Chính-Trị Thời-Sự

TQ sẽ dùng… đất hiếm để đấu với Mỹ?

TQ sẽ dùng… đất hiếm để đấu với Mỹ?

Mỏ đất hiếm duy nhất của Mỹ hiện đang nằm dưới sự kiểm soát của một công ty Trung Quốc. Năm 2018, đến 59% đất hiếm dùng tại Mỹ nhập khẩu từ Trung Quốc.

Đất hiếm là thành phần quan trọng trong nhiều ngành công nghiệp và công nghệ cao như chế tạo vật liệu siêu bán dẫn.

Chính quyền của Tổng thống Mỹ Donald Trump đã nhiều lần dọa tăng thuế nhập khẩu đất hiếm từ Trung Quốc. Những lời đe dọa này đã trở thành “võ mồm” cho đến thời điểm hiện tại, bởi lẽ từ những chiếc iPhone của Apple đến các hệ thống dẫn đường tên lửa đều có thành phần đất hiếm Trung Quốc.

Chuyến thăm của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tới một trong những quặng đất hiếm lớn nhất nước này vào ngày 20-5 được xem là một tín hiệu cảnh cáo ngầm đến Mỹ.

Tháp tùng nhà lãnh đạo Trung Quốc là Phó thủ tướng Lưu Hạc, một trong những người được ông Tập tin tưởng nhất và là gương mặt quen thuộc trong các vòng đàm phán thương mại Mỹ – Trung thời gian qua.

Trong khi đó, Mountain Pass, mỏ khai thác đất hiếm duy nhất của Mỹ tại bang California, hiện lại đang nằm trong tay của một công ty Trung Quốc.

Tất cả đất hiếm khai thác ở Mỹ phải được chở về Trung Quốc để tinh chế thì mới có thể sử dụng. Năm 2018, có đến 59% lượng đất hiếm sử dụng ở Mỹ có nguồn gốc từ Trung Quốc.

Nhật Bản được xem là minh chứng rõ nhất khi người ta muốn nói về hậu quả của việc phụ thuộc đất nước Trung Quốc.

Năm 2010, khi Tokyo và Bắc Kinh căng thẳng vì tranh chấp quần đảo Điếu Ngư/Senkaku trên biển Hoa Đông, Trung Quốc tìm cách hạn chế xuất khẩu đất hiếm sang Nhật bằng cách đặt hạn ngạch, siết việc cấp phép và tăng thuế.

Điều này khiến ngành công nghiệp điện tử của Nhật gặp nhiều khó khăn nhưng cũng tạo ra động lực để các nhà khoa học, địa chất nước này tìm kiếm nguồn cung thay thế, giảm sự phụ thuộc vào Trung Quốc.

Trung Quốc sẽ dùng... đất hiếm để đấu với Mỹ? - Ảnh 2.

Hệ thống tên lửa Patriot của quân đội Mỹ – Ảnh: REUTERS

17 nguyên tố đất hiếm có thể tìm thấy được nhiều nơi trên thế giới, kể cả ở Việt Nam với trữ lượng ước tính 120 triệu tấn. Mỹ từng là nhà sản xuất đất hiếm lớn nhất thế giới cho đến khi Trung Quốc nhảy vào thị trường này.

Nam châm vĩnh cửu là ngành sử dụng đất hiếm nhiều thứ hai sau chế tạo thủy tinh, theo báo South China Morning Post của Hong Kong. Chúng có thể được tìm thấy trong các ổ đĩa cứng, động cơ thu nhỏ, loa và tai nghe, loa điện thoại thông minh, tuôcbin điện hay máy phát điện.

Một số nguyên tố đất hiếm được sử dụng trong hệ thống tên lửa Patriot trứ danh của Mỹ để điều khiển các tín hiệu rađa và tên lửa. Những vật dụng hằng ngày mà chúng ta thấy như tivi màn hình phẳng, cũng có đất hiếm.

Các mỏ khai thác và tinh chế đất hiếm tại 9 tỉnh/khu tự trị của Trung Quốc đã giúp nước này vươn lên vị trí số 1, chiếm hơn 90% sản lượng xuất khẩu toàn thế giới.

Năm ngoái, Trung Quốc xuất khẩu 120.000 tấn đất hiếm, chiếm 71% sản lượng toàn cầu, theo thống kê của Cục Khảo sát địa chất Mỹ.

Sự phụ thuộc của Mỹ vào đất hiếm Trung Quốc như hiện nay, do vậy được xem như một lá bài mà Bắc Kinh có thể rút ra trong cuộc chơi với Washington.

Advertisements
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

1995: Ngày ngoại trưởng Mỹ thăm Hà Nội, tái lập quan hệ

1995: Ngày ngoại trưởng Mỹ thăm Hà Nội, tái lập quan hệ

Ngoại trưởng Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm tiễn chia tay ông Warren Christopher ngày 7/8/1995Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionNgoại trưởng Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm tiễn chia tay ông Warren Christopher ngày 7/8/1995

Hồi ký của một số ngoại trưởng Mỹ có nhắc tới Việt Nam, giúp độc giả hiểu thêm phần nào suy nghĩ và cách làm việc của chính phủ Mỹ.

George H. W. Bush ‘buồn vì Mỹ không giữ lời ở Việt Nam’

John Kerry kể lần ‘tìm kiếm’ ở Lăng Hồ Chủ tịch

Donald Rumsfeld và Robert Gates nhắc lại chiến tranh VN

Warren Christopher, ngoại trưởng Mỹ từ 1993 đến 1997, chứng kiến lúc tổng thống Bill Clinton loan báo khôi phục quan hệ ngoại giao với Việt Nam ngày 11/7/1995.

Trong hồi ký Chances of a Lifetime (2001), ông kể về chuyến thăm Hà Nội tháng 8/1995 để thông báo cho Việt Nam về quyết định của tổng thống.

Ngày đầu tiên

Tại buổi ăn trưa đón chào của ngoại trưởng Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm, ông Warren Christopher kể:

“Tôi nói trước khi chúng ta bàn về bất kỳ chủ đề nào, tôi muốn ông ấy bảo đảm chắc chắn rằng chính phủ Việt Nam sẽ làm tất cả trong sức mình để giúp giải quyết các vụ Tù binh và Người Mỹ mất tích trong chiến tranh còn tồn đọng

Ông Cầm rõ ràng đoán trước thông điệp của tôi. Ông trả lời bằng việc kể lại các nỗ lực gần đây của Việt Nam giúp đỡ và cam kết hỗ trợ cho tới khi tìm ra và trả lại toàn bộ hài cốt.

Khi tôi nói tôi hài lòng vì phản ứng của ông, ông Cầm mô tả điều quan trọng nhất trong nghị trình của ông: một thỏa thuận thương mại giúp hàng hóa Việt Nam chịu thuế thấp khi vào Mỹ. Ông nói như thế ông cho rằng thỏa thuận đó có thể làm xong dễ dàng và nhanh chóng.

Trước mong đợi lạc quan của ông, tôi quyết định để Joan Spero, thứ trưởng phụ trách kinh tế, người đi cùng tôi, đến gặp người đồng cấp Việt Nam để giải thích việc thương lượng hiệp định thương mại có thể phức tạp ra sao.”

Rốt cuộc hiệp định thương mại Việt – Mỹ đã được ký năm 2000.

Đến cuối ngày thăm đầu tiên, ngoại trưởng Mỹ tập hợp nhân viên lại để đánh giá công việc.

“Chúng tôi đồng ý rằng giới chức Việt Nam hiểu việc tiếp tục tìm kiếm thi hài những nhân viên của chúng tôi là rất quan trọng cho Hoa Kỳ. Chúng tôi kết luận đã phù hợp để tiếp tục đến các buổi lễ và thảo luận mà sẽ đánh dấu chương mới trong quan hệ ngoại giao Việt – Mỹ.”

Ngoại trưởng Mỹ Warren Christopher thăm Hà Nội năm 1995, mở đầu mối quan hệ ngoại giao tái lậpBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionNgoại trưởng Mỹ Warren Christopher thăm Hà Nội năm 1995, mở đầu mối quan hệ ngoại giao tái lập

Ngày thứ hai

Đầu ngày thăm thứ hai, ngoại trưởng Mỹ dự lễ kéo cờ Mỹ trên tòa nhà mà sẽ là sứ quán Mỹ ở Hà Nội.

Ông Christopher nói khi nhìn lá cờ chầm chậm kéo lên, ông nhớ lại hình ảnh ngày 30/4/1975 khi đại sứ cuối cùng của Mỹ ở Việt Nam Graham Martin vội vã đi lên chiếc trực thăng trên mái nhà sứ quán ở Sài Gòn, còn cờ Mỹ thì hạ xuống và gấp lại.

“Cảnh tượng ô nhục và thất bại đó được chiếu khắp thế giới, ghi vào tâm thức mọi người Mỹ trên 10 tuổi.

…Tôi bước lên bục để phát biểu, nhưng ký ức vẫn làm tôi rúng động…”

Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt bắt tay ngoại trưởng Mỹ ở Hà NộiBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionThủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt bắt tay ngoại trưởng Mỹ ở Hà Nội

Sau buổi lễ, ngoại trưởng Mỹ đến cuộc gặp với Tổng bí thư Đỗ Mười, và sau đó là Thủ tướng Võ Văn Kiệt.

“Mặc dù tôi biết những lãnh đạo kinh qua chinh chiến này sẽ không ngẫu hứng loan báo từ bỏ Chủ nghĩa cộng sản để theo dân chủ, tôi ngạc nhiên vì các trao đổi không có những đao to búa lớn về ý thức hệ.

