Chính-Trị Thời-Sự

Điểm tin chiều 11/1: Giây phút máy bay chở 176 người nổ tung; Các nước lên tiếng sau khi Iran nhận bắn nhầm máy bay

Điểm tin chiều 11/1: Giây phút máy bay chở 176 người nổ tung; Các nước lên tiếng sau khi Iran nhận bắn nhầm máy bay

Điểm tin chiều 11/1: Giây phút máy bay chở 176 người nổ tung, Các nước lên tiếng sau khi Iran nhận bắn nhầm máy bay
Mục Điểm tin thế giới chiều thứ Bảy (11/1) của Đại Kỷ Nguyên xin gửi tới quý độc giả những tin sau:

Giây phút máy bay chở 176 người nổ tung

Video do CNN đăng tải, được quay gần sân bóng ở thị trấn Khajal Abad, phía tây nam của Tehran, cho thấy chiếc Boeing 737-800 chở 176 người lao xuống đất với tốc độ nhanh và nổ tung, khiến các mảnh vỡ văng khắp nơi.

ADVERTISING

Play Video

Trong video, một vụ nổ khổng lồ xảy ra sau khi chuyến bay số hiệu 752 của Hãng hàng không Quốc tế Ukraine (UIA) lao xuống đất sáng 8/1. Những mảnh vỡ kèm tia lửa văng khắp nơi. Toàn bộ người trên khoang đều thiệt mạng trong thảm họa này.

Các nước lên tiếng sau khi Iran nhận bắn nhầm máy bay

Canada mong Iran hợp tác đầy đủ, Kiev yêu cầu bồi thường còn Moskva hy vọng vụ bắn nhầm máy bay Ukraine sẽ là bài học cho Tehran, theo Reuters và AFP.

Thủ tướng Canada Justin Trudeau khẳng định Canada sẽ tiếp tục hợp tác với các đối tác trên thế giới nhằm bảo đảm một cuộc điều tra toàn diện. “Chúng tôi mong đợi sự hợp tác đầy đủ từ nhà chức trách Iran”, ông nói thêm.

Điểm tin chiều 11/1: Giây phút máy bay chở 176 người nổ tung, Các nước lên tiếng sau khi Iran nhận bắn nhầm máy bay
Thủ tướng Trudeau họp báo hôm 9/1 (ảnh: AFP).

Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky yêu cầu Iran tiến hành cuộc điều tra đầy đủ và cởi mở nhằm đưa những người chịu trách nhiệm ra trước công lý, kêu gọi Tehran hỗ trợ nhóm 45 chuyên gia điều tra của Kiev.

“Chúng tôi mong chờ Iran trao trả thi thể nạn nhân, bồi thường và gửi lời xin lỗi chính thức qua các kênh ngoại giao. Hy vọng cuộc điều tra sẽ tiếp diễn mà không gặp trở ngại”, Tổng thống Zelensky cho hay.

“Sự việc nên kết thúc nếu kết quả điều tra cho thấy quân đội Iran không cố tình bắn hạ máy bay. Hy vọng đây sẽ là bài học cho tất cả các bên”, chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Nga Konstantin Kosachev hôm nay (11/1) nói.

Chuyên gia Mỹ nói Iran ‘vô trách nhiệm’

Các chuyên gia hàng không cho rằng Iran vô trách nhiệm khi không đóng cửa không phận, dẫn tới vụ bắn nhầm máy bay Ukraine làm 176 người thiệt mạng, theo CNN.

“Bầu trời Iran khi đó rất nóng bỏng. Mọi người đều căng thẳng do trạng thái báo động cao, xen lẫn với lo lắng và rối loạn. Vậy mà họ vẫn mở cửa không phận, cho phép máy bay thương mại cất cánh rời sân bay ở thủ đô Tehran. Tôi nghĩ đó là sự vô trách nhiệm không thể tin được”, tướng James Marks, cựu sĩ quan tình báo lục quân Mỹ, nhận xét hôm nay.

David Soucie, cựu thanh tra Cơ quan Hàng không Liên bang Mỹ (FAA), tỏ ý đồng tình và cho rằng các phi công không biết mình đang bay vào vùng chiến sự. “Đó là hành động hoàn toàn vô trách nhiệm của nhà chức trách”, ông nói thêm.

Điểm tin chiều 11/1: Giây phút máy bay chở 176 người nổ tung, Các nước lên tiếng sau khi Iran nhận bắn nhầm máy bay
Hiện trường máy bay rơi ở ngoại ô thủ đô Tehran hôm 8/1 (ảnh: AFP).

Mỹ giết hụt chỉ huy đặc nhiệm Iran

Báo New York Times cho biết trong cùng ngày dùng máy bay không người lái tiêu diệt tướng Qassem Suleimani, quân đội Mỹ cũng đã không kích hụt một vị tướng khác của Iran ở Yemen.

Cuộc không kích thất bại này của quân đội Mỹ được triển khai tại Yemen và nhắm vào ông Abdul Reza Shahlai, một quan chức cũng thuộc lực lượng Quds của Iran. Báo Mỹ cho biết ông này là nhà quản lý tài chính chủ chốt cho các cuộc chiến tranh ủy nhiệm của Iran.

Điểm tin chiều 11/1: Giây phút máy bay chở 176 người nổ tung, Các nước lên tiếng sau khi Iran nhận bắn nhầm máy bay
Abdul Reza Shahlai (ảnh: Bộ Ngoại giao Mỹ).

Tiết lộ về cuộc tấn công hụt thứ hai từ các quan chức Mỹ cho thấy rõ hơn việc chính quyền ông Trump đã chủ trương nhằm vào một nhóm lớn hơn các chỉ huy của lực lượng quân sự và bán quân sự của Iran, không chỉ tướng Soleimani.

Mỹ áp thêm chế tài lên Iran sau vụ bắn tên lửa vào Iraq

Chính phủ Mỹ hôm thứ Sáu (10/1) đã áp thêm chế tài lên Iran để trả đũa việc Tehran bắn “hàng chục” tên lửa vào lực lượng Mỹ tại Iraq hôm 8/1. Washington cũng cam kết sẽ gia tăng bóp nghẹt nền kinh tế Iran nếu nước này tiếp tục các hành động “khủng bố” hoặc theo đuổi sở hữu bom hạt nhân, theo CNN.

Điểm tin chiều 11/1: Giây phút máy bay chở 176 người nổ tung, Các nước lên tiếng sau khi Iran nhận bắn nhầm máy bay
Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo (trái) và Bộ trưởng Tài chính Mỹ Steven Mnuchin tại cuộc họp báo ở Washington ngày 10/1 (ảnh: Reuters).

Các mục tiêu Iran bị Mỹ chế tài bổ sung gồm ngành sản xuất, khai khoáng, dệt may, cũng như các quan chức mà Washington nói rằng họ có liên quan tới vụ tấn công vào hai căn cứ quân sự Iraq có lính Mỹ đồn trú hôm 8/1.

Chế tài nhắm mục tiêu vào 8 quan chức cấp cao Iran, những người mà Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo cho biết họ chịu trách nhiệm cho các hành vi bạo lực của Tehran ở cả trong và ngoài nước.

Iran dựng mô hình tàu sân bay Mỹ để diễn tập tấn công

Các hình ảnh vệ tinh do công ty vệ tinh Planet Labs cung cấp hồi tuần qua cho thấy Iran dường như đã dựng mô hình của một tàu sân bay Mỹ lớp Nimitz nhằm phục vụ hoạt động diễn tập tấn công trên biển.

Trong bối cảnh nhóm tác chiến tàu sân bay Mỹ đang đậu ở vùng biển gần đó, Iran được cho đang chuẩn bị cho những kịch bản để nâng cao khả năng đối phó với khí tài Mỹ.

Điểm tin chiều 11/1: Giây phút máy bay chở 176 người nổ tung, Các nước lên tiếng sau khi Iran nhận bắn nhầm máy bay
Tàu sân bay mô hình của Iran chụp hồi đầu tháng (ảnh: Planet Labs).

Hãng tin Sputnik cho biết trước đó con tàu đã bị hỏng nặng, sau đó đã được quân đội Iran vá các chỗ bị hỏng, vỡ, rồi sơn lại và thậm chí đặt máy bay mô hình lên boong.

Bị yêu cầu rút quân, Mỹ và đồng minh vẫn kiên quyết ở lại Iraq

Mỹ tuyên bố vẫn nhất quyết ở lại Iraq, thậm chí còn muốn các nước đồng minh NATO tăng cường thêm sự hiện diện tại đây, theo VOV.

Sau những chỉ trích vi phạm nghiêm trọng chủ quyền quốc gia, Chính phủ Iraq đã chính thức yêu cầu Mỹ rút quân ra khỏi quốc gia Trung Đông này. Tuy nhiên, Mỹ tuyên bố vẫn nhất quyết ở lại, thậm chí Washington còn muốn các nước đồng minh thuộc Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây dương (NATO) tăng cường thêm sự hiện diện tại đây.

Điểm tin chiều 11/1: Giây phút máy bay chở 176 người nổ tung, Các nước lên tiếng sau khi Iran nhận bắn nhầm máy bay
Thủ tướng Iraq Adel Abdul Mahdi (ảnh: latimes).

Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết sẽ không có phái đoàn Mỹ nào đàm phán về việc rút quân khỏi Iraq vì sự hiện diện của quân đội Mỹ tại đây là hợp lý. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ Morga Ortagus cho hay, chính phủ Mỹ và Iraq cần đối thoại không chỉ về an ninh mà còn quan hệ đối tác tài chính, kinh tế và ngoại giao.

Mỹ không vội về giai đoạn 2 thỏa thuận thương mại với Trung Quốc

Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết ,giai đoạn 2 trong thỏa thuận thương mại với Trung Quốc có thể diễn ra sau bầu cử Tổng thống Mỹ vào tháng 11 năm nay, theo Reuters.

Tổng thống Trump cho biết: “Chúng tôi sẽ bắt đầu ngay việc đàm phán giai đoạn 2 và việc này sẽ mất thời gian một chút. Tôi hy vọng thấy được việc đàm phán giai đoạn 2 này sẽ kết thúc sau cuộc bầu cử Tổng thống bởi như vậy tôi nghĩ chúng tôi có thể sẽ có được một thỏa thuận tốt hơn, thậm chí là tốt hơn rất nhiều”.

Điểm tin chiều 11/1: Giây phút máy bay chở 176 người nổ tung, Các nước lên tiếng sau khi Iran nhận bắn nhầm máy bay
Tổng thống Mỹ Donald Trump (ảnh: Flipboard).

Australia: Hình thành đám cháy khổng lồ rộng gấp 8 lần diện tích Singapore

Tình hình cháy rừng tại Australia đang diễn biến xấu đi rất nhanh khi cháy rừng tại hai bang láng giềng là Victoria và New South Wales đã nhập vào thành một đám cháy vô cùng cùng lớn với diện tích khoảng 600.000 ha, gấp 8 lần diện tích Singapore. Chỉ tính riêng tại bang New South Wales, trong đêm 10/1,có tới 2.500 lính cứu hỏa tiếp tục chiến đấu với 147 đám cháy, theo VOV.

Vào lúc này, cháy rừng đang hoành hành cùng lúc tại 4 bang của Australia là New South Wales, Victoria, Nam Australia, Tây Australia và chưa có dấu hiệu giảm bớt.

Điểm tin chiều 11/1: Giây phút máy bay chở 176 người nổ tung, Các nước lên tiếng sau khi Iran nhận bắn nhầm máy bay
Cháy rừng ở Australia (ảnh: Today online).
Điểm tin chiều 11/1: Giây phút máy bay chở 176 người nổ tung, Các nước lên tiếng sau khi Iran nhận bắn nhầm máy bay
Những khu vực bị cháy rừng ở Australia (ảnh: myfirewwatch).

Tổng thống Mỹ chúc mừng sinh nhật nhà lãnh đạo Triều Tiên

Tổng thống Mỹ Donald Trump đã gửi một thông điệp chúc mừng sinh nhật tới nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un, theo CNN.

Cố vấn an ninh quốc gia Hàn Quốc Chung Eui-Yong hôm 10/1 cho biết ông gặp Tổng thống Trump tại thủ đô Washington vào tuần này.

“Ngày chúng tôi gặp nhau là sinh nhật của Chủ tịch Kim Jong-un. Tổng thống Trump nhớ dịp đó và nhờ tôi gửi thông điệp chúc mừng sinh nhật”, ông Chung nói với Reuters khi trở về Hàn Quốc.

Điểm tin chiều 11/1: Giây phút máy bay chở 176 người nổ tung, Các nước lên tiếng sau khi Iran nhận bắn nhầm máy bay
Chủ tịch Triều Tiên Kim Jong-un (trái) và Tổng thống Mỹ Donald Trump tại Hà Nội vào tháng 3/2019 (ảnh: Reuters)

Trung Quốc thông báo người đầu tiên chết vì virus lạ

Cơ quan y tế TP Vũ Hán, miền trung Trung Quốc, hôm nay vừa báo cáo trường hợp đầu tiên chết vì coronavirus mới.

Điểm tin chiều 11/1: Giây phút máy bay chở 176 người nổ tung, Các nước lên tiếng sau khi Iran nhận bắn nhầm máy bay
Nhiều nước đang tăng cường kiểm tra thân nhiệt của hành khách đi máy bay vì sợ nguy cơ dịch bệnh mới lan từ Trung Quốc (ảnh: AP).

Hãng tin AP cho biết, cơ quan này cũng cho biết 7 bệnh nhân đang trong tình trạng khẩn cấp.

Tính đến ngày 10/1, tổng số 41 người ở Vũ Hán bị viêm phổi, “ban đầu được xác định do chủng coronavirus mới”, thấp hơn số liệu ban đầu đưa ra là 59 người. Ngoài những bệnh nhân bị nặng, sức khoẻ của những người khác đang ổn định và ít nhất 2 người đã được xuất viện.

Người Trung Quốc bị xem là mất lịch sự nhất tại các sân bay Philippines

Công dân Trung Quốc chiếm số lượng lớn trong số người nước ngoài bị cấm nhập cư vì có hành vi khiếm nhã tại các sân bay ở Philippines, theo thống kê mới nhất của Cục Nhập cư (BI) nước này.

Điểm tin chiều 11/1: Giây phút máy bay chở 176 người nổ tung, Các nước lên tiếng sau khi Iran nhận bắn nhầm máy bay
Giới chức Philippines trục xuất 63 người Trung Quốc mất lịch sự trong năm 2019 (ảnh chụp màn hình/Pna.gov.ph).

Cục trưởng BI Jaime Morente cho hay giới chức nhập cư đã cấm 180 người nước ngoài có hành vi khiếm nhã vào Philippines trong năm 2019, cao hơn 47% so với 133 người bị từ chối năm 2018, theo tờ The Philippine Star hôm qua.

Hồ sơ từ BI cho thấy trong số người nước ngoài thô lỗ nói trên có 63 người Trung Quốc , 23 người Hàn Quốc, 10 người Mỹ , 9 người Nhật, 8 người Úc và 5 người Anh.

BI cũng đã không cho nhập cảnh 4 công dân đến từ mỗi nước Việt Nam, Malaysia, Singapore, New Zealand và Ả Rập Xê Út.

Xem thêm:

 SỰ THẬT

  • Play Video

    Vinh danh một nửa thế giới: Thầy thuốc ưu tú Nguyễn Thị Vệ, người lo trước cái lo của người khác

 CÂU CHUYỆN

  • Play Video

    Câu chuyện 9 đôi giày của ông Vương

  • Play Video

    “Các giáo viên và học sinh rất xúc động bởi những gì tôi chia sẻ”. Chuyện kể của người phụ nữ Đức chuyên ngành nghệ thuật và điêu khắc.

EMAGAZINE

  • Đi tìm lời giải ‘nụ cười bí ẩn’ trong bức họa nổi tiếng ‘Mona Lisa’ của Leonardo Da Vinci

    Đi tìm lời giải ‘nụ cười bí ẩn’ trong bức họa nổi tiếng ‘Mona Lisa’ của Leonardo Da Vinci

  • Chặng đường đến thành công đầy rẫy chông gai của một doanh nhân Úc

    Chặng đường đến thành công đầy rẫy chông gai của một doanh nhân Úc

  • Hồng trần ba nghìn việc, hãy cứ ung dung nở một nụ cười

    Hồng trần ba nghìn việc, hãy cứ ung dung nở một nụ cười

  • Dự ngôn bí ẩn: Con chim lông trắng báo hiệu vận mệnh Trung Quốc và Tập Cận Bình

    Dự ngôn bí ẩn: Con chim lông trắng báo hiệu vận mệnh Trung Quốc và Tập Cận Bình

  • Cây khế vườn xưa – Chứng nhân của hai câu chuyện tình buồn

    Cây khế vườn xưa – Chứng nhân của hai câu chuyện tình buồn

  • Xe buýt hai tầng cũ kỹ ‘lui về ở ẩn’ trong rừng, hóa thành căn hộ đẹp như mơ

    Xe buýt hai tầng cũ kỹ ‘lui về ở ẩn’ trong rừng, hóa thành căn hộ đẹp như mơ

  • Kiên nhẫn chờ đợi – Triết lý sống hạnh phúc từ ly trà chanh

    Kiên nhẫn chờ đợi – Triết lý sống hạnh phúc từ ly trà chanh

  • Làm sao để nuôi dưỡng trí tuệ cảm xúc cao cho trẻ?

    Làm sao để nuôi dưỡng trí tuệ cảm xúc cao cho trẻ?

  • Cha hy sinh khi chữa cháy rừng, con gái quấn quýt quan tài ông trong đám tang

    Cha hy sinh khi chữa cháy rừng, con gái quấn quýt quan tài ông trong đám tang

  • Bạn gieo vào lòng con trẻ thứ gì, sẽ nhận lại được thứ ấy…

    Bạn gieo vào lòng con trẻ thứ gì, sẽ nhận lại được thứ ấy…

  • Xã hội cần lắm những giáo viên đồng cảm

    Xã hội cần lắm những giáo viên đồng cảm

  • Một chữ Nhẫn có thể dưỡng thân tâm, hãy học Nhẫn để đời này sung túc

    Một chữ Nhẫn có thể dưỡng thân tâm, hãy học Nhẫn để đời này sung túc

  • Huấn luyện viên thể hình: Tôi đã từng là một “anh đại” trong đời

    Huấn luyện viên thể hình: Tôi đã từng là một “anh đại” trong đời

  • Nghiên cứu phát hiện: Làm việc tốt giúp giảm đau hiệu quả

    Nghiên cứu phát hiện: Làm việc tốt giúp giảm đau hiệu quả

Xem Thêm

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Nhìn lại diễn biến tình hình thế giới năm 2019 và xu hướng trong năm 2020

Nhìn lại diễn biến tình hình thế giới năm 2019 và xu hướng trong năm 2020

Năm 2019 kết thúc với những xung đột lớn chưa ngã ngũ: thương chiến Mỹ – Trung tạm lắng xuống, các cuộc biểu tình ở Hong Kong chưa chấm dứt, Biển Đông vẫn có những diễn biến phức tạp, diễn biến căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên rơi vào bế tắc… Điều này đã tác động trực tiếp đến xu hướng tình hình khu vực và thế giới trong năm 2020.

Năm 2019 đầy biến động và căng thẳng

Đầu tiên, cuộc chiến Mỹ – Trung leo thang, chưa có hồi kết. Năm 2019, Mỹ đã gia tăng các đòn thuế quan đối với hàng hóa Trung Quốc để đáp trả điều mà Washington xem là thương mại không bằng không tôn trọng bảo hộ sở hữu trí tuệ. Chiến tranh thương mại Mỹ – Trung đã tác động mạnh tới châu Á, làm thay đổi lại hàng loạt chuỗi cung ứng và phân phối lại các tuyến vận tải. Các công ty tìm cách chuyển dây chuyền sản xuất hoặc chuỗi cung ứng ra khỏi Trung Quốc trong bối cảnh chi phí tăng cao do cuộc chiến thương mại. Washington cũng tìm cách chặn đứng hành vi lâu nay của các doanh nghiệp Trung Quốc về việc vận chuyển các hàng hóa gắn sai mác xuất xứ. Sự kết hợp của việc thay đổi chuỗi cung ứng, vốn xảy ra do căng thẳng thương mại và đòn thuế quan, được dự báo sẽ giúp tăng cường năng lực sản xuất trong khu vực.

Không những vậy, cuộc chiến công nghệ giữa Mỹ và Trung Quốc, hai nền kinh tế lớn nhất thế giới, đã tràn tới châu Á, khi Washington liên tục gây sức ép lên các đối tác nhằm buộc họ phải đi theo Mỹ trong việc liệt các công ty viễn thông Trung Quốc vào danh sách đen. Lý do mà Mỹ đưa ra là những lo ngại về rủi ro liên quan tới an ninh quốc gia và gián điệp. Hồi tháng 4, Nhật Bản đã chỉ định các công ty viễn thông của nước này tham gia vào việc phát triển mạng lưới 5G, đồng thời yêu cầu các công ty này phải thực thi các biện pháp về an ninh mạng để ngăn họ sử dụng các thiết bị do các công ty viễn thông của Trung Quốc như Huawei hay ZTE sản xuất. Tuy vậy, ở những nơi khác, nỗ lực của Mỹ trong việc ngăn chặn sự lan rộng của công nghệ Trung Quốc dường như không đạt được nhiều kết quả. Hàn Quốc, đồng minh then chốt của Mỹ ở Đông Á, trở thành quốc gia đầu tiên trong khu vực phủ sóng 5G trên toàn quốc khi khởi động các dịch vụ viễn thông vào tháng 4 bằng việc sử dụng các thiết bị của Huawei, bao gồm cả các trạm phát và máy phát. Hồi tháng 6, Philippines trở thành quốc gia Đông Nam Á đầu tiên sở hữu mạng lưới 5G sau khi nhà mạng viễn thông Globe Telecom của nước này vận hành mạng lưới 5G với công nghệ của Huawei. Trong năm 2019, Singapore, Malaysia, Indonesia và Thái Lan đều đã thử nghiệm các dịch vụ 5G với công nghệ của Huawei.

Thứ hai, Nhật Bản và Hàn Quốc “sứt mẻ” quan hệ. Mối quan hệ giữa hai “ông lớn” châu Á là Nhật Bản và Hàn Quốc từ lâu vẫn tồn tại những âm ỉ do các vấn đề lịch sử nhưng đã bùng phát căng thẳng trong năm qua do các mâu thuẫn về thương mại. Căng thẳng bắt đầu từ việc Tokyo hạn chế xuất khẩu sang Hàn Quốc ba nguyên liệu dùng để sản xuất chip và màn hình – hai sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Hàn Quốc – với cáo buộc Seoul để các nguyên liệu này lọt vào Triều Tiên giúp nước này chế tạo vũ khí. Hai bên liên tiếp có các biện pháp đáp trả lẫn nhau, khiến cả hai nền kinh tế lớn của châu Á đều bị tác động mạnh. Căng thẳng từ thương mại đã nhanh chóng lan sang các lĩnh vực khác như chính trị, an ninh quốc phòng, văn hóa, du lịch… Đỉnh điểm, chính phủ Nhật Bản đã loại Hàn Quốc khỏi danh sách các nước được hưởng ưu đãi về thủ tục nhập khẩu. Các biện pháp “ăn miếng trả miếng” của hai bên đã khiến các sản phẩm xuất khẩu của hai nước sang nhau giảm mạnh và lượng khách du lịch qua lại hai bên cũng tụt dốc. Một tín hiệu khả quan đã đến vào dịp cuối năm tại thượng đỉnh 3 nước Trung Quốc – Hàn Quốc và Nhật Bản diễn ra ở Thành Đô (Trung Quốc) khi Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe và Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-In có cuộc gặp song phương và nhất trí thúc đẩy các nỗ lực nhằm cải thiện quan hệ sau một giai đoạn khó khăn giữa hai nước. Mâu thuẫn giữa nền kinh tế lớn thứ 2 và thứ 4 châu Á – và cũng là hai đồng minh thân cận của Mỹ trong khu vực – đã khiến Washington rơi vào tình thế “khó xử”. Mỹ đã nỗ lực hàn gắn hai bên trong bối cảnh Washington luôn coi hợp tác với Seoul và Tokyo có vai trò rất quan trọng trong nỗ lực ứng phó với các vấn đề khu vực.

Thứ ba, tiến trình đàm phán phi hạt nhân hóa Triều Tiên rơi vào bế tắc. Sau những thành công bước đầu khi trở thành Tổng thống Mỹ đương nhiệm đầu tiên gặp một nhà lãnh đạo Triều Tiên, nỗ lực của Tổng thống Donald Trump trong việc thuyết phục Bình Nhưỡng từ bỏ chương trình vũ khí hạt nhân không đạt được nhiều tiến triển trong năm nay. Mỹ không thể duy trì động lực mà nước này có được với Triều Tiên sau cuộc gặp thượng đỉnh đầu tiên giữa Tổng thống Donald Trump và nhà lãnh đạo Kim Jong-un tại Singapore vào năm 2018. Cuộc gặp thứ hai của hai nhà lãnh đạo tại Hà Nội hồi tháng 2 năm nay không đạt được thỏa thuận nào về vấn đề phi hạt nhân hóa. Sau nhiều tháng rơi vào bế tắc, Triều Tiên tháng này tuyên bố đã tiến hành 2 cuộc thử nghiệm tại bãi phóng tên lửa Sohae. Động thái này làm dấy lên đồn đoán rằng, Bình Nhưỡng đang chuẩn bị động cơ mới cho tên lửa đạn đạo liên lục địa trong tương lai. Sau khi Triều Tiên đặt ra hạn chót cuối năm cho Mỹ để đưa ra một thỏa thuận phi hạt nhân hóa mới, nếu không Washington có thể sẽ phải nhận một “món quà Giáng sinh” từ Bình Nhưỡng, năm 2019 kết thúc bằng một “nốt trầm” ảm đạm cho triển vọng phi hạt nhân hóa Triều Tiên.

Thứ tư, căng thẳng trong quan hệ Trung Quốc – Đài Loan. “Cạnh tranh” ngoại giao giữa Trung Quốc và Đài Loan làm nóng khu vực Thái Bình Dương trong năm 2019. Đài Loan đã mất đi hai trong số những đồng minh ít ỏi còn lại trên thế giới, trong bối cảnh các quốc đảo Thái Bình Dương ngày càng xích lại gần Trung Quốc và ủng hộ chính sách của Bắc Kinh, trong đó coi Đài Loan là một phần lãnh thổ không thể tách rời. Solomon, đồng minh lâu năm của Đài Loan, đã “quay lưng” với hòn đảo hồi tháng 9 sau khi nhận thấy những lợi ích kinh tế từ các thỏa thuận đầu tư trong khuôn khổ sáng kiến Vành đai và Con đường của Trung Quốc. Sau Solomon, Kiribati cũng rời bỏ Đài Loan và chuyển sang quan hệ ngoại giao với Trung Quốc đại lục. Điều này đồng nghĩa với việc chỉ còn 4 nước ở Thái Bình Dương, gồm Nauru, Palau, Tuvalu và quần đảo Marshall vẫn duy trì quan hệ với Đài Loan. Trong khi đó, Mỹ cũng tăng cường nỗ lực để thắt chặt quan hệ với 3 quốc đảo Thái Bình Dương mà nước này vẫn duy trì thỏa thuận quốc phòng. Điều này cho phép Washington có khả năng tiếp cận quân sự độc quyền với các vùng biển của Palau, Marshall và Micronesia. Tổng thống Donld Trump hồi tháng 5 đã đón lãnh đạo của 3 nước trên tại Nhà Trắng. Trong khi đó, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cũng trải thảm đỏ đón Tổng thống Micronesia David Panuelo tại Bắc Kinh hồi tháng 12. Ông Panuelo được cho là đã ký các thỏa thuận trị giá 70 triệu USD để tăng cường quan hệ kinh tế của Micronesia với Trung Quốc, trong cuộc chiến tranh giành tầm ảnh hưởng tại Thái Bình Dương.

