Lịch Sử PG Hòa Hảo

Sách Phật Giáo Hòa Hảo

THƯ TỊCH

24 Tháng Năm 201312:00 SA(Xem: 17787)
THƯ TỊCH

“>

 I.- SÁCH

NGOẠI NGỮ .-

1. M. Labussière, “Excursions et Reconnaissances” No.4-1880 Marcel Ner les Musulmans de l’Indochine Extrait de BEFEO.

2. G. Coulet, “Bonzes, Pagodes et Sociétés secrètes en Cochinchine”, Extrême Asie (Orient ?), Juillet 1928.

3. Gouron, “L’Utilisation”.

4. A.M. Savani, “Visage et Images du Sud Vietnam”.

5. Robert L. Mole, “A Brief Survey of the PGHH”.

6. M. Sivaram, “Pourquoi le Vietnam”, Paris : France – Empire 1966.

7. H. Filied, “The Diplomacy of Southeast Asia (1945-1958)”. (Yarper New York Russelle).

8. Richard W. Lindholm, “Vietnam the First Five Years” (Michigan State University Press 1959).

9. PH. M. Jones, “Khanh in Command” Far Eastern Economic Review No.5 (April 30-1964) P.239-240.

10. Francoirs Sully, “Eden Another” (Newsweek 30-08-1965).

11. Ban Phổ Thông Giáo Lý PGHH, A General Survey of Hoa Hao Buddhisme.

VIỆT NGỮ .-

1. Vương Kim, Tu Hiền (Saigon : Long Hoa 1972).

2. Vương Kim, Đời Thượng Ngươn (Saigon : Long Hoa 1973).

3. Vương Kim, Đời Hạ Ngươn (Saigon : Long Hoa 1960).

4. Vương Kim, Tận Thế và Hội Long Hoa (Saigon : Long Hoa 1972).

5. Vương Kim, Hành Sử Đạo Nhân (Saigon : Long Hoa 1970).

6. Vương Kim, Bửu Sơn Kỳ Hương (Saigon : Long Hoa 1970).

7. Vương Kim và Đào Hưng, Đức Phật Thầy Tây An (Saigon : Long Hoa 1954).

8. Phan Bá Cầm, Lập Trường Dân Xã Đảng (Saigon, Dân Xã Tùng Thư 1971).

9. Nguyễn Văn Hầu, Nhận Thức PGHH (Saigon : Hương Sen 1968).

10. Nguyễn Văn Hầu, Nữa Tháng Trong Miền Thất Sơn (Saigon : Hương Sen 1971).

11. Nguyễn Văn Hầu, Muôn Dậm Chưa Về (K.T).

12. Nguyễn Văn Hầu, 5 Cuộc Đối Thoại về PGHH (Saigon : Hương Sen 1972).

13. Nguyễn Văn hầu, Tu Rèn Tâm Trí (Saigon : Hương Sen).

14. Dật Sĩ và Nguyễn Văn Hầu, Thất Sơn Mầu Nhiệm (Saigon : Từ Tâm 1972).

15. Dật Sĩ và Nguyễn Văn Hầu, Pháp Luận (Saigon : Đồng Tâm 1972).

16. Tịnh Sĩ, Con Đường Sống (Saigon : Đồng Tâm 1970).

17. Ban Phổ Thông Giáo Lý PGHH, Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ (K.T).

18. Ban Phổ Thông Giáo Lý PGHH, Đạo Pháp Khai Tâm (K.T).

19. Ban Phổ Thông Giáo Lý PGHH, Giáo Hội – Giáo Pháp (K.T).

20. Ban Phổ Thông Giáo Lý PGHH, Độc Giảng Đường và Độc Giảng Viên (K.T).

21. Ban Phổ Thông Giáo Lý PGHH, Tài Liệu Tu Học Sơ Cấp (K.T).

22. Hội Đồng Trị Sự Trung Ương PGHH, Lý Tưởng và Tinh Thần Hòa Hảo (K.T).

23. Hội Đồng Trị Sự Trung Ương PGHH, 25 năm (K.T).

24. Hội Dồng Trị Sự Trung Ương PGHH, Đức Huỳnh Giáo Chủ và Những Đặc Điểm của PGHH (K.T).

25. Hội Đồng Trị Sự Trung Ương PGHH, Lược Sử Đức Thầy (K.T).

26. Hội Đồng Trị Sự Trung Ương PGHH, Một Nền Đạo Dân Tộc (K.T).

27. Trung Tâm Phổ Giáo, Lược Sử Đức Huỳnh Giáo Chủ (K.T).

28. Ban Trị Sự Tỉnh An Giang, Trị Sự Viên Chỉ Nam (K.T).

29. Hà Tân Dân, Tứ Ân Hiếu Nghĩa. (K.T).

30. Lý Chánh Trung, Tôn Giáo và Dân Tộc (Saigon : Lửa Thiêng 1973).

31. Tạ Văn Tài, Phương Pháp các Khoa Học Xã Hội (1972).

32. Đoàn Thêm, 20 năm qua (Saigon : Nam Chi Tùng Thư 1966).

33. Toan Ánh, Tín Ngưỡng Việt nam (Saigon : Nam Chi Tùng Thư 1966).

34. Đoàn Thêm, Những Ngày Chưa Quên (Saigon : Nam Chi Tùng Thư 1966).

35. Đoàn Thêm, Việc Từng Ngày (Saigon : Nam Chi Tùng Thư 1966).

36. Việt Nam Nhất Thống Chí.

37. Phan Xuân Hòa, Lịch Sử Việt Nam Hiện Kim.

38. Phan Khoang, Việt Nam Pháp Thuộc Sử (Khai Trí, Saigon).

39. Phạm Văn Sơn, Việt nam Tranh Đấu Sử (K.T)

40. Nguyễn Văn Kiềm, Tân Châu (Nhất Trí, Saigon).

41. Cửu Long Giang, Người Việt Đất Việt.

42. Lương Đức Tiệp, Xã Hội Việt Nam (Hoa Tiêm, Saigon).

43. Thùy Nhiên, Minh Oan Vụ Án Ba Cụt (K.T).

44. Hồ Hữu Tường, Phi Lạc Sang Tàu.

45. Bộ Quốc Phòng, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong giai đoạn hình thành – Quân Sử, 1972.

46. Nguyệt San và Thần Phong, 9 Năm Máu Lửa Dưới Chế Độ Gia Đình Trị Ngô Đình Diệm.

47. Bộ Thông Tin, Thành Tích 6 năm Chấp Chánh của Chánh Phủ Ngô Đình Diệm.

II.- BÁO CHÍ XUẤT BẢN ĐỊNH KỲ

1.- Bán Nguyệt San :

– Hội Đồng Trị Sự Trung Ương – Từ Bi số 1, 2, 3/1973 (Châu Đốc : Hoa Sen 1973).

Tuần Báo : Tranh chấp giữa Phan Bá Cầm và Phạm Văn Giác – Nhân Loại số 18 (14/05 –

20/05/60).

2.- Nguyệt San :

– Đuốc Từ Bi từ số 1 đến số 28 (1965 – 1966 – 1967).

– Giác Tiến từ số 1 đến số 34 (Gia Định : 1956 – 1959)/.

– Hướng Thiện từ số 1 đến số 5 (Vĩng Long 1968 – 1969).

– Văn Hóa số 1, 2, 3/1970.

– Nguyễn Chính Đoan, “Cuộc bầu cử Hội Đồng Đô Tỉnh Thị ngày 28-6-1970”, Nghiên Cứu Hành Chánh tập XIII số 4,1970.

– Nguyễn Ngọc Huy, “Cuộc bầu cử bán phần Thượng Nghị Viện 30-08-1970”, Cấp Tiến số 21, 1970.

– Tạ Văn tài, “Thái độ cử tri trong cuộc bầu cử bán phần Thượng nghị Viện 1070”, Nghiên cứu Hành chánh tập XIX số 1, 1971.

– Nguyễn Chính Đoan, “Các khuynh hướng chánh trị tại Việt nam qua cuộc bầu cử bán phần Thượng Nghị Viện 1970”, Nghiên cứu Hành chánh tập XIV số 2,1971.

– Hình Phương Cư Sĩ, “Nhìn thẳng vào tôn giáo PGHH”, Phương Đông số 1 (23-05-1973)

và số 2 (24-06-1973).

– Hình Phương Cư Sĩ, “Cương Yếu về Giáo Lý PGHH”, Phương Đông số 3 ngày 22-07-1973.

3)- Nhựt Báo :

– Quần chúng, ngày 15-11-1946.

– Cửu Long, ngày 09-04-1971, số 26, 27, 28, 29, 30, 31 (tháng 6/1971)

– Đồng Nai, số 746 (145-04-71).

– Xây Dựng, số 2162 (19-04-71)

– Đuốc Nhà Nam, số 704 (28-04-71), số 780 (27-07-71).

– Công Luận, số ngày 28-04-71, số 1095 (07-08-71), số ngày 12-09-71.

– Dân Ý, số 319 (30-04-71), số 332 (15-05-71), số 449 (29-09-71).

– Ngôn Luận, số 66, 67, 68, 70 (từ ngày 10-05-71 đến 15-05-71, số ngày 07-08-71.

– Thách Đố, số 293, 294, 295 (các ngày 3, 4, 5/06/71), số ngày 07-08-71.

– Trắng Đen, số 1150, 1151, 1152, 1153, 1154, 1155, 1156, 1157, 1158, 1159, 1169, 1161, 1162, 1163 (từ ngày 12-07 đến 28-07-71) và số 1171 (06-08-71), số 1218 (01-10-71), số 1238, 1239 (20, 21-10-71), số ngày 21, 22/11/71, số 1388 (12-04-72), số 1403 (26-04-72), số 1487 (19-07-72). Số 1651 (30-12-72), 1821 (22-06-73), số ngày 22-07-73, số 1938 (26-10-73).

– Tin Sớm, số 2044 (02-08-71).

– Hòa Bình và Sự Thật, số ngày 07-08-71.

– Thời Đại Mới, số ngày 19-10-71.

– Chính Luận, số ngày 21, 22-11-71, ngày 08-03-72, số 2443 (ngày 26-04-72), ngày 15-06-72, số 2526 (ngày 01-08-72), ngày 15-08-72.

– Cứu Nước, số ngày 01-02-72.

– Tự Cường, số 157,158,159,160, 161, 162 (từ 28-02-71 – 03-03-71) và các số kế tiếp từ 15-03-72 – 17-03-72.

– Độc lập, số 1388 (ngày 12-04-72), số ngày 06-11-72, số 1973.

– Tia sáng, số 2535, 2536 (18, 19 và 21-06-72), 2588 (20-08-72) ngày 31-10-72, 7, 8-11-72.

– Tranh Thủ, số 56 (21-09-72, số 31-10-72, 08-11-72.

– Sóng Thần, các số từ ngày 25-11-72 đến 08-12-72, số 506 (26-03-73), 22-07-73, 01-08-73, số 642 ( 22-08-73).

– Điện Tín, số ngày 20-06, 01-08-73, 23-10-73.

– Đại Dân Tộc, số 21-06, 22-07, 07-09, 21-09, và 23-10-73.

– Đông Phương, số ngày 22-07-73, các số từ 15-09-73 – 18-10-73 và 23-10-73.

– Dân Luận, số 27-09-73, 23-10-73.

– Bút Thép, Điện Tín, Đại Dân Tộc, Chính Luận, Độc Lập ngày 17-05-74 và ngày 08-06-74.

III.- BÁO CHÍ XUẤT BẢN BẤT THƯỜNG

– Liên Hoa.

-Từ Bi : Xuân Nhân Tý, Quý Sửu, Giáp Dần.

– Xuân Đại Đồng : Xuân Canh Thìn, Giáp Dần.

– Dân Xã Đảng : Xuân Quý Sửu, Xuân Nhâm Tý.

– Phù Sa : Xuân Quý Sửu và các Nội San.

– Đất : Giao Phẩm 11/1973.

– Đất Mới.

– Tập Kỷ Yếu Giáo Đồ Hệ Phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa.

IV.- GIẢNG VĂN, GIẢNG THUYẾT

– Nguyễn Văn Sâm : Các Tân Giáo miền Nam – c/c Văn Minh Việt Nam, Đại Học Văn Khoa Saigon 1972-1973.

– Phan Bá Cầm : PGHH – Bài thuyết trình tại Ấn Quang.

– Trần Thị Hoài Trân : Đoàn Thể Áp Lực – Saigon 1974.

– Nguyễn Văn Hầu : PGHH – Bài thuyết trình tại Đại Hội Về Nguồn IV – An Giang.

V.- LUẬN VĂN

– Mai Hưng Long, Phật Giáo Hòa Hảo, Luận Văn Tốt Ngiệp, Saigon – Học Viện Quốc Gia Hành Chánh 1971.

– Đoàn Dũng, Ảnh Hưởng Tôn Giáo trong sinh hoạt chánh trị miền Nam, Luận văn Tốt Nghiệp, Saigon – Học Viện Quốc Gia Hành Chánh 1973.

– Trần Nhựt Thăng, Tìm Hiểu Phật Giáo Hòa hảo, Luận Văn Tốt Nghiệp Cao Học, Saigon – Học Viện Quốc Gia Hành Chánh 1968.

– Võ Thành Tài, “Quan Niệm về phát triển kỷ nghệ Việt Nam trong tương lai vùng miền tây Nam Phần” Luận Văn Tốt Nghiệp Cao Học, Saigon – Học Viện Quốc Gia Hành Chánh 1968.

VI.- VĂN KIỆN PHÁP LÝ

– Nghị Định 5/BNV/CT ngày 09-02-1955 của Bộ Nội Vụ cho phép Đảng Dân Xã của Nguyễn Bảo Toàn hoạt động.

– Nghị Định 1325-BNV/KS ngày 21-10-1964 của Bộ Nội Vụ hủy bỏ nghị định trên.

– Nghị Định 1099-BNV/KS ngày 11-09-1964 của Bộ Nội Vụ cho phép Đảng Dân Xã của Ông Trình Quốc Khánh hoạt động.

– Nghị Định 1325-BNV/KS ngày 21-10-1964 của Bộ Nội Vụ hủy bỏ nghị định số 1099 ở trên.

– Nghị Định 5014-B/BNV/K ngày -9-06-74 của Bộ Nội Vụ về tình trạng Đảng Dân Xã.

– Nghị Định 91-BNV/CT ngày 14-05-1954 cho phép VNDCXH Đảng tái hoạt động (Lê Quang Vinh lãnh đạo).

– Nghị Định 41-NV ngày 27-01-1955 của Thủ Tướng thu hồi nghị định số 91 trên.

– nghị Định 636/BNV ngày 28-05-1965 cho phép Hội Cựu Quân Nhân PGHH hoạt động.

– Nghị Định số 112/BNV/KS ngày 05-12-64 của Bộ Nội Vụ cho phép lập Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo.

– Văn Thư số 5014-B/KS của Bộ Nội Vụ ngày 09-06-64 chấp nhận Khối Trương Kim Cù là một hệ phái.

– Văn Thư số 2544-B/KS của BNV này 20-03-64 cho phép đảng cùa Ông Trình Quốc Khánh tái hoạt động.

