Chính-Trị Thời-Sự

ĐH 13: Việt Nam định vị thế nào trước ‘Giấc mộng Trung Hoa’?

ĐH 13: Việt Nam định vị thế nào trước ‘Giấc mộng Trung Hoa’?

Cờ Đảng CSVN trong một buổi lễBản quyền hình ảnhHOANG DINH NAM
Image captionCờ Đảng CSVN trong một buổi lễ

Đại hội Đảng Cộng sản lần 13 dự kiến tổ chức vào đầu năm sau, 2021, theo tôi, vẫn đặt trọng tâm vào những vấn đề nội bộ như củng cố chế độ và phát triển kinh tế.

Sự kiện mới xảy ra ngày 2/4/2020 tàu hải cảnh Trung Quốc ngăn cản và sau đó đâm chìm tàu cá QNg 90617 TS và tám ngư dân Việt Nam đang hoạt động bình thường tại vùng biển Việt Nam.

Đảng Cộng sản Việt Nam và ‘Trò chơi Vương quyền’

Sau câu ‘Đảng thật vĩ đại’, TBT Trọng ví văn kiện Đảng với văn bia

Đảng Cộng sản Việt Nam tồn tại nhờ điều gì?

Đây là một trong những động thái liên tục gây căng thẳng ở biển Đông thuộc chủ quyền Việt Nam trong nhiệm kỳ ĐH 12.

Tôi ủng hộ việc Bộ Ngoại giao Việt Nam trao công hàm phản đối và yêu cầu Trung Quốc bồi thường. Ngoài ra, Việt Nam cần thúc đẩy biện pháp pháp lý cao hơn là kiện Trung Quốc lên Toà án Quốc tế, mà tiền lệ tích cực là Philipines.

Tuy nhiên, việc điều chỉnh chính sách đối ngoại nói chung và trong quan hệ với Trung Quốc nói riêng cần đặt trong tình hình và bối cảnh rộng hơn, trong đó biển Đông là vấn đề an ninh khu vực, một thành tố trong ‘giấc mộng Trung Hoa’.

Vậy, Việt Nam liệu sẽ tái định vị thế nào?

Giấc mộng Trung Hoa

Tại Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn Quốc 12, năm 2013, Tổng Bí thư Tập Cận Bình được bầu làm Chủ tịch nước, đã phát biểu về cụm từ “giấc mộng Trung Quốc”.

Ông cho rằng “Sự phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa là giấc mơ lớn nhất của Trung Quốc”và rằng những người trẻ tuổi nên “dám ước mơ, làm việc cần mẫn để thực hiện những ước mơ và đóng góp vào sự phục hồi của quốc gia”.

Các nhà lý luận của đảng khái quát rằng, giấc mộng Trung Hoa là sự thịnh vượng của Trung Quốc với nỗ lực tập thể, chủ nghĩa xã hội và vinh quang quốc gia.

Giấc mơ Trung Hoa của ông Tập Cận Bình

Chuyên gia Việt Nam ‘kinh hãi’ vì hành vi Trung Quốc ở Biển Đông

Để đảng cộng sản được dân tin yêu

Đặc trưng cốt lõi của giấc mộng Trung Hoa là đảng Cộng sản nắm quyền cai trị đất nước, xuất phát từ quá trình trỗi dậy kinh tế và gắn liền với quyền lực cá nhân Tập Cận Bình.

Trung Quốc với chính sách cải cách và mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài đã tăng trưởng nhanh chóng trong suốt 30 năm, tỷ lệ tăng GDP trung bình năm trên 10% và đến năm 2010 bắt kịp và sau đó vượt Nhật Bản.

Giấc mộng Trung Hoa được mô tả gồm hai giai đoạn 100 năm.

Giai đoạn I kỷ niệm 100 năm ngày thành lập Đảng CS TQ vào năm 2020 với mục tiêu xây dựng xã hội khá giả, ‘tiểu khang’.

Giai đoạn II kỷ niệm 100 năm thành lập nước Cộng hòa Nhân dân vào năm 2049. Đây là một kế hoạch đầy tham vọng và được thiết kế để đảm bảo rằng người dân ủng hộ Đảng CS duy trì sự lãnh đạo.

Giấc mộng Trung Hoa hình thành gắn với các nhiệm kỳ quyền lực của Tập Cận Bình, coi mình là người thực hiện ‘sứ mệnh thiên tử’.

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionGiấc mộng Trung Hoa hình thành gắn với các nhiệm kỳ quyền lực của ông Tập Cận Bình

Ông nắm quyền tối cao tại Đại hội 18 năm 2013 và năm 2018 sửa Hiến pháp, kéo dài nhiệm kỳ chủ tịch nước, để có thể nắm quyền lực trọn đời.

Sáng kiến ‘Một vành đai Một con đường’, ý tưởng từ ‘Con đường tơ lụa’, của ông, gắn với kiểu ‘suy nghĩ 100 năm’, không giấu giếm tham vọng bá quyền của Trung Quốc, đã bắt đầu bằng việc thay đổi bản đồ thế giới, kiểu như tự vẽ danh giới ‘đường lưỡi bò’ trên biển Đông.

‘Trăm năm quốc sỉ’

Nhiều nhà bình luận phương Tây cho rằng Đảng CS TQ tạo ra giấc mộng Trung Hoa dựa trên ‘trăm năm quốc sỉ’, nỗi hận bị đế quốc thực dân cai trị trăm năm, và chủ nghĩa chủ quyền quốc gia.

Lịch sử ghi lại rằng dưới triều Nguyên, một người Ý nổi tiếng là Marco Polo (1254-1324) đã lưu lạc đến Trung Quốc và làm quan ở đây 20 năm, sau đó ông trở về nước bằng Con đường tơ lụa. Cuốn sách của ông, ‘Marco Polo du ký’, đề cập đến những chuyến hàng đầy ắp sản vật trên ‘Con đường tơ lụa’, khởi đầu cho giấc mơ của phương Tây về Trung Quốc.

Từ thế kỷ 7, Quảng Châu đã được xem là nơi khởi đầu của ‘Con đường tơ lụa trên biển’. Các nước đế quốc châu Âu như Bồ Đào Nha, Anh, Pháp, Hà Lan… lần lượt kéo đến buôn bán. Giao thương phát triển cho đến thế kỷ 19, khi nổ ra ‘chiến tranh nha phiến’ với đế quốc Anh.

Trung Quốc hoàn toàn thất bại trong cuộc chiến này và triều đình Mãn Thanh buộc phải ký các hiệp ước bất bình đẳng, chịu mở nhiều cảng cho các nước ngoài.

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES

Hong Kong trở thành nhượng địa cho đế quốc Anh. Nhiều nước đế quốc phương Tây khác, theo chân nước Anh, đã buộc Trung Quốc phải chấp nhận nhiều điều kiện bất bình đẳng ngay trên đất chủ quyền.

Nỗi nhục này của triều đình Mãn Thanh trước các cường quốc phương Tây ghi dấu ấn lịch sử 100 năm ‘quốc sỉ’ trong giấc mộng Trung Hoa.

‘Định vị địa chính trị’

Một quốc sách dựa trên sự thù hận, một bản năng sâu thẳm của con người, có thể sẽ tạo nên những biện pháp trả thù mang đặc tính ‘cách mạng’ của chế độ độc tài, toàn trị.

Mặc dù được che đậy bằng cách tuyên truyền hay mị dân, thì đôi khi các hành vi bạo ngược, hung hăng vẫn không tránh khỏi.

Người Trung Hoa đã ‘giấu mình chờ thời’ trong việc xây dựng giấc mơ cho riêng mình và biết cách làm cho giấc mộng Trung Hoa đang chuyển động với những bước đi cụ thể trong chiến lược tổng thể.

Từ bài học lịch sử và sức mạnh kinh tế hiện có, một chiến lược là hướng ra Thái Bình Dương, trong đó biển Đông là một khu vực, được xác định là thành tố trong ‘giấc mộng Trung Hoa’.

Sau Chiến tranh Lạnh, các nhà tư bản tham lam, vốn là đặc tính, đã nỗ lực tìm lao động giá rẻ, nguyên vật liệu và thị trường tiêu thụ hàng hoá, liên tục làm phẳng thế giới. Đó là một nội dung cơ bản của toàn cầu hoá.

Các nước tư bản hưởng lợi và Trung Quốc trỗi dậy. Chuỗi sản xuất toàn cầu ngày càng gắn kết, mở rộng cho đến khi nhiều quốc gia, trước hết và hầu hết là các quốc gia châu Á, châu Đại dương như Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Úc… và Việt Nam, xem Trung Quốc là ‘ông lớn’ kinh tế mới, và nhận ra rằng họ đã trở nên phụ thuộc về kinh tế vào Trung Quốc.

Khi các nước trên thế giới nhận ra thì, dường như tất cả sự ứng phó đều đang bị động. Một chiến lược xoay trục sang châu Á của Mỹ, được khởi động từ thời nguyên Tổng thống B. Obama và được tăng cường bằng quan hệ song phương trong chính sách ‘Làm nước Mỹ vĩ đại trở lại’ của Tổng thống D. Trump, chưa định hình rõ nét để đối phó với ‘giấc mộng Trung Hoa’.

Việt NamBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionDư luận xã hội đã trở nên quan trọng trong thời đại của truyền thông mạng xã hội và mang internet phát triển, theo nhà nghiên cứu

Cùng với việc ‘vẽ đường chín đoạn’ vi phạm hải quyền các quốc gia ở biển Đông và tăng cường tiềm lực quân sự, xây các đảo nhân tạo và quân sự hoá chúng, Trung Quốc đã bắt đầu sử dụng sức mạnh để bắt nạt các nước láng giềng trong khu vực, trong đó có Việt Nam.

Việt Nam có vị trí địa chính trị quan trọng đối với ‘giấc mộng Trung Hoa’. Nhưng các nỗ lực ‘trung lập hoá’ bằng chính sách đa phương hoá quan hệ với các nước Việt Nam đang thiếu một chiến lược rõ ràng và bị động trong ứng xử trước các hành động hung hăng của Trung Quốc.

Nguyên nhân chủ yếu do hai yếu tố. Một là, chế độ chính trị với ý thức hệ cộng sản tương đồng, sự lệ thuộc sâu vào kinh tế. Tuy nhiên cải cách thể chế chính trị đang là ưu tiên của cả hai nước, chẳng hạn quản lý đất nước theo đảng luật hay pháp luật, hiện tại là tranh luận, như xu hướng đồng thuận là đảng phải tuân theo pháp luật.

Hai là, sự bất ổn luôn hiện hữu với nguy cơ gây chiến của Trung Quốc, nhưng gây chiến không phải là sự cam kết trỗi dậy hoà bình trong ‘giấc mộng Trung Hoa’.

