Nhan dinh

Thông điệp của Phật Đản và tự do tôn giáo ở VN

Thông điệp của Phật Đản và tự do tôn giáo ở VN

Phật giáoBản quyền hình ảnhBBC NEWS TIẾNG VIỆT
Image captionBên trong một ngôi chùa Phật giáo châu Á ở Paris, Pháp

Thông điệp chính của Phật Đản là ‘hòa bình, không chiến tranh’ cùng với ‘từ bi, hỷ xả với muôn loài’, một nhà nghiên cứu về Phật giáo từ thủ đô Paris của Pháp nói với BBC trong tháng Năm này.

Vẫn theo ‎ý kiến này, Việt Nam nhìn bề ngoài hiện có sự ‘tự do’ và ‘dễ thở hơn’ đối với vấn đề ‘tự do tôn giáo và tín ngưỡng’, nhưng xét về thực chất đó là một sự ‘tự do có điều kiện’.

Mặt khác, thách thức lớn nhất đối với cộng đồng và tăng chúng Phật giáo Việt Nam ở trong nước và hải ngoại hiện nay là nạn ‘buôn thần bán thánh’, ‘mê tín dị đoan’ và xa rời chánh pháp, ông Thành Đỗ, Trưởng ban Nghiên cứu Phật học thuộc Học viện Phật giáo Linh Sơn tại Pháp nói với BBC Tiếng Việt.

Phật pháp và những vòng tròn ở Kathmandu

Việt Nam: Chùa chiền, tiền bạc?

Chúng tôi đào tạo Phật học ở Paris như thế nào?

Phật giáo Làng Mai và cơ hội trở lại

Làm gì với Hội thánh Đức Chúa Trời?

Mở đầu cuộc trao đổi sau đây, nhà nghiên cứu này đưa ra bình luận về thông điệp của Phật đản với cộng đồng quốc tế:

“Tinh thần chính của phật đản là thông điệp hoà bình, không chiến tranh, là tình yêu thương giữa con người với nhau mà Đức Phật đã truyền dạy trong suốt 45 năm từ 2.562 năm về trước;

ông Thành ĐỗBản quyền hình ảnhBBC TIẾNG VIỆT
Image captionThông điệp chính của Phật đản là ‘Tinh thần hòa bình, không chiến tranh và từ bi, hỷ xả’, theo ông Thành Đỗ, nhà nghiên cứu tại Học viện Phật giáo Linh Sơn, Pháp

“Là tình yêu thương con người với nhau và lòng từ bi, hỷ xả với muôn loài, cũng như với thiên nhiên, để bảo tồn di sản cho nhân loại và thế hệ mai sau.”

BBC: Theo ông Việt Nam hiện nay ở trong nước có tự do tôn giáo, tín ngưỡng như thế nào, đối với riêng Phật giáo ra sao?

Ô. Thành Đỗ: Nhìn về bề ngoài thì tự do tôn giáo tại Việt Nam có dễ thở hơn, nhưng chỉ là một tự do tôn giáo có điều kiện với sự giám sát chặt chẽ của nhà cầm quyền. Những vị tu sỹ từ chối sự giám sát và tự do có điều kiện thì hoàn toàn bị khống chế và loại ra ngoài vòng của hoạt động tôn giáo.

Một tự do tôn giáo của một con chim được nuôi trong lồng, phải ăn, phải uống những gì mà người chủ cho, không làm khác hơn được. Tự do đó, nhiều vị tu sỹ chân chính đã từ chối từ mấy mươi năm nay như Hòa Thượng Thích Quảng Độ hay nhiều vị giám mục, linh mục bên Công giáo.

BBC: Liệu Phật giáo với tư cách một tôn giáo có được nhà nước cộng sản Việt Nam lâu nay ‘cưng chiều’ hơn Công giáo và các tôn giáo khác không? Hay thực sự có một sự đối xử, đối đãi bình đẳng?

Ô. Thành Đỗ: Chỉ những ai chấp nhận khuôn khổ do chủ nhân ông hướng dẫn mới được ‘cưng’, không nhất thiết là Phật giáo hay bất cứ các tôn giáo nào khác, mặc dù một số tôn giáo hay tín ngưỡng như thờ cúng cố Chủ tịch Hồ Chí Minh ở các không gian tôn giáo công cộng, hay đạo Thánh Mẫu hết sức được cưng chiều bởi chính quyền.

Phật giáoBản quyền hình ảnhBBC NEWS TIẾNG VIỆT
Image captionPhật giáo là một trong các tôn giáo bắt rễ lâu đời trong đời sống của nhiều người dân châu Á và Việt Nam, dù họ ở trong nước hay ra hải ngoại sinh sống.

Thách thức lớn nhất?

Báo cáo của Mỹ về tôn giáo VN ‘bị sai lệch’

Cựu kỹ sư quốc phòng nói về đạo Phật và Thiền

TS. Nguyễn Thị Hậu nói về Thủ Thiêm và các công trình tôn giáo

Chuyên đề: Làng Mai qua ba thập niên

BBC: Thách thức lớn nhất đối với cộng đồng tăng chúng và tín đồ, phật tử của Phật giáo Việt Nam ở trong nước và hải ngoại hiện nay là gì và tại sao?

Ô. Thành ĐỗThách thức lớn nhất và nhiệm vụ muôn đời của người Phật tử , tăng hay tục là làm sao cho chánh pháp được trường tồn.

Lịch sử dân tộc đã cho thấy rất nhiều thời kỳ mà chánh pháp bị kiếp nạn như thời Lê Ngoạ Triều róc mía trên đầu tu sỹ và làm bộ róc hụt tay cho cây dao phập xuống đầu vị sư, hay những bạo chúa đốt kinh điển và phá chùa.

Ngày nay, nhiều nơi thờ phượng tôn giáo trở thành các siêu địa điểm du lịch mà nhiều cấp chính quyền đã ‘dung túng’ để thu hút ngoại tệ và khách du lịch, kể cả khách du lịch nước ngoài, không cần tôn trọng nơi thờ phượng, đi mà nói cho hẳn hòi, không thực sự là tự do tôn giáo đúng nghĩa, cũng là một ví dụ của thách đố với Phật giáo nói riêng, các tôn giáo chân chính khác nói chung.

Ngày nay, cộng đồng Phật giáo ở Việt Nam và hải ngoại nên cùng nhau xây dựng lại văn hoá dân tộc gắn liền với lời kinh tiếng kệ, mạnh dạn tránh xa các nạn buôn thần bán thánh và các tệ nạn ấy. Đức Phật có lời dạy rằng “Khi còn có người có chánh tín thì chánh pháp sẽ còn trường tồn”, theo tôi, chúng ta chỉ hãy làm công việc duy nhất là vững niềm tin vào chánh pháp.

Phật giáoBản quyền hình ảnhBBC TIẾNG VIỆT
Image captionPhật giáo đề cao tinh thần từ bi, hỷ xả, nhiều tu sỹ, tăng ni lựa chọn cuộc sống thanh đạm, bần hàn để ‘an ủi chúng sinh khổ đau’.

