Nhan dinh

Lê Duẩn mừng Trung cộng có bom nguyên tử

Lê Duẩn mừng Trung cộng có bom nguyên tử

Trần Trung Đạo

12-9-2020

Nhân việc tôi đang sưu tập để làm một thư mục tài liệu về nguyên tử của Trung Cộng, xin giới thiệu điện văn ngày 20 tháng 10, 1964 của Tòa Đại Sứ Trung Cộng tại Hà Nội gởi về Bộ Ngoại Giao Trung Cộng sau buổi gặp gỡ giữa Lê Duẩn và các chuyên gia Trung Cộng tại Hải Phòng.

 

Điện văn cho thấy hai điểm: (1) Lê Duẩn ủng hộ chính sách chống “xét lại” của Mao chứ không phải chống lại quan điểm của Mao hay trung lập như một số người nghĩ và (2) xem thành công trong việc chế tạo thành công bom nguyên tử của Trung Cộng là thành công của đảng CSVN (ngày đó còn gọi dưới tên đảng Lao Động).

Giống như quan điểm về Hoàng Sa Trường Sa, trong đầu của giới cai trị CSVN không bao giờ nghĩ có ngày những trái bom đó có thể được ném xuống Việt Nam.

Điện thư bằng tiếng Hoa do Trung Tâm Wilson dịch ra tiếng Anh:

“Lê Duẩn, Bí Thư Thứ Nhất Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Thủ Tướng Phạm Hùng và Thứ Trưởng Bộ Ngoại Thương Lý Bân đã gặp gỡ đại diện doanh nghiệp vận tải biển của Bộ Giao Thông Vận Tải tại Hải Phòng và tất cả các chuyên gia của chúng ta tại Hải Phòng và chúc mừng chúng ta vì vụ thử nguyên tử thành công. Sau cuộc họp, họ chiêu đãi một bữa tối thân mật tuy không chính thức.

Trong cuộc gặp, Lê Duẩn nói rằng việc Trung Quốc thử thành công bom nguyên tử là sự khích lệ to lớn đối với cuộc đấu tranh của Việt Nam, và chiến thắng của chúng ta là thắng lợi của họ. Điều thứ hai đáng vui mừng là Khrushchev mất quyền lực. Công trạng này thuộc về Trung Quốc và thực tế là đảng CS Trung Quốc. Sự sụp đổ của Khrushchev chỉ là bước đầu tiên trong cuộc chiến chống chủ nghĩa xét lại của chúng ta. Lê Duẩn nói rằng ông đã tranh luận với Khrushchev về vấn đề hạt nhân khi họ gặp nhau ở Moscow, trong đó họ đã tranh luận về lý do tại sao Trung Quốc không thể có vũ khí nguyên tử. Bây giờ Trung Quốc cuối cùng cũng có bom nguyên tử của riêng mình, đây là chiến thắng của Trung Quốc và điều đó cũng đã mang lại niềm vui cho Việt Nam.

Lê Duẩn cũng bày tỏ sự quan tâm đối với các chuyên gia của chúng tôi và chúc họ mạnh khỏe”.

Ảnh: internet
Bình Luận từ Facebook
Categories: Nhan dinh | Leave a comment

Thư của ông Chu Đình Xương gởi BCH Trung ương đảng CSVN tháng 2/1983

Thư của ông Chu Đình Xương gởi BCH Trung ương đảng CSVN tháng 2/1983

12-9-2020

Lời giới thiệu: GS Ngô Vĩnh Long vừa công bố thư của ông Chu Đình Xương, bố của GS Chu Hảo, gởi Ban Chấp hành Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam hồi tháng 2/1983, trong đó, ông Xương gọi Mao Trạch Đông là “thằng Mao”, hay “con quỷ sứ Mao Trạch Đông”. Bức thư dài 12 trang, mà GS Ngô Vĩnh Long công bố là các file ảnh, đã được một thân hữu của Tiếng Dân chuyển sang bản Word.

GS Ngô Vĩnh Long cho biết: “Tôi đã giữ tài liệu nầy rất lâu và không công bố vì tôi sợ gia đình ông bị khó khăn, tuy tài liệu nầy không phải do GS Chu Hảo đưa cho tôi. Nhưng nay tôi nghĩ đã gần 40 năm từ khi ông Chu Đình Xương gởi thư nầy và đã có ‘biết bao nhiêu nước chảy dưới cầu’, như cách người Mỹ nói, nên tôi nghĩ công bố thư nầy chắc sẽ không gây thêm phiền hà. Ngược lại, tôi nghĩ những gì ông Chu Đình Xương nói về Trung Quốc và Mao Trạch Đông trong thư nầy còn những giá trị cho người đọc hiện nay“.

GS Ngô Vĩnh Long dẫn bài báo Công an Nhân dân, viết về ông Chu Đình Xương là “Người bảo vệ Bác Hồ trong Tết Độc lập đầu tiên” và cho biết thêm, “từ tháng 8 năm 1945 ông Chu Đình Xương được cử làm Giám đốc Sở Liêm Phóng Bắc Bộ và sau đó là Giám đốc Sở Công An Bắc Bộ. Từ tháng 3 năm 1950 đến tháng 7 năm 1954 ông là Trưởng phòng 4 Bộ Nội Vụ, tức là Bộ Công An hiện nay. Tôi cũng xin tải lên đây một tấm ảnh với ông Chu Đình Xương đứng ngay phía sau ông Hồ Chí Minh“.

Ảnh: Ông Chu Đình Xương là người đứng bắt chéo chân, tay vịn ghế người ngồi là ông Hồ Chí Minh. Đứng cạnh ông là Võ Nguyên Giáp (đội nón), bên kia là Phạm Văn Đồng. Nguồn: Ngô Vĩnh Long

***

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Kính gởi: BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM,

Kính thưa các đồng chí,

Tôi là CHU ĐÌNH XƯƠNG, 70 tuổi, đảng viên kỳ cựu của Đảng ta, về mặt công chức Nhà nước thì đã hưu trí, nhưng về mặt trách nhiệm đảng viên thì không thể hưu trí được, nhất là trước tình trạng khó khăn và bê bối của đất nước hiện nay.

Mới đây, tôi được đọc bài phát biểu ý kiến của đ/c PHẠM HÙNG trước hội nghị tư pháp toàn quốc đăng trên báo Saigon Giải Phóng ngày 15/01/1983, một câu trong đó đã làm tôi quá đau xót, đau xót bến mức mất ăn mất ngủ: “Như các Nghị quyết số 128 và 188 của Hội đồng Bộ trưởng đã nêu lên, tệ tham ô lãng phí trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa còn nghiêm trọng ở hầu hết các ngành, các cấp”.

Trời đất ơi? Nhà nước của chúng ta lại bất lực đến thế kia ư?

Một Ủy viên Bộ Chính trị, Phó chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng trực tiếp làm công tác chuyên chính đàn áp mà phải công bố công khai điều đó trên mặt báo chí, là đúng hay là sai, đã làm tôi rất băn khoăn.

Nhưng điều làm tôi khắc khoải hơn cả là nguyên nhân của tình hình nghiệm trọng trên là đâu? Gần một tháng nay tôi lo âu suy nghĩ, sưu tầm và chủ quan thấy rằng mình đã tìm ra nguyên nhân chính xác:

Thủ phạm chính là MAO TRẠCH ĐÔNG và chủ nghĩa MAO.

Tôi xin phép được trình bày ý kiến của mình lên Trung Ương xem xét.

Kinh thân,

Ký tên

CHU ĐÌNH XƯƠNG

31 Nguyễn Đình Chiểu Hà Nội

(tháng 2 năm 1983)

***

BÀN TAY NHAM HIỂM VÀ TÀN BẠO CỦA MAO TRẠCH ĐÔNG ĐÃ THÒ SANG VIỆT NAM CHÚNG TA NHƯ THẾ NÀO?

I. BẢN CHẤT MAO TRẠCH ĐÔNG.

1. Về bản chất của Mao Trạch Đông thì thế giới đã bàn nhiều, rất nhiều rồi và cũng đi đến nhất trí tóm tắt như sau:

a) Mục đích, ý đồ, tham vọng của Mao là: làm bá chủ trước hết ở Trung Quốc, rồi đến Đông Nam Á, rồi ra cả thế giới, ngày nay Đặng Tiểu Bình vẫn đang tiếp tục thực hiện mục đích ấy. Trung quốc tuy rất nghèo, nợ nần quốc tế khá lớn, nhưng vẫn bỏ tiền bỏ của ra nhiều khu vực trên thế giới để phá hoại phong trào cách mạng.

b) Phương tiện, thủ đoạn của y là:

Xảo quyệt, đâm bị thóc chọc bị gạo, gây mâu thuẫn thường xuyên. “Toạ sơn quan hổ đấu, về quan hệ quốc tế Mao không thật thà tử tế với một nước nào. Về quan hệ cá nhân, Mao không tử tế, thật thà với một ai, thực sự y không có đồng chí, không có bạn.

2. Một vài sự kiện sau đây cũng đã chứng minh:

a) Năm 1930, tập thể tỉnh ủy Thiểm Tây đã ra một văn bản lên án Mao, theo đó y chỉ đáng khai trừ khỏi Đảng và xử tử, ấy thế mà hầu những năm 1945 y đã nghiễm nhiên là lãnh tụ số 1 của Đảng,

b) Y đã bí mật thủ tiêu chính con trai của y là Mao Ngạc Anh.

c) Cuối năm 1949 sau khi Cách mạng Trung quốc thành công, khi cử một số đông cán bộ sang giúp bổ Việt Nam (Đoàn cố vấn) y đã căn dặn bọn này:

“Trước đây giai cấp phong kiến Trung quốc, tổ tiên của chúng ta khi xâm lược Việt Nam, đã vơ vét biết bao của cải châu báu của nhân dân Việt Nam anh em, thâm chí bắt đúc cả người bằng vàng để cống nạp, ngày nay, các đồng chí sang Việt Nam cụ thể là để trả những món nợ ấy”.

Ôi! quân tử biết bao! Cao cả biết bao! Ấy thế mà trong những năm 1960 – 1965 đội quân công binh Trung quốc sang Việt Nam xây dựng giúp một số con đường hữu nghị, và đã có số hy sinh trên đất Việt Nam, rải rác đây đó, có một số nghĩa trang, ngay sau khi Trung quốc đã xâm lược ta, nhân dân Việt Nam vẫn trân trọng linh hồn của những người “bạn” đã “hy sinh” xương máu cho Việt Nam, vẫn thường xuyên hương khói, tảo mộ.

Đến năm 1979, vì cần thiết phải dời các nghĩa trang này ở Hoàng Liên Sơn để xây dựng công trình thì: thật “khủng khiếp” , khi đào các ngôi mộ lên, hoàn toàn không có một nắm xương nào, mà toàn là vũ khí, bảo quản rất chu đáo. Chỉ riêng dọc quốc lộ 11 đã có đến 20 nghĩa trang kiểu không xương toàn súng này.

d) Mao không hề bước chân ra khỏi đất Trung quốc, mà trong những năm 1960, y đã chia đôi được một số đảng cộng sản trên thế giới, gây cho chính những người cộng sản thù địch lẫn nhau.

3. Căm thù sâu sắc Mao và chủ nghĩa Mao, những người cộng sản Việt Nam đã phát hiện thêm ở Mao một vài điểm không kém phần cơ bản:

a) Mao ba vận dụng các “Mâu thuẫn luận” của y theo kiểu nào đó, y đã tự đặt cho y có hai loại kẻ thù:

i. Kẻ thù bên ngoài bao gồm: địa chủ phong kiến, tư sản, quốc dân đảng, Tưởng giới Thạch, Đế quốc Mỹ, phát xít Nhật và … Liên Xô.

ii. Kẻ thù bên trong là đồng chí của y, cũng chia làm 2 loại : một là những người kiên định lập trường quốc tế vô sản hoàn toàn coi Liên Xô là trụ cột, là chỗ dựa vững chắc của cách mạng thế giới nhất là của Trung quốc, hai là những người tuy cùng chí hướng bành trướng, bá quyền đại hán với y, nhưng lại có điểm bất đồng với y, chống đối y.

b) Điểm này khi đặc biệt: Suốt đời y, y không lo đánh kẻ thù bên ngoài, mà gạt cho người khác đánh, ví dụ: Trong những năm 1940-45, y đã án binh bất động, không đánh quốc dân đảng, không đánh Nhật để cho 2 kẻ thù đánh nhau, đồng thời gạt cho Liên Xô đánh Nhật, với ý thức rõ ràng là Liên Xô cũng là thù. Còn suốt đời y, y chỉ lo diệt đồng chí của y, cả hai loại đồng chí trên, diệt cho đến người bạn chiến đấu thân thiết nhất của y [người], thì y cũng chết theo sau đó. Nếu tính từ Vũ Phù Tiên, Vu Tuấn Nghĩa đến Vạn Lý Trường Chinh, đến Chỉnh Phong Diên An, đến Tam phản, Ngũ phản, đến Cách mạng Văn hóa v.v… thì bàn tay Mao Trạch Đông đã giết hàng chục triệu đồng chí của mình. Cái chết của Lưu Thiếu Kỳ mới tàn bạo làm sao, mới thê thảm làm sao! Phải nhắc lại ở đây y đã giết chính cả con trai của y Mao Ngạc Anh. Cái nham hiểm, cái xảo quyệt của y là: nói chung y đã dùng tay đồng chí nọ giết đồng chí kia, Y đã đi từ một tên tội phạm lên đến Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước bằng con đường nà Y đã dùng xác đồng chí của mình lót đường để leo lên đài bá chủ.

II. MAO TRẠCH ĐÔNG ĐÃ LÀM GÌ ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM.

(1) Mục đích và ý đồ của Mao như y thường nói ra miệng, cũng như học sinh phổ thông Trung Quốc vẫn học địa lý là Việt Nam là đất của Trung quốc, vậy Mao phải trở nên Bá chủ Việt Nam để từ đó tiến lên làm bá chủ Đông Nam Á, Muốn thôn tính Việt Nam thì kẻ thù của y là ai? Ai là người cản trở không cho y làm nổi việc này? Và y đã thấy đó là toàn bộ đảng viên của Đảng Cộng sản Đông Dương, vì Đảng này đã kiên định trên lập trường quốc tế vô sản, coi Liên Xô là người dẫn đường, là chỗ dựa vững chắc của cách mạng Việt Nam, như “Đường cách mệnh” của đồng chí Nguyễn Ái Quốc cũng như Luận Cương chính trị của đ/c Trần Phủ đã nêu.

(2) Muốn thôn tính Việt Nam, muốn là bá chủ cả Việt Nam, Mao Trạch Đông nhận thấy trước hết là phải tiêu diệt Đảng Cộng Sản Đông Dương, Để đạt mục tiêu này, y sẽ có cả một kế hoạch gồm 4 bước, rất xảo quyệt, rất tinh vi, rất độc ác, như sau:

BƯỚC MỘT: Làm cho những người Cộng sản Việt Nam chấp nhận một cách tự giác tư tưởng Mao Trạch Đông là kim chỉ nam của mọi hoạt động của Đảng (Điều lệ Đảng của Đại hội II năm 1951).

Không thể ngẫu nhiên mà những người cộng sản Việt Nam chấp nhận điểm này một cách êm thấm, không một lời phản ứng. Muốn đạt điểm này, y đã phải gia công chuẩn bị trong hơn 4 năm, y đã cử cán bộ đắc lực của y luồn vào Đảng ta để truyền bá tư tưởng Mao Trạch Đông. Một khối tài liệu đồ sộ Chỉnh phong đích văn kiện đã thâm nhập vào Việt Nam tháng 12-1946, rồi từ 1947, 1948 trở đi toàn Đảng ta học tập chỉnh phong, ở Việt Bắc, Lý Ban là người giảng những bài đầu tiên, khẩu hiệu “chính trị là thống soái, tư tưởng đi hàng đầu”, trí thức không bằng cục phân đã thấm sâu vào từng đảng viên trung cao cấp. Toàn Đảng đã coi Mao Trạch Đông như thần thánh. Trong dân gian đã phố biến danh xưng “BÁC MAO” với ý thức là Bác MAO còn vĩ đại hơn Bác HỒ. Từng người cộng sản Việt Nam không được phép quên rằng trong Đại hội II năm 1951, có Hoàng Văn Hoan, có Lý Ban (và vân vân…?) có La Quý Ba ngồi chủ tịch Đoàn, có Đoàn cố vấn Trung Quốc nằm bên cạnh.

Đạt được bước một này là Mao Trạch Đông đã giành được thắng lợi cơ bản trong âm mưu thôn tính Việt Nam. Qua được bước một này, gần như Mao muốn làm gì cũng được.

BƯỚC HAI: Là bước chỉnh huấn, chỉnh đảng bắt đầu từ 1952 trở đi, kéo dài cho đến đầu những năm 60. Nhưng quan trọng hơn cả, cơ bản hơn cả là mấy khóa chỉnh đảng Trung ương 1, 2, 3 , v.v,.. mà học viên là toàn là đảng viên trung cao cấp, tiến hành trong 2 năm 1952-1953.

Yêu cầu của chỉnh huấn, chỉnh đảng là khẳng định lập trường quan điểm cách mạng của đảng viên để quyết chiến thắng quân thù. Muốn diệt được kẻ thù bên ngoài thì trước hết phải diệt được kẻ thù ẩn nấp chính trong bản thân từng đảng viên. Phương châm của chỉnh huấn là trị bệnh cứu người, muốn trị được bệnh thì từng đảng viên phải tự vạch ra chỗ yếu, chỗ nào có bệnh hoạn, không và chỉ ra chỗ khoẻ mạnh làm gi, do đó chỉ được nói khuyết điểm, không được nói ưu điểm. Kèm theo phương châm: Người nói không có tội, người nghe phải răn mình, nghĩa là người mới có quyền đao to búa lớn, sỉ vả đồng chí, nếu ai dại dột phản ứng lại sẽ được trả lời ngay là: Đây là tôi đang cứu đồng chí đấy. Chúng ta không được quên rằng: suốt mấy khóa chỉnh Đảng T.Ư. cả một đoàn cố vấn của Mao Trạch Đông đã giám sát chặt chẽ chúng ta. Thực chất là bọn chúng đã chỉ đạo chinh huấn. Trong quá trình chỉnh huấn, chỉnh đảng, vì thực hiện phương châm trị bệnh cứu người nên không ai được nêu ưu điểm của mình, mà chỉ lo sao tìm cho ra khuyết điểm, cố moi móc cho ra khuyết điểm, thậm chí muốn tỏ ra mình là “thành khẩn” nhiều đồng chí đã bịa ra, cố nặn ra khuyết điểm giả tạo. Nếu bị phê là thiếu “thành khẩn” thì cảm thấy như minh phạm trọng tội. Kết quả thực sự của chỉnh huấn là tất cả đảng viên trung cao cấp của Đảng tự thấy mình chỉ còn là cái giẻ rách, không còn là người nữa. Rời lớp chỉnh đảng ra về ai cũng thấy bàng hoàng tê tái, hoang mang, và tự hỏi: Mình là cái gì đây? Và chỉ còn một nếp suy nghĩ duy nhất là phục tùng Trung ương, Trung ương là rất sáng suốt, là tuyệt đối đúng. Thái độ của mỗi người chỉ còn biết là Tuyệt đối phục tùng Trung ương.

Điều gian xảo của Mao Trạch Đông ở đây là: Khi tiến hành chỉnh phong Diên An những năm 40 là thực thi ngay trong hàng ngũ Trung ương ủy viên, vì yêu cầu của Mao lúc này là phải hạ thủ những Trung ương ủy viên kiên định lớp trường quốc tế cộng sản, lấy Liên Xô làm cột trụ, đứng đầu nhóm này là đ/c Vương Minh và y đã thành công mỹ mãn.

Nhưng chỉnh đảng Việt Nam đã tiến hành sau Đại hội II của Đảng, nghĩa là một số đồng ủy viên Trung ương đã tuyệt đối tin tưởng ở Mao Trạch Đông, đã lấy tư tưởng của Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của mình. Vậy thì phải bảo vệ Trung ương để làm thần tượng, buộc toàn Đảng phải tin theo. Vì nếu Trung ương ủy viên cũng cùng chỉnh đảng với anh em cán bộ, cũng chỉ được nêu khuyết điểm, không được nêu ưu điểm, rồi anh em cũng phê phán đao to búa lớn. “Trị bệnh cứu người, thì còn đâu là uy tín để lãnh đạo. Đó là thực chất yêu cầu của bước hai.

Từ đó trở đi, mọi đảng viên lúc nào cũng nơm nớp sợ hãi bị phê bình là mất lập trường, là quan điểm mơ hồ. Một số đồng [chí] do đó đã sa vào cơ hội chủ nghĩa, thấy sự thật hiển nhiên cũng không dám há miệng.

BƯỚC BA là tiến hành cải cách ruộng đất. Yêu cầu của Mao trong bước 3 này là diệt cơ sở Đảng Cộng sản Đông dương để xây dựng một cơ sở Đảng theo tinh thần mới, bao gồm những đảng viên kết nạp trong cải cách ruộng đất. Các cố vấn Trung Quốc đã trực tiếp chỉ đạo bước này, không có Đoàn ủy nào, không có 1 số cố vấn ở bên cạnh để chỉ đạo. Đầu tiên là chỉ đạo thí điểm cải cách ruộng đất ở 6 xã thuộc huyện Đại Từ (Miền Bắc Thái Nguyên, căn cứ cách mạng, căn cứ kháng chiến).

Hàng mấy ngàn đảng viên Trung cao cấp đã tập trung về đầy để học tập tổng kết thí điểm. Cuộc tổng kết này đã rút ra một kết luận như sau: Tất cả chi bộ nông thôn đều là chi bộ của địch. Hàng ngàn đảng viên đã ‘chấp nhận’ kết luận này, khi đeo ba lô lên vai để triển khai CCRĐ đợt một, về đến xã, mọi người đều hoang mang sợ sệt, gặp nông dân không dám hỏi chuyện vì không biết ai là địch ai là ta – trong lúc cách mạng Việt Nam đi gần bến thắng lợi: chiến thắng Điện Biên Phủ. Ngày chiến thắng đã xảy đến trước khi hoàn thành cải cách ruộng đất đợt 1.

– Tại sao từ 6 xã ở Đại Từ, Miền Bắc Thái Nguyên lại có được kết luận này? Chỉ có thể là nó từ Bắc Kinh luồn sang, thông qua Đoàn cố vấn của Mao Trạch Đông.

– Tại sao hàng ngàn đảng viên Trung cao cấp học tập tổng kết và chấp nhận cái nhận định: Tất cả chi bộ nông thôn đều là chi bộ của địch (kể từ mũi Cà Mau trở ra), chỉ vỉ số đảng viên Trung cao cấp đã trải qua các khóa học tập chỉnh đảng, tự thấy mình không bằng cái giẻ rách, không còn ra người nữa, vậy thì Trung Ương bảo gì nghe nấy. Nếu không có bước hai thi không có bước này. Cái nhận định: Tất cả chi bộ nông thôn đều là chi bộ của địch đã có ý nghĩa gì?

Một là: Đảng ta chỉ còn có T.Ư. ủy viên và tỉnh ủy viên nói chung, để chủ yếu là lãnh đạo địch.

Hai là: các cấp ủy trên của Đảng đều do địch bầu ra. Và nó đã đem lại kết quả như thế nào?

a) Ba vạn đảng viên cơ sở bị bắn.

b) Ba vạn đảng viên tự sát.

c) Từ 3 đến 4 vạn vừa người lớn vừa trẻ con chết đói.

d) Xô Viết Nghệ Tĩnh là một thành tích vang dội thế giới của Đảng Cộng Sản Đông dương, Đảng thành lập vừa xong đã lập ngay được chính quyền Xô Viết đầu tiên ở Châu Á! mà bị ban lãnh đạo cải cách ruộng đất ở Liên khu 4 kết tội là: Xô Viết Nghệ Tĩnh là do bọn phản động nguỵ tạo nên, cán bộ đảng viên Xô Viết Nghệ Tĩnh bị tàn sát gần hết.

e) Khối đại đoàn kết do Hồ Chủ Tịch vun đắp trong bao nhiêu năm đã bị đập nát.

g) Nông thôn Việt Nam trở nên xơ xác về tình cảm giữa người với người, về chính trị, về kinh tế, về xã hội và văn hóa vv…

Một dẫn chứng: Hà Tĩnh có 210 bí thư chi bộ thì 200 bị bắn, còn sót 10 người ở miền núi vì ở đây chưa tiến hành cải cách ruộng đất.

(Tài liệu và số liệu trên đây do đ/c Nguyễn Tạo (lúc bấy giờ làm Vụ Trưởng Vụ chấp pháp thuộc Bộ Công An cung cấp).

BƯỚC BỐN: là “Chỉnh đốn tổ chức”. Nếu bước hai là bước nô dịch hóa tư tưởng của đảng viên trung cao, thì yêu cầu của Mao ở bước 4 này là: diệt đảng viên Trung cao về thể xác.

Để đạt bước này, sau khi Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng cái nhận định:

“Tất cả chi bộ nông thôn đều là chi bộ của địch” đã được đổi là: “Tất cả chi bộ nông thôn đều do tổ chức của quốc dân đảng lồng vào“.

Tất cả đảng viên cơ sở kiên định cách mạng hoạt động suốt trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp đã bị tàn sát gần hết, số còn lại đều là không có năng lực, đồng thời hoang mang sợ sệt, cộng với số đảng viên mới kết nạp trong cải cách ruộng đất tạo thành cơ sở mới của Đảng. Cái cơ sở mới này đã bị cưỡng ép phải tìm cho ra quốc dân Đảng ở địa phương mình. Phần thì non nớt, phần thì sợ sệt, phần thì không nắm được quá trình của phong trào cách mạng của địa phương, biết tìm đâu ra quốc dân đảng ở địa phương, nhưng vẫn bị bắt buộc phải tìm ra, thế rồi không địa phương nào bảo địa phương nào, địa phương nào cũng có “sáng kiến” cho những người đã thoát ly đi hoạt động là quốc dân Đảng, kết quả là một số lớn cán bộ trung cao đã được triệu từ Trung ương, từ tỉnh về để xử tội, cũng may mà mới tiến hành trong 7 tỉnh thì phát hiện ra sai lầm nên chỉ mới có chừng gần 1.000 cán bộ trung cao bị xử bắn.

Đó là kế hoạch 4 bước của Mao nhằm diệt Đảng Cộng sản Đông Dương. Cái kế hoạch mới nham hiểm và độc ác làm sao, và ta cũng phải thừa nhận là nó khoa học và thông minh làm sao? Nếu không hoàn thành bước 1 là toàn Đảng coi tư tưởng Mao Trạch Đông là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của mình thì không thể tiến hành bước 2 là nô dịch hoá tư tưởng đảng viên trung cao. Nếu tư tưởng đảng viên trung cao không bị nô dịch thì làm sao có thể chấp nhận cái nhận định quái gở: “Tất cả chi bộ nông thôn đều là chi bộ của địch” được, làm sao tự tay cán bộ trung cao lại đi diệt hết cơ sở của Đảng để xây dựng cơ sở mới. Chấp nhận nhận định này đã có nghĩa là phủ định Đảng cộng sản Đông Dương rồi.

Trong tủ sách nào của cán bộ, của nhân dân lại không có 1 tập thơ, trong đó có bài:

Đường sang nước bạn với những câu:

Tôi đã thấy:

Mao Trạch Đông

Dáng người cao lồng lộng

Đẹp như một ngọn cờ hồng,

Trên mặt người, mặt đất mênh mông.

Ta hãy tiếp tục tìm hiểu thêm bàn tay độc ác của Mao thò sang Việt Nam trong một vài lĩnh vực khác.

(3) Ta sẽ tiếp thu của Mao Trạch Đông các phương châm: chính trị là thống soái, tư tưởng đi hàng đầu, tri thức không bằng cục phân một cách hoàn toàn tự giác (consciemment) coi đó là chân lý và áp dụng cho đến ngày nay. Nếu nói rằng chính trị là thống soái là tất cả mọi sinh hoat chính trị kinh tế văn hóa xã hội của một quốc gia hoàn toàn phụ thuộc vào đường lối chính trị của tập đoàn lãnh đạo quốc gia thì hoàn toàn đúng đối với bất cứ khu vực nào, nước nào tồn tại trên thế giới này. Ở Việt Nam ta, đường lối chính trị của lãnh đạo đã ảnh hưởng đến đời sống của từng người dân một như thế nào, điều ấy ai chẳng thấy rõ.

Nhưng Việt Nam ta đã áp dụng phương châm “chinh trị là thống soái” ở một góc độ khác, hoàn toàn xa lạ với học thuyết Mác Lênin. Đó là thành phần chủ nghĩa. Ta đã coi những người thuộc thành phần cơ bản bao gồm công nhân, bần cố nông, dân nghèo thành thị bao giờ lập trường tư tưởng chính trị cũng vững vàng, cũng tốt (nhưng tiếc thay giai cấp công nhân Việt Nam lại chưa thành thục vì chưa có đại công nghiệp, mới thoát thân từ nông thôn, còn đang ở trình độ thợ thủ công).

Với nhận định trên nên trong cải cách ruộng đất ta đã chỉ kết nạp có bần cố nông nghĩa là những người mới thoát nên mù chữ, thậm chí còn noi gương điển hình KHẨU TÚ CẦN của Trung quốc, nhiều đội cải cách đã chỉ nhằm những cố nông ngớ ngẩn đần độn để kết nạp. Trong các cơ quan dân chính đảng cũng chỉ nhằm những người dốt nhất về kết nạp vào Đảng, giám mã, cấp dưỡng, liên lạc, bảo vệ, công nhân sửa chữa và vv… Một người trí thức được kết nạp vào Đảng thì thật là sỏi vẩy. Một người có học vị đại học tham gia cách mạng từ 1945, kết nạp vào đảng từ 1946 hoạt động liên tục cho đến nay mà không bao giờ được liệt vào hàng ngũ cán bộ chính trị vì không được vững vàng, nếu cũng người có quá trình hoạt động lâu như vậy mà trình độ văn hóa kém thì đã nghiễm nhiên là cán bộ chính trị, được tham gia cấp ủy lãnh đạo từ lâu rồi.

Trong Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, Các Mác và Angels dạy rằng: “về thực tiễn những người cộng sản là bộ phận tiên tiến nhất của các đảng công nhân ở tất cả các nước, về lý luận họ có ưu thế hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ họ có một nhận thức sáng suốt về điều kiện, về bước tiến và kết quả chung của phong trào vô sản”.

Còn Lênin thì dạy rằng:

“Người ta chỉ có thể trở thành người cộng sản sau khi đã làm giàu trí nhớ của mình bằng tổng số tri thức mà loài người đã xây dựng nên”.

Các bậc thầy của chủ nghĩa cộng sản đã dạy chúng ta như thế đấy, là người cộng sản phải có trình độ đại học là ít nhất. Ta hãy kiểm điểm lại hàng ngũ của ta, chưa kể đến đảng viên nói chung, ngay trong các cấp ủy Tỉnh và Trung ương, hãy hỏi được bao nhiêu người tốt nghiệp đại học, phó tiến sĩ, tiến sĩ mà phần lớn là con em công nông, con em cán bộ sinh ra trong chế độ chính trị do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

Câu nói cửa miệng phổ biến trong hàng ngũ cán bộ, từ bao năm nay là: Cơ quan nào cũng nát, nó nát bởi vì nó dốt. Nát tới mức: “tệ tham ô, lãng phí trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa còn nghiêm trọng ở hầu hết các ngành, các cấp” đến nỗi Nhà nước phải công khai công bố trên báo chí thì thật là khủng khiếp.

Ta phải nghiêm khắc mà nhận thức đầy đủ rằng tình hình DỐT NÁT này đã tai hại cho cách mạng Việt Nam biết bao nhiêu! đã ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân tới chừng nào?

Mao Trạch Đông đã luồn cái khẩu hiệu chính trị là thống soái vào trong đảng ta, để chống lại học thuyết Mác Lênin, để phá hoại đảng ta như thế đấy. Nó đã tác hại, đang tác hại và còn tiếp tục tác hại không biết đến bao giờ! Các đồng chí ơi! Mau mau có biện pháp cấp cứu để ta thoát khỏi cái vòng vây quỷ quyệt này của Mao Trạch Đông đi!

(4) Cái kim chỉ nam Mao đã làm gì với với hoạt động kinh tế Việt Nam?

Nếu ta đọc bài: “Uốn nắn lại tư tưởng chỉ đạo công tác kinh tế” của Nhân dân Nhật báo Bắc Kinh số ra ngày 9/4/81 do bản tin tài liệu tham khảo đặc biệt của Việt Nam Thông tấn xã đăng tải lại ngày 9/6/81, thì ta thấy rằng, gần như Trung Quốc làm thế nào ta làm đúng như thế ấy. Xin trích dẫn 1 vài đoạn:

– … “Không căn cứ vào điều kiện khách quan, làm trái quy luật khách quan, coi ảo tưởng thành chân lý, làm việc theo ý muốn chủ quan hoặc đem những việc có khả năng trở thành hiện thực trong tương lai cố gắng ghép vào hiện tại để làm”.

– …”Hình như chỉ có làm cho quan hệ sản xuất biến đổi không ngừng, mới có thể thúc đẩy sức sản xuất phát triển không ngừng. Hơn nữa sự biến đổi này của quan hệ sản xuất lại có thể thoát ly khỏi trình độ hiện có của sức sản xuất, nó hoàn toàn do ý muốn chủ quan của con người định đọat”.

– …”Chúng ta đã hơi nóng vội trong phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, Trong quá trình đưa hợp tác xã bậc thấp, quá độ lên hợp tác xã bậc cao chúng ta đã bước những bước hơi dài một chút. Khi hợp tác xã bậc thấp còn chưa được thành lập một cách phổ biến chúng ta đã vội đưa lên hợp tác xã bậc cao một cách toàn diện”.

– …”Không phải chỉ quan hệ sản xuất lạc hậu 1 cách nghiêm trọng so với tình trạng của sức sản xuất mới làm cho sức sản xuất bị phá hoại mà quan hệ sản xuất chạy vượt lên trước sức sản xuất thì cũng sẽ làm cho sức sản xuất bị phá họai”.

-… Sai lầm đã có biểu hiện chủ yếu là chỉ tiêu cao, tích lũy nhiều, hiệu quả thấp, tiêu dùng ít, là coi trọng tốc độ, xem nhẹ tỷ lệ cân đối, là coi trọng xây dựng cơ bản, xem nhẹ sản xuất, là coi trọng sản xuất, xem nhẹ đời sống, là coi trọng sản xuất, là coi thường lưu thông phân phối v.v…

… “Qui mô nhập khẩu thiết bị toàn bộ của nước ngoài quá lớn. Theo kinh nghiệm quốc tế một nước nhập vốn nước ngoài nhiều hay ít là phải theo một tỷ lệ nhất định với tình hình xuất khẩu thu nhập ngoại tệ của nước đó ít hay nhiều, nếu vượt quá tỷ lệ bình thường thì sẽ xảy ra tình trạng hoặc là không vay được, hoặc là vay được thì sẽ không trả nợ đúng kỳ hạn được… Mặt khác, khi nhập thiết bị toàn bộ này, chúng ta lại chẳng nghiên cứu xem xét một cách toàn diện khả năng lắp ráp ở trong nước. Theo tính toán muốn hoàn thành việc xây dựng các công trình này, chúng ta còn phải bỏ ra một khoản đầu tư xây dựng lắp đặt đồng bộ… tốn gấp nhiều lần tổng số tiền nhập khẩu các công trình đó… khả năng tài chính vật lực của ta hiện nay không thể đảm đương nổi… chưa so sánh đối chiếu đầy đủ về hình thức lợi dụng tiền vốn nước ngoài và cái giá mà chúng ta phải trả, chúng ta chưa tính toán toàn diện thiệt hơn về việc này”, v,v…

Cứ xem đầy đủ rõ chính ngay kế hoạch 5 năm vừa qua ta đã làm nhiều việc đúng như Trung Quốc đã làm, tuy Mao Trạch Đông đã chết rồi.

(5) Hai việc mà chúng ta cần ghi nhớ đời đời để đời đời căm thù Mao Trạch Đông nó đã lấy danh nghĩa giúp đỡ ta tận tình để phá họai kinh tế của ta cũng tận tình:

Một là: Ta yêu cầu Liên Xô giúp ta làm gang thép Thái Nguyên. Liên Xô nêu ý kiến: “chúng tôi không tin vào số liệu điều tra cơ bản của Pháp, Nhật. Chúng tôi đề nghị chúng tôi qua Việt Nam cùng các đồng chí điều tra cơ bản lại, đồng thời các đồng chí cử cán bộ sang đây học tập kỹ thuật làm gang thép, sau đó hãy tiến hành làm”.

Ta không nghe – Ta nhờ Mao Trạch Đông làm giúp. Thực tế là không có trữ lượng mà kỹ thuật là kỹ thuật của thế kỷ 19. Kết quả là con số không. Tưởng cũng nên công bố con số thiệt hại về tài lực, vật lực và nhân lực để cho toàn dân biết mà căm thù thằng Mao.

Hai là: Mao Trạch Đông xung phong giúp ta xây dựng nhà máy phân đạm Hà Bắc.

Thực tế là: chuyên gia Trung Quốc chưa hề xây dựng nhà máy phân đạm bao giờ, đây là sản phẩm đầu tay của chúng nó. Đến nay kỹ thuật vẫn còn rất trục trặc.

Kết quả là: Nếu đem số than dùng để sản xuất ra 10 tấn phân đạm mà bán đi, thì có thể mua được 20 tấn phân đạm rồi, vẫn còn dư tiền nuôi toàn bộ nhà máy trong thời gian sản xuất ấy.

Đấy, nền công nghiệp nặng của Việt Nam bắt đầu như thế đấy.

(6) về vấn đề ta tiếp thu cái phương châm: “Tự lực Cánh sinh” của Mao.

Kinh nghiệm của thế giới cho biết rằng: Nửa cuối của thế kỷ 19 chỉ có một nước nông nghiệp lạc hậu duy nhất có thể “Tự lực cánh sinh” mà công nghiệp hóa được là Nhật Bản với những chủ trương và biện pháp khá độc đáo nhưng vẫn không tránh khỏi việc bóc lột nông dân nặng nề. Còn sang thế kỷ 20 sau Đại chiến lần thứ nhất, không có một nước nông nghiệp lạc hậu nào có thể tự lực cánh sinh mà công nghiệp hóa nền kinh tế của mình được cả, một là phải nhờ Mỹ, hai là phải nhờ Liên Xô.

Ngay như Liên Xô, sau cách mạng tháng 10 tuy đã có 1 số cơ sở công nghiệp nào đó mà Lênin vẫn phải dựa vào vốn nước ngoài bằng chính sách kinh tế mới vô cùng sáng tạo. Thế mà ở ta, đầu những năm 60 toàn Đảng đã được học tập như sau:

“Giai cấp tư sản thế giới đã bóc lột tàn tệ giai cấp nông dân để có vốn ban đầu mà tiến hành công nghiệp hóa, chúng ra đời, các lỗ chân lông đều vấy bùn và máu từ chân đến đầu, còn ta là xã hội chủ nghĩa thì không được phép bóc lột nông dân như chúng. Mà không còn con đường nào khác là “thắt lưng buộc bụng” để tích lũy.

Đến 1976, trong đại hội 4, chúng ta vẫn áp dụng phương châm “tự lực cánh sinh” của Mao một cách triệt để. Về đường lối kinh tế, Nghị quyết của Đại hội là:

“Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ.”

Câu này thật là khó hiểu. Một là: với hoàn cảnh kinh tế bị tàn phá sau bao năm chiến tranh của ta nếu ta có phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ đến tột độ đi nữa cũng chưa chắc đã đủ nuôi nhau, tạo làm sao ra cơ sở để phát triển công nghiệp nặng được. Hai là; không có công nghiệp nặng thì lấy gì để phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ. Tự lực cánh sinh sao nổi.

Cuối năm 1978 ta ký hiệp định hữu nghị tương trợ dài hạn với Liên Xô. Đầu năm 1980, trong lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Đảng, đ/c Tổng Bí thư đã phát biểu:

“Nhằm xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa trong thời gian lịch sử tương tối ngắn, chúng ta ra sức mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ yếu với Liên Xô và Hội đồng tương trợ kinh tế, coi đó là bộ phận hợp thành của đường lối chiến lược kinh tế, chỗ dựa cực kỳ quan trọng để tạo cơ cấu kinh tế mới, biện pháp có hiệu lực để xây dựng công nghiệp và phát triển công nghiệp”.

Mọi người đã thở phào nhẹ nhõm, tưởng đâu sẽ được giải thoát hoàn toàn, và “vàng hương tống tiễn, gạo muối đưa chân” gửi trả lại cho Mao Trạch Đông và bè lũ của nó cái miếng đòn ‘tự lực cánh sinh” rồi.

Song trên thực tế dường như không hẳn như thế, cái hồn ma tự lực cánh sinh nó vẫn ngoan cố ẩn nấp đâu đấy trong chúng ta, cứ xem những lời phát biểu rất trúc trắc và đầy ẩn ý của đ/c Brơ-giơ-ni-ép thì đủ rõ.

– Tháng 6/1980 khi nhận Huân chương từ tay đ/c Tổng bí thư Lê Duẩn:

a) “Tình hữu nghị chỉ được biểu hiện qua việc làm thực tế mà giá trị của nó phải được kiểm nghiệm qua thời gian”.

– Tháng 9 năm 1981, trong buổi chiêu đãi tiễn đoàn đ/c Lê Duẩn và Tố Hữu:

b) “…Khái niệm về tình hình vừa qua, cũng như quan điểm về tình hình hiện nay, chúng ta không có gì khác nhau mà giống nhau”.

Và cụ thể hơn cả là: Đến ngày hôm nay, Liên Xô và Hội Đồng tương trợ kinh tế vẫn chưa dứt khoát về chỉ tiêu viện trợ kế hoạch 5 năm cho chúng ta, nên ta không có kế hoạch 5 năm (1981-85).

(7) Về chống chủ nghĩa xét lại hiện đại.

Trong quá trình hoạt động của mình, Đảng Cộng Sản Liên Xô chưa hề phạm sai lầm cơ hội hữu khuynh, xét lại hiện đại. Đường lối “bảo vệ hòa bình, chung sống hòa bình, hoà bình tiến lên, giữ gìn hòa bình, hoà hoãn quốc tế” vẫn hoàn toàn chính xác. Đ/c Brơ-giơ-ni-ép và Đảng cộng sản Liên Xô đã áp dụng nó một cách vô cùng sáng tạo và linh hoạt, đó là sự thực hiển nhiên, nó được toàn thể loài người tiến bộ đều hoan nghênh và thực hiện.

Đại hội lần thứ 26 của Đảng Cộng sản Liên Xô nêu rõ: “Ngày nay đối với chúng ta, nhân dân ta cũng như đối với tất cả các dân tộc trên thế giới, không có một vấn đề quốc tế nào quan trọng hơn là vấn về bảo vệ hòa bình”. Khơ-rup-sốp có phạm sai lầm, sai lầm khá nghiêm trọng, và đã bị xử lý với mức độ đúng với sai lầm của ông ta, trong đó không có sai lầm xét lại hiện đại. Còn Mao Trạch Đông thì sao? Trong hơn 10 năm từ 1949 đến 1960, y đã bám chặt lấy Liên Xô, lợi dụng Liên Xô công nghiệp hóa cho mình, y đã bắt đầu có lông có cánh, thì y bắt đầu công khai chống lại Liên Xô. Trong hội nghị 81 Đảng họp ở Mát-sxơ-va năm 1960, y đã bộc lộ đường lối bá quyền nước lớn của y, y đã thấy đường lối của hội nghị 81 Đảng là nguy hại cho mưu đồ bá chủ đại hán của y, y bèn xuyên tạc và thổi phồng những sai lầm của Khơ-rút-sốp lên. Mở một chiến dịch có tính chất quốc tế chống lại Liên Xô, quyết liệt và rầm rộ. Lớn tiếng chửi rủa Liên Xô là đi theo chủ nghĩa xét lại hiện đại, đã từ bỏ chủ nghĩa Mác Lênin, đã đưa đất nước Liên Xô đi vào con đường tư sản hóa, đã gắn cho Liên Xô cái danh hiệu Đế quốc xã hội chủ nghĩa.

Thế là lập tức ở Việt Nam cũng phát động một chiến dịch chống chủ nghĩa xét lại hiện đại, cũng quyết liệt và rầm rộ, kéo dài gần suốt thập kỷ 60. Mao Trạch Đông nói Liên Xô là đế quốc xã hội chủ nghĩa thì ta nói Hội đồng tương trợ kinh tế là 1 tổ chức trá hình của chủ nghĩa thực dân mới, là công cụ nô dịch và bóc lột của Liên Xô đối với các nước XHCN Đông Âu. Có một điều khác với Trung Quốc là Trung Quốc thì trực tiếp công khai chống Liên Xô, còn Việt Nam thì chống chủ yếu trong nội bộ cán bộ đảng viên. Muốn chống chủ nghĩa xét lại ở Việt Nam có hiệu quả, cũng cần nêu cao lên ngọn cờ tư tưởng Mao Trạch Đông”.

Bài phát biểu của đ/c Tổng bí thư trong hội nghị trung ương lần thứ 9 tháng 12 năm 1963, đã bước xuất bản thành sách bán tại các cửa hiệu sách với nhan đề: “Một vài vấn đề trong nhiệm vụ quốc tế của Đảng ta”, đã có những đoạn như sau:

“Đảng cộng sản Trung Quốc đứng đầu là đ/c Mao Trạch Đông, là người đã thực hiện một cách xuất sắc nhất lời giáo huấn của Lênin vĩ đại. Sự phát triển và sáng tạo đặc sắc nhất của Đảng Cộng sản Trung quốc và đồng chí Mao Trạch Đông đối với lý luận cách mạng vô sản của chủ nghĩa Mác Lênin là lý luận cách mạng lấy nông dân làm quân chủ lực…………………………………đây không phải chỉ có vấn đề lực lượng cách mạng mà còn có một loạt vấn đề về đường lối cách mạng và phương pháp cách mạng, …………………….. với sự thắng lợi của cách mạng Trung Quốc, lý luận này đã trở thành một chân lý được kiểm nghiệm. Giá trị vĩ đại của lý luận này trước tiên là ở chỗ nó [thật] sự đưa 1/4 loài người vào con ‘đường chuyên chính vô sản.

Lý luận này không còn chỉ đóng khung trong phạm vi Trung Quốc, mà nó đã trở thành một lý luận có tính chất quốc tế và những người Cộng sản Việt Nam chúng ta, do đã học tập và vận dụng lý luận đó một cách sáng tạo nên đã đưa sự nghiệp cách mạng nước ta đến thắng lợi. Nếu trước đây Lênin đã nói rằng sách lược của cách mạng Nga là một mẫu mực về sách lược cho tất cả mọi người cộng sản trên thế giới, thì ngày nay chúng ta cũng có thể nói rằng sách lược của cách mạng Trung Quốc là mẫu mực về sách lược cho nhiều người cộng sản ở Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh, Không phải ngẫu nhiên mà Đảng Cộng sản Trung quốc là người đầu tiên sáng tạo ra lý luận cách mạng ấy”…………………………………………………………

Trong Đảng ta cũng có 1 số đồng chí chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa xét lại hiện đại.

Để chống lại có hiệu quả sự xâm nhập của chủ nghĩa xét lại vào trong Đảng ta, chúng ta cần làm cho nó không còn có đất để mọc ra, bất kỳ tình hình biến chuyển như thế nào. Nó là một tai họa ghê gớm của phong trào cách mạng, vì một khi đã xâm nhập vào trong Đảng ta nó có thể đục ruỗng tinh thần cách mạng của Đảng và nhân dân ta, nó trở thành tay sai đắc lực cho giai cấp thù địch và là đồng minh khách quan của chủ nghĩa đế quốc….

Chủ nghĩa xét lại hiện đại sẽ bị đánh bại bằng cuộc đấu tranh tư tưởng của những người Macxit Lêninnit……” và thế là cuộc đấu tranh tư tưởng chống chủ nghĩa xét lại ở Việt Nam đã được phát động.

Theo lời giáo huấn trên thì một số đồng chí đã chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa xét lại hiện đại, chủ nghĩa xét lại đã xâm nhập vào Đảng ta đã đục ruỗng tinh thần cách mạng của Đảng và nhân dân ta, “chúng ta cần làm cho nó không còn có đất để mọc ra…”

Song, trên thực tế, Đảng Cộng sản Liên Xô không hề phạm sai lầm xét lại hiện đại bao giờ. Vậy 1 số đ/c ta đã chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa xét lại hiện đại của ai? Từ đâu? Nó đã từ đâu xâm nhập vào Đảng ta để đục ruỗng tinh thần cách mạng của Đảng? Không có gốc thì làm sao có ngọn được.

Vậy mà sau mấy năm học tập đấu tranh chống chủ nghĩa xét lại hiện đại toàn thể cán bộ và đảng viên đã coi Liên Xô là xét lại, là xa rời chủ nghĩa quốc tế vô sản – là đi vào con đường tư sản hóa – là thực dân mới trá hình, lập ra Hội đồng tương trợ kinh tế làm công cụ bóc lột các nước XHCN ở Đông Âu – là từ bỏ đấu tranh giai cấp v…v…

Kết quả là:

– Cán bộ đảng viên nghe thấy hai tiếng Liên Xô sợ như nghe thấy hủi.

– Trẻ con gặp người Liên Xô ngoài đường cũng chửi.

– Một đ/c lãnh đạo, trên diễn đàn của rạp hát Hồng Hà, khi giảng về chống xét lại đã lớn tiếng tuyên bố rằng:

“Phụ nữ Liên Xô ngày nay sa đọa lắm rồi, nếu đồng chí nào không tin thì cứ lên đứng trước cửa sứ quán Liên Xô, thấy cô nào đèn đẹp, vẫy vẫy một cái là được ngay”.

– Một nữ bác sĩ người Pháp, công tác ở bệnh viện Việt-Xô, là vợ bác sĩ Chánh, khi đi ngoài đường đã bị một sĩ quan Việt Nam ghé vào tận tai chửi: sale soviétique (con mẹ Liên Xô bẩn thỉu).

– Gần 100 cán bộ trung cao bị tù đày lâu năm không được xét xử, hiện nay vẫn còn người chưa được tha.

– 4 Trung ương ủy viên bị khai trừ khỏi Đảng v,v.

Ở Liên Xô không hề tồn tại chủ nghĩa xét lại hiện đại, vậy tại sao lại có cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa xét lại hiện đại ở Việt Nam, để làm cho nhân dân và cấp bộ Việt Nam căm ghét Liên Xô?”.

Phải chăng vì ta đã coi sách lược của cách mạng Trung Quốc là mẫu mực về sách lược cho nhiều người cộng sản ở Châu Á, Trung Quốc chống Liên Xô thì ta cũng chống Liên Xô.

III. KẾT LUẬN

Người đang viết mấy dòng này mang nặng một nỗi ưu tư từ lâu ngày, không sao tự giải tỏa được.

Từ vài chục năm nay, khi nhắc đến thiệt hại to lớn của cải cách ruộng đất ai cũng nghĩ rằng trách nhiệm ghê gớm này chỉ thuộc về 1 vài cá nhân đ/c nào đó. Theo tôi thì hoàn toàn không phải thế. Trách nhiệm này đã thuộc về toàn Đảng, nhưng như vậy cũng sai, nói vậy là oan uổng cho các đ/c ở cơ sở, nhất là các đ/c đã bị hy sinh, mà phải nói cho nghiêm khắc và chính xác rằng, trách nhiệm này trước hết thuộc về tất cả các đảng viên trung cao cấp đã học tập Tổng kết thí điểm cải cách ruộng đất ở Đại Từ rồi đi xuống xã công tác. Trong số đó có tôi.

Tôi là đảng viên Đảng Cộng Sản Đông Dương. Bị đế quốc Pháp bắt bớ, tra tấn, và bỏ tù từ 1940 đến 1945, khi bị tra tấn đã giữ vững được khí tiết cách mạng, khi bị tù đày không hề sờn lòng, vẫn hăng hái xung phong trong mọi công tác cách mạng, đã mấy lần vào sinh ra tử, coi cái chết như sợi lông hồng. Ngày nay suy ngẫm lại cuộc đời mình, tôi tự thấy rằng: cả cuộc đời mình, chưa bao giờ tinh thần tôi lại lâng lâng sảng khoái như mấy năm hoạt động ở trong tù.

Ngày nay, ngồi viết mấy dòng này, đầu gục xuống, nước mắt lưng tròng, Đau đớn ư? Không phải, ăn năn hối hận ư? Cũng không phải.

Tôi đã có một quá trình hoạt động cách mạng đáng kể, có biết bao kinh nghiệm cách mạng, lại đồng thời cũng có một trình độ văn hóa và kiến thức không đến nỗi tồi, ở trong tù đã tham gia dạy anh em cả Pháp văn, cả Hoa văn. Tuổi đời cũng dày dạn rồi.

Ấy thế mà không hiểu tại sao hay là “gặp phải năm xui tháng hạn” chăng mà thằng Mao Trạch Đông có bảo gì nghe nấy.

Nó bảo:

Liên Xô là chủ nghĩa thực dân mới trá hình để bóc lột các nước anh em, cũng vâng.

Nó bảo:

Chính trị là thống soái, trí thức không bằng cục phân. Dạ đúng quá.

Nó bảo:

Phải tự lực cánh sinh để công nghiệp hóa thì mới không mất độc lập chủ quyền – cũng vâng, như thế mới thật sự cách mạng.

Thậm chí nó bảo:

Tất cả chi bộ ở nông thôn Việt Nam đều là chi bộ của địch mà tôi cũng chấp nhận được – Nhưng nếu chỉ chấp nhận không thôi cũng là quá xấu xa rồi. Đàng này tôi đã chấp nhận cái nhận định vừa độc ác vừa quá phi lý ấy để vác ba lô lên vai, đi xuống xã tham gia việc bắn giết đồng chí minh, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của mấy thằng cố vấn Trung Quốc. Đau đớn biết bao! Tủi nhục biết bao!

Tôi sống đã quá nhiều năm tháng rồi, tóc trên đầu chỉ còn có một nửa và đã bạc hết, không còn một sợi nào đen, răng long gần hết, phải dùng răng giả. Gần đất xa trời rồi, ấy thế mà kéo lê những ngày tàn để đợi chết cũng không yên, cái ác mộng cải cách ruộng đất thỉnh thoảng lại đến chụp lấy tôi để dày vò.

Mấy ngày nay, ngồi suy nghĩ viết bản đề cương này, viết xong lòng thật nhẹ nhõm, trước khi chết tôi đã vạch trần được tim đen của con quỷ sứ Mao Trạch Đông.

Tôi kêu gọi tất cả các đồng chí Đảng Cộng sản Đông Dương đã cùng tôi sống chung trong các nhà tù, đã cùng tôi đi học tập tổng kết thí điểm cải cách ruộng đất ở Đại Từ, rồi cũng đã cùng tôi trực tiếp tiến hành cải cách ruộng đất (hoặc ở các Đoàn ủy, hoặc ở các đội) và chúng ta đã hò nhau bắn giết đồng chí mình, hãy ghé vai san sẻ bớt cho tôi gánh ưu tư vừa quá nặng, vừa kinh hoàng này.

Vạch trần được ruột gan thằng Mao, đồng thời được cùng các đồng chí than thở tâm sự, trước khi từ bỏ cõi đời này lòng tôi sẽ được khuây khỏa phần nào đó.

Các đồng chí hãy cùng tôi hô lớn: Đông Dương Cộng sản Đảng bất diệt!

Tháng 02-1983

CHU ĐÌNH XƯƠNG

31 Nguyễn Đình Chiểu Hà Nội

Bình Luận từ Facebook
Categories: Nhan dinh | Leave a comment

Thành tựu lớn nhất đời người là khoan dung

Thành tựu lớn nhất đời người là khoan dung

Ngọc Mai | DKN 9 giờ tới 289 lượt xem
sự khoan dung
Ảnh minh họa: Shutterstock.
Có câu nói như thế này: Dung lượng trái tim của một người rộng lớn như thế nào thì thế giới của họ rộng lớn như thế.

Victor Hugo cũng từng nói “Có điều to lớn hơn đại dương, đó chính là bầu trời; có điều to lớn hơn bầu trời, đó chính là nội tâm của một người” (Nguyên văn: There is one spectacle grander than the sea, that is the sky; there is one spectacle grander than the sky, that is the interior of the soul)

Thành tựu lớn nhất của đời người là lòng khoan dung.

Khoan dung không phải sự yếu hèn, không phải nhu nhược mà là không nhớ lỗi lầm của người, thấy người kém không kiêu ngạo, thấy người giỏi không tự ti, thấy người gặp khó khăn thì có thể bù đắp chỗ thiếu sót và giúp họ phát huy ưu điểm.

Chuyện chậu lan của vị hòa thượng

Lão hòa thượng trồng một chậu hoa lan xinh đẹp. Hoa lan cũng nhờ vào sự chăm sóc của ông mà lớn lên khỏe mạnh và thanh tú. Một lần, ông phải đi ra ngoài có việc một thời gian, ông liền giao chậu lan lại cho tiểu hòa thượng nhờ chăm sóc.

Một hôm, tiểu hòa thượng sau khi tưới nước cho hoa liền đặt chậu lan ở bệ cửa sổ rồi ra ngoài làm việc. Thế rồi mưa to xối xuống, gió to làm chậu lan rơi xuống mặt đất vỡ tan. Khi tiểu hòa thượng trở về thấy chậu lan chỉ còn cành lá gãy rập, héo úa dưới đất. Cậu vừa đau lòng vừa lo sợ sư phụ sẽ quở trách.

Sư phụ và đồ đệ
Ảnh minh họa: Shutterstock.

Khi vị sư già trở lại, tiểu hòa thượng đã chuẩn bị tinh thần bị phạt. Nhưng sư phụ cậu chỉ cười cười, không trách mắng chút nào. Tiểu hòa thượng bất ngờ: “Sư phụ, người không tức giận sao? Sao lại không trách mắng con?”.

Lão sư cười nhạt một tiếng: “Ta trồng hoa lan không phải vì để tức giận”.

Chỉ một câu nói đơn giản nhưng lại thể hiện một người có tấm lòng bao dung rộng lượng và cởi mở với cuộc đời.

Thế giới xung quanh chính là phản ánh nội tâm của bạn

Lão hòa thượng trồng hoa không phải để nổi giận. Tương tự như vậy, chúng ta học tập để không phải để tức giận. Chúng ta làm việc không phải để để tức giận. Chúng ta yêu thương không phải để tức giận. Chúng ta sống không phải để tức giận.

Nếu bạn ôm giữ hận thù, cuộc sống xung quanh đều là những điều không vừa mắt.

Nếu bạn ôm giữ lòng biết ơn, thế gian khắp nơi đều là lòng cảm ân.

Nếu dung lượng tâm của bạn lớn lên, sức chịu đựng của bạn cũng lớn lên, những điều người khác không vừa mắt, đối với bạn cũng có thể xem rất nhẹ nhàng.

Dù bạn không thể chọn những điều sẽ xảy ra với bản thân, bạn vẫn có thể lựa chọn thái độ đối với những khó khăn trong đời người. Bạn có thể ôm giữ oán hận hoặc thái độ tiêu cực trong nghịch cảnh; bạn cũng có thể rèn luyện nội tâm vững vàng trước những sóng gió. Chỉ là bạn sẽ chọn con đường nào?

khoan dung
Ảnh minh họa: Shutterstock.

Đời người 8, 9 phần là không như ý, những chuyện muốn gì được nấy, mọi việc đều toại nguyện là rất ít.

Người khoan dung bề ngoài dù xinh đẹp hay tầm thường, ở bên trong cũng là nội tâm quảng đại, tấm lòng rộng mở, có thể dung chứa vạn vật, độ lượng với mọi người.

Người khoan dung thường suy nghĩ cho người khác, chân thành không kiêu ngạo, lòng dạ thoáng đãng. Họ mang khí chất khiêm nhường của người quân tử “người quân tử trong sáng vô tư, kẻ tiểu nhân thường mang ưu sầu”.

Làm thế nào mới có thể nuôi dưỡng lòng bao dung?

Thật dễ dàng chỉ trích thiếu sót người khác, oán trách lỗi lầm của người, phàn nàn và phán xét về những quyết định sai của họ. Những hành động tiêu cực ấy, chắc chắn sẽ không thể mang lại tác dụng tích cực, vì nó dựa trên quan điểm của bản thân để phán xét sự việc, là xuất phát từ “Vị tư” (Vì mình). Hãy thử đổi góc độ, đứng từ “Vị tha” (vì người khác) mà xét vấn đề, thực sự xuất phát điểm “muốn tốt cho người khác” chứ không phải “muốn người khác phù hợp với quan điểm của mình”.

Khi một người không phàn nàn về người khác, người ấy đã tránh xa khỏi oán hận. Khi một người không ghét bỏ người khác, người ấy đã tránh xa khỏi thù hận. Người có đạo đức cao thượng luôn biết cách phân biệt Chính – tà và lánh xa thù hận. Chỉ khi lánh xa thù hận, người ấy mới nảy sinh lòng khoan dung.

Một người khoan dung chân chính phát xuất ra ánh hào quang của từ bi và tường hòa. Hào quang ấy chiếu sáng những người xung quanh và chính bản thân họ. Khi một người thực sự khoan dung từ nội tâm, không oán không hận, người ấy mới có thể cảm nhận được hạnh phúc chân chính. Họ sẽ được ban phúc lành và con đường sẽ rộng mở trước mặt họ.

Ngược lại, một người tâm đầy thù hận sẽ không bao giờ thực sự thiện với người khác. Ngọn lửa hận thù sẽ che mờ lý trí của họ. Nó cũng giống một thanh gươm tẩm độc, không những làm người khác bị thương, mà còn làm hại chính chủ nhân của nó.

Ngọc Mai
Tham khảo Sound of Hope, Chánh Kiến

Categories: Nhan dinh | Leave a comment

Hồ Chí Minh trong nhận thức của người hậu thế

Hồ Chí Minh trong nhận thức của người hậu thế

Lê Quang Ngọ  Lê Quí Trọng

23-8-2020

Hồ Chí Minh và Mao Trạch Đông nghỉ mát tắm biển Bắc Đới Hà (北戴河). Hình chụp tháng 8/1960. Nguồn: Artron.net

Hồ Chí Minh là một chính khách cộng sản nổi trội trong lịch sử đương đại Việt Nam, tên tuổi của ông có nhiều ảnh hưởng sâu sắc đến tư duy và tình cảm đa dạng của nhiều thế hệ người dân nước Việt kể từ năm 1945 đến nay. Mặc dù tính đến ngày 2/9 này ông đã qua đời 51 năm, nhưng ảnh hưởng chính trị của ông vẫn sống mãi trong sự nghiệp của đảng CSVN. Do vậy, tên tuổi và hình bóng của ông vẫn luôn luôn hiện hữu sáng chói trong cuộc sống của những người dân sống dưới sự lãnh đạo của đảng do ông thành lập.

Năm 2020 này cái tên của ông còn được xuất hiện với tần suất cao hơn cả mức bình thường, bởi những ngày lễ lớn năm nay của đất nước đều có liên quan đến cái tên Hồ Chí Minh. Trong lễ kỷ niệm 130 năm ngày sinh của ông trong tháng Năm vừa qua, tất cả những lời hoa mỹ nhất của ngôn từ tiếng Việt lại được sử dụng tối đa để vinh danh ông: “Vị cha già của dân tộc, Lãnh tụ thiên tài, Người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới, Người chiến sĩ Cộng sản quốc tế mẫu mực, Người bạn thân thiết của các dân tộc yêu chuộng hòa bình và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới”. (1)

Lúc sinh thời Hồ Chí Minh từng nói,“ở đời, ai cũng là người thường, không có ai là thần thánh, nghĩa là ‘nhân vô thập toàn‘, không có ai là hoàn toàn. Đã sống ở đời thì ai cũng có khuyết điểm”. (2) Ông thường dạy những người khác tránh vướng vào các khuyết điểm của người trần tục nhưng ông cũng phải tự nhận bản thân có hai khuyết điểm lớn là hút thuốc lá và không lấy vợ. Vì vậy những người viết bài này muốn tìm hiểu, ông thật sự có phải là con người hoàn mỹ như được ca tụng không.

Qua việc lĩnh hội hàng loạt bài báo, những mẩu chuyện viết về ông, những người viết bài này lại có những nhận thức trái ngược với sự kiên trì định hướng dự luận của đảng. Đó là Hồ Chí Minh thật sự không phải là một thánh nhân như đảng đã dày công tuyên truyền. Một người có học vấn bình thường, có tư duy độc lập và miễn dịch với thông tin một chiều có thể dễ dàng nhận thấy ông là một con người đầy mâu thuẫn, sự mâu thuẫn của ông thể hiện trong lý luận, giữa lý luận và thực tiễn và cuộc đời ông là cả một bi kịch mà những người cuồng tín cũng khó noi theo.

Trong bài viết này, chúng tôi xin phép được đề cập đến một số khía cạnh mà ông được ca tụng như kể trên, và xin lấy cụm từ “thiên tài” làm cơ sở để xem xét các tài năng thiên bẩm của ông. Vậy thiên tài là gì? Theo Wikipedia, thiên tài là một danh từ dùng để nói về điều gì đó hoặc ai đó thông minh một cách xuất sắc, làm việc một cách xuất sắc hoặc đạt được thành tựu vĩ đại. Thiên tài không phải là người có đầu óc sáng tạo và thông minh bình thường. Chữ thiên tài thường gắn liền với những thành tựu chưa từng thấy bao giờ. Thiên tài là một người có năng khiếu, năng lực bẩm sinh hoặc có thành tựu vượt xa bất cứ những người nào khác trong cùng một lĩnh vực.

Để tìm hiểu, bài viết này xin dẫn dắt người đọc vào thời kỳ Hồ Chí Minh đã bước ra vũ đài chính trị đất nước sau khi cướp được chính quyền vào mùa thu 75 năm trước và trình diễn tài năng suốt 24 năm tròn.

Mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập, được ông trình bày trước toàn dân ông đã trích dẫn Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ và bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 để lên án thực dân Pháp đã vi phạm các quyền căn bản ấy trong suốt thời gian đô hộ đất nước Việt Nam: “Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào”, nhưng ngay sau đó không lâu “Võ Nguyên Giáp thay mặt Hồ Chí Minh, Chủ tịch Chính phủ Cách mạng Lâm thời, ban hành các sắc lệnh giải tán một số đảng phái,với lý do các đảng này tư thông với ngoại quốc, làm phương hại đến nền độc lập Việt Nam (như Việt Nam Quốc xãĐại Việt Quốc dân đảng…) nhằm kịp thời trừng trị bọn phản cách mạng, bảo vệ chính quyền non trẻ đồng thời giáo dục ý thức về tinh thần cảnh giác cho nhân dân, đồng thời Chủ tịch Hồ Chí Minh cho phép Ty Liêm phóng có thể bắt những người bị coi là nguy hiểm cho nền độc lập của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cùng với đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh giải tán các nghiệp đoàn để kiểm soát nền kinh tế”. (3)

Cũng dễ hiểu, cướp chính quyền là công của Việt Minh, thành quả đó không thể chia xẻ cho những đảng phái ngồi mát muốn ăn bát vàng. Vì vậy trong giai đoạn mới hình thành, để có tính chính danh, Hồ Chí Minh tạm thời đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu với sự thực hiện triệt để chính sách đại đoàn kết dân tộc bằng cách mở rộng các thành phần trong Chính phủ và Quốc hội nhưng những người của các đảng phái khác “chẳng có chức trách cụ thể gì, không bao giờ được tham dự bất cứ buổi họp nào của Nội các”. Là người cộng sản ông hoàn toàn không muốn đa nguyên chính trị, vì vậy ông giao cho Võ Nguyên Giáp và Trần Quốc Hoàn “nhiệm vụ vô hiệu hóa các cuộc biểu tình do Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội tổ chức nhằm chấm dứt hoạt động tuyên truyền của các đảng phái này trong dân chúng”.

Những đảng phái này cũng là những tổ chức của những người yêu nước nhưng vì không cùng quan điểm chính trị cho nên không thể nào cạnh tranh trong nghị trường được với đảng có thủ lĩnh là một ngưởi “được đào tạo chính quy về chủ nghĩa Marx, tuyên truyền và khởi nghĩa vũ trang”. Mặc dù ông trả lời các nhà báo nước ngoài sau kết quả cuộc tổng tuyển cử đầu tiên của Việt Nam: “Trong một nước dân chủ thì mọi người đều có tự do tin tưởng, tự do tổ chức. Nhưng vì hoàn cảnh và trách nhiệm, tôi phải đứng ra ngoài mọi đảng phái”. (4)

Nói thì vậy nhưng không phải vậy, sự đứng ngoài của ông được chứng minh khi ông đang thăm Pháp vào mùa hè năm 1946 thì Võ Nguyên Giáp bắt đầu chiến dịch trấn áp tất cả các đảng phái đối lập được Việt Minh coi là nguy hiểm như Việt Quốc, Việt Cách, Đại Việt, những người Trotskist, lực lượng chính trị Công giáo… bằng lực lượng công an và quân đội do Việt Minh kiểm soát với sự giúp đỡ của nhà cầm quyền Pháp. Ông cũng sử dụng các sĩ quan Nhật Bản trốn tại Việt Nam và một số vũ khí do Pháp cung cấp cho chiến dịch này”. Như vậy, bắt đầu từ đây Hồ Chí Minh thật ra chỉ kiên trì đấu tranh vì độc lập, tự do độc quyền lãnh đạo đất nước cho ông và đảng ông mà thôi.

Ông trả lời các nhà báo trong buổi phỏng vấn kể trên: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho đất nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Để đất nước hoàn toàn độc lập, cần có một chính phủ có đường lối độc lập nhưng để giữ được chính quyền và chống được giặc Pháp ông đã cầu cạnh đến sự giúp đỡ của Trung Quốc, Liên Xô, mặc dù ông đã từng “xem những đảng phái quốc gia thân Trung Hoa Dân quốc như Việt CáchViệt Quốc là bọn quốc gia giả hiệu, đầy tớ của Trung Hoa Quốc dân Đảng và không có liên hệ gì với nhân dân Việt Nam.

Vào thời điểm từ năm 1945 – 1946, lập trường tư tưởng của Hồ Chí Minh thật sự không vững vàng, ông muốn ngả theo Mỹ để ngăn cản Pháp quay trở lại chiếm Đông Dương: “Ông tìm cách làm Mỹ tin rằng ông không phải là một phái viên của Quốc tế Cộng sản mà là một người Quốc gia – Xã hội mong muốn giải thoát đất nước khỏi ách đô hộ của ngoại bang” (5). Ông nợ Liên Xô vì sự đào tạo của họ nhưng ông đã trả lại bằng 15 năm công tác đảng, và không có bất cứ cam kết nào khác với Liên Xô“. (4) và “đặt nhiều tin tưởng vào sự giúp đỡ của Mỹ trước khi có thể hy vọng vào sự giúp đỡ của Liên Xô“ (5).

Lịch sử Việt Nam chắc chắn sẽ rẽ theo một hướng đi khác tốt đẹp hơn, giá như vào thời điểm đó Tổng thống Mỹ Harry Truman không bị gốc gác con người Hồ Chí Minh ám ảnh, mà tiếp tục liên lạc, giúp đỡ nhà nước Việt Nam mới được thành lập và như vậy sẽ không có Chiến tranh Đông Dương cũng như lịch sử thế giới sẽ không xuất hiện cụm từ Chiến tranh Việt Nam. Thế mới biết sự sai lầm về đường lối của nguyên thủ quốc gia mang lại cho đất nước những hậu quả tai hại như thế nào.

Trên thế giới thì như vậy, trong nước giới trung lưu cũng không ưa cộng sản “nên ông phải làm mọi cách để gạt bỏ cái nhãn hiệu nói trên” (4) bằng cách cho đảng ông rút vào hoạt động bí mật nhằm bảo toàn lực lượng và mở rộng khối đoàn kết dân tộc. Trong tình thế đơn độc chống chọi với quân đội Pháp, khiến cho Hồ Chí Minh hồi tâm quay lại với những người cộng sản quốc tế của mình.

Sau khi nước Công hòa Nhân dân Trung hoa ra đời thì hơn hai tháng sau Hồ Chí Minh đã bí mật sang Trung Quốc để nhờ nối mối quan hệ với các nước cộng sản qua sự giới thiệu của Mao Trạch Đông. Chuyến đi này “có ý nghĩa đặc biệt, nhất là trong vấn đề Trung Quốc và Liên Xô hỗ trợ chính phủ Bắc Việt Nam phát triển chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam và chống Pháp“. (6)

Và sau khi Stalin giao cho Trung Quốc nhiệm vụ giúp đỡ Việt Nam thì bắt đầu từ đây “hệ lụy đã nằm lại sâu bền trong vô thức đảng viên cộng sản Việt Nam: vị trí đàn em, bên dưới, yên phận biết ơn đã thành nền móng cho một tư thế ứng xử với Trung Quốc. Xuân Trường cho biết Bác nhà mình chủ động khẳng định với Bác Mao quan hệ môi răng giữa Việt Nam và Trung Quốc“ và “chính Bác tự nguyện nhận mình chỉ nêu ra được có tác phong, còn tư tưởng, lý luận thì để cho Mao Chủ tịch” (7).

Sau khi đã được cộng đồng các nước XHCN công nhận và giúp đỡ vật chất, Hồ Chí Minh đã tổ chức đại hội đảng toàn quốc lần 2 và quyết định đưa đảng của ông hoạt động công khai trở lại với tên mới là đảng Lao động Việt Nam và “khởi xướng Cải cách ruộng đất nhằm xóa bỏ văn hóa phong kiến, tiêu diệt các thành phần bị xem là “bóc lột”, “phản quốc” (những người theo Pháp, chống lại đất nước), “phản động” (chống lại chính quyền) như địa chủ, Việt gian, cường hào, các đảng đối lập… để lập lại công bằng xã hội, đồng thời thiết lập nền chuyên chính vô sản nhằm tiến lên chủ nghĩa xã hội một cách nhanh chóng” (6) .

Để đẹp lòng phe XHCN, “tháng 10 năm 1952, Hồ Chí Minh đã gửi bản ‘chương trình cải cách ruộng đất của Đảng Lao động Việt Nam‘ cho Stalin để ‘đề nghị xem xét và cho chỉ dẫn‘ và cho biết chương trình hành động được lập bởi chính ông dưới sự giúp đỡ của Lưu Thiếu Kỳ“. Cuộc Cải cách ruộng đất (CCRĐ) đã diễn ra dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của Trung Quốc khiến cho Hồ Chí Minh “buộc phải thay đổi đường lối dẫn ta đến sai lầm trong cải cách rưộng đất”. (8).

Mặc dù trong CCRĐ ông không ủng hộ việc xử bắn bà Nguyễn thị Năm, nhưng do sợ mất lập trường trước cố vấn Trung Quốc nên ông nói: “Thôi, tôi theo đa số chứ tôi vẫn cứ cho là không phải”. Tuy “cứ cho là không phải” nhưng ông vẫn dành thời gian hiếm hoi đến tận nơi để theo dõi buổi đấu tố bà Cát Hanh Long để sau đó viết bài báo “Địa chủ ác ghê” với bút danh C.B. đăng trên báo Cứu quốc.

Như vậy chặng thời gian từ khi phát ngôn câu “Người Pháp nói không nên đánh vào đàn bà, dù chỉ đánh bằng một cành hoa” đến khi viết đăng bài báo này mà nhân vật bị kết tội đã từng được Hồ Chí Minh ca ngợi trước đó trong báo cáo chính trị tại đại hội đảng toàn quốc lần thứ 2 là “Những đồng bào điền chủ quyên đất ruộng cho Chính phủ” thể hiện một sự băng hoại nhân cách của con người mà đảng không tiếc lời ca tụng.

Bài báo Địa chủ ác ghê của tác giả C.B. mà sau này mọi người đều biết đó là HCM. Ảnh trên mạng

 

Ngay bản thân Hồ chí Minh đường đường là “cha già dân tộc“ nhưng vì đã chấp nhận thần phục nên cũng không được để yên: “Họ ‘sửa‘ khá nhiều nên Bác đau lòng: Bao nhiêu nhân sĩ Bác lôi kéo tranh thủ, sau đó phải gạt hết, có những người còn bị đấu tố nữa”. Để rồi con người “đại nhân, đại trí“ này đã khóc thú nhận sai lầm trước quốc dân (9).

Với sự nỗ lực vượt bậc Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo những gì ông được đào tạo ở Liên Xô (cũ) cùng kinh nghiệm những năm hoạt động ở nước ngoài vào thực tiễn ở Việt Nam và đã thành công góp phần gây ảnh hưởng CNCS ra toàn thế giới, nhưng sau khi giải phóng miền Bắc thì việc kinh bang tế thế của ông không có gì nổi trội, cũng có thể do hình thái kinh tế – xã hội mới đã kìm hãm tài năng của ông.

Nhằm khôi phục kinh tế sau khi đã giải phóng miền Bắc, Hồ Chí Minh vẫn lấy cảm hứng từ các kinh nghiệm xây dựng đất nước của Trung Quốc, khiến cho đảng lại mắc tiếp sai lầm. “Đánh thuế công thương nghiệp, cải tạo tư sản cũng là do Trung Quốc đề ra. Hậu quả là hơn một triệu người di cư vào Nam. Ta đổ tội cho Pháp, Mỹ điều đó chỉ đúng một phần nào, còn là do ta làm vội, làm ẩu, đánh tràn lan hết. Không phải địa chủ mà phú nông, thậm chí trung nông cũng bị đánh. Đảng viên nhiều người tốt cũng bị đánh. Kết quả của những chính sách cải cách lúc đó là như thế”. (8)

Theo “Giọt nước trong biển cả“ của Hoàng Văn Hoan, thì ngay sau năm 1954 theo yêu cầu của Hồ Chí Minh, Trung Quốc đã đưa người và các thiết bị kỹ thuật sang giúp Việt Nam khôi phục kinh tế sau chiến tranh, cũng như xây dựng một nền kinh tế tương đối toàn diện để làm cơ sở vật chất, thực hiện tư lực cánh sinh cũng như viện trợ các loại hàng hóa dùng để chi viện tiền tuyến và giải quyết đời sống cho nhân dân, khiến cho ông từng khẳng định: “Bác tuyệt đối tín nhiệm các cố vấn Trung Quốc”  “Tinh thần quốc tế cao cả đó và tình thân ái của nhân dân Trung Quốc đối với nhân dân Việt Nam làm chúng ta rất cảm động và biết ơn”. (10)

Trong các chuyến đi thăm Trung Quốc, Hồ Chí Minh thường thấy sự nghiệp xây dựng CNXH ở đó là tấm gương lớn để Việt Nam noi theo và học tập. Các phong trào thi đua với các điển hình tiên tiến ở Trung Quốc đã gây ấn tượng với Hồ Chí Minh và tại miền Bắc cũng nở rộ các phong trào thi đua “Gió Đại Phong, Sóng Duyên Hải”. Và khi các chiến lược của Mao nhằm bẫy những người có quan điểm trái ngược với đảng lộ mình, thì “Hồ Chí Minh dùng bút danh Trần Lực, đăng một bài trên báo Nhân dân ngày 16 tháng 9 năm 1957 với tựa đề ‘Đập tan tư tưởng hữu khuynh‘, lên án đó là tư tưởng độc hại và dễ lan tràn như cỏ dại, sau đó Phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm bị dập tắt”. (11)

Hồ Chí Minh nêu ra mục đích xây dựng xã hội mới vì “Chủ nghĩa xã hội là làm cho mọi người dân được ấm no, hạnh phúc và học hành tiến bộ” (12) và để mọi người thấy rõ con đường tất yếu của đất nước, ông còn viết các bài báo nêu lên cảnh sống khổ cực của tầng lớp dân nghèo trong chế độ tư bản với các bút danh khác nhau, trong số đó có một bài viết được ông chơi chữ với nhan đề ‘Mỹ mà không đẹp‘ (13).

Vậy trong thực tế người dân miền Bắc thời đó được sống ra sao? Dưới thời ông vào buổi tối hàng ngày tổ trưởng dân phố đến từng nhà để chủ hộ khai báo vào sổ tạm trú tạm vắng của khu vực. Đi đâu phải có giấy Thông hành và chủ nghĩa lý lịch đã gây ra sự bất bình đẳng xã hội, làm thui chột nhiều khát vọng và hoài bão đẹp của nhiều thế hệ thanh niên không nằm trong thành phần cốt cán của chế độ, mặc dù ông đã nói: “Chính phủ không để tâm moi ra những tội cũ để đem ra làm án mới làm gì” (14).

Dưới nền kinh tế kế hoạch hóa mà ông theo đuổi qua “mô hình kinh tế tự cung tự cấp ở miền Bắc, đồng thời hạ thấp vai trò của viện trợ nước ngoài mà chủ yếu đến từ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác”, cũng như bỏ ngoài tai ý kiến của các chuyên gia đề xuất Việt Nam nên tham gia vào Hội đồng Tương trợ Kinh tế của khối các nước cộng sản (15), ông đề ra khẩu hiệu: “Nhanh, nhiều, tốt, rẻ” để thúc đẩy sản xuất. Bốn tiêu chí này đứng cạnh nhau thể hiện sự mâu thuẫn của việc duy ý chí, chữ tốt đối lập với ba chữ đứng ở vế bên kia. Nền kinh tế Việt Nam lúc đó phụ thuộc phần lớn vào năng suất lao động thủ công, vậy nếu coi trọng vế này thì phải chỉnh sửa vế kia, không thể nào đáp ứng cả bốn tiêu chí trong cùng một mong muốn.

Rồi sau đó ông lại kêu gọi tinh thần yêu nước của người dân: “Mỗi người làm việc bằng hai, vì đồng bào miền Nam ruột thịt”. Mặc dù tinh thần và khí thế cách mạng cao như vậy nhưng người tiêu dùng thời gian đó bước vào cửa hàng Bách hóa Tổng hợp, cửa hàng siêu thị lớn nhất Hà Nội, nơi thể hiện bộ mặt phồn vinh của chế độ nằm ở góc phố Tràng Tiền và Hàng Bài, khó có thể mua được các mặt hàng phục vụ đời sống thiết yếu. Phần lớn những mặt hàng bày trên giá điều có kèm theo dòng chữ “HÀNG MẪU KHÔNG BÁN”, chúng được trang trí để làm giảm bớt sự trống trải hàng hóa của cửa hàng và chỉ được bán theo tiêu chuẩn phân phối và giấy giới thiệu.

Ngày nay những ai muốn hiểu rõ một phần mô hình cái thiên đường XHCN dưới thời đại Hồ Chí Minh xin hãy ghé thăm khu nhà tập thể của nhà máy Văn phòng phẩm Hồng Hà tại ngõ 190 phố Lò Đúc, Hà Nội. Nơi đây người dân bước ra khỏi cánh cửa căn phòng duy nhất của cả gia đình là được tiếp xúc ngay với môi trường cộng cộng, để mọi người có ý thức thực hành, hướng lên XHCN qua các sự chung đụng từ hành lang, khu bếp, khu vệ sinh, khu nhà tắm của mỗi tầng nhà.

Và thành quả “Đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh” của ông được thể hiện rõ nét ngắn gọn qua đoạn phim thời sự dài gần 8 phút (phút thứ 36,47- 44,09) trong chương trình Giai điệu tự hào tháng 10 năm 2019, với tiêu đề ‘Đi giữa biển vàng‘ của Đài truyền hình Việt Nam, đoạn phim được mở đầu bằng câu nói “Có một thời như thế!” và kết thúc bằng câu: “Có một thời bao cấp như vậy!” (16). Với “cái đói trường kỳ khiến mỗi suy nghĩ của một ngày chỉ xoay quanh vấn đề miếng ăn”, thì làm sao những người dân của ông với tinh thần làm chủ tập thể có thể đem hết sức mình ra để cống hiến cho chế độ được.

Sau 9 năm ông điều hành công cuộc xây dựng cơ sở vật chất cho chặng đường tiến lên CNXH, thì tại Hội nghị trung ương 9 “chuyên gia kinh tế Bùi Công Trừng đã giải thích rằng tình hình kinh tế Việt Nam DCCH là cực kỳ căng thẳng”. (15) vì vậy năm 1966 ông không còn lạc quan cách mạng được nữa, mà đã huấn thị thuộc cấp của ông: “Không sợ thiếu chỉ sợ phân chia không công bằng; Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên” (17).

Như vậy giữa không sợ và chỉ sợ có một khoảng cách lớn về trách nhiệm, nó làm cho những người ‘đầy tớ của dân‘ dù mẫn cán đến đâu cũng ưu tiên lo thi hành những gì chỉ sợ trước và những gì không sợ là nhiệm vụ thứ yếu. Vì vậy chính phủ của ông chỉ lo sao cho người dân luôn phụ thuộc kinh tế vào nhà nước bằng cách phân chia tiêu chuẩn theo chế độ tem phiếu. Do đó mới xảy ra hiện tượng ngăn sông cấm chợ, cửa quyền trong lưu thông phân phối “mua như xin, bán như cho”.

Đọc qua câu nói nêu trên của ông người ta sẽ thấy vế thứ hai có sự mâu thuẫn. Bởi đã nghèo đói thì lòng sao yên được. Nhưng trên thực tế thì hoàn toàn ngược lại. Dân đói thì dễ trị cho nên ông và đảng “không sợ nghèo” và đã thành công trong vấn đề bần cùng hóa xã hội miền Bắc thời bấy giờ và cả Việt Nam sau năm 1975 qua việc kiểm soát được từng cái dạ dày của người dân. Do nắm được nguyên lý “Vật chất quyết định ý thức” (Karl Marx) cùng với việc thắt chặt chuyên chính vô sản, Hồ Chí Minh và ban lãnh đạo đảng đã hóa giải được cái “chỉ sợ” trong vế thứ hai của câu nó đó.

Năm 1946 Hồ Chí Minh đã gửi thư cho đồng bào Nam Bộ, trong thư của ông có đoạn: Năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài. Nhưng vắn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta” và “Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hoá họ”. Như vậy, mặc nhiên ông thừa nhận một xã hội bao gồm nhiều thành phần dân chúng với các trình độ nhận thức, các tập tục và các quan điểm chính trị khác nhau. Nhưng những gì người ta thấy được rõ ràng ông không muốn trong đàn cừu mà ông chăn dắt xuất hiện những con cừu đen.

Trong phong trào Thực hiện nếp sống mới thời đó những thanh niên mặc áo kẻ ca rô, quần không ly hoặc ống tuýp, tóc dài đít vịt đã là những cái gai trong mắt nhà chức trách. Vì vậy việc dập tắt cuộc nổi dậy của người dân Quỳnh Lưu, Nghệ An năm 1956, thanh trừng các văn nghệ sĩ trong phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm, bắt giam tất cả những người liên quan đến chính quyền cũ, từ lý trưởng trở lên, trước khi xảy ra cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc và bắt giam không xét xử các nhân vật quan trọng của đảng và nhà nước trong vụ án ‘Xét lại chống Đảng‘ cũng là điều dễ hiểu.

Cũng qua vụ án Xét lại chống Đảng, người ta lại nhận thấy ông Hồ sống không có hậu. Ông biết những người đã sát cánh làm việc cùng ông trong những năm khó khăn gian khổ bị Lê Đức Thọ bắt giam nhưng ông không hề tìm hiểu và can thiệp. Trong những ngày trốn tránh Tàu Tưởng ông đã từng nghỉ tại nhà ông Vũ Đình Huỳnh, người thư ký của ông, và được gia đình này chăm sóc chu đáo. Ông biết sự việc nhưng ông im lặng. Sự im lặng của ông không chỉ gây ra sự sụp đổ niềm tin về vị thánh nhân của các đồng chí của ông, mà còn dẫn đến sự chia tay ý thức hệ cùng thần tượng của con trai ông Vũ Đình Huỳnh để rồi dẫn đến sự ra đời của cuốn hồi ký “Đêm giữa ban ngày“. Cuốn sách là sự giã từ “ảo ảnh về một chủ nghĩa cộng sản được tô vẽ như là thiên đường dưới thế” của tác giả và phơi bày những “sự biến dạng của những người cộng sản” (18).

Với mục tiêu hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và “giữ vững vị trí tiền đồn của chủ nghĩa xã hội ở Đông – Nam châu Á, ra sức góp phần tǎng cường lực lượng của phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hòa bình ở Đông – Nam á và trên thế giới” (19), Hồ Chí Minh không chỉ huy động nhân-tài-vật lực của miền Bắc với tinh thần “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” để chi viện cho miền Nam, mà khi chiến tranh lan rộng ra miền Bắc ông còn đề nghị các nước trong phe XHCN nhiệt tình giúp đỡ và giao cho một phó thủ tướng chuyên xách cặp đi xin viện trợ của các nước này. Do đó “Trong thời kỳ chống Mỹ, phần lớn vũ khí đạn dược và quân trang, quân dụng cũng do Trung Quốc cung cấp, gồm quần áo, thuốc men, y cụ và nhiều đại bác, xe tăng, thiết giáp, cao xạ, tên lửa, máy bay, tàu chiến, cùng các phụ tùng thay thế và dầu mỡ v.v… đủ trang bị cho hơn hai triệu quân đội Việt Nam và thường xuyên cung cấp đủ số đạn được và trang bị cần thiết cho việc tác chiến liên tục trên các chiến trường”. (10)

Cũng theo yêu cầu của Hồ Chí Minh, từ năm 1965 đến năm 1970, Trung Quốc “đã phái hơn ba mươi vạn bộ đội Trung Quốc gồm phòng không, công trình, đường sắt và hậu cần, mang theo toàn bộ vũ khí, trang bị, phương tiện, máy móc và vật liệu sang giúp Việt Nam” “làm cho đế quốc Mỹ không dám đưa quân trực tiếp đụng đến đất đai miền Bắc, để quân dân ta có điều kiện dốc sức vào cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam”. Cũng từ đó, do sự “tuyệt đối tín nhiệm” của ông đối với Trung Quốc, vòng kim cô Made in China đã dần dần được choàng lên đầu dân tộc Việt Nam. Yên tâm khi được chính phủ Trung Quốc chống lưng: “Bảy trăm triệu nhân dân Trung Quốc là hậu thuẫn vững mạnh của nhân dân Việt Nam, đất nước bao la của Trung Quốc là hậu phương chắc chắn của Việt Nam”.

Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi chống Mỹ cứu nước, trong đó ông viết: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!”. Qua đó ông cũng xác định nhiệm vụ cho người dân dưới quyền ông: “Vì độc lập của Tổ quốc, vì nghĩa vụ đối với các dân tộc đang chống đế quốc Mỹ, toàn dân và toàn quân ta đoàn kết một lòng, không sợ hy sinh gian khổ, kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn”. (20) Như vậy đối với ông, người dân miền Bắc chỉ là những tên lính xung kích để mở mang ảnh hưởng của chủ nghĩa ông theo đuổi và là những viên gạch lát đường cho ông bước lên đài vinh quang thành người chiến sĩ cộng sản trên trường quốc tế.

Kể cũng lạ, là một chính khách lão luyện, giỏi về lý số, tiên đoán trước cả sự vận động của thế sự mà bậc đại trí của đảng lại ngây thơ chính trị không hiểu được dã tâm “Đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng” của Trung Quốc để nhằm biến mảnh đất hình chữ S này thành vùng kinh tế mới của họ. Và cũng thật là lạ, con người từng phê phán chủ trương cầu viện Nhật để giúp đánh đuổi Pháp của Phan Bội Châu là “Đuổi hổ cửa trước, rước beo cửa sau”, đã hiện thực hóa chủ trương này bằng hình thức tương tự lại được tôn vinh thành người anh hùng giải phóng dân tộc.

Categories: Nhan dinh | Leave a comment

Mặt trái của Đảng CS Trung Quốc

Mặt trái của Đảng CS Trung Quốc

Trung Hoa 5.000 năm lịch sử với những thành tựu huy hoàng rực rỡ đã đóng góp quan trọng trong sự phát triển của văn minh nhân loại. Người Trung Hoa có quyền tự hào về 4 phát minh vĩ đại: La bàn, Thuốc súng, Giấy và Công nghệ in.

 

Quang cảnh Quân đội dọn dẹp hiện trường và tiêu thiêu hủy thi thể người chết sau vụ thảm sát ở Thiên An Môn.
(Ảnh: Vision Times)  tại Quảng Trường Thiên An Môn

Nhưng với sự ra đời củaĐảngt Công sản Trung Quốc ( ĐCSTQ) hơn 70 năm về trước, Trung Quốc ngày nay đã trở thành nơi “ươm mầm” của các loại dịch bệnh nguy hiểm, là quốc gia độc tài tàn bạo nhất thế giới và phải chịu trách nhiệm về các cuộc diệt chủng, tàn sát người nhiều nhất trong lịch sử nhân loại.

Ngày hôm nay, ĐCSTQ đã xâm nhập khắp toàn cầu. Thẳng thắn mà nói, nó diễn ra một cách có hệ thống, theo một chiến lược bài bản bởi một phần do chính sự “tốt bụng” của các đời tổng thống Mỹ trước kia.

Năm 1972, sau cú bắt tay khởi đầu tiến trình bình thường hoá quan hệ giữa hai nước Mỹ – Trung, Tổng thống Richard Nixon khi ấy tuyên bố: “Thế giới không thể an toàn cho đến khi Trung Quốc thay đổi. Để thoát khỏi sự độc hại của Mao Trạch Đông, thế giới phải mở cửa cho Trung Quốc và Trung Quốc phải mở cửa cho thế giới”.

22 năm sau, vào năm 1994, trong những ngày cuối cùng của cuộc đời, Nixon đã lo lắng không thôi về thứ chủ nghĩa cộng sản ma quỷ mà ông đã “vô tình” thả xổng nó: “Tôi sợ rằng mình đã tạo ra một con quỷ Frankenstein khi mở cửa ra thế giới cho ĐCSTQ”.

Năm 1989, khi ĐCSTQ đàn áp cuộc biểu tình ủng hộ dân chủ của sinh viên tại Quảng trường Thiên An Môn, những người dân Trung Quốc yêu chuộng tự do đã mong đợi Hoa Kỳ lên tiếng bảo vệ họ. Tiếc thay, Tổng thống George H.W. Bush (cha) đã nguyện ý lặng thinh đứng “bên lề” trong “trò chơi” tàn sát của ĐCSTQ.

Tổng thống Bill Clinton đã bỏ qua các vấn đề nhân quyền cho phép Trung Quốc gia nhập WTO. Tổng thống George W.Bush (con) đã trao cho ĐCSTQ Quy chế quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn. Brack Obama “giả vờ” kiềm chế nhẹ ĐCSTQ sau khi hacker Trung Quốc đột nhập vào Văn phòng Quản lý nhân sự của chính phủ Hoa Kỳ, đánh cắp thông tin nhạy cảm của hàng triệu người dân Mỹ. Tất cả 4 đời Tổng thống này đều giữ niềm tin “ngây thơ” rằng, thể chế độc tài này sẽ thay đổi theo thời gian.

Năm 2017, Tổng thống thứ 45 Donald Trump đã bác bỏ hoàn toàn các cách tiếp cận “mềm mỏng” trên, và coi ĐCSTQ là một trong những đối thủ xảo quyệt nhất cần phải loại bỏ, với niềm tin rằng: Bản chất ĐCSTQ không bao giờ thay đổi. Chúng chính là Tà ác.

Giống như “Đại Nhảy vọt” của Mao Trạch Đông, một chiến dịch kinh tế – xã hội “loạn trí” của ĐCSTQ (1959-1961) nhằm tái “cấu trúc” Trung Quốc từ một nền kinh tế thuần nông sang một xã hội “thuần” cộng sản với 40 triệu mạng người bị sát hại, ngày nay chủ nghĩa cộng sản toàn trị Mao-xít đang được “tái sinh” dưới thời Tập Cận Bình.

“Di sản” coronavirus của Tập Cận Bình cũng được “gây dựng” trên một núi thi thể của các nạn nhân vô tội, cùng các lời dối trá để tạo ra quyền bá chủ toàn cầu cho ĐCSTQ.

Có thể nói ĐCSTQ xâm nhập ở đâu, nó hủy diệt các giá trị nhân bản và mạng sống của con người ở đó.

Trong ảnh, bạn có thể thấy những con đường đầy xác chết trên phố Trường An. Những người khác đang giúp đỡ những người bị thương

Đối với người dân Trung Quốc, hơn 70 năm ĐCSTQ kiểm soát là chừng ấy năm họ sống trong nỗi kinh hoàng, thương tiếc và suy tư. Rốt cuộc, chế độ cộng sản toàn trị này đã tẩy não thành công dân chúng, khiến họ trở nên thụ động, sợ hãi mà không thể tự quyết định cuộc đời mình.

Dưới thời Cộng sản Trung Quốc toàn trị, điều đó có nghĩa là nó xóa bỏ lối sống tập quán của người Tây Tạng, lăng mạ đức tin của người Kitô giáo, nhục hình tàn bạo các học viên Pháp Luân Công, áp bức vô số các tôn giáo thiểu số và diệt chủng văn hóa của người Hồi giáo Duy Ngô Nhĩ… Nó thay thế Thánh giá, tượng Phật bằng biểu tượng cờ máu của ĐCSTQ, Kinh thánh bị tịch thu và tụ tập có thể bị bắt mà không cần thông báo trước.

ĐCSTQ cho  sửa đổi Hiến pháp, xóa bỏ giới hạn nhiệm kỳ lãnh đạo và đặt vào tay Tập Cận Bình quyền trượng cai trị vô thời hạn, với quyền lực vô biên như: Giam giữ tùy tiện, bỏ tù, khai thác nội tạng và có thể khiến các đối thủ chính trị, kẻ thù không cùng quan điểm “biến mất” vào hư không. Nó có quyền kiểm soát các cuộc hẹn nhân sự, ấn phẩm – báo chí, kinh tế – tài chính và can thiệp vào nội bộ từng gia đình.

ĐCSTQ tạo ra một nhà nước giám sát hà khắc nhất trong lịch sử thế giới, nơi ĐCSTQ kiểm soát tất tật những gì người dân nói, làm và suy nghĩ. Nó cài đặt các hệ thống giám sát hàng loạt để thắt chặt kiểm soát xã hội và việc không tuân thủ các lệnh đề ra có thể dẫn đến mất việc làm, nhà ở, quyền tự do và quyền được đi học.

ĐCSTQ thắt chặt kiểm soát ý thức hệ ngay từ trẻ nhỏ và bất kỳ ai đưa ra những bình luận chỉ trích Nó đều bị trừng phạt. Tất cả các chương trình giảng dạy tại trường học phải phù hợp với “tiêu chí” của ĐCSTQ và không có thứ gọi là tự do học thuật.

ĐCSTQ coi rẻ luật lệ, đứng trên luật pháp và tự tạo ra một thứ pháp luật “rừng rú” biến hóa khôn lường. Bởi hệ thống này được đặt định ra chỉ để quyết định số phận bất kỳ ai khiêu chiến với “ý chí” thống trị của Đảng: Kẻ đó sẽ bị trừng trị theo “tinh thần pháp luật” của Nó.

An ninh, mật vụ, cảnh sát, quân đội dưới sự thống trị của ĐCSTQ không có nghĩa vụ bảo vệ sự an nguy cho đất nước, cho dân chúng, mà là công cụ để bảo vệ quyền lợi của Đảng và sẵn sàng trấn áp bất cứ người dân nào không nghe theo Nó.

Sự tàn ác mà ĐCSTQ đã thực thi là các vụ giết người hàng loạt chính công dân của Nó, mà số người bị giết trong suốt hơn 70 năm cầm quyền gấp nhiều lần con số diệt chủng mà độc tài phát xít Hitler đã gây ra.

Categories: Nhan dinh | Leave a comment

Có phản chủ, phản quốc không?

Có phản chủ, phản quốc không?

Chu Mộng Long

30-7-2020

Từ điển Chính tả tiếng Việt Nguyễn Văn Khang hướng dẫn viết “Xa trường”, “Khinh xa thục lộ”, “Kiêu xa” và khuyến cáo: không viết “Sa trường”, “Khinh sa thục lộ”, “Kiêu sa”.

Hậu quả, khẩu hiệu về chủ quyền biển đảo viết: “HOÀNG XA, TRƯỜNG XA LÀ CỦA VIỆT NAM”.

Riêng “Sa”, 沙, trong Hoàng Sa, Trường Sa, gốc Hán là cát. Còn “Xa”, có hai nghĩa chính:

1) Gốc Hán là xe;

2) Thuần Việt là khoảng cách dài, lớn.

“Xa” khác nghĩa với “Sa” cho nên không có “lưỡng khả” nào ở đây. Sự thật không thể ngụy biện “lưỡng khả” nào trong cái từ điển đó, vì cũng như rất nhiều trường hợp biến sai thành đúng và đúng thành sai khác, ông Khang đề xuất thẳng thừng: “không viết” Sa, mà phải viết “đúng” là Xa. Có nghĩa là nhân danh một giáo sư, tiến sĩ ngôn ngữ học được bảo đảm bởi Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, ông Khang muốn người Việt không được viết đúng tên hai quần đảo mà nhà cầm quyền Trung Quốc tuyên bố là của họ?

GS.TS. Nguyễn Văn Khang từng tu nghiệp tiếng Trung tại Trung Quốc, lẽ nào ông không biết từ “Sa” gốc Hán nên lẫn lộn “Sa” với “Xa” như phát âm của người ngọng? Rõ ràng, cũng như nhiều trường hợp áp đặt khác, ông Khang đòi “không viết” “Sa” mà phải viết “Xa” là có chủ đích chứ không tùy tiện hay nhầm lẫn như nhiều nghĩ.

Một người viết sai sẽ kéo theo hằng trăm, rồi hàng triệu người viết sai và biến sai thành đúng, tức “sức mạnh” của một cách viết ông gọi là “biến thể tiêu chuẩn” “gây ảnh hưởng đến ngôn ngữ toàn dân” như ông Khang lý luận trong sách “Ngôn ngữ học xã hội” mà ông dạy cho nghiên cứu sinh và cao học toàn quốc. Dễ hình dung đến một ngày kia, từ vấn đề ngôn ngữ, tâm thức người Việt sẽ không còn Hoàng Sa, Trường Sa nữa mà chỉ còn Hoàng Xa, Trường Xa xa vời, không có thật!

Cái khẩu hiệu tuyên bố “HOÀNG XA, TRƯỜNG XA LÀ CỦA VIỆT NAM” (còn “HOÀNG SA, TRƯỜNG SA LÀ CỦA TRUNG QUỐC”?), không biết nhà cầm quyền Trung Quốc khi nhìn thấy có hoan hỉ về sản phẩm mà họ đã giúp nghiên cứu sinh Việt Nam tu nghiệp không?

Bình Luận từ Facebook
Categories: Nhan dinh | Leave a comment

Tiên tri đáng sợ của Stephen Hawking đang trở thành sự thật: Năm 2020 thế giới quay cuồng trong thảm hoạ

Tiên tri đáng sợ của Stephen Hawking đang trở thành sự thật: Năm 2020 thế giới quay cuồng trong thảm hoạ

Châu Yến | ĐKN 18 giờ trước 69,670 lượt xem
Dự đoán của Hawking trở thành sự thật: Năm 2020 nạn châu chấu, hỏa hoạn, dịch bệnh
Ảnh: Đại Kỷ Nguyên tổng hợp.
Từ nhiều năm trước Stephen Hawking đã dự đoán về những thảm cảnh mà nhân loại sẽ phải chịu đựng. Rất ít người tin vào điều đó cho đến lúc nó thực sự xảy ra…

Bắt đầu từ năm 2019, bức tranh thế giới đầy những gam màu tối, đầy biến động và bất ổn. Cháy rừng ở Australia trong bốn tháng, lửa cháy lan ra nhiều thành phố xung quanh, bầu trời biến thành một màu đỏ máu. Thủ đô Canberra lần đầu tiên trong suốt 17 năm phải tuyên bố tình trạng khẩn cấp. Nạn châu chấu hoành hành ở Châu Phi khiến người dân kinh hãi. Số lượng châu chấu sa mạc ở khu vực Ethiopia, Kenya và Somalia đạt đến 360 tỷ con, nhiều nhất trong 25 năm qua. Trung Đông thì giống như một thùng thuốc nổ, chạm nhẹ là phát nổ, chỉ là không biết ai sẽ là người rút dây nổ trước mà thôi. Nhiều quốc gia ở Châu Âu diễn ra bạo loạn, vấn đề di dân tị nạn trở thành nỗi đau không thể nào xóa nhòa của. Còn Châu Á thì dịch bệnh hoành hành, virus viêm phổi Vũ Hán càn quét khắp nơi, lan ra cả thế giới…

Hawking nhiều lần cảnh báo rằng nhân loại đã đi vào bờ vực của sự nguy hiểm

Thế giới đang ở trong sự biến động trước nay chưa từng có. Điều này khiến người ta không thể không nghĩ đến những dự đoán về ngày tận thế mà Stephen Hawking từng nhiều lần nhắc đến. Tuy cơ thể của Hawking phải gắn liền với chiếc xe lăn nhưng tư tưởng của ông lại chạm đến vũ trụ. Lý luận “bức xạ Hawking” nổi tiếng nhất của ông chính là liên quan đến tư duy bức xạ nhiệt của hố đen.

Ngoài những tư duy về vũ trụ, có thể nói Hawking là một trong những nhà khoa học quan tâm đến vận mệnh của nhân loại nhất. Ông từng nhiều lần cảnh báo rằng nhân loại đã đi vào bờ vực của sự nguy hiểm: “Mấy trăm năm tới, con người cần phải nghiêm túc suy nghĩ về sự tồn tại của mình. Tôi nhìn thấy được sự nguy hiểm cho vận mệnh của nhân lại. Bởi trong quá khứ đã từng nhiều lần xuất hiện những cuộc khủng hoảng sinh tồn của thế giới. Tần suất xảy ra những tình huống tương tự như vậy sẽ còn gia tăng. Chúng ta cần phải vô cùng thận trọng mới có thể tránh né những thảm hoạ này. Nhưng tôi là một người theo chủ nghĩa lạc quan. Nếu trong 200 năm tới nhân loại có thể khám phá rộng ra bên ngoài vũ trụ, mở rộng không gian của thiên thể thì chúng ta hoàn toàn có thể tránh được thảm họa”.

Ông cho rằng nhân loại phải khám phá không gian vũ trụ để có thể tìm được con đường sinh tồn duy nhất: “Để nhân loại sinh tồn, phải mở rộng ra không gian vũ trụ. Đây là chuyện rất quan trọng đối với nhân loại. Mối đe dọa sự sống trên trái đất ngày càng gia tăng, ví dụ như sự nóng lên toàn cầu, chiến tranh hạt nhân, virus biến đổi gen… thậm chí còn có những nguy hiểm mà chúng ta chưa từng biết đến”.

Mặc dù tán thành việc nhân loại khám phá không gian vũ trụ, nhưng Hawking vẫn lo ngại về việc con người tìm kiếm sự sống khác ngoài không gian: “Khi con người cố gắng thiết lập mối quan hệ với những sự sống khác ở ngoài không gian thì cần phải thật cẩn thận. Bởi chúng ta không thể chắc chắn rằng họ có thể hiện ý tốt với con người hay không. Nếu như chúng ta là sinh vật thông minh duy nhất trong hệ Ngân hà này, chúng ta nên chắc chắn rằng mình có thể sinh tồn và sống tiếp. Nhưng đối mặt với sự hạn chế về nguồn tài nguyên và sự gia tăng dân số với cấp số nhân của trái đất, thì cơ hội duy nhất để chúng ta sinh tồn lâu dài không phải là ở trên trái đất, mà làm tìm lối thoát ở không gian ngoài thiên thể”.

Hawking đưa ra nhiều dự đoán về vận mệnh của nhân loại

Trong bối cảnh khủng hoảng hiện nay, Hawking đã đưa ra rất nhiều dự đoán về vận mệnh của nhân loại:

1.     Năm 2060 con người cần phải rời khỏi trái đất.

2.     Năm 2100 con người đi vào không gian vũ trụ, xuất hiện giống người mới.

3.     Năm 2215 trái đất đối mặt với sự hủy diệt.

4.     Năm 2600 cùng với sự gia tăng dân số thế giới, tiêu thụ năng lượng gia tăng, trái đất sẽ biến thành một quả cầu lửa cháy rực.

Ảnh minh họa: Shutterstock.

Tóm lại, ý chính trong các dự đoán của Hawking là: Trái đất sẽ trở nên rất nguy hiểm, con người phải rời khỏi trái đất. Bên cạnh sự phát triển về khoa học công nghệ của nhân loại, thì sự không chắc chắn của sự sống trên trái đất trong tương lai cũng đang gia tăng. Với tình hình hiện nay, rất có thể sẽ xuất hiện một số thảm hoạ đối với trái đất và con người đã được dự đoán từ trước, bao gồm:

1. Tiểu hành tinh hủy diệt trái đất

Tiểu hành tinh va chạm trái đất là một trong bốn thảm họa xảy ra đột ngột lớn nhất của thế giới. Nghiên cứu chứng minh rằng, rất nhiều sự kiện tuyệt chủng sự sống trên trái đất trong lịch sử đều là do các thiên thể va chạm mà gây ra. NASA nói rằng trong tương lai các tiểu hành tinh có khả năng sẽ va chạm với trái đất, mỗi tuần họ đều phát hiện khoảng 30 “vật thể gần trái đất” (NEO), hiện giờ tổng cộng đã phát hiện hơn 19.000 thiên thể. Tuy nhiên NASA cảnh báo rằng ghi chép về “vật thể gần trái đất” của họ không hoàn chỉnh, điều này có nghĩa là bất cứ lúc nào cũng có thể sẽ xảy ra sự va chạm không thể đoán trước.

Năm 2014, các nhà thiên văn học sử dụng kính viễn vọng khổng lồ quan sát thấy một tiểu hành tinh bị một ngôi sao lùn trắng xé nát, và tạo thành một vòng tròn các mảnh vụn phát sáng. Hiện nay họ cho rằng ngôi sao lùn trắng này có thể đã nuốt chửng và hủy diệt ít nhất 15 hành tinh.

Ngôi sao lùn trắng này được đặt tên là “WD 1145+017”, khoảng cách giữa nó với trái đất khoảng 570 năm ánh sáng, nằm ở vị trí chòm sao Xử Nữ (Virgo), nó còn được gọi là “ngôi sao tử thần” phiên bản đời thực. Các nghiên cứu khoa học cho thấy, sau khi một hành tinh di chuyển gần sao lùn trắng, sao lùn trắng sẽ xé toạc hành tinh đó ra. Sau đó nó phải mất thời gian khoảng 1 triệu năm mới có thể hoàn toàn tiêu hủy hết các mảnh vỡ của một hành tinh. Mà trong vũ trụ rốt cuộc có tồn tại bao nhiêu “ngôi sao tử thần” giống như vậy thì giới khoa học vẫn còn chưa biết. Và liệu trái đất có bị “ngôi sao tử thần” nuốt chửng hay không vẫn đang là một câu hỏi lớn chưa lời đáp.

2. Sự bùng phát chiến tranh hạt nhân

Mặc dù con người biết rất rõ về sự nguy hại của vũ khí hạt nhân, nhưng một khi thế giới xảy ra chiến tranh, liệu có một kẻ điên rồ nào đó nhấn vào nút bấm hạt nhân hay không? Chúng ta không thể biết chắc được. Chỉ tính riêng số lượng vũ khí hạt nhân mà Mỹ đang sở hữu cũng đủ để khiến nhân loại diệt vong rồi.

3. Dịch bệnh hoành hành

Các nhân viên nghiên cứu Nam Cực phát hiện ra một loại virus chết người chưa từng có trước đây tại tầng đất đóng băng vĩnh cửu. Hiện tại trên trái đất chưa có bất cứ loài động vật nào có thể miễn dịch được với loại virus này. Cùng với sự nóng lên của trái đất, tốc độ tan chảy của các tảng băng ở Nam Cực ngày càng tăng. Các nhà khoa học Mỹ gửi thông điệp cảnh báo rằng, một khi loại virus này thức tỉnh và lây lan diện rộng, trên trái đất sẽ không có loại sinh vật nào có thể may mắn thoát nạn cả.

Loại virus chết người này không chỉ nằm ở dưới tầng đất đóng băng của Nam Cực, mà cả tầng đất đóng băng của Bắc Cực cũng không ngoại lệ. Nhân viên nghiên cứu của Mỹ và Đức phát hiện, sự hình thành một loại hồ nước được gọi là Thermokarst sẽ làm cho tầng đất đóng băng vĩnh cửu của Bắc Cực bị tan chảy đột ngột, từ đó làm tăng sự thải ra của khí nhà kính, làm trái đất nóng lên nhanh hơn.

Mà sự tan chảy tầng đất đóng băng vĩnh cửu của Bắc Cực, sẽ làm cho một số virus đã được xác nhận là biến mất (ví dụ như virus đậu mùa có quá trình sinh sôi giống Pithovirus) có thể sẽ hồi sinh trở lại. Điều này sẽ mang đến hiểm họa không thể lường trước cho nhân loại.

4. Chiến tranh sinh học

Dựa theo sự phát triển của khoa học và sự tiến bộ của công nghệ kỹ thuật gen, công nghệ kỹ thuật gen trong lĩnh vực quân đội có thể phát triển thành một loại vũ khí chủng tộc tuyệt mật. Bởi vì bất cứ hình thái nào của con người cũng đều phản ánh được gen của chính họ, vì vậy lợi dụng vũ khí gen giết người có thể đạt được mục đích hủy diệt chủng tộc.

Trường đại học Cambridge vừa công bố một báo cáo mới nhất nói rằng, vũ khí sinh học được chế tạo để nhắm vào DNA của một chủng tộc cụ thể nào đó có thể sẽ xuất hiện trong tương lai. Họ cảnh báo chính phủ của các quốc gia nên có sự chuẩn bị trước để đề phòng nguy cơ tuyệt chủng này.

Căn cứ theo nội dung báo cáo của trung tâm nghiên cứu rủi ro sinh tồn của trường đại học Cambridge, họ cho rằng những năm gần đây vì công nghệ kỹ thuật gen ngày càng phát triển nên giá thành cũng ngày càng rẻ hơn nhiều. Điều đó dẫn đến khả năng làm hại người khác nhanh hơn, nguy hiểm hơn và cũng được dân chủ hóa hơn. Trong một vài tình huống cực đoan nào đó, con người thậm chí có thể sẽ chế tạo ra vũ khí sinh học nhắm vào đặc điểm gen của một chủng tộc cụ thể.

Dựa theo ước tính của nhà khoa học y tế R.Hammerschlag nổi tiếng người Mỹ, sử dụng vũ khí chủng tộc có thời gian hiệu lực khác nhau có thể giết chết khoảng 25% đến 30% dân số của quốc gia bị tấn công. Mà trong chiến tranh hạt nhân với số lượng dân số bị tổn thất như vậy sẽ được gọi là “sự tổn thất không thể chấp nhận”, chứng tỏ quốc gia đó đã bị đánh bại. So với chiến tranh hạt nhân thì chiến tranh sinh học cũng là một vấn đề lớn mà nhân loại không thể phớt lờ.

5. Núi lửa phun trào

Núi lửa phun trào từng dẫn đến sự tuyệt chủng của giống loài, ví dụ như sự kiện tuyệt chủng của các sinh vật ở Kỷ Permi cũng là do núi lửa phun trào gây ra. Giả sử nếu bây giờ núi lửa ở vườn quốc gia Yellowstone cũng phun trào, vậy thì số lượng tro núi lửa sẽ đủ để phá hủy toàn bộ Bắc Mỹ. Siêu núi lửa trong vườn quốc gia Yellowstone từng phun trào vào 640 ngàn năm trước, số lượng vật chất được phun ra lên đến 1.000km khối.

6. Cạn kiệt nguồn năng lượng và sự bùng nổ dân số

Vấn đề cạn kiệt nguồn năng lượng và sự bùng nổ dân số có ảnh hưởng đến vận mệnh của dân loại cũng dần dần được giải quyết theo sự phát triển của khoa học công nghệ. Tuy nhiên dân số trên trái đất hiện nay đang có xu hướng gia tăng, nhưng dân số ở nhiều quốc gia phát triển đang rơi vào tình trạng bị lão hóa và tăng trưởng âm. Cũng có nghĩa là các quốc gia đang phát triển và các quốc gia kém phát triển đang sinh sản một cách điên cuồng, còn sự phát triển dân số ở các quốc gia phát triển lại đang ở trong giai đoạn đóng băng. Điều này sẽ gây ra sự mâu thuẫn rất lớn trong tương lai, vì các nhân tố chính tạo ra sự giàu có và tài nguyên cho xã hội đều bắt nguồn từ các quốc gia phát triển. Sự suy giảm dân số của họ sẽ làm tăng sự mất cân bằng cung cầu tài nguyên của toàn cầu, làm tăng mâu thuẫn của thế giới.

Nhưng điều này không phải là nguy cơ lớn nhất đối với sự phát triển của nhân loại. Những dự đoán của Hawking rất hợp lý ở một mức độ nhất định nào đó, đó chính là cảnh tỉnh nhân loại phải có ý thức nguy cơ.

Cũng như trong cuốn tiểu thuyết khoa học viễn tưởng tên là “Tam Thể” (Three Body) có nói:

“Sinh tồn vốn dĩ là một sự may mắn, trái đất ngày xưa từng như vậy, và ở khắp nơi trong vũ trụ tàn khốc ngày nay cũng đều như vậy. Nhưng không biết bắt đầu từ khi nào, con người có một ảo giác, cho rằng sinh tồn đã trở thành thứ chỉ cần thò tay ra là lấy được”.

Theo Secret China
Châu Yến biên dịch

Categories: Nhan dinh | Leave a comment

Phá dỡ đình chùa thời cách mạng văn hoá: Nhân quả chẳng bỏ sót ai

Phá dỡ đình chùa thời cách mạng văn hoá: Nhân quả chẳng bỏ sót ai

Đại Nghĩa | ĐKN 3 giờ trước 2,455 lượt xem
Quê tôi thuộc vùng đồng bằng sông Hồng. Dưới đây là câu chuyện quả báo và phúc báo đã xảy ra ở chính nơi ấy. Để tránh ảnh hưởng tới những nhân vật trong câu chuyện, tôi xin không nêu cụ thể địa chỉ và tên gọi (nhân vật đã được đổi tên).

Chuyện quả báo nhà ông Vinh

Ông Vinh có đủ cả con trai và con gái, đến nay ông đã có mấy chắt rồi. Ông bà có thể được coi là khá tốt và nhiệt tình với làng xóm, nhưng câu chuyện đại gia đình ông bị quả báo do những việc ông làm trong quá khứ khiến người ta phải cảm thán mà tiếc cho ông.

Người con trai lớn của ông từng đi công an vũ trang, nhưng sau một thời gian thì bị tâm thần. Vừa trở thành gánh nặng cho vợ con, bản thân anh cũng chịu khổ. Sự việc này đã xảy ra từ những năm đầu 1990. Sự việc đó cũng trôi đi và thời đó người ta cũng không có suy nghĩ gì về điều gọi là quả báo.

Sau đó hơn chục năm, khi 2 cháu nội của người con trai thứ hai và thứ 3 của ông Vinh lớn lên thì chúng đều rất ngỗ ngược. Cả hai đều nổi tiếng trong làng trong xã vì hay đánh nhau, rồi bắt đầu vướng thêm vào nghiện ngập. Từ đó chúng thêm chứng ăn cắp ăn trộm. Cho đến nay thì cả hai đã thường xuyên vào tù ra tội, nổi tiếng trong cả huyện.

Mặc dù các con trai và con gái của ông bà Vinh đều khá hiền lành, chịu khó và biết làm ăn. Nhưng không hiểu sao hai đưa cháu trai lại trở nên đổ đốn như vậy. Cả ông bà, bố mẹ của chúng dù đã dùng nhiều cách thức dạy dỗ nhưng kết quả vẫn càng ngày càng tệ.

Với một đại gia đình, 3 sự việc trên tưởng chừng đã là rất bất hạnh nhưng với gia đình ông bà Vinh thì chưa hết. Vào năm 2000, người con rể lấy con gái thứ hai của ông Vinh không may bị ngã giàn giáo. Anh gần như bị liệt nửa người trong hàng năm trời. Rất may sau đó anh hồi phục một phần, đến nay thì có thể di chuyển cả hai chân nhưng khá khó khăn.

Tuy nhiên sự việc bi thảm nhất trong đại gia đình ông Vinh lại xảy đến với người con rể út. Khoảng năm 2010 (tôi không hỏi lại năm chính xác), anh bị mất đột ngột khi chỉ mới gần 40 tuổi. Vợ anh là người rất hiền lành, chịu khó và cũng không đi bước nữa. Có lẽ sự việc bi thảm này là điều gây đau lòng nhất cho đại gia đình ông bà Vinh.

Sau hàng loạt vấn đề xảy đến với đại gia đình ông Vinh, dân làng tôi đã nhìn nhận rằng đó là quả báo vì những việc ông đã làm thời còn trẻ. Bản thân tôi gần đây cũng trực tiếp tìm hiểu lại từ một người bác kém ông Vinh vài tuổi. Bác cho biết thời còn trẻ, ông Vinh rất hăng hái tham gia các việc tập thể như phá đình chùa, đấu tố. Những người trong chi bộ đội sản xuất cùng ông Vinh đến giờ người thì chết sớm, người thì đi biệt tăm.

Xin nói thêm là xã tôi thì tất cả các đình chùa đều bị phá hủy trong thời Đại Cách mạng văn hóa (ĐCMVH) do chính quyền Trung Quốc truyền sang, chỉ còn một chùa duy nhất ở giữa cánh đồng. Đến nay thì tất cả các thôn thì dân làng cũng đều đóng góp xây dựng lại các chùa làng mình, còn đình thì chưa có ngôi nào được xây dựng lại.

Ảnh: Match Sùmàyà / Unsplash.

Chuyện phúc báo của nhà ông Toàn

Bản thân tôi từ nhỏ đã nghe mẹ tôi kể về chuyện ông Toàn cũng rất đặc biệt. Ông Toàn khi còn trẻ cũng tham gia công tác của đội sản xuất. Do vậy khi các sự kiện như ĐCMVH xảy ra thì ông cũng được cấp trên giao cho các việc tham gia phá hủy đình chùa. Nhưng nói như mẹ tôi là ông cụ “rất khôn” nên thường lẩn tránh không trực tiếp làm.

Gần đây, trong dịp tình cờ tôi gặp lại người con gái của ông, tôi chợt nhớ lại chuyện cũ nên hỏi thăm cô về ông cụ. Cô cho biết ông cụ đến năm 84 tuổi thì bị chẩn đoán là ung thư. Nhưng một điều kỳ lạ là ông cụ vẫn khỏe mạnh đến khi mất cũng không bị đau đớn như những người bình thường bị ung thư khác.

Về con cháu của ông cụ, cũng xin kể vắn tắt. Người con rể của ông Toàn (là chồng của cô tôi mới gặp ở trên) cách đây vài năm cũng bị bệnh ung thư não. Tưởng chừng thập tử nhất sinh, nhưng sau khi mổ thì đã dần dần hồi phục, cho đến nay đã đi làm gần như bình thường mặc dù đã ngoài 60 tuổi.

Người con trai của ông Toàn là một bác sĩ cũng khá thành đạt ở bệnh viện huyện. Mặc dù tôi nhớ người này cũng từng gặp một vướng mắc khá nghiêm trọng liên quan đến việc một bệnh nhân tử vong, nhưng sau đó sự việc cũng trôi qua êm thấm.

Người con trai thứ của ông Toàn là một y sĩ thì không được suôn sẻ về đường vợ con cho lắm, cho đến nay dù đã ngoài sáu mươi tuổi nhưng đã qua mấy đời vợ, ngoài ra cũng không có gì đặc biệt. Về người con gái lớn của ông Toàn, gia đình của cô có hai con trai và đã chuyển lên Hà Nội sống từ những năm cuối 1990. Nói chung là cho đến nay diễn biến của gia đình ông Toàn khá ổn, thậm chí dù trải qua một số nguy cơ nhưng đã có những cái kết có hậu.

Lời bàn

Quan điểm thừa nhận luật nhân quả đã tồn tại hàng ngàn năm ở phương Đông. Tuy nhiên, tại Trung Quốc từ khi đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) nắm quyền đã truyền bá chủ nghĩa vô Thần. Không chỉ tiến hành cuộc ĐCMVH long trời lở đất tại Trung Quốc, phá hủy đi tin ngưỡng vào Thần Phật mà còn cưỡng ép hoạt động này sang Việt Nam.

Trong quá trình diễn ra cuộc ĐCMVH, rất nhiều người đã trực tiếp tham gia phá hủy đình chùa, phỉ báng tín ngưỡng. Cho đến nay tại các vùng thuộc các tỉnh miền Trung và miền Bắc Việt Nam đâu đâu cũng có các câu chuyện về quả báo từ thời ĐCMVH.

Một số người nói rằng chủ trương đó là do lãnh đạo ĐCSTQ, hoặc nói chung là do những người cấp trên chỉ đạo, vậy tại sao những người trực tiếp thực hiện lại phải chịu hậu quả đáng tiếc như vậy? Kỳ thực mỗi người đều có quyền lựa chọn, cho nên khi họ lựa chọn tham gia vào những việc đáng tiếc như vậy thì hậu quả là tự mình chịu nhận.

Câu chuyện thực trên đây về hai trường hợp của ông cụ V và T ở quê tôi là hai ví dụ sống động về sự lựa chọn sai lầm và đúng đắn trong cùng một sự kiện. Một người cũng đơn giản là nghe theo cấp trên hăng hái thực hiện công việc. Một người có lẽ cũng được cha ông dạy dỗ cẩn trọng hơn nên tự mình đã có lựa chọn sáng suốt, tránh được kết cục tai ương cho bản thân và con cháu. Cho đến nay, hai câu chuyện này, đặc biệt là chuyện quả báo của đại gia đình ông cụ V luôn là lời nhắc nhở sâu sắc đối với người dân quê tôi.

Suy rộng ra từ câu chuyện ĐCMVH cũng như hàng loạt cuộc bức hại của ĐCSTQ. Cho đến nay các diễn biến không mong đợi cho chính quyền ĐCSTQ ngày càng dồn dập, có lẽ sớm đến ngày nó diệt vong. Nhưng tại Trung Quốc, vì rất nhiều người cũng trong vô minh mà hùa theo ĐCSTQ bức hại hoặc phỉ báng người khác mà không tránh khỏi bị quả báo liên lụy.

Sự vận động của xã hội luôn có quy luật, trong đó nhân quả là một trong những quy luật đã được thừa nhận phổ biến. Khi đối diện với thị phi, thiện ác, xin chúc mọi người luôn trầm tĩnh để tự mình tìm hiểu chân tướng. Đồng thời đối chiếu với các đạo lý của người xưa để có sự lựa chọn đúng đắn, đó cũng là sự lựa chọn cho tương lai.

Categories: Nhan dinh | Leave a comment

Diễn biến hòa bình và… tẩu hỏa nhập ma

Diễn biến hòa bình và… tẩu hỏa nhập ma

Blog VOA

Trân Văn

23-7-2020

Kết luận về Kỳ họp thứ 46 (từ 15/7/2020 đến 17/7/2020) mà Ủy ban Kiểm tra của Ban Chấp hành Trung ương đảng CSVN (UBKT BCH TƯ) vừa công bố: Bác khiếu nại của ông Bùi Tiến Lợi, giữ nguyên quyết định khai trừ ông ra khỏi đảng CSVN, không làm các facebooker, các youtuber trước nay vẫn “tả xung, hữu đột” để chống diễn biến… hòa bình, chống tự… chuyển hóa, tự… diễn biến, điều chỉnh… quan điểm bảo vệ đảng!

Ngoài một số facebooker như Phùng Út Hà chỉ trích quyết định có tính chung thẩm của UBKT BCH TƯ, còn có những facebooker như Trung Hiếu Chế chia buồn với ông Lợi vì bị những kẻ xấu từ đáy đến đỉnh dìm xuống bùn. Có facebooker như Vũ Trường Sơn thở dài vì ông Lợi đấu tranh bảo vệ Đảng nhưng bị đảng vùi dập. Theo đảng giờ chỉ còn quyền lợi duy nhất là khi về với tiên tổ thì được chi bộ chia buồn (1).

Ông Lợi – Thượng tá, Chủ nhiệm Bộ môn Chủ nghĩa xã hội khoa học của Khoa Khoa học xã hội và nhân văn, trường Sĩ quan Công binh – vốn là một trong những người lăn xả trên Facebook, You Tube để chống diễn biến… hòa bình. Ông là một trong những người đi đầu trong việc lên án ông Lê Mã Lương (Anh hùng các lực lượng vũ trang, Thiếu tướng, cựu Giám đốc Bảo tàng Lịch sử quân sự), ông Nguyễn Quốc Thước (Trung tướng, cựu Tư lệnh Quân khu 4, nhiều năm liền là đại biểu Quốc hội), nhiều Giáo sư – Tiến sĩ tham gia biên soạn lịch sử,… vì xét lại, xuyên tạc lịch sử, nhận giặc làm cha. Cũng vì vậy, việc ông Lợi bị Đảng ủy trường Sĩ quan Công binh loại ra khỏi Lực lượng 47 – được thành lập để đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng – của trường Sĩ quan Công binh, làm nhiều người ngạc nhiên (2).

Chuyện chưa ngừng ở đó, cả những người chỉ trích đảng lẫn những cá nhân hết lòng bảo vệ đảng, chống diễn biến… hòa bình trên Internet, cùng sửng sốt trước tin, ông Lợi bị đảng khai trừ vì đã có những bài viết, phát ngôn trên mạng xã hội trái với quan điểm, đường lối của đảng, nhà nước cách nay khoảng nửa năm và mới đây, UBKT BCH TƯ loan báo quyết định khai trừ ông Lợi ra khỏi đảng là hoàn toàn đúng đắn.

Cũng tới bây giờ, một số người thân cận và ủng hộ ông Lợi mới kể, sở dĩ ít ai biết ông Lợi đã bị đảng khai trừ cách nay khoảng nửa năm vì những quyết định liên quan đến việc khai trừ ông bị xếp vào loại… MẬT! Không những bị khai trừ khỏi đảng, ông Lợi còn bị loại ngũ và sáu tháng vừa qua bị giam lương. Đây là lý do nhiều cá nhân tích cực chống diễn biến… hòa bình trên Internet tỏ ra buồn, đau vì ông Lợi phải gánh chịu… đòn thù!

Sở dĩ ông Lợi – người luôn bày tỏ sự tin tưởng sâu sắc và trung thành với cả bác lẫn đảng – bị chính các tổ chức đảng từ dưới lên trên đồng thanh từ bỏ vì hồi giữa năm ngoái, khi thực hiện một video clip để vạch mặt những phần tử cơ hội trong đảng, toan “lật sử”, ông Lợi tuyên bố: Đừng bao giờ nghĩ rằng cứ có các dữ liệu lịch sử thì có thể ‘vơ’ đảo, lãnh hải, thềm lục địa đó là của mình… Ai đó nói rằng biển Đông, Trường Sa là của Việt Nam thì đó là tuyên truyền trái với luật pháp quốc tế (3)…

Tháng 5 vừa qua – trong khi chờ kết quả giải quyết khiếu nại từ UBKT BCH TƯ – ông phân trần, đại ý: Tuyên bố của ông chỉ… chưa hợp lòng dân chứ không trái với quan điểm, đường lối của đảng, nhà nước thật ra chỉ vì… chưa hợp lòng dân. Đó là kết quả tập huấn cho những người như ông để giảng dạy cách nay bốn, năm năm. Không đề cập đến việc bị đảng khai trừ nhưng ông Lợi lấp lửng rằng, sơ suất tiết lộ lầm đối tượng đã khiến ông lãnh mức “án” mà cả ông lẫn toàn… thế giới không thể… tưởng tượng (4)!

***

Nếu không nhận thức lại để điều chỉnh hành vi, loài người không thể tiến bộ và xã hội loài người không thể văn minh như đã biết và đang thấy. Lịch sử nhân loại cung cấp vô số ví dụ, hỗ trợ chứng minh, những thay đổi tích cực nhất, hiệu quả nhất, nhân bản nhất chính là những nỗ lực tạo ra thay đổi một cách ôn hòa. Tuy nhiên đảng ta cũng như các đảng anh em không chấp nhận nhận thức lại – phân định lại đúng, sai để thay đổi cách thức điều hành, quản trị xã hội.

Khi những khái niệm, ý tưởng vốn dĩ lành mạnh như tự… diễn biến, tự… chuyển hóa được xác lập là một loại kẻ thù mới, nỗ lực chống diễn biến… hòa bình để bảo vệ quyền lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của đảng đã tạo ra một cuộc chiến càng ngày càng khốc liệt ngay trong lòng đảng. Những tình tiết liên quan đến việc xuất bản, phát hành cuốn sách “Gạc Ma – Vòng tròn bất tử” chính là một trong những câu chuyện minh họa về hậu quả của chống diễn biến… hòa bình.

Gạc Ma – Vòng tròn bất tử” là cuốn sách đầu tiên hệ thống hóa những thông tin, dữ kiện liên quan tới chuyện Trung Quốc cưỡng đoạt các bãi đá ngầm thuộc chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa hồi đầu năm 1988, kèm tường thuật của một số nhân chứng may mắn sống sót sau cuộc thảm sát ngày 14 tháng 3 năm 1988 ở bãi đá ngầm Gạc Ma. Tuy nhiên trong vòng bốn năm (2014 – 2018), bản thảo “Gạc Ma – Vòng tròn bất tử” được chuyển lòng vòng qua… 13 nhà xuất bản. Chỉ đến khi một hội đồng cấp quốc gia được thành lập nhằm thẩm định nội dung của riêng “Gạc Ma – Vòng tròn bất tử” gật đầu, giấy phép xuất bản mới được cấp cho nhà xuất bản thứ 14 (5)!

Cho dù tham gia tổ chức nội dung, biên soạn “Gạc Ma – Vòng tròn bất tử” có hai ông tướng (Lê Mã Lương – Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Thiếu tướng, cựu Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Lê Kế Lâm – Chuẩn Đô đốc, cựu Tham mưu phó đặc trách tác chiến của Hải quân, cựu Giám đốc Học viện Hải quân), một cựu Vụ trưởng đặc trách Cơ quan Thường trực phía Nam của Ban Tuyên giáo BCH TƯ (Đào Văn Lừng), một Đại biểu Quốc hội bốn nhiệm kỳ kiêm Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam (Dương Trung Quốc), 68 nhà báo, các cựu chiến binh là nhân chứng vụ thảm sát ở Gạc Ma nhưng tất cả đều bị xem là “những kẻ đang thực hiện âm mưu xét lại lịch sử, hạ bệ thần tượng, bôi nhọ quân đội và xúc phạm vai trò lãnh đạo của Đảng”…

Trong khi giới chỉ trích đảng xem việc cho phép xuất bản – phát hành “Gạc Ma – Vòng tròn bất tử” như một tín hiệu tích cực về mặt chính trị thì một số ông tướng đã nghỉ hưu, một số cựu quân nhân xem điều này là bằng chứng dung dưỡng tự… diễn biếntự… chuyển hóa, làm suy giảm uy tín của đảng, của quân đội. Vài tuần sau khi phát hành, tháng 7 năm 2018, Nhà xuất bản Văn học loan báo thu hồi “Gạc Ma – Vòng tròn bất tử” để “chỉnh lý tám sai sót” (6). Chống diễn biến… hòa bình, bảo vệ đảng tới mức đảng phải phủ nhận năng lực của hội đồng cấp quốc gia, từng thay mặt cả hệ thống chính trị, hệ thống công quyền thẩm định nội dung, quả là… cổ lai hy – xưa nay chưa từng có!

Tương tự, không phải đột nhiên đảng đề cao “hòa hợp, hòa giải” và thực hiện nhiều động tác để củng cố, phát triển quan hệ đối tác chiến lược với Mỹ, không phải tự nhiên mà trong các năm 2014, 2015, 2019, tướng Nguyễn Quốc Thước nhận định và lập lại nhận định: Việc những người lính Việt Nam Cộng hòa kháng cự Trung Quốc cưỡng chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa năm 1974 là hành động yêu nước, vì chính nghĩa và cần được nhân dân ghi nhận (7). Tuy nhiên ngăn chặn tự… diễn biến, tự… chuyển hóa, chống diễn biến hòa bình đã giúp nhiều cá nhân thường “tả xung, hữu đột” trên Internet mạnh dạn gọi tướng Thước, 94 tuổi, vốn có rất nhiều công trạng với đảng là… thằng.

Đảng không giải thích nhưng chuỗi tình tiết liên quan đến việc kỷ luật đảng viên Bùi Tiến Lợi: Loại “đồng chí” Lợi khỏi Lực lượng 47. Khai trừ “đồng chí” Lợi khỏi đảng nhưng xếp loại MẬT. Sau đó, chính UBKT BCH TƯ giành việc loan báo công khai kết quả xét khiếu nại của “đồng chí” Lợi, dường như không khiến những cá nhân đang tích cực chống diễn biến… hòa bình sờn lòng. Tướng Thước vẫn tiếp tục bị rủa là kẻ khốn nạn đến cùng cực đã phạm đại tội khi gọi ‘giặc’ là… ‘cha’ (8).

Về nguyên tắc, đảng viên phải tuân thủ chủ trương, đường lối của đảng nhưng về nguyên tắc, đảng viên còn phải tích cực phát hiện, ngăn chặn tự… diễn biến, tự… chuyển hóa, chống diễn biến hòa bình, chống… xuyên tạc. Dường như hai yêu cầu này mâu thuẫn với nhau và trở thành lý do khiến những đảng viên như Thượng tá Bùi Tiến Lợi… chệch hướng, những cá nhân bảo vệ đảng buồn, giận khi những “đồng chí” như Thượng tá Bùi Tiến Lợi bị đảng thẳng tay loại bỏ.

Xét cả về tính chất lẫn mức độ vi phạm, ở kỳ họp vừa qua, UBKT BCH TƯ xử lý “đồng chí” Lợi tàn nhẫn hơn nhiều so với việc xem xét – kỷ luật: Trung tướng Dương Đức Hòa (cựu Ủy viên BCH TƯ, cựu Tư lệnh Quân khu 2), Thiếu tướng Phạm Lâm Hồng (cựu Bí thư Đảng ủy Bộ Tham mưu, cựu Tham mưu phó Quân khu 2), Thiếu tướng Nguyễn Hoàng (cựu Phó Bí thư Đảng ủy, cựu Tư lệnh Quân đoàn 4), Đại tá Nguyễn Trọng Lương (cựu Ủy viên BCH Đảng bộ Bộ Tham mưu, cựu Chánh Văn phòng Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4) (9)!.. Tuy nhiên trong họa có phúc, biết đâu nhờ vậy mà những cá nhân chuyên hộ đảng trên Internet ngộ ra thân phận, phân định được thật – giả.

Categories: Nhan dinh | Leave a comment

Đại hội 13: Môi trường, ngoại lực quan trọng thế nào?

Đại hội 13: Môi trường, ngoại lực quan trọng thế nào?

  • Quốc Phương
  • BBC News Tiếng Việt
Getty Images

Chụp lại hình ảnh,Bà Nguyễn Thị Kim Ngân là đương kim Chủ tịch Quốc hội

Đại hội 13 của Đảng Cộng sản Việt Nam dự kiến vào đầu năm 2021 và công cuộc đổi mới chính trị, xã hội của đất nước có thể chịu tác động ra sao từ bối cảnh bên ngoài và lực tác động từ môi trường quốc tế và khu vực là nội dung chính được các nhà quan sát chính trị, thời sự Việt Nam chia sẻ với BBC trong phần hai.

Nhưng trước hết, các ý kiến bình luận câu hỏi có thể kỳ vọng gì ở sự đổi mới của đảng Cộng sản Việt Nam ở kỳ đại hội trên, cũng như nếu đảng CSVN thực sự muốn có thực chất trong cải cách, đổi mới, hay cải tổ, thì theo cần phải ưu tiên làm những điều gì và ra sao.

Tiến sỹ Khoa học Nguyễn Quang A (nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu phản biện chính sách độc lập IDS): Chưa có mấy hy vọng vào sự thay đổi thực chất nào. Ông Phùng Hữu Phú, Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương của Đảng nói là mới: đến 2050 là nước phát triển theo định hướng XHCN cũng là một sự thừa nhận thất bại về đưa Việt Nam thành nước công nghiệp hiện đại vào 2020; nay đổi thành phát triển nhưng lại kèm cái đuôi Xã hội Chủ nghĩa thì đến 2050 họ rất dễ bảo là thành công vì cái đuôi XHCN tù mù ấy. Tất cả chỉ là một “rhetoric” hay lối nói để giữ quyền lực mà thôi.

Mưa ở Hà Nội ngày 11/6

Chụp lại hình ảnh,Mưa ở Hà Nội ngày 11/6

‘Phải đổi mới thể chế’

Nhà nghiên cứu sử học Lê Văn Sinh (Đại học Quốc gia Hà Nội): Như đã nói ở câu trên, chúng ta chưa thấy có triệu chứng gì của đổi mới. Nếu có cải cách – đổi mới – cải tổ thực chất, tôi cho rằng phải đổi mới thể chế chính trị. Lịch sử và hiện tại chỉ ra một cách không thể bác bỏ, rằng thể chế chính trị quyết định một nước trở nên cường thịnh hay nghèo đói.

Tiến sỹ Mai Thanh Sơn (Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam): Khi mà ngay cả những nhà lý luận của đảng cũng trực tiếp hay gián tiếp thừa nhận sự khủng hoảng về lý luận, tôi thực sự không kỳ vọng gì ở sự đổi mới của ĐCSVN trong đại hội XIII tới đây.

Để có được sự đổi mới toàn diện và sâu rộng, có rất nhiều việc cần làm trong giai đoạn tiếp theo, nhưng có 3 nhiệm vụ ưu tiên: thứ nhất là thay đổi nhận thức/lý luận, lấy lợi ích quốc gia/dân tộc/nhân dân làm nền tảng cơ bản; thứ hai là điều chỉnh những khuôn mẫu trong phát triển cũng như huy động sự tham gia hiện nay, nhằm có thể phát huy tối đa sự đóng góp của tất cả các thành phần kinh tế, các giai tầng xã hội, kể cả các nhà phản biện;

Và thứ ba là đánh giá lại toàn bộ các nguồn lực cho phát triển (ở tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, an ninh – quốc phòng, xã hội và văn hoá), trên cơ sở đó xây dựng các chiến lược mới, chính sách và giải pháp khả thi mới…

Nhà báo tự do Song Chi (cựu đạo diễn truyền hình): Không kỳ vọng gì. Nếu Đảng thực sự muốn có thực chất trong cải cách, đổi mới, hay cải tổ, thì trước hết phải bỏ vai trò đảng đứng trên tất cả, bao trùm tất cả, chỉ đạo tất cả kể cả chính phủ, quốc hội, tòa án, truyền thông. Phải tìm cách giới hạn quyền lực của nhà nước bằng cách nới rộng quyền tự do báo chí, để báo chí có thể góp phần phê phán những cái sai của nhà nước và nói lên nguyện vọng của người dân, nới rộng quyền cho người dân như quyền tự do ngôn luận, quyền được biểu tình, quyền được bảo vệ mình trước tòa án…

Để cho người dân lên tiếng, đảng phải bỏ đàn áp, bắt bớ, những điều luật mơ hồ và những bản án hà khắc phi nhân dành cho những người bất đồng chính kiến, những tiếng nói phản biện ôn hòa. Thêm một cách để hạn chế quyền lực của nhà nước đó là cho phép thành lập những hội đoàn, tổ chức xã hội dân sự v.v… dần dần tiến tới con đường dân chủ hóa, mô hình đa đảng.

Góc đường Hà Nội

Chụp lại hình ảnh,Góc đường Hà Nội

‘Thách thức là rất lớn’

BBC: Từ góc độ môi trường quốc tế, khu vực, công cuộc thay đổi để trở nên dân chủ, văn minh và phồn vinh hơn của Việt Nam trong đó có thể có thay đổi từ phía ĐCSVN có thể chịu tác động của nhân tố nào là chính trong thời gian tới đây, đâu là thách thức và đâu là cơ hội chính?

Nhà nghiên cứu Lê Văn Sinh: Có hai nhân tố tác động tới sự thay đổi Đảng cộng sản Việt Nam. Thứ nhất Đảng bị đẩy vào tình thế không thể không thay đổi, như hồi thập niên những năm 80 của thế kỷ trước. Nghĩa là ‘ Thay đổi hay là chết ‘. Và thứ hai, khi nước Trung Hoa cộng sản trở thành nhà nước dân chủ đúng nghĩa.

TSKH. Nguyễn Quang A: Để thay đổi theo hướng dân chủ, văn minh, phồn vinh thì chỉ dựa vào sức dân VN là chính, tận dụng mọi cơ hội quốc tế (các hiệp định CPTPP, EVFTA, khối Asean,..) để phát triển kinh tế (đây phải là việc hàng đầu) và từ từ mở cửa chính trị và quá trình này cũng tự mình là chính và tận dụng hoàn cảnh quốc tế (đáng tiếc hiện nay không thuận lợi lắm). Cái nói về tự mình là dân Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam (chứ không phải ĐCSVN) cũng như các tổ chức xã hội dân sự (chứ không mong đợi ở sự chuyển biến từ trên xuống của ĐCSVN chít ít trong 5 năm tới).

Thách thức là rất lớn: các mối quan hệ Mỹ-Trung; Mỹ-EU; Mỹ-Nhật; Mỹ-Ấn Độ, Mỹ-Asean sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam; chiến tranh lạnh mới nếu nổ ra; nếu chiến tranh nóng nổ ra v.v… và liệu Việt Nam có bị kéo vào không.

Về cơ hôi thì mặt khác của các thách thức cũng chính là cơ hội và chỉ có lãnh đạo khôn ngoan mới phát hiện ra và tận dụng để làm ba việc như tôi đã nêu ở trước. Không biết ĐCSVN có nắm bắt được cơ hội hay lại biến cơ hội thành thách thức và làm trầm trọng hơn các thách thức. Chưa làm thì sao có thể biết được.

TS. Mai Thanh Sơn: Lịch sử cho thấy, tất cả các quốc gia đang phát triển đều phụ thuộc rất lớn vào bối cảnh quốc tế cũng như khu vực. Và để có thể trở thành một đất nước dân chủ, văn minh và phồn thịnh, tất cả các quốc gia đó đều dựa vào 3 điểm tựa cơ bản: (i) nội lực, bao gồm tất cả các yếu tố kinh tế, chính trị, quốc phòng-an ninh, truyền thống lịch sử-văn hoá; (ii) hệ thống công pháp quốc tế; và (iii) các đối tác chiến lược. Trong 3 điểm tựa đó, nội lực là quan trọng nhất. Bài học đó thể hiện rất rõ qua thực tiễn lịch sử của các nước phát triển ở châu Á hiện nay như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Hoa dân quốc hay Singapore.

Trong những năm gần đây, bối cảnh thế giới cũng như khu vực đã và đang có những thay đổi chóng mặt. Sự trỗi dậy của Trung Quốc và tham vọng toàn cầu của Trung Nam Hải đã và đang trở thành vấn đề nổi cộm đối với trật tự thế giới. Tư tưởng “Đại Trung Hoa” chưa bao giờ bộc lộ rõ ràng như hiện nay. Thời cổ đại, tư tưởng Đại Trung Hoa dựa trên 3 trụ cột cơ bản: (i) chính sách ngoại giao linh hoạt; (ii) sự vượt trội về văn hóa, kỹ nghệ, và thương mại; và (iii) khuôn mẫu nhà nước quan liêu.

Ngày nay, với sự phát triển không ngừng bằng tốc độ kỷ lục trong hơn 40 năm qua, tư tưởng “Đại Trung Hoa” đã có những thay đổi và dựa trên 3 trụ cột mới: (i) sức mạnh tổng hợp, bao gồm cả kinh tế, quân sự, khoa học-kỹ thuật, và văn hóa; (ii) một nhà nước kiểm soát/toàn trị dựa trên chế độ độc đảng; và (iii) chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Đặc biệt, có lẽ ngày nay Trung Quốc là một trong số không nhiều quốc gia còn có tham vọng về lãnh thổ.

Cách thức mà Bắc Kinh đang đối xử với Việt Nam thể hiện rất rõ điều đó. Để đạt được các mục tiêu của mình, chủ nghĩa dân tộc cực đoan đã được kích hoạt và thể hiện mọi lúc, mọi nơi. Trong bối cảnh quốc tế cũng như khu vực, tham vọng của Trung Quốc có lẽ là thách thức lớn nhất. GS.TS. Phùng Hữu Phú đã không sai khi coi tham vọng của Trung Quốc là một trong những vấn đề trọng tâm mà đại hội XIII của ĐCSVN cần đặt lên bàn nghị sự.

Góc đường Hà Nội

Chụp lại hình ảnh,Góc đường Hà Nội

‘Cơ hội cũng không nhỏ’

TS. Mai Thanh Sơn: Mối quan hệ đối với Trung Quốc cũng đặt riêng ĐCSVN trước một thách thức không dễ vượt qua: làm thế nào để vừa tạo nên sự hài hoà trong quan hệ giữa hai đảng có chung ý thức hệ, vừa giữ được độc lập dân tộc để phát triển trong hoà bình? Không ai có thể trả lời được câu hỏi này, ngoài chính các nhà lý luận của đảng. Đối với phần còn lại của thế giới, ý thức hệ mà ĐCSVN đang coi là nền tảng tư tưởng cũng như mô hình nhà nước hiện nay đang là một trong những rào cản lớn nhất để có thể tận dụng sự ủng hộ tích cực hơn nữa.

Thách thức tuy lớn, nhưng cơ hội của Việt Nam cũng không phải là nhỏ. Ngay cả trong quan hệ với Trung Quốc, Việt Nam cũng có những cơ hội về thị trường, về những bài học phát triển… Dưới góc độ nào đó, tham vọng của Trung Nam Hải cũng giúp cho những người cộng sản Việt Nam hiểu rõ hơn, sâu hơn bản chất của “những người đồng chí” bên kia biên giới. Với phần còn lại của thế giới, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao cũng như kinh tế đối với hầu hết các quốc gia, các vùng lãnh thổ. Mối quan hệ đa phương, đa chiều, đa lĩnh vực giúp Việt Nam có được phần nào đó sự chia sẻ trong công cuộc giữ gìn độc lập, xây dựng và phát triển đất nước. Tuy nhiên, có thể tận dụng được tất cả các cơ hội để vượt qua thách thức hay không, phụ thuộc rất lớn vào tiến trình đổi mới nền tảng lý luận cũng như cải tổ mô hình nhà nước theo hướng dân chủ hơn.

Nhà báo, cựu đạo diễn Song Chi: Như chúng ta thấy, hiện nay Mỹ và các nước phương Tây đã nhận ra Trung Quốc sẽ không thay đổi theo hướng dân chủ hóa, ngược lại từ khi Tập Cận Bình lên thì họ Tập đã thay đổi chính sách “Thao quang dưỡng hối! (giấu mình chờ thời), tránh những đụng chạm, tránh can thiệp vào những vấn đề chung của thế giới của Đặng Tiểu Bình và hướng tới một chính sách đối ngoại thách thức sự thống trị của Mỹ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Thậm chí đến nhiệm kỳ thứ hai từ năm 2017, khi phát biểu tại đại hội đảng Trung Quốc tháng 10.2017 thì Tập Cận Bình đã công khai nói về việc Trung Quốc muốn vươn lên thành siêu cường, muốn tham dự sâu hơn vào những vấn đề quốc tế, thậm chí cạnh tranh với siêu cường Mỹ, và Tập Cận Bình còn đưa ra “Giấc mơ Trung Hoa” để thay cho “American Dream”, được thể hiện bằng các tham vọng lãnh thổ và chiến lược.

Đại dịch COVID-19 vừa qua càng khiến cho Mỹ và các nước phương Tây nhận ra bản chất dối trá, không đáng tin cậy cũng như những thiệt hại khi làm ăn với Trung Quốc, phụ thuộc vào “công xưởng xản xuất” từ Trung Quốc. Chính sách của các nước với Trung Quốc từ kinh tế cho tới chính trị chắc chắn sẽ thay đổi, mặc dù chiến tranh quân sự thì chắc sẽ không xảy ra, ít nhất trong tương lai gần.

Việt Nam cần phải tận dụng thời cơ này, về kinh tế, cải thiện môi trường kinh doanh, hệ thống pháp luật… để đón nhận xu hướng từ bỏ công xưởng Trung Quốc chuyển sang đầu tư ở nước khác của các nước. VN cũng cần phải có thái độ rõ ràng để thế giới thấy Việt Nam không phải là sân sau của Trung Quốc, không là đồng chí anh em gắn bó làm một với Trung Quốc. Về độc lập chủ quyền, Việt Nam nên nhân tính đến chuyện kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế về vụ Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam vì thời hạn 50 năm sắp hết. Và tích cực nâng cấp quân sự đề phòng cho tình huống xấu nhất.

Categories: Nhan dinh | Leave a comment

Blog at WordPress.com.