Kien-thuc Y-Khoa

Ăn đồ chiên, nướng có gây bệnh tật cho sức khỏe?

Ăn đồ chiên, nướng có gây bệnh tật cho sức khỏe?

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES

Từ việc sinh ra ra hóa chất độc hại tới làm tăng nguy cơ bị ung thư phổi, những bằng chứng mới nhất cho thấy một số cách nấu ăn gây hại cho sức khỏe. Ta nên làm gì để tránh?

“Toàn bộ lý do khiến con người tiến hóa là vì ta bắt đầu nấu ăn,” Jenna Macciochi khẳng định chắc nịch. “Khi chỉ ăn uống thực phẩm sống, ta phải ăn liên tục, vì cơ thể ta vất vả mới lấy được dưỡng chất từ thực phẩm sống.”

Người phương Tây ‘không biết dùng nghệ’?

50 loại thực phẩm bổ nhất cho sức khỏe

Răng trắng chưa chắc đã là răng khỏe?

Các nhà sinh học từ lâu đã đồng tình với Macciochi, người chuyên nghiên cứu về tác động qua lại giữa lối sống và dinh dưỡng ảnh hưởng ra sao tới hệ miễn dịch của con người, tại Đại học Sussex.

Trong thực tế có cả một danh sách bằng chứng dài đáng kể cho thấy quá trình tiến hóa của con người có liên hệ trực tiếp với việc biết dùng lửa.

Khi tổ tiên của chúng ta biết nấu ăn và chế biến thực phẩm, họ đã khiến chất béo và calories trong thực phẩm dễ tiêu hóa hơn, và điều đó giúp làm tăng khoảng cách giữa năng lượng con người cần để tiêu hóa thức ăn với số năng lượng họ có thể chiết xuất từ thực phẩm. Mà như vậy cũng có nghĩa là con người đỡ phải nhai nhiều như trước.

Người ta từng cho rằng kỹ năng nấu nướng không chỉ giúp làm kích cỡ xương hàm của con người giảm xuống, mà còn có nghĩa là bộ não ta có thể tiến hóa và tăng kích cỡ lớn hơn – và có đủ khả năng dung chứa những hoạt động thần kinh (vốn rất hao tốn năng lượng) mà con người cần đến.

Nấu ăn cũng giúp tiêu diệt những vi khuẩn có hại có thể có bên trong và trên bề mặt thực phẩm, nhờ vậy bảo vệ giúp con người tránh không bị bệnh vì ngộ độc thực phẩm.

Vậy nhưng dù nấu ăn đem lại rất nhiều lợi ích thì liệu có xảy ra trường hợp quá trình chế biến thực phẩm với nhiệt độ cao có thể đem lại những rủi ro tiềm ẩn về sức khỏe không?

Xu hướng ngày càng phổ biến với chế độ ăn đồ tươi sống và nhiều chuyển đổi đến những kỹ thuật nấu nướng biến tấu hơn, các nhà khoa học khắp thế giới giờ đây chú tâm hơn tìm hiểu về những bữa ăn chế biến nóng sốt.

Acrylamide: Nguy cơ bị ung thư vì nấu quá kỹ

Không phải mọi phương thức nấu nướng đều giống nhau khi ta chuẩn bị một món ăn. Và với một số kiểu nấu nướng – như khi sử dụng nhiệt độ cực kỳ cao – thì thực phẩm ta nấu ra sẽ có khác biệt rất lớn.

Với những loại thực phẩm là tinh bột chẳng hạn, thì rủi ro mà Cơ quan Tiêu chuẩn Thực phẩm (FSA) ở Anh Quốc đã ra cảnh báo về chất acrylamide. Đây là hóa chất thường được sử dụng trong công nghiệp để làm giấy, nhuộm và nhựa, nhưng nó cũng xuất hiện trong thực phẩm khi ta quay, chiên hoặc nướng đồ ăn ở nhiệt độ rất cao trong thời gian dài.

Những nguyên liệu nấu nướng giàu carbohydrate như khoai tây, các loại rau củ, bánh mì nướng, ngũ cốc, cà phê, bánh ngọt và bánh quy, là những loại nhạy cảm nhất, và phản ứng ta có thể thấy là khi tinh bột trong món ăn bắt đầu chuyển màu sẫm, chúng có thể hóa thành màu nâu vàng hay bắt đầu có vẻ như bị cháy.

Acrylamide được coi là nguyên nhân tiềm ẩn gây ung thư, mặc dù hầu hết bằng chứng hiện thời cho thấy mối liên hệ này đến từ động vật.

Để đề phòng, Macciochi nói, các nhà dinh dưỡng học và cơ quan về thực phẩm cho rằng tốt hơn là nên tránh tiêu thụ quá nhiều thực phẩm với hàm lượng nhiều hóa chất acrylamide.

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionNgười ta cho rằng loài người bắt đầu nấu ăn từ khoảng một triệu năm trước

“Hầu hết các thí nghiệm được thực hiện trong phòng thí nghiệm với động vật, [nhưng] chúng tôi thực sự nghĩ rằng acrylamide có nguy cơ gây ung thư ở người, vì vậy mọi người nên ý thức đề phòng, và cũng để ý đến thực phẩm đã qua chế biến mà họ mua, có lẽ có hàm lượng acrylamide cao hơn vì quá trình chế biến công nghiệp,” bà nói thêm.

‘Món hầm quân đội’, từ cứu đói đến món ăn linh hồn Hàn Quốc

Đây là món nướng Hàn Quốc đậm đà nhất?

Cá ngừ vằn nướng tái, món ăn ngon nhất Nhật Bản

Để tránh hàm lượng acrylamides cao, FSA đề nghị ta nên hướng đến nấu thức ăn đến độ vàng vừa phải và tránh bỏ khoai tây vào tủ lạnh nếu sau đó định nấu ở nhiệt độ cao (vì khoai tây đông lạnh phóng thích đường, sau đó sẽ kết hợp với các amino acid và tạo ra acrylamide khi nấu). Nói chung là tránh nấu quá kỹ những thành phần này, và tránh tạo ra hợp chất acrylamide.

Tuy nhiên, nguy cơ này không dừng lại với quy trình nướng thức ăn.

“Những chất như acrylamide trong thực phẩm chỉ là một trong nhiều nguy cơ của chế độ ăn thời hiện đại,” Macciochi cảnh báo, “vì vậy tự chất này sẽ không tạo ra nguy cơ khiến bạn bị ung thư, nhưng nếu một người có chế độ ăn rất nghèo nàn, đó là thứ ta có thể thay đổi để tránh rủi ro.”

Khói bếp và bệnh ung thư phổi

Hiệu ứng từ nấu nướng không chỉ truyền qua thức ăn, mà còn qua những thứ ta hít vào.

Đầu tiên, bản thân bếp nấu là nguồn chính gây bệnh ở nhiều quốc gia đang phát triển.

Ở những nơi dùng các loại nhiên liệu đun nấu là gỗ, rơm rạ thải, và than, khói bếp trong nhà có thể tăng lên. Theo Tổ chức Y tế Thế giới WHO, khói nhà bếp là nguyên nhân gây ra 3,8 triệu trường hợp chết yểu mỗi năm.

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionMột số bằng chứng cho thấy nấu ăn trong nhà mà không có hệ thống thông khí tốt có thể tăng rủi ro bị ung thư phổi

Nhưng một số nguyên liệu nhất định trong thực phẩm ta nấu cũng có thể gây ra ô nhiễm không khí trong nhà.

Ăn cá biển ngày càng dễ bị ngộ độc hơn

Món bánh chuối cả thế giới mê trong thời Covid-19

Bánh xèo Nhật và vụ ném bom hạt nhân Hiroshima

Một nghiên cứu năm 2017, do Tạp chí Nghiên cứu Ung thư và Ung bướu Lâm sàng công bố, tìm thấy bằng chứng khi ta hít phải khói do dầu ăn gây ra cũng làm tăng nguy cơ bị ung thư phổi.

Các nhà khoa học phân tích 23 nghiên cứu về 9.411 ca bệnh ung thư ở Trung Quốc, và cho thấy không chỉ có phụ nữ nấu ăn trong tình trạng không có hệ thống thông khí tốt trong nhà bếp có nguy cơ bị ung thư phổi cao hơn, mà cả các phương pháp nấu ăn khác nhau cũng gây ra hệ quả khác nhau.

Chẳng hạn như chiên xào làm tăng nguy cơ bị ung thư phổi, trong khi chiên thức ăn ngập dầu thì không làm tăng nguy cơ.

Các nghiên cứu khác cũng cung cấp bằng chứng cho thấy nếu hít phải khói từ dầu ăn trong thời kỳ mang thai có thể gây ảnh hưởng đến thai nhi, khiến trẻ bị nhẹ cân khi sinh.

Năm 2017, các nhà khoa học ở Đài Loan so sánh hàm lượng aldehydes – một nhóm các hợp chất phản ứng rộng, mà nhiều hợp chất trong số đó độc hại với con người – sinh ra từ các phương pháp nấu nướng khác nhau.

Trong nghiên cứu này, các tác giả chỉ ra rằng khói bốc lên từ dầu hướng dương khi nấu ở nhiệt độ cao và phương thức chiên ngập dầu và chiên trong chảo có nguy cơ sản sinh ra lượng aldehyde lớn hơn, trong khi đó các loại dầu ăn có hàm lượng chất béo không bão hòa thấp, như dầu cọ hay dầu hạt cải, cũng như các phương thức nấu nướng nhẹ nhàng hơn như chiên xào, thì không có xu hướng tạo ra hàm lượng lớn hợp chất này hoặc những hợp chất được cho là có hại khác.

Thịt nấu chín và bệnh tiểu đường

Người ăn thịt nên suy nghĩ lại cách họ nấu thịt và mức độ thường xuyên ăn thịt.

Nhiều nghiên cứu khác nhau cho thấy phương thức nấu trực tiếp với lửa như nấu thịt đỏ, đặc biệt là nướng bằng chảo hoặc nướng than cũng như các phương thức nấu sử dụng nhiệt độ cao, như quay thịt trong lò, có thể làm tăng nguy cơ tiểu đường ở những phụ nữ thường sử dụng thịt đỏ ở Hoa Kỳ – mặc dù người ta chưa rõ vì sao nguy cơ này chỉ tác động đến phụ nữ mà không ảnh hưởng đến đàn ông.

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionDù một số cách nấu ăn có gây nguy cơ, nhưng quan trọng là nấu ăn vẫn giúp ta tối ưu hóa năng lượng mà ta thu được từ thực phẩm

Một nghiên cứu khác chỉ ra mối liên hệ tương tự giữa cách nấu trực tiếp trên ngọn lửa hoặc nấu ở nhiệt độ cao và bệnh tiểu đường Type 2 ở người ăn thịt đỏ, thịt gà và cá ít nhất 15 lần mỗi tháng, bất kể là nam hay nữ, ăn nhiều hay ít chừng nào.

Làm sao để giữ cơ thể không mắc Covid-19?

Chế độ ăn thuần chay có tốt cho sức khỏe?

Điều quan trọng cần lưu ý ở đây là không có nghiên cứu nào trong số này kiểm soát các yếu tố về lối sống như thể thao hoặc các nhân tố khác trong chế độ dinh dưỡng của họ, trong đó có hàm lượng đường họ tiêu thụ, vì vậy có thể còn có những thứ đằng sau nữa tác động đến kết quả được đưa ra.

Tuy nhiên, một số phương thức nấu ăn thay thế do các nhà nghiên cứu đề xuất như luộc hay hấp có vẻ không gây ra nguy cơ mắc tiểu đường.

Các phương pháp nấu ăn khác

Trong thế kỷ qua, phương thức nấu nướng đã tiến hóa và đa dạng hơn, và nấu nướng dần dịch chuyển khỏi những nguồn nhiệt thời nguyên thủy.

Lò vi sóng, bếp điện và lò nướng bánh giờ đây có mặt gần như trong mọi nhà, đem lại các phương thức thay thế cho ngọn lửa nhiệt độ cao.

Ngày càng nhiều các nhà khoa học chỉ ra rằng sử dụng lò vi sóng là cách nấu ăn lành mạnh hơn, tùy thuộc vào món bạn nấu.

Chẳng hạn, một nghiên cứu gần đây từ Thụy Điển cho thấy một trong những cách lành mạnh nhất để nấu nấm là sử dụng lò vi sóng. Phương thức này làm tăng đáng kể các chất chống oxy hóa – là hợp chất giúp bảo vệ tế bào khỏi tình trạng hư hỏng. Trái lại, luộc hoặc chiên nấm làm giảm hàm lượng chất chống oxy hóa.

Trong thực tế bằng chứng khoa học cho thấy phương thức tốt nhất để giữ lại được các vitamin và dưỡng chất khi nấu rau là sử dụng thời gian nấu ngắn và dùng càng ít nước càng tốt.

Điều đó có nghĩa là sử dụng lò vi sóng là cách nấu tốt vì sẽ khiến ít dưỡng chất mất đi hơn – không giống như khi ta luộc rau, khiến dưỡng chất đều trôi vào nước luộc hết.

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionMột số loại dầu ăn như dầu hạt cải hay dầu cọ được cho là tốt cho sức khỏe hơn khi dùng để nấu

“Hấp rau cũng tốt hơn là luộc, bất cứ thứ gì bạn nấu trong thời gian dài ở nhiệt độ cao đều có vẻ gặp nhiều vấn đề hơn, làm giảm giá trị dinh dưỡng hoặc gây ra một số hợp chất không tốt, như acrylamide,” Macciochi giải thích.

Một vấn đề khác với cách chiên đồ ăn, hay các kiểu nấu nướng có dầu ăn, đó là sẽ có vấn đề xảy ra khi một số loại chất béo được làm nóng lên. Hóa ra quá trình đốt nóng có thể khiến dầu ăn trải qua hàng loạt phản ứng hóa học, vì vậy khi bạn nấu ở nhiệt độ cao, bạn gặp rủi ro sẽ cho ra món có thành phần thay đổi ít nhiều so với thành phần ban đầu bạn bỏ vào nấu.

Không phải mọi loại dầu ăn đều mẫn cảm và dễ thay đổi như vậy.

Ví dụ, dầu olive có “điểm bốc khói” khá thấp, so với những loại chất béo bão hòa như dầu dừa. Đây là mức nhiệt độ mà dầu sẽ bắt đầu thay đổi – khi dầu bắt đầu bốc hơi và mất một số hợp chất tốt cho sức khỏe, như hợp chất oleocanthal chống viêm.

Đây cũng là mức nhiệt độ mà dầu bắt đầu sinh ra các hợp chất độc hại, như một số aldehyde.