Thứ năm, Mỹ thúc đẩy chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Tháng 11/2017, tại hội nghị thượng đỉnh APEC ở Đà Nẵng, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã đưa ra chiến lược “Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở”, được cho là nhằm củng cố vị thế của Washington tại một khu vực địa chiến lược trọng yếu và ngăn chặn sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc. Chiến lược của chính quyền Trump được thực hiện rộng khắp trên các “mặt trận”, từ kinh tế, chính trị, đến công nghệ, quốc phòng và an ninh. Một mặt, chiến lược nhằm củng cố vai trò lãnh đạo của Mỹ tại khu vực, mặt khác kiềm chế các nước thách thức vị thế của Mỹ, đặc biệt là Trung Quốc. Chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương rõ ràng cho thấy Mỹ không thể ngồi yên khi Trung Quốc tăng cường sức mạnh mềm khắp thế giới thông qua sáng kiến “Vành đai và Con đường”. Đúng 2 năm sau khi khai sinh tầm nhìn Ấn Độ-Thái Bình Dương tự do và rộng mở, vào tháng 11/2019, Mỹ đã công bố báo cáo về việc thực hiện chiến lược này: “Chính phủ Mỹ đã tiến hành nhiều bước đi nhằm hiện thực hóa ưu tiên của Tổng thống Trump đối với khu vực. Kể từ khi ông Trump lên nắm quyền, Bộ Ngoại giao và Cơ quan phát triển quốc tế Mỹ (USAID) đã cung cấp hơn 4,5 tỷ viện trợ nước ngoài đối với khu vực. Trong 3 năm đầu của chính quyền Trump, Mỹ đã tăng 25% viện trợ cho khu vực so với 3 năm đầu của chính quyền tiền nhiệm, cho thấy sự chuyển dịch đáng kể của các nguồn lực đối với Ấn Độ-Thái Bình Dương. Đó là chưa kể hàng trăm tỷ USD tài chính phát triển, các khoản đầu tư của các công ty Mỹ và các nguồn khác”. Việc thúc đẩy một Biển Đông tự do và rộng mở là một trọng tâm trong chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của chính quyền Trump nhằm chống các tuyên bố chủ quyền đơn phương của Bắc Kinh đối với hầu hết vùng biển chiến lược này. Kể từ năm 2017, hải quân Mỹ đã gia tăng các cuộc tuần tra bảo vệ quyền tự do hàng hải ở Biển Đông, thường xuyên điều tàu áp sát các đảo nhân tạo mà Bắc Kinh bồi đắp trái phép, gia tăng tập trận với các đồng minh trong khu vực, thúc đẩy hợp tác theo cơ chế “bộ tứ” với Nhật Bản, Ấn Độ và Australia. Mỹ cũng gia tăng các chỉ trích công khai các hành động bành trướng của Trung Quốc tại các diễn đàn đa phương như tại Đối thoại Shangri-La, các hội nghị cấp cao khu vực…

Thứ sáu, cuộc điều trần luận tội Tổng thống Mỹ. Cuộc điều tra luận tội Tổng thống Donald Trump bắt đầu hồi tháng 9 sau khi thông tin về cuộc điện đàm gây tranh cãi giữa ông và người đồng cấp Ukraine Volodymyr Zelensky bị rò rỉ, trong đó ông bị cáo buộc đã gây sức ép với chính phủ Ukraine điều tra cha con ứng cử viên tổng thống đảng Dân chủ Joe Biden để giành lợi thế chính trị trước cuộc bầu cử 2020. Hạ viện Mỹ do đảng Dân chủ kiểm soát ngày 18/12 đã bỏ phiếu thông qua 2 điều khoản luận tội Tổng thống Donald Trump gồm: lạm dụng quyền lực và cản trở quốc hội. Ông Trump là tổng thống thứ 3 trong lịch sử Mỹ bị luận tội, sau cố Tổng thống Andrew Johnson và cựu Tổng thống Bill Clinton. Hạ viện dự kiến sẽ trình bản luận tội đối với ông Trump lên Thượng viện để xem xét trước khi phiên xét xử ông diễn ra. Nếu 2/3 trong số 100 thành viên của Thượng viện ủng hộ các điều khoản luận tội, ông Trump sẽ bị phế truất khỏi ghế tổng thống. Tuy nhiên, viễn cảnh này được cho là khó xảy ra do đảng Cộng hòa của ông Trump hiện đang kiểm soát Thượng viện.

Thứ bảy, Nga tiếp tục bị cô lập. Quan hệ giữa Nga và phương Tây cơ bản vẫn chưa được cải thiện trong năm qua, thậm chí còn căng thẳng và phức tạp hơn bao giờ hết. Các hợp tác dân sự và quân sự giữa Nga và NATO vẫn trong tình trạng đóng băng kể từ khi Nga sáp nhập bán đảo Crimea năm 2014 và ủng hộ phe đòi độc lập ở miền đông Ukraine. Để “đề phòng mối đe dọa từ Nga”, NATO đã tăng cường sự răn đe và thế phòng thủ ở phía đông, với việc triển khai hơn 4.000 quân tại Ba Lan và các quốc gia vùng Baltic sát biên giới là Estonia, Latvia and Lithuania, song song với việc đặt các hệ thống phòng thủ tên lửa tại Romania và Ba Lan. Cũng trong năm 2019, Mỹ và Nga đều đồng loạt rút khỏi hiệp ước Hiệp ước Lực lượng hạt nhân tầm trung (INF), khiến thế giới lo ngại về một cuộc đua vũ trang tiềm tàng giữa hai nước. Đến cuối năm, chuyến thăm Mỹ đầu tiên của Ngoại trưởng Nga Sergey Lavrov kể từ năm 2017 và cuộc gặp đầu tiên giữa Tổng thống Nga Vladimir Putin và Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky tại Paris bàn về tình hình miền đông Ukraine, với sự tham gia của các nhà lãnh đạo Đức và Pháp, đã làm dấy lên hy vọng về viễn cảnh tan băng trong quan hệ giữa Nga và phương Tây. Trong bối cảnh tiếp tục bị phương Tây cô lập, Nga đã đẩy mạnh chính sách hướng Đông, đặc biệt chú trọng quan hệ với Trung Quốc, Ấn Độ, ASEAN, thông qua các diễn đàn mà Nga đóng vai trò lãnh đạo hoặc chủ chốt như Nhóm các nền kinh tế mới nổi hàng đầu thế giới (BRICS), Diễn đàn Kinh tế phương Đông tại Vladivostok, Liên minh Kinh tế Á – Âu (EAEU), Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO). Tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, tầm với của Nga đã ngày càng được mở rộng với sự gia tăng của các thỏa thuận thương mại, hợp đồng vũ khí và các cuộc diễn tập quân sự. Trong năm 2019, Tổng thống Nga Putin lần đầu chào đón các nhà lãnh đạo Triều Tiên và Philippines tới thăm. Giới phân tích cho rằng, mặc dù chính sách hướng Đông của Nga không phải mới, nhưng trong bối cảnh quan hệ Nga-phương Tây đóng băng, Moscow chắc chắn sẽ xoay trục về phương Tây ngày càng mạnh mẽ hơn.

Thứ tám, nguy cơ xung đột tại Iran. Căng thẳng giữa Mỹ và Iran năm 2019 đã suýt leo thang thành xung đột quân sự, khi Tổng thống Donald Trump tiết lộ rằng chính ông đã hủy lệnh không kích các mục tiêu tại Iran chỉ 10 phút trước khi khai hỏa, sau khi một máy bay trinh sát không người lái trị giá khoảng 200 triệu USD của Mỹ bị tên lửa phòng không Iran bắn hạ gần eo biển Hormuz. Kể từ khi Mỹ rút khỏi thỏa thuận hạt nhân Iran vào năm 2018 và tái áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với Cộng hòa Hồi giáo, mối quan hệ giữa hai nước không ngừng leo thang căng thẳng. Washington đã cáo buộc Tehran tấn công các tàu chở dầu trên vịnh Oman, tấn công 2 nhà máy lọc dầu tại Ả-rập Xê-út. Đáp trả, Washington đã điều thêm quân và các khí tài như tàu sân bay, máy bay chiến đấu hiện đại F-22 tới khu vực để răn đe Iran, trong khi Tehran đáp trả bằng việc làm giàu uranium trở lại, phát triển các loại vũ khí mới. Giới phân tích cho rằng quan hệ Mỹ – Iran đang ở giai đoạn rất nhạy cảm và chỉ cần một động thái bị cho là khiêu khích ở bất kỳ phía nào thì các căng thẳng có thể bùng phát thành đối đầu quân sự tại một trong những khu vực nóng bỏng nhất thế giới.

Thứ chín, biểu tình kéo dài tại Hong Kong. Các cuộc biểu tình tại Hong Kong đã nổ ra hồi tháng 6, bắt đầu là nhằm phản đối dự luật dẫn độ gây tranh cãi, cho phép Hong Kong dẫn độ nghi phạm tới những nơi chưa ký hiệp ước dẫn độ, bao gồm Trung Quốc đại lục. Những người biểu tình lo ngại rằng dự luật làm suy yếu nguyên tắc “một quốc gia, hai chế độ” mà đặc khu hành chính này được hưởng và điều đó sẽ làm ảnh hưởng tới các quyền lợi của họ. Mặc dù dự luật đã bị hủy bỏ vĩnh viễn, nhưng các cuộc xuống đường vẫn tiếp diễn và mở rộng ra làn sóng biểu tình ủng hộ các quyền tự do và phản đối cảnh sát. Căng thẳng tại Hong Kong chỉ tạm lắng xuống sau cuộc bầu cử hội đồng quận, trong đó phe đối lập giành chiến thắng áp đảo. Kết quả này được xem là một thông điệp rõ ràng của cử tri nhằm gửi tiếng nói tới chính quyền vốn được Bắc Kinh hậu thuẫn, sau các cuộc biểu tình phản đối chính quyền kéo dài suốt 6 tháng qua. Sau cuộc bầu cử, Trưởng đặc khu hành chính Hong Kong Carrie Lam cho hay chính quyền của bà tôn trọng kết quả bầu cử và cam kết lắng nghe tiếng nói của người dân.

Xu hướng trong năm 2020

Trong năm 2020, diễn biến tình hình khu vực và thế giới chịu ảnh hưởng và tác động nhiều vào kết quả cuộc bầu cử Mỹ năm 2020. Theo đó, kết quả bầu cử Mỹ năm 2020 sẽ có tác động, ảnh hưởng lớn đối với diễn biến tình hình khu vực và thế giới. Chính sách kinh tế – thương mại, đối ngoại và nhập cư của ông Trump đã gây xáo trộn lớn cho cục diện quốc tế, đơn cử là màn thương chiến với Trung Quốc, việc rút Mỹ khỏi các tổ chức quốc tế (thỏa thuận hạt nhân Iran, Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương – TPP), các đợt áp thuế lên đồng minh, đối tác, thái độ với Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương NATO… Không những vậy, tháng 1/2020 là lúc Mỹ và Trung Quốc ký thỏa thuận “giai đoạn 1” để giải quyết mâu thuẫn, nhưng việc có “giai đoạn 2” hay một thỏa thuận tổng thể hay không tất nhiên sẽ tùy thuộc vào chuyện ông Trump còn làm tổng thống tiếp tục hay không. Một “mặt trận” khác chịu ảnh hưởng không nhỏ từ căng thẳng thương mại Mỹ – Trung là số phận của Huawei và nền tảng 5G, hay nói chung là một cuộc chạy đua công nghệ mang dáng dấp địa chính trị của năm 2020.

Ngoài ra, cuộc bầu cử Mỹ tiếp tục thể hiện sức ảnh hưởng lên tình hình Trung Đông, một trong những điểm nóng địa chính trị quốc tế và là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của ông Trump. Cách Mỹ xử lý mối quan hệ với Thổ Nhĩ Kỳ tại Syria, với Iran, là nhân tố tác động lớn lên chính những gì Washington và đồng minh châu Âu phải đối diện. Châu Âu đã trải qua giai đoạn đầy biến cố với sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân túy, dân tộc cực đoan, và thực trạng này có phần đóng góp không nhỏ từ cuộc khủng hoảng Syria cũng như Trung Đông nói chung.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Khmer Đỏ: Ai từng trợ giúp phe kháng chiến Pol Pot?

Khmer Đỏ: Ai từng trợ giúp phe kháng chiến Pol Pot?

Khmer ĐỏBản quyền hình ảnhKRAIPIT PHANVUT
Image captionKhieu Samphan (giữa), Phó Chủ tịch Chính quyền Liên minh của Kampuchea Dân chủ và Ieng Sary (phải), Bộ trưởng Ngoại giao, ăn mặc đẹp để ra đón phái đoàn Trung Quốc ở căn cứ Dong Rek của Khmer Đỏ năm 1985. Ieng Sary, tên là Kim Trang, sinh ra ở Châu Thành, Trà Vinh trong gia đình cha là người Khmer, mẹ người Việt gốc Hoa

Vụ xử cựu chủ tịch nước Khieu Samphan và phó TBT đảng cộng sản Nuon Chea nhắc lại vai trò của các nước hỗ trợ cho chế độ Khmer Đỏ.

BBC News 16/11/2018:

“Trong bốn năm Khmer Đỏ thống trị Campuchia, họ đã gây ra nạn giết người hàng loạt thuộc hàng kinh khủng nhất của thế kỷ 20.

Chế độ tàn bạo này, cầm quyền từ 1975-1979, gây ra cái chết của gần 2 triệu người.

Đường dẫn tới Cuộc chiến Đông Dương lần Ba

TQ viện trợ xe bọc thép cho Campuchia

Người gốc Việt nhận thẻ thường trú Campuchia

Dưới sự lãnh đạo của nhà Marxist Pol Pot, quân Khmer Đỏ nỗ lực đưa Campuchia trở lại thời Trung Cổ, buộc hàng triệu người phải bỏ thành thị về sống trong các công xã nông thôn.

Chương trình cải tạo xã hội gây ra hậu quả thảm khốc. Nhiều gia đình chết cả nhà vì bị hành hình, đói, bệnh hoặc lao lực.”

Vai trò các cường quốc và láng giềng

ĐặngBản quyền hình ảnhCONSOLIDATED NEWS PICTURES
Image captionĐặng Tiểu Bình và Jimmy Carter

Trung Quốc thời Hoa Quốc Phong và Đặng Tiểu Bình là nước bảo trợ chính cho Khmer Đỏ, nhưng Hoa Kỳ là nước cổ vũ chính cho Trung Quốc.

Washington đã dính líu vào Campuchia từ khi Henry Kissinger làm Cố vấn an ninh Quốc gia và Ngoại trưởng thời hai tổng thống Richard Nixon và Gerard Ford.

Tom Fawthrop, đồng tác giả với Helen Jarvis trong cuốn “Getting Away with Genocide? Elusive Justice and the Khmer Rouge Tribunal” nói về các trận ném bom rải thảm của Mỹ ở Cambodia, “giết chết 250 nghìn dân”, và đây là điều làm dậy lên các cáo buộc đòi đưa cố vấn an ninh Henry Kissinger của Hoa Kỳ ra tòa án quốc tế.

Sau Cuộc chiến Việt Nam, Hoa Kỳ theo đuổi chiến lược của Zbigniew Brzezinski ủng hộ Trung Quốc để chia rẽ khối cộng sản và bao vây Liên Xô, và trừng phạt Hà Nội, đồng minh của Moscow tại châu Á.

Nước Anh trong thời gian bà Margaret Thatcher cầm quyền cũng từng hỗ trợ tích cực cho lực lượng liên minh do Khmer Đỏ chỉ huy trong thời gian 1985-1989.

Và một quốc gia nữa là Bắc Triều Tiên, nơi luôn nhiệt thành ủng hộ lực lượng chống Phnom Penh và Hà Nội trong cuộc nội chiến Campuchia.

Ngoài ra, không thể không nhắc tới Thái Lan, quốc gia láng giềng từng một thời để các nhóm quân Pol Pot ẩn náu và làm căn cứ kháng chiến chống lại chính quyền Phnom Penh.

Vai trò của Hoa Kỳ

Sau khi chế độ Khmer Đỏ lên nắm quyền, Hoa Kỳ thời Ronald Reagan tiếp tục ủng hộ Trung Quốc trong chính sách giúp Phnom Penh.

Dư luận Mỹ ngày càng thấy bất bình.

Năm 1981, trên tờ New York Times đã có thư ngỏ của giới vận động yêu cầu Tổng thống Ronald Reagan ngưng hỗ trợ chế độ Pol Pot.

Bài “Reagan Is Urged to End U.N. Support of Pol Pot” viết:

“Sự hỗ trợ về ngoại giao của Hoa Kỳ cho chế độ Pol Pot, mang tên ‘Kampuchea Dân chủ’, bên cạnh việc các nước khác bán vũ khí cho lực lượng du kích khủng bố (terrorist guerrilla forces) của Pol Pot, chỉ kéo dài sự đau khổ của Campuchia, và khiến việc phục hồi còn non yếu của nước này bị nguy hại, và gây nguy cơ chiến tranh lan rộng.”

‘Chúng tôi thấy bất bình rằng đã năm thứ ba liên tiếp, Hoa Kỳ bỏ phiếu duy trì Kampuchea Dân chủ của Pol Pot ở Liên Hiệp Quốc.”

Trong số những người ký thư có các dân biểu Hạ viện như Ronald V. Dellums (California), Robert W. Edgar (Pennsylvania), Patricia Schroeder (Colorado), Paul Simon (Illinios), Tom Harkin (Iowa).

Ta MokBản quyền hình ảnhAFP
Image captionTa Mok hay Anh Năm, một lãnh đạo quân sự của Khmer Đỏ, người còn được gọi là Đồ tể

Ngoài ra, ông Emory C. Swank, cựu đại sứ Hoa Kỳ tại Campuchia (1970-1973); diễn viên Jane Fonda, diễn viên Edward Asner, ca sỹ Joan Baez, cựu chủ tịch Peace Corps Richard Celeste, và một số tác giả, nhà báo cũng ký tên.

Nhưng phải đến năm 1993 Khmer Đỏ mới mất ghế đại diện cho Campuchia ở LHQ.

Bàn tay Trung Quốc

Chương trình trợ giúp của Bắc Kinh cho lực lượng Khmer Đỏ ngay từ khi Pol Pot lên nắm quyền đã được nhiều nguồn tài liệu khai thác.

Nhưng sau năm 1979, khi Việt Nam đem quân sang lật đổ chế độ này, Hoa Kỳ tiếp tục hỗ trợ Pol Pot thông qua Trung Quốc.

Theo nhà báo Elizabeth Becker, Cố vấn An ninh Quốc gia Zbigniew Brzezinski rất tự hào về chiến lược khuyến khích Thái Lan hợp tác với Trung Quốc để giúp Khmer Đỏ tái xây dựng lực lượng.

Ông Brzezinski từng nói về sự kinh tởm đối với chế độ Pol Pol (abomination), vì thế, Hoa Kỳ sẽ không bao giờ giúp Pol Pot trực tiếp, “nhưng người Trung Quốc thì có thể làm điều đó”.

Hun Sen: “Tôi sẽ cầm quyền thêm 10 năm”

Lịch sử có nợ gì Tướng Dương Văn Minh?

Campuchia: Nhà sư làm phim về dân mất đất

Lãnh tụ Đặng Tiểu Bình đặc biệt yêu thích Khmer Đỏ, và giúp cho họ chừng 100 triệu USD viện trợ các loại một năm, theo Gregory Elich viết trên CounterPunch, hồi 2014.

Đặng từng nói năm 1984:

“Tôi không hiểu vì sao có người muốn loại bỏ Pol Pot? Đúng là ông ta có phạm một số sai lầm trong quá khứ nhưng nay ông ta đang lãnh đạo cuộc chiến chống bọn xâm lược Việt Nam cơ mà.”

Nhờ chiến lược này, Pol Pot có căn cứ trên đất Thái Lan, và ngoài Khmer Đỏ còn có mội đội quân của Mặt trận Giải phóng Nhân dân Khmer (KPNLF) của Son Sann, và quân đội riêng của Hoàng thân Norodom Sihanouk (Armée Nationale Sihanoukiste, ANS).

Khmer ĐỏBản quyền hình ảnhTHIERRY FALISE
Image captionQuân Khmer Đỏ với vũ khí Trung Quốc trên một chiếc xe mới toanh do TQ cung cấp gần Anlong Veng trong ảnh chụp của Thierry Falise ngày 1/12/1990

Ngoài ủng hộ ngoại giao cho Pol Pot và liên minh Campuchia chống lại chính quyền Hun Sen cùng Hà Nội và Moscow, Hoa Kỳ còn tác động đến viện trợ quốc tế cho Campuchia.

Theo đó, chính quyền Carter yêu cầu các tổ chức cứu trợ quốc tế không cấp viện cho Hà Nội và Phnom Penh.

Các lá phiếu của Washington và đồng minh đủ mạnh khiến Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển Á châu không viện trợ cho Campuchia dưới quyền Heng Samrin và Hun Sen.

Viện trợ trái lại chỉ được chuyển cho người Campuchia sống ở vùng Khmer Đỏ kiểm soát.

Sang thời Reagan và Bush, chính sách chống Hà Nội và Phnom Penh vẫn tiếp tục.

Năm 1985, Ngoại trưởng Mỹ George Schulz thăm Thái Lan và cảnh báo các nước ASEAN về chuyện soạn đề nghị hòa bình.

ĐặngBản quyền hình ảnhULLSTEIN BILD
Image captionĐặng Tiểu Bình (phải) rất yêu quý Pol Pot (trái)

Bốn năm sau, chính quyền Bush cảnh báo Thái Lan nếu Bangkok “bỏ rơi” các nhóm du kích Campuchia trong rừng để làm ăn với Phnom Penh.

Tới năm 1985, tiền CIA viện trợ cho các nhóm du kích Campuchia gồm Khmer Đỏ lên tới 12 triệu. Theo điều khoản McCollum, cơ quan cấp viện USAID cũng chuyển quân trang quân dụng không sát thương dư thừa cho các nhóm du kích đóng ở Thái Lan, đạt con số 13 triệu USD năm 1989.

Nhưng có vẻ như nhà bảo trợ chính cho Khmer Đỏ vẫn là Trung Quốc.

Andrew Mertha, tác giả cuốn “Brothers in Arms: China’s Aid to the Khmer Rouge, 1975-1979” từng cho biết 90% viện trợ nước ngoài mà Khmer Đỏ nhận được đã đến từ Trung Quốc.

Các khoản này gồm thực phẩm, vật liệu xây dựng tới xe tăng, máy bay, pháo.

“Trong khi chính quyền đang giết dân của họ thì kỹ sư và cố vấn quân sự Trung Quốc vẫn tiếp tục huấn luyện nước đồng minh cộng sản”.

Ông Mertha, từ ĐH Cornell, tin rằng “nếu không có sự hỗ trở của Trung Quốc, chế độ Khmer Đỏ không thể tồn tại được quá một tuần”.

Nước Anh thời bà Thatcher

Trong Cuộc chiến Việt Nam, quân Anh chỉ trợ giúp Mỹ về tin tình báo và có cử cố vấn sang giúp chính phủ Sài Gòn thời Ngô Đình Diệm, sự dính líu của Anh ở chiến trường Nam Việt Nam gần như không có.

Tuy thế, trong nội chiến Campuchia, London đã cử lực lượng đặc biệt (SAS) sang Thái Lan giúp cho các nhóm du kích chống Phnom Penh dù không trực tiếp giúp quân của Pol Pot.

Thatcher thăm TQBản quyền hình ảnhAFP
Image captionBắc Kinh ngày 19/12/1984: từ trái sang: Thủ tướng Margaret Thatcher nâng cốc cùng Chủ tịch TQ Lý Tiên Niệm, Ngoại trưởng Anh Goeffrey Howe và Ngoại trưởng TQ, Ngô Học Khiêm. Anh và Trung Quốc đạt thỏa thuận về quy chế trao trả Hong Kong.

Jason Burke hồi 2000 viết trên báo Anh, tờ The Guardian về vai trò của Anh nhân vụ xử tay đồ tể Khmer Đỏ Ta Mok như sau

“Luật sư của Ta Mok là Benson Samay nói tòa án sẽ được nghe chi tiết về chuyện từ 1985 đến 1989, SAS (Special Air Service – đặc nhiệm Anh) đã mở hàng loạt trại huấn luyện cho đồng minh của Khmer Đỏ ở Thái Lan, và lập ra một ‘tiểu đoàn phá hoại (sabotage battalion) với 250 chuyên gia dùng chất nổ và phục kích. Các chuyên gia tình báo ở Singapore cũng giảng dạy các khóa học.

SAS được lệnh chỉ huấn luyện cho quân lính của Sihanouk và cựu thủ tướng Son Sann, nhưng theo Samay thì Khmer Đỏ cũng “được hưởng lợi rất nhiều từ hoạt động của người Anh”.

“Các nhóm này cùng chiến đấu nhưng Khmer Đỏ làm chỉ huy. Họ hưởng lợi từ sự trợ giúp cho các nhóm kia.”

Bắc Triều Tiên luôn ủng hộ Sihanouk

Một quốc gia khác cũng giúp cho lực lượng chống Phnom Penh và Hà Nội trong nội chiến Campuchia là CHDCND Triều Tiên.

Năm 2011, Sebastian Strangio viết trên trang The Diplomat về quan hệ giữa chính phủ liên minh chống Việt Nam của Campuchia và Bắc Triều Tiên:

“Quan hệ đặc biệt giữa Bắc Hàn và Campuchia bắt đầu năm 1965, khi TT Indonesia, ông Sukarno giới thiệu ông Kim Nhật Thành cho Hoàng tử Norodom Sihanouk tại hội nghị khối Không liên kết ở Jakarta…Hai người mau chóng thân nhau và quan hệ của hai dân tộc cũng gắn liền với nhau…

Vì quý ông Kim, Sihanouk không công nhận chính phủ Nam Hàn cho tới khi ông ta bị đảo chính tước quyền năm 1970. Sau khi ông Sihanouk bị hạ bệ, Bình Nhưỡng chuyển sự công nhận Campuchia sang Mặt trận ông chỉ huy, khi Sihanouk thực tế chỉ sống lưu vong ở Bắc Kinh.

Khi Khmer Đỏ nắm quyền, các cố vấn Bắc Triều Tiên đã có mặt để giúp xây dựng các công trình khổng lồ, tốn kém mà nay vẫn còn dấu vết tại Campuchia.”

“Sau khi chế độ Khmer Đỏ đẫm máu bị hạ bệ 9 năm sau đó, một chính quyền thân Việt Nam được dựng lên, nhưng Bình Nhưỡng vẫn chỉ công nhận mặt trận kháng chiến gồm Sihanouk,” Sebastian Strangio viết.

Sihanouk và vệ sỹ Bắc HànBản quyền hình ảnhPETER CHARLESWORTH
Image captionĐội vệ sỹ Bắc Triều Tiên bên cạnh Hoàng thân Norodom Sihanouk trong chuyến thăm tới mội trại tỵ nạn ở Thái Lan năm 1992

Trong thời gian tham gia chính phủ “kháng chiến”, ông Sihanouk được một đội vệ sỹ Bắc Triều Tiên bảo vệ ngày đêm và ông liên tục đi Bình Nhưỡng nghỉ dưỡng nếu không ở Bắc Kinh hoặc đi nơi khác.

Tình cảm đặc biệt của các nhà lãnh đạo Bình Nhưỡng dành cho Sihanouk “vượt qua thời gian” và tiếp tục sau khi chế độ Khmer Đỏ tan rã.

Năm 2013 khi ông Sihanouk tạ thế, các báo quốc tế có nhắc lại tình cảm của ông dành cho ông Kim Nhật Thành.

Trong cuốn hồi ký ra năm 2005, Hoàng thân Sihanouk viết:

“Kim Nhật Thành là người bạn chân thành nhất của tôi, luôn sẵn sàng giúp đỡ tôi. Ông còn hơn cả một người bạn. Ông là người anh em, và ‘thân nhân duy nhất’ thực thụ của tôi, sau khi mẹ tôi qua đời…”

Xem thêm chủ đề lịch sử:

Cuộc chiến ít biết của quân Anh ở Việt Nam

Henry Kissinger bị phản đối khi đến Oslo

Khi Nhà nước đuổi công dân của mình đi

Vì sao Việt Nam từng chia cắt ở sông Bến Hải?

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Vụ Soleimani: Sức mạnh quân sự của Iran đáng sợ tới mức nào?

Vụ Soleimani: Sức mạnh quân sự của Iran đáng sợ tới mức nào?

A woman looks at missiles on display during a street exhibition in Tehran, IranBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionNăng lực tên lửa của Iran đóng vai trò then chốt trong sức mạnh quân sự của nước này

Iran tuyên bố sẽ trả đũa sau khi tư lệnh đầy quyền lực của nước này bị thiết bị drone Mỹ giết chết trong cuộc tấn công vào sân bay Baghdad.