– Văn Thư số 8876-B/KS ngày 15-10-64 của BNV chấp nhận Ban Chấp Hành Lâm Thời của Đảng Dân Xã.

– Nghị Định số 474/BNV/KS/14 ngày 03-07-70 của BNV hợp thức hóa Đảng Dân Xã của Ông Trình Quốc Khánh theo qui chế chánh đảng luật số 009/69 (19-06-1969).

– Văn Thư số 4085-B/KS ngày 08-05-64 của BNV cho phép tập đoàn Cựu Chiến Sĩ Hòa Hảo- Dân Xã hoạt động.

– Nghị Định 457/BNV/KS/14 ngày 29-06-70 của BNV hợp thức hóa tổ chức trên qui chế chánh đảng.

– Nghị Định số 540/TBAN/NĐ/36 ngày 30-09-1967 của Tổng Bộ An Ninh cho phép thành lập Hội Cựu Chiến Sĩ Nguyễn trung Trực và Bảo An Quân.

– Sắc Luật 02/65 ngày 12-07-65 thừa nhận tư cách pháp nhâh của PGHH.

– Các bản Điều Lệ 1963, Hiến Chương 1964, Hiến Chương tu chỉnh 66, 72, 73.

– Và các quyết định nội bộ thành lập : Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục PGHH, Tổng Vụ Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên Sinh Viên Học Sinh PGHH, Lực Lượng Bảo Vệ Tổ Đình và Thánh Địa Hòa Hảo, Tổng Đoàn Bảo An Hòa Hảo….

VII.- CÁC BẢNG TƯỜNG TRÌNH HOẠT ĐỘNG

– Hội Đồng Trị Sự Trung Ương các năm 1969, 70, 71, 72, 73.

– Ban Trị Sự Trung Ương : các nhiệm kỳ II, III và năm 1973.

– Giáo Hội Trung Ương : năm 1973.

VIII.- CÁC CUỘC PHỎNG VẤN VÀ THƯ TỪ

– Quí Ô.Ô : Lương Trọng Tường, Hồ Thái Ngạn, Dật Sĩ, Nguyễn Thành Hiệp, Nguyễn Minh Thiện, Huỳnh Công Kỹ, Trần Quang Diệu, Trần Hữu Bảy …

– Quí Ô.Ô : Lê Trường Sanh, Thái Văn Ý, Văn Phú, Thành Nam …

– Quí Ô. Ô : Lê Quang Liêm, Nguyễn Ngọc Châu, Phan Hùng Anh, Lê Văn Tính …

– Quí Ô.Ô : Phan Bá Cầm, Trình Quốc Khánh, Nguyễn Văn Ca, Lâm Thành Nguyên, Trương Minh Ký…

– Quí Ô.Ô : Nguyễn Văn Hầu, Trần Văn Mãi, Lê Tấn Bửu, Lê Phước Sang, Hồ Hữu Tường, Phạm Văn Chính, Trần Duy Đôn, Đông Hải, Thái Hòa

Advertisements
Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Chủ đề: Giai Đoạn Hoạt Động và Khuyến Nông của Đức Thầy

  • Công cụ Chủ đề
  • Hiển thị
  1. #1

    Buile Đang Ngoại tuyếnSenior Member

    Ngày tham gia
    Jan 2012
    Bài viết
    177

    Giai Đoạn Hoạt Động và Khuyến Nông của Đức Thầy


    Tổ Chức Hàng Ngũ


    Thầy vẫn biết tham vọng của quân phiệt Nhựt muốn thực hiện cái mộng làm chủ Ðông Á, Ngài đã biết rỏ thâm tâm của họ, khi chiếm Ðông Dương.. Thay vì tuyên bố cho các phần đất thuộc địa nầy được độc lập, giao trả quyền cai trị lại cho dân bổn xứ, họ chỉ thi hành sách lược “dịch chủ tái nô”, nghĩa là họ thay thế địa vị của bọn thực dân cũ để xây dựng chế độ thực dân mới của họ mà thôi.
    Ðức Thầy đã thổ lộ tâm tư trong hai câu đối:

    Trương Tiên tá Hớn phi thần Hớn,
    Quan Thánh cư Tào bất đế Tào.


    Ngài sở dĩ đi với Nhựt là để khỏi bị Pháp mưu hại mà thôi. Ngài sống với Nhựt cũng như Quan Công xưa kia sống với Táo Tháo trong lúc thất thủ để chờ cơ hội thoát ly.
    Phương chi Ngài biết trước thời cơ, thế nào quân Nhựt vận số cũng không chịu nổi cuộc phản công của Ðồng Minh hết năm Dậu (1945) Có lẩn Ngài nói với các tín đồ là: 
    “Người Nhựtkhông ăn hết nửa con gà”.Như vậy Ngài đã biết trước Nhựt chỉ tồn tại hết nửa năm Dậu mà thôi (1945). Do thấu rõ máy huyền cơ nên chi Ngài đã âm thầm lo liệu để kịp kỳ ứng phó với tình thế.

    Ban Trị Sự Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo.


    Từ ngày Ðức Thầy ra đời cho đến khi bị đưa đi lưu cư nhiều nơi, không có khoảng thời gian nào rỗi rảnh để cho Ngài sắp xếp nền đạo thành một tổ chức có hệ thống. Mãi cho đến khi được đưa về Sài Gòn, nương náu trong vòng bảo vệ của Hiến Binh Nhựt, nghĩa là từ ngày dời về căn nhà ở đường Lefèvre, Ngài mới rảnh trí để lo sắp xếp nội bộ và tổ chức thành các Ban Trị Sự.
    Mặc dầu gọi là Ban Trị Sự để điều hành công việc Đạo và có danh là tôn giáo là Phật Giáo Hòa Hảo, nhưng về tổ chức chưa dựa vào điều lệ hay nội qui nào. Ngài chỉ chọn lựa trong hàng tín đồ thuần thành, những người có đạo hạnh và uy tín trong vùng rồi chỉ định làm Hội Trưởng Tỉnh bộ, Quận bộ hay Thôn bộ. Người được chọn sẽ tùy tiện giới thiệu thêm người khác. Thành thử trong Ban Trị Sự chưa có con số chức sắc nhứt định.
    Đó là tình trạng các Hội Trưởng trong Ban Trị Sự Phật Giáo Hòa Hảo lúc Ðức Thầy còn bị ràng trong vòng bảo vệ Hiến Binh Nhựt.
    Do sự tổ chức rời rạc ấy mà trong lúc Ðức Thầy đi kinh lý miền Tây, cuộc tiếp rước không được nhứt trí và xảy ra những điều phiền toái làm cho Ngài khó xử trí khi có nhiều tín đồ giành nhau đón Ngài về nhà mình.
    Ðến khi được công khai hoạt động, nhứt là để chấm dứt tình trạng tổ chức rời rạc, Ngài mới nghĩ đến sự chỉnh đốn lại các Ban Trị Sự và tổ chức thành hệ thống.
    Mặc dầu không có điều lệ, Ðức Thầy cũng đã có ý niệm về hình thức Ban Trị Sự gồm có những chức vụ nào
    Ðại để một Ban Trị Sự gồm có 1 Hội Trưởng, 1 Phó Hội Trưởng, 1 Thơ ký, 1 Thủ bổn, 1 viên tổ chức, 1 viên liên lạc, 1 viên tuyên truyền, một số kiểm soát và cố vấn.
    Sau khi chỉnh đốn xong cơ cấu các cấp Tỉnh, Ngài mới nghĩ đến sắp xếp cơ quan Trung Ương. Cứ như được biết khoảng tháng 5 năm 1945, Ban Trị Sự Trung Ương được thành hình trong đó Ðức Thầy giữ chức Chánh Hội Trưởng, còn ông Lương Trọng Tường giử chức Chánh Thơ Ký (1). Ngoài ra còn được biết quí ông Trần Văn Tâm, La Văn Thuận và một số khác nữa, lãnh các chức vụ trong Ban Trị Sự Trung Ương.
    *(1) Cứ như được biết Ðức Thầy có cấp cho ông Tường giấy chứng minh thư chức Chánh Thư Ký, nhưng vài hôm sau thì thâu hồi lại..

    Việt Nam Phật Giáo Liên Hiệp Hội.


    Thật ra thì khi Ngài về ở căn nhà đường Lefèvre, Ngài đã dự thảo chương trình thống hợp các tông phái Phật Giáo thành một lực lượng lấy tên là Việt Nam Phật Giáo Liên Hiệp Hội.
    Trong bài Hiệu Triệu của Việt Nam Ðộc Lập Vận động Hội, Ngài đã có lời kêu gọi thống nhứt giới tu hành theo Phật đạo như sau:


    “Các bực Tăng Sư, Thiền đức! Các Cụ có nhớ chăng? Trên lịch sử Việt Nam thời xưa, nhà đại đức Khuôn Việt dầu khoác áo cà sa rời miền tục lụy, thế mà khi quốc gia hữu sự cũng ra tay gánh vác non sông.
    “Từ khi người Pháp qua chiếm đất ta, bề ngoài gọi rằng cho ta tự do tín ngưỡng, nhưng bên trong dùng đủ mọi cách âm thầm chia rẽ và phá hoại cho tín đồ nhà Phật không có sức đoàn kết chấn hưng hầu bài trừ cái lưu lệ dị đoan mê tín.
    “Ðã vậy lại không có cơ quan tuyên truyền thống nhứt, cũng chẳng có trường chung đào luyện Tăng Sư, các cụ nên biết: hễ nước mất thì cơ sở của đạo phải bị lấp vùi, nước còn nền đạo được phát khai rực rỡ”.

    Ðể cụ thể hóa sự đoàn kết, Ngài thành lập Việt Nam Phật Giáo Liên Hiệp Hội với tôn chỉ liên hiệp các tông phái đạo Phật, các nhà sư, các nhà trí thức có xu hướng về Phật Giáo, để:
    1.- Tìm cách nâng cao tinh thần đạo Phật.
    2. -Tìm những phương tiện cứu giúp kẻ nguy nàn vì thời cuộc
    hiện tại gây ra.
    3. -Giúp đỡ lẫn nhau trong việc quan, hôn, tang tế.
    4. – Binh vực lẫn nhau trong sự tín ngưỡng tự do.
    Ðể đạt mục đích trên, Hội sẽ tổ chức ba đặc ban:
    a)- Ban nghiên cứu đạo Phật gồm có những nhà sư, những nhà thông thái để hằng ngày tra cứu kinh điển dịch sách hay viết sách nói về đạo Phật.
    b)- Ban huấn luyện và truyền bá gồm có các nhà sư, cư sĩ trí thức hoạt động được hội phái đi các nơi giảng giải đạo Phật cho đại chúng, hoặc giả mở trường dạy đạo Phật.
    c)- Ban chẩn tế gồm có các nhà hảo tâm thiện nam tín nữ hoạt động chuyên lo cứu giúp kẻ nghèo nàn đói khó, tật bịnh, hoặc giả thành lập các nhà dưỡng lão hay nuôi kẻ mồ côi người tàn tật.
    Nếu có thể được, mua trữ thuốc men vải sồ, lúa gạo để dành cho cuộc phước thiện.
    Vẫn tưởng Hội sẽ được các nhà sư hưởng ứng, nhưng trái lại, vì tinh thần “riêng chùa riêng Phật” nên Hội đành chết non.


    Đi khuyến nông.


    Bắt đầu từ năm 1944 trận thế chiến thứ hai trở nên ác liệt do Ðồng Minh phản công thắng lợi ở mặt trận Thái Bình Dương. Việt Nam bị phong tỏa, hàng hóa không nhập cảng được trở nên khan hiếm đắt đỏ, trái lại lúa gạo vì không xuất cảng được nên mất giá rẻ mạt. Trong lúc đồng bào miền Bắc thiếu gạo ăn thì ở Sài Gòn người Nhựt dùng lúa thế cho than chụm các nhà máy điện. Vì giá lúa quá rẻ, nông gia bắt đầu bỏ ruộng hoang, xoay qua làm nghề khác. Tình hình nông nghiệp lâm nguy.
    Ðể cứu vãn tình thế, người Nhựt yêu cầu Ðức Huỳnh Giáo Chủ đi khuyến nông, vì chúng biết Ngài có ảnh hưởng rất lớn vùng châu thổ sông Cửu Long là vùng đất phù sa màu mỡ, vựa lúa của miền Nam, trong lúc bình thường đã sản xuất chẳng những dư sức nuôi miền Trung miền Bắc mà còn thừa thải xuất cảng ra nước ngoài đem lại cho nước nhà một nguồn ngoại tệ rất lớn.
    Ðức Thầy nhận lời đi khuyến nông, trước là khuyến khích nông dân, sau là cũng cố hàng ngũ. Hơn thế nữa, riêng Ngài cũng cảm thấy có nhiệm vụ thiêng liêng đối với dân tộc, nên chi Ngài đứng ra cổ võ đồng bào miền Nam, ngoài việc tăng gia sản xuất còn chung sức, nào tiền, nào gạo chở ra cứu giúp đồng bào ruôt thịt trong cơn nguy nàn..
    Cuộc hành trình mệnh danh là cuộc Khuyến nông, kéo dài trong hai tháng, đi khắp các tỉnh miền Tây Nam Việt, diễn thuyết 107 nơi, số người đến nghe trùng trùng điệp điệp…
    Từ bấy lâu nay số người mộ đạo: đã tự qui y mặc dầu chưa hề gặp Ngài, cũng có người nghe danh cảm mộ mà chưa từng biết mặt, nay nghe tin Ngài về thì vô cùng hân hoan phấn khởi, và đây cũng là dịp cho Ngài thăm viếng an ủi tín đồ bấy lâu nay xa cách. Sự vui mừng của anh em tín đồ trông mong Ngài không còn bút mực nào tả cho hết. Người ta tự dựng lên những cổng chào ở mỗi chặng đường và dài theo lộ đặt bàn hương án tỏ lòng kính mộ.. Trên đường Ngài đi qua, già trẻ nữ nam sắp hàng theo hai bên vệ đường làm thành hàng rào dài, đứng chực chờ cả ngày cả buổi, không quản nắng mưa miễn sao được tận mặt chiêm ngưỡng. Sự diện kiến vị Phật tại thế gây cho mọi người sự xúc cảm trào dâng… Mổi khi Ngài lướt qua hàng lớp người, có những cụ già vui mừng đến rơi lệ dầm dề, nghẹn ngào không nói được thành tiếng.
    Và một khi Ngài đi qua…Anh chị em ùn ùn đạp xe hoặc kéo bộ chạy theo tạo thành một quang cảnh tấp nập gây trở ngại cuộc lưu hành không ít. Thấy thế, Ngài ra lịnh cho ai ở đâu thì nên tiếp rước ở đó, chớ không được đi sang qua thôn làng khác.. Mặc dầu có lịnh cấm nhưng cũng có số người vì quá hâm mộ nên khi hay tin đã khéo léo tìm cách đi đến nơi trước, bằng đường thủy thay hoặc đường bộ.
    Vì số người đến đón quá đông nên cuộc tiếp rước phải tổ chức ở những địa điểm công cộng rộng rãi: Thường là sân vận động, đình, chùa hay những khoản đất trống…
    Ở mỗi địa điểm tập họp, người ta có dựng một diễn đài cao để cho mọi người bốn bề phía nào cũng xem thấy, cho dầu ở thật xa cũng trông thấy hình dáng, gương mặt hay bộ tịch lúc Ngài lên thuyết giảng, Có điều thật lạ lung (mà cho đến nay chưa ai có thể giải thích được) là nhiều buổi thuyết giảng với con số nhiều ngàn người tham dự, khoảng cách bao quanh rất rộng lớn, (không có máy phóng thanh) mà ai ai cũng nghe mồn một từ lời của Ngài… Khi Ngài cất tiếng thì đâu đó đều lặng im, khung cảnh trở nên trang nghiêm phăng phắt dầu xa gần cũng thế..Với giọng nói thanh tao, trong trẻo, hấp dẫn lạ thường, vừa hùng hồn vừa truyền cảm. Ai nghe cũng xúc động, có lúc mủi lòng rơi lệ, lúc thì phấn khởi hân hoan…
    Ngài nói thao thao bất tuyệt, ai ai cũng nhận Ngài có tài hùng biện, nói rất khỏe, nói không vấp váp, nói có mạch lạc, hấp dẫn…
    Có khi Ngài phải đăng đàn 3, 4 điạ điểm cùng ngày, nói ngót hai ba tiếng đồng hồ mà không thấy dáng điệu mệt mỏi, không tiếng khan. Dời chỗ nhiều lần như thế mà không nơi nào diễn giảng giống nơi nào, người nghe với trình độ nào cũng thấy thích thú..
    Ngài ám thông tâm lý nên nói rất phù hạp mọi căn cơ, khi thì với giọng bình dị khi thì văn vẻ cao siêu. Do đó người nghe không thấy chán, mặc dầu đứng lâu 2, 3 tiếng đồng hồ, càng nghe càng thấy cảm phục, say mê.
    Bất cứ đề tài nào, Ngài cũng nói trôi chảy, Ngài thông suốt diển cảnh đồng bào đói khổ, chết chóc ngoài Bắc, hết sức thê thảm, cùng những lời thiết tha kêu gọi nông dân nỗ lực cấy cày, đến những giáo lý cao siêu của nhà Phật, đề tài nào Ngài cũng diễn giảng thao thao bất tuyệt, nhả ngọc phun châu, càng lúc càng thu hút đông người đến nghe, đổ xô như nước lũ…
    Trong thời gian “khuyến nông” có vài việc làm cho Ngài không vui là anh em tín đồ tranh nhau rước Ngài về nhà riêng. Cho được công bằng, khỏi mất lòng người nầy, được lòng người khác, Ngài chỉ chấp nhận đến các nơi cơ sở của Đạo, bằng không thì đến nơi công cộng..