Có vẻ họ chọn cách tránh, thậm chí không căng thẳng một cách hình thức, với hy vọng sớm đạt thỏa thuận về những vấn đề sẽ giúp đẩy nhanh hiện đại hóa kinh tế Việt Nam.”

Nhiều người ở Hà Nội đón chào nhà ngoại giao Mỹ năm 1995Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionNhiều người ở Hà Nội đón chào nhà ngoại giao Mỹ năm 1995

Sau khi thăm Văn Miếu và các đền chùa, ngoại trưởng Mỹ đến Học viện Quan hệ Quốc tế phát biểu trước khoảng 200 sinh viên.

“Tôi nhấn mạnh phát triển kinh tế bền vững dễ xảy ra hơn ở những nơi mà tòa án bảo đảm chuẩn mực tố tụng, nơi báo chí tự do vạch trần tham ô, nơi doanh nhân có thể ra quyết định trong khi tự do tiếp cận thông tin – những điều kiện thiếu vắng ở Việt Nam.

Tôi không chắc về phản ứng trước thông điệp, nhưng thấy một số người gật đầu đồng ý khi tôi nói mỗi khán giả cần có quyền tự định đoạt số phận cá nhân cũng như số phận đất nước…Dù là vì lịch sự hay lợi ích kinh tế, phía Việt Nam đã cho phép tôi nói trọn bài phát biểu của mình.”

Trong hai ngày ở Việt Nam, ông Christopher nói hình ảnh làm ông cảm động nhất là “cử chỉ kỳ lạ, ngọt ngào của một cảnh sát lớn tuổi đứng gác ngoài một ngôi đền”.

“Khi chúng tôi ra khỏi đó, viên cảnh sát, mặc quân phục cũ, đứng thẳng người và chào Tướng Christman, người đi cạnh tôi. Vị tướng chào lại, còn viên cảnh sát giữ nguyên dáng đứng và chào khi chúng tôi bước vào xe.

Khi xe bắt đầu đi, người đàn ông già hơi nhướn người, tay phải vẫn để trên trán, đặt tay trái lên môi và hôn gió.”

Đến tối, nhiệm vụ cuối cùng của ông ngoại trưởng là gọi điện cho bốn thành viên quốc hội Mỹ.

Ông nhớ nhất cuộc gọi cho Thượng nghị sĩ John McCain. Sau khi ngoại trưởng kể chuyện, đầu dây bên kia là sự im lặng kéo dài. Rồi giọng rõ ràng của ông McCain cất lên, với đúng ba chữ: “Đến lúc rồi.”

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Thương chiến Mỹ-Trung và cơ hội ‘ngàn năm một thuở’ cho VN

Thương chiến Mỹ-Trung và cơ hội ‘ngàn năm một thuở’ cho VN

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionCông nhân Trung Quốc làm việc tại một xưởng chế biến sản phẩm tre nứa

Những ngày gần đây, cuộc chiến Mỹ – Trung đã lên đến cao điểm sau khi Mỹ cáo buộc Trung Quốc nuốt lời hứa đối với những gì họ đã đưa ra trong cuộc đàm phán thương mại, đó là sẽ ban hành các đạo luật nhằm thực thi những cam kết đạt được.

Do đó, Tổng thống Trump đã cho tăng thuế nhập cảng trên 5.700 loại hàng hoá có trị giá 200 tỷ Mỹ kim từ Trung Quốc đến Mỹ, từ 10% lên 25%.

Thương chiến Mỹ-Trung: TQ trả đũa với biểu thuế mới

Thương chiến Mỹ-Trung: Trump nói TQ ‘vi phạm thỏa thuận’

Trump tăng gấp đôi thuế quan lên hàng hóa TQ

Hôm thứ Hai, 13/04, Trung Quốc trả đũa để giữ thể diện bằng cách tăng thuế nhập cảnh của một số hàng hoá Mỹ trị giá 60 tỷ Mỹ kim lên 25%.

Chắc chắn Trung Quốc sẽ bị thiệt thòi nhiều hơn Mỹ nhiều trong cuộc chiến này.

Hầu hết tất cả các chuyên viên kinh tế trên thế giới đều cho rằng dù cho đàm phán Mỹ – Trung sẽ xảy ra với kết quả tốt đi chăng nữa, hay dù Tổng thống Trump có được thay bằng một tổng thống Đảng Dân chủ đi chăng nữa, mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc sẽ không bao giờ quay lùi lại cao điểm như ba thập niên qua.

Về phía Mỹ, họ nhận ra rằng Trung Quốc đã tận dụng sự cởi mở của các nước Âu Mỹ cũng như toàn cầu hoá để hiện đại hóa nền kinh tế và để bắt kịp các nước tân tiến.

Tham vọng của Bắc Kinh

Nếu mục đích của Trung Quốc dừng lại ở đây thì cũng không có gì đáng nói.

Nhưng mà cùng lúc, càng ngày Trung Quốc càng lộ rõ bá đồ muốn thống trị cả thế giới về kinh tế cũng như về quân sự. Điển hình là chương trình 2025, trong đó Bắc Kinh muốn trở thành lãnh đạo thế giới về kỹ nghệ năm 2049; và hành động quân sự cũng như thái độ thách thức của họ trên Biển Đông, nhất là đối với các nước láng giềng và đối với Nhật Bản.

Các nước Âu Mỹ nay đều đã tỉnh ngộ và thấy rằng Trung Quốc sẽ là mối hiểm họa lớn về kinh tế cũng như về quân sự trong Thế kỷ 21.

Signs with the US flag and Chinese flag are seen at the Qingdao free trade port area in Qingdao in China's eastern Shandong province on May 8, 2019.Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES

Thế nhưng cho đến khi ông Trump lên làm tổng thống, hầu như các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ đều né tránh việc đối diện với sự thật, và đều dùng các phương pháp gián tiếp, thay vì trực tiếp, trong việc đối đầu với những thách thức của Trung Quốc.

Cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung qua năm biểu đồ

Những điều cần biết về thương chiến Mỹ-Trung

Trump ‘ra lệnh đánh thêm thuế lên hàng TQ’

Tòa Bạch Ốc của ông Trump đã thẳng thắn gọi hành động kinh tế hung hãn của Trung Quốc là mối đe dọa cho công nghệ và sở hữu trí tuệ của Mỹ và của thế giới.

Tác động của cuộc thương chiến đối với kinh tế Việt Nam

Nếu viễn ảnh tương lai giữa Mỹ và Trung Quốc không còn sáng lạn như trước đây và sự cạnh tranh Mỹ – Trung càng ngày càng gắt gao, thì điều này sẽ ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam như thế nào?

Thứ nhất, các công ty phi quốc gia lớn trên thế giới (đa số là của Âu Mỹ) sẽ tìm cách giảm thiểu rủi ro bằng cách đa dạng hoá các hoạt động đầu tư ở Trung Quốc, và sẽ chuyển một số các cơ số sản xuất hay thương mại đi các nước khác, chẳng hạn như Việt Nam.

Chính Tổng thống Trump đã nói hôm 13/05: “… Ngoài ra, thuế quan của Mỹ hoàn toàn có thể tránh được nếu bạn mua từ một quốc gia không bị áp thuế, hoặc bạn mua sản phẩm bên trong Hoa Kỳ (ý tưởng này là tốt nhất). Đó là mức thuế Zero. Nhiều công ty bị đánh thuế sẽ rời Trung Quốc sang Việt Nam và các nước khác ở châu Á. Đó là lý do vì sao Trung Quốc cấp thiết muốn đạt được thỏa thuận này!”

US President Donald Trump speaks during an event to present US golfer Tiger Woods with the Presidential Medal of Freedom in the Rose Garden of the White House in Washington, DC, on May 6, 2019.Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTổng thống Donald Trump: “Nhiều công ty bị đánh thuế sẽ rời Trung Quốc sang Việt Nam và các nước khác ở châu Á. Đó là lý do vì sao Trung Quốc cấp thiết muốn đạt được thỏa thuận này!”

Việt Nam đang là một nước có tiềm năng lớn có thể thay thế sản xuất của Trung Quốc, cho nên các công ty đa quốc gia sẽ dò xét xem Việt Nam có làm vậy được hay không.

Theo so sánh thế giới thì Việt Nam có tiềm năng về năng lực rất khá so với các nước khác ở Á châu.

Thứ hai, xuất khẩu của Trung Quốc hiện vẫn còn đang tuỳ thuộc rất nhiều vào thị trường Mỹ (do công nghiệp tích hợp dọc — ‘vertically integrated industries’), cho nên các công ty công nghệ Trung Quốc cũng sẽ kiếm cách dọn qua Việt Nam sản xuất, hầu có thể dùng cái nhãn hiệu “Made in Vietnam” để quay lại thị trường Mỹ và tránh thuế nhập cảng của Mỹ.

Thứ ba, những chính sách kinh tế của Trung Quốc nhằm đương đầu với những thách thức mới về kinh tế cũng sẽ có ảnh hưởng đến Việt Nam, chẳng hạn như hối đoái hay tiền tệ. Do đó các chính sách kinh tế của Việt Nam trong thời gian tới cũng phải thật là linh động để có thể đem lại quyền tự chủ cho quốc gia.

Cơ hội và thách thức

Cuộc chiến tranh thương mại Mỹ – Trung do đó sẽ tạo cho Việt Nam cơ hội độc nhất vô nhị, mà nếu nắm bắt được thì nó sẽ giúp Việt Nam tiến lên rất mạnh và rất xa trong kỹ nghệ hóa, trở thành một nước tân tiến trong 20-30 năm.