Macciochi vẫn đề xuất nên sử dụng dầu olive trong hầu hết quá trình nấu nướng vì loại dầu này rất tốt cho sức khỏe, chỉ là không nên dùng trong nấu ăn công nghiệp, hoặc khi chế biến bất cứ món gì cần thời gian nấu kéo dài.

Tuy nhiên, dù một số kiểu nấu ăn có chứa rủi ro, thì bỏ hẳn việc nấu chín thức ăn lại có nguy cơ gây hại hơn rất nhiều.

Một nghiên cứu của Đức về những người tuân thủ chế độ ăn chỉ dùng đồ tươi sống hầu như không qua chế biến trong vài năm nhận thấy đàn ông giảm 9kg cân nặng, trong khi phụ nữ giảm 12kg cân nặng.

Vào cuối kỳ nghiên cứu, một số người đáng kể bị tình trạng thiếu cân – và khoảng một phần ba số phụ nữ không còn kinh nguyệt đều đặn.

Các tác giả kết luận với một thông điệp khá nhẹ nhàng theo kiểu khoa học “chế độ ăn thực phẩm tươi sống nghiêm ngặt không được khuyến khích áp dụng thời gian kéo dài”.

“Rốt cuộc thì việc nấu chín thịt và nấu carbohydrate là cách tốt để giúp tăng cường hấp thụ chất dinh dưỡng trong các loại thực phẩm này, ngược lại so với việc ăn sống,” Macciochi nhận định, “vì thử nghĩ tới một củ khoai tây sống xem, sẽ cực kỳ khó hấp thụ chất dinh dưỡng từ nó chứ đừng nói đến chuyện chỉ là ăn cảm thấy ngon lành.”

Có vẻ như tổ tiên của chúng ta mơ hồ đã hiểu đúng điều gì đó, hẳn là vậy.

Bài tiếng Anh đã đăng trên BBC Future.

Categories: Kien-thuc Y-Khoa | Leave a comment

Siêu thực phẩm có thể làm sạch nicotine trong phổi

Siêu thực phẩm có thể làm sạch nicotine trong phổi

N.Y/VOV.VN | 

Siêu thực phẩm có thể làm sạch nicotine trong phổi

Gừng, nghệ, táo, tỏi, trà xanh và nhiều thực phẩm khác có tác dụng loại bỏ nicotine, làm sạch phổi cho người tiếp xúc nhiều với thuốc lá.

Siêu thực phẩm có thể làm sạch nicotine trong phổi - Ảnh 1.

Gừng: Gừng có đặc tính kháng viêm thải độc tố khỏi đường hô hấp. Gừng chứa nhiều vitamin và khoáng chất bao gồm kali, magiê, beta-carotene và kẽm. Một số chất chiết xuất từ gừng cũng có tác dụng tiêu diệt tế bào ung thư phổi. Bạn thêm gừng vào nhiều món ăn như một loại thảo dược hoặc uống trà gừng.

Siêu thực phẩm có thể làm sạch nicotine trong phổi - Ảnh 2.

Nghệ: Nghệ có tác dụng với sức khỏe tương tự như gừng. Nghệ có đặc tính kháng viêm, nhiều curcumin giúp diệt các tế bào ung thư.

Siêu thực phẩm có thể làm sạch nicotine trong phổi - Ảnh 3.

Kiwi: Theo Boldsky, kiwi rất giàu vitamin, giúp bổ sung cho cơ thể các dưỡng chất bị mất trong thời gian hút thuốc, đồng thời loại bỏ chất nicotine.

Siêu thực phẩm có thể làm sạch nicotine trong phổi - Ảnh 4.

Tỏi: Tỏi chứa một hợp chất được gọi là allicin có tác dụng kháng sinh mạnh mẽ và khắc phục bệnh nhiễm trùng đường hô hấp làm tắc nghẽn phổi. Ngoài ra, tỏi cũng kháng viêm, cải thiện bệnh hen suyễn và giảm nguy cơ ung thư phổi.

Siêu thực phẩm có thể làm sạch nicotine trong phổi - Ảnh 5.

Táo: Các vi chất và nhiều loại vitamin trong táo sẽ duy trì chức năng hô hấp, rửa sạch lượng nicotine độc hại và ngăn ngừa các bệnh về phổi.

Siêu thực phẩm có thể làm sạch nicotine trong phổi - Ảnh 6.

Rau chân vịt giàu axit folic và một số vitamin, có thuộc tính làm mất mùi khó chịu của thuốc lá và loại bỏ chất nicotine ra khỏi cơ thể. Nên ăn rau chân vịt sống, không nên nấu chín vì sẽ mất một lượng lớn vitamin và acid folic, những chất cần thiết giúp loại bỏ nicotin ra khỏi cơ thể.

Siêu thực phẩm có thể làm sạch nicotine trong phổi - Ảnh 7.

Trà xanh: Trà xanh chứa nhiều chất chống oxy hóa tốt cho tim mạch, làm sạch phổi và chống nhiều bệnh ung thư khác nhau. Các loại thảo dược trong trà xanh có tính kháng khuẩn giúp làm loãng chất nhầy từ lớp lót của phổi.

Siêu thực phẩm có thể làm sạch nicotine trong phổi - Ảnh 8.

Nước ép cam, chanh, lựu: Vitamin C rất tốt cho sức khỏe, giúp cơ thể sữa chữa những mô bị hư hỏng, giúp cải thiện lưu thông máu, loại bỏ các chất độc và gia tăng lượng hồng cầu trong cơ thể. Nên uống mỗi ngày nước ép cam, chanh hoặc lựu và đây là thói quen tuyệt vời giúp loại bỏ nicotin ra khỏi cơ thể.

Siêu thực phẩm có thể làm sạch nicotine trong phổi - Ảnh 9.

Nước ép cà rốt: Những ai có ý định bỏ thuốc lá, hãy nên uống nước ép cà rốt. Nước ép cà rốt giàu vitamin A, C, B, K giúp thải nicotin, các chất độc được tích lũy trong những năm tháng hút thuốc lá!

Siêu thực phẩm có thể làm sạch nicotine trong phổi - Ảnh 10.

Ớt chuông: Nên ăn ớt chuông sống. Có thể cắt từng miếng mỏng và trộn vào sa lát. Trong ớt chuông chứa lượng lớn vitamin C, B12 và B6. Ớt chuông rất tốt cho người cai thuốc lá.

Siêu thực phẩm có thể làm sạch nicotine trong phổi - Ảnh 11.

Hành tây: Không chỉ là thực phẩm bổ dưỡng, hành tây cũng có tính chất dược liệu nhất định. Chúng giúp loại bỏ chất nicotine ra khỏi cơ thể, rất hữu ích cho những người nghiện hút thuốc.

Siêu thực phẩm có thể làm sạch nicotine trong phổi - Ảnh 12.

Các loại rau xanh: Chất diệp lục có trong các loại rau xanh đóng vai trò như chất giải độc, giúp lọc máu và thải ra các độc tố khỏi cơ thể chúng ta. Các loại rau họ cải gồm có bông cải xanh, súp lơ, cải bắp… giàu vitamin C, giúp tăng cường hệ thống miễn dịch cho cơ thể.

Categories: Kien-thuc Y-Khoa | Leave a comment

Covid-19: Phần lớn các ca tử vong không phải do virus gây ra

Covid-19: Phần lớn các ca tử vong không phải do virus gây ra

EPABản quyền hình ảnhEPA

Mọi chuyện bắt đầu từ một hốc cây lớn.

Bé trai Emile Ouamouno, hai tuổi, rất thích chơi đùa bên trong một cái hốc cây gần nhà ở Meliandou – ngôi làng nằm giữa rừng rậm Guinea.

Covid-19 và mối nguy hiểm chết người: Khi cơ thể tự tấn công bản thân

Nên ra ngoài trời nhiều để tăng sức đề kháng cho cơ thể

Đeo khẩu trang có thực sự giảm lây Covid-19?

Những con dơi cũng thích sự ấm cúng nơi hốc cây này, nên chúng trú ngụ ở đó. Bọn trẻ con thỉnh thoảng bắt dơi đem nướng ăn.

Thế rồi Emile ngã bệnh.

Vào ngày 28/12/2013, cậu bé đã không chống chọi nổi một căn bệnh ác nghiệt và bí ẩn.

Mẹ, chị gái và bà đã ở bên cạnh chăm sóc cậu. Và điều gì phải đến đã đến – sau đám tang cậu bé, căn bệnh dần bắt đầu lây lan khắp vùng.

Đại dịch Ebola

Cho đến 23/3/2014, đã có 49 trường hợp nhiễm bệnh và 29 trường hợp tử vong – và các nhà khoa học xác nhận rằng đó là virus Ebola.

Trong ba năm rưỡi tiếp theo, thế giới chứng kiến nỗi kinh hoàng khi virus này cướp đi hơn 11.325 sinh mạng.

Nhưng, trong khi điều này đang tiếp diễn thì “họa vô đơn chí”, một thảm kịch khác bắt đầu kéo đến.

Sự bùng phát dịch làm căng thẳng nghiêm trọng các nguồn lực của các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại địa phương – nhiều người chết, một số lượng lớn các bệnh viện đã đóng cửa và những bệnh viện còn mở cửa thì tràn ngập bệnh nhân Ebola.

Tại ba quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất – Sierra Leone, Liberia và Guinea – mọi người bắt đầu tránh chăm sóc sức khỏe bằng mọi giá.

Họ sợ căn bệnh mới bí ẩn này, nhưng họ còn sợ các bác sĩ nhiều hơn. Tấm áo choàng màu trắng lạnh lẽo liên tưởng đến cái chết đột ngột, nhân viên y tế đã bị kỳ thị nặng nề. Mọi người không ai muốn đến gần họ.

Và kết quả tất yếu, theo một phân tích năm 2017, là đại dịch đã khiến hoạt động chăm sóc sức khỏe bị né tránh đáng kể. Số phụ nữ mang thai tìm kiếm hỗ trợ y tế khi sinh con giảm 80%, tỷ lệ tiêm chủng giảm mạnh và số trẻ em bị sốt rét giảm 40%.

Trớ trêu thay, sau nỗ lực quốc tế mạnh mẽ để chống lại đại dịch Ebola, hệ lụy gián tiếp còn nghiêm trọng hơn chính virus Ebola.

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionHơn một triệu trẻ em và 56.700 bà mẹ có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi đại dịch

Đại dịch Covid-19

Vào năm 2020 này, thế giới có lẽ đang phải chứng kiến một cảnh tương tự.

Vì sao nhiều người Mỹ chống cách ly xã hội, bất chấp Covid-19?

Covid-19 ra tay tàn độc với nam giới hơn là với phụ nữ?

Thời tiết nắng nóng có tiêu diệt được Covid-19?

Ngay từ khi bắt đầu dịch, nhiều quốc gia đã trấn an công chúng rằng các cách phòng chống Covid-19 đang được ưu tiên thực hiện – giường bệnh và máy thở được đặt sẵn, các cách điều trị chưa được chứng minh tính hiệu quả cũng đã được tích trữ, và hàng ngàn bác sĩ được điều sang là việc tại các khoa hô hấp.

Ở Anh, chính phủ cam kết cung cấp tất cả mọi thứ dịch vụ y tế cần thiết để đối phó với đại dịch, “bằng bất cứ giá nào”.

Các bước tương tự đã được thực hiện ở các nước trên thế giới khi họ chiến đấu để kìm hãm tỷ lệ lây nhiễm đang đà gia tăng.

Bất cứ điều gì được coi là không khẩn cấp đều bị trì hoãn hoặc cắt giảm, từ các ca phẫu thuật cho đến các dịch vụ sức khỏe tình dục, tạm ngừng các chương trình cai nghiện thuốc lá, hỗ trợ sức khỏe tâm thần, nha khoa, tiêm chủng, tầm soát ung thư và khám sức khỏe định kỳ.

Covid-19 đã thay đổi tất thảy mọi thứ trước nay đang là quan trọng – không có cái gọi là bác sỹ dự phòng hay nguyên tắc y tế dự phòng nào nữa.

Kết quả là, sự tập trung cao độ vào một kẻ thù duy nhất đã gây ra những tác động phụ tai hại.

Chết vì không được chữa trị các bệnh khác

Các chuyên gia lo ngại rằng chết vì các bệnh như dịch tả chẳng hạn có thể vượt xa con số tử vong từ chính Covid-19.

Trên toàn cầu, nhiều bệnh nhân bị từ chối điều trị ung thư, lọc thận và phẫu thuật cấy ghép khẩn cấp, đôi khi dẫn đến hậu quả gây tử vong.

Ở vùng Balkan, nhiều phụ nữ đã buộc phải tự phá thai bằng các cách thức thiếu hiểu biết và nguy hiểm, trong khi các chuyên gia ở Anh đã báo cáo sự gia tăng bệnh nhân đau răng phải tìm cách tự chữa một cách điên rồ như dùng kẹo cao su, kìm cắt dây thép và keo dán tổng hợp.

Đã có tình trạng hoảng loạn lùng mua tích trữ hydroxychloroquin, thuốc vốn dùng để chữa bệnh sốt rét và tình trạng tự miễn dịch, và người ta thấy rằng việc các ca tử vong liên quan tới Covid-19 đã dẫn tới nạn khan hiếm loại thuốc này.

Và cũng như mọi các cuộc khủng hoảng khác, đại dịch hiện nay có vẻ như tấn công mạnh nhất vào những nước nghèo nhất.

Các nhà khoa học đã cảnh báo rằng, ở một số nơi, sự gián đoạn trong việc kiểm soát các bệnh như HIV, lao phổi và sốt rét có thể dẫn đến tổn thất ở quy mô không kém so với hậu quả mà virus corona trực tiếp gây ra.

Tương tự, các chuyên gia lo ngại rằng số lượng người tử vong vì bệnh như dịch tả có thể vượt xa những người chết do Covid-19.

Các chương trình tiêm chủng đang là mối quan ngại đặc biệt.

Tổ chức Y tế Thế giới tính toán rằng ít nhất 80 triệu trẻ em dưới một tuổi hiện có nguy cơ mắc bệnh bạch hầu, bại liệt và sởi, do đại dịch Covid-19 đã gây gián đoạn các chương trình tiêm chủng tại ít nhất 68 quốc gia.

Người ta trông đợi là bệnh bại liệt sẽ quay trở lại, bất chấp nỗ lực trị giá hàng tỷ đô la kéo dài cả mấy thập kỷ qua vốn đã gần xóa sổ được loại virus này trong tự nhiên. Hiện loại virus duy nhất đã bị diệt toàn bộ trong tự nhiên là loại gây bệnh đậu mùa.