    Lộ trình khuyến nông:


    -Khởi hành tại Sài Gòn ngày mồng 1 tháng 5 năm Ât Dậu, nhằm ngày 10-06-1945, đi thẳng xuống Cần Thơ rồi đến -Cái Răng, -Sóc Trăng, -Bãi Xào.
    -Sau khi thuyết giảng tại Sóc Trăng và Bãi Xào, phái đoàn đến Bạc Liêu ngày mồng 6 tháng 5 năm Ât Dậu tức ngày 15-06-1945. Ðến đây Ngài nghỉ ở nhà ông Võ Văn Giỏi (ký Giỏi).
    -Chiều ngày mồng 7 tháng 5 Ât Dậu, Ngài thuyết giảng tại đình Tân Hưng trong châu thành Bạc Liêu.
    -Ngày mồng 8 tháng 5 năm Ât Dậu, Ngài khuyến nông ở Vĩnh Châu và chiều lại thuyết giảng tại Sóc đồn làng Hưng Hội.
    -Ngày sau tức ngày 9 tháng 5 năm Ât Dậu, Ngài đi thăm Linh Quang Tự của ông Chung Bá Khánh dựng trong đồn điền của ông ở làng Vĩnh Lợi và thuyết pháp rồi nghỉ trưa ở đây. Chiều lại Ngài trở về nhà ông Võ Văn Giỏi ở Bạc Liêu. Trong thời gian ở Bạc Liêu, Ngài có đi -Hòa Bình, -Gia Rai và -Cà Mau.
    -Ngày 12 tháng 5 Ât Dậu nhằm ngày 21-6-1945 phái đoàn từ giã Bạc Liêu đi Rạch Giá, trải qua -Vị Thanh, -Giồng Riềng, và đến -Rạch Giá ngày 16 tháng 5 năm Ât Dậu, ở nhà ông Nguyễn Công Hầu.
    Hôm sau, ngày 17 tháng 5 năm Ât Dậu, Ngài đi -Cái Sắn, -Tân Hội rồi trở về Rạch Giá, nghỉ hai ngày 19 và 20.
    Ngày 21 tháng 5 năm Ât Dậu, Ngài đi -Sóc Xoài và -Ba Hòn bằng ghe máy.
    -Trong thời gian ở Rạch Giá, Ngài diễn giảng tại rạp Hòa Lạc và đến thăm đình thờ Quan —
    -Thượng đẳng đại Thần Nguyễn Trung Trực và quan Phó Cơ Ðiều tại làng Vĩnh Thanh Vân trong châu thành Rạch Giá.
    Từ giã Rạch Giá, phái đoàn đi Hà Tiên nơi đây đã có sẵn xe của ông Phán Hồ Viết Long và thầy thuốc Ðỗ văn Viễn chực chờ, rước về Châu đốc thì được tin Hà Tiên bị Ðồng Minh dội bom. Ngài vừa ghé nhà ông Phán Long thì chợ Châu đốc có báo động. Ngày ấy Ngài dùng cơm nhà thầy thuốc Viễn và nghỉ đêm ở đó.
    -Sáng hôm sau, Ngài thuyết giảng tại sân vận động, trưa lại Ngài đi Bình Di thuyết giảng tại làng Khánh Bình.
    -Hôm sau Ngài thuyết giảng ở Tịnh Biên rồi bận về có ghé -Xà Tón, -Thới Sơn, -Nhà Bàn. Khi tới núi Sam Ngài có viếng mộ Phật Thầy..
    -Ngày hôm sau Ngài đến thuyết giảng tại chợ Cái Dầu làng Bình Long.
    Bữa sau Ngài qua -Tân Châu, thuyết giảng tại sân vận động, dùng cơm trưa nhà ông quan Hữu Kim, rồi đi -Hồng Ngự, thuyết giảng tại nhà Hương Sư Sộ, Hội Trưởng Ban trị Sự quận Hồng Ngự. Chiều lại Ngài về tới Hòa Hảo ngày 20 tháng 5 năm Ât Dậu, nhằm ngày 5-7-1945.
    Trên đường về Hòa Hảo, Ngài cho ghé ghe máy thăm ông Năm Hiệu. Ngài lên tới nhà thì ông Năm Hiệu đã tắt thở trước 10 phút.
    -Ngài dặn trong gia đình ngày mai (27-5-Ât Dậu) khi Ngài thuyết giảng ở Chợ Vàm về sẽ an táng.
    Đêm về Hòa Hảo anh em tín đồ tụ lại đông đảo đón Ngài, xếp hàng từ trong nhà Ðức Ông ra đến đại lộ, lên đến chợ Cái Tắc (Mỹ Lương), Ðức Thầy phải đi bộ cho anh em thấy mặt qua ánh sáng của chiếc đèn măng sông do một ngưới xách theo.
    -Sáng ngày 27 tháng 5 Ât Dậu, Ngài diễn đài chợ Vàm Láng Phú An, tổ chức tại sân vận động. Buổi trưa Ngài dùng cơm nhà Hương Hào Phỉ.
    Trên đường về, Ngài có ghé đưa linh cửu ông Năm Hiệu ra phần mồ.
    -Chiều ngày hôm đó, Ngài thuyết giảng tại đình Hòa Hảo.
    Trong mấy ngày ở Hòa Hảo, Ngài có làm lễ đem lư hương từ Tổ đình xuống chùa An Hòa Tự, nhằm ngày 30 tháng 5 Ât Dậu.
    -Sáng ngày mồng 1 tháng 6 năm Ât Dậu, Ngài qua Năng Gù nơi đây có xe Ban Trị Sự tỉnh Long Xuyên đón Ngài rước về tỉnh lỵ Long Xuyên, tới đây độ 11giờ trưa.
    -Ngày mồng 2 tháng 6 năm Ât Dậu, Ngài đi Vĩnh Trạch và- Núi Sập.
    -Ngày 3 tháng 6 năm Ât Dậu, Ngài đi thuyết giảng ở Chợ Mới.
    -Ngày 4 tháng 6, Ngài đi Mỹ Lương.
    -Ngày 5 tháng 6, Ngày đi Ðốc Vàng, chiều trở về Mỹ Hội đông. Sáng hôm sau Ngài thuyết giảng tại sân vận động của làng này rồi về Long Xuyên và thuyết giảng tại công sở làng Mỹ Phước (Châu thành Long Xuyên).
    -Ngày hôm sau, Ngài đi Cái Sắn.
    -Hôm sau, Ngài đi Thốt Nốt (thuyết giảng tại sân vận động củ phía nhà cô Bảy Lánh)) và chiều trở về nghỉ tại Long Xuyên đến 11 giờ đêm.. Ngài đi luôn về Cần Thơ để hôm sau thuyết giảng tại sân vận động.
    Bữa sau, Ngài đi Xà No thăm Hương bộ Thạnh rồi thuyết giảng tại Cái Tắc. Liên tiếp Ngài đi –
    -khuyến nông tại Phụng Hiệp và -Cái Răng. Và mấy ngày sau đó, Ngài đi thuyết giảng ở -Trà Mơn, -Ô Môn, -Cờ Ðỏ.
    Sau Cần Thơ, Ngài đi -Sa đéc, -Cao Lãnh, -Vĩnh Long, -Tam Bình, -An Trường, -Trà Vinh, -Càn Long đến -Bến Tre rồi trở về Sài Gòn.
    Mặc dầu, cuộc khuyến nông kéo dài trong 2 tháng nhưng không nơi nào Ngài ở lâu. Ngài chỉ đi thoáng qua cho anh em tín đồ được trông thấy Ngài cho thỏa lòng bấy lâu mong ước. Tuy Ngài đã đi rồi, nhưng anh em vẫn ghi đậm hình dáng của Ngài vào tâm não, nhứt là lời vàng tiếng ngọc của Ngài đã khuyến giáo. Anh em đa số đến thuộc nằm lòng những đoạn trong bài khuyến nông và nòng nả thi hành theo lời của Ngài tha thiết kêu gọi:

    Giờ đây xem lại mùa màng,
    Năm rồi miền Bắc tan hoang còn gì.
    Chỉ có xứ Nam kỳ béo bở,
    Cơ hội nầy bỏ dở sao xong.
    Cả kêu điền chủ, phú nông,
    Ðứng lên đừng để ruộng đồng bỏ hoang.
    Muốn cứu khỏi tai nàn của nước,
    No dạ dày là chước đầu tiên:
    Nam kỳ đâu phải sống riêng,
    Mà còn cung cấp cho miền Bắc Trung.
    Hoặc là:
    Kẻ phu tá cũng là trọng trách,
    Cứu giống nòi quét sạch non sông:
    Một phen vác cuốc ra đồng,
    Thề rằng ruộng phải được trồng lúa khoai.
    Mưa nắng ấy đâu nài thân xác,
    Chí hy sanh dầu thác cũng cam:
    Miễn sao cho cánh đồng Nam,
    Dồi dào lúa chín gặt đem về nhà.
    Chừng ấy mới hát ca vui vẻ,
    Ai còn khi là kẻ dân ngu:
    Không đem được chút công phu,
    Gởi một tấm lòng son nhắc nhủ.
    Khuyên đồng bào hãy rủ cho đông;
    Nắm tay trở lại cánh đồng,
    Cần lao nhẫn nại Lạc Long cổ truyền.


    Sau chuyến đi Khuyến nông về, đã có nhiều tai biến xảy ra tại Sài Gòn, khiến Ngài vô cùng buồn bã viết ra bài thơ sau đây diễn tả cảnh Ðồng Minh dội bom tàn phá Sài Gòn.

    Lìa Sài Gòn trong vòng hai tháng,
    Khi lộn về tiệm quán tanh banh:
    Bởi chưng pháo lũy phi hành,
    Quăng bom mù quáng tan tành còn chi.
    Ðộng lòng của kẻ từ bi,
    Tây phương tâu lại A Di Phật đà.
    Rằng bên thế giới Ta Bà,
    Chúng sanh tàn sát cũng là vì tham.
    Di đà mở cuộc hội đàm,
    Cùng chư Bồ Tát quyết đem pháp lành.
    Tịnh bình rước khắp chúng sanh,
    Làm cho giác ngộ hiền lành như Ta.
    Công đồng hoạch định san hà,
    Nước ai nấy ở nhà nhà tự do.


    Ðiều được biết là sau khi khuyến nông về, Ngài không trở lại căn nhà ở đường Lefèvre nữa mà đi thẳng lên biệt thự số 38 đường Miche (nay là đường Phùng Khắc Khoan) là nơi anh em tín đồ đã xếp đặt sẵn trong lúc Ngài đi Hậu Giang.

    HH

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

SẮC LUẬT 002/65 (cho phép GH/PGHH hoạt động trong quốc gia VN)

SẮC LUẬT 002/65 (cho phép GH/PGHH hoạt động trong quốc gia VN)

Sắc Luật Số 002/65

Ngày 12 tháng Bảy năm 1964, cho phép GIÁO HỘI PHẬT GIÁO HÒA HẢO hoạt động theo Hiến Chương ngày mồng sáu tháng chạp năm 1964.

CHỦ TỊCH ỦY BAN LÃNH ĐẠO QUỐC GIA

– Chiếu ước pháp ngày 19 tháng sáu năm 1965,
– Chiếu quyết định số 3-QLVNCH/QĐ ngày 14 tháng sáu năm 1965 của Đại Hội Đồng các Tướng lãnh Quân lực Việt Nam Cộng Hòa thành lập và ấn định thành phần Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia,
– Chiếu sắc lệnh số 001/CT/LDQG/SL ngày 19 tháng sáu năm 1965 ấn định thành phần Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương,
– Chiếu Dụ số 10 ngày 6 tháng tám năm 1950, sửa đổi bởi Dụ số 24 ngày 19 tháng mười một năm 1952, và Dụ số 6 ngày 3 tháng tư năm 1954, ấn định quy chế hiệp hội,
– Chiếu đề nghị của Chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương,
– Sau khi Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia thảo luận và biểu quyết,


SẮC LUẬT:

ĐIỀU 1.- Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo là Giáo Hội duy nhứt của khối tín đồ hội viên Phật Giáo Hòa Hảo được phép hoạt động trên toàn lãnh thổ Việt Nam, theo Hiến Chương ngày 6 tháng chạp năm 1964, đính theo luật nầy.

ĐIỀU 2.- Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo có tư cách pháp nhân, được quyền sở hữu,thủ đắc, tạo mãi, hoặc chuyển nhượng những động sản, bất động sản cần thiết để đạt mục đích của Giáo Hội.
Những bất động sản đó gồm có những Tự viện, Hội quán, Độc giảng đường, Trụ sở và các cơ sở hoạt động văn hóa, xã hội.

