Chính-Trị Thời-Sự

Biển Đông: Mỹ nói sẽ có chiến lược mới để phản pháo lại TQ

Biển Đông: Mỹ nói sẽ có chiến lược mới để phản pháo lại TQ

Mỹ, Hoa Kỳ, Đài Loan, Trung Quốc, tàu chiến, hải quânBản quyền hình ảnhTOMOHIRO OHSUMI/GETTY IMAGES
Image captionHải quân Hoàng gia Anh tham gia diễn tập cùng Hải quân Mỹ và Nhật Bản tháng 3/2019

Hoa Kỳ sẽ công bố một chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương mới trong tháng này nhằm chống lại nỗ lực của Trung Quốc muốn quân sự hóa Biển Đông.

Căng thẳng giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc tiếp tục leo thang, và Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng phụ trách an ninh khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương của Mỹ đã phản ứng bằng thông điệp là một chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương mới sẽ được khởi động vào tháng Năm.

Chiến lược mới được ông Randall Schriver công bố tại Kuala Lumpur, Malaysia vào tuần trước và khu vực này đã được xác định là “vùng ưu tiên” trong bối cảnh Hoa Kỳ tiếp tục tập trung sự quan tâm và hiện diện tại đây.

Quan hệ giữa hai nước có căng thẳng trong những tuần gần đây, sau khi hai tàu khu trục của hải quân Hoa Kỳ đi qua eo biển Đài Loan và có lời đe dọa của người đứng đầu hải quân Hoa Kỳ nhắm vào các tàu phi vũ trang của Trung Quốc.

Trong số bốn quốc gia được liệt kê là mối đe dọa trong Chiến lược Quốc phòng Hoa Kỳ năm 2018, hai quốc gia thuộc khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương là Trung Quốc, nước đang gây ảnh hưởng mở rộng ở Thái Bình Dương và quân sự hóa các đảo và bãi cạn ở Biển Đông và Bắc Hàn do có chương trình phát triển vũ khí hạt nhân.

Tuyên bố được đưa ra sau khi người đứng đầu Hải quân Hoa Kỳ đe dọa các tàu không có vũ trang của Trung Quốc hồi đầu tuần này để đáp trả các hành động gây hấn của hải quân Trung Quốc tại đây.

Quân đội Mỹ vào hôm 28/4 cho biết đã điều hai tàu chiến Hải quân qua eo biển Đài Loan trong bối cảnh Lầu Năm Góc tăng tần suất hoạt động qua tuyến đường thủy chiến lược này, bất chấp phản đối của Trung Quốc, theo Reuters.

Chuyến đi có nguy cơ làm gia tăng thêm căng thẳng với Trung Quốc trong bối cảnh xích mích ngày càng tăng giữa Đài Bắc và Bắc Kinh.

Đài Loan là một trong những điểm nóng trong mối quan hệ Hoa Kỳ-Trung Quốc, bao gồm cả chiến tranh thương mại, lệnh trừng phạt của Hoa Kỳ và sự hiện diện quân sự ngày càng tăng của Trung Quốc trên Biển Đông, nơi Hoa Kỳ cũng tiến hành các hoạt động tự do tuần tra hàng hải.

Chủ quyền TQ ở Trường Sa đến từ ‘lỗi dịch thuật’?

VN làm gì để bảo vệ ngư dân bị Indonesia bắt?

Ra khỏi EU, Anh hướng về Biển Đông?

Tàu ngầm Nhật ‘lần đầu’ diễn tập ở Biển Đông

Trung Quốc kỷ niệm 70 năm thành lập Hải quân

Hai tàu khu trục được xác định là William P. Lawrence và Stethem. Eo biển Đài Loan rộng 180 km ngăn cách Đài Loan với Trung Quốc.

“Hai tàu chiến quá cảnh trên eo biển Đài Loan thể hiện cam kết của Hoa Kỳ đối với một Ấn Độ-Thái Bình Dương tự do và cởi mở hàng hải,” ông Clay Doss, phát ngôn viên Hạm đội bảy của Hải quân Hoa Kỳ cho biết trong một thông cáo.

Ông Doss cho biết không có tương tác không an toàn hoặc không chuyên nghiệp với tàu của các quốc gia khác trong quá trình hai tàu chiến này di chuyển.

Bắc Kinh lo ngại rằng Đài Loan có thể sẽ làm tăng đáng kể ngân sách quốc phòng Trung Quốc năm nay, sau phát biểu vào năm mới của Chủ tịch Tập Cận Bình, đe dọa tấn công Đài Loan nếu không chấp nhận sự cai trị của Trung Quốc.

Trung Quốc đã nhiều lần đưa máy bay và tàu quân sự đi vòng quanh Đài Loan trong các cuộc tập trận trong vài năm qua, nỗ lực để cô lập Đài Loan trên phạm vi quốc tế, và làm giảm số đồng minh còn lại của Đài Loan.

Vào tháng trước Hoa Kỳ dường như đã điều một hàng không mẫu hạm tới khu vực gần rặng san hô chiến lược, nơi đang có tranh chấp giữa Bắc Kinh và Manila.

Phía Mỹ không xác nhận nhưng cũng không bác bỏ tàu chiến hiện diện gần Bãi cạn Scarborough có phải là tàu USS Wasp hay không.

Trung Quốc trên thực tế đã chiếm quyền kiểm soát Bãi cạn Scarborough kể từ 2012 tới nay, sau khi cuộc đối đầu giữa các tàu của Philippines và Trung Quốc kết thúc.

Kể từ đó, Trung Quốc trên thực tế đã phong tỏa khu vực này, nơi vốn là ngư trường màu mỡ của ngư dân Philippines, và thường xuyên cho tàu cá cùng các tàu “cảnh sát biển” tới nơi.

Trong một nỗ lực nhằm kiềm chế thái độ của Trung Quốc tại đây, hồi tháng Giêng năm ngoái, hải quân Mỹ đã gửi một tàu khu trục tiến sát phạm vi 12 hải lý của bãi cạn này, nhằm thực thi quyền tự do đi lại ở Biển Đông.

TQ tuyên bố chủ quyền theo đường 9 đoạn ở Biển Đông
Image captionTQ tuyên bố chủ quyền theo đường 9 đoạn ở Biển Đông

Ngoài Bãi cạn Scaborough, Manila còn đối đầu với Bắc Kinh về nhiều địa điểm khác trên Biển Đông.

Advertisements
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Tên lửa phòng không “khét tiếng” Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam

Tên lửa phòng không “khét tiếng” Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam

Việt Hùng | 

Tên lửa phòng không "khét tiếng" Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam

Tên lửa phòng không MIM-23 Hawk.

MIM-23, loại tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ trước khi bắn hạ hàng loạt máy bay Liên Xô đã từng được triển khai tại miền Nam Việt Nam, tuy nhiên chúng đã không thực hiện được phi vụ nào tại chiến trường này.

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 1.

Năm 1965, Quân đội Mỹ đã triển khai tên lửa phòng không MIM-23 Hawk tới Việt Nam để “phòng xa” trong trường hợp Không quân Nhân dân Việt Nam “mở rộng tác chiến vào miền Nam”

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 2.

Loại tên lửa này được triển khai tại Đà Nẵng vào năm 1965. Đây là hệ thống phòng không hiện đại nhất lúc bấy giờ của Mỹ.

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 3.

Tuy vậy tại chiến trường Việt Nam, MIM-23 đã không có màn thể hiện ấn tượng nào.

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 4.

Dù bị Mỹ loại biên từ lâu, nhưng MIM-23 vẫn đang hoạt động tích cực trong biên chế các quốc gia đồng minh.

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 5.

Loại tên lửa này hiện đang tham chiến tại chiến trường Trung Đông khi chúng nằm trong biên chế quân đội Thổ Nhĩ Kỳ và được triển khai tại Syria.

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 6.

Trong quá khứ, kể từ sau chiến tranh Việt Nam, MIM-23 từng bắn hạ các chiến đấu cơ do Liên Xô sản xuất.

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 7.

Hệ thống tên lửa MIM-23 Hawk bắt đầu phục vụ trong Quân đội Mỹ từ tháng 8-1960, nhưng đến năm 1971 phiên bản cải tiến của Hawk mới được đưa vào phục vụ.

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 8.

Loại vũ khí này do công ty Raytheon thiết kế, khoảng 40.000 quả tên lửa đã được chế tạo suốt thế kỷ 20.

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 9.

Loại tên lửa này được thiết kế với vai trò tấn công các mục tiêu ở tầm bắn trung bình, độ cao lớn.

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 10.

Tuy tầm bắn, độ cao với tới của hệ thống tên lửa Hawk kém hơn S-75 Dvina nhưng Hawk lại có đầu tự dẫn radar bán chủ động – công nghệ rất mới thời điểm bấy giờ so với thế hệ S-75 và S-125.

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 11.

Tổ hợp MIM-23 thường được trang bị 4 đài radar bắt mục tiêu – dẫn đường tên lửa, 6 bệ phóng (3 đạn tên lửa/bệ) và một số thành phần hỗ trợ khác.

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 12.

Bốn loại radar gồm: đài radar bắt mục tiêu tầm cao AN/MQP-35, đài radar bắt mục tiêu bay thấp AN/MPQ-34, đài radar chiếu dọi mục tiêu năng lượng cao AN/MPQ-33/39 (dùng để theo dõi mục tiêu, dẫn đường tên lửa) và đài radar xác định cự ly AN/MPQ-37.

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 13.

Tổ hợp MIM-23 trang bị đạn tên lửa MIM-23A dài 5,08m, đường kính thân 0,37m, sải cánh 1,21m, lắp đầu đạn nổ mảnh nặng 54 kg và trọng lượng phóng 584 kg.

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 14.

Tên lửa có thể tiêu diệt mục tiêu ở cự ly 2-25 km, đạt độ cao tối đa 11.000m, tốc độ hành trình Mach 2,4. MIM-23A lắp đầu tự dẫn radar bán chủ động.

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 15.

Thành tích đáng nể phục mà tên lửa này đạt được đó là trong cuộc “Chiến tranh tiêu hao”, hệ thống tên lửa Hawk đã hạ 1 chiếc Il -28, 4 chiếc Su-7, 4 chiếc MiG-17, 3 chiếc MiG-21 của Không quân Ai cập.

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 16.

Còn trong cuộc “Chiến tranh tháng Mười” nạn nhân của nó là 4 chiếc MiG-17, 1 MiG-21, 3 chiếc Su-7, 1 chiếc “Hunter”, 1 chiếc Mirage-5, 2 chiếc Mi-8 của Không quân Ai cập, Syria, Jorrdan và Lybia.

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 17.

Lần cuối, vào năm 1982, 1 chiếc MiG-25 và có thể thêm 1 chiếc MiG-23 nữa đã bị tổ hợp này bắn hạ trên không phận Li băng.

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 18.

Trong cuộc Chiến trang Iraq – Iran (1980 – 1988), hệ thống tên lửa Hawk của Iran “tự ” bắn rơi 2 – 3 chiếc tiêm kích F-14 và 1 chiếc F-5 của chính Không quân Iran, và khoảng 40 máy bay Iraq.

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 19.

Tháng 9-1987, tổ hợp Hawk của Pháp đã hạ 1 máy bay ném bom Tu-22 của Lybia trên bầu trời thủ đô N’Djamena của Tchad.

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 20.

Ngày 2-8-1990, Hawk cải tiến của Kuwait đã bắn rơi 1 chiếc Su-22 và 1 chiếc MiG-23BN của Không quân Iraq khi xâm nhập Kuwait.

Tên lửa phòng không khét tiếng Mỹ từng triển khai trong chiến tranh Việt Nam - Ảnh 21.

Cho đến thời điểm hiện tại MIM-23 Hawk là hệ thống phòng không tiêu diệt được nhiều chủng loại máy bay nhất do Liên Xô cũ sản xuất.

https://anninhthudo.vn/quan-su/anh-ten-lua-phong-khong-khet-tieng-my-tung-trien-khai-trong-chien-tranh-viet-nam/808774.antd

theo An ninh thủ đô

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Lenin và Chủ nghĩa Cộng sản toàn trị

Lenin và Chủ nghĩa Cộng sản toàn trị

Hoàng Thủy Ngữ

23-4-2019

“Phải dọn sạch mọi thối nát tư sản ra khỏi các thành phố…Phải xóa sổ tất cả những gì đe dọa sự nghiệp cách mạng… Bài thánh ca của giai cấp công nhân là bài ca căm phẫn và trả thù”. (Trích từ báo Bolshevik Pravda ngày 31.08.1918, sau khi Lenin bị ám sát).

Là người cộng sản, Lenin mơ ước một thế giới không có sự bóc lột và đàn áp. Mục đích của Lenin là xây dựng một xã hội hoàn toàn mới, nơi người lao động sẽ tiếp quản quyền lực. Mọi cơ cấu sản xuất và nguồn lực xã hội là tài sản chung và không ai có thể làm giàu bằng công sức của người khác.

Cuộc sống của nhiều người, đặc biệt ở nông thôn, dưới thời Sa Hoàng rất khổ sở. Đây là sự thật không thể chối cãi. Nhưng dân Nga đã phải trả một cái giá quá đắt sau khi Lenin và những người bolshevik nắm được chính quyền năm 1917. Tựu chung, cuộc sống chẳng khá gì hơn dưới thời cộng sản. Bi kịch của nước Nga là một chế độ chuyên chế được tiếp nối bằng một chế độ chuyên chế khác, thậm chí còn tồi tệ hơn.

Sau Thế chiến thứ Hai, Đức buộc phải giải quyết món nợ quá khứ gần đây nhất của mình. Những tội phạm chiến tranh phát xít, theo phán quyết của toà án Nuremberg, bị kết án vì các tội lỗi đã gây ra. Trong nhiều thập niên, quốc gia này phải tự kiểm tra toàn diện, kể cả việc cấm các tổ chức Đức Quốc Xã. Nhưng Liên Sô và Nga chưa bao giờ giải quyết những tội ác dưới thời cộng sản. Trái lại, rất nhiều chính khách Nga hiện nay có quá khứ từ đảng cộng sản. Chắc chắn họ cũng phạm tội và vi phạm nhân quyền dưới chế độ độc tài. Vladimir Putin, tổng thống Nga, xuất thân là một sĩ quan cao cấp của cơ quan mật vụ KGB.

Sau khi chết năm 1924, Lenin được ướp xác như một pharaoh, rửa ráy và trưng bày trong lăng tẩm riêng hoành tráng và lộng lẫy. Cho đến nay ông vẫn nằm ở đó. Không biết người ta sẽ phản ứng ra sao nếu Hitler cũng có lăng tẩm riêng ở Berlin. Mỗi ngày, hàng ngàn khách thập phương đến chiêm ngưỡng cái xác thối. Bộ chính trị Liên Sô do Stalin cầm đầu, qua cách trưng bày xác chết của Lenin, đã tạo ra một mô hình thờ phụng cá nhân mà thế giới chưa từng thấy và trở thành nét đặc thù của thế giới cộng sản. Từ khi đó, vô số tượng Lenin được dựng lên và cái xác ướp được mô tả như một vị thánh. Người cộng sản phá hủy các nhà thờ và di tích tôn giáo trên khắp nước Nga trong thời gian dài. Tôn giáo truyền thống buộc phải im lặng nhường chỗ cho một tôn giáo chính trị mới.

