quy tắc COC – 09/01/2019 05:00 Đòn mới của Mỹ nhắm vào TQ – 09/01/2019 02:30 Bắc Kinh tích cực tuyên truyền, Đài Loan liên tục phản đối về kêu gọi thống nhất của Chủ tịch TQ Tập Cận Bình – 08/01/2019 14:00 Thấy gì từ việc Philippines điều chỉnh quan hệ với TQ do sức ép từ vấn đề Biển Đông – 08/01/2019 12:00

TQ đã thay đổi giọng điệu như thế nào khi nói về chế độ Pol Pot?

Khmer Đỏ bắt đầu chuỗi thảm sát đẫm máu bằng một lời nói dối đối với toàn thể người dân Campuchia.

Khmer Đỏ tấn công vào Phnom Penh ngày 17/4/1975. Ảnh: CNN

Quan hệ Trung Quốc – Khmer Đỏ

Mối liên hệ giữa Trung Quốc và Khmer Đỏ vẫn được coi là vấn đề nhạy cảm trong lịch sử Trung Quốc.

Theo Nhân dân nhật báo, từ tháng 6 đến tháng 8/1975, trong khi Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã ba lần gặp gỡ Pol Pot và đề nghị không nên tiếp tục thi hành các chính sách đương thời bởi hệ lụy đáng tiếc về sau thì lãnh tụ Trung Quốc Mao Trạch Đông lại tán dương rằng, “Khmer Đỏ đã làm được nhưng điều mà Trung Quốc muốn nhưng không làm được”.

Do đó, Pol Pot đã “tự hào” tuyên bố rằng, “các nhà cách mạng trên toàn thế giới đều có thể học hỏi được nhiều kinh nghiệm từ Campuchia”.

Trang Phượng Hoàng (Hồng Kông) mô tả, vào ngày 21/6/1975, tại Trung Nam Hải, Mao Trạch Đông đã gặp gỡ đoàn đại biểu do Pol Pot dẫn đầu.

“Trong cuộc gặp khoảng 1 giờ đồng hồ, Mao Trạch Đông đã trình bày rõ về vấn đề đấu tranh đường lối. Ông nói: “Chúng tôi tán thành với các anh! Kinh nghiệm của các anh nhiều kinh nghiệm hơn chúng tôi. Trung Quốc không có tư cách chỉ trích cách anh, trong 50 năm phạm 10 đường lối sai lầm, có vấn đề thuộc về tính toàn quốc, có vấn đề thuộc về cục bộ…”.

Sau khi chế độ diệt chủng của Pol Pot bị đánh đổ, năm 1984, lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình nói: “Tôi không hiểu vì sao có người muốn loại bỏ Pol Pot? Đúng là ông ta có phạm một số sai lầm trong quá khứ nhưng ông ta đang lãnh đạo cuộc chiến chống Việt Nam…”

Tuy nhiên, đến phiên tòa xét xử Khmer Đỏ diễn ra vào năm 2009, ông Jiang Yu – người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc bấy giờ đã lên tiếng bảo vệ mối quan hệ với chế độ Khmer Đỏ khi nói rằng đây là một phần của mối quan hệ ngoại giao thông thường của Bắc Kinh.

“Từ trước tới nay, Trung Quốc có mối quan hệ hữu nghị và thông thường với chính phủ Campuchia, bao gồm đảng Campuchia dân chủ (tức Khmer Đỏ)”, ông Jiang Yu nói.

Năm 2010 khi phiên tòa xét xử Khmer Đỏ thứ hai chuẩn bị diễn ra, Đại sứ Trung Quốc tại Campuchia Zhang Jinfeng phủ nhận việc Bắc Kinh giúp đỡ Khmer Đỏ thời kỳ trước đây.

“Chính phủ Trung Quốc không bao giờ tham gia hay can thiệp vào chính trị của đảng Campuchia Dân chủ”, bà này bao biện, “Trung Quốc không ủng hộ các chính sách sai trái của chế độ này nhưng [Bắc Kinh] cố gắng cung cấp viện trợ lương thực và dụng cụ làm nông”.

Cuộc thảm sát vô tiền khoáng hậu

Những năm gần đây, trước sự lên án mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế đối với chế độ diệt chủng Pol Pot, truyền thông Trung Quốc đã bắt đầu có sự thay đổi khi đăng tải nhiều hơn những bài viết về tội ác tàn bạo của chế độ này.