BBC: Ông bình luận thế nào về một số mô hình giáo hội, tăng đoàn Phật giáo ở Việt Nam và thậm chí tại hải ngoại với các ‘siêu trung tâm’, cơ sở Phật giáo có ‘Chùa to, tượng lớn’ đang liên tục được mở rộng ‘cương vực’, cơ sở và thu hút tín đồ, phật tử ở trong và ngoài nước tới con số hàng nghìn, hàng vạn, cùng mạng lưới các trụ sở, phân viện không ngừng mở rộng khắp nơi trên thế giới?

Ô. Thành ĐỗNgày nay, ai ai cũng nhận thấy là tôn giáo Phật giáo có sự chuyển hướng mạnh, trở thành gần như những cơ sở kinh tài quy mô lớn… mô hình này sao chép từ Trung Quốc, thậm chí, thùng Phước sương (hòm Công đức) có thể do chính quyền quản lý; và tu sỹ nếu muốn, tối có thể rời chùa về sống cuộc sống gia đình.

Những cơ sở này “xuất cảng” ra hải ngoại rất nhiều tu sỹ trẻ để tạo thành một mạng lưới kinh tài toàn cầu, nhắm đến các nước giàu có để phục vụ như cầu tâm linh cho những người Việt tha phương và tận dụng tâm lý yêu mến tôn giáo, tôn trọng tín ngưỡng có nguồn gốc phương Đông của tín đồ quốc tế, hải ngoại, kể cả những người có nhu cầu được chữa trị, điều trị về tâm lý mà lẽ ra cần và có thể chỉ nên đáp ứng thông qua hệ thống y tế, sức khỏe và giáo dục, chăm sóc phi tôn giáo cũng đủ.

‘Giàu có quá mức?

Chuyên trang về Phật giáo

Chuyên trang về Tôn giáo

VN phản đối báo cáo tôn giáo của Mỹ

Mô hình đó, còn gần giống như các mô hình nhà thờ tại Âu châu nhiều thế kỷ trước, đem đến sự giàu có quá mức cho giới tu sỹ, một số nơi dường như thích sao chép mô hình của các đại chủng viện ‘có thu phí tinh vi’ của một số giáo hội ở nước ngoài điều không lạ lẫm với truyền thông, cộng đồng và các cơ quan quan thuế ở phương Tây.

Nhưng ngày nay, mặt khác, nhiều nhà thờ và cơ sở ‘kinh doanh tôn giáo tinh vi ấy’ đã và đang phải bán đi vì không còn tín đồ… các chùa Việt Nam tại hải ngoại, nếu không có sự điều chỉnh hợp lý và đúng đắn về nhận thức, rồi cũng có thể theo chân nhiều chùa chiền người Trung Hoa tại Mỹ và nhất là ở vùng San Francisco mà cách đây hơn 100 năm tại đó từng có tới hơn 200 ngôi chùa Tàu của người Hoa.

Ông Thành Đỗ, nhà nghiên cứu, nói về đào tạo Phật học tại Học viện Phật giáo Linh Sơn.

Nhiều mô hình trong số này gây quan ngại vì chúng xa lạ với Chánh pháp của Phật giáo và nhiều tôn giáo khác muốn giác ngộ con người tránh xa các dục vọng, trong đó có tham vọng về tiền tài, danh vọng, quyền lực quá đáng, cũng giống như trong tinh thần của đạo Nho Việt Nam đề cao ‘tri túc’ tức ‘biết đủ, biết vừa’ và nhất là giới tu hành cần lấy đời sống, lối sống thanh đạm là duy nhất, tránh xa phú quý, giàu sang, nổi tiếng, quyền lực, kể cả Thần quyền, Thế quyền, để an ủi chúng sinh còn nhiều người đang sống trong ‘bể khổ’, đói nghèo, bệnh tật, bất công v.v…

BBC: Ông bình luận gì thêm về hiện tượng được cho là buôn thần, bán thánh, mê tín, dị đoan được cho là gây tiêu cực và tác hại cho cộng đồng và văn hóa trong các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở các cơ sở Phật giáo Việt Nam trong nước, cũng như hải ngoại dưới nhiều hình thức? Giải pháp chính cho vấn đề này, nếu có, nên thế nào và bắt đầu từ đâu?

Ô. Thành Đỗ: Nạn buôn thần bán thánh thời nào cũng có, nhiều hay ít. Khi chánh pháp bị suy đồi thì những hiện tượng ấy trở nên lan tràn khắp nơi, từ cúng sao giải hạn, tới đến dùng máy cái, sổ lớn để đếm tiền công đức, liệt kê nhà đất, tài sản cúng dường.

Hoạt động tôn giáo đúng chánh pháp thường không chủ trương đem đến tài sản thế gian cho giới tu sỹ Phật giáo hay Công giáo, nhưng những hiện tượng mê tín dị đoan thì ngược lại, sẽ thu hút rất nhiều những người đến với tôn giáo do lòng tham lam và sự vô minh.

Giải pháp chính cho các vấn đề này vẫn là Phật pháp chân chính phải được rao giảng đến với mọi tầng lớp trong xã hội càng sớm, càng tốt, để giúp khai mở dân trí và văn hoá dân tộc, như Hòa Thượng Mẫn Giác có dạy: “Mái chùa che chở hồn dân tộc/Nếp sống muôn đời của Tổ Tông!”

Bài phỏng vấn phản ánh quan điểm riêng của người trả lời, một nhà nghiên cứu về Phật học, đang nghiên cứu và giảng dạy Phật học tại Học viện Phật giáo Linh Sơn, nam Paris, Pháp.

Advertisements
Categories: Nhan dinh | Leave a comment

Những điều người Nhật dạy chúng ta: Sống với lòng biết ơn, chờ đợi để an nhiên tự tại

Những điều người Nhật dạy chúng ta: Sống với lòng biết ơn, chờ đợi để an nhiên tự tại

Lượt Chia Sẻ

255
Nhật Bản không chỉ được thế giới biết đến là một cường quốc về kinh tế, một quốc gia văn minh, một dân tộc kỷ luật mà còn khiến cho bất kỳ ai đã từng đặt chân đến đây đều cảm thấy ấm lòng…

Luôn vì người khác trước

Ở Nhật, việc nhường cho bạn bè phần bánh to hơn, dành cho mẹ chỗ ngồi tốt hơn khi đi nhà hàng, hoặc để khách đứng vào giữa tấm hình chụp chung v.v… đều là những chuyện thường ngày. Người Nhật cũng luôn khiến bạn có cảm giác mình thật đặc biệt và được quan tâm. Nếu đi vào tiệm bánh và mua một ít wagashi, họ thường sẽ mua thêm một phần nữa để tặng cho hàng xóm hoặc bạn bè. Đó là một trong vô vàn cách để thắt chặt những mối quan hệ, bằng những hành động nhỏ mà chân thành.

Bất kỳ ai đã từng đặt chân đến đất nước mặt trời mọc đều cảm thấy ấm lòng…(Ảnh dẫn qua: tumblr)

Ở Nhật cũng không có khái niệm “Nhặt được của rơi tạm thời đút túi”. Dù làm rơi một món đồ giá trị như ví tiền hoặc điện thoại hay chỉ là một vật rất nhỏ như chiếc khăn tay, bạn đều có thể dễ dàng tìm lại được ở điểm tập trung đồ thất lạc gần nhất.