Vlalimir Lenin là cha đẻ của chủ nghĩa toàn trị cộng sản. Tất cả các chế độ độc tài cộng sản trong lịch sử nhân loại đều chịu ảnh hưởng của Lenin và làm theo cách của ông để có toàn quyền kiểm soát nhân dân.  Gần như ngay lập tức, sau cái gọi là cách mạng tháng Mười, ông đã thành lập mạng lưới khủng bố như mật vụ, điềm chỉ và một nhà nước với quyền lực cực đoan nhằm chặn đứng mọi tư tưởng tự do. Công dân nào phản đối sẽ bị tống vào tù hay vào các trại tập trung. Hàng trăm ngàn người đã bị hành quyết.

Một quan niệm sai lầm phổ biến là chủ nghĩa cộng sản của Lenin nhân đạo và dễ thở hơn dưới thời Stalin. Trong thực tế, Lenin đã đặt nền móng khủng bố cho Stalin và khác biệt chính trị giữa hai người này không quá lớn. Stalin cầm quyền lâu hơn nhiều và có thời gian dài để gieo rắc tai họa. Lenin chết tương đối sớm, lúc 54 tuổi, do mắc bệnh giang mai và biến chứng vết thương ở cổ sau vụ ám sát. Nếu Lenin sống thêm 20 năm nữa, khả năng khủng bố cũng sẽ giống như Stalin. Lenin không bị chứng lo cuồng sợ bị hãm hại (persecution mania) như Stalin. Đến cuối đời, Lenin gần như điên loạn, nhưng khác với Stalin, ông không còn khả năng giải thích mạch lạc về điều gì nữa.

Hoặc theo hoặc chống chúng tôi

Cách mạng tháng Mười không phải là cuộc cách mạng cổ điển như thường thấy, với hàng trăm ngàn người biểu tình trên đường phố và gào thét đòi hỏi sự thay đổi. Thực ra, đó là cuộc đảo chính do Lenin và những người cộng sản (bolshevik) dàn dựng để lật đổ chính phủ dân chủ của Alexander Kerensky, người theo chủ nghĩa xã hội.

Sa Hoàng đã thoái vị vài tháng trước, vào tháng Hai 1917. Alexander Kerensky thành lập một chính phủ liên hiệp với sự tham gia của các đảng cách mạng khác nhau. Do đó, chuyện Lenin lật đổ Sa Hoàng chỉ là huyền thoại. Trái lại, Lenin đã sống cuộc đời tỵ nạn ở Đức và không trở về trước khi biết chắc chắn Sa Hoàng đã biến mất tháng Tư 1917. Lenin về trên chuyến xe lửa bọc thép do nhà nước Đức mua và trả tiền. Từ lâu, Lenin luôn phản đối việc nước Nga tham gia Thế chiến thứ Nhất chống Đức. Ông cho rằng cuộc chiến này là của giai cấp tư sản và tư bản nên sẵn sàng đi bước rất xa để kéo nước Nga ra khỏi chiến tranh. Do đó, Lenin đã tham gia một liên minh không chính thức với Đứcnếu nắm được chính quyền, Lenin sẽ rút Nga ra khỏi cuộc chiến. Đây cũng là lợi ích của Đức nên giới bảo thủ Đức hỗ trợ Lenin nắm được quyền lực và Lenin chụp lấy cơ hội này.

Nhiều người ủng hộ Lenin ở Nga và họ đã lật đổ được chính phủ liên hiệp của Kerensky bằng bạo lực. Trong quân đội cũng có nhiều người đứng về phía ông vì, khác với Kerensky, Lenin muốn rút nước Nga ra khỏi cuộc chiến. Tháng Mười Một 1917, sau cuộc bầu cử quốc hội, số phiếu người bolshevik có được không quá 25%. Cùng cực thất vọng, Lenin giải tán Quốc Hội. Theo Lenin, khi người dân không hiểu cái gì tốt nhất thì ông không cần cho họ cơ hội để tạo ảnh hưởng. Và rồi, nước Nga trở thành nhà nước độc đảng kéo dài suốt 75 năm. Trong thế giới quan của Lenin, nhà nước độc đảng ra đời gồm hai mặt:hoặc trung thành tuyệt đối hoặc là kẻ thù không đội trời chung. Vì vậy, không chỉ giới thượng lưu, tư sản, bảo thủ, ki tô giáo hay tự do bị hãm hại nhưng cả những người chia sẻ tư tưởng xã hội chủ nghĩa cơ bản với Lenin cũng cùng chung số phận, bởi lẽ họ có thể đồng ý nhưng chưa đủ. Lenin cho rằng những nhà dân chủ xã hội, vô chính phủ và xã hội chủ nghĩa đều là bọn tư bản và kẻ thù ngụy trang. Lenin khét tiếng hung ác đối với các đồng chí ngay trong đảng cộng sản của mình và nhiều người bị xử tử. Tháng Mười Hai 1917, Lenin thành lập Cheka, tổ chức mật vụ cộng sản đầu tiên có quyền giết người bất đồng quan điểm, không cần luật pháp hay tòa án. Lực lượng cách mạng vũ trang có tên là hồng quân hay hồng vệ binh cũng được tổ chức này thành lập riêng để bảo vệ cách mạng”. Họ theo dõi, bắt giữ và tiêu diệt tất cả những ai bị Lenin coi là kẻ thù của cách mạng, từ những người xã hội chủ nghĩa hay dân chủ đến các đồng minh cũ của Sa Hoàng. Cuộc cách mạng nhanh chóng đi vào vết xe có tên là khủng bố đỏ.

Khủng bố được sử dụng như một công cụ kìm kẹp không chỉ vì Lenin cảm thấy bị đe dọa mà còn là một phần nền tảng trong ý thức hệ của ông. Để cuộc cách mạng thành công, phải thanh toán mọi bất đồng và từ đó người ta sẽ vững mạnh hơn để đánh bại kẻ thù cách mạng. Về lâu dài, nó là điều tốt nhất cho người dân, Lenin nghĩ vậy. Không đồng ý việc làm này cuối cùng sẽ là kẻ thù cách mạng, phản cách mạng.  Nhưng làm thế nào Lenin có thể nói thay cho toàn dân khi người dân không được nêu ý kiến hay tối thiểu họ cũng phải được thể hiện bằng lá phiếu trong cuộc bầu cử dân chủ? Còn nữa, điều gì cho Lenin, theo cách suy nghĩ của ông, cái quyền giết đối thủ chính trị? Mặc dù, ngay từ đầu, Liên Sô đã là chế độ độc tài nhưng vẫn tự coi mình là nền dân chủ nhân dân. Để hiểu cái luận lý khá kỳ quặc này, chúng ta phải trở lại một câu chuyện triết học hơi phức tạp.

Lenin lấy cảm hứng từ ý tưởng về một ông vua vô cùng thông thái có cách hành xử luôn thể hiện  chí cộng đồng. Triết gia thuộc phong trào khai sáng Jean Jacques Rousseau (1712 – 78) đã đề cập đến ý chí cộng đồng mà mọi người thực sự muốn nhưng họ lại không hiểu đó là gì. Người ta muốn cái tốt nhất nhưng không biết cái gì là tốt nhất. Do đó, họ không hiểu cái gì tốt nhất cho chính mình. Theo Rousseau, trong thực tế, rất khó có thể giúp mọi người hiểu được mọi thứ kết hợp với nhau như thế nào và đây là nhiệm vụ của nhà vua hay người lãnh đạo. Giống như khi phụ huynh dạy con trẻ nói rằng ăn bánh kẹo cả ngày không tốt. Ý tưởng về ý chí cộng đồng dựa trên những nguyên tắc như trong gia đìnhnhà nước và quyền lực nhà nước là cha mẹ và thường dân là con cái. Theo cách đó, Lenin cho rằng, nhân danh nhân dân, ông hành xử như một người cha.

Trong quyển sách Phải Làm Gì, Lenin đưa ra thuật ngữ dân chủ tập trung với ý nghĩa nhân dân thảo luận và đảng quyết định. Người dân có thể thảo luận và phê bình trước khi đảng cộng sản đưa ra quyết định cuối cùng. Một xã hội như vậy lý tưởng hơn kiểu dân chủ Tây phương vì người ta quan tâm đến ý kiến của tất cả mọi người trong từng trường hợp cụ thể. Ở phương Tây, người dân chỉ có cơ hội lên tiếng thông qua lá phiếu bốn năm một lần. Trong xã hội sô viết, chính trị được thảo luận khắp mọi nơi và trong các cuộc họp. Nhưng Lenin không tin người dân có thể đưa ra những quyết định đúng đắn nên loại bỏ việc thảo luận.

Tuy nhiên, những người bị Lenin áp đặt không phải là trẻ con. Đó là người lớn. Họ có những ý kiến hoàn toàn khác biệt và có thể vẫn giữ vững lập trường của mình. Đây là điều Lenin không thể chấp nhận. Vì vậy, để người dân vâng lời, họ phải bị đánh đòn. Lenin bắt đầu giết những người nào không chịu hiểu cái gì tốt nhất dành cho họ. Tàn sát chính trị xảy ra như cơm bữa. Cuộc cách mạng tìm ra một loại tội phạm mớikẻ thù giai cấp và phản cách mạng. Hai thuật ngữ này được sử dụng trong tất cả các chế độ độc tài cộng sản khi người ta truy nã và thanh toán các đối thủ chính trị của chế độ.

Khủng bố là mục tiêu chính và chế độ độc tài của giai cấp vô sản

Giống như thần tượng Robespierre của mình, Lenin tin rằng bạo lực có thể giải quyết hầu hết các vấn đề. Robespierre (1758 – 94) cầm đầu giai đoạn phản dân chủ và tàn bạo nhất trong lịch sử cách mạng Pháp qua việc khủng bố và chặt đầu 1500 người, kể cả vua Pháp. Robespierre muốn chôn vùi tất cả những gì xưa cũ và xây dựng một thế giới mới. Ông còn lập ra lịch cách mạng để bắt đầu một kỷ nguyên mới và cuộc cách mạng thuộc năm thứ nhất, tượng trưng cho sự đoạn tuyệt với quá khứ. Lenin cũng đưa ra một lịch mới nhưng không quá cực đoan như người Pháp. Theo gương Robespierre, Lenin dẹp bỏ thế giới cũ và mọi chướng ngại cản trở việc thành lập thế giới mới. Trong những năm 1918 – 1920, hồng quân boshevik tiến hành cuộc nội chiến tàn khốc chống các lực lượng chống cộng khác nhau có tên là “Bạch Nga”. Ông tuyên bố cuộc cách mạng cộng sản đang trong giai đoạn chiến tranh, tuyên chiến chống lại xã hội Nga truyền thống và vẫn tiếp tục ngay cả sau khi các lực lượng Bạch Nga bị đánh bại. Dự án của Lenin trở thành cuộc tổng vệ sinh xã hội. Điều này có nghĩa Lenin tẩy sạch lớp người Nga cũ và giai cấp xã hội xa lạ, theo cách ông gọi họ. Việc làm này không khác với giấc mơ về sự thuần khiết dưới thời Hitler và trong cuộc cách mạng văn hóa Trung Quốc. Mọi người sống dưới đế chế Nga trước kia giờ đây trở thành công dân xô viết.Công dân xô viết chia sẻ cùng chung ý tưởng dù bất cứ ở đâu. Từ những nước nhỏ như Armenia và Azerbaijan đến các quốc gia hùng mạnh như Georgia, Ukraine, Belarus và Moldova. Năm 1922, Liên Bang Xô Viết được chính thức thành lập. Người xô viết phải học tập chủ thuyết của Lenin và gọi nhau là đồng chí. Tôn giáo và văn hóa truyền thống bị dẹp bỏ. Rất nhiều tổ chức như công đoàn tự do, hướng đạo, Hội Tam Điểm và tất cả các đảng phái chính trị bị cấm – ngoại trừ đảng cộng sản. Khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ năm 1989, Liên Sô tan rã tách thành nhiều quốc gia khác nhau.

Triết gia người Đức Immanuelle Kant từng nói một xã hội công bằng và đạo đức phải được xây dựng trên nguyên tắc con người chính là mục đích chứ không phải là phương tiện để đạt đến mục đích. Lenin không nghĩ như vậy. Theo ông, sự chết, tra tấn và đói khát là cái giá cần thiết phải trả để đạt được mục tiêu. Một ví dụ minh họa cho việc khủng bố là phương tiệntrong một lệnh gửi cho hồng vệ binh trong cuộc nội chiến năm 1918, Lenin ra lệnh giết 100 nông dân nhằm gieo rắc sợ hãi và cảnh cáo những ai chống lại cách mạng:

1. Treo cổ (công khai cho mọi người nhìn thấy) ít nhất 100 tên địa chủ, phú hộ và bọn hút máu nhân dân.

2. Công bố tên tuổi của chúng. 

3. Tịch thu toàn bộ ngũ cốc

4. Phân loại con tin theo telegram ngày hôm qua. Theo cách mọi người dù ở xa hàng trăm km vẫn có thể thấy, run sợ, biết, hét lên: họ đập nát và bóp chết những tên địa chủ khát máu. 

Nhân viên điện báo đã nhận và thi hành mệnh lệnh.

Lenin  

P.S: Hãy tìm những kẻ ngoan cố.

Trong cuộc cách mạng và thời gian nội chiến, nhiều nông dân gia nhập hồng quân vì Lenin hứa cho họ đất đai. Năm 1918,Lenin quyết định không cho họ quyền sở hữu những vùng đất đã hứa . Thay vào đó, đất đai bị tập thể hóa hay tịch thu. Nhà nước chiếm hữu đất đai và nông dân mất quyền kiểm soát những gì họ đã sản xuất. Họ chỉ được giữ lại một số hàng hóa tối thiểu để sinh sống. Cuộc nội chiến và cuộc chiến vì chủ nghĩa cộng sản cần có lương thực nhưng Lenin cũng nóng lòng thực hiện ngay ý tưởng cộng sản. Ông muốn thay đổi toàn bộ cơ cấu xã hội Nga trong chớp mắt. Lenin cũng muốn hủy bỏ nền kinh tế tiền tệ. “Chúng tôi đang tiến nhanh đến việc xóa bỏ đồng tiền”, Grigory Zinoviev, một trong những cộng tác viên của Lenin nói như vậy năm 1918. Rốt cuộc, việc hủy bỏ nền kinh tế tiền tệ dẫn đến hỗn loạn và trì trệ.

Nông dân tỏ ngay thái độ bất hợp tác. Lenin nổi giận gửi vệ binh đỏ về làng quê để tịch thu nông phẩm. Nhưng chính bọn này cũng đói nên trộm thực phẩm thay vì chuyển đi. Theo Lenin, nông dân có thể chia thành hai nhóm: địa chủ, hay kulak, bị coi là một phần của giai cấp tư sản nên cũng là kẻ thù của cách mạng và những nông dân nghèo được xem là một phần của giai cấp vô sản. Trong cuộc nội chiến, sự phân biệt này không rõ ràng nên nông dân ít nhiều cũng đều bị xem là kulak.

Tháng Tư năm 1918, Lenin khai chiến với nông dân: “Bọn tiêu dùng vặt vãnh căm ghét tổ chức và kỷ luật. Đã đến lúc chúng ta phải thẳng tay tiêu diệt bọn chủ đất cỏn con này”. Vệ binh đỏ bắt đầu truy lùng và bắn chết những nông dân nào không muốn cộng tác, trên khắp nước Nga. Ủy viên tiếp vụ cổ động chiến tranh:” Chỉ với khẩu súng trên tay, chúng ta sẽ có được ngũ cốc”.

