Chính-Trị Thời-Sự

Ai là “khắc tinh” của đại dự án Vành đai và Con đường

Ai là “khắc tinh” của đại dự án Vành đai và Con đường

Ông đã giúp các nước trong khu vực hiểu rõ cách sống với Trung Quốc: không có gì phải sợ Bắc Kinh, vừa ảnh giác với củ cà rốt, vừa tránh được cây gậy của họ.

Phân tích phản ứng của Malaysia về “siêu dự án” Vành đai và Con đường của Trung Quốc;

Nội dung chủ yếu tập trung chỉ ra tham vọng của Bắc Kinh và đòi Trung Quốc phải có trách nhiệm giải trình và minh bạch hóa nội dung của “sáng kiến lịch sử” này.

Đặc biệt, tân Thủ trướng Mahathir Mohamad, đã tạm dừng để xem lại các dự án bất bình đẳng mà cựu Thủ tướng Najib Razak đã ký với một loạt doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc trong khuôn khổ Vành đai và Con đường.

Theo chúng tôi, quyết định này của vị “nguyên lão” khả kính lập tức được sự đồng tình ủng hộ của không chỉ người dân Malaysia mà còn của hầu hết nhân dân trong khu vực và quốc tế. Tại sao?

Thứ nhất, qua thực tế đã được triển khai tại một số quốc gia, nhiều chuyên gia kinh tế, chính trị, các học giả…, đều có chung một nhận định rằng “siêu dự án” Vành đai và Con đường”, đã dần dần bộc lộ bản chất đích thực của nó;

Đó là biến tướng của quá trình cạnh tranh chiếm đoạt thị trường của chủ nghĩa thực dân kiểu mới, nấp dưới hình thức xuất khẩu tư bản, nhân công rẻ mạt, công nghệ, kỹ thuật lạc hậu và hàng hóa dư thừa, kém chất lượng…

Như vậy, có thể thấy chiến lược thực sự đằng sau Vành đai và Con đường không chỉ nhằm gài các nước vào “bẫy nợ ngoại giao”; tạo môi trường để tái cơ cấu kinh tế Trung Quốc, mà còn nhằm thực hiện những mục tiêu về chính trị, quốc phòng, an ninh.

Trong đó đáng chú ý có mục tiêu sử dụng dự án này để “bẫy” các quốc gia khi tham gia, phải mặc nhiên thừa nhận yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với hầu hết Biển Đông;

Hợp thức hóa việc chiếm đóng bất hợp pháp của Trung Quốc đối với các thực thể địa lý nằm giữa Biên Đông cũng nằm trong tính toán của Bắc Kinh đằng sau đại dự án này.

Thứ hai, người Malaysia đã cảnh báo trước về tiền lệ của Sri Lanka và cáo buộc ông Najib Razak đã “bán nước” theo cách tương tự.

Vì vậy, Chính phủ mới của Thủ tướng Mahathir Mohamad đã quyết định sẽ đàm phán lại một số dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng lớn của Trung Quốc.

Họ tin là những dự án này có giá trị thấp về tiền bạc cũng như hiệu quả quản trị, bao gồm tuyến đường sắt kết nối bờ biển phía Đông trị giá 14 tỉ USD và 2 đường ống dẫn khí đốt.

Tuy nhiên, với một tinh thần thật sự cầu thị, biết mình biết ta, Tiến sĩ Mahathir Mohamad nói ông hoan nghênh đầu tư và công nghệ của Trung Quốc, nhưng với điều kiện các dự án phải sử dụng hiệu quả kinh phí, minh bạch và mang lại lợi ích thực sự cho các doanh nghiệp và lao động địa phương.

Theo chúng tôi có thể nói ngài Thủ tướng, Tiến sĩ Mahathir Mohamad, đã điểm đúng “tử huyệt” của “siêu dự án” Vành đai và Con đường.

Đặc biệt, mặc dù không đề cập một cách trực tiếp, Thủ tướng Mahathir Mohamad đã ngầm phát đi một thông điệp rằng các nước trong khu vực và các nước liên quan ngoài khu vực rằng:

Một mặt, phải nâng cao cảnh giác trước những “củ cà rốt” mang nhãn hiệu Trung Quốc; mặt khác, cũng cần phải có cách để tồn tại, làm sao tránh được những “cái gậy” hiểm độc luôn sẵn sàng nện xuống đầu mình.

Thứ ba, Thủ tướng Malaysia Mahathir Mohamad đáng kính đã thẳng thắn công khai quan điểm và cách thức ứng xử của mình trong quan hệ với Trung Quốc ngay từ khi ông mới nhậm chức:

Nếu trong quan hệ với Trung Quốc, nguyên tắc bình đẳng, tôn trong lẫn nhau, rõ ràng, minh bạch, thượng tôn pháp luật luôn được duy trì.

Tiến sĩ Trần Công Trục, ảnh do tác giả cung cấp.

Cụ thể, khi trả lời câu hỏi của South China Morning Post về việc một số người nói rằng Thủ tướng chống Trung Quốc, Thủ tướng Mahathir Mohamad đã khôn khéo nói:

“Dĩ nhiên có những việc nhất định đã được thực hiện mà Malaysia không được lợi ích gì, thậm chí nó không tốt cho Malaysia.

Chúng tôi hoan nghênh đầu tư trực tiếp nước ngoài từ bất kỳ quốc gia nào, chắc chắn bao gồm cả Trung Quốc.

Nhưng khi nói đến việc ký hợp đồng với Trung Quốc, vay các khoản tiền khổng lồ từ Trung Quốc, các nhà thầu Trung Quốc thích sử dụng công nhân của họ từ Trung Quốc, dùng mọi thứ được nhập từ Trung Quốc, thậm chí việc thanh toán không được thực hiện ở đây mà ở Trung Quốc;

Những loại hợp đồng đó không phải là thứ mà tôi hoan nghênh.

Một điều nữa là họ phát triển trọn gói nhiều đô thị, những đô thị rất phức tạp, rất đắt tiền mà người Malaysia không thể mua được.

Vì vậy, họ sẽ đưa người nước ngoài đến sống ở những thành phố này. Hiện nay, không một quốc gia nào trên thế giới chấp nhận hàng loạt người nhập cư đến quốc gia của mình.

Bạn thấy điều này ở Mỹ, châu Âu hay bất cứ đâu.

Chúng tôi không muốn có một thành phố được xây dựng ở Malaysia để (nhà đầu tư) đưa người nước ngoài đến ở đó.

Đó là những gì tôi chống lại, ngay cả khi (nhà đầu tư) là người Ấn Độ, các nước Ả Rập hay châu Âu.

Những người nhập cư nước ngoài với số lượng lớn sẽ không ai được chào đón, chắc chắn là không đối với Malaysia.”

Thiết nghĩ, phản ứng rất thẳng thắn, trí tuệ, hợp lý, hợp tình của Thủ tướng Malaysia Mahathir Mohamad là bài học cho những quốc gia mà Trung Quốc đang nhằm vào để vận động tham gia vào “đại dự án” Vành đai và Con đường.

Phải chăng Ông chính là “khắc tinh” của đại dự án này?

Người dân Malaysia đã đúng khi bỏ phiếu bầu vị “nguyên lão” khả kính  này vào vị trí đứng đầu Chính phủ của mình.

Chẳng những họ, mà kể cả cộng đồng ASEAN, chúng ta cũng tự hào về nhân cách, trí tuệ và bản lĩnh của Thủ tướng Mahathir Mohamad, một tấm gương sáng để noi theo trong cuộc đấu tranh sinh tồn và phát triển trước những diễn biến phức tạp, khôn lường của tình hình khu vực và quốc tế hiện nayâ

Advertisements
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Vì sao ông Trump quyết chiến với TQ về thương mại?

Vì sao ông Trump quyết chiến với TQ về thương mại?

Ngày 6/7, Mỹ và Trung Quốc chính thức bước vào cuộc chiến thương mại “lớn nhất lịch sử”, theo cách gọi của Trung Quốc.

Washington và Bắc Kinh đồng thời tăng thuế 25% lên các mặt hàng nhập khẩu của đối phương trị giá 34 tỷ USD. Đây là một phần trong gói áp thuế 50 tỷ USD mà Tổng thống Mỹ Donald Trump đã đe dọa ngày 15/6.

Gói thuế 14 tỷ USD nữa sẽ được Mỹ xem xét công bố trong 2 tuần tới. Chính quyền Trump cũng cảnh báo sẽ tăng thuế lên tổng cộng 500 tỷ USD hàng hóa từ Trung Quốc nếu Bắc Kinh có động thái trả đũa.

Ngoài mục tiêu cân bằng thương mại Mỹ-Trung, ông Trump nhiều lần nhấn mạnh việc “lấy lại công bằng” cho các doanh nghiệp Mỹ. Bản báo cáo dài 200 trang của Đại diện Thương mại Mỹ công bố hôm 22/3 nêu rõ Trung Quốc đã có những hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của Mỹ.

Trước đó, ông Trump và nhiều quan chức cấp cao Nhà Trắng từng nói thẳng Trung Quốc “ăn cắp tài sản trí tuệ” Mỹ.

Lo ngại với “Made in China 2025”

Người Mỹ càng cảm thấy lo lắng hơn, khi biết Trung Quốc đã vạch hẳn kế hoạch trung và dài hạn để vươn lên dẫn đầu công nghệ. Kế hoạch này có tên “Made in China 2025” (sản xuất tại Trung Quốc 2025). Theo đó, Trung Quốc sẽ chuyển đổi thành một nước dẫn đầu về công nghệ, bước đầu là năm 2025, tiếp đó là năm 2035 và 2049.

“Made in China 2025” đặc biệt chú trọng nâng cấp ngành sản xuất của Trung Quốc trong 10 lĩnh vực chiến lược như: Công nghệ thông tin, máy công nghệ cao và robot, hàng không vũ trụ, thiết bị hàng hải và tàu biển, vận tải đường sắt tiên tiến, thiết bị vận tải sử dụng năng lượng mới, năng lượng, máy móc nông nghiệp, vật liệu mới và y sinh học.

Trung Quốc(Ảnh: Zhai Haijun/China.org.cn])

Việc một nền kinh tế hướng tới công nghệ cao là điều đáng khuyến khích. Tuy nhiên, cách để Trung Quốc đạt được trình độ công nghệ cao lại có vấn đề.

Thay vì bỏ tiền của, công sức và thời gian để nghiên cứu và phát triển, Bắc Kinh bị cáo buộc đã tìm cách “đánh cắp công nghệ” của các nước khác, thông qua tin tặc, gián điệp, thôn tính công ty và chèn ép các công ty đầu tư vào Trung Quốc.

Trong một cuộc phỏng vấn với Reuters hôm 17/1, Tổng thống Trump và Cố vấn kinh tế Gary Cohn nói Trung Quốc đã ép các công ty Mỹ phải chuyển giao tài sản trí tuệ cho Trung Quốc như “chi phí” để được làm ăn tại nước họ.

Ngày 1/6, Liên minh châu Âu (EU) đã khởi kiện Trung Quốc tại Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vì cho rằng nước này đặt ra quy định trái phép, ép buộc các công ty châu Âu phải chuyển giao công nghệ cho các đối tác Trung Quốc như điều kiện để được quyền làm ăn ở Trung Quốc.

“Chúng tôi không thể để bất cứ nước ngoài ép buộc các công ty của chúng tôi phải giao các kiến thức chuyên môn khó kiếm tại biên giới của họ. Điều này đi ngược với các quy tắc quốc tế mà chúng tôi đã nhất trí khi gia nhập WTO. Nếu các bên tham gia không tuân thủ luật chơi, hệ thống có thể sụp đổ”, Cao ủy Thương mại EU Cecilia Malmström phát biểu.