Ngoài ra, khi đến Nhật, bạn khó có cơ hội bắt taxi để đi một chuyến đường dài. Vì sao? Các bác tài sẽ tự chở bạn thẳng đến nhà ga tàu điện ngầm gần nhất, kèm lời hướng dẫn: “Hãy đi tàu điện ngầm cho rẻ”.

Osaka bỏ ra 18 tỷ USD để xây một hòn đảo nhân tạo làm sân bay để người dân không phải chịu tiếng ồn. (Ảnh dẫn qua: loffun)

Đặc biệt, nguyên tắc không gây ảnh hưởng đến người khác luôn được áp dụng triệt để tại Nhật. Tất cả đường cao tốc đều phải xây dựng hàng rào cách âm để nhà dân không bị ảnh hưởng bởi xe lưu thông trên đường. Điều này càng được thể hiện rõ khi Osaka bỏ ra 18 tỷ USD để xây một hòn đảo nhân tạo làm sân bay rộng hơn 500ha trên biển. Lý do đơn giản chỉ vì “người dân không chịu nổi tiếng ồn khi máy bay lên xuống”.

Lắng nghe và bình hòa

Xã hội Nhật Bản là một xã hội lịch thiệp và hoà nhã. Người Nhật thường nói năng nhỏ nhẹ, và bạn sẽ rất hiếm khi nghe họ than vãn, thở dài dù phải đứng xếp rất hàng lâu hay lớn tiếng cãi vã khi có chuyện bất bình. Đặc biệt, ở đất nước mặt trời mọc, bạn sẽ không bao giờ thấy nạn lạng lách, vượt ẩu; người Nhật sống rất bình thản và giỏi nhẫn nhịn. Đối với họ, chờ đợi thực sự là một cách tận hưởng trọn vẹn cách sống an nhiên tự tại.

Người Nhật sống rất bình thản và giỏi nhẫn nhịn. (Ảnh dẫn qua: wallpapersrain)

Đặc biệt, người Nhật vô cùng biết lắng nghe. Họ không bao giờ ngắt lời khi người khác đang nói cho dù ý kiến đó có thể trái ngược hoàn toàn với quan điểm của họ. Họ sẽ luôn để đối phương nói hết rồi mới đưa ra ý kiến và cùng nhau chia sẻ, thảo luận. Họ có thể tranh luận mà không tranh cãi; họ có thể vẫn giữ ý kiến của mình mà không bao giờ phản bác ý kiến của người khác. Làm được điều này là bởi từ trong sâu thẳm mỗi con người Nhật Bản, tôn trọng sự khác biệt là một phẩm giá không thể thiếu trong cuộc đời.

Bình đẳng là một văn hóa

Ở Nhật, mọi đứa trẻ đều được dạy về sự bình đẳng ngay từ nhỏ. Bằng chứng là mọi trẻ em đều được khuyến khích đi bộ đến trường, nếu nhà xa thì xe đưa đón của trường là chọn lựa duy nhất, bởi các trường không chấp nhận cho phụ huynh đưa con đến trường bằng xe hơi. Điều này là không ngoại lệ với bất kỳ ai, kể cả công chúa.

Công chúa Aiko đi bộ đến trường như các bạn. (Ảnh dẫn qua: langnhincuocsong)

Ngoài ra, khi đến Nhật bạn cũng sẽ không nhận ra khoảng cách địa vị qua trang phục họ mặc. Người ta mặc đồng phục vest đen từ người quét đường đến tất cả nhân viên, quan chức… Những ngày tuyết phủ trắng nước Nhật, từ trên cao nhìn xuống, những công dân Nhật như những chấm đen nhỏ di chuyển nhanh trên đường. Tất cả họ, có thể giàu nghèo khác nhau, nhưng đều chung ý chí, chung tinh thần lao động.

Sự bình đẳng còn thể hiện trong văn hóa xếp hàng vốn đã thấm đẫm vào nếp sinh hoạt hàng ngày của người Nhật. Sẽ chẳng có gì ngạc nhiên nếu một ngày bạn thấy người xếp hàng ngay sau lưng mình chính là Thủ tướng.

Nội trợ cũng là một nghề

Ở Nhật Bản, hàng tháng Chính phủ tự trích lương của chồng đóng thuế cho vợ. Do đó, người phụ nữ ở nhà làm nội trợ vẫn được hưởng các tiêu chuẩn giống như một người đi làm. Về già, họ vẫn hưởng đầy đủ lương hưu.

Vai trò của người phụ nữ trong gia đình luôn được đề cao, tôn trọng. (Ảnh dẫn qua: kyna)

Độc đáo hơn nữa, nhiều công ty đã áp dụng chính sách lương của chồng sẽ được chuyển vào thẳng tài khoản của vợ. Vai trò của người phụ nữ trong gia đình vì thế luôn được đề cao, tôn trọng.

Sống với lòng biết ơn

Đối với người Nhật, “cảm ơn” không chỉ là một câu nói xã giao lịch sự bình thường, đó là sự trân trọng và biết ơn thật sự đối với những hành động dù là nhỏ nhất. Hãy tưởng tượng, bạn gặp lại người hàng xóm cũ sau một thời gian dài không liên lạc, cô ấy cười rất vui vẻ với bạn và nói: “Ôi, thực sự cảm ơn bạn vì năm ngoái đã giúp tôi chuyển nhà”. Cảm giác thật dễ chịu phải không? Người Nhật luôn thật lòng biết ơn và ghi nhớ điều đó.

“Cảm ơn” không chỉ là một câu nói xã giao bình thường, đó là sự trân trọng và biết ơn thật sự đối với những hành động dù là nhỏ nhất. (Ảnh dẫn qua: 24h)

Ở Nhật Bản, bạn cũng sẽ học được rằng, không chỉ nhận ân huệ từ người khác dành cho mình, mà cần phải đáp lại ân huệ đó. Hồi đáp lại ân huệ là yếu tố quan trọng để xây dựng những mối quan hệ tốt đẹp ở nơi đây. Ví dụ, nếu ai đó giúp bạn di chuyển chiếc ghế sofa mới vào nhà, bạn có thể chỉ cần mời họ một ly nước giải khát để thể hiện lòng biết ơn của mình.

Người Nhật luôn cảm ơn đã dành cho họ cơ hội được sống… (Ảnh dẫn qua: Pinterest)

Văn hóa sống biết ơn của người Nhật đã được dạy từ khi còn rất nhỏ, thấm đẫm trong sâu thẳm mỗi sinh mệnh, để ngay cả khi những thiên tai khủng khiếp ập đến, họ vẫn chấp nhận như đó là một quy luật bình thường của tạo hóa. Và hôm nay, trong những người sống sót, người Nhật luôn cảm ơn đã dành cho họ cơ hội được sống…

https://video.dkn.tv/embed.php?vid=616d9015b

Linh An

Xem thêm:

Categories: Nhan dinh | Leave a comment

Kỳ thực, tính cách thể hiện trên khuôn mặt của bạn

Kỳ thực, tính cách thể hiện trên khuôn mặt của bạn

“Xinh đẹp” không phải là tướng mạo sinh ra đã có, mà là tướng tại tâm sinh. Tướng mạo này cũng đang dự báo vận mệnh trong tương lai.