Chiến tranh thương mại Mỹ-Trung

Mặt khác, nếu không biết nắm lấy cơ hội này và không giải quyết được những thách thức mới thì Việt Nam sẽ suy sụp và không vươn lên nổi trong một thế giới cạnh tranh mãnh liệt này.

Do đó, kết quả tốt hay xấu đều tuỳ thuộc vào các chính sách kinh tế mà Việt Nam cần phải xác định rõ ràng.

Muốn nắm lấy cơ hội để tiến lên, chuyện đầu tiên Việt Nam phải làm là duyệt xét lại luật đầu tư hầu có thể kiểm soát chặt chẽ các đầu tư từ nước ngoài, nhằm tránh tình trạng bị các nước lạ lợi dụng để bán sang Mỹ.

Chính phủ phải giới hạn các khuyến khích về đầu tư trong những lãnh vực có thể làm hoàn thiện chuỗi khâu sản xuất hiện nay, và ưu tiên cho các nhà máy dùng những máy móc tối tân (như máy sợi cho ngành dệt), đầu tư vào các ngành công nghệ và trí tuệ cao, và nhất là phải tạo cơ hội để huấn luyện công nhân Việt Nam có thể hấp thụ công nghiệp mới.

Chính phủ cần phải nhận dạng các ngành công nghiệp phụ trội quan trọng có nhiều liên kết ngược (backward linkages) với các công kỹ nghệ trong nước cũng như có lợi thế so sánh xuất cảng.

Thứ hai, chính phủ cần phải cấp tốc cải tổ và hoàn chuẩn nền giáo dục đại học và các chương trình dạy nghề.

Việt Nam cần phải có cơ cấu về nghiên cứu (R&D), trong đó có ba cơ quan nghiên cứu nằm trong khu vực công, khu vực hãng xưởng tư nhân, và khu vực đại học.

Thương chiếnBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES

Chính phủ phải giúp tạo ra cơ cấu này và thắt chặt mối liên hệ giữa ba lãnh vực này, nhằm nâng cao khả năng sáng tạo một cách hữu hiệu.

Để thu hút nhân tài, chính phủ cần đi mọi nơi thuyết phục các sinh viên Việt Nam tốt nghiệp ở nước ngoài về cũng như để tạo điều kiện cho họ làm việc trong nước.

Thứ ba, cần phải xét lại vai trò của nhà nước: Có những lãnh vực nhà nước cần phải giữ một vài trò quan trọng, chẳng hạn như bảo vệ môi trường, an ninh thực phẩm, bảo vệ quyền công nhân, lập một hệ thống phân xử minh bạch giữa chủ và thợ khi có các tranh chấp, đầu tư vào hạ tầng cơ sở để giúp đỡ các xí nghiệp tư, v.v… Ngược lại, có những lãnh vực về sản xuất, nhất là công nghiệp, thì chính phủ cần phải đi ra khỏi 100% để tư nhân có thể hoàn toàn vượt lên.

Quan trọng hơn hết là phải biết nếu Việt Nam muốn tiến lên thì phải tạo điều kiện cho “Made by Vietnam” chứ không phải “Made in Vietnam”, tức là phải tạo cơ hội cho các công ty Việt Nam sản xuất đi từ giai đoạn lắp ráp đến sản xuất kỹ thuật riêng (OEM –own engineering manufacturing), đến giai đoạn sản xuất thiết kế riêng (ODM-own design manufacturing), đến sản xuất thương hiệu riêng (OBM-own brand manufacturing).

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionViệt Nam được nhiều hãng đa quốc gia chọn đầu tư một phần nhờ có lực lượng lao động giá rẻ

Một thí dụ dễ hiểu là mặc dù hiện giờ điện thoại Samsung của Nam Hàn làm ở Việt Nam (Made in Việt Nam) rất nhiều (Việt Nam xuất cảng trên 25 tỷ đô la điện thoại mỗi năm), nhưng tuyệt đại đa số các thành phần trong điện thoại là nhập cảng từ các nước khác và Nam Hàn chỉ dùng công nhân Việt Nam giá rẻ để lắp ráp mà thôi. Vì vậy mà 99% giá tri của điện thoại là không phải do Việt Nam làm (Made by Vietnam).

Nếu không làm được điều này thì cả đời Việt Nam chỉ làm công nhân lắp ráp. Và muốn làm được điều này thì chính phủ phải đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo nên một nền kinh tế dựa trên trí tuệ con người.

Làm sao kỹ nghệ Việt Nam có thể cạnh tranh với Trung Quốc, nhất là về giá cả đầu vào, nhiên liệu v.v…?

Tôi đã trình bày những yếu tố để Việt Nam có thể cạnh tranh với Trung Quốc trong cuốn sách “Phát triển công nghiệp nhẹ tại Việt Nam” do Ngân hàng Thế giới xuất bản năm 2013.

Nói tóm lại, không có gì người dân Việt Nam không làm được nếu có được sự hỗ trợ đắc lực và khéo léo của chính phủ. Đây cũng là cơ hội ngàn năm một thuở.

Nếu Việt Nam không nắm lấy thì chắc chắn các nước cạnh tranh sẽ lấy đi mất.

Tiến sĩ Đinh Trường Hinh hiện là Chủ Tịch Công Ty EGAT tại Hoa Kỳ. Ông nguyên là Chuyên gia kinh tế chính, Văn phòng Phó chủ tịch, và là Chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới ở Washington, D.C. (1978-2014).

Hiện sống tạ̣i bang Virginia, Hoa Kỳ, ông đã đăng tải các tác phẩm Công nghiệp nhẹ châu Phi (2012), Các câu chuyện kể từ mặt trận phát triển kinh tế (2013), Phát triển công nghiệp nhẹ tại Việt Nam (2013), và Công việc làm, kỹ nghệ hoá, và toàn cầu hoá (2017).

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Ông Tập Cận Bình viết gì trong “bức thư đẹp” khiến Tổng thống Trump thay đổi 180 độ?

Ông Tập Cận Bình viết gì trong “bức thư đẹp” khiến Tổng thống Trump thay đổi 180 độ?

Minh Khôi | 

Ông Tập Cận Bình viết gì trong "bức thư đẹp" khiến Tổng thống Trump thay đổi 180 độ?
Tổng thống Mỹ Donald Trump. Ảnh: SCMP.

Ông Trump tuyên bố, một thỏa thuận với Trung Quốc là có thể trong tuần này và ông Tập Cận Bình đã gửi cho ông một “bức thư đẹp”, ​​trái ngược với một loạt tweet cứng rắn vừa qua.

Trả lời các phóng viên khi Phó Thủ tướng Trung Quốc Lưu Hạc đến Washington để tiến hành vòng đàm phán thứ 11 nhằm chấm dứt cuộc chiến thương mại giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới, Tổng thống Trump cho rằng lệnh tăng thuế đối với 200 tỷ USD hàng nhập khẩu từ Trung Quốc đã giúp đẩy nhanh quá trình hòa giải.

Ông Trump nhắc lại rằng ông đã tuyên bố tăng thuế đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc từ 10% lên 25% để đáp trả việc Bắc Kinh thay đổi một số cam kết cơ bản.

“Chúng tôi đã tiến rất gần đến một thỏa thuận, sau đó họ bắt đầu đàm phán lại thỏa thuận”, ông Trump nói và thêm rằng, một trong những lĩnh vực đó là bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

Tuy nhiên, ông Trump đã nhận được một “bức thư đẹp” từ Chủ tịch Tập Cận Bình viết: “Hãy cùng làm việc và xem liệu chúng ta có thể hoàn thành điều gì đó”. Ông Trump cũng cho biết, ông có thể sẽ có cuộc điện đàm với nhà lãnh đạo Trung Quốc.

“Tôi rất thích Chủ tịch Tập Cận Bình. Ông ấy là một người bạn tốt của tôi, nhưng tôi là đại diện cho Mỹ còn ông ấy đại diện cho Trung Quốc. Và tôi sẽ không bị lợi dụng nữa”, ông Trump nói.

Tổng thống Mỹ xác nhận rằng các thành viên trong nội các của ông sẽ gặp ông Lưu Hạc và các thành viên khác trong phái đoàn Trung Quốc vào lúc 5 giờ chiều ngày thứ Năm (giờ địa phương) để khởi động các cuộc đàm phán dự kiến ​​sẽ kéo dài 2 ngày.

Scott Kennedy, một chuyên gia cao cấp tại Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS) cho biết, bằng động thái đe dọa tăng thuế, chiến lược của các nhà đàm phán Mỹ sẽ rất thẳng thắn

Phía Washington yêu cầu Bắc Kinh đồng ý khôi phục lại tất cả những gì đã thỏa thuận trước đó. Việc lựa chọn có tiến xa được hay không, là ở phía Trung Quốc, ông nói.

Tuy nhiên, chuyên gia cao cấp của CSIS lưu ý, dường như vai trò của ông Lưu Hạc, Phó Thủ tướng và là trưởng đoàn đàm phán phía Trung Quốc đã có sự sụt giảm đáng kể so với những vòng trước.

Một tuyên bố do Bộ Thương mại Trung Quốc đưa ra trước chuyến đi tuần này không ghi chức danh Đặc phái viên của Chủ tịch Tập Cận Bình của ông Lưu.