Chết vì đói, nghèo và suy dinh dưỡng

Trong khi đó, David Beasley, giám đốc điều hành của Chương trình Lương thực Thế giới thuộc Liên Hiệp Quốc (WFP), hồi tháng Tư cảnh báo rằng thế giới đang đứng trước sự bùng nổ một nạn đói – với 130 triệu người có nguy cơ bị chết vì thiếu ăn, và 135 triệu người khác đang trên bờ vực chết đói.

Cuối cùng, người ta cho rằng các biện pháp phong tỏa toàn cầu và những bất ổn kinh tế tiếp theo có thể làm tăng cái gọi là “chết vì tuyệt vọng”, bởi một số người tìm đến rượu hoặc tự tử.

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionNgười ta sợ rằng bệnh bại liệt sẽ quay trở lại, bất chấp nỗ lực trị giá hàng tỷ đô la để xóa sổ căn bệnh này

Quy mô thực sự của những tổn thất từ dịch bệnh Covid-19 là gì? Liệu chúng ta có thể làm gì để ngăn chặn?

Vì sao tỷ lệ tử vong do virus corona mỗi nước mỗi khác?

Những đại dịch tàn khốc và bài học thời Covid-19

Covid-19: Kinh nghiệm từ Đại dịch cúm Tây Ban Nha

Với nhà dịch tễ học Timothy Roberton, cùng với các đồng nghiệp từ Đại học Johns Hopkins, Maryland, thì hệ lụy kéo theo đã trở thành mối lo ngại gần như ngay khi đại dịch Covid-19 bắt đầu.

“Nhiều người trong chúng ta đã chứng kiến ảnh hưởng gián tiếp của dịch Ebola ở Tây Phi vào năm 2014, cho nên chúng ta biết những gì có thể xảy ra,” ông nói.

Cụ thể, nhóm nghiên cứu rất chú ý đến tác động của Covid-19 đối với phụ nữ và trẻ em ở các quốc gia có thu nhập thấp như những người ở vùng Hạ Sahara, châu Phi.

Họ đã mô hình hóa tác động của một số kịch bản gia tăng mức độ nghiêm trọng và xác định hai hệ lụy của việc phản ứng với Covid-19 có thể làm tăng số lượng thương vong.

Một điểm là sự gián đoạn của các dịch vụ y tế. “Ví dụ, điều đó có khi là do mọi người quá sợ hãi nên khước từ sự giúp đỡ y tế, tức là từ phía cầu” ông Roberton nói. “Và tiếp theo là từ phía cung – nhân viên y tế có thể bị ốm, họ không đi làm được trong đại dịch, hoặc thiếu thuốc men.”

Một điểm nữa là các gia đình không có đủ lượng thực thực phẩm, điều này có thể làm tăng độ mẫn cảm dễ mắc các bệnh truyền nhiễm.

Tóm lại, các nhà khoa học dự đoán rằng trong trường hợp xấu nhất, việc sử dụng các dịch vụ y tế giảm tới 50% và tình trạng suy dinh dưỡng tăng lên tương ứng, thì hơn một triệu trẻ em và 56.700 bà mẹ có thể chết vì hậu quả gián tiếp từ đại dịch.

Hầu hết các trường hợp tử vong ở trẻ em là do viêm phổi hoặc mất nước do tiêu chảy, trong khi đối với phụ nữ, chúng có thể là do các biến chứng do mang thai hoặc sinh nở – như băng huyết, sản giật và nhiễm trùng máu.

“Đó là những gì chúng ta phải sẽ chứng kiến nếu họ không được điều trị cho những bệnh này – trẻ em thì không được bù nước điện giải, các bà mẹ thì không được điều trị bằng thuốc kháng sinh,” ông Roberton nói.

Khi những cái chết này được cộng thêm vào số có nguy cơ tử vong do nạn đói, thì tổng số các ca tử vong thực sự bắt đầu tăng lên.

WFP hiện đang cung cấp lương thực cho gần 100 triệu người mỗi ngày – và trong số đó, khoảng 30 triệu người hoàn toàn phụ thuộc vào khẩu phần thức ăn này để sinh tồn.

Theo phân tích của WFP, 300.000 người có thể chết đói mỗi ngày trong những tháng tới, nếu WFP không thể tiếp tục cung cấp lương thực cho họ. Con số này chưa bao gồm những người mới tạm thời lâm vào cảnh đói nghèo vì đại dịch.

“Nếu nhìn toàn cảnh, ta thấy rằng thế giới đang hoạt động khá hiệu quả và số người bị đói trên thế giới đang giảm xuống,” Jane Howard, giám đốc truyền thông của WFP nói.

Bà giải thích rằng trong năm năm gần đây, xu hướng này đã đảo ngược – chủ yếu là do xung đột và biến đổi khí hậu.

“Chỉ ngay trước khi cuộc khủng hoảng virus corona nổ ra, chúng tôi đã nhận được những số liệu mới khiến chúng tôi thực sự hoảng sợ – theo đó cho thấy số người thiếu đói nghiêm trọng đã tăng vọt.”

Đại dịch hiện nay không chỉ có thể đẩy 130 triệu người vào cảnh chết đói, mà còn đe dọa các khoản đóng góp để duy trì chương trình hỗ trợ lương thực.

“Nếu nền kinh tế thế giới bị ảnh hưởng và các quốc gia không thể cung cấp nhiều ngân khoản như trông đợi, thì bạn biết đấy, một kịch bản hoàn toàn khác sẽ xảy ra, mà kịch bản này thì vô cùng đáng sợ,” bà Howard nói.

Nạn đói ở thành phố thời hiện đại

Chính xác thì Covid-19 sẽ đẩy con người lâm vào nạn đói diễn biến theo cách phức tạp hơn chúng ta nghĩ.

Howard giải thích rằng, trái ngược với những hình ảnh rập khuôn về những người chết đói trong những bộ phim ra hồi thập niên 1990, được miêu tả là những người thường sống ở những vùng xa xôi nhất của vùng Hạ Sahara châu Phi, ngày nay tình trạng suy dinh dưỡng cũng là một vấn đề lớn ở các thành phố – và đây là nơi mà đại dịch có thể tấn công nặng nề nhất.

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionMột số chuyên gia cho rằng, riêng ở Anh có đến 60.000 bệnh nhân ung thư có thể chết do không được chẩn đoán và điều trị kịp thời

“Nếu bạn sống ở một làng quê nông thôn, bạn có thể có một luống rau, hoặc bà dì của bạn có thể nuôi bò để cho bạn thịt,” bà nói.

“Bạn dù sao cũng có sẵn chút ít thực phẩm dự trữ tại chỗ. Nhưng trong một thành phố, bạn hoàn toàn có thể lâm vào tình trạng không thể đủ tiền mua vì giá cả thị trường leo thang.”

Hiện tại, mối quan ngại chính là nỗi lo cho những người lao động phổ thông, thợ lái xe kéo và công nhân xây dựng.

Ví dụ, một trong những đồng nghiệp của Howard ở Cộng hòa Congo đã nhận thấy rằng giá cả của nhiều loại lương thực cơ bản tại nơi anh sống, như bơ đậu phộng và bột khoai mì đã tăng 10% trong hai tuần hồi đầu tháng Năm.

Điều này có lẽ một phần là do các siêu thị hạn chế giờ mở cửa, nhưng chủ yếu là do Covid-19 đã bắt đầu ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng toàn cầu – và hàng nhập khẩu đã trở nên đắt đỏ hơn.

Rồi còn bao nhiêu các loại chi phí chìm cộng thêm vào nữa. Chẳng hạn như có một phụ nữ, do không có phương tiện giao thông công cộng nào hoạt động trong thời gian phong tỏa, đã phải thuê một chiếc xe cút kít để mang thực phẩm về nhà.

Độ tuổi bị ảnh hưởng nặng nề nhất

Tất nhiên, có một lý do khác khiến nhiều quốc gia có thể bị tổn thất nhân mạng nhiều hơn do các hậu quả gián tiếp của Covid-19 – đó là do độ tuổi của dân chúng.

Người ta biết rằng Covid-19 tấn công vào người cao tuổi dữ dội hơn, nhưng mức độ quả là khủng khiếp đến khó tin. Theo dữ liệu của Thành phố New York từ ngày 13/5, số ca tử vong ở những người từ 75 tuổi trở lên cao gấp 811 lần so với những người từ 17 tuổi trở xuống.

Mặt khác, các quốc gia thu nhập thấp có xu hướng có dân số trẻ hơn.

Ở quốc gia trẻ nhất thế giới – Nigeria, ở Tây Phi – tuổi trung bình chỉ là 15,2 tuổi. (Quốc gia này cũng có tỷ lệ sinh cao nhất, trung bình mỗi phụ nữ sinh 7,2 người con trong đời.) Cho đến nay, nước này báo cáo có 254 trường hợp tử vong do đại dịch Covid-19.

Ngược lại, Ý có độ tuổi trung bình dao động trong khoảng 45 tuổi, cũng là một trong những lứa tuổi có tỷ lệ tử vong cao nhất từ Covid-19, với hơn 33.000 người chết tính đến thời điểm này.

Mức độ tử vong do đại dịch gây ra hiện vẫn là chủ đề đang tranh cãi. Có thể là số người tử vong sớm hơn bình thường do virus trực tiếp gây ra thì không nhiều như những gì các số liệu đang cho thấy.

Chẳng hạn như Covid-19 gây nguy cơ tử vong cao nhất đối với nhóm người cao tuổi, nhưng nhóm người này cũng là nhóm có nguy cơ cao nhất mắc các bệnh theo mùa hoặc các bệnh khác về đường hô hấp.

Vào thời điểm này, số các ca tử vong mỗi tháng vẫn cao hơn nhiều so với số liệu trung bình cùng kỳ các năm trước.

Thế nhưng nếu như tổng số các ca tử vong về sau lại giảm xuống tới dưới mức trung bình, thì có thể là do virus corona đã khiến cho một số bệnh nhân cao tuổi từ trần sớm hơn vài tháng so với việc không nhiễm virus, thay vì là sớm hơn vài năm.

Trên thực tế, ngay cả ở những quốc gia giàu có, người ta thấy rằng về mặt dài hạn, những cái chết gián tiếp bởi virus corona rốt cuộc sẽ nhiều hơn đáng kể so với những trường hợp tử vong do tác động trực tiếp của bệnh này.

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES

Lấy ví dụ với bệnh ung thư.

Kể từ khi đại dịch Covid-19 bắt đầu, hầu hết các công tác nhằm giúp giảm gánh nặng của bệnh ung thư và làm giảm tỷ lệ tử vong – từ xét nghiệm sinh thiết tế bào cổ tử cung cho đến tầm soát ung thư vú – đều đã bị ảnh hưởng, vì trọng tâm công tác y tế chuyển sang cấp bách cứu nhiều người nhất trong căn bệnh virus corona. Đối với một số người, điều này gây ra hậu quả chết người.

“Ung thư là căn bệnh không cho phép chần chừ chờ đợi,” Keith Hiom, giám đốc chẩn đoán sớm và điều trị ung thư tại Cancer Research UK, một tổ chức thiện nguyện chuyên tài trợ cho nghiên cứu khoa học về ung thư, nói. “Bệnh ung thư chắc chắn dễ điều trị và chữa khỏi hơn nếu được chẩn đoán sớm.”

Mặc dù vậy, bà giải thích rằng nhiều chương trình tầm soát ung thư đã bị tạm dừng trên khắp nước Anh kể từ khi thực thi lệnh phong tỏa để kiểm soát dịch Covid-19 – có nghĩa là khoảng 1.600 trường hợp ung thư mà họ thường phát hiện ra mỗi tháng sẽ không được phát hiện trong thời điểm này.

“Đây không phải là những người ốm bệnh. Đây không phải là những người mà ta nghĩ là họ sẽ mắc bệnh ung thư. Song mục đích của các chương trình tầm soát là nhằm chẩn đoán sớm ung thư,” bà nói.

Một công cụ quan trọng khác là việc các bác sĩ gia đình giới thiệu bệnh nhân đi khám sức khỏe định kỳ, nhưng công cụ này đang gặp vấn đề.

Dữ liệu cho thấy mọi người không chịu đến khám theo lịch hẹn vào thời điểm này, có thể là do họ sợ việc phải ra khỏi nhà.

Mà khi họ không tới khám thì bác sỹ gia đình không thể đưa ra ý kiến và giới thiệu họ tới thăm khám với các chuyên gia y tế chẩn đoán sớm ung thư – ngay cả khi người bệnh đã trong tình trạng nguy cấp.

Đối với những người đã được chẩn đoán, họ sẽ phải trải qua một quá trình trì hoãn kéo dài rồi mới được bắt đầu điều trị – và Hiom giải thích rằng khi đại dịch lắng xuống, giải quyết các ca tồn đọng sẽ là một quá trình cực kỳ chậm chạp.

Tổng cộng, một nhóm các bác sĩ ung thư ước tính rằng chỉ riêng ở nước Anh, 60.000 bệnh nhân ung thư có thể chết do sự chậm trễ trong chẩn đoán và điều trị.

Cuối cùng là vấn đề suy thoái kinh tế, vốn đã chính thức bắt đầu ở Đức và dự kiến sẽ là đợt suy thoái trầm trọng nhất kể từ thời kỳ Đại Suy thoái tới nay.

Giống như nhiều tổ chức y tế quan trọng khác, tổ chức Cancer Research phụ thuộc vào sự đóng góp từ công chúng – và nhiều hoạt động sinh lợi nhất của họ, chẳng hạn như các sự kiện tổ chức thi chạy để xin tài trợ, hiện đều đang bị xếp lại. Không có ngân sách cũng có nghĩa là các nỗ lực nghiên cứu của họ sẽ bị đẩy lui lại nhiều năm.

Science Photo LibraryBản quyền hình ảnhSCIENCE PHOTO LIBRARY
Image captionTạm dừng các chương trình tầm soát ung thư ở nhiều quốc gia sẽ đồng nghĩa với việc hàng ngàn trường hợp ung thư không được chẩn đoán mỗi tháng

Vậy ta cần làm gì để có thể giảm thiểu những tác động gián tiếp của Covid-19?

Bà Hiom rất muốn các chương trình tầm soát ung thư được nhanh chóng khởi động lại, nhưng bà cũng hy vọng đưa ra thông điệp rằng bệnh ung thư cần phải được xử lý càng sớm càng tốt – và hy vọng rằng bệnh nhân sẽ bắt đầu lại các cuộc hẹn khám sức khỏe định kỳ trong những tháng tới.

“Ung thư giai đoạn cuối phức tạp hơn nhiều, liên lụy đủ thứ và chi phí điều trị vô cùng tốn kém, theo mọi nghĩa của từ này,” bà nói. “Tốn kém cho bệnh nhân, tốn kém cho cả Cơ quan Y tế Công Anh Quốc.”