Báo đảng Trung Quốc Nhân dân nhật báo năm 2010 viết, vào ngày 17/4/1975, Khmer Đỏ lật đổ chính quyền Lon Nol, bắt đầu năm đầu tiên của chính quyền mới nhưng ngày này cũng trở thành ngày mà người dân Campuchia không thể nào quên. Lãnh đạo Khmer Đỏ Saloth Sar đổi tên thành Pol Pot, thực hiện chính sách gọi là “muốn sai bảo dân thì không thể để họ hiểu biết”.

Tờ này viết, Pol Pot đã ban hành sắc lệnh đầu tiên: Dùng chiến tranh làm cái cớ để đưa dân cư ra khỏi thành phố.

Quyết định này được đưa ra hai tháng trước khi đội quân Khmer Đỏ tiến vào thành phố nhưng vẫn giữ bí mật với cả những thành viên quan trọng nhất, đồng thời lừa dối tất cả người dân Campuchia rằng, người Mỹ sẽ đánh bom Phnom Penh nên không ai được phép ở lại và không được mang theo hành lý bởi họ chỉ phải rời thành phố khoảng 3 ngày.

Dưới sự cưỡng chế của lính Khmer Đỏ, trong vòng 4 ngày, tất cả người dân Phnom Penh bị buộc phải rời bỏ nhà cửa, từ bỏ tất cả tài sản và trở thành người hoàn toàn trắng tay.

Phnom Penh – nơi được mệnh danh là Paris Phương Đông với dân số 2 triệu người đã trở thành một thành phố trống rỗng chỉ trong vài ngày.

Cũng theo bài viết trên của Nhân dân Nhật báo, chính từ ngày hôm đó, người dân Campuchia bắt đầu bị đẩy vào biển lửa cực kỳ đau đớn.

Tháng 9 cùng năm, toàn bộ cư dân thành thị trên toàn quốc đều bị trục xuất về quê, và hầu hết người Phnom Penh không ngờ được rằng, chuyến đi này thực sự không có đường quay lại.

Trong hành trình này, những người sức khỏe yếu đã phải bỏ mạng trên đường đi, người may mắn vừa đặt chân đến đích thì đã phải bắt đầu những ngày cày cuốc.

Trong chớp mắt, Khmer Đỏ cấm sở hữu tư nhân, không cho phép bán hàng hóa, lưu thông tiền tệ đến cả hình thức trao đổi nguyên thủy – dùng vật đổi vật – cũng không được phép tiến hành. Cuộc đại di cư được Pol Pot thực hiện đã trực tiếp dẫn đến cái chết của hàng trăm ngàn người.

Sau khi lên nắm quyền, Khmer Đỏ đã bắt đầu bốn năm cai trị đẫm máu. Đầu tiên, chính quyền này biến tất cả cư dân thành thị thành nông dân và chia người dân Campuchia thành hai đối tượng “người cũ” và “người mới’.

“Người cũ” là những người đã ở nông thôn trước khi Phnom Penh bị tấn công, chủ yếu là nông dân. “Người mới” là quân nhân, phần tử trí thức, tăng lữ, kỹ sư, thương nhân, cư dân thành thị của chính quyền cũ, cần phải cải tạo.

Thường những người đã phục vụ trong chính quyền Lon Nol, những người bất mãn với chính quyền mới, địa chủ, phú nông hay những người không chủ động rời khỏi Phnom Penh đều bị giết sạch.

Tiếp đó, Khmer Đỏ ra tay với đội ngũ giai cấp, bao gồm người có tài sản, chủ doanh nghiệp, giới tư sản và phần tử trí thức, giáo viên, bác sĩ và các chuyên gia trong các lĩnh vực khác, thậm chí những người đeo kính cũng không được tha, sau đó là đàn áp dân tộc và tôn giáo, biết ngoại ngữ cũng là “tội chết”.

Nhân dân Nhật báo cũng viết rằng, dưới thời Pol Pot, tất cả các tín ngưỡng tôn giáo đều bị cấm, mọi nhà thờ, chùa chiền đều bị đóng cửa hoặc bị phá hủy, tăng sư buộc hoàn tục, người theo Hồi giáo buộc phải ăn thịt lợn.

Khmer Đỏ coi tri thức là tội ác nên không lập trường học chính quy, cấm sách, thư tịch, chỉ được phép hát các bài hát, nhảy những điệu nhạc của chính quyền Khmer Đỏ, cấm những bài hát, điệu nhảy truyền thống, cấm truyền bá văn hóa phương Tây.

“Người mới” dưới sự giám sát và kiểm soát của “người cũ”, phải nhịn đói lao, xắn tay lao động quần quật, họ bị ép phải học nghề nông, canh tác đất đai và để hoàn thành lượng công việc được giao đúng thời hạn, họ phải làm việc trên đồng mười mấy tiếng đồng hồ vào ban ngày và học tập vào ban đêm.

