Lịch Sử PG Hòa Hảo

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔ và Phật Giáo Thời Ðại

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔ

và Phật Giáo Thời Ðại

Lê Hiếu Liêm

 

Viện Tư Tưởng Việt Phật Hoa Kỳ 1995

tái bản lần thứ hai 2001

 

Kính tặng những người mang tâm hạnh Bồ Tát tùy thuận phụng sự chúng sanh đã hy sinh tự do và thân mạng

cho lý tưởng cứu khổ cứu nạn con dân và đất nước Việt Nam thân yêu.

 

Viện Tư Tưởng Việt Phật

Chuyển luân chánh pháp vào thời đại,

chính sách quốc gia & đời sống quốc dân.

Mục Lục

Chương Một: Việt Nam và Phật Giáo đầu Thế Kỷ 20.

Chương Hai: Tư  Tưởng Phật Học Của Thiền Sư Thích Thiện Chiếu.

A/ Cuộc đời và hành trạng của thiền sư Thích Thiện Chiếu.

B/ Tư tưởng Phật học của thiền sư Thích Thiện Chiếu và các bạn cùng lý tưởng.

a/ Bác bỏ Thượng Đế.

b/ Bác bỏ thuyết linh hồn bất tử.

c/ Bác bỏ quan niệm thiên đàng, niết bàn.

d/ Thuyết vô ngã.

1/ Mâu thuẩn của niết bàn.

2/ Mâu thuẩn nhân quả.

 

Chương Ba: Cuộc đời của Huỳnh Phú Sổ.

A/ Cuộc đời thanh thiếu niên.

B/ Cuộc đời hành đạo.

C/ Những năm tháng bị quản thúc, lưu đày.

D/ Thời gian sống ở Sài Gòn và đi khuyến nông tại miền Tây.

E/ Quê hương bừng dậy trong cách mạng và kháng chiến.

F/ Dấn thân hoạt động cách mạng kháng chiến cứu quốc.

G/ Những ngày cuối cùng của Huỳnh Phú Sổ.

H/ Các tác phẩm của Huỳnh Phú Sổ.

 

Chương Bốn: Nguồn Gốc Lịch Sử, Bối Cảnh Chính Trị Và Truyền Thống Tâm Linh.

A/ Công cuộc Nam tiến.

B/ Cuộc kháng chiến chống Pháp.

C/ Truyền thống Đạo Pháp và Dân Tộc.

 

Chương Năm: Tinh Hoa Tư Tưởng Phật Học Và Phương Thức Chấn Hưng Phật Giáo Của Huỳnh Phú Sổ.

1/ Phương pháp luận của Huỳnh Phú Sổ.

2/ Hình thức giảng đạo.

3/ Đối tượng hoằng pháp.

4/ Phương thức cứu độ.

5/ Tinh yếu tư tưởng Huỳnh Phú Sổ.

 

Chương Sáu: Cuộc Cách Mạng Tôn Giáo Của Huỳnh Phú Sổ.

1/ Khuyến khích tu hành theo đạo Phật.

2/ Bài trừ mê tín dị đoan.

3/ Việt hóa nghi thức thờ phượng.

4/ Đề cao vai trò của người Phật tử tại gia.

5/ Áp dụng thuyết tứ ân, đưa đạo Phật vào đời.

6/ Đưa đạo Phật vào thời đại.

7/ Hình thành một tôn giáo dân tộc.

 

Chương Bảy: Con Đường Hành Động Phật Giáo Qua Hành Trạng Của Bồ Tát Huỳnh Phú Sổ.

A/ Tranh đấu cho độc lập, thống nhất, hòa giải và đoàn kết dân tộc.

B/ Nổ lực đoàn kết, thống nhất Phật giáo.

 

Chương Tám: Nội Dung Phật Pháp Của Phật Giáo Hòa Hảo.

– Đường trung đạo.

– Chư Phật có bốn đại đức.

– Tam nghiệp và thập ác.

1/ Sát sanh.

2/ Đạo tặc.

3/ Tà dâm.

4/ Lưỡng thiệt.

5/ Ỷ ngôn.

6/ Ác khẩu.

7/ Vọng ngữ.

8/ Tham lam.

9/ Sân nộ.

10/ Mê si.

 

– Sơ giải về tứ diệu đế.

– Luận về bát chánh.

1/ Chánh kiến.

2/ Chánh tư duy.

3/ Chánh nghiệp.

4/ Chánh tinh tấn.

5/ Chánh mạng.

6/ Chánh ngữ.

7/ Chánh niệm.

8/ Chánh định.

 

– Cư sĩ Huỳnh Phú Sổ và danh tăng Narada Maha Thera.

– Thập nhị nhơn duyên.

– Môn hoàn diệt.

– Đức Phật đối với chúng sanh.

– Lời khuyên bổn đạo.

– Trong việc tu thân xử kỷ.

 

Chương chín: Hình Thức Tín Ngưỡng Của Phật Giáo Hòa Hảo.

A/ PGHH là một tông phái Phật giáo tu hành tại gia.

B/ Hình thức thờ phượng, lễ bái, cầu nguyện.

– Thờ phượng.

– Hành lễ.

– Tang lễ.

– Hôn nhân.

– Những điều cấm làm.

– Đối với các tôn giáo và nhân sanh.

– Điều kiện vo đạo.

– Sự cúng lay của người cư sĩ tại gia.

 

C/ Tám điều răn cấm.

– Lời khuyên bổn đạo.

 

Chương Mười: Thi Kệ Của Huỳnh Phú Sổ.

– Thi kệ của Huỳnh Phú Sổ và thi kệ của Nhất Hạnh.

– Huỳnh Phú Sổ là một phần mầu nhiệm của chúng ta.

 

Phụ Lục.

– Nhận định Tình Hình Tôn Giáo Tại Việt Nam của tác giả.

– Đức Huỳnh Giáo Chủ Như Là Một Triết Gia Việt Nam của Học Giả Phạm Công Thiện.

– Huỳnh Phú Sổ Và Chúng Ta của Tiến Sĩ Lý Khôi Việt.

 

 

Bồ Tát Huỳnh Phú Sổ Và Phật Giáo Thời Đại là một tác phẩm sử học và Phật học nên tác giả đã không thể viết khác hơn về một số sự thật lịch sử và một số nhận định, phê bình. Lịch sử là lịch sử. Và tự do tư tưởng là quyền tự do căn bản nhất, thiêng liêng nhất của mọi con người trong thế giới văn minh ngày nay.

Tác giả hoan nghênh và sẵn sàng thảo luận với bất cứ ai về bất cứ vấn đề gì được nêu lên trong tác phẩm nầy.

 

* Các hình của Huỳnh Phú Sổ được chụp lại từ trong cuốn Phật Giáo Hòa Hảo Trong Dòng Lịch Sử Dân Tộc của Nguyễn Long Thành Nam.

 

Viện Tư Tưởng Việt Phật

P.O Box 915

Danville, CA 94526. USA

 

 

Tác Giả & Tác Phẩm

 

* Tác giả Lê Hiếu Liêm sinh năm 1952 tại Huế, tốt nghiệp Cử nhân Luật Khoa đại Học Sài Gòn năm 1974 và Tiến Sĩ Luật Khoa, chuyên ngành về Luật Các Tổ Chức Quốc Tế Và Bang Giao Kinh Tế Quốc Tế, đại Học Sorbonne năm 1978, sáng lập Tạp Chí Khai Phóng (1981), báo Thanh Niên Hành động (1984), báo The Berkeley Times (1986), Viện Tư Tưởng Việt Phật (1990), Tạp Chí Bông Sen (1991) và Trường Phật Học Lý Trần (1991).

Trong hơn hai thập niên qua, tác giả đã hoàn thành các tác phẩm sau đây:

– Ý Thức Hệ Của Các Quốc Gia Đang Phát Triển (1970),

– Chiến Tranh Việt Nam Và Luật Quốc Tế (1973),

– Hợp Tác Và Hội Nhập Tại Đông Nam Á (1976),

– Việt Nam Và Hoa Kỳ Trong Thời đại Mới 1976-2000 (1976),

– Bản Điều Trần Nguyễn Trường Tộ Mới (1977),

– Khía Cạnh Pháp Lý Và Thực Tế Của Sự Giao Thương Nga-Mỹ (luận án tiến sĩ, 1978),

– Việt Nam Tranh Đấu Sử Luận (1980),

– Hai Ngàn Năm Việt Nam Và Phật Giáo (1981).

 

Tác giả đã viết trên 200 bài nghiên cứu, tham luận, bình luận, phóng sự, bút ký… dưới các bút hiệu khác nhau, về các vấn đề Phật Giáo, Phật Học và Đất Nước, được đăng tải trên các tạp chí Phật Giáo Việt Nam, Khai Phóng, Giao Điểm, Hoa Sen, Bông Sen, Bông Sen Âu Châu… và được trích đăng lại trong nhiều tờ báo khác.

Tác giả Lê Hiếu Liêm là chủ biên của bộ Phật Học Lý Trần, Khóa Căn Bản (Năm thứ nhất Cao Đẳng Phật học), Khóa Trung Cấp (Năm thứ hai Cao Đẳng Phật học) và Khóa Cao Cấp (năm thứ ba Cử Nhân Phật học) tổng cộng 6.000 trang.

Ngay từ tác phẩm đầu tiên “Ý Thức Hệ Của Các Quốc Gia đang Phát Triển”, được viết khi 18 tuổi, tác giả đã đề nghị lấy Phật Giáo để dung hòa, hóa giải các nguồn ý thức hệ đang tàn phá Việt Nam và làm chủ đạo văn hóa-chính trị mới cho Việt Nam.

Lời kêu gọi này tiếp tục được đưa ra trong Bản Điều Trần gởi các nhà lãnh đạo Việt Nam, được viết khi 24 tuổi, và được tác giả mang đến trao cho phái đoàn Thủ Tướng Phạm Văn Đồng đang công du tại Pháp trong năm 1977.

Thông điệp giải cứu và quang hưng đất nước trong tinh thần khoan dung, khai phóng, từ bi và trí tuệ của đạo Phật, đồng thời cũng là của truyền thống văn hóa dân tộc và của thời đại, được tác giả tiếp tục khẳng định trong hầu hết các tác phẩm được viết từ suốt 20 năm qua.

 

* Tác phẩm Bồ Tát Huỳnh Phú Sổ Và Phật Giáo Thời Đại được viết từ cuối năm 1994 và hoàn thành, quyển một, vào tháng tư năm 1995. Đây là quyển đầu tiên của bộ sách ba cuốn viết về Huỳnh Phú Sổ. Quyển một giới thiệu cuộc đời – tư tưởng Bồ Tát Huỳnh Phú Sổ và nội dung giáo lý – hình thức tín ngưỡng của Phật Giáo Hòa Hảo, như một tông phái Phật giáo được Việt hóa và hiện đại hóa. Quyển hai so sánh Huỳnh Phú Sổ và các vị giáo chủ khác, cùng đối chiếu Phật Giáo với các tôn giáo khác, đây là một bản tổng kết và đánh giá di sản tôn giáo của dân tộc và nhân loại. Quyển ba trình bày những tiên đoán về tương lai của các tôn giáo và của Phật Giáo Việt Nam, và đưa ra những đề nghị để xây dựng một nền Phật Giáo Thời đại trong Thời đại Phật Giáo, là thế kỷ 21 sắp đến.

 

“Bồ Tát Huỳnh Phú Sổ đã đưa lịch sử vượt qua tương lại, đã nối liền Đạo Pháp với Dân Tộc, và đã đến hiện đại từ truyền thống. Ý thức  mới trong văn hóa, tôn giáo và chính trị của Ông vẫn còn rực sáng để đánh thức chúng ta, dẫn đường cho thời đại, cho sinh mệnh Việt Nam và tương lai Phật Giáo Việt Nam. Tất cả chúng ta, những ai vẫn còn mang trong trái tim truyền thống văn hóa và tâm linh của dân tộc, chính là hóa thân của Huỳnh Phú Sổ, của Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Tuệ Trung, của Khuông Việt, Vạn Hạnh, Lý Công Uẩn.

Huỳnh Phú Sổ bất tử.

Vì sự nghiệp của ông chính là sự nghiệp Phật Giáo.

Vì sự nghiệp của ông chính là sự nghiệp Việt Nam.

Vì Huỳnh Phú Sổ đã trở thành một phần mầu nhiệm của Việt Nam, của Phật Giáo, của mỗi chúng ta…”

 

|Muc Luc| |Ch.1| |Ch.2| |Ch.3| |Ch.4| |Ch.5| |Ch.6| |Ch.7| |Ch.8| |Ch.9| |Ch.10|TK|

[BHH430] [PGHH] [THƯ VIỆN PGHH]

Advertisements
Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Ðức Huỳnh Giáo Chủ

Ðức Huỳnh Giáo Chủ
Vương Kim

Ðức Phật, Hoàng thiên lịnh giáng trần,

Huỳnh gia chuyển kiếp lập đời Tân.

Giáo truyền đạo Thích dìu sanh chúng,

Chủ ý chọn người vẹn Tứ ân.