Cuối cùng Lenin nhận ra sai lầm và giảm dần cường độ chiến tranh vì chủ nghĩa cộng sản. Năm 1921, ông đưa ra chính sách cải cách kinh tế mới (New Economic Policy, NEP) cho phép nông dân sản xuất và thu lợi nhuận. Lenin dẫn nhập một phần chủ nghĩa tư bản vào nước Nga. Nhưng, khi đó vùng quê đã bị hủy hoại và thành phố thiếu thực phẩm trầm trọng. Bước ngoặt NEP đến quá muộn. Hàng triệu người đã chết đói hay đã bị đám vệ binh đỏ hành quyết. Điều mỉa mai là sau đó Lenin phải xin quốc gia tư bản Hoa Kỳ trợ giúp giải quyết thảm họa do đã cưỡng ép đất nước đi theo mô hình cộng sản. Và Hoa Kỳ đã giúp ông.

Cho đến năm 1917, Nga là quốc gia xuất khẩu thực phẩm lớn nhất thế giới. Năm 1921, hàng triệu người chết đói. Thịt người được bày bán ở những vùng đói kém nhất. Khi tình trạng thực phẩm đang ở mức thiếu hụt trầm trọng thì nước Nga mất mùa. Thực phẩm dự trữ hoàn toàn không còn để khắc phục vấn đề.

Mặc dù NEP có tác động tích cực một thời gian, mọi thứ lại tuột dốc nhanh chóng một lần nữa. Thực phẩm tiếp tục khan hiếm và mùa màng thất bát vì thiếu hạt giống. Nông dân giữ lại thức ăn vì giá thị trường quá thấp không đủ để sống. Hàng ngàn nông dân buộc phải làm việc trong ngành kỹ nghệ sắt thép vốn vô ích và không hiệu quả. Nông thôn trở nên điêu tàn. Tại thành phố, thực phẩm thiếu đến mức hàng trăm ngàn người phải đi về thôn quê để tìm hay trộm cắp thức ăn.

Có lẽ chủ nghĩa cộng sản là lý do chính khiến Lenin không chịu nghe những tiếng nói đối lập. Cần phải độc tài để ổn định cách mạng. Lenin cho rằng cuộc cách mạng đang trong thời kỳ chiến tranh nên phải tàn nhẫn. Ông nói: “Đây là ý nghĩa thuần túy khoa học của nền độc tài vô sản. Chính quyền không có giới hạn, chỉ dựa trên sức mạnh, không quan tâm đến luật lệ và hoàn toàn không theo quy tắc nào cả”.

Lenin tin rằng bạo lực là yếu tố tối cần để thay đổi lịch sử vì bọn quý tộc và giai cấp tư sản không tự nguyện từ bỏ quyền lực. Khi có điều kiện thích hợp, cuộc cách mạng sẽ cởi mở và dân chủ hơn. Mọi người sẽ có việc làm, nhà cửa, thực phẩm và công nhân sẽ tiếp quản mọi phương tiện sản xuất trong xã hội. Công dân sẽ nhận ra xã hội cộng sản là cái tốt nhất cho tất cả mọi người.

Lenin vốn là kẻ cứng đầu, ngay cả những năm trước cuộc cách mạng. Cuối những năm 1800, nạn đói xảy ra ở các tỉnh khu vực Volga. Văn hào Leo Tolstoy phát động chiến dịch gây quỹ cứu đói. Lenin cực lực phản đối và từ chối thẳng thừng mọi nỗ lực cứu đói. Ông cho rằng những thảm họa như vậy là hệ quả tất yếu do những bất công của hệ thống tư bản chủ nghĩa. Đói là tín hiệu cho thấy một nước Nga đang xuống dốc. Cứu trợ khẩn cấp chỉ giúp Nga hoàng được tiếng tốt. Lenin cho rằng nạn đói là yếu tố tiến bộ thúc đẩy cuộc cách mạng thành hình. Ông gây sốc khi gọi cuộc cứu trợ khẩn cấp là cảm tính. Lenin lãnh đạm hoàn toàn trước những khổ đau của con người.

Lenin có rất nhiều tham vọng và cho rằng thành quả lớn cần phải hy sinh lớn. Rất tiếc tham vọng chẳng qua chỉ trên lý thuyết trong khi những vụ tàn sát tập thể là hiện thực. Cơ hội khả thi thực sự của chủ nghĩa cộng sản, cái Lenin không xem xét nghiêm túc, là làm loài người trở nên cảnh giác trước một trải nghiệm xã hội lớn như vậy. George Orwell trong Animal Farm đã rất đúng khi nói rằng mọi người đều giống nhau nhưng một số người giống nhau nhiều hơn những người khác. Orwell ngầm phản đối ý tưởng tuyệt đối bình đẳng trong suy nghĩ, tiền bạc, công việc. Đó là điều không tưởng vì trái ngược với khả năng thực sự của con người. Liệu sự bình đẳng như nguyên tắc cơ bản trong nhà nước và cư dân có thể thực hiện mà không cần đến sự ép buộc vĩnh viễnCòn đối với những người không muốn bình đẳng vì những lý do khác? Làm cách nào để buộc những người đã tin vào một thượng đế suốt bao thế hệ giờ phải tin vào một ý thức hệ vốchỉ một vài người nghe nói đến trước năm 1917?

CỨU CÁNH VÀ PHƯƠNG TIỆN

Cuộc cách mạng Nga là khúc dạo đầu của cơn say bạo lực cộngsản trong thế kỷ 20, dẫn đến cái chết của cả trăm triệu người. Tuy nhiên, đối với nhiều người, chủ nghĩa cộng sản là biểu tượng cho sự tốt đẹp: một xã hội tốt hơn và công bình hơn, nơi sự nghèo đói được xóa bỏ. Nhưng đây lại là mâu thuẫn lớn của chủ nghĩa cộng sảnđó là niềm hy vọng vào một xã hội cộng sản không nghèo đói và chủ nghĩa cộng sản trong thực tế.

Chính chế độ của Lenin đã cải biến lý thuyết trên sách vở và từ các cuộc thảo luận chính trị tại các quán cà phê thành hiện thực tàn khốc và áp bức. Mặc dù Lenin được nhiều người đồng tình, các nhà sử học từ lâu đã phê phán ông không thương tiếc và khẳng định Lenin là người sáng lập chủ nghĩa cộng sản toàn trị. Mật vụ, trại tù, cải tạo, tuyên truyền, sùng bá lãnh tụ và nhà nước toàn trị đã được thực hiện từ lâu ngay trước khi Stalin tiếp quản quyền lực năm 1924. Sau khi phe bolshevik thắng cuộc nội chiến, kinh tế và cấu trúc xã hội Nga sụp đổ hoàn toàn. Công nhân tại các nhà máy lớn đình công vì thiếu thực phẩm . Lenin đã đàn áp dã man các cuộc đình công và đày hàng chục ngàn người đi làm lao động khổ sai ở Siberia.

Năm 1921, Lenin nói nước Nga không còn người vô sản nữa nên các cuộc đình công không cần thiết. Công nhân và nông dân Xô Viết, nền tảng của cuộc cách mạng, trở thành kẻ thù của nhân dân. Đình công là vũ khí và là cũng biểu tượng quan trọng nhất của giai cấp công nhân bị cấm trong suốt giai đoạn lịch sử cộng hòa nhân dân xô viết. Những người trước kia được Lenin cam kết sẽ phục vụ họ nay đều bị xem là kẻ thù lớn nhất của ông.

Lenin là bức minh họa cho thấy chủ nghĩa cộng sản khó có thể thực hiện trong thực tế. Tất cả các chế độ cộng sản đều trở thành độc tài và phạm tội chống lại loài người. Khoảng 100 triệu người đã bị giết trong hệ thống cộng sản. Tại sao lại như vậyPhải chăng chủ nghĩa cộng sản là ý tưởng tốt nhưng bị thực hiện sai hay ngay từ đầu đã là ý tưởng tồi? Việc trộn lẫn khái niệm về công lý, phân phối và bình đẳng với ý tưởng cộng sản khiến lịch sử đẫm máu của chủ nghĩa này được xem như tai nạn lao động. Nhưng ý thức hệ cộng sản còn  đi xa hơn việc chỉ ước muốn một thế giới công bình.

Theo George Orwell và Albert Camus,  chủ thuyết cộng sản được thiết kế để việc sử dụng quyền lực vượt ngoài vòng kiểm soát, sức mạnh nằm trong tay một thiểu số rất ít người  và cai trị độc tài. Hai ông cho rằng các ý tưởng về chuyên chính vô sản và dân chủ tập trung là công thức thuần túy của nhà nước toàn trị. Không gì dễ dàng bằng việc lạm dụng quyền lực. Lãnh tụ đảng cộng sản có tất cả quyền lực và luôn luôn đúng.

Phần thưởng của chủ nghĩa cộng sản là một khi đã nắm được quyền lực, họ sẽ ngồi ở vị trí đó mãi mãi. Thực tế cho thấy hầu hết các nhà độc tài cộng sản chỉ rời bỏ quyền lực khi chết hay vì quá đau yếu. Và chuyện chuyển giao quyền lực cho người thân trong gia đình như Fidel Castro giao quyền cho em trai mình, Raul Castro, ở Cuba là trường hợp không hiếm.

Người cộng sản lật đổ giới quý tộc và tư sản rồi tự lên nắm quyền như giới quý tộc mới. Hầu hết những lãnh tụ các quốc gia cộng sản sống trong nhung lụa và có những đặc quyền đặc lợi mà người dân thường chỉ có thể mơ ước ( Nicolae Ceaucescu của Romania xây lâu đài Primaverii riêng, bao bọc bằng đá cẩm thạch dát vàng và có một tài sản khổng lồKim Jong II của Triều Tiên sưu tập xe ô tô thể thao Mazda RX-7 và rượu vang quý).

Theo truyền thống, chủ nghĩa cộng sản chia nhân loại ra làm hai phầnnhững người theo chúng ta (tầng lớp lao động và đảng) và những kẻ chống chúng ta (bọn tư bản và tất cả những ai chạy theo chúng). Ý thức hệ cộng sản hoàn toàn đúng đắn và khoa học do đó nó cao hơn các ý thức hệ khác. Tự bản thân tư tưởng cộng sản là khoa học nên xã hội cộng sản phát triển như tất yếu lịch sử. Dù muốn hay không, nó vẫn xảy ra giống như tiếng sấm đến sau tia chớp.

Các lãnh tụ độc tài cộng sản cho rằng việc tranh luận về những vấn đề trên thế giới và cố thuyết phục lẫn nhau là thừa thãi bởi lẽ ý thức hệ cộng sản không chỉ là quan điểm về thế giới mà còn là sự khách quan về sự thật. Triết gia người Đức Karl Popper đã vạch ra các điểm tương đồng giữa chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa phát xít. Cả hai chủ thuyết này tự cho đã hoàn chỉnh và mọi hệ tư tưởng khác đều sai lầm. Cả hai hệ thống đều sử dụng bạo lực và biện minh việc đối xử vô nhân đạo với đối thủ là chính đáng. Thuyết đấu tranh giai cấp của cộng sản và thuyết phân biệt chủng tộc của Đức Quốc Xã sử dụng ngôn ngữ chiến tranh để kêu gọi nhân dân chống lại kẻ thù.

Di sản của Lenin (và giai đoạn bạo lực trong cuộc cách mạng Pháp) đã tạo ra kiểu tuyên truyền cộng sản với ngôn ngữ khích động bạo lực và tư tưởng chiến tranh. Bài hát nổi tiếng Quốc Tế Ca (The International) được cả người dân chủ xã hội và những người theo chủ nghĩa lenin sử dụng và dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới . Bản nhạc này cũng là bài quốc ca của Liên Xô cho đến năm 1944. Bài Quốc Tế Ca lời Việt là một ví dụ:

Vùng lên hỡi các nô lệ ở thế gian, vùng lên hỡi ai cực khổ bần hàn. Sục sôi nhiệt huyết trong tâm đầy chứa rồi, quyết phen này sống chết mà thôi. Chế độ xưa ta mau phá sạch tan tành. Toàn nô lệ vùng đứng lên đi. Nay mai cuộc đời của toàn dân khác xưa, bao nhiêu lợi quyền tất qua tay mình.

Đấu tranh này là trận cuối cùng, kết đoàn lại để ngày mai. Lin ter na ti o na le sẽ là xã hội tương lai

Khó biết chính xác số người đã người chết dưới sự cai trị của Lenin. Hầu hết các nhà nghiên cứu ước tính con số này từ 17 triệđến 20 triệu. Khoảng 12 triệu người, một phần mười dân số Nga, chết trong cuộc nội chiến và những người bolshevik phải chịu trách nhiệm. Khoảng một triệu người bị giết do bạo lực và rất nhiều người trong số đó bị hành quyết hàng loạt sau khi đầu hàng. Năm triệu người chết đói do chính sách kinh tế sai lầm thảm hại. Hàng trăm ngàn người mất tích. Theo thống kê Nga, từ mùa Thu năm 1917 đến đầu năm 1922, dân số Nga đã giảm 12,7 triệu người. Sau khi Lenin chết, Stalin tiếp tục tiến hành bạo lực cách mạng. 62 triệu người đã bị giết trong giai đoạn lịch sử nhà nước Liên Xô.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Cuộc duyệt binh thất bại của Tập Cận BìnhBởi

Cuộc duyệt binh thất bại của Tập Cận Bình

  • 464

Duẩn Đặng

24-4-2019

Tập Cận Bình từ ngày lên trị vì đã dồn nhiều tâm huyết xây dựng lực lượng hải quân viễn dương, trước là hòng phá vỡ hai chuỗi đảo bao vây của Mỹ và đồng minh, sau là phục vụ cho chiến lược bá chủ thế giới, thách thức vị thế siêu cường của Mỹ.

Bởi vậy sau thời gian cấp tập đóng tàu chiến như vịt đẻ trứng, Trung Quốc hết sức xem trọng lần duyệt binh hải quân đa quốc gia đầu tiên dưới thời Tập.

Bộ máy tuyên truyền được vận hành hết công suất, hàng chục nước được mời tham gia sự kiện 10 năm mới có một lần này. Lần biểu dương lực lượng ở Thanh Đảo được xem như là tuyên bố chính thức của Bắc Kinh về việc chuyển mình thành hải quân viễn dương, vừa phô trương vừa uy hiếp đối thủ, chư hầu các loại.

Nào ngờ người tính không bằng trời tính. Ngày duyệt binh 23.4 sương mù giăng đầy ở vùng biển Thanh Đảo, tầm nhìn dưới 500 mét, đến đứng trên tàu còn chẳng thấy được nhau, nói gì đến duyệt binh trên biển. Chương trình bay biểu diễn luyện tập công phu của không quân hải quân bị hủy. Quan khách chỉ biết ngồi trên tàu tán phét, ngấm ngầm hỉ hả.

Chương trình truyền hình trực tiếp ra toàn thế giới vì thế cũng bị hủy. Đã thế còn xảy ra sự cố nữ xướng ngôn viên của Đài truyền hình trung ương Trung Quốc trong phòng thu bị dính cảnh ngồi lướt điện thoại trên sóng trực tiếp của chương trình, biến cuộc duyệt binh thành trò hề.