Theo thống kê không đầy đủ, ít nhất hơn 1 triệu người đã mất mạng trong thời gian này vì kiệt sức, đói, bệnh tật, suy dinh dưỡng.

Trong thời gian 3 năm 8 tháng 20 ngày Pol Pot nắm quyền, tội ác kinh hoàng của Khmer Đỏ là vô tiền khoáng hậu.

Mùa hè năm 1976, Pol Pot chính thức nhậm chức Thủ tướng sau thời gian dài đứng sau hậu trường.

Cuối năm đó, Pol Pot lo lắng cho rằng “cơ thể chính quyền Khmer Đỏ sinh bệnh” nên bắt đầu thanh trừng nội bộ với lý do loại bỏ những “thành viên thân Việt Nam, gián điệp Liên Xô, đặc vụ CIA” và thành viên mới trong chính quyền.

Bài viết của báo Trung Quốc nêu con số gần 10.000 người đã bị sát hại chỉ trong một cuộc đàn áp vào năm 1978. Nhà tù khét tiếng S21 trở thành hiện trường tàn khốc nhất, chủ yếu dùng để thẩm vấn, tra tấn và hành quyết những người được cho là đối địch chính quyền Khmer Đỏ. Ước tính có khoảng 20.000 người bị xử tử ở nhà tù này.

Đầu những năm 80 thế kỷ 20, gần 9.000 thi thể đã được phát hiện ở S21 và còn rất nhiều ngôi mộ tập thể khác vẫn chưa được khai quật.

Những nạn nhân này đã bị sát hại vô cùng tàn bạo, Khmer Đỏ vì để tiết kiệm đạn nên đã giết người bằng cánh dùng gậy đánh hoặc chém đầu bằng rìu. Nhiều hộp sọ được tìm thấy đều lưu lại vết nứt bị tác động bởi rìu.

Trong khi đó, cựu Vương Campuchia Sihanouk bị quản thúc tại gia, người thân của ông bị coi là “người mới” và được đưa đi cải tạo.

Đồng thời với vụ thảm sát lớn, người dân Campuchia ở trong trạng thái bế quan tỏa cảng, đất nước bị đóng cửa, các nạn nhân không có đường trốn thoát. Đến cuối năm 1978, chỉ có một vài quốc gia mới có thể trao đổi nhân viên ngoại giao với chính quyền Khmer Đỏ.

Ngày 25/12/1978, quân đội Việt Nam tiến vào Campuchia. Chỉ trong 2 tuần, Khmer Đỏ đã bị đánh bại. Ngày 7/1/1979, thủ đô Phnom Penh được giải phóng.

Một ngày sau đó, Hội đồng Nhân dân Cách mạng nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia do ông Heng Samrin làm Chủ tịch đã được thành lập, sau này khai sinh ra nước Cộng hòa nhân dân Campuchia.

Thời kỳ chính quyền Khmer Đỏ chấm dứt. Sau đó, đội quân này rút về vùng núi tây bắc và tây nam Campuchia, xây dựng căn cứ và tổ chức các cuộc đấu tranh vũ trang có tổ chức.

https://www.facebook.com/plugins/comments.php?app_id=&channel=https%3A%2F%2Fstaticxx.facebook.com%2Fconnect%2Fxd_arbiter%2Fr%2Fj-GHT1gpo6-.js%3Fversion%3D43%23cb%3Df13fb35f823f93%26domain%3Dbiendong.net%26origin%3Dhttp%253A%252F%252Fbiendong.net%252Ff14099ecce585a%26relation%3Dparent.parent&color_scheme=light&container_width=664&height=100&href=http%3A%2F%2Fbiendong.net%2Fdoc-bao-viet%2F25719-tq-da-thay-doi-giong-dieu-nhu-the-nao-khi-noi-ve-che-do-pol-pot.html&locale=vi_VN&sdk=joey&skin=light

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Quyền Bộ Quốc phòng Mỹ Patrick Shanahan sẽ cứng rắn hơn với TQ trong vấn đề Biển Đông? Ngày đăng 09-01-2019

Quyền Bộ Quốc phòng Mỹ Patrick Shanahan sẽ cứng rắn hơn với TQ trong vấn đề Biển Đông?

Ngày 01/01/2019, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã bổ nhiệm ông Patrick Shanahan, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ làm Quyền Bộ Quốc phòng Mỹ thay thế cho người tiền nhiệm tướng James Mattis. Trong những phát biểu đầu tiên trên cương vị đứng đầu Bộ Quốc phòng Mỹ, ông Patrick Shanahan đã có những phát biểu cho thấy quan điểm cứng rắn đối với Trung Quốc thời gian tới.