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionĐại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần 13 dự kiến tổ chức vào đầu năm sau, 2021

Hơn nữa, Trung Quốc cũng đang phải đối phó với nhiều thách thức nội bộ và đặt ưu tiên cho vấn đề ‘chuyển đổi nội bộ’.

Từ góc nhìn như vậy về ‘giấc mộng Trung Hoa’ hy vọng có một chính sách đối ngoại tự chủ, đấu tranh hoà bình, nhưng với các lựa chọn quyết đoán hơn trong quan hệ quốc tê về biển Đông, đặc biệt là chiến lược ‘Thái Bình Dương – Ấn Độ Dương’ đang hình thành và củng cố do Mỹ đề xướng, là một chuyên đề thảo luận tại đại hội đảng các cấp và trong Đại hội Toàn quốc lần thứ 13.

Giấc mơ của của mỗi quốc gia trong quá trình phát triển gắn liền với thể chế, và càng ngày càng được nhìn nhận như một yếu tố trong sự phát triển bao trùm. Sự thay đổi thể chế có thể định hình cho giấc mơ dân tộc trong những giai đoạn, bối cảnh lịch sử.

Toàn cầu hóa đã có hiệu ứng kỳ lạ nhất. Giấc mộng Trung Hoa đang bước vào giai đoạn kế tiếp, họ đã chọn và đang đi con đường của họ. Liệu Việt Nam có xây dựng được giấc mơ riêng cho mình.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, nguyên Chủ nhiệm Khoa Chính sách Công, Học viện Chính sách và Phát triển, Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Việt Nam.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Kinh tế thời Covid-19: ‘VN đừng mong đón đại bàng’

Kinh tế thời Covid-19: ‘VN đừng mong đón đại bàng’

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES

Việt Nam thông báo chính thức là không có một ca tử vong nào vì Covid-19.

Thế nhưng nền kinh tế lại đang gánh chịu thiệt hại to lớn, thất nghiệp cao vì dịch virus corona. Từ Florida, Tiến sỹ Phạm Đỗ Chí, cựu chuyên gia cao cấp Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), chia sẻ với BBC News Tiếng Việt những đánh giá của ông về viễn cảnh kinh tế Việt Nam, và hướng đi mà ông cho là phù hợp với tình thế hiện thời.

Tiến sỹ Phạm Đỗ Chí: Với thông báo chính thức về việc cho đến nay không có ca tử vong nào do Covid-19, Việt Nam đã đạt được uy tín trên thế giới về thành tích đối phó với đại dịch Covid-19, nhưng nền kinh tế xã hội lại lâm vào khủng hoảng trầm trọng không dễ gỡ.

Thứ nhất là vấn đề tăng trưởng GDP năm nay khó được đặt ra như mọi năm vì các ẩn số kinh tế mà ngay Chính phủ cũng không kiểm soát nổi, và số lượng thống kê GDP của VN vốn đã bấp bênh lại càng không chắc chắn trong năm nay và năm 2021.

Chi bằng sẽ không cần đặt ra mục tiêu GDP nữa, mà giải pháp là bắt tay vào hai vấn đề cốt lõi dưới đây.

Hai vấn đề chính: Thất nghiệp và Xuất khẩu bế tắc

Theo tin chính thức từ báo chí, số lao động thất nghiệp, nghỉ luân phiên hay giãn việc tại VN lên tới con số 7,8 triệu người tính đến cuối tháng 6.

Thế nhưng tình trạng thực sự còn căng thẳng hơn. Theo ước tính của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, là “gần 31 triệu người từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19, bị mất việc làm, phải nghỉ giãn việc, giảm thu nhập…” Số người bị giảm thu nhập ước tính lên tới 57%. Số lao động mất việc tập trung vào các ngành xuất khẩu, nhất là trong công nghệ chế biến, và trong các ngành dịch vụ du lịch, hay các dịch vụ khác như buôn bán lẻ, vận tải kho bãi, hiệu ăn…

Vì vấn đề du lịch quốc tế còn rất phức tạp và phải chờ ít nhất đến cuối năm các đường giao thông quốc tế, nhất là từ Hoa Kỳ, nên VN đã bắt đầu bằng việc khuyến khích du lịch trong nước.

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionDịch Covid-19 khiến du lịch quốc tế trở nên đình trệ, khiến việc phát triển du lịch trong nước trở thành phương án cần chú trọng nhiều hơn

Nhưng mãi lực còn chưa đủ, hình ảnh các sạp bán hàng ở chợ Bến Thành cũng như nhiều cửa hiệu ở khu vốn sấm uất Quận Nhất phải đóng cửa đang nói lên điều đó.

Các ngành dịch vụ kể trên (dùng tỷ lệ lao động lớn) lại cần thời gian dài để hồi phục.

Nhưng vấn đề quan trọng hơn là hoạt động xuất khẩu đã lao dốc từ tháng Ba có lẽ sẽ tiếp tục cho ít nhất đến cuối năm, nhất là sang thị trường quan trọng nhất là Mỹ.

Mới đây Hiệp hội Lương thực Tư nhân cũng lên tiếng báo động khẩn cấp về việc xuất khẩu gạo, khi mức xuất khẩu năm trước là 7 triệu tấn.

Đơn đặt hàng mới của Âu châu khoảng 80.000 tấn quá nhỏ nhoi! Đồng thời sự sụp đổ của giá dầu quốc tế cũng gây thêm khó khăn lớn cho kim ngạch xuất khẩu và ngân sách quốc gia.

Làm gì để cứu thị trường lao động theo kinh nghiệm quốc tế?

Dựa theo kinh nghiệm của một số lớn quốc gia trên thế giới như Mỹ, Âu châu và nhất là Á châu, các chuyên gia quốc tế chỉ ra ba cách thức chính:

a) Những biện pháp hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp, như giảm thuế, trợ cấp tài chính hay cho vay để giúp doanh nghiệp tiếp tục trả lương cho người lao động, thí dụ như chương trình cho vay của Hoa kỳ qua chương trình “Small Business Administration” cho các xí nghiệp nhỏ. Nếu khó khăn trong lâu dài, khoản vay để trả lương bổng có thể được miễn trả.

b) Hỗ trợ trực tiếp cho hộ gia đình để nâng cao chi tiêu khẩn cấp. Đây là biện pháp hữu hiệu cho các nước có khu vực phi chính thức (“informal economy”) đóng vai trò quan trọng như ở Việt Nam.

Ngay cả ở nước giàu như Hoa Kỳ, Chính phủ đã phát cho mỗi người 1200$ (và 500$ cho mỗi trẻ em) để chi tiêu trong đợt “cứu trợ’ đầu trong tháng 4-5 vừa qua. Từ nay đến tháng 10, có thể có đợt trợ giúp thứ hai trực tiếp cho các hộ gia đình.

c) Ở Hoa Kỳ, cũng như nhiều nước Á châu – theo tin tức của Asian Development Bank, có thêm gói kích thích tài chính quan trọng từ khu vực ngân hàng để duy trì việc làm.

Theo cách này, ngân hàng trung ương có thể cấp vốn không lãi suất cho các ngân hàng thương mại để các ngân hàng này mua trái phiếu của các doanh nghiệp lớn hay cho vay không lãi cho các xí nghiệp nhỏ.

Mạnh mẽ hơn, Fed của Mỹ còn chi khoản lớn sẵn sàng mua thẳng trái phiếu của các doanh nghiệp — việc làm chưa từng có. Tất nhiên, các biện pháp này sẽ làm gia tăng khối tiền tệ đáng kể và có thể gây áp lực lên lạm phát và tỷ giá. Nhưng đấy là cái giá phải trả chấp nhận được trong ngắn hạn (1-2 năm) để cứu nạn thất nghiệp trầm trọng và giúp hồi phục kinh tế nhanh hơn từ nạn dịch.

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionẢnh hưởng của Covid-19 khiến tình hình công ăn việc làm trở nên khó khăn đối với nhiều người lao động

Một số đề nghị thực tế cho VN

Do hoàn cảnh khó khăn hiện tại của ngân sách quốc gia, VN khó áp dụng tích cực ba biện pháp chính thức nêu trên.

Thay vào đó, nên áp dụng khẩn cấp các cải cách thể chế và cơ cấu, nhấn mạnh vai trò của khu vực tư nhân qua đó khuyến khích các doanh nghiệp duy trì và thu hút thêm lao động, và thật sự bắt đầu các công trình đầu tư hạ tầng cơ sở.

1) Hiện nay mới áp dụng chính sách hỗ trợ doanh nghiệp chủ yếu là chính sách hoãn, giãn tiến độ các khoản phải nộp như thuế, bảo hiểm xã hội, phí công đoàn, tiền thuê đất, giãn nợ… Chính sách này chỉ có tác dụng nhất thời vì tối đa đến hết năm 2020 doanh nghiệp phải nộp các khoản này. Lúc đó các khoản nợ phải nộp cùng một thời điểm có thể làm doanh nghiệp không đủ sức.

Vì vậy, cần có thêm chính sách miễn giảm cho doanh nghiệp, cụ thể:

– Dừng đóng BHXH, dừng đóng phí, giảm mức đóng phí công đoàn 50% vì đây là những khoản doanh nghiệp phải nộp rất lớn

– Giảm 30-50% các loại phí, lệ phí vì doanh nghiệp đang phải chịu rất nhiều các loại phí, lệ phí

2) Chính sách giảm 15% tiền thuê đất nên áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp vì hầu hết các doanh nghiệp đều bị ảnh hưởng, có thể đang hoạt động nhưng gặp rất nhiều khó khăn (hiện mới quy định cho các doanh nghiệp ngừng sản xuất hay kinh doanh do dịch bệnh- theo NQ 84).

3) Ổn định giá điện, nước đầu vào của doanh nghiệp. Tăng tốc việc thực hiện xóa bỏ độc quyền các thứ giá trong lĩnh vực này.

Về chính sách tín dụng:

4) Biện pháp ngân hàng:

– Trước mắt là giải pháp hỗ trợ thanh khoản, cơ cấu lại nợ, giãn nợ, giữ nguyên nhóm nợ.

– Lâu dài cần giảm lãi suất cho vay (mức hiện nay quá cao)

– Mở rộng các biện pháp bảo lãnh tín dụng để các danh nghiệp nhỏ và vừa, nhỏ, hay siêu nhỏ, hộ kinh doanh có thể vay được vốn (đây là các đối tượng bị thiệt hại nhiều nhất do dịch bệnh nhưng không thể tiếp cận vốn tín dụng do các điều kiện vay vốn ngặt nghèo).