Cao ủy Thương mại EU Cecilia MalmströmCao ủy Thương mại EU Cecilia Malmström phát biểu tại cuộc họp ở Brussels, Bỉ ngày 1/6/2018. (Ảnh: AFP)

Vào tháng 12/2017, một công ty công nghệ Mỹ là Micron đã đệ đơn kiện một công ty Trung Quốc, với cáo buộc đánh cắp 900 tệp dữ liệu bí mật thông qua mua chuộc và gián điệp, nhằm ứng dụng phát triển các dự án công nghệ tại Trung Quốc.

Micron Technology là một công ty Mỹ sở hữu các thiết kế vi mạch có vai trò sống còn cho khả năng lưu trữ và truy xuất bộ nhớ của điện thoại và máy tính.

Theo đơn kiện của Micron tới Tòa án liên bang tại quận phía Bắc California, Công ty Vi mạch Kim Hoa Phúc Kiến (Fujian Jinhua Integrated Circuit – FJIC), Trung Quốc đã ăn cắp bí mật công nghệ của hãng. Những bí mật bị đánh cắp nhằm xây dựng 1 nhà máy trị giá 5,7 tỷ USD tại tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc.

Trong báo cáo của Đại diện Thương mại Mỹ ngày 22/3, có đến hơn 100 lần cụm từ “Made in China 2025” được nhắc tới. Điều này cho thấy, quan ngại lớn nhất của Tổng thống Trump với Trung Quốc không phải thâm hụt thương mại, mà chính là kế hoạch “Made in China 2025”.

Bảo vệ doanh nghiệp và người lao động Mỹ

Một vũ khí lợi hại mà Tổng thống Trump đang xem xét là hạn chế đầu tư nhằm vào Trung Quốc.

Hồi tháng 3, Tổng thống Trump đã chỉ đạo Bộ trưởng Tài chính Mỹ Steven Mnuchin nghiên cứu một kế hoạch nhằm hạn chế hoạt động đầu tư của Trung Quốc “vào các ngành công nghiệp và kỹ thuật có ý nghĩa quan trọng của Mỹ”.

Steven MnuchinBộ trưởng Tài chính Mỹ Steven Mnuchin.

CNN dẫn lời một cá nhân am hiểu kế hoạch của Nhà Trắng nói rằng các công ty có tối thiểu 25% vốn sở hữu của Trung Quốc sẽ bị cấm mua lại những công ty liên quan tới công nghệ mà Washington đánh giá là quan trọng, ví dụ như không gian vũ trụ, robot, công nghiệp ô tô.

Một nguồn tin giấu tên từ chính quyền Mỹ cho hay quy định hạn chế đầu tư mới có thể sẽ “khép chặt cánh cửa” tiếp cận của Trung Quốc đối với khoảng 1.000 công ty và doanh nghiệp Mỹ.

Các doanh nghiệp Mỹ nói rằng họ thiệt hại đến hàng trăm tỷ USD về công nghệ và hàng triệu công việc vì các hành vi gian lận của Trung Quốc.

Ngày 6/7, một tòa án Mỹ đã phạt nhà sản xuất tuabin gió Trung Quốc Sinovel Wind Group 1,5 triệu USD và đặt công ty này vào quản chế trong một năm, với cáo buộc trộm cắp bí mật thương mại và gian lận.

Theo các tài liệu của tòa án, Sinovel đã ăn cắp phần mềm điều chỉnh dòng điện từ tuabin tới lưới điện của AMSC, một công ty công nghệ năng lượng ở Ayer, Massachusetts.

Vì vụ trộm, doanh thu của AMSC giảm, giá trị thị trường giảm từ 1,6 tỷ USD xuống còn khoảng 200 triệu USD và công ty buộc phải loại bỏ gần 700 việc làm, hơn một nửa lực lượng lao động toàn cầu của công ty.

Sinovel Wind GroupSinovel đã ăn cắp phần mềm điều chỉnh dòng điện từ tuabin tới lưới điện của AMSC.

Ông Trump từng nói rằng ông muốn Mỹ có quan hệ tốt với Trung Quốc, nhưng Bắc Kinh cần đối xử “công bằng” với đối tác.

Với việc “khai hỏa” cuộc chiến thương mại ngày 6/7, Tổng thống đã chọn phương án cuối cùng để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của các công ty Mỹ, qua đó bảo vệ việc làm cho người Mỹ trước sự đe dọa từ Trung Quốc.

Ai là người thắng cuối cùng?

Nhiều chuyên gia cảnh báo một cuộc chiến thương mại giữa hai nền kinh tế lớn nhất-nhì thế giới sẽ khiến cả hai “lưỡng bại câu thương”, và ảnh hưởng xấu đến kinh tế thế giới.

Trong khi đó, Tổng thống Trump từng cho rằng Mỹ “dễ thắng trong các cuộc chiến tranh thương mại” (trade wars are easy to win). Riêng với Trung Quốc, niềm tin đó của ông càng cao.

Lý thuyết của ông khá đơn giản: Hiện Mỹ xuất khoảng 200 tỷ USD hàng hóa sang Trung Quốc, trong khi Trung Quốc xuất sang Mỹ khoảng 500 tỷ USD hàng hóa, chênh lệch khoảng 300 tỷ USD.

Vì vậy, nếu Mỹ áp thuế hàng hóa Trung Quốc trong vòng 200 tỷ USD, Bắc Kinh có thể đáp trả tương ứng, nhưng nếu Washington áp thuế trên 200 tỷ USD hàng hóa, Trung Quốc lại chẳng thể nâng thêm.

trade war(Ảnh: SHUTTERSTOCK)

Hồi tháng 5, Trung Quốc đã từng điều đình với Mỹ để ngăn chặn một cuộc chiến thương mại. Theo giới phân tích, việc Bắc Kinh nhượng bộ trước rất đáng chú ý, vì nước này dường như ngầm thừa nhận sự yếu kém.

Milton Ezrati, kinh tế trưởng của Vested ở New York kiêm biên tập viên tạp chí The National Interest, cho rằng khó khăn rõ thấy nhất của Trung Quốc nằm ở mô hình tăng trưởng thiên về xuất khẩu, điều mà nhiều người ở phương Tây nhầm lẫn là sức mạnh của cường quốc đông dân nhất thế giới.

Do Trung Quốc quá chú trọng đến việc sản xuất, họ đã tạo ra sự dư thừa, có thể dẫn đến lãng phí nếu các công ty quốc doanh không thể bán hết được chúng.

Không có người mua, các bó cốt thép, động cơ phản lực và những sản phẩm tương tự sẽ trở nên han gỉ trong các sân kho nhà máy. Điện thoại iPhone và hàng triệu áo phông in sẵn logo sẽ gây ra vấn đề lưu kho nghiêm trọng.

Mô hình tăng trưởng như trên phụ thuộc vào sự thịnh vượng ở các nước khác, những nơi tiêu thụ sản phẩm của Trung Quốc. Các báo cáo về tăng trưởng kinh tế gần đây của Trung Quốc đã chỉ rõ sự phụ thuộc này.

Ngay cả Tổng cục Thống kê Trung Quốc cũng quy tốc độ tăng trưởng ở Mỹ và châu Âu là nguyên nhân dẫn đến sự phát triển nhảy vọt của nước này.

Dĩ nhiên, chiến tranh thương mại sẽ có những tổn hại trước mắt cho một số doanh nghiệp Mỹ, nhưng lợi ích về lâu dài có thể lớn hơn.

Đặc biệt, trong bối cảnh nền kinh tế Mỹ đang ở trong giai đoạn “nở rộ” với tốc độ tăng trưởng cao và thất nghiệp thấp sẽ cho Tổng thống Trump thêm nhiều “vũ khí” để chiến đấu với Trung Quốc.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

TQ “bị sốc” vì kế hoạch đánh thuế mới của ông Trump

TQ “bị sốc” vì kế hoạch đánh thuế mới của ông Trump

Bắc Kinh thề sẽ đáp trả kế hoạch của chính quyền Tổng thống Donald Trump về đánh thuế thêm 200 tỷ USD hàng hóa Trung Quốc, đẩy cuộc chiến thương mại giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới leo thang thêm một bước.

Tổng thống Mỹ Donald Trump (trái) và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình thăm Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh, tháng 11/2017 – Ảnh: Reuters.

Theo tin từ Bloomberg, Bắc Kinh gọi động thái thương mại mới nhất của Washington là “hoàn toàn không thể chấp nhận được”, đồng thời hối thúc các quốc gia khác cùng Trung Quốc bảo vệ tự do thương mại và chủ nghĩa đa phương. Trung Quốc cũng nói sẽ lên án Mỹ tại Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), nhưng không nói rõ các biện pháp đáp trả sẽ là như thế nào.

“Trung Quốc bị sốc vì hành động của Mỹ”, tuyên bố đăng ngày 11/7 trên website của Bộ Thương mại Trung Quốc có đoạn viết. “Để bảo vệ lợi ích cốt lõi của đất nước và người dân, Chính phủ Trung Quốc buộc phải đáp trả như đã từng làm”.

Tuyên bố trên được đưa ra chỉ vài giờ sau khi Mỹ công bố danh sách hàng nghìn sản phẩm Trung Quốc dự kiến bị áp thuế quan 10%, từ máy hút bụi, cần gạt nước xe hơi, cho tới thìa bạc và chổi lông. Tổng giá trị nhập khẩu vào Mỹ hàng năm của danh sách hàng Trung Quốc này là 200 tỷ USD. Bản danh sách không bao gồm những mặt hàng quan trọng như điện thoại di động.

Nếu kế hoạch áp thuế này được thực thi sau khi thời gian tham vấn công chúng kết thúc vào ngày 30/8, thì tổng lượng hàng hóa Trung Quốc bị Mỹ áp thuế sẽ tương đương gần một nửa kim ngạch nhập khẩu hàng hóa Trung Quốc vào Mỹ.

Một số thành viên trong Đảng Cộng hòa của ông Trump chỉ trích mạnh kế hoạch đánh thuế hàng Trung Quốc nói trên, cho rằng đó là một hành động thiếu khôn ngoan.

Nhiều doanh nghiệp Mỹ và chuyên gia kinh tế cảnh báo hành động này có thể làm trệch hướng sự tăng trưởng mạnh nhất trong nhiều năm của nền kinh tế toàn cầu hiện nay.

Chưa kể, kế hoạch đánh thuế hàng Trung Quốc được Mỹ đưa ra vào thời điểm chính quyền ông Trump đang cần sự giúp đỡ của Bắc Kinh trong việc kiềm chế chương trình hạt nhân của Triều Tiên.

Theo ông Li Yong, một chuyên gia cấp cao thuộc Hiệp hội Thương mại Quốc tế ở Bắc Kinh, một biện pháp trả đũa mà Trung Quốc có thể áp dụng là đẩy mạnh hơn nữa thu hút vốn đầu tư nước ngoài, nhưng không phải vốn từ Mỹ.

“Mỹ đã tự đóng lại cánh cửa đàm phán. Việc mở lại cánh cửa đó hay không là do họ”, ông Li nói.

Giới chức Mỹ lập luận rằng họ không có lựa chọn nào khác ngoài việc áp thuế bởi Trung Quốc không giải quyết những lo ngại của Mỹ về hành vi thương mại bất bình đẳng và về việc Trung Quốc đánh cắp tài sản trí tuệ của Mỹ – hai quan chức cấp cao của Mỹ cho hay.