Quyền Bộ Quốc phòng Mỹ Patrick Shanahan. Nguồn: AP

Phát biểu đầu tiên của Quyền Bộ Quốc phòng Mỹ

Quyền Bộ Quốc phòng Mỹ Patrick Shanahan từng là Giám đốc điều hành của Boeing và là người được biết có quan điểm cứng rắn đối với Trung Quốc. Giới quan sát cho rằng việc Tổng thống Donald Trump lựa chọn ông Shanahan của vào vị trí người đứng đầu Lầu Năm Góc sẽ quyết định mối quan hệ trong tương lai giữa quân đội Mỹ và Trung Quốc thời gian tới. Trong những phát biểu đầu tiên trên cương vị đứng đầu Bộ Quốc phòng Mỹ hôm 02/01/2019, Quyền Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Patrick Shanahan cho biết các nhà lãnh đạo dân sự Mỹ phải luôn ghi nhớ “Trung Quốc, Trung Quốc, Trung Quốc”, điều đó có nghĩa rằng các chiến lược tới đây của Lầu Năm Góc vẫn sẽ đặc biệt lưu tâm tới Trung Quốc theo hướng dẫn trong Chiến lược quốc phòng 2018 với Trung Quốc.

Mỹ sẽ cứng rắn hơn với TQ trong vấn đề Biển Đông

Trong vấn đề tranh chấp Biển Đông, giới dự báo cho rằng dưới thời Quyền Bộ Quốc phòng Mỹ Patrick Shanahan, Mỹ sẽ tiếp tục phản đối các tuyên bố chủ quyền, hành động gây hấn và phát triển quân sự của Trung Quốc. Thái độ nhất quá của Mỹ về tranh chấp tại Biển Đông là trung lập trong tranh chấp về chủ quyền và ủng hộ tự do lưu thông hàng hải; phản đối các hành động bá chiếm, tự phân định ranh giới các vùng biển; kêu gọi các nước tuân thủ luật pháp quốc tế, phản đối việc đe doạn sử dụng hoặc sử dụng vũ lực của bất kỳ bên nào, phản đối bất kỳ sự can thiệp trái phép nào vào các hoạt động kinh tế; kêu gọi Trung Quốc và các nước ASEAN tuân theo tinh thần của tuyên bố chung về ứng xử Biển Đông (DOC) và tự kiềm chế. Mỹ sẽ có những phản ứng cứng rắn hơn và có những biện pháp kiềm chế Trung Quốc như tăng cường hiện diện quân sự trong khu vực Biển Đông, tiến hành tập trậ với các nước trong khu vực. Mỹ sẽ ủng hộ thiết lập cơ chế an ninh vùng để ngăn chặn hành động dùng vũ lực; tiếp tục đảm bảo sự hiện diện quân sự và tham gia gây ảnh hưởng đến các sự kiện xảy ra trong vùng; giữ vai trò người cân bằng lực lượng bên ngoài bằng cách hỗ trợ những nước khác yếu hơn trong khu vực làm đối trọng với sự gia tăng quyền lực của đối thủ tiềm năng ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Phát biểu tại Hồng Công hôm 19/11/2018, ông Patrick Murphy, quan chức thuộc bộ phận chuyên trách khu vực Đông Á và Thái Bình Dương của Bộ Ngoại giao Mỹ, khẳng định Washington muốn giữ quan hệ ngoại giao cấp cao với Bắc Kinh trên bình diện song phương và đa phương, nhưng “sẽ không nhượng bộ” về vấn đề Đài Loan và Biển Đông. Thông tin mới nhất cho biết quân đội Mỹ đã trao đổi với đối tác Nhật Bản về kế hoạch triển khai tên lửa đất đối hạm ở Okinawa, hòn đảo có vị trí chiến lược quan trọng bậc nhất trong năm nay 2019. Đây sẽ là lần đầu tiên Mỹ tập trận tên lửa tại Nhật Bản, với sự hiện diện của các bệ phóng tên lửa di động, vốn được coi là biện pháp đối phó với các cuộc tấn công tiềm tàng từ tên lửa đạn đạo đất đối biển của Trung Quốc.