“Cuộc báo thù tàn khốc đang chờ những kẻ đứng đằng sau vụ tấn công” (giết chết) tướng Qasem Soleimani, Lãnh tụ tối cao của Iran Ali Khamenei nói.

Ngoại trưởng Anh hiểu vì sao Mỹ giết ông Soleimani

Reaper MQ-9: Drone sát thủ của Mỹ

Mỹ ‘sẽ nhắm vào’ 52 khu vực của Iran nếu Tehran tấn công

Iran sẽ báo thù cho ‘tướng tử đạo’ Soleimani bị Mỹ giết

Vậy chúng ta đã biết những gì về năng lực quân sự của Iran?

Quân đội Iran lớn mạnh tới mức nào?

Hiện ước tính có khoảng 523.000 người đảm nhận các vai trò khác nhau trong quân đội, theo Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế có trụ sở tại Anh.

Trong số này có 350.000 quân chính quy và ít nhất 150.000 người thuộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC).

Có thêm 20.000 người nữa phục vụ trong lực lượng hải quân của IRGC. Nhóm này nắm các tàu tuần tra có vũ trang trên Eo biển Hormuz, nơi trong 2019 đã xảy ra những cuộc đối đấu với các tàu dầu mang cờ nước ngoài.

IRGC cũng kiểm soát đơn vị Basij, lực lượng tình nguyện giúp đàn áp sự phán kháng trong nước. Đơn vị này có thể huy động tới hàng trăm ngàn người.

Members of Iran's Islamic Revolutionary Guard Corp marching during a military paradeBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionIRGC có lực lượng hải quân và không quân riêng, đồng thời kiểm soát các vũ khí chiến lược của Iran

IRGC được thành lập từ 40 năm trước để bảo vệ hệ thống Hồi giáo tại Iran, và đã trở thành một thế lực quân sự, chính trị và kinh tế lớn mạnh.

Mỹ nói ‘bắn hạ’ máy bay drone của Iran

Vũ khí chết người từ thiết bị bay siêu nhỏ

IS dùng ‘máy bay đồ chơi’ làm không quân

Tuy có ít lính hơn so với quân chính quy, nhưng lực lượng này được coi là có quyền lực quân sự mạnh nhất Iran.

Các hoạt động ở nước ngoài

Lực lượng Quds, do Tướng Soleimani dẫn dắt, tiến hành cac hoạt động bí mật ở nước ngoài cho IRGC, và báo cáo trực tiếp lên Lãnh đạo Tối cao của Iran, Ayatollah Ali Khamenei. Người ta tin rằng lực lượng này có chừng 5.000 người.

Đơn vị này đã được triển khai tới Syria, nơi họ tư vấn cho các thành phần quân sự trung thành với Tổng thống Syria Bashar al-Assad và dân quân Shia có vũ trang.

Tại Iraq, đơn vị này ủng hộ cho lực lượng bán quân sự do người Shia nắm, vốn đã đóng vai trò dẫn tới sự thất bại của nhóm Nhà nước Hồi giáo (IS).

Tuy nhiên, Hoa Kỳ nói rằng lực lượng Quds đóng vai trò to lớn hơn qua việc tài trợ, huấn luyện, cấp vũ khí và thiết bị cho các nhóm bị Washington coi là khủng bố ở Trung Đông.

Trong số này có phong trào Hezbollah ở Lebanon và nhóm Islamic Jihad của Palestine.

Tất cả các nhóm này đều thân Iran và ủng hộ một liên minh đạo Hồi Shia chống lại các quốc gia cũng theo đạo Hồi nhưng thuộc hệ phái Sunni trong vùng.

An IRGC patrol boat circling the British flagged Stena Impero which was detained by Iran last yearBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionIRGC của Iran đã bắt giữ tàu dầu mang cờ Anh, Stena Impero, ở Eo biển Hormuz trong năm 2019

Các vấn đề kinh tế và lệnh trừng phạt đã ảnh hưởng tới việc Iran nhập khẩu vũ khí, vốn chỉ ở mức khá nhỏ so với sức mạnh khí tài của các nước khác trong khu vực.

Giá trị nhập khẩu quốc phòng của Iran từ 2009 đến 2018 chỉ bằng 3,5% lượng nhập khẩu của Ả-rập Saudi trong cùng kỳ, theo Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm.

Hầu hết hàng nhập khẩu Iran là đến từ Nga, còn lại là từ Trung Quốc.

Iran có tên lửa không?

Có – năng lực tên lửa là một phần then chốt tạo nên sự can đảm quân sự của nước này, nếu xét tới việc nước này thiếu sức mạnh không quân so với các đối thủ như Israel và Ả-rập Saudi.

Map showing ranges of various Iranian missiles

Một bản phúc trình của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ mô tả sức mạnh tên lửa của Iran là lớn nhất ở Trung Đông, chủ yếu bao gồm tên lửa tầm ngắn và tầm trung.

Bản phúc trình cũng nói Iran đang thử công nghệ không gian theo đó cho phép nước này phát triển tên lửa xuyên lục địa có thể đi được xa hơn nhiều.

Graphic showing Patriot system
Image captionHệ thống phòng thủ tên lửa đất-đối-không Patriot

Tuy nhiên, chương trình tên lửa tầm xa đã bị Iran tạm ngưng, theo nội dung một phần trong thỏa thuận hạt nhân mà Tehran ký với các nước khác trong năm 2015, theo tổ chức nghiên cứu Royal United Services Institute (Rusi). Tuy nhiên, viện nghiên cứu này nói thêm rằng chương trình này có thể đã được nối lại.

Trong bất kỳ trường hợp nào thì nhiều mục tiêu tại Ả-rập Saudi và Vùng Vịnh cũng sẽ nằm trong tầm hoạt động của các tên lửa tầm ngắn và tầm trung hiện nay của Iran, và có thể cả các mục tiêu tại Israel nữa.

Hồi tháng Năm năm ngoái, Hoa Kỳ đã triển khai hệ thống phòng chống tên lửa tại Trung Đông, khi căng thẳng với Iran gia tăng. Hệ thống này nhằm đối phó với các loại tên lửa đạn đạo, tên lửa tuần du và phi cơ tân tiến của đối phương.

Iran có vũ khí hạt nhân không?

Iran hiện không có chương trình vũ khí hạt nhân, và trước đó nói rằng họ không muốn có.

Tuy nhiên, nước này có nhiều các nguyên liệu cũng như kiến thức cần thiết để có thể sản xuất hạt nhân phục vụ mục đích quân sự.

Năm 2015, chính phủ Mỹ dưới thời Tổng thống Obama ước tính Iran chỉ cần từ hai đến ba tháng là có thể chế tạo đủ nhiên liệu cần thiết để làm ra một vũ khí hạt nhân.

Thỏa thuận hạt nhân năm đó giữa Tehran và sáu cường quốc thế giới – là thỏa thuận mà Tổng thống Trump đã rút khỏi vào năm 2018 – đưa ra những giới hạn và việc thanh sát quốc tế đối với các hoạt động hạt nhân của Iran.

Thỏa thuận này nhằm gây khó khăn hơn, mất nhiều thời gian hơn trong việc phát triển nguyên liệu dùng để sản xuất vũ khí.

Sau vụ các lực lượng Hoa Kỳ giết Tướng Soleimani, Iran nói sẽ không chịu sự ràng buộc của các hạn chế này nữa. Nhưng Iran cũng nói họ sẽ tiếp tục hợp tác với Cơ quan Nguyên tử năng Quốc tế của Liên Hiệp Quốc.

The remnants of a drone that the US says was supplied by Iran to Houthi rebelsBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionHoa Kỳ cáo buộc Iran là đã cung cấp cho các phiến quân Houthi phương tiện không người lái hoạt động trên không

Tuy bị trừng phạt trong nhiều năm, nhưng Iran vẫn đã phát triển được năng lực drone.

Tại Iraq, drone của Iran đã được sử dụng từ 2016 trong cuộc chiến chống lại IS.

Iran cũng đã vào không phận Israel bằng các drone có vũ trang và được điều khiển từ các căn cứ đặt tại Syria, theo Viện Rusi.

Tháng 6/2019, Iran bắn hạ một drone do thám của Mỹ, nói rằng thiết bị này vi phạm không phận Iran ở trên Eo biển Hormuz.

Một vấn đề nữa trong chương trình drone của Iran là nước này sẵn sàng đem bán hoặc chuyển giao công nghệ drone cho các nước đồng minh trong khu vực, phóng viên BBC Jonathan Marcus chuyên về quốc phòng và ngoại giao nói.

Năm 2019, các vụ tấn công bằng drone và tên lửa đã làm hư hại hai cơ sở dầu lửa quan trọng của Ả-rập Saudi.

Cả Hoa Kỳ và Ả-rập Saudi đều cho là Iran có liên hệ tới các vụ tấn công này, tuy nhiên Tehran bác bỏ việc có bất kỳ dính dáng nào và nói các việc đó do các phiến quân tại Yemen thực hiện.

Iran có năng lực tấn công trong không gian mạng không?

Sau vụ tấn công mạng đình đám hồi 2010 nhắm vào các cơ sở hạt nhân của Iran, Tehran đã tăng cường năng lực trên không gian mạng của mình.

Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC) được cho là có lực lượng trên mạng riêng, hoạt động trong lĩnh vực gián điệp thương mại và quân sự.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Nguyễn Quang Duy: “Đức Huỳnh Phú Sổ: đạo, đời và đảng chính trị là một”

Nguyễn Quang Duy: “Đức Huỳnh Phú Sổ: đạo, đời và đảng chính trị là một”

17 Tháng Mười Hai 20197:06 SA(Xem: 250)

VĂN HÓA ONLINE – DIỄN ĐÀN CHÍNH TRỊ – THỨ BA 17 DEC 2019

Mọi liên lạc bài vở – vui lòng gởi về Email: vaamacali@gmail.com

image006

Nguyễn Quang Duy: “Đức Huỳnh Phú Sổ: đạo, đời và đảng chính trị là một”

Nguyễn Quang Duy

Đức Huỳnh Phú Sổ sinh tại làng Hoà Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc ngày 15/1/1920, nhằm ngày 25/11 năm Kỷ Mùi, gần 100 năm trước.

Đức Thầy vừa khai sáng Phật Giáo Hòa Hảo, vừa thành lập đảng Dân Xã, triết lý đạo, đời và đảng chính trị của Đức Thầy xét thấy rất gần với triết lý xây dựng thể chế chính trị tại Hoa Kỳ.

Kỷ niệm 100 năm ngày Đức Thầy đản sinh là dịp để chúng ta suy ngẫm về con đường toàn dân chính trị Thầy đề ra.

Mang đạo vào đời

Phật Giáo Hòa Hảo làm lành tránh ác, tu thân nhập thế, thực hành Tứ Ân: ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân tam bảo và ân đồng bào nhân loại.

Ngoài giáo lý nhà Phật, Thầy còn chọn lọc những điều hay lẽ phải của Nho giáo và Lão giáo, cùng với tấm lòng yêu nước chuyển thành thơ ca được gọi là Sấm Giảng.

Đức Huỳnh Giáo Chủ giải thích sự tương quan vô cùng chặt chẽ giữa đạo và đời: “Đời không đạo, đời vô liêm sỉ, đạo không đời, đạo biết dạy ai?”

Những bài thơ về Đạo khuyên người đời tu niệm, lời lẽ bình dân, dễ nhớ, dễ hiểu và dễ đi vào lòng người, nhanh chóng thu hút được hằng triệu tín đồ miền Tây Nam phần.

Số tín đồ Hòa Hảo ngày nay đã lên đến 7 triệu người sống khắp nơi trên thế giới, sống hòa đồng với đồng bào nhân loại nên được hầu hết bà con cộng đồng, làng xóm yêu mến và quý trọng.

Người viết chỉ là thân hữu của Phật Giáo Hòa Hảo và thân hữu của đảng Dân Xã nhưng có cơ duyên được biết về Đạo và tìm hiểu về Thầy.

Mang đạo vào chính trị

Ngày 21/9/1946, Đức Thầy cùng luật sư Mai Văn Dậu, ông Nguyễn Văn Sâm, ông Trần Văn Ân và giáo sư Nguyễn Hoàn Bích (Nguyễn Bảo Toàn) tuyên bố thành lập Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng viết tắt là đảng Dân Xã.

Giáo chủ một tôn giáo lại công khai đứng ra thành lập một đảng chính trị là một điều chưa từng nghe thấy trong lịch sử nhân loại.

Triết lý mang đạo vào chính trị hòa nhập đạo, đời và đảng chính trị được Đức Thầy giải thích như sau:

“1. Việt Minh tranh đấu chánh trị, nếu Thầy đem đạo ra tranh đấu thì không thích hợp. Vì đạo lo tu hành chơn chất. Nên Thầy phải tổ chức đảng chánh trị, mới thích ứng nhu cầu tình thế nước nhà.

“2. Các nhà ái quốc chơn chánh trong nước mặc dầu nhận Thầy là một nhà ái quốc, nhưng không hề cùng hiệp chung với Thầy dưới danh nghĩa Phật Giáo Hòa Hảo để lo việc quốc gia, bởi lẽ anh em ấy không thể tu hành như mình, hoặc giả đã có đạo rồi thì không thể bỏ đạo quy y Phật Giáo Hòa Hảo. Vì vậy, Thầy phải tổ chức chánh đảng để anh em ấy có điều kiện tham gia. Họ chỉ phải giữ kỷ luật của Đảng mà thôi, còn tôn giáo thì riêng ai nấy giữ.

“3. Vậy tất cả anh em tín đồ, nếu thấy mình còn nặng nợ với Non sông Tổ quốc, thương nước thương dân, hãy tham gia đảng mà tranh đấu. Đây là phương tiện để anh em hành xử Tứ-Ân.”

Triết lý Đức Thầy không chỉ giới hạn ở chỗ mỗi tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo là một đảng viên Dân Xã, Thầy còn nêu rõ chủ trương toàn dân chính trị:

‘Việt Nam Dân Xã Đảng là một đảng dân chủ, chủ trương thực thi triệt để nguyên tắc chánh trị của chủ nghĩa dân chủ: “chủ quyền ở nơi toàn thể nhân dân”.

‘Đã chủ trương “Toàn dân chánh trị” thế tất đảng chống độc tài bất cứ hình thức nào.’

Toàn dân chính trị là nâng tầm hiểu biết của người dân về quyền chính trị để mọi người tham gia chính trị một cách bình đẳng.

Đức Huỳnh Giáo Chủ lấy lời Phật dạy “Phật đồng thể tánh với chúng sanh, chúng sanh là Phật sẽ thành (mọi người đều có thể thành Phật)”, để nhắc nhở tín đồ tinh thần bình đẳng của Phật Giáo.

Thực hiện công bằng xã hội

Trong Tuyên Ngôn sáng lập đảng Dân Xã, Đức Thầy nêu ra cách thức tạo công bằng xã hội:

“Việt Nam Dân Xã Đảng là một đảng cách mạng xã hội, chủ trương tổ chức nền kinh tế theo nguyên tắc chủ nghĩa xã hội: không để giai cấp mạnh cướp công quả của giai cấp yếu, làm cho mọi người đều được hưởng phúc lợi cân xứng với tài năng và việc làm của mình; những người tàn tật yếu đuối thì được nuôi dưỡng đầy đủ.”

Xã hội Tây Phương luôn tồn tại hai khuynh hướng chính trị trái ngược nhau là tự do và xã hội.

Những người có vốn, có tiền, tin vào động lực của kinh tế tự do thường liên kết bảo vệ quyền lợi của họ.

Còn những người nhận ra sai sót của kinh tế thị trường, những người gắn liền với đời sống thực tế của người lao động và chính những người lao động thường liên kết để đấu tranh thực hiện công bằng xã hội.

Ở Tây phương các đảng dân chủ xã hội ngoài việc bảo đảm công ăn việc làm, bảo đảm một đời sống cơ bản cho người dân, còn không ngừng đấu tranh cho xã hội ngày càng tốt đẹp hơn, cho giáo dục, y tế được miễn phí, cho người già, người tàn tật, người thiểu số, người thất nghiệp có an sinh và cho xã hội được bình đẳng bình quyền.

Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng cũng thế là tổ chức chính trị của những người dân chủ xã hội sẵn sàng dấn thân đấu tranh cho tầng lớp lao động.

Chủ tịch‎ đảng ông ‎Nguyễn Văn Sâm và Tổng bí thư‎ giáo sư Nguyễn Hoàn Bích (bí danh Nguyễn Bảo Tòan) đều không phải là tín đồ Hòa Hảo.

Bài học tranh cử tại Mỹ

Triết lý đạo, đời và đảng chính trị là một và chính trị toàn dân của Thầy, hoàn toàn đối nghịch với lý thuyết cộng sản muốn tách riêng đạo với đời, người cộng sản xem chính trị là công việc độc quyền của đảng, nhưng triết lý của Thầy lại rất giống với triết lý chính trị ở Mỹ.

Nước Mỹ được thành lập bởi những tín đồ Thiên Chúa Giáo với niềm tin con người bình đẳng về chính trị:

“…rằng tạo hóa đã ban cho con người những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền được sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc.”

Hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ Mỹ gồm hằng ngàn tổ chức chính trị, kinh doanh, tín ngưỡng, nghiệp đoàn, dân sự và phong trào xã hội lớn nhỏ cùng hằng chục triệu đảng viên cá nhân không tham gia tổ chức.

Ở Mỹ, ngay đến những tu sỹ Thiên Chúa Giáo, cứ đến mùa bầu cử, dân chúng đều tham gia chính trị bằng cách gia nhập một đảng chính trị để chọn lựa những người trong đảng xứng đáng nhất để đưa ra tranh cử quốc gia.

Phương cách công khai tranh cử nội bộ đảng trước, rồi sau đó ra tranh cử quốc gia đã hết sức thành công tại Mỹ, nước Mỹ luôn có những người lãnh đạo thích hợp nhất với thời cuộc, giúp nước Mỹ luôn giữ vai trò cường quốc số 1 trên thế giới.

Đức Thầy thọ nạn

Chỉ sáu tháng sau khi đảng Dân Xã thành lập, Việt Minh cộng sản đã ám hại Đức Thầy tại Đốc Vàng Hạ thuộc tỉnh Long Xuyên, ngày 16/4/1947.

Tín đồ Hòa Hảo tiếp tục con đường tu thân nhập thế thực hành Tứ Ân, nhưng triết lý mang đạo vào chính trị, hòa nhập đạo, đời và đảng chính trị của Đức Thầy ít được biết đến.

Dẫu vậy Phật Giáo Hòa Hảo và đảng Dân Xã đã đóng góp rất lớn cho cuộc đấu tranh chống Pháp giành độc lập nước nhà và đấu tranh bảo vệ, xây dựng dân chủ tại miền Nam.

Trước 30/4/1975, những khu vực Phật Giáo Hòa Hảo là những khu vực được tín đồ Hòa Hảo giữ gìn an ninh không để cộng sản xâm nhập, người dân sống thanh bình như không hề có chiến tranh.

Việt Nam tự do

Đảng Cộng sản vẫn mệnh danh là đại diện cho giai cấp công nhân, nhưng thực chất là những kẻ cai trị vừa bóc lột tầng lớp lao động, vừa đục khoét tài nguyên quốc gia.

Công nhân không đủ sống, nông dân không đủ ăn, sông Cửu Long cạn nước, nước biển tràn vào đồng bằng, miền Nam ngập nước, tệ nạn buôn người là những đề tài thường xuyên được báo chí chính thống đề cập tới.

Không ai thực sự đại diện đấu tranh cho quyền lợi của tầng lớp lao động, đấu tranh cho công nhân, cho nông dân, cho dân lao động, cho dân thất nghiệp và cho sắc tộc thiểu số tại Việt Nam.

Triết lý đạo, đời, đảng chính trị là một và toàn dân chính trị của Đức Thầy quả đi trước thời đại, nhưng vẫn còn nguyên giá trị và khi Việt Nam có tự do đảng Dân Xã cần phục hồi triết lý của Đức Thầy để xây dựng lại đất nước.

Với 7 triệu tín đồ Hòa Hảo, nếu đảng Dân Xã áp dụng thể thức tranh cử kiểu Mỹ là công khai tranh cử nội bộ trước, sau đó đưa ứng viên ra tranh cử quốc gia, đảng Dân Xã sẽ trở thành lực lượng chính trị thiết yếu đại diện cho tầng lớp lao động thực thi công bằng xã hội.

Nguyễn Quang Duy

Melbourne, Úc Đại Lợi 16/12/2019

++++++++++++++++++++++++++++++++++

XEM THÊM:

Chân Trời Mới Media 24 tháng 5, 2017 ·

CSVN xác nhận đã xử tử Đức Huỳnh Phú Sổ 22/12/1947

FB Duy Nhat: Tài liệu mật (lưu hành nội bộ của công an VC) tiết lộ chính Việt Cộng đã giết đức Huỳnh Phú Sổ, giáo chủ Phật Giáo Hòa Hảo. Cho nên người ta không lấy gì ngạc nhiên là tại sao tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo có mối căm thù truyền kiếp với Việt Cộng.
Trích tài liệu VC:
“… Do tội ác của chúng, Huỳnh Phú Sổ đã bị ta bắt và xử tử ngày 22 tháng 12 năm 1947 tại Long Xuyên…”
Ngưng trích.

fb Đinh Tấn Lực

image008

++++++++++++++++++++++++++++++++++

XEM THÊM:

Huỳnh Phú Sổ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

image009

Chân dung Huỳnh Phú Sổ tại chùa An Hòa Tự (TT. Phú Mỹ, Phú Tân, An Giang)

Huỳnh Phú Sổ (15 tháng 1 năm 1920 – 1947) là người sáng lập đạo Phật giáo Hòa Hảo. Theo các tài liệu của tôn giáo này, ông được các tín đồ gọi là “Đức Thầy”, “Đức Huỳnh Giáo chủ” hay “Đức Tôn Sư”. Thư tịch đương thời còn ghi Huỳnh Phú Sổ được gọi là Ông đạo Xẻn.[1] 

Thiếu thời

Huỳnh Phú Sổ sinh ngày 15 tháng 1 năm 1920, nhằm ngày 25 tháng 11 năm Kỷ Mùi tại làng Hoà Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc, (nay thuộc thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang); con của ông Hương Cả (người đứng đầu trong làng) Huỳnh Công Bộ và bà Lê Thị Nhậm. Thuở nhỏ ông thông minh, học hết bằng sơ học yếu lược Pháp – Việt nhưng hay bị đau ốm nên đành bỏ dở việc học.

Trong một lần lên núi Sam (thuộc Bảy NúiAn Giang), tiếp xúc với phái Phật giáo Bửu Sơn Kỳ Hương, Huỳnh Phú Sổ giỏi trị bệnh và luyện chí tu hành. Năm 1937, ông về làng chữa bệnh cho dân, và viết Sấm Giảng Khuyên người đời tu niệm (1939)[2].

Từ thuở bé, Huỳnh Phú Sổ đã có căn tính của một người tu hành, ông không thích đàn địch, ca hát, cười giỡn như các bạn cùng trang lứa, lúc nào ông cũng trầm tư, tĩnh mặc, thích ở nơi thanh vắng, yên tĩnh. Ông lại hổ thẹn và phản đối ngay khi nghe song thân bàn chuyện kiếm người bạn đời cho ông.

Ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão, tức ngày 4 tháng 7 năm 1939, Huỳnh Phú Sổ tuyên bố khai lập đạo Phật giáo Hòa Hảo, khi ấy ông chỉ mới 19 tuổi.

Khai đạo

Ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão (4 tháng 7 năm 1939), Huỳnh Phú Sổ đứng ra cử hành lễ “Đền linh Khứu Sơn trung thọ mạng” khai đạo, lấy tên là Phật giáo Hòa Hảo, đó vừa là tên quê hương ông vừa có ý nghĩa là “hiếu hòa” và “giao hảo”, lại mang một hàm nghĩa là đạo Phật ở làng Hòa Hảo. Từ đó, ông đi chữa bệnh, tiên tri, thuyết pháp và sáng tác thơ văn, kệ giảng. Văn chương của ông bình dân nên dễ đi vào lòng người. Chỉ trong một thời gian ngắn số tín đồ và ảnh hưởng của ông càng ngày càng gia tăng và trở thành một phong trào tín ngưỡng mạnh mẽ khiến Thực dân Pháp lo ngại.

Ngày 18 tháng 8 năm 1940, Thực dân Pháp đưa Huỳnh Phú Sổ đi quản thúc tại Sa Đéc.

Ngày 23 tháng 5 năm 1940, Thực dân Pháp chuyển ông sang quản thúc ở làng Nhơn Nghĩa, tỉnh Cần Thơ nhưng cả hai nơi này đều được đông đảo quần chúng đến xin nghe thuyết pháp và quy y Phật giáo Hòa Hảo.

Vì vậy ngày 28 tháng 7 năm 1940, nhà cầm quyền Pháp đưa Huỳnh Phú Sổ vào bệnh viện Cần Thơ và sau đó chuyển lên nhà thương điên Chợ Quán tại Sài Gòn.

Tháng 6 năm 1941, Huỳnh Phú Sổ bị đưa đi quản thúc ở Bạc Liêu. Tại đây ông không được phép trị bệnh và thuyết pháp.

Tháng 10 năm 1942, trước tin tức người Pháp sẽ đưa Huỳnh Phú Sổ đi đày ở Ai Lao (Lào), các tín đồ Phật giáo Hòa Hảo và hiến binh Nhật đã giải cứu ông đem về Sài Gòn.

Từ tháng 6 đến tháng 8 năm 1945, Huỳnh Phú Sổ đi thuyết pháp và khuyến nông tại 107 địa điểm ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ.

Hoạt động chính trị

Ngày 14 tháng 8 năm 1945, Huỳnh Phú Sổ cùng Hồ Văn NgàTrần Văn ÂnNguyễn Văn SâmTrần Văn Thạch…đã thành công liên kết tất cả đảng phái và thành lập Mặt trận Quốc gia Thống nhất. Một ngày sau, Nhật tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Ngày 19/8/1945, Việt Minh giành chính quyền tại Hà Nội sau một cuộc biểu tình trước nhà hát lớn Hà Nội. Ngày 21 tháng 8 năm 1945 Mặt trận Quốc gia Thống nhất tổ chức một cuộc biểu tình lớn với trên 200.000 người tham dự để ủng hộ nền độc lập của Việt Nam. Ngày 23/8/1945 vua Bảo đại tuyên bố thoái vị và trao quyền lãnh đạo cho Việt Minh. Ngày 24/8/1945 Tổng Bộ Việt Minh phái Hoàng Quốc Việt (tức Hà Bá Cang) và Cao Hồng Lãnh vào Nam. Ngày 25/8/1945 vua Bảo Đại trao quyền và trao ấn, kiếm của Nhà Nguyễn cho đại diện Việt Minh là Trần Huy Liệu. Cũng trong ngày 25 tháng 8 năm 1945, Việt Minh tổ chức biểu tình và giành chính quyền tại Sài Gòn.

image010

Nơi sinh sống của Huỳnh Phú Sổ, nay là Tổ đình Phật giáo Hòa Hảo. (Phú Mỹ, Phú Tân, An Giang).

Một số lãnh đạo Hòa Hảo có nhiều tham vọng về chính trị đã lợi dụng danh nghĩa của giáo phái Hòa Hảo đòi giao những tỉnh có đông tín đồ (như Cần Thơ, Long Xuyên, Châu Đốc) cho họ quản lý. Khi yêu sách này không được đáp ứng, họ 2 lần tổ chức biểu tình tuần hành, kéo vào thị xã Long Xuyên (cuối tháng 8-1945) và thị xã Châu Đốc (đầu tháng 9-1945) định gây bạo loạn lật đổ chính quyền mới.[3] Ngày 8 tháng 9 năm 1945Phật giáo Hòa Hảo biểu tình tại Cần Thơ với khẩu hiệu chống Pháp và chống độc tài. Việt Minh cho rằng Hòa Hảo muốn cướp chính quyền. Lực lượng Thanh niên Tiền phong có vũ trang được huy động đến kịp thời giải tán.[4]

Theo Archimedes L.A Patti, Hòa Hảo chống lại chủ trương của Việt Minh muốn đàm phán với Đồng Minh nên tổ chức biểu tình đòi vũ trang quần chúng chống lại việc quân Anh, Pháp đổ bộ vào Nam Kỳ[5]. Ngày 9 tháng 9 năm 1945, Việt Minh cho Quốc gia Tự vệ Cuộc bao vây trụ sở Phật giáo Hòa Hảo ở số 8 đường Sohier, Sài Gòn để bắt Huỳnh Phú Sổ nhưng ông trốn thoát.[6] Ngày 7 tháng 10 năm 1945, 3 người Phật giáo Hòa Hảo cầm đầu biểu tình là Huỳnh Thạnh Mậu (em ruột Huỳnh Phú Sổ),Trần Ngọc Hoành (con ông Trần Văn Soái – tức Năm Lửa), Nguyễn Xuân Thiếp (tức nhà thơ Việt Châu – Anh chú bác với học giả Nguyễn Hiến Lê) bị kết án âm mưu lật đổ chính quyền và đưa ra xử tử hình tại sân vận động Cần Thơ. Ngày 26 tháng 10 năm 1945, Pháp tái chiếm Cần Thơ. Tín đồ Hòa Hảo nhân tình hình rối loạn đã lùng bắt các cán bộ Việt Minh.