Việc không đề cập đến chức danh quan trọng này, kết hợp với việc giảm quy mô của phái đoàn và thời gian lưu trú ngắn ở Washington, cho thấy ông một phạm vi hẹp hơn về các chủ đề đàm phán và khả năng thỏa hiệp, ông Kennedy nói.

Hôm thứ Năm, ông Trump vẫn tuyên bố, quan chức Mỹ đang bắt đầu các thủ tục để áp thuế 25% lên 325 tỷ USD hàng nhập khẩu từ Trung Quốc. Ông Trump đã tuyên bố về việc tăng thuế này vào Chủ nhật tuần trước trên Twitter cá nhân, khiến nhiều nhà quan sát bất ngờ và gây ra tổn thất cho thị trường tài chính.

Sau đó, vào thứ Tư, ông tiếp tục cáo buộc Bắc Kinh đang câu giờ với hy vọng có thể đàm phán thỏa thuận thương mại với chính quyền phe Dân chủ vào năm 2020 nếu ông Trump không tái đắc cử.

Tuy nhiên, ông Kenedy cảnh báo rằng, chính quyền đảng Dân chủ có thể không chỉ cứng rắn trong lĩnh vực thương mại mà thậm chí còn mở rộng sang các vấn đề Triều Tiên, nhân quyền và một số vấn đề khác. “Như vậy, sẽ chẳng dễ dàng mà còn khó khăn hơn cho Trung Quốc”, chuyên gia CSIS nói.

theo Trí Thức Trẻ

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Việt Nam Quốc tang: Ông Trọng ‘‘biến mất’’, ‘‘tranh đoạt quyền lực’’ bắt đầu ?09 Tháng Năm 20197:53 CH(Xem: 3)

Việt Nam Quốc tang: Ông Trọng ‘‘biến mất’’, ‘‘tranh đoạt quyền lực’’ bắt đầu ?

09 Tháng Năm 20197:53 CH(Xem: 3)

“>

VĂN HÓA ONLINE – DIỄN ĐÀN Ý KIẾN / THẢO LUẬN – THỨ SÁU 10 MAY 2019

Việt Nam Quốc tang: Ông Trọng ‘‘biến mất’’, ‘‘tranh đoạt quyền lực’’ bắt đầu ?

RFI 05-05-2019

image014

Tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng tại Hà Nội, ngày 02/04/2018.REUTERS/Kham

Điều gây chú ý nhất trong lễ Quốc tang tướng Lê Đức Anh, nguyên chủ tịch nước Việt Nam, hôm 03/05/2019, là sự vắng mặt của lãnh đạo Việt Nam Nguyễn Phú Trọng. Sự vắng mặt này có ý nghĩa như thế nào đối với chính trường Việt Nam ? Nhà báo Phạm Chí Dũng từ Sài Gòn phân tích.

Những điều gì đáng chú ý trong lễ tang ông Lê Đức Anh ?

Điểm đáng chú ý nhất trong lễ tang này, đó là không phải sự quan tâm đối với người đã chết, mà là sự hiện diện hay không của người còn sống – ông kiêm hai chức, tổng bí thư và chủ tịch Nước Nguyễn Phú Trọng. Điều đặc biệt nhất trong lần này ông Nguyễn Phú Trọng đã không xuất hiện, mặc dù trước đó khoảng một tuần, bộ Ngoại Giao đã chính thức thông báo là ông Nguyễn Phú Trọng sẽ làm trưởng ban Tang lễ. Và sau đó, chủ tịch Quốc Hội là Nguyễn Thị Kim Ngân cũng thông báo là sức khỏe của đồng chí tổng bí thư, chủ tịch Nước đang hồi phục nhanh chóng. Và người ta trông chờ sự xuất hiện của ông Nguyễn Phú Trọng với một sự quan tâm chưa từng có.

Tôi nhớ rằng, đã lâu lắm rồi, mà có thể là chưa từng có một lễ tang nào mà người dân – khối cán bộ, công chức lại quan tâm đến mức như thế.

Và điểm thứ hai là khi ông Nguyễn Phú Trọng không xuất hiện, thì trưởng ban Lễ tang lại rơi vào một người khác. Đó là quan chức, phó thủ tướng thường trực Trương Hòa Bình, cũng là một ủy viên Bộ Chính Trị. Tuy nhiên, sự xuất hiện của ông Trương Hòa Bình, với tư cách trưởng ban Tang lễ tướng Lê Đức Anh dường như có một sự mâu thuẫn rất lớn với một nghị định của chính phủ số 105, quy định phải là tổng bí thư hoặc chủ tịch Nước làm trưởng ban Lễ tang (1).

ADVERTISING

Từ việc ông Nguyễn Phú Trọng không có mặt trong lễ tang có thể suy ra những gì đang hoặc sắp diễn ra trong chính trường Việt Nam ?

Trước mắt là vấn đề cá nhân, vấn đề sức khỏe của ông Nguyễn Phú Trọng. Và sau đó vấn đề thứ hai là những người có thể kế nhiệm Nguyễn Phú Trọng, và những thay đổi có thể dẫn đến đảo lộn trong chính trường Việt Nam trong thời gian tới, có lẽ là không bao lâu nữa.

Về sức khỏe của ông Nguyễn Phú Trọng, mặc dù có những thông tin tích cực về việc điều trị của ông ta. Có những thông tin trước đó một tuần là ông ấy đang phục hồi, rồi tập xe lăn, cũng như tập nói, tập phát âm. Nhưng mà cho tới nay, đã hơn nửa tháng, từ khi ông Trọng bị một biến cố về sức khỏe ở Kiên Giang, nơi được gọi là « căn cứ địa cách mạng » của gia tộc Nguyễn Tấn Dũng, đã không có bất kỳ hình ảnh nào của ông Trọng. Mặc dù, báo chí, báo Đảng, hệ thống tuyên giáo vẫn ra rả đưa tin về chuyện ông Trọng, hôm nay gửi thư, điện chúc mừng giới lãnh đạo Bắc Triều Tiên, ngày mai gửi thư điện mừng đến một số quốc gia khác. Thậm chí là kể cả hình ảnh ông Trọng ngồi trên giường bệnh cũng không có nổi. Điều đó cho thấy là vấn đề sức khỏe của ông Trọng không thể là vấn đề nhỏ, mà là vấn đề rất lớn.

Trong khi đó, chúng ta thấy chính trường Việt Nam đã bắt đầu có những xáo trộn ngầm. Dường như mọi chuyện đang ngưng trệ về nhiều mặt, khi ông Nguyễn Phú Trọng phải điều trị.

Đang điều trị hay là biến mất khỏi chính trường ?

Nếu nói là « biến mất » khỏi chính trường, thì người ta lại cho rằng tôi nói theo « thuyết âm mưu ». Nhưng thực sự là, trong nhiều trường hợp, thuyết âm mưu ở Việt Nam (hay cũng có thể gọi là các suy đoán, hay « tin đồn ») lại khá là gần với thực tế. Nếu kể đến trường hợp của trưởng ban Nội Chính Nguyễn Bá Thanh cuối 2014, đầu 2015, của bộ trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh giữa năm 2015, hay Trần Đại Quang, chủ tịch Nước vào năm 2017, 2018, thì có khá nhiều thuyết âm mưu, các thông tin đồn đoán bên ngoài, liên quan đến thuyết âm mưu đó lại được xác thực sau đó.

Cũng cần phải nhắc lại một hoàn cảnh của ông Trần Đại Quang. Trước khi chết chỉ có một, hai ngày ông Trần Đại Quang còn gửi thư, điện đến một số nước, và còn tiếp đoàn Trung Quốc. Sau đó thì ông ta lăn ra chết.

Nói như vậy, để cho thấy rằng, ở góc độ nào đó, khách quan mà nói, thuyết âm mưu (hay tin đồn) nó sẽ có tính xác thực, nếu như được thực tế chứng minh là đúng. Trong trường hợp ông Nguyễn Phú Trọng, có thể nói rằng, dùng từ ông ta « mất tích » hay « biến mất » khỏi chính trường Việt Nam, trong trường hợp này, vẫn có thể được. Chúng ta có thể so sánh, khi ông Trọng còn bình thường, chưa gặp vấn đề về sức khỏe, ít nhất trên mặt công luận, báo chí, thì tần suất xuất hiện là từ 2 đến 4 ngày, chậm lắm là 5 ngày. Có những giai đoạn, hàng ngày xuất hiện đều đặn. Nhưng từ 14/04/2019, khi xảy ra sự biến Kiến Giang, thì đã hơn nửa tháng rồi. Mà không xuất hiện, thì có thể dùng từ biến mất, hoặc mất tích

Xin giải thích rõ hơn về cái gọi là « thuyết âm mưu » ?

Với Nguyễn Phú Trọng, hiện nay có hai thuyết âm mưu, hay cũng có thể gọi là « suy đoán ». Một là ông Trọng cố ý, để né tránh việc đi « chầu Thiên tử ở phương Bắc », liên quan đến hội nghị BRI – thượng đỉnh Sáng kiến Một vành đai, Một con đường, do Trung Quốc tổ chức lần thứ hai. Thay vào đó là thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc. Đó là thuyết âm mưu thứ nhất. Và thuyết âm mưu nữa là ông Nguyễn Phú Trọng có thể là rơi vào tình trạng bệnh tật chủ ý như vậy, là một thủ đoạn chính trị, mang tên là « giả chết bắt quạ », thường được các triều đại Trung Quốc trong lịch sử sử dụng.

Hai suy đoán này có cơ sở không ?