Từ tháng 5, Mỹ và Trung Quốc đã có ba cuộc đàm phán cấp cao để giải quyết mâu thuẫn thương mại nhưng không thành công.

Hôm 6/7, Mỹ áp thuế 25% lên 34 tỷ USD hàng hóa Trung Quốc, đánh dấu động thái áp thuế chính thức đầu tiên sau nhiều tháng đe dọa và cảnh báo. Trung Quốc ngay lập tức trả đũa bằng cách áp thuế 25% lên 34 tỷ USD hàng Mỹ.

Theo dự kiến, Mỹ sắp sửa áp thuế đối với thêm 16 tỷ USD hàng Trung Quốc. Bắc Kinh đã tuyên bố sẵn sàng đáp trả tương xứng.

“Các động lực chính trị nội bộ ở cả hai quốc gia hiện nay đều cho thấy sẽ không có bên nào chịu nhường bên nào, và sẽ không bên nào chịu nhượng bộ để xuống thang căng thẳng và nối lại đàm phán”, giáo sư về chính sách thương mại Eswar Prasad thuộc Đại học Cornell nhận xét.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Mỹ định áp thêm thuế trên 200 tỷ USD hàng hóa TQ, Bắc Kinh thề “có biện pháp mạnh”

Mỹ định áp thêm thuế trên 200 tỷ USD hàng hóa TQ, Bắc Kinh thề “có biện pháp mạnh”

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh.

Trung Quốc hôm 11/7 tuyên bố sẽ đưa ra “các biện pháp cương quyết và mạnh mẽ” chống lại đe dọa của Mỹ mở rộng biểu thuế nhập khẩu đối với hàng ngàn sản phẩm như cá cắt thanh, táo và cửa trong lúc cuộc chiến thương mại giữa hai nước đang leo thang, theo AP.

Trung Quốc không đưa ra chi tiết các việc trả đũa, nhưng trước đó đe dọa sẽ có “các biện pháp toàn diện” nếu Washington hành động thêm. Điều này dẫn đến lo ngại Bắc Kinh, đang cạn hàng nhập khẩu do các biện pháp trả đũa Mỹ trong cuộc chiến thương mại, có thể sẽ tìm cách gây gián đoạn hoạt động của các nhà sản xuất ô tô, các nhà bán lẻ và các doanh nghiệp khác vốn xem Trung Quốc là một thị trường trọng điểm.

Xung đột leo thang về chính sách công nghệ của Trung Quốc đang đe dọa đến tăng trưởng kinh tế toàn cầu.

Hôm thứ Ba, cơ quan Đại diện Thương mại Hoa Kỳ thông báo có thể sẽ có vòng tăng thuế thứ hai, nhắm vào 200 tỷ đôla hàng hóa của Trung Quốc.

Thông báo được đưa ra 4 ngày sau khi Washington thêm 25% thuế lên 34 tỷ đôla hàng hóa của Trung Quốc, khiến Bắc Kinh đáp trả bằng cách tăng thuế tương tự trên cùng số lượng hàng nhập khẩu của Mỹ.

Tăng đột ngột là “hoàn toàn không thể chấp nhận được”, AP dẫn tuyên bố của Bộ Thương mại Trung Quốc nói.

Bộ này cho biết thêm rằng Bắc Kinh sẽ có “biện pháp đối phó cần thiết” để bảo vệ “lợi ích cốt lõi” của mình.

Khi được hỏi Bắc Kinh sẽ làm gì, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh không đưa ra chi tiết, nhưng nói rằng “Chúng tôi sẽ thực hiện các biện pháp cương quyết và mạnh mẽ”.

Cơ quan Đại diện Thương mại Hoa Kỳ cho biết họ đang đáp trả lại quyết định trả đũa của Bắc Kinh thay vì thay đổi chính sách của mình.

Xe xuất xưởng đang chờ xuất cảng từ thành phố Đại Liên, Trung Quốc.
Xe xuất xưởng đang chờ xuất cảng từ thành phố Đại Liên, Trung Quốc.

Tổng thống Donald Trump đe dọa sẽ áp đặt mức thuế cao hơn trên 500 tỷ đôla hàng hóa, hoặc trên hầu hết hàng xuất khẩu mỗi năm của Trung Quốc sang Hoa Kỳ.

Cơ quan Đại diện Thương mại Hoa Kỳ sẽ lấy ý kiến công chúng và tổ chức hội nghị tiếp nhận ý kiến vào ngày 20-23 tháng 8 trước khi đưa ra quyết định sau ngày 31 tháng 8, AP dẫn nguồn từ một giới chức cấp cao giấu tên của Mỹ.

Biểu thuế đầu tiên của Hoa Kỳ tập trung vào các sản phẩm công nghiệp Trung Quốc, một nỗ lực nhằm giảm tác động trực tiếp lên người tiêu dùng Mỹ.

Danh sách mới bao gồm máy hút bụi, đồ nội thất, phụ tùng ô tô và xe đạp, cửa kiểu Pháp và ván ép. Máy tính xách tay và điện thoại thông minh mang thương hiệu Mỹ chưa bị ảnh hưởng.

“Điều đó sẽ ảnh hưởng đến khu vực xuất khẩu của Trung Quốc”, chuyên gia Rajiv Biswas của Công ty dịch vụ tài chính toàn cầu IHS Markit nhận định trong một báo cáo.

Trong khi đó, lượng hàng hóa Mỹ bán vào Trung Quốc quá nhỏ đến mức Bắc Kinh “không thể làm tương tự như biểu thuế mới của Mỹ”, chuyên gia Vishnu Varathan của Ngân hàng Mizuho cho biết.

Trung Quốc nhập khẩu 130 tỷ đôla hàng hóa của Mỹ vào năm ngoái.

Cả hai chính phủ đều đã tăng thuế đối với lượng hàng hóa trị giá 34 tỷ đôla và cho biết đang xem xét các khoản phí bổ sung trên 16 tỷ đôla hàng hóa khác nữa. Điều đó khiến cho Trung Quốc chỉ còn 80 tỷ đôla để có thể đưa ra biện pháp trả thù thêm.

Nhưng thay vào đó, nền kinh tế bị kiểm soát chặt chẽ của Trung Quốc lại giúp cho Bắc Kinh có các công cụ để phá vỡ hoạt động của các công ty Mỹ. Chẳng hạn, các cơ quan quản lý có thể không cấp, hủy giấy phép hoặc gây sức ép lên các công ty bằng cách điều tra về thuế, môi trường hoặc chống độc quyền.

Hiện các công ty đang theo dõi công ty sản xuất chip Qualcomm của Mỹ, hãng này đã chờ nhiều tháng trời để các giới chức Trung Quốc quyết định có cho phép mua lại công ty sản xuất bán dẫn toàn cầu NXP Semiconductors của Hà Lan trị giá 44 tỷ đôla. Tất cả các chính phủ lớn khác đều đã chấp thuận thỏa thuận này.

Tác động kinh tế của cuộc xung đột hiện đang lan rộng.

Phòng Thương mại Liên minh châu Âu tại Trung Quốc cho biết trong tuần này các công ty thành viên của họ đang sắp xếp lại dòng lưu chuyển hàng hóa toàn cầu để đảm bảo nếu có bất kỳ mối liên hệ nào với Hoa Kỳ thì sẽ không đi qua Trung Quốc.

Các đại biểu Quốc hội Mỹ ngày càng đặt nhiều câu hỏi về chiến thuật của ông Trump. Họ cảnh báo mức thuế nhập khẩu sẽ làm tăng giá hàng tiêu dùng và khiến cho nông dân và nhà sản xuất Mỹ phải hứng chịu việc trả đũa.

Bộ trưởng Thương mại Mỹ Wilbur Ross trong chuyến đi đến Bắc Kinh để đàm phán các vấn đề thương mại vào ngày 2/6/2018.
Bộ trưởng Thương mại Mỹ Wilbur Ross trong chuyến đi đến Bắc Kinh để đàm phán các vấn đề thương mại vào ngày 2/6/2018.

Lần thương thảo gần nhất của các đại diện thương mại hai phía Mỹ -Trung là vào ngày 3/6, khi Bộ trưởng Thương mại Mỹ Wilbur Ross đến thăm Bắc Kinh để thảo luận với Phó Thủ tướng Trung Quốc Lưu Hạc. Cả hai đều không đưa ra dấu hiệu nào cho thấy có thể sẽ sớm gặp lại nhau.

Các lãnh đạo Trung Quốc đã cố gắng nhưng không thành công trong việc giành hỗ trợ từ châu Âu và các chính phủ khác. Họ chỉ trích chiến thuật của ông Trump nhưng lại chia sẻ với những phàn nàn của Mỹ về chính sách công nghiệp của Bắc Kinh.

Hôm thứ Tư, chỉ số chứng khoán chính của Trung Quốc mất 1,8% và chỉ số thị trường của Nhật Bản giảm 1,1%. Chỉ số chính của Hồng Kông giảm 1,3%.

AP dẫn báo cáo của chuyên gia Hannah Anderson của công ty quản lý đầu tư JP Morgan Asset Management cho rằng cuộc xung đột “còn lâu mới chấm dứt” và cảnh báo “tác động sẽ là trên toàn cầu”.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Trung Quốc dùng vũ lực ở Biển Đông : Nước thứ ba có thể can thiệp ?

Trung Quốc dùng vũ lực ở Biển Đông : Nước thứ ba có thể can thiệp ?

mediaTàu sân bay USS Carl Vinson trong cuộc tuần tra tại Biển Đông, ngày 03/03/2017. Trong ảnh, chiến đấu cơ F-18 đang chuẩn bị cất cánh.REUTERS/Erik De Castro

Trung Quốc có sử dụng vũ lực hay cưỡng chế ở Biển Đông hay không ? Đối với người Việt nhất là ngư dân mưu sinh trên biển, thì đây là một câu khẳng định chứ không phải ở thể nghi vấn. Tuy nhiên theo phân tích của tiến sĩ Constantinos Yiallourides (*) trên The Diplomat, sức nặng của từ ngữ là rất đáng kể.

Căng thẳng thường xuyên tăng lên tại Biển Đông trong những năm gần đây do các hoạt động xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc, ngày nay đã trở thành một chuỗi các căn cứ quân sự hoàn chỉnh, được trang bị các phi đạo, thiết bị chiến tranh điện tử, hỏa tiễn chống hạm tầm xa và hỏa tiến địa-không.

Bộ trưởng Quốc Phòng Úc, Nhật Bản và Hoa Kỳ hôm 03/06/2018 đã ra một thông cáo chung, truyền đạt « sự phản đối mạnh mẽ » của chính phủ các nước này « về việc sử dụng vũ lực và cưỡng bức cũng như các hành động đơn phương nhằm thay đổi nguyên trạng, và lợi dụng tính chất tranh chấp cho mục đích quân sự tại Biển Đông ».

Gần đây nhất, bộ trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ James Mattis tố cáo Trung Quốc dùng quân đội« cho mục đích đe dọa và cưỡng bức », cảnh báo nếu tiếp tục sẽ nhận lãnh « những hậu quả ».

Sự chọn lựa từ ngữ đặc biệt này, nhất là dùng từ « cưỡng bức » để mô tả các hành động của Trung Quốc trên quần đảo Trường Sa, theo nhà nghiên cứu Yiallourides, không phải là vô tình. Ngược lại, « mục đích cưỡng bức » là một trong những tiêu chí mà theo đó hành động của một Nhà nước có thể bị coi là vi phạm luật pháp quốc tế về việc cấm sử dụng vũ lực, như đã quy định ở Điều 2 Khoản 4 Hiến chương Liên Hiệp Quốc.