Trong khi đó, Howard chỉ ra một danh sách những việc mà kinh tế gia thường trú của WFP đã khuyến nghị.

Trong số này có những việc từ trợ giúp chính phủ trong việc cung cấp các biện pháp an toàn cho người dân – chẳng hạn như tiếp tục cung cấp bữa ăn miễn phí cho học sinh ở trường, dù cho các trường học đóng cửa – cho đến việc duy trì hoạt động của chuỗi cung ứng hàng hóa và tránh các rào cản thương mại.

“Những điều nhỏ nhặt có thể sẽ đem lại những tác động thực sự to lớn,” bà nói.

“Ví dụ, nếu bạn khăng khăng rằng các tài xế xe tải quốc tế phải cách ly, thì chuỗi cung ứng sẽ bị phá vỡ hoàn toàn. Vì vậy, ở miền nam châu Phi, chúng tôi đã thuyết phục các chính phủ cấp giấy đi đường cho các hãng vận chuyển hợp đồng nhất định, nhằm đảm bảo cho tài xế của họ có quyền đi qua các nơi, chở hàng hóa tới đúng địa chỉ cần thiết mà không bị cản trở gì.”

Bài tiếng Anh đã đăng trên BBC Future.

Categories: Kien-thuc Y-Khoa | Leave a comment

Cảnh báo: Bị hoại tử vùng cơ hậu môn và tầng sinh môn vì tự ý dùng thuốc nam để chữa trĩ

Cảnh báo: Bị hoại tử vùng cơ hậu môn và tầng sinh môn vì tự ý dùng thuốc nam để chữa trĩ

Thái Bình | 

Cảnh báo: Bị hoại tử vùng cơ hậu môn và tầng sinh môn vì tự ý dùng thuốc nam để chữa trĩ

Bệnh nhân Trần Thị Kh, 31 tuổi, quê ở Bắc Giang, mắc bệnh trĩ 11 năm nay. Tuy nhiên, bệnh nhân không đến cơ sở y tế điều trị mà tự ý bôi thuốc nam khoảng 2 tuần nay. Việc “tự ý làm bác sĩ” khiến bệnh tình không tiến triển, thậm chí gây hoại tử vùng cơ hậu môn và tầng sinh môn.

Theo lời chia sẻ của chồng bệnh nhân, chị Kh bị bệnh trĩ nhiều năm nay, chưa từng đi khám, chữa ở cơ sở y tế. Khoảng 1 tháng nay, chị Kh thấy đau rát nhiều, đi vệ sinh khó khăn, trĩ có biểu hiện sưng to hơn.

Chị Kh được bạn giới thiệu sử dụng thuốc nam. Khi bôi, thuốc chảy rớt xuống vùng hậu môn khiến chị thấy đau rát, bỏng và loét vùng hậu môn.

Thật không may, sau khi dùng thuốc, búi trĩ không những không khỏi mà trĩ sa to nhiều hơn, kèm theo đau rát. Đến khi búi trĩ có nhiều điểm tím đen thì gia đình mới đưa bệnh nhân đến Bệnh viện TW quân đội 108 để thăm khám.

Cảnh báo: Bị hoại tử vùng cơ hậu môn và tầng sinh môn vì tự ý dùng thuốc nam để chữa trĩ - Ảnh 1.

Các bác sĩ Bệnh viện TW Quân đội 108 tiến hành phẫu thuật cắt lọc búi trĩ hoại tử cho bệnh nhân

Qua thăm khám, bác sỹ Bệnh viện TW Quân đội 108 chẩn đoán bệnh nhân bị trĩ hỗn hợp độ IV, hoại tử rộng vùng cơ hậu môn và tầng sinh môn. Các bác sỹ đã cắt lọc búi trĩ hoại tử, làm hậu môn nhân tạo đại tràng sigma, sau đó tiếp tục điều trị ngâm rửa để chờ phẫu thuật những lần tiếp theo.

PGS.TS Triệu Triều Dương – Viện trưởng Viện Phẫu thuật tiêu hóa cho biết, bệnh nhân Kh cần phải phẫu thuật nhiều lần mới hy vọng cải thiện một phần chức năng tự chủ của hậu môn.

“Di chứng rất nặng nề sau điều trị nguy cơ bệnh nhân bị hẹp hậu môn, rối loạn chức năng hậu môn do tổn thương cơ thắt hậu môn và có thể phải tạo hình cơ thắt hậu môn bằng cơ thon”- PGS.TS Triệu Triều Dương nói

Còn bệnh nhân Trần Thị Kh, thì tự trách mình đã vội vã không tìm hiểu kỹ đã nghe lời mách bảo tự ý “làm bác sĩ”. “Bây giờ, tôi nằm cũng đau, ngồi cũng đau”- bệnh nhân Kh. chia sẻ.

Theo các chuyên gia, những bệnh nhân trĩ thường kèm theo các bệnh lý vùng hậu môn trực tràng như sa sàn chậu, rò hậu môn, áp xe hậu môn, nứt kẽ hậu môn, u trực tràng, sa niêm mạc trực tràng, sa sinh dục, táo bón, són tiểu,… Do đó, bệnh nhân cần được khám một cách tỉ mỉ, tổng thể để có một phương án điều trị tốt nhất.

Tại khoa Phẫu thuật Hậu môn trực tràng, các bác sỹ đã và đang áp dụng các phương pháp điều trị như: thắt trĩ bằng vòng cao su, khâu treo triệt mạch trĩ, cắt trí bằng các dụng cụ dao hàn mạch, dao siêu âm, laser, phẫu thuật cắt trĩ Longo,… Sau phẫu thuật, bệnh nhân được hướng dẫn chi tiết chế độ ăn uống, luyện tập vùng sàn chậu và theo dõi định kỳ kết hợp với bổ trợ bằng thuốc mới hy vọng khỏi bệnh.

PGS.TS Triệu Triều Dương cũng khuyến cáo người dân cần trang bị kiến thức, tìm hiểu thuốc trước khi sử dụng. Hiện nay, các phương pháp không rõ nguồn gốc, thiếu cơ sở khoa học, nhiều người dân đã tin dùng và gây ra hậu quả nghiêm trọng. Như trường hợp của bệnh nhân Kh, hậu quả để lại nặng nề, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống.

“Những bệnh nhân mắc bệnh vùng hậu môn trực tràng, trong đó có bệnh trĩ cần đến khám ở các cơ sở y tế chuyên về hậu môn – trực tràng để có chẩn đoán một cách chính xác, đầy đủ và đưa ra phương án điều trị tốt nhất”- TS Triệu Triều Dương khuyến cáo.

theo Sức khỏe đời sống

Categories: Kien-thuc Y-Khoa | Leave a comment

50% trường hợp mắc đột quỵ sẽ tử vong, hãy cẩn trọng nếu bạn thuộc 8 đối tượng có nguy cơ đột quỵ cao này

50% trường hợp mắc đột quỵ sẽ tử vong, hãy cẩn trọng nếu bạn thuộc 8 đối tượng có nguy cơ đột quỵ cao này

Hoàng Lân | 

50% trường hợp mắc đột quỵ sẽ tử vong, hãy cẩn trọng nếu bạn thuộc 8 đối tượng có nguy cơ đột quỵ cao này

Gia đình có người bị đột quỵ, mắc cao huyết áp, tiểu đường, tim mạch, cholesterol trong máu cao, nghiện thuốc lá… là những đối tượng có nguy cơ đột quỵ cao.

Đột quỵ là bệnh lý tổn thương một phần cơ quan của não xảy ra đột ngột do mạch máu nuôi dưỡng bị tắc nghẽn hoặc vỡ. Bệnh thường đến rất bất ngờ, đôi khi không có dấu hiệu báo trước nào, gây ảnh hưởng tới sức khỏe, thay đổi cuộc sống của người bệnh theo chiều hướng tiêu cực.

Bất kỳ ai ở bất kỳ lúc nào đều có khả năng mắc bệnh, tuy nhiên, một số nhóm người có nguy cơ mắc bệnh đột quỵ cao hơn những người khác. Những nhóm người đó thường là:

Gia đình có người có tiền sử bị bệnh có nguy cơ mắc bệnh đột quỵ cao hơn

Nếu trong gia đình có người thân từng bị đột quỵ, bạn có thể có nguy cơ đột quỵ cao hơn. Nguyên do là bởi thói quen sinh hoạt, đặc biệt là ăn uống của những người trong gia đình giống nhau.

Ngoài ra, yếu tố di truyền cũng góp phần không nhỏ trong những trường hợp này. Vậy nên, nếu trong nhà bạn có người không may mắn bị đột quỵ, hãy điều chỉnh là chế độ ăn và sinh hoạt để đảm bảo sức khoẻ cho những người còn lại.

Những người mắc bệnh đái tháo đường

Đái tháo đường là một bệnh mạn tính, thường diễn tiến âm thầm, dễ dẫn đến các biến chứng về tim mạch, tổn thương thần kinh, mắt, thận… Người bị đái tháo đường có nguy cơ đột quỵ cao hơn từ 2 đến 4 lần so với người bình thường.

Người mắc bệnh cao huyết áp

Huyết áp cao là nguyên nhân dẫn đến các bệnh về mạch máu, trong đó có bệnh tim và não, có thể dẫn đến sự phát triển của những mạch máu khiếm khuyết, hình dạng bất thường. Chúng có thể bị vỡ nếu nó bị tác động bởi sự thay đổi huyết áp lớn.

Nồng độ cholesterol trong máu cao

Nồng độ cholesterol cao có thể hủy hoại các lớp áo trong của mạch máu trên khắp cơ thể, đặc biệt là tim và não. Cholesterol có xu hướng hình thành và gây xơ cứng mạch máu, tăng nguy cơ máu bị đóng cục, cản trở việc cung cấp máu lên não.

Người có bệnh lý về tim mạch

Rung nhĩ, nhồi máu cơ tim, suy tim… là những nhóm bệnh lý về tim mạch, gây khó khăn, thậm chí là ngừng trệ quá trình tuần hoàn, khiến não thiếu máu dẫn đến đột quỵ, những người có các bệnh lý này thường có nguy cơ đột quỵ rất cao.

Thường xuyên hút thuốc lá gây viêm trong mạch máu, có thể hình thành cục máu đông, tăng nguy cơ đột quỵ. Theo nghiên cứu, những người hút thuốc lá hai gói thuốc một ngày có nguy cơ bị đột quỵ cao gấp 5 lần. Bỏ thuốc lá là lựa chọn tốt nhất để giảm thiểu nguy cơ đột quỵ.

Người hay bị stress

Nguy cơ đột quỵ cao cũng xuất hiện ở nhóm người hay bị stress. Những nghiên cứu từ Đại học Edinburgh, Scotland, Vương Quốc Anh chỉ ra tình trạng stress ở mức độ thấp cũng có thể làm tăng nguy cơ đau tim, nguy cơ đột quỵ lên đến 20%, con số này tăng lên gấp đôi nếu người bệnh thường xuyên stress với triẹu chứng lo âu, trầm cảm.

Người ngủ quá ít

Đây là tình trạng phổ biến trong xã hội hiện nay, khi nhịp sống nhanh, công việc nhiều khiến người trẻ phải thức khuya cho công việc hoặc dành thời gian cho bản thân. Nguyên nhân khiến những người ngủ quá ít có nguy cơ mắc bệnh đột quỵ là do sự thay đổi nồng độ cortisol cao hơn ở người ngủ ít. Nồng độ hormone này tăng có thể gây rối loạn chức năng tế bào lót bảo vệ mạch máu và cảnh báo một đợt tai biến dẫn tới đột quỵ

Theo Sức khoẻ hàng ngày

theo Trí thức trẻ

Categories: Kien-thuc Y-Khoa | Leave a comment

Mỗi ngày nên uống bao nhiêu nước?

Mỗi ngày nên uống bao nhiêu nước?

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES

Hồi đầu Thế kỷ 19, con người ta phải đến khi cận kề cái chết rồi mới chịu uống nước. Chỉ những ai “túng thiếu đến mức cùng quẫn mới phải dùng nước để làm dịu cơn khát”, theo Vincent Priessnitz, người sáng lập phương thức thủy liệu pháp, còn được biết đến với cái tên “dùng nước chữa lành bệnh”.

Ông nói thêm, nhiều người chưa bao giờ uống quá 290ml nước hết luôn trong một lần.

‘Tình yêu từ cái nhìn đầu tiên’ có tồn tại không

Mẹo giúp chạy bộ nhanh và khỏe hơn

Điều gì xảy ra khi nhân loại không còn gì để ăn

Mọi thứ nay đã thay đổi. Ngày nay, người trưởng thành ở Anh uống nhiều nước hơn so với những năm trước, và gần đây, ở Mỹ doanh số bán nước đóng chai đã vượt qua doanh số soda.

Chúng ta thường xuyên nhận được những tin kiểu như uống vài lít nước mỗi ngày là bí quyết để có sức khỏe tốt, tràn đầy năng lượng hơn, có làn da mịn màng, và rằng uống nhiều nước sẽ giúp giảm cân, tránh ung thư.

Mọi người được khuyến khích mang theo chai nước khi đi tàu điện ngầm ở Luân Đôn, học sinh được khuyên nên mang nước khi đi học, và hiếm có cuộc họp văn phòng nào lại bắt đầu khi chưa có một bình nước lớn đặt giữa bàn.

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionNhiều người trong chúng ta tin rằng chúng ta nên uống ít nhất tám ly nước mỗi ngày

Thói quen uống nhiều nước được đẩy mạnh lên là nhờ “quy tắc 8×8”: lời khuyên bất thành văn theo đó nói ta nên uống tám ly nước 240ml mỗi ngày, tức là tổng cộng tới gần hai lít, nhiều hơn so với bất kỳ đồ uống nào khác.

Ăn gì để không bị trầm cảm

Con người uống sữa bò có hợp lẽ tự nhiên?

Cách ăn uống, vi khuẩn đường ruột và sức khoẻ

Tuy nhiên, quy tắc trên không hề được chứng minh bằng các nghiên cứu khoa học. Các chỉ dẫn chính thức của Anh và Liên hiệp châu Âu cũng không hề nói là ta cần phải uống nhiều đến vậy.

Vậy quy tắc này bắt nguồn từ đâu? Nhiều khả năng là từ việc diễn giải sai hai chỉ dẫn vốn được đưa ra từ vài thập niên trước.

Năm 1945, Hội đồng Thực phẩm và Dinh dưỡng Hoa Kỳ thuộc Uỷ ban Nghiên cứu Quốc gia khuyên người trưởng thành nên tiêu thụ một millilittre chất lỏng cho mỗi calorie thực phẩm, tương đương với hai lít cho phụ nữ với khẩu phần 2.000 calories/ngày và hai lít rưỡi cho nam giới, cần 2.500 calories/ngày.