Sau tạm ước ngày 6 tháng 3 năm 1946 giữa Pháp và Việt Minh. Việt Minh cải thiện quan hệ với Hòa Hảo. Huỳnh Phú Sổ tham gia Ủy ban Hành chánh Kháng chiến Nam Bộ (do Việt Minh lãnh đạo) với chức vụ Ủy viên Đặc biệt nhưng thực ra Huỳnh Phú Sổ vẫn muốn chống lại chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Giữa năm 1946, Huỳnh Phú Sổ tham gia Mặt trận Quốc gia liên hiệp và làm chủ tịch với bí danh Hoàng Anh. Mặt trận này ủng hộ việc đàm phán với Pháp để thành lập một chính quyền do phe quốc gia lãnh đạo. Mặt trận quyết định ủng hộ chính phủ Cộng hòa tự trị Nam Kỳ để từ đó tiến tới thành lập một chính quyền thống nhất Việt Nam. Nguyễn Hòa Hiệp, Tư lệnh Đệ tam sư đoàn ra thông cáo kêu gọi lực lượng kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ hãy ngưng chiến: “Chính phủ Pháp đã bằng lòng để cho chúng ta có quân đội và chính phủ riêng. Hai dân tộc Pháp và Nam Kỳ sẽ sống bình đẳng. Vậy các chiến sĩ đang chiến đấu, hãy ngừng chiến ngay”.

Ngày 21 tháng 9 năm 1946, Huỳnh Phú Sổ và một số trí thức thiên tả có khuynh hướng dân tộc thành lập Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng, gọi tắt là Dân Xã đảng.

Ngày 17 tháng 2 năm 1947, đại diện của Huỳnh Phú Sổ là Nguyễn Bảo Toàn cùng với lãnh đạo các đảng quốc gia khác như: Nguyễn Hải Thần (Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội), Nguyễn Tường Tam (Việt Nam Quốc dân đảng) thành lập Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp với mục đích hậu thuẫn Bảo Đại đàm phán với Pháp thành lập Quốc gia Việt Nam. Theo kế hoạch, Hòa Hảo cùng các đảng phái, tôn giáo khác sẽ sử dụng lực lượng vũ trang của mình chiếm lấy Đồng Tháp Mười làm căn cứ địa, nắm lấy các nguồn tiếp liệu lương thực và kiểm soát các đường giao thông để cô lập lực lượng kháng chiến của Việt Minh ở chiến khu 7, vô hiệu hóa hai chiến khu 8 và 9. Về mặt chính trị sẽ tạo thế liên kết với các đảng phái khác ở miền Bắc để chống lại quyền lãnh đạo Việt Nam của Hồ Chí Minh và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[7]

Đầu tháng 4/1947, các đơn vị vũ trang của Cao Đài, Hòa Hảo, Đại Việt, Bình Xuyên di chuyển về Đồng Tháp Mười lập căn cứ. Trên đường hành quân, các đơn vị quân sự này bị chi đội 18 và chi đội 12 Vệ quốc đoàn phục kích ngăn chặn. Họ còn bị phi cơ Pháp bắn phá. Chỉ có một số đơn vị Hòa Hảo và Đại Việt đến nơi nhờ thông thuộc địa bàn. Các đơn vị Cao Đài và Bình Xuyên bị kẹt lại khu 7.[7] Theo Việt Minh, những người cầm đầu Dân xã Hòa Hảo phát động một cuộc thanh trừng ở Tây Nam Bộ vào ngày 6/4/1947. Những người dân không theo Dân xã Hòa Hảo đều bị xem là kẻ thù, bị giết, buộc đá vào cổ, thả trôi sông.[3] Ngoài việc giết hại dân thường, quân Dân xã Hòa Hảo còn tổ chức các hành động càn quét chống Việt Minh ở các tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc, Cần Thơ.[3]

Ngày 16 tháng 4 năm 1947, Huỳnh Phú Sổ đột ngột mất tích khi đến Tân Phú, Đồng Tháp Mười để hòa giải sự xung đột giữa Việt Minh và Phật giáo Hòa Hảo. Các tài liệu của phương Tây và Việt Nam Cộng hòa cho rằng ông đã bị Việt Minh thủ tiêu.[8][9][10], tuy nhiên cho tới nay vẫn chưa có bằng chứng xác thực.

Phật giáo Hòa Hảo do Huỳnh Phú Sổ sáng lập hiện nay có khoảng 1,6 triệu tín đồ, phổ biến ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ./

Vài hình ảnh núi Sam Châu Đốc và di tích Bửu Sơn Kỳ Hương

Lý Kiến Trúc 2019

image001

Từ phố chợ Châu Đốc nhìn lên núi Sam.

image002

Bệ đá sa thạch, theo truyền khẩu dân gian là nơi Bà Chúa Xứ thiền tọa tại đây trên đỉnh núi Sam. Núi Sam cao khoảng 300 mét.

image003

Từ trên đỉnh núi Sam, có thể quan sát rất gần biên giới Châu Đốc – Bam Bốt. Dưới chân núi Sam là con kênh Vĩnh Tế do tướng Thoại Ngọc Hầu huy động đồng bào đào.

image004

Đồng bào hành hương tập nập đến Miếu Bà chúa Xứ nhân ngày lễ Vía.

image005

Cổng dẫn đường đi lên Phủ đền Bửu Sơn Kỳ Hương tr6en triền núi Sam.

image006

Dí tích Phủ đền Bửu Sơn Kỳ Hương thờ tự Đức Phật Thầy Tây An.

image007

Những đệ tử tuyền thừa của Đức Phật Thầy Tây An, vị sáng lập giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương trong một buổi lễ trong Phủ Đền.

image008

Nhà báo Lý Kiến Trúc trước lăng mộ Đức Phật Thầy Tây An.
image007

02 Tháng Mười Một 2019(Xem: 353)

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

CẬP NHẬT: Thủ đô Libya bị cô lập, 3 nhóm phiến quân Syria được Thổ “chọn mặt gửi vàng”, KQ Nga đập nát phòng tuyến Idlib

CẬP NHẬT: Thủ đô Libya bị cô lập, 3 nhóm phiến quân Syria được Thổ “chọn mặt gửi vàng”, KQ Nga đập nát phòng tuyến Idlib

DK | 

CẬP NHẬT: Thủ đô Libya bị cô lập, 3 nhóm phiến quân Syria được Thổ "chọn mặt gửi vàng", KQ Nga đập nát phòng tuyến Idlib
Hình minh họa.

3 nhóm phiến quân Syria là Sư đoàn Sultan Murad, Faylaq al-Sham và Suqour al-Sham sẽ là những đơn vị đầu tiên được QĐ Thổ Nhĩ Kỳ không vận đến Libya.

Vui lòng bấm F5 để liên tục cập nhật

8h50: Một số nguồn tin địa phương ở Tripoli, Libya cho biết LNA đã cắt đứt tuyến đường chiến lược nối Misrata với Tripoli.

Nếu thông tin nói trên được xác thực, đây sẽ là hoạt động chiến thuật quan trọng nhằm cô lập lực lượng GNA ở thủ đô khỏi một “cầu hàng không” quan trọng của Thổ Nhĩ Kỳ ở miền tây Libya.

Khoảng 1/3 tay súng đang chiến đấu cho GNA tại Tripoli đến từ Misrata, vũ khí và hàng viện trợ của Thổ Nhĩ Kỳ hiện tại cũng chỉ có con đường duy nhất tới Tripoli là thông qua sân bay Misrata và con đường ven biển này.

Trong bối cảnh khu vực biển xung quanh Tripoli bị cô lập và LNA đã thiết lập một “vùng cấm bay”, nếu Thổ Nhĩ Kỳ quyết định đổ quân vào Libya để hỗ trợ GNA, họ chỉ có một cách duy nhất là sử dụng hải quân và thủy quân lục chiến thiết lập một cuộc đổ bộ.

CẬP NHẬT: Thủ đô Libya bị cô lập, 3 nhóm phiến quân Syria được Thổ chọn mặt gửi vàng, KQ Nga đập nát phòng tuyến Idlib - Ảnh 1.

Khu vực mũi tiến quân của LNA cắt đứt tuyến đường chiến lược nối Tripoli và Misrata.

8h20: Cho tới cuối ngày 27/12, lực lượng Quân đội Quốc gia Libya (LNA) đã kiểm soát một đường cao tốc chiến lược và một số khu vực ở phía nam thủ đô Tripoli từ các lực lượng trung thành với Chính phủ Hiệp định Quốc gia (GNA).

LNA tuyên bố rằng các đơn vị quân đội đã chiếm được đường cao tốc lân cận sân bay Tripoli, khu vực chứa nhiên liệu, cầu al-Furusiyah và trại al-Naqliyah

Thiếu tướng Khaled al-Mahjoub của LNA cũng xác nhận rằng các mũi tiến quân hiện chỉ cách trung tâm thành phố Tripoli khoảng 4 km và tuyên bố rằng nhiều tay súng thân GNA đã thiệt mạng trong các cuộc đụng độ trên tuyến đường cao tốc gần sân bay Tripoli.

Trong khi đó GNA đã bác bỏ các tuyên bố nói trên của LNA, cho rằng lực lượng của họ đã tái chiếm lại cao tốc. Tuy vậy, không có bằng chứng ủng hộ những tuyên bố này của GNA.

Các lợi thế quân sự của LNA ở Tripoli diễn ra trong bối cảnh thông tin về một cuộc can thiệp của quân đội Thổ Nhĩ Kỳ vào Libya đã bắt đầu diễn ra.

Nhiều nguồn tin địa phương cho biết Ankara đang lên kế hoạch triển khai lực lượng hải quân và binh sĩ nước này cùng với các nhóm phiến quân Syria tại Libya để hỗ trợ GNA.

CẬP NHẬT: Thủ đô Libya bị cô lập, 3 nhóm phiến quân Syria được Thổ chọn mặt gửi vàng, KQ Nga đập nát phòng tuyến Idlib - Ảnh 2.

Bản đồ chiến sự Tripoli.

7h55: Từ chiều tối ngày 27/12 cho tới thời điểm hiện tại (rạng sáng 28/12 giờ địa phương), Không quân Vũ trụ Nga (VKS) và Không quân Syria (SyAAF)  đã nối lại các hoạt động không kích tại tây bắc Syria.

Theo tổ chức phi chính phủ SOHR có trụ sở tại Anh, các cuộc không kích đang tập trung vào một số vị trí của phiến quân và các nhóm khủng bố ở đông nam Idlib và đang phát triển về hướng cao tốc M5 và khu vực lân cận thành phố trọng điểm Maarat al-Numan.

Ba ngày vừa qua, SyAAF và VKS phải dừng xuất kích do thời tiết xấu. Mặc dù vậy, Quân đội Arab Syria (SAA) vẫn giữ vững các vị trí mới giải phóng và thậm chí tấn công và kiểm soát một vài khu dân cư mới.

Dự đoán việc nối lại hoạt động không kích có thể sẽ không kéo dài lâu vì dự báo thời tiết xấu ​​sẽ kéo dài ít nhất một tuần nữa giúp các nhóm khủng bố như Hayyat Tahrir al-Sham (HTS) có thể sẽ tiến hành phản công.

CẬP NHẬT: Thủ đô Libya bị cô lập, 3 nhóm phiến quân Syria được Thổ chọn mặt gửi vàng, KQ Nga đập nát phòng tuyến Idlib - Ảnh 3.

Hình minh họa.

7h00: Ngày 27/12, tờ Bloomberg dẫn nguồn quan chức Thổ Nhĩ Kỳ cho biết quân đội nước này đang lên kế hoạch triển khai các nhóm phiến quân Syria để hỗ trợ Chính phủ Hiệp định Quốc gia (GNA) ở Libya,

Đợt đầu tiên của phiến quân Syria được triển khai ở Libya sẽ được ưu tiên từ Sư đoàn Sultan Murad gồm đa phần là dân tộc Turkmen (người Syria gốc Thổ Nhĩ Kỳ) hiện đang là “cánh tay nối dài” của Thổ Nhĩ Kỳ trong cuộc chiến vẫn đang tiếp diễn ở phía bắc Syria .

Theo Bloomberg, Ankara cũng đã liên hệ với một số nhóm phiến quân người Syria về việc triển khai ở Libya bao gồm Faylaq al-Sham và Suqour al-Sham để triển khai trong các đợt tiếp theo.

CẬP NHẬT: Thủ đô Libya bị cô lập, 3 nhóm phiến quân Syria được Thổ chọn mặt gửi vàng, KQ Nga đập nát phòng tuyến Idlib - Ảnh 4.

Các tay súng phiến quân Syria được Thổ Nhĩ Kỳ hậu thuẫn cướp phá ở Afrin năm 2018.

6h55: Ngày 27/12, Tổ chức Wikileaks xuất bản bốn tài liệu và email bị rò rỉ mới từ Tổ chức Cấm Vũ khí Hóa học (OPCW) tiết lộ rằng các quan chức hàng đầu trong tổ chức này đã âm mưu xóa tất cả dấu vết có thể phủ định tấn công hóa học tại Douma, Syria vào tháng 4/2018.

OPCW đã không bình luận về các rò rỉ mới nhất tuy nhiên cũng đã công nhận các tài liệu liên quan do Wikileaks tung ra trước đây.

Những tài liệu của Wikileaks đều xác nhận rằng toàn bộ chi tiết về cái gọi là “tấn công hóa học ở Douma” được thiết kế bởi các nhà tài trợ phương Tây của các nhóm phiến quân hoạt động ở Syria nhằm vào chính quyền của Tổng thống Bashar al-Assad.

Các sự kiện ở Douma năm 2018 đã kích hoạt một cuộc tập kích đường không bằng tên lửa hành trình của Mỹ-Anh-Pháp vào các vị trí mà họ cho rằng nghiên cứu và tàng trữ vũ khí hóa học của Syria.

Current Time0:01
/
Duration0:59
Auto

Nhân viên kỹ thuật Mỹ kiểm tra lần cuối trước khi những chiếc B-1B Lancer xuất kích trong cuộc tập kích Syria năm 2018.

Bạn đọc có thể báo tin, gửi bài viết, clip, ảnh về email quansu@ttvn.vn để nhận nhuận bút cao trong vòng 24h.Đường dây nóng: 0943 113 999

Soha
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Tập Cận Bình tái lập chủ trương tự thần tượng cá nhân!

Tập Cận Bình tái lập chủ trương tự thần tượng cá nhân!

Âu Dương Thệ

25-12-2019

Trong thời gian gần đây trên các cơ quan báo chí do ĐCS Trung quốc (TQ) kiểm soát xuất hiện loạt bài “Kể chuyện Tập Cận Bình”. Đặc điểm của loạt bài này là ca tụng và thần thánh hóa cá nhân và cả gia đình họ Tập. Để thực hiện mục tiêu này nên các bài đã ca tụng hết mình Tập Cận Bình được coi là lãnh tụ đang dẫn dắt TQ thực hiện giấc mơ vĩ đại của thời đại, quyết phục hưng TQ trở thành một siêu cường trên thế giới.

Họ Tập đang ru ngủ nhân dân TQ dùng khẩu hiệu tái lập đế quốc với “Thực hiện giấc mơ vĩ đại” của Đại Hán bằng cách tăng cường ngân sách quốc phòng chỉ đứng sau Mỹ, hiện đại hóa không quân và hải quân để biến biển Đông thành cái ao của TQ!

Trong đó cá nhân Tập Cận Bình được thêu dệt như một người từ đạo đức tới trí tuệ vẹn toàn từ thuở nhỏ. Đặc điểm nữa là ca tụng lòng yêu nước của họ Tập tuyệt cao. Từ đó cố tạo ra một ấn tượng, Tập Cận Bình là một người vẹn toàn theo Khổng giáo: Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ!

Dụng tâm đưa ra loạt bài “Kể chuyện Tập Cận Bình”, họ Tập muốn thực hiện tham vọng trở thành lãnh tụ suốt đời như các thời đại phong kiến trước đây ở TQ. Ngay thời Mao Trạch Đông, sau khi nắm được lục địa 1949, Mao cũng tự thần thánh hóa mình nên đã thủ tiêu ngay cả các đồng chí đối thủ trong ĐCS và cầm quyền tới khi chết (1976). Trong thời gian cai trị trên 1/4 thế kỉ Mao đã giết hại bao nhiệu triệu người TQ qua chính sách “Cải cách ruộng đất”, “Phong trào nhảy vọt” tới “Cách mạng Văn hóa”…!

Trong số loạt bài “Kể chuyện Tập Cận Bình” có những bài dưới đây đã được phổ biến trên các đài phát thành, truyền hình và báo chí TQ, kể cả các đài TQ phát thanh ra nước ngoài, như:”Hiếu thảo với cha mẹ, tận trung với nước, hiểu về yêu nước yêu nhà của đồng chí Tập Cận Bình”, “Tình ‘kính lão’ của Chủ tịch Tập Cận Bình”, “Ông Tập Trọng Huân trở thành ‘ông lão cứng đầu’, là vì ai?“, “Ai là anh hùng trong lòng Tổng Bí thư Tập Cận Bình?”, “Câu nói của Tổng Bí thư Tập Cận Bình khiến cô giáo suýt rơi nước mắt”, “Kỳ tích Trung Quốc dựa vào cái gì? Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình đưa ra ba cụm từ then chốt”, “Chủ tịch Tập Cận Bình: Tấm gương của thanh niên”, “Tư tưởng Tập Cận Bình về Văn minh sinh thái dẫn dắt việc xây dựng “Trung Quốc tươi đẹp”,  “Người theo đuổi giấc mơ, Trung Quốc 2019”…

Chủ trương tự thần thánh hóa của Tập Cận Bình – Nguyễn Phú Trọng đã từng nhận là “Bạn” – cũng giống hệt như Hồ Chí Minh. Sau khi chiếm được chính quyền, lấy tên giả là Trần Dân Tiên, họ Hồ đã viết loạt bài “Những mẩu chuyện hoạt động của Hồ Chủ tịch” tự kể và tự đề cao gọi HCM là “cha già của dân tộc”!!! Các nhà độc tài đều có điểm giống nhau là tự thần thánh hóa! Khi nắm độc quyền trong tay họ trở thành tự kiêu tự đại, coi dân chỉ như cục đất sét, nhào nắn thế nào cũng được!

Dưới đây là một số bài tiêu biểu “Kể chuyện Tập Cận Bình” đã được Đài Phát thanh TQ  phổ biến bằng tiếng Việt:

Ai là anh hùng trong lòng Tổng Bí thư Tập Cận Bình?

(Đài Trung quốc tiếng nước ngoài (CRI), phần tiếng Việt 26-11-2019)

Những người nào khiến Tổng Bí thư Tập Cận Bình tôn kính, thậm chí cảm động đến mức rơi nước mắt? Những người đã có ảnh hưởng rất lớn đến Tổng Bí thư Tập Cận Bình trong thời thanh niên, thậm chí thiếu niên, và nhiều lần được Tổng Bí thư đề cập. Nói khái quát đặc trưng của những nhân vật này, có thể dùng từ “anh hùng” để định nghĩa. Hai chữ này có trọng lượng hết sức lớn trong lòng Tổng Bí thư Tập Cận Bình.

Tổng Bí thư Tập Cận Bình rất tôn sùng Nhạc Phi và Thích Kế Quang, coi tận trung báo quốc là mục tiêu theo đuổi suốt cuộc đời.

Sinh ra trong gia đình quân nhân cách mạng, Tổng Bí thư Tập Cận Bình sùng bái các anh hùng dân tộc chinh chiến tại chiến trường như Nhạc Phi, Thích Kế Quang, Phùng Tử Tài, v.v., trong lòng hướng tới Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, sau khi tốt nghiệp đại học, đồng chí Tập Cận Bình đã làm việc tại Văn phòng Quân ủy Trung ương Trung Quốc.

Tổng Bí thư Tập Cận Bình đề cập đến Thích Kế Quang trong nhiều trường hợp. Tháng 4 năm 2014, khi thị sát công tác tại Sở Công an thành phố Kashgar, Tân Cương, đồng chí Tập Cận Bình dùng câu chuyện Thích Kế Quang đánh giặc Oa Nhật Bản lộng hành ở vùng duyên hải để khích lệ cảnh sát. Đồng chí nói: “Nhìn thấy cây gậy của các bạn, thì tôi nghĩ đến Thích Kế Quang đời nhà Minh làm thế nào huấn luyện quân đội đánh giặc Nhật Bản. Thích Kế Quang rót nhọn tre bương, tre rất dài, một nhóm từ 5 đến 7 người. Trước tiên dùng gậy tre bương chặn giặc Oa Nhật Bản, khiến chúng không thể tiếp cận được. Rồi binh sĩ cầm khiên xông lên đánh giặc, rất hiệu quả. Chúng ta cũng cần phải có binh pháp tốt và vũ khí hữu hiệu”.

Tại Hội nghị Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học và Viện Công trình Trung Quốc diễn ra tháng 5 năm 2018, Tổng Bí thư Tập Cận Bình dùng câu thơ của Thích Kế Quang như sau: “Phồn sương tận thị tâm đầu huyết, sái hướng thiên phong thu diệp đan” (sương thu phủ khắp muôn ngọn núi, lá gặp sương thu, màu đỏ hơn cả hoa tháng hai, giống như tâm huyết của mình khiến ngọn núi và lá cây chuyển sang màu đỏ), để ca ngợi tình cảm yêu nước sâu đậm của nhà khoa học các thế hệ. Tháng 6 năm 2018, khi khảo sát tại tỉnh Sơn Đông, Tổng Bí thư Tập Cận Bình đội mưa leo đến lầu chính Bồng Lai Các, nghe giới thiệu về Thích Kế Quang huấn luyện lực lượng hải quân, bảo vệ biên giới trên biển, Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Lịch sử cổ đại, cận đại và hiện đại của nước ta hình thành bức tranh lịch sử trọn vẹn của dân tộc Trung Hoa. Cán bộ lãnh đạo phải đọc nhiều sách lịch sử, hấp thu dinh dưỡng tinh thần từ lịch sử”.

Ngoài Thích Kế Quang ra, Nhạc Phi cũng là một anh hùng dân tộc gây ảnh hưởng rất lớn đến Tổng Bí thư Tập Cận Bình, Tổng Bí thư Tập Cận Bình nhấn mạnh: “Trong các giá trị quan cốt lõi xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa yêu nước nằm ở tầng sâu nhất, căn bản nhất và vĩnh viễn nhất”. Tổng Bí thư Tập Cận Bình nói bài thơ “Mãn Giang Hồng” của Nhạc Phi và bài văn “Trung Quốc đáng yêu” của Phương Chí Mẫn thể hiện “tấm lòng quê nhà”, “tăng cường chí khí và niềm tin của người Trung Quốc”.

Năm 5-6 tuổi, bà Tề Tâm, mẹ của đồng chí Tập Cận Bình đưa con đi mua sách, hồi đó, trong bộ sách “Nhạc Phi truyện” có một cuốn mang tên “Mẹ của Nhạc Phi xăm chữ lên lưng con”, còn có một cuốn sách kể câu chuyện tận trung báo quốc, bà Tề Tâm đã mua hai cuốn sách này. Bà Tề Tâm đọc những sách này, kể câu chuyện tận trung báo quốc, mẹ của Nhạc Phi xăm chữ lên lưng con cho Tập Cận Bình nghe. Từ đó, Tổng Bí thư Tập Cận Bình đã khắc ghi bốn chữ “Tận trung báo quốc”, và coi đó là mục tiêu theo đuổi suốt cuộc đời.

Tổng Bí thư Tập Cận Bình rơi nước mắt vì Tiêu Dụ Lộc, trong lòng có Đảng, có dân, có trách nhiệm, có kỷ luật.

Ngoài người thời cổ đại ra, Tổng Bí thư Tập Cận Bình thường nhớ đến và hai lần rơi nước mắt vì một Bí thư Huyện ủy, người này là Tiêu Dụ Lộc. Mối liên hệ giữa Tổng Bí thư Tập Cận Bình và Tiêu Dụ Lộc có thể khái quát bằng một cuốn sách, hai lần rơi nước mắt và 3 chuyến khảo sát.

Trước tiên là một cuốn sách, cuốn sách chuyên đề đầu tiên của Tổng Bí thư Tập Cận Bình sau Đại hội Đảng lần thứ 18 là “Làm Bí thư Huyện ủy như đồng chí Tiêu Dụ Lộc”, thể hiện vị trí đặc biệt của Tiêu Dụ Lộc trong lòng Tổng Bí thư.

Tổng Bí thư Tập Cận Bình hai lần rơi nước mắt vì Tiêu Dụ Lộc, lần đầu tiên xảy ra vào năm 13 tuổi. Tổng Bí thư Tập Cận Bình nhớ lại rằng: “Ngày 6/2/1966, tờ ‘Nhân Dân nhật báo’ đăng bài phóng sự dài ‘Tấm gương của các Bí thư Huyện ủy—Tiêu Dụ Lộc’ do đồng chí Mục Thanh và các đồng chí khác viết, hồi đó tôi đang học lớp 7, giáo viên môn học Chính trị họ Trương đã đọc bài phóng sự này cho chúng tôi, chúng tôi nhiều lần khóc nức nở, nhất là khi đọc đến phần đồng chí Tiêu Dụ Lộc kiên trì làm việc khi bệnh ung thư gan tới giai đoạn cuối, dùng cây gậy chống ở vị trí của gan, bên phải của ghế mây bị chọc thủng một lỗ lớn, tôi rất cảm động. Tinh thần Tiêu Dụ Lộc gây ảnh hưởng rất lớn đến tôi”. Lần thứ 2 rơi nước mắt là tờ “Nhân Dân nhật báo” số ra ngày 9/7/1990 đăng bài “Nhân dân kêu gọi Tiêu Dụ Lộc” trên đầu trang, đồng chí Tập Cận Bình lúc đó đảm nhiệm Bí thư Thành ủy Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến khóc nức nở sau khi đọc xong bài báo này, đêm cùng ngày đã viết một bài từ “Niệm nô kiều”. Bài viết này đăng trên tờ “Buổi tối Phúc Châu” số ra ngày 16/7/1990, bày tỏ tình cảm tôn kính đồng chí Tiêu Dụ Lộc, cũng như niềm tin kiên định yêu dân, vì dân, có tinh thần trách nhiệm của đồng chí Tập Cận Bình.

Về ba chuyến khảo sát, tháng 4 năm 2009, đồng chí Tập Cận Bình lúc đó đảm nhiệm Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch nước đặc biệt đến vườn kỷ niệm Tiêu Dụ Lộc, chiêm ngưỡng đài kỷ niệm Tiêu Dụ Lộc, đặt vòng hoa trước ngôi mộ Tiêu Dụ Lộc. Tháng 3 năm 2014, Tổng Bí thư Tập Cận Bình lần thứ hai đến Lan Khảo, nơi làm việc của Tiêu Dụ Lộc. Lúc đó, đồng chí Tập Cận Bình trên cương vị Tổng Bí thư chỉ rõ rằng: “Tôi sở dĩ lựa chọn Lan Khảo là điểm liên hệ, một nguyên nhân quan trọng là Lan Khảo là nơi bắt nguồn của tinh thần Tiêu Dụ Lộc”. Tháng 5 năm 2014, Tổng Bí thư Tập Cận Bình lần thứ ba đến Lan Khảo, tham gia hội nghị sinh hoạt dân chủ chuyên đề của ban lãnh đạo ủy viên thường vụ Huyện ủy Lan Khảo, khẳng định cách làm của huyện Lan Khảo triển khai hoạt động giáo dục và thực tiễn với việc tôn vinh tinh thần Tiêu Dụ Lộc là manh mối chính…

Tổng Bí thư Tập Cận Bình đã đề cập Tiêu Dụ Lộc tại nhiều trường hợp. Sau đó, bất kể là tới vùng nông thôn, học đại học hay nhập ngũ, đặc biệt là sau khi làm Bí thư Huyện ủy, Bí thư Thành ủy, trong đồng chí Tập Cận Bình luôn có bóng dáng Tiêu Dụ Lộc. Với tâm trạng nhìn thấy người hiền tài thì muốn noi theo học tập, Tổng Bí thư Tập Cận Bình luôn noi gương Tiêu Dụ Lộc, đối chiếu bản thân.