Theo chuyên gia về việc sử dụng vũ lực, giáo sư Olivier Corten, « mục đích cưỡng bức » phản ánh mục tiêu rõ ràng hoặc tác động của việc « áp đặt lên ý chí của một Nhà nước khác », buộc phải chấp nhận một hiện trạng mới.

« Mục đích cưỡng bức » đặc biệt liên quan đến các tình huống như triển khai quân đội và chiếm đóng một lãnh thổ tranh chấp mà không lâm chiến. Chẳng hạn như việc Ấn Độ sáp nhập vùng Goa một cách chớp nhoáng năm 1961, hay Nga chiếm Crimée năm 2014, và Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất đưa quân sang chiếm đóng quần đảo Socotra của Yemen năm 2018.

Trong vụ Israel dựng lên một bức tường tại lãnh thổ Palestine chiếm đóng năm 2004, Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) nhận định đây là sự chiếm hữu lãnh thổ bằng vũ lực, vi phạm Điều 2 (4) Hiến chương Liên Hiệp Quốc. Dù phía Israel bảo đảm rằng bức tường này chỉ là tạm thời, ICJ vẫn cho rằng « việc xây dựng bức tường tạo ra ‘việc đã rồi’ trên mảnh đất này, và rất có thể trở thành vĩnh viễn » – như đã được chứng minh – « tương đương với việc sáp nhập trên thực tế ».

Cho dù vào năm 2015, ICJ vẫn chưa phân xử việc Nicaragua khi gởi quân sang vùng biển tranh chấp với Costa Rica là sử dụng vũ lực hay không, thẩm phán Patrick Robinson vẫn đưa ra ý kiến riêng về vấn đề này.

Ông Robinson nhận định « không có phát súng nào được bắn ra, không có loại vũ khí hạng nặng nào được sử dụng và chắc chắn là chẳng cần phải giết ai cả, trước khi một Nhà nước được cho là đã vi phạm điều khoản cấm ». Tuy vậy ông lý luận « ý định và mục đích » cũng như« động cơ »của Nhà nước xâm chiếm nằm trong các yếu tố liên quan để phán xét xem đây có phải là một sự xâm phạm bất hợp pháp khu vực tranh chấp hay không, cho dù không đi kèm với xung đột vũ trang, vẫn vi phạm Điều 2 (4).

Trong trường hợp đặc biệt này, « sự hiện diện kéo dài » của các nhân viên và doanh trại quân đội Nicaragua, cùng với việc từ chối rút quân khỏi lãnh thổ tranh chấp, việc « chĩa vũ khí »vào các máy bay của Costa Rica rõ ràng cho thấy Nicaragua có « mục đích cưỡng bức », cụ thể là« sẵn sàng sử dụng vũ lực mỗi khi Nicaragua cảm thấy cần thiết », như là phương tiện « để thách thức các quyền chủ quyền của Costa Rica ». Theo thẩm phán Robinson, cách xử sự của Nicaragua dẫn đến kết luận là nước này đã sử dụng vũ lực, vi phạm Điều 2 (4) Hiến chương Liên Hiệp Quốc.

Vì vậy, dù Trung Quốc bảo đảm « sẽ không sử dụng vũ lực » để giải quyết tranh chấp lãnh thổ, các hoạt động đào đắp và tiếp tục quân sự hóa các lãnh thổ tranh chấp, rõ ràng đã tạo ra việc đã rồi trên thực địa, cưỡng bức các bên yêu sách chủ quyền khác phải chấp nhận hiện trạng mới. Điều này cấu thành việc bành trướng lãnh thổ bất hợp pháp thông qua vũ lực, vi phạm luật pháp quốc tế. Chắc chắn là với việc quân sự hóa các đảo tranh chấp, Trung Quốc đã buộc các đối thủ không có chọn lựa nào khác : hoặc ngậm ngùi chấp nhận hiện trạng mới, hoặc phải đối mặt với một cuộc chiến tranh nhiều tổn thất trước một Nhà nước hùng mạnh, có vai trò chiến lược trong khu vực.

Ngay cả sau khi Tòa án Trọng tài Thường trực năm 2016 đã phán quyết yêu sách hầu như toàn bộ Biển Đông của Bắc Kinh là vô căn cứ, Trung Quốc vẫn đều đặn tiếp tục các hành động bành trướng trong khu vực. Theo nhà chính trị học hàng đầu, giáo sư Taylor Fravel, Trung Quốc sử dụng vũ lực trong tranh chấp lãnh thổ nhằm « tỏ ra cứng rắn về mặt chủ quyền và răn đe các đối thủ khác trong mọi xung đột ».

Vì sao việc phân loại này là quan trọng trong luật pháp quốc tế ? Có gì khác biệt về phương diện luật pháp, khi đánh giá các hành vi của Trung Quốc trên Biển Đông là sử dụng vũ lực, theo ý nghĩa của Điều 2 (4) Hiến chương Liên Hiệp Quốc ?

Trước hết, việc đánh giá các hành động của Trung Quốc ở Trường Sa như là sử dụng vũ lực, theo luật pháp quốc tế sẽ mở ra khả năng đáp ứng bằng hành động tự vệ. Tuy nhiên, tự vệ chỉ có thể coi là chính đáng nếu đối mặt với một cuộc tấn công vũ trang (Điều 51 Hiến chương Liên Hiệp Quốc), như ICJ đã nêu trong phán quyết giữa Nicaragua và Hoa Kỳ, một trong « những dạng thức sử dụng vũ lực trầm trọng nhất », khác với những dạng khác ít nặng nề hơn.

Việc sử dụng vũ lực của Trung Quốc là tương đối nhỏ để có thể coi là tấn công vũ trang theo nghĩa pháp luật, nhưng là một phần của các hành động vũ trang tiệm tiến, mà khi cộng dồn lại sẽ trở thành một sự chuyển đổi mang tính chiến lược trên lãnh thổ, có lợi cho Trung Quốc. Như vậy, theo tác giả, cho dù mỗi lần triển khai lực lượng đơn lẻ không đủ nghiêm trọng để coi là tấn công vũ trang, nhưng nhìn một cách tổng thể, các hành động này có thể nằm trong phạm vi của Điều 51 Hiến chương Liên Hiệp Quốc (được gọi là lý thuyết « tích lũy các sự kiện »).

Thứ hai, điều này có thể mở ra cánh cửa cho các biện pháp đối phó của bên thứ ba. Có một sự đồng thuận rộng rãi là việc cấm sử dụng vũ lực là một nghĩa vụ « erga omnes » (theo công pháp quốc tế, có nghĩa là nghĩa vụ mà một Nhà nước phải thuận theo « cộng đồng quốc tế nói chung »). Chẳng hạn một nước có quyền xử lý các hành động hải tặc, diệt chủng, nô lệ…xảy ra trên lãnh thổ mình, bởi công dân một nước không trừng trị những hành động trên. Trong trường hợp xảy ra vi phạm nghĩa vụ « erga omnes », có nghĩa là tất cả các Nhà nước khác đều có quyền dùng biện pháp đối phó không mang tính cưỡng bức để chấm dứt vi phạm, như là họ trực tiếp bị ảnh hưởng bởi việc sử dụng vũ lực này.

Có nhiều ví dụ khác nhau trên thực tiễn cho thấy các Nhà nước có thể đáp trả những vi phạm nghĩa vụ « erga omnes » bằng cách sử dụng những biện pháp đối phó hợp pháp. Có thể kể : những trừng phạt của Hoa Kỳ đối với Liên Xô cũ vì đóng quân dọc theo biên giới Ba Lan, được coi là đe dọa hòa bình thế giới ; Cộng đồng châu Âu trừng phạt Achentina vì đã xâm lược vũ trang quần đảo Falkland và bị Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc lên án là « vi phạm hòa bình ».Hoặc các biện pháp trừng phạt của Liên Hiệp Châu Âu và Hoa Kỳ đối với Nga vì đã sáp nhập Crimée và can thiệp vào miền đông Ukraina.

Theo đó, nếu việc Trung Quốc chiếm đóng và đơn phương triển khai lực lượng vũ trang trên quần đảo Trường Sa được coi là sử dụng vũ lực chống lại các nước đòi hỏi chủ quyền, cấu thành vi phạm tiêu chí « erga omnes », thì các nước thứ ba dù không bị ảnh hưởng trực tiếp vẫn có thể viện đển trách nhiệm quốc tế của Trung Quốc. Với vi phạm này, có nghĩa là các quốc gia khác ngoài các bên đòi hỏi chủ quyền Biển Đông (Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei, Đài Loan) cũng có thể áp đặt một loạt các biện pháp trừng phạt đối với Trung Quốc.

Tuy vậy, nước nào có thể sẵn sàng sử dụng các biện pháp đối phó như trên thì còn phải chờ xem. Đồng thời, trong bối cảnh hiện nay, liệu có quốc gia nào quyết tâm đưa Trung Quốc ra trước Tòa án Công lý Quốc tế ?

(*) Tiến sĩ Constantinos Yiallourides chuyên nghiên cứu Luật quốc tế về tranh chấp lãnh thổ tại Viện Luật quốc tế và so sánh của Anh quốc (BIICL) và là tác giả chính của công trình nghiên cứu, được công bố vào tháng Bảy năm 2018 « Sử dụng vũ lực liên quan đến tranh chấp chủ quyền lãnh thổ ».

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Đại nạn Trung Hoa: Trung Cộng bẫy nợ