Đó là một cuộc duyệt binh thất bại và Tập được nhìn thấy vẫn còn đi hơi lết khi duyệt đội tiêu binh. Tuy có vững vàng hơn đợt công du châu Âu tháng trước nhưng dáng đi cứng đờ một nửa người vẫn lộ ra di chứng của sự cố sức khỏe (xuất huyết não nhẹ chăng?).

Tình trạng sức khỏe của Tập càng châm thêm dầu vào lửa cho những chỉ trích về việc không chỉ định lớp kế thừa ở đại hội 19, hòng ở lại thêm nhiệm kỳ ba và lâu hơn. Tình hình Trung Quốc lúc này mà Tập có mệnh hệ gì thì e là tình trạng quần long vô chủ, cát cứ địa phương còn trầm trọng hơn khi trước rất nhiều, có khi lại tan rã thật chứ không đùa.

Trong nền văn hóa thường ba hoa về cái gọi là “thiên mệnh” thì sự cố sương mù và tình trạng sức khỏe là tổn thất lớn giáng vào vị thế của Tập Cận Bình và tham vọng bá chủ thế giới của Trung Quốc.

Nhân tâm có thể đàn áp hay mua chuộc, còn thiên mệnh há có thể cưỡng cầu?

Bình Luận từ Facebook
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Việt Nam rất cần những khuôn mặt hoàn toàn mới mẻ

Việt Nam rất cần những khuôn mặt hoàn toàn mới mẻ

Nguyễn Ngọc Chu

22-4-2019

Tân tổng thống Ukraine, Volodymyr Zelensky, 41 tuổi. Ảnh: internet

Với Việt Nam, sự lựa chọn của cử tri Ukraina hôm qua nhắc nhở, rằng già nua và cũ rích đã trị vì nhiều năm thì phải loại bỏ. Bởi thế Việt Nam rất cần những khuôn mặt hoàn toàn mới mẻ.

CHÚC CHO LỰA CHỌN MỚI CỦA NHÂN DÂN UKRAINA TOÀN THẮNG

1. Nhân dân Ukraina đã có một lựa chọn mới. Volodymyr Zelensky, 41 tuổi, trước đây là diễn viên nổi tiếng trong vai từ giáo viên trở thành tổng thống của chương trình truyền hình “ Người phục vụ Nhân dân”, thì bây giờ, ông thực sự đã từ diễn viên trở thành tân tổng thống Ukraina sau cuộc bỏ phiếu vòng 2 ngày 21/4/2019. Với số phiếu đã kiểm, Volodymyr Zelensky được 73% cử tri lựa chọn, vượt xa đương kim tổng thống Poroshenko chỉ có 25% cử tri ủng hộ. Ông Poroshenko tuyên bố rời phủ tổng thống vào ngày 3/6 /2019, nhưng không rời chính trường.

Cử tri Ukraina không lựa chọn ông Poroshenko vì ông đã có một nhiệm kỳ mà không làm được điều gì đáng kể. Vẫn tham nhũng. Vẫn không giải quyết ổn thỏa quan hệ với Nga. Vẫn chưa gia nhập Liên minh châu Âu. Bàu ông vẫn chỉ thế mà thôi. Tương lai không có gì sáng sủa.

Ông Zelensky đã lấy tên phim “Người phục vụ Nhân dân” làm tên cho chính Đảng tranh cử. Bây giờ thì ông thực sự trở thành “ Người phục vụ Nhân dân”. Chúc cho ông Zelensky hãy là “ Người phục vụ Nhân dân” chứ không phải là “ Đầy tớ của Dân”.

Ông Volodymyr Zelensky còn trẻ và chưa bao giờ hoạt động chính trị. Vậy mà nhân dân Ukraina đã lựa chọn ông. Đó là vì cử tri Ukraina hy vọng vào sự đổi mới. Có ông Zelensky thì mới có cơ hội hy vọng vào tương lai tốt hơn. Nếu xấu thì thay đổi. Còn hơn ông Poroshenko là khuôn mặt đã cũ, chỉ có như bây giờ cho đến xấu hơn.

2. Tân tổng thống Volodymyr Zelensky sẽ có một nhiệm kỳ vô cùng khó khăn. Khó khăn nhất của ông không phải là phát kinh tế mà là tìm ra con đường đối thoại với chính quyền ông Putin.

Ông Putin không muốn Ukraina gia nhập Liên minh châu Âu, càng không thể gia nhập NATO. Một là Nga mất đi một đồng minh anh em Slavơ máu mủ gần gũi nhất – đã cô lập lại còn cô lập thêm. Hai là biên giới NATO có thể tiến đến sát Matxcơva, chỉ cách vài trăm km.

Điều ông Zelensky phải làm là khởi động lại tiến trình đàm phán với ông Putin có sự tham gia của đại diện các nước từ Liên minh châu Âu. Từ Liên minh châu Âu chứ không phải là đại diện của Mỹ. Vị thế địa chính trị và lịch sử của Ukraina đối với Nga rất khác so với Ba Lan hay các nước Slavơ ở Đông Âu. Cho nên phải có cách tiếp cận mới. Trong đó cần phải ghi nhớ rằng, ở thời điểm hiện tại, vấn đề Ukraina gia nhập NATO là phản đối không lùi bước của ông Putin.

Một quan hệ thành viên không đầy đủ với Liên minh châu Âu là điều có thể đạt được với Ukraina trong sự chấp nhận miễn cưỡng của lập trường Nga. Thực ra ông Putin đã không có cái nhìn như ông Tập Cận Bình trong vấn đề đội quân thứ 5.

Người Nga ở Ukraina rất đông, chiếm đến 17,3% dân số. Việc Ukraina có quan hệ mật thiết với Liên minh châu Âu, ngoại trừ gia nhập liên minh quân sự, sẽ rất có lợi cho Nga. Nền kinh tế của Nga và một bộ phận người Nga được hưởng lợi từ quan hệ kinh tế tốt đẹp giữa Ukraina và Liên minh châu Âu. Thêm vào đó là sự hòa nhập và “Tây tiến” của người Nga vào châu Âu.

Mặt khác, chừng nào ông Putin còn tại vị và còn chưa tiếp nhận văn hóa dân chủ châu Âu dành cho các dân tộc – bình đẳng không kể lớn nhỏ, thì chừng đó quan hệ Nga – Ukraina vẫn còn những vấn đề không suôn sẻ. Bài toán của ông Zelensky là phải cân bằng quan hệ Đông – Tây, một điều rất không dễ trong thời ông Putin trị vì.

3. Số phận đã đưa 2 dân tộc Việt Nam và Ukraina đến những vị thế tương đồng – cùng phải sống cạnh những đế chế sô vanh dẫn đầu bởi những cá nhân cuồng vọng. Riêng ách đô hộ tư tưởng ngoại bang, Ukraina diễm phúc hơn khi đã tự mình tháo bỏ.

Nhưng có điều khác biệt căn bản, rằng nền công nghiệp và trình độ khoa học công nghệ của Ukraina là mơ ước nhiều chục năm của Việt Nam. Ukraina sở hữu công nghệ hạt nhân, hàng không, tên lửa và nhiều lĩnh vực công nghệ cao khác. Ukraina từng là cường quốc hạt nhân số 3 thế giới sau Mỹ và Nga. Tàu sân bay Liêu Ninh của Trung quốc có xuất xứ từ Ukraina. Động cơ tên lửa đẩy tầm bay 10 000 km mà cuối cùng Bắc Triều Tiên có được để đe dọa Mỹ cũng có xuất xứ từ Ukraina…

Việt Nam đáng lý ra đã sở hữu nhiều công nghệ hiện đại nếu biết cách hợp tác với Ukraina. Hơn là chỉ đơn thuần mua vũ khí rồi chuyển giao dây chuyền sản xuất vài mặt hàng cố định mà không sở hữu sáng chế cốt lõi. Tiếc rằng hợp tác mua bán vũ khí với Nga đã là yếu tố áp đảo quá mức làm lu mờ đi các kênh sống sót khác. Nói đến các kênh sống sót khác là bởi vì Trung Quốc mua nhiều vũ khí hiện đại của Nga hơn Việt Nam. Nói đến các kênh sống sót khác là bởi vì mua vũ khí nhưng không sở hữu được công nghệ.

Cần phải chỉ ra rằng, một rào cản căn bản là khi muốn sở hữu công nghệ thì phải trả tiền, dù là giá rất rẻ. Trong khi mua bán vũ khí thì dẫu phải trả đắt, vẫn có cơ hội nhận lại được tiền. Hai nhân tố đó đã khép lại cơ hội sở hữu công nghệ đỉnh cao mà Việt Nam có thể có trong hợp tác với Ukraina – điều mà Trung Quốc và nhất là Bắc Triều tiên trông chờ đến chảy máu mắt.

4. Ukraina sở hữu cơ thể và tố chất của một cường quốc. Tiếc là các hệ quả hậu Xô Viết đã hủy hoại từng phần và đang kìm hãm sức phát triển của Ukraina. Nhất là cuộc nội chiến giữa những người ruột thịt Nga – Ukraina ở miền đông Ukraina – gây ra bởi những thế lực tranh giành quyền lực, chứ không phải là do nhân dân Nga – Ukraina. Nhưng đó chỉ là tạm thời. Không ai có thể cản ngăn được bước tiến của quốc gia Ukraina thống nhất.

Biết là rất gian truân, nhưng từ sâu trong tâm khảm chúc cho sự lựa chọn của nhân dân Ukraina toàn thắng. Để đất nước Ukraina tươi đẹp sớm được sống trong hòa bình và thịnh vượng.

5. Với Việt Nam. sự lựa chọn của cử tri Ukraina hôm qua nhắc nhở, rằng già nua và cũ rích đã trị vì nhiều năm thì phải loại bỏ. Bởi thế Việt Nam rất cần những khuôn mặt hoàn toàn mới mẻ.

Phải thay đổi. Dù khuôn mặt mới rất xa lạ.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Nhật Bản: Hình mẫu lý tưởng cho Việt Nam?

Nhật Bản: Hình mẫu lý tưởng cho Việt Nam?

Nhật Bản vẫn sẽ là lá cờ đầu , là niềm tự hào của bóng đá Châu Á.Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionNhật Bản vẫn sẽ là lá cờ đầu , là niềm tự hào của bóng đá Châu Á.

Cuối những năm 50 của thế kỷ trước, Nhật Bản đã từng phải “năn nỉ” để được thi đấu với đội tuyển Việt Nam và rồi phải nhận kết quả thua ba trắng.

Gần 70 năm sau hãy nhìn vào vị trí của nền bóng đá hai nước trên bản đồ thế giới và cùng suy ngẫm.

Như chúng ta đã biết Nhật Bản đã phải dừng bước tại World Cup 2018 sau một trận đấu nghẹt thở tới những phút cuối cùng với Bỉ.

Trong tư thế là đội bị đánh giá yếu hơn và bị đại diện của Châu Âu dồn ép rất nhiều ngay từ lúc khai cuộc nhưng Nhật Bản bất ngờ vượt lên dẫn trước ở phút 48 sau một pha phản công.

Càng bất ngờ hơn nữa khi chỉ bốn phút sau đó, cú sút xa của Takashi Inui đã vượt qua khỏi tầm với của Thibaut Courtois trong sự ngỡ ngàng của tất cả mọi người.

Những bất ngờ liên tiếp giúp Anh rộng cửa vào chung kết

Thụy Điển sẽ gặp người thắng ở cặp Anh đấu Colombia

Các cầu thủ Nhật Bản ăn mừng sau khi vượt lên dẫn trước đầy bất ngờ.Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionCác cầu thủ Nhật Bản ăn mừng sau khi vượt lên dẫn trước đầy bất ngờ.

Những tưởng đại diện cuối cùng của châu Á đã có thể làm nên kỳ tích tại World Cup năm nay thì những gì diễn ra sau đó thật đau đớn.

Với thể hình vượt trội cộng thêm một chút may mắn, tuyển Bỉ đã thiết lập lại thế cân bằng ở phút 74 sau những pha đánh đầu của Jan Vertonghen và cầu thủ vào sân thay người Fellaini.

Mbappe: fan ruột của Ronaldo thành sao sáng ở WC

Bị gỡ hai bàn chóng vánh nhưng tinh thần của các Samurai vẫn không hề nao núng, họ vẫn chủ động triển khai tấn công chứ không hề co cụm về phòng thủ kéo trận đấu để giải quyết trên chấm penalty sẽ là một chiến thuật hợp lý hơn.

Và chính trong một pha tấn công như thế, khi trận đấu chỉ còn được tính bằng giây, xuất phát từ một pha đá phạt góc không tốt của đội bóng áo xanh, các cầu thủ Bỉ đã có một pha phản công nhanh và ra một đòn kết liễu đúng vào phút 90 +4.

Nacer Chadli (áo đỏ) có pha đệm bóng kết thúc trận đấu ở những giây cuối cùng.Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionNacer Chadli (áo đỏ) có pha đệm bóng kết thúc trận đấu ở những giây cuối cùng.

Nacer Chadli, một “máy chạy “được HLV Martinez đưa vào sân từ băng ghế dự bị đã cho thấy tác dụng của mình khi nước rút vượt qua nhiều cầu thủ Nhật Bản lúc đó đã thấm mệt để đệm bóng cận thành, kết thúc một trong những trận đấu hay nhất kể từ khi World Cup khởi tranh.

Một kết cục quá nghiệt ngã cho đại diện của Châu Á khi họ đã vượt lên dẫn trước tới hai bàn cách biệt.

Tinh thần võ sỹ đạo

Đã có những ý kiến phê bình ngay sau trận đấu cho rằng tại sao Nhật Bản lại không rút về co cụm phòng thủ, khống “đỗ xe bus hai tầng” trước khung thành của Kawashima thì biết đâu họ đã không phải nhận trái đắng như vậy.

Nhưng những người đó cũng đâu có biết rằng, cũng ngay tại World Cup năm nay, trong trận đấu cuối cùng ở vòng bảng với Ba Lan, trong vòng gần mười phút cuối trận, Nhật Bản lúc đó đang bị dẫn trước 1-0 nhưng đã đá rất thảnh thơi và không có ý định gỡ hòa.

Nguyên do là đối thủ cạnh tranh cùng họ là Senegal đang bị đẫn trước 1-0 và thua họ về chỉ số phụ nên nếu giữ nguyên kết quả này vẫn là đủ để Nhật Bản đi tiếp.

Thực ra hành động câu giờ của Nhật Bản đã làm như trong trận đấu với Ba Lan là một hành động hết sức bình thường trong bóng đá và chắc hẳn sẽ rất ít đội có thể làm khác đi nếu rơi vào tình huống đó.

Đức bị loại: ‘Cái chết’ được báo trước?

Thực lực trận Bỉ – Nhật Bản trước giờ bóng lăn

Nhưng những hành động đó vẫn bị các cổ động viên la ó trên khán đài, bị các fan và truyền thông chỉ trích đến nỗi HLV trưởng của Nhật Bản, ông Akira Nishino, đã phải đứng ra xin lỗi vì đã chỉ đạo các học trò kéo dài thời gian, AFP đưa tin từ Volvograd.