1. Phần đời còn lại hãy ở cùng người có “dung mạo đẹp”

Xinh đẹp là một kiểu phúc báo. Bất kỳ phúc báo nào cũng đều có nguyên nhân tất yếu của nó, giống như của cải đến từ sự bố thí, vẻ tôn quý đến từ sự khiêm nhường vậy. Một dung nhan xinh đẹp đến từ tính cách nhu mì, thiện lương.

Xinh đẹp là một kiểu phúc báo

Con người khi bước tới độ tuổi trung niên sẽ thể hiện ra những tướng mặt do ảnh hưởng từ tính cách của mình. Những người khoan dung, nhân hậu thường có một khuôn mặt phúc hậu. Người có tính cách nhu mì thường có khuôn mặt xinh đẹp, dịu dàng. Những người vô cùng thô bạo thường có tướng mặt hung ác. Rất nhiều phụ nữ trung niên có phẩm chất không tốt lắm thường có một khuôn mặt hà khắc. Đây chính là điều mọi người thường gọi là tướng bạc mệnh, tướng khắc phu.

Kỳ thực, tướng mạo không phải là thứ bẩm sinh. Nó là phản chiếu sự tu dưỡng trong hành vi và tâm tính của một người trong suốt một thời gian dài. Những tướng mạo này cũng thường tiết lộ vận mệnh trong tương lai của người ấy.

Vậy tướng mạo thời thơ ấu, thuở thiếu thời và thời son trẻ là do điều gì quyết định?

Đặc trưng dung mạo của một người có liên quan tới gen di truyền, liên quan tới khí chất tiên thiên từ khuôn mặt, vóc dáng và những nét tính cách của cha mẹ họ.

Tuy nhiên, nửa quãng thời gian đầu đời của một người sẽ sống trong cái bóng của kiếp trước. Nửa đời sau lại sống trong cái bóng của nửa phần đời đã qua trong kiếp này.

Vậy nên mới nói, khi con người tới tuổi trung niên thì cần có trách nhiệm với khuôn mặt của chính mình.

Nếu muốn có một dung mạo xinh đẹp thì trước tiên cần phải có một tâm hồn đẹp. (Ảnh: Pexels)

Người có tâm từ bi có sức cuốn hút mạnh mẽ với người khác

Những người có lòng nhân ái thì từ trong nội tâm tới ngoại hình của họ đều tỏa ra một vầng sáng khác người. Điều này khiến con người càng nhìn càng cảm thấy thuận mắt, càng thêm yêu mến và muốn tiếp xúc với họ.

Ngược lại những người ích kỷ, giảo hoạt và hay so đo, tính toán thì nhìn không ưng mắt, thậm chí là xấu xí. Dẫu cho họ may mắn có được một dung mạo xinh đẹp thì cũng sẽ dần lộ ra những điểm khiến người khác không thích, giống như khuôn mặt không có hòa khí. Có thể ban đầu nhìn họ thấy thuận mắt, nhưng tiếp xúc nhiều hơn một chút thì lại không còn chút sức hấp dẫn.

Xin hãy tin rằng tướng mạo có thể dần thay đổi. Đặc biệt là một dung mạo đẹp bắt nguồn từ sự cuốn hút trong sâu thẳm nội tâm, khiến những người gặp gỡ bất giác sinh lòng mến mộ. Vậy nên muốn mình xinh đẹp thì trước tiên bạn cần tu dưỡng để có một tâm hồn đẹp.

2. Phần đời còn lại hãy chung sống với ‘những người có thể khiến bạn mỉm cười’

Trên đời có hàng nghìn hàng vạn con người. Nhưng những người có thể khiến bạn mỉm cười lại chẳng có mấy ai. Có người sinh ra đã vô vị, nhạt nhẽo, cũng có người luôn biết cách mang lại niềm vui cho người khác.

Những người khiến bạn có thể cười mới là người yêu bạn sâu sắc nhất, mới là người dành riêng cho bạn. Người có thể khiến bạn mỉm cười là người quan tâm tới bạn nhiều nhất.

Phần đời còn lại hãy chung sống với “những người có thể khiến bạn mỉm cười”. (Ảnh PEXELS)

Nếu hai người ở cùng nhau mà nước mắt lại nhiều hơn nụ cười, thì người đó chắc chắn không quan tâm tới bạn. Quan tâm chính là không nỡ làm bạn tổn thương, mà chỉ muốn yêu bạn nhiều hơn.

Người có thể khiến bạn mỉm cười chắc chắn là người thấu hiểu bạn. Họ biết bạn thích gì, ghét gì, biết cách nhận biết tâm tư của bạn, để tâm tới cảm nhận của bạn, đón đầu sở thích và tâm trạng của bạn một cách phù hợp.

Người có thể khiến bạn cười chắc chắn là người quan tâm tới bạn. Kỳ thực, một người có thể khiến bạn vui đã là quá đủ rồi. Sở dĩ họ phải dốc tâm dốc sức làm bạn vui, chính là vì họ quan tâm tới bạn, trân trọng bạn.

Có thể mỉm cười thì tình cảm mới bền lâu, ngày tháng mới có hy vọng.

Người có thể khiến bạn mỉm cười mới là người xứng đáng kết giao nhất

Người khiến bạn có thể mỉm cười mới đáng kết giao, kiếp nhân sinh thú vị mới đáng sống.

Một người có thể khiến bạn mỉm cười có lẽ không phải là người giàu có nhất, có quyền lực nhất hay có học vấn nhất bên cạnh bạn, nhưng lại là người đáng quý nhất đối với bạn.

Người như vậy thường thì rất thú vị, chỉ cần một đôi lời đã có thể khiến cả bầu không khí bừng sáng. Người như vậy rất giỏi tìm thấy những điểm sáng trong cuộc sống bình dị.

Thái độ sống giữa con người với con người cũng có thể lan truyền tới nhau. Hãy ở cùng những người có thể khiến bạn mỉm cười, bạn cũng sẽ trở nên lạc quan và yêu đời hơn.

Người có thể khiến bạn cười mới xứng là người đáng kết giao nhất. (Ảnh: PEXELS)

Trên đời này lớp da người xinh đẹp thì rất nhiều, nhưng tâm hồn thú vị thì lại không có mấy. Nếu gặp được một người vừa thú vị lại muốn chia sẻ sự thú vị này với người khác, thì nhất định phải trân quý họ.

Trong phần đời còn lại của mình, bạn hãy ở bên họ, cùng mỉm cười với họ. Sự quý giá của cuộc sống nằm ở niềm vui. Dẫu cuộc sống quá đỗi bình thường cũng hãy cứ mỉm cười khi đối diện với nó.