5) Đầu tư cơ sở hạ tầng thay vì lại dồn nguồn lực vào bất động sản là sự lãng phí trầm trọng tài nguyên vật lực và nhân lực trong lúc này:

Do ngân sách quốc gia khó khăn và thiếu nguồn lực cho đầu tư công, Chính phủ nên bắt đầu với chương trình PPP (“Public-Private Partnership”) để các doanh nghiệp tư nhân có thể tham gia vào các chương trình xây dựng cơ sở hạ tầng, nguồn vốn công có thể là các “quỹ đất.”

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionKinh tế toàn cầu lâm vào cảnh ảm đạm do Covid-19

BBC News Tiếng Việt: Hướng đi ra khỏi khủng hoảng chung của các nước trên thế giới thời hậu Covid-19, nhất là Hoa Kỳ, hiện ra sao? Việt Nam có trông cậy gì được vào các chuyển biến kinh tế thế giới, Mỹ, EU sau dịch Covid-19?

TS Phạm Đỗ Chí: Đây vẫn là vấn đề nghiêm trọng vì tuy Âu châu đang bắt đầu phục hồi từ cơn dịch, sự phục hồi kinh tế phải mất từ 12-18 tháng.

Riêng Hoa Kỳ còn thiếu chắc chắn hơn vì cơn dịch bệnh lại bộc phát mạnh mẽ từ hai tuần nay và có thể làm chậm lại sự mở cửa nền kinh tế, mặc dù cuộc tranh cử tổng thống vào tháng 11 có thể là động cơ khiến chính phủ của Tổng thống Trump phải tiếp tục mạnh mẽ chương trình hồi phục kinh tế.

Do đó, việc thiếu “đơn đặt hàng xuất khẩu” cho VN và các nước Á châu khác sẽ có thể phải tiếp tục trong thời gian dài hơn dự báo.

Vì vậy việc đặt một mục tiêu phát triển GDP như bình thường cho 2020-2021 là một việc rất khó khăn. Cần nhắm rõ hơn các mục tiêu giải quyết nạn thất nghiệp cho hai năm này.

Về xuất khẩu, nên tiếp tục sản xuất các dụng cụ phòng chống dịch COVID-19 cho các nước Âu Mỹ vì khủng hoảng này sẽ còn kéo dài.

BBC News Tiếng Việt: Các chuyên gia nói nhiều đến việc đồng vốn và doanh nghiệp quốc tế chuyển, rút một phần khỏi TQ sang VN, nhưng nay điều này còn khả thi không?

TS Phạm Đỗ Chí: Việt Nam đã nhộn nhịp sửa soạn các chương trình mệnh danh “Đón Đại Bàng”. Nhưng trong thực tế, việc này sẽ không hề dễ dàng vì căn bản là hạ tầng cơ sở chưa sẵn sàng. Các khu công nghệ còn khá yếu kém. Nhiều hãng Mỹ đã chọn lựa sang Ấn Độ và Indonesia, thay vì Việt Nam.

Khả năng thực tế là nên cố chào đón các hãng vừa tầm và nhỏ thích hợp với điều kiện và khả năng hỗ trợ của VN. Nhất là trong việc phát triển các công nghệ phụ trợ đã được nói đến từ lâu.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Mỹ nâng cấp căn cứ gần đảo Guam đối phó TQ

Mỹ nâng cấp căn cứ gần đảo Guam đối phó TQ

Hình ảnh vệ tinh cho thấy Không quân Mỹ đang nâng cấp căn cứ trên đảo Wake nằm giữa Hawaii và đảo Guam, trong nỗ lực đối phó với sự trỗi dậy của quân đội Trung Quốc.

Ảnh vệ tinh – được chụp bởi Planet Labs có trụ sở tại Mỹ – cho thấy cơ sở hạ tầng trên đảo Wake, hòn đảo nằm giữa đảo Guam và Hawaii do Không quân Mỹ điều hành đang được cải thiện cùng cơ sở mới đang được xây dựng, South China Morning Post cho biết.

Theo blog tin tức quân sự The Drive của Mỹ, Lầu Năm Góc đã rót hàng trăm triệu USD vào căn cứ này trong những năm gần đây. Một đường băng dài gần 3 km và cơ sở hạ tầng sân bay đã được nâng cấp. Một nhà máy điện năng lượng Mặt Trời lớn cùng một số cơ sở khác đang được xây dựng.

The Drive cho biết căn cứ trên đảo Wake có thể sử dụng như một phương án dự phòng cho quân đội Mỹ trong trường hợp các căn cứ lớn ở đảo Guam và Hawaii bị tấn công. Căn cứ này cũng có thể được triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa.

Đảo Wake từng là nơi chiến đấu ác liệt giữa Mỹ và Nhật Bản sau cuộc tập kích vào Trân Châu Cảng năm 1941, nhưng tầm quan trọng của nó mờ dần sau chiến tranh.

Lu Li Shih, cựu giảng viên Học viện Hải quân Đài Loan, cho biết Trân Châu Cảng ở Hawaii vẫn là một căn cứ quan trọng và việc nâng cấp cơ sở ở đảo Wake sẽ góp phần giúp bảo vệ lãnh thổ Mỹ khỏi cuộc tấn công bằng tên lửa từ Trung Quốc.

Guam, một căn cứ quan trọng khác của Mỹ đã được trang bị hệ thống phòng thủ tên lửa THAAD để chống lại cuộc tấn công bằng tên lửa từ Triều Tiên. Tuy nhiên, năm ngoái, Trung Quốc đã giới thiệu tên lửa đạn đạo DF-26 được mệnh danh là “sát thủ đảo Guam” và tên lửa đạn đạo liên lục địa DF-41 có thể tấn công lục địa Mỹ.

Do đó, việc nâng cấp căn cứ ở đảo Wake là một phần trong chiến lược tạo ra hệ thống phòng thủ nhiều lớp ở Thái Bình Dương, trải dài từ các căn cứ ở Philippines, Nhật Bản đến Hawaii. Trong đó đảo Guam đóng vai trò là tuyến phòng thủ thứ 2.

Collin Koh, nhà nghiên cứu tại Trường Nghiên cứu Quốc tế S Rajaratnam, Đại học Công nghệ Nanyang, Singapore, cho biết việc nâng cấp đảo Wake có thể xem là một phần trong sự chuẩn bị của Lầu Năm Góc cho cuộc xung đột với quân đội Trung Quốc trong tương lai.

“Đảo Wake cung cấp một nền tảng thay thế cho lực lượng triển khai phía trước của Mỹ trong trường hợp căn cứ chính ở đảo Guam và Hawaii không hoạt động được, một trong những giải pháp cho thách thức ngày càng tăng từ quân đội Trung Quốc”, ông Koh nói.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Kinh tế VN: ‘Hậu Covid-19 chỉ là triệu chứng, phải đổi mới về nền tảng

Kinh tế VN: ‘Hậu Covid-19 chỉ là triệu chứng, phải đổi mới về nền tảng’

Ông Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Xuân Phúc đang là các lãnh đạo cao cấp của Việt NamBản quyền hình ảnhNHAC NGUYEN/GETTY IMAGES
Image captionÔng Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Xuân Phúc đang là các lãnh đạo cao cấp của Việt Nam

Thị trường Việt Nam trên thế giới bắt đầu hẹp lại và có rất nhiều việc mà đất nước với khoảng 97 triệu dân cần phải làm để đương đầu với những khó khăn trong giai đoạn hậu Covid-2019, theo một chuyên gia kinh tế từ trong nước.

Trao đổi với BBC News Tiếng Việt hôm 10/7/2020, kinh tế gia Bùi Kiến Thành, cựu cố vấn của lãnh đạo chính phủ Việt Nam qua nhiều giai đoạn, nói:

Vị trí Tổng Bí thư 2021: ‘Triển vọng lớn’ của ông Trần Quốc Vượng

Nhìn lại kinh tế Việt Nam 2016-2020: Góc nhìn chuyên gia Nhật Bản

Kinh tế Việt Nam liệu có đuổi kịp Thái Lan, Malaysia?

“Có thể thấy là thị trường của Việt Nam trên thế giới đang teo hẹp lại, do những ảnh hưởng tai hại kinh khủng của Covid-19, các hoạt động trong nền kinh tế chậm lại, mặc dù Việt Nam đối mặt với đại dịch bệnh này khá tốt và tinh thần khá vững và kinh tế tăng trưởng vẫn tương đối tốt, dù năm nay không bằng những năm trước.

“Song rõ ràng là đã có những ảnh hưởng đáng kể trong lĩnh vực việc làm và trong trước mắt, những hoạt động liên hệ tới du lịch, thì bị ảnh hưởng khá nặng, vấn đề nghỉ dưỡng (holiday) cũng gặp nhiều khó khăn, về mảng đó Việt Nam cần có thời gian mới phục hồi lại được.

“Còn về vấn đề sản xuất, kinh doanh, mặt khác, tương đối còn cũng khá về tiềm năng, các tập đoàn kinh tế lớn mà muốn rút ra khỏi Trung Quốc cũng đang lựa nơi để phát triển sản xuất ngoài Trung Quốc, tôi nghĩ rằng Việt Nam cũng có thể đón được một phần khá tốt những khả năng đầu tư ấy.

“Nhưng miễn là Việt Nam phải tổ chức làm sao mà về vấn đề cơ chế, về vấn đề lao động, đáp ứng được nhu cầu, thì có lẽ là trong những năm tới này, nhìn ra dài hạn, Việt Nam có thể phát triển khá về vấn đề đầu tư nước ngoài trong những công nghệ tương đối cao để đáp ứng chuỗi công ứng của thế giới, thay thế một phần nào những sản phẩm từ Trung Quốc, cũng như chủ động, hiệu quả hơn trong một số lĩnh vực kinh tế, thương mại mà một số nước ở quốc tế, khu vực đang làm, đang tái cấu trúc mà được coi như là giảm tải sự lệ thuộc chưa hợp lý lâu nay nào đó vào kinh tế, công xưởng, thị trường Trung Quốc…”

Bắt mạch thấy gì?

Việt Nam được khen vì thành công chống Covid-19Bản quyền hình ảnhREUTERS
Image captionViệt Nam được khen vì thành công chống Covid-19

Trước câu hỏi, tại thời điểm này, nếu ‘chụp X-quang’, ‘bắt mạch’ nền kinh tế của Việt Nam, thì có thể nhận ra được vấn đề, điểm mạnh, yếu quan trọng hay then chốt nhất là gì, ngoài những yếu tố thể hiện ra bên ngoài có tính triệu chứng, hay hiện tượng, kinh tế gia Bùi Kiến Thành nói:

“Điểm mạnh thì phải nói là Việt Nam có một dân số năng động mà có thể nói là có khả năng tiếp thu các công nghệ, kỹ thuật mới trên thế giới một cách nhanh chóng, thì đấy là một điểm mạnh nằm ở nơi mà toàn dân Việt Nam có được sức mạnh đấy, một tiềm năng có thể phát triển được.