Ông nói: “Tôi là người chịu trách nhiệm vì đã buộc các cầu thủ chơi không giống như bản chất của họ, nhưng tôi đã còn sự lựa chọn nào khác”

“Đối thủ tiếp theo của chúng tôi là đội tuyển Bỉ và chỉ còn 10 phút nữa là trận đấu kết thúc, tôi không muốn bất cứ điều gì bất lợi xảy ra cả.”

Người Nhật Bản từ lâu đã được biết tới với tinh thần võ sỹ đạo, tinh thần của những Samurai chân chính và đây chính là lý do vì sao họ trở thành mục tiêu của sự chỉ trích cho sự thiếu fairplay – một hành động hợp lý nhưng không hợp tình.

Cổ động viên Nhật Bản đã không cầm được nước mắt khi chứng kiến đội tuyển để thua một cách đau đớnBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionCổ động viên Nhật Bản đã không cầm được nước mắt khi chứng kiến đội tuyển để thua một cách đau đớn.

Có lẽ chính những sự phê phán này phần nào khiến các cầu thủ Nhật Bản trong trận đấu ngay sau đó gặp Bỉ vẫn một mực chơi đôi công dù đã dẫn trước hai bàn để rồi nhận phải cú hồi mã thương của những chú Quỷ Đỏ.

Phải nói rằng Bỉ cũng đã thi đấu rất hay, đặc biệt là những quyết định thay người hợp lý của HLV Martinez trong hiệp hai nhưng thực sự Nhật Bản cũng rất xứng đáng để được đi tiếp.

Người dân Nhật Bản nói riêng và Châu Á nói chung có quyền tự hào về thành tích mà các cầu thủ xứ sở Mặt trời mọc đã làm được tại giải đấu năm nay khi chỉ phải chịu thua trong những giây cuối cùng trước một ứng cử viên nặng ký cho chức vô địch.

Hành động đẹp trong và ngoài sân bóng

Các cầu thủ cùng ban huấn luyện cúi đầu trước khán giả sau trận đấuBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionCác cầu thủ cùng ban huấn luyện cúi đầu trước khán giả sau trận đấu

Kết thúc trận đấu, các cầu thủ gục ngã trên sân và cũng không thể giấu được nỗi thất vọng.

Những giọt nước mắt đã rơi trên khuôn mặt của các chiến binh – họ đã chiến đấu hết mình để không làm xấu hình ảnh và biểu tượng lâu đời của quốc gia.

Những cầu thủ cũng không quên cảm ơn những người hâm mộ chân chính, đã lặn lội đường xa để tới sân chứng kiến và cổ vũ họ.

Toàn bộ cầu thủ cùng ban huấn luyện vừa khóc vừa cúi đầu cảm ơn cũng như xin lỗi vì đã không thể tiến xa hơn được ở giải đấu nhưng họ đâu biết rằng, trong trái tim của người hâm mộ họ đã là người chiến thắng.

Trên các khán đài, các cổ động viên cũng nán lại trước khi rời sân để thu dọn rác, hành động đẹp khiến nhiều người bầu họ là “các fan tuyệt nhất thế giới”.

Điều đặc biệt là đây cũng không phải lần đầu tiên cổ động viên Nhật làm điều này – không chỉ các trận đấu diễn ra tại World Cup năm nay mà còn ở các giải đấu lớn nhỏ khác, người Dân Nhật Bản vẫn luôn có những cử chỉ đẹp như thế này.

Từ đầu giải đến giờ, đây không phải lần đầu tiên các cổ động viên Nhật Bản có những cử chỉ đẹp như thế này.Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTừ đầu giải đến giờ, đây không phải lần đầu tiên các cổ động viên Nhật Bản có những cử chỉ đẹp như thế này.

Trong phòng thay đồ, các cầu thủ dù rất tâm trạng nhưng vẫn không quên dọn thật gọn gàng phòng thay đồ lần cuối trước khi về nước.

Họ cũng để lại một mảnh giấy viết tay với dòng chữ “xin cảm ơn” để gửi tới những người lao công đã luôn dọn dẹp phòng thay đồ giúp họ.

Có người từng nói “Đừng bao giờ quá bận rộn để nên nói lời “cảm ơn” và “làm ơn”,”- đây là những thứ mà mỗi người dân Nhật Bản đều đã được dạy ngay từ khi còn là một đứa trẻ. Đó là lời giải thích vì sao Nhật Bản vẫn luôn được đánh giá là một nơi có xã hội văn minh nhất.

Cùng bị chịu ảnh hưởng của chiến tranh, cùng là một quốc gia từng gặp nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế, nhưng Nhật Bản đã sớm vực dậy và đã bỏ xa Việt Nam.

Sẽ có rất nhiều điều mà Việt Nam phải noi theo nếu muốn bắt kịp Nhật Bản, và một trong những điều quan trọng nhất đó chính là văn hóa ứng xử nếu muốn có một hình tượng đẹp hơn trong con mắt bạn bè quốc tế.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Máy bay quân sự rơi ở Nghệ An khiến hai phi công tử nạn

Máy bay quân sự rơi ở Nghệ An khiến hai phi công tử nạn

Một phi cơ Su-22 do Nga sản xuấtBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionMột phi cơ Su-22 do Nga sản xuất – hình chỉ có tính minh họa, không phải từ vụ việc ở Nghệ An hôm 26/07

Một máy bay Su-22 của Trung đoàn Không quân 921 rơi tại Nghệ An ngày 26/7, làm hai phi công bay huấn luyện tử nạn.

Tìm thấy tổ lái trực thăng rơi

Bộ Quốc Phòng xác nhận phi công VN tử nạn ở Anh

‘Cánh tà hỏng’ làm rơi máy bay Nga

Bộ quốc phòng Việt Nam nói vào lúc 11 giờ 16 phút ngày 26/7, một máy bay Su-22, số hiệu 8551 của Trung đoàn Không quân 921, Sư đoàn 371, Quân chủng Phòng không – Không quân thực hiện bay huấn luyện.

Nhưng máy bay mất liên lạc lúc 11 giờ 35 phút và theo thông tin ban đầu, máy bay rơi tại làng Dừa, xã Nghĩa Yên, huyện Nghĩa Đàn, Nghệ An.

Hai phi công

Việt Nam xác nhận tên hai người đã hy sinh:

  • Trung tá Khuất Mạnh Trí, Phó Trung đoàn trưởng Tham mưu trưởng, sinh năm 1978. Quê quán: phường Lê Lợi, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.

Nhập ngũ: 20/9/1995

Giờ bay tích lũy: 1.130h37; Giờ bay trong năm: 111h08

Đã bay qua các loại máy bay: L- 39. MiG-21, Su-22;

  • Thượng tá Phạm Giang Nam, Chủ nhiệm an toàn bay Trung đoàn 921, sinh 1972. Quê quán: Thái Giang, Thái Thụy, Thái Bình.

Nhập ngũ: 12/9/1991

Giờ bay tích lũy: 1178h32; Giờ bay trong năm: 106h58

Đã bay qua các loại máy bay: L-39. MiG-21Bis, Su-22M.

Bộ Quốc phòng Việt Nam nói đã chỉ đạo các đơn vị “kịp thời khắc phục hậu quả, điều tra làm rõ nguyên nhân vụ tai nạn”.

Máy bay rơi tại làng Dừa, xã Nghĩa Yên, huyện Nghĩa Đàn, Nghệ An
Image captionMáy bay rơi tại làng Dừa, xã Nghĩa Yên, huyện Nghĩa Đàn, Nghệ An

Hôm 16/4/2015, hai máy bay Su-22 mất liên lạc khi cất cánh từ sân bay Phan Rang (Ninh Thuận) ra khu vực vùng trời đảo Phú Quý.

Sau đó, Việt Nam tìm thấy thi thể hai phi công, Trung tá Lê Văn Nghĩa và đại úy Nguyễn Anh Tú.

Hồi tháng 10/2016, ba phi công quân sự Việt Nam đã tử nạn khi trực thăng huấn luyện của họ rơi tại Bà Rịa-Vũng Tàu.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Sri Lanka: Tấn công khủng bố có thể ‘do IS thực hiện’

Sri Lanka: Tấn công khủng bố có thể ‘do IS thực hiện’

Sri LankaBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionCác vụ tấn công khủng bố hôm Chủ nhật đã làm rung chuyển Sri Lanka với một nghìn người thiệt mạng hoặc bị thương

Nhóm khủng bố Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS) có thể được liên kết với các vụ đánh bom khiến 321 người thiệt mạng và 500 người bị thương ở Sri Lanka, Thủ tướng của nước này cho biết.

Ranil Wickremeinghe nói chính phủ tin rằng các cuộc tấn công vào Chủ nhật 21/4/2019 không thể được thực hiện nếu không có liên kết với các nhóm khủng bố ở nước ngoài.

Lễ tang tập thể đầu tiên được tổ chức vào thứ ba 21/4 khi Sri Lanka đánh dấu một ngày chính thức để tang cho các nạn nhân.

Sri Lanka: Số người chết tăng lên 290

Sri Lanka: Hơn 200 người thiệt mạng trong các vụ nổ

Vanuatu và ‘bẫy nợ’ của Trung Quốc

Tình trạng khẩn cấp vẫn còn hiệu lực để ngăn chặn các cuộc tấn công tiếp theo.

Cảnh sát hiện đã bắt giữ 40 nghi phạm liên quan vụ tấn công, tất cả đều là công dân Sri Lanka.

“Điều này không thể được thực hiện chỉ bởi địa phương”, ông Wickremeinghe nói. “Đã có đào tạo và một sự phối hợp mà chúng ta không thấy trước đó.”

Sri LankaBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionCơn sốc vẫn còn được cảm nhận ở quốc gia Nam Á sau cuộc tấn công đẫm máu

Nhóm Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS) hôm thứ Ba tuyên bố nhận trách nhiệm về vụ tấn công thông qua kênh tin tức Amaq. Chính phủ Sri Lanka trước đó đã đổ lỗi các vụ nổ do nhóm Hồi giáo địa phương National Thowheed Jamath (NTJ) thực hiện.

Tám vụ nổ đã được đưa tin, trong đó có ba nhà thờ bị tấn công trong lúc diễn ra các thánh lễ Phục sinh.

Ba khách sạn ở thủ đô, Colombo – Shangri-La, Kingsbury và Cinnamon Grand – cũng bị nhắm mục tiêu.

Sri Lanka để tang các nạn nhân vụ tấn công Colombo

Một cuộc tấn công vào một khách sạn thứ tư hôm Chủ nhật đã bị hủy bỏ, ông Wickremeinghe nói nhưng không nêu tên khách sạn. Ông cũng cảnh báo rằng các chiến binh vẫn còn tự do và vũ khí chất nổ vẫn còn ở ngoài sau vụ tấn công.

Ai thực sự đứng sau vụ tấn công?

IS cho biết họ đã “nhắm mục tiêu là công dân của liên minh thập tự chinh [liên minh chống IS do Mỹ đứng đầu] và Kitô hữu ở Sri Lanka”.

Sri Lanka: Biểu tình chống dự án TQ đầu tư

Sri LankaBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionChính quyền đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp sau vụ tấn công

VN cùng Israel, Sri Lanka lần đầu dự RIMPAC

Nhóm này không cung cấp bằng chứng cho tuyên bố này nhưng đã chia sẻ một hình ảnh trên truyền thông xã hội của tám người đàn ông có ý định đứng sau vụ tấn công.

Lực lượng Dân chủ Syria (SDF) do người Kurd lãnh đạo đã tuyên bố “giải phóng” thành trì cuối cùng của IS vào ngày 23 tháng Ba.

Mặc dù tuyên bố này đánh dấu chiến thắng đoạt lãnh thổ cuối cùng đối với nhà nước Hồi giáo tự xưng, các chuyên gia cảnh báo nó không có nghĩa là sự kết thúc của IS hoặc hệ tư tưởng của nó.

Ông Wickremeinghe nói rằng chỉ có công dân Sri Lanka bị bắt liên quan đến vụ tấn công cho đến nay, nhưng một số kẻ tấn công có thể đã đào thoát ra nước ngoài trước các vụ đánh bom.

”Chúng tôi chắc chắn là cơ quan an ninh có quan điểm rằng vụ tấn công có liên kết với nước ngoài và một số bằng chứng cho thấy điều đó. Vì vậy, nếu IS (Nhà nước Hồi giáo tự xưng) nhận trách nhiệm, chúng tôi sẽ điều tra tuyên bố này”, ông nói thêm.

Sri LankaBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionHình ảnh một nghi phạm khủng bố được camera an ninh ghi lại

Trước đó, Bộ trưởng Quốc phòng Ruwan Wijewardene nói với quốc hội rằng NTJ được liên kết với một nhóm Hồi giáo cực đoan khác mà ông đặt tên là JMI.

Ông Wijewardene không cho biết thêm chi tiết.

Ông cũng nói “các cuộc điều tra sơ bộ” chỉ ra rằng các vụ đánh bom là để trả đũa các vụ tấn công chết người vào các nhà thờ Hồi giáo ở thành phố Christchurch, New Zealand, vào tháng Ba, nhưng một lần nữa không có thêm thông tin nào.

NTJ không có lịch sử về các cuộc tấn công quy mô lớn nhưng đã trở nên nổi tiếng vào năm ngoái khi bị cáo buộc phá hỏng các bức tượng Phật giáo. Nhóm này không tuyên bố rằng họ đã thực hiện vụ đánh bom hôm Chủ nhật.

Các cuộc tấn công hôm 21/4 đã nhấn mạnh những rạn nứt trong lãnh đạo Sri Lanka, sau khi có tin rằng nhà chức trách đã được cảnh báo về một mối đe dọa sắp xảy ra từ nhóm thánh chiến NTJ.