Theo Soundofhope
Minh Nguyệt 

Xem thêm:

Categories: Nhan dinh | Leave a comment

Sự giống nhau giữa cách mạng văn hóa TQ và Đức quốc xã

Sự giống nhau giữa cách mạng văn hóa TQ và Đức quốc xã

Gần đây, một số người Trung Quốc sống ở hải ngoại chịu sự thúc đẩy trong kế hoạch tuyên truyền của ĐCSTQ, đã lấy hình thức “Hồng Ca hội” để ca tụng Mao Trạch Đông. Truyền thông hải ngoại cho rằng điều này giống như đang ca tụng cho cái ác.

Đại Cách mạng Văn hóa do Mao Trạch Đông khởi xướng và Đức Quốc xã bản chất là giống nhau

Ngày 9/10, đài phát thanh của Pháp đã công bố một bài viết, chỉ rằng ở các quốc gia dân chủ đều có pháp lệnh rõ ràng ngăn cấm ca tụng Hitler và Đức Quốc xã. Tuy nhiên, vì sự che đậy và dối gạt của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ), rất nhiều người dân ở những quốc gia văn minh khác vốn không biết rõ về phong trào Đại Cách mạng Văn hóa do Mao Trạch Đông phát động, trên thực tế là giống hệt như vận động Na-zi của Hitler, đã phạm phải tội ác chống lại loài người.

Bài viết đã đăng dẫn lại lời nói của ông Triệu Việt Thắng, tác giả một chuyên mục của đài phát thanh nước Pháp: “Những người ở hải ngoại vẫn còn muốn hát Hồng Ca ca tụng Mao Trạch Đông, như vậy liệu còn sót lại một chút nhân tính và lương tri hay không? Tạo sao đã biết rõ vô số người đã chết thảm trong thời Đại Cách mạng Văn hóa do Mao Trạch Đông phát động mà không một chút động lòng, trái lại còn đi ca tụng kẻ giết người?”.

Ông Triệu Việt Thắng cho rằng, chỉ cần là người có lương tâm nhớ lại những tội ác đó, văn hóa màu đỏ sẽ hoàn toàn không còn sức mạnh mê hoặc lòng người nữa.

Tối 8/10, đoàn thể thân ĐCSTQ trình diễn đêm nhạc Hồng Ca kỷ niệm tròn 80 năm trường chinh của Hồng quân ĐCSTQ ở thành phố San Gabriel, khu tập trung người Hoa ở Los Angeles, Hoa Kỳ. Nhưng diễn xuất đã gặp phải sự phản đối của các nhân sĩ dân chủ Trung Quốc ở địa phương.

Tối 4/10, hội nghị San Gabriel đã cử hành thu thập ý kiến, những người Hoa tham gia hội thu thập ý kiến về việc tổ chức “Liên hoan đêm ca múa quy mô kỷ niệm tròn 80 năm trường chinh thắng lợi của Hồng quân” ở “kịch viện truyền đạo”, ngoài đại biểu của đoàn thể người đứng ra tổ chức liên hoan đêm ra, có trên 90% người phản đối cử hành đêm liên hoa ca múa Hồng Ca này.

Mao Trạch Đông, hitlerz, cách mạng văn hóa,

Dân chúng ở Los Angeles phản đối đoàn thể thân ĐCSTQ biểu diễn hội Hồng Ca.

Được biết, nhà hát kịch này thông thường tiền thuê là 10.000 USD, theo quy định, diễn xuất này không bán vé, vậy nên có quyền nhận được ưu đãi cắt giảm 2.380 USD của các tổ chức phi lợi nhuận. Nhưng mà, hội thu thập ý kiến cuối cùng quyết định, không cắt giảm tiền thuê phi lợi nhuận của sân khấu.

Còn về yêu cầu hủy bỏ diễn xuất mà người Hoa địa phương đề xuất, Anna Cross, chủ quản của rạp hát San Gabriel khi tiếp nhận sự phỏng vấn của giới truyền thông cho biết, nhà hát cần phải duy hộ quyền tự do ngôn luận theo quy định của Hiến pháp nước Mỹ, không thể phân biệt đối xử với bất cứ đoàn thể nào đến thuê sân bãi.

Từ ngày 1 đến 5/10, Hồng Kông trình diễn kịch Quảng Đông “Mao Trạch Đông” cũng đã dấy lên không ít tranh luận. “Đài phát thanh Á Châu Tự Do” đưa tin rằng, những tác phẩm lấy Mao Trạch Đông làm chủ đề, khiến cho người dân thành phố nghi ngờ đoàn hát kịch nịnh bợ chính quyền Trung Quốc.

Một nhân viên truyền thông cảm thấy lo lắng về điều này, Mao Trạch Đông là tội nhân lịch sử, thậm chí có thể nói là tội nhân thiên cổ, ông lo lắng văn hóa “ca tụng màu đỏ” của Trung Quốc sẽ dần lan sang Hồng Kông:

“Một đời của Mao Trạch Đông chất đầy tội ác, bạo lực cách mạng và đấu tranh giai cấp do ông ta lãnh đạo đã mang đến thảm kịch to lớn cho Trung Quốc, chúng tôi thấy rất phản cảm đối với những thứ này, rất nhiều đoàn thể thường làm một số diễn xuất màu đỏ, chúng tôi không biết bối cảnh của họ là gì, loại văn hóa này thẩm thấu trên mọi phương diện”.

Tháng 9/2016, Hoa kiều ở Úc nguyên định tổ chức hai chương trình đêm nhạc Hồng Ca ở Úc, nhưng dưới sự phản kháng mạnh mẽ của dân chúng Úc châu, hai lần diễn xuất này đều bị hủy bỏ.

Truyền thông Úc châu trước đó đã dẫn thuật lời của giáo sư Phùng Sùng Nghĩa, chuyên gia nghiên cứu vấn đề Trung Quốc của trường đại học khoa học kỹ thuật Sydney bày tỏ, tổ chức một trường hoạt động ca tụng Mao Trạch Đông đã động chạm đến nỗi đau của không ít người Hoa ở Úc, rất nhiều người trong số họ gia đình người thân đều đã từng bị bức hại trong thời Đại Cách mạng Văn hóa và Đại Nhảy Vọt.

Categories: Nhan dinh | Leave a comment

ĐÙA CHƠI VỚI “BÓNG MA”!

ĐÙA CHƠI VỚI “BÓNG MA”! Nguyễn Thị Bảo Pháp


ĐÙA CHƠI VỚI “BÓNG MA”!

Nguyễn Thị Bảo Pháp


Gởi Anh chàng: ThaimaTung@gmail.com.

Thực tình thì lão nương này không biết anh là ai, nhưng vì anh đã tự xưng mình là người tín đồ PGHH, nên lão có thể xem anh như là một bóng ma, như là một ảo ảnh, bởi không một người tín đồ PGHH nào lại có những ý tưởng quái đản như anh vậy. Lão nương ta không phải là người hay sợ ma, nên phải hô toáng lên khi có một bóng dáng ẩn hiện nào đó mưu toan hù doạ! Nhưng Lão nương ta cũng thể nào dửng dưng trước các thái độ lộng hành quái quỷ, của bất kỳ ai muốn phá vỡ sự yên bình của những người tu tập, muốn kích động sự rẽ chia, từ khối đoàn kết gắn bó keo sơn, trong cộng đồng PGHH!