ĐIỀU 3.- Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo được quyền thâu nhận những tài sản do các thể nhân hay pháp nhân sinh tặng hoặc di tặng.

ĐIỀU 4.- Dụ số 10 ngày 9 tháng tám năm 1950, ấn định quy chế hiệp hội và các luật lệ trái với sắc luật này, không áp dụng cho Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo.
Sắc luật này sẽ đăng vào Công báo Việt Nam Cộng Hòa


Saigon, ngày 12 tháng bảy năm 1965
Trung Tướng NGUYỄN VĂN THIỆU

GHI CHÚ: Đã đăng Công Báo Việt Nam Cộng Hòa số 36, ngày 31-7-1965.


***

LỄ TIẾP NHẬN SẮC LUẬT SỐ 002/65 nhìn nhận Tư Cách Pháp Nhân
của GIÁO HỘI PHẬT GIÁO HÒA HẢO



*12-8-1965, tại Thánh địa Hòa Hảo, một cuộc lễ được cử hành vô cùng trọng thể để tiếp nhận Sắc Luật số 002/65 do Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia trao cho Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo.

Từ một tuần lễ trước đó, Ban Tổ Chức Trung Ương Giáo Hội đã bắt đầu hoạt động.
Tổ Đình được trang hoàng rực rỡ, một khán đài to rộng cũng được dựng lên trước công trường tại phía ngoài Đình Thần Hòa Hảo, bên cạnh trụ sở của Ban Trị Sự Trung Ương.

*Ngày 11-8-1965, cờ xí đã rợp mát một vùng trời Thánh Địa . Các cấp Trị sự từ các tỉnh Châu Đốc, An Giang, Phong Dinh, Chương Thiện, Kiên Giang, Kiến Phong, Vĩnh Long, Định Tường, Long An, Sài Gòn, Gia Định, Vĩnh Bình, .v.v… cũng nhất loạt kéo về để tham gia đại lễ.
Suốt buổi chiều ngày 18, hai bến đò Hòa Hảo Kiến An và Hòa Hảo Năng Gù chật nghẹt hành khách, người ta phải gia tăng thêm nhiều đò máy mới kịp đưa khách sang sông .
Xe cô rầm rập từ các vùng đổ xô về Thánh Địa: một khung cảnh rộn rịp đã diễn ra và kéo dài mãi đến giữa khuya.

*3 giờ sáng ngày 18, trên đường từ Chợ Đình đến Chợ Tắt dày đặt những chân người . Tiếng nói chuyện, tiếng động cơ, tiếng chân đi lẫn với tiếng điều khiển lồng lộng của Ban Tổ Chức trên máy phóng thanh hòa nhau thành một âm thanh hỗn tạp.

Dưới sông, ghe tàu đậu chật một khúc sông và một số đồng còn được xê dịch để rước thêm dân chúng từ các quận Chợ Mới, Hồng Ngự, Thanh Bình, Tân Châu, Châu Phú về Thánh Địa.
Khi bình minh hiện rõ thì một rừng người cũng được hiện ra . Từ Chợ Đình đến Chợ Tắt, dẫn tới phần mộ của Đức Ông, kéo dài trên hai cây số ngàn, không một nơi nào là không đông nghẹt người tín đồ PGHH.

Đặt biệt là con số dân chúng tham dự trên 130.000 người, mà toàn thể đều xếp vào kỷ luật, hàng ngủ chỉnh tề và đứng im phăng phắc.

Hàng trăm biểu ngữ được trương lên vô số khẩu hiệu: Việt Nam Công Hòa muôn năm; Phật Giáo Hòa Hảo trường cửu; Long trọng chào mừng Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia; Toàn thể tín đồ PGHH hân hoan tiếp nhận Sắc luật 002/65 .v.v…
Đúng 8 giờ 30, quan khách đến.

Tại phòng khách danh dự của Tổ Đình, ngoài các cấp quân sự, hành chánh các địa phương lân cận Thánh Địa, các vị cố vấn ngoại quốc, và hằng ngàn Trị Sự Viên Giáo Hội PGHH, người ta nhận thấy có đông đủ đại diện các tôn giáo bạn đến dự lễ:

Thượng tọa Thích Pháp Tri, đại diện Viện Hóa Đạo, Ông Trịnh Đình Khôi, đại diện Hội đồng Tinh thần đạo BaHai, Sĩ Tải Hiệp Thiên Đài Lê Quang Tấn, đại diện Hội Thánh Cao Đài Tây Ninh và các vị Giáo Hữu, Lễ Sanh, Khâm Châu, Đầu Tộc .v.v..


*9 giờ, Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia đáp phi cơ trực thăng đến Thánh địa.

Trong những tiếng hoan hô vang dậy một góc trời để đón mừng Thượng khách, người ta thấy có:

Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, Trung Tướng Phạm Xuân Chiểu, Tổng thư ký Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, Thiếu Tướng Đặng văn Quang, Ủy viên Ban Lãnh Đạo Quốc Gia kiêm Tư lệnh Vùng 4 chiến thuật, Thiếu Tướng Huỳnh văn Cao, Giám Đốc Chánh Trị Cục, Đại Tá Bùi văn Mạnh, đại diện Thiếu Tướng Tổng ủy viên chiến tranh, ông Ủy viên Tâm Lý Chiến Đinh trình Chính, ông Ủy viên Xây Dựng Nông Thôn Nguyễn tất Ứng và Ông Thứ Ủy Nội Vụ Phạm văn Tương.

Từ sân bay, Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia tiến về phía phần mộ Đức Ông để kỉnh lễ và đặt một tràng hoa tại đó.

*9 giờ 30, giữa một rừng người dày đặt, đứng theo hàng ngũ chỉnh tề, Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, để cho được gần gũi và thăm hỏi dân chúng, đã đi bách bộ về Tổ Đình. Nơi đây, Ủy Ban được Đức Bà, thân mẫu của Đức Huỳnh Giáo Chủ, Hội Trưởng Danh Dự Tối Cao Giáo Hội PGHH tiếp kiến .


Đúng 10 giờ, sau khi Trung Tướng Chủ Tịch thăm hỏi sức khỏe của Đức Bà và ngỏ lời về việc Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia đã ký một Sắc luật thừa nhận tư cách pháp nhân của Giáo Hội PGHH, một cuộc lễ Cáo trình Chư Phật, Đức Thầy và Các Đấng Thiêng Liêng được cử hành. Trung Tướng Nguyễn văn Thiệu, Thiếu Tướng Nguyễn cao Kỳ và Trung Tướng Phạm xuân Chiểu tiến vào dâng hương trước ngôi Tam Bảo. Sau đó, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, Quan khách và các cấp Trị Sự trong Giáo Hội từ Tổ Đình đến công trường .

Xe chạy từ từ giữa tiếng hoan hô bất tận của biển người chật nghẹt như niêm.

*10 giờ 5 phút, khi toàn thể Thượng khách đã an tọa tại khán đài trước công trường Chợ Đình, ông Hội Trưởng Lương Trọng Tường đã nhân danh Ban Trị Sự Trung Ương Giáo Hội PGHH lên đọc diễn văn.


Trung Tướng Chủ Tịch Nguyễn Văn Thiệu, nhân danh Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa trao sắc luật 002/65 cho Ông Lương Trọng Tường Hội Trưởng Ban Trị Sự Trung Ương Giáo Hội PGHH.

(Trong bài diễn văn ấy, Ông Hội Trưởng Trung Ương có đoạn nói):

Thật là một vinh dự lớn lao cho chúng tôi khi được thay mặt Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo, Ban Trị Sự các cấp Tỉnh, Quận, Xã, Ấp và toàn thể tín hữu của chúng tôi để ngỏ lời chào mừng Trung Tướng Chủ Tịch cùng quý vị tướng lãnh trong Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, Thiếu Tướng Chủ Tịch Ủy Ban Chấp Hành Pháp Trung Ương, Phái Đoàn Trung Ương Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa, Thiếu Tướng Tư Lệnh Vùng 4 Chiến thuật, quý vị Tỉnh Trưởng và chư quý Quan Khách, chư quý Đồng bào, Đồng đạo hôm nay, trong khung cảnh trang nghiêm long trọng nầy .Thừa lệnh Đức Bà, vị lãnh đạo tối cao tinh thần khối Phật Giáo Hòa Hảo, chúng tôi, với tư cách Hội Trưởng Ban Trị Sự Trung Ương Giáo Hội PGHH, xin tỏ lời thành kính tri ân Trung Tướng Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, Thiếu Tướng Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương và Phái Đoàn Chánh Phủ đã đến đây trao tận tay chúng tôi bản Sắc luật số 002/65 thừa nhận tư cách pháp nhân của Tôn Giáo Phật Giáo Hòa Hảo .
Theo Sắc luật này và bản Hiến Chương phụ đính thì Tôn Giáo Phật Giáo Hòa Hảo được hưởng một quy chế hoạt động rộng rãi, không còn bị hạn chế bởi Dụ số 10 ngày 6-8 năm 1950 và các luật kế tiếp áp dụng cho các Hiệp Hội thông thường.
Sắc luật này đã làm thỏa mãn hai triệu đồng đạo của chúng tôi và luôn luôn cả những Đồng bào thường mong mỏi một chánh sách bình đẳng Tôn Giáo và công bằng xã hội.
Sắc luật này chẳng những là một văn kiện lịch sử công nhận quyền lãnh đạo duy nhất của Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo đối với khối hai triệu tín hữu của chúng tôi mà còn là một văn kiện đánh dấu sự xác nhận thành tích đấu tranh của Đoàn Thể Phật Giáo Hòa Hảo sau hơn một phần tư thế kỷ phục vụ chánh nghĩa quốc gia.
Với quan điểm ấy, Sắc Luật này sẽ được ghi trong lịch sử của Đoàn Thể chúng tôi.

Ông Hội Trưởng cũng không quên tỏ lời nồng nhiệt cảm ơn Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia và kế tiếp Ông Văn Phú, Chánh Thư Ký Ban Trị Sự Trung Ương, đọc nguyên văn bản Sắc Luật.
10 giờ 40, Trung Tướng Chủ Tịch lên diễn đàn .

Trung Tướng đã nhấn mạnh về việc 
“Sắc luật này không phải là một ân huệ đặc biệt, mà chỉ thể hiện một chánh sách và hợp thức hóa một tình trạng sẵn có xứng đáng của một đoàn thể vừa hội đủ điều kiện, vừa có một quá trình phục vụ Quốc Gia Dân Tộc …”, đồng thời Trung Tướng cũng long trọng tuyên bố:

“Tôi thành tâm nghiêng mình cảm phục Đức Huỳnh Giáo Chủ, Người đã lấy Tứ Ân làm giáo lý, lấy Tịnh Độ làm pháp môn để khai sáng đạo giáo này. Người còn là một nhà cách mạng Quốc Gia với một quá trình trong sạch, tranh đấu bất vị lợi vì Tổ Quốc và Dân Tộc.
Tuy ngày nay Giáo Chủ vắng mặt, nhưng công nghiệp của Người vẫn nối tiếp và phát triển thêm, thể hiện bằng một khối tín hữu hùng mạnh với một tinh thần Quốc Gia chân chính và vững chắc”.

*11 giờ, Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia từ giã các cấp Trị Sự và đồng bào để lên phi cơ về tỉnh lỵ Châu Đốc.


Tinh thần thân mật giữa chánh quyền và Tôn giáo, giữa Quân đội và Nhân dân, qua buổi lễ này, đã thể hiện một cách đậm đà và cụ thể .


Nguyễn Bút Trạch 

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Vài nét về: Ðức Huỳnh Giáo Chủ

Vài nét về: Ðức Huỳnh Giáo Chủ

Người sáng-lập Đạo Phật-Giáo Hòa-Hảo là Đức Thầy Huỳnh-Phú-Sổ. Đản sanh ngày 25 tháng 11 năm Kỷ-Mùi (15-01-1920) tại làng Hòa-Hảo, tỉnh Châu- Đốc, một tỉnh xa-xôi giáp biên-thùy Việt-Miên thuộc miền Nam Việt.

Ngài là trưởng nam của Đức Ông Huỳnh-Công-Bộ và Đức Bà Lê-Thị-Nhậm; một gia-đình trung-lưu, nhiều phúc-hậu và nhiều uy-tín với nhân-dân địa- phương.

Thuở nhỏ, vừa học xong đến hết bậc tiểu-học thì đau ốm liên-miên, nên Ngài phải rời nhà trường về dưỡng bịnh. Từ 15 đến 21 tuổi, Ngài không lúc nào dứt được cơn đau và không một lương-y nào trị được.
Năm 1939, sau khi hướng-dẫn thân-phụ đi viếng các am-động miền Thất-Sơn và Tà-Lơn – những núi non được nổi tiếng linh-thiêng hùng-vĩ – Ngài tỏ ra đại ngộ. Ngày 18-5 Kỷ-Mão (1939) Ngài chính-thức mở Đạo. Bắt đầu là công việc chữa bệnh, Ngài chữa lành được các chứng hiểm-nghèo với phương-pháp thật giản-đơn là chỉ dùng lá cây, nước lã, giấy vàng, khiến các bác-sĩ Tây-y, các dược-sư Đông-y lẫn các danh-gia phù-thủy đều phải kinh-dị.

Song-song với việc chữa bịnh, Ngài thuyết-pháp thao-thao bất tuyệt. Nhiều thi-sĩ văn-gia hoặc luật-gia nghe tiếng, đến chất-vấn, đều phải nhận Ngài là một bậc siêu-phàm.

Cũng từ năm 1939, Ngài sáng-tác thật nhiều Kệ Giảng nội-dung tiên-tri chiến-cuộc sẽ tràn-lan, nhân- loại sẽ điêu-linh và kêu gọi mọi người nên bỏ dữ về lành, thực-hành tứ-ân, trau-giồi thiền-tịnh để trở thành thiện-nhân trong xã-hội và tiến đến sự nhập diệu cõi đạo.

Nhìn qua công-đức giảng dân cứu chúng, người ta thấy Ngài chữa được hằng vạn chứng hiểm-nghèo, thuyết-pháp hằng ngàn lần trước đại-đa thính-chúng và sáng-tác sáu quyển Kệ Giảng cùng với hàng trăm bài thi ca, văn, chú có giá-trị siêu-việt.

Văn-chương của Ngài cực-kỳ bình-dân nhưng rất hàm-súc hấp-dẫn. Ngài viết không cần giấy nháp.
Giáo-pháp của Đức Giáo-Chủ tuy cao-siêu nhưng không kém phần thực-tế, có thể áp-dụng cho bất cứ một nơi nào trên thế-gian. Ngài là một nhà đại cách- mạng tôn-giáo. Vì trước khi Ngài ra đời, Đạo Phật Việt-Nam bị đình-đốn sai lạc, và Đạo Phật thế-giới chưa nói tới việc canh-tân. Ngài đã cắt bỏ tất cả những nghi-lễ phiền-toái mà nguyên-căn không phải của Đức Thích-Ca chủ-trương, đồng thời còn canh-tân nhiều điểm trong phương-pháp thực-hành đạo Phật mà trước kia không hề có.

Nhờ Giáo-pháp thích-thời đó nên chỉ trong một thời-gian ngắn, Ngài thu-phục được hai triệu tín-đồ tại miền Nam Việt-Nam và ảnh-hưởng mỗi lúc càng lan rộng thêm ra.