Nhưng Thủ tướng Ranil Wickremeinghe và nội các đã không được thông báo, các bộ trưởng nói.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Nhân ngày 30 Tháng Tư: Nguy cơ mất nước vào tay Tàu là chuyện có thật

Nhân ngày 30 Tháng Tư: Nguy cơ mất nước vào tay Tàu là chuyện có thật

“Nhà nước ta lệ thuộc không dám nói gì với Trung Quốc…” – (Lời Thiếu tướng CSVN Lê Duy Mật)
“Nhiều người đã ví giai đoạn mất nước và luôn cả diệt vong của dân tộc Việt Nam như một người đang hấp hối…” (PCD)
Phạm Cao Dương (*) – “Chúng ta phải giành cho được Đông Nam châu Á bao gồm cả miền nam Việt Nam, Thái lan, Miến Điện, Ma-lai-xi-a và Xin-ga-po. Một vùng như Đông-nam châu Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản… xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy… Sau khi giành được Đông-nam châu Á, chúng ta có thể tăng cường được sức mạnh của chúng ta ở vùng này, lúc đó chúng ta sẽ có sức mạnh đương đầu với khối Liên Xô-Đông Âu, gió đông sẽ thổi bạt gió tây.”
“Chúng ta phải chinh phục trái đất. Mục tiêu của chúng ta là toàn thể trái đất”
Mao Trạch Đông
Tuyên bố trước Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc năm 1959
(Trích từ “Sự Thật về Quan Hệ Việt Nam-Trung Quốc Trong 30 Năm Qua”. Nhà Xuất bản Sự Thật,1979, tái bản 1980.)
Trước khi vào đề: Đây là bài thứ ba trong loạt bài tác giả viết dưới nhan đề chung là “Mưu Độc Ngàn Năm” như một lời cảnh giác về hiểm họa Bắc Phương mà tổ tiên người Việt từ thời Mã Viện non một ngàn năm trước đã phải liên tục đương đầu. Bài thứ nhất nói về Cuộc Khởi Nghĩa của Hai Bà Trưng và chủ trương đồng hóa tiếp theo của Mã Viện với việc dựng cột đồng của viên tướng Nhà Hán này. Bài thứ hai nói về việc Nhà Minh tịch thu sách của ta đem về Tầu nhằm tiêu diệt văn hóa của người Việt, từ đó chính dân tộc Việ Nam; và bài thứ ba về cuộc xâm lăng vừa công khai vừa âm thầm chút một nhưng vô cùng nguy hiểm bằng những phương tiện tinh vi nhất, độc địa nhất, mới mẻ nhất hiện đang xảy ra ở ngoài Biển Đông và ở ngay trên đất liền của chính quốc Việt Nam.
Đây là một vấn đề vô cùng rộng lớn và vô cùng phức tạp nhưng vì giới hạn của một bài viết ngắn để bạn đọc có thể bỏ thì giờ đọc được, tôi chỉ xin đưa ra những điểm chính, đồng thời tôi sẽ không nói nhiều về Biển Đông với các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và Đường Lưỡi Bò của Trung Cộng cùng những gì đế quốc mới này đã và đang làm ở trong vùng biển này như thành lập Thành Phố Tam Sa, thiết lập các cơ cấu hành chánh, chánh trị, quân sự, đưa các tàu hải tuần xuống đe dọa các quốc gia liên hệ và chặn bắt các tàu đánh cá của ngư dân, đặc biệt là ngư dân Việt Nam…
Lý do là vì tất cả đã trở thành đề tài thời sự thế giới, được nói tới gần như hàng tuần và luôn cả hàng ngày trên các đài phát thanh, các đài truyền hình quốc tế cũng như các đài phát thanh, đài truyền hình của người Việt, và trên các trang mạng từ nhiều năm nay và đương nhiên cả trong những buổi gặp gỡ giữa người Việt ở Hải Ngoại. Ngoài ra một số sách cũng đã được soạn riêng và xuất bản về vấn đề này rồi.
Tôi cũng không nói hay nói rất ít về bản “Tuyên Cáo về việc Nhà Cầm Quyền Trung Quốc Liên Tục Có Những Hành Động Gây Hấn, Xâm Phạm Nghiêm Trọng Chủ Quyền Toàn Vẹn Lãnh Thổ Việt Nam Trên Biển Đông”, ngày 25 tháng 6 năm 2011 và bản “Kiến Nghị Về Bảo Vệ Và Phát Triển Đất Nước Trong Tình Hình Hiện Nay” của các nhân sĩ, trí thức nổi tiếng ở trong nước gửi Quốc Hội Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và Bộ Chính Trị Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam ngày 10 tháng 7 cùng năm với nhiều kiến nghị khác mà mọi người đều biết trước là sẽ không bao giờ được trả lời hay chỉ được trả lời quanh co hay gián tiếp rồi sau đó im lặng luôn theo chiến thuật “phân trâu để lâu hóa bùn”.
Công hàm Phạm Văn Đồng
Tôi cũng không nói hay nói rất ít về lối trả lời gián tiếp các nhà trí thức kể trên của Đảng CSVN xuyên qua một bài báo đăng trên tờ Đại Đoàn Kết (07/2011) theo đó những người cầm quyền ở Việt Nam hiện tại đã tỏ ra vô cùng lúng túng trước câu hỏi về bản công hàm của Phạm Văn Đồng nhân danh Thủ Tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà gửi Chu Ân Lai, Chủ Tịch Quốc Vụ Viện nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa, ngày 14 tháng 9 năm 1958. Đây là lần đầu tiên những người cầm đầu Đảng Cộng Sản Việt Nam, đã thừa nhận là họ đã lựa chọn nhường các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Cộng để đổi lấy sự giúp đỡ của Trung Cộng trong cuộc xâm chiếm Miền Nam bằng vũ lực của họ sau đó.
*
Chú thích:
Bản tuyên bố của Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có nội dung như sau:
 
“Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa nay tuyên bố:
 
(1) Bề rộng lãnh hải của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.
(2) Các đường thẳng nối liền mỗi điểm cơ sở của bờ biển trên đất liền và các đảo ngoại biên ngoài khơi được xem là các đường cơ sở của lãnh hải dọc theo đất liền Trung Quốc và các đảo ngoài khơi. Phần biển 12 hải lý tính ra từ các đường cơ sở là hải phận của Trung Quốc. Phần biển bên trong các đường cơ sở, kể cả vịnh Bột Hải và eo biển Quỳnh Châu, là vùng nội hải của Trung Quốc. Các đảo bên trong các đường cơ sở, kể cả đảo Đông Dẫn, đảo Cao Đăng, các đảo Mã Tổ, các đảo Bạch Khuyển, đảo Điểu Khâu, Ðại và Tiểu Kim Môn, đảo Đại Đảm, đảo Nhị Đảm, và đảo Đông Đĩnh, là các đảo thuộc nội hải Trung Quốc.
 
(3) Nếu không có sự cho phép của Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, tất cả máy bay nước ngoài và tàu bè quân sự không được xâm nhập hải phận Trung Quốc và vùng trời bao trên hải phận này. Bất cứ tàu bè nước ngoài nào di chuyển trong hải phận Trung Quốc đều phải tuyên thủ các luật lệ liên hệ của Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
 
(4) Ðiều (2) và (3) bên trên cũng áp dụng cho Ðài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.
 
Khu vực Ðài Loan và Bành Hồ hiện tại vẫn bị lực lượng vũ trang Hoa Kỳ xâm chiếm. Ðây là hành vi phi pháp, xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Ðài Loan và Bành Hồ đang chờ được thu phục. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có quyền dùng mọi biện pháp thích ứng để lấy lại các phần đất này trong tương lai, không cho phép nước ngoài can thiệp.”
*
Công hàm Phạm Văn Đồng:
 
Thưa Đồng chí Tổng lý,
 
Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ:
 
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc.
 
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển.
 
Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng.
(Tài liệu của Bách khoa Toàn thư mở)