Lão nương ta cũng có lúc tự hỏi mình như thế, những điều phân bua của các đồng đạo có xúc phạm đến ngài Đại Đức Thích Phước Tiến không? Nhưng đó là những điều tự hỏi của người biết tu tập, của người biết uốn lưỡi bảy lần trước khi nói, chứ mình không thể lấy ngay ý tưởng ấy để làm tiêu đề cho một bài viết được, cho dù nó là một bức thư “THÂN GỞI CÁC TÍN HỮU PGHH VỀ VIỆC XÚC PHẠM THÍCH PHƯỚC TIẾN”. Với cái tựa đề như thế,ngụ ý của anh Ma Tung muốn nói cái gì, nếu không ngoài ý là khi không anh em tín hữu PGHH xúc phạm đến Thích Phước Tiến? Anh cũng biết, không dưng thì ai xúc phạm đến mình, phải có một cái gì ấy tuỳ vào mức độ nặng nhẹ mà sanh ra sự phản kháng nhẹ nặng khác nhau, quả bóng không tự dưng nẩy lên được mà phải có một sự tác động nào đó chứ? Đúng ra anh Ma Tung phải ghi cho đúng đề tựa là: “THÂN GỞI CÁC TÍN HỮU PGHH VỀ VIỆC THÍCH PHƯỚC TIẾN XÚC PHẠM” mới là đúng, mới là khách quan!

Lão nương ta, không bênh vực cho ai mà chỉ muốn nêu lên cái lợi ích chung cho những người đang tu tập thấy, còn thực hành hay không thì tuỳ!

Trong phần biện giải 1 của anh Ma Tung nói rằng: “Nhà sư kia khẳng định đạo Hòa Hảo(?) không phải Phật giáo. Nhất là Phật giáo Việt Nam ”! Thường thì, khi mình mở lời can gián ai đó là một điều tốt, nhưng lời ấy phải là lời chân chính, chứ không phải là lời sai trái và nó không hề mang theo một dụng tâm nguỵ biện nào. Lời đúc kết lại của anh Ma Tung là sai trật, bởi Thích Phước Tiến không nói như vậy. Mở đầu Thích 2aPhước Tiến nói:“Xin thưa các vị Hòa Hảo là chuyện của a Hảo, Phật giáo là chuyện của Phật giáo…” Điều này thì Thích Phước Tiến nói đúng trên tinh thần của kẻ bàng quang, nước sông không phạm nước giếng, nhưng lại không đúng với tinh thần của Như Lai, bởi một vị hoá chúng, phải ngồi toà Như Lai, mặc áo Như Lai, một khi đã ngồi toà Như Lai, đã mặc áo Như Lai thì tất cả mọi chúng sanh đều như nhau, không phân biệt áo bà ba hay áo cà sa, pháp vốn là vô pháp.Chẳng phải trước lúc nhập diệt Như Lai đã từng dạy: Pháp pháp bổn vô pháp, Vô pháp pháp, diệt pháp. Kim phú vô pháp thời, Pháp pháp hà tằng pháp. Đó hay sao? Cho nên một nhà sư đi hoằng pháp mà dạy chúng như Thích Phước Tiến là không đúng với tư cách sứ giả của Như Lai! Tại sao PGHH lại không liên quan gì đến Phật giáo? Thích Phước Tiến và Ma Tung nên nhớ Phật giáo mà mọi người thường nói và luôn gắn liền trước hai chữ Hoà Hảo là Tôn chỉ, là tinh tuý, là cốt lõi của một nền giáo pháp xuất hiện cách đây gần 3000 năm trên đất nước Ấn Độ…Phật giáo liền trước hai chữ a Hảo không phải lấy từ danh xưng của Phật giáo Việt Nam, vì vậy không ai có quyền phê phán PGHH có liên hệ hay không đối với Phật giáo Việt Nam!

Đã vậy, Thích Phước Tiến còn kết luận: “… Vì vậy,đây là vấn đề gọi những tôn giáo có mặt trong giai đoạn của thế kỷ 20 trên Việt Nam, chớ không mang cái nghĩa của một giáo chủ nào trên thế giới của những người như Đức Phật, hay là các vị như Khổng Tử hay thậm chí kể cả Thiên Chúa… thì ở đây họ không có được những cái điều mang tính cách lịch sử như vậy, mà điều đây là do một người nào đó đứng ra tổ chức và tập hợp lại những cái gì trước đó cảm thấy có lợi ích, có ý nghĩa… họ bổ xung vào trong họ. Nó thuộc về cái dạng tổng hợp để trở nên cái mới trong chính họ mà thôi. Thật sự nói mới mà không mới gì cả. Bởi vì cái đó qua quá trình truyền thống, qua tín ngưỡng,qua học thuyết…nó đã có trải dài hàng ngàn năm rồi, họ là những cái tập hợp nhất thời trong một cái để rồi gắn một cái tên mới mà thôi.A Di Đà Phật…”.Nhắc lại lời giáo chúng của Thích phước Tiến, xin hỏi anh Ma Tung;người pháp sư này đang dạy hàng Phật tử điều gì vậy? Nếu không phải là những điều kỳ thị và mạc thị! Tại sao không mang cái nghĩa của một giáo chủ nào trên thế giới? tất cả những người tín đồ PGHH, kể cả anh nữa Ma Tung (nếu thật sự anh là người tín đồ PGHH) đều xem mình là đệ tử trung thành của Đức Phật Thích Ca! Bất luận anh đang ở vị thế nào, uy quyền anh bao lớn, trên cả hai mặt lý, tình thì quan điểm ấy của người PGHH đều không sai; bởi vì Đức Phật là bậc y vương, pháp phật là phương thuốc cấp phát miễn phí (pháp thí) cho mọi chúng sanh, kẻ nào ý thức được mình lâm bệnh đều được quyền dùng các phương trị liệu ấy, mà không một ai cho dù anh có là pháp sư cũng không có quyền ngăn cấm! Nếu người dùng thuốc cảm thấy có thuyên giảm và quyết định theo người thầy ấy, thì ai là người có quyền cho là phải với không phải! Bởi vì Đức Phật cũng là bậc Đạo Sư, chính Đức Phật đã nói những lời sau cùng trước khi nhập Niết Bàn: “Này Ananda, có Niết Bàn, có con đường đưa tới Niết Bàn, có Như Lai là người chỉ đường. Nhưng trong các đệ tử được nghe Như Lai thuyết giảng chỉ một số chứng đắc cứu cánh, một số khác thì không! Như Lai không làm gì hơn được! Như Lai chỉ là người chỉ đường…” Đức Phật không hề phân biệt những ai mới có quyền đi theo con đường của Ngài đã chỉ,vậy, nếu có ai đó có những động thái ngăn cấm, phân biệt là không đúng với yếu chỉ của Thế Tôn. Vả lại, nếu Ma Tung anh là người tín đồ PGHH thì anh cũng từng nghe và hiểu biết là Đức Huỳnh Giáo Chủ từng khẳng định:
Ta là kẻ vô hình hữu ảnh,
Ẩn xác phàm gìn đạo Thích Ca.

Hay là:
Môn Tịnh Độ là phương cứu cánh,
Rán phụng hành kẻo phụ Phật xưa.