Định lượng này không chỉ là tính riêng nước, mà bao gồm hầu hết các loại đồ uống khác – kể cả trái cây và rau quả, vốn có thể chứa tới 98% nước.

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTrong lời khuyên ban đầu, khối lượng phân bố chất lỏng hàng ngày của bạn có thể bao gồm trái cây và rau quả

Vào năm 1974, cuốn sách “Dinh dưỡng cho sức khỏe tốt” của các đồng tác giả Margaret McWilliams và Frederick Stare khuyến nghị rằng trung bình một người trưởng thành nên uống từ sáu đến tám ly nước mỗi ngày. Nhưng, như các chuyên gia dinh dưỡng này viết trong sách, sáu đến tám ly nước bao gồm cả trái cây và rau, nước uống có caffein và nước ngọt, thậm chí kể cả bia.

Chế độ ăn kiểu Nhật giúp ‘trường sinh bất lão’?

Nên dùng men vi sinh sau khi dùng kháng sinh?

Muỗi có say không sau khi hút máu người say

Nước dĩ nhiên cực kỳ quan trọng. Chiếm khoảng hai phần ba trọng lượng cơ thể chúng ta, nước mang chất dinh dưỡng và hỗ trợ đào thải chất độc, điều chỉnh thân nhiệt, hoạt động như một chất bôi trơn và giảm xóc trong khớp xương, đồng thời đóng vai trò trong hầu hết các trao đổi hóa học xảy ra bên trong cơ thể chúng ta.

Chúng ta không ngừng mất nước qua mồ hôi, hơi thở và nước tiểu. Đảm bảo chúng ta có đủ nước là một sự cân bằng tốt và tránh mất nước là điều quan trọng.

Sẽ bị coi là mất nước khi ta bị tiêu hao từ 1-2% lượng nước trong cơ thể và tiếp tục bị tiêu hao cho đến khi ta nạp chất lỏng vào. Trong các trường hợp hiếm gặp, tình trạng mất nước có thể gây tử vong.

Trong suốt nhiều năm, quy tắc 8×8 vô căn cứ khoa học đã khiến chúng ta tin rằng cảm thấy khát có nghĩa là chúng ta đã mất nước một cách nguy hiểm rồi. Song các chuyên gia đều đồng ý phần lớn rằng chúng ta không cần nhiều chất lỏng hơn số lượng mà cơ thể ra chỉ dấu báo hiệu, và rằng khi cơ thể cần tự khắc sẽ nảy sinh cảm giác khát nước.

“Sự kiểm soát của quá trình dung nạp nước là một trong những khâu tinh vi nhất mà loài người chúng ta đã phát triển trong quá trình tiến hóa kể từ khi tổ tiên chúng ta từ biển chuyển lên sống trên đất liền. Chúng ta dùng rất nhiều kỹ thuật tinh vi để đảm bảo duy trì đầy đủ nước cho cơ thể,” ông Irwin Rosenburg, khoa học gia cao cấp tại Phòng thí nghiệm thần kinh và lão hóa thuộc Đại học Tufts ở Massachusetts, nói.

Trong một cơ thể khỏe mạnh, não phát hiện ngay khi cơ thể bắt đầu cần nước và chúng ta sẽ có cảm giác khát để kích thích uống vào. Cơ thể cũng đồng thời tiết ra một loại hormone báo hiệu cho thận để dành nước bằng cách hấp thụ lại nước trong nước tiểu.

“Nếu bạn để ý lắng nghe cơ thể mình, nó sẽ nói cho bạn biết khi bạn khát,” Courtney Kipps, bác sĩ thể thao và là người giảng dạy chính tại Trung tâm Y dược, Tậy luyện và Y tế Thể thao và Đại học UCL, đồng thời là người phụ trách vấn đề y tế của cuộc đua ba môn phối hợp Blenheim and London, nói.

“Theo lời khuyên huyền thoại trên, khi bạn cảm thấy khát nước là lúc đã quá muộn, và nó được dựa trên giả định rằng cảm giác khát là một cảnh báo muộn màng đối với tình trạng thiếu hụt chất lỏng. Nhưng tại sao mọi cơ chế cảnh báo khác trong cơ thể luôn hoàn hảo mà cảm giác khát lại không hoàn hảo? Cơ chế cảnh báo của cơ thể đã luôn làm việc tuyệt hảo trong hàng ngàn năm tiến hóa của loài người cơ mà.”

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionNước là lựa chọn tốt nhất cho sức khỏe, nhưng trà, cà phê và thậm chí cả đồ uống có cồn cũng góp phần cung cấp nước cho cơ thể

Đương nhiên, nước luôn là lựa chọn tốt nhất cho sức khỏe vì nó không sinh ra calorie, song các loại đồ uống khác cũng giúp cung cấp nước cho chúng ta, bao gồm cả trà và cà phê.

Mặc dù chất caffeine có gây ra lợi tiểu nhẹ, nghiên cứu chỉ ra rằng trà và cà phê vẫn góp phần cung cấp nước cho cơ thể – cả đồ uống có cồn cũng vậy.

Uống để tốt cho sức khỏe

Không có mấy bằng chứng cho thấy việc uống nước nhiều hơn nhu cầu của cơ thể sẽ mang lại bất kỳ lợi ích gì trừ việc tránh mất nước.

Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy việc tránh để rơi vào giai đoạn đầu của tình trạng mất nước nhẹ sẽ đem đến một số lợi ích quan trọng. Chẳng hạn như một số nghiên cứu cho thấy việc uống đủ để tránh mất nước nhẹ giúp hỗ trợ chức năng hoạt động của não và cải thiện khả năng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể, như giải quyết vướng mắc vấn đề.

Một số nghiên cứu nói rằng việc uống chất lỏng có thể giúp kiểm soát trọng lượng cơ thể.

Brenda Davy, giáo sư dinh dưỡng, thực phẩm và thể dục thể thao tại Đại học Bách khoa Virginia, Hoa Kỳ, đã tiến hành một vài nghiên cứu về mối liên hệ giữa việc uống chất lỏng và trọng lượng cơ thể.

Trong một nghiên cứu, bà đã phân bổ ngẫu nhiên các đối tượng tham gia vào một trong hai nhóm. Cả hai nhóm đều được yêu cầu thực hiện chế độ ăn uống lành mạnh trong ba tháng, nhưng một nhóm sẽ uống một ly nước 500ml nửa giờ trước mỗi bữa ăn. Kết quả nhóm có uống nước giảm cân nhiều hơn nhóm kia.

Cả hai nhóm đều được yêu cầu thực hiện mục tiêu đi 10.000 bước mỗi ngày và kết quả là những người có uống ly nước 500ml trước mỗi bữa ăn tuân thủ yêu cầu tốt hơn.

Davy suy đoán rằng việc mất nước nhẹ, khoảng 1-2%, là khá phổ biến và nhiều người dường như không hề nhận ra mình đang trong tình trạng mất nước nhẹ – cho dù thậm chí mức độ nhẹ này đã có thể ảnh hưởng đến mức cân bằng tâm trạng và năng lượng của con người.

Thế nhưng Barbara Rolls, giáo sư chăm sóc y tế đặc biệt tại Đại học UCL ở London, nói rằng các trường hợp giảm cân liên quan đến việc uống nước nhiều khả năng là do nước đã được dùng thay thế cho thức uống có đường.

“Quan niệm rằng uống đầy bụng nước trước bữa ăn sẽ làm tan chảy cả kí lô trọng lượng cơ thể không phải là hay; nước không chứa calorie, cho nên nó sẽ trôi rất nhanh khỏi dạ dày. Nhưng nếu bạn tiêu thụ nhiều nước hơn thông qua thực phẩm ăn vào, chẳng hạn như súp, thì nó sẽ làm bạn no vì nước được bao chứa cùng với thức ăn sẽ lưu lại trong dạ dày lâu hơn,” bà Barbara nói.

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionNhiều người trong chúng ta không nhận ra mình đang trong tình trạng mất nước nhẹ

Một lợi ích sức khỏe khác được cho là của việc uống nhiều nước là cải thiện làn da và giữ ẩm tốt hơn. Nhưng điều này thiếu bằng chứng khoa học đáng tin cậy.

Quá tải hàng tốt thì sao?

Những ai đang uống tám ly nước mỗi ngày thì cứ yên tâm, bạn đang không gây hại gì cho bản thân. Nhưng quan niệm cho rằng chúng ta cần uống nhiều nước hơn so với nhu cầu cơ thể đôi khi có thể dẫn đến tình trạng trở nên nguy hiểm.

Nạp quá nhiều chất lỏng có thể trở nên nghiêm trọng khi dẫn đến việc làm loãng natri trong máu. Điều này gây ra phù não và sưng phổi vì chất lỏng phải dịch chuyển để cố cân bằng nồng độ natri trong máu.

Trong độ chừng một thập kỷ vừa qua, Kipps biết rằng ít nhất có 15 trường hợp vận động viên đã chết do uống quá nhiều nước khi tham gia các sự kiện thể thao. Bà nghi ngờ những trường hợp này một phần là do chúng ta không tin tưởng vào cơ chế báo hiệu khát của chính cơ thể mình và cho rằng cần phải uống nhiều hơn so với nhu cầu của cơ thể.

“Các y tá và bác sĩ tại bệnh viện hay gặp những bệnh nhân bị mất nước trầm trọng, những người trong tình trạng sức khỏe nghiêm trọng, hoặc những người đã không được uống nước trong nhiều ngày. Tuy nhiên, những trường hợp này khác hoàn toàn so với tình trạng mất nước mà mọi người nghĩ tới trong cuộc đua marathon,” bà nói.

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionChúng ta thường không để ý, song việc nạp quá nhiều chất lỏng có thể gây ra tình trạng nguy hiểm

Johanna Pakenham tham gia chạy giải London Marathon 2018, là cuộc đua diễn ra trong thời gian nhiệt độ nóng tới mức kỷ lục. Nhưng cô hầu như không nhớ gì về giải đua đó bởi cô đã uống quá nhiều nước trong lúc chạy, khiến cơ thể rơi vào tình trạng dư thừa nước. Cô đã được đưa đi bệnh viện cấp cứu ngay hôm đó.

“Người bạn và bồ tôi nghĩ rằng tôi bị mất nước, thế là họ đưa cho tôi một ly nước lớn. Tôi đã ngất lịm đi, tim ngừng đập. Tôi được đưa đến bệnh viện bằng máy bay và bất tỉnh từ tối Chủ Nhật cho đến thứ Ba,” cô kể lại.

Pakenham, vốn định sẽ lại tham gia giải marathon một lần nữa trong năm nay, nói rằng lời khuyên cho sức khỏe được bạn bè đưa ra và trên áp phích cổ động marathon vẫn là uống nhiều nước.

“Tất cả những gì cần để giúp tôi ổn khi đó là một vài viên thuốc điện giải, thứ làm tăng nồng độ natri trong máu. Tôi đã tham gia chạy vài giải marathon trước đó, vậy mà tôi đã không hề biết điều này,” cô nói.

“Tôi thực sự muốn mọi người hiểu rằng có những thứ tuy rất đơn giản, nhưng lại có thể gây chết người.”

Uống bao nhiêu là vừa đủ?

Ý kiến cho rằng chúng ta phải liên tục duy trì lượng nước trong cơ thể làm cho nhiều người mang theo nước mọi lúc mọi nơi và uống nhiều hơn mức cơ thể đòi hỏi.

“Tối đa một người ở nhiệt độ nóng nhất ngay giữa sa mạc có thể đổ 2 lít mồ hôi trong một giờ, song điều đó thực sự khó xảy ra trên thực tế,” Hugh Montgomery, giám đốc nghiên cứu của Viện nghiên cứu Sức khỏe, Thể dục và Thể thao ở London, nói.

“Việc mang theo khoảng 500ml nước cho hành trình 20 phút khi đi tàu điện ngầm ở là quá nhiều – bạn sẽ không bao giờ bị nóng đến mức phải toát mồ hôi tới cỡ đó, kể cả khi mồ hôi chảy ròng ròng.”

Đối với những người không buồn tuân thủ các chỉ dẫn chính thức mà thích thuận theo nhu cầu cơ thể thì NHS của Anh khuyên nên uống từ sáu đến tám ly chất lỏng mỗi ngày, trong đó bao gồm sữa ít béo và đồ uống không đường, và tính gồm cả trà và cà phê.

Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionNHS khuyên nên uống từ sáu đến tám ly chất lỏng mỗi ngày, tính cả trà và cà phê

Một điều không kém quan trọng cần phải nhớ là các cơ chế cảnh báo cơn khát của chúng ta trở nên kém nhạy cảm dần khi chúng ta trên 60 tuổi.

“Khi chúng ta có tuổi, cơ chế cảnh báo cơn khát tự nhiên của cơ thể trở nên kém nhạy cảm hơn và chúng ta dễ bị mất nước hơn so những người trẻ. Khi già đi, chúng ta có thể cần phải chú ý hơn đến thói quen nạp chất lỏng để giữ cho cơ thể đủ nước,” bà Davy nói.

Hầu hết các chuyên gia đều đồng ý rằng nhu cầu về chất lỏng ở mỗi người là khác nhau tùy thuộc vào độ tuổi, kích thước cơ thể, giới tính, môi trường và mức độ hoạt động thể chất riêng của người đó.

“Một trong những sai lầm của quy tắc 8×8 là đã đơn giản hoá quá mức, tới mức cứng nhắc về cách thức chúng ta phản ứng ra sao đối với môi trường sống xung quanh,” Rhenburg nói. “Chúng ta cần phải coi nhu cầu chất lỏng trong cơ thể người giống như nhu cầu về năng lượng.”

Hầu hết các chuyên gia có xu hướng đồng ý rằng chúng ta không cần phải lo lắng về việc cần uống đủ một lượng nước nhất định mỗi ngày: cơ thể chúng ta sẽ lên tiếng báo hiệu khi chúng ta khát, tương tự như khi chúng ta đói hoặc mệt vậy.

Có vẻ như ích lợi duy nhất cho sức khoẻ khi bạn uống nhiều hơn nhu cầu cơ thể là việc bạn sẽ tiêu tốn nhiều calorie hơn, bởi bạn sẽ phải chạy vào toilet thường xuyên hơn.

Bài tiếng Anh đã đăng trên BBC Future.

Categories: Kien-thuc Y-Khoa | Leave a comment

Thực phẩm “kẻ thù” của người bị mỡ máu, huyết áp, tiểu đường cao: Ăn vào bệnh sẽ nặng thêm

Thực phẩm “kẻ thù” của người bị mỡ máu, huyết áp, tiểu đường cao: Ăn vào bệnh sẽ nặng thêm

Vân Hồng | 

Thực phẩm "kẻ thù" của người bị mỡ máu, huyết áp, tiểu đường cao: Ăn vào bệnh sẽ nặng thêm

Khi khỏe mạnh, bạn có thể ăn mọi thứ, nhưng khi có bệnh, thực phẩm là “kẻ thù” tấn công sức khỏe. Đây là danh sách những món ăn nên tránh nếu bạn bị huyết áp, mỡ máu, tiểu đường.