*
Đây cũng là lần đầu tiên họ, những người cầm đầu Đảng Cộng Sản Việt Nam, công nhận các chính phủ Quốc Gia Việt Nam thời Quốc Gia Việt Nam với Quốc Trưởng Bảo Đại và sau đó là Việt Nam Cộng Hòa thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu là những chính phủ hợp pháp có trách vụ quản trị các quần đảo này theo Hiệp Định Genève cũng như những nỗ lực không thể chối cãi mà những chính phủ quốc gia này đã làm để bảo vệ các quần đảo này trong suốt thời gian các chính phủ này tồn tại.
Lý do chính yếu khiến tôi không nói hay chỉ nói rất ít về những sự kiện kể trên là vì tất cả hiện thời đang xảy ra ở Biển Đông và các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mới chỉ là diện, là bề ngoài, là mới chỉ là bắt đầu và chưa phải là chính. Tất cả rồi cũng sẽ được giữ nguyên trạng trong một thời gian dài và dù muốn hay không Hoàng Sa cũng đã mất rồi, còn Trường Sa thì cũng mất nhiều phần, còn nhiều thế hệ nữa Việt Nam mới có thể lấy lại được hay có cơ hội lấy lại được. Trung Hoa Cộng Sản trong mọi hoàn cảnh, kể cả khi Hoa Kỳ và các nước Tây Phương có những thái độ tích cực hơn, cũng đã chiếm được và giữ được những phần quan trọng kể từ sau khi họ chiếm Hoàng Sa từ trong tay Việt Nam Cộng Hòa hồi tháng Giêng năm 1974 trước sự ngoảnh mặt của Đồng minh Hoa Kỳ, và trong sự im lặng, đồng lõa của chính quyền Cộng Sản Hà Nội. Cái giá để cho Đảng CSVN xâm chiếm miền Nam và thống nhất đất nước ta bằng võ lực phải nói là quá đắt cho dân tộc Việt Nam và cho chính họ. Đã chót cầm bút ký công hàm, đã chót giữ im lặng không phản đối đúng lúc giờ có hối hận thì đã quá muộn.
Điểm mất nước ở đâu?
Hoàng Sa, Trường Sa hay rộng hơn, Biển Đông, chỉ là những gì nổi bật bề ngoài, là cái diện ai cũng có thể thấy được trong tiến trình mất nước của dân tộc Việt Nam đầu Thế Kỷ 21 này. Vậy thì mục tiêu chính để dứt điểm đất nước và dân tộc Việt Nam hay cái điểm nằm ở đâu? Nó nằm ngay trên đất liền, trên lãnh thổ của chính quốc Việt Nam trên bán đảo Đông Dương. Nó nằm rải rác ở khắp lãnh thổ nước ta chứ không riêng ở biên giới phía bắc, đành rằng ở biên giới phía bắc, người ta đã ghi nhận những sự nhổ và lui cột mốc, sự mất ba phần tư Thác Bản Giốc, những sự chiếm giữ các cao điểm có tính cách chiến lược từ trước và sau trận chiến 1979 giữa hai đảng Cộng Sản Á Châu anh em và có thể từ xa hơn nữa, từ đầu thập niên 1950, khi CSVN mở cửa biên giới phía bắc để nhận viện trợ của Trung Cộng nhằm củng cố vị thế cầm quyền, tiếp tục cuộc chiến tranh chống Pháp và gián tiếp chống lại chính quyền Quốc Gia Việt Nam lúc đó đã được thành lập bởi Cựu Hoàng Bảo Đại. Những thắc mắc về sự mất mát này cho tới nay vẫn chưa được hoàn toàn giải tỏa dầu cho đã được nhiều người đòi hỏi. Tôi sẽ nói thêm ở phần cuối về vấn đề này. Có điều là đến giờ thì hai bên đã ký kết những thỏa ước và những cột mốc mới đã khởi sự được “cắm” rồi. Những điểm này tuy nhiên chỉ là ở dọc vùng biên giới. Quan trọng hơn và nguy hiểm hơn, bức thiết hơn là những điểm, mà không phải là điểm hiểu theo ý nghĩa đen của danh từ, nằm sâu ngay trong lãnh thổ của tổ quốc Việt Nam, dưới quyền quản lý của chính quyền Cộng Sản hiện tại nhưng vượt ra ngoài sự kiểm soát của chính quyền này. Những điểm vừa cố định, nằm nguyên một chỗ, vừa di động khắp nơi trên lãnh thổ, điển hình là những mỏ Bauxite trên cao nguyên, những khu rừng đầu nguồn nằm ở cửa ngõ của những vùng biên giới Việt-Trung và Lào-Việt, những khu vực trúng thầu, những địa điểm thu mua các nông sản, những vùng nông dân bỏ trồng lúa, trồng khoai, những trại nuôi cá, điển hình là trại nằm không xa quân cảng Cam Ranh là bao nhiêu mà các nhà cầm quyền địa phương sau cả gần chục năm không hề biết, những khu phố kiểu Đông Đô Đại Phố ở Bình Dương… Tất cả đã trở thành những “thực dân địa”, những “colonies” của người Tầu ngay trong lòng của lãnh thổ Việt Nam, nơi những ủy ban nhân dân vẫn còn làm chủ.
Nói cách khác, theo lời của các tác giả của Bản “Kiến Nghị Về Bảo Vệ Và Phát Triển Đất Nước…” ngày 10 tháng 7 năm 2011 mà tôi đã dẫn trên đây thì “…mặt trận nguy hiểm nhất đối với nước ta mà Trung Quốc muốn dồn quyền lực và ảnh hưởng để thực hiện, đó là: thâm nhập, lũng đoạn mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá của nước ta. Đó là mặt trận vừa uy hiếp, vừa dụ dỗ nước ta nhân danh cùng nhau gìn giữ ý thức hệ xã hội chủ nghĩa, gây chia rẽ giữa nhân dân ta và chế độ chính trị của đất nước, vừa lũng đoạn nội bộ lãnh đạo nước ta, làm suy yếu khối đại đoàn kết thống nhất của dân tộc ta, làm giảm sút khả năng gìn giữ an ninh và quốc phòng của nước ta.
Đánh thắng nước ta trên mặt trận nguy hiểm nhất này, Trung Quốc sẽ đánh thắng tất cả. Nói cách khác đó là chiến lược dùng quyền lực mềm thọc sâu vào lãnh thổ Việt Nam để nhẹ ra là đưa Việt Nam đến chỗ phụ thuộc hoàn toàn vào Trung Quốc, còn nặng hơn là chiếm luôn cả nước và tiêu diệt cả dân tộc theo lời nguyền của Mã Viện hơn một ngàn năm trước. Đến lúc đó thì Hoàng Sa, Trường Sa và Đường Lưỡi Bò đương nhiên sẽ trở thành biển đảo của Trung Quốc.
Hãy tưởng tượng ngay trên Cao Nguyên Miền Nam, mái nhà của toàn xứ Đông Dương, địa điểm chiến lược quan trọng nhất đã chi phối toàn bộ an ninh của miền nam Việt Nam và sự thống nhất của lãnh thổ quốc gia trong quá khứ, trong một khu vực rộng lớn, nằm ngoài sự kiểm soát của cả chính quyền trung ương lẫn chính quyền địa phương của người Việt, là một khu vực dành riêng cho người Tầu, không ai được nhòm ngó, không ai được ra vào. Họ được tự do mang người của họ vô, mang người của họ ra, được chở đồ của họ vô, chở đồ của họ ra một cách tự do, thong thả không qua một sự kiểm soát nào. Những người này là những người nào? những đồ này là những đồ gì? Làm sao biết được, ai mà biết được… cho đến biến cố tầy trời nổ ra? Cũng vậy, ở những khu rừng đầu nguồn và ở những địa điểm của những công trình xây cất có tính cách căn bản nhằm cung cấp điện năng, khoáng sản, dầu khí…những lãnh vực thuộc loại tối quan trọng liên hệ tới an ninh của quốc gia. Nhìn vào con số 90% các “gói thầu” thuộc loại này được mở ra ở trong nước đã lọt vào tay các nhà thầu Trung Cộng. Nhiều gói lên tới hàng tỷ Mỹ kim với những món tiền lót tay không phải là nhỏ, từ 10% đến 15% tiền thầu. Hậu quả là những công trình do họ thực hiện phần lớn có phẩm chất kém, thời gian thi công kéo dài trong khi các nhà thầu Việt Nam, vì không đủ vốn, không đủ thế lực chỉ còn bất lực, đứng bên lề các đại công trường trên chính đất nước của mình. Nhưng nguy hiểm hơn hết vẫn là nạn nhân công người Tầu do chính các chủ thầu người nước họ mang sang để lao động thay vì các nhân công bản xứ. Ở khắp nơi, từ Quảng Ninh, Hải Phòng, Đồ Sơn đến Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, đến Đà Nẵng rồi vô tới Bình Dương và Cà Mau…chỗ nào có nhân công người Tầu đều có những khu cư xá riêng cho họ, kèm theo là các chợ búa, các cửa hàng, các trung tâm dịch vụ, các nhà nghỉ, các quán cà phê, karoke mang chữ Tàu… để phục vụ cho họ. Người Việt Nam không riêng chỉ có thể đứng nhìn mà còn trở thành nạn nhân của tất cả những tệ hại do họ gây ra như ăn uống, nhậu say không trả tiền, phá phách, tiểu bậy, trêu gái, đánh lộn, kéo hàng trăm người đánh hội đồng người bản xứ khi có tranh chấp…
Những người Tầu được gửi sang Việt Nam để lao động kể trên thuộc thành phần nào? Họ có phải thuần túy là dân lao động có tay nghề hay là những quân nhân thuộc những đơn vị đặc biệt, những đặc công tình báo được gửi sang để thực hiện một mưu đồ hiểm độc lâu dài hơn? Hiện tại chưa có gì là rõ ràng mà chỉ là ức đoán. Có điều là họ hiện diện ở khắp nơi trên toàn quốc Việt Nam mà các nhà cầm quyền từ trung ương đến địa phương đều đã không kiểm soát được hay cố tình làm lơ không kiểm soát. Mặt khác, nếu nhìn vào những gì Trung Cộng đã làm ở Tân Cương, ở Mông Cổ và luôn cả ở Tây Tạng trong thời gian gần đây thì không ai là không khỏi lo ngại. Tỷ lệ số người gốc Hán ở các xứ này đã tăng gia đáng kể và sự cạnh tranh cũng như sự kỳ thị với sự thiên vị của nhà cầm quyền đã gây nên những cuộc bạo loạn trầm trọng.
Liệu Việt Nam có thể tránh khỏi tình trạng đang xảy ra cho các nước này hay không? Ta không được biết, nhưng chỉ nhìn vào miền cao nguyên với các công trình khai thác Bauxite, với lượng nhân công gốc Tầu đông đảo, phần lớn là những thanh niên chưa có hay không có vợ, hậu quả của nạn giới hạn hai con của chính quyền Trung Cộng, người ta không thể không lo ngại cho tương lai của miền đất chiến lược quan trọng bậc nhất của đất nước Việt Nam này, miền đất mà Hoàng Đế Bảo Đại coi trọng đặc biệt với danh xưng Hoàng Triều Cương Thổ. Những thanh niên này sẽ lấy các thiếu nữ Thượng, sẽ sinh con đẻ cái và tất cả sẽ trở thành công dân xứ Thượng. Nếu điều này xảy ra thì rất là êm thắm, chỉ trong vòng hai thế hệ hay ba chục năm, chưa tới năm mươi năm, thời gian thuê các rừng đầu nguồn với giá rẻ mạt, những người Thượng gốc Tàu sẽ trở thành chủ nhân của các cao nguyên và qua một cuộc đầu phiếu êm ả và hợp pháp, miền đất rộng lớn, nhiều tài nguyên này sẽ trở thành của Tầu và biết đâu qua một tiến trình tương tự toàn bộ cả nước Việt Nam sẽ trở thành một tỉnh mới của nước Tầu, tỉnh Quảng Nam của Tầu, rộng trên ba trăm ngàn cây số vuông hay hơn nữa nếu bao gồm cả hai nước Lào và Căm bốt, sau hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, biên giới phía nam nước Tầu sẽ được mở rộng tới Vịnh Thái Lan về phía nam và về phía tây, tới bờ sông Cửu Long. Đó chính là ước mơ của những người tự nhận là Đại Hán mà suốt một ngàn năm vừa qua họ không đạt được. Điều này không phải là không thể xảy đến cho dân tộc Việt Nam, dân tộc Lào và dân tộc Căm-pu-chia trong nửa thế kỷ tới. Tất cả sẽ có thể xảy ra một cách bất ngờ “trước khi người lính của chúng ta được quyền nổ súng” nói theo lời của một tướng lãnh của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam trong một đoạn video được phổ biến rất rộng rãi và trong một thời gian dài trước đây. Chỉ tiếc là tính cách chính xác của đoạn video này cho tới nay chưa được phối kiểm. Vị tướng lãnh này là Trung Tướng Phạm Văn Di, Chính Ủy Quân Đoàn 7 của quân đội này.
Nội thù tiếp tay
Những gì tôi kể ra trên đây chỉ là những gì dễ thấy và được nhiều người thấy. Còn có nhiều hiện tượng khác tiềm ẩn hơn, thâm độc hơn do người Tàu cố ý gây ra như nạn hàng hóa rẻ tiền, thiếu phẩm chất của họ tràn ngập Việt Nam trong đó có những hàng độc hại, những thực phẩm có chứa các hóa chất gây bệnh chết người hay làm hại cho sức khoẻ cho loài người nói chung mà ảnh hưởng sẽ kéo dài trong nhiều thế hệ. Việc người Tàu xây hàng loạt nhiều đập trên thượng nguồn sông Cửu Long và sông Hồng Hà đe dọa sự an toàn và phong phú của các đồng bằng châu thổ của các sông này, từ đó đe dọa cuộc sống của nhiều chục triệu người dân ở đây cũng là những hiện tượng người ta cần chú ý. Chưa hết, chuyện Trung Cộng tung tiền ra và đứng sau hai nước ở phía tây Việt Nam là Căm Bốt và Lào cũng đã và chắc chắn sẽ còn gây ra rất nhiều khó khăn cho Việt Nam mà những gì Căm Bốt đã làm trong Hội Nghị Thượng Đỉnh ASEAN vừa qua là một bằng cớ, y hệt những gì Cộng Sản Bắc Việt đã gây ra cho Việt Nam Cộng Hoà trong cuộc chiến tranh vừa qua.
Trên đây mới chỉ là hiểm họa do người Tàu từ phương bắc đem tới. Còn có những hiểm họa khác do chính những người lãnh đạo ở Việt Nam hiện tại vì tham lam, vì trình độ hiểu biết kém cỏi, vì kiêu căng, vì mang bệnh thành tích… đã và đang gây ra cho chính dân tộc mình thì sao? Tôi muốn nói tới việc xây dựng bừa bãi và cẩu thả các đập thủy điện ở khắp nơi mà Sông Tranh 2 chỉ là một trường hợp điển hình. Nguy hiểm hơn nữa là dự án xây dựng các nhà máy phát điện hạch tâm, khởi đầu là ở Phan Rang, bất chấp những kinh nghiệm khủng khiếp của người Nga ở Chernobyl, người Nhật ở Fukushima hay những sự thận trọng của người Pháp, người Đức, người Mỹ khi những người này quyết định cho đóng cửa hay ngưng hoạt động các lò điện này ở nước họ. Nga, Nhật, Mỹ, Pháp, Đức… là những nước giàu có, tiền bạc nhiều, lại có những nền khoa học và kỹ nghệ cao, những chuyên viên giỏi, những người thợ có kinh nghiệm và vững tay nghề mà còn thận trọng tối đa như vậy, còn Việt Nam mình thì mặc dầu còn kém cỏi về đủ mọi mặt nhưng đã bất chấp tất cả. Người ta đã không điếm xỉa gì đến sự cảnh cáo của dư luận quốc tế cũng như quốc nội.
Hai Giáo Sư Phạm Duy Hiển ở trong nước và Giáo Sư Nguyễn Khắc Nhẫn ở bên Pháp là những chuyên viên thượng thặng của người Việt đã hết lời can ngăn và đã viết nhiều bài điều trần với những lời lẽ vô cùng thống thiết nhưng không ai để mắt, để tai tới…cho đến khi đại họa xảy ra thì mọi sự đã quá muộn. Nên nhớ là với Fukushima, người Nhật chỉ riêng để làm sạch miền biển liên hệ đã phải bỏ ra nhiều tiền bạc, công sức và dự trù sẽ phải để ra bốn mươi năm mới thực hiện nổi.
Tham nhũng và nhất là bệnh thành tích phải chăng là nguồn gốc của đại nạn này? Việt Nam phải là nhất, là cái gì cũng có, nhất là ở thời đại Hồ Chí Minh, Đỉnh Cao Của Trí Tuệ Loài Người. Cuối cùng chỉ tội nghiệp cho người Chàm vì địa điểm thiết lập những nhà máy này chỉ cách Tháp Chàm có năm cây số. Nếu chuyện gì xảy ra, con số hơn một trăm ngàn người còn sót lại của một dân tộc đã một thời hùng cứ ở miền trung và miền nam Trung Phần Việt Nam, có thời đã đánh bại người Việt, tràn ngập kinh đô Thăng Long, với một nền văn hoá giàu về hình tượng, nơi xuất thân của nhiều ca nhạc sĩ gốc Chàm sẽ một lần nữa bị tiêu diệt và lần này chắc chắn là lần chót.
Nên biết thêm là có một thời nhà cầm quyền ở Việt Nam đã dự trù sẽ thiết lập tổng cộng từ 8 đến 10 nhà máy điện hạch tâm, phần lớn là ở miền Trung mà Phan Rang chỉ là khởi đầu với 2 nhà, mỗi nhà 2 lò. Tất cả đều là mua của Nhật, Nga và luôn cả Đại Hàn sau các cuộc thăm viếng của các nhà lãnh đạo Đảng và Chính Phủ. Họ viện cớ là các nhà sản xuất đều nói là các lò họ làm là an toàn một trăm phần trăm nhưng ai mà tin được những kẻ ở giữa ăn huê hồng từ những hợp đồng tính từ 3 tỷ, 5 tỷ, 10 tỷ Mỹ Kim trở lên. Nếu chẳng may những vụ rò rỉ hay phát nổ của các lò xảy ra như ở Chernobyl hay Fukushima thì một phần ba dân số cả nước, phần ba dân số vốn bị coi là có quê hương “đất mặn đồng chua”, là “đất cày lên sỏi đá”, là “nghèo lắm ai ơi” với “mùa đông thiếu áo, hè thời thiếu ăn”, nơi “Trời làm cơn lụt mỗi năm, khiến đau thương lan tràn, ngập Thuận An…”, bây giờ lại bị đe dọa có thêm một đại nạn mới do chính các nhà lãnh đạo của nước mình gây ra treo sẵn trên đầu. Cũng may là dự án Phan Rang đã tạm thời được hoãn lại. Nhưng vụ Formosa Hà Tĩnh, nhà máy gang thép hỗn hợp Đài Loan-Trung Cộng lại bùng nổ và đã gây tai họa với nạn ô nhiễm môi trường và cá chết khủng khiếp ở Vũng Áng (Hà Tĩnh) năm 2016. Tiếp theo là các dự án đặc khu kinh tế Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc được dự trù cho nước ngoài, với Trung Cộng là chính, thuê tới 99 năm. Rất may là cuộc biểu tình phản đối trong cả nước của người dân ngày 10/06/2018 đã buộc chính quyền CSVN phải dừng lại. Nhưng có thể còn nhiều vụ tương tự khác nữa sẽ được thực thi mà người dân không biết.
Trên đây chỉ là một số những gì đã và đang xảy ra trên đất nước Việt Nam của chúng ta mà mọi người ít nhiều còn quan tâm tới quê hương của mình, của ông cha mình đều nhận thấy. Còn rất nhiều chuyện khác lớn hơn, quan trọng hơn và có tính cách chiến lược hơn, thâm độc hơn như sự lệ thuộc về chính trị, về kinh tế và luôn cả về văn hóa của Việt Nam vào Trung Quốc. Nhà nước CSVN đã cấm dân không được tỏ thái độ dù cho chỉ là để bày tỏ lòng yêu nước của mình. Ngược lại, họ đã bắt bớ hành hạ khi dân phản đối, hoặc không cho dân biết những gì xảy ra liên hệ tới sự thịnh suy, tồn vong của quê hương và dân tộc mình.
Trước tình trạng đa số người dân không được biết hoặc không muốn biết để tránh liên lụy nên đa số đều dửng dưng, nếu không nói là vô cảm trước an nguy của đất nước. Bên cạnh hiện tượng thờ ơ này là sự suy đốn trầm trọng trong sinh hoạt của giới trẻ, với nạn ăn chơi bừa bãi, cuồng nhiệt lan rộng trong xã hội. Thậm chí đến độ tự thoát y giữa đường phố để mừng chiến thắng thể thao!
Tệ hơn nữa là nạn suy đồi đạo đức của người lớn đang ngày một lên cao, nhất là bạo lực và lạm dụng tình dục ngay trong học đường. Như vậy, liệu khả năng đề kháng truyền thống ngàn năm của người Việt trong hoàn cảnh này có tồn tại được không?
Nhiều người đã ví giai đoạn mất nước và luôn cả diệt vong của dân tộc Việt Nam như một người đang hấp hối với cái chết từ bàn chân đã lên tới đầu gối và đang từ từ leo lên cho đến khi miếng bông đặt trên mũi đương sự không còn chuyển động nữa.
Âm mưu Mao Trạch Đông
Do đó, câu hỏi được đặt ra là những người đang lãnh đạo Việt Nam hiện tại có biết rằng, như một truyền thống hay một mưu độc ngàn năm, Đảng Cộng Sản Trung Quốc hay ít ra là những người lãnh đạo của đảng này ngay từ những ngày đầu đã nuôi mộng làm chủ thiên hạ giống như Tần Thủy Hoàng ngày trước hay không? Hay là họ vẫn tin tưởng vào “mười sáu chữ vàng” và “tinh thần bốn tốt” mà Cộng Sản Tàu đã trao cho họ để tự lừa dối và lừa dối dân mình qua phương châm “vừa là đồng chí, vừa là anh em”?
(16 Vàng: “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”, 4 Tốt: “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”)
Câu trả lời là có. Bằng cớ là năm 1979, khi hai đảng cơm không lành, canh không ngọt, môi không theo răng bị răng cắn bật máu. Chính Đảng Cộng Sản Việt Nam không những chỉ tố cáo trước người dân ở trong nước mà còn trước dư luận thế giới qua những tài liệu do chính họ xuất bản từ Hà Nội, theo đó Mao Trạch Đông ngay từ giữa thập niên ba mươi của thế kỷ trước đã nuôi mộng theo chân Tần Thủy Hoàng muốn làm bá chủ của cả thế giới, bắt đầu là Đông Nam Á. Trong hai tài liệu nhan đề Sự Thật về Quan Hệ Việt Nam-Trung Quốc Trong 30 Năm Qua bằng tiếng Việt do Nhà Xuất bản Sự Thật ấn hành năm 1979 và tái bản năm 1980, và Chinese Aggression Against Vietnam, Dossier do Vietnam Courrier chủ biên, xuất bản ở Hà Nội năm 1979, ngay từ những trang đầu, người ta có thể đọc được những chi tiết như sau:
Ngay từ năm 1939, trong tài liệu nhan đề Cách Mạng Trung Quốc và Đảng Cộng Sản Trung Quốc do chính ông viết, Mao Trạch Đông đã nhận định: “Sau khi dùng chiến tranh đánh bại Trung Quốc, các nước đế quốc đã cướp đi nhiều nước phụ thuộc và một bộ phận lãnh thổ của Trung Quốc: Nhật chiếm Triều Tiên, Đài Loan, Lưu Cầu, quần đảo Bành Hồ và Lữ Thuận, Anh chiếm Miến Điện, Bu-tan, Nê-pan và Hương Cảng, Pháp chiếm An Nam…” 
Tiếp đến, một bản đồ trong một sách giáo khoa đã vẽ nhiều lãnh thổ của các nước trong vùng biển Đông Nam Á và Biển Hoa Đông là thuộc Trung Hoa. Sau đó, năm 1959, trong một buổi họp của Ủy Ban Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc, khi nói về bang giao quốc tế, Mao Trạch Đông phát biểu rõ hơn nữa về tham vọng thống trị toàn cầu của mình.
Lãnh tụ này nói: “Chúng ta phải chinh phục trái đất. Mục tiêu của chúng ta là toàn thể trái đất” hay hạn hẹp hơn và kế hoạch hơn: “Chúng ta phải giành cho được Đông Nam châu Á bao gồm cả miền nam Việt Nam, Thái lan, Miến Điện, Ma-lai-xi-a và Xin-ga-po. Một vùng như Đông-nam châu Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản… xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy… Sau khi giành được Đông-nam châu Á, chúng ta có thể tăng cường được sức mạnh của chúng ta ở vùng này, lúc đó chúng ta sẽ có sức mạnh đương đầu với khối Liên Xô-Đông Âu, gió đông sẽ thổi bạt gió tây.” 
Nên để ý là khi nói tới Việt Nam, Mao Trạch Đông đã nói tới “nam Việt Nam” thay vì “Việt Nam” gồm cả Bắc và Nam. Phải chăng ông đã coi Bắc Việt Nam là xong rồi, là thuộc Trung Quốc rồi, không cần phải nói tới nữa? Ngoài ra, phải chăng đây cũng là một hình thức rửa mối nhục chung mà không ít người Tầu cho là họ đã phải gánh chịu trong Thế Kỷ 19, sau trận Chiến Tranh Nha Phiến: “Gió đông sẽ thổi bạt gió tây”?
Về sự lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam ở biên giới Trung – Việt, qua tài liệu Chinese Aggression Angainst Vietnam, Cộng Sản Hà Nội tố cáo Trung Quốc vi phạm các Công Ước 1887 và 1895 ký kết giữa Nhà Thanh và nước Pháp, lấn chiếm 60 địa điểm trên lãnh thổ Việt Nam ngay từ trước năm 1949, sau đó, từ sau năm 1949, bất chấp sự xác nhận lại các công ước này bởi Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà vào năm 1957-1958, Cộng Sản Bắc Kinh lại sáp nhập thêm trên 90 địa điểm khác ở biên giới giữa hai nước. Chưa hết, cũng theo tài liệu này, từ sau năm 1974 con số các cuộc xâm nhập lại tiếp tục gia tăng mạnh mẽ hơn với 179 vụ năm 1974, 294 vụ năm 1975, 812 vụ năm 1976, 873 vụ năm 1977 và 2.175 vụ năm 1978. Cuối cùng ngày 10 tháng 2 năm 1979, hai tiểu đoàn chính quy Trung Cộng đã tiến sâu 2 cây số vào lãnh thổ Việt Nam, chiếm đồn kiểm soát Thanh Loa, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn. Vẫn chưa hết, trong trận chiến biên giới Hoa Việt lần thứ hai 1984-1989, sau một trận đánh ác liệt ở núi Lão Sơn, mà người Việt quen gọi là Núi Đất hay tọa điểm 1502, thuộc xã Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang, quân Trung Cộng đã chiếm được núi này, 3.700 lính phòng thủ Việt Nam đã hoàn toàn bị tiêu diệt, xác của họ đã bị đơn vị chống hóa chất của bên địch thiêu hủy không còn vết tích.
Tuy nhiên Lão Sơn không phải là tọa điểm duy nhất bị quân Trung Cộng đoạt mà còn nhiều tọa điểm khác như các tọa điểm 1030, 852, 211, 138, 156, 166, 167, 168… nằm sâu trong lãnh thổ Việt Nam. Sau trận này Việt Nam đã mất thêm từ 600 đếm 1000 cây số vuông lãnh thổ về tay Trung Quốc. Có điều lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam đã giấu nhẹm không cho dân chúng biết gì về trận chiến bi thảm này cho mãi đến khi Trung Cộng phổ biến phần nào trên các mạng của họ. Điều nên biết là trong thời gian này Trung Cộng luôn luôn dùng thủ đoạn cho di dân của mình sang khai thác đất đai hay cư ngụ trên lãnh thổ thuộc Việt Nam dọc biên giới, rồi sau đó áp lực bắt Việt Nam phải công nhận những vùng đất này là thuộc nước họ. Sự kiện này giải thích tại sao lại có chuyện điều đình và sửa lại các công ước mà trước kia Nhà Thanh đã ký với Pháp mà nội dung đã được hai phía làm sáng tỏ không lâu, trong các năm 1957, 1958 trước đó, như tôi đã nói ở trên qua các hiệp ước 1999, 2000 (“Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc” và “Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ” ).
Chiến thuật này đang được họ dùng ở Biển Đông trên một quy mô rộng rãi hơn, lớn hơn qua việc họ chiếm Hoàng Sa và một số đảo thuộc Quần Đảo Trường Sa rồi tìm cách hợp thức hóa sau này. Việt Nam giấu nhẹm nhưng Trung Cộng thì coi là quan trọng và quảng bá rộng rãi. Họ đã cho công bố hình ảnh Hồ Diệu Bang và Triệu Tử Dương tới thăm địa điểm Lão Sơn này, kèm theo hình ảnh những công sự và đường sá mà họ thiết lập sau đó, nhắm về phía Việt Nam. Những sự kiện này khiến cho những ai quan tâm đến sự sống còn của đất nước không khỏi không liên tưởng tới sự kiện Giang Trạch Dân đã bay thẳng từ Trung Quốc đến bơi ở biển Mỹ Khê, Đà Nẵng, mà người Mỹ, không rõ do lý do bí mật gì hay không, đã gọi là China Beach, như là biển nhà của mình thay vì phải qua Hà Nội gặp chủ nhà trước, hay Hồ Cẩm Đào đến bơi ở biển Hội An khi đến dự Hội Nghị OPEC, hay chuyện Đảng Cộng Sản Việt Nam cho phép và bảo vệ các thanh niên người Hoa rước đuốc thế vận qua Sài Gòn và các đảo trong khi mọi cuộc tụ tập của người Việt đều bị đàn áp, cấm đoán.
Trước tình trạng cực kỳ nguy hiểm kể trên, câu hỏi được đặt ra là khả năng đề kháng của người Việt Nam như thế nào và những người có trách nhiệm bảo vệ đất nước và sự tồn vong của dân tộc đã có thái độ ra sao và đã làm gì? Để trả lời cho câu hỏi này, có lẽ chúng ta còn cần phải tìm hiểu và bàn thảo nhiều hơn nữa. Có điều chắc chắn là các nhà nghiên cứu ở trong nước hiện không được tự do tìm hiểu và không được tự do tiếp xúc với các tài liệu bị coi là bí mật quốc gia còn tàng trữ ở Kho Lưu Trữ Trung Ương hay ở rải rắc khắp trong nước, và tự do công bố những gì mình tìm được. Tạm thời tôi chỉ xin mời quý vị đọc lại bản kiến nghị mà tôi đã đề cập đến trong phần đầu của bài viết này, hay những bức thư mà Hòa Thượng Thích Quảng Độ, hay những bài viết của nhiều vị nhân sĩ, trí thức như Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, Cựu Đại Sứ Việt Nam ở Trung Quốc và nhiều người khác ở trong nước viết trong ít năm gần đây.
Trước khi dừng bút, tôi xin được trích dẫn lời của Thiếu Tướng Lê Duy Mật, nguyên Phó Tư Lệnh kiêm Tham Mưu Trưởng Quân Khu 2, Chỉ Huy Trưởng Mặt Trận Hà Giang trong thời gian chiến tranh biên giới, khi ông trả lời Biên Tập Viên Mặc Lâm của Đài Á Châu Tự Do, RFA, ngày 17 tháng 2 năm 2013 về sự kiện là “nhiều gia đình liệt sĩ của cuộc chiến 1979 đã không biết hài cốt con em mình nằm tại đâu vì sau đợt cắm mốc biên giới thì phần đất Việt Nam chôn hài cốt liệt sĩ đã thụt sâu về phía Trung Quốc.
Mặc Lâm hỏi: “Thiếu Tướng có nghĩ rằng nhà nước phải làm một điều gì đó để mang lại công bằng cho những người này hay không?”
Nguyên văn câu trả lời của Tướng Lê Duy Mật như sau:
 