Tháng 1 năm 2015, khi tọa đàm với các học viên lớp đào tạo của trường Đảng Trung ương dành cho các Bí thư Huyện ủy, Tổng Bí thư Tập Cận Bình đề xuất phải làm Bí thư Huyện ủy như Tiêu Dụ Lộc, thực hiện trong lòng có Đảng, có nhân dân, có trách nhiệm, có kỷ luật.

Tổng Bí thư Tập Cận Bình còn đề cập nhiều anh hùng liệt sĩ: cá nhân như Dương Tịnh Vũ, Triệu Thượng Chí, Tả Quyền, v.v; tập thể như “5 tráng sĩ núi Lang Nha” của Bát Lộ Quân, “Đại đội Lưu Lão Trang” của Tân Tứ Quân, 8 nữ chiến sĩ của Liên quân chống Nhật Đông Bắc, cũng như “800 tráng sĩ” của quân đội Quốc Dân Đảng.

Tổng Bí thư Tập Cận Bình nhiều lần nhấn mạnh: một dân tộc có hy vọng không thể không có anh hùng, một quốc gia có tiền đồ không thể không có tiên phong. Dân tộc Trung Hoa là dân tộc tôn kính anh hùng và có rất nhiều anh hùng, trong thời đại hòa bình cũng cần có tấm lòng anh hùng.

Người Trung Quốc cần phải ghi nhớ mọi anh hùng đóng góp cho dân tộc Trung Hoa và nhân dân Trung Quốc, tôn kính anh hùng, bảo vệ anh hùng, học tập anh hùng, quan tâm anh hùng.

***

Ông Tập Trọng Huân trở thành “ông lão cứng đầu”, là vì ai?

(CRI 25-10-2019)

Các bạn thân mến, tiết mục “Kể chuyện Tập Cận Bình” hôm nay sẽ giới thịêu với các bạn câu chuyện giao lưu giữa phụ thân của Chủ tịch Tập Cận Bình – ông Tập Trọng Huân và quần chúng nhân dân ở cơ sở.

Dân tộc Trung Hoa xưa nay luôn coi trọng gia đình, coi trọng tình thân. Phẩm chất tốt đẹp của gia đình truyền thống dân tộc Trung Hoa đã in sâu trong lòng người Trung Quốc, ông Tập Cận Bình cũng vậy, được sinh ra và lớn lên trong một gia đình đầm ấm và hài hòa. Ông Tập Trọng Huân cần kiệm chăm lo gia đình, dạy con nghiêm khắc, cho rằng là cán bộ cấp cao của Đảng, nghiêm chỉnh tác phong của Đảng, trước hết phải thực hiện từ bản thân và người nhà của bản thân. Trong những ngày cuối đời, ông Tập Trọng Huân nhiều lần nói với các con rằng: “Bố chẳng để lại cho các con tài sản gì, nhưng bố đã để lại cho các con một danh tiếng tốt.”

Khi tiếp xúc với quần chúng nhân dân ở cơ sở, ông Tập Trọng Huân luôn luôn bình đẳng thân thiết, tràn đầy nhiệt tình, do vậy ông được người dân hết sức yêu mến. Tiết mục hôm nay sẽ chia sẻ với các bạn câu chuyện giao tiếp giữa ông Tập Trọng Huân và công nhân thành phố Lạc Dương, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc.

Tháng 5 năm 1975, ông Tập Trọng Huân được điều động xuống cơ sở Lạc Dương, “thay đổi môi trường để nghỉ ngơi và dưỡng bệnh.” Ở Nhà máy Vật liệu chịu lửa Lạc Dương, ông Tập Trọng Huân sinh hoạt rất có quy luật. Việc cần làm hàng ngày chính là tập thể dục, tắm rửa và đọc sách báo. Khoảng 5 giờ sáng ông đã dậy và đi bộ dọc đập thôn Nam, sau bữa sáng, liền đi tắm ở bể tắm công cộng của nhà máy, rồi về nhà đọc sách báo. Ông có trí nhớ rất tốt, trên đường gặp ai ông đều có thể gọi ra tên của họ, chào hỏi và trò chuyện.

Trong quãng thời gian này, ông Tập Trọng Huân “không phải là đảng viên, cũng không có việc làm”, nhưng trong bài hồi ký của phu nhân Tề Tâm, “quãng thời gian này là những ngày Trọng Huân cảm thấy thoải mái nhất”.

Bên cạnh đó, ông Tập Trọng Huân vẫn quan tâm đến quần chúng công nhân và nông dân, đã nhận được sự tin cậy và yêu mến của mọi người với nhân cách độc đáo và hấp dẫn. Sau khi khôi phục công việc, ông Tập Trọng Huân từng hai lần viết thư cho công nhân Nhà máy Vật liệu chịu lửa Lạc Dương Đinh Căn Hỷ, thể hiện đầy đủ quan hệ gắn bó máu thịt giữa ông và quần chúng công nhân.

Ngày 22/2/1978, theo yêu cầu của Trung ương, ông Tập Trọng Huân đáp tàu hỏa về Bắc Kinh. Tháng 4 năm 1978, ông Tập Trọng Huân xuống miền Nam đến tỉnh Quảng Đông, thành lập Đặc khu kinh tế Thâm Quyến và Châu Hải, đã viết nên trang sử thời đại về Cải cách mở cửa Trung Quốc.

Bức thư đầu tiên là sau nửa năm rời khỏi Nhà máy Vật liệu chịu lửa Lạc Dương, ông Tập Trọng Huân đã đảm nhiệm Bí thư thứ hai Tỉnh ủy Quảng Đông, ông gửi thư cho ông Đinh Căn Hỷ, nói về nỗi nhớ sau khi tạm biệt.

Đồng chí Đinh Căn Hỷ:

Xin chào Đồng chí.

Công việc của đồng chí có bận không? Tháng 2 tôi vội vã rời khỏi Lạc Dương, tháng 4 lại rời khỏi Bắc Kinh đến Quảng Đông, sau đó rất bận, nên không có thời gian viết thư cho đồng chí, rất xin lỗi, tin rằng đồng chí chắc sẽ thông cảm.

Nhân dịp đồng chí Hồ Thế Hậu của Học viện Máy móc Nông nghiệp về Lạc Dương, tôi gửi thư cho đồng chí, tình hình cụ thể của tôi, đồng chí ấy sẽ kể với đồng chí, ở đây tôi không nhắc lại nữa. Đồng chí có việc gì, thì gửi thư cho tôi, nếu có dịp đến Quảng Đông công tác, tôi chắc chắn sẽ tiếp đón nhiệt tình, chúc an khang tốt đẹp. Xin gửi lời hỏi thăm chị Trí cũng như các cháu Đinh Tuấn, Đinh Mẫn, Đinh Hồng.

Tôi biết đồng chí là đồng chí tốt tặng than trong tuyết, chứ không phải người dệt gấm thêu hoa, mong đồng chí viết thư cho tôi chia sẻ tình hình của đồng chí.

Tập Trọng Huân

Ngày 9/10/1978

Ngày 9/11/1982, khi đảm nhiệm Bí thư Ban Bí thư Trung ương, dù bận trăm công nghìn việc, ông Tập Trọng Huân vẫn tranh thủ thời gian viết thư cho ông Đinh Căn Hỷ rằng: Lâu ngày không gặp, rất nhớ đồng chí. Các cháu Đinh Hồng, Đinh Mẫn, Đinh Tuấn học tập và công việc vẫn tốt chứ? Các cháu đều là thanh thiếu niên thông minh tài giỏi, có chí tiến thủ. Chúc các cháu mạnh khỏe, trưởng thành, công tác và học tập thuận lợi. Chúc đồng chí và đồng chí Trí Vinh Hoa hạnh phúc an khang.

Có rất nhiều câu chuyện về ông Tập Trọng Huân quan tâm quần chúng nhân dân, nhưng có một việc khiến công nhân Nhà máy Vật liệu chịu lửa Lạc Dương đến nay vẫn rất khó quên.

Hồi đó, khi thấy công nhân rất khó lên xe buýt công cộng giờ tan làm, ông Tập Trọng Huân liền chen lên xe buýt đến Thành ủy phản ánh vấn đề. Trước cổng Thành ủy, khi nhân viên trực ban từ chối yêu cầu gặp lãnh đạo Thành ủy, ông nói thẳng rằng: Tôi là Tập Trọng Huân, muốn phản ánh vấn đề với lãnh đạo Thành ủy. Ông cứ làm thế mới được gặp Bí thư Thành ủy, nói rõ tình hình, yêu cầu tăng thêm xe, giải quyết vấn đề khó lên xe buýt công cộng khi đi làm và tan làm.

Do ông đứng ra “cầu cho dân”, khiến vấn đề được giải quyết rất nhanh. Công nhân Nhà máy Vật liệu chịu lửa Lạc Dương đều rất cảm động vì tinh thần của ông, gọi ông là “ông lão cứng đầu”, “ông lão tốt bụng”.

Các công nhân trẻ trong nhà máy cũng thường xuyên giúp ông Tập Trọng Huân mua bột mì, thợ cạo định kỳ cắt tóc cho ông, bác sĩ cũng chủ động đưa thuốc đến nhà ông. Cứ đến ngày lễ, rất nhiều công nhân đều mời ông đến nhà ăn cơm, ông Tập Trọng Huân cũng mời các công nhân đến nhà ông ăn cơm và trò chuyện.

Công nhân Nhà máy Vật liệu chịu lửa Lạc Dương không những thường xuyên viết thư cho Tập Trọng Huân, mà còn đi thăm ông nhân dịp họ đến Bắc Kinh công tác, trò chuyện tâm sự với ông.

Thợ cạo từng cắt tóc cho ông Tập Trọng Huân tìm đến Trung Nam Hải ở Bắc Kinh thăm ông, nhưng bị nhân viên công tác chặn ngoài cổng, sau khi được biết, ông Tập Trọng Huân đã phê bình nhân viên công tác một cách nghiêm khắc rằng: “Đừng làm khó chịu với quần chúng nhân dân”. Sau đó, ông Tập Trọng Huân cứ tiếp thợ cạo này, và nhờ ông gửi lời hỏi thăm tới tất cả công nhân.

Từ đó, miễn là cán bộ và quần chúng cơ sở đến Bắc Kinh thăm, đều được ông Tập Trọng Huân tiếp đón nhiệt tình.

Mọi người thường nói, “Gia đình là lớp học đầu tiên trong cuộc đời, cha mẹ là người thầy đầu tiên của con cái”. Chính trong lớp học này, Chủ tịch Tập Cận Bình đã được hưởng sự giáo dục suốt đời từ bố mẹ. Chủ tịch Tập Cận Bình từng nói, “tôi đã kế thừa và hấp thu rất nhiều phẩm chất cao cả từ phụ thân”. Khi nói về tầm ảnh hưởng của phụ thân, Chủ tịch Tập Cận Bình từng viết thư cho ông Tập Trọng Huân rằng: “Bố đã ảnh hưởng những người xung quanh bằng tình yêu thương bác ái, bố giống như con bò già, lặng lẽ cày cấy vì nhân dân Trung Quốc. Điều này cũng khích lệ con tập trung hết sinh lực cả đời vào sự nghiệp phục vụ nhân dân, đền ơn đáp nghĩa đất nước tươi đẹp và bà con Trung Quốc đã nuôi dạy con.”

Hiếu thảo với cha mẹ, tận trung với nước, hiểu về yêu nước yêu nhà của đồng chí Tập Cận Bình

(CRI 02-12-2019)

Cổ nhân nói: “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Trong mắt đồng chí Tập Cận Bình, “muôn vàn gia đình đều sống tốt, đất nước mới hưng thịnh, dân tộc mới lớn mạnh”.

1. Hiếu thảo với cha mẹ: nền nếp gia đình là cốt lõi tinh thần của gia đình, cũng là hình ảnh thu nhỏ giá trị của xã hội.

“Từ mẫu thủ trung tuyến, Du tử thân thượng y. Lâm hành mật mật phùng, Ý khủng trì trì quy. Thuỳ ngôn thốn thảo tâm, Báo đắc tam xuân huy. ”

Tạm dịch nghĩa:

“Sợi chỉ trong tay mẹ hiền, Nay đang ở trên áo người đi xa. Lúc mới lên đường, mẹ khâu kỹ càng, Có ý sợ con chậm trễ trở về. Ai dám nói rằng tấm lòng của một tấc cỏ, Lại có thể báo đáp được ánh nắng của ba xuân?”

Đồng chí Tập Cận Bình từng ngâm bài thơ “Du Tử Ngâm” này tại buổi liên hoan mừng xuân Ất Mùi 2015.

Trong văn phòng của đồng chí, những tấm ảnh về đời sống gia đình đầm ấm chụp ở thời gian khác nhau được đặt ở vị trí nổi bật; đồng chí đẩy xe lăn cho phụ thân tuổi cao, dắt tay mẫu thân tản bộ, chụp chung với phu nhân Bành Lệ Viên, đạp xe chở con gái bé nhỏ đi chơi… hiếu thảo với cha mẹ, thương yêu vợ con, tuy bận trăm công nghìn việc, không thể ở bên người thân thường xuyên, nhưng đồng chí không bao giờ quên trách nhiệm như vậy.

“Gia đình là tế bào cơ bản của xã hội, là trường học đầu tiên của đời người” “nền nếp gia đình là hạt nhân tinh thần của một gia đình, cũng là một hình ảnh thu nhỏ về giá trị xã hội”. Theo đồng chí Tập Cận Bình, hạnh phúc gia đình không phải là một việc nhỏ bình thường chỉ liên quan đến một gia đình. Đồng chí nhiều lần nhấn mạnh, “Gia đình hòa thuận thì xã hội ổn định, gia đình hạnh phúc thì xã hội hài hòa, gia đình văn minh thì xã hội văn minh” “Không có hạnh phúc trọn vẹn của muôn vàn gia đình, thì không có phồn vinh phát triển của đất nước”.

Đồng chí coi trọng xây dựng nền nếp gia đình, kế thừa nền nếp gia đình tốt đẹp lấy mình làm gương, từng khuyến cáo đông đảo Đảng viên cán bộ tại nhiều trường hợp, “cán bộ lãnh đạo cần phải đặt xây dựng nền nếp gia đình ở vị trí quan trọng”. Đồng chí nêu rõ, nền nếp gia đình của cán bộ lãnh đạo, không phải là chuyện nhỏ cá nhân, việc riêng của gia đình, mà là biểu hiện quan trọng của tác phong cán bộ lãnh đạo.

“Bất kể thời đại thay đổi ra sao, bất kể cuộc sống thay đổi thế nào, chúng ta đều phải coi trọng xây dựng nền nếp gia đình, chú trọng gia đình, chú trọng gia giáo, chú trọng nền nếp gia đình”. Lời nói của đồng chí Tập Cận Bình thấm sâu, vang vọng bên tai.

2. Tận trung với nước: Bốn chữ “Tinh Trung Báo Quốc” là mục tiêu theo đuổi cả cuộc đời của tôi”.

Ngày 2/5/2018, khi tọa đàm với thầy trò Đại học Bắc Kinh, đồng chí Tập Cận Bình nêu rõ, “yêu nước, là tình cảm sâu sắc nhất, lâu bền nhất của đời người, là cội nguồn lập nên đạo đức, nguồn gốc lập nên công trạng của một người”, sự bộc lộ tình cảm mộc mạc chất phác này liên quan chặt chẽ với sự từng trải và trưởng thành của đồng chí Tập Cận Bình.

Đồng chí Tập Cận Bình từng nhớ: “Khi tôi còn rất bé, khoảng 5-6 tuổi, mẹ dắt tôi đi mua sách.” “Tôi lười không muốn đi bộ, mẹ cõng tôi, đến mua truyện tranh về Nhạc Phi.” “Sau khi mua về, mẹ kể cho tôi nghe câu chuyện Tinh Trung Báo quốc, mẹ của Nhạc Phi xăm chữ lên lưng con trai. Tôi nói, xăm chữ trên lưng, phải đau lắm đấy. Mẹ tôi bảo, đau thật, nhưng trong lòng ghi nhớ. Bốn chữ ‘Tinh Trung Báo Quốc’, tôi luôn nhớ đến bây giờ, cũng là mục tiêu theo đuổi của cả cuộc đời tôi”.

Từ khi xuống nông thôn ở Diên An, Thiểm Bắc, đến Chính Định, Ninh Đức, Hạ Môn… trên đường đi, tận tụy phục vụ nhân dân và đất nước, luôn là tấm lòng không thay đổi của đồng chí Tập Cận Bình.

Kể từ khi giữ chức Tổng Bí thư, tại nhiều trường hợp khác nhau, đồng chí Tập Cận Bình đều nhấn mạnh tầm quan trọng của tinh thần chủ nghĩa yêu nước đối với đất nước, dân tộc. Đồng chí nêu rõ, “tinh thần chủ nghĩa yêu nước ăn sâu bén rễ trong tâm thức dân tộc Trung Hoa, là gien tinh thần của dân tộc Trung Hoa, “yêu nước, không thể chỉ nói suông, mà phải gắn bó chặt chẽ giữa lý tưởng của mình với tiền đồ của tổ quốc, cuộc đời mình với mệnh vận của dân tộc, mọc rễ từ nhân dân, cống hiến cho đất nước”.

Lời nói chắc như đinh đóng cột, nói ra nguyện ước ban đầu và tấm lòng của đồng chí Tập Cận Bình, càng là nguyện vọng thiết tha của Đảng và Nhà nước đối với đông đảo thanh niên.

3. Thống nhất yêu nhà với yêu nước: gia đình là nước nhỏ nhất, nhà nước là sự tập hợp của muôn vàn gia đình

Gia đình là nước nhỏ nhất, nước là sự tập hợp của môn vàn gia đình. Trong phổ hệ văn minh tinh thần của người Trung Quốc, đất nước và gia đình, xã hội và cá thể là cộng đồng không thể chia tách.

“Khá giả hay không, mấu chốt ở bà con”. Đây là lời nói luôn ở cửa miệng của đồng chí Tập Cận Bình. Khi khảo sát tại Tôn Nghĩa, Quý Châu, đồng chí Tập Cận Bình nhấn mạnh, “Chính sách do Trung Ương Đảng xây dựng tốt hay không, cần phải xem bà con khóc hay cười”. Khi khảo sát tại quận Định Hải, thành phố Châu Sơn, Chiết Giang, đồng chí Tập Cận Bình nêu rõ, “chén vàng chén bạc không bằng lời khen của bà con”.

Một mặt, muôn vàn gia đình đều tốt, đất nước mới hưng thịnh, dân tộc mới mạnh. Đất nước giàu mạnh, dân tộc phục hưng, nhân dân hạnh phúc, không phải trừu tượng, rốt cuộc đều cần phải thể hiện ở muôn vàn gia đình hạnh phúc trọn vẹn, thể hiện ở cuộc sống nhân dân không ngừng cải thiện.

Mặt khác, đất nước hưng thịnh, dân tộc mạnh, gia đình mới tốt. Chỉ có thực hiện giấc mơ Trung Quốc phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa, giấc mơ của mỗi một gia đình mới có nền tảng vững chắc. Lấy lịch sử làm tấm gương, mọi người mới có thể hiểu về đạo lý sâu sắc đất nước và gia đình là thống nhất, cùng chung vận mệnh.

Bởi vậy, hiếu thảo với cha mẹ, tận trung với nước không những là truyền thống tốt đẹp của dân tộc Trung Hoa , cũng thể hiện sự thống nhất giữa “yêu nhà” và “yêu nước” của tình yêu nước nhà. Như sáng kiến đồng chí Tập Cận Bình đề xuất nhân dịp năm mới, “Chúng ta cần phải ra sức tôn vinh tấm lòng yêu nước yêu nhà trong toàn xã hội, vun đắp và thực hiện giá trị quan cốt lõi chủ nghĩa xã hội, tôn vinh tinh thần chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa tập thể, tinh thần chủ nghĩa xã hội, đề xướng thống nhất yêu nhà và yêu nước, để mỗi người, mỗi gia đình đều đóng góp cho đại gia đình các dân tộc Trung Hoa”.

Tình yêu nước yêu nhà của đồng chí Tập Cận Bình không ngừng viết tiếp trong hành động “Nói suông hại nước, làm việc thực chấn hưng đất nước”. Mỗi một người đều là người theo đuổi giấc mơ, đều có một trách nhiệm và đảm đương đối với đất nước. Tôn vinh tình yêu nước yêu nhà, tức phải hội tụ trí tuệ, sức mạnh và nhiệt tình của hơn 400 triệu gia đình, hơn 1,3 tỷ dân, chung sức chung lòng, nỗ lực đảm đang vì trách nhiệm này, phấn đấu vì cuộc sống tươi đẹp hơn, phấn đấu vì tương lai tươi đẹp hơn của tổ quốc.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

2019: Bãi Tư Chính là ‘cái bẫy’ của TQ cài cho Việt Nam

2019: Bãi Tư Chính là ‘cái bẫy’ của TQ cài cho Việt Nam

Biển ĐôngBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionChiến hạm Hải quân Nhân dân Việt Nam Trần Hưng Đạo đến cảng quân sự dự mọt cuộc tập trận quân sự giữa ASEAN-Trung Quốc 2018 hôm 21/10/2018 tại Trạm Giang, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.

Năm 2019, Việt Nam đã tránh được ‘cái bẫy pháp lý’ mà Trung Quốc cài khi đối đầu với Việt Nam ở bãi Tư Chính và vùng biển lân cận, theo một phân tích được đưa ra trong năm của một nhà quan sát an ninh Biển Đông của Việt Nam.

“Cái bẫy pháp lý của người ta là người ta bảo là họ hoạt động vào khu vực ở bãi Tư Chính là một bộ phận của Nam Sa, quần đảo ‘thuộc chủ quyền’ Trung Quốc,” Tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên Trưởng Ban Biên giới Chính phủ Việt Nam nói với BBC trong một phỏng vấn về bang giao quốc phòng của Việt Nam vào quý cuối năm.

“Rõ ràng ở đây Tư Chính và các bãi ngầm nằm ở trên thềm lục địa của Việt Nam, nó chẳng liên quan gì đến vấn đề quần đảo mà họ gọi là Nam Sa cả, tức là quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Tình hình Biển Đông sẽ thế nào trong năm 2020?

VN muốn TQ ‘chơi đẹp’ ở Biển Đông năm 2020

Năm 2020 Việt Nam vào ‘bước ngoặt’ của phát triển

Tàu sân bay thứ hai của TQ mang tham vọng kiểm soát biển Đông

“Đây là những bãi ngầm mà chìm sâu dưới mặt nước, chỗ sâu nhất là phải đến 17 mét mặt nước. Thế thì điều đó nó không có ý nghĩa gì, nhưng mà nếu như chúng ta phản đối rằng Trung Quốc vi phạm chủ quyền của Việt Nam thì như vậy cái bẫy pháp lý của họ đã thành công.

“Nghĩa là anh thừa nhận rằng các bãi ngầm này là thuộc bộ phận của quần đảo Trường Sa.”

Theo chuyên gia này, đây là một ‘cái bẫy’ tinh tế được Trung Quốc ‘giăng ra’ mà ngay cả giới nghiên cứu cũng có thể ‘nhầm lẫn’, nếu không thực sự chú ý.

“Điều này ngay cả những người nghiên cứu cũng bị nhầm lẫn, thực ra đây là một bãi cạn ngầm mà nằm trong thềm lục địa được gọi là trên bãi cạn Tư Chính, chứ thực ra vùng biển ở vùng thềm lục địa của nó mới chính là điều chúng ta cần lưu ý, chứ không phải là bãi cạn.

“Vì nó chẳng có ý nghĩa khác gì cả, có là một cấu trúc của thềm lục địa thôi. Đó chính là bẫy pháp lý.

“Hay là họ nói rằng vùng biển mà xung quanh bãi Tư Chính là vùng biển phụ cận liên quan, nhưng trong luật biển chẳng có thuật ngữ ‘phụ cận liên quan’ như họ nói như vậy là nói một cách mơ hồ để người ta nhầm tưởng.

Việt NamBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionMạng xã hội ở Việt Nam ‘đi đầu’ trong chủ động phát hiện các thông tin liên quan yêu sách đường lưỡi bò được ‘cài’ vào nhiều hàng hóa, dịch vụ, hoạt động của Trung Quốc đưa vào Việt Nam, theo nhà quan sát

“Thì thực sự mà nói là bãi cạn này về mặt pháp lý, Công ước luật biển thì nó chẳng có ý nghĩa gì để mà nói là vùng biển cái gọi là ‘phụ cận liên quan’ cả, bởi vì nó là bãi cạn mà nằm trên thềm lục địa, nó lại nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam.

“Trung Quốc họ muốn nói như vậy, nếu chúng ta (Việt Nam) không cẩn thận, khi mà phản đối, khi nêu thực chất của vấn đề thì có thể họ dùng cái đó để nói rằng như vậy là Việt Nam đã đồng ý, hay là các nước có thể đồng ý với quan niệm yêu sách của Trung Quốc, đấy là vấn đề pháp lý của Trung Quốc mà họ đã giăng ra.

“Việt Nam vừa rồi tôi nghĩ đã không bị vướng vào cái bẫy pháp lý, bẫy của họ và nói rất rõ rằng việc vi phạm đó là vi phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam và vi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán, không nói một cách chung chung như là ‘chủ quyền lãnh hải’ như là trước đây thường nói,” Tiến sỹ Trần Công Trục nói.

Kịch tính, bị động, khó khăn?

Bãi Tư Chính là một sự kiện quan trọng không phải chi cho năm nay, mà cho cả suốt 5 năm qua, một nhà quan sát chuyển động thời sự và truyền thông từ Hà Nội, nói với cuộc hội luận Bàn Tròn Thứ Năm cuối cùng của năm 2019.

“Sự kiện quan trọng và cực kỳ quan trọng không chỉ cho 2019, mà tôi cho là quan trọng nhất trong 5 năm qua, đó là vụ Bãi Tư Chính và vấn đề đường lưỡi bò, gọi là đường lưỡi bò,” blogger Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh nêu nhận định hôm 19/12/2019.

“Hai cái này tôi phải nêu làm một, bởi vì là nó đều rất liên quan đến âm mưu của Trung Quốc thôn tính Biển Đông. Vụ Tư Chính kéo dài hơn ba tháng và nó lôi kéo sự quan tâm rất là lớn của nhân dân cả nước (Việt Nam) và quốc tế.”

Nhìn sang 2020, nhà điểm báo, điểm tin thời sự này cho rằng vụ việc Tư Chính trên Biển Đông sẽ có thể tiếp tục là thách thức cân não “kịch tính” đối với chính quyền Việt Nam:

“Về bãi Tư Chính và Biển Đông, đây là vấn đề mà chính quyền Việt Nam có thể nói gần như là hoàn toàn bị động, bây giờ xem xem, chờ xem Trung Quốc sẽ hành xử như thế nào và khi đó họ sẽ đối phó như thế nào là điều rất khó khăn.

“Và cái đó họ (chính quyền Việt Nam) không thể dễ như năm vừa qua, tức là năm nay, đó sẽ là vấn đề kịch tính. Hoặc rất ít khả năng là Trung Quốc không làm gì, nhưng nhiều khả năng là có chuyện và có chuyện thì nó sẽ rất kịch tính và Việt Nam đối phó như thế là điều cực kỳ khó.”