Vì Ngài được thiên-hạ quá hoan-nghinh nên nhà đương-cuộc bắt đầu để ý đến sự bành-trướng dị- thường của phong-trào tôn-giáo Phật-Giáo Hòa-Hảo, nên một biện-pháp chánh-trị đã được đem ra thi-hành và Ngài phải bị quản-thúc tại làng Nhơn-Nghĩa (Cần- Thơ).
Ở đây, Ngài lại được người ta tôn-sùng hơn trước nữa, làm cho nhà cầm quyền phải đem Ngài an-trí tại nhà thương Chợ-Quán. Sau đó, Ngài lại bị dời về Bạc- Liêu đến năm 1942.
Khi người Nhựt nhúng tay vào thời-cuộc Đông- Dương trong hồi thế-giới chiến-tranh kỳ nhì, họ cưỡng-bách đem Ngài về Sài-Gòn thì Ngài buộc lòng tá-túc tại Hiến-binh Nhựt để chờ đợi thời-cơ thuận- tiện ra gánh vác việc nước nhà. Khi đó Ngài có làm một câu đối để diễn-tả hoàn-cảnh của mình :
“Trương Tiên qui Hớn phi thần Hớn, Quan đế cư Tào bất đê Tào.”

Sở-dĩ người Nhựt muốn thi ân với Ngài là vì họ muốn gây cảm-tình với khối tín-đồ khổng-lồ của Ngài để sau nầy có thể lợi-dụng. Nhưng đã là một người sáng-suốt thì Ngài đâu có để cho bọn Nhựt lôi cuốn trong việc chuẩn-bị của họ chống Đồng-minh.

Sau cuộc đảo-chánh mùng 9 tháng 3 dương-lịch 1945, Ngài giữ một thái-độ hết sức dè-dặt vì Ngài biết chắc-chắn rằng người Nhựt thế nào cũng thất trận. Lúc đó, Ngài nói một lời tiên-tri rất hài-hước “Nhật- Bổn ăn không hết con gà”. Mà thiệt vậy ! Vì năm Dậu (con gà) mà cũng là năm 1945 chưa hết, thì số phận nước Nhựt đã được định-đoạt.

Năm 1945, “vì lòng từ-ái chứa-chan, thương bách-tính tới hồi tai-họa”, nên Ngài đứng ra bảo-vệ quốc-gia và cứu nguy dân-chúng. Ngài từng thành-lập Phật-Giáo Liên-Hiệp Hội để đoàn-kết đạo Phật, và Việt-Nam Độc-Lập Vận-Động Hội để vận-động cuộc độc-lập nước nhà.

Sau khi Nhựt-Hoàng đầu hàng Đồng-minh không điều-kiện, nước Việt-Nam phải sống một thời-kỳ bất- định, Đồng-bào Việt-Nam đương lo-sợ cảnh dịch-chủ tái-nô, Đức Huỳnh Giáo-Chủ liền hiệp với lãnh-tụ các đảng-phái và tôn-giáo để thành-lập Mặt-trận Quốc-gia Thống-Nhứt hầu lên tiếng với ngoại-bang. Mặt-trận nầy lại sáp-nhập vào Mặt-trận Việt-Minh mà chính Đức Huỳnh Giáo-Chủ là vị đại-diện đầu tiên ở Nam- Việt.

Sau sự thất-sách của Hồ-Chí-Minh với Hiệp-ước mùng 6 tháng 3 năm 1946, tạo cơ-hội thuận-tiện cho thực-dân trở lại, Đức Huỳnh Giáo-Chủ liên-kết với các lãnh-tụ quốc-gia để thành-lập Mặt-Trận Quốc-Gia Liên-Hiệp.

Mặt-trận nầy được quần-chúng nhiệt-liệt hoan- nghinh nên lại bị Việt-Minh giở ngón độc-tài giải-tán. Họ liền thành-lập Liên-Hiệp Quốc-Dân Việt-Nam Hội để che đậy màu sắc đỏ của Đệ-Tam Quốc-Tế và để làm cho quần-chúng quên cái dĩ-vãng đẫm máu của các tướng Cộng-Sản hồi cuối năm 1945.
Năm 1946, vì muốn gây cuộc đoàn-kết giữa các tầng lớp đồng-bào, Ngài ưng-thuận tham-gia Ủy-Ban Hành-Chánh với trách-vụ Ủy-Viên Đặc-Biệt.

Ngài liên-kết các chiến-sĩ quốc-gia với khối tín-đồ Phật-Giáo Hòa-Hảo để thành-lập Việt-Nam Dân-Chủ Xã-Hội Đảng (21-9-46), với chủ-trương công-bằng xã-hội và dân-chủ-hóa nước Việt-Nam. Ngài chẳng những là một nhà cách-mạng tôn-giáo anh-minh mà còn là một lãnh-tụ chánh-trị đa tài. Đọc Tuyên-ngôn, Chương-trình của Đảng Dân-Xã do Ngài đưa ra, dù cho đối-phương hay những người khó tánh, đều phải công-nhận Ngài có một bộ óc cải-tiến vượt bực và nhận-định sáng-suốt phi-thường.
Đồng thời, Ngài cũng gởi người ra hải-ngoại, đoàn-kết với các nhà cách-mạng quốc-gia lưu-vong để thành-lập Mặt-Trận Thống-Nhất Toàn-Quốc. Giải- pháp quốc-gia cũng do công-trình của Ngài và các nhà cách-mạng xuất-dương mà thực-hiện đến ngày nay.

Bởi đường lối của Ngài trái ngược với chủ-trương Cộng-Sản và bởi Giáo-thuyết của Ngài có thể gây đổ- vỡ cho chủ-nghĩa vô-thần, Cộng-Sản đã tìm mọi cách làm hại Ngài, nhưng họ đều không làm gì Ngài được.

Đầu năm 1947, các tín-đồ Phật-Giáo Hòa-Hảo ở miền Tây chống lại chủ-trương độc-đoán của các Ủy- Ban Việt-Minh vì họ áp-dụng chánh-sách độc-tài trong sự tổ-chức và cai-trị quần-chúng. Muốn tránh cuộc cốt-nhục tương-tàn, Đức Huỳnh Giáo-Chủ về miền Tây Nam-Việt với hảo ý trấn-tĩnh lòng phẫn-nộ của tín-đồ P.G.H.H. và để giảng-hòa hầu đoàn-kết chống thực-dân cho có hiệu-lực. Nhưng ngày 25 tháng 2 nhuần năm Đinh-Hợi (16-4-47), Ủy-Ban Hành-Chánh Việt-Minh âm-mưu bắt Ngài tại Đốc- Vàng Hạ (vùng Đồng-Tháp).

Từ đó không ai rõ tin-tức chi về Đức Huỳnh Giáo- Chủ, nhưng toàn-thể tín-đồ của Ngài không ai tin rằng Việt-Cộng có thể làm hại Ngài được. Và muôn người như một, đang mong đợi một ngày về trong sứ-mạng vinh-quang nhất của Ngài.

Quyển sách Cách Tu Hiền sau đây là một trong nhiều tác-phẩm của Ngài, đã được tái-bản trên 300 lần với ấn-lượng trên 800.000 quyển bằng tiếng Việt- Nam. Nó ngắn-gọn nhưng đủ rõ những điều cần-thiết trong nghi-thức tu-hành theo Đạo Phật-Giáo Hòa- Hảo.

Thánh-địa Hòa-Hảo, ngày 1-1-1966
Ban Phổ-Thông Giáo-Lý Trung-Ương Giáo-Hội P.G.H.H.
(nhiệm-kỳ I, 1964 – 1966)
Kính đề

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔ và Phật Giáo Thời Ðại

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔ

và Phật Giáo Thời Ðại

Lê Hiếu Liêm

 

Viện Tư Tưởng Việt Phật Hoa Kỳ 1995

tái bản lần thứ hai 2001

 

Kính tặng những người mang tâm hạnh Bồ Tát tùy thuận phụng sự chúng sanh đã hy sinh tự do và thân mạng

cho lý tưởng cứu khổ cứu nạn con dân và đất nước Việt Nam thân yêu.

 

Viện Tư Tưởng Việt Phật

Chuyển luân chánh pháp vào thời đại,

chính sách quốc gia & đời sống quốc dân.

Mục Lục

Chương Một: Việt Nam và Phật Giáo đầu Thế Kỷ 20.

Chương Hai: Tư  Tưởng Phật Học Của Thiền Sư Thích Thiện Chiếu.

A/ Cuộc đời và hành trạng của thiền sư Thích Thiện Chiếu.

B/ Tư tưởng Phật học của thiền sư Thích Thiện Chiếu và các bạn cùng lý tưởng.

a/ Bác bỏ Thượng Đế.

b/ Bác bỏ thuyết linh hồn bất tử.

c/ Bác bỏ quan niệm thiên đàng, niết bàn.

d/ Thuyết vô ngã.

1/ Mâu thuẩn của niết bàn.

2/ Mâu thuẩn nhân quả.

 

Chương Ba: Cuộc đời của Huỳnh Phú Sổ.

A/ Cuộc đời thanh thiếu niên.

B/ Cuộc đời hành đạo.

C/ Những năm tháng bị quản thúc, lưu đày.

D/ Thời gian sống ở Sài Gòn và đi khuyến nông tại miền Tây.

E/ Quê hương bừng dậy trong cách mạng và kháng chiến.

F/ Dấn thân hoạt động cách mạng kháng chiến cứu quốc.

G/ Những ngày cuối cùng của Huỳnh Phú Sổ.

H/ Các tác phẩm của Huỳnh Phú Sổ.

 

Chương Bốn: Nguồn Gốc Lịch Sử, Bối Cảnh Chính Trị Và Truyền Thống Tâm Linh.

A/ Công cuộc Nam tiến.

B/ Cuộc kháng chiến chống Pháp.

C/ Truyền thống Đạo Pháp và Dân Tộc.

 

Chương Năm: Tinh Hoa Tư Tưởng Phật Học Và Phương Thức Chấn Hưng Phật Giáo Của Huỳnh Phú Sổ.

1/ Phương pháp luận của Huỳnh Phú Sổ.

2/ Hình thức giảng đạo.

3/ Đối tượng hoằng pháp.

4/ Phương thức cứu độ.

5/ Tinh yếu tư tưởng Huỳnh Phú Sổ.

 

Chương Sáu: Cuộc Cách Mạng Tôn Giáo Của Huỳnh Phú Sổ.

1/ Khuyến khích tu hành theo đạo Phật.

2/ Bài trừ mê tín dị đoan.

3/ Việt hóa nghi thức thờ phượng.

4/ Đề cao vai trò của người Phật tử tại gia.

5/ Áp dụng thuyết tứ ân, đưa đạo Phật vào đời.

6/ Đưa đạo Phật vào thời đại.

7/ Hình thành một tôn giáo dân tộc.

 

Chương Bảy: Con Đường Hành Động Phật Giáo Qua Hành Trạng Của Bồ Tát Huỳnh Phú Sổ.

A/ Tranh đấu cho độc lập, thống nhất, hòa giải và đoàn kết dân tộc.

B/ Nổ lực đoàn kết, thống nhất Phật giáo.

 

Chương Tám: Nội Dung Phật Pháp Của Phật Giáo Hòa Hảo.

– Đường trung đạo.

– Chư Phật có bốn đại đức.

– Tam nghiệp và thập ác.

1/ Sát sanh.

2/ Đạo tặc.

3/ Tà dâm.

4/ Lưỡng thiệt.

5/ Ỷ ngôn.

6/ Ác khẩu.

7/ Vọng ngữ.

8/ Tham lam.

9/ Sân nộ.

10/ Mê si.

 

– Sơ giải về tứ diệu đế.

– Luận về bát chánh.

1/ Chánh kiến.

2/ Chánh tư duy.

3/ Chánh nghiệp.

4/ Chánh tinh tấn.

5/ Chánh mạng.

6/ Chánh ngữ.

7/ Chánh niệm.

8/ Chánh định.

 

– Cư sĩ Huỳnh Phú Sổ và danh tăng Narada Maha Thera.

– Thập nhị nhơn duyên.

– Môn hoàn diệt.

– Đức Phật đối với chúng sanh.

– Lời khuyên bổn đạo.

– Trong việc tu thân xử kỷ.

 

Chương chín: Hình Thức Tín Ngưỡng Của Phật Giáo Hòa Hảo.

A/ PGHH là một tông phái Phật giáo tu hành tại gia.

B/ Hình thức thờ phượng, lễ bái, cầu nguyện.

– Thờ phượng.

– Hành lễ.

– Tang lễ.

– Hôn nhân.

– Những điều cấm làm.

– Đối với các tôn giáo và nhân sanh.

– Điều kiện vo đạo.

– Sự cúng lay của người cư sĩ tại gia.

 

C/ Tám điều răn cấm.

– Lời khuyên bổn đạo.

 

Chương Mười: Thi Kệ Của Huỳnh Phú Sổ.

– Thi kệ của Huỳnh Phú Sổ và thi kệ của Nhất Hạnh.

– Huỳnh Phú Sổ là một phần mầu nhiệm của chúng ta.

 

Phụ Lục.

– Nhận định Tình Hình Tôn Giáo Tại Việt Nam của tác giả.

– Đức Huỳnh Giáo Chủ Như Là Một Triết Gia Việt Nam của Học Giả Phạm Công Thiện.

– Huỳnh Phú Sổ Và Chúng Ta của Tiến Sĩ Lý Khôi Việt.

 

 

Bồ Tát Huỳnh Phú Sổ Và Phật Giáo Thời Đại là một tác phẩm sử học và Phật học nên tác giả đã không thể viết khác hơn về một số sự thật lịch sử và một số nhận định, phê bình. Lịch sử là lịch sử. Và tự do tư tưởng là quyền tự do căn bản nhất, thiêng liêng nhất của mọi con người trong thế giới văn minh ngày nay.

Tác giả hoan nghênh và sẵn sàng thảo luận với bất cứ ai về bất cứ vấn đề gì được nêu lên trong tác phẩm nầy.

 

* Các hình của Huỳnh Phú Sổ được chụp lại từ trong cuốn Phật Giáo Hòa Hảo Trong Dòng Lịch Sử Dân Tộc của Nguyễn Long Thành Nam.

 

Viện Tư Tưởng Việt Phật

P.O Box 915

Danville, CA 94526. USA

 

 

Tác Giả & Tác Phẩm

 

* Tác giả Lê Hiếu Liêm sinh năm 1952 tại Huế, tốt nghiệp Cử nhân Luật Khoa đại Học Sài Gòn năm 1974 và Tiến Sĩ Luật Khoa, chuyên ngành về Luật Các Tổ Chức Quốc Tế Và Bang Giao Kinh Tế Quốc Tế, đại Học Sorbonne năm 1978, sáng lập Tạp Chí Khai Phóng (1981), báo Thanh Niên Hành động (1984), báo The Berkeley Times (1986), Viện Tư Tưởng Việt Phật (1990), Tạp Chí Bông Sen (1991) và Trường Phật Học Lý Trần (1991).