Bệnh mãn tính xuất phát từ thói quen ăn uống xấu, không lành mạnh

Theo các bác sĩ khuyến nghị trên kênh Sức khỏe/Sohu cho thấy, bệnh “tam cao” được cho là nhóm nguy cơ cao tấn công sức khỏe và gây tử vong hàng đầu hiện nay. Đặc biệt là ở nhóm người cao tuổi.

“Tam cao” là khái niệm chỉ 3 nhóm bệnh gồm huyết áp cao, mỡ máu cao và đường huyết cao. Nếu những người thuộc đối tượng này muốn tránh xa cơn đau tim và nhồi máu não thì tốt nhất không nên ăn hoặc hạn chế, ăn uống có kiểm soát đặc biệt những thực phẩm được khuyến cáo sau đây.

Khi bạn bị tăng lipid máu, tăng huyết áp và tăng đường huyết, thông qua kết quả xét nghiệm và khám sức khỏe định kỳ, nếu không khống chế và điều trị hiệu quả có thể dẫn đến nguy cơ chính của nhồi máu cơ tim và nhồi máu não.

Điều này là do lipid máu và huyết áp cao có thể gây ra sự hình thành mảng bám, gây tắc nghẽn mạch máu. Từ đó có thể xuất hiện các bệnh như nhồi máu cơ tim, đột quỵ, nhồi máu não…

Do đó, nếu bạn muốn ngăn ngừa chứng nhồi máu cơ tim, điều rất quan trọng là phải kiểm soát bệnh tam cao ngay từ nguồn.

Nếu bạn muốn kiểm soát hiệu quả, trước hết phải kiểm soát chế độ ăn uống, không ăn quá nhiều thực phẩm có thể thúc đẩy hình thành mỡ máu, thực phẩm có thể gây tăng huyết áp. Đặc biệt, sau đây là danh sách “thủ phạm” của bệnh tam cao, tốt nhất không nên ăn nếu bạn bị bệnh nặng, hoặc ăn hạn chế, kiểm soát số lượng ở mức an toàn.

Thực phẩm kẻ thù của người bị mỡ máu, huyết áp, tiểu đường cao: Ăn vào bệnh sẽ nặng thêm - Ảnh 1.

5 nhóm thực phẩm bạn không nên ăn nếu đang có các chỉ số cao

1, Thịt xông khói và các món thịt nguội chế biến sẵn

Thịt xông khói không chỉ có hàm lượng chất béo và muối quá cao mà còn sử dụng rất nhiều muối để tiêu diệt nhiều nguyên tố vi lượng, protein và các chất khác trong quá trình sản xuất.

Một miếng thịt xông khói sau khi chế biến sẽ giữ lại một lượng muối lớn. 500g thịt xông khói sẽ có hàm lượng muối khoảng 6,5g hoặc hơn, và người các chuyên gia khuyến cáo rằng lượng muối ăn hàng ngày chỉ nên là 5g.

Nếu ăn các món chế biến sẵn này, rất dễ vượt mức muối ăn hàng ngày, dẫn đến khó kiểm soát huyết áp.

Thực phẩm kẻ thù của người bị mỡ máu, huyết áp, tiểu đường cao: Ăn vào bệnh sẽ nặng thêm - Ảnh 2.

2, Thịt lợn phần mỡ

Hàm lượng chất béo của thịt lợn chứa mỡ đặc biệt cao, lên tới 75,5%. Nếu bạn ăn chất béo trong một thời gian dài sẽ dẫn đến sự tích tụ chất béo trong cơ thể, gây béo phì, khiến mạch máu dày hơn, chất máu đậm đặc và dễ gây tắc nghẽn mạch máu.

Thực phẩm kẻ thù của người bị mỡ máu, huyết áp, tiểu đường cao: Ăn vào bệnh sẽ nặng thêm - Ảnh 3.

3, Trứng vịt

Trứng vịt tươi, đặc biệt là trứng vịt muối thường có hàm lượng muối không ít hơn so với thịt xông khói, mỗi quả trứng vịt muối khoảng 100g thường chứa 2g muối, ăn quá nhiều trứng vịt muối sẽ dẫn đến lượng muối ăn vào cơ thể quá nhiều.

Vì vậy, bạn nên kiểm soát lượng muối “ẩn náu” trong các món ăn mà chúng ta vẫn ăn hàng ngày.

Thực phẩm kẻ thù của người bị mỡ máu, huyết áp, tiểu đường cao: Ăn vào bệnh sẽ nặng thêm - Ảnh 4.

4, Rượu trắng

Uống rượu không chỉ gây ra các vấn đề nghiêm trọng cho sức khỏe tim mạch như nhịp tim nhanh, co mạch dẫn đến huyết áp cao, mà còn gây ra biến động lớn về đường huyết sau ăn.

Triệu chứng tăng đường huyết có thể gây tổn hại đến an toàn môi trường mạch máu và dễ dẫn đến nhiều biến chứng của bệnh tiểu đường.

Thực phẩm kẻ thù của người bị mỡ máu, huyết áp, tiểu đường cao: Ăn vào bệnh sẽ nặng thêm - Ảnh 5.

5, Bơ (động vật)

Bơ là một trong những thực phẩm được ăn nhiều nhất ở nước ngoài. Nhưng thời gian gần đây, chúng ta đã tăng cường hơn lượng bơ sử dụng trong chế biến thực phẩm và các món đồ ăn sẵn khi đi ra ngoài.

Lượng chất béo ẩn chứa trong bơ là rất cao. Nếu bạn ăn bơ và ăn kèm nhiều rau xanh như người nước ngoài thì không ảnh hưởng lớn, nhưng nếu bạn ăn bơ mà ăn ít rau thì nguy cơ dư thừa chất béo sẽ rất cao.

Khi bạn không có thói quen ăn nhiều rau sẽ dẫn đến mất cân bằng dinh dưỡng, vô tình hấp thụ quá nhiều chất béo sau khi ăn bơ và các sản phẩm có chứa bơ như bánh kẹo, kem.

Thực phẩm kẻ thù của người bị mỡ máu, huyết áp, tiểu đường cao: Ăn vào bệnh sẽ nặng thêm - Ảnh 6.

6, Lòng đỏ trứng

Lòng đỏ trứng rất giàu cholesterol, lecithin và các chất khác. Đối với những người có tình trạng dinh dưỡng kém như trẻ em, người yếu thì đây có thể là món ăn tốt để bổ sung dinh dưỡng.

Tuy nhiên, do chức năng tiêu hóa của người già hoặc người bệnh tam cao đã bị ảnh hưởng, quá trình chuyển hóa nhiều chất có thể sẽ bị chậm lại so với người bình thường.

Vì vậy, nếu ăn quá nhiều lòng đỏ trứng mà không chuyển hóa, hấp thụ hết sẽ làm cho cholesterol tích lũy trong các mạch máu, gây ra sự hình thành các cục máu đông (huyết khối), không tốt cho sức khỏe tổng thể và việc ngăn ngừa bệnh mỡ máu, huyết áp cao.

Thực phẩm kẻ thù của người bị mỡ máu, huyết áp, tiểu đường cao: Ăn vào bệnh sẽ nặng thêm - Ảnh 8.

*Dịch từ Health/Sohu

theo Trí Thức Trẻ

Categories: Kien-thuc Y-Khoa | Leave a comment

Uống nước thế nào cho đúng: Chuyên gia phân tích loại nước tốt nhất bạn nên uống hàng ngày

Uống nước thế nào cho đúng: Chuyên gia phân tích loại nước tốt nhất bạn nên uống hàng ngày

Vân Hồng | 

Uống nước thế nào cho đúng: Chuyên gia phân tích loại nước tốt nhất bạn nên uống hàng ngày

Chúng ta uống nước hàng ngày và hầu như ít người quan tâm loại nhiệt độ nào là tốt nhất khi uống. Đây là phân tích của chuyên gia và bạn nên tham khảo để chọn cách uống tốt nhất.

Theo thông tin đăng trên báo Thanh niên Bắc Kinh (TQ), Bác sĩ Phó Dục, Khoa Nội tiết, Bệnh viện Triều Dương Bắc Kinh (TQ) cho biết, việc uống nước mỗi ngày thường sẽ được coi là chuyện đơn giản, chẳng ai phải quá bận tâm về nó.

Nhưng theo ông, uống nước đúng cách cũng có thể thay đổi tình trạng sức khỏe của bạn một cách đặc biệt.

Nếu người coi trọng nhiệt độ của nước uống, cũng có thể tạo ra được những giá trị nhất định cho sức khỏe tổng thể của bạn.

Thời gian gần đây xuất hiện rất nhiều cây nước nóng ở khắp mọi nơi, nên nhiều người đã hình thành thói quen uống nước nóng. Nhưng ở một số nơi, người dân lại hình thành thói quen uống nước lạnh.

Trên thực tế, câu hỏi đặt ra là, uống nước nóng tốt hơn hay uống nước lạnh tốt hơn? Mỗi loại nước lại có những tác dụng riêng đối với sức khỏe, và đây là thông tin phân tích chi tiết để bạn lựa chọn loại nước thích hợp nhất với nhu cầu của mình.

Uống nước thế nào cho đúng: Chuyên gia phân tích loại nước tốt nhất bạn nên uống hàng ngày - Ảnh 1.

Nước lạnh: 2-10 ° C

Nhiệt độ của nước lạnh thường là dưới 10 ° C và nước lạnh thay đổi tùy theo lượng nước đá, thường là 0 ° C. Loại nhiệt độ nước này rất khác với nhiệt độ cơ thể con người, vì vậy nó sẽ gây ra phản ứng sinh lý mạnh sau khi uống.

Sau khi nước lạnh vào cơ thể, tới các mạch máu trên bề mặt trong miệng, thực quản và dạ dày mà nước tiếp xúc sẽ nhanh chóng bị co lại, sự lưu thông máu cục bộ khi tiếp xúc với nước đá sẽ bị chậm lại.

Vì các mạch máu của đường tiêu hóa vốn dĩ đang chịu nhiệm vụ quan trọng là hấp thụ và vận chuyển chất dinh dưỡng, khi lưu thông máu chậm lại, nó sẽ ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa và hấp thu.

Do đó, khi ăn, các bác sĩ khuyên bạn không nên uống nước đá và đồ uống có đá dưới 10 ° C, vì nó không có lợi cho việc tiêu hóa và hấp thụ thức ăn, đặc biệt là những người có chức năng tiêu hóa yếu, có thể gây ra sự tích tụ thức ăn, khó chịu ở đường tiêu hóa và các khó chịu khác.

Uống nước thế nào cho đúng: Chuyên gia phân tích loại nước tốt nhất bạn nên uống hàng ngày - Ảnh 2.

Nước lọc mát: 20-30 ° C

Thông thường, chúng ta thường uống loại nước này là phổ biến nhất, đây là nước ở nhiệt độ phòng, không nóng, không lạnh, theo điều kiện thời tiết thời điểm đó, nhiệt độ chung là khoảng 20-30 ° C.

Nhiệt độ nước này thực sự là thích hợp nhất để uống. Trước hết, nước gần với nhiệt độ cơ thể con người, không làm kích thích đường tiêu hóa sau khi uống, và không ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa.

Ngoài ra, nước này được cho là hơi thấp hơn nhiệt độ cơ thể một chút, chúng sẽ cần được cơ thể “làm ấm” trước khi hấp thụ.

Theo nghiên cứu của Đại học Washington, quá trình “làm ấm” nước đến nhiệt độ cơ thể đòi hỏi phải đốt cháy calo.

So với những người uống nước lạnh, thì việc uống nước lọc (ở nhiệt độ phòng) có thể tiêu thụ thêm 80 calo mỗi ngày, tương đương với lượng calo của 1 quả trứng luộc, hai quả cam hoặc nửa bát cháo. Điều này có thể giúp ích dù không nhiều cho những người kiểm soát chặt chẽ chế độ ăn kiêng và duy trì việc giảm cân.

Ngoài ra, sau khi bị bệnh, sốt hay tập thể dục, nhiệt độ nền của cơ thể sẽ tăng lên, và để duy trì nhiệt độ cơ thể và các chức năng sinh lý bình thường, mọi người phải giảm nhiệt độ cơ thể bằng cách đổ mồ hôi. Trong lúc này, uống nước lọc sẽ giúp hạ nhiệt độ cơ thể nhanh hơn, đồng thời bổ sung chất lỏng cho cơ thể.

Nghiên cứu y học thể thao Mỹ chứng minh rằng, uống nước lọc trong khi tập thể dục có thể duy trì ổn định nhiệt độ lõi tốt hơn và chơi thể thao sẽ cho kết quả tốt hơn.

Uống nước thế nào cho đúng: Chuyên gia phân tích loại nước tốt nhất bạn nên uống hàng ngày - Ảnh 3.

Nước ấm: 40-50 ° C

Nước ấm, là loại nước mà khi chúng ta uống, nó có cảm giác ấm nhưng không nóng, thường là 40-50 ° C. Do bề mặt miệng và thực quản của chúng ta được bao phủ bởi màng nhầy, nhiệt độ sinh lý bình thường là 36,5-37,5 ° C và nhiệt độ ăn uống phải được duy trì ở 10-40 ° C để duy trì các chức năng sinh lý bình thường.

Nhiệt độ cao nhất có thể chịu được 50-60 ° C.

Nước ấm có thể thúc đẩy lưu thông máu và giúp tiêu hóa. Ngoài ra, nó có thể làm giảm đau thần kinh như đau nửa đầu và đau bụng kinh, khiến mọi người cảm thấy thoải mái.

Y học Trung Quốc cho rằng nước có thể nuôi dưỡng âm, nhiệt có thể làm ấm và tăng dương trong cơ thể, từ đó coi nước ấm cũng là thứ rất tốt cho sức khỏe.

Uống nước thế nào cho đúng: Chuyên gia phân tích loại nước tốt nhất bạn nên uống hàng ngày - Ảnh 4.

Nước nóng: 70-80 ° C

Tổ chức Y tế Thế giới và Cơ quan Ung thư Quốc tế đều cho rằng uống đồ uống nóng trên 65 ° C sẽ làm tăng nguy cơ ung thư thực quản.

Là sao để biết khi nào là nước trên 65° C, đó là nước sử dụng nước sôi để pha trà, mới chỉ để trong một thời gian mà đã uống ngay thì có khi nhiệt độ nước khoảng 70 ° C.