Biển ĐôngBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES/ARTYOM IVANOV/TASS
Image captionMột tàu cá Trung Quốc hoạt động trên Biển Đông, phía xa là các tàu tuần duyên của Trung Quốc (hình minh hoạ)

Bình luận về một tác động mà biến cố đối đầu ở bãi Tư Chính và các vùng biển lân cận trên Biển Đông gây ra với nội bộ Việt Nam trong năm 2019, nhà quan sát này nói:

“Đó là một điều cũng cho thấy rõ rằng người dân hiểu hơn về chính quyền và chính quyền cũng hiểu phần nào về người dân trong cái phản ứng với Trung Quốc.

“Tóm tắt chuyện này, tôi cho rằng đảng Cộng sản và chính quyền Việt Nam cho rằng là người dân cứ hãy yên tâm, yên trí là đảng và nhà nước rất sáng suốt, người dân không nên một chút nào là có những hoạt động riêng lẻ, mà nên tất cả mọi cái đều phải nằm trong sự hoạt động và tổ chức của nhà nước.

“Nhưng ngược lại, người dân cho rằng là rất nhiều động thái không thấy yên tâm và gây khó hiểu và thấy bí ẩn trong việc xử lý vấn đề bãi Tư Chính này.

“Rõ nhất là việc Trung Quốc quấy nhiễu như thế nào ngoài bãi Tư Chính cụ thể ra sao, hàng ngày như thế nào, rồi họ gây khó cho các tàu cảnh sát biển của chúng ta (Việt Nam) như thế nào, thì hoàn toàn báo chí không nêu gì cả. Ít nhất đó là một yếu tố mà người dân không thể nào hiểu nổi và không tin tưởng.

“Thứ hai nữa là một số phản ứng hoặc một số hoạt động có tính chất khoa học của những người rất có uy tín đối với cả chính quyền lẫn nhân dân thì lại bị một thái độ ‘rất khó chịu’ của chính quyền và thể hiện kể cả người lãnh đạo nhà nước cho đến báo chí của nhà nước cũng thể hiện là ‘rất khó chịu’ về những lời nói, cho đến những hoạt động như thế.

“Thì đấy là một hiện tượng không phải chỉ nằm trong chuyện chủ quyền và quan hệ Trung Quốc – Việt Nam mà nó còn thể hiện thêm nữa thái độ của chính quyền đối với nhân dân trong vấn đề biển đảo, trong vấn đề dân chủ. Và hai nữa là thể hiện thái độ của nhân dân đối với chính quyền trong vấn đề này, thì nó càng ngày càng rõ thêm vấn đề này.”

Về điều được cho là cần quan tâm liên quan đến yêu sách chủ quyền bằng bản đồ đường chín đoạn, hay còn được gọi là ‘đường lưỡi bò’ và cách thức Trung Quốc tiếp cận trên thực tế và khoảng cách trong đối phó trong nội bộ giữa chính quyền và nhân dân Việt Nam, blogger Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh nhấn mạnh:

Biển Đông
Image captionYêu sách chủ quyền dựa trên bản đồ đường chín đoạn (đường lưỡi bò) gây tranh cãi của Trung Quốc trên Biển đông

“Vấn đề đường lưỡi bò liên quan như thế, rất là nhiều sản phẩm của Trung Quốc tìm mọi cách rất là ‘nham hiểm’, ‘khôn khéo’ để mà đưa vào Việt Nam và chính hiện tượng mà không khích lệ lòng yêu nước của nhân dân bằng chính những hoạt động của họ – là họ phải chủ động phát hiện, chủ động để bảo vệ, chủ động để phản biện với chính quyền những hiện tượng đáng nghi ngờ.

“Không khích lệ cái đó, thì chính nó đã làm cho bộ lộ rất nhiều hiện tượng mà Trung Quốc đã âm thầm đưa những cái hình đường lưỡi bò vào Việt Nam và may, rất may là trên mạng xã hội, người ta bất chấp những sự gọi là gây khó chịu và thậm chí đe dọa, nhưng người ta vẫn có mọi cách để người ta phát hiện.

“Và chính báo chí nhà nước và nhà nước nhờ mạng xã hội để biết được chuyện đó,” cựu sỹ quan an ninh từng làm việc trước đây trong ngành Công an của Việt Nam nói.

‘Làm mạnh, xâm lược mềm’?

Gần đây, tin tức nói Việt Nam đã gián tiếp lưu ý Trung Quốc điều chỉnh thái độ và ngưng động thái gây căng thẳng trên Biển Đông khi Việt Nam cho hay nước này đảm nhi ghế Chủ tịch luân phiên Asean, tuy nhiên, có ý kiến trong giới quan sát an ninh, quân sự và chính trị khu vực cho rằng Trung Quốc sẽ có thể tiếp tục ‘làm mạnh’ và có thể ‘đưa giàn khoan’ vào vùng biển mà Việt Nam có chủ quyền.

Bàn tròn BBC: Thảo luận sự kiện thời sự chính của năm 2019

TS Hà Hoàng Hợp, GS Ngô Vĩnh Long dự đoán về Tư Chính 2020

TS Trần Công Trục: quan hệ Việt – Mỹ, Tư Chính và an ninh Biển Đông

Cựu quan chức Philippines khiếu nại Tập Cận Bình về Biển Đông

“Có những khả năng và giả thuyết thực tế rằng Trung Quốc tiếp tục làm mạnh ở Biển Đông, đặc biệt là có khả năng họ sẽ đưa giàn khoan vào khoan thăm dò và thậm chí là khoan khai thác ở trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và vùng thềm lục địa của Việt Nam mà họ coi đấy là vùng tranh chấp với đường chín đoạn của họ, mà họ tuyên bố” Tiến sỹ Hà Hoàng Hợp, nhà nghiên cứu cao cấp khách mời thuộc Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (Iseas, Singapore) nói với BBC tại một tọa đàm Bàn tròn thứ Năm cuối năm.

Việt - MỹBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionBộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Ngô Xuân Lịch và phái đoàn tiếp và làm việc với Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ và phái đoàn tại Hà Nội cuối tháng 11/2019

“Đấy là những khả năng thực tế và khả năng ấy là khả năng cao.”

Bình luận tại chỗ về nhận định này, nhà nghiên cứu chính trị và bang giao quốc tế, Giáo sư Ngô Vĩnh Long từ Đại học Maine, Hoa Kỳ nói với BBC:

“Trung Quốc tiếp tục gây hấn như chúng ta đều biết. Vấn đề bây giờ là các nước trong khu vực và các nước ngoài sẽ làm gì?

“Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ gần đây không chỉ sang thăm Việt Nam mà cũng sang thăm Philippines và nói với Philippines rằng nước này là đồng minh của Mỹ và Bộ trưởng Quốc phòng của Mỹ gặp Bộ trưởng Quốc phòng của Philippines và đã khẳng định lại quan hệ giữa Mỹ và Philippines.

“Thì chúng ta thấy rằng hiện nay có một chiều hướng của Mỹ là thúc đẩy các nước trong khu vực lên tiếng mạnh mẽ và có lên tiếng mạnh mẽ thì Mỹ và các nước khác mới có thể ủng hộ được.

“Mà ở đây vấn đề tôi thấy rất là lạc quan là bởi vì Việt Nam đã không những tuyên bố sẽ đem vấn đề Biển Đông ra Asean để đàm phán hay là để cho mọi người chú ý, mà cũng sẽ đem vấn đề Việt Nam ra trước Liên Hợp Quốc.

“Mà tôi nghĩ nếu Việt Nam đưa vấn đề Biển đông ra Liên Hợp Quốc thì Mỹ và các nước khác sẽ vận động ủng hộ Việt Nam.”

Trước thông tin Việt Nam có thể ‘kiện’ Trung Quốc ra tòa quốc tế, Giáo sư Ngô Vĩnh Long bình luận thêm:

“Nói như vậy, có lẽ làm những nước quan tâm phấn khởi khi Việt Nam lần đầu tiên lên tiếng mạnh mẽ hơn là lúc trước.”

Trở lại với khả năng Trung Quốc có thể làm gì tiếp theo trong năm mới 2020 ở trên Biển Đông, tại các khu vực mà Việt Nam quan tâm, Tiến sỹ Trần Công Trục với cái nhìn từ cuối năm 2019, đưa ra dự phóng:

“Hiện nay mà nói, để mà có thể xác định vị trí nào cụ thể thì rất khó, bởi vì Trung Quốc như đã biết thì họ đưa ra một yêu sách chiếm hầu hết Biển Đông rồi.

“Thì bất kỳ điểm nào mà nằm trong yêu sách đường lưỡi bò thì họ đều có thể sẽ tính họ làm, tùy thuộc vào tình huống, tùy thuộc vào thái độ của các nước có liên quan ở khu vực từ đó đến nay và tùy thuộc vào tình hình quốc tế, quan hệ quốc tế và thái độ của các nước trong việc lên tiếng đối với hoạt động đó của Trung Quốc để họ làm.

Việt NamBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionNgười biểu tình Việt Nam xuống đường phản đối Trung Quốc ở trung tâm thành phố Hồ Chí Minh hôm 11/5/2014, sau khi Trung Quốc đưa giàn khoan HD-981 vào vùng biển Việt Nam tuyên bố và thực thi chủ quyền

“Tôi nghĩ là như vậy, (Trung Quốc) có thể tiến hành ngay khu vực thềm lục địa, trên vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam như trước đây, hoặc là trong vùng quần đảo Trường Sa của Việt Nam, hay là vùng thềm lục địa của Malaysia hay là của Philippines.

“Tất cả những vị trí đó có thể có khả năng xảy ra, chứ bây giờ không thể nói chính xác được, nhưng cách làm của họ, theo tôi nghĩ là ở giai đoạn hiện nay, thời buổi hiện nay, có lẽ họ sẽ sử dụng các hoạt động mang tính chất như là kinh tế, khoa học – kỹ thuật.

“Nhưng theo nhiều người nói đây là họ tổ chức cuộc ‘xâm lược mềm’, họ không dùng vũ lực như trước đây để mà xâm chiếm nữa, mà họ sẽ sử dụng những biện pháp về mặt kinh tế, về mặt dân sự về mặt khoa học – kỹ thuật để họ giành lấy trên thực tế yêu sách của họ.

“Nếu như các nước không có một sự cảnh giác cần thiết, không có một biện pháp cần thiết, thì như vậy có thể là một cách mà họ muốn chấp nhận yêu sách của họ, từ yêu sách đó, so với đàm phán, họ muốn các hợp tác cùng khai thác với Trung Quốc, mà loại bỏ những hoạt động khác khai thác, hợp tác với các nước khác.

“Ví dụ như vậy cũng là một cái cách và tôi nghĩ họ sẽ tiến hành làm,” Tiến sỹ Trần Công Trục đưa ra dự đoán với BBC trong một phỏng vấn cuối năm hôm 21/11 từ Hà Nội.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Ngày Hồ Chí Minh nhờ Mao Trạch Đông giúp xây dựng quân đội

Ngày Hồ Chí Minh nhờ Mao Trạch Đông giúp xây dựng quân đội

Mao Trạch Đông và Hồ Chí MinhBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionMao Trạch Đông và Hồ Chí Minh

Một tác giả người gốc Trung Quốc vừa ra mắt sách về “tầm mức hỗ trợ quân sự của Trung Quốc” dành cho lực lượng cộng sản của Hồ Chí Minh.

“Building Ho’s Army: Chinese Military Assistance to North Vietnam” của giáo sư Xiaobing Li (Lý Tiểu Binh), do NXB Đại học Kentucky, Mỹ, ấn hành tháng Tám 2019.

Tác giả là giáo sư lịch sử tại Đại học Central Oklahoma, và từng phục vụ trong quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.

Nội chiến Trung Quốc, Tưởng Giới Thạch để mất ủng hộ của Mỹ

Bàn Tròn BBC: Điểm và bình luận sự kiện quốc tế và VN nổi bật năm 2019

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong bức hình lịch sử

Chu Ân Lai và vấn đề Hoàng Sa

Sách tập trung vào giai đoạn phôi thai 1950-1956 khi quân đội miền Bắc Việt Nam được chuyển hóa từ lực lượng nông dân thành quân đội chính quy hiện đại.

Về nguồn tư liệu, tác giả cho hay từ thập niên 1980, Trung Quốc bắt đầu công bố thông tin về sự can dự của Bắc Kinh trong hai cuộc chiến tại Việt Nam, chống Pháp và chống Mỹ.

Đến tận gần đây, do căng thẳng biển đảo giữa hai nước, Trung Quốc cũng khuyến khích công bố các tài liệu, kể cả hồi ký và bài báo, để chứng tỏ Trung Quốc đã “thân thiện, rộng rãi, và hy sinh trong Chiến tranh Việt Nam”.

Tác giả nói sách của ông chủ yếu dựa vào kho tư liệu của Trung Quốc, trong đó có tiếp cận với Đại học Quốc phòng và Học viện Chính trị Nam Kinh, Trung Quốc.

Tác giả cũng phỏng vấn các cựu chiến binh của Trung Quốc, Việt Nam và Nga.

Nhờ giúp đỡ

Mối quan hệ của Hồ Chí Minh với những người cộng sản Trung Quốc đã có ngay từ đầu thập niên 1920.

Như Chu Ân Lai, sau này là thủ tướng Trung Quốc, nhớ lại: “Ông ấy [Hồ Chí Minh] đã là nhà Marxist cao cấp khi tôi chỉ mới gia nhập Đảng Cộng sản. Ông là người anh lớn của tôi.”

Sau khi Mao Trạch Đông thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ngày 1/10/1949, Hồ Chí Minh ngay lập tức gửi hai nhóm đồng thời sang Trung Quốc xin giúp đỡ vào ngày 6/10.

Nhóm một do Lý Bích Sơn dẫn đầu, mang lá thư của ông Hồ gửi Chu Ân Lai, đi đường biển qua các nơi như Hong Kong, Thanh Đảo rồi tới Bắc Kinh. Nhóm thứ hai của Nguyễn Đức Thụy, đi đường bộ từ Lạng Sơn sang Quảng Tây rồi đến Bắc Kinh.

Điện BiênBản quyền hình ảnhCOLLECTION JEAN-CLAUDE LABBE
Image captionBộ đội Việt Minh kéo pháo vào Điện Biên tháng 5/1954 -hình tư liệu

Hai phái đoàn đề nghị Trung Quốc viện trợ tài chính, khoảng 10 triệu USD, và vũ khí.

Nhưng trong lúc hai đoàn ở Bắc Kinh tháng 12/1949, Mao Trạch Đông đang thăm Moscow, và sẽ chỉ quay về tháng Hai năm sau.

Lúc này, Tổng Bí thư Lưu Thiếu Kỳ thay Mao phụ trách công việc ở Bắc Kinh, và mở cuộc họp Bộ Chính trị ngày 24/12 để thảo luận về yêu cầu của Hồ Chí Minh.

Điều thú vị, theo sách của Xiaobing Li, đa số trong Bộ Chính trị Trung Quốc bày tỏ lo ngại và cho rằng không thể giúp đỡ vì Trung Quốc đang gặp khó khăn sau chiến tranh.

Lưu Thiếu Kỳ báo cáo cho Mao và đề nghị chỉ giúp đỡ ít ỏi.

Nhưng Mao bác bỏ, yêu cầu Bộ Chính trị có thái độ ủng hộ nhiều hơn với Việt Minh.

Trong lúc ở Moscow, Mao yêu cầu Stalin giúp không vận và đặc nhiệm để Trung Quốc tấn công Đài Loan.

Stalin từ chối, và cũng quyết định rút quân Liên Xô ra khỏi Trung Quốc. Như vậy sẽ không có quân Liên Xô có mặt giúp đỡ nếu nhỡ xảy ra cuộc tấn công vào Trung Quốc.

Trong cuộc gặp thứ hai của họ vào hôm 24/12, Stalin đề xuất Trung Quốc phải gánh vác trách nhiệm cho phong trào cộng sản thế giới, trong đó có việc giúp đỡ phong trào ở Á châu như Việt Nam.

Tại Moscow, Mao đồng ý với Stalin rằng Trung Quốc sẽ giúp Hồ Chí Minh.

Mao gửi điện cho Lưu Thiếu Kỳ ngày 24/12, chỉ đạo rằng Trung Quốc ban đầu sẽ đáp ứng một nửa yêu cầu của Hồ Chí Minh và phần còn lại sẽ gửi sau.

Ngày 25/12, Lưu Thiếu Kỳ gửi điện cho Đảng Cộng sản Đông Dương, hứa giúp đỡ.

Tháng Giêng 1950, nhóm công tác Trung Quốc do La Quý Ba dẫn đầu, sang Việt Nam. La Quý Ba sau này sẽ là đại sứ Trung Quốc đầu tiên ở Hà Nội vào năm 1954.

Gặp La Quý Ba trước chuyến đi, Lưu Thiếu Kỳ ước tính La sẽ ở lại Việt Nam ba tháng. Ông không hình dung rằng La Quý Ba sẽ ở lại đó bảy năm.

Chuyến đi tới Bắc Kinh và Moscow

Hồ Chí Minh có chuyến đi bí mật tới Bắc Kinh vào tháng Giêng 1950, được Lưu Thiếu Kỳ đón tiếp.

Ngày 3/2, ông Hồ rời Bắc Kinh, đi sang Moscow để gặp Stalin và Mao.

Cộng sảnBản quyền hình ảnhBETTMANN
Image captionNam Il của Bắc Triều Tiên, V. Molotov và Phạm Văn Đồng thăm villa của Thủ tướng TQ Chu Ân Lai (thứ nhì từ phải) tại Bắc Kinh năm 1954

Ngày 6/2, Moscow mở tiệc đón ông Hồ, nhưng Stalin không dự.

Stalin bảo với Mao rằng Trung Quốc nay là “trung tâm cách mạng châu Á” và rằng Trung Quốc cần “giữ trách nhiệm chủ lực” trong việc giúp Việt Nam.

Mao gặp ông Hồ tại Moscow, khẳng định sẽ giúp lực lượng Việt Minh.

Cả hai người cùng đi xe lửa từ Moscow về lại Bắc Kinh, chuyến đi kéo dài từ 17/2 tới 4/3.

Theo tác giả Xiaobing Li, vào hôm 26/2, khi xe lửa qua biên giới Trung Quốc, ông Hồ hỏi Mao về khả năng Trung Quốc gửi quân can thiệp.

“Mao nghĩ một lúc và từ chối yêu cầu của ông Hồ về lính Trung Quốc, nhưng ông đồng ý gửi cố vấn quân sự sang Việt Nam,” giáo sư Xiaobing Li viết.

Khi đến Bắc Kinh ngày 4/3, ông Hồ cử Hoàng Văn Hoan làm đại diện làm việc với Trung Quốc về viện trợ quân sự và về cố vấn Trung Quốc.

Bối cảnh quốc tế

Mùa thu 1950, Trung Quốc đưa quân can thiệp vào chiến tranh Triều Tiên, trực tiếp đối đầu quân sự với Mỹ.

Bối cảnh này có ảnh hưởng trực tiếp tới diễn biến ở Việt Nam, vì Bắc Kinh xem việc giúp đỡ đồng minh cộng sản ở Bắc Việt là cách hiệu quả để bảo vệ Trung Quốc trước đe dọa của khối tư bản do Mỹ dẫn đầu.

Theo cái nhìn của giáo sư Xiaobing Li, Mao nhận ra rằng Liên Xô sẽ không gửi quân giúp đỡ nếu Trung Quốc bị phương Tây xâm lược.

Thay vì chờ phương Tây đánh, Mao quyết định đối đầu với ngoại bang ở các nước láng giềng như Việt Nam và Triều Tiên.

Chiến lược “phòng thủ tích cực” này sẽ ngăn không để xảy ra đối đầu bên trong Trung Quốc.

Ngày 4/8/1950, Mao nói với Bộ Chính trị: “Chúng ta sẽ lấy lại Đài Loan, nhưng lúc này không thể ngồi yên mà nhìn Việt Nam và Triều Tiên.”

Sang đến thập niên 1960, Trung Quốc đã thiết lập được “vùng đệm an ninh” dọc đường biên giới.

Tuy vậy, trớ trêu thay, viện trợ của Trung Quốc, và sau này là của Liên Xô, tại Việt Nam không làm quan hệ đồng minh cộng sản trở nên tốt đẹp hơn.

Sự cạnh tranh Xô – Trung trong Chiến tranh Việt Nam chống Mỹ làm xấu đi quan hệ giữa Moscow và Bắc Kinh.

Tại Việt Nam, nhiều lãnh đạo cũng nghi ngờ Trung Quốc chỉ quan tâm đến an ninh quốc gia và ảnh hưởng chứ không phải vì độc lập của Việt Nam.

Sau khi Hồ Chí Minh qua đời năm 1969, Hà Nội ngày càng gắn bó với Moscow.

Quan hệ đồng minh truyền thống giữa Trung Quốc và Bắc Việt, như môi với răng trong thập niên 1950, nhanh chóng gãy đổ.

Xem thêm:

Ai từng trợ giúp Pol Pot và đồng minh?

Đánh giá mới về viện trợ Trung Quốc cho Hà Nội thời chiến

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong bức hình lịch sử

Ông Lê Duẩn từ 1973 đã lo ‘bị Mao tấn công’

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Nỗi sợ hãi Trung Quốc Mới: Tại sao Mỹ không nên hoảng sợ về kẻ thách thức mới nhất của mình

Nỗi sợ hãi Trung Quốc Mới: Tại sao Mỹ không nên hoảng sợ về kẻ thách thức mới nhất của mình

Foreign Affairs

Tác giả: Fareed Zakaria[i]

Dịch và chú giải: Một thân hữu của Viet-studies

6-12-2019

Khách tham quan trước bức ảnh của Xi tại Trung tâm Triển lãm Bắc Kinh, tháng 9/2019. Ảnh: Jason Lee / Reuters

Vào tháng Hai 1947, Tổng thống Mỹ Harry Truman đã hội ý với các cố vấn chính sách đối ngoại cao cấp nhất của ông ta, George Marshall và Dean Acheson, và một ít các nhà lãnh đạo quốc hội. Chủ đề là kế hoạch của chính quyền hỗ trợ chính phủ Hy Lạp trong cuộc chiến chống lại một cuộc nổi dậy của cộng sản. Marshall và Acheson đã trình bày lý lẽ của họ đối với kế hoạch ấy. Arthur Vandenberg, chủ tịch Ủy ban đối ngoại thượng viện, lắng nghe một cách kỹ lưỡng và sau đó đã đưa ra sự ủng hộ của mình kèm một lời cảnh báo. ‘Cách duy nhất ngài sẽ có được những gì ngài muốn’, ông được kể là đã nói với tổng thống, ‘là phát biểu và hù dọa cả nước’.

Trong vài tháng sau đó, Truman đã làm đúng điều ấy. Ông ta đã biến cuộc nội chiến ở Hy Lạp thành một phép thử về khả năng của Mỹ đối đầu với chủ nghĩa cộng sản quốc tế. Khi ngẫm tới lời hùng biện mở rộng của Truman về việc trợ giúp các nền dân chủ ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào, Acheson thú nhận trong hồi ký của mình rằng chính quyền đã đưa ra một lập luận ‘còn rõ hơn cả sự thật’.

Một cái gì đó tương tự thế đang xảy ra ngày nay trong cuộc tranh luận của người Mỹ về Trung Quốc. Một sự đồng thuận mới, bao gồm cả hai đảng, nhóm nắm quyền quân sự và các thành tố chính của truyền thông, cho rằng Trung Quốc hiện là mối đe dọa sống còn đối với Mỹ cả về kinh tế lẫn chiến lược, rằng chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc đã thất bại, và Washington cần một chiến lược mới, cứng rắn hơn nhiều để ngăn chặn nó. Sự đồng thuận này đã làm dịch chuyển lập trường của công chúng về phía một sự thù địch gần như có tính bản năng: theo thăm dò ý kiến, 60% người Mỹ hiện có quan điểm bất lợi về nước Cộng hòa Nhân dân này, một mức cao kỷ lục kể từ khi Trung tâm nghiên cứu Pew bắt đầu đặt câu hỏi đó vào năm 2005. Nhưng giới tinh hoa Washington đã làm cho lý lẽ của họ ‘còn rõ hơn cả sự thật’. Bản chất của thách thức từ Trung Quốc khác xa và phức tạp hơn nhiều so với những gì đám gieo rắc hoang mang mới miêu tả. Về vấn đề chính sách đối ngoại quan trọng nhất độc nhất vô nhị trong vài thập kỷ tới đây, nước Mỹ đang tự sắp đặt cho mình một thất bại đắt giá.

Hãy nói cho rõ: Trung Quốc là một chế độ đàn áp sử dụng các chính sách hoàn toàn hẹp hòi, từ việc cấm tự do ngôn luận đến giam giữ các nhóm thiểu số tôn giáo. Trong năm năm qua, nó đã tăng cường kiểm soát chính trị và tập trung quyền lực kinh tế trong nước. Ở nước ngoài, nó đã trở thành người cạnh tranh và ở một số nơi thì là đối thủ của Mỹ. Nhưng câu hỏi chiến lược cốt yếu cho người Mỹ ngày nay là liệu những thực tế này có khiến Trung Quốc trở thành một mối đe dọa sống còn [với Mỹ] hay không, và tới mức mà các thực tế ấy như thế, mối đe dọa đó nên được giải quyết như thế nào?

Các hậu quả của việc phóng đại mối đe dọa của Liên Xô đã là rất lớn: những lạm dụng thô bạo trong nước trong thời kỳ McCarthy; một cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân nguy hiểm; một cuộc chiến dài, vô ích và không thành công ở Việt Nam; và vô số các can thiệp quân sự khác ở nhiều quốc gia được gọi là Thế giới thứ ba. Các hậu quả của việc không nắm được cái thách thức Trung Quốc ngay hôm nay sẽ còn lớn hơn. Mỹ có nguy cơ phung phí những lợi ích đã giành được một cách khó nhọc từ bốn thập kỷ can dự với Trung Quốc, khuyến khích Bắc Kinh áp dụng các chính sách đối đầu của riêng nó, và đưa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới vào một cuộc xung đột nguy hiểm với quy mô và phạm vi không biết được mà nó sẽ gây ra nhiều thập kỷ bất ổn và không an toàn. Một cuộc chiến tranh lạnh với Trung Quốc có thể sẽ kéo dài và tốn kém hơn nhiều so với chiến tranh lạnh đối với Liên Xô, với một kết cục không chắc chắn.

Cam kết đứt quãng

Henry Kissinger đã lưu ý rằng Mỹ đã tham gia vào tất cả các can dự quân sự lớn của mình kể từ năm 1945 – tại Hàn Quốc, Việt Nam, Afghanistan và Iraq – với sự nhiệt tình và hỗ trợ lưỡng đảng to lớn. ‘Và sau đó, khi chiến tranh phát triển’, Kissinger nói, ‘sự hỗ trợ trong nước cho nó bắt đầu tan rã’. Một cách mau chóng, mọi người đều đã tìm kiếm một chiến lược [để] thoát ra.

Để tránh đi lại cái con đường đó, Mỹ nên dành thời gian để xem xét kỹ các giả định đằng sau sự đồng thuận mới [về] Trung Quốc. Theo nghĩa rộng, chúng là như sau. Thứ nhất, sự tham dự đã thất bại vì nó đã không ‘làm chuyển đổi được sự phát triển bên trong và hành vi bên ngoài của Trung Quốc’, như các cựu quan chức Mỹ Kurt Campbell và Ely Ratner đã viết trong tạp chí này vào năm 2018. Thứ hai, chính sách đối ngoại của Bắc Kinh hiện là mối đe dọa đáng kể nhất đối với lợi ích của Mỹ, và bằng cách bành trướng, là mối đe dọa quan trọng nhất tới trật tự quốc tế dựa trên quy tắc mà Mỹ tạo ra sau năm 1945. Ngoại trưởng Mỹ, Mike Pompeo, đã đi còn xa hơn, khi nói trong một bài phát biểu năm 2019 tại Viện Hudson rằng ‘Đảng Cộng sản Trung Quốc là một đảng Marx-Lenin tập trung vào đấu tranh và thống trị quốc tế’. Và thứ ba, một chính sách đối đầu chủ động với Trung Quốc sẽ chống lại mối đe dọa đó tốt hơn là một sự tiếp tục cách tiếp cận trước đó.