“Nhưng cái yếu là quản lý nhà nước, tôi sẽ nói rõ thêm, vẫn còn ở trong một khung cảnh của lý luận Marxism, mà chưa ra khỏi được và hiện nay vẫn còn rất khó khăn, vì trong tất cả những trường Đảng, trong tất cả những hội thảo trong nước, cả trong những vấn đề quản lý cán bộ, vẫn nhắc đi nhắc lại là Việt Nam là một đất nước quản lý bởi một hệ thống suy tư của một chủ nghĩa Marxism-Leninism. Cái đấy là cái mà làm cho Việt Nam bị chùn chân rất là nhiều.

“Còn ngoài ra nữa, hiện nay Việt Nam vẫn chưa có được một hệ thống ngân hàng, một hệ thống tín dụng lành mạnh, phù hợp, tôi vẫn luôn nhắc là Việt Nam vẫn chưa có được một Ngân hàng Trung ương đúng theo trách nhiệm và quyền hạn của một Ngân hàng Trung ương.

“Việt Nam chưa thực sự có được một đội ngũ chuyên gia mạnh về Ngân hàng Trung ương mà mới chỉ học nơi này, nơi nọ một chút ít năng lực về ngân hàng thương mại, thì cái đấy là cái rất là nguy hiểm cho và khi một đất nước đang phát triển, cố cất cánh mà không có một Ngân hàng Trung ương phù hợp.

“Đó là điều mà Việt Nam cần đặc biệt lưu ý, nhưng ngoài ra, trên tất cả những chuyện ấy, một vấn đề mà nhà nước cũng đã nêu nhiều lần, Tổng Bí thư đảng cộng sản cũng nêu ra nhiều lần, là Việt Nam phải giải quyết cho xong vấn đề làm sao diệt trừ được hối lộ, tiêu cực, cái ấy Việt Nam còn đang đắm vào trong vấn đề tiêu cực, hối lộ, tham nhũng đó, những cái làm yếu sức mạnh kinh tế, quốc dân, và chưa vượt ra khỏi được

“Ngày nào mà không vượt ra được, thì ngày ấy Việt Nam vẫn còn phải giẫm chân đắm ở dưới bùn và con Rồng Việt Nam không thể bay lên được, bởi vì nó bị trói chân, bó cánh trĩu nặng bởi những gánh nặng về vấn đề chi phí và không phù hợp, do những tổn hại về tiêu cực, lãng phí gây ra.”

Nút thắt chính là gì?

Theo chuyên gia Bùi Kiến Thành, đó là một điểm tiềm năng tốt, nhưng còn có điều kiện nữa mà nước này cần đáp ứng, ông nói:

“Việt Nam cần phải làm được việc là tự mình chủ động phát triển, đồng thời phải thay đổi, kiện toàn cơ chế quản lý nhà nước cho phù hợp, cái đó theo tôi là điểm khó khăn nhất của Việt Nam, khó nhất là tự hoàn thiện mình, tự thay đổi.

“Đó là điểm mà xuất phát từ một nước xã hội chủ nghĩa, xuất phát từ một nền kinh tế tập trung, từ một nguồn nhân lực không được đào tạo trong nôi của nền kinh tế thị trường, thì 30 năm nay vẫn tồn đọng lại khó khăn về chuyển đổi, cải cách thể chế kinh tế, xã hội, thị trường, ngoài ra tồn đọng khó khăn trong vấn đề đào tạo lại nhân lực.

“Như thế và cho nên là cái quan trọng đối với Việt Nam là hướng về nền kinh tế thị trường như thế nào, hướng về quản lý nhà nước minh bạch như thế nào, thì cái đó là Việt Nam còn đang và sẽ phải cố gắng rất là nhiều.”

Về khía cạnh đổi mới thể chế và tư duy, làm sao cởi được những ‘nút thắt’ nếu có, ông Bùi Kiến Thành nói:

“Đây là vấn đề hết sức quan trọng, về mặt tư duy, Việt Nam chưa hoàn toàn hoạt động trong kinh tế thị trường, mà mới chỉ vận hành theo kinh tế thị trường thì vậy là chưa đủ, bằng chứng và cho nên là Việt Nam vẫn đi ra nước ngoài yêu cầu các nước, các cường quốc hãy công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường.

Việt Nam hưởng một số lợi ích vì thương chiến Mỹ - TrungBản quyền hình ảnhREUTERS
Image captionViệt Nam hưởng một số lợi ích vì thương chiến Mỹ – Trung

“Nhưng tự Việt Nam cũng chưa đã thực sự là một nền kinh tế thị trường, mà mới bập bẹ đi học theo cách vận hành theo kinh tế thị trường, thì đấy là điều đáng quan tâm về mặt cơ chế, thể chế mà Việt Nam cần phải có những tư duy mạnh mẽ hơn.

“Các vị quản lý nhà nước phải giải tỏa ám ảnh của những học thuyết cũ kỹ và phải ra khỏi những cái đấy hầu đi vào trong nền kinh tế thị trường một cách mạnh dạn hơn, thì đó là điều Việt Nam hiện còn chưa làm được, vẫn còn rất là chậm tiến về việc ấy.

“Cho nên khó khăn chính yếu là ở trong chỗ tư duy vấn đề một nền kinh tế thị trường chưa thực sự phát triển, từ đó đưa tới chỗ là cơ chế tổ chức vẫn còn luộm thuộm trong hệ thống quản lý nhà nước cũ còn tồn đọng lại.

“Vì vậy hệ thống quản lý nhà nước ở Việt Nam hiện nay chưa phải là một hệ thống của một nền kinh tế thị trường mà vẫn còn dư âm, dư vang lại cách thức làm việc cũ rất là khó cho doanh nghiệp hoạt động, đấy là một điểm mà doanh nghiệp đã nhiều lần họp với chính phủ và nói mà Thủ tướng đã nhiều lần phát biểu rằng sắp tới Việt Nam sẽ cố gắng nhiều hơn nữa.

“Nhưng cố gắng như đã thấy là chưa đủ mà phải làm sao đưa Việt Nam từ một nền kinh tế tập trung qua hẳn nền kinh tế thị trường cùng với hệ thống quản lý nhà nước phù hợp, là cái mà Việt Nam tôi nghĩ còn phải cố gắng phấn đấu rất nhiều,” ông Bùi Kiến Thành nói với BBC News Tiếng Việt hôm 10/7 từ Hội An.

Mời quý vị đón theo dõi tới đây một chia sẻ đặc biệt của Kinh tế gia Bùi Kiến Thành, người từng có những hoạt động cố vấn chiến lược và đổi mới cho chính phủ và nhà nước Việt Nam trên các lĩnh vực từ kinh tế, tài chính, ngân hàng cho tới tái thiết bang giao với Hoa Kỳ, nhân dịp đánh dấu và nhìn lại 25 năm thiết lập quan hệ bang giao Việt – Mỹ thời kỳ hậu chiến.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Ám chỉ Trung Quốc ‘nguy hại và cưỡng chế’, Mỹ-Nhật-Úc thể hiện lập trường cứng rắn về Biển Đông

Ám chỉ Trung Quốc ‘nguy hại và cưỡng chế’, Mỹ-Nhật-Úc thể hiện lập trường cứng rắn về Biển Đông

Minh Hòa | ĐKN 12 giờ tới 154 lượt xem

Các lực lượng Nhật Bản và Hoa Kỳ tham gia cuộc tập trận song phương hàng năm ANNUALEX 19 vào ngày 13/11/2019 (ảnh: Lực lượng phòng vệ hàng hải Nhật Bản).
Ba nước đồng minh Mỹ – Nhật – Úc đã chung tay bày tỏ một lập trường cứng rắn nhằm phản đối các hành vi “nguy hiểm và cưỡng chế” của Trung Quốc tại Biển Đông, theo chuyên trang đa ngôn ngữ về Đông Nam Á BenarNews.

Trang tin này đưa tin, ba quốc gia đã công bố một bản tuyên bố chung sau khi các bộ trưởng quốc phòng của họ họp mặt ở thủ đô Washington của Mỹ hôm 7/7.

BenarNews cho biết, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Mark Esper, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Kono Taro và Bộ trưởng Quốc phòng Australia Linda Reynold chủ yếu thảo luận về tình hình dịch virus Vũ Hán, nhưng cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đảm bảo khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và cởi mở.

Bản tuyên bố cho biết các bộ trưởng “bày tỏ mối quan ngại nghiêm trọng về các sự cố gần đây, trong đó có việc tiếp tục quân sự hóa các thực thể đang tranh chấp, sử dụng các tàu bảo vệ bờ biển và dân quân hàng hải một cách nguy hại và cưỡng chế, cũng như hành vi cản trở hoạt động khai thác tài nguyên của các quốc gia khác”.

Mặc dù không đề cập trực tiếp đến Trung Quốc, bản tuyên bố này là sự ám chỉ rõ ràng đến những hành vi gây hấn của Bắc Kinh thời gian gần đây, trong đó có việc Trung Quốc đưa tàu khảo sát vào vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam, làm gián đoạn hoạt động thác dầu của Việt Nam và đối tác quốc tế.

Tuyên bố chung cũng khẳng định: “Liên quan đến Biển Đông, các bộ trưởng đã củng cố lập trường phản đối mạnh mẽ việc sử dụng vũ lực hoặc cưỡng chế nhằm thay đổi hiện trạng, đồng thời tái khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì tự do hàng hải và hàng không”.

Trung Quốc nhanh chóng phản ứng lại tuyên bố chung của Mỹ – Nhật – Úc, cáo buộc rằng “một số nước bên ngoài khu vực” đang làm mất ổn định Biển Đông. ” Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Triệu Lập Kiên hôm 8/7 tuyên bố: “Một số quốc gia ngoài khu vực, xuất phát từ động cơ ích kỷ, thường xuyên thổi phồng các vấn đề liên quan đến Biển Hoa Đông và Biển Đông, thậm chí cử cả các tàu quân sự và máy bay tiên tiến với quy mô lớn vào các vùng biển có liên quan, nhằm thúc đẩy quân sự hóa và đe dọa nền hòa bình cũng như ổn định trong khu vực”.

Mỹ – Nhật – Úc không có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, nhưng gần đây đã bày tỏ lập trường vững chắc hơn đối với việc duy trì các tuyến đường biển tự do của thế giới trong khu vực, trong bối cảnh Trung Quốc tiếp tục gia tăng quân sự nhằm biến Biển Đông thành “ao nhà”.