Trong hơn hai thập niên qua, tác giả đã hoàn thành các tác phẩm sau đây:

– Ý Thức Hệ Của Các Quốc Gia Đang Phát Triển (1970),

– Chiến Tranh Việt Nam Và Luật Quốc Tế (1973),

– Hợp Tác Và Hội Nhập Tại Đông Nam Á (1976),

– Việt Nam Và Hoa Kỳ Trong Thời đại Mới 1976-2000 (1976),

– Bản Điều Trần Nguyễn Trường Tộ Mới (1977),

– Khía Cạnh Pháp Lý Và Thực Tế Của Sự Giao Thương Nga-Mỹ (luận án tiến sĩ, 1978),

– Việt Nam Tranh Đấu Sử Luận (1980),

– Hai Ngàn Năm Việt Nam Và Phật Giáo (1981).

 

Tác giả đã viết trên 200 bài nghiên cứu, tham luận, bình luận, phóng sự, bút ký… dưới các bút hiệu khác nhau, về các vấn đề Phật Giáo, Phật Học và Đất Nước, được đăng tải trên các tạp chí Phật Giáo Việt Nam, Khai Phóng, Giao Điểm, Hoa Sen, Bông Sen, Bông Sen Âu Châu… và được trích đăng lại trong nhiều tờ báo khác.

Tác giả Lê Hiếu Liêm là chủ biên của bộ Phật Học Lý Trần, Khóa Căn Bản (Năm thứ nhất Cao Đẳng Phật học), Khóa Trung Cấp (Năm thứ hai Cao Đẳng Phật học) và Khóa Cao Cấp (năm thứ ba Cử Nhân Phật học) tổng cộng 6.000 trang.

Ngay từ tác phẩm đầu tiên “Ý Thức Hệ Của Các Quốc Gia đang Phát Triển”, được viết khi 18 tuổi, tác giả đã đề nghị lấy Phật Giáo để dung hòa, hóa giải các nguồn ý thức hệ đang tàn phá Việt Nam và làm chủ đạo văn hóa-chính trị mới cho Việt Nam.

Lời kêu gọi này tiếp tục được đưa ra trong Bản Điều Trần gởi các nhà lãnh đạo Việt Nam, được viết khi 24 tuổi, và được tác giả mang đến trao cho phái đoàn Thủ Tướng Phạm Văn Đồng đang công du tại Pháp trong năm 1977.

Thông điệp giải cứu và quang hưng đất nước trong tinh thần khoan dung, khai phóng, từ bi và trí tuệ của đạo Phật, đồng thời cũng là của truyền thống văn hóa dân tộc và của thời đại, được tác giả tiếp tục khẳng định trong hầu hết các tác phẩm được viết từ suốt 20 năm qua.

 

* Tác phẩm Bồ Tát Huỳnh Phú Sổ Và Phật Giáo Thời Đại được viết từ cuối năm 1994 và hoàn thành, quyển một, vào tháng tư năm 1995. Đây là quyển đầu tiên của bộ sách ba cuốn viết về Huỳnh Phú Sổ. Quyển một giới thiệu cuộc đời – tư tưởng Bồ Tát Huỳnh Phú Sổ và nội dung giáo lý – hình thức tín ngưỡng của Phật Giáo Hòa Hảo, như một tông phái Phật giáo được Việt hóa và hiện đại hóa. Quyển hai so sánh Huỳnh Phú Sổ và các vị giáo chủ khác, cùng đối chiếu Phật Giáo với các tôn giáo khác, đây là một bản tổng kết và đánh giá di sản tôn giáo của dân tộc và nhân loại. Quyển ba trình bày những tiên đoán về tương lai của các tôn giáo và của Phật Giáo Việt Nam, và đưa ra những đề nghị để xây dựng một nền Phật Giáo Thời đại trong Thời đại Phật Giáo, là thế kỷ 21 sắp đến.

 

“Bồ Tát Huỳnh Phú Sổ đã đưa lịch sử vượt qua tương lại, đã nối liền Đạo Pháp với Dân Tộc, và đã đến hiện đại từ truyền thống. Ý thức  mới trong văn hóa, tôn giáo và chính trị của Ông vẫn còn rực sáng để đánh thức chúng ta, dẫn đường cho thời đại, cho sinh mệnh Việt Nam và tương lai Phật Giáo Việt Nam. Tất cả chúng ta, những ai vẫn còn mang trong trái tim truyền thống văn hóa và tâm linh của dân tộc, chính là hóa thân của Huỳnh Phú Sổ, của Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Tuệ Trung, của Khuông Việt, Vạn Hạnh, Lý Công Uẩn.

Huỳnh Phú Sổ bất tử.

Vì sự nghiệp của ông chính là sự nghiệp Phật Giáo.

Vì sự nghiệp của ông chính là sự nghiệp Việt Nam.

Vì Huỳnh Phú Sổ đã trở thành một phần mầu nhiệm của Việt Nam, của Phật Giáo, của mỗi chúng ta…”

 

|Muc Luc| |Ch.1| |Ch.2| |Ch.3| |Ch.4| |Ch.5| |Ch.6| |Ch.7| |Ch.8| |Ch.9| |Ch.10|TK|

[BHH430] [PGHH] [THƯ VIỆN PGHH]

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Ðức Huỳnh Giáo Chủ

Ðức Huỳnh Giáo Chủ
Vương Kim

Ðức Phật, Hoàng thiên lịnh giáng trần,

Huỳnh gia chuyển kiếp lập đời Tân.

Giáo truyền đạo Thích dìu sanh chúng,

Chủ ý chọn người vẹn Tứ ân.

(Hình Tác giả: Vương Kim Phan Bá Cầm)

Phần I:

HÀNH TRẠNG

 

Thiên thứ nhứt

Giai đoạn ra đời mở đạo

 

Chương I: Bối cảnh xã hội

Chương II:Thân thế

Chương III: Ra Tế độ

Chương IV: Đăng Sơn

Chương V: Sứ Mạng

Chương VI: Lưu Cư

Chương VII: Vận Ðộng Ðộc Lập

Chương VIII: Tổ Chức Hàng Ngũ

Chương IX: Chuẩn Bị Ðấu Tranh

 

Thiên thứ hai

Giai đoạn hoạt động đấu tranh

 

Chương X: Dấn Thân

 

Thiên thứ ba

Giai Ðoạn Vắng Mặt

 

Chương XI: Lý Do Thọ Nạn

Chương XII: Còn Hay Mất

 

Phần II:

SỰ NGHIỆP

 

Thiên thứ tư

Sự Nghiệp Về Mặt Ðạo

Tôn Phái Phật Giáo Hòa Hảo

 

Chương XIII: Học Phật

Chương XIV: Tu Nhân

 

Thiên thứ năm

Sự Nghiệp Về Mặt Ðời:

Công nghiệp cách mạng

 

Chương XV: Quân Sự.

Bộ Ðội Nguyễn Trung Trực

 

Chương XVI: Chánh Trị

Việt Nam Dân Chủ Xã Hội đảng

Cùng một tác giả:

Long Hoa xuất bản

–         Tận Thế và Hội Long Hoa (1952)

–         Đức Phật Thầy Tây An (1953) (hiệp với Đào Hưng)

–         Để Hiểu Phật Giáo Hòa Hảo (1954) (hiệp với Thanh Sĩ)

–         Ðời Hạ Ngươn (1960)

–         Đời người dướI ánh sáng Đạo Phật (1960)

–         Bửu Sơn Kỳ Hương (1966)

–         Hành sử Đạo Nhân (1970)

–         Tu Hiền (1972)

–         Đời Thượng Ngươn (1973)

–         Pháp Môn Tịnh Độ (1973)

–         Tại Sao Ta Phải Tu (1974)

Dân Xã Tùng Thư

–         Chánh trị thường thức (1956)

–         Tinh thần cán bộ (1971)

–         Lập trường Dân Xã Đảng (1971)

MUC LUC CHƯƠNG 1 | | CHƯƠNG 2 | | CHƯƠNG 3 | | CHƯƠNG 4 | | CHƯƠNG 5 | | CHƯƠNG 6 | | CHƯƠNG 7 | | CHƯƠNG 8 | | CHƯƠNG 9 | | CHƯƠNG 10 | |CHƯƠNG 11 | | CHƯƠNG 12 |

CHƯƠNG 13 | | CHƯƠNG 14 | | CHƯƠNG 15 | | CHƯƠNG 16 | | CHƯƠNG 17|

[TV. PGHH]

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Ðức Huỳnh Giáo Chủ

Ðức Huỳnh Giáo Chủ
Vương Kim

Ðức Phật, Hoàng thiên lịnh giáng trần,

Huỳnh gia chuyển kiếp lập đời Tân.

Giáo truyền đạo Thích dìu sanh chúng,

Chủ ý chọn người vẹn Tứ ân.

(Hình Tác giả: Vương Kim Phan Bá Cầm)

Phần I:

HÀNH TRẠNG

 

Thiên thứ nhứt

Giai đoạn ra đời mở đạo

 

Chương I: Bối cảnh xã hội

Chương II:Thân thế

Chương III: Ra Tế độ

Chương IV: Đăng Sơn

Chương V: Sứ Mạng

Chương VI: Lưu Cư

Chương VII: Vận Ðộng Ðộc Lập

Chương VIII: Tổ Chức Hàng Ngũ

Chương IX: Chuẩn Bị Ðấu Tranh

 

Thiên thứ hai

Giai đoạn hoạt động đấu tranh

 

Chương X: Dấn Thân

 

Thiên thứ ba

Giai Ðoạn Vắng Mặt

 

Chương XI: Lý Do Thọ Nạn

Chương XII: Còn Hay Mất

 

Phần II:

SỰ NGHIỆP

 

Thiên thứ tư

Sự Nghiệp Về Mặt Ðạo

Tôn Phái Phật Giáo Hòa Hảo

 

Chương XIII: Học Phật

Chương XIV: Tu Nhân

 

Thiên thứ năm

Sự Nghiệp Về Mặt Ðời:

Công nghiệp cách mạng

 

Chương XV: Quân Sự.

Bộ Ðội Nguyễn Trung Trực

 

Chương XVI: Chánh Trị

Việt Nam Dân Chủ Xã Hội đảng

Cùng một tác giả:

Long Hoa xuất bản

–         Tận Thế và Hội Long Hoa (1952)

–         Đức Phật Thầy Tây An (1953) (hiệp với Đào Hưng)

–         Để Hiểu Phật Giáo Hòa Hảo (1954) (hiệp với Thanh Sĩ)

–         Ðời Hạ Ngươn (1960)

–         Đời người dướI ánh sáng Đạo Phật (1960)

–         Bửu Sơn Kỳ Hương (1966)

–         Hành sử Đạo Nhân (1970)

–         Tu Hiền (1972)

–         Đời Thượng Ngươn (1973)

–         Pháp Môn Tịnh Độ (1973)

–         Tại Sao Ta Phải Tu (1974)

Dân Xã Tùng Thư

–         Chánh trị thường thức (1956)

–         Tinh thần cán bộ (1971)

–         Lập trường Dân Xã Đảng (1971)

MUC LUC CHƯƠNG 1 | | CHƯƠNG 2 | | CHƯƠNG 3 | | CHƯƠNG 4 | | CHƯƠNG 5 | | CHƯƠNG 6 | | CHƯƠNG 7 | | CHƯƠNG 8 | | CHƯƠNG 9 | | CHƯƠNG 10 | | CHƯƠNG 11 | | CHƯƠNG 12 |

CHƯƠNG 13 | | CHƯƠNG 14 | | CHƯƠNG 15 | | CHƯƠNG 16 | | CHƯƠNG 17|

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔ và Phật Giáo Thời Ðại

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔ

và Phật Giáo Thời Ðại

Lê Hiếu Liêm

 

 

Chương một: Dẫn nhập Việt Nam và Phật Giáo đầu thế kỷ hai mươi.

 

Đầu thế kỷ 20, tư tưởng Nho Giáo, thống trị độc tôn đất nước từ Thời Hồ Quý Ly, nhà Lê và nhà Nguyễn suốt 400 năm, hoàn toàn sụp đổ. Tư tưởng Phật Giáo, ngự trị vinh quang trong thời đại Lý Trần từ thế kỷ thứ 11 đến cuối thế kỷ 14, suy đồi tận gốc. Tư tưởng Tây Phương và tôn giáo của nó, Thiên Chúa Giáo La Mã, bị đại đa số trí thức và nhân dân coi như sản phẩm và công cụ của chế độ Thuộc Địa và thực dân Pháp nên vẫn không được chấp nhận. Ý thức hệ Cộng Sản cũng như các tư tưởng mới khác chưa ra đời. Cả một khoảng trống tư tưởng, cũng có nghĩa là một khoảng trống tôn giáo và chính trị, to lớn bao trùm trên một nước Việt Nam bị nô lệ, bóc lột, áp bức, lạc hậu và nghèo đói. Nhưng đây cũng là môi trường lý tưởng cho sự ra đời của những tư tưởng mới, những tôn giáo mới, những chính đảng mới và những phong trào mới: Phong trào Đông Du và Việt Nam Duy Tân Hội của Phan Bội Châu từ năm 1904, Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can và các nhà Nho tiến bộ năm 1907, tư tưởng dân quyền và dân chủ của Phan Chu Trinh suốt hai mươi năm (1905-1925), phong trào chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908, vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội cùng năm, Việt Nam Quang Phục Hội năm 1912, cuộc khởi nghĩa ở Trung Kỳ và ở Huế năm 1916 của Thái Phiên, Trần Cao Vân, Lê Ngung, vua Duy Tân…, phong trào Hội Kín ở miền Nam năm 1913-1916 lan rộng khắp Lục Tỉnh và cuộc tấn công Sài Gòn năm 1916. Các hoạt động này đã liên tục diễn ra từ đầu thế kỷ 20 đến cuối đệ nhất thế chiến.

Tuy nhiên mãi đến đầu thập njiên 20 Việt Nam mới thật sự thức dậy với sự ra đời Việt Nam Thanh Niên Cách mạng Đồng Chí Hội và Tân Việt Cách Mạng Đảng năm 1925, Đạo Cao Đài năm 1926, Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1927, Cuộc khởi nghĩa Yên Bái và sự ra đời của Đảng Cộng SảnĐông Dương năm 1930 và phong trào Sô Viết Nghệ Tỉnh 1930-1931.

 

Trong thời gian sôi động này, từ 1925 trở đi, Phật Giáo cũng đã thức dậy. Từ năm 1923, thiền sư Khánh Hòa và thiền sư Thiện Chiếu đã thành lập, tại chùa Long Hòa ở Trà Vinh, Hội Lục Hòa Liên Hiệp với mục đích vận động thành lập một Hội Phật Giáo Việt Nam toàn quốc để chấn hưng Phật Giáo. Thiền sư Thiện Chiếu, khác hẳn tất cả tăng sĩ Phật Giáo đương thời, là một tăng sĩ có tân học. Ông đã đi ra Trung và Bắc vận động thống nhất Phật Giáo năm 1927 nhưng bất thành.