Về thuyết âm mưu thứ nhất, để tránh đi hội nghị BRI ở Trung Quốc, có một cơ sở trước đó. Nguyễn Phú Trọng đã có một số động tác giãn Trung, và song song với giãn Trung là ngả về Mỹ. Biểu hiện chứng minh rõ ràng nhất, cho việc ngả về Mỹ, là cuộc gặp tổng thống Mỹ Donald Trump ở Washington sắp tới, nếu ông ta kịp phục hồi sức khỏe. Và trong cuộc gặp đó hai bên sẽ bàn về vấn đề tăng cường và làm sâu sắc thêm quan hệ hợp tác quốc phòng, và đặc biệt là vấn đề Biển Đông. Và kể cả sự hiện diện của một tàu sân bay thứ hai của Mỹ tại Biển Đông, có thể ngay tại cảng Cam Ranh. Và có thể bàn tiếp vấn đề hợp tác cấp chiến lược Việt – Mỹ.

Đó là cơ sở cho thuyết âm mưu về việc Nguyễn Phú Trọng tránh đi Trung Quốc. Tuy nhiên, để thuyết âm mưu này đúng, thì nó phải diễn ra một việc khác : Nếu Nguyễn Phú Trọng chủ động tạo ra tình trạng bệnh tật của mình đủ nặng, để khỏi phải đi Trung Quốc, thì ông ta đã phải tìm cách thông tin, bắn tin cho Trung Quốc, đặc biệt cho các cơ quan tình báo Trung Quốc nắm được việc này, tình trạng bệnh tật của ông ta như thế nào. Nếu như vậy, thì ông ta phải thông qua một cái kênh rất ưa thích : báo Đảng. Vấn đề là, làm sao để lý giải được : Vì sao từ ngày 14/04 ở Kiên Giang đến nay, đã không có bất cứ một dòng một chữ nào từ báo Đảng, về tình trạng bệnh tật thực chất của Nguyễn Phú Trọng, mà chỉ nói theo Tuyên giáo, có vấn đề gì đó. Còn dư luận viên thì nói là ông ta chỉ bị choáng nhẹ. Thế thì việc Nguyễn Phú Trọng không sử dụng kênh báo Đảng, cho thấy, cũng giống như các trường hợp đã xảy ra của Nguyễn Bá Thanh, Phùng Quang Thanh, Trần Đại Quang : Đảng giấu thông tin, bưng bít thông tin, ém nhẹm thông tin, chủ ý là không thông tin ra ngoài. Mà không thông tin ra ngoài, thì làm sao Trung Quốc có thể nắm được ? Mà nếu Trung Quốc không nắm được, thì làm sao có cơ sở để tin là bệnh thật.

Chuyện thứ hai là, nếu Nguyễn Phú Trọng chủ ý tạo ra bệnh của mình để « giả chết, bắt quạ », để thanh trừng trong nội bộ Đảng, thì ta lại vướng ngay phải điều mà dân gian gọi là « gậy ông, đập lưng ông ». Cái bẫy mà ông ta giăng ra với các đối thủ chính trị (bị sử dụng ngược lại). Quy định đưa ra năm 2018 : ủy viên Bộ Chính Trị, các ứng cử viên tổng bí thư phải bảo đảm được sức khỏe, có nghĩa là phải được sự xác nhận của ban Bảo vệ và Chăm sóc Sức khỏe Trung ương, hàng tuần, hàng tháng, và thậm chí hàng ngày…. Nếu như người ta nghĩ là ông ta bị bệnh (thật), thì sẽ có những phản ứng thậm chí mạnh mẽ.

Vì thế, cả hai thuyết âm mưu đều không đủ cơ sở thuyết phục. Mà giả thuyết thực tế nhất, gần gũi nhất, dễ cảm nhận được nhất, là ông ta ở cái tuổi này, đã bị một căn bệnh hành hạ. Nếu không cẩn thận, thì ông ta sẽ đi theo Trần Đại Quang và tướng Lê Đức Anh.

Một số dấu hiệu khác trong lễ tang có thể cho phép nhận định về những gì diễn ra trong chính trường Việt Nam ?

Tôi không nghĩ rằng có những dấu hiệu, dù là đặc biệt chăng nữa, trong lễ tang ông Lê Đức Anh lại đủ lớn, đủ sâu, để có thể cho thấy xu hướng, hoặc sự thay đổi lớn trong chính trường Việt Nam, ngoài yếu tố duy nhất như tôi đã nêu. Và nhiều người khác cũng đã biết. Đó là Nguyễn Phú Trọng không thể xuất hiện, và ông ta đang nằm nguyên trong tình trạng khó khăn về sức khỏe.

Khi Nguyễn Phú Trọng rơi vào tình trạng sinh, lão, bệnh, tử, như một quy luật không thể bác bỏ, thì ông ta buộc phải để lại một khoảng trống quyền lực rất lớn. Bây giờ có đến hai ghế (bị khuyết), chứ không phải một, là tổng bí thư và chủ tịch Nước. Khoảng trống quyền lực càng lớn thì chỗ trũng càng sâu, và nước chảy càng mạnh.

Có nghĩa là sẽ dâng lên một làn sóng, các quan chức cấp dưới của Nguyễn Phú Trọng, nổi lên để tranh đoạt quyền lực với nhau. Đang diễn ra một làn sóng ngầm, phân chia lại quyền lực. Giữa ba khối, khối Đảng, khối hành pháp và khối lập pháp.

Trước đây, khối Đảng chỉ huy tất cả, theo nguyên tắc là Đảng lãnh đạo toàn diện. Và gần đây nhất, từ năm 2017 đến nay, xuất hiện một quan điểm rất phổ biến trong nội bộ trong Đảng, là Đảng không làm thay, mà Đảng làm luôn.

Vào lúc cơ chế độc tôn, tập trung quyền lực vào tay Nguyễn Phú Trọng suy giảm, thì sẽ kéo theo việc cơ chế tập trung quyền lực về cấp trung ương cũng suy giảm theo. Tôi nghĩ rằng sẽ dẫn đến một hệ quả tất yếu là : Khối hành pháp và khối lập pháp sẽ dần dần tách ra khỏi khối Đảng, tăng cường tiếng nói của mình. Một cách độc lập tương đối, hơn là phụ thuộc gần như tuyệt đối vào khối Đảng trước đây. Không biết có phải là ngẫu nhiên hay không, mà trong thời gian ông Trọng bị bệnh, bị « mất tích », thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có một đề nghị đáng chú ý với Quốc Hội, là tăng quyền cho thủ tướng, một số quyền không quá quan trọng, nhưng có một động thái như vậy.

Tôi cho rằng mọi chuyện bắt đầu, và sắp tới sẽ diễn ra hai khuynh hướng. Khuynh hướng phân chia lại quyền lực giữa ba khối, và khuynh hướng ly tâm giữa khối địa phương với cấp trung ương. Và song song là xu hướng hình thành gần như chắc chắn một số « sứ quân » quyền lực hành chính và một số sứ quân lợi ích riêng, mà chúng ta thường gọi là « nhóm lợi ích ».

Nhiều người ghi nhận ông Trần Quốc Vượng, thường trực Ban Bí Thư, tức nhân vật số hai của Đảng, trong một số bức ảnh cho thấy đi một mình đến viếng, trong khi hai phái đoàn, của chính phủ và của Đảng, lại đều do thủ tướng đứng đầu. Phải chăng sự phân hóa, như nhà báo Phạm Chí Dũng nhận định, đã bắt đầu trong chính lễ tang này ?

Đúng là ông Trần Quốc Vượng lẻ loi, cô độc. Ông ta không nằm trong một đoàn nào cả, một đám đông nào cả. Tôi đặt câu hỏi là : Phải chăng đã có một sự sắp xếp cố ý ? Tôi cho đó đã là một thủ thuật chính trị, để chơi xấu lẫn nhau. Nếu đúng như vậy, thì đó quả là một sự phân hóa không nhỏ đâu.

Sau đám tang Lê Đức Anh, sắp tới vào giữa tháng Năm này sẽ diễn ra hội nghị trung ương 10. Nếu không có Nguyễn Phú Trọng, hoặc có Nguyễn Phú Trọng mà không có những nội dung đặc sắc theo ý của Nguyễn Phú Trọng, thì tôi nghĩ là ngay trong hội nghị đó sẽ diễn ra những phân hóa còn lớn hơn nữa, giữa khối Đảng, hành pháp và lập pháp. Và lúc đó, người ta sẽ chứng kiến vai trò của ông Trần Quốc Vượng, nếu không cẩn thận sẽ trở nên mờ nhạt đáng kể, không kém thua hình ảnh mờ nhạt của ông ta tại lễ tang của tướng Lê Đức Anh.