Sự đồng thuận lưỡng đảng này đã hình thành để đáp lại những thay đổi đáng kể và đáng lo ngại theo nhiều cách ở Trung Quốc. Kể từ khi chủ tịch Tập Cận Bình trở thành người cầm quyền tối cao của đất nước, tự do hóa kinh tế của Trung Quốc đã chậm lại và cải cách chính trị của nó – trong mọi trường hợp đều hạn chế – đã bị đảo ngược. Bắc Kinh giờ đây kết hợp sự đàn áp chính trị với tuyên truyền dân tộc chủ nghĩa tương tự như trong thời đại của Mao. Ở nước ngoài, Trung Quốc đầy tham vọng và quyết đoán. Những thay đổi này là có thật và đáng lo ngại. Nhưng chúng nên làm thay đổi chính sách của Mỹ như thế nào?

Thành hình nên một phản ứng hiệu quả thì đòi hỏi phải bắt đầu với một sự hiểu biết rõ ràng về chiến lược [về] Trung Quốc của Mỹ cho tới thời điểm này. Điều mà sự đồng thuận mới đang bỏ lỡ là trong gần 5 thập kỷ kể từ việc mở cánh cửa vào Bắc Kinh của tổng thống Mỹ Richard Nixon, chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc chưa bao giờ đơn thuần là cam kết tham dự cả; nó đã là sự kết hợp của tham dự và răn đe. Vào cuối những năm 1970, các nhà hoạch định chính sách của Mỹ đã kết luận rằng việc tích hợp Trung Quốc vào hệ thống kinh tế và chính trị toàn cầu tốt hơn là để nó ngồi ngoài, bực bội và quậy phá. Nhưng Washington đã kết hợp nỗ lực đó với sự hỗ trợ nhất quán cho các quốc gia quyền lực châu Á khác – bao gồm, tất nhiên, tiếp tục bán vũ khí cho Đài Loan. Cách tiếp cận đó, đôi khi được mô tả như là một ‘chiến lược phòng ngừa rủi ro’, đảm bảo rằng khi Trung Quốc trỗi dậy, sức mạnh của nó đã được kiểm tra và các nước láng giềng của nó cảm thấy an toàn.

Trong những năm 1990, không còn kẻ thù Liên Xô nào để mà ngăn chặn nữa, Lầu Năm Góc đã cắt giảm chi tiêu, đóng cửa các căn cứ và giảm số quân trên khắp thế giới – ngoại trừ ở châu Á. Chiến lược châu Á-Thái Bình Dương 1995 của Lầu Năm Góc, được gọi là Sáng kiến ​​Nye, đã cảnh báo về các tham vọng chính sách đối ngoại và xây dựng quân đội của Trung Quốc và tuyên bố rằng Mỹ sẽ không giảm sự hiện diện quân sự tại khu vực này. Thay vào đó, ít nhất 100 ngàn lính Mỹ sẽ ở lại châu Á trong tương lai gần. Việc bán vũ khí cho Đài Loan sẽ tiếp tục vì lợi ích hòa bình ở eo biển Đài Loan – nghĩa là răn đe Bắc Kinh sử dụng vũ lực chống lại hòn đảo tự trị ấy mà chính phủ đại lục coi là một phần của Trung Quốc.

Cách tiếp cận phòng ngừa rủi ro này được duy trì bởi các tổng thống của cả hai đảng. Chính quyền George W. Bush đã lật ngược hàng thập kỷ chính sách lưỡng đảng và ôm lấy Ấn Độ như một cường quốc hạt nhân, phần lớn để thêm một kiểm tra khác về Trung Quốc. Dưới thời tổng thống Barack Obama, Mỹ đã tăng cường răn đe, mở rộng dấu chân ở châu Á bằng các thỏa thuận quân sự mới với Úc và Nhật Bản, và nuôi dưỡng mối quan hệ gần gũi hơn với Việt Nam. Đó cũng là mục đích của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương, được thiết kế để cung cấp cho các nước châu Á một nền tảng kinh tế cho phép họ chống lại sự thống trị của thị trường Trung Quốc. (Chính quyền Trump đã rút khỏi thỏa thuận đó vào đầu năm 2017). Cá nhân Obama đã đối đầu với ông Tập về vấn đề không gian mạng của Trung Quốc và áp thuế nhập khẩu lốp xe để trả đũa các chính sách thương mại không công bằng của Trung Quốc.

Nói rằng [chiến lược] bảo hiểm rủi ro đã thất bại thì toát lên tính thiếu quan điểm lịch sử. Đầu những năm 1970, trước khi Nixon mở cánh cửa vào Trung Quốc, Bắc Kinh đã là chế độ đểu cáng vĩ đại nhất thế giới. Mao Trạch Đông bị ám ảnh bởi ý tưởng rằng ông ta là người cầm lái một phong trào cách mạng sẽ hủy diệt thế giới tư bản phương Tây. Đã chẳng có biện pháp nào là quá cực đoan cho mục đích đó – kể cả sự hủy diệt hạt nhân cũng không loại trừ. ‘Trong trường hợp xấu nhất và nếu một nửa nhân loại đã chết’, Mao giải thích trong một bài phát biểu tại Moscow năm 1957, ‘nửa còn lại sẽ còn lại trong khi chủ nghĩa đế quốc sẽ bị san phẳng tới tận mặt đất và cả thế giới sẽ trở thành xã hội chủ nghĩa’. Trung Quốc của Mao đã xúi bẩy và tài trợ cho các cuộc nổi dậy chống phương Tây, các phong trào du kích và các phong trào tư tưởng trên khắp thế giới, từ Mỹ Latinh đến Đông Nam Á. Theo một ước tính, Bắc Kinh đã chi từ 170 triệu đến 220 triệu USD từ năm 1964 đến 1985 chỉ riêng ở Châu Phi, đào tạo 20 ngàn chiến binh từ ít nhất 19 quốc gia.

Để so sánh, Trung Quốc ngày nay là một quốc gia có trách nhiệm đáng kể trên mặt trận địa chính trị và quân sự. Nó đã không tham chiến từ năm 1979. Nó đã không sử dụng lực lượng quân sự giết chóc ở nước ngoài kể từ năm 1988. Nó cũng đã không tài trợ hoặc hỗ trợ cho các lực lượng ủy nhiệm hay các cuộc nổi dậy vũ trang ở bất cứ đâu trên thế giới kể từ đầu những năm 1980. Kỷ lục không can thiệp đó là độc nhất vô nhị trong số các cường quốc trên thế giới. Tất cả các thành viên thường trực khác của Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc (LHQ) đều đã sử dụng vũ lực nhiều lần ở nhiều nơi trong vài thập kỷ qua – một danh sách, tất nhiên, do Mỹ dẫn đầu.

Trung Quốc cũng đã đi từ chỗ tìm cách làm suy yếu hệ thống quốc tế đến chi một khoản lớn để củng cố nó. Bắc Kinh hiện là nhà tài trợ lớn thứ hai của LHQ và chương trình gìn giữ hòa bình của LHQ. Nó đã triển khai 2500 nhân viên gìn giữ hòa bình, nhiều hơn tất cả các thành viên thường trực khác của Hội đồng bảo an cộng lại. Từ năm 2000 đến 2018, Trung Quốc đã ủng hộ 182 trong số 190 nghị quyết của Hội đồng bảo an áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với các quốc gia được coi là đã vi phạm các quy tắc hoặc chuẩn mực quốc tế. Hẵng cứ cho là như thế này, các nguyên tắc neo giữ chính sách đối ngoại của Bắc Kinh hiện nay – ‘tôn trọng chủ quyền’, ‘toàn vẹn lãnh thổ’, và ‘không can thiệp’ – được cổ vũ phần lớn bởi một mong muốn chống lại sự can thiệp của phương Tây. Tuy nhiên, chúng nhấn mạnh một sự chuyển dịch đáng chú ý từ một chương trình nghị sự cách mạng cấp tiến sang một mối quan tâm bảo thủ về sự ổn định. Ai đó đã dự đoán vào năm 1972 rằng Trung Quốc sẽ trở thành người bảo vệ nguyên trạng quốc tế, song ít ai đã tin được điều đó là có thể.

Địa vị thương mại

Sự đồng thuận mới về hành vi kinh tế của Trung Quốc thì cho rằng Trung Quốc đã buộc các công ty đa quốc gia chuyển giao công nghệ của họ, đã trợ cấp cho ‘các công ty thành công nhất của quốc gia’ và đặt các rào cản chính thức và không chính thức trên con đường các công ty nước ngoài tìm cách thâm nhập thị trường Trung Quốc. Nói tóm lại, Bắc Kinh đã sử dụng nền kinh tế quốc tế mở để củng cố hệ thống trung ương tập quyền và chủ nghĩa trọng thương của riêng mình.

Đúng là những chính sách không công bằng này đòi hỏi phải chú ý và hành động từ phần còn lại của thế giới. Chính quyền Trump xứng đáng nhận được một sự tín nhiệm nhất định nào đó cho việc giải quyết vấn đề này – đặc biệt là trong bối cảnh Tập đã ôm lấy [kinh tế] trung ương tập quyền sau nhiều thập kỷ tự do hóa. Nhưng sự đảo ngược này lớn và lâu dài đến thế nào? Các tập quán của Trung Quốc thì khác với các nước thị trường mới nổi khác hiện nay ra sao? Và một lần nữa, phản ứng đúng của người Mỹ là gì?

Hầu hết tất cả các nhà kinh tế đều đồng ý rằng Trung Quốc có được nhiều thành công kinh tế của mình nhờ ba yếu tố cơ bản: chuyển đổi từ kinh tế học cộng sản sang cách tiếp cận dựa trên thị trường hơn, một tỷ lệ tiết kiệm cao giúp đầu tư vốn lớn, và tăng năng suất. Trong ba thập kỷ qua, nước này cũng đã mở cửa đáng kể cho đầu tư nước ngoài – nhiều hơn so với nhiều thị trường mới nổi lớn khác – cho phép vốn đổ vào. Trung Quốc là một trong chỉ có hai nước đang phát triển được xếp hạng trong 25 thị trường hàng đầu đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài kể từ năm 1998. Trong nhóm BRICS gồm các thị trường mới nổi lớn (bao gồm Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi), Trung Quốc luôn được xếp hạng là nền kinh tế mở và cạnh tranh nhất. Còn như tác động của các chính sách trọng thương của Trung Quốc đối với nền kinh tế Mỹ, cựu Bộ trưởng tài chính Mỹ, Lawrence Summers, đã lưu ý rằng ‘không thể tranh luận một cách nghiêm túc rằng các thực tế thương mại không công bằng của Trung Quốc đã ảnh hưởng đến tăng trưởng của Mỹ thậm chí là 0,1% mỗi năm’.

Điều đáng chú ý là trên mặt trận kinh tế, hầu hết mọi trách nhiệm đổ cho Trung Quốc ngày nay – chuyển giao công nghệ bắt buộc, thực hành thương mại không công bằng, việc tiếp cận hạn chế đối dành cho các công ty nước ngoài, thiên vị pháp lý cho các công ty địa phương – cũng đã được đổ cho Nhật Bản trong những năm 1980s và 1990s. Vào thời điểm đó, cuốn sách đầy ảnh hưởng ‘Địa vị thương mại: Nước Mỹ đang nhượng tương lai của mình lại cho Nhật Bản như thế nào và Làm thế nào để giành lại nó’ (Trading Places: How America Is Surrendering Its Future to Japan and How to Win It Back) của Clyde Prestowitz đã giải thích rằng Mỹ chưa bao giờ tưởng tượng ra được việc giao dịch với một quốc gia mà ‘công nghiệp và thương mại [có lẽ được] tổ chức như một phần của một nỗ lực nhằm đạt được các mục tiêu quốc gia cụ thể’. Một cuốn sách được đọc rộng rãi khác của thời đại đó có tựa đề ‘Cuộc chiến sắp tới với Nhật Bản’. Khi tăng trưởng của Nhật Bản giảm dần, những nỗi sợ hãi thái quá này cũng vậy.

Trung Quốc hôm nay đặt ra một số thách thức mới, đặc biệt là quyết tâm của Tập Cận Bình để nhà nước đóng vai trò hàng đầu trong việc giúp nước này giành được địa vị thống trị về kinh tế trong các lĩnh vực quan trọng. Nhưng trong lịch sử rộng lớn với nhiều điều ít được để ý, lợi thế lớn nhất của Trung Quốc trong hệ thống thương mại toàn cầu không đến từ việc họ sẵn sàng vi phạm các quy tắc mà chỉ từ quy mô/kích cỡ của nó. Các quốc gia và công ty muốn tiếp cận với Trung Quốc và sẵn sàng nhượng bộ để có được nó. Điều này hầu như không làm cho Trung Quốc trở nên bất thường. Các quốc gia khác có ảnh hưởng tương tự thường đi xa nữa với hành vi tương tự hoặc tệ hơn – không ai khác hơn là chính Mỹ cũng vậy. Một báo cáo năm 2015 của gã khổng lồ về dịch vụ tài chính, Credit Suisse, cung cấp một danh sách hữu ích về các rào cản chống lại hàng hóa nước ngoài đã được các nước lớn đưa ra từ năm 1990 đến 2013. Với tổng số gần 450 rào cản, Mỹ là một liên minh riêng mình. Tiếp theo là Ấn Độ, sau đó là Nga. Trung Quốc đứng ở vị trí thứ 5, với chỉ một phần ba các rào cản phi thuế quan được áp đặt so với Mỹ. Bức tranh đã không thay đổi mấy trong những năm kể từ đó.

Hầu hết các thay đổi gần đây trong chính sách kinh tế của Bắc Kinh đã là tiêu cực, nhưng thậm chí cái đó cũng vẫn chưa phải là toàn bộ câu chuyện. Trung Quốc đang thay đổi theo một số đường lối, đôi khi mâu thuẫn nhau. Ngay cả với việc quay trở lại sự kiểm soát nhà nước lớn hơn dưới thời Tập, thì một thị trường tự do hoang dã cũng đã phát triển mạnh mẽ trong các lĩnh vực rộng lớn như hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ. Cũng đã có việc tự do hóa trong lập quy thực sự nào đó – thậm chí là cải cách hành chính và tư pháp, như nhà khoa học chính trị Yuen Yuen Ang[i][2] đã nêu chi tiết. Sự hỗ trợ của chính phủ cho các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước lớn hơn so với vài năm trước, nhưng Bắc Kinh đã từ bỏ cái một thời đã từng là một phần trung tâm của chiến lược trọng thương của mình: sử dụng một đồng tiền được [có chủ ý] định giá thấp để thúc đẩy tăng trưởng. Nhà kinh tế học Nicholas Lardy[ii][3] đã tính toán rằng sự kết thúc của chủ nghĩa trọng thương tiền tệ chiếm ‘khoảng một nửa sự chậm lại tăng trưởng của Trung Quốc kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu’.

Hoặc xem đó là cái gì, cái nói theo Peter Navarro, cố vấn thương mại hàng đầu của tổng thống Mỹ Donald Trump, vấn đề số một trong tranh chấp thương mại của Mỹ với Trung Quốc: ‘hành vi trộm cắp tài sản trí tuệ của chúng ta’. Việc Trung Quốc tham gia vào chuyện trộm cắp tràn lan sở hữu trí tuệ là một thực tế được chấp nhận rộng rãi – ngoại trừ trong số các công ty Mỹ đang kinh doanh tại Trung Quốc. Trong một cuộc khảo sát gần đây về các công ty như vậy do Hội đồng doanh nghiệp Mỹ-Trung (U.S.-China Business Council) thực hiện, bảo vệ sở hữu trí tuệ đứng thứ 6 trong danh sách các mối quan tâm cấp bách, đã giảm xuống từ vị trí thứ 2 trong năm 2014. Các công ty này lo ngại nhiều hơn về tài trợ của nhà nước cho các công ty đối thủ và việc trì hoãn phê duyệt giấy phép cho sản phẩm của họ. Tại sao sự thay đổi này lại từ năm 2014? Năm đó, Trung Quốc đã tạo ra các tòa án chuyên ngành đầu tiên để xử lý các vụ án sở hữu trí tuệ. Năm 2015, các nguyên đơn nước ngoài đã đưa 63 vụ ra Tòa án Sở hữu trí tuệ Bắc Kinh. Tòa án đã phán quyết cho các công ty nước ngoài thắng kiện trong tất cả 63 vụ.

Tất nhiên, những cải cách như thế này thường chỉ được thực hiện khi đối mặt với áp lực của phương Tây và, mặc dù thế, bởi vì chúng phục vụ lợi ích cạnh tranh của chính Trung Quốc – công ty nộp đơn xin cấp bằng sáng chế lớn nhất trên toàn thế giới năm ngoái là gã khổng lồ viễn thông Trung Quốc Huawei. Nhưng cũng đúng là nhiều nhà kinh tế và nhà hoạch định chính sách cấp cao của Trung Quốc đã lập luận rằng nước này sẽ hiện đại hóa và phát triển kinh tế chỉ khi nó theo đuổi cải cách hơn nữa. Không làm thế, họ đã cảnh báo, sẽ khiến đất nước bị mắc kẹt trong ‘bẫy thu nhập trung bình’ – số phận chung của các quốc gia thoát nghèo nhưng vấp phải bức tường với mức GDP khoảng 10 ngàn USD trên đầu người, đã thất bại trong việc hiện đại hóa nền kinh tế, hệ thống pháp quy và pháp lý của họ hơn nữa.

Chừng nào sự phát triển chính trị của Trung Quốc còn đáng quan ngại, phán quyết này vẫn còn không rõ ràng. Trung Quốc đã không mở cửa chính trị của mình đến mức như nhiều người đã dự đoán; trong thực tế nó đã tiến tới sự đàn áp và kiểm soát lớn hơn. Đối xử tồi tệ của Bắc Kinh với người Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương, một khu vực ở tây bắc Trung Quốc, đã tạo ra một cuộc khủng hoảng nhân quyền. Nhà nước cũng đã bắt đầu sử dụng các công nghệ mới, như phần mềm nhận dạng khuôn mặt và trí tuệ nhân tạo, để tạo ra một hệ thống kiểm soát xã hội kiểu Orwell[iii][4]. Những thực tế này là một thảm kịch đối với người dân Trung Quốc và là một trở ngại cho đất nước tham gia lãnh đạo toàn cầu. Tuy nhiên, sẽ là một sự cường điệu khi thêm chúng vào làm bằng chứng cho sự thất bại của chính sách của Mỹ. Trong thực tế, rất ít quan chức Mỹ từng lập luận rằng sự tham dự sẽ dẫn một cách không thể lay chuyển nổi tới nền dân chủ tự do ở Trung Quốc. Họ hy vọng rằng nó sẽ diễn ra như vậy, thậm chí mong đợi điều ấy, nhưng trọng tâm của họ luôn đặt vào việc tiết chế hành vi bên ngoài của Trung Quốc, điều mà họ đã đạt được.

Băng qua lằn ranh

Dưới thời Tập, chính sách đối ngoại của Trung Quốc đã trở nên tham vọng và quyết đoán hơn, từ việc theo đuổi vai trò lãnh đạo của nó trong các cơ quan của LHQ cho tới Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI, Belt and Road Initiative) mênh mông ​và việc xây dựng các hòn đảo ở Biển Đông. Những động thái này đánh dấu một bước đột phá đối với sự thụ động xưa của đất nước trên trường quốc tế, bị kìm giữ bởi câu ngạn ngữ của nhà lãnh đạo Trung Quốc trước đây là Đặng Tiểu Bình ‘Giấu sức mạnh, chờ thời’[iv][5]. Đặc biệt, việc xây dựng quân đội của Trung Quốc là quy mô và được thiết kế theo cách gợi ý rằng một kế hoạch dài hạn đang được thực hiện một cách có hệ thống. Nhưng mức độ ảnh hưởng chấp nhận được đối với Trung Quốc sẽ là gì, với trọng lượng kinh tế của nó trên thế giới? Nếu Washington không đặt câu hỏi này trước tiên, họ không thể đưa ra những tuyên bố nghiêm túc về những việc sử dụng quyền lực nào của Trung Quốc là vượt qua lằn ranh.

Trung Quốc, theo một số thước đo, đã là nền kinh tế lớn nhất thế giới. Trong vòng 10 đến 15 năm nữa, nó có thể sẽ chiếm vị trí này theo mọi thước đo. Đặng đã đưa ra lời khuyên của mình ‘chờ thời’ đến khi nền kinh tế của đất nước chiếm khoảng 1% GDP toàn cầu. Ngày nay, nó đang đại diện cho hơn 15%. Trung Quốc thực sự đã chờ đợi đến thời của mình, và giờ đây, một Trung Quốc mạnh mẽ hơn nhiều một cách tự nhiên sẽ tìm kiếm một vai trò khu vực và toàn cầu lớn hơn.

Hãy xem trường hợp của một quốc gia khác đang trỗi dậy mạnh mẽ, điều này trở lại vào thế kỷ XIX, mặc dù không gần như trên quy mô của Trung Quốc ngày nay. Mỹ vào năm 1823 đã là nước mà bây giờ gọi là một quốc gia đang phát triển – thậm chí không nằm trong số 5 nền kinh tế hàng đầu thế giới – ấy vậy mà với Học thuyết Monroe, nó đã tuyên bố yêu sách toàn bộ bán cầu Tây cấm không được bén mảng đối với các cường quốc ở châu Âu. Trường hợp của Mỹ là một sự tương tự không hoàn hảo, nhưng nó như một lời nhắc nhở rằng khi các nước có được sức mạnh kinh tế, chúng sẽ tìm kiếm sự kiểm soát và ảnh hưởng lớn hơn đối với môi trường của mình. Nếu Washington xác định mọi nỗ lực như vậy của Trung Quốc là nguy hiểm, thì nó sẽ khiến Mỹ chống lại các động lực tự nhiên của đời sống quốc tế và rơi vào cái mà học giả Graham Allison đã gọi là ‘cái bẫy Thucydides’[v][6] – nguy cơ của một cuộc chiến giữa một cường quốc đang trỗi dậy và một nước bá chủ lo lắng.

Đối với Mỹ, đối phó với một đối thủ cạnh tranh như vậy là một thách thức mới và độc nhất vô nhị. Kể từ năm 1945, các quốc gia lớn vươn lên giàu có và nổi bật đều là những đồng minh thân cận nhất của Washington, nếu không phải là những nước gần như là được bảo hộ: Đức, Nhật Bản và Hàn Quốc. Một đặc tính thường gây rối trong cuộc sống quốc tế – các cường quốc mới đang trỗi dậy – do đó đều cực kỳ lành tính đối với Mỹ. Tuy vậy, Trung Quốc không chỉ lớn hơn nhiều so với các cường quốc đang trỗi dậy trước đó; nó cũng luôn nằm ngoài cấu trúc liên minh và phạm vi ảnh hưởng của Mỹ. Kết quả là, nó chắc chắn sẽ tìm kiếm một phạm vi ảnh hưởng độc lập lớn hơn. Thách thức đối với Mỹ, và phương Tây nói chung, sẽ là xác định phạm vi có thể chấp nhận được đối với ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc và thích ứng với nó – để có được sự tín nhiệm khi các hành động của Bắc Kinh vượt qua lằn ranh.

Cho đến nay, hồ sơ theo dõi của phương Tây về việc thích nghi với sự trỗi dậy của Trung Quốc rất kém. Thí dụ, cả Mỹ và Châu Âu đều miễn cưỡng nhượng lại bất kỳ mảnh đất nào cho Trung Quốc trong các thể chế cốt lõi quản trị kinh tế toàn cầu, Ngân hàng thế giới WB (World Bank) và Quỹ tiền tệ quốc tế IMF (International Monetary Fund), vẫn là các câu lạc bộ Âu-Mỹ. Trong nhiều năm, Trung Quốc đã tìm kiếm một vai trò lớn hơn trong Ngân hàng phát triển Châu Á ADB (Asian Development Bank), nhưng Mỹ đã chống lại. Kết quả là vào năm 2015, Bắc Kinh đã thành lập tổ chức tài chính đa phương của riêng mình, Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á AIIB (Asian Infrastructure Investment Bank) (mà Washington chống lại song không có kết quả).

Pompeo đã khẳng định – trong một tuyên bố kiểu bề trên mà chắc chắn sẽ chọc giận bất cứ công dân Trung Quốc nào – rằng Mỹ và các đồng minh phải giữ Trung Quốc ở ‘đúng chỗ của nó’. Tội lỗi của Trung Quốc, theo Pompeo, là họ chi nhiều cho quân đội hơn mức cần thiết cho quốc phòng của mình. Nhưng điều tương tự vậy, tất nhiên, cũng có thể nói về Mỹ – và của Pháp, Nga, Vương quốc Anh và hầu hết các nước lớn khác. Trong thực tế, một định nghĩa hữu ích về một cường quốc là một nước có liên quan tới nhiều hơn là chỉ liên quan tới an ninh riêng của mình.

Trật tự cũ – trong đó các nước châu Âu nhỏ đóng vai trò những đối thủ nặng ký toàn cầu trong khi những con hà mã to vật như Trung Quốc và Ấn Độ lại bị loại khỏi những thứ hạng hàng đầu của các tổ chức toàn cầu – không thể duy trì được nữa. Trung Quốc sẽ phải được dành một vị trí bên bàn và phải được tích hợp một cách thành thật vào các cấu trúc ra quyết định, hoặc họ sẽ tự do và đơn phương tạo ra các cấu trúc và các hệ thống mới của riêng mình. Sự thăng tiến của Trung Quốc tới quyền lực toàn cầu là yếu tố mới quan trọng nhất trong hệ thống quốc tế trong nhiều thế kỷ. Nó phải được công nhận như vậy.

Không tự do, chẳng quốc tế lẫn chả có trật tự

Đối với nhiều người, sự trỗi dậy của Bắc Kinh đã báo hiệu về hồi chuông báo tử của trật tự quốc tế tự do – tập hợp các chính sách và các định chế, được rèn dập phần lớn bởi Mỹ sau Thế chiến thứ II, tạo nên tổng thể một hệ thống dựa trên luật lệ, trong đó chiến tranh giữa các nước đã mất dần tầm quan trọng trong khi thương mại tự do và nhân quyền đã phát triển mạnh mẽ. Đặc điểm chính trị trong nước của Trung Quốc – một quốc gia độc đảng không cho phép sự phản đối hay bất đồng chính kiến ​​- và một số hành động quốc tế của nó khiến nó trở thành một người chơi không dễ dàng gì trong hệ thống này.

Tuy nhiên, đáng ghi nhớ là trật tự quốc tế tự do chưa bao giờ là tự do, quốc tế, hay có trật tự như bây giờ vẫn được mô tả một cách luyến tiếc cả. Ngay từ đầu, nó đã vấp phải sự khăng khăng phản đối từ Liên Xô, tiếp theo sau là một loạt các đổ vỡ trong hợp tác giữa các đồng minh (qua cuộc khủng hoảng Suez năm 1956, qua Việt Nam một thập kỷ sau) và sự đào ngũ phần nào đó của Mỹ dưới thời Nixon, người vào năm 1971 đã chấm dứt thực tiễn bảo lãnh của Washington đối với trật tự tiền tệ quốc tế bằng việc sử dụng dự trữ vàng của Mỹ. Một hình ảnh thực tế hơn là một trật tự quốc tế tự do non trẻ, đã hư hỏng từ đầu bởi những ngoại lệ, sự bất hòa và tính mong manh. Nước Mỹ, về phần mình, lại thường hành động ra ngoài các quy tắc của trật tự này, khi thực hiện các can thiệp quân sự thường xuyên có hoặc không có sự chấp thuận của LHQ; trong những năm từ 1947 đến 1989, khi Mỹ được cho là đang xây dựng trật tự quốc tế tự do, nó đã cố gắng thay đổi chế độ 72 lần trên khắp thế giới. Nó bảo lưu quyền hành giống như vậy trong lĩnh vực kinh tế, tham gia vào chủ nghĩa bảo hộ ngay cả khi nó chống lại các biện pháp khiêm tốn hơn được áp dụng bởi các quốc gia khác.

Sự thật về trật tự quốc tế tự do, như với tất cả các khái niệm như vậy, là chưa từng bao giờ thực sự có một thời kỳ hoàng kim, nhưng cũng không có thứ trật tự bị phân rã quá như nhiều người tuyên bố. Các thuộc tính cốt lõi của trật tự này – hòa bình và ổn định – vẫn còn tồn tại, với sự suy giảm rõ rệt do chiến tranh và thôn tính kể từ năm 1945. (Hành vi của Nga ở Ucraina là một ngoại lệ quan trọng). Về mặt kinh tế, đó là một thế giới thương mại tự do. Thuế quan trung bình giữa các nước đã công nghiệp hóa là dưới 3%, giảm từ 15% trước Vòng đàm phán thương mại quốc tế Kennedy trong thập niên 1960. Thập kỷ vừa qua đã chứng kiến ​​sự thụt lùi về một số độ đo mức toàn cầu hóa nhưng từ mức cơ bản cực kỳ cao. Toàn cầu hóa từ năm 1990 có thể được mô tả là đã tiến lên ba bước và chỉ lùi một bước.