Ngoại trưởng Hoa Kỳ Mike Pompeo hôm 8/7 đã góp thêm tiếng nói chỉ trích Trung Quốc liên quan đến hàng loạt cuộc tranh chấp của nước này với các quốc gia khác. Ông Pompeo nói: “Từ các dãy núi của Himalaya đến Vùng biển đặc quyền của Việt Nam, Quần đảo Senkaku, và xa hơn nữa, Bắc Kinh có cả một danh sách dài về tranh chấp lãnh thổ. Thế giới không nên cho phép hành vi bắt nạt này diễn ra, cũng không nên cho phép nó tiếp diễn”.

Cùng ngày, hải quân Nhật Bản đã tập trận cùng với hai tàu sân bay Mỹ gồm USS Ronald Reagan và USS Nimitz, theo thông cáo báo chí của Lực lượng phòng vệ hàng hải Nhật Bản.

Đây là lần đầu tiên Hoa Kỳ triển khai hai tàu sân bay cùng một lúc ở Biển Đông trong ít nhất bốn năm qua và điều này được cho là một thông điệp mạnh mẽ nhằm phản đối yêu sách của Trung Quốc trong khu vực.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Chính quyền Trump sắp trừng phạt Trung Quốc về COVID-19

Chính quyền Trump sắp trừng phạt Trung Quốc về COVID-19

Minh Hòa | ĐKN 4 giờ tới 2,978 lượt xem

Tổng thống Donald J. Trump đi bộ từ Nhà Trắng tới Nhà thờ Tân giáo Thánh John, còn được gọi là nhà thờ của Tổng thống, vào ngày 1/6/2020. Nhà thờ đã bị hư hại do hỏa hoạn trong các cuộc biểu tình ở Quảng trường LaFayette ở gần đó (ảnh: Nhà Trắng).
Cố vấn thương mại Nhà Trắng Peter Navarro cho biết chính quyền Tổng thống Donald Trump sắp công bố các biện pháp nhằm buộc Trung Quốc phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại mà họ gây ra cho người Mỹ thông qua dịch viêm phổi COVID-19.

Ông Navarro nói với chương trình “The Story” của Fox News hôm thứ Hai (6/7): “Một loạt các hành động sẽ được thực hiện trong vài tuần tới nhằm khiến Trung Quốc phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại mà họ đã gây ra cho người dân Mỹ”.

Ông Navarro chỉ trích Trung Quốc “đẻ” ra virus corona vào tháng 11, sau đó dối trá về dịch bệnh, đồng thời “gửi” virus ra khắp toàn cầu vào tháng 12/2019, tháng 1 và tháng 2/2020.

“Đảng Cộng sản Trung Quốc đã dối trá và tới nay đã có hơn 130.000 người Mỹ thiệt mạng”, ông Navarro nói.

Trước đó, cũng vào hôm thứ Hai, Chánh văn phòng Nhà Trắng Mark Meadows nói với Fox & Friends rằng Tổng thống Trump dự kiến công bố một sắc lệnh hành pháp về Trung Quốc trong tuần này.

Ông Meadows nói: “Chúng tôi sẽ tìm cách làm thế nào đảm bảo rằng Trung Quốc sẽ bị nhắm tới, làm thế nào đưa sản xuất trở về từ nước ngoài để đảm bảo người lao động Mỹ được hỗ trợ”.

Trong cuộc phỏng vấn với Fox News, ông Navarro nói rằng ông không muốn vượt trước ông Meadows hay Tổng thống Trump trong việc công bố các biện pháp trừng phạt, nhưng nhà kinh tế nói rằng sắc lệnh sắp tới về Trung Quốc sẽ không ảnh hưởng đến thỏa thuận thương mại hiện có giữa Washington và Bắc Kinh.

Là tác giả cuốn sách “Death by China” (Chết bởi Trung Quốc), ông Navarro chỉ trích Trung Quốc đã gian lận thương mại và tước đoạt việc làm của người Mỹ trong suốt 20 năm, và Tổng thống Trump là người đầu tiên đứng ra chống lại điều đó.

Ông Navarro cũng lưu ý rằng chính quyền Trump đã và đang thực thi các hành động chống lại Trung Quốc vì họ đã lợi dụng Hồng Kông để “khai thác thị trường tài chính của chúng ta và đánh cắp việc làm của chúng ta, bằng cách sử dụng thành phố này như một nền tảng cho các hoạt động thương mại không công bằng. “

Cố vấn của Tổng thống Trump cho biết: “Chúng tôi sẽ loại bỏ mọi chế độ ưu đãi dành cho Hồng Kông, điều này sẽ loại bỏ việc Trung Quốc sử dụng Hồng Kông để gây hại cho chúng ta, kể cả khi chúng tôi đứng lên ủng hộ những người dân tuyệt vời của Hồng Kông, những người chứng kiến nền dân chủ của họ bị nghiền nát”.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Mục đích che giấu các cuộc tập trận của hải quân Trung Quốc

Mục đích che giấu các cuộc tập trận của hải quân Trung Quốc

Nguyễn Ngọc Chu

7-7-2020

1. Việc Trung Quốc cùng lúc tập trận trên các biển Hoàng Hải, Đông Hải, Nam Hải (theo cách gọi của Trung Quốc) trong căng thẳng xung đột biên giới với Ấn Độ đặt ra nhiều điều phải suy nghĩ nghiêm túc về chiến lược và chiến thuật của Trung Quốc.

Một là, Trung Quốc đang tạo ra rất nhiều kẻ thù. Ở trên bộ, hiện Trung Quốc đang chủ động tranh chấp lãnh thổ với 12 trên tổng số 14 quốc gia có biên giới chung với Trung Quốc. Mỗi khi biên giới với các nước láng giềng căng thẳng đều do bắt đầu từ phía Trung Quốc. Căng thẳng biên giới Trung – Ấn hiện nay là do Trung Quốc muốn thay đổi hiện trạng đường biên giới. Chiến tranh Trung – Ấn (1962), Trung –Xô (1969), Trung – Việt (1979 -1989) đều bắt đầu từ Trung Quốc tấn công trước.

Ở trên biển, Trung Quốc tranh dành với tất cả các quốc gia có giáp giới biển. Đó là với 2 miền Triều Tiên ở Hoàng Hải. Với Nhật Bản ở Đông Hải. Với Việt Nam, Phillipines, Malaysia và Indonesia ở Nam Hải. Và với Mỹ ở Thái Bình Dương.

Hai là, Trung Quốc đang dồn trọng tâm tranh chấp sang biên giới biển. Trung Quốc không bao giờ ngừng tranh chấp lãnh thổ trên bộ. Nhưng đó là cuộc tranh chấp mà Trung Quốc giữ vai trò “nhạc trưởng”. Trung Quốc chỉ cánh tay về biên giới nước nào là phía đó vang lên tiếng súng xung đột. Là kẻ đi chiếm đất, Trung Quốc thích gây chiến lúc nào là bắt đầu lúc đó. Sự xâm lược đất nằm trong thế chủ động của Trung Quốc.

Khác với đất liền, Trung Quốc không thể dàn quân thường trực theo biên giới biển. Cho nên trên biển, thế chủ động không phải lúc nào cũng thuộc về Trung Quốc. Trên biển, các quốc gia khác có thể chủ động tuần tra và khai thác vùng biển thuộc chủ quyền của họ, dẫu rằng Trung Quốc có tuyên bố là của Trung Quốc thì Trung Quốc cũng không có khả năng ngăn cản triệt để.

Bởi thế, khi Trung Quốc chuyển trọng tâm sang xâm chiếm biển, thì Trung Quốc phải đủ khả năng đối phó trên tất cả 3 biển Hoàng Hải, Đông Hải, Nam Hải. Hơn thế nữa,Trung Quốc phải đủ tiềm lực đối phó cùng lúc trên đất liền với các đối thủ quan trọng. Cho nên Trung Quốc đã tập trận trên cả 3 biển Hoàng Hải, Đông Hải, Nam Hải trong căng thẳng biên giới Trung – Ấn mà Trung Quốc không chủ động tăng nhiệt.

2. Nhưng Trung Quốc có gắng phô diễn sức mạnh trên biển bao nhiêu thì cũng không che được sự thực về lực lượng và sức mạnh mạnh thực tế của Hải quân Trung Quốc.

Hải quân Trung Quốc tuy nhiều về số lượng nhưng không phải dẫn đầu về công nghệ. Dẫu là tàng hình, dẫu là săn ngầm, dẫu là phát hiện và khóa mục tiêu ở khoảng cách 200 – 300 km… nhưng công nghệ Trung Quốc đều là hạng 2. Khi chiến sự xẩy ra, sự chậm trễ dù chỉ 0,0001% giây, tàu chiến, tàu ngầm, máy bay của Trung Quốc sẽ đều bị bắn hạ trước. Trên biển không phải là trên bộ để 1 người lính chống trả được cả trung đội hay sống sót dưới làn mưa bom. Trên biển bị bắn hạ là thua trận.

Ở mặt khác, hợp đồng tác chiến của Hải quân Trung Quốc còn ở mức “vỡ lòng”. Hàng không mẫu hạm Liêu Ninh mua lại của Liên Xô cũ chở lèo tèo mấy chiếc J10, J16 (phiên bản copy của SU27) chỉ mang tính phô diễn mà không đủ tính thực chiến. Trung Quốc biết điều đó nên phải gấp rút xây dựng căn cứ quân sự trên đảo nhân tạo. Không phải cứ có tàu chiến là kịp thời xung trận và xung trận hiệu quả. Trong tình thế ở giữ đại dương mênh mông, bất kỳ hướng nào cũng có địch mà không có gì để che chở, thì làm mồi cho đối thủ với hệ thống điều khiển tự động tìm diệt và điều khiển vệ tinh trúng đến từng mét vuông là điều khó tránh khỏi. Hải quân Trung Quốc, vì thế khi gặp đối thủ trên cơ về công nghệ (như Nhật Bản) là tan xác, bất chấp đối thủ có ít hơn về số lượng tàu chiến. Điều mà Trung Quốc cuối cùng phải dựa vào để đe dọa chính là vũ khí hạt nhân.

3. Trung Quốc tuy to miệng trước các nước mạnh mà không dám gây chiến. Nhưng Trung Quốc đánh thật các nước nhỏ.

Dựa vào số đông các tàu chiến và tàu hải cảnh có sức chứa lớn, giống như bọn cướp đường, Trung Quốc ồ ạt kéo cả hàng trăm tàu chiến khi có sự cố trên biển để áp đảo về số lượng. Bằng hàng chục vạn tàu dân quân bọc thép trang bị vũ khí ngầm, Trung Quốc ồ ạt đâm đuổi thuyền cá các nước và chiếm lĩnh ngư trường các nước. Bằng cách này, Trung Quốc chiếm trọn bãi cạn Scarborough của Phillipines, đâm chìm thuyền cá Việt Nam ở khắp mọi nơi, tiến sâu cả vào lãnh hải Indonesia, lấy trọn ngư trường ở Biển Đông Nam Á.