***

(1) Nhà báo Phạm Chí Dũng đã ghi nhận chính xác về việc có một mâu thuẫn « rất lớn » giữa vai trò « trưởng ban Lễ tang » trong Nghị định 105 về « Tổ chức lễ tang với cán bộ, công chức, viên chức » với diễn biến của buổi lễ ngày hôm qua. Trên thực tế, phụ trách Quốc tang có hai chức « trưởng ban ». Trưởng ban Lễ tang Nhà nước phải là nguyên thủ, hoặc tổng bí thư, và trưởng ban Tổ chức Lễ tang là một phó thủ tướng. Có trách nhiệm đọc điếu văn là trưởng ban Lễ tang Nhà nước. Như vậy, người làm thay vai trò của ông Nguyễn Phú Trọng không phải là phó thủ tướng Trương Hòa Bình, mà là thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, người đọc điếu văn hôm 03/05.

image012

26 Tháng Ba 2019(Xem: 380)

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Chúng ta đang ở trong một cuộc chiến tranh kinh tế Với Trung Quốc. Thỏa hiệp là vô ích

Chúng ta đang ở trong một cuộc chiến tranh kinh tế Với Trung Quốc. Thỏa hiệp là vô ích

Chấn Minh (Danlambao) chuyển ngữ – Lời giới thiệu – Stephen K. Bannon là chiến lược gia trưởng của Tổng Thống Hoa Kỳ Donald J. Trump từ 1/2017 đến 8/2017. Bối cảnh của bài viết được chuyển ngữ này là việc vào ngày 6 tháng Năm 2019, trong khi thương thảo mậu dịch Hoa Kỳ-Trung Quốc đang tiến hành, ông Trump đột ngột đòi đánh thuế quan từ 10% đến 25% trên 200 tỷ USD hàng hóa Trung Quốc nhập khẩu vào Hoa Kỳ. Đòi hỏi này làm cho chỉ số Dow rơi trên 350 điểm trước khi sàn chứng khoán mở cửa, và 410 điểm trong ngày thứ Hai trước khi đóng xuống 66 điểm âm vào cuối ngày và làm cho thị trường mất giá 0.2%. Các thị trường chứng khoán lớn khác trên thế giới đều xuống dốc trong cùng một ngày: Thượng Hải xuống 5.6%, Hong Kong xuống 2.9%. Vào thứ Ba 7/5/2019, Trung Quốc phản pháo và nói sẽ không nhượng bộ thêm đồng thời chỉ định ông Lưu Hạc (Liu He), phó thủ tướng, bay sang Mỹ vào ngày thứ Năm tới (8/5/2019) để chỉ đạo các thương thảo về phía Trung Quốc. Đa số các nhà bình luận kinh tế hay chính trị tại Hoa Kỳ xem lời tuyên bố đánh thuế quan thêm của Trump như là một biện pháp thương lượng mậu dịch và do đó không có thực chất. Trong các giới kinh tế tài chính Hoa Kỳ, hầu như không có ai kêu gọi Trump tiến lên và kiên định trong việc đánh thêm thuế quan. Trừ Stephen K. Bannon. Xin mời quý độc giả Dân Làm Báo xem xét các lý luận của ông Bannon.
Stephen K. Bannon – Cứng rắn hơn đối với Trung Quốc để đưa các việc làm trong ngành biến chế về lại Hoa Kỳ là ý niệm chỉ đạo đã giúp Tổng Thống Trump tiến lên và thắng phiếu cử tri đoàn vào năm 2016 tại Vành Đai Rỉ Sét (Chú thích của người chuyển ngữ (CTCNCN): tức là các tiểu bang Michigan, Wisconsin, Indiana, Illinois, Ohio, và Pennsylvania, cái nôi của ngành công nghiệp biến chế Hoa Kỳ). Vào ngày hôm nay, mục tiêu của nhóm cán bộ cực đoan triệt để đang cai trị Trung Quốc – Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) – là làm cho Trung Quốc trở thành một nước bá quyền thống trị được toàn thế giới. Nhưng mà vào tháng này khi Bắc Kinh và Hoa Thịnh Đốn kết thúc các thương thảo mậu dịch đã kéo dài hàng tháng, bất kỳ kết quả gì đạt được sẽ không phải là một thỏa thuận thương mại. Cái gì đó sẽ chỉ là một cuộc đình chiến tạm thời trong trận chiến kinh tế và chiến lược kéo dài nhiều năm với Trung Quốc.
Có sáu “điều cần hiểu” để làm nổi bật lên sự vô ích của việc thỏa hiệp với chế độ (Trung Quốc) này.
Điều cần hiểu thứ nhất là: ĐCSTQ đã tiến hành chiến tranh kinh tế với các nước công nghiệp dân chủ kể từ ngày Trung Quốc gia nhập Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới (World Trade Organization, WTO) vào năm 2001, và bây giờ thì Trung Quốc đã trở thành mối đe dọa kinh tế và an ninh quốc phòng lớn nhất mà Hoa Kỳ từng đối mặt.
Trong khuôn khổ các đàm phán mậu dịch đang diễn ra, Trung Quốc phải đồng ý chấm dứt việc cưỡng bách chuyển giao công nghệ; ăn cắp tài sản trí tuệ; xâm nhập các mạng lưới kinh doanh trên mạng internet; thao túng tiền tệ; các rào cản thuế quan và phi thuế quan; và các trợ cấp bất hợp pháp cho các doanh nghiệp quốc doanh. Tuy nhiên, nếu ĐCSTQ chấp nhận và tuân thủ các đòi hỏi của Hoa Kỳ một cách có thể kiểm chứng được, điều này có nghĩa là sẽ có một sự tháo gỡ hợp pháp và theo các quy định của chủ nghĩa tư bản nhà nước Trung Quốc.
Điều cần hiểu thứ nhì là: thỏa ước mậu dịch đang được thương lượng vào tháng này không phải là một thỏa ước giữa hai hệ thống muốn có những quan hệ gần gũi hơn, như những người đang cổ võ cho thỏa ước này tại phố Wall (Wall Street), các tổ chức truyền thông và các đại học đang tranh cãi. Ngược lại, đây là một cuộc đụng độ cơ bản giữa hai hệ thống kinh tế hoàn toàn khác hẳn nhau.
Kết quả tốt nhất mà Hoa Kỳ có thể có được là một văn bản theo đó Trung Quốc từ bỏ các phương thức làm ăn có tính cách bóc lột, tịch thu và trọng thương đồng thời cung cấp nhiều phương tiện để giám sát và nhanh chóng thực thi thỏa ước.
Kết quả tốt nhất cho ĐCSTQ là làm Hoa Kỳ rút lại các thuế quan bằng cách nộp vô số văn bản chứa đầy những cam kết giả mạo và không thể nào thực thi được cho đến khi nào chính quyền Trump hết giờ, tức là hết nhiệm kỳ, và hy vọng sẽ có một chính phủ khác của đảng Dân Chủ ít chống lại Trung Quốc hơn.
Điều cần hiểu thứ ba là: chủ nghĩa tư bản nhà nước của Trung Quốc rất có lợi cho các chủ nhân của nó, tức là các đảng viên của ĐCSTQ. Các doanh nghiệp nhà nước đang trì trệ có được một lợi thế cạnh tranh thông qua các trợ cấp to lớn từ phía nhà nước, và các tiết kiệm chi phí có được qua việc đánh cắp tài sản trí tuệ, công nghệ và các phát minh mới của người nước ngoài.
Nếu Trung Quốc chấm dứt việc đánh cắp đại quy mô kể trên, các doanh nghiệp Trung Quốc sẽ nhanh chóng bị các doanh nghiệp đang cạnh tranh với chúng tại Đức, Nam Hàn, Nhật Bản và đặc biệt là Hoa Kỳ, vượt qua ngay.
Sự kiện này giải thích được phần lớn nội tình chính trị Trung Quốc và lúc này. Tổng Thống tập Cận Bình đang đối đầu với một triều đình đang phân chia rất rõ rệt vào hai phe: phe của những nhà cải cách do trưởng đoàn thương lượng mậu dịch Lưu Hạc (Liu He) lãnh đạo và phe của các đàn diều hâu đã trục lợi và lấy được quyền lực từ hiện trạng của Trung Quốc. Ngay trong Trung Quốc, người ta đánh cuộc như trong một hài kịch trên dàn treo cổ và ra giá bên tám cân bên nửa lạng là không biết Lưu Hạc sẽ được ca ngợi như là một Đặng Tiểu Bình mới, hay rốt ráo sẽ là lọt vào một trại tập trung cải tạo Trung Quốc nào đó.
Điều cần hiểu thứ tư: Lợi dụng việc ông Trump rất tự hào – một cách xứng đáng – về thị trường chứng khoán đang lên và đồng thời âu lo sẽ mất Vòng Đai Nông Trại (CTCNCN – tức là các tiểu bang chuyên về canh nông tại vùng Trung Bắc Hoa Kỳ), một số cố vấn của ông ở trong và ngoài Nhà Trắng đang tìm cách đưa ông ta vào một thỏa thuận yếu kém. Tuy nhiên lý luận theo đó nếu không thương lượng được một thỏa thuận sẽ làm cho thị trường chứng khoán tan chảy và nền kinh tế nổ tung từ phía trong là sai lầm.
Thật ra, không có một lý do nào tốt hơn để Trump tiếp tục đánh mạnh về thuế quan ngoài việc nền kinh tế Hoa Kỳ đang tăng trưởng ở mức 3.2% mỗi năm trong quý thứ nhất của năm này, theo báo cáo mới nhất.
Nếu không có được một thỏa thuận rất tốt, cánh Charles E. Schumer và Bernie Sanders của đảng Dân Chủ sẽ không bao giờ ngừng phê bình tổng thống. Thêm vào đó, các thượng nghị sĩ Marco Rubio (Cộng Hòa-bang Florida) và Ted Cruz (Cộng Hòa-Bang Texas) sẽ xử dụng việc này để đứng về phía phải của Trump về vấn đề Trung Quốc – và sau đó có thể tranh cử chống lại Trump trong bầu cử sơ cấp. Vì những lý do trên, chọn lựa chính trị tốt nhất cho tổng thống Trump không phải là đầu hàng, mà là đánh tăng gấp đôi trên lá bài thuế quan. Chiêu thức này đã rất hiệu quả khi tạo áp lực trên phía Trung Quốc mà không làm tổn thương nền kinh tế Hoa Kỳ.
Điều cần hiểu thứ năm: Các thỏa thuận dù cứng rắn nhất vẫn cần có giám sát hữu hiệu, và đây là một yêu cầu rất khó đạt được ngay cả với những đối tác dễ tính và có thể không thể nào có được với Trung Quốc. Điều nguy hiểm là tổng thống có thể ký một thỏa thuận xem ra có vẽ hợp lý để rồi vài năm sau phát hiện ra là Hoa kỳ đã bị xí gạt.
Hoa Kỳ đã thất bại khi giám sát đúng mức việc Trung Quốc gia nhập WTO vào năm 2001. Thay vì tiếp cận được một tỷ người tiêu thụ Trung Quốc, Hoa Kỳ đã mất trên 5 triệu việc làm trong ngành biến chế kể từ năm 2000.
Điều cần hiểu thứ sáu: cả thế giới vào lúc này đang chứng kiến tận mắt việc một nhà nước toàn trị đang quân sự hóa nhanh ra tay nhốt hàng triệu người vào trong các trại lao cải, bức hại các người Uighur, các tín đồ Thiên Chúa Giáo và Phật Giáo, và do thám, và nô lệ hóa, các người dân trong nước.
Đây là lịch sử trong thời gian thực; và thế giới là một ngôi nhà đã bị chia làm hai: một nửa nô lệ, một nửa tự do. Trump và Tập đang đối mặt để tìm cách làm lệch cán cân về phía này hay phía kia. Phía bên này sẽ mang lại các lợi ích bắt nguồn từ tự do, dân chủ và chủ nghĩa tư bản thị trường-tự do. Phía kia sẽ đưa đến một chế độ toàn trị và trọng thương vận hành trong một chủ nghĩa tư bản nhà nước với đặc sắc Trung Quốc.
Cuộc chiến đấu này của Hoa Kỳ là với ĐCSTQ chứ không phải với người dân Trung Quốc. Người dân Trung Quốc là những nạn nhân đầu tiên và liên tục của chế độ man rợ này.
Các vấn đề trung tâm phải đối đầu là những ý đồ của Trung Quốc trên sân khấu thế giới và ý nghĩa của của các tham vọng đó đối với nền thịnh vượng của Hoa Kỳ. Khi nước Mỹ của chúng ta đang ở trong một ngã tư, hơn bao giờ hết điều quan trọng nhất là Trump phải hành động theo bản năng của mình và không làm dịu lập trường khi đối đầu với một nguy cơ sinh tử lớn nhất và chưa từng có trong lịch sử nước Mỹ.
(Bình luận trên nhật Báo The Washington Post)
May 7, 2019
Chấn Minh chuyển ngữ
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Những thách thức trước khi Việt Nam làm Chủ tịch ASEAN