Đại nạn Trung Hoa: Trung Cộng bẫy nợ

Trần Gia Phụng (Danlambao) – Lịch sử cho thấy tất cả những cuộc xâm lăng quân sự mạnh mẽ của Trung Hoa vào Việt Nam đều thất bại. Đến đời cộng sản cai trị Trung Hoa, cộng sản đổi chiến lược, thực hiện kế hoạch tằm ăn dâu, rất thâm độc bằng cách giăng “bẫy nợ”, dùng viện trợ nhử bắt con mồi cộng sản Việt Nam (CSVN).
1. Hồ Chí Minh vào bẫy
Chiến tranh Việt Minh-Pháp bùng nổ ngày 19-12-1946. Việt Minh cộng sản thua chạy lên miền rừng núi hay vào bưng biền. Đến năm 1949, đảng Cộng Sản thành công ở Trung Hoa. Mao Trạch Đông (Mao Zedong) tuyên bố thành lập chế độ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (CHNDTH) ngày 1-10-1949, thường được gọi là Trung Cộng, thủ đô là Bắc Kinh. Cuối năm 1949, Hồ Chí Minh cử hai đại diện là Lý Bích Sơn và Nguyễn Đức Thủy đến Bắc Kinh xin viện trợ. (Qiang Zhai, China & Vietnam Wars, 1950-1975, The University of North Carolina, 2000, tt. 13, 15.)
Lúc đó, Mao Trạch Đông cùng Châu Ân Lai (Zhou Enlai) qua Moscow vừa chúc mừng sinh nhật thứ 70 của Stalin, vừa thương thuyết. Lưu Thiếu Kỳ (Liu Shaoqi), xử lý công việc bộ Chính trị đảng Cộng Sản Trung Hoa (CSTH), cử La Quý Ba (Luo Guibo), uỷ viên trung ương đảng Cộng Sản Trung Hoa (CSTH) làm đại diện Trung Cộng bên cạnh đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD).
Theo các tài liệu tuyên truyền của Trung Cộng, Trung Cộng mới thành lập (1-10-1949), đang còn nhiều khó khăn, chưa được các nước Tây phương thừa nhận, nhưng vì tinh thần và nghĩa vụ quốc tế vô sản, Trung Cộng hào phóng viện trợ không điều kiện cho Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH). (La Quý Ba, “Mẫu mực sáng ngời của chủ nghĩa quốc tế vô sản”, đăng trong Hồi ký của những người trong cuộc, ghi chép thực về việc đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp, một nhóm tác giả, Bắc Kinh: Nxb. Lịch sử đảng Cộng Sản Trung Quốc, 2002, do Trần Hữu Nghĩa, Dương Danh Dy dịch, Montreal: Tạp chí Truyền Thông, số 32 & 33, 2009, tr. 22.)
Đúng là lúc đó các nước Tây phương chưa thừa nhận Trung Cộng, nhưng Trung Cộng lại sẵn sàng thừa nhận và giúp đỡ VNDCCH không phải vì tinh thần và nghĩa vụ quốc tế CS, mà vì hai chủ đích riêng:
Thứ nhứt, lúc đó Trung Cộng chưa ổn định tình hình lục địa Trung Hoa, rất lo ngại Tưởng Giới Thạch nhờ các nước tư bản, nhứt là Hoa Kỳ và Pháp, giúp đỡ để lực lượng Quốc Dân Đảng quay trở lại tấn công Trung Cộng. Vì vậy, Trung Cộng nhận giúp đỡ Việt Minh để Vệt Minh giữ gìn an ninh vùng biên giới Hoa Việt ở phía nam Trung Cộng, làm vùng trái độn an toàn cho Trung Cộng. Mao Trạch Đông công khai xác nhận việc nầy trong một cuộc họp của trung ương đảng CSTH tháng 11-1950. (La Quý Ba, bđd, tr. 27.) Thứ hai là Trung Cộng giúp đỡ tối đa VNDCCH, để cho CSVN vay mượn càng nhiều càng tốt. Đến lúc cần, nếu VNDCCH không trả được nợ, thì Trung Cộng sẽ đòi cái khác để trừ nợ, như đất đai, hải đảo, nhứt là Trung Cộng dự tính sử dụng VNDCCH để mở đường xuống Đông Nam Á. Đây là một cách giăng bẫy nợ khá tinh vi mà trước đây những phú hộ giàu có ở nông thôn thường cho người nghèo vay nợ để o ép người nghèo phải đến ở đợ hoặc nạp con cái đến ở đợ mà trả nợ. Hồ Chí Minh đang trong cơn bối rối, bị Pháp đuổi chạy, gặp được sự giúp đỡ vô điều kiện, vội tự động lọt vào bẫy nợ của Trung Cộng.
Sau phái đoàn Lý Bích Sơn và Lưu Đức Thủy, đích thân Hồ Chí Minh bí mật qua Bắc Kinh cầu viện ngày 30-1-1950. Mao Trạch Đông và Châu Ân Lai vẫn còn ở Liên Xô. Hồ Chí Minh làm kiểm điểm trước Lưu Thiếu Kỳ (Trần Đĩnh, Đèn cù, California: Người Việt Books, 2014, tr. 49.) Tại sao Hồ Chí Minh phải làm kiểm điểm với ngoại bang? Kiểm điểm với tư cách đại diện đảng CSĐD hay với tư cách chủ tịch nhà nước VNDCCH? Kểm điểm những gì? Hiện bản kiểm điểm nầy ở đâu? Cả hai đảng CS Việt và Tàu đề giữ kín việc nầy.
Tiếp đó, Lưu Thiếu Kỳ giúp Hồ Chí Minh đi tiếp qua Liên Xô. Hồ Chí Minh đến Moscow tối 6-2-1950. Bí thư thứ nhứt đảng CS Liên Xô là Joseph Stalin tiếp Hồ Chí Minh tại văn phòng làm việc, với sự có mặt của Malenkow, Molotow, Bulganin và Vương Gia Tường, đại sứ Trung Cộng tại Liên Xô. Stalin nói thẳng với HCM: “Chúng tôi đã trao đổi với các đồng chí Trung Quốc, công việc viện trợ chiến tranh chống Pháp của Việt Nam chủ yếu do Trung Quốc phụ trách thích hợp hơn… Trung Quốc ở sát Việt Nam, hiểu rõ tình hình Việt Nam hơn chúng tôi, kinh nghiệm đấu tranh của Trung Quốc càng có tác dụng làm gương đối với Việt Nam, giúp các đồng chí sẽ thuận tiện hơn.” (Trương Quảng Hoa, “Quyết sách trọng đại Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp”, trong Hồi ký những người trong cuộc…, bđd. tr. 45.).
Ngày 17-2-1950, Mao Trạch Đông, Châu Ân Lai rời Moscow trở về Bắc Kinh bằng xe hỏa. Hồ Chí Minh cùng đi theo chuyến tàu nầy. Trên đường đi, khi xe hỏa đến vùng biên giới Nga-Hoa, thì một hôm “đi đến toa xe của Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh nói ngay bằng tiếng Trung Quốc: “Mao Chủ tịch, Stalin không chuẩn bị viện trợ trực tiếp cho chúng tôi, cũng không ký hiệp ước với chúng tôi, cuộc chiến tranh chống Pháp của Việt Nam từ nay về sau chỉ có thể dựa vào viện trợ của Trung Quốc.” (Trương Quảng Hoa, bđd. tr. 47.)
Sau chuyến đi cầu viện, tháng 4-1950 Hồ Chí Minh gởi đến Bắc Kinh danh mục xin viện trợ, đồng thời đề nghị CHNDTH lập một trường võ bị ở Trung Hoa để huấn luyện quân đội Việt Minh, gởi cố vấn quân sự sang giúp Việt Minh và xin giúp thêm quân nhu, quân cụ, súng ống. Từ đó, CHNDTH viện trợ tối đa cho VNDCCH đến nỗi theo Đặng Văn Việt, trung đoàn trưởng đầu tiên trung đoàn 174 bộ đội Việt Minh, thì “viện trợ quân sự, vũ khí đạn dược, vào như nước…” (Đặng Văn Việt, Người lính già Đặng Văn Việt, chiến sĩ đường số 4 anh hùng (hồi ức), TpHCM: Nxb. Trẻ, 2003, tr. 179.)
Từ đó, chẳng những viện trợ võ khí, quân nhu, viện trợ kinh tế, mà Trung Cộng còn gởi đoàn cố vấn chính trị và quân sự đông đảo, nói rằng qua giúp đỡ, nhưng thực tế là điều khiển những hoạt động của đảng CSĐD. Những chiến dịch chính trị như phong trào chỉnh huấn, rèn cán chỉnh cơ, rèn cán chỉnh quân, cải cách ruộng đất đều do cán bộ Trung Cộng chỉ huy. Những cuộc hành quân lớn nhỏ của Việt Minh cộng sản cũng đều do sự điều động của quân ủy trung ương Trung Cộng ở Bắc Kinh.
Nhờ sự viện trợ dồi dào toàn diện của Trung Cộng mà lực lượng Việt Minh gượng lại được, bắt đầu chiến thắng trận Đông Khê năm 1950 do tướng Trung Cộng là Trần Canh (Chen Geng) chỉ huy, cho đến trận Điện Biên Phủ năm 1954.
2. Trung Cộng trừ nợ
Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam hay Hiệp định đình chiến Genève ngày 20-7-1954, chia hai Việt Nam ở vĩ tuyến 17. Bắc Việt Nam thuộc VNDCCH do đảng Lao Động theo chủ nghĩa cộng sản cai trị. Nam Việt Nam thuộc chính quyền Quốc Gia Việt Nam, đổi thành Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) ngày 26-10-1955.
Theo Hiệp định Genève, thì ngày 9-10-1954 là hạn chót cho những người muốn di tản khỏi Hà Nội, di cư vào Nam. Hôm sau, ngày 10-10-1954, quân đội CS vào tiếp thu Hà Nội. Hải Phòng, điểm tập trung đồng bào miền Bắc muốn di cư bằng tàu thủy vào miền Nam, do CS tiếp thu ngày 13-5-1955. Ba ngày sau, toán lính Pháp cuối cùng rút lui khỏi đảo Cát Bà (Vịnh Hạ Long, vùng Hải Phòng) ngày 16-5-1955. Sau ngày nầy, quân đội Pháp và quân đội Quốc Gia Việt Nam hoàn toàn không còn ở đất Bắc. Từ nay, phần lãnh thổ và lãnh hải phía bắc vĩ tuyến 17 huộc quyền VNDCCH.
Về vấn đề lãnh hải vịnh Bắc Việt, sau khi Pháp bảo hộ Việt Nam năm 1884, Pháp thương thuyết với nhà Thanh bên Trung Hoa, và cùng nhà Thanh thỏa thuận ngày 2-6-1887 rằng quần đảo Bạch Long Vỹ (BLV) trong vịnh Hạ Long thuộc lãnh hải Việt Nam, tức thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Quần đảo BLV tuy nhỏ, diện tích tổng cộng khoảng 3 km2, nhưng rất quan trọng về kinh tế và quốc phòng. Về kinh tế, khu vực BLV có nhiều hải sản, nhứt là bào ngư, có giá trị dinh dưỡng cao mà người Việt Nam rất ưa thích. Hiện nay, người ta được biết đáy biển vùng nầy có nhiều tiềm năng về chất đốt chưa được khai thác. Về quốc phòng, BLV giữ vị trí chiến lược tiền tiêu để bảo vệ Bắc Việt. Pháp đặt một đơn vị hải quân ở đây, kiểm soát tàu bè đi lại trên vịnh Bắc Việt.
Năm 1949, khi cộng sản chiếm được lục địa Trung Hoa, Tưởng Giới Thạch di tản ra Đài Loan. Một số quân đội Quốc Dân Đảng Trung Hoa chạy sang Bắc Việt Nam lánh nạn, được tập trung đưa đến làm việc ở các vùng quặng mỏ. Trong khi đó, ở ngoài vịnh Bắc Việt, quân Quốc Dân Đảng Trung Hoa từ các hải đảo ở vùng Hải Nam chạy xuống, tràn vào quần đảo BLV, tiếp tục sinh sống nghể đánh bắt cá.