Súp/cháo/nước lẩu nóng vừa được lấy trong nồi lẩu là khoảng 80 ° C.

Nhiệt độ của cà phê pha bằng máy pha cà phê là khoảng 95 ° C. Do đó, “uống nước nóng” thực sự không phải là thuốc chữa bách bệnh, nhưng nó có thể gây hại cho sức khỏe.

Nhiều người ăn đồ nóng, cảm thấy miệng và lưỡi không thoải mái, phản ứng đầu tiên là không nhổ ra, mà chỉ nhai nhai vài lần trong miệng và nuốt, thực tế, đây là một thói quen rất xấu.

Điều quan trọng cần biết là các tế bào biểu mô trên bề mặt thực quản mỏng manh hơn nhiều so với khoang miệng và khi chúng ta nuốt đồ ăn uống nóng vào miệng mà không làm nguội trước thì sẽ làm cho thực quản bị tổn thương.

Uống nước thế nào cho đúng: Chuyên gia phân tích loại nước tốt nhất bạn nên uống hàng ngày - Ảnh 6.

Trước khi uống nước, hãy thử chạm vào môi trước. Nếu môi bạn cảm thấy nước nóng, đừng bao giờ uống chúng, hãy chắc chắn rằng đồ ăn phải nguội hơn bạn mới nuốt vào.

*Theo Tân hoa xã (TQ)

theo Trí Thức Trẻ

Categories: Kien-thuc Y-Khoa | Leave a comment

Táo – Thuốc quý cho người tiểu đường và tim mạch

Táo – Thuốc quý cho người tiểu đường và tim mạch

BS. Phó Thuần Hương | 

Táo - Thuốc quý cho người tiểu đường và tim mạch

Táo ăn thường ngày có nhiều loại. Nếu chia ra theo nguồn gốc thì có táo ta, táo tàu và táo tây. Quả táo tây được mệnh danh là “Quả trí tuệ và quả ghi nhớ” vì nó có tác dụng bồi bổ trí nhớ, gọi là “trái cây của bệnh nhân tiểu đường, bệnh nhân tim mạch” vì có tác dụng phòng chữa tiểu đường và tim mạch.

Cũng vì thế còn được gọi là “trái cây đa năng”.

Gọi là táo nhưng trái cây này tiềm tàng tính năng lưu thông khí huyết toàn thân để mọi cơ quan chức phận đều được nhu nhuận. Qua nhiều thí nghiệm cho thấy trong rất nhiều mùi quả khác nhau thì mùi táo tạo ảnh hưởng tâm lý tốt nhất, loại trừ được stress.

Thử nghiệm lâm sàng cho thấy người đang bị ức chế tâm lý ngửi mùi táo thấy sảng khoái ngay. Những người mất ngủ trước khi đi ngủ cho ngửi mùi táo thấy nhanh chóng đi vào giấc ngủ nhẹ nhàng…

Chống oxy hoá, chống lão hoá: chất này nằm ngay dưới vỏ quả. Chất chiết ức chế 43% tế bào ung thư đại tràng, ức chế 57% tế bào ung thư gan.

Cân bằng điện giải: do thịt quả có nhiều kali kết hợp natri dư thừa trong cơ thể thải ra ngoài.

Tăng trí nhớ: táo chứa những chất dinh dưỡng rất cần cho quá trình hoạt động của đại não như đường, vitamin và khoáng chất trong đó có vai trò của kẽm có nhiều trong táo, thiếu kẽm làm một phần vỏ đại não kém phát triển, ảnh hưởng tới trí nhớ.

Táo - Thuốc quý cho người tiểu đường và tim mạch - Ảnh 1.

Táo – “Quả trí tuệ và ghi nhớ”.

Thanh nhiệt, giải khát: táo nhiều nước, hơi chua làm tăng tiết nước bọt chống khô miệng, khỏi khát nước, làm mất hôi mồm, hạ sốt.

Người ăn táo đều đặn hằng ngày ít khi bị cảm mạo hơn so với người ít chịu ăn táo do có nhiều vitamin C giúp tăng sức đề kháng.

Chữa táo bón: các chất có trong táo như pectin, axit hữu cơ, chất xơ, chất đường và do táo đã làm tăng tiết mật nên táo tăng kích thích cơ học, làm tăng nhu động ruột, làm cho nhuận trường, rất tốt cho chứng bệnh táo bón mạn tính của người già giảm được nguy cơ gây bệnh trĩ, thoát giang, ung thư đại tràng.

Giảm cholesterol và triglycerid phòng bệnh tim mạch, chữa tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não.

Táo làm tăng cholesterol tốt và giảm cholesterol xấu – Qua nghiên cứu cho thấy trong số người ăn táo thì 50% có lượng cholesterol thấp hơn người không ăn táo đến 10%. Do đó, người ta nói “táo là trái cây của người bệnh tim mạch”. Táo chứa nhiều kali giảm nguy cơ trúng phong tránh gây tai biến mạch máu não.

Chữa béo phì: pectin khoá hoạt tính của cholesterol. Chất béo không có cholesterol để nhũ hoá nên không ngấm được vào mạch máu.

Do đó, cả 2 đều bị thải ra đường đại tiện. Thể trọng cũng tự đó giảm dần mà không gây tình trạng sút cân đột ngột và da cũng không bị nhăn nhúm.

Chữa đái tháo đường: do mỡ đọng thành mạch, gây xơ hoá làm cho đường huyết không được các cơ quan sử dụng nên lưu lại trong máu mà tăng cao.

Giải quyết được tình trạng mỡ máu cao sẽ tạo thuận lợi chữa bệnh đường huyết cao. Vì thế, táo được gọi là “trái cây của bệnh nhân tiểu đường”.

Phòng ngừa ung thư: ung thư đại tràng là một trong 4 bệnh ung thư ở tuổi già. Pectin của táo một mặt che chở cho niêm mạc đại tràng khỏi bị tấn công bởi các tác nhân gây ung thư. Mặt khác, táo có các chất chống oxy hoá chống ung thư (vitamin A, C, E chất anthocyanoid).

Bảo vệ gan mật: Do táo làm mát gan, mặt khác kích thích tiết mật, thông mật, từ đó bảo vệ được gan, mật, tránh gây sỏi mật và viêm loét dạ dày (do có mật chảy xuống tá tràng).

Bảo vệ răng miệng: hằng ngày sau mỗi bữa, ăn 1/2 quả táo nhai kỹ. Chất toan và xơ sẽ làm sạch răng miệng, thơm miệng, khỏi cao răng, sâu răng, viêm lợi.

Chữa cảm sốt, ho, viêm nhiễm đường hô hấp: dùng quả hoặc hoa làm sirô (thêm đường) hãm nước sôi, nấu nước để uống.

Lợi tiểu và nhuận tràng: lấy 3 – 4 quả táo thái nhỏ nghiền nhuyễn nấu với 1/2 cốc nước, uống trước mỗi bữa cơm 1 thìa cà phê. Để chữa táo bón thì nấu với ít rượu vang, uống sau bữa ăn. Táo lợi tiểu phòng chống sỏi thận và ứ đọng axit uric. Vậy nên bệnh nhân thống phong (gút) nên ăn táo.

Tăng thèm ăn, chữa biếng ăn: táo 1 quả vừa, sữa chua 1 hộp nhỏ, nước chanh, mấy giọt nước vừa đủ, cho vào máy xay sinh tố để dùng vào bữa phụ.

Làm mỹ phẩm xóa các nếp, quầng…

Nếp nhăn: táo nghiền nhuyễn với sữa hoặc với mật ong, bột mỳ làm mặt nạ. Tuần 1 lần. Mỗi lần cần dùng mới chế và chế xong phải dùng ngay, tránh biến chất.

Xoá quầng đen ở mặt do thức đêm nhiều mất ngủ: táo thái miếng nhỏ, nghiền nhuyễn đắp chỗ thâm.

Tắm nước vỏ táo: vỏ táo được rửa kỹ trước khi gọt, cho vào túi vải ngâm vào bồn nước tắm nóng 1 lúc để ngâm xoa lên da làm sạch mịn da.

Lưu ý: Táo ngon bổ giòn thơm nhưng mỗi lần chỉ nửa quả – 1 quả, không ăn nhiều một lúc gây đầy bụng.

– Ăn táo nhai kỹ nuốt chậm để sát khuẩn trong miệng. Nhớ rằng “kẹo ăn nhanh, táo dành ăn chậm”.

– Nước táo ép tươi phải uống ngay để tránh bị oxy hoá.

theo Sức khỏe đời sống

Categories: Kien-thuc Y-Khoa | Leave a comment

Vũ khí giúp chống bệnh mất trí nhớ và trầm cảm

Vũ khí giúp chống bệnh mất trí nhớ và trầm cảm

Silvia GravBản quyền hình ảnhSILVIA GRAV

Bố tôi, ông Piet, bị bệnh Alzheimer. Ông là một trong hàng nghìn trường hợp mắc bệnh này.

Alzheimer là một trong những dạng bệnh mất trí nhớ phổ biến nhất. Điều này có nghĩa là các tế bào trong não của ông không còn hoạt động như bình thường nữa.

Căn bệnh quái ác

Một số ký ức cũ của ông vẫn còn, nhưng chứng mất trí nhớ đã tạo ra những viền đen bao quanh nhiều ký ức trong số đó, biến chúng thành những đoạn ký ức không thể tiếp cận, rời rạc và khó hiểu mà ông không còn có thể ráp lại theo cách thông thường nữa.

Tôi không viết ra đây để kêu gọi lòng thương hại dành cho ông hoặc gia đình của ông. Ông không bao giờ muốn điều đó.

Răng trắng chưa chắc đã là răng khỏe?

Bạn có bị bệnh tim mà không hay biết?

Thế giới hiện đại gây ảnh hưởng não người ra sao?

Liệu có còn chỗ chôn người chết?

Nhưng ông muốn chúng tôi hiểu rõ hơn về một căn bệnh đang giết chết rất nhiều tế bào thần kinh quan trọng và thay đổi hành vi của ông mà không có cách gì đảo ngược được.

Khi ông mới chớm mắc bệnh, tôi hỏi ông chứng mất trí nhớ có cảm giác thế nào.

Ông cho tôi biết nó như thể một khoảng tối hoặc đám mây cứ liên tục bám theo ông. Ông nói rằng ông không sợ những gì đang xảy ra với mình. Sự chấp nhận khiến ông dễ sống chung với nó hơn.

Ảnh hưởng tích cực của âm nhạc

Nhưng khi bệnh tình tước đi sự tự lập của ông, tình yêu âm nhạc của ông vẫn tồn tại. Ông là người đã đưa tôi đến với nhạc rock thập niên 1970, thời niên thiếu của tôi, ông đã dắt tôi đi xem nhạc kịch và thường mở vang các bài nhạc cổ điển trong nhà.

Hogenboom FamilyBản quyền hình ảnhHOGENBOOM FAMILY

Hiện tại, ngay cả khi khả năng giao tiếp bằng lời nói của ông bị giảm sút, âm nhạc là thứ vẫn có mối quan hệ hiện hữu với ông, đặc biệt là nhạc kịch.

Trong hai năm qua, nhờ sự trợ giúp của liệu pháp âm nhạc, ông bắt đầu học các kỹ năng âm nhạc mới. Ông gảy những nốt đơn giản trên hai cây đàn lia – một nhỏ, một lớn – và hát nhiều lần trong ngày.

Khi hát, ông gọi đó là “opera”. Thi thoảng ông sẽ đột nhiên hát lên ở siêu thị, khi đi bộ hoặc là giữa cuộc họp mặt toàn gia đình.

Chất thải từ người là năng lượng tương lai?

Có nên tránh bơi khi vừa ăn xong?

Điều gì sẽ xảy ra nếu nữ khỏe hơn nam?

Đôi khi ông sẽ vụng về ngắt ngang bất cứ cuộc trò chuyện nào đang tiếp diễn. Ông chỉ đứng dậy và nói “Bây giờ tôi muốn hát opera” và hát to lên một số giai điệu không lời.

Có lúc chúng nghe khá hay và cũng có lúc không được hay lắm. Nhưng điều này không quan trọng. Ông vẫn tiếp tục mà không hề thấy xấu hổ vì được chú ý – dù ông chưa bao giờ muốn thu hút sự chú ý.

Từ lâu tôi đã biết âm nhạc có thể được sử dụng như liệu pháp cho những người giống cha tôi, nhưng nó còn có những lợi ích đáng ngạc nhiên khác nữa.

Âm nhạc là một trong nhiều công cụ nghiên cứu đang được các nhà khoa học sử dụng để tìm hiểu về bộ não – bao gồm cách thức và lý do tại sao nó dần dần ngưng hoạt động.

“Người ta vẫn gọi âm nhạc là ‘siêu tác nhân kích thích’. Nó thật sự kích hoạt toàn thể não bộ của chúng ta.

Đó là lý do tại sao nó lại rất có uy lực; có thể tạo nên tất cả những ảnh hưởng này đối với con người, không chỉ với những người mất trí nhớ mà là tất cả chúng ta,” Amee Baird, nhà tâm lý học thần kinh lâm sàng tại Đại học Macquarie ở Sydney cho biết.

“Tựa như thứ tách biệt này được giữ gìn trong bối cảnh một người nào đó nói theo cách khác là đã bị suy yếu về nhận thức.”

Với bố tôi, chứng mất trí nhớ bắt đầu từ sớm. Nó bắt đầu khi ông ở độ ngũ tuần và bắt đầu như một vết mờ trên bộ não lẽ ra đang khỏe mạnh.

Ban đầu không có nhiều thay đổi. Nhưng trong gần 10 năm sau đó, căn bệnh đã dần dần tước đi vốn tiếng Anh của ông, mặc dù ông đã sống ở Anh hơn 20 năm, và cũng lấy mất phần nhiều vốn tiếng Hà Lan, ngôn ngữ mẹ đẻ của ông.

Bố tôi không hề thuộc diện có nguy cơ mắc chứng mất trí nhớ. Gia đình tôi chưa có tiền sử mắc bệnh này. Ông luôn là người mảnh khảnh, khỏe mạnh và năng động.

Đây là một phần lý do tại sao căn bệnh này lại có sức tàn phá đến như vậy – nó có thể ảnh hưởng đến bất cứ ai và chúng ta vẫn không hiểu tại sao.

Silvia GravBản quyền hình ảnhSILVIA GRAV

Riêng tại Anh, có khoảng 850.000 người mắc chứng mất trí nhớ, một con số dự báo sẽ còn tăng khi chúng ta tiếp tục sống lâu hơn.