Những thách thức trước khi Việt Nam làm Chủ tịch ASEAN

Trước khi Việt Nam làm chủ tịch ASEAN vào 2020, khu vực châu Á đứng trước những lựa chọn khó khăn khi Mỹ – Trung gia tăng cạnh tranh.

“Cạnh tranh giữa các nước lớn ở khu vực sẽ ở mức độ cao hơn và khó dự đoán. Dường như quá trình tái định hình trật tự thế giới vẫn tiếp diễn nhưng chúng ta không biết đường hướng là gì”, ông Phạm Quang Vinh, cựu Trưởng SOM ASEAN của Việt Nam, nêu vấn đề trong hội thảo “Năm chủ tịch ASEAN 2020 của Việt Nam: Khuyến nghị về các ưu tiên” ngày 8/5 tại Hà Nội. Từ đầu 2020, Việt Nam sẽ đảm nhiệm chức Chủ tịch ASEAN, theo luân phiên trong Hiệp hội.

Trước ý kiến về việc ASEAN cần phải chọn một bên hay hợp tác ở một số lĩnh vực, khi Mỹ và Trung Quốc gia tăng cạnh tranh, ông Vinh cho rằng ASEAN có thể cần phải kết hợp các lựa chọn một cách linh hoạt. Thách thức của Hiệp hội là có nhiều lựa chọn nhưng lại không dễ thực hiện.

Cựu trưởng SOM Việt Nam đánh giá các nước lớn như Mỹ và Trung Quốc vẫn coi ASEAN là đối tác quan trọng, sẽ tiếp tục hợp tác với Hiệp hội để xử lý các vấn đề của khu vực và ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN.

“Đây chính là lúc để ASEAN cân nhắc, tìm ra những lợi ích của mình trong cạnh tranh của các nước lớn”, ông Vinh gợi ý.

Để phát huy vai trò của mình, ASEAN cần duy trì hợp tác với các nước lớn, đưa ra tiếng nói của mình với các vấn đề quan trọng của khu vực. Đặc biệt, việc ASEAN nhìn nhận luật quốc tế như thế nào trong thời điểm thế giới có nhiều thay đổi là điều rất quan trọng. Ông Vinh cho rằng các quy tắc và luật lệ quốc tế được xem xét như thế nào ở Biển Đông sẽ thu hút sự chú ý lớn.

Nêu cụ thể hơn cạnh tranh Mỹ – Trung ở khu vực, Tiến sĩ Alfred Oehlers, một chuyên gia Mỹ, nhắc đến hai sáng kiến Vành đai Con đường của Bắc Kinh (BRI) và Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Washington (IPI). Ông Oehlers cho rằng vấn đề là cách thức Việt Nam, hoặc một nước khác làm Chủ tịch ASEAN, có thể điều phối hòa hòa hai sáng kiến này.

“Nếu ASEAN có thể cân đối hai sáng kiến, Hiệp hội sẽ đạt được một số lợi ích, hoặc giúp đưa trật tự thế giới dựa trên luật lệ vào các sáng kiến này, nhằm đảm bảo lợi ích cho các nước ASEAN”, Tiến sĩ Oehlers nói.

Với vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2020, nếu Việt Nam đưa ra tuyên bố giúp định rõ tầm nhìn của ASEAN, cho thấy sự khác biệt và tương đồng với BRI và IPI, thì sẽ thu hút các đối tác tăng hợp tác với Hiệp hội và giúp tăng cường vai trò của ASEAN.

Với tranh chấp Biển Đông, Tiến sĩ Oehlers cho rằng Việt Nam khi nêu ra bàn thảo cần thể hiện cam kết mạnh mẽ với trật tự dựa trên luật lệ và luật quốc tế. ASEAN nên thể hiện sự nhất trí về khái niệm các quy tắc quốc tế mà tất cả các bên cần tuân theo.

“ASEAN có nhiều tuyên bố, nếu các thành viên đều tuân thủ theo đúng luật lệ thì Hiệp hội sẽ thể hiện được vai trò quan trọng của mình”, ông Oehlers nói. Ông cho rằng phán quyết của Tòa trọng tài quốc tế năm 2016, trong đó bác bỏ yêu sách đường lưỡi bò của Trung Quốc là căn cứ cho thấy thảo luận nên đi theo hướng nào.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Mỹ muốn giúp Việt Nam xây dựng năng lực trên biển

Posted on by huyentamhh
Các sĩ quan Mỹ trên tàu sân bay Hải quân Hoa Kỳ Carl Vinson tại cảng Đà Nẵng, Việt Nam

Mỹ muốn giúp Việt Nam xây dựng năng lực trên biển

© AP Photo / Hau Dinh
VŨ KHÍ

URL rút ngắn
10

Đô đốc Mỹ khẳng định hợp tác quốc phòng hai nước dựa trên lợi ích chiến lược chung và tăng năng lực bảo vệ chủ quyền, thực thi luật pháp trên biển cho Việt Nam.

Trong chuyến thăm Việt Nam kéo dài 4 ngày, Đô đốc Philip S. Davidson, chỉ huy Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ đã thảo luận về việc tiếp tục triển khai hợp tác an ninh Việt – Mỹ trong nhiều lĩnh vực, gồm giải quyết vấn đề chiến tranh để lại, tăng cường năng lực của Việt Nam trong hoạt động gìn giữ hòa bình, xây dựng năng lực thực thi pháp luật trên biển, đảm bảo sự tự do và rộng mở của khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, theo thông cáo của đại sứ quán Mỹ.

“Hợp tác quốc phòng giữa Mỹ và Việt Nam dựa trên lợi ích chiến lược chung của hai nước trong việc đảm bảo chủ quyền và độc lập của Việt Nam, thúc đẩy trật tự quốc tế dựa trên luật lệ”, đô đốc Davidson hôm qua phát biểu khi kết thúc chuyến thăm tới Hà Nội, Khánh Hòa và Thành phố Hồ Chí Minh.

Đô đốc Davidson hôm 17/4 đến thăm tỉnh Khánh Hòa, dự lễ khánh thành phòng điều trị mới do quân đội Mỹ hỗ trợ xây dựng tại Bệnh viện Da liễu Khánh Hòa.

Quan hệ hợp tác Việt – Mỹ được cải thiện trên nhiều lĩnh vực trong những năm gần đây. Sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ vào năm 1995, kim ngạch thương mại hai chiều tăng từ 451 triệu USD năm 1995 lên đến 52 tỷ USD năm 2016, biến Việt Nam trở thành một trong những thị trường xuất khẩu tăng trưởng nhanh nhất của Mỹ.