Sau năm 1954, quần đảo BLV thuộc chủ quyền của VNDCCH. Theo lời kể của học giả Dương Danh Dy trong cuộc phỏng vấn của đài BBC Tiếng Việt ngày 13-4-2010, thì: “Câu chuyện lịch sử là như thế này: tháng 10/1954, sau khi ký Hiệp định Genève, quân đội Pháp rút khỏi miền Bắc Việt Nam. Đảo Bạch Long Vĩ lúc đó vẫn là của Việt Nam, nhưng do có một số khó khăn, và tôi cũng không rõ là thỏa thuận ở cấp nào nhưng có việc Việt Nam nhờ Trung Quốc ra tiếp quản hộ. Trung Quốc giữ hộ Việt Nam tới năm 1956 thì trả lại cho Việt Nam. Hồi đó tôi còn trẻ, sau khi vào Bộ Ngoại giao thì tôi có được tận mắt đọc biên bản ký kết về việc Trung Quốc trao trả lại đảo Bạch Long Vĩ cho Việt Nam. Có một chi tiết thú vị là lúc đó Việt Nam còn ngần ngừ chưa nhận vì chưa có phương tiện để ra đảo. Thế là phía Trung Quốc, sau khi thỉnh thị, lại tặng thêm cho Việt Nam hai chiếc ca-nô.” (Trích nguyên văn BBC Tiếng Việt ngày 13-4-2010.) Nguồn tin nầy được Talawas blog ngày 14-04-2010 thuật lại dựa theo tin của Đài BBC Tiếng Việt.
Tuy nhiên, khi trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ Online ngày 24-05-2014, thạc sĩ Hoàng Việt, một nhà nghiên cứu về Biển Đông, nói hơi khác. Sau đây là nguyên văn lời thạc sĩ Hoàng Việt: “Rồi năm 1957, hồng quân Trung Quốc đã chiếm đảo Bạch Long Vĩ rồi sau đó trao trả lại cho phía VNDCCH.” 
Ở đây có điểm khác nhau giữa hai học giả Dương Danh Dy và Hoàng Việt. Ông Dương Danh Dy nói rằng VNDCCH “nhờ Trung Quốc ra tiếp quản hộ.” Ông Hoàng Hiệp thì cho rằng “hồng quân Trung Quốc đã chiếm đảo Bạch Long Vĩ…”
Nếu theo lời kể ông Dương Danh Dy, câu hỏi đặt ra là quân đội CSVN tự hào đã đánh thắng thực dân Pháp năm 1954, thì tại sao CSVN không đủ sức tiếp quản quần đảo BLV lúc đó “đã sạch bóng quân thù”, mà CSVN phải nhờ Trung Cộng tiếp quản? Phải chăng ông Dy ăn nói tránh né một cách “ngoại giao”, vốn là nghể của ông?
Theo lời xác nhận của ông Hoàng Hiệp thì Trung Cộng đánh chiếm BLV năm 1957. Tuy nhiên, ông Hiệp cũng như ông Dy không giải thích vì sao VNDCCH nhờ Trung Cộng tiếp quản, hoặc vì sao Trung Cộng đánh chiếm BLV? Và cả hai ông cũng không giải thích vì sao Trung Cộng trả BLV lại cho VNDCCH, trả lại không công hay trả lại có điều kiện, để đổi lấy cái gì? Có lẽ cả hai học giả lại cùng tránh né một vấn đề mà theo dân chúng vùng Hải Phòng kể lại, có thể khá tế nhị và nghiêm trọng.
Theo lời truyền khẩu của dân chúng địa phương, sau hiệp định Genève năm 1954, quần đảo BLV thuộc chủ quyền của VNDCCH. Tuy nhiên, Trung Cộng lấy cớ BLV có nhiều người gốc Hoa (chạy qua Việt Nam từ sau năm 1949), nên Trung Cộng ngang ngược nhận rằng BLV thuộc chủ quyền Trung Cộng và đánh chiếm BLV. Đây là hành vi thổ phỉ, cướp của (cướp đảo) để trừ nợ mà VNDCCH vay mượn Trung Cộng suốt thời gian từ 1949 đến 1954.
Nhà cầm quyền VNDCCH há miệng mắc quai, đành im tiếng và phải thương lượng với Trung Cộng, đưa đến sự thỏa thuận ngầm là Trung Cộng trả BLV cho VNDCCH, và đổi lại VNDCCH theo đòi hỏi của Trung Cộng, chịu nhượng bộ một điều gì đó mà hai bên không tiết lộ. Đảng CS tức đảng Lao Động thương thuyết và hứa hẹn riêng với đảng CSTH, nhưng bắt dân tộc VN phải gánh những hứa hẹn trao đổi của họ và trả nợ cho Trung Cộng. Dân chúng cho rằng để đổi lấy BLV, VNDCCH đồng ý nhượng quần đảo Hoàng Sa cho Trung Cộng, dầu lúc đó Hoàng Sa thuộc chủ quyền của VNCH.
Cộng sản Việt Nam tưởng mình khôn, “bán da gấu” cho Tàu phù, dùng quần đảo Hoàng Sa để thế chấp trao đổi với Trung Cộng, vì Hoàng Sa ở phía nam vĩ tuyến 17, thuộc chủ quyền của VNCH, biết khi nào cộng sản đánh chiếm được? Thực tế đây là tội phản quốc lớn lao vì không ai được quyền đem tài sản quốc gia để cá cược, dù đó là canh bạc bịp. Ngược lại Trung Cộng muốn tìm đường xuống Biển Đông, tính chuyện lâu dài, sẵn sàng chờ đợi thời cơ chiếm đoạt Hoàng Sa. (Người viết nghe được chuyện nầy tại Đà Nẵng do một bác sĩ gốc Hải Phòng kể lại. Bác sĩ nầy từ Bắc vào Nam làm việc sau năm 1975.)
Nguồn tin từ dân chúng cần được kiểm chứng lại, nhưng thực tế cho thấy nguồn tin nầy giúp làm rõ thêm nguồn tin của hai học giả Dương Danh Dy và Hoàng Việt đã công khai trên báo chí. Sự kiện BLV để lộ rõ ý đồ viện trợ của Trung Cộng cho CSVN là vừa được tiếng tương trợ xã hội chủ nghĩa, vừa bảo vệ biên giới phía nam của Trung Cộng, và nhứt là vừa tìm đường xuống Đông Nam Á.
Phải chăng từ tiền đề BLV đưa đến việc VNDCCH ký kết công hàm ngày 14-9-1958 về chuyện lãnh hải của Trung Cộng?
3. Công hàm trả nợ ngày 14-9-1958
Nguyên từ 24-2 đến 29-4-1958, các thành viên Liên Hiệp Quốc (LHQ) họp tại Genève bàn về luật biển. Hội nghị ký kết bốn quy ước về luật biển. Riêng quy ước về hải phận của mỗi nước, có 3 đề nghị: 3 hải lý, 12 hải lý và 200 hải lý. Không đề nghị nào hội đủ túc số 2/3, nên LHQ chưa có quyết định thống nhất. Lúc đó, Trung Cộng, Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) không phải là thành viên LHQ, nên không được mời tham dự hội nghị nầy.
Trước cuộc tranh cãi về hải phận, Mao Trạch Đông tuyên bố ngày 28-6-1958 với nhóm tướng lãnh thân cận: “Ngày nay, Thái Bình Dương không yên ổn. Thái Bình Dương chỉ yên ổn khi nào chúng ta làm chủ nó.” (Jung Chang and Jon Halliday, MAO: The Unknown Story, New York: Alfred A. Knopf, 2005ccccc tr. 426.) Tiếp đó, ngày 4-9-1958, Trung Cộng đưa ra bản tuyên cáo, nhắm mục đích lên tiếng xác định lập trường về hải phận của Trung Cộng là 12 hải lý, mà không gởi riêng cho nước nào. Trong bản tuyên cáo, điều 1 và điều 4 cố ý lập lại và khẳng định chắc chắn rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (vốn của Việt Nam) thuộc chủ quyền của Trung Cộng và gọi theo tên Trung Cộng là Xisha (Tây Sa tức Hoàng Sa) và Nansha (Nam Sa tức Trường Sa).
Điểm cần chú ý là Trung Cộng lúc đó (1958) chưa phải là thành viên LHQ và không thể dùng diễn đàn của LHQ để bày tỏ quan điểm và chủ trương của mình, nên TC đơn phương đưa ra bản tuyên cáo nầy, thông báo quyết định về lãnh hải của Trung Cộng. Vì vậy các nước khác không nhất thiết là phải trả lời bản tuyên cáo của Trung Cộng, nhưng riêng VNDCCH lại sốt sắng đáp ứng ngay.
Sự quyết đoán ngang ngược của Trung Cộng, bất chấp chẳng những VNDCCH mà bất chấp cả VNCH và cả toàn thế giới về chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa mà thủ tướng Trần Văn Hữu đã khẳng định tại hội nghị San Francsco năm 1951, phải chăng vì đã có sự thỏa thuận bí mật giữa Trung Cộng và VNDCCH sau vụ BLV hai năm trước đó?
Ngoài ra, sau khi đất nước bị chia hai, đảng Lao Động (tức đảng Cộng Sản) cai trị ở Bắc Việt Nam tức VNDCCH, luôn luôn nuôi tham vọng đánh chiến Nam Việt Nam tức VNCH. Muốn đánh VNCH, thì VNDCCH cần được các nước CS viện trợ, nhất là Liên Xô và Trung Cộng. Vì vậy, khi Trung Cộng đơn phương đưa ra bản tuyên cáo về lãnh hải ngày 4-9-1958, thì VNDCCH “không gọi mà dạ”. Phạm Văn Đồng, thủ tướng VNDCCH, vâng lệnh Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị đảng Lao Động, vội vàng ký công hàm ngày 14-9-1958, tán thành tuyên cáo về hải phận của Trung Cộng. Xin ghi lại ở đây một lần nữa nội dung chính hai văn kiện xướng họa nầy, để mọi người đừng quên hành động phản quốc của đảng CSVN.
Tuyên cáo ngày 4-9-1958 của Trung Cộng về hải phận gồm 4 điều, trong đó điều 1 và điều 4 được phiên dịch như sau:
Điều 1: Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Điều lệ nầy áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Đài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (Xisha tức Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Nansha tức Trường Sa), và các đảo khác thuộc Trung Quốc. 
…………..
Điều 4: Điều (2) và (3) bên trên cũng áp dụng cho Đài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu (Bành Hồ), quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa [Trường Sa], và các đảo khác thuộc Trung Quốc… 
Công hàm ngày 14-9-1958, của VNDCCH do Phạm Văn Đồng, vâng lệnh Hồ Chí Minh và đảng CSVN, tán thành tuyên cáo Trung Cộng tức tán thành hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Cộng:
“Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc trên mặt bể.” 
Kết luận
Như thế, ngay từ đầu, từ khi Hồ Chí Minh qua Bắc Kinh làm kiểm điểm và cầu viện, Trung Cộng đã hào phóng viện trợ cho VNDCCH chẳng phải tốt lành gì, mà cốt để gài bẫy nợ. “Cá cắn câu biết khi nào gỡ / Chim vào lồng biết thuở nào ra…”
Đến khi CSVN làm chủ Bắc Việt Nam sau năm 1954, Trung Cộng liền đánh chiếm quần đảo BLV để trừ nợ mà dân gian còn gọi là “xiết nợ hay siết nợ”. Lần nầy, Hồ Chí Minh và tập đoàn lãnh đạo đảng CSVN lại bí mật hứa hẹn thế chấp ngầm với Trung Cộng như thế nào, nên Trung Cộng mới chịu trả lại BLV cho VNDCCH. Vì vậy, khi Trung Cộng ra tuyên cáo ngày 4-9-1958 thì VNDCCH nhanh chóng gởi công hàm đáp ứng đúng theo yêu cầu trong bản tuyên cáo của Trung Cộng.
Tán thành và tôn trọng bản tuyên cáo ngày 4-9-1958 của Trung Cộng có nghĩa là VNDCCH công nhận quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa, vốn của Việt Nam, thuộc chủ quyền Trung Cộng.
Phản quốc đến thế là cùng!
09.07.2018
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Tổng thống Donald Trump dọa áp thuế 500 tỉ USD giá trị hàng hóa TQ Ngày đăng 10-07