“Nhà nước ta lệ thuộc không dám nói gì với Trung Quốc, nếu không, phải bàn với ngoại giao Trung Quốc, quân đội Trung Quốc, nhà nước Trung Quốc thì mới có thể giải quyết được.” 
Câu trả lời của Tướng Mật chủ yếu là về các liệt sĩ đã hy sinh trong trận chiến Việt Trung 1979 và 1984-1987, nhưng nội dung của nó đã bao gồm toàn bộ các vấn đề liên hệ đến bang giao Trung-Việt trong hiện tại. “Nhà nước ta lệ thuộc không dám nói gì với Trung Quốc” là nguồn gốc của tất cả. Đó là lý do tôi lựa chọn đề tài này cho bài thứ ba và cũng là bài chót trong loạt bài nói về “Mưu Độc Ngàn Năm” của người Tầu nhằm tiêu diệt đất nước và dân tộc Việt Nam. Với tình trạng vô cảm của không ít người Việt trước hiện tình vô cùng nguy hiểm của đất nước, sự mất tin tưởng của đa số người dân vào chính quyền và sự bất lực của giới trí thức trong mọi sinh hoạt từ chính trị đến kinh tế, xã hội và luôn cả văn hóa ở Việt Nam đã cho thấy, sau 44 năm Cộng Sản làm chủ toàn thể đất nước và trên 30 năm đổi mới, chưa bao giờ nguy cơ mất nước đã đến gần như bây gờ.
Vậy lãnh đạo cấp cao của hai đảng Cộng Sản Việt-Trung đã thỏa hiệp với nhau những gì trên đầu người dân Việt Nam từ sau Cuộc Chiến Biên Giới Trung-Việt; từ sau Hội Nghị Thành Đô 1990; và từ sau các buổi gặp gỡ của các Tổng Bí thư đảng Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh và sau này Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nhà nước Trương Tấn Sang với các nhà lãnh đạo Trung Quốc? Chỉ có những người này mới biết được nhưng không bao giờ và sẽ chẳng bao giờ họ nói ra cả. Tất cả đối với họ đều không quan trọng. Sự tồn vong của Đảng Cộng Sản mới là chính. Đó là một sự thực. Về điểm này, tôi xin được nhắc lại lời Vua Lê Thánh Tông dụ bọn các ông Thái- Bảo-Kiến-Dương-Bá Lê Cảnh Huy năm Hồng Đức thứ tư, 1473, nguyên văn như sau:
“Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại nên vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần. Nếu họ không nghe, còn có thể sai sứ sang phương Bắc trình bày rõ điều ngay lẽ gian. Nếu ngươi dám đem một thước, một tấc đất của Thái Tổ làm mồi cho giặc, thì tội phải tru di.”
Lịch sử đã được chép, đang được chép và sẽ còn được chép dù cho môn sử học không còn được coi là quan trọng trong chương trình giáo dục của Việt Nam hiện tại. Rất tiếc, vì lý do nào đó môn học lịch sử Việt Nam dưới thời Cộng sản đã bị bóp méo, xuyên tạc trái với truyền thống hào hùng của dân tộc, trái ngay cả với nhận định “dân ta phải biết sử ta” của Hồ Chí Minh. Nó cũng đi ngược lại với chương trình giáo dục của bất cứ quốc gia độc lập và có chủ quyền nào, kể cả các quốc gia tiền tiến về khoa học và kỹ thuật. Đây cũng là một lý do khác đã và đang làm cho chúng ta mất nước.
Để kết luận ta có thể nói rằng những gì đang xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam dưới sự cai trị của người Cộng Sản hoàn toàn trái với thời người Việt Quốc Gia trước đó. Với Người Việt Quốc Gia dù là ở bất cứ thời nào, từ thời các vua chúa đến thời Chính Phủ Trần Trọng Kim hồi năm 1945, rồi xuyên qua Quốc Gia Việt Nam hồi trước năm 1954, gọi chung là Quốc Gia-Việt Nam Cộng Hòa, dùng chữ của Nhà Văn Hoàng Hải Thủy, qua Hội Nghị Cựu Kim Sơn, rồi Đệ Nhất, Đệ Nhị Cộng Hòa ở Miền Nam, sự toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc luôn luôn được coi là tối quan trọng và mọi người phải có nhiệm vụ bảo toàn. Lịch sử đã chứng minh điều này.
Có một nhận định khác chúng ta cũng cần phải chú ý là rất có thể người Tầu sẽ không cần phải chiếm đóng Việt Nam mà qua một nhóm bù nhìn, họ chỉ cần dìm Việt Nam xuống hàng thứ yếu để một mặt trở thành một thứ bán thuộc địa để dễ khai thác, mặt khác không bao giờ còn có thể tiếp tục làm nút chặn ngăn cản sự bành trướng của Hán Tộc về phương nam mà Tộc Việt đã làm được trong suốt thiên niên kỷ trước. -/-
(Kỷ Niệm Quốc Hận 30/4/2019)
Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Ngoại trưởng Nga đề cao ‘liên minh’ với TQ

Ngoại trưởng Nga đề cao ‘liên minh’ với TQ

Theo phóng viên TTXVN tại Moskva, ngày 13/4, phát biểu tại phiên họp của Hội đồng Chính sách đối ngoại và quốc phòng Nga, Ngoại trưởng Nga Sergey Lavrov cho rằng Washington đang nỗ lực hạn chế sự phối hợp của các nước đang phát triển trên thế giới với Nga và Trung Quốc.

Ngoại trưởng Nga Sergey Lavrov tại cuộc họp báo ở Moskva. Ảnh: AFP/TTXVN

Người đứng đầu ngành ngoại giao Nga cho rằng gần đây Mỹ đã đặt ra khái niệm mới gọi là “đảm bảo chủ quyền thực sự” và sử dụng khái niệm này như cái cớ để gây áp lực đối với các quốc gia đang phát triển ở các khu vực khác nhau trên thế giới.

Đồng thời, Mỹ cũng đang tìm cách hạn chế sự hợp tác của các nước này với Nga và Trung Quốc, cũng như với các tổ chức độc lập khác.

Theo Ngoại trưởng Lavrov, trong khuôn khổ Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Moskva và Bắc Kinh đang cùng nhau chống lại các nỗ lực nhằm phá vỡ các quy tắc của luật pháp quốc tế.

Ông Lavrov cho rằng hợp tác Nga – Trung không chỉ là ví dụ về mối quan hệ toàn diện, đôi bên cùng có lợi, mà còn là sự phối hợp giữa hai nước còn “có tác động thực chất” nhằm vào những âm mưu thúc đẩy các biện pháp “phi lý” để giải quyết các vấn đề quốc tế.

Hãng tin TASS dẫn lời Ngoại trưởng Nga cho biết sự hợp tác hiệu quả Nga – Trung được thể hiện tại HĐBA LHQ trong quá trình xem xét hồ sơ Syria, giúp ngăn chặn những đề xuất nghị quyết đơn phương và phi lý, và ví dụ gần đây nhất là việc Moskva và Bắc Kinh dùng quyền phủ quyết để ngăn chặn nghị quyết do Mỹ đề xuất liên quan tình hình Venezuela.

Ngoài ra, ông Lavrov cũng cho rằng “lộ trình” Nga – Trung về giải quyết vấn đề hạt nhân trên Bán đảo Triều Tiên là một ví dụ điển hình về sự phối hợp chung giữa hai nước.

Categories: Chính-Trị Thời-Sự | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.