Chỉ một phần nhỏ trong số đó mắc bệnh ở độ tuổi như bố tôi. Đây là lý do tại sao tôi rất vui mừng khi khám phá ra một nghiên cứu tình huống gần đây về một phụ nữ 91 tuổi có tên là Norma mắc bệnh Alzheimer cấp tiến.

Bà không còn nhận ra người thân và thường không thể tạo ra ký ức mới. Dù vậy, bà đã có thể học một bài hát mới bà chưa từng nghe trước đây.

Bà không hề được đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp, nhưng, theo con gái bà, âm nhạc luôn khiến bà hạnh phúc.

Con gái của Norma đã liên lạc với Baird, người nghiên cứu âm nhạc và chứng mất trí nhớ, để giải thích rằng mẹ bà vẫn hát những bài nhạc pop mới trong xe.

Nhà tâm lý học thần kinh đã cuốn hút bởi trường hợp này.

“Việc những người bị mất trí nhớ hát theo những bài hát cũ khi còn trẻ là chuyện phổ biến. Nhưng những bài hát mới thì không,” Baird nói.

Bộ nhớ âm nhạc của Norma đã được thử nghiệm bằng nhiều cách.

Đầu tiên, bà được gợi ý với những bài hát quen thuộc như Waltzing Matilda và You are My Sunshine để xem bà có thể hát hết bài không. Đúng như trông đợi, bà đã không gặp vấn đề gì với những bài hát này.

Sau đó, bà được dạy giai điệu của một khúc đồng dao Na Uy xa lạ. Bà nhớ được nó sau 24 giờ làm quen. Sau đó, bà được kiểm tra lại sau hai tuần, và một lần nữa nhớ lại giai điệu chỉ với những gợi ý tối thiểu.

Để kiểm tra trí nhớ của bà nói chung, bà được yêu cầu nhớ ba từ. Bà đã không thể nhớ được ba từ đó ngay cả khi được gợi ý 3 phút sau đó.

Bà cũng nhớ lại lời bài hát một cách dễ dàng hơn so với những câu tục ngữ nổi tiếng. Âm nhạc thực sự có một vị trí đặc biệt trong trí nhớ và bộ não của bà.

Silvia GravBản quyền hình ảnhSILVIA GRAV

Theo Baird, trường hợp của Norma là nghiên cứu tình huống chi tiết nhất thuộc loại hình này.

Hệ thống trí nhớ theo thủ tục của bà là thứ dường như đang được kích hoạt – cái mà chúng ta sử dụng để thực hiện những hành động đòi hỏi ít ý thức, như là đi bộ. Chính hệ thống trí nhớ này đã cho phép các nhạc công mắc chứng Alzheimer tiếp tục chơi nhạc cụ của họ.

Có lẽ việc Norma học được một bài hát mới khiến trường hợp của bà trở nên khác lạ. Những người như Norma và bố tôi có thể hòa hợp với âm nhạc hơn người khác.

“Tìm lại thế giới đã mất”

Ngoài ra đây còn là một ý niệm đầy hứa hẹn cho những trường hợp suy giảm trí nhớ nghiêm trọng.

Nó cho phép Baird hy vọng rằng âm nhạc có thể được dùng để dạy những cá nhân bị mất trí nhớ nhiều kỹ năng mới hơn, đồng thời giảm bớt lo âu và trầm cảm.

Tuy nhiên âm nhạc còn có thể giúp được nhiều hơn là chỉ với trí nhớ.

Như tôi đã chứng kiến ở bố, bằng cách nào đó âm nhạc giúp duy trì “ý thức về bản ngã” của một cá nhân.

Như tác giả quá cố Oliver Sacks đã viết trong cuốn Musicophilia của mình: ” m nhạc quen thuộc đóng vai trò như một phép ghi nhớ của Proustian, gợi lên những cảm xúc và liên kết đã bị quên lãng từ lâu, giúp bệnh nhân một lần nữa được tiếp cận tâm trạng, ký ức, suy nghĩ và những thế giới dường như đã hoàn toàn đánh mất.”

Silvia GravBản quyền hình ảnhSILVIA GRAV

Ý tưởng này là nguồn an ủi cho các thành viên trong gia đình, và đó là điều tôi thấy ở bố mình.

Nếu hỏi tuổi và những việc ông thường hay làm, ông sẽ thấy nản chí vì không thể trả lời. Nhưng hãy cùng hát với ông một bài, gương mặt ông sẽ trở nên rạng rỡ. Trong những khoảnh khắc đó, rõ ràng ông vẫn là người bố hài hước, vui vẻ của tôi.

Tác động của âm nhạc đối với não bộ

Khi bắt đầu nghiên cứu thêm về vai trò của âm nhạc trong việc nhận thức về chứng mất trí, tôi nhận thấy một vài nhà nghiên cứu sử dụng âm nhạc để giúp giải phóng hoạt động của não.

Ví dụ, một nghiên cứu vào năm 2015 đã xác định được các đoạn não nào trong phần vỏ não trước trán (ở những bệnh nhân khỏe mạnh) có thể phân biệt giữa âm nhạc quen thuộc và những giai điệu mới.

Bản chụp não cho thấy khu vực này cũng được duy trì ở những cá nhân mắc bệnh Alzheimer cấp tiến rõ rệt.

Điều đó có thể giải thích tại sao một số ký ức âm nhạc được giữ lại khi nhiều thứ khác bị lãng quên.

Một trong những tác giả của nghiên cứu, Robert Turner của Viện Khoa học Nhận thức và trí não con người Max Planck cho biết: “Chúng tôi thấy thật ấn tượng khi vùng não giữa thiên về âm nhạc mà chúng tôi đã xác định ở các tình nguyện viên trẻ ít bị ảnh hưởng bởi những tổn hại từ từ của bệnh Alzheimer.”

Phần này của bộ não cũng đã được thể hiện như một vị trí quan trọng đối với “ý thức về bản ngã”.

Tác phẩm của Turner chứng minh ý tưởng mà Sacks đề xuất: “bản ngã” vẫn có thể tồn tại ở những cá nhân mắc chứng mất trí nhớ.

“Ở nơi nào đó ‘bản ngã’ vẫn có thể tồn tại ở những cá nhân mắc chứng mất trí nhớ”.

Turner nói: “Kết quả cũng khá tích cực trong những nghiên cứu hình ảnh học thần kinh trong đó mọi người được yêu cầu ngẫm nghĩ về những trải nghiệm trước đây của họ.”

Silvia GravBản quyền hình ảnhSILVIA GRAV

Đây là một phần quan trọng của “vùng não hoạt động mặc định” – nó được gọi như vậy vì đó là khi não đang ở chế độ “mặc định” của riêng nó, chẳng hạn như khi chúng ta mơ màng.

Turner cho biết: “Phản hồi rất tích cực của bệnh nhân mất trí nhớ khi nghe loại nhạc họ biết và yêu thích có thể phản ánh cơ hội tự nhận dạng bản thân khá hiếm hoi này.

Âm nhạc dường như cho thấy ký ức của chúng ta không được lưu trữ trong những phần não cụ thể.

Chúng không giống như các tài liệu riêng lẻ xếp chồng lên nhau trên kệ để chúng ta có thể đặt lại chỗ cũ khi cần, mà là chúng gắn kết chặt chẽ với nhau.

Kết quả là ký ức về một bài hát có thể khơi gợi một thời gian, địa điểm hoặc mùi hương riêng biệt, cũng như kích hoạt các phần não liên quan đến âm thanh, lời nói, nhịp điệu và cảm xúc.

Đó là lý do tại sao một số khả năng âm nhạc được cho là miễn nhiễm với chứng mất trí nhớ; nếu một hệ thống bị hỏng, phần còn lại có thể tiếp quản.

Tại Đại học University College London, các nhà thần kinh học là những người đi tiên phong trong lĩnh vực này.

Jason Warren, người dẫn đầu nhóm, nói với tôi rằng âm nhạc cho phép ông xem xét cách những mạng lưới của bộ não tương tác mà không cần dựa vào bệnh nhân để truyền đạt bằng lời nói.

Điều này có nghĩa là âm nhạc có thể tiết lộ khi nào các vùng não không hoạt động như bình thường. Ví dụ, não phản ứng rất khác với âm nhạc so với những âm thanh phức tạp khác.

Trong một nghiên cứu, Warren và các cộng sự đã để các bệnh nhân Alzheimer tiếp xúc với một loạt tiếng ồn, như tiếng bíp, để xem phần não nào của họ đã phản ứng.

Những vùng quan trọng đối với việc xử lý âm thanh phức tạp như ngôn ngữ được cho thấy đã suy yếu.

Điều này giải thích tại sao những bệnh nhân Alzheimer thường cảm thấy cực kỳ khó theo dõi giọng nói của một người trong một bối cảnh ồn ào hoặc nghe tên của họ trong một căn phòng ồn ào, đây được gọi là “hiệu ứng tiệc cocktail”.

Âm nhạc cũng cho phép nhóm của Warren hiểu được tại sao những bệnh nhân suy giảm trí não vùng trán thái dương gặp khó khăn khi diễn giải cảm xúc.

Chẳng hạn, họ không còn cảm thông hay phản ứng khi thấy ai đó đang khóc, ngay cả khi đó là người quan trọng với họ.

Những cá nhân này thường giỏi xác định thông tin về một bài hát, nhưng họ không thể phân loại thuộc tính cảm xúc của nó khi được hỏi nếu một bài hát vui hay buồn.

Các bản chụp não cho thấy vùng não bị ảnh hưởng bởi căn bệnh là những vùng quan trọng trong việc phỏng đoán trạng thái tinh thần của người khác, được biết đến với tên lý thuyết tâm trí.

Trong một nghiên cứu khác, nhóm nghiên cứu của ông đã phát hiện ra dù mất đi thế giới cảm xúc, một số bệnh nhân này lại bắt đầu khao khát âm nhạc như thể họ đang nghiện nó.

Bằng cách nào đó, hệ thống khen thưởng của họ được kích hoạt để hưởng ứng lại âm nhạc, ngay cả khi họ đã mất đi kết nối cảm xúc với việc khen thưởng.

“Liệu pháp âm nhạc có thể giúp ích cho việc kết nối giữa những mạng lưới bị mất”, một nghiên cứu sinh tiến sĩ của Warren tên Elia Benhamou nói.

Điều này cho thấy rằng ngay cả khi nhìn bên ngoài, những bệnh nhân này dường như không phản ứng về mặt cảm xúc, hệ thống cảm xúc vẫn quan trọng đối với thế giới của họ – và âm nhạc bằng cách nào đó sẽ giúp kích hoạt nó.

Bệnh nhân bị Alzheimer lại cho thấy hình mẫu ngược lại. Họ thường có thể hiểu được cảm xúc đằng sau một bài hát, nhưng thường không thể nhớ tên hoặc nơi họ nghe nó lần đầu tiên.

Trên thực tế, họ dường như thấy rằng âm nhạc có cảm giác thỏa mãn gần bằng cảm giác của những người khỏe mạnh.

Warren cho biết: “Âm nhạc đang nói lên điều gì đó rất căn bản về lý do tại sao những căn bệnh này (các dạng bệnh mất trí nhớ) lại khác nhau. Âm nhạc có thể xuyên qua sự phức tạp.”

“Trước khi trở thành một hình thức nghệ thuật, âm nhạc đã làm điều gì đó cơ bản về việc dạy chúng ta cách đáp lại người khác”.

Các nghiên cứu giống vậy đang làm tăng thêm hiểu biết của chúng ta không chỉ về trình trạng suy giảm não bộ mà còn về cả những bộ não khỏe mạnh – và cách thức trí não của tất cả chúng ta phản ứng với âm nhạc.

Một khi chúng ta hiểu rõ hơn về những hình mẫu này, về lý thuyết nó có thể giúp các nhà khoa học xác định được khi nào bộ não suy nhược sớm hơn so với khi chúng hiện đang có thể.

Warren và Benhamou nói về mặt lý thuyết, âm nhạc có thể giúp xác định những thay đổi hành vi ngay cả trước khi bản chụp não cho thấy hiện tượng teo não.

Điều này cũng tương tự như phát hiện cho thấy khả năng thể hiện tính hài hước bị suy giảm từ lúc mới mắc bệnh mất trí nhớ. Warren nói: “Có mọi lý do để tin rằng một người có thể tìm được những thứ tương tự với âm nhạc.”

Điều làm tôi ấn tượng sâu sắc hơn nữa là lý luận của ông về lý do tại sao sử dụng âm nhạc làm công cụ nghiên cứu đã cung cấp một lượng lớn kết quả.

Nó kích hoạt các mạng não cần thiết để sống còn: lắng nghe xung quanh, xử lý những bất thường, hệ thống khen thưởng và lý thuyết tâm trí của chúng ta.

Điều này ngụ ý rằng âm nhạc có “mục đích sinh học” đích thực, Benhamou nói, đó là chúng ta đã từng cần có nó để tồn tại.

Đây là một lý thuyết, nhưng nếu nó đúng, điều này giải thích tại sao âm nhạc lại khơi gợi rất nhiều đặc tính có lợi ở những người đang mất đi các kết nối mà não rất cần để vận hành.

Warren nói: “Mỗi xã hội con người đều có âm nhạc. Tại sao một điều như vậy lại thật cơ bản? Câu trả lời có thể là trước khi trở thành một hình thức nghệ thuật, âm nhạc đã làm điều gì đó cơ bản về việc dạy chúng ta cách đáp lại người khác”.

Tôi không biết những gì đang diễn ra trong não của cha tôi khi ông nghe nhạc. Nhưng từ các tài liệu khoa học, rõ ràng là một số kết nối thần kinh đã tước đi đa phần tính độc lập của ông lại khác với các kết nối được kích hoạt khi ông chơi nhạc hoặc hát.

Việc tự động hát “opera” đã giảm dần trong năm qua, nhưng ông vẫn tự mình hát nhiều lần trong ngày và hiển nhiên là nhận được rất nhiều niềm vui từ đó. “Mẹ và bố vừa đi dạo phố vừa hát, đúng như những gì bố mẹ luôn làm,” mẹ tôi nói với tôi tuần trước.

Âm nhạc mang đến nụ cười cho cha tôi. Khi mất mát quá nhiều, nó mang lại cho ông thứ mà ông vẫn có thể sáng tạo, tương tác và tận hưởng.

Điều đáng ngạc nhiên nhất là việc âm nhạc có thể giúp ông giữ lại một phần bản ngã của ông, nếu điều đó trở nên khó phát hiện hơn đối với tất cả chúng ta.

Chỉ riêng kiến thức này đã giúp bạn dễ đối mặt hơn với những gì thường khó nói đến: Rằng bố tôi đã mắc chứng mất trí nhớ và sẽ phải sống chung với nó cho đến tận cuối đời.

Bài tiếng Anh đã đăng trên BBC Future.

Categories: Kien-thuc Y-Khoa | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.