Năm 1928 thiền sư Khánh Hòa xây dựng Thích Học Đường và Phật Học Thư Xã tại Chùa Linh Sơn, Sài Gòn và năm 1929 Ông cho ấn hành tạp chí Viên Âm, tập san Phật Học đầu tiên bằng quốc ngữ tại Việt Nam, đặt trụ sở tại chùa Xoài Hột, Mỹ Tho. Cùng thời, thiền sư Thiện Chiếu xuất bản một tạp chí Phật Học nhắm vào giới thanh niên trí thức lấy tên là Phật Hòa Tân Thanh Niên, đặt tòa soạn tại chùa Chúc Thọ ở Gia Định.

 

Năm 1931 thiền sư Khánh Hòa cùng nhiều tăng sĩ và cư sĩ thành lập Hội Phật Học đầu tiên tại Việt Nam, lấy tên là Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học và thiền sư Từ Phong được mời làm Chánh Hội Trưởng. Hội ra tờ Từ Bi Âm năm 1932. Thiền sư Khánh Hòa, cùng người cộng sự thân tín là thiền sư Thiện Chiếu đã đóng vai trò tiền phong khai mở phong trào chấn hưng Phật Giáo và hiện đại hóa Phật Giáo, chuyển động sâu rộng lịch sử Phật Giáo và lịch sử Việt Nam trong suốt 65 năm qua.

Tại miền Trung, thiền sư Giác Tiên mở Phật Học Đường  tại chùa Trúc Lâm năm 1929 và ủy thác cho đệ tử là bác sĩ Lê Đình Thám thành lập Hội An Nam Phật Học năm 1932. Hội quy tụ đông đảo những danh tăng và cư sĩ trí thức tại miền Trung. Cư sĩ Lê Đình Thám được bầu làm Hội Trưởng và vua Bảo Đại được mời làm Hội Trưởng Danh Dự. Hội ra tạp chí Phật Học Viên Âm năm 1933. Năm 1934, thiền sư Giác Tiên, cư sĩ Lê Đình Thám… đã thành lập Trường An Nam Phật Học, trong đó có mở cấp Đại Học Phật Giáo. Đặc biệt hơn nữa là Hội đã phát động phong trào “Chỉnh Lý Tăng Già” rất quyết liệt để loại trừ ra khỏi tăng già những thành phần phạm giới, bất xứng. Chính nhờ những nổ lực cấp tiến này mà Phật Giáo miền Trung đã đóng được một vai trò quan trọng trong những thập niên sau đó.

Năm 1934 các thiền sư Trí Hải, Tâm Ứng, Tâm Bảo cùng với giới cư sĩ trí thức tên tuổi tại Hà Nội như Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Tố, Dương Bá Trạc, Trần Văn Giáp, Nguyễn Năng Quốc, Nguyễn Hữu Kha, Bùi Kỷ, Lê Dư… thành lập Bắc Kỳ Phật Giáo Hội, bầu cư sĩ Nguyễn Năng Quốc làm hội trưởng và suy tôn thiền sư Thanh Hanh làm Thiền Gia Pháp Chủ.Đặc biệt là trong buổi lễ suy tôn Pháp Chủ này, cư sĩ Trần Trọng Kim đã thuyết pháp về đề tài; “Thập Nhị Nhân Duyên”. Hội ra tạp chí Đuốc Tuệ năm 1935 và phát triển mạnh mẽ khắp miền Bắc (Nguyễn Lang, Phật Giáo Việt Nam Sử Luận, q 3, t 51-173).

Đặc tính của cả ba Hội Phật Học tại ba miền là vai trò nổi bật của giới trí thức cư sĩ, là thuần túy Phật học và sinh hoạt Phật sự. Thời điểm 1925-1945 là thời điểm chuẩn bị trong kiên nhẫn và thầm lặng. Các hội Phật Học đã làm đúng chức năng và vai trò lịch của mình, một cách khiêm tốn, từ đống gạch vụn đổ nát của nền Phật học và Phật Giáo Việt nam trong thời Thực Dân Pháp thống trị.

Trong thời kỳ này xuất hiện những con người đặc biệt, xuất sắc và những tư tưởng mạnh mẽ, quyết liệt, trong Phật Giáo cũng như ngoài Phật Giáo. Từ đầu thập niên 30, tư tưởng Phật Hộc của Thích Thiện Chiếu đã là những quả bom chấn động. Và năm 1939 Huỳnh Phú Sổ xuất hiện làm một cuộc cách mạng tôn giáo, cải cách toàn bộ và triệt để Phật Giáo chưa từng có trong hai ngàn năm lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Miền Nam, một vùng đất lạ lùng và kỳ diệu…

 

An Hòa Tự

Phan Chu Trinh từ Pháp trở về Sài Gòn năm 1925, đất nước bùng lên những làn sóng tư tưởng dân quyền và dân chủ. Ông khẳng định phải tìm nguyên nhân mất nước trong sự mất đạo đức, mất luân lý, trong bài diễn thuyết Đạo Đức và Luân Lý Đông Tây, và ông cũng khẳng định chế độ quân chủ chuyên chế là nguyên nhân chính làm mất nước trong bài thuyết giảng Quân Trị Chủ Nghĩa và Dân Trị Chủ Nghĩa tại Sài Gòn năm 1925. Ông mất năm sau đó và đám tang ông cùng với cuộc vận động ân xá nhà chí sĩ Phan Bội Châu đã khơi bùng phong trào yêu nước và yêu tự do dân chủ trên toàn quốc, đặc biệt là trong giới thanh niên.

Nhưng dữ dội, bốc lửa và sấm sét trong tư tưởng yêu nước chống thực dân cũng như tư tưởng tự do dân chủ, trong thời này, chỉ có Nguyễn An Ninh là đi xa nhất, quyết liệt nhất. Là một thanh niên miền Nam, Ông đi du học ở Pháp và trở về nước với bằng cử nhân Luật. Lợi dụng quy chế thuộc địa của Nam Kỳ, nơi mà báo chí bằng tiếng Pháp được tự do, không bị kiểm duyệt, Ông ra tờ La Cloche fèlèe (Tiếng Chuông Rè) từ năm 1923 đến năm 1926. Ông tự xưng tờ báo của Ông là “cơ quan tuyên truyền tư tưởng Pháp”, lấy tư tưởng của kẻ xâm lăng để đập những nhát búa tạ vào chế độ Thực Dân, đồng thời tờ báo cũng tự nhận là “cơ quan chuẩn bị cho tương lai dân tộc”. Thật là độc đáo và tuyệt vời.

Ngoài việc phê bình kịch liệt, thẳng tay chính sách và chế độ thực dân, Ông cổ võ cho việc đào tạo một tầng lớp thanh niên Việt Nam tân học, có văn hóa, có lý tưởng, có chí khí, có năng lực và có tổ chức và Ông tuyệt đối tin vào sức mạnh và vào tương lai của nhân dân Việt Nam. Ông chủ trương một nước Việt Nam thống nhất từ Nam chí Bắc và trở về lịch sử dân tộc để tìm niềm tin và sức mạnh. Ông hô hào, khi chỉ mới ngoài 20 tuổi, “Chẳng những phải duy trì những giấc mộng vĩ đại, mà còn phải tổ chức thành một nhóm quan trọng để chuẩn bị cho tương lai”. Không những tư tưởng táo bạo, độc đáo, mới lạ, kiến thức của Ông cũng rất uyên bác. Khi Thống Đốc Nam Kỳ tuyên bố: “Xứ này không cần trí thức”. Ông đã viết bài trả lời bốc lửa: “… Những thảm khổ của chúng ta ngày nay, còn gì nữa, đúng là do tổ tiên của chúng ta đã sờ mó vào cây kiến thức. Hạng trí thức đã làm đảo lộn thế giới, làm hư hỏng hạnh phúc của thế giới. Hãy nguyền rủa tên tuổi của Prométhé, kẻ đã lấy trộm chút lửa của Trời. Hãy nguyền rủa con người đã bày ra cái ná cao su cho trẻ con bắn đá vào trán ông khổng lồ… Trí Tuệ, đó là cái tai hại. Trí tuệ, đó là con rắn cuốn quanh thân cây đã làm cho chúng ta vĩnh viễn mất cõi thiên đường… Nói đến vai trò giáo dục, vai trò văn minh của các ông chủ xứ Đông Dương này, thưa các ông, điều ấy làm ta mỉm cười… Người ta đã quỳ lụy bái phục những vị “đem ánh sáng tới”, những vị “làm điều kỳ diệu ở Ấu Châu”… Cái gì kỳ diệu? Thực ra cái kỳ diệu đó là, chỉ trong một thời gian ngắn thôi, người ta đã có thể làm cho trình độ trí thức của người Nam đã thấp đi lại càng rơi vào chỗ cực kỳ dốt nát. Cái kỳ diệu đó là người ta đã có thể, trong một thời gian ngắn như thế, xô đẩy một dân tộc có tư tưởng dân chủ, ngã nhào vào tình trạng nô lệ hoàn toàn“. (Trần Văn Giàu, Sự Phát Triển Của Tư Tưởng ở Việt Nam Từ Thế Kỷ 19 đến Cách Mạng Tháng Tám, q2, t 311).

Nguyễn An Ninh cũng là một trong những nhà trí thức tân học đầu tiên nghiên cứu Phật Học và hoàn thành một tác phẩm Phật Học quan trọng, cuốn “Phê Bình Phật Giáo”. Sau thời kỳ hoạt động sôi nổi từ 1923 đến 1926, Nguyễn An Ninh bị ở tù trong thời gian 1926-1927, sau đó Ông về nghiên cứu Phật Giáo. Trên bàn làm việc của Ông, có một cái chuông, một cái mõ, Ông cạo trọc đầu và đi chân không. Ông nghiên cứu Phật Giáo qua tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức và các hoạt động Phật Giáo trong nước. Cuốn Phê Bình Phật Giáo xuất bản năm 1937 là kết quả của sự nghiên cứu này. Tựa đề của cuốn sách, 70 năm sau cũng không có ai dám viết một cuốn sách Phật Học có tựa đề thách thức và can đảm như vậy. Mục đích và phương pháp luận còn mới lạ, táo bạo hơn, đó là “so sánh Phật Giáo với thời đại của nó để chỉ chỗ hay, chỗ đúng hơn của nó đối với các thuyết khác và so sánh Phật Giáo với thời đại này để chỉ sai lầm của Phật Giáo“. Tác phẩm này được giới trí thức, giới chính trị cũng như giới Phật Giáo chú ý đặc biệt.

Nhưng không gây sóng gió và tranh luận suốt nhiều năm trời như những tác phẩm của Thích Thiện Chiếu. Đối với Tăng, Ni, Phật Tử thập niên 30, những tư tưởng Phật Học của Thích Thiện Chiếu là những tiếng sét ngang tai. Ngày nay đọc lại, chắc chắn quý vị tăng sĩ, cư sĩ và Phật Tử cũng không khỏi giựt mình, chấn động và suy nghĩ. Những tư tưởng này, được viết từ thập niên 30, ngày nay, cuối thập niên 90, vẫn còn mới, còn táo bạo, còn chứa đầy sức nặng của đá tảng và sức nổ của sấm sét. Thích Thiện Chiếu là tinh hoa sáng chói của Phật Giáo trong thập niên 20, 30. Ông đã đi tiền phong trong mọi lãnh vực chấn hưng và hiện đại hóa Phật Giáo Việt Nam trong thế kỷ 20 này.

Ta phải đứng trên một đỉnh núi cao, mới hy vọng nhìn thấy những cái gì chưa ai nhìn thấy, những cái gì nằm khuất sau dãy núi cao. đó có thể là những dãy núi cao hơn, hay là một đại dương mênh mông hay là một bình nguyên rực rỡ. Thích Thiện Chiếu là một ngọn núi cao của Phật học và Phật Giáo Việt Nam trước đệ nhị thế chiến. Ta hãy đứng trên đỉnh núi cao ngất, hùng tráng này để nhìn rõ một đỉnh núi cao ngất, hùng vĩ khác, là Cư sĩ, Bồ Tát, Giáo Chủ Huỳnh Phù Sổ.

 

|Muc Luc| |Ch.1| |Ch.2| |Ch.3| |Ch.4| |Ch.5| |Ch.6| |Ch.7| |Ch.8| |Ch.9| |Ch.10|TK|

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

MẦU NHIỆM Chuyện Bên Thầy Rất Hay

PGHH: KỂ LẠI CHUYỆN SỰ HUYỀN DIỆU VÀ MẦU NHIỆM KHI ĐỨC THẦY THUYẾT PHÁP

489,672 views

Published on Nov 15, 2016

Sấm Giảng từ Quyển 1- 6 : https://goo.gl/iUxufU Thi văn Giáo Lý Toàn Bộ : https://goo.gl/NreEb5 100 Chuyện bên Thầy : https://goo.gl/S6j8GY Bộ Hiển Đạo của Ngài Thanh Sĩ: https://goo.gl/SFJTj7 Chú Giải Sấm Giảng từ Quyển 1- 6: https://goo.gl/fZrk2k Niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” : https://goo.gl/wMlG3Q Thuyết Giảng Giáo Lý PGHH: https://goo.gl/rlXoog Triết Lý Nhà Phật rất hay: https://goo.gl/FFE6Jt Pháp Lý Trích Yếu : https://goo.gl/h8oDua Giảng Xưa SƯ VÃI BÁN KHOAI: “Quyển 1 Khuyên Người Đời Tu Niệm” https://goo.gl/pME37K “Quyển 2 Kệ Dân Của Người Khùng” “Quyển 3 Sám Giảng” “Quyển 4 Giác Mê Tâm Kệ” “Quyển 5 Khuyến Thiện” “Quyển 6 Tôn Chỉ Hành Đạo” “Xem Các Bài Thi Văn Giáo Lý” “Tám Điều Răn Cấm” “Xem Giảng Bửu Sơn Kỳ Hương” “Xem Mười Điều Khuyến Tu” “Xem Chuyện Bên Thầy đầy đủ” “Xem Giải Đáp Nghi Vấn Bác Hai Tho” “Xem Thuyết Pháp” ” Chú Giải Sấm Giảng Quyển 1″ :https://goo.gl/gIwh2Z ——————— Email liên hệ:hanhtrangcoitinh@gmail.com —————

SHOW MORE

phatphap ety
Tôi rất ngưỡng mộ lời dạy của Đức Thầy : << Làm người thì phải bíết ơn : Ơn cha mẹ _ Ơn tổ quốc _ Ơn đồng bào _ Ơn nhân loại . Để đền ơn quê hương đất nuớc , ta phải nổ lực hy sinh ,bảo vệ tổ quốc của tổ tiên để lại thì phải chống lạii xăm lăng bất luận từ đâu ,bất luận dưới hình thức nào >> .Dân ViệtNam có đạo lý đạo nầy nên lịch sữ V.N có rất nhiều vị anh hùng dân tộc .

Show less

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔ và Phật Giáo Thời Ðại

…… … .  . .  .  . Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔ

và Phật Giáo Thời Ðại

Lê Hiếu Liêm

 

 

Chương một: Dẫn nhập Việt Nam và Phật Giáo đầu thế kỷ hai mươi.