Bằng cách này, không chỉ chiếm lĩnh ngư trường, Trung Quốc đưa tàu chiến đến để bảo vệ tàu Hải Dương 981, tàu Hải dương Địa chất 8 của Trung Quốc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, của Malaysia và của Philippines.

Ngang ngược hơn, Trung Quốc cấm bắt đánh cá ở Biển Đông Nam Á bất cứ lúc nào Trung Quốc muốn; Trung Quốc cấm tàu thuyền các nước đến bất cứ khu vực nào Trung Quốc thích. Trung Quốc đang tập trận không chỉ phô diễn lực lượng, mà khẳng định các biển nơi Trung Quốc đang tập trận là biển của Trung Quốc.

Sau cấm đánh bắt cá và cấm tàu thuyền đi lại trên biển, Trung Quốc toan tính cấm máy bay các nước đi lại trên bầu trời. Các cuộc tập trận hiện nay của Trung Quốc là màn pháo dạo đầu để khai trương vùng nhận dạng phòng không ADIZ của Trung Quốc trên Biển Đông Nam Á. Đấy mới là mục đích quan trọng nữa của các tập trận của Hải Quân Trung Quốc hiện nay.

4. Điều đó lý giải tại sao Hoa Kỳ ngày 4/7/2020 đã tập hợp hai nhóm tàu sân bay USS Nimitz và USS Ronald Reagan tiến vào Biển Đông Nam Á, trong khi Trung Quốc đang ngang nhiên tập trận ở quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

Để làm được điều này, Hoa Kỳ đã có các cuộc chuyển quân trường chinh thần tốc. Chuyến bay liên tục 28 tiếng đồng hồ của pháo đài bay B-52H từ Louisiana tới Biển Đông Nam Á tập trận cùng hai nhóm tàu sân bay USS Nimitz và USS Ronald Reagan trước khi hạ cánh xuống đảo Guam đã nói lên khả năng tác chiến của Mỹ tại Biển Đông Nam Á khi cần thiết. Và đừng lầm tưởng về ý chí cũng như khả năng của Hoa Kỳ. Càng đừng quá cậy nhờ vào con virus Vũ Hán đã đánh gục Hải quân Hoa Kỳ và làm giảm sức mạnh của chính cả Hoa Kỳ.

Đến Biển Đông Nam Á, các chiến đấu cơ của USS Nimitz và USS Ronald Reagan đã cất cánh hàng trăm lượt mỗi ngày. Ngày 4-7, B-52H đã có màn phô diễn dẫn đầu đội hình 12 máy bay gồm 10 chiến đấu cơ F/A-18 và 2 máy bay cảnh báo sớm E-2C.

Sự diễn tập của Hải quân Mỹ trong đối trọng với cuộc tập trận của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa là khẳng định Biển Đông Nam Á không phải là “ao nhà” của Trung Quốc. Rằng Trung Quốc không thể áp đặt vùng cấm trên biển, nên Trung Quốc đừng mưu toan áp đặt phòng nhận diện trên bầu trời.

Không ai muốn chiến tranh. Trung Quốc, mặc dù mạnh miệng nhưng không dám đối đầu với Mỹ. Mỹ cũng không muốn đối đầu với Trung Quốc. Nhưng sai lầm của Mỹ đang bắt Mỹ phải trả giá.

Đó là sai lầm bản lề không sửa chữa của Nixon và Kissinger năm 1971 khi để cho Trung Quốc thế chân chính quyền Trung hoa Dân quốc của Tưởng Giới Thạch tại Liên hợp quốc. Đó là sai lầm chiến lược thiên niên kỷ khi để Trung Quốc chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974. Đó là nước cờ sa bẫy Trung Quốc khi Mỹ để Trung Quốc gia nhập WTO năm 2001. Đó là sự lùi bước tệ hại của Hoa Kỳ khi để Trung Quốc xây đảo nhân tạo năm 2014 tại Trường Sa.

Đến bây giờ thì nước Mỹ đã bắt đầu cảnh tỉnh. Không thể nhân nhượng được hơn nữa trước Trung Quốc. Không nhân nhượng Trung quốc đã lấn tới. Càng nhân nhượng Trung Quốc càng lấn tới.

Mọi đàm phán hòa hoãn đều dựa trên quyền lợi quốc gia là nhân tố quyết định số 1. Chiến tranh thương mại Mỹ – Trung, rút khỏi hiệp ước tên lửa tầm trung INF với Nga, rút khỏi WHO đều là vì quyền lợi của Hoa Kỳ mà kẻ đe dọa chính là Trung quốc. Nhưng tất cả đó chỉ là những nước cờ cục bộ. Những nước cờ cục bộ đó đưa lại cho Hoa Kỳ những lợi ích ngắn hạn chỉ đủ làm cho Trung Quốc tạm dừng bước. Nhưng rồi Trung Quốc sẽ tiếp tục lấn tới – mà luật an ninh Hongkong vừa được ban bố bởi chính quyền Bắc Kinh cho thấy sự bướng bỉnh không lùi bước của Trung Quốc.

Rồi đến lúc Hoa Kỳ phải cắt khối ung thư Trung Quốc bằng những cuộc đại phẫu luật lớn hơn nhiều. Trong đó rất đáng phải làm là thành lập tổ chức mới thay thế Liên hợp quốc.

5. Còn Việt Nam thì sao?

Thời gian qua các nước khối ASEAN mà cụ thể là Indonesia, Việt Nam, Phillipines và Malaysia đã có sự đồng thuận khích lệ khi mở chiến dịch “công hàm” phản kháng sự xâm lược ngang ngược của Trung Quốc ở Biển Đông Nam Á. Gần đây nhất, Công hàm ngày 12/6/2020 của Indonesia gửi Liên hợp quốc đã khẳng định rõ ràng rằng:

“Không có thực thể nào ở quần đảo Trường Sa có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng, do vậy không có thực thể nào sinh ra vùng biển chồng lấn với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Indonesia”.

“Không có quyền lịch sử nào của CHND Trung Hoa tồn tại trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Indonesia. Nếu có quyền lịch sử nào đó tồn tại trước khi UNCLOS 1982 có hiệu lực, thì các quyền này đã bị các điều khoản của UNCLOS 1982 hủy bỏ”.

“Do vậy, Chính phủ Indonesia thấy không có lý do pháp lý nào theo luật pháp quốc tế để tiến hành đàm phán về xác định biên giới biển với CHND Trung Hoa, hoặc bất kỳ vấn đề nào khác liên quan đến quyền hàng hải, hoặc những đòi hỏi quyền lợi được đưa ra trái với luật pháp quốc tế”.

Lập trường “Không có lý do pháp lý nào theo luật pháp quốc tế để tiến hành đàm phán về xác định biên giới biển với CHND Trung Hoa, hoặc bất kỳ vấn đề nào khác liên quan đến quyền hàng hải, hoặc những đòi hỏi quyền lợi được đưa ra trái với luật pháp quốc tế” – phải là lập trường đá tảng của Việt Nam, Indonesia, Philippines và Malaysia trong quan hệ với Trung quốc ở Biển Đông Nam Á.

Hơn thế nữa, Việt Nam phải có đối sách quyết liệt và rõ ràng hơn trong tập trung nguồn lực chống lại sự xâm lược của Trung Quốc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam.

Việt Nam không thể rời bỏ bãi Tư Chính. Việt Nam không thể từ bỏ khu vực Cá Rồng Đỏ dù Repsol ra đi. Tạm ngừng khai thác chỉ là khoảng dừng.

Hơn thế nữa, Việt Nam cần có bảo bối mới trong bảo vệ chủ quyền biển đảo. Việt Nam cần có những vũ khí “khắc tinh” với Hải quân Trung quốc, nhất là chống lại lực lượng tàu ngầm Trung Quốc. Việt Nam cần có những vũ khí tìm diệt mới mà Trung quốc không có. Chỉ trong trường hợp đó, sự hung hăng của Hải quân Trung Quốc ở biển Đông Nam Á mới thực sự bị kiềm chế. Nếu Việt Nam chỉ sở hữu các loại vũ khí mà Trung Quốc có thì Trung Quốc luôn lấn tới cậy nhờ vào số đông áp đảo. Nên nhớ rằng trên biển khác với trên bộ. Trên biển không thể cậy nhờ chỉ mỗi tinh thần quyết thắng và mưu mẹo.

Hơn thế nữa, Việt Nam phải có đồng minh trên biển. Việt Nam phải tập trận trên biển. Chuẩn bị cho chiến trận là cách tốt nhất để ngăn chặn chiến trận.

Bàn cờ thế giới đang nóng bỏng cho một bước ngoặt thay đổi radical (căn bản). Nhưng Việt Nam dường như đang bận tâm quá nhiều về bàn cờ nhân sự.

Nguyên thủ quốc gia chỉ có bàn cờ thế giới. Nguyên thủ quốc gia không có bàn cờ nhân sự. Bàn cờ nhân sự là của nhân dân.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

TQ vào ‘thế chịu đòn’ khi Five Eyes hình thành mặt trận thống nhất

TQ vào ‘thế chịu đòn’ khi Five Eyes hình thành mặt trận thống nhất

Trung Quốc đang phải chuẩn bị ứng phó trước một nỗ lực tấn công mạnh mẽ hơn từ phía liên minh tình báo Five Eyes, khi các thành viên của họ đoàn kết để cùng nhau giải quyết một Bắc Kinh ngày càng táo bạo, các nhà quan sát cho biết.

Bắc Kinh có thể sẽ phải đối mặt với những nỗ lực phối hợp chống lại chính quyền này từ phía Mỹ, Úc, Anh, Canada và New Zealand

Sẽ không hiệu quả khi tấn công Trung Quốc đơn độc hoặc chỉ tấn công tại một thời điểm

Các nhà phân tích nói rằng với việc Trung Quốc và các thành viên của liên minh Five Eyes đã đụng độ trên một loạt các mặt trận – từ việc xử lý đại dịch coronavirus cho đến Hong Kong và công nghệ 5G – các nước thuộc Five Eyes cho thấy các cường quốc này hiểu rằng tấn công Trung Quốc đơn độc hoặc chỉ tấn công tại một thời điểm cụ thể sẽ không hiệu quả.

Nhưng những nỗ lực phối hợp của Úc, Anh, Canada, New Zealand và Hoa Kỳ không phải là không được chú ý, truyền thông nhà nước Trung Quốc đang báo cáo mạnh mẽ các hành động được cả nhóm thực hiện.