Trong hợp tác quốc phòng, Việt Nam đã được mời tham gia các cuộc diễn tập hải quân quy mô lớn của Mỹ, trong khi Mỹ chuyển giao nhiều khí tài quân sự và điều các tàu chiến tới thăm Việt Nam. Đại diện Đại sứ quán Mỹ hôm 1/4 cũng đã bàn giao 6 xuồng tuần tra Metal Shark cho Bộ tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 3 Việt Nam tại Khánh Hoà.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Đô đốc Tư lệnh Davidson: Hợp tác quốc phòng Mỹ-Việt dựa trên lợi ích chiến lược chung của hai nước

Posted on by huyentamhh

Đô đốc Tư lệnh Davidson: Hợp tác quốc phòng Mỹ-Việt dựa trên lợi ích chiến lược chung của hai nước

21 Tháng Tư 20195:56 CH(Xem: 214)

“>

VĂN HÓA ONLINE – ĐIỂM NÓNG A  – THỨ HAI 22 APRIL 2019

Đô đốc Tư lệnh Davidson: Hợp tác quốc phòng Mỹ-Việt dựa trên lợi ích chiến lược chung của hai nước

19/04/2019

image002

Đô đốc Philip Davidson và Bí thư Thành ủy HCM Nguyễn Thiện Nhân, ngày 17/4/2019. Photo VOV via SGGP.

Ngày 18/4/2019, Đô đốc Philip S. Davidson đã kết thúc chuyến thăm đầu tiên tới Việt Nam trên cương vị Tư lệnh Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương–Thái Bình Dương Hoa Kỳ (USINDOPACOM) sau chuyến đi dài 4 ngày tới Hà Nội, tỉnh Khánh Hòa và thành phố Hồ Chí Minh.

Trong chuyến công du này, “Đô đốc Davidson và các quan chức Việt Nam đã thảo luận về việc tiếp tục triển khai một cách sâu sắc hơn hoạt động hợp tác an ninh giữa Hoa Kỳ và Việt Nam trong nhiều lĩnh vực, bao gồm giải quyết các vấn đề chiến tranh để lại, tăng cường năng lực của Việt Nam trong hoạt động gìn giữ hòa bình, xây dựng năng lực thực thi pháp luật trên biển, và đảm bảo sự tự do và rộng mở của khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”, Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam cho biết trong một thông cáo hôm 19/4.

Hợp tác quốc phòng giữa Hoa Kỳ và Việt Nam dựa trên lợi ích chiến lược chung của hai nước.

“Hợp tác quốc phòng giữa Hoa Kỳ và Việt Nam dựa trên lợi ích chiến lược chung của hai nước trong việc đảm bảo chủ quyền và độc lập của Việt Nam và thúc đẩy một trật tự quốc tế dựa trên luật lệ”, Đô đốc Davidson phát biểu trong chuyến thăm.

Hôm 17 và 18/4, Đô đốc Davidson đến thăm thành phố Hồ Chí Minh và gặp gỡ với Bí thư Thành ủy Nguyễn Thiện Nhân.

Trong cuộc gặp với các lãnh đạo doanh nghiệp tại thành phố, Đô đốc Davidson và các lãnh đạo doanh nghiệp đã thảo luận về cách thức Hoa Kỳ và Việt Nam có thể hợp tác để hỗ trợ khu vực tư nhân đầu tư vào cơ sở hạ tầng, như một phần trong Chiến lược Ấn Độ Dương–Thái Bình Dương của Tổng thống Donald Trump.

Hôm 17/4, Đô đốc Davidson đã tham dự lễ khánh thành các phòng điều trị mới tại Bệnh viện Da liễu Khánh Hòa do quân đội Hoa Kỳ hỗ trợ xây dựng.

Cũng hôm 17/4, ông Davidson nói với ông Trần Sơn Hải, Phó chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa rằng ông “muốn có chuyến thăm chính thức của tàu sân bay Mỹ đến Khánh Hòa vào mùa hè này”, theo báo Người Lao động.

Trước đó, trong thời gian ở Hà Nội từ ngày 15-16/4, Đô đốc Davidson đã gặp các quan chức chính phủ và quốc phòng cấp cao của Việt Nam, bao gồm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Ngô Xuân Lịch; Thứ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn, và Phó Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, ông Nguyễn Mạnh Cường.

Trong một diễn biến liên quan, chiều ngày 18/4, Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Thị Kim Ngân tiếp Đoàn đại biểu Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ do Thượng nghị sĩ Patrick Leahy – Phó Chủ tịch Ủy ban Chuẩn chi Thượng viện Hoa Kỳ, làm Trưởng đoàn nhân chuyến thăm làm việc tại Việt Nam.

image003

Thượng Nghị sĩ Hoa Kỳ Patrick Leahy và Chủ tịch QH Nguyễn Thị Kim Ngân, hôm 18/4/2019 tại Hà Nội. Photo VNA

(theo VOA)

++++++++++++++++++++++++++++++++++++

XEM THÊM:

Đô đốc Philip S. Davidson: ” … chỉ trừ chiến tranh với Hoa Kỳ”

22/04/2018

image004

Đô đốc Philip S. Davidson

Võ Hồng Ly FB

Nhận định này được đưa ra trong một văn bản của gửi cho Ủy Ban Quân Vụ Thượng Viện Hoa Kỳ hôm 17 tháng 4, trước cuộc điều trần chuẩn thuận ông vào chức Chỉ Huy Bộ Tư Lệnh Thái Bình Dương PACOM.

Đô đốc Davidson viết rằng, một khi đã chiếm trọn Biển Đông, Trung Cộng sẽ có khả năng mở rộng ảnh hưởng của mình hàng ngàn dặm về hướng nam và phóng chiếu sức mạnh sâu vào vùng Châu Đại Dương.

Theo ông, quân đội Trung Cộng có thể sử dụng các căn cứ ở Biển Đông để thách thức sự hiện diện của Hoa Kỳ trong vùng, và bất cứ lực lượng nào được Trung Cộng điều đến các đảo nhân tạo cũng sẽ dễ dàng áp đảo các lực lượng quân sự của bất cứ nước nào khác có yêu sách chủ quyền ở Biển Đông.

image001

Đô đốc Davidson cho rằng, chỉ trừ trường hợp chiến tranh với Hoa Kỳ, Trung Cộng hiện nay có đủ khả năng kiểm soát Biển Đông trong mọi tình huống.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Máy bay tàng hình TQ sẵn sàng tác chiến trong năm nay?

Posted on by huyentamhh

Máy bay tàng hình TQ sẵn sàng tác chiến trong năm nay?

Trung Quốc có thể tuyên bố máy bay tàng hình của nước này sẵn sàng tác chiến ngay trong năm nay, chỉ huy Thái Bình Dương của Không quân Mỹ cho biết.

Bloomberg ngày 2-5 dẫn lời tướng Charles Brown nói việc máy bay tàng hình J-20 có thể sẵn sàng tác chiến trong năm nay là tín hiệu cho thấy “mối đe dọa lớn hơn, năng lực mạnh hơn” của Trung Quốc tại Thái Bình Dương. Ngoài ra, Bắc Kinh cũng phát triển máy bay ném bom tầm xa có khả năng mang đầu đạn hạt nhân.

Theo ông Brown, Mỹ luôn giám sát chặt chẽ việc Trung Quốc tăng cường năng lực quân sự tại khu vực.

Ông nhấn mạnh rằng Mỹ sẽ có động thái đối phó với các diễn tiến trên, bao gồm việc tăng cường triển khai dòng máy bay thế hệ mới F-35 và tiếp tục bay qua các khu vực chiến lược như Biển Đông.

“Tôi thấy hoạt động của Trung Quốc có phần gia tăng” – Gen Brown nói trong cuộc phỏng vấn với Bloomberg.

Việc đưa J-20 ra thực địa sẽ giúp tăng cường cho lực lượng không quân Trung Quốc, hiện lớn nhất khu vực và lớn thứ ba thế giới, với hơn 2.500 máy bay, bao gồm 1.700 máy bay chiến đấu, máy bay ném bom chiến lược, máy bay ném bom chiến thuật và máy bay chiến thuật và tấn công đa nhiệm vụ, theo báo cáo của Cơ quan Tình báo quốc phòng Mỹ.

Máy bay tàng hình Trung Quốc sẵn sàng tác chiến trong năm nay? - Ảnh 2.

Tướng Charles Brown – Ảnh: THE SENTINEL

Máy bay chiến đấu J-20 là một phần trong nỗ lực hiện đại hóa của Trung Quốc nhằm “thu hẹp khoảng cách năng lực với các lực lượng không quân phương Tây trên một phạm vi rộng, như hiệu suất máy bay, chỉ huy và điều khiển và chiến tranh điện tử”, báo cáo cho biết.

Ông Brown cũng cho rằng Trung Quốc đang chuyển sang phát triển máy bay ném bom công dụng kép “tương tự máy bay ném bom của Mỹ” về khả năng mang vũ khí hạt nhân và vũ khí dẫn đường chính xác phi hạt nhân.

“Tôi không nghĩ rằng sẽ là quá sớm để nói rằng họ cũng có thể làm điều đó”, ông nói.

Quyền Bộ trưởng Quốc phòng Patrick Shanahan, trong một tuyên bố ngày 1-5 gửi tiểu ban đánh giá quốc phòng Hạ viện, cho biết máy bay ném bom tầm xa của Trung Quốc “nếu thành công, sẽ đưa Trung Quốc thành một trong ba quốc gia sở hữu bộ ba hạt nhân”, gồm năng lực hạt nhân trên bộ, trên biển và trên không.

Theo ông Brown, Mỹ có nhiều cách để đối phó với động thái này của Bắc Kinh, bao gồm triển khai không báo trước các máy bay ném bom B-1B, B-52 và B-2.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.