(Hình Tác giả: Vương Kim Phan Bá Cầm)

Phần I:

HÀNH TRẠNG

 

Thiên thứ nhứt

Giai đoạn ra đời mở đạo

 

Chương I: Bối cảnh xã hội

Chương II:Thân thế

Chương III: Ra Tế độ

Chương IV: Đăng Sơn

Chương V: Sứ Mạng

Chương VI: Lưu Cư

Chương VII: Vận Ðộng Ðộc Lập

Chương VIII: Tổ Chức Hàng Ngũ

Chương IX: Chuẩn Bị Ðấu Tranh

 

Thiên thứ hai

Giai đoạn hoạt động đấu tranh

 

Chương X: Dấn Thân

 

Thiên thứ ba

Giai Ðoạn Vắng Mặt

 

Chương XI: Lý Do Thọ Nạn

Chương XII: Còn Hay Mất

 

Phần II:

SỰ NGHIỆP

 

Thiên thứ tư

Sự Nghiệp Về Mặt Ðạo

Tôn Phái Phật Giáo Hòa Hảo

 

Chương XIII: Học Phật

Chương XIV: Tu Nhân

 

Thiên thứ năm

Sự Nghiệp Về Mặt Ðời:

Công nghiệp cách mạng

 

Chương XV: Quân Sự.

Bộ Ðội Nguyễn Trung Trực

 

Chương XVI: Chánh Trị

Việt Nam Dân Chủ Xã Hội đảng

Cùng một tác giả:

Long Hoa xuất bản

–         Tận Thế và Hội Long Hoa (1952)

–         Đức Phật Thầy Tây An (1953) (hiệp với Đào Hưng)

–         Để Hiểu Phật Giáo Hòa Hảo (1954) (hiệp với Thanh Sĩ)

–         Ðời Hạ Ngươn (1960)

–         Đời người dướI ánh sáng Đạo Phật (1960)

–         Bửu Sơn Kỳ Hương (1966)

–         Hành sử Đạo Nhân (1970)

–         Tu Hiền (1972)

–         Đời Thượng Ngươn (1973)

–         Pháp Môn Tịnh Độ (1973)

–         Tại Sao Ta Phải Tu (1974)

Dân Xã Tùng Thư

–         Chánh trị thường thức (1956)

–         Tinh thần cán bộ (1971)

–         Lập trường Dân Xã Đảng (1971)

MUC LUC CHƯƠNG 1 | | CHƯƠNG 2 | | CHƯƠNG 3 | | CHƯƠNG 4 | | CHƯƠNG 5 | | CHƯƠNG 6 | | CHƯƠNG 7 | | CHƯƠNG 8 | | CHƯƠNG 9 | | CHƯƠNG 10 | |CHƯƠNG 11 | | CHƯƠNG 12 |

CHƯƠNG 13 | | CHƯƠNG 14 | | CHƯƠNG 15 | | CHƯƠNG 16 | | CHƯƠNG 17|

[TV. PGHH]

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Ðức Huỳnh Giáo Chủ

Ðức Huỳnh Giáo Chủ
Vương Kim

Ðức Phật, Hoàng thiên lịnh giáng trần,

Huỳnh gia chuyển kiếp lập đời Tân.

Giáo truyền đạo Thích dìu sanh chúng,

Chủ ý chọn người vẹn Tứ ân.

(Hình Tác giả: Vương Kim Phan Bá Cầm)

Phần I:

HÀNH TRẠNG

 

Thiên thứ nhứt

Giai đoạn ra đời mở đạo

 

Chương I: Bối cảnh xã hội

Chương II:Thân thế

Chương III: Ra Tế độ

Chương IV: Đăng Sơn

Chương V: Sứ Mạng

Chương VI: Lưu Cư

Chương VII: Vận Ðộng Ðộc Lập

Chương VIII: Tổ Chức Hàng Ngũ

Chương IX: Chuẩn Bị Ðấu Tranh

 

Thiên thứ hai

Giai đoạn hoạt động đấu tranh

 

Chương X: Dấn Thân

 

Thiên thứ ba

Giai Ðoạn Vắng Mặt

 

Chương XI: Lý Do Thọ Nạn

Chương XII: Còn Hay Mất

 

Phần II:

SỰ NGHIỆP

 

Thiên thứ tư

Sự Nghiệp Về Mặt Ðạo

Tôn Phái Phật Giáo Hòa Hảo

 

Chương XIII: Học Phật

Chương XIV: Tu Nhân

 

Thiên thứ năm

Sự Nghiệp Về Mặt Ðời:

Công nghiệp cách mạng

 

Chương XV: Quân Sự.

Bộ Ðội Nguyễn Trung Trực

 

Chương XVI: Chánh Trị

Việt Nam Dân Chủ Xã Hội đảng

Cùng một tác giả:

Long Hoa xuất bản

–         Tận Thế và Hội Long Hoa (1952)

–         Đức Phật Thầy Tây An (1953) (hiệp với Đào Hưng)

–         Để Hiểu Phật Giáo Hòa Hảo (1954) (hiệp với Thanh Sĩ)

–         Ðời Hạ Ngươn (1960)

–         Đời người dướI ánh sáng Đạo Phật (1960)

–         Bửu Sơn Kỳ Hương (1966)

–         Hành sử Đạo Nhân (1970)

–         Tu Hiền (1972)

–         Đời Thượng Ngươn (1973)

–         Pháp Môn Tịnh Độ (1973)

–         Tại Sao Ta Phải Tu (1974)

Dân Xã Tùng Thư

–         Chánh trị thường thức (1956)

–         Tinh thần cán bộ (1971)

–         Lập trường Dân Xã Đảng (1971)

MUC LUC CHƯƠNG 1 | | CHƯƠNG 2 | | CHƯƠNG 3 | | CHƯƠNG 4 | | CHƯƠNG 5 | | CHƯƠNG 6 | | CHƯƠNG 7 | | CHƯƠNG 8 | | CHƯƠNG 9 | | CHƯƠNG 10 | | CHƯƠNG 11 | | CHƯƠNG 12 |

CHƯƠNG 13 | | CHƯƠNG 14 | | CHƯƠNG 15 | | CHƯƠNG 16 | | CHƯƠNG 17|

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔ và Phật Giáo Thời Ðại

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔ

và Phật Giáo Thời Ðại

Lê Hiếu Liêm

 

 

Chương một: Dẫn nhập Việt Nam và Phật Giáo đầu thế kỷ hai mươi.

 

Đầu thế kỷ 20, tư tưởng Nho Giáo, thống trị độc tôn đất nước từ Thời Hồ Quý Ly, nhà Lê và nhà Nguyễn suốt 400 năm, hoàn toàn sụp đổ. Tư tưởng Phật Giáo, ngự trị vinh quang trong thời đại Lý Trần từ thế kỷ thứ 11 đến cuối thế kỷ 14, suy đồi tận gốc. Tư tưởng Tây Phương và tôn giáo của nó, Thiên Chúa Giáo La Mã, bị đại đa số trí thức và nhân dân coi như sản phẩm và công cụ của chế độ Thuộc Địa và thực dân Pháp nên vẫn không được chấp nhận. Ý thức hệ Cộng Sản cũng như các tư tưởng mới khác chưa ra đời. Cả một khoảng trống tư tưởng, cũng có nghĩa là một khoảng trống tôn giáo và chính trị, to lớn bao trùm trên một nước Việt Nam bị nô lệ, bóc lột, áp bức, lạc hậu và nghèo đói. Nhưng đây cũng là môi trường lý tưởng cho sự ra đời của những tư tưởng mới, những tôn giáo mới, những chính đảng mới và những phong trào mới: Phong trào Đông Du và Việt Nam Duy Tân Hội của Phan Bội Châu từ năm 1904, Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can và các nhà Nho tiến bộ năm 1907, tư tưởng dân quyền và dân chủ của Phan Chu Trinh suốt hai mươi năm (1905-1925), phong trào chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908, vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội cùng năm, Việt Nam Quang Phục Hội năm 1912, cuộc khởi nghĩa ở Trung Kỳ và ở Huế năm 1916 của Thái Phiên, Trần Cao Vân, Lê Ngung, vua Duy Tân…, phong trào Hội Kín ở miền Nam năm 1913-1916 lan rộng khắp Lục Tỉnh và cuộc tấn công Sài Gòn năm 1916. Các hoạt động này đã liên tục diễn ra từ đầu thế kỷ 20 đến cuối đệ nhất thế chiến.

Tuy nhiên mãi đến đầu thập njiên 20 Việt Nam mới thật sự thức dậy với sự ra đời Việt Nam Thanh Niên Cách mạng Đồng Chí Hội và Tân Việt Cách Mạng Đảng năm 1925, Đạo Cao Đài năm 1926, Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1927, Cuộc khởi nghĩa Yên Bái và sự ra đời của Đảng Cộng SảnĐông Dương năm 1930 và phong trào Sô Viết Nghệ Tỉnh 1930-1931.

 

Trong thời gian sôi động này, từ 1925 trở đi, Phật Giáo cũng đã thức dậy. Từ năm 1923, thiền sư Khánh Hòa và thiền sư Thiện Chiếu đã thành lập, tại chùa Long Hòa ở Trà Vinh, Hội Lục Hòa Liên Hiệp với mục đích vận động thành lập một Hội Phật Giáo Việt Nam toàn quốc để chấn hưng Phật Giáo. Thiền sư Thiện Chiếu, khác hẳn tất cả tăng sĩ Phật Giáo đương thời, là một tăng sĩ có tân học. Ông đã đi ra Trung và Bắc vận động thống nhất Phật Giáo năm 1927 nhưng bất thành.

Năm 1928 thiền sư Khánh Hòa xây dựng Thích Học Đường và Phật Học Thư Xã tại Chùa Linh Sơn, Sài Gòn và năm 1929 Ông cho ấn hành tạp chí Viên Âm, tập san Phật Học đầu tiên bằng quốc ngữ tại Việt Nam, đặt trụ sở tại chùa Xoài Hột, Mỹ Tho. Cùng thời, thiền sư Thiện Chiếu xuất bản một tạp chí Phật Học nhắm vào giới thanh niên trí thức lấy tên là Phật Hòa Tân Thanh Niên, đặt tòa soạn tại chùa Chúc Thọ ở Gia Định.

 

Năm 1931 thiền sư Khánh Hòa cùng nhiều tăng sĩ và cư sĩ thành lập Hội Phật Học đầu tiên tại Việt Nam, lấy tên là Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học và thiền sư Từ Phong được mời làm Chánh Hội Trưởng. Hội ra tờ Từ Bi Âm năm 1932. Thiền sư Khánh Hòa, cùng người cộng sự thân tín là thiền sư Thiện Chiếu đã đóng vai trò tiền phong khai mở phong trào chấn hưng Phật Giáo và hiện đại hóa Phật Giáo, chuyển động sâu rộng lịch sử Phật Giáo và lịch sử Việt Nam trong suốt 65 năm qua.

Tại miền Trung, thiền sư Giác Tiên mở Phật Học Đường  tại chùa Trúc Lâm năm 1929 và ủy thác cho đệ tử là bác sĩ Lê Đình Thám thành lập Hội An Nam Phật Học năm 1932. Hội quy tụ đông đảo những danh tăng và cư sĩ trí thức tại miền Trung. Cư sĩ Lê Đình Thám được bầu làm Hội Trưởng và vua Bảo Đại được mời làm Hội Trưởng Danh Dự. Hội ra tạp chí Phật Học Viên Âm năm 1933. Năm 1934, thiền sư Giác Tiên, cư sĩ Lê Đình Thám… đã thành lập Trường An Nam Phật Học, trong đó có mở cấp Đại Học Phật Giáo. Đặc biệt hơn nữa là Hội đã phát động phong trào “Chỉnh Lý Tăng Già” rất quyết liệt để loại trừ ra khỏi tăng già những thành phần phạm giới, bất xứng. Chính nhờ những nổ lực cấp tiến này mà Phật Giáo miền Trung đã đóng được một vai trò quan trọng trong những thập niên sau đó.

Năm 1934 các thiền sư Trí Hải, Tâm Ứng, Tâm Bảo cùng với giới cư sĩ trí thức tên tuổi tại Hà Nội như Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Tố, Dương Bá Trạc, Trần Văn Giáp, Nguyễn Năng Quốc, Nguyễn Hữu Kha, Bùi Kỷ, Lê Dư… thành lập Bắc Kỳ Phật Giáo Hội, bầu cư sĩ Nguyễn Năng Quốc làm hội trưởng và suy tôn thiền sư Thanh Hanh làm Thiền Gia Pháp Chủ.Đặc biệt là trong buổi lễ suy tôn Pháp Chủ này, cư sĩ Trần Trọng Kim đã thuyết pháp về đề tài; “Thập Nhị Nhân Duyên”. Hội ra tạp chí Đuốc Tuệ năm 1935 và phát triển mạnh mẽ khắp miền Bắc (Nguyễn Lang, Phật Giáo Việt Nam Sử Luận, q 3, t 51-173).

Đặc tính của cả ba Hội Phật Học tại ba miền là vai trò nổi bật của giới trí thức cư sĩ, là thuần túy Phật học và sinh hoạt Phật sự. Thời điểm 1925-1945 là thời điểm chuẩn bị trong kiên nhẫn và thầm lặng. Các hội Phật Học đã làm đúng chức năng và vai trò lịch của mình, một cách khiêm tốn, từ đống gạch vụn đổ nát của nền Phật học và Phật Giáo Việt nam trong thời Thực Dân Pháp thống trị.

Trong thời kỳ này xuất hiện những con người đặc biệt, xuất sắc và những tư tưởng mạnh mẽ, quyết liệt, trong Phật Giáo cũng như ngoài Phật Giáo. Từ đầu thập niên 30, tư tưởng Phật Hộc của Thích Thiện Chiếu đã là những quả bom chấn động. Và năm 1939 Huỳnh Phú Sổ xuất hiện làm một cuộc cách mạng tôn giáo, cải cách toàn bộ và triệt để Phật Giáo chưa từng có trong hai ngàn năm lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Miền Nam, một vùng đất lạ lùng và kỳ diệu…

 

An Hòa Tự

Phan Chu Trinh từ Pháp trở về Sài Gòn năm 1925, đất nước bùng lên những làn sóng tư tưởng dân quyền và dân chủ. Ông khẳng định phải tìm nguyên nhân mất nước trong sự mất đạo đức, mất luân lý, trong bài diễn thuyết Đạo Đức và Luân Lý Đông Tây, và ông cũng khẳng định chế độ quân chủ chuyên chế là nguyên nhân chính làm mất nước trong bài thuyết giảng Quân Trị Chủ Nghĩa và Dân Trị Chủ Nghĩa tại Sài Gòn năm 1925. Ông mất năm sau đó và đám tang ông cùng với cuộc vận động ân xá nhà chí sĩ Phan Bội Châu đã khơi bùng phong trào yêu nước và yêu tự do dân chủ trên toàn quốc, đặc biệt là trong giới thanh niên.

Nhưng dữ dội, bốc lửa và sấm sét trong tư tưởng yêu nước chống thực dân cũng như tư tưởng tự do dân chủ, trong thời này, chỉ có Nguyễn An Ninh là đi xa nhất, quyết liệt nhất. Là một thanh niên miền Nam, Ông đi du học ở Pháp và trở về nước với bằng cử nhân Luật. Lợi dụng quy chế thuộc địa của Nam Kỳ, nơi mà báo chí bằng tiếng Pháp được tự do, không bị kiểm duyệt, Ông ra tờ La Cloche fèlèe (Tiếng Chuông Rè) từ năm 1923 đến năm 1926. Ông tự xưng tờ báo của Ông là “cơ quan tuyên truyền tư tưởng Pháp”, lấy tư tưởng của kẻ xâm lăng để đập những nhát búa tạ vào chế độ Thực Dân, đồng thời tờ báo cũng tự nhận là “cơ quan chuẩn bị cho tương lai dân tộc”. Thật là độc đáo và tuyệt vời.

Ngoài việc phê bình kịch liệt, thẳng tay chính sách và chế độ thực dân, Ông cổ võ cho việc đào tạo một tầng lớp thanh niên Việt Nam tân học, có văn hóa, có lý tưởng, có chí khí, có năng lực và có tổ chức và Ông tuyệt đối tin vào sức mạnh và vào tương lai của nhân dân Việt Nam. Ông chủ trương một nước Việt Nam thống nhất từ Nam chí Bắc và trở về lịch sử dân tộc để tìm niềm tin và sức mạnh. Ông hô hào, khi chỉ mới ngoài 20 tuổi, “Chẳng những phải duy trì những giấc mộng vĩ đại, mà còn phải tổ chức thành một nhóm quan trọng để chuẩn bị cho tương lai”. Không những tư tưởng táo bạo, độc đáo, mới lạ, kiến thức của Ông cũng rất uyên bác. Khi Thống Đốc Nam Kỳ tuyên bố: “Xứ này không cần trí thức”. Ông đã viết bài trả lời bốc lửa: “… Những thảm khổ của chúng ta ngày nay, còn gì nữa, đúng là do tổ tiên của chúng ta đã sờ mó vào cây kiến thức. Hạng trí thức đã làm đảo lộn thế giới, làm hư hỏng hạnh phúc của thế giới. Hãy nguyền rủa tên tuổi của Prométhé, kẻ đã lấy trộm chút lửa của Trời. Hãy nguyền rủa con người đã bày ra cái ná cao su cho trẻ con bắn đá vào trán ông khổng lồ… Trí Tuệ, đó là cái tai hại. Trí tuệ, đó là con rắn cuốn quanh thân cây đã làm cho chúng ta vĩnh viễn mất cõi thiên đường… Nói đến vai trò giáo dục, vai trò văn minh của các ông chủ xứ Đông Dương này, thưa các ông, điều ấy làm ta mỉm cười… Người ta đã quỳ lụy bái phục những vị “đem ánh sáng tới”, những vị “làm điều kỳ diệu ở Ấu Châu”… Cái gì kỳ diệu? Thực ra cái kỳ diệu đó là, chỉ trong một thời gian ngắn thôi, người ta đã có thể làm cho trình độ trí thức của người Nam đã thấp đi lại càng rơi vào chỗ cực kỳ dốt nát. Cái kỳ diệu đó là người ta đã có thể, trong một thời gian ngắn như thế, xô đẩy một dân tộc có tư tưởng dân chủ, ngã nhào vào tình trạng nô lệ hoàn toàn“. (Trần Văn Giàu, Sự Phát Triển Của Tư Tưởng ở Việt Nam Từ Thế Kỷ 19 đến Cách Mạng Tháng Tám, q2, t 311).

Nguyễn An Ninh cũng là một trong những nhà trí thức tân học đầu tiên nghiên cứu Phật Học và hoàn thành một tác phẩm Phật Học quan trọng, cuốn “Phê Bình Phật Giáo”. Sau thời kỳ hoạt động sôi nổi từ 1923 đến 1926, Nguyễn An Ninh bị ở tù trong thời gian 1926-1927, sau đó Ông về nghiên cứu Phật Giáo. Trên bàn làm việc của Ông, có một cái chuông, một cái mõ, Ông cạo trọc đầu và đi chân không. Ông nghiên cứu Phật Giáo qua tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức và các hoạt động Phật Giáo trong nước. Cuốn Phê Bình Phật Giáo xuất bản năm 1937 là kết quả của sự nghiên cứu này. Tựa đề của cuốn sách, 70 năm sau cũng không có ai dám viết một cuốn sách Phật Học có tựa đề thách thức và can đảm như vậy. Mục đích và phương pháp luận còn mới lạ, táo bạo hơn, đó là “so sánh Phật Giáo với thời đại của nó để chỉ chỗ hay, chỗ đúng hơn của nó đối với các thuyết khác và so sánh Phật Giáo với thời đại này để chỉ sai lầm của Phật Giáo“. Tác phẩm này được giới trí thức, giới chính trị cũng như giới Phật Giáo chú ý đặc biệt.

Nhưng không gây sóng gió và tranh luận suốt nhiều năm trời như những tác phẩm của Thích Thiện Chiếu. Đối với Tăng, Ni, Phật Tử thập niên 30, những tư tưởng Phật Học của Thích Thiện Chiếu là những tiếng sét ngang tai. Ngày nay đọc lại, chắc chắn quý vị tăng sĩ, cư sĩ và Phật Tử cũng không khỏi giựt mình, chấn động và suy nghĩ. Những tư tưởng này, được viết từ thập niên 30, ngày nay, cuối thập niên 90, vẫn còn mới, còn táo bạo, còn chứa đầy sức nặng của đá tảng và sức nổ của sấm sét. Thích Thiện Chiếu là tinh hoa sáng chói của Phật Giáo trong thập niên 20, 30. Ông đã đi tiền phong trong mọi lãnh vực chấn hưng và hiện đại hóa Phật Giáo Việt Nam trong thế kỷ 20 này.

Ta phải đứng trên một đỉnh núi cao, mới hy vọng nhìn thấy những cái gì chưa ai nhìn thấy, những cái gì nằm khuất sau dãy núi cao. đó có thể là những dãy núi cao hơn, hay là một đại dương mênh mông hay là một bình nguyên rực rỡ. Thích Thiện Chiếu là một ngọn núi cao của Phật học và Phật Giáo Việt Nam trước đệ nhị thế chiến. Ta hãy đứng trên đỉnh núi cao ngất, hùng tráng này để nhìn rõ một đỉnh núi cao ngất, hùng vĩ khác, là Cư sĩ, Bồ Tát, Giáo Chủ Huỳnh Phù Sổ.

 

|Muc Luc| |Ch.1| |Ch.2| |Ch.3| |Ch.4| |Ch.5| |Ch.6| |Ch.7| |Ch.8| |Ch.9| |Ch.10|TK|

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

MẦU NHIỆM Chuyện Bên Thầy Rất Hay

PGHH: KỂ LẠI CHUYỆN SỰ HUYỀN DIỆU VÀ MẦU NHIỆM KHI ĐỨC THẦY THUYẾT PHÁP

489,672 views

Published on Nov 15, 2016

Sấm Giảng từ Quyển 1- 6 : https://goo.gl/iUxufU Thi văn Giáo Lý Toàn Bộ : https://goo.gl/NreEb5 100 Chuyện bên Thầy : https://goo.gl/S6j8GY Bộ Hiển Đạo của Ngài Thanh Sĩ: https://goo.gl/SFJTj7 Chú Giải Sấm Giảng từ Quyển 1- 6: https://goo.gl/fZrk2k Niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” : https://goo.gl/wMlG3Q Thuyết Giảng Giáo Lý PGHH: https://goo.gl/rlXoog Triết Lý Nhà Phật rất hay: https://goo.gl/FFE6Jt Pháp Lý Trích Yếu : https://goo.gl/h8oDua Giảng Xưa SƯ VÃI BÁN KHOAI: “Quyển 1 Khuyên Người Đời Tu Niệm” https://goo.gl/pME37K “Quyển 2 Kệ Dân Của Người Khùng” “Quyển 3 Sám Giảng” “Quyển 4 Giác Mê Tâm Kệ” “Quyển 5 Khuyến Thiện” “Quyển 6 Tôn Chỉ Hành Đạo” “Xem Các Bài Thi Văn Giáo Lý” “Tám Điều Răn Cấm” “Xem Giảng Bửu Sơn Kỳ Hương” “Xem Mười Điều Khuyến Tu” “Xem Chuyện Bên Thầy đầy đủ” “Xem Giải Đáp Nghi Vấn Bác Hai Tho” “Xem Thuyết Pháp” ” Chú Giải Sấm Giảng Quyển 1″ :https://goo.gl/gIwh2Z ——————— Email liên hệ:hanhtrangcoitinh@gmail.com —————

SHOW MORE

phatphap ety
Tôi rất ngưỡng mộ lời dạy của Đức Thầy : << Làm người thì phải bíết ơn : Ơn cha mẹ _ Ơn tổ quốc _ Ơn đồng bào _ Ơn nhân loại . Để đền ơn quê hương đất nuớc , ta phải nổ lực hy sinh ,bảo vệ tổ quốc của tổ tiên để lại thì phải chống lạii xăm lăng bất luận từ đâu ,bất luận dưới hình thức nào >> .Dân ViệtNam có đạo lý đạo nầy nên lịch sữ V.N có rất nhiều vị anh hùng dân tộc .

Show less

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔ và Phật Giáo Thời Ðại

…… … .  . .  .  . Bồ Tát HUỲNH PHÚ SỔ

và Phật Giáo Thời Ðại

Lê Hiếu Liêm

 

 

Chương một: Dẫn nhập Việt Nam và Phật Giáo đầu thế kỷ hai mươi.

 

Đầu thế kỷ 20, tư tưởng Nho Giáo, thống trị độc tôn đất nước từ Thời Hồ Quý Ly, nhà Lê và nhà Nguyễn suốt 400 năm, hoàn toàn sụp đổ. Tư tưởng Phật Giáo, ngự trị vinh quang trong thời đại Lý Trần từ thế kỷ thứ 11 đến cuối thế kỷ 14, suy đồi tận gốc. Tư tưởng Tây Phương và tôn giáo của nó, Thiên Chúa Giáo La Mã, bị đại đa số trí thức và nhân dân coi như sản phẩm và công cụ của chế độ Thuộc Địa và thực dân Pháp nên vẫn không được chấp nhận. Ý thức hệ Cộng Sản cũng như các tư tưởng mới khác chưa ra đời. Cả một khoảng trống tư tưởng, cũng có nghĩa là một khoảng trống tôn giáo và chính trị, to lớn bao trùm trên một nước Việt Nam bị nô lệ, bóc lột, áp bức, lạc hậu và nghèo đói. Nhưng đây cũng là môi trường lý tưởng cho sự ra đời của những tư tưởng mới, những tôn giáo mới, những chính đảng mới và những phong trào mới: Phong trào Đông Du và Việt Nam Duy Tân Hội của Phan Bội Châu từ năm 1904, Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can và các nhà Nho tiến bộ năm 1907, tư tưởng dân quyền và dân chủ của Phan Chu Trinh suốt hai mươi năm (1905-1925), phong trào chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908, vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội cùng năm, Việt Nam Quang Phục Hội năm 1912, cuộc khởi nghĩa ở Trung Kỳ và ở Huế năm 1916 của Thái Phiên, Trần Cao Vân, Lê Ngung, vua Duy Tân…, phong trào Hội Kín ở miền Nam năm 1913-1916 lan rộng khắp Lục Tỉnh và cuộc tấn công Sài Gòn năm 1916. Các hoạt động này đã liên tục diễn ra từ đầu thế kỷ 20 đến cuối đệ nhất thế chiến.

Tuy nhiên mãi đến đầu thập njiên 20 Việt Nam mới thật sự thức dậy với sự ra đời Việt Nam Thanh Niên Cách mạng Đồng Chí Hội và Tân Việt Cách Mạng Đảng năm 1925, Đạo Cao Đài năm 1926, Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1927, Cuộc khởi nghĩa Yên Bái và sự ra đời của Đảng Cộng SảnĐông Dương năm 1930 và phong trào Sô Viết Nghệ Tỉnh 1930-1931.

 

Trong thời gian sôi động này, từ 1925 trở đi, Phật Giáo cũng đã thức dậy. Từ năm 1923, thiền sư Khánh Hòa và thiền sư Thiện Chiếu đã thành lập, tại chùa Long Hòa ở Trà Vinh, Hội Lục Hòa Liên Hiệp với mục đích vận động thành lập một Hội Phật Giáo Việt Nam toàn quốc để chấn hưng Phật Giáo. Thiền sư Thiện Chiếu, khác hẳn tất cả tăng sĩ Phật Giáo đương thời, là một tăng sĩ có tân học. Ông đã đi ra Trung và Bắc vận động thống nhất Phật Giáo năm 1927 nhưng bất thành.

Năm 1928 thiền sư Khánh Hòa xây dựng Thích Học Đường và Phật Học Thư Xã tại Chùa Linh Sơn, Sài Gòn và năm 1929 Ông cho ấn hành tạp chí Viên Âm, tập san Phật Học đầu tiên bằng quốc ngữ tại Việt Nam, đặt trụ sở tại chùa Xoài Hột, Mỹ Tho. Cùng thời, thiền sư Thiện Chiếu xuất bản một tạp chí Phật Học nhắm vào giới thanh niên trí thức lấy tên là Phật Hòa Tân Thanh Niên, đặt tòa soạn tại chùa Chúc Thọ ở Gia Định.

 

Năm 1931 thiền sư Khánh Hòa cùng nhiều tăng sĩ và cư sĩ thành lập Hội Phật Học đầu tiên tại Việt Nam, lấy tên là Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học và thiền sư Từ Phong được mời làm Chánh Hội Trưởng. Hội ra tờ Từ Bi Âm năm 1932. Thiền sư Khánh Hòa, cùng người cộng sự thân tín là thiền sư Thiện Chiếu đã đóng vai trò tiền phong khai mở phong trào chấn hưng Phật Giáo và hiện đại hóa Phật Giáo, chuyển động sâu rộng lịch sử Phật Giáo và lịch sử Việt Nam trong suốt 65 năm qua.

Tại miền Trung, thiền sư Giác Tiên mở Phật Học Đường  tại chùa Trúc Lâm năm 1929 và ủy thác cho đệ tử là bác sĩ Lê Đình Thám thành lập Hội An Nam Phật Học năm 1932. Hội quy tụ đông đảo những danh tăng và cư sĩ trí thức tại miền Trung. Cư sĩ Lê Đình Thám được bầu làm Hội Trưởng và vua Bảo Đại được mời làm Hội Trưởng Danh Dự. Hội ra tạp chí Phật Học Viên Âm năm 1933. Năm 1934, thiền sư Giác Tiên, cư sĩ Lê Đình Thám… đã thành lập Trường An Nam Phật Học, trong đó có mở cấp Đại Học Phật Giáo. Đặc biệt hơn nữa là Hội đã phát động phong trào “Chỉnh Lý Tăng Già” rất quyết liệt để loại trừ ra khỏi tăng già những thành phần phạm giới, bất xứng. Chính nhờ những nổ lực cấp tiến này mà Phật Giáo miền Trung đã đóng được một vai trò quan trọng trong những thập niên sau đó.

Năm 1934 các thiền sư Trí Hải, Tâm Ứng, Tâm Bảo cùng với giới cư sĩ trí thức tên tuổi tại Hà Nội như Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Tố, Dương Bá Trạc, Trần Văn Giáp, Nguyễn Năng Quốc, Nguyễn Hữu Kha, Bùi Kỷ, Lê Dư… thành lập Bắc Kỳ Phật Giáo Hội, bầu cư sĩ Nguyễn Năng Quốc làm hội trưởng và suy tôn thiền sư Thanh Hanh làm Thiền Gia Pháp Chủ.Đặc biệt là trong buổi lễ suy tôn Pháp Chủ này, cư sĩ Trần Trọng Kim đã thuyết pháp về đề tài; “Thập Nhị Nhân Duyên”. Hội ra tạp chí Đuốc Tuệ năm 1935 và phát triển mạnh mẽ khắp miền Bắc (Nguyễn Lang, Phật Giáo Việt Nam Sử Luận, q 3, t 51-173).

Đặc tính của cả ba Hội Phật Học tại ba miền là vai trò nổi bật của giới trí thức cư sĩ, là thuần túy Phật học và sinh hoạt Phật sự. Thời điểm 1925-1945 là thời điểm chuẩn bị trong kiên nhẫn và thầm lặng. Các hội Phật Học đã làm đúng chức năng và vai trò lịch của mình, một cách khiêm tốn, từ đống gạch vụn đổ nát của nền Phật học và Phật Giáo Việt nam trong thời Thực Dân Pháp thống trị.

Trong thời kỳ này xuất hiện những con người đặc biệt, xuất sắc và những tư tưởng mạnh mẽ, quyết liệt, trong Phật Giáo cũng như ngoài Phật Giáo. Từ đầu thập niên 30, tư tưởng Phật Hộc của Thích Thiện Chiếu đã là những quả bom chấn động. Và năm 1939 Huỳnh Phú Sổ xuất hiện làm một cuộc cách mạng tôn giáo, cải cách toàn bộ và triệt để Phật Giáo chưa từng có trong hai ngàn năm lịch sử Phật Giáo Việt Nam. Miền Nam, một vùng đất lạ lùng và kỳ diệu…

 

An Hòa Tự

Phan Chu Trinh từ Pháp trở về Sài Gòn năm 1925, đất nước bùng lên những làn sóng tư tưởng dân quyền và dân chủ. Ông khẳng định phải tìm nguyên nhân mất nước trong sự mất đạo đức, mất luân lý, trong bài diễn thuyết Đạo Đức và Luân Lý Đông Tây, và ông cũng khẳng định chế độ quân chủ chuyên chế là nguyên nhân chính làm mất nước trong bài thuyết giảng Quân Trị Chủ Nghĩa và Dân Trị Chủ Nghĩa tại Sài Gòn năm 1925. Ông mất năm sau đó và đám tang ông cùng với cuộc vận động ân xá nhà chí sĩ Phan Bội Châu đã khơi bùng phong trào yêu nước và yêu tự do dân chủ trên toàn quốc, đặc biệt là trong giới thanh niên.

Nhưng dữ dội, bốc lửa và sấm sét trong tư tưởng yêu nước chống thực dân cũng như tư tưởng tự do dân chủ, trong thời này, chỉ có Nguyễn An Ninh là đi xa nhất, quyết liệt nhất. Là một thanh niên miền Nam, Ông đi du học ở Pháp và trở về nước với bằng cử nhân Luật. Lợi dụng quy chế thuộc địa của Nam Kỳ, nơi mà báo chí bằng tiếng Pháp được tự do, không bị kiểm duyệt, Ông ra tờ La Cloche fèlèe (Tiếng Chuông Rè) từ năm 1923 đến năm 1926. Ông tự xưng tờ báo của Ông là “cơ quan tuyên truyền tư tưởng Pháp”, lấy tư tưởng của kẻ xâm lăng để đập những nhát búa tạ vào chế độ Thực Dân, đồng thời tờ báo cũng tự nhận là “cơ quan chuẩn bị cho tương lai dân tộc”. Thật là độc đáo và tuyệt vời.

Ngoài việc phê bình kịch liệt, thẳng tay chính sách và chế độ thực dân, Ông cổ võ cho việc đào tạo một tầng lớp thanh niên Việt Nam tân học, có văn hóa, có lý tưởng, có chí khí, có năng lực và có tổ chức và Ông tuyệt đối tin vào sức mạnh và vào tương lai của nhân dân Việt Nam. Ông chủ trương một nước Việt Nam thống nhất từ Nam chí Bắc và trở về lịch sử dân tộc để tìm niềm tin và sức mạnh. Ông hô hào, khi chỉ mới ngoài 20 tuổi, “Chẳng những phải duy trì những giấc mộng vĩ đại, mà còn phải tổ chức thành một nhóm quan trọng để chuẩn bị cho tương lai”. Không những tư tưởng táo bạo, độc đáo, mới lạ, kiến thức của Ông cũng rất uyên bác. Khi Thống Đốc Nam Kỳ tuyên bố: “Xứ này không cần trí thức”. Ông đã viết bài trả lời bốc lửa: “… Những thảm khổ của chúng ta ngày nay, còn gì nữa, đúng là do tổ tiên của chúng ta đã sờ mó vào cây kiến thức. Hạng trí thức đã làm đảo lộn thế giới, làm hư hỏng hạnh phúc của thế giới. Hãy nguyền rủa tên tuổi của Prométhé, kẻ đã lấy trộm chút lửa của Trời. Hãy nguyền rủa con người đã bày ra cái ná cao su cho trẻ con bắn đá vào trán ông khổng lồ… Trí Tuệ, đó là cái tai hại. Trí tuệ, đó là con rắn cuốn quanh thân cây đã làm cho chúng ta vĩnh viễn mất cõi thiên đường… Nói đến vai trò giáo dục, vai trò văn minh của các ông chủ xứ Đông Dương này, thưa các ông, điều ấy làm ta mỉm cười… Người ta đã quỳ lụy bái phục những vị “đem ánh sáng tới”, những vị “làm điều kỳ diệu ở Ấu Châu”… Cái gì kỳ diệu? Thực ra cái kỳ diệu đó là, chỉ trong một thời gian ngắn thôi, người ta đã có thể làm cho trình độ trí thức của người Nam đã thấp đi lại càng rơi vào chỗ cực kỳ dốt nát. Cái kỳ diệu đó là người ta đã có thể, trong một thời gian ngắn như thế, xô đẩy một dân tộc có tư tưởng dân chủ, ngã nhào vào tình trạng nô lệ hoàn toàn“. (Trần Văn Giàu, Sự Phát Triển Của Tư Tưởng ở Việt Nam Từ Thế Kỷ 19 đến Cách Mạng Tháng Tám, q2, t 311).

Nguyễn An Ninh cũng là một trong những nhà trí thức tân học đầu tiên nghiên cứu Phật Học và hoàn thành một tác phẩm Phật Học quan trọng, cuốn “Phê Bình Phật Giáo”. Sau thời kỳ hoạt động sôi nổi từ 1923 đến 1926, Nguyễn An Ninh bị ở tù trong thời gian 1926-1927, sau đó Ông về nghiên cứu Phật Giáo. Trên bàn làm việc của Ông, có một cái chuông, một cái mõ, Ông cạo trọc đầu và đi chân không. Ông nghiên cứu Phật Giáo qua tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức và các hoạt động Phật Giáo trong nước. Cuốn Phê Bình Phật Giáo xuất bản năm 1937 là kết quả của sự nghiên cứu này. Tựa đề của cuốn sách, 70 năm sau cũng không có ai dám viết một cuốn sách Phật Học có tựa đề thách thức và can đảm như vậy. Mục đích và phương pháp luận còn mới lạ, táo bạo hơn, đó là “so sánh Phật Giáo với thời đại của nó để chỉ chỗ hay, chỗ đúng hơn của nó đối với các thuyết khác và so sánh Phật Giáo với thời đại này để chỉ sai lầm của Phật Giáo“. Tác phẩm này được giới trí thức, giới chính trị cũng như giới Phật Giáo chú ý đặc biệt.

Nhưng không gây sóng gió và tranh luận suốt nhiều năm trời như những tác phẩm của Thích Thiện Chiếu. Đối với Tăng, Ni, Phật Tử thập niên 30, những tư tưởng Phật Học của Thích Thiện Chiếu là những tiếng sét ngang tai. Ngày nay đọc lại, chắc chắn quý vị tăng sĩ, cư sĩ và Phật Tử cũng không khỏi giựt mình, chấn động và suy nghĩ. Những tư tưởng này, được viết từ thập niên 30, ngày nay, cuối thập niên 90, vẫn còn mới, còn táo bạo, còn chứa đầy sức nặng của đá tảng và sức nổ của sấm sét. Thích Thiện Chiếu là tinh hoa sáng chói của Phật Giáo trong thập niên 20, 30. Ông đã đi tiền phong trong mọi lãnh vực chấn hưng và hiện đại hóa Phật Giáo Việt Nam trong thế kỷ 20 này.

Ta phải đứng trên một đỉnh núi cao, mới hy vọng nhìn thấy những cái gì chưa ai nhìn thấy, những cái gì nằm khuất sau dãy núi cao. đó có thể là những dãy núi cao hơn, hay là một đại dương mênh mông hay là một bình nguyên rực rỡ. Thích Thiện Chiếu là một ngọn núi cao của Phật học và Phật Giáo Việt Nam trước đệ nhị thế chiến. Ta hãy đứng trên đỉnh núi cao ngất, hùng tráng này để nhìn rõ một đỉnh núi cao ngất, hùng vĩ khác, là Cư sĩ, Bồ Tát, Giáo Chủ Huỳnh Phù Sổ.

 

|Muc Luc| |Ch.1| |Ch.2| |Ch.3| |Ch.4| |Ch.5| |Ch.6| |Ch.7| |Ch.8| |Ch.9| |Ch.10|TK|

[BHH430] [PGHH] [THƯ VIỆN PGHH]

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Ðức Huỳnh Giáo Chủ

Ðức Huỳnh Giáo Chủ
Vương Kim

Ðức Phật, Hoàng thiên lịnh giáng trần,

Huỳnh gia chuyển kiếp lập đời Tân.

Giáo truyền đạo Thích dìu sanh chúng,

Chủ ý chọn người vẹn Tứ ân.

(Hình Tác giả: Vương Kim Phan Bá Cầm)

Phần I:

HÀNH TRẠNG

 

Thiên thứ nhứt

Giai đoạn ra đời mở đạo

 

Chương I: Bối cảnh xã hội

Chương II:Thân thế

Chương III: Ra Tế độ

Chương IV: Đăng Sơn

Chương V: Sứ Mạng

Chương VI: Lưu Cư

Chương VII: Vận Ðộng Ðộc Lập

Chương VIII: Tổ Chức Hàng Ngũ

Chương IX: Chuẩn Bị Ðấu Tranh

 

Thiên thứ hai

Giai đoạn hoạt động đấu tranh

 

Chương X: Dấn Thân

 

Thiên thứ ba

Giai Ðoạn Vắng Mặt

 

Chương XI: Lý Do Thọ Nạn

Chương XII: Còn Hay Mất

 

Phần II:

SỰ NGHIỆP

 

Thiên thứ tư

Sự Nghiệp Về Mặt Ðạo

Tôn Phái Phật Giáo Hòa Hảo

 

Chương XIII: Học Phật

Chương XIV: Tu Nhân

 

Thiên thứ năm

Sự Nghiệp Về Mặt Ðời:

Công nghiệp cách mạng

 

Chương XV: Quân Sự.

Bộ Ðội Nguyễn Trung Trực

 

Chương XVI: Chánh Trị

Việt Nam Dân Chủ Xã Hội đảng

Cùng một tác giả:

Long Hoa xuất bản

–         Tận Thế và Hội Long Hoa (1952)

–         Đức Phật Thầy Tây An (1953) (hiệp với Đào Hưng)

–         Để Hiểu Phật Giáo Hòa Hảo (1954) (hiệp với Thanh Sĩ)

–         Ðời Hạ Ngươn (1960)

–         Đời người dướI ánh sáng Đạo Phật (1960)

–         Bửu Sơn Kỳ Hương (1966)

–         Hành sử Đạo Nhân (1970)

–         Tu Hiền (1972)

–         Đời Thượng Ngươn (1973)

–         Pháp Môn Tịnh Độ (1973)

–         Tại Sao Ta Phải Tu (1974)

Dân Xã Tùng Thư

–         Chánh trị thường thức (1956)

–         Tinh thần cán bộ (1971)

–         Lập trường Dân Xã Đảng (1971)

MUC LUC CHƯƠNG 1 | | CHƯƠNG 2 | | CHƯƠNG 3 | | CHƯƠNG 4 | | CHƯƠNG 5 | | CHƯƠNG 6 | | CHƯƠNG 7 | | CHƯƠNG 8 | | CHƯƠNG 9 | | CHƯƠNG 10 | |CHƯƠNG 11 | | CHƯƠNG 12 |

CHƯƠNG 13 | | CHƯƠNG 14 | | CHƯƠNG 15 | | CHƯƠNG 16 | | CHƯƠNG 17|

Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

6 tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo tại An Giang bị kết án tù

6 tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo tại An Giang bị kết án tù

Tường trình phiên xử 6 đồng đạo PGHH ở An Giang ngày 09/02/2018
Fb Bùi Văn Trung – Lúc 12 giờ 30 trưa hôm nay, 09/02/2018, trong một phiên xử không công khai, bất công và ngắn ngủi kéo dài 3 tiếng rưỡi (sau khi trừ thời gian nghị án và đọc lại ghi chép phiên xử), Tòa án Nhân dân huyện An Phú đã đưa những bản án bất công đối với 6 đồng đạo Phật giáo Hòa Hảo (PGHH) ở tỉnh An Giang:

1) Ông Bùi Văn Trung (chủ Đạo tràng Út Trung, sinh năm 1964): 6 năm tù giam;
2) Ông Bùi Văn Thâm (con ông Trung, sinh năm 1987): 6 năm tù giam;
3) Ông Nguyễn Hoàng Nam (sinh năm 1982): 4 năm tù giam;
4) Bà Lê Thị Hồng Hạnh (sinh năm 1979): 3 năm tù giam;
5) Bà Bùi Thị Bích Tuyền (con ông Trung, sinh năm 1982): 3 năm tù giam;
6) Bà Lê Thị Hên (vợ ông Trung, sinh năm 1962): 2 năm tù giam cho hưởng án treo.
Tất cả 6 đồng đạo bị vu khống tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Điều 245 Bộ luật Hình sự 1999. Riêng đồng đạo Bùi Văn Thâm bị vu khống thêm tội “Chống người thi hành công vụ” theo Điều 257 Bộ luật Hình sự 1999. Các đồng đạo Trung và Thâm đã từng bị giam giữ 4 năm và 2 năm rưỡi vì tội tranh đấu bảo vệ cho đạo tràng trong vụ đàn áp tôn giáo hồi năm 2012.
Phiên xử không công khai hôm nay diễn ra dưới quyền chủ tọa của thẩm phán Lê Thanh Hoàng là người thiên vị về phía công tố và các nhân chứng buộc tội. Các kiểm sát viên Hứa Thoại Khương và Huỳnh Văn Thanh giữ quyền công tố. Ở phía ngoài, công an, cảnh sát cơ động và những người mặc thường phục vây kín tòa án. Ban đầu 2 bị cáo tại ngoại và một số thân nhân bị cáo đã bị công an chặn không cho vào dự phiên xử. Khi thấy đồng đạo bị cáo Lê Thị Hên lên cơn đau tim thì công an mới cho nhóm thân nhân vào tòa. Trong phòng xử bà Hên bị đau tim nên phải nằm. Một số thân nhân và bạn bè không được vào tòa. Khi vào phòng xử các đồng đạo PGHH bị người của chính quyền bắt ngồi vào chỗ chỉ định và kèm chặt. Các luật sư Đoàn Thái Duyên Hải, Nguyễn Mạnh Phong và Nguyễn Minh Đức thuộc Đoàn Luật sư TP. HCM đã đảm nhiệm phần bào chữa.
Kiểm sát viên Hứa Thoại Khương đề nghị mức án 6-7 năm tù cho ông Trung; 5-6 năm (l/q Điều 245) và 9 tháng đến 1 năm tù (l/q Điều 257) – gom lại thành 6-7 năm tù – cho ông Thâm; 3-4 năm tù cho ông Nam; 3-4 năm tù cho bà Hạnh; 3-4 năm tù cho bà Bích Tuyền; 2-3 năm tù cho bà Hên. Hứa Thoại Khương từ chối tranh luận với luật sư để làm rõ sự thật cho nên cuối cùng chánh án đọc bản án có sẵn.
Những cảnh sát giao thông Đại Hải Đăng, Huỳnh Thanh Hùng, Nguyễn Văn Hiền, Giang Văn Tảng và công an Huỳnh Văn Nhã (Phó trưởng công an xã Phước Hưng) tham gia trong vai trò biện minh cho hành vi dùng biện pháp kiểm tra hành chánh để ngăn cản đồng đạo đến đạo tràng vào ngày 19/04/2017. Đăng là tên CSGT chặn xe trái phép trong cả 2 ngày 18 và 19/04/2017, và là nguyên nhân gây ra rối loạn. CSGT Nguyễn Văn Hiền thú nhận với luật sư rằng ông Thâm chưa đánh Hiền nên luật sư cho như vậy là chưa đủ kết tội. Tòa làm ngơ các phản bác của luật sư về những chứng cứ không có khả năng buộc tội.
Tòa đã chỉ mời 5 nhân chứng buộc tội và chứ không cho bất cứ nhân chứng gỡ tội nào vào tham dự. Nguyễn Hoàng Tâm (kẻ mạo nhận là họ hàng với ông Trung) và Võ Văn Sanh là 2 người viết 2 lá đơn tố cáo được phô tô giống hệt nhau nên bị luật sư chất vấn đến nỗi cuối cùng tên Sanh từ chối trả lời tiếp và được tòa chấp nhận. Lữ Chí Út xưng là hàng xóm và tố cáo ông Trung gây rối trật tự.
Sáu đồng đạo PGHH nói trên là những người đứng ra tranh đấu bảo vệ cho các đồng đạo bị một nhóm người mặc thường phục do chính quyền thuê mướn cùng công an mật vụ ra đường chặn xe đồng đạo PGHH về tham dự lễ giỗ mẹ của ông Trung tại Đạo tràng Út Trung vào ngày 18 và 19/04/2017 ở ấp Phước Hòa (xã Phước Hưng, huyện An Phú). Công an và cảnh sát giao thông mặc sắc phục có mặt tại chỗ đã không làm gì để ngăn chặn hành động phi pháp này mà còn lợi dụng cơ hội để tịch thu giấy tờ xe và xe gắn máy của đồng đạo .
Tổng cộng trong ngày 18/04/2017 đã có ít nhất 20 đồng đạo bị chặn không cho đến đạo tràng Út Trung và ngày 19/04/2017 đã có ít nhất 20 đồng đạo PGHH bị chính quyền đe đọa, xô đẩy hay hành hung có thương tích, trong đó có 2 người bị đánh ngất xỉu, 2 người bị lấy xe máy, 2 người bị cướp chìa khóa xe, 2 người bị lấy giấy tờ xe. Vào ngày 03/05/2017, có 2 đồng đạo PGHH đến lấy xe bị thu giữ thì bị một nhóm người chặn đánh trên đường về. Ngày 15/05/2017 có 2 đồng đạo cũng bị 8 kẻ lạ mặt đánh đến ngất xỉu sau khi dự đám giỗ của đồng đạo ở xã Phước Hưng. Ngày 26/06/2017 công an chặn bắt ông Bùi Văn Trung và ông Bùi Văn Thâm trên đường về từ một đám giỗ PGHH. Trong khi bắt họ công an đã bóp cổ con gái út ông Trung đến ngất xỉu và phải đưa đi bệnh viện cấp cứu. Ngày 27/06/2017 ông Nguyễn Hoàng Nam bị bắt tại nhà ở thành phố Châu Đốc. Ngày 13/11/2017 bà Lê Hồng Hạnh bị bắt ở thị trấn An Phú. Ngày 24/07/2017 và ngày 18/10/2017 bà Lê Thị Hên (vợ ông Trung) và bà Bùi Thị Bích Tuyền (con ông Trung) nhận quyết định khởi tố nhưng cho tại ngoại và cấm đi khỏi nơi cư trú.
 
 
Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Vụ đàn áp Đạo tràng Út Trung: Kết luận: Ai là nạn nhân, ai là thủ phạm?

Vụ đàn áp Đạo tràng Út Trung: Kết luận: Ai là nạn nhân, ai là thủ phạm?

5. Đâu là nguyên nhân, đâu là hậu quả? Ai là nạn nhân, ai là thủ phạm?
a. Lịch sử đàn áp Đạo tràng Út Trung 
Hiện nay chính quyền Việt Nam chỉ công nhận duy nhất Ban Trị sự Trung Ương của Giáo hội PGHH Trung ương (quốc doanh) và bắt các tín đồ PGHH phải gia nhập vào đó. Nhiều tín đồ PGHH cho rằng Giáo hội PGHH Trung ương đưa ra những khuôn khổ sinh hoạt chật hẹp và không theo đúng tôn chỉ của PGHH nên họ hoạt động tôn giáo hoàn toàn độc lập với giáo hội này và bị đàn áp.
Ông Bùi Văn Trung là người sáng lập “Đạo tràng Út Trung” ở xã Phước Hưng, huyện An Phú, tỉnh An Giang. Đạo tràng Út Trung được dựng vào năm 2005 dựa trên quan niệm tu tại gia của PGHH. Đạo tràng Út Trung là nơi để tín đồ PGHH đến cúng Phật, tu học và nghe thuyết giảng vào ngày chủ nhật, ngày rằm và các lễ giỗ của gia đình ông Trung. Vì không chấp nhận gia nhập vào Giáo hội PGHH quốc doanh nên đạo tràng này bị chính quyền xem là bất hợp pháp. Từ lúc mới thành lập đạo tràng, chính quyền đã tuyên truyền rằng ông Trung chống lại luật về tôn giáo của nhà nước và yêu cầu tín đồ không nên đến đạo tràng. Từ đó công an đã chặn đường, hăm dọa, hành hung, tịch thu xe gắn máy, thu giữ giấy tờ xe và bắt tạm giữ những người đến đạo tràng để làm cho họ e ngại và sợ hãi. Tại nhiều buổi lễ đã bị công an dùng máy phát thanh có công suất lớn để lấn át lời thuyết giảng giáo lý trong đạo tràng. Có lúc đạo tràng bị ném gạch đá và đồ ô uế vào nhà. Đạo tràng của ông Trung bị cắt điện nên phải câu nhờ điện từ nhà kế cận. Từ năm 2012 đến năm 2016 ông Trung, con trai là Thâm và con rể là Minh đã bị giam giữ vì các hoạt động bảo vệ cho quyền tự do tôn giáo. Chính quyền Việt Nam cáo buộc họ có hành vi “chống người thi hành công vụ” và “gây rối trật tự công cộng”.
Trong chuyến viếng thăm Việt Nam vào tháng 7/2014, Báo cáo viên Đặc biệt về Tự do Tôn giáo hoặc Niềm tin của LHQ đã bỏ dở chương trình đi thăm tín đồ PGHH ở tỉnh An Giang để phản đối điều ông cho rằng “một số cá nhân tôi muốn gặp đã bị đặt dưới sự theo dõi chặt chẽ, cảnh cáo, đe dọa, sách nhiễu hoặc bị công an ngăn cản việc đi lại. Ngay cả những người đã gặp được tôi cũng không tránh khỏi việc bị công an theo dõi hoặc chất vấn ở một mức độ nhất định” và như thế vi phạm các cam kết với LHQ. Báo cáo viên Đặc biệt này của LHQ đã nhiều lần yêu cầu nhà nước Việt Nam trả lời về những vi phạm đối với Đạo tràng Út Trung.
Trong thư số 09/HR.VNM.2017 của Phái bộ Thường trực của Việt Nam tại Genève trả lời văn thư số UA VNM 8/2016 của Báo cáo viên Đặc biệt về Tự do Tôn giáo hoặc Niềm tin, chính quyền Việt Nam cho rằng Đạo tràng Út Trung là “một tổ chức tôn giáo không được nhà nước công nhận” và “thường xuyên có những hoạt động bất hợp pháp và gây mất trật tự tại khu vực lân cận”. Gây mất trật tự thế nào, chúng ta cứ xem những điều xảy ra trong ngày 19/04/2017 thì sẽ rõ.

Hình: Đạo tràng Út Trung ở thuộc ấp Phước Hòa, xã Phước Hưng, huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Hình: Sau cuộc biểu tình, ông Bùi Văn Trung (trái), ông Đặng Thành Tân (giữa) và ông Bùi Văn Thâm (phải) cấu nguyện trong đám giỗ mẹ ông Trung tại Đạo tràng Út Trung (19/04/2017).
Hình: Khoảng 40 tín đồ PGHH vào được đám giỗ mẹ ông Trung tại Đạo tràng Út Trung (19/04/2017).
b. Biến nạn nhân thành thủ phạm
Trong vụ này hiện có 6 người bị khởi tố, trong đó có 5 người về tội “Gây rối trật tự công cộng” và một người về tội “Chống người thi hành công vụ”.
Ông Bùi Văn Trung, năm nay 53 tuổi, bị bắt ngày 26/06/2017, và vợ ông là bà Lê Thị Hên, năm nay 55 tuổi, bị quản chế tại nhà từ ngày 24/07/2017. Ông bà hiện bị truy tố về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm c khoản 2 Điều 245.
Ông Trung, chủ Đạo tràng Út Trung, trước đây là một giáo viên, là một người thuyết giảng đạo PGHH xuất sắc. Trên Google người ta có thể nghe các video thuyết giảng của ông để hiểu sự ôn hòa và chừng mực của ông. Ông Trung mới ra tù vào ngày 30/10/2016. Ông từng bị bắt vào ngày 30/10/2012, sáu tháng sau vụ đàn áp đám giỗ ở đạo tràng vào ngày 01/05/2012. Hồi đó công an đến yêu cầu ông giải tán đám giỗ nhưng ông không chịu. Vì phản đối công an đưa nhân viên điện lực đến cắt điện đạo tràng ông bị kết án 4 năm tù vì tội “Chống người thi hành công vụ”. Vụ này được quốc tế chú ý nên sau đó chính quyền đã chuyển sang phương sách ngăn chặn tín đồ đến đạo tràng.
Là chủ đạo tràng ông Trung cảm thấy có trách nhiệm đối với khách mời nên đã ra can ngăn khi họ bị chính quyền sách nhiễu. Các đoạn video clip cho thấy ban đầu ông chạy từ chỗ này sang chỗ kia để tìm cách khuyên giải một cách ôn hòa. Bị lấn ra ngoài ông vẫn kiên nhẫn thuyết phục. Theo logic ông Trung không có lợi gì khi “kích động” trong tình thế đó. Nhưng vì cảm thấy bất lực trước sự lộng hành càng lúc càng gia tăng của CSGT và nhóm côn đồ, trước cảnh nhiều đồng đạo bị đánh, bị lấy xe, lấy giấy tờ ông Trung và bà Hên định xông ra đường cho xe cán chết. CT&KLĐT đã đảo lộn hậu quả và nguyên nhân khi cáo buộc: “Ngay sau đó, Bùi Văn Trung và các con kéo nhau ra quốc lộ 91C đưa tay ra ngăn chặn xe qua lại, manh động hơn là Trung, Hên, Thâm nằm ngữa xuống đường cản đầu xe ô tô và mô tô làm ách tắt giao thông, công an và lực lượng CSGT phải liên tục phân luồng cho xe qua lại. Người dân xung quanh thấy vậy đến khuyên ngăn và khiêng họ vào lề nhưng họ vẫn cố chấp la hét, vu cáo công an cướp xe của dân.” Các video tìm được trên youtube cho thấy nhiều con đồ đã kẻ lôi người kéo bà Hên khi bà định nhào ra đường tự tử.

Hình: Cảnh bà Lê Thị Hên (1) quá tuyệt vọng nên định nhào ra đường cho xe cán chết. Nhưng bà bị đám côn đồ giữ tay trái và tay phải, và lôi vào. Bà la lên là bà muốn chết để chứng minh đàn áp tôn giáo (19/04/2017).
Hình: Bà Lê Thị Hên (1) bị 2 côn đồ (A, B) cưỡng bức đi mà công an sắc phục (C, D) không can thiệp mà chỉ lo quay phim hay chụp ảnh (C). Chung quanh bà chỉ toàn côn đồ thược phe chính quyền. (19/04/2017)
Thấy đàn áp không giảm, thấy nhiều đồng đạo bị đánh ngất xỉu và chảy máu, nên sau đó ông Trung, bà Hên và một số tín đồ đã ra đường để phản đối. Theo CT&KLĐT: “nhóm của Trung quay trở lại mang theo 05 bảng giấy catton, có nội dung “Đả đảo cộng sản đàn áp tính đồ phật giáo hòa hảo” “Đả đảo cộng sản đàn áp tôn giáo, cướp xe-đánh dân”, “Đả đảo cộng sản đàn áp tôn giáo, cướp xe-đánh đồng đạo”, “Đả đảo cộng sản đàn áp tôn giáo, cướp xe- đồng đạo”, “Đả đảo cộng sản đàn áp tôn giáo, cướp xe của dân”…”. Phải công bằng nhìn nhận rằng nội dung những biểu ngữ này phản ánh đúng tình trạng đàn áp trong ngày 19/04/2017. Nói “cộng sản” là thủ phạm đàn áp cũng không sai. CT&KLĐT cho rằng ông “Bùi Văn Trung cầm micrô đi giữa nói những lời lẽ kích động, xúi giục các đối tượng hô to các khẩu hiệu trên nhiều lần.” Nếu hiểu tất cả những áp bức đối với gia đình ông trong bao năm trời người ta sẽ hiểu tại sao ông Trung cầm micrô tay nói: “Tôi là Bùi Văn Trung chỉ làm đám giỗ cúng cha mẹ mà bị nhốt 4 năm, chưa đủ tôi chấp nhận chết thân này để cho đảng cộng sản được an lòng, thỏa mãn, chả nghĩ gì về thân xác hết, muốn sao cho bà con, cô bác, anh chị em và đảng cộng sản hãy quay về với tự do tín ngưỡng tôn giáo và trở về nhân quyền, trở về sống với cộng hòa của Việt Nam, cộng hòa chớ không còn đảng cộng sản nữa, một thời gian gần đây cộng sản đã tiêu diệt rồi, quý vị đừng nên theo cộng sản nữa”. Gạt sang một bên lý do bức xúc, ông Trung có quyền tự do nói lên nhận xét và ý kiến của mình nơi công cộng mà không gây rối gì cả. Nếu công bình, chính quyền phải bắt hết tất cả những hàng ngày nói to, nói nhỏ, ở chỗ riêng tư lẫn nơi thị tứ về quan điểm của họ.

Hình trên: Khoảng 8 tín đồ PGHH (áo tràng nâu) ra đường phản đối đàn áp tôn giáo (19/04/2017). 

Hình dưới: Ông Bùi Văn Trung dùng một micro cầm tay giải thích tại sao các tín đồ phản đối (19/04/2017). 
Hình: Khoảng 8 tín đồ PGHH ra đường phản đối đàn áp tôn giáo(19/04/2017).
Hình: Đi được khoảng 30 mét và chỉ sau một phút) các tín đồ PGHH (áo tràng nâu) bị côn đồ (áo thun trắng), công an sắc phục và mật vụ (áo thun đỏ, tay trắng) chặn đường, giựt cướp và xé các tấm bảng(19/04/2017). 

Hình trên: Ông Bùi Văn Thâm bị đánh một lần nữa khi cầm bảng ra đường phản đối (19/04/2017). 

Hình dưới: Ông Cao Văn Hứng bị đánh ngất xỉu lần thứ 2 trong ngày 19/04/2017 và bị tiếp tục đạp vào người khi nằm xỉu dưới đất (19/04/2017). 
Hình trên: Bà Lê Thị Hồng Hạnh bị đánh vào mặt trong cuộc biểu tình (19/04/2017). 
Hình dưới: Ông Cao Văn Hứng bị đạp thâm tím bên sườn trong cuộc biểu tình (19/04/2017). 
Kết luận
Đạo tràng Út Trung nằm ở xã Phước Hưng gần biên giới Việt – Miên là một cái gai mà chính quyền cộng sản Việt Nam tìm cách nhổ đi. Làm sao tránh tiếng đàn áp tôn giáo trong cuộc đàn áp tôn giáo? Cáo buộc “Gây rối trật tự công cộng” là đòn được chính quyền ưa chuộng nhất hiện nay. Phải làm sao ném đá dấu tay, phải kích động tín đồ sa vào bẫy vi phạm hành chánh, phải cho thủ phạm mặc thường phục, phải ra tay ở những nơi cách xa cơ sở tôn giáo, phải kiên nhẫn tấn công rải rác trong nhiều tháng trời. Đó là lý do tại sao chính quyền cộng sản không trực tiếp ra lệnh cấm Đạo tràng Út Trung hay không xông vào giải tán buổi giỗ mẹ của ông Trung vào ngày 19/04/2017 mà chọn một kế hoạch tốn công tốn sức hơn nhiều. Chính quyền Việt Nam tưởng làm như thế sẽ không để lại những bằng chứng hiển nhiên về đàn áp tôn giáo và sẽ dễ trốn tránh trách nhiệm hơn.
Dư luận trong nước và quốc tế không nghi ngờ gì về ý định đàn áp tôn giáo của chính quyền Việt Nam nhưng cần bằng chứng và lý luận vững chắc để chứng minh trách nhiệm của chính quyền. Trong vụ đàn áp này, chính quyền phải chịu trách nhiệm trên cả 2 mặt: trực tiếp vi phạm nhân quyền và từ chối bảo vệ cho những nạn nhân. Nếu tin vào sự thật và quyền tự do tôn giáo hiến định thì các tín đồ PGHH sẽ trở thanh những nhân chứng cung cấp những thông tin và bằng chứng về âm mưu đàn áp tôn giáo. Các luật sư của 6 tín đồ bị truy tố về tội “gây rối trật tự công cộng” và “chống người thi hành công vụ” sẽ phải chứng minh ý đồ thực sự của vụ xử án này là đàn áp tôn giáo.
(hết)
Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Vụ đàn áp Đạo tràng Út Trung: Chìa khóa logic thứ ba và cách điều tra cẩu thả (Bài 3)

Vụ đàn áp Đạo tràng Út Trung: Chìa khóa logic thứ ba và cách điều tra cẩu thả (Bài 3)

c. Chìa khóa logic thứ ba: Các tín đồ không tin vào sự chính đáng của chính quyền 
Cáo trạng và Kết luận điều tra (CT&KLĐT) không có một chữ nào nhắc đến buổi lễ giỗ mặc dù buổi lễ giỗ chính là sự kiện khiến các tín đồ PGHH đến Đạo tràng Út Trung. Tại sao? Vì chính quyền vừa muốn đàn áp tôn giáo và vừa không muốn bị mang tiếng đàn áp tôn giáo. Tâm lý mâu thuẫn này khiến cho chính quyền không thể nhất quán trong chủ trương và hành động. Biện pháp dùng CSGT để kiểm tra hành chính và việc dùng côn đồ đã không thể che giấu được động cơ đàn áp tôn giáo.
Bài đã đăng:
Bài 1: Kế hoạch đàn áp tôn giáo qui mô ở diện rộng 
Bài 2: Các chìa khóa logic

Bản Kết luận Điều tra cho rằng CSGT đã làm đúng nhiệm vụ và có “lễ tiết, tác phong đúng điều lệnh, quy trình dừng, kiểm tra đúng quy định Luật giao thông đường bộ (các trường hợp dừng, kiểm tra đều có hành vi vi phạm Luật giao thông đường bộ và thuộc trường hợp phải giữ giấy tở và phương tiện liên quan)”. Thực tế có xảy ra đúng như vậy hay KLĐT bịa đặt ra?

CT&KLĐT không đề cập đến sự kiện tín đồ PGHH Lê Thị Diệu Hiền bị tịch thu giấy tờ xe mặc dù giấy tờ của bà hoàn toàn hợp lệ, khi bà từ đạo tràng ra về vào tối hôm trước giỗ. Bà Lê Thị Hồng Hạnh, em gái của bà Diệu Hiền, sau khi chứng kiến hành vi ngang ngược của CSGT đối với chị mình vào tối hôm 18/04/2017, đã ra cảnh báo cho từng đồng đạo vào hôm sau. Khi ra hiện trường vào ngày 19/04/2017 thì bà gặp lại chính viên CSGT Đại Hải Đăng (số hiệu 453 – 803) là người tịch thu giấy xe của chị bà. Bà hỏi hắn tại sao lại thu giữ giấy xe của chị bà thì hắn không trả lời được mà vẫn tiếp tục hành vi sách nhiễu các đồng đạo của bà. CSGT Đại Hải Đăng là người được tòa triệu tập đến phiên xử ngày 09/02/2018. Hắn sẽ phải trả lời câu hỏi hắn đã dựa vào đâu để cho rằng giấy thật của bà Diệu Hiền là giả và quyết định tịch thu. Công an huyện An Phú sẽ phải trả lời tại sao bà Diệu Hiền bị giữ giấy tờ 2 tháng trời dù giấy tờ là thật. Nếu không trả lời được, thì việc giữ giấy tờ là sai phạm luật và là hành vi đàn áp tôn giáo. Như đã trình bày ở phần trên hành vi vi phạm luật rõ ràng của CSGT Đăng vào ngày 18/04/2017 chính là cái mồi lửa cho thùng thuốc súng vào ngày hôm sau. Bà Hồng Hạnh có làm gì sai khi ra cảnh báo cho đồng đạo?
Hình: Bà Lê Thị Hồng Hạnh (áo bà ba xanh, bên trái) chất vấn Cảnh sát Giao thông Đại Hải Đăng (sắc phục) về việc thu giữ giấy xe hợp lệ của chị bà là bà Lê Thị Diệu Hiền vào hôm trước. Đứng sau CSGT Đăng là một tên giang hồ khét tiếng trong vùng (lè lưỡi) và tên mật vụ Tuần (áo đỏ viền trắng) là người chuyên theo dõi Đạo tràng Út Trung đứng yểm trợ. Ông Bùi Văn Trung (áo nâu, đứng giữa) chứng kiến và ông Bùi Văn Thâm giơ điện thoại ra quay lấy bằng chứng (cánh tay ở bìa phải). (19/04/2917)
Một video trên mạng còn ghi lại một cảnh tượng buồn cười trong vụ côn đồ chặn xe tín đồ vào ngày 19/04/2017. Một lúc sau thì CSGT Đăng xuất hiện và không có ý kiến gì về việc côn đồ dừng xe không đúng quy trình nhưng lại đòi tín đồ phải xuất trình giấy tờ xe ra cho CSGT kiểm soát. Khi có một tín đồ hỏi là CSGT Đăng đã chào dân chưa thì viên CSGT Đăng mới nhớ đến “lễ tiết, tác phong đúng điều lệnh” và yêu cầu mọi người khác phải tránh ra cho cảnh sát nghiêm chào dân trước khi làm việc!
Dựa trên các diễn biến của hôm trước và trong ngày 19/04/2017 các tín đồ PGHH tin chắc rằng nếu cho xem giấy tờ thì giấy tờ của họ sẽ bị CSGT thu giữ cho đến khi họ bỏ ý định đến đạo tràng. CT&KLĐT cố tạo ra tính chính đáng khi đưa “Kế hoạch bảo đảm trật tự an toàn giao thông số 55” làm cơ sở cho hành vi kiểm tra giấy tờ xe của CSGT. Nhưng văn bản này chỉ có tính trang trí vì trong ngày 19/04/2017, CSGT đã không thi hành nhiệm vụ một cách công bằng đối với MỌI xe cộ giao thông mà chỉ nhắm đến việc chặn xe của tín đồ PGHH. Các tín đồ PGHH biết rõ điều này nên đã yêu cầu CSGT cho xem công lệnh và hỏi tại sao không chặn những người giao thông khác thì CSGT không trả lời được. Vì thế các tín đồ càng tin rằng CSGT chỉ mượn cớ xét giấy tờ để đàn áp tôn giáo. Bà Mai Thị Dung kể rằng sau khi níu giữ xe của bà lại khoảng gần một tiếng, một người của nhóm chính quyền nói rằng nếu bà không vào đạo tràng mà quay về thì họ sẽ không xét giấy tờ của bà nữa. CT&KLĐT không nhắc đến rất nhiều phát biểu của các viên chức công an bộc lộ động cơ đàn áp tôn giáo trong khi họ tranh luận với các tín đồ PGHH. Ngoài ra CSGT và công an – cả người mặc sắc phục lẫn thường phục – có mặt tại hiện trường đã không có hành động nào để ngăn chặn sự vô pháp của những tên côn đồ, dù thấy sự việc xảy ra trước mắt hay được tín đồ báo lại. Tại sao côn đồ được chặn xe, níu xe, đánh người, bắt người? Nếu áp dụng luật một cách nhiêm minh và công bằng thì chắc chắn sự việc đã diễn biến theo hướng khác.
Công an huyện An Phú lý luận rằng họ đã không phân biệt đối xử vì bằng chứng là có nhiều tín đồ PGHH đã vào được đạo tràng. Lý luận này ngây ngô vì sự kiện có vài tín đồ vào được đạo tràng không phải vì họ được công an cho vào mà vì công an không thể chặn được họ: Nhiều tín đồ đã đến từ nhiều ngày trước, đi từ đêm khuya hay đi lọt qua những kẽ hở của vòng vây. Ngoài ra sự phản đối và giám sát của tín đồ cũng có phần nào hiệu quả. Sau phản ứng dữ đội của các tín đồ PGHH trong vụ chặn xe của ông Lê Văn Bảy, CSGT và nhóm côn đồ đã không còn dám lộng hành quá đáng nữa và phải để cho một số tín đồ có giấy tờ hợp lệ được vào.
4. Điều tra và kết luận cẩu thả 
Các điều tra viên chính của công an huyện An Phú trong vụ án này là Trung tá Nguyễn Văn Cường, Đại úy Nguyễn Văn Tuấn và Lê Thị Diễm. Họ có nhiệm vụ xào nấu vụ đàn áp tôn giáo với thủ phạm là công an thành một vụ án hình sự với thủ phạm là các tín đồ PGHH. Họ thống nhất mở đầu câu chuyện bằng việc CSGT kiểm tra giấy xe của nhóm ông Trần Thanh Nhiên (lái xe số 66P1- 234.45), ông Lưu Chí Hải (51U5- 5394) và bà Mai Thị Dung (67L1-450.53) vào lúc 6g30 ngày 19/04/2017. CT&KLĐT cho rằng 3 người này “sử dụng giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp; không giấy phép lái xe; không giấy chứng nhận đăng kí xe; không giấy chứng nhận bảo hiểm”. CT&KLĐT viết rằng “Anh Đăng (CSGT) đã yêu cầu người điều khiển phương tiện xuất trình giấy tờ có liên quan để kiểm tra nhưng họ vẫn ngồi trên xe và không xuất trình giấy tờ. Đồng thời, phản đối việc kiểm tra và cho rằng họ không vi phạm luật giao thông. Mặc dù, cán bộ CSGT đã giải thích rõ lí do dừng phương tiện và kiểm tra nhưng họ vẫn không đồng ý, cố tình trì hoãn”.
Câu chuyện nói trên chỉ xảy ra trong trí tưởng tượng của công an vì 3 nạn nhân này đi đến đạo tràng vào giờ khác nhau và bị chặn trong các hoàn cảnh khác nhau. Nói chung khi đi dự lễ giỗ tại Đạo tràng Út Trung, các tín đồ PGHH ở tỉnh An Giang và các tín đồ ở tỉnh Đồng Tháp đi riêng thành nhiều nhóm nhỏ nhưng luôn luôn gồm người cùng tỉnh. Điều này cũng dễ hiểu vì những tín đồ ở gần nhà nhau và thường rủ nhau đi chung. CT&KLĐT gộp chung họ lại để tạo cảm tưởng họ tập trung gây rối. Trên thực tế, nhóm ông Lưu Chí Hải và Lê Văn Bảy từ tỉnh Đồng Tháp đến hiện trường lúc 6g30 ngày 19/04/2017. Còn nhóm ông Trần Thanh Nhiên và bà Mai Thị Dung từ tỉnh An Giang sau đó mới đến hiện trường, vào khoảng 7g sáng cùng ngày.
a. Vụ Lưu Chí Hải bị vu cáo 
Ông Lưu Chí Hải (người Đồng Tháp) đi xe riêng chứ không lái chiếc xe mang số 51U5- 5394, như được ghi trong CT&KLĐT, vì xe mang bảng số 51U5- 5394 là xe của ông Bảy. Ông Hải bị những côn đồ chặn xe cho CSGT đến xét. Ông Hải đã đưa giấy tờ cho CSGT xem và CSGT cho ông đi tiếp. Nhưng sau đó ông chỉ còn có thể dắt xe vì chìa khóa xe đã bị một tên nào đó cướp mất. Tóm lại ông Hải không thuộc thành phần “không có giấy tờ” hay “không xuất trình giấy tờ” như CT&KLĐT đã ghi. Ông Hải có giấy tờ hợp lệ và đã trình giấy tờ. Vậy tại sao CSGT không can thiệp khi ông Hải khiếu nại là ông bị côn đồ cướp chìa khóa xe? Tại sao CT&KLĐT không nêu việc cướp chìa khóa xe là nguyên nhân làm tín đồ PGHH bức xúc?
Hình: Ông Lưu Chí Hải (áo vàng, mũ đen bên trái) bị côn đồ chặn xe, cướp chìa khóa xe, khống chế chờ Cảnh sát Giao thông đến khám giấy tờ. Dù đã trình giấy tờ hợp lệ và được cho đi tiếp công an vẫn ghi vào bản kết luận điều tra là ông Hải không trình giấy tờ, không có giấy tờ không hợp lệ. (19/04/2917)
b. Vụ ông Lê Văn Bảy ở Đồng Tháp bị cướp xe chưa trả
CT&KLĐT hoàn toàn không nhắc đến ông Lê Văn Bảy mặc dù ông là một nạn nhân chính vì ông bị CSGT lấy một chiếc xe gắn máy mà đến nay vẫn chưa trả. Khi nhóm ông Lưu Chí Hải và Lê Văn Bảy từ Đồng Tháp đến nơi thì họ bị nhóm côn đồ ra chặn xe lúc 6g30 ngày 19/04/2017. Ông Bảy là chủ và người lái chiếc xe mang biển số 51U5- 5394 (chú: chứ không phải là Lưu Chí Hải như CT&KLĐT ghi). Việc CT&KLĐT cho rằng có 18 người từ Đạo tràng Út Trung (chú: con số này sai vì lúc đó có ít nhất 6 người chưa có mặt tại hiện trường) “kéo đến đồng loạt ngăn cản; người thì xô đẩy các anh CSGT đang làm nhiệm vụ, người thì la, chửi công an ăn cướp xe của dân và hô ‘Đả đảo cộng sản đàn áp tôn giáo’…”. Sự thực là các tín đồ ở Đạo tràng Út Trung không “đồng loạt” chạy ra mà đi lẻ từng người hay thành nhóm nhỏ đến chỗ các khách mời bị làm khó dễ. Lúc đầu các tín đồ PGHH còn bình tĩnh yêu cầu CSGT phải xuất trình giấy tờ công vụ hay chuyên đề khi thấy chỉ có tín đồ PGHH bị chặn xét. Lúc đó bà Lê Thị Hồng Hạnh cũng chạy ra cảnh báo cho mọi người biết trường hợp của chị bà là bà Diệu Hiền bị CSGT Đăng tịch thu giấy tờ xe vào hôm trước. Sau một lúc đối chất, ông Bảy và các tín đồ PGHH đòi CSGT phải hứa trả lại giấy tờ cho chủ xe nếu thấy giấy tờ của họ là hợp lệ. Nhưng lúc đó CSGT không chịu hứa mặc dù CSGT đã đồng ý cách làm việc như vậy ở các trường hợp khác. Vì thế ông Bảy không đưa giấy tờ xe ra. CSGT Đăng bèn ra lệnh cho những côn đồ dắt đẩy xe ông Bảy lên xe chuyên dụng nhưng không lập biên bản giữ xe. Khi ông Bùi Văn Thâm đến phản đối hành vi ngang ngược này và tìm cách níu xe ông Bảy lại thì bị hai viên công an mặc thường phục tên Tuấn và Bình (chú: là 2 người thường xuyên canh giữ Đạo tràng Út Trung) và hai người khác xông vào đánh một cách dã man: tên thì lên gối vào ngực, công an Tuấn dùng tay đấm thẳng vào mặt làm ông Thâm bị sứt môi chảy máu, tên thì vật ông Thâm xuống đất. Gia đình ông Trung hoảng sợ, kêu la cứu người. Một video clip cho thấy nhiều công an mặc sắc phục đứng tại đó đã dùng máy điện thoại để ghi hình thay vì xông vào can ngăn và bắt các thủ phạm đang đánh ông Thâm. Lúc đó một số đồng đạo của ông Thâm bức xúc hô lớn “Đả đảo cộng sản đàn áp tôn giáo, cướp xe, đánh đồng đạo”. Một đoạn video khác cho thấy các hung thủ định xông vào đánh tiếp các người con khác của ông Trung. Chi tiết mà CT&KLĐT dùng để cáo buộc ông Thâm “dùng tay đánh anh Hiền (lực lượng CSGT) nhằm mục đích không cho anh Hiền dẫn xe 51U5- 5394 lên xe chuyên dụng” là BỊA ĐẶT. Ông Thâm không khờ dại đánh người mặc sắc phục mà chính ông mới là người bị đánh. Thế mà ông bị bắt tạm giam và truy tố vì hành vi “Chống người thi hành công vụ”. Cái logic đảo lộn này đã từng xảy ra trong vụ bắt giam anh rể của ông Thâm là Nguyễn Văn Minh hồi tháng 2 năm 2014 ở Lấp Vò.
Tại sao CT&KLĐT bỗng nhiên gán cho ông Lưu Chí Hải là chủ chiếc xe 51U5- 5394 trong khi xe đó lại là xe của ông Bảy? Lý do rất đơn giản là CSGT không còn biết chiếc xe bị giữ xe mang số 51U5- 5394 là của ai nữa vì đã không lập biên bản khi tịch thu chiếc xe gắn máy tại hiện trường. Hành vi này có theo đúng quy định của Luật giao thông đường bộ hay là hành vi cướp xe giữa ban ngày? Nếu công an cho rằng chính quyền luôn hành xử đúng vậy thì hành vi cướp xe như vậy có chính đáng và có tạo bức xúc không?
Việc ông Bảy chưa dứt ở đó. Vào sáng ngày 03/05/2017 ông Võ Thanh Tâm chở ông Lê Văn Bảy từ tỉnh Đồng Tháp đem giấy tờ xe đến công an huyện An Phú để lấy lại chiếc xe gắn máy mang số 51U5- 5394 của ông Bảy. Ban đầu viên công an trực nói rằng ông Bảy không có biên bản thu giữ nên không giải quyết. Sau khi ông Bảy nói rằng CSGT không lập biên bản thì ông không làm sao có được biên bản thì viên công an này xoay qua sách nhiễu bắt ông Bảy phải đi lấy giấy xác nhận của chính quyền địa phương. Vì biết đây là chiêu thức thông dụng để thông báo cho chính quyền địa phương biết để quản lý tín đồ nên ông Tâm nói: “Nếu công an không giải quyết thì chúng tôi bỏ luôn chiếc xe gắn máy”. Sau đó ông Tâm chở ông Bảy về nhà. Lúc ra khỏi trụ sở công an hai ông bị một nhóm 6 người mặc thường phục do Huỳnh Văn Nhã, Phó trưởng Công an xã Phước Hưng (huyện An Phú), cầm đầu bám theo trên 3 chiếc xe gắn máy. Đến một chỗ vắng trên Tỉnh lộ 956, 6 tên này chặn xe của ông Tâm lại và xông vào đánh ông Tâm cho đến khi dân chúng bu lại thì chúng mới bỏ đi. Đến nay, công an huyện An Phú vẫn không trả xe gắn máy cho ông Lê Văn Bảy.
Tóm lại hành vi cướp xe của ông Bảy đã tạo ra cảnh hỗn loạn tại hiện trường. Nhưng đó là do côn đồ gây ra và do hành vi bất chính của CSGT. Ông Bùi Văn Thâm bị công an đánh hay ông đánh CSGT? Bà Lê Thị Hồng Hạnh là nạn nhân hay thủ phạm? Tại sao công an huyện An Phú nhất định không trả xe cho ông Lê Văn Bảy? Tại sao phó công an xã Huỳnh Văn Nhã được phép tổ chức đánh hội đồng ông Bảy?
Hình: Khi đến bênh vực cho ông Lê Văn Bảy (không có trong hình) ông Bùi Văn Thâm (mũi tên đỏ) bị mật vụ mũ vàng (mũi tên xanh) và 3 mât vụ khác vây đánh dã man trước sự chứng kiến của công an sắc phục (A, B) và cảnh sát giao thông (C). Ông Tô Văn Mảnh (1) đứng gần đó. Hình này cho thấy ai là kẻ gây sự, đánh người và số đông áp đảo của nhóm côn đồ vây quanh các tín đồ PGHH và đứng tràn ra đường. (19/04/2017)

Hình trên: Hai tên mât vụ (A, B) tham gia vây đánh dã man ông Bùi Văn Thâm. (19/04/2017) 
Hình dưới: Ông Bùi Văn Trung (1) ngăn cản 3 tên mật vụ (A, B, C)định đánh tiếp đánh con gái ông là Bùi Thị Thắm (2) đứng ra chất vấn họ về việc đánh anh cô là Bùi Văn Thâm. (19/04/2017)
c. Vụ ông Tô Văn Mãnh và Trần Thanh Nhiên ở An Giang bị côn đồ chặn xe
Khi đoàn An Giang đến hiện trường vào lúc 7g sáng ngày 19/04/2017 thì đã thấy nhóm chính quyền mặc thường phục đứng tràn ra con lộ dẫn vào đạo tràng. Lúc đó xe của ông Tô Văn Mãnh đi trước và bị chặn khi vừa quẹo phải từ Quốc lộ 91C vào con lộ dẫn đến đạo tràng. CT&KLĐT không nhắc đến ông Tô Văn Mãnh, có lẽ cố ý không nhắc đến sự kiện xe của ông Mãnh bị một nhóm côn đồ chặn lại để chờ cho CSGT đến xét giấy tờ xe của ông mặc dù sự kiện này có trên youtube và được nộp vào làm chứng cứ. Hôm đó tên thì níu xe ông Mãnh, tên thì đứng cản trước đầu xe, còn một người đàn bà trẻ của Hội Phụ nữ thì nắm giữ tay lái không cho ông đi tiếp. Khi thấy CSGT đến các tín đồ PGHH đã yêu cầu CSGT xử lý hành vi chặn xe bất hợp pháp của nhóm côn đồ nhưng CSGT đã làm ngơ. Sau một hồi tranh luận ông Mãnh đồng ý cho CSGT xem giấy tờ với điều kiện là CSGT phải trả lại mỗi tờ giấy cho ông rồi ông mới đưa tờ kế tiếp ra. CSGT đồng ý điều kiện của ông Mãnh. Đến tờ giấy cuối cùng, CSGT trở mặt không trả lại cho ông Mãnh khiến ông phải giựt lại tờ giấy này. Khi ông Mãnh tiếp tục đi thì nhóm mặc thường phục lại ra níu xe của ông lại. Sau khi được CSGT ra hiệu thì họ mới buông xe ông Mãnh ra. Tóm lại, vụ việc này cho thấy rõ sự cấu kết chặt chẽ giữa CSGT và nhóm côn đồ trong hành vi bất chính. Tại sao CT&KLĐT không nhắc đến trường hợp ông Mãnh? Lý do là nếu gọi ông Mãnh ra làm chứng thì ông Mãnh sẽ có đủ hình ảnh chứng minh xe ông bị đám côn đồ chặn giữ trước khi CSGT xuất hiện.
Hình: Ông Tô Văn Mảnh (1) và ông Trần Thanh Nhiên (2) bị côn đồ (A, B, C, D, E, F, G) ngang nhiên chặn xe. Côn đồ A (áo sọc xanh) nắm tay lái của ông Mảnh. Mật vụ (B và E) giám sát tình hình. Bà Lê Thị Hên (4) bị đẩy khỏi vòng vây. Không có bóng dáng của CSGT trong việc chặn xe phi pháp này (6g30, 19/04/2917)
Ông Trần Thanh Nhiên chạy chiếc xe thứ hai trong đoàn An Giang và bị một nhóm côn đồ khác bao vây chờ CSGT đến. Khi ông Nhiên đưa giấy tờ xe ra thì CSGT cho là giấy giả và thu giữ luôn. Đến nay, ông Trần Thanh Nhiên không đi lấy lại giấy tờ xe vì biết sẽ bị công an tiếp tục sách nhiễu. Một video clip cho thấy CSGT Đăng đắc chí giải thích tại sao giấy của ông Nhiên là giả. Vấn đề ở đây là tại sao CSGT lại để cho nhóm thường phục được phép chặn xe ông Nhiên? Nếu không bị chặn thì ông Nhiên đã đi lọt và không bị chặn xét. Giả thử CSGT có làm đúng nhưng hành động của CSGT nói chung vẫn sai vì đã dựa vào một hành vi sai trái mà không bị trừng phạt trước đó của nhóm côn đồ. Tóm lại, trường hợp ông Mãnh và ông Nhiên cho thấy các tín đồ PGHH không phải không cho xem giấy tờ như CT&KLĐT đã ghi. Họ đồng ý cho CSGT xem nếu như CSGT chịu làm việc đàng hoàng. Thực tế CSGT chỉ lợi dụng sự ngay tình của tín đồ PGHH để có cơ hội thu giữ giấy tờ.
d. Vụ bà Mai Thị Dung ở An Giang bị tịch thu xe
Bà Mai Thị Dung là một người từng bị giam cầm gần 10 năm tù vì hoạt động tranh đấu cho quyền tự do tôn giáo và vừa được thả vào tháng 04/2015. Bà Dung là người đi sau cùng trong đoàn An Giang đến Đạo tràng Út Trung vào ngày 19/04/2017. Trường hợp của bà Dung cho thấy rõ ai là kẻ gây rối. Khi xe của bà vừa quẹo phải từ Quốc lộ 91C vào con lộ dẫn đến đạo tràng thì bà thấy xe của những người đi trước bị chặn nên bà liền tấp xe vào bên lề đường phải của con lộ và dừng lại để quan sát tình trạng của ông Mãnh và ông Nhiên. Một nhóm côn đồ thấy vậy nên chạy đến bao vây xe của bà và đòi bà phải xuất trình giấy tờ. Vì bà không chấp nhận hành vi vô pháp này nên bọn chúng xúm nhau lôi xe bà từ con lộ sang bên phía lề đường bên trái của Quốc lộ 91C và cầm giữ bà tại đó để chờ CSGT đến. Bọn côn đồ này mới chính là kẻ mở rộng hiện trường lan ra Quốc Lộ 91C trong khi những nhóm côn đồ khác còn đứng trong con lộ ngang. Bọn côn đồ này mới gây rối trật tự và cản trở giao thông khi lôi xe bà Dung băng ngang qua đường và đứng lan xuống lòng đường khi vây quanh bà Dung. Thấy bà Dung bị xâm phạm, gia đình ông Trung chạy đến để bảo vệ cho bà. Bà Dung không chịu xuất trình giấy tờ xe khi CSGT đến kiểm tra vì cho rằng xe của bà đang dừng tại chỗ chứ không lưu thông trên đường cho nên bà không vi phạm luật giao thông. Bà Dung có nhiều kinh nghiệm đối phó với CSGT vì trong các ngày lễ đạo PGHH trước đây bà thường xuyên bị CSGT chặn đường và bị buộc quay về dù giấy tờ của bà hợp lệ. Trong một đoạn video clip, bà nói, nếu CSGT mà kiểm tra bà thì là đàn áp tôn giáo. Bà cũng cho CSGT biết giấy tờ của bà lúc đó để trong cốp xe mà chìa khóa đã bị một tên côn đồ nào đó cướp mất trong lúc kéo xe. Một lúc sau đó tự nhiên có một người đem trả chìa khóa cho bà nhưng lúc đó bà Dung không chịu xuống xe nữa vì thấy rõ ràng CSGT cấu kết với côn đồ và có thể lấy mất xe như trường hợp ông Bảy. Đến khoảng 8 giờ, một nhóm côn đồ đến xô bà Dung xuống xe để khiêng xe gắn máy của bà lên một chiếc xe tải. Đến ngày 26/04/20 17 bà Mai Thị Dung đến công an huyện An Phú để lấy lại chiếc xe gắn máy thì bị bắt đóng phạt 300.000 VND vì tội không mang theo giấy xe. Tóm lại, trường hợp bà Mai Thị Dung cho thấy sự ngang ngược lộng quyền (kéo xe, cướp chìa khóa, cướp xe) của nhóm chính quyền trước sự chứng kiền của CSGT và công an.
Hình trên: Một đám côn đồ lôi xe của bà Mai Thi Dung từ con lộ dẫn vào đạo tràng và sang phia bên kia đường của Quốc lộ 91C và như thế cố tình mở rộng hiện trường gây rối trật tự công cộng. Bức hình này cho thấy bọn chúng chứ không phải tín đồ PGHH đứng lấn xuống lòng đường. Người nào không là tín đồ PGHH vẫn được lưu thông trên Quốc Lộ 91C. (19/04/2017)

Hình dưới: Bà Mai Thị Dung (1) nói rằng bà không thể lấy giấy tờ để trong cốp xe vì bị côn đồ cướp chìa khóa xe. Ông Bùi Văn Trung (2) chứng kiến. Bao vây xung quanh là côn đồ và mật vụ. Mật vụ A là tên hành hung ông Bùi Văn Thâm vào lúc trước đó. (19/04/2017)
(Xem tiếp Bài 4: Kết luận Ai là nạn nhân, ai là thủ phạm?)
Categories: Lịch Sử PG Hòa Hảo | Leave a comment

Blog at WordPress.com.