Trung Quốc hầu như không đủ điều kiện là một mối nguy hiểm chết người đối với trật tự không hoàn hảo này. Hãy so sánh hành động của nó với Nga – một quốc gia mà trong nhiều đấu trường chỉ đơn giản là kẻ phá hoại, cố gắng phá vỡ thế giới dân chủ phương Tây và các mục tiêu quốc tế của nó, thường được hưởng lợi trực tiếp từ sự bất ổn do nó tăng giá dầu (nguồn tài sản lớn nhất của Kremlin). Trung Quốc không có vai trò như vậy. Khi nó bẻ cong các quy tắc và, thí dụ như, tham gia vào chiến tranh mạng, thì nó đánh cắp các bí mật quân sự và kinh tế thay vì cố gắng phá hoại tính hợp pháp của các cuộc bầu cử dân chủ ở Mỹ hoặc Châu Âu. Bắc Kinh lo ngại sự bất đồng quan điểm và sự phản đối và đặc biệt đau thần kinh với các vấn đề của Hongkong và Đài Loan, sử dụng ảnh hưởng kinh tế của mình để kiểm duyệt các công ty phương Tây trừ khi họ theo đúng đường lối của đảng. Nhưng đây là những nỗ lực để bảo tồn những gì Bắc Kinh coi là chủ quyền của mình – không có gì giống như Moscow, những nỗ lực có hệ thống nhằm gây trở ngại và phá vỡ nền dân chủ phương Tây ở Canada, Mỹ và Châu Âu. Nói tóm lại, Trung Quốc đã hành động theo các cách can thiệp, trọng thương và đơn phương – nhưng thường ít hơn rất nhiều so với các cường quốc khác.

Sự trỗi dậy của một nhà nước độc đảng mà nó tiếp tục bác bỏ các khái niệm cốt lõi về quyền con người thì thể hiện một thách thức. Ở một số khu vực nhất định, các chính sách đàn áp của Bắc Kinh đã đe dọa các thành tố của trật tự quốc tế tự do, như thể các nỗ lực của nó nhằm làm suy yếu các tiêu chuẩn nhân quyền toàn cầu cũng như hành vi của nó ở Biển Đông và các phần ‘nước ngoài gần’ khác của nó. Những trường hợp đó cần được kiểm tra một cách trung thực. Đối với vấn đề đầu, chẳng mấy điều có thể nói được để giảm nhẹ trách nhiệm. Trung Quốc thì rất muốn né tránh/thoát khỏi [vấn đề về] các hành vi vi phạm nhân quyền nghiêm trọng của mình, và chương trình nghị sự đó cần được phơi bày và chống lại. (Quyết định của chính quyền Trump rút khỏi Hội đồng nhân quyền LHQ đã đạt được điều hoàn toàn ngược lại bằng cách nhượng lại lĩnh vực này cho Bắc Kinh).

Nhưng trật tự quốc tế tự do đã có thể thích ứng với nhiều chế độ khác nhau – từ Nigeria tới Saudi Arabia cho đến Việt Nam – và vẫn cung cấp một khung khổ dựa trên các quy tắc mà chúng khuyến khích hòa bình, ổn định và ứng xử văn minh giữa các quốc gia. Quy mô và các chính sách của Trung Quốc đặt ra một thách thức mới đối với việc mở rộng quyền con người chủ yếu đã diễn ra từ năm 1990. Nhưng chuyện một lĩnh vực thoái trào tiềm năng thì không nên được xem là mối đe dọa chết người đối với công cuộc lớn hơn nhiều của một hệ thống quốc tế thương mại tự do, dựa trên quy tắc và rộng mở.

Chính sách ngăn chặn và các phí tổn

Giả định cuối cùng ủng hộ sự đồng thuận mới là chuyện một hình thức đối đầu dai dẳng nào đó với Trung Quốc sẽ răn đe được chủ nghĩa phiêu lưu của nó ra nước ngoài và tạo tiền đề cho một sự chuyển đổi trong nội bộ. Rất ít người hào hứng chấp nhận thuật ngữ ‘ngăn chặn’ của thời chiến tranh lạnh, nhưng nhiều người chấp nhận một phiên bản logic nào đó của nó. Lý thuyết là một đường lối cứng rắn chống lại Trung Quốc sẽ buộc nước này phải cư xử đàng hoàng và thậm chí cải cách. Không nói ra nhưng rõ ràng trung tâm của chiến lược diều hâu ấy là ý niệm rằng ngăn chặn Trung Quốc sẽ sớm làm sụp đổ chế độ của nó, giống như đã xảy ra với Liên Xô.

Nhưng Trung Quốc không phải là Liên Xô, một đế chế bất tự nhiên được xây dựng dựa trên sự bành trướng thô bạo và thống trị quân sự. Với Trung Quốc, Mỹ sẽ đối đầu với một nền văn minh, và một quốc gia, với ý thức mạnh mẽ về sự đoàn kết và niềm tự hào dân tộc đã vươn lên để giành lấy vị trí trong số các cường quốc của thế giới. Trung Quốc đang trở thành một quốc gia ngang hàng về kinh tế, thực sự là một nhà lãnh đạo công nghệ trong một số lĩnh vực. Dân số của nó làm cho dân số Mỹ thành nhỏ bé và thị trường lớn nhất thế giới cho hầu hết mọi hàng hóa thì hiện đang nằm ở Trung Quốc. Nó sở hữu một số máy tính nhanh nhất hành tinh và nắm giữ lượng dự trữ ngoại hối lớn nhất trên trái đất. Ngay cả khi nó trải qua một số loại thay đổi chế độ, các đặc điểm rộng lớn hơn về sự trỗi dậy và sức mạnh của nó sẽ vẫn cứ tồn tại.

Lầu năm góc đã ôm lấy ý niệm Trung Quốc là ‘đối thủ cạnh tranh chiến lược’ hàng đầu của Mỹ. Từ một quan điểm quan liêu, chỉ định này có ý nghĩa hoàn hảo. Trong 20 năm qua, quân đội Mỹ đã chiến đấu chống lại các cuộc nổi dậy và du kích ở các quốc gia yếu ớt, và hết lần này đến lần khác phải giải thích tại sao bộ máy đắt tiền của nó đã thất bại trước những kẻ thù thiếu tiền bạc, được trang bị kém này. Ngược lại, để làm kẻ thù của Trung Quốc là quay trở lại những tháng ngày hoàng kim của chiến tranh lạnh, khi Lầu năm góc có thể tăng ngân sách thật lớn bằng cách gợi lên bóng ma của một cuộc chiến tranh chống lại một quân đội giàu có, hiện đại với công nghệ tiên tiến của riêng mình. Suốt thời gian ấy, logic của răn đe hạt nhân và sự thận trọng của các cường quốc đã đảm bảo rằng một cuộc chiến tổng lực giữa hai bên sẽ không bao giờ xảy ra. Tuy nhiên, bất kể lợi thế thế nào về ngân sách của Lầu Năm Góc, chi phí cho một cuộc chiến tranh lạnh như vậy với Trung Quốc sẽ là vô cùng lớn, làm biến dạng nền kinh tế Mỹ và làm phình thêm tổ hợp công nghiệp-quân sự[vi][7] mà tổng thống Mỹ Dwight Eisenhower từng cảnh báo chống lại.

Hãy thêm vào đó là mức độ phụ thuộc lẫn nhau lớn giữa Mỹ và Trung Quốc. Xuất khẩu của Mỹ sang Trung Quốc tăng 527% kể từ năm 2001 và vào năm 2018, Trung Quốc là nhà cung cấp hàng hóa lớn nhất cho Mỹ. Cũng còn có sự phụ thuộc lẫn nhau của con người – hàng trăm ngàn sinh viên Trung Quốc học tập tại Mỹ, cùng với gần năm triệu công dân và người định cư Mỹ gốc Hoa. Mỹ đã được hưởng lợi rất nhiều từ việc là nơi tập trung những bộ óc thông minh nhất để thực hiện nghiên cứu tiên tiến nhất rồi sau đó áp dụng nó vào mục đích thương mại. Nếu Mỹ cấm các cửa người tài năng như vậy vì tài năng đó đi với hộ chiếu không hợp lệ, nó sẽ nhanh chóng mất vị trí đặc quyền trong thế giới công nghệ và đổi mới.

Cách tiếp cận hiện nay với Trung Quốc của chính quyền Trump, chạy dọc theo hai đường riêng biệt và mâu thuẫn, cùng một lúc tránh sự phụ thuộc lẫn nhau lẫn đi theo nó. Về thương mại, mục tiêu của Washington nói rộng ra là hội nhập: để Trung Quốc mua thêm từ Mỹ, đầu tư nhiều hơn vào Mỹ và cho phép người Mỹ bán và đầu tư nhiều hơn vào Trung Quốc. Nếu thành công, nỗ lực này sẽ tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau nhiều hơn giữa hai nước. Đó là một nỗ lực đáng khen ngợi, mặc dù té ra là thuế quan thường gây phí tổn cho bên áp đặt thuế nhiều hơn bên người bị áp thuế. Theo một số ước tính, thuế quan lốp xe của chính quyền Obama làm tốn khoảng 1 triệu USD cho mỗi việc làm mà Mỹ tiết kiệm được. Cách tiếp cận tổng thể, tuy vậy, là khôn ngoan, ngay cả khi được thực hiện nhằm theo đuổi chương trình nghị sự ‘nước Mỹ trên hết’, vì sự phụ thuộc lẫn nhau mang lại cho Mỹ đòn bẩy lớn hơn đối với Trung Quốc.

Trong các vấn đề về công nghệ, mặt khác, cách tiếp cận của chính quyền Trump là nhất quyết phân rã. Chiến lược ở đây là cắt đứt quan hệ với Trung Quốc và buộc phần còn lại của thế giới phải làm điều tương tự – tạo ra một thế giới bị chia cắt giữa hai phe. Chiến dịch toàn cầu của chính quyền Trump chống lại Huawei đã tuân theo logic này; kết quảnghèo nàni của chiến dịch đó cho thấy các lỗ hổng logic. Phần còn lại của thế giới không đi theo sự dẫn dắt của Mỹ (mà nó thiếu công nghệ thay thế để cạnh tranh với các chào mời 5G của Huawei). Chính quyền Trump đã yêu cầu 61 quốc gia cấm công ty ấy. Cho đến nay, chỉ có ba nước tham gia, cả ba nước trong số đó đều là đồng minh của Mỹ.

Tỷ lệ thành công ảm đạm này là một dấu hiệu chỉ báo sớm cho thấy chiến lược ‘tách rời nhau’ rộng hơn sẽ ra như thế nào. Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của nhiều quốc gia ngoài Mỹ, bao gồm nhiều người chơi chủ chốt ở Tây bán cầu, chẳng hạn như Brazil. Khi được hỏi họ sẽ phản ứng thế nào với việc tách rời [giữa Mỹ và Trung Quốc], các nhà lãnh đạo cấp cao trên toàn thế giới hầu như đều đưa ra một phiên bản nào đó của câu trả lời mà một người đứng đầu chính phủ đã đưa ra cho tôi: ‘Xin đừng yêu cầu chúng tôi phải chọn giữa Mỹ và Trung Quốc. Bạn sẽ không thích câu trả lời bạn nhận được đâu’. Điều này không có nghĩa là họ nhất thiết phải đứng về phía Trung Quốc – nhưng họ có thể thích ở lại không vào phe nào, hoặc chơi ván bài hai cường quốc đó chống lại nhau. Còn hơn thế, một Trung Quốc bị cô lập mà nó sẽ xây dựng chuỗi cung ứng và công nghệ nội địa của riêng mình thì sẽ không bị áp lực bởi Mỹ nữa.

Sự vắng mặt kỳ lạ trong hầu hết các cuộc thảo luận về chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc là câu hỏi về phản ứng của Trung Quốc. Bắc Kinh cũng vậy, có những người tạo lập đường lối cứng rắn, những người đã cảnh báo trong suốt nhiều năm rằng Mỹ tìm cách giữ cho Trung Quốc yếu và rằng bất kỳ dấu hiệu tham vọng nào của Trung Quốc cũng sẽ gặp phải một chiến lược ngăn chặn. Còn hơn thế nhiều nữa, thái độ của Mỹ đối với Trung Quốc đang cho phép những tiếng nói đó đòi phải được minh oan, từ đó cho họ đòn bẩy để thúc đẩy chính loại hành vi quyết đoán và gây bất ổn mà chính sách của Mỹ nhắm tới ngăn ngừa.

Mỹ đang trong cuộc đua tranh với Trung Quốc – đó là một thực tế và sẽ vẫn như vậy trong phần lớn thế kỷ này. Vấn đề là liệu Mỹ có nên cạnh tranh trong khuôn khổ quốc tế ổn định hay không, tiếp tục cố gắng hội nhập Trung Quốc [với thế giới hay không] thay vì cố gắng cô lập nó bằng mọi giá. Một trật tự quốc tế bị phá vỡ, phân mảnh, được đánh dấu bởi những hạn chế được đặt ra bởi chính phủ và các loại thuế đối với thương mại, công nghệ và du lịch, sẽ dẫn đến sự thịnh vượng giảm sút, sự bất ổn dai dẳng và triển vọng thực sự của xung đột quân sự đối với tất cả các bên liên quan.

Sự sụp đổ của toàn cầu hóa, tất nhiên, là mục tiêu của nhiều trong số những quan niệm hàng đầu của chính quyền Trump. Bản thân tổng thống đã công khai chỉ trích ‘chủ nghĩa toàn cầu’ và coi thương mại tự do là cách để các nước khác cướp bóc ngành công nghiệp Mỹ. Ông coi các liên minh của Mỹ là lỗi thời, còn những định chế và chuẩn mực quốc tế là những ràng buộc hạn chế không đáng có đối với chủ quyền quốc gia. Những người dân túy cánh hữu đã ôm chặt lấy những quan điểm này trong nhiều năm. Và nhiều người trong số họ – đặc biệt là ở Mỹ – hiểu chính xác rằng cách dễ nhất để phá vỡ toàn bộ kiến trúc quốc tế tự do sẽ là gây ra một cuộc chiến tranh lạnh với Trung Quốc. Khó hiểu hơn nữa nằm ở chỗ những người đã dành hàng thập kỷ để xây dựng cái kiến trúc đó đang sẵn sàng hỗ trợ một chương trình nghị sự chắc chắn sẽ phá hủy nó.

Chiến lược không quá bí mật của Mỹ

Một chính sách khôn ngoan hơn của Mỹ, hướng đến việc biến Trung Quốc thành một ‘cổ đông có trách nhiệm’, vẫn có thể đạt được. Washington nên khuyến khích Bắc Kinh phát huy ảnh hưởng lớn hơn trong khu vực của mình và xa hơn, miễn là họ sử dụng ảnh hưởng này để củng cố hệ thống quốc tế. Sự tham gia của Trung Quốc vào những nỗ lực giải quyết [các vấn đề của loài người] sự nóng lên toàn cầu, phổ biến hạt nhân, rửa tiền và khủng bố nên được khuyến khích – và đánh giá cao. Sáng kiến ​​Vành đai và Con đường của Bắc Kinh có thể là một lợi ích cho thế giới đang phát triển nếu được theo đuổi một cách cởi mở và minh bạch, ngay cả khi hợp tác với các nước phương Tây ở bất cứ nơi nào có thể. Về phần mình, Bắc Kinh sẽ cần chấp nhận sự chỉ trích của Mỹ về các vấn đề nhân quyền, tự do ngôn luận và tự do nói một cách tổng quát hơn.

Những điểm bắt cháy nguy hiểm nhất có thể là Hongkong và Đài Loan, nơi hiện trạng rất mong manh và cán cân quyền lực thì ủng hộ Bắc Kinh. Lầu năm góc đã ban hành 18 bài tập mô phỏng chiến tranh chống lại Trung Quốc trên Đài Loan và lần nào thì Trung Quốc cũng đã thắng. Washington nên làm rõ rằng bất kỳ chiến thắng nào như vậy cũng sẽ là chiến thắng kiểu Pyrros[vii][8], dẫn đến sự sụp đổ kinh tế ở Hongkong hoặc Đài Loan, sự di cư hàng loạt từ các đảo đó và sự lên án của quốc tế. Nếu Bắc Kinh hành động một cách mau lẹ [nguyên văn: dốc/dựng đứng] ở Hongkong hoặc Đài Loan, chính sách hợp tác của Mỹ sẽ trở nên không thể biện hộ được trong nhiều năm.

Sự đồng thuận mới về Trung Quốc bắt nguồn từ nỗi sợ hãi rằng một lúc nào đó nước này có thể chiếm lấy toàn cầu. Nhưng có lý do để có niềm tin vào sức mạnh và mục đích của Mỹ. Cả Liên Xô lẫn Nhật Bản đều không thể chiếm lĩnh thế giới, bất chấp những lo ngại tương tự về sự trỗi dậy của họ. Trung Quốc đang trỗi dậy nhưng phải đối mặt với một loạt thách thức nội bộ, từ sự suy vi nhân khẩu học đến hàng núi nợ nần. Nó đã thay đổi trước đó và sẽ buộc phải thay đổi một lần nữa nếu các lực tích hợp và răn đe tiếp tục đè lên nó. Giới tinh hoa Bắc Kinh biết rằng đất nước của họ đã thịnh vượng trong một thế giới cởi mở và ổn định. Họ không muốn phá hủy thế giới đó. Và mặc dù có một thập kỷ trì trệ chính trị trên đại lục, mối liên hệ giữa sự trỗi dậy của tầng lớp trung lưu và đòi hỏi mở cửa chính trị lớn hơn nữa là có thật, như đối với hai xã hội Trung Quốc vẫn được Bắc Kinh theo dõi sát sao – Hồng Kông và Đài Loan.

Một số nhà quan sát Mỹ nói về quan điểm lâu dài của Trung Quốc, về kế hoạch bí mật, kiên nhẫn của nó thống trị thế giới, liên tục được thực hiện kể từ năm 1949, nếu không phải là từ trước đó. Học giả và cựu quan chức Bộ quốc phòng Mỹ, Michael Pillsbury, đã gọi nó là ‘cuộc đua marathon trăm năm’ của Trung Quốc trong một cuốn sách thường được chính quyền Trump ca ngợi. Nhưng một bức tranh chính xác hơn là về một đất nước đã chần chừ một cách phù hợp từ một liên minh chặt chẽ với Liên Xô đến sự chia rẽ Trung-Xô, từ Đại nhảy vọt tới Cách mạng văn hóa đến một câu chuyện thành công tư bản, và từ sự thù địch sâu sắc đối với phương Tây tới quan hệ chặt chẽ với Mỹ rồi quay trở lại việc tán tỉnh với thái độ thù địch. Nếu đây là một cuộc đua marathon, nó đã thực hiện một số bước ngoặt kỳ lạ, nhiều trong số đó có thể đã chấm dứt nó hoàn toàn.

Trong khi đó, kể từ năm 1949, Mỹ đã kiên nhẫn đưa ra các cấu trúc và chính sách để tạo ra một thế giới ổn định, cởi mở và hội nhập hơn; đã giúp các nước bước vào thế giới đó; và đã răn đe những kẻ tìm cách phá hủy nó – tất cả đều thành công đáng kinh ngạc. Washington đã là cái đối ngược với sự do dự/dao động hay tập trung quá mức xét về ngắn hạn. Vào năm 2019, quân đội Mỹ vẫn ở bên bờ sông Rhine, họ vẫn đang bảo vệ Seoul và họ vẫn ở Okinawa.

Trung Quốc đưa ra một thách thức mới và lớn. Nhưng nếu Washington có thể giữ bình tĩnh và kiên nhẫn tiếp tục theo đuổi chính sách cam kết cộng với răn đe, buộc Trung Quốc phải điều chỉnh, trong khi [Mỹ] cũng tự điều chỉnh để tạo không gian cho nó, một học giả nào đó trong nhiều thập kỷ từ bây giờ có thể viết về kế hoạch không có gì là bí mật của Mỹ nhằm mở rộng khu vực hòa bình, thịnh vượng, cởi mở và quản trị tốt trên toàn cầu – một chiến lược marathon đã có kết quả.

________

[i] Fareed Zakaria: Nhà báo Mỹ gốc Ấn Độ, năm nay mới 55 tuổi song đã rất thành công trong sự nghiệp báo chí. Tốt nghiệp ĐH Yale và lấy bằng PhD tại ĐH Harvard, F. Zakaria giữ nhiều mục cho các kênh tivi như CNN hay các tạp chí danh tiếng như Foreign Affairs, Washington Post, Newsweek… Khá nổi tiếng, mặc dù còn khá trẻ, với những suy nghĩ tự do, độc đáo và độc lập.

[i] Yuen Yuen Ang: Nhà khoa học chính trị người gốc Singapore, PGS về khoa học chính trị tại ĐH Michigan, trước khi về làm PGS cho ĐH Michigan (2011) cô đã là trợ lý giáo sư tại ĐH Columbia. Tốt nghiệp loại xuất sắc nhất (Summa Cum Laude) ĐH Colorado, lấy bằng thạc sĩ (2003) và PhD (2009) về khoa học chính trị. Là một chuyên gia am hiểu về Trung Quốc, diễn giảng nhiều và viết nhiều cho các tạp chí/báo (như Bloomberg, Foreign Affairs, Project Syndicate, Wall Street Journal…) về Trung Quốc. Các tác phẩm (sách, bài báo…) của cô được nhiều giải thưởng và được nhiều hãng tin, báo, tạp chí trích dẫn.

[ii] Nicholas Lardy: Nhà kinh tế học, thành viên cao cấp danh hiệu Anthony M. Solomon tại PIIE (Peterson Institute for International Economics, Viện Peterson về kinh tế quốc tế, Washington D.C.), chuyên gia giỏi về kinh tế Trung Quốc, tác giả của vài chục đầu sách về Trung Quốc. N. Lardy đồng thời là thành viên và là biên tập viên trong ban biên tập của Asia Policy và China Review, Hội đồng quan hệ quốc tế CFR (Council on Foreign Relations, một think-tank hàng đầu thế giới về quan hệ quốc tế, có ảnh hưởng nhất ở Mỹ). N. Lardy tốt nghiệp ĐH Wisconsin (1968) và lấy bằng PhD tại ĐH Michigan (1975), đều về kinh tế học.

[iii] Hệ thống kiểu Orwell: Mang tên nhà văn, nhà báo và nhà phê bình người Anh từng mô tả một kiểu điều kiện xã hội ‘biểu thị một thái độ và chính sách tàn bạo kiểm soát hà khắc bằng công tác tuyên truyền, giám sát, thông tin sai, chối bỏ sự thật và thao túng quá khứ’.

[iv] Tiếng Việt thường được dịch là ‘Giấu mình chờ thời’. Nguyên bản tiếng Trung Quốc của câu ngạn ngữ đó là 韜光養晦 (thao quang dưỡng hối), nghĩa đen là ‘giấu ánh sáng nuôi dưỡng bóng tối’, do Đặng Tiểu Bình sử dụng để ẩn dụ về chính sách đối ngoại của Trung Quốc khi đó.

[v] Cái bẫy Thucydides (Thucydides trap): Thucydides (nhà sử học thực chứng đầu tiên trên thế giới) đã viết từ hơn 2400 năm trước trong cuốn ‘Lịch sử chiến tranh Peloponnesus’ về nguyên nhân của cuộc chiến tranh: ‘sự lớn mạnh của cường quốc Athens và nỗi lo sợ mà nó gây ra ở Sparta’. Nói một cách khác, khi một cường quốc trỗi dậy, một cường quốc đã sẵn có sẽ lo ngại và chuẩn bị chiến tranh, với cái này biến thành một vòng luẩn quẩn thì rút cục sẽ dẫn đến chiến tranh. Khái niệm ‘cái bẫy Thucydides’ đã được G. T. Allison (GS nổi tiếng về khoa học chính trị tại Trường hành chính Kennedy, ĐH Harvard) đặt ra và sử dụng để ám chỉ rằng sự lo ngại của Mỹ trước sức mạnh đang tăng lên của Trung quốc có thể chuyển hóa thành chiến tranh (nóng hay lạnh). Trong bài báo có tựa đề ‘The Thucydides Trap’, Foreign Policy 9-6-2017, G. Allison đã tổng kết rằng ‘trong 500 năm qua đã có 16 trường hợp trong đó một cường quốc đang nổi lên đe doạ sẽ thay thế một cường quốc cầm quyền. Mười hai trong số này đã kết thúc trong chiến tranh.’ Bốn trường hợp còn lại, theo G. Allison là ‘Tây Ban Nha vượt qua Bồ Đào Nha vào cuối thế kỷ 15, Mỹ vượt qua Anh vào đầu thế kỷ 20, và sự trỗi dậy của Đức ở châu Âu từ năm 1990 – sự đi lên của Liên bang xô viết là một bài học độc nhất vô nhị ngày hôm nay. Mặc những khoảnh khắc mà một cuộc đụng độ dữ dội dường như đã chắc chắn diễn ra, một sự dâng trào trí tưởng tượng chiến lược đã giúp cả hai bên phát triển các cách cạnh tranh mà không xảy ra một cuộc xung đột thảm khốc. Cuối cùng, Liên bang xô viết đổ ụp và Chiến tranh lạnh kết thúc với một tiếng rên chứ không phải bằng một tiếng nổ.’

[vi] Tổ hợp công nghiệp-quân sự (MIC, Military-Industrial Complex): Liên minh nhằm những mục đích chung giữa những nhân vật hoạch định chính sách, các tướng lĩnh quân đội với các công ty sản xuất/cung ứng đồ quân sự cũng như những tầng lớp trong xã hội quan tâm tới ngân sách quốc phòng, bao gồm cả những người vận động hành lang. Tổng thống Mỹ Dwight D. Eisenhower, đưa ra khái niệm này lần đầu vào năm 1961 trong diễn văn từ biệt đọc trước quốc hội, cảnh báo về nguy cơ có thể gây hại cho xã hội của liên minh công nghiệp-quân phiệt móc ngoặc và thao túng đó. Xin lưu ý không nên nhầm lẫn với khái niệm Tổ hợp công nghiệp quốc phòng (DIC, Defence-Industrial Complex, trong tiếng Nga là Военно-Промышленный Комплекс, nếu được dịch sát từng chữ cũng sẽ là ‘Tổ hợp công nghiệp-quân sự’ nên hay gây nhầm lẫn) vẫn được các nhà nghiên cứu lịch sử thiên về kinh tế của các nước phương Tây sử dụng để chỉ Phức hợp công nghiệp-quân sự trong quá trình nghiên cứu về công nghiệp quân sự Liên xô trước đây – bao gồm công nghiệp quốc phòng, các đơn vị nghiên cứu và sản xuất của nó, lực lượng lao động và hệ thống quản lý, các nhà máy và các nhà lãnh đạo, không bao hàm các lãnh đạo Đảng, nhà nước, quân đội chuyên nghiệp cũng như một số thành phần khác.

[vii] Chiến thắng kiểu Pyrros (Pyrrhic victory): Là chiến thắng mang tính hủy diệt đối phương song bên chiến thắng cũng tổn thất nặng nề, có thể dẫn tới diệt vong. Pyrros là vua và là chỉ huy quân sự kiệt xuất xứ Ipiros (Hy Lạp cổ đại), từng chiến thắng, đánh tan tác quân La Mã trong các trận đánh tại Heraclea (280 TCN) và Asculum (279 TCN) song mất rất nhiều binh lực và tướng tài, bản thân nhà vua cũng bị thương. Sau chiến thắng Asculum, quần thần dâng lời tôn vinh chiến công, nhà vua nói rằng ‘Thêm một trận thắng như vậy thì sự nghiệp của trẫm cũng đi đời’. Thực tế thì, mặc dù quân La Mã bị tổn thất nặng hơn quân Ipiros rất nhiều trong các trận Heraclea và Asculum song La Mã có tiềm lực hơn hẳn Ipiros (các thiệt hại không bù đắp được) nên tới năm 275 TCN thì La Mã đánh bại Ipiros.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.