Tổng thống Donald Trump dọa áp thuế 500 tỉ USD giá trị hàng hóa TQ

Tổng thống Mỹ Donald Trump vừa cho hay hôm 5.7 (giờ Mỹ) rằng nước này cuối cùng có thể áp thuế quan lên hơn 500 tỉ USD giá trị hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc.

Theo CNBC, hiện hai nền kinh tế lớn nhất thế giới đang chuẩn bị bước vào cuộc chiến thương mại.
Ông Trump xác nhận rằng Mỹ sẽ thu thuế quan áp lên 34 tỉ USD giá trị hàng hóa Trung Quốc bắt đầu từ 12 giờ 01 phút (giờ GMT) hôm nay 6.7, và cảnh báo thêm các vòng đánh thuế tiếp theo có thể vượt quá mức 500 tỉ USD giá trị hàng hóa. Con số 500 tỉ USD gần bằng số giá trị hàng hóa mà Mỹ nhập khẩu từ Trung Quốc trong năm qua.
Tổng thống Mỹ nói với cánh báo giới từ chiếc Air Force One: “Bạn có thêm 16 tỉ USD hàng hóa bị đánh thuế trong hai tuần nữa. Và sau đó, như bạn đã biết, chúng ta có 200 tỉ USD hàng hóa, sau nữa là 300 tỉ USD hàng hóa. Ok? Chúng ta có 50 cộng với 200 và cộng tiếp với gần 300 nữa”.
Lời nói của Tổng thống Mỹ thể hiện ý định tăng lượng hàng hóa chịu thuế của Trung Quốc, để đề phòng việc Trung Quốc trả đũa. Trước đó, ông Trump đe dọa áp thuế quan thêm lên đến 400 tỉ USD hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc, nếu nước này tiếp tục với kế hoạch trả đũa thuế quan của Mỹ. Các mặt hàng của Trung Quốc bị Mỹ áp thuế gồm ô tô, ổ đĩa máy tính, các bộ phận máy bơm và đi-ốt phát sáng.
Cục Hải quan và Bảo vệ Biên giới Mỹ thông báo họ sẽ bắt đầu thu thuế quan 25% lên 818 mặt hàng nhập khẩu từ Đại lục, vốn được Đại diện Thương mại Mỹ xác định hồi tháng 6.
Bắc Kinh từng tuyên bố sẽ phản ứng ngay tức thì thuế quan của Mỹ bằng việc áp thuế lên lượng hàng hóa Mỹ tương đương. Các mặt hàng Mỹ bị nhắm đến gồm ô tô, nông sản và nhiều sản phẩm khác. Hiện không rõ động thái từ Đại lục có thể khiến căng thẳng thương mại leo thang thành một cuộc chiến thương mại toàn diện ra sao.
Không có bằng chứng về việc đàm phán phút chót giữa giới chức Mỹ và Trung Quốc, các nguồn thạo tin kinh doanh ở Washington và Bắc Kinh cho hay. Yêu cầu bình luận gửi đến Bộ Tài chính Mỹ và Bộ Thương mại Mỹ không được trả lời.
Tranh chấp thương mại giữa hai nền kinh tế số một thế giới khiến thị trường tài chính toàn cầu trong những tuần gần đây chao đảo. Cổ phiếu, tiền tệ và thương mại hàng hóa toàn cầu, từ đậu nành cho đến than, đều bị ảnh hưởng. Trung Quốc tuyên bố nước này sẽ không “bắn phát súng đầu tiên” trong cuộc chiến thương mại với Mỹ, nhưng cơ quan hải quan nói rõ rằng thuế đáp trả từ phía Đại lục sẽ có hiệu lực ngay sau khi thuế quan của Mỹ được tung ra.
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Úc, New Zealand đối phó ảnh hưởng của Trung Quốc

Thứ Bảy, 07/07/2018 – 09:14

Úc, New Zealand đối phó ảnh hưởng của Trung Quốc

Một báo cáo được Bộ Quốc phòng New Zealand công bố hôm 6-7 cảnh báo ảnh hưởng đang tăng của Trung Quốc ở Nam Thái Bình Dương có thể phá hoại sự ổn định trong khu vực.
 >> Nhật Bản điều tàu chiến lớn nhất tới Biển Đông
 >> Australia chi hơn 5 tỷ USD mua máy bay tuần tra Biển Đông
 >> Mỹ sẽ có biện pháp đối phó tham vọng của Trung Quốc ở Biển Đông

New Zealand, cùng với Úc, lâu nay vẫn là 2 thế lực chính ở Nam Thái Bình Dương nhưng ảnh hưởng này đang dần rơi vào tay Trung Quốc. “An ninh quốc gia của New Zealand vẫn gắn liền với sự ổn định ở Thái Bình Dương. Khi các đảo quốc tại Thái Bình Dương phát triển, các đối tác truyền thống như New Zealand và Úc sẽ đối mặt thách thức trong việc duy trì ảnh hưởng” – văn bản trên nêu rõ.

Không dừng lại ở đó, báo cáo cho rằng Trung Quốc làm leo thang căng thẳng với các quốc gia khác, trong đó có Mỹ, khi theo đuổi các lợi ích ở châu Á. Bắc Kinh còn đang hiện đại hóa quân đội và phô trương sức mạnh kinh tế cùng tham vọng lãnh đạo. Tóm lại, văn kiện cảnh báo New Zealand đối mặt với “những thách thức lớn chưa từng có” tại khu vực lân cận.


Bộ trưởng Quốc phòng New Zealand Ron Mark (giữa) trong chuyến thăm Fiji hồi tháng 3-2018 Ảnh: FIJI SUN

Bộ trưởng Quốc phòng New Zealand Ron Mark (giữa) trong chuyến thăm Fiji hồi tháng 3-2018 Ảnh: FIJI SUN

Hãng tin Reuters cho rằng những nội dung chỉ trích của báo cáo sẽ làm quan hệ giữa New Zealand và Trung Quốc căng thẳng. New Zealand gần đây thông báo sẽ tăng viện trợ nước ngoài thêm gần 1/3, một phần nhằm đối phó tầm ảnh hưởng đang tăng của Trung Quốc ở Nam Thái Bình Dương.

Vào tháng 9 tới, lãnh đạo New Zealand, Úc và các đảo quốc láng giềng dự kiến ký kết thỏa thuận mới về quốc phòng, luật pháp và trật tự cũng như viện trợ nhân đạo tại Diễn đàn Đảo quốc Thái Bình Dương ở Cộng hòa Nauru.

“Trung Quốc đang tăng cường ảnh hưởng khắp thế giới, trong đó có khu vực của chúng ta. Chúng ta muốn duy trì quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc nhưng chúng ta có trách nhiệm làm việc với các nước láng giềng” – Bộ trưởng Bộ Nội vụ Úc Peter Dutton cho biết.

Úc vào tháng rồi cho biết sẽ thương thảo một hiệp ước an ninh song phương với Vanuatu sau khi Thủ tướng Malcolm Turnbull cảnh báo Trung Quốc về ý định xây căn cứ quân sự ở đó và bày tỏ lo ngại về bất kỳ sự hiện diện quân sự lâu dài nào của nước ngoài tại khu vực. Thủ tướng New Zealand Jacinda Ardern ủng hộ lập trường của Úc khi khẳng định đất nước của bà “có quan điểm mạnh mẽ chống lại quân sự hóa ở Thái Bình Dương”.

Theo Lục San

Người lao động

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Lộ trình bán nước của giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam không hề thay đổi

Lộ trình bán nước của giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam không hề thay đổi

(Phỏng vấn TS Hà Sĩ Phu về chuyến sang Tàu của sứ thần Lê Hồng Anh, nhà báo Trần Quang Thành thực hiện)

 

Tập Cận Bình tiếp Lê Hồng Anh

Vào đầu tháng 5 vừa qua, khi giới bành trướng, bá quyền Bắc Kinh đưa giàn khoan HD 981 xâm phạm lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, một số nguồn tin cho biết, ông Tổng bí thư Nguyễn Phũ Trọng đã ngỏ lời xin đến Trung Quốc để hội kiến nhưng đã bị từ chối.

Vào những ngày cuối tháng  8 năm 2014  này, khi sự kiện giàn khoan tạm thời lắng xuống, ông Lê Hồng Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực  Ban bí thư đã được phép đến Bắc Kinh với tư cách là đặc phái viên của ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.
Vào phút chót, trước khi kết thúc chuyến đi, ông Lê Hồng Anh cũng được gặp Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình để nghe huấn dụ
Về sự  kiện này, từ thành phố Đà Lạt, tiến sĩ Hà Sĩ Phu đã có đôi lời bình luận qua cuộc phỏng vấn của phóng viên Trần Quang Thành.

– TQT: Xin chào TS Hà Sĩ Phu
– HSP: Vâng, xin chào nhà báo Trần Quang Thành thân mến

– TQT: Thưa TS HSP, sứ thần Lê Hồng Anh đã sang Trung Quốc 2 hôm nay, ngày 26 và 27 tháng 8, TS có theo rõi chuyến đi này của sứ thần LHA không ạ?
– HSP: Mấy hôm nay tôi bị đau nên không theo rõi được chi tiết nhưng cũng nắm được khái quát tình hình. Trước đó có hai đại biểu Hoa Kỳ, ông John Mccain và tướng Demsey, sang thăm Việt Nam thì nhiều người đã hy vọng về quan hệ Việt Mỹ có thể cải thiện, lại thấy rằng ngay cả cánh bảo thủ Việt Nam cũng muốn liên kết với Mỹ thì tình hình đã có chút hy vọng trong việc cân bằng với Trung Quốc. Nhưng nay thấy ông Lê Hồng Anh sang Trung quốc, muốn nói lời đền bù, xin lỗi về một số lời phát biểu có thể làm phật lòng Trung Quốc, nay xin “khôi phục” lại tình hữu nghị thì khác nào một cuộc “tiểu Thành Đô”, thế nên bây giờ nhiều người mới ngã ngửa ra rằng tình hình nó chẳng có thay đổi gì cả. Tôi muốn nhắc đến một câu thế này: “Dĩ bất biến ứng vạn biến”. Câu này không phải câu của riêng ông Hổ đâu, sách vở chữ nho đã có từ trước rồi, nghĩa là phải nắm vững, nắm chắc những điều cơ bản, từ gốc rễ, thì mới có thể hiểu và ứng xử những điều chi tiết ở trên ngọn.

Trong tình hình chính trị hiện nay thì nắm cái gì là cái gốc để khỏi dao động trước những diễn biến lặt vặt cụ thể? Cái gốc là ĐCSVN đã bán dần chủ quyền đất nước mình cho Trung Quốc, để trở thành một nước chư hầu hoặc thành một tỉnh của Trung Quốc, còn những hoạt động cụ thể lúc thì tô điểm, lúc thì thích nghi, lúc thì đánh lừa, song cái thế “bán nước” đã định hình không có thay đổi. Muốn thay đổi thì phải có những áp lực gì? Về áp lực của thế giới, đòi hỏi phải có dân chủ nhân quyền thì mới được thế này thế kia, nhưng thực tế nước nào cũng vì quyền lợi của mình nên chưa có áp lực gì thật quan trọng cả. Áp lực trong nước thì nhân dân từ chỗ tay trắng đã làm được như hôm nay, khoảng 2 chục tổ chức xã hội dân sự đã hình thành, đã ngồi lại được với nhau, chúng ta đã cố gắng rất nhiều nhưng bấy nhiêu cũng chưa đủ thành áp lực. Áp lực về kinh tế thì đáng kể, nếu phá sản, vỡ nợ, hệ thống ngân hàng sụp đổ thì đúng là áp lực, nhưng biết đâu Việt nam lại càng dựa vào Trung Quốc để cứu nguy? Giới trí thức thường có 2 điều ngộ nhận. Thứ nhất là tin vào quy luật “cùng tắc biến”, đến tận cùng thì nó phải đổ! Nhưng trong khi chưa có lực lượng tốt đủ mạnh tiếp cận vào để kéo nó đi, thì có khi nó lại biến thành một cái gì đó xấu hơn. Nói một cách nôm na cho dễ hiểu thì ví dụ có một thằng khốn nạn đến bước đường cùng phải đổ, nhưng nó lại biến thành một thằng khốn nạn khác, chứ chắc gì đã thành một người tử tế, khi cái lực lượng bắt nó phải thành tử tế thì chưa có, chưa đáng kể.

– TQT: Bảy mươi năm dân ta sống dưới chế độ do ĐCSVN cầm đầu, đã thấy nhiều lần ĐCSVN thay đổi, thí dụ đổi ĐCS thành đảng Lao động Việt Nam, rồi lại đổi thành ĐCS, bây giờ có người lại muốn nó trở lại thành đảng Lao động Việt Nam? Ông thấy thủ đoạn đó có thể làm cho Việt Nam này thay đổi hay không thưa ông?
– HSP: (Xin nhắc lại điều vừa nói), trí thức ta học nhiều nên cứ tin vào quy luật, “cùng thì tắc biến”, rồi nó cũng phải tốt thôi. Nghĩ thế là rất sai, tôi thường nói bỗ bã với anh em, bước đường cùng thì một thằng tồi tệ thường biến thành một thằng tồi tệ khác, chứ tin nó phải thành người tử tế thì chẳng có quy luật nào như thế cả. Một khi cái độc tài toàn trị được chủ động thiết kế con đường thay đổi của nó thì nó bỏ cái xấu cũ và thực hiện cái xấu mới thôi. Đất nước hiện nay chưa có có lực lượng nào có thể đối trọng với cái độc tài toàn trị. Tôi muốn trở lại với ý kiến: Muốn thoát khỏi ách nô dịch của Trung Quốc thì dứt khoát phải thoát khỏi ách Cộng sản. Hai việc ấy phải làm đồng thời. Thủ phạm làm mất nước là chế độ CS độc tài toàn trị. Quý vị nói Thoát Trung là phải thoát bằng Văn hóa, tức là chĩa mũi nhọn vào văn hóa, chĩa mũi nhọn vào 4000 năm lịch sử, quy tội vào tất cả mọi người Việt Nam, thì cái anh Cộng sản nó sướng quá! Thực ra Văn hóa là cái nền nhưng cái nền rất xa, đừng quên thủ phạm trực tiếp là Cộng sản!

– TQT: Thưa TS HSP, có người nói rằng chúng ta công nhận đa nguyên đa đảng, có nghĩa là rồi đây vẫn có ĐCS nên họ lưu lại để làm cho đảng của họ tốt hơn. Vậy ý kiến của ông về điều này thế nào?
– HSP: Nói đa nguyên đa đảng là phải đa nguyên đa đảng thật, bình đẳng, chứ đa đảng mà lại dưới sự lãnh đạo của một đảng, thì cũng giống như Trung Quốc, cũng 8-9 đảng chứ có phải không có đâu, nhưng thế là đa đảng cuội. Đa đảng thật thì đảng cộng sản tất nhiên cũng có quyền tồn tại như các đảng khác, nhưng trong điều kiện bình đẳng như thế thì đảng cộng sản không thể trở thành một đảng lãnh đạo được, vai trò lịch sử của đảng cộng sản chỉ là vai trò đối trọng, phản biện khi chủ nghĩa tư bản còn man rợ, chứ khi trở thành một đảng cầm quyền để lãnh đạo xây dựng đất nước thì đảng cộng sản bao giờ cũng là một đảng tồi, là một đảng nhỏ yếu, thực tế khắp thế giới đã chứng minh điều đó, vì chủ nghĩa cộng sản vốn là một lý thuyết phi khoa học và phản dân chủ, phản quy luật, nhân loại đã đào thải, cho nên tôi không tin rằng cứ là cộng sản mà lại chân chính, ví như cả một tà giáo đã không chân chính thì tín đồ của nó sao lại chân chính được? Nói thế là ngụy biện. Hiện nay những đảng viên còn trong đảng cũng có một vai trò trong cuộc đấu tranh cho dân chủ, nếu quả thực muốn đấu tranh, chứ hy vọng ở lại trong đảng để xây dựng một thứ cộng sản chân chính thì chỉ là ảo tưởng.
Xin nói tiếp về 2 nhận thức sai lầm: sai lầm thứ nhất là cứ tin vào quy luật rằng cuối cùng nó sẽ phải tốt. Sai lầm thứ hai, nói rằng ta chỉ cần chống độc tài toàn trị chứ không cần chống cộng sản, nếu cộng sản lại dân chủ, lại tử tế lại thì ta cũng chấp nhận chứ sao. Đó chỉ là cái bệnh lý thuyết của trí thức, thực tế không có điều ấy xảy ra. Đảng cộng sản chỉ có thể tốt khi chưa cầm quyền, chứ khi đã cầm quyền thế nào cũng tha hóa, đi vào tồi tệ, không thể trở thành dân chủ. Nhân loại đã từng hy vọng có một “chủ nghĩa cộng sản với bộ mặt dân chủ” nhưng thực tế không có. Không ít người nghĩ cứ theo ông Hồ là sẽ tử tế thì rất sai lầm. Dựa vào ông Hồ là sẽ đi lại vết xe cũ.

– TQT: Vậy thì theo TS HSP, việc ông Phạm Quang Nghị sang Mỹ, rồi sứ thần Lê Hồng Anh sang Tàu đều là những hoạt động dối gian của đảng cộng sản phải không ạ?
– HSP: Dù là động tác này hay động tác kia thì đều phục vụ cho chính sách độc tài toàn trị và đầu hàng Tàu, những động tác đó đều có Tàu nó “duyệt” cả, Tàu không đồng ý chắc chẳng dám làm. Chuyến đi của ông Nghị cũng có một dư luận thế này tôi cứ nói để ta nghiên cứu thêm : mục đích giới thiệu đây là một ứng cử viên tổng bí thư tương lai thì đã đạt, nhưng việc tặng chủ nhà 2 tấm ảnh vớ vẩn như “chửi” vào mặt chủ nhà thì nhằm mục đích gì? Phải chăng tặng phẩm 2 tấm ảnh lố bịch là để che cho một tặng phẩm nào đó to hơn, biếu Mỹ một quyền lợi gì đó của đất nước, hay chỉ nhằm nói với Trung Quốc rằng “tôi chơi đểu” với Mỹ đấy, xin đừng giận chúng tôi? Những động tác ấy cũng là xoa vuốt cả thôi, chẳng có lợi ích quan trọng gì cho đất nước cả. Tôi cứ hình dung rằng bỗng nhiên giới lãnh đạo Việt Nam rất yêu nước, chống Tàu, và bỗng nhiên Mỹ muốn gắn bó giúp đỡ Việt Nam hết sức như giúp Nhật Bản hay Đài Loan thì cũng chẳng giải quyết được tình hình, một khi Trung Quốc nó đã khống chế khắp cả từ trên xuống dưới bao nhiêu năm nay rồi, ra thế nào được? Chỉ còn mỗi khả năng phụ thuộc vào nhân dân, nếu nhân dân có sức mạnh để giải thoát khỏi chủ nghĩa cộng sản thì mới cứu được nước chứ chẳng ai cứu được.

– TQT:  Xin cảm ơn TS HSP đã có một cuộc trò chuyện rất là thẳng thắn, rất rõ ràng, thái độ không có mơ hồ.
– HSP: Vâng, xin cảm ơn.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Sihanoukville, thuộc địa Trung Quốc ?

Sihanoukville, thuộc địa Trung Quốc ?

 

Thụy My 05-07-2018

 

image012

Lối vào một sân bay do tập đoàn Trung Quốc Union Development Group xây dựng ở Koh Kong, Cam Bốt, từ đây có thể đi thẳng đến các bãi biển Sihanoukville.REUTERS/Samrang Pring

 

Vài chữ Hán và những số điện thoại hiện lên trên các tòa nhà và khu đất trống ở Sihanoukville, với các lời rao mua bán. Thành phố cảng Cam Bốt bên bờ vịnh Thái Lan, theo nhận xét của Le Monde Diplomatique, từ vài tháng qua đã trở thành vùng đất hứa cho các nhà đầu tư Trung Quốc.

 

Trên quảng trường Độc Lập, hai tòa nhà đang xây dựng của phức hợp Blue Bay cao đến 38 tầng, đè bẹp tất cả quang cảnh xung quanh. Tại phòng giao dịch, các brochure (tài liệu quảng cáo) để sẵn được in bằng Hoa ngữ và tiếng Anh. Cô nữ nhân viên, trước ma-két dự án, giới thiệu : « Chúng tôi đã bán hết toàn bộ các căn hộ trong tòa tháp thứ nhất, và 65% của tòa tháp thứ hai. Khách hàng chúng tôi là người Trung Quốc, Cam Bốt và Singapore ».

 

Trên bãi biển, sẽ có một hồ bơi và các bungalow dạng nhà sàn. Trên đất liền, một casino và một trung tâm thương mại. Có đến 1.450 căn hộ sẽ được giao vào năm 2019 với giá từ 2.500 đến 3.500 đô la một mét vuông, với những cơ sở dịch vụ sang trọng chưa từng thấy tại thành phố này.

 

Ông Paul H., một nhân viên môi giới địa ốc cho biết : « Người Trung Quốc rất mê những địa điểm như thế này. Các khách hàng của tôi săn lùng những khu đất, chủ yếu là phải nhìn ra biển. Các chủ đất Cam Bốt sẵn sàng trục xuất những người đang ở thuê hiện nay để thu được khoản tiền thuê lớn hơn ».

 

Từ khi ông Tập Cận Bình đến thăm Cam Bốt hồi tháng 10/2016, số lượng du khách từ Hoa lục không ngừng tăng lên trên toàn quốc, đến cuối năm 2017 là khoảng 1,2 triệu khách (tăng 46%). Mỗi tuần có một chuyến bay nối liền Sihanoukville với Macao và bảy thành phố khác của Trung Quốc, ngoài ra chính quyền Phnom Penh sắp sửa cấp thêm khoảng 30 giấy phép bay khác.

 

Các nhà đầu tư làm cho người ta phấn khởi hay lo ngại ? Đó là tùy theo người đối thoại với bạn là ai. Kheng, một người lái xe tuk-tuk mỉa mai : « Các sở hữu chủ rất vui vì họ bán hoặc cho thuê với giá do họ đưa ra ». Ngược lại, đại đa số người dân Cam Bốt không thể đối mặt với sự cạnh tranh dữ dội như vậy.

 

Bãi biển bình dân Ochheuteal được những người có túi tiền eo hẹp ưa thích, là một ví dụ điển hình. Những tiệm ăn mà người ta có thể ngồi trên mái tôn hay ngay trên bãi cát để vừa ăn uống vừa ngắm biển, đã biến mất không còn dấu vết. Thay vào đó, một khách sạn năm sao và một casino sẽ xuất hiện. Đó là công trình của một công ty liên doanh giữa Royal Group – một trong những tập đoàn hùng mạnh nhất Cam Bốt, do một người thân của thủ tướng Hun Sen làm chủ – và một đối tác Trung Quốc.

Cơn sốt đầu tư này khiến dân thành phố bức xúc. Một công ty du lịch địa phương cho biết : « Người Trung Quốc có mạng lưới riêng của họ. Những du khách vừa đến nơi là được đưa thẳng đến các khách sạn kiêm sòng bạc, và lưu trú ở đó ». Pheap, một công nhân xây dựng trẻ nhận xét : « Chúng tôi chẳng được lợi lộc gì từ lượng du khách người Hoa đông đảo, ngoài việc vật giá tăng lên ».

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.