Dấu hiệu của hành động chung đã xuất hiện hai năm trước khi Canada bắt giữ bà Mạnh Vãn Châu, giám đốc tài chính của công ty viễn thông khổng lồ Trung Quốc Huawei Technologies, theo yêu cầu của Mỹ.

Việc bắt giữ đã gây ra một phản ứng dữ dội từ phía Bắc Kinh, họ coi hành động này là một nỗ lực của các nước láng giềng nhằm kiềm chế sự trỗi dậy của công nghệ Trung Quốc. Trong vòng vài tuần, Bắc Kinh đã bắt giữ hai người Canada vì tội “đe dọa an ninh nhà nước”.

Mỹ cũng đã đặt ra các hạn chế về việc trao đổi công nghệ và khoa học với Trung Quốc, giới hạn các đơn xin thị thực cho các nhà nghiên cứu Trung Quốc.

Căng thẳng tiếp tục gia tăng trong năm nay khi dịch coronavirus ở thành phố Vũ Hán miền trung Trung Quốc bùng phát trở thành một đại dịch toàn cầu.

Hoa Kỳ đổ lỗi cho Trung Quốc vì đã cho phép mầm bệnh lây lan ra ngoài biên giới, và Thủ tướng Úc Scott Morrison đã dẫn đầu kêu gọi điều tra về nguồn gốc của coronavirus. Đáp trả, Bắc Kinh đã áp đặt thuế quan đối với lúa mạch Úc, và cảnh báo công dân và sinh viên Trung Quốc không được đến Úc.

Trong tháng trước, Mỹ và Anh đã lên án quyết định của Bắc Kinh về việc ban hành luật an ninh quốc gia đối với Hong Kong, với việc Anh phát biểu rằng liên minh sẽ “chia sẻ gánh nặng” nếu người Hong Kong muốn rời khỏi thành phố.

Georgina Downer, giám đốc của công ty tư vấn chiến lược và địa chính trị Tenjin Consulting, cho biết có những dấu hiệu rõ ràng về hành động phối hợp của năm nước thành viên.

“Chúng ta chắc chắn đang thấy sự hợp tác ngày càng tăng giữa các quốc gia Five Eyes về phản ứng của họ với Trung Quốc, bằng chứng là họ đã nhanh chóng đưa ra tuyên bố chung về Hong Kong và tuyên bố đối thoại kinh tế Five Eyes để điều phối sản xuất hàng hóa chiến lược”, bà Downer cho biết

“Việc Anh nhanh chóng thay đổi chính sách về 5G và thỏa thuận giữa các quốc gia Five Eyes để thành lập D10 các quốc gia dân chủ và có cùng chí hướng để hợp tác đối với công nghệ 5G là một ví dụ điển hình khác về cách mà kiểu ngoại giao hung hăng của Trung Quốc đã nhanh chóng liên kết tư duy chiến lược về đầu tư của Trung Quốc vào cơ sở hạ tầng quan trọng của các thành viên Five Eyes”.

Bà nói thêm rằng giờ đây đã có một “nỗ lực phối hợp và cởi mở hơn nhiều giữa Five Eyes để tập trung vào hợp tác kinh tế giữa các quốc gia có chung những giá trị và tư duy chiến lược”.

Five Eyes, thậm chí là G7+ cũng có thể tăng cường phối hợp toàn diện chống lại Trung Quốc

Li Lianjun, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Úc tại Đại học Ngoại ngữ Bắc Kinh, đồng ý rằng các thành viên của liên minh đang hợp tác nhiều hơn, với việc Thủ tướng Úc Morrison đang có những phát ngôn mạnh mẽ.

“Không có gì ngạc nhiên nếu Five Eyes phối hợp với nhau để ‘chiến đấu với Trung Quốc’, và thậm chí G7+ cũng có thể sẽ phối hợp với nhau theo một số cách. Morrison đang tích cực kiên quyết chống lại Trung Quốc, và điều đó rất tệ cho mối quan hệ song phương. Dường như Morrison sẵn sàng hy sinh quan hệ thương mại với Trung Quốc để đứng lên vì ‘những giá trị’ của mình”, ông Li cho biết.

John Blaxland, giáo sư nghiên cứu tình báo và an ninh quốc tế tại Đại học Quốc gia Úc, cho biết phong cách ngoại giao “chiến binh sói” của Trung Quốc đã tiếp tục đẩy Five Eyes gần nhau hơn.

“Nếu như kiểu ngoại giao chiến binh sói có ý định đe dọa để buộc các nước phải tuân thủ, thì nó thực sự đã phản tác dụng, bởi vì giờ đây chúng ta đang chứng kiến sự gắn kết Five Eyes giữa các bộ trưởng và các cơ quan chính phủ hợp tác bên ngoài các lĩnh vực tình báo”, Blaxland nói.

Và sự hợp tác đã không dừng lại ở năm thành viên. Đề cập đến việc Ấn Độ thỏa thuận mua thêm lúa mạch từ Úc, Blaxland cho biết các quốc gia như Pháp và thậm chí Đức, Nhật Bản và Ấn Độ mà vốn thân thiện với liên minh có thể hợp tác với Five Eyes để vô hiệu hóa các động thái của Trung Quốc.

“Five Eyes đang suy nghĩ rằng nếu như họ phải đối phó với Trung Quốc một mình thì họ sẽ phải trả giá đắt. Vì vậy, để có bất kỳ lực kéo nào với Bắc Kinh, họ sẽ phải điều phối phản ứng của họ”, ông Blaxland nói.

Chỉ hai tuần trước, Ấn Độ và Úc đã đồng ý tuyên bố chung về hợp tác hàng hải ở Ấn Độ-Thái Bình Dương như một phần của hiệp ước mới, Hiệp định Đối tác chiến lược toàn diện, chỉ ra một liên minh từng được cho là không thể.

Shi Yinhong, một chuyên gia về các vấn đề Mỹ tại Đại học Renmin Trung Quốc, cho biết áp lực của Five Eyes sẽ làm phức tạp thêm sự phát triển của Trung Quốc, vốn đang gặp khó khăn trên mặt trận kinh tế.

Shi nói rằng mặc dù Mỹ và bốn quốc gia khác có thể không hoàn toàn phù hợp với chính sách của Trung Quốc, Five Eyes vẫn là một liên minh vững chắc.

“Trung Quốc đã quen với loại áp lực này, có thể tăng cường khả năng phục hồi của Trung Quốc, nhưng nhược điểm là nó sẽ làm giảm sự sẵn sàng điều chỉnh các chính sách chiến lược một khi đã quen với nó”, ông nói.

Nhưng Lu Xiang, một nhà nghiên cứu tại Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, cho biết mối đe dọa đối với Trung Quốc có thể không lớn.

“Tất cả các quốc gia là các quốc gia có chủ quyền. Mỗi nước có tính toán và chương trình ngoại giao riêng. Tôi không tin rằng bốn quốc gia này sẽ theo Hoa Kỳ ở mọi bước. Tất nhiên, họ sẽ có một số sự phối hợp như các đồng minh truyền thống, nhưng tôi không nghĩ rằng họ đoàn kết tới mức là một khối”, ông nói.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Bhutan phản đối kịch liệt yêu sách kỳ lạ của TQ

Bhutan phản đối kịch liệt yêu sách kỳ lạ của TQ

Chính phủ Bhutan đã gửi công hàm để phản đối yêu sách từ phía Trung Quốc đòi chủ quyền đối với khu vực bảo tồn động vật hoang dã Sakteng (SWS).

Tại Hội nghị trực tuyến của Quỹ Môi trường Toàn cầu (GEF) hôm 2-3/6, Trung Quốc đã tuyên bố khu bảo tồn động vật hoang dã Sakteng (SWS) là lãnh thổ đang bị tranh chấp với Bhutan.

Cụ thể, khi Hội đồng GEF thảo luận về nguồn ngân sách cho SWS, đại biểu Trung Quốc phản đối với lý do khu bảo tồn nằm trong khu vực tranh chấp của Bhutan và Trung Quốc.

Tuyên bố này khiến cả hội đồng bất ngờ, song ban thư ký GEF đã bác bỏ luận điểm của Trung Quốc, đồng thời chỉ ra SWS nằm trong vùng lãnh thổ có chủ quyền của Bhutan.

Trong suốt buổi họp, đại diện từ phía Trung Quốc liên tục nhấn mạnh cần viết thêm vào phần chú thích của phiên làm việc là: “Trung Quốc phản đối dự án này vì dự án nằm trong khu vực tranh chấp giữa Bhutan và Trung Quốc”.

Bhutan bác bỏ yêu sách của Trung Quốc, tuyên bố khu bảo tồn Sakteng là lãnh thổ thuộc chủ quyền của Bhutan và chưa từng tranh chấp với bất kỳ nước nào. Trong một công hàm gửi tới GEF, Bhutan kêu gọi hội đồng loại bỏ mọi tài liệu tham khảo về yêu sách vô căn cứ này.

Bhutan và Trung Quốc phát sinh tranh chấp biên giới từ nhiều thế kỷ trước. Song cuộc đàm phán giữa chính phủ hai nước chỉ giới hạn ở 3 khu vực tranh chấp, không bao gồm SWS.

Từ năm 1984, hai bên đã tổ chức 24 vòng đàm phán để giải quyết tranh chấp nhưng vẫn chưa tìm ra giải pháp chung.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Virus corona: Điều gì khiến một sự kiện ‘siêu lây lan’?

Virus corona: Điều gì khiến một sự kiện ‘siêu lây lan’?

People sit at a restaurant with outdoor seating in the Little Italy neighbourhood on June 24, 2020 in New York CityBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionMột số mô hình cho thấy chỉ 20% số người – siêu lây lan – tạo ra 80% tất cả các ca nhiễm trùng

Giờ đây, nhiều tháng sau khi dịch virus corona tại Mỹ bùng phát, các biện pháp phòng ngừa an toàn đã trở thành thói quen: đứng cách nhau 2m, đeo khẩu trang và rửa tay.

Tuy nhiên, một số sự kiện ‘siêu lây lan’ nào đó – tiệc sinh nhật, gặp nhau ở quán rượu và thậm chí buổi tập dợt hợp ca – dường như là thủ phạm gây ra số người nhiễm trùng Covid-19 quá mức.

Vậy thì làm sao mà chỉ một đêm đi chơi, hoặc chỉ một người bị nhiễm bệnh, có thể dẫn đến hàng chục trường hợp lây nhiễm khác?

Chúng tôi yêu cầu Tiến sĩ Abraar Karan, một bác sĩ và nhà nghiên cứu y tế công cộng tại Đại học Y tế Harvard, xem xét ba trường hợp khác nhau, kể từ khi dịch bệnh ở Mỹ bắt đầu, để tìm hiểu tại sao một sự kiện có thể chuyển từ nguy cơ thấp sang nguy cơ cao, và làm thế nào để chúng ta tránh tham dự một sự kiện siêu lây lan.

Siêu lây lan là gì?

Tại một sự kiện siêu lây lan, số lượng các trường hợp bị lây nhiễm sẽ cao không tương xứng so với tỷ lệ truyền nhiễm chung, Tiến sĩ Karan nói.

Và nguy cơ của những sự kiện siêu lây lan này có thể bùng ra khi có sự người ‘siêu lây lan’ tham dự. Người ‘siêu lây lan’ là những người tạo lây nhiễm rộng rãi bằng cách tiếp xúc với nhiều người hơn trung bình, hoặc phát ra nhiều virus hơn.

“Tôi có xu hướng nghĩ về nó như thế này: đại đa số mọi người có thể không tạo lây nhiễm cho người nào khác, và một số người, trong một số tình huống nhất định, sẽ lây nhiễm cho rất nhiều người,” Tiến sĩ Abraar Karan nói. “Một người có thể gây lây cho 10 người, hoặc 15 người hoặc 20 người.”

A sign reading "Masks Distancing Pizza Beer" is displayed above a restaurant and bar on Sunset Boulevard amid the COVID-19 pandemic on June 29, 2020 in Los AngelesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionBạn có thể đi đến một quán rượu và giữ an toàn? Bác sĩ Karan nói rằng điều đó có thể khó

Các nghiên cứu vẫn đang được thực hiện, tiến sĩ Karan nói, nhưng kết quả ban đầu chỉ ra rằng sự lây lan của virus corona chủ yếu được hỗ trợ bởi các sự kiện siêu lây lan này.

“Các mô hình khác nhau đã xem xét điều này và kết luận rằng 20% số người bị nhiễm Covid-19 làm lây ra 80% tổng số những người bị nhiễm.

Và trong khi mức độ rủi ro sẽ thay đổi lớn giữa các sự kiện, Tiến sĩ Karan nói rằng có một số yếu tố nhất định cần phải cảnh báo.

“Nếu bạn hội tụ bất kỳ những yếu tố nào sau đây: ở trong nhà, không gian đông đúc, kín, không có bất kỳ loại thiết bị bảo vệ cá nhân nào như khẩu trang (trừ khi lúc bạn đang ăn) – những thứ đó đều có nguy cơ cao”, ông nói.

Tập dợt hợp ca, Mount Vernon, Washington

Chuyện gì xảy ra?

Vào tháng Ba, lúc đại dịch mới bùng nổ ở Hoa Kỳ, 61 thành viên của một nhóm hợp xướng ở quận Skagit, Washington, gặp nhau để tập hợp ca hàng tuần. Một người tham dự cuộc tập dợt kéo dài hai tiếng rưỡi đã có những triệu chứng giống như cảm lạnh.

Vài ngày sau, sau một cuộc điều tra của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC), 53 trường hợp nhiễm Covid-19 đã được xác định – tức 87% những người đã tập hợp để hát. Hai thành viên của nhóm sau đó đã chết.

What is the k number? Sáu chủng virus corona được tìm thấy trên động vật hoang dã ở VN

Những không gian ngoài trời tuyệt đẹp cho thời Covid-19

Covid-19 và mối nguy hiểm chết người: Khi cơ thể tự tấn công bản thân

Trong buổi tập dợt ngày 10/3, ghế ngồi được sắp xếp thành sáu hàng, mỗi hàng 20 ghế, mỗi ghế cách nhau 15 đến 25 cm, theo báo cáo của CDC. Các thành viên vào chỗ ngồi diễn tập thông thường của họ, với khoảng trống của khoảng 40 người không có mặt trong đêm đó. Một số đồ ăn nhẹ được chia sẻ trong thời gian nghỉ 15 phút, mặc dù không có thành viên nào báo cáo liên hệ vật lý giữa những người có mặt.

Tại sao có sự lây lan?

Trong trường hợp này, yếu tố chính có thể là lý do của nhóm để họp: hát.

Khi bạn hát, tương tự như khi nói to hoặc hét, bạn sẽ tống các giọt hô hấp ra khỏi miệng và mũi, Tiến sĩ Karan nói.

“Khi thở ra mạnh, bạn sẽ tạo ra nhiều khí dung hơn, những giọt nhỏ hơn có thể lơ lửng trong không khí”, ông nói.

Dịch Covid-19 có dẫn đến khủng hoảng lương thực toàn cầu?

Trong dàn hợp xướng của quận Skagit, thành viên bị bệnh ban đầu có thể đã tống ra những giọt nước này khi họ luyện tập, sau đó bay lơ lửng trong không khí khi các thành viên hát và giao lưu trong hơn hai giờ đồng hồ.

Tiệc sinh nhật, Carollton, Texas

Chuyện gì xảy ra?

Vào ngày 30/5, gia đình nhà Barbosa đã tập trung thành một nhóm 25 người cho bữa tiệc sinh nhật bất ngờ. Gia đình ở phía bắc Texas nói với truyền thông Hoa Kỳ rằng chủ nhà đã vô tình bị nhiễm Covid-19.

Cuối tháng 6, Chance O’Shel, một thành viên gia đình nói rằng tám người trong gia và 10 người bạn của gia đình đã bị nhiễm virus, bao gồm cụ ông và cụ bà Frank và Carole Barbosa, hai người sắp kỷ niệm 68 năm ngày cưới.

Friends line up to wish Yvette Torres, 14, a happy birthday at a drive-by party outside her home as the global outbreak of coronavirus (COVID-19) continues, in Pico Rivera, near Los Angeles, California, U.S., April 27, 2020Bản quyền hình ảnhREUTERS
Image captionTrong bối cảnh virus bùng phát, những tiệc sinh nhật drive bys như thế này sẽ an toàn hơn là cuộc tụ tập trong nhà

Cả Frank và Carole Barbosa sau đó đều phải nhập viện và vào ngày 1/7, Frank Barbosa qua đời, các thành viên gia đình cho biết.

“Họ thậm chí còn thận trọng hơn trước đây, nhưng điều đó vẫn dẫn đến việc bà, ông và dì của tôi phải vào bệnh viện”, ông O’Shel nói về việc tập họp của họ với đài truyền hình địa phương KAVU.

Tại sao lại lây lan?

Đối với Tiến sĩ Karan, một bữa tiệc sinh nhật tương tự như của gia đình Barbosa có thể có tất cả các yếu tố cho một sự kiện siêu lây lan.

“Bạn có thể tưởng tượng nếu bạn ở trong một bữa tiệc sinh nhật, có rất nhiều liên hệ gần gũi ở đó”, ông nói. “Cũng có người có thể xếp hàng để sử dụng nhà vệ sinh”, chen chúc nhau trong một hành lang nhỏ nơi không thể áp dụng giãn cách xã hội.

Khi mọi người ăn uống, nhiều vấn đề phát sinh. Đầu tiên, chắc chắn bạn sẽ không sử dụng khẩu trang khi ăn – điều này khiến lây lan dễ dàng hơn.

Thứ hai, nếu khách dự tiệc bắt đầu uống rượu, những quy tắc giãn cách xã hội cứng nhắc có thể sẽ được tôn trọng một cách lỏng lẻo hơn, hoặc bị bỏ qua hoàn toàn.

“Chúng tôi đang yêu cầu mọi người thay đổi hành vi của mình, chúng tôi yêu cầu mọi người làm những việc không tự nhiên với họ”, để giúp ngăn chặn sự lây lan, Tiến sĩ Karan nói. “Nếu bạn giới thiệu những thứ như rượu, nhiều xác suất là mọi người trở lại hành vi bình thường của họ, họ sẽ ít bị ức chế hơn nên họ có thể quên những gì phải để ý.”

Nhà hàng và quán bar, East Lansing, Michigan

Chuyện gì xảy ra?

Vào ngày 8/6, chủ sở hữu của Harper’s Restaurant and Brew Pub – một nhà hàng bên trong rộng gần 1.000m2 với chỗ ngồi ngoài trời lớn – đã mở cửa sau nhiều tuần đóng cửa vì Covid-19.

Các quản lý của nhà hàng có lớp đào tạo về an toàn, bàn ăn được đẩy cách nhau sáu feet và sức chứa chỉ giới hạn ở khoảng một nửa đám đông thông bình thường, cho phép khoảng 225 khách hàng.

Texas Governor Greg Abbott ordered bars to be closed by noon on June 26 and for restaurants to be reduced to 50% occupancyBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionRượu và giãn cách xã hội có lẽ không phải là một kết hợp tốt, Tiến sĩ Karan nói với BBC

Nhưng kể từ ngày 2/7, một báo cáo về 152 ca nhiễm trùng ở 13 quận trên khắp Michigan đã được gắn liền với Harper’s. Trong số các trường hợp này, 128 cho biết họ đã có mặt tại nhà hàng trong khoảng thời gian từ ngày 12/6 đến ngày 20/6 và phần còn lại thì có liên hệ chặt chẽ với những người đã đến nhà hàng này.

Tại sao lại lây lan?

Bước vào quán bar hoặc vào trong nhà hàng có thể đưa bạn vào một số lãnh thổ đầy rủi ro, Tiến sĩ Karan giải thích.

Tương tự như một bữa tiệc sinh nhật, thực phẩm có thể là một yếu tố.

“Khi thực khách ăn uống, họ sẽ không đeo mặt nạ, họ sẽ nhai và nói chuyện, và họ sẽ mặt đối mặt với nhau,” bác sĩ nói, khiến các giọt nhỏ truyền đi giữa khách.

Nếu nhạc phát ra quá lớn tại địa điểm đông người, khiến mọi người khó nói chuyện, nói to cũng sẽ gây ra một số rủi ro, “giống như một bữa tiệc trong tình trạng quá tải”, Tiến sĩ Karan nói.

Nhiệt độ cao đi kèm với mùa hè sẽ thêm một phức tạp nữa, ông nói.

“Có một số bằng chứng cho thấy máy điều hòa không khí có thể góp phần cho sự lây lan, có thể thổi những giọt nước dọc theo đường đi của máy điều hòa.”

Thêm vào đó việc sử dụng nhà vệ sinh công cộng, một số khu vực có điểm tiếp xúc cao như tay nắm ở cửa và bạn có tiềm năng sẵn sàng cho việc lây lan rộng.

“Tôi nghĩ rằng phòng ngừa rất quan trọng”, Tiến sĩ Karan nói. “Nhưng nói cho cùng thì, cho dù bạn có thực hiện bao nhiêu biện pháp phòng ngừa, một số điều tự nó có rủi ro cao và quán bar là một trong những điều đó.”

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.