Phản ứng từ Trung Quốc

Phía Trung Quốc tỏ ra lo lắng về việc ông Patrick Shanahan được giao Quyền Bộ Quốc phòng Mỹ. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Lục Khảng hôm 03/01/2019 khẳng định Bắc Kinh coi trọng mối quan hệ hiện tại giữa Mỹ và Trung Quốc sau phát biểu của quyền Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Patrick Shanahan. Ông Lục Khảng cho biết thông tin về các bình luận được ông Shanahan đưa ra chưa được xác thực, đồng thời nêu rõ quan hệ quân sự trong tương lai của 2 nước sẽ do Bắc Kinh và Washington quyết định. “Chúng tôi tin rằng điều này có lợi cho việc thúc đẩy hòa bình và niềm tin lẫn nhau, tăng cường quan hệ giữa hai nước và góp phần vào hòa bình và ổn định thế giới”, ông Lục cho biết thêm. Cũng theo người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc, trong quá trình liên lạc, thông tin mà Bắc Kinh có được là Mỹ, cũng giống như Trung Quốc ưu tiên mối quan hệ giữa quân đội 2 nước và hy vọng 2 bên cùng nhau hợp tác để biến mối quan hệ này thành các yếu tố ổn định trong quan hệ Mỹ – Trung.

Trong khi đó, giới truyền thông Trung Quốc cũng tung ra những phản pháo kịch liệt phát biểu của Bộ trưởng Mỹ Patrick Shanahan nhắc nhở các quan chức Lầu Năm Góc cần phải nhớ đến “Trung Quốc, Trung Quốc, Trung Quốc” như một chính sách ưu tiên của Mỹ. Thời báo Hoàn Cầu hôm 03/01/2019 đăng xã luận cho rằng, phát biểu của quyền Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ phải ghi nhớ “Trung Quốc, Trung Quốc, Trung Quốc” cho thấy Mỹ sẽ đặc biệt nhấn mạnh Trung Quốc là mục tiêu ưu tiên hàng đầu trong chính sách của Mỹ. Tờ báo này nhấn mạnh năm 2018, thái độ cứng rắn của Mỹ đối với Trung Quốc tập trung vào cuộc chiến thương mại, trong năm nay 2019 chính quyền Washington có gây áp lực nhiều hơn lên Trung Quốc trong lĩnh vực quân sự hay không, là động thái cần được quan tâm. Xã luận chỉ ra, Mỹ có thể gia tăng các hành động khiêu khích quân sự đối với Trung Quốc, trong đó khu vực va chạm tiềm tàng trước tiên là eo biển Đài Loan và Biển Đông. Trung Quốc cần phải làm là kiên trì nguyên tắc, phải có phản ứng nhất định khi gặp phải những hành động khiêu khích mới của Mỹ. Trung Quốc có đầy đủ năng lực để khiến cho Mỹ một khi “xâm phạm Trung Quốc” sẽ phải trả một cái giá không thể đong đếm được, qua đó gây cho Mỹ một môi đe dọa cực lớn. Khi quyền Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Patrick Shanahan kêu gọi phải ghi nhớ “Trung Quốc, Trung Quốc, Trung Quốc”, chúng ta cần phải đáp trả bằng cách đẩy mạnh việc xây dựng năng lực răn đe đối với Mỹ. Đồng thời cũng phải giỏi sử dụng các biện pháp răn đe. Tờ báo cũng cho biết năm 2019 là kỷ niệm 70 năm thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, người dân mong muốn và kỳ vọng các vũ khí mới mang tính răn đe của Trung Quốc, điển hình là tên lửa đạn đạo xuyên lục địa DF-41 sẽ được trình làng, để gia tăng sự cảnh tỉnh mới cho bất cứ kẻ nào muốn gây sức ép đối với sức mạnh của Trung Quốc. Ngoài ra, Trung Quốc cần phải triển khai một loạt các cuộc tập trận thực chiến trên biển, trong đó chú trọng việc huấn luyện diễn tập các khoa mục tác chiến của hàng không mẫu hạm.

https://www.facebook.com/plugins/comments.php?app_id=&channel=https%3A%2F%2Fstaticxx.facebook.com%2Fconnect%2Fxd_arbiter%2Fr%2Fj-GHT1gpo6-.js%3Fversion%3D43%23cb%3Df295b053e977ab%26domain%3Dbiendong.net%26origin%3Dhttp%253A%252F%252Fbiendong.net%252Ff2f35164271738%26relation%3Dparent.parent&color_scheme=light&container_width=664&height=100&href=http%3A%2F%2Fbiendong.net%2Fbi-n-nong%2F25709-quyen-bo-quoc-phong-my-patrick-shanahan-se-cung-ran-hon-voi-tq-trong-van-de-bien-dong.html&locale=vi_VN&sdk=joey&skin=light

Tin mới

Các tin khác

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Blog at WordPress.com.