Phật xưa là ai vậy Ma Tung? Phật xưa là Đức Phật chỉ có ba y, một bình bát, không có tài khoản trong ngân hàng… người PGHH luôn luôn tự hào được phụng hành ông Phật xưa, ngày nay hình như không còn ông Phật xưa ấy nữa, nên có lẽ Thích Phước Tiến khỏi sợ mất phần, khỏi phải sân si khinh bạc. Lão nương này chỉ nói tới những điều mà chúng ta sờ đụng được, chứ chưa nói đến những điều thiêng liêng huyền nhiệm khác, vì lão nương ta có nói thì Ma Tung anh chưa chắc tin và hiểu được!

Trong phần biện giải 2, Ma Tung anh nhắc đến khái niệm cách dùng từ tĩnh lược trong văn nói, thì Ma tung anh chỉ nói đúng một phần nhỏ mà thôi; khi nói người ta không thể tĩnh lược nhiều vấn đề không thể tĩnh lược trong một thời điểm nào đó; như trước 1975 anh không thể tĩnh lược danh xưng Việt Nam để chỉ cho những người đang sinh sống trên dãi đất hình chữ S được, mà phải gọi cho chính danh là Việt Nam Cộng Hoà hay Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Anh cũng không thể tĩnh lược danh xưng Phật giáo để chỉ cho những người tu tập theo cùng giáo pháp của Đức Phật ở cõi thế gian nầy mà phải phân định là Phật Giáo Việt Nam, Phật giáo Nhật Bản, Phật Giáo Trung Hoa… hay phải nói cho đúng là Phật giáo Nam Tông hay Phật giáo Bắc Tông. Riêng danh xưng Phật Giáo a Hảo là một danh xưng vừa mang tính truyền thống, vừa mang tính pháp nhân nên không thể giản lược tách rời Phật giáo ra khỏi a Hảo hoặc a Hảo ra khỏi Phật Giáo được. Bởi vì, trước hết PGHH vừa chỉ cho nền tảng Giáo pháp Phật giáo được làm “mới” lại tại làng a Hảo vừa đề cao căn bản tính HOÀ HẢO trong Phật Giáo. Hơn nữa, ngay trong phần Biểu tượng Tôn Thờ Tam Bảo, từ tấm vải màu ĐỎ chuyển qua tấm vải màu DÀ là nhằm phủ nhận những việc làm sái phép, sái với tôn chỉ của Đức Phật do nhiều kẻ tự xưng Hoà Hảo gây ra! Cũng cần nhắc lại, đại danh từ Phật Giáo không phải là của riêng ai, nên không thể vì một lý do gì mà anh có thể tách rời đại danh từ ấy ra khỏi một cụm chỉ định từ chung; gọi PGHH là Hòa Hảo thì ngay trong bộ luật hình sự của ta không có quy định một hình thức xử phạt nào, nhưng gọi PGHH là Hoà Hoả với một ý đồ xuyên tạc, phỉ báng thì luật pháp có quy định hình thức chế tài đấy nhé.Ma Tung, anh không phải là tín đồ PGHH, bởi không một đồ chúng nào của PGHH lại tự xưng mình là người “tín đồ trung thành Đạo Hoà Hoả” như anh vậy! Anh chỉ là một tên phá bỉnh, một chi thứ năm đong đưa của Thích Phước Tiến, đúng thế không nào???

Nếu anh thực sự là người tín đồ PGHH thì anh có thể tự trả lời cho chính câu chữ của mình: “Các nhà sư hay tín đồ bên Phật giáo chưa bao giờ và chắc chắn không bao giờ đi kích động tín đồ gây rối thiên hạ…”Lão nương ta cũng cầu Phật cho lời của Ma Tung anh nói là sự thật, nhưng than ôi! Kính lạy chư Phật mười phương, kính lạy Đức Thầy vô vàn tôn kính, xin các Đấng mở lượng từ bi mà tha thứ tội cho con, chỉ vì con muốn khai mở màn vô minh cho một chúng sanh còn quá u mê, nên con phải nhắc lại lời khó nghe tội lỗi của một kiêu tăng Thích Thiện Huệ! Ma Tung, anh giở ngay tập luận văn tốt nghiệp của Thích Thiện Huệ, tại Học Viện Phật Giáo Việt Nam, khoá IV (1997-2001), tại trang 40, dòng thứ 15. Hắn viết “Xét cho cùng, Huỳnh Phú Sổ vẫn là một nhà thông thái của một đám người dốt nát đang tôn xưng ông là giáo chủ, một giáo chủ kiêu căng, khoác lác, hay loè đời bằng một mớ kiến thức rơm rác do học lóm mà được…”. Ma Tung nếu anh không đui, thì anh sẽ đọc được những lời mà anh đã cho rằng các nhà sư hay tín đồ bên Phật giáo chưa bao giờ và chắc chắn (?) không bao giờ đi kích động gây rối thiên hạ, thế, những lời của kiêu tăng trên là không khích động, là không phỉ báng tôn giáo, giáo chủ của người khác hay sao? Ma Tung, anh còn nói thêm rằng : “… kể cả bản thân của đạo chúng ta, gây biết bao điều tang thương cho Phật giáo…” Anh hãy nêu lên những chứng cứ cụ thể nhất về những điều tang thương cho Phật giáo do PGHH gây nên, bằng không có các chứng cứ thuyết phục thì đây lại là lời quy chụp, mạ lỵ và vu khống!!! Tiếc rằng anh chỉ là một bóng ma của Thích Phước Tiến, nếu là người bằng xương bằng thịt thì anh phải đứng trước vành móng ngựa là một điều chắc.

Ma Tung anh tình nguyện thế thân cho Thích Phước Tiến, thì anh hãy nghe “thần tượng” của anh phê phán: “Tôi muốn nói cái gọi là Hội Long Hoa nầy, bà nội của quý vị chết đi rồi tái sinh lại 100 lần trên cuộc đời nầy cũng chưa bước tới hội Long Hoa nữa…” Thật là vô phước cho người Phật tử, khi mình đã đặt tron vẹn lòng kính tín đối với một vị Thầy mê si thiếu tế nhị! Trong kinh Di Lặc Thượng Sanh: “Sau khi Bồ Tát Di Lặc nhập diệt thì ở toà Su Sử của điện Ma Ni tại cung trời Đâu Suất, đột nhiên hoá sinh ngồi Kiết Già trên hoa sen, thân có màu vàng Diêm Phù Đàn với 32 tướng 80 vẻ đẹp, đỉnh đầu có nhục kế màu Lưu Ly xanh biếc, dùng báu Ma Ni làm mão Trời, trong mão phóng ra ánh sáng có vô số vị Hoá Phật với các vị Bồ Tát. Sợi lông trắng (bạch hào) ở tam tinh tuôn ra màu sắc trăm báu, cùng với các vị Thiên Tử đều ngồi tại toà hoa, ngày đêm thường nói Pháp chẳng thối chuyển, đợi Duyên sinh xuống ở cõi Diêm Phù Đề” Sau đó, Đức Phật cũng thọ ký cho các công hạnh: quét tháp, lau đất, cúng dường danh hương, diệu hoa, tam muội chính thọ, đọc tụng kinh điển, xưng danh niệm Phật… đều được vãng sinh về cung Trời Đâu Suất, quy y Bồ Tát Di Lặc, quán sát kỹ lưỡng ánh sáng của tướng Bạch Hào tại tam tinh của Di Lặc, liền vượt qua tội của chín mươi ức kiếp sinh tử, và ở nơi này nghe Pháp. Vậy thì tại sao bà nội của thí chủ (người đặt câu hỏi) không đến được Hội Long Hoa nếu trong đời sống tu tập của bà luôn nghiêm mật?

