Chính-Trị Thời-Sự

PGHH

Ðức Huỳnh Giáo Chủ
Vương KimÐức Phật, Hoàng thiên lịnh giáng trần,Huỳnh gia chuyển kiếp lập đời Tân.Giáo truyền đạo Thích dìu sanh chúng,Chủ ý chọn người vẹn Tứ ân.(Hình Tác giả: Vương Kim Phan Bá Cầm)Phần I:HÀNH TRẠNG Thiên thứ nhứtGiai đoạn ra đời mở đạo Chương I: Bối cảnh xã hộiChương II:Thân thếChương III: Ra Tế độChương IV: Đăng SơnChương V: Sứ MạngChương VI: Lưu CưChương VII: Vận Ðộng Ðộc LậpChương VIII: Tổ Chức Hàng NgũChương IX: Chuẩn Bị Ðấu Tranh Thiên thứ haiGiai đoạn hoạt động đấu tranh Chương X: Dấn Thân Thiên thứ baGiai Ðoạn Vắng Mặt Chương XI: Lý Do Thọ NạnChương XII: Còn Hay Mất Phần II:SỰ NGHIỆP Thiên thứ tưSự Nghiệp Về Mặt ÐạoTôn Phái Phật Giáo Hòa Hảo Chương XIII: Học PhậtChương XIV: Tu Nhân Thiên thứ nămSự Nghiệp Về Mặt Ðời:Công nghiệp cách mạng Chương XV: Quân Sự.Bộ Ðội Nguyễn Trung Trực Chương XVI: Chánh TrịViệt Nam Dân Chủ Xã Hội đảng Cùng một tác giả: Long Hoa xuất bản-         Tận Thế và Hội Long Hoa (1952)-         Đức Phật Thầy Tây An (1953) (hiệp với Đào Hưng)-         Để Hiểu Phật Giáo Hòa Hảo (1954) (hiệp với Thanh Sĩ)-         Ðời Hạ Ngươn (1960)-         Đời người dướI ánh sáng Đạo Phật (1960)-         Bửu Sơn Kỳ Hương (1966)-         Hành sử Đạo Nhân (1970)-         Tu Hiền (1972)-         Đời Thượng Ngươn (1973)-         Pháp Môn Tịnh Độ (1973)-         Tại Sao Ta Phải Tu (1974)Dân Xã Tùng Thư-         Chánh trị thường thức (1956)-         Tinh thần cán bộ (1971)-         Lập trường Dân Xã Đảng (1971) MUC LUC CHƯƠNG 1 | | CHƯƠNG 2 | | CHƯƠNG 3 | | CHƯƠNG 4 | | CHƯƠNG 5 | | CHƯƠNG 6 | | CHƯƠNG 7 | | CHƯƠNG 8 | | CHƯƠNG 9 | | CHƯƠNG 10 | | CHƯƠNG 11 | | CHƯƠNG 12 || CHƯƠNG 13 | | CHƯƠNG 14 | | CHƯƠNG 15 | | CHƯƠNG 16 | | CHƯƠNG 17|  [TV. PGHH]Ðức Huỳnh Giáo Chủ
Vương KimÐức Phật, Hoàng thiên lịnh giáng trần,Huỳnh gia chuyển kiếp lập đời Tân.Giáo truyền đạo Thích dìu sanh chúng,Chủ ý chọn người vẹn Tứ ân.(Hình Tác giả: Vương Kim Phan Bá Cầm)Phần I:HÀNH TRẠNG Thiên thứ nhứtGiai đoạn ra đời mở đạo Chương I: Bối cảnh xã hộiChương II:Thân thếChương III: Ra Tế độChương IV: Đăng SơnChương V: Sứ MạngChương VI: Lưu CưChương VII: Vận Ðộng Ðộc LậpChương VIII: Tổ Chức Hàng NgũChương IX: Chuẩn Bị Ðấu Tranh Thiên thứ haiGiai đoạn hoạt động đấu tranh Chương X: Dấn Thân Thiên thứ baGiai Ðoạn Vắng Mặt Chương XI: Lý Do Thọ NạnChương XII: Còn Hay Mất Phần II:SỰ NGHIỆP Thiên thứ tưSự Nghiệp Về Mặt ÐạoTôn Phái Phật Giáo Hòa Hảo Chương XIII: Học PhậtChương XIV: Tu Nhân Thiên thứ nămSự Nghiệp Về Mặt Ðời:Công nghiệp cách mạng Chương XV: Quân Sự.Bộ Ðội Nguyễn Trung Trực Chương XVI: Chánh TrịViệt Nam Dân Chủ Xã Hội đảng Cùng một tác giả: Long Hoa xuất bản-         Tận Thế và Hội Long Hoa (1952)-         Đức Phật Thầy Tây An (1953) (hiệp với Đào Hưng)-         Để Hiểu Phật Giáo Hòa Hảo (1954) (hiệp với Thanh Sĩ)-         Ðời Hạ Ngươn (1960)-         Đời người dướI ánh sáng Đạo Phật (1960)-         Bửu Sơn Kỳ Hương (1966)-         Hành sử Đạo Nhân (1970)-         Tu Hiền (1972)-         Đời Thượng Ngươn (1973)-         Pháp Môn Tịnh Độ (1973)-         Tại Sao Ta Phải Tu (1974)Dân Xã Tùng Thư-         Chánh trị thường thức (1956)-         Tinh thần cán bộ (1971)-         Lập trường Dân Xã Đảng (1971) MUC LUC CHƯƠNG 1 | | CHƯƠNG 2 | | CHƯƠNG 3 | | CHƯƠNG 4 | | CHƯƠNG 5 | | CHƯƠNG 6 | | CHƯƠNG 7 | | CHƯƠNG 8 | | CHƯƠNG 9 | | CHƯƠNG 10 | | CHƯƠNG 11 | | CHƯƠNG 12 || CHƯƠNG 13 | | CHƯƠNG 14 | | CHƯƠNG 15 | | CHƯƠNG 16 | | CHƯƠNG 17|  [TV. PGHH]
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

PGHH

…… …. .. . .Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔvà Phật Giáo Thời ÐạiLê Hiếu Liêm Chương một: Dẫn nhập Việt Nam và Phật Giáo đầu thế kỷ hai mươi. Đầu thế kỷ 20, tư tưởng Nho Giáo, thống trị độc tôn đất nước từ Thời Hồ Quý Ly, nhà Lê và nhà Nguyễn suốt 400 năm, hoàn toàn sụp đổ. Tư tưởng Phật Giáo, ngự trị vinh quang trong thời đại Lý Trần từ thế kỷ thứ 11 đến cuối thế kỷ 14, suy đồi tận gốc. Tư tưởng Tây Phương và tôn giáo của nó, Thiên Chúa Giáo La Mã, bị đại đa số trí thức và nhân dân coi như sản phẩm và công cụ của chế độ Thuộc Địa và thực dân Pháp nên vẫn không được chấp nhận. Ý thức hệ Cộng Sản cũng như các tư tưởng mới khác chưa ra đời. Cả một khoảng trống tư tưởng, cũng có nghĩa là một khoảng trống tôn giáo và chính trị, to lớn bao trùm trên một nước Việt Nam bị nô lệ, bóc lột, áp bức, lạc hậu và nghèo đói. Nhưng đây cũng là môi trường lý tưởng cho sự ra đời của những tư tưởng mới, những tôn giáo mới, những chính đảng mới và những phong trào mới: Phong trào Đông Du và Việt Nam Duy Tân Hội của Phan Bội Châu từ năm 1904, Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can và các nhà Nho tiến bộ năm 1907, tư tưởng dân quyền và dân chủ của Phan Chu Trinh suốt hai mươi năm (1905-1925), phong trào chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908, vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội cùng năm, Việt Nam Quang Phục Hội năm 1912, cuộc khởi nghĩa ở Trung Kỳ và ở Huế năm 1916 của Thái Phiên, Trần Cao Vân, Lê Ngung, vua Duy Tân…, phong trào Hội Kín ở miền Nam năm 1913-1916 lan rộng khắp Lục Tỉnh và cuộc tấn công Sài Gòn năm 1916. Các hoạt động này đã liên tục diễn ra từ đầu thế kỷ 20 đến cuối đệ nhất thế chiến.Tuy nhiên mãi đến đầu thập njiên 20 Việt Nam mới thật sự thức dậy với sự ra đời Việt Nam Thanh Niên Cách mạng Đồng Chí Hội và Tân Việt Cách Mạng Đảng năm 1925, Đạo Cao Đài năm 1926, Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1927, Cuộc khởi nghĩa Yên Bái và sự ra đời của Đảng Cộng Sản Đông Dương năm 1930 và phong trào Sô Viết Nghệ Tỉnh 1930-1931. Trong thời gian sôi động này, từ 1925 trở đi, Phật Giáo cũng đã thức dậy. Từ năm 1923, thiền sư Khánh Hòa và thiền sư Thiện Chiếu đã thành lập, tại chùa Long Hòa ở Trà Vinh, Hội Lục Hòa Liên Hiệp với mục đích vận động thành lập một Hội Phật Giáo Việt Nam toàn quốc để chấn hưng Phật Giáo. Thiền sư Thiện Chiếu, khác hẳn tất cả tăng sĩ Phật Giáo đương thời, là một tăng sĩ có tân học. Ông đã đi ra Trung và Bắc vận động thống nhất Phật Giáo năm 1927 nhưng bất thành.Năm 1928 thiền sư Khánh Hòa xây dựng Thích Học Đường và Phật Học Thư Xã tại Chùa Linh Sơn, Sài Gòn và năm 1929 Ông cho ấn hành tạp chí Viên Âm, tập san Phật Học đầu tiên bằng quốc ngữ tại Việt Nam, đặt trụ sở tại chùa Xoài Hột, Mỹ Tho. Cùng thời, thiền sư Thiện Chiếu xuất bản một tạp chí Phật Học nhắm vào giới thanh niên trí thức lấy tên là Phật Hòa Tân Thanh Niên, đặt tòa soạn tại chùa Chúc Thọ ở Gia Định. Năm 1931 thiền sư Khánh Hòa cùng nhiều tăng sĩ và cư sĩ thành lập Hội Phật Học đầu tiên tại Việt Nam, lấy tên là Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học và thiền sư Từ Phong được mời làm Chánh Hội Trưởng. Hội ra tờ Từ Bi Âm năm 1932. Thiền sư Khánh Hòa, cùng người cộng sự thân tín là thiền sư Thiện Chiếu đã đóng vai trò tiền phong khai mở phong trào chấn hưng Phật Giáo và hiện đại hóa Phật Giáo, chuyển động sâu rộng lịch sử Phật Giáo và lịch sử Việt Nam trong suốt 65 năm qua.Tại miền Trung, thiền sư Giác Tiên mở Phật Học Đường  tại chùa Trúc Lâm năm 1929 và ủy thác cho đệ tử là bác sĩ Lê Đình Thám thành lập Hội An Nam Phật Học năm 1932. Hội quy tụ đông đảo những danh tăng và cư sĩ trí thức tại miền Trung. Cư sĩ Lê Đình Thám được bầu làm Hội Trưởng và vua Bảo Đại được mời làm Hội Trưởng Danh Dự. Hội ra tạp chí Phật Học Viên Âm năm 1933. Năm 1934, thiền sư Giác Tiên, cư sĩ Lê Đình Thám… đã thành lập Trường An Nam Phật Học, trong đó có mở cấp Đại Học Phật Giáo. Đặc biệt hơn nữa là Hội đã phát động phong trào “Chỉnh Lý Tăng Già” rất quyết liệt để loại trừ ra khỏi tăng già những thành phần phạm giới, bất xứng. Chính nhờ những nổ lực cấp tiến này mà Phật Giáo miền Trung đã đóng được một vai trò quan trọng trong những thập niên sau đó.Năm 1934 các thiền sư Trí Hải, Tâm Ứng, Tâm Bảo cùng với giới cư sĩ trí thức tên tuổi tại Hà Nội như Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Tố, Dương Bá Trạc, Trần Văn Giáp, Nguyễn Năng Quốc, Nguyễn Hữu Kha, Bùi Kỷ, Lê Dư… thành lập Bắc Kỳ Phật Giáo Hội, bầu cư sĩ Nguyễn Năng Quốc làm hội trưởng và suy tôn thiền sư Thanh Hanh làm Thiền Gia Pháp Chủ. Đặc biệt là trong buổi lễ suy tôn Pháp Chủ này, cư sĩ Trần Trọng Kim đã thuyết pháp về đề tài; “Thập Nhị Nhân Duyên”. Hội ra tạp chí Đuốc Tuệ năm 1935 và phát triển mạnh mẽ khắp miền Bắc (Nguyễn Lang, Phật Giáo Việt Nam Sử Luận, q 3, t 51-173).Đặc tính của cả ba Hội Phật Học tại ba miền là vai trò nổi bật của giới trí thức cư sĩ, là thuần túy Phật học và sinh hoạt Phật sự. Thời điểm 1925-1945 là thời điểm chuẩn bị trong kiên nhẫn và thầm lặng. Các hội Phật Học đã làm đúng chức năng và vai trò lịch của mình, một cách khiêm tốn, từ đống gạch vụn đổ nát của nền Phật học và Phật Giáo Việt nam trong thời Thực Dân Pháp thống trị.Trong thời kỳ này xuất hiện những con người đặc biệt, xuất sắc và những tư tưởng mạnh mẽ, quyết liệt, trong Phật Giáo cũng như ngoài Phật Giáo. Từ đầu thập niên 30, tư tưởng Phật Hộc của Thích Thiện Chiếu đã là những quả bom chấn động. Và năm 1939 Huỳnh Phú Sổ xuất hiện làm một cuộc cách mạng tôn giáo, cải cách toàn bộ và triệt để Phật Giáo chưa từng có trong hai ngàn năm lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Miền Nam, một vùng đất lạ lùng và kỳ diệu… An Hòa TựPhan Chu Trinh từ Pháp trở về Sài Gòn năm 1925, đất nước bùng lên những làn sóng tư tưởng dân quyền và dân chủ. Ông khẳng định phải tìm nguyên nhân mất nước trong sự mất đạo đức, mất luân lý, trong bài diễn thuyết Đạo Đức và Luân Lý Đông Tây, và ông cũng khẳng định chế độ quân chủ chuyên chế là nguyên nhân chính làm mất nước trong bài thuyết giảng Quân Trị Chủ Nghĩa và Dân Trị Chủ Nghĩa tại Sài Gòn năm 1925. Ông mất năm sau đó và đám tang ông cùng với cuộc vận động ân xá nhà chí sĩ Phan Bội Châu đã khơi bùng phong trào yêu nước và yêu tự do dân chủ trên toàn quốc, đặc biệt là trong giới thanh niên.Nhưng dữ dội, bốc lửa và sấm sét trong tư tưởng yêu nước chống thực dân cũng như tư tưởng tự do dân chủ, trong thời này, chỉ có Nguyễn An Ninh là đi xa nhất, quyết liệt nhất. Là một thanh niên miền Nam, Ông đi du học ở Pháp và trở về nước với bằng cử nhân Luật. Lợi dụng quy chế thuộc địa của Nam Kỳ, nơi mà báo chí bằng tiếng Pháp được tự do, không bị kiểm duyệt, Ông ra tờ La Cloche fèlèe (Tiếng Chuông Rè) từ năm 1923 đến năm 1926. Ông tự xưng tờ báo của Ông là “cơ quan tuyên truyền tư tưởng Pháp”, lấy tư tưởng của kẻ xâm lăng để đập những nhát búa tạ vào chế độ Thực Dân, đồng thời tờ báo cũng tự nhận là “cơ quan chuẩn bị cho tương lai dân tộc”. Thật là độc đáo và tuyệt vời.Ngoài việc phê bình kịch liệt, thẳng tay chính sách và chế độ thực dân, Ông cổ võ cho việc đào tạo một tầng lớp thanh niên Việt Nam tân học, có văn hóa, có lý tưởng, có chí khí, có năng lực và có tổ chức và Ông tuyệt đối tin vào sức mạnh và vào tương lai của nhân dân Việt Nam. Ông chủ trương một nước Việt Nam thống nhất từ Nam chí Bắc và trở về lịch sử dân tộc để tìm niềm tin và sức mạnh. Ông hô hào, khi chỉ mới ngoài 20 tuổi, “Chẳng những phải duy trì những giấc mộng vĩ đại, mà còn phải tổ chức thành một nhóm quan trọng để chuẩn bị cho tương lai”. Không những tư tưởng táo bạo, độc đáo, mới lạ, kiến thức của Ông cũng rất uyên bác. Khi Thống Đốc Nam Kỳ tuyên bố: “Xứ này không cần trí thức”. Ông đã viết bài trả lời bốc lửa: “… Những thảm khổ của chúng ta ngày nay, còn gì nữa, đúng là do tổ tiên của chúng ta đã sờ mó vào cây kiến thức. Hạng trí thức đã làm đảo lộn thế giới, làm hư hỏng hạnh phúc của thế giới. Hãy nguyền rủa tên tuổi của Prométhé, kẻ đã lấy trộm chút lửa của Trời. Hãy nguyền rủa con người đã bày ra cái ná cao su cho trẻ con bắn đá vào trán ông khổng lồ… Trí Tuệ, đó là cái tai hại. Trí tuệ, đó là con rắn cuốn quanh thân cây đã làm cho chúng ta vĩnh viễn mất cõi thiên đường… Nói đến vai trò giáo dục, vai trò văn minh của các ông chủ xứ Đông Dương này, thưa các ông, điều ấy làm ta mỉm cười… Người ta đã quỳ lụy bái phục những vị “đem ánh sáng tới”, những vị “làm điều kỳ diệu ở Ấu Châu”… Cái gì kỳ diệu? Thực ra cái kỳ diệu đó là, chỉ trong một thời gian ngắn thôi, người ta đã có thể làm cho trình độ trí thức của người Nam đã thấp đi lại càng rơi vào chỗ cực kỳ dốt nát. Cái kỳ diệu đó là người ta đã có thể, trong một thời gian ngắn như thế, xô đẩy một dân tộc có tư tưởng dân chủ, ngã nhào vào tình trạng nô lệ hoàn toàn“. (Trần Văn Giàu, Sự Phát Triển Của Tư Tưởng ở Việt Nam Từ Thế Kỷ 19 đến Cách Mạng Tháng Tám, q2, t 311).Nguyễn An Ninh cũng là một trong những nhà trí thức tân học đầu tiên nghiên cứu Phật Học và hoàn thành một tác phẩm Phật Học quan trọng, cuốn “Phê Bình Phật Giáo”. Sau thời kỳ hoạt động sôi nổi từ 1923 đến 1926, Nguyễn An Ninh bị ở tù trong thời gian 1926-1927, sau đó Ông về nghiên cứu Phật Giáo. Trên bàn làm việc của Ông, có một cái chuông, một cái mõ, Ông cạo trọc đầu và đi chân không. Ông nghiên cứu Phật Giáo qua tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức và các hoạt động Phật Giáo trong nước. Cuốn Phê Bình Phật Giáo xuất bản năm 1937 là kết quả của sự nghiên cứu này. Tựa đề của cuốn sách, 70 năm sau cũng không có ai dám viết một cuốn sách Phật Học có tựa đề thách thức và can đảm như vậy. Mục đích và phương pháp luận còn mới lạ, táo bạo hơn, đó là “so sánh Phật Giáo với thời đại của nó để chỉ chỗ hay, chỗ đúng hơn của nó đối với các thuyết khác và so sánh Phật Giáo với thời đại này để chỉ sai lầm của Phật Giáo“. Tác phẩm này được giới trí thức, giới chính trị cũng như giới Phật Giáo chú ý đặc biệt.Nhưng không gây sóng gió và tranh luận suốt nhiều năm trời như những tác phẩm của Thích Thiện Chiếu. Đối với Tăng, Ni, Phật Tử thập niên 30, những tư tưởng Phật Học của Thích Thiện Chiếu là những tiếng sét ngang tai. Ngày nay đọc lại, chắc chắn quý vị tăng sĩ, cư sĩ và Phật Tử cũng không khỏi giựt mình, chấn động và suy nghĩ. Những tư tưởng này, được viết từ thập niên 30, ngày nay, cuối thập niên 90, vẫn còn mới, còn táo bạo, còn chứa đầy sức nặng của đá tảng và sức nổ của sấm sét. Thích Thiện Chiếu là tinh hoa sáng chói của Phật Giáo trong thập niên 20, 30. Ông đã đi tiền phong trong mọi lãnh vực chấn hưng và hiện đại hóa Phật Giáo Việt Nam trong thế kỷ 20 này.Ta phải đứng trên một đỉnh núi cao, mới hy vọng nhìn thấy những cái gì chưa ai nhìn thấy, những cái gì nằm khuất sau dãy núi cao. đó có thể là những dãy núi cao hơn, hay là một đại dương mênh mông hay là một bình nguyên rực rỡ. Thích Thiện Chiếu là một ngọn núi cao của Phật học và Phật Giáo Việt Nam trước đệ nhị thế chiến. Ta hãy đứng trên đỉnh núi cao ngất, hùng tráng này để nhìn rõ một đỉnh núi cao ngất, hùng vĩ khác, là Cư sĩ, Bồ Tát, Giáo Chủ Huỳnh Phù Sổ.   |Muc Luc| |Ch.1| |Ch.2| |Ch.3| |Ch.4| |Ch.5| |Ch.6| |Ch.7| |Ch.8| |Ch.9| |Ch.10|TK|[BHH430] [PGHH] [THƯ VIỆN PGHH]
…… …. .. . .Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔvà Phật Giáo Thời ÐạiLê Hiếu Liêm Chương một: Dẫn nhập Việt Nam và Phật Giáo đầu thế kỷ hai mươi. Đầu thế kỷ 20, tư tưởng Nho Giáo, thống trị độc tôn đất nước từ Thời Hồ Quý Ly, nhà Lê và nhà Nguyễn suốt 400 năm, hoàn toàn sụp đổ. Tư tưởng Phật Giáo, ngự trị vinh quang trong thời đại Lý Trần từ thế kỷ thứ 11 đến cuối thế kỷ 14, suy đồi tận gốc. Tư tưởng Tây Phương và tôn giáo của nó, Thiên Chúa Giáo La Mã, bị đại đa số trí thức và nhân dân coi như sản phẩm và công cụ của chế độ Thuộc Địa và thực dân Pháp nên vẫn không được chấp nhận. Ý thức hệ Cộng Sản cũng như các tư tưởng mới khác chưa ra đời. Cả một khoảng trống tư tưởng, cũng có nghĩa là một khoảng trống tôn giáo và chính trị, to lớn bao trùm trên một nước Việt Nam bị nô lệ, bóc lột, áp bức, lạc hậu và nghèo đói. Nhưng đây cũng là môi trường lý tưởng cho sự ra đời của những tư tưởng mới, những tôn giáo mới, những chính đảng mới và những phong trào mới: Phong trào Đông Du và Việt Nam Duy Tân Hội của Phan Bội Châu từ năm 1904, Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can và các nhà Nho tiến bộ năm 1907, tư tưởng dân quyền và dân chủ của Phan Chu Trinh suốt hai mươi năm (1905-1925), phong trào chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908, vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội cùng năm, Việt Nam Quang Phục Hội năm 1912, cuộc khởi nghĩa ở Trung Kỳ và ở Huế năm 1916 của Thái Phiên, Trần Cao Vân, Lê Ngung, vua Duy Tân…, phong trào Hội Kín ở miền Nam năm 1913-1916 lan rộng khắp Lục Tỉnh và cuộc tấn công Sài Gòn năm 1916. Các hoạt động này đã liên tục diễn ra từ đầu thế kỷ 20 đến cuối đệ nhất thế chiến.Tuy nhiên mãi đến đầu thập njiên 20 Việt Nam mới thật sự thức dậy với sự ra đời Việt Nam Thanh Niên Cách mạng Đồng Chí Hội và Tân Việt Cách Mạng Đảng năm 1925, Đạo Cao Đài năm 1926, Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1927, Cuộc khởi nghĩa Yên Bái và sự ra đời của Đảng Cộng Sản Đông Dương năm 1930 và phong trào Sô Viết Nghệ Tỉnh 1930-1931. Trong thời gian sôi động này, từ 1925 trở đi, Phật Giáo cũng đã thức dậy. Từ năm 1923, thiền sư Khánh Hòa và thiền sư Thiện Chiếu đã thành lập, tại chùa Long Hòa ở Trà Vinh, Hội Lục Hòa Liên Hiệp với mục đích vận động thành lập một Hội Phật Giáo Việt Nam toàn quốc để chấn hưng Phật Giáo. Thiền sư Thiện Chiếu, khác hẳn tất cả tăng sĩ Phật Giáo đương thời, là một tăng sĩ có tân học. Ông đã đi ra Trung và Bắc vận động thống nhất Phật Giáo năm 1927 nhưng bất thành.Năm 1928 thiền sư Khánh Hòa xây dựng Thích Học Đường và Phật Học Thư Xã tại Chùa Linh Sơn, Sài Gòn và năm 1929 Ông cho ấn hành tạp chí Viên Âm, tập san Phật Học đầu tiên bằng quốc ngữ tại Việt Nam, đặt trụ sở tại chùa Xoài Hột, Mỹ Tho. Cùng thời, thiền sư Thiện Chiếu xuất bản một tạp chí Phật Học nhắm vào giới thanh niên trí thức lấy tên là Phật Hòa Tân Thanh Niên, đặt tòa soạn tại chùa Chúc Thọ ở Gia Định. Năm 1931 thiền sư Khánh Hòa cùng nhiều tăng sĩ và cư sĩ thành lập Hội Phật Học đầu tiên tại Việt Nam, lấy tên là Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học và thiền sư Từ Phong được mời làm Chánh Hội Trưởng. Hội ra tờ Từ Bi Âm năm 1932. Thiền sư Khánh Hòa, cùng người cộng sự thân tín là thiền sư Thiện Chiếu đã đóng vai trò tiền phong khai mở phong trào chấn hưng Phật Giáo và hiện đại hóa Phật Giáo, chuyển động sâu rộng lịch sử Phật Giáo và lịch sử Việt Nam trong suốt 65 năm qua.Tại miền Trung, thiền sư Giác Tiên mở Phật Học Đường  tại chùa Trúc Lâm năm 1929 và ủy thác cho đệ tử là bác sĩ Lê Đình Thám thành lập Hội An Nam Phật Học năm 1932. Hội quy tụ đông đảo những danh tăng và cư sĩ trí thức tại miền Trung. Cư sĩ Lê Đình Thám được bầu làm Hội Trưởng và vua Bảo Đại được mời làm Hội Trưởng Danh Dự. Hội ra tạp chí Phật Học Viên Âm năm 1933. Năm 1934, thiền sư Giác Tiên, cư sĩ Lê Đình Thám… đã thành lập Trường An Nam Phật Học, trong đó có mở cấp Đại Học Phật Giáo. Đặc biệt hơn nữa là Hội đã phát động phong trào “Chỉnh Lý Tăng Già” rất quyết liệt để loại trừ ra khỏi tăng già những thành phần phạm giới, bất xứng. Chính nhờ những nổ lực cấp tiến này mà Phật Giáo miền Trung đã đóng được một vai trò quan trọng trong những thập niên sau đó.Năm 1934 các thiền sư Trí Hải, Tâm Ứng, Tâm Bảo cùng với giới cư sĩ trí thức tên tuổi tại Hà Nội như Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Tố, Dương Bá Trạc, Trần Văn Giáp, Nguyễn Năng Quốc, Nguyễn Hữu Kha, Bùi Kỷ, Lê Dư… thành lập Bắc Kỳ Phật Giáo Hội, bầu cư sĩ Nguyễn Năng Quốc làm hội trưởng và suy tôn thiền sư Thanh Hanh làm Thiền Gia Pháp Chủ. Đặc biệt là trong buổi lễ suy tôn Pháp Chủ này, cư sĩ Trần Trọng Kim đã thuyết pháp về đề tài; “Thập Nhị Nhân Duyên”. Hội ra tạp chí Đuốc Tuệ năm 1935 và phát triển mạnh mẽ khắp miền Bắc (Nguyễn Lang, Phật Giáo Việt Nam Sử Luận, q 3, t 51-173).Đặc tính của cả ba Hội Phật Học tại ba miền là vai trò nổi bật của giới trí thức cư sĩ, là thuần túy Phật học và sinh hoạt Phật sự. Thời điểm 1925-1945 là thời điểm chuẩn bị trong kiên nhẫn và thầm lặng. Các hội Phật Học đã làm đúng chức năng và vai trò lịch của mình, một cách khiêm tốn, từ đống gạch vụn đổ nát của nền Phật học và Phật Giáo Việt nam trong thời Thực Dân Pháp thống trị.Trong thời kỳ này xuất hiện những con người đặc biệt, xuất sắc và những tư tưởng mạnh mẽ, quyết liệt, trong Phật Giáo cũng như ngoài Phật Giáo. Từ đầu thập niên 30, tư tưởng Phật Hộc của Thích Thiện Chiếu đã là những quả bom chấn động. Và năm 1939 Huỳnh Phú Sổ xuất hiện làm một cuộc cách mạng tôn giáo, cải cách toàn bộ và triệt để Phật Giáo chưa từng có trong hai ngàn năm lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Miền Nam, một vùng đất lạ lùng và kỳ diệu… An Hòa TựPhan Chu Trinh từ Pháp trở về Sài Gòn năm 1925, đất nước bùng lên những làn sóng tư tưởng dân quyền và dân chủ. Ông khẳng định phải tìm nguyên nhân mất nước trong sự mất đạo đức, mất luân lý, trong bài diễn thuyết Đạo Đức và Luân Lý Đông Tây, và ông cũng khẳng định chế độ quân chủ chuyên chế là nguyên nhân chính làm mất nước trong bài thuyết giảng Quân Trị Chủ Nghĩa và Dân Trị Chủ Nghĩa tại Sài Gòn năm 1925. Ông mất năm sau đó và đám tang ông cùng với cuộc vận động ân xá nhà chí sĩ Phan Bội Châu đã khơi bùng phong trào yêu nước và yêu tự do dân chủ trên toàn quốc, đặc biệt là trong giới thanh niên.Nhưng dữ dội, bốc lửa và sấm sét trong tư tưởng yêu nước chống thực dân cũng như tư tưởng tự do dân chủ, trong thời này, chỉ có Nguyễn An Ninh là đi xa nhất, quyết liệt nhất. Là một thanh niên miền Nam, Ông đi du học ở Pháp và trở về nước với bằng cử nhân Luật. Lợi dụng quy chế thuộc địa của Nam Kỳ, nơi mà báo chí bằng tiếng Pháp được tự do, không bị kiểm duyệt, Ông ra tờ La Cloche fèlèe (Tiếng Chuông Rè) từ năm 1923 đến năm 1926. Ông tự xưng tờ báo của Ông là “cơ quan tuyên truyền tư tưởng Pháp”, lấy tư tưởng của kẻ xâm lăng để đập những nhát búa tạ vào chế độ Thực Dân, đồng thời tờ báo cũng tự nhận là “cơ quan chuẩn bị cho tương lai dân tộc”. Thật là độc đáo và tuyệt vời.Ngoài việc phê bình kịch liệt, thẳng tay chính sách và chế độ thực dân, Ông cổ võ cho việc đào tạo một tầng lớp thanh niên Việt Nam tân học, có văn hóa, có lý tưởng, có chí khí, có năng lực và có tổ chức và Ông tuyệt đối tin vào sức mạnh và vào tương lai của nhân dân Việt Nam. Ông chủ trương một nước Việt Nam thống nhất từ Nam chí Bắc và trở về lịch sử dân tộc để tìm niềm tin và sức mạnh. Ông hô hào, khi chỉ mới ngoài 20 tuổi, “Chẳng những phải duy trì những giấc mộng vĩ đại, mà còn phải tổ chức thành một nhóm quan trọng để chuẩn bị cho tương lai”. Không những tư tưởng táo bạo, độc đáo, mới lạ, kiến thức của Ông cũng rất uyên bác. Khi Thống Đốc Nam Kỳ tuyên bố: “Xứ này không cần trí thức”. Ông đã viết bài trả lời bốc lửa: “… Những thảm khổ của chúng ta ngày nay, còn gì nữa, đúng là do tổ tiên của chúng ta đã sờ mó vào cây kiến thức. Hạng trí thức đã làm đảo lộn thế giới, làm hư hỏng hạnh phúc của thế giới. Hãy nguyền rủa tên tuổi của Prométhé, kẻ đã lấy trộm chút lửa của Trời. Hãy nguyền rủa con người đã bày ra cái ná cao su cho trẻ con bắn đá vào trán ông khổng lồ… Trí Tuệ, đó là cái tai hại. Trí tuệ, đó là con rắn cuốn quanh thân cây đã làm cho chúng ta vĩnh viễn mất cõi thiên đường… Nói đến vai trò giáo dục, vai trò văn minh của các ông chủ xứ Đông Dương này, thưa các ông, điều ấy làm ta mỉm cười… Người ta đã quỳ lụy bái phục những vị “đem ánh sáng tới”, những vị “làm điều kỳ diệu ở Ấu Châu”… Cái gì kỳ diệu? Thực ra cái kỳ diệu đó là, chỉ trong một thời gian ngắn thôi, người ta đã có thể làm cho trình độ trí thức của người Nam đã thấp đi lại càng rơi vào chỗ cực kỳ dốt nát. Cái kỳ diệu đó là người ta đã có thể, trong một thời gian ngắn như thế, xô đẩy một dân tộc có tư tưởng dân chủ, ngã nhào vào tình trạng nô lệ hoàn toàn“. (Trần Văn Giàu, Sự Phát Triển Của Tư Tưởng ở Việt Nam Từ Thế Kỷ 19 đến Cách Mạng Tháng Tám, q2, t 311).Nguyễn An Ninh cũng là một trong những nhà trí thức tân học đầu tiên nghiên cứu Phật Học và hoàn thành một tác phẩm Phật Học quan trọng, cuốn “Phê Bình Phật Giáo”. Sau thời kỳ hoạt động sôi nổi từ 1923 đến 1926, Nguyễn An Ninh bị ở tù trong thời gian 1926-1927, sau đó Ông về nghiên cứu Phật Giáo. Trên bàn làm việc của Ông, có một cái chuông, một cái mõ, Ông cạo trọc đầu và đi chân không. Ông nghiên cứu Phật Giáo qua tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức và các hoạt động Phật Giáo trong nước. Cuốn Phê Bình Phật Giáo xuất bản năm 1937 là kết quả của sự nghiên cứu này. Tựa đề của cuốn sách, 70 năm sau cũng không có ai dám viết một cuốn sách Phật Học có tựa đề thách thức và can đảm như vậy. Mục đích và phương pháp luận còn mới lạ, táo bạo hơn, đó là “so sánh Phật Giáo với thời đại của nó để chỉ chỗ hay, chỗ đúng hơn của nó đối với các thuyết khác và so sánh Phật Giáo với thời đại này để chỉ sai lầm của Phật Giáo“. Tác phẩm này được giới trí thức, giới chính trị cũng như giới Phật Giáo chú ý đặc biệt.Nhưng không gây sóng gió và tranh luận suốt nhiều năm trời như những tác phẩm của Thích Thiện Chiếu. Đối với Tăng, Ni, Phật Tử thập niên 30, những tư tưởng Phật Học của Thích Thiện Chiếu là những tiếng sét ngang tai. Ngày nay đọc lại, chắc chắn quý vị tăng sĩ, cư sĩ và Phật Tử cũng không khỏi giựt mình, chấn động và suy nghĩ. Những tư tưởng này, được viết từ thập niên 30, ngày nay, cuối thập niên 90, vẫn còn mới, còn táo bạo, còn chứa đầy sức nặng của đá tảng và sức nổ của sấm sét. Thích Thiện Chiếu là tinh hoa sáng chói của Phật Giáo trong thập niên 20, 30. Ông đã đi tiền phong trong mọi lãnh vực chấn hưng và hiện đại hóa Phật Giáo Việt Nam trong thế kỷ 20 này.Ta phải đứng trên một đỉnh núi cao, mới hy vọng nhìn thấy những cái gì chưa ai nhìn thấy, những cái gì nằm khuất sau dãy núi cao. đó có thể là những dãy núi cao hơn, hay là một đại dương mênh mông hay là một bình nguyên rực rỡ. Thích Thiện Chiếu là một ngọn núi cao của Phật học và Phật Giáo Việt Nam trước đệ nhị thế chiến. Ta hãy đứng trên đỉnh núi cao ngất, hùng tráng này để nhìn rõ một đỉnh núi cao ngất, hùng vĩ khác, là Cư sĩ, Bồ Tát, Giáo Chủ Huỳnh Phù Sổ.   |Muc Luc| |Ch.1| |Ch.2| |Ch.3| |Ch.4| |Ch.5| |Ch.6| |Ch.7| |Ch.8| |Ch.9| |Ch.10|TK|[BHH430] [PGHH] [THƯ VIỆN PGHH]
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Đạo trị nước anh minh của vua Lê Thánh Tông: ‘Lễ nghĩa là để sửa tốt lòng dân’

Thanh Ngọc | DKN 22/03/2021

Ảnh ghép minh họa.

Mục lục bài viết

“Dùng mệnh lệnh, pháp luật để dẫn dắt chỉ đạo dân, dùng hình phạt để quản lý dân, làm như vậy tuy có giảm được phạm pháp, nhưng người phạm pháp không biết xấu hổ, sỉ nhục. Dùng đạo đức để hướng dẫn chỉ đạo dân, dùng lễ nghĩa để giáo hóa dân, làm như vậy chẳng những dân hiểu được thế nào là nhục nhã khi phạm tội, mà còn cam tâm tình nguyện sửa chữa sai lầm của mình tận gốc từ mặt tư tưởng”… (Trích Luận Ngữ – Khổng Tử).

Trong xã hội hiện đại, pháp luật ngày càng kiện toàn, nhưng hành vi của con người vẫn phóng túng, tội phạm và các tệ nạn xã hội xuất hiện ngày càng nhiều: đồ ăn có độc, thuốc giả, mại dâm, ma tuý, tham ô, trộm cắp, giết người, v.v.., thậm chí độ tuổi đối tượng phạm pháp ngày càng trẻ hoá. Điều này cho thấy luật pháp kiện toàn không phải là điều kiện đủ để có một xã hội hài hoà, an định.

Lịch sử từng ghi nhận có rất nhiều triều đại thái bình thịnh trị mà ở đó “Người mua kẻ bán đi lại tự do mà không sợ giặc cướp, nhà tù bỏ không và dân chúng không cần khóa cửa”. Nếu như Trung Hoa có “Trinh Quán chi trị” thì Việt Nam cũng có “Hồng Đức thịnh thế” – thời kỳ rực rỡ huy hoàng dưới sự trị vì của vua Lê Thánh Tông. Bên cạnh hệ thống pháp luật nghiêm minh, những thời đại này đều có một điểm chung: Đề cao đạo đức, dùng đạo đức để giáo hoá người dân.

Vua Lê Thánh Tông: Một tấm gương sáng về đạo đức

“Lòng vì thiên hạ lo âu
Thay việc Trời dám trễ đâu
Trống rời canh còn đọc sách
Chiêng xế bóng chửa thôi chầu…”

Mấy vần thơ tự bạch của Lê Thánh Tông (1442 – 1497) phần nào đã nói lên đức độ của một trong những vị vua hiền minh bậc nhất lịch sử Việt Nam. Vua Lê Thánh Tông đăng cơ lúc 18 tuổi, trị vì 38 năm với hai niên hiệu là Quang Thuận (1460 – 1469) và Hồng Đức (1470 – 1497).

Sử thần Vũ Quỳnh ghi: “Vua tự Trời cao siêu, anh minh quyết đoán, có hùng tài đại lược, võ giỏi, văn hay, mà thánh học rất chăm, tay không lúc nào rời quyển sách. Các sách kinh sử, các sách lịch toán, các việc Thánh thần, cái gì cũng tinh thông”.

Không chỉ tài năng xuất chúng, vua Lê Thánh Tông còn là một tấm gương sáng về đức hạnh: “Sửa tam đức để thiện lòng người, coi học hành để chấn hưng văn hóa… Kính tôn bậc nho cố cựu, lễ phép với bậc đại thần. Thưởng phạt thì rõ ràng. Chính lệnh thì nghiêm minh… Siêng cần dân sự thì lấy việc làm ruộng, trồng dâu làm gốc… Không chuộng châu báu lạ kỳ, không ưa xa xỉ… Biết các quan là nguồn gốc trị loạn, nên đem liêm giới khuyên răn. Hết lòng hiếu kính triều trước, mà bỏ luôn thú vui phóng túng”.

Tượng đồng vua Lê Thánh Tông ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội (ảnh: Wikipedia).

Đạo trị nước của vua Lê Thánh Tông: Đề cao lễ nghĩa

Vua Lê Thánh Tông nhiều lần nhấn mạnh về tầm quan trọng của lễ nghĩa trong đạo trị nước an dân. Ông nói: “Lấy chữ lễ, nghĩa, liêm, sỉ mà dạy dân, khiến cho dân hướng về chữ nhân, chữ nhường, bỏ hết lòng gian phi, để cho dân được an cư, lạc nghiệp, giàu có và đông đúc”.

Khi đổi niên hiệu từ Quang Thuận sang Hồng Đức, nhà vua nói: “Người ta sở dĩ khác với loài cầm thú là vì có Lễ để làm khuôn phép giữ gìn”.

Năm 1485, vua dụ các quan phủ, huyện, châu trong nước rằng: “Lễ nghĩa để sửa tốt lòng dân, nông tang để có đủ cơm áo, hai việc cần kíp đó của chính sự là chức trách của các thú mục”.

Thời Hồng Đức, hệ thống pháp luật rất kiện toàn, tuy nhiên pháp luật chỉ là biện pháp bổ trợ cho đường lối giáo hoá bằng lễ (đức chủ – hình bổ). Tư tưởng “Đức trị” được vua Lê Thánh Tông kế thừa từ Nho gia. Sách “Luận Ngữ” của Khổng Tử viết: “Dùng mệnh lệnh, pháp luật để dẫn dắt chỉ đạo dân, dùng hình phạt để quản lý dân, làm như vậy tuy có giảm được phạm pháp, nhưng người phạm pháp không biết xấu hổ, sỉ nhục. Dùng đạo đức để hướng dẫn chỉ đạo dân, dùng lễ nghĩa để giáo hóa dân, làm như vậy chẳng những dân hiểu được thế nào là nhục nhã khi phạm tội, mà còn cam tâm tình nguyện sửa chữa sai lầm của mình tận gốc từ mặt tư tưởng”.

Dưới sự trị vì anh minh sáng suốt của vua Lê Thánh Tông, Đại Việt đã trở thành một cường quốc ở Đông Nam Á, bờ cõi mở mang, kinh tế phồn thịnh, xã hội thái bình.

Đề cao đạo đức nhân nghĩa – lời giải cho các vấn đề xã hội đương đại

Trong xã hội hiện đại, pháp luật ngày càng hoàn thiện và thắt chặt nhưng quy phạm đạo đức lại ngày càng mai một và buông lỏng. Hệ quả là, khi không bị theo dõi giám sát, người ta lại vẫn thích gì làm nấy, kéo theo một loạt vấn nạn xã hội. Ví dụ như pháp luật có thể cấm và phạt hành vi hối lộ, nhưng không thể làm giảm lòng tham của con người.

Như vậy, muốn giải quyết tận gốc các vấn đề xã hội, cần nhắm thẳng vào cái tâm con người. Nếu như mỗi người đều có tiêu chuẩn đạo đức cao để ước thúc chính mình, thì dù không có luật pháp trừng trị, dù không có người giám sát, họ vẫn sẽ cư xử đúng đắn. Trong lịch sử có chép lại không ít ví dụ.

Dương Chấn là vị quan thanh liêm nổi tiếng thời Đông Hán. Truyện kể rằng: Trên đường Dương Chấn đến nhậm chức Thái Thú Đông Lai có đi qua Xương Ấp. Huyện lệnh của Xương Ấp là Vương Mật – người được Dương Chấn đề bạt khi ông đang làm Thứ Sử Kinh Châu. Vương Mật nghe nói Dương Chấn đi ngang qua địa phương, vì để báo đáp ân tình của Dương Chấn năm xưa đã đề bạt mình nên đã đến gặp Dương Chấn.

Vương Mật có mang theo năm cân bạc trắng, đợi đến nửa đêm lấy ra để biếu tặng Dương Chấn. Dương Chấn nói: “Chúng ta là bạn cũ, ta rất hiểu thái độ làm người của ông, ông cũng hiểu biết ta, vì sao lại làm thế?”.

Vương Mật nói: “Bây giờ là đêm khuya khoắt vắng người, không có ai biết cả”.

Dương Chấn nói: “Trời biết, Thần biết, ta biết, ngươi biết, sao có thể nói là không ai biết được?” Vương Mật nghe xong, hổ thẹn mà rời đi.

Cổ nhân có tiêu chuẩn đạo đức cao thượng, biết kính sợ Thiên – Địa, tin rằng mỗi một hành vi, lời nói, ý niệm đều có Thần minh giám sát. Văn hoá truyền thống của cả Nho gia, Phật gia và Đạo gia đều phổ biến quy luật nhân quả báo ứng, con người làm ra sự việc gì trước sau đều nhận lãnh hậu quả. Bởi thế nên, dầu ở chỗ không người cũng tự biết ước chế cái tâm của mình cho phù hợp đạo nghĩa.

Thiết nghĩ, nếu con người hiện đại có thể quay trở về với những giá trị tốt đẹp của văn hoá truyền thống, thì chuẩn mực đạo đức có thể hồi thăng, các vấn đề xã hội nhức nhối hiện nay cũng sẽ tự có lời giải đáp.

Thanh Ngọc

Tin liên quan:

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Tối 18/7: Gần 6000 người nhiễm COVID-19 trong 24 giờ, cao nhất kể từ đầu dịch

Hiểu Minh | DKN 5 giờ tới

Ảnh minh hoạ.

Bộ Y tế tối 18/7 ghi nhận 2.828 ca dương tính COVID-19, gồm 2.807 ca trong nước và 21 ca nhập cảnh được cách ly ngay. Như vậy, trong ngày 18/7, Việt Nam ghi nhận 5.926 ca.

Theo VnExpress, 2.828 ca mắc mới từ số 51003-53830. Trong đó, 2.807 ca ghi nhận tại: TP.HCM (2.310), Đồng Nai (72), Đồng Tháp (65), Bình Dương (64), Đà Nẵng (46), Long An (41), Phú Yên (39), Bình Thuận (37), Hà Nội (33), Khánh Hòa (31), Cần Thơ (14), Hưng Yên (13), Kiên Giang (9), Bình Phước (7), Nghệ An (5), Quảng Ngãi (4), Ninh Thuận (4), Bắc Ninh (3), Bình Định (2), Hà Nam (2), Lâm Đồng (1), Thừa Thiên Huế (1), Bắc Giang (1), Sóc Trăng (1), Đăk Lăk (1), Hải Phòng (1).

Như vậy, trong ngày 18/7, Việt Nam ghi nhận 5.926 ca, gồm 39 ca cách ly ngay sau khi nhập cảnh và 5.887 ca ghi nhận tại 33 tỉnh thành, chủ yếu ở TP.HCM (4.692). Trong đó, 4.960 ca được phát hiện ở khu cách ly hoặc khu đã được phong tỏa, 927 ca đang điều tra dịch tễ (tăng 181 ca so với hôm trước).

Hôm nay đánh dấu ngày ghi nhận số ca nhiễm trong nước cao nhất kể từ đầu dịch (5.887 ca), tăng 2.182 ca so với hôm qua.

Số ca mới nâng tổng số ca nhiễm tại TP.HCM 31.391, Bắc Giang 5.732, Bình Dương 2.644, Bắc Ninh 1.690, Đồng Tháp 1.320, Đồng Nai 829, Long An 787, Phú Yên 702, Hà Nội 627, Khánh Hòa 498, Đà Nẵng 440, Hưng Yên 244, Quảng Ngãi 198, Nghệ An 158, Bình Thuận 87, Cần Thơ 83, Bình Phước 74, Hà Nam 59, Sóc Trăng 45, Kiên Giang 45, Ninh Thuận 44, Bình Định 31, Hải Phòng 21, Lâm Đồng 18, Thừa Thiên Huế 11, Đăk Lăk 10.

Tổng số ca nhiễm cộng đồng từ ngày 27/4 đến nay là 50.150, ghi nhận ở 58 tỉnh thành.

Có thể bạn quan tâm:

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔvà Phật Giáo Thời Ðại

…… …. .. . .Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔvà Phật Giáo Thời ÐạiLê Hiếu Liêm Viện Tư Tưởng Việt Phật Hoa Kỳ 1995tái bản lần thứ hai 2001 Kính tặng những người mang tâm hạnh Bồ Tát tùy thuận phụng sự chúng sanh đã hy sinh tự do và thân mạngcho lý tưởng cứu khổ cứu nạn con dân và đất nước Việt Nam thân yêu. Viện Tư Tưởng Việt PhậtChuyển luân chánh pháp vào thời đại,chính sách quốc gia & đời sống quốc dân.Mục LụcChương Một: Việt Nam và Phật Giáo đầu Thế Kỷ 20.Chương Hai: Tư  Tưởng Phật Học Của Thiền Sư Thích Thiện Chiếu.A/ Cuộc đời và hành trạng của thiền sư Thích Thiện Chiếu.B/ Tư tưởng Phật học của thiền sư Thích Thiện Chiếu và các bạn cùng lý tưởng.a/ Bác bỏ Thượng Đế.b/ Bác bỏ thuyết linh hồn bất tử.c/ Bác bỏ quan niệm thiên đàng, niết bàn.d/ Thuyết vô ngã.1/ Mâu thuẩn của niết bàn.2/ Mâu thuẩn nhân quả. Chương Ba: Cuộc đời của Huỳnh Phú Sổ.A/ Cuộc đời thanh thiếu niên.B/ Cuộc đời hành đạo.C/ Những năm tháng bị quản thúc, lưu đày.D/ Thời gian sống ở Sài Gòn và đi khuyến nông tại miền Tây.E/ Quê hương bừng dậy trong cách mạng và kháng chiến.F/ Dấn thân hoạt động cách mạng kháng chiến cứu quốc.G/ Những ngày cuối cùng của Huỳnh Phú Sổ.H/ Các tác phẩm của Huỳnh Phú Sổ. Chương Bốn: Nguồn Gốc Lịch Sử, Bối Cảnh Chính Trị Và Truyền Thống Tâm Linh.A/ Công cuộc Nam tiến.B/ Cuộc kháng chiến chống Pháp.C/ Truyền thống Đạo Pháp và Dân Tộc. Chương Năm: Tinh Hoa Tư Tưởng Phật Học Và Phương Thức Chấn Hưng Phật Giáo Của Huỳnh Phú Sổ.1/ Phương pháp luận của Huỳnh Phú Sổ.2/ Hình thức giảng đạo.3/ Đối tượng hoằng pháp.4/ Phương thức cứu độ.5/ Tinh yếu tư tưởng Huỳnh Phú Sổ. Chương Sáu: Cuộc Cách Mạng Tôn Giáo Của Huỳnh Phú Sổ.1/ Khuyến khích tu hành theo đạo Phật.2/ Bài trừ mê tín dị đoan.3/ Việt hóa nghi thức thờ phượng.4/ Đề cao vai trò của người Phật tử tại gia.5/ Áp dụng thuyết tứ ân, đưa đạo Phật vào đời.6/ Đưa đạo Phật vào thời đại.7/ Hình thành một tôn giáo dân tộc. Chương Bảy: Con Đường Hành Động Phật Giáo Qua Hành Trạng Của Bồ Tát Huỳnh Phú Sổ.A/ Tranh đấu cho độc lập, thống nhất, hòa giải và đoàn kết dân tộc.B/ Nổ lực đoàn kết, thống nhất Phật giáo. Chương Tám: Nội Dung Phật Pháp Của Phật Giáo Hòa Hảo.– Đường trung đạo.– Chư Phật có bốn đại đức.– Tam nghiệp và thập ác.1/ Sát sanh.2/ Đạo tặc.3/ Tà dâm.4/ Lưỡng thiệt.5/ Ỷ ngôn.6/ Ác khẩu.7/ Vọng ngữ.8/ Tham lam.9/ Sân nộ.10/ Mê si. – Sơ giải về tứ diệu đế.– Luận về bát chánh.1/ Chánh kiến.2/ Chánh tư duy.3/ Chánh nghiệp.4/ Chánh tinh tấn.5/ Chánh mạng.6/ Chánh ngữ.7/ Chánh niệm.8/ Chánh định. – Cư sĩ Huỳnh Phú Sổ và danh tăng Narada Maha Thera.- Thập nhị nhơn duyên.- Môn hoàn diệt.- Đức Phật đối với chúng sanh.- Lời khuyên bổn đạo.- Trong việc tu thân xử kỷ. Chương chín: Hình Thức Tín Ngưỡng Của Phật Giáo Hòa Hảo.A/ PGHH là một tông phái Phật giáo tu hành tại gia.B/ Hình thức thờ phượng, lễ bái, cầu nguyện.- Thờ phượng.- Hành lễ.- Tang lễ.- Hôn nhân.- Những điều cấm làm.- Đối với các tôn giáo và nhân sanh.- Điều kiện vo đạo.- Sự cúng lay của người cư sĩ tại gia. C/ Tám điều răn cấm.- Lời khuyên bổn đạo. Chương Mười: Thi Kệ Của Huỳnh Phú Sổ.– Thi kệ của Huỳnh Phú Sổ và thi kệ của Nhất Hạnh.- Huỳnh Phú Sổ là một phần mầu nhiệm của chúng ta. Phụ Lục.– Nhận định Tình Hình Tôn Giáo Tại Việt Nam của tác giả.- Đức Huỳnh Giáo Chủ Như Là Một Triết Gia Việt Nam của Học Giả Phạm Công Thiện.- Huỳnh Phú Sổ Và Chúng Ta của Tiến Sĩ Lý Khôi Việt.  Bồ Tát Huỳnh Phú Sổ Và Phật Giáo Thời Đại là một tác phẩm sử học và Phật học nên tác giả đã không thể viết khác hơn về một số sự thật lịch sử và một số nhận định, phê bình. Lịch sử là lịch sử. Và tự do tư tưởng là quyền tự do căn bản nhất, thiêng liêng nhất của mọi con người trong thế giới văn minh ngày nay.Tác giả hoan nghênh và sẵn sàng thảo luận với bất cứ ai về bất cứ vấn đề gì được nêu lên trong tác phẩm nầy. * Các hình của Huỳnh Phú Sổ được chụp lại từ trong cuốn Phật Giáo Hòa Hảo Trong Dòng Lịch Sử Dân Tộc của Nguyễn Long Thành Nam. Viện Tư Tưởng Việt PhậtP.O Box 915Danville, CA 94526. USA  Tác Giả & Tác Phẩm * Tác giả Lê Hiếu Liêm sinh năm 1952 tại Huế, tốt nghiệp Cử nhân Luật Khoa đại Học Sài Gòn năm 1974 và Tiến Sĩ Luật Khoa, chuyên ngành về Luật Các Tổ Chức Quốc Tế Và Bang Giao Kinh Tế Quốc Tế, đại Học Sorbonne năm 1978, sáng lập Tạp Chí Khai Phóng (1981), báo Thanh Niên Hành động (1984), báo The Berkeley Times (1986), Viện Tư Tưởng Việt Phật (1990), Tạp Chí Bông Sen (1991) và Trường Phật Học Lý Trần (1991).Trong hơn hai thập niên qua, tác giả đã hoàn thành các tác phẩm sau đây:- Ý Thức Hệ Của Các Quốc Gia Đang Phát Triển (1970),- Chiến Tranh Việt Nam Và Luật Quốc Tế (1973),- Hợp Tác Và Hội Nhập Tại Đông Nam Á (1976),- Việt Nam Và Hoa Kỳ Trong Thời đại Mới 1976-2000 (1976),- Bản Điều Trần Nguyễn Trường Tộ Mới (1977),- Khía Cạnh Pháp Lý Và Thực Tế Của Sự Giao Thương Nga-Mỹ (luận án tiến sĩ, 1978),- Việt Nam Tranh Đấu Sử Luận (1980),- Hai Ngàn Năm Việt Nam Và Phật Giáo (1981). Tác giả đã viết trên 200 bài nghiên cứu, tham luận, bình luận, phóng sự, bút ký… dưới các bút hiệu khác nhau, về các vấn đề Phật Giáo, Phật Học và Đất Nước, được đăng tải trên các tạp chí Phật Giáo Việt Nam, Khai Phóng, Giao Điểm, Hoa Sen, Bông Sen, Bông Sen Âu Châu… và được trích đăng lại trong nhiều tờ báo khác.Tác giả Lê Hiếu Liêm là chủ biên của bộ Phật Học Lý Trần, Khóa Căn Bản (Năm thứ nhất Cao Đẳng Phật học), Khóa Trung Cấp (Năm thứ hai Cao Đẳng Phật học) và Khóa Cao Cấp (năm thứ ba Cử Nhân Phật học) tổng cộng 6.000 trang.Ngay từ tác phẩm đầu tiên “Ý Thức Hệ Của Các Quốc Gia đang Phát Triển”, được viết khi 18 tuổi, tác giả đã đề nghị lấy Phật Giáo để dung hòa, hóa giải các nguồn ý thức hệ đang tàn phá Việt Nam và làm chủ đạo văn hóa-chính trị mới cho Việt Nam.Lời kêu gọi này tiếp tục được đưa ra trong Bản Điều Trần gởi các nhà lãnh đạo Việt Nam, được viết khi 24 tuổi, và được tác giả mang đến trao cho phái đoàn Thủ Tướng Phạm Văn Đồng đang công du tại Pháp trong năm 1977.Thông điệp giải cứu và quang hưng đất nước trong tinh thần khoan dung, khai phóng, từ bi và trí tuệ của đạo Phật, đồng thời cũng là của truyền thống văn hóa dân tộc và của thời đại, được tác giả tiếp tục khẳng định trong hầu hết các tác phẩm được viết từ suốt 20 năm qua. * Tác phẩm Bồ Tát Huỳnh Phú Sổ Và Phật Giáo Thời Đại được viết từ cuối năm 1994 và hoàn thành, quyển một, vào tháng tư năm 1995. Đây là quyển đầu tiên của bộ sách ba cuốn viết về Huỳnh Phú Sổ. Quyển một giới thiệu cuộc đời – tư tưởng Bồ Tát Huỳnh Phú Sổ và nội dung giáo lý – hình thức tín ngưỡng của Phật Giáo Hòa Hảo, như một tông phái Phật giáo được Việt hóa và hiện đại hóa. Quyển hai so sánh Huỳnh Phú Sổ và các vị giáo chủ khác, cùng đối chiếu Phật Giáo với các tôn giáo khác, đây là một bản tổng kết và đánh giá di sản tôn giáo của dân tộc và nhân loại. Quyển ba trình bày những tiên đoán về tương lai của các tôn giáo và của Phật Giáo Việt Nam, và đưa ra những đề nghị để xây dựng một nền Phật Giáo Thời đại trong Thời đại Phật Giáo, là thế kỷ 21 sắp đến. “Bồ Tát Huỳnh Phú Sổ đã đưa lịch sử vượt qua tương lại, đã nối liền Đạo Pháp với Dân Tộc, và đã đến hiện đại từ truyền thống. Ý thức  mới trong văn hóa, tôn giáo và chính trị của Ông vẫn còn rực sáng để đánh thức chúng ta, dẫn đường cho thời đại, cho sinh mệnh Việt Nam và tương lai Phật Giáo Việt Nam. Tất cả chúng ta, những ai vẫn còn mang trong trái tim truyền thống văn hóa và tâm linh của dân tộc, chính là hóa thân của Huỳnh Phú Sổ, của Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Tuệ Trung, của Khuông Việt, Vạn Hạnh, Lý Công Uẩn.Huỳnh Phú Sổ bất tử.Vì sự nghiệp của ông chính là sự nghiệp Phật Giáo.Vì sự nghiệp của ông chính là sự nghiệp Việt Nam.Vì Huỳnh Phú Sổ đã trở thành một phần mầu nhiệm của Việt Nam, của Phật Giáo, của mỗi chúng ta…”   |Muc Luc| |Ch.1| |Ch.2| |Ch.3| |Ch.4| |Ch.5| |Ch.6| |Ch.7| |Ch.8| |Ch.9| |Ch.10|TK|[BHH430] [PGHH] [THƯ VIỆN PGHH 
HOMEGIỚI THIỆU TỔNG QUÁTHỌC TRÌNHHỘI ÐỒNG GIẢNG HUẤNTHƯ VIỆNSINH VIÊN VỤBẢN TIN PHV
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Ðức Huỳnh Giáo Chủ
Vương KimÐức Phật, Hoàng thiên lịnh giáng trần,Huỳnh gia chuyển kiếp lập đời Tân.Giáo truyền đạo Thích dìu sanh chúng,Chủ ý chọn người vẹn Tứ ân.(Hình Tác giả: Vương Kim Phan Bá Cầm)Phần I:HÀNH TRẠNG Thiên thứ nhứtGiai đoạn ra đời mở đạo Chương I: Bối cảnh xã hộiChương II:Thân thếChương III: Ra Tế độChương IV: Đăng SơnChương V: Sứ MạngChương VI: Lưu CưChương VII: Vận Ðộng Ðộc LậpChương VIII: Tổ Chức Hàng NgũChương IX: Chuẩn Bị Ðấu Tranh Thiên thứ haiGiai đoạn hoạt động đấu tranh Chương X: Dấn Thân Thiên thứ baGiai Ðoạn Vắng Mặt Chương XI: Lý Do Thọ NạnChương XII: Còn Hay Mất Phần II:SỰ NGHIỆP Thiên thứ tưSự Nghiệp Về Mặt ÐạoTôn Phái Phật Giáo Hòa Hảo Chương XIII: Học PhậtChương XIV: Tu Nhân Thiên thứ nămSự Nghiệp Về Mặt Ðời:Công nghiệp cách mạng Chương XV: Quân Sự.Bộ Ðội Nguyễn Trung Trực Chương XVI: Chánh TrịViệt Nam Dân Chủ Xã Hội đảng Cùng một tác giả: Long Hoa xuất bản-         Tận Thế và Hội Long Hoa (1952)-         Đức Phật Thầy Tây An (1953) (hiệp với Đào Hưng)-         Để Hiểu Phật Giáo Hòa Hảo (1954) (hiệp với Thanh Sĩ)-         Ðời Hạ Ngươn (1960)-         Đời người dướI ánh sáng Đạo Phật (1960)-         Bửu Sơn Kỳ Hương (1966)-         Hành sử Đạo Nhân (1970)-         Tu Hiền (1972)-         Đời Thượng Ngươn (1973)-         Pháp Môn Tịnh Độ (1973)-         Tại Sao Ta Phải Tu (1974)Dân Xã Tùng Thư-         Chánh trị thường thức (1956)-         Tinh thần cán bộ (1971)-         Lập trường Dân Xã Đảng (1971) MUC LUC CHƯƠNG 1 | | CHƯƠNG 2 | | CHƯƠNG 3 | | CHƯƠNG 4 | | CHƯƠNG 5 | | CHƯƠNG 6 | | CHƯƠNG 7 | | CHƯƠNG 8 | | CHƯƠNG 9 | | CHƯƠNG 10 | | CHƯƠNG 11 | | CHƯƠNG 12 || CHƯƠNG 13 | | CHƯƠNG 14 | | CHƯƠNG 15 | | CHƯƠNG 16 | | CHƯƠNG 17|  [TV. PGHH]
Ðức Huỳnh Giáo Chủ
Vương KimÐức Phật, Hoàng thiên lịnh giáng trần,Huỳnh gia chuyển kiếp lập đời Tân.Giáo truyền đạo Thích dìu sanh chúng,Chủ ý chọn người vẹn Tứ ân.(Hình Tác giả: Vương Kim Phan Bá Cầm)Phần I:HÀNH TRẠNG Thiên thứ nhứtGiai đoạn ra đời mở đạo Chương I: Bối cảnh xã hộiChương II:Thân thếChương III: Ra Tế độChương IV: Đăng SơnChương V: Sứ MạngChương VI: Lưu CưChương VII: Vận Ðộng Ðộc LậpChương VIII: Tổ Chức Hàng NgũChương IX: Chuẩn Bị Ðấu Tranh Thiên thứ haiGiai đoạn hoạt động đấu tranh Chương X: Dấn Thân Thiên thứ baGiai Ðoạn Vắng Mặt Chương XI: Lý Do Thọ NạnChương XII: Còn Hay Mất Phần II:SỰ NGHIỆP Thiên thứ tưSự Nghiệp Về Mặt ÐạoTôn Phái Phật Giáo Hòa Hảo Chương XIII: Học PhậtChương XIV: Tu Nhân Thiên thứ nămSự Nghiệp Về Mặt Ðời:Công nghiệp cách mạng Chương XV: Quân Sự.Bộ Ðội Nguyễn Trung Trực Chương XVI: Chánh TrịViệt Nam Dân Chủ Xã Hội đảng Cùng một tác giả: Long Hoa xuất bản-         Tận Thế và Hội Long Hoa (1952)-         Đức Phật Thầy Tây An (1953) (hiệp với Đào Hưng)-         Để Hiểu Phật Giáo Hòa Hảo (1954) (hiệp với Thanh Sĩ)-         Ðời Hạ Ngươn (1960)-         Đời người dướI ánh sáng Đạo Phật (1960)-         Bửu Sơn Kỳ Hương (1966)-         Hành sử Đạo Nhân (1970)-         Tu Hiền (1972)-         Đời Thượng Ngươn (1973)-         Pháp Môn Tịnh Độ (1973)-         Tại Sao Ta Phải Tu (1974)Dân Xã Tùng Thư-         Chánh trị thường thức (1956)-         Tinh thần cán bộ (1971)-         Lập trường Dân Xã Đảng (1971) MUC LUC CHƯƠNG 1 | | CHƯƠNG 2 | | CHƯƠNG 3 | | CHƯƠNG 4 | | CHƯƠNG 5 | | CHƯƠNG 6 | | CHƯƠNG 7 | | CHƯƠNG 8 | | CHƯƠNG 9 | | CHƯƠNG 10 | | CHƯƠNG 11 | | CHƯƠNG 12 || CHƯƠNG 13 | | CHƯƠNG 14 | | CHƯƠNG 15 | | CHƯƠNG 16 | | CHƯƠNG 17|  [TV. PGHH]
Ðức Huỳnh Giáo Chủ
Vương KimÐức Phật, Hoàng thiên lịnh giáng trần,Huỳnh gia chuyển kiếp lập đời Tân.Giáo truyền đạo Thích dìu sanh chúng,Chủ ý chọn người vẹn Tứ ân.(Hình Tác giả: Vương Kim Phan Bá Cầm)Phần I:HÀNH TRẠNG Thiên thứ nhứtGiai đoạn ra đời mở đạo Chương I: Bối cảnh xã hộiChương II:Thân thếChương III: Ra Tế độChương IV: Đăng SơnChương V: Sứ MạngChương VI: Lưu CưChương VII: Vận Ðộng Ðộc LậpChương VIII: Tổ Chức Hàng NgũChương IX: Chuẩn Bị Ðấu Tranh Thiên thứ haiGiai đoạn hoạt động đấu tranh Chương X: Dấn Thân Thiên thứ baGiai Ðoạn Vắng Mặt Chương XI: Lý Do Thọ NạnChương XII: Còn Hay Mất Phần II:SỰ NGHIỆP Thiên thứ tưSự Nghiệp Về Mặt ÐạoTôn Phái Phật Giáo Hòa Hảo Chương XIII: Học PhậtChương XIV: Tu Nhân Thiên thứ nămSự Nghiệp Về Mặt Ðời:Công nghiệp cách mạng Chương XV: Quân Sự.Bộ Ðội Nguyễn Trung Trực Chương XVI: Chánh TrịViệt Nam Dân Chủ Xã Hội đảng Cùng một tác giả: Long Hoa xuất bản-         Tận Thế và Hội Long Hoa (1952)-         Đức Phật Thầy Tây An (1953) (hiệp với Đào Hưng)-         Để Hiểu Phật Giáo Hòa Hảo (1954) (hiệp với Thanh Sĩ)-         Ðời Hạ Ngươn (1960)-         Đời người dướI ánh sáng Đạo Phật (1960)-         Bửu Sơn Kỳ Hương (1966)-         Hành sử Đạo Nhân (1970)-         Tu Hiền (1972)-         Đời Thượng Ngươn (1973)-         Pháp Môn Tịnh Độ (1973)-         Tại Sao Ta Phải Tu (1974)Dân Xã Tùng Thư-         Chánh trị thường thức (1956)-         Tinh thần cán bộ (1971)-         Lập trường Dân Xã Đảng (1971) MUC LUC CHƯƠNG 1 | | CHƯƠNG 2 | | CHƯƠNG 3 | | CHƯƠNG 4 | | CHƯƠNG 5 | | CHƯƠNG 6 | | CHƯƠNG 7 | | CHƯƠNG 8 | | CHƯƠNG 9 | | CHƯƠNG 10 | | CHƯƠNG 11 | | CHƯƠNG 12 || CHƯƠNG 13 | | CHƯƠNG 14 | | CHƯƠNG 15 | | CHƯƠNG 16 | | CHƯƠNG 17|  [TV. PGHH]
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Thủ tướng Nhật kêu gọi G7 đối phó hành động của Trung Quốc ở Biển Đông

Văn Khoa

1
2
3
4
5

truongvankhoa2001@yahoo.com10:27 – 13/06/2021 4 THANH NIÊN ONLINE

Thủ tướng Nhật Bản Suga Yoshihide vừa bày tỏ quan ngại của ông với các nhà lãnh đạo khác thuộc G7 về những hoạt động của Trung Quốc, trong đó có hành động đơn phương của nước này ở Biển Đông.

Thủ tướng Nhật Bản Suga Yoshihide (thứ 2 từ phải) cùng các nhà lãnh đạo khác tại hội nghị thượng đỉnh G7 ở Anh ngày 12.6 /// Reuters

Thủ tướng Nhật Bản Suga Yoshihide (thứ 2 từ phải) cùng các nhà lãnh đạo khác tại hội nghị thượng đỉnh G7 ở Anh ngày 12.6REUTERSCụ thể, trong ngày làm việc thứ 2 của hội nghị thượng đỉnh G7, diễn ra ở Anh từ ngày 11-13.6, Thủ tướng Suga nhấn mạnh rằng nhiều vấn đề liên quan Trung Quốc, như hành động đơn phương của nước này ở biển Hoa Đông và Biển Đông và những hoạt động kinh tế không công bằng, không phù hợp với các giá trị của G7, theo Đài NHK.Ông Suga còn nhấn mạnh các nước G7 ( gồm Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Canada, Ý và Nhật Bản) nên làm việc cùng nhau để giải quyết những vấn đề liên quan Trung Quốc.

Current Time0:00/Duration0:00Các lãnh đạo G7 cùng yêu cầu điều tra nguồn gốc Covid-19

https://api.dable.io/widgets/id/G7ZJbw7W/users/99672104.1623692065636?from=https%3A%2F%2Fthanhnien.vn%2Fthe-gioi%2Fthu-tuong-nhat-keu-goi-g7-doi-pho-hanh-dong-cua-trung-quoc-o-bien-dong-1398099.html&url=https%3A%2F%2Fthanhnien.vn%2Fthe-gioi%2Fthu-tuong-nhat-keu-goi-g7-doi-pho-hanh-dong-cua-trung-quoc-o-bien-dong-1398099.html&ref=https%3A%2F%2Fwww.saigonbao.com%2F&cid=99672104.1623692065636&uid=99672104.1623692065636&site=thanhnien.vn&id=dablewidget_G7ZJbw7W&category1=Th%E1%BA%BF%20gi%E1%BB%9Bi&ad_params=%7B%7D&item_id=1077908&pixel_ratio=1&client_width=639&network=non-wifi&lang=en&pre_expose=1&is_top_win=1&top_win_accessible=1&inarticle_init=1Thông tin trên cho thấy Thủ tướng Suga thường bày tỏ quan ngại và sự phản đối của Nhật đối với những hoạt động của Trung Quốc ở biển Hoa Đông và Biển Đông trong các cuộc họp song phương và đa phương với lãnh đạo của các nước khác.Trong hội nghị trực tuyến ngày 27.5, Thủ tướng Suga Yoshihide cùng Chủ tịch Hội đồng châu Âu Charles Michel và Chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen khẳng định sự phản đối mạnh mẽ của họ đối với những ý đồ đơn phương của Bắc Kinh nhằm thay đổi hiện trạng ở biển Hoa Đông và Biển Đông, theo NHK.Trước đó, trong cuộc điện đàm với Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi vào ngày 9.3, Thủ tướng Suga cũng đã bày tỏ quan ngại về những ý đồ đơn phương của Trung Quốc thay đổi hiện trạng ở biển Hoa Đông và Biển Đông, theo Kyodo News.Kể từ khi Luật Hải cảnh của Trung Quốc cho phép lực lượng hải cảnh nổ súng có hiệu lực từ ngày 1.2, Nhật luôn chia sẻ quan ngại của mình với Mỹ và nhiều nước khác về nguy cơ Trung Quốc ngày càng trở nên hung hăng ở biển Hoa Đông và Biển Đông, theo hãng tin Jiji Press.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Liên minh quân sự Nato muốn đối phó với ‘các thách thức từ Trung Quốc’

một giờ trước

Nato Secretary General Jens Stoltenberg holds a news conference ahead of the summit
Chụp lại hình ảnh,Tổng Thư ký Nato Jens Stoltenberg nói liên minh quân sự Nato không muốn có Chiến tranh Lạnh với Trung Quốc

Người đứng đầu Nato – Liên minh Bắc Đại Tây Dương trước khi khối này có kỳ họp thượng đỉnh đã thúc giục các quốc gia thành viên hãy đáp trả sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Kỳ họp được tổ chức nhằm tăng cường sự ủng hộ của Hoa Kỳ đối với liên minh phương tây.

Thượng đỉnh G7: Thống nhất kế hoạch chi tiêu đối phó TQ

Báo TQ: ‘G7 không còn ra lệnh được cho thế giới’

Anh Quốc theo chân Hoa Kỳ và Nato rút quân khỏi Afghanistan

Putin thực sự muốn gì ở Biden

Các nhà lãnh đạo Nato được trông đợi sẽ ra thông cáo chung theo đó nói Trung Quốc là một mối đe dọa an ninh trong kỳ họp tại Bỉ vào hôm thứ Hai.

Tổng Thư ký Jens Stoltenberg nói rằng kỳ họp thượng đỉnh là một “khoảnh khắc xoay trục” của liên minh.

Đây là cuộc họp đầu tiên của Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden tại Nato kể từ khi ông lên nắm quyền.

Nato là liên minh chính trị và quân sự hùng mạnh giữa 30 quốc gia châu Âu và Bắc Mỹ, được thành lập sau Thế Chiến II nhằm đáp trả sự mở rộng của Liên bang Xô-viết ra các vùng ngoại vi ở châu Âu.

Sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa tan rã ở Đông Âu và vùng Baltic, Nato kết nạp một loạt thành viên mới từng nằm trong quỹ đạo của Moscow.

Một số nước từng là thành viên của khối quân sự đối đầu với Nato – khối Hiệp ước Warsaw.

Trong những năm gần đây, liên minh đã rơi vào tình trạng mất phương hướng do các lãnh đạo trong khối tranh cãi về mục đích hoạt động và ngân sách của khối.

Căng thẳng dâng cao trong thời gian cầm quyền của Tổng thống Donald Trump, người phàn nàn rằng nước ông đã phải đóng góp tài chính quá nhiều cho liên minh, và đặt câu hỏi về cam kết của Hoa Kỳ trong việc bảo vệ các đối tác châu Âu.

US President Joe Biden (R) speaks with Turkey's President Recep Tayyip Erdogan (L) during a plenary session at a NATO summit in Brussels, Belgium, 14 June 2021
Chụp lại hình ảnh,Tổng thống Joe Biden (phải) nói chuyện với Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan tại cuộc họp

Trái ngược với ông Donal Trump, người kế nhiệm ông là Joe Biden đã tìm cách xác quyết sự ủng hộ của Hoa Kỳ đối với liên minh đã tồn tại được 72 năm này.

“Tôi muốn nói rõ rằng: Nato là vô cùng quan trọng đối với các lợi ích của Hoa Kỳ,” ông Biden nói khi tới dự họp thượng đỉnh vào hôm thứ Hai.

Ông nói nước ông có một “nghĩa vụ cao cả” là tuân thủ Điều 5 của hiệp ước thành lập Nato, theo đó các quốc gia thành viên cam kết sẽ bảo vệ lẫn nhau khi bị tấn công.

Cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống Biden, Jake Sullivan nói rằng các cuộc thảo luận của Nato sẽ tập trung vào mối quan tâm an ninh chung, trong đó có việc đối phó với Trung Quốc và sức mạnh quân sự đang dâng của Bắc Kinh.

“Chúng ta sẽ không bước vào một thời kỳ Chiến tranh Lạnh mới và Trung Quốc không phải là đối thủ, cũng không phải là kẻ thù của chúng ta,” ông Stoltenberg nói với các phóng viên tại trụ sở Nato trước khi diễn ra kỳ họp thượng đỉnh.

“Nhưng chúng ta, với tư cách là một liên minh, cần cùng nhau giải quyết vấn đề trước những thách thức mà sự trỗi dậy của Trung Quốc đang gây ra đối với an ninh của chúng ta.”

Biến đổi khí hậu, an ninh mạng, Nga và việc Nato rút quân khỏi Afghanistan – sứ mệnh triển khai quân ở hải ngoại dài nhất của liên minh – cũng sẽ là các chủ đề được bàn đến trong nghị trình của kỳ họp thượng đỉnh.

Vì sao Nato nay chú tâm vào Trung Quốc?

Trung Quốc là một quốc gia hùng cường trên thế giới về kinh tế và quân sự, với đảng Cộng sản cầm quyền theo cách thắt chặt kiểm soát về chính trị, đời sống xã hội hàng ngày.

Nato đã ngày càng trở nên quan ngại trước năng lực quân sự ngày càng mạnh của Trung Quốc, điều mà khối coi là mối đe dọa đối với an ninh và các giá trị dân chủ của các quốc gia thành viên Nato.

A new type 094A Jin-class nuclear submarine Long March 10 of the Chinese People's Liberation Army (PLA) Navy participates in a naval parade to commemorate the 70th anniversary of the founding of China's PLA Navy in the sea near Qingdao, in eastern China's Shandong province on April 23, 2019. -
Chụp lại hình ảnh,Một tàu ngầm Trung Quốc (hình tư liệu)

Trong những năm gần đây, liên minh đã ngày càng trở nên quan ngại về các hoạt động của Trung Quốc tại châu Phi, nơi Bắc Kinh đã lập các căn cứ quân sự, và về việc Trung Quốc có các cuộc tập trận chung với Nga.

Hôm thứ Hai. ông Stoltenberg nói rằng Trung Quốc đang “bám sát hơn” với Nato về năng lực kinh tế, quân sự và công nghệ.

Đánh giá này cũng được tán đồng từ Thủ tướng Anh Boris Johnson, người nói rằng cần phải kiểm soát những thách thức có thể có từ phía Trung Quốc.

“Khi nói đến Trung Quốc, tôi không nghĩ rằng bất kỳ ai ngồi quanh bàn này lại muốn bước vào một thời Chiến tranh Lạnh mới với Trung Quốc,” ông Johnson nói khi tới dự hội nghị thượng đỉnh Nato.

Các nhà ngoại giao nói với hãng tin Reuters rằng thông cáo chung đưa vào vào cuối hội nghị thượng đỉnh Nato sẽ không gọi Trung Quốc là đối thủ.

Tuy nhiên, thông cáo sẽ nhắc tới Trung Quốc như một thách thức “có hệ thống” đối với an ninh của các quốc gia thành viên Nato, Reuters tường thuật.

“Trung Quốc sẽ được nhắc tới trong thông cáo (của Nato) theo một cách thức mạnh mẽ hơn so với những gì chúng ta đã từng thấy trước đây,” ông Sullivan, cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống Biden, nói.

UK Prime Minister Boris Johnson arrives to attend a Nato summit
Chụp lại hình ảnh,Thủ tướng Anh Boris Johnson khi tới dự họp thượng đỉnh Nato

Thông điệp cứng rắn của Nato đối với Trung Quốc được đưa ra sau khi G7 trong cuộc họp thượng đỉnh của khối tại Anh hồi tuần trước đã ra những chỉ trích đối với Bắc Kinh.

Trong một thông cáo chung, các lãnh đạo G7 lên án Trung Quốc về tình trạng vi phạm nhân quyền, và đòi phải có một cuộc điều tra minh bạch về nguồn gốc virus gây Covid-19 tại nước này.

Trung Quốc, trong tuyên bố được đưa ra thông qua Đại sứ quán nước này tại Anh, đáp trả bằng việc cáo buộc khối G7 “dối trá, đồn đoán và ra các cáo buộc vô căn cứ”.

Cùng thời gian Tổng thống Biden sang thăm Anh và tới châu Âu dự họp Nato tháng này, Anh cử hàng không mẫu hạm mới, chiếc HMS Queen Elizabeth sang Biển Đông và tới vùng Đông Bắc Á.

Con tàu này mang theo lực lượng hỗn hợp Anh-Mỹ với phi đội ‘Wake Island Avengers’ của Không quân Hoa Kỳ trên khoang cùng một số sĩ quan khối Nato.

Chuyến hải hàng dài và các cuộc tập trận HMS Queen Elizabeth thực hiện với các đồng minh được cho là động thái đáp trả gián tiếp các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông và Hoa Đông những năm qua.

Xem thêm:

Tổng thống Biden dự G7 ở Anh trước khi tới Geneva gặp Putin

TQ dọa Anh chớ ‘hành động thù nghịch’ ở Biển Đông

Điều gì sẽ xảy ra tiếp theo ở Biển Đông?

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Bí mật cổ Sri Lanka: Cánh cổng thiêng bước vào Vũ trụ?

  • Demi Perera
  • BBC Travel

2 tháng 6 2021, 21:07 +07

Getty Images

Thành phố thiêng Anuradhapura của Sri Lanka là nơi không hề thích hợp để nói về câu chuyện thú vị về UFO (vật thể bay không xác định) và các sự việc lạ lùng không có trên thế gian.

Được cư dân địa phương gọi là Rajarata (Vùng đất các vị vua), Di sản Thế giới UNESCO này là vương quốc được thành lập đầu tiên trên hòn đảo (vào năm 377 trước Công nguyên) và là trung tâm văn hóa Phật giáo Sri Lanka.

Sức quyến rũ kỳ lạ của những thành phố đã mất

Nhang Himalaya: chìa khóa mở ra cánh cửa an lạc ở Bhutan

Thuật phong thủy, xin xăm và kiêng kỵ ở Hong Kong

Ngày nay, nó là một trong những nơi được ghé thăm nhiều nhất ở Sri Lanka, thu hút người hành hương sùng kính từ mọi miền đất nước đến với các ngôi chùa Phật giáo lâu đời và các bảo tháp mái vòm khổng lồ.

‘Vòng tuần hoàn vũ trụ’

Nhưng thành phố thiêng này cũng là nơi có một thứ lôi cuốn hơn nhiều.

Tại nơi đây, Ranmasu Uyana (Công viên Cá Vàng), công viên đô thị cổ rộng 40 mẫu với ba ngôi chùa xung quanh, là một sơ đồ được cho là bản đồ để khám phá những bí mật của Vũ trụ.

Có đường kính khoảng 1,8m, Sakwala Chakraya (có nghĩa là ‘Vòng tuần hoàn vũ trụ’ trong tiếng Sinhala) được chạm nông trên một mặt đá thấp giữa các tàn tích được bảo tồn.

Mặt tiền của nó chỉ có thể được nhìn thấy từ mặt đất. Thật ra, có bốn chỗ ngồi được khắc lên mặt đá phẳng ở phía đối diện, tạo nên chỗ ngắm cảnh lý tưởng.

Cả bản đồ và các chỗ ngồi này, vốn cũng có nguồn gốc bí ẩn, đã gây đau đầu cho các nhà sử học, nhà khảo cổ và học giả trong hơn một thế kỷ.

“Ranmasu Uyana đã được sử dụng trong một thời gian dài trong lịch sử,” ông Raj Somadeva, giáo sư khảo cổ học cao cấp tại Đại học Kelaniya, Sri Lanka, cho biết.

“Giai đoạn xây dựng lớn thứ hai dường như bắt đầu vào thế kỷ thứ 7 sau Công nguyên. Trong thời gian đó, một số công trình mới đã được thêm vào bố cục trước đó của công viên. Bản sơ đồ đó có thể là kết quả của thời kỳ này, nhưng thật không thể biết được chính xác, vì sự tồn tại, chức năng của nó hoặc bất cứ điều gì liên quan đến nó đều không được đề cập trong bất kỳ ghi chép lịch sử nào, vốn được các nhà sư lưu giữ tỉ mỉ.”

Mặc dù có rất ít thông tin về sơ đồ và mục đích của nó, vật được tôn thờ này không tương thích với các tác phẩm chạm khắc khác của thời kỳ Anuradhapura (thế kỷ thứ 3-10 sau Công nguyên).

Ngay giữa sơ đồ là bảy vòng tròn đồng tâm được phân chia bởi các đường dọc và ngang song song. Các ô chữ nhật chứa các vòng tròn nhỏ giao nhau. Đối với những cặp mắt không phải nhà nghề, có những hình thù giống như chiếc dù, cây cung và mũi tên, cánh diều, đường lượn sóng và những hình trụ. Vòng ngoài khắc họa các động vật biển: cá, đồi mồi, cá ngựa.

Khi so sánh với các tác phẩm chạm khắc khác cùng thời như Sandakada Pahana, vốn khắc họa dây leo, thiên nga và hoa sen, tất cả đều là hình ảnh biểu tượng đặc trưng Phật giáo, tấm sơ đồ này không có bối cảnh tôn giáo, khiến nó không có lời giải thích rõ ràng về lý do tại sao nó có mặt ở đây.

Điều này đã khiến nó được để ngỏ cho phỏng đoán trên mạng.

Trước khi Internet xuất hiện, không mấy ai ở Sri Lanka chú ý đến sơ đồ. Nó được cho là đã vẫn còn đó ở đây, ẩn mình ở rìa một tảng đá, sau khi Vương quốc Anuradhapura sụp đổ, không có gì đáng chú ý so với bối cảnh xung quanh đẹp nghẹt thở, hoàn hảo với hai cái ao song song và hiên đình làm chỗ tắm được cho là được các vị vua sử dụng.

Thật vậy, nếu người ngoài hành tinh hạ cánh xuống Trái Đất ở chỗ này, họ không thể chọn được nơi nào hay hơn – những khuôn viên đền chùa linh thiêng này, được bao phủ trong rừng nhiệt đới rậm rạp, hầu hết không có người ở và được chính quyền bảo vệ.

Cổng sao vào Vũ trụ?

Học giả đầu tiên lưu ý tầm quan trọng khảo cổ của sơ đồ là H C P Bell, một công chức Anh được bổ nhiệm làm Ủy viên Khảo cổ đầu tiên của Tích Lan (tên gọi cũ của Sri Lanka).

Bell đã có phần mô tả sơ đồ trong báo cáo của ông cho Thống đốc Tích Lan vào năm 1911, trong đó ông kết luận rằng: “Tấm ‘bản đồ thế giới’ cổ xưa này, có lẽ là tấm lâu đời nhất còn tồn tại, thu hút sự quan tâm đặc biệt. Sự hiện diện của nó… là minh chứng cho tính cổ xưa của những hiểu biết thiên văn vốn vẫn còn được một số tu viện Phật giáo ở Tích Lan theo đuổi.”

Mặc dù sơ đồ không giống với bản đồ theo nghĩa hiện đại, Bell viết rằng nó mô tả “biểu đồ vũ trụ học thời xưa minh họa các quan niệm về vũ trụ của Phật giáo với sự đơn giản, ngô nghê nhất”.

Dựa trên hiểu biết của ông về Phật giáo trên hòn đảo này, ông giải thích các vòng tròn, các biểu tượng và sinh vật biển trên sơ đồ có nghĩa là Trái Đất, biển cả, không gian và Vũ trụ.

Trong khi các cuộc bàn luận về biểu đồ này trong nhiều năm chủ yếu bị giới hạn trong phạm vi học thuật do vị trí quan trọng về lịch sử của nó, sự bùng nổ của việc chia sẻ ảnh trên mạng xã hội trong vài năm qua đã khiến bí ẩn này trở thành tâm điểm toàn cầu.

Những du khách có cặp mắt tinh tường đã nhận xét về sự tương đồng giữa sơ đồ ở Anuradhapura và các địa điểm tương tự ở các quốc gia khác được một số người tin là những cánh cổng sao – cửa ngõ từ bao đời nay để con người có thể bước vào Vũ trụ.

Họ nêu giả thuyết rằng sơ đồ này nắm giữ mã bí mật để mở ra cánh cổng đó.

Sri Lanka Tourism
Chụp lại hình ảnh,Ranmasu Uyana là một khu vườn cổ rộng 40 mẫu, bên trong có tàn tích cho thấy từng có những bồn tắm ở đây

Những người theo thuyết âm mưu lưu ý rằng cổng sao Anuradhapura có những hình dạng và biểu tượng gần giống hệt với những thứ được tìm thấy tại Abu Ghurab ở Ai Cập và La Puerta de Hayu Marka ở Peru.

Con tàu nước Anh và hành trình lịch sử khám phá thế giới

Hồ Abbe, nơi tận cùng thế giới nứt thành đại dương

Tiễn Khấu, đoạn Vạn Lý Trường Thành nơi rừng xanh núi thẳm

Người ta cho rằng điểm tương đồng ấn tượng nhất, khi những võ đoán xung quanh cổng sao của Sri Lanka lên đến đỉnh điểm, là sự gần gũi với nước.

Hồ chứa Tissa Weva gần đó, được xây dựng vào năm 300 trước Công nguyên, đã được đưa ra khắp nơi như là bằng chứng xác định, vì cả Abu Ghurab và La Puerta de Hayu Marka cũng được xây gần nước, mà theo lý thuyết cổng sao, nó cho phép thế lực siêu phàm chế biến vàng từ nước trên Trái Đất.

Vũ trụ quan cổ?

Giả thuyết huyền ảo này càng được thúc đẩy thêm bởi sự gần gũi của sơ đồ với núi Danigala, hay còn được gọi là Núi Cõi ngoài, ở thành phố thiêng Polonnaruwa gần đó.

Danigala, nằm sâu trong rừng và được những người đi bộ đường dài ưa chuộng, có hình vòng tròn độc đáo và đỉnh hoàn toàn bằng phẳng. Điều này khiến các thám tử trên mạng kết luận rằng nó ắt hẳn phải được sử dụng cho UFO đáp xuống vào một thời điểm nào đó.

Kỳ lạ là, theo Sri Abeywickrama, hướng dẫn viên du lịch địa phương, “dân làng ở đây tin rằng Núi Cõi ngoài thu hút nhiều sao băng và sấm sét giáng xuống hơn bất cứ nơi nào khác.”

Tuy nhiên, theo Somadeva thì “về mặt khảo cổ, có rất ít bằng chứng cho thấy đó là một cổng sao.”

Thay vào đó, Somadeva tin rằng kết luận hợp lý hơn là sơ đồ là tấm bản đồ ban đầu của thế giới, như Bell nêu ra, bởi vì cách giải thích đó có bối cảnh tôn giáo và vũ trụ hợp lý nếu xét đến thời gian và địa điểm vào đó.

Theo Somadeva, “ít nhất kể từ năm 250 trước Công nguyên, người Sri Lanka đã có ý tưởng rõ ràng về các vật thể trên bầu trời và ngoài không gian. Trong những chữ viết sớm theo lối Brahmi, được tìm thấy ở Sri Lanka, có một số tên đề cập đến các ngôi sao và khái niệm cụ thể liên quan đến thiên văn học. Một trong những dòng chữ đó ở Kirinda, một địa điểm tôn giáo và lịch sử trên bờ biển phía nam Sri Lanka, có cụm từ ‘aparimita loka datuya’, có nghĩa là ‘vũ trụ vô hạn’. Điều nó cho thấy là người khắc dòng chữ này có hiểu biết rất tốt về bản chất của vũ trụ mà họ đang sống.”

Sahan Perera
Chụp lại hình ảnh,Đối diện với sơ đổ cổ là bốn chõ ngồi được tạc vào khối đá, tạo nên vị trí lý tưởng để ngồi ngắm quang cảnh xung quanh

Tuy nhiên, Shereen Almendra, giảng viên cao cấp về thiết kế cảnh quan tại Đại học Moratuwa, Sri Lanka, đưa ra một quan điểm khác biệt, trần tục hơn. “Tôi nghĩ sơ đồ Sakwala Chakraya là dự án cho một khu phức hợp tương tự như các bảo tháp khổng lồ được xây dựng vào thời điểm đó,” bà phân tích. “Tôi nghiêng về phía nó là bản quy hoạch cho Sigiriya.”

Sigiriya là một trong những công trình cổ xưa được công nhận nhiều nhất ở Sri Lanka, một pháo đài đá thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, hoàn chỉnh với nước chảy, vườn cảnh quan và nhiều khu vực sinh sống.

Nó cách Anuradhapura chỉ nửa giờ, nằm trong phạm vi Tam giác Văn hóa của Sri Lanka, vốn được cấu thành bởi ba thành phố cổ quan trọng: Anuradhapura, Polonnaruwa và Kandy.

“Ba chỗ ngồi khắc phía trước sơ đồ dường như hướng mặt về phía nhau một chút, khiến tôi nghĩ rằng đó là một nơi để bàn luận – quý vị cho là nó giống kiểu như văn phòng kiến trúc sư cổ xưa cũng được,” bà nói. “Nếu các chỗ ngồi này được tạo ra cho mục đích tôn giáo, chẳng hạn như ngồi thiền, chúng sẽ được xếp theo một đường thẳng.”

Getty Images
Chụp lại hình ảnh,Một chuyên gia cho rằng sơ đồ cổ có thể là một bản vẽ quy hoạch xây dựng dành cho Sigiriya, một pháo đài cổ trên núi gần đó, vốn tồn tại từ thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên

Theo Somadeva, thách thức lớn nhất trong việc xác định chức năng của sơ đồ là thiếu bằng chứng để xác định chính xác niên đại của nó.

Trong khi Ranmasu Uyana và các khu vườn và bảo tháp khác ở Anuradhapura được đề cập trong sử sách và chữ khắc có từ năm 250 trước Công nguyên, Sakwala Chakraya không được mô tả trong bất kỳ văn tự lịch sử nào.

“Chắc chắn biểu đồ này có một công dụng thực tế nào đó nhưng đó là thách thức rất lớn để hình dung ra nó là gì khi chúng tôi không thể xác định niên đại chính xác,” ông nói.

Vì vậy, có vẻ như nơi được cho là cổng sao huyền bí của Sri Lanka vẫn còn bị bao phủ trong lớp màn bí ẩn, mục đích và ý nghĩa của nó đã bị mất theo thời gian.

Tuy nhiên, vị thế được tôn sùng mà nó mới có được với những người đam mê khoa học viễn tưởng, cuối cùng đã giúp nó có được sự chú ý xứng đáng từ công chúng.

Nhờ sự nhiệt tình của họ và sức mạnh của mạng xã hội, cuối cùng nó đã bước ra khỏi cái bóng của Anuradhapura để tự đứng riêng.

Bài tiếng Anh đã đăng trên BBC Travel.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Bác sỹ Không Biên giới: ‘Không kích ở Gaza quá thảm khốc’

Bác sỹ Không Biên giới: ‘Không kích ở Gaza quá thảm khốc’

https://bbc.com/ws/av-embeds/cps/vietnamese/media-57162497/p09hxsyl/viBác sỹ Không Biên giới: ‘Không kích ở Gaza quá thảm khốc’18 tháng 5 2021

Các cuộc không kích ác liệt trên dải Gaza trong tuần qua là “rất thảm khốc”, theo lời bà Helen Ottens-Patterson, người phụ trách văn phòng của Tổ chức Bác sỹ Không Biên giới – Médecins Sans Frontières (MSF).

Bà nói rằng đường xá, hệ thống cấp nước, vệ sinh và cơ sở hạ tầng đã bị hủy hoại, gây áp lực rất cao lên hệ thống y tế vốn đã mỏng manh.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Blog at WordPress.com.