 

Đầu thế kỷ 20, tư tưởng Nho Giáo, thống trị độc tôn đất nước từ Thời Hồ Quý Ly, nhà Lê và nhà Nguyễn suốt 400 năm, hoàn toàn sụp đổ. Tư tưởng Phật Giáo, ngự trị vinh quang trong thời đại Lý Trần từ thế kỷ thứ 11 đến cuối thế kỷ 14, suy đồi tận gốc. Tư tưởng Tây Phương và tôn giáo của nó, Thiên Chúa Giáo La Mã, bị đại đa số trí thức và nhân dân coi như sản phẩm và công cụ của chế độ Thuộc Địa và thực dân Pháp nên vẫn không được chấp nhận. Ý thức hệ Cộng Sản cũng như các tư tưởng mới khác chưa ra đời. Cả một khoảng trống tư tưởng, cũng có nghĩa là một khoảng trống tôn giáo và chính trị, to lớn bao trùm trên một nước Việt Nam bị nô lệ, bóc lột, áp bức, lạc hậu và nghèo đói. Nhưng đây cũng là môi trường lý tưởng cho sự ra đời của những tư tưởng mới, những tôn giáo mới, những chính đảng mới và những phong trào mới: Phong trào Đông Du và Việt Nam Duy Tân Hội của Phan Bội Châu từ năm 1904, Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can và các nhà Nho tiến bộ năm 1907, tư tưởng dân quyền và dân chủ của Phan Chu Trinh suốt hai mươi năm (1905-1925), phong trào chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908, vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội cùng năm, Việt Nam Quang Phục Hội năm 1912, cuộc khởi nghĩa ở Trung Kỳ và ở Huế năm 1916 của Thái Phiên, Trần Cao Vân, Lê Ngung, vua Duy Tân…, phong trào Hội Kín ở miền Nam năm 1913-1916 lan rộng khắp Lục Tỉnh và cuộc tấn công Sài Gòn năm 1916. Các hoạt động này đã liên tục diễn ra từ đầu thế kỷ 20 đến cuối đệ nhất thế chiến.

Tuy nhiên mãi đến đầu thập njiên 20 Việt Nam mới thật sự thức dậy với sự ra đời Việt Nam Thanh Niên Cách mạng Đồng Chí Hội và Tân Việt Cách Mạng Đảng năm 1925, Đạo Cao Đài năm 1926, Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1927, Cuộc khởi nghĩa Yên Bái và sự ra đời của Đảng Cộng SảnĐông Dương năm 1930 và phong trào Sô Viết Nghệ Tỉnh 1930-1931.

 

Trong thời gian sôi động này, từ 1925 trở đi, Phật Giáo cũng đã thức dậy. Từ năm 1923, thiền sư Khánh Hòa và thiền sư Thiện Chiếu đã thành lập, tại chùa Long Hòa ở Trà Vinh, Hội Lục Hòa Liên Hiệp với mục đích vận động thành lập một Hội Phật Giáo Việt Nam toàn quốc để chấn hưng Phật Giáo. Thiền sư Thiện Chiếu, khác hẳn tất cả tăng sĩ Phật Giáo đương thời, là một tăng sĩ có tân học. Ông đã đi ra Trung và Bắc vận động thống nhất Phật Giáo năm 1927 nhưng bất thành.

Năm 1928 thiền sư Khánh Hòa xây dựng Thích Học Đường và Phật Học Thư Xã tại Chùa Linh Sơn, Sài Gòn và năm 1929 Ông cho ấn hành tạp chí Viên Âm, tập san Phật Học đầu tiên bằng quốc ngữ tại Việt Nam, đặt trụ sở tại chùa Xoài Hột, Mỹ Tho. Cùng thời, thiền sư Thiện Chiếu xuất bản một tạp chí Phật Học nhắm vào giới thanh niên trí thức lấy tên là Phật Hòa Tân Thanh Niên, đặt tòa soạn tại chùa Chúc Thọ ở Gia Định.

 

Năm 1931 thiền sư Khánh Hòa cùng nhiều tăng sĩ và cư sĩ thành lập Hội Phật Học đầu tiên tại Việt Nam, lấy tên là Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học và thiền sư Từ Phong được mời làm Chánh Hội Trưởng. Hội ra tờ Từ Bi Âm năm 1932. Thiền sư Khánh Hòa, cùng người cộng sự thân tín là thiền sư Thiện Chiếu đã đóng vai trò tiền phong khai mở phong trào chấn hưng Phật Giáo và hiện đại hóa Phật Giáo, chuyển động sâu rộng lịch sử Phật Giáo và lịch sử Việt Nam trong suốt 65 năm qua.

Tại miền Trung, thiền sư Giác Tiên mở Phật Học Đường  tại chùa Trúc Lâm năm 1929 và ủy thác cho đệ tử là bác sĩ Lê Đình Thám thành lập Hội An Nam Phật Học năm 1932. Hội quy tụ đông đảo những danh tăng và cư sĩ trí thức tại miền Trung. Cư sĩ Lê Đình Thám được bầu làm Hội Trưởng và vua Bảo Đại được mời làm Hội Trưởng Danh Dự. Hội ra tạp chí Phật Học Viên Âm năm 1933. Năm 1934, thiền sư Giác Tiên, cư sĩ Lê Đình Thám… đã thành lập Trường An Nam Phật Học, trong đó có mở cấp Đại Học Phật Giáo. Đặc biệt hơn nữa là Hội đã phát động phong trào “Chỉnh Lý Tăng Già” rất quyết liệt để loại trừ ra khỏi tăng già những thành phần phạm giới, bất xứng. Chính nhờ những nổ lực cấp tiến này mà Phật Giáo miền Trung đã đóng được một vai trò quan trọng trong những thập niên sau đó.

Năm 1934 các thiền sư Trí Hải, Tâm Ứng, Tâm Bảo cùng với giới cư sĩ trí thức tên tuổi tại Hà Nội như Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Tố, Dương Bá Trạc, Trần Văn Giáp, Nguyễn Năng Quốc, Nguyễn Hữu Kha, Bùi Kỷ, Lê Dư… thành lập Bắc Kỳ Phật Giáo Hội, bầu cư sĩ Nguyễn Năng Quốc làm hội trưởng và suy tôn thiền sư Thanh Hanh làm Thiền Gia Pháp Chủ.Đặc biệt là trong buổi lễ suy tôn Pháp Chủ này, cư sĩ Trần Trọng Kim đã thuyết pháp về đề tài; “Thập Nhị Nhân Duyên”. Hội ra tạp chí Đuốc Tuệ năm 1935 và phát triển mạnh mẽ khắp miền Bắc (Nguyễn Lang, Phật Giáo Việt Nam Sử Luận, q 3, t 51-173).

Đặc tính của cả ba Hội Phật Học tại ba miền là vai trò nổi bật của giới trí thức cư sĩ, là thuần túy Phật học và sinh hoạt Phật sự. Thời điểm 1925-1945 là thời điểm chuẩn bị trong kiên nhẫn và thầm lặng. Các hội Phật Học đã làm đúng chức năng và vai trò lịch của mình, một cách khiêm tốn, từ đống gạch vụn đổ nát của nền Phật học và Phật Giáo Việt nam trong thời Thực Dân Pháp thống trị.

Trong thời kỳ này xuất hiện những con người đặc biệt, xuất sắc và những tư tưởng mạnh mẽ, quyết liệt, trong Phật Giáo cũng như ngoài Phật Giáo. Từ đầu thập niên 30, tư tưởng Phật Hộc của Thích Thiện Chiếu đã là những quả bom chấn động. Và năm 1939 Huỳnh Phú Sổ xuất hiện làm một cuộc cách mạng tôn giáo, cải cách toàn bộ và triệt để Phật Giáo chưa từng có trong hai ngàn năm lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Miền Nam, một vùng đất lạ lùng và kỳ diệu…

 

An Hòa Tự

Phan Chu Trinh từ Pháp trở về Sài Gòn năm 1925, đất nước bùng lên những làn sóng tư tưởng dân quyền và dân chủ. Ông khẳng định phải tìm nguyên nhân mất nước trong sự mất đạo đức, mất luân lý, trong bài diễn thuyết Đạo Đức và Luân Lý Đông Tây, và ông cũng khẳng định chế độ quân chủ chuyên chế là nguyên nhân chính làm mất nước trong bài thuyết giảng Quân Trị Chủ Nghĩa và Dân Trị Chủ Nghĩa tại Sài Gòn năm 1925. Ông mất năm sau đó và đám tang ông cùng với cuộc vận động ân xá nhà chí sĩ Phan Bội Châu đã khơi bùng phong trào yêu nước và yêu tự do dân chủ trên toàn quốc, đặc biệt là trong giới thanh niên.

Nhưng dữ dội, bốc lửa và sấm sét trong tư tưởng yêu nước chống thực dân cũng như tư tưởng tự do dân chủ, trong thời này, chỉ có Nguyễn An Ninh là đi xa nhất, quyết liệt nhất. Là một thanh niên miền Nam, Ông đi du học ở Pháp và trở về nước với bằng cử nhân Luật. Lợi dụng quy chế thuộc địa của Nam Kỳ, nơi mà báo chí bằng tiếng Pháp được tự do, không bị kiểm duyệt, Ông ra tờ La Cloche fèlèe (Tiếng Chuông Rè) từ năm 1923 đến năm 1926. Ông tự xưng tờ báo của Ông là “cơ quan tuyên truyền tư tưởng Pháp”, lấy tư tưởng của kẻ xâm lăng để đập những nhát búa tạ vào chế độ Thực Dân, đồng thời tờ báo cũng tự nhận là “cơ quan chuẩn bị cho tương lai dân tộc”. Thật là độc đáo và tuyệt vời.

Ngoài việc phê bình kịch liệt, thẳng tay chính sách và chế độ thực dân, Ông cổ võ cho việc đào tạo một tầng lớp thanh niên Việt Nam tân học, có văn hóa, có lý tưởng, có chí khí, có năng lực và có tổ chức và Ông tuyệt đối tin vào sức mạnh và vào tương lai của nhân dân Việt Nam. Ông chủ trương một nước Việt Nam thống nhất từ Nam chí Bắc và trở về lịch sử dân tộc để tìm niềm tin và sức mạnh. Ông hô hào, khi chỉ mới ngoài 20 tuổi, “Chẳng những phải duy trì những giấc mộng vĩ đại, mà còn phải tổ chức thành một nhóm quan trọng để chuẩn bị cho tương lai”. Không những tư tưởng táo bạo, độc đáo, mới lạ, kiến thức của Ông cũng rất uyên bác. Khi Thống Đốc Nam Kỳ tuyên bố: “Xứ này không cần trí thức”. Ông đã viết bài trả lời bốc lửa: “… Những thảm khổ của chúng ta ngày nay, còn gì nữa, đúng là do tổ tiên của chúng ta đã sờ mó vào cây kiến thức. Hạng trí thức đã làm đảo lộn thế giới, làm hư hỏng hạnh phúc của thế giới. Hãy nguyền rủa tên tuổi của Prométhé, kẻ đã lấy trộm chút lửa của Trời. Hãy nguyền rủa con người đã bày ra cái ná cao su cho trẻ con bắn đá vào trán ông khổng lồ… Trí Tuệ, đó là cái tai hại. Trí tuệ, đó là con rắn cuốn quanh thân cây đã làm cho chúng ta vĩnh viễn mất cõi thiên đường… Nói đến vai trò giáo dục, vai trò văn minh của các ông chủ xứ Đông Dương này, thưa các ông, điều ấy làm ta mỉm cười… Người ta đã quỳ lụy bái phục những vị “đem ánh sáng tới”, những vị “làm điều kỳ diệu ở Ấu Châu”… Cái gì kỳ diệu? Thực ra cái kỳ diệu đó là, chỉ trong một thời gian ngắn thôi, người ta đã có thể làm cho trình độ trí thức của người Nam đã thấp đi lại càng rơi vào chỗ cực kỳ dốt nát. Cái kỳ diệu đó là người ta đã có thể, trong một thời gian ngắn như thế, xô đẩy một dân tộc có tư tưởng dân chủ, ngã nhào vào tình trạng nô lệ hoàn toàn“. (Trần Văn Giàu, Sự Phát Triển Của Tư Tưởng ở Việt Nam Từ Thế Kỷ 19 đến Cách Mạng Tháng Tám, q2, t 311).

Nguyễn An Ninh cũng là một trong những nhà trí thức tân học đầu tiên nghiên cứu Phật Học và hoàn thành một tác phẩm Phật Học quan trọng, cuốn “Phê Bình Phật Giáo”. Sau thời kỳ hoạt động sôi nổi từ 1923 đến 1926, Nguyễn An Ninh bị ở tù trong thời gian 1926-1927, sau đó Ông về nghiên cứu Phật Giáo. Trên bàn làm việc của Ông, có một cái chuông, một cái mõ, Ông cạo trọc đầu và đi chân không. Ông nghiên cứu Phật Giáo qua tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức và các hoạt động Phật Giáo trong nước. Cuốn Phê Bình Phật Giáo xuất bản năm 1937 là kết quả của sự nghiên cứu này. Tựa đề của cuốn sách, 70 năm sau cũng không có ai dám viết một cuốn sách Phật Học có tựa đề thách thức và can đảm như vậy. Mục đích và phương pháp luận còn mới lạ, táo bạo hơn, đó là “so sánh Phật Giáo với thời đại của nó để chỉ chỗ hay, chỗ đúng hơn của nó đối với các thuyết khác và so sánh Phật Giáo với thời đại này để chỉ sai lầm của Phật Giáo“. Tác phẩm này được giới trí thức, giới chính trị cũng như giới Phật Giáo chú ý đặc biệt.

Nhưng không gây sóng gió và tranh luận suốt nhiều năm trời như những tác phẩm của Thích Thiện Chiếu. Đối với Tăng, Ni, Phật Tử thập niên 30, những tư tưởng Phật Học của Thích Thiện Chiếu là những tiếng sét ngang tai. Ngày nay đọc lại, chắc chắn quý vị tăng sĩ, cư sĩ và Phật Tử cũng không khỏi giựt mình, chấn động và suy nghĩ. Những tư tưởng này, được viết từ thập niên 30, ngày nay, cuối thập niên 90, vẫn còn mới, còn táo bạo, còn chứa đầy sức nặng của đá tảng và sức nổ của sấm sét. Thích Thiện Chiếu là tinh hoa sáng chói của Phật Giáo trong thập niên 20, 30. Ông đã đi tiền phong trong mọi lãnh vực chấn hưng và hiện đại hóa Phật Giáo Việt Nam trong thế kỷ 20 này.

Ta phải đứng trên một đỉnh núi cao, mới hy vọng nhìn thấy những cái gì chưa ai nhìn thấy, những cái gì nằm khuất sau dãy núi cao. đó có thể là những dãy núi cao hơn, hay là một đại dương mênh mông hay là một bình nguyên rực rỡ. Thích Thiện Chiếu là một ngọn núi cao của Phật học và Phật Giáo Việt Nam trước đệ nhị thế chiến. Ta hãy đứng trên đỉnh núi cao ngất, hùng tráng này để nhìn rõ một đỉnh núi cao ngất, hùng vĩ khác, là Cư sĩ, Bồ Tát, Giáo Chủ Huỳnh Phù Sổ.

 

|Muc Luc| |Ch.1| |Ch.2| |Ch.3| |Ch.4| |Ch.5| |Ch.6| |Ch.7| |Ch.8| |Ch.9| |Ch.10|TK|

[BHH430] [PGHH] [THƯ VIỆN PGHH]

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Blog at WordPress.com.