Thích Phước Tiến còn tiếp tục phê phán: “Tất cả những cái từ mà để gọi là Hội Long Hoa nầy kia, kia nọ trong cái nầy đó, đôi khi các vị bị những người khác lợi dụng mình về từ ngữ để mà mê hoặc chúng ta…

Cho nên những người nói Hội Long Hoa nơi nầy, Hội Long Hoa nơi kia là nói tầm bậy, nói mà không hiểu nó là cái gì. Cho nên cứ hở ra Hội Long Hoa chỗ nầy, Hội Long Hoa chỗ đó, năm nầy Hội Long Hoa, năm kia Hội Long Hoa… đó là những cái cách phịa,bày đặt mê tín, lợi dụng từ ngữ để tung hoả mù vào quần chúng mà thôi!

Các vị nên nhớ và ý thức điều nầy. Đừng để bị lừa đảo. A Di Đà Phật”

Tội lỗi cho một người mù sờ voi và không thể nào vượt thoát khỏi thế trí nhỏ hẹp để có thể giác ngộ giáo pháp siêu mầu của Thế Tôn! Theo Kinh Di Lặc Thượng Sanh và Kinh Di Lặc Hạ Sanh; Di Lặc xuất phát từ tiếng Phạn Maitreya và tiếng Pàli Metteyya, Hán dịch là Từ Thị là một vị Bồ Tát Nhất Sanh Bổ Xứ, nhập diệt trước Phật dùng thân Bồ Tát trụ ở cõi Trời Đâu Suất thuyết pháp cho các vị ở cõi nầy. Kinh điển chính thức nói về Bồ tát Di Lặc có 6 bộ:

1-Kinh Quán Di Lặc Thượng Sanh,Thư Cừ Kinh Thanh dịch.
2-Kinh Di Lặc Hạ Sanh,Cưu Ma La Thập dịch.
3-Kinh Di Lặc Lai Thời,không rõ dịch giả.
4-Kinh Quán Di Lặc Bồ Tát Hạ Sanh, Trúc Pháp Hộ dịch.
5-Kinh Di Lặc Hạ Sanh Thành Phật, Nghĩa Tịnh dịch.
6-Kinh Di Lặc Đại Thành Phật,Cưu Ma La Thập dịch.

Cộng thêm các chú sớ giải thích các bộ Kinh nầy thì rất nhiều, nổi tiếng nhất là các bộ Di Lặc Kinh Du Ý của ngài Cát Tạng,Di Lặc Thượng Sanh Kinh Tông Yếu của Ngài Nguyên Hiểu, Quán Di Lặc Bồ Tát Thượng Sanh Đâu Suất Thiên Kinh Tán của ngài Khuy Cơ và Tam Di Lặc Kinh Sớ của Ngài Cảnh Hưng…

Dựa vào các Kinh điển, Hội Long Hoa gắn liền với vị Phật Đương lai Di Lặc, một biểu tượng hoàn toàn Phật giáo được tất cả các tông phái tôn trọng. Cung trời Đâu Suất là tầng trời thứ tư theo truyền thuyết Phật giáo, con người có thể đến đó bằng năng lực Thiền định. Trong lịch sử Phật giáo Bồ tát Thế Thân, vị tổ của Duy thức học đã nhiều lần nhập định đến cung trời Đâu Suất để nghe Bồ Tát Di Lặc giảng kinh, với trí nhớ tốt Ngài Thế Thân ghi lại được những lời thuyết giảng những bộ Kinh được khẳng định là do chính Bồ Tát Di Lặc giảng thuyết. Gần hơn nữa là Lão Hoà thượng Hư Vân ngài cũng đã nhập vào đại định đến thăm viếng cung Trời Đâu Suất và gặp gở Bồ Tát Di Lặc được ghi lại trong quyển Đường Mây Trên Đất Hoa do Nguyên Phong dịch (trang 136-138).

Mỗi vị Phật xuất hiện ở thế gian đều là một đại sự nhân duyên, đó là một sự chuẩn bị lâu dài để khi cơ duyên đến là chẳng những có ngay một vị Phật ra đời mà còn có ngay các vị hộ pháp, vậy thì có phải ngay bây giờ đang có hàng thính chúng ngày đêm nghe Bồ Tát Di Lặc nói Pháp? Cho dù qua các Kinh điển xác định ngày giờ địa điểm xuất hiện của vị Phật đương lai, nhưng nếu chúng sanh ta một lòng đi theo hạnh nguyện của mỗi Đức Phật, thì có lý nào ta không thể đạt thành sở nguyện. Đức Phật A Di Đà chủ hạnh Trang Nghiêm, Đức Phật Thích Ca chủ hạnh Thanh Tịnh, Đức Phật Di Lặc chủ hạnh Hỷ Xả… Kinh điển vẫn là kho báu nghìn đời lưu giữ những lời Phật dạy, nhưng ngay chính kinh điển cũng đã mở ra cánh cửa nghìn trùng “ Pháp Phật là bất khả tư nghì” nghĩa là không thể dùng cái phàm trí nghĩ, bàn mà có thể nắm bắt được chân nghĩa của Phật Pháp, mà phải hiểu thẩm thấu bằng chính cái Tâm vô ngã! Nếu ai là người biết hoạt dụng những lời dạy của Phật thành những tâm tư, tình cảm của mình ngay trong cuộc sống hiện tại rồi dung hoá nó trong từng phút,từng giây thì bất kỳ ở đâu, thời gian nào mà ta không đến nơi được!

Theo luận giải của Chư Tổ nhiều đời, Kinh Di Lặc nhiếp thâu vạn pháp, dung nạp tam thừa,dung nạp được mọi căn cơ…vậy thì, nếu mọi người chúng ta học tập được từ kinh điển với tấm lòng Hỷ Xả, với một tâm nguyện tín thành tột bậc thì có khác gì nhau giữa Tịnh độ Di Lặc và Tịnh độ A Di Đà; Từ bi Hỷ Xả là Tịnh độ Di lặc, chẳng những vừa trụ nơi vô sở trước là cội Cây Long Hoa, mà khắp mọi nơi mọi chốn do vô số hoá thân của Ngài. Nếu ai hành trì giới định huệ là đang lắng nghe ba hội thuyết pháp, chính cái Tâm Không là Đức Phật tại thế… Sáu mươi tỷ năm cũng ở tại bây giờ, cần gì phải chờ đợi ai, kiếm tìm gì khi pháp giới quy về trong gang tất!

Thân khẩu ý thanh tịnh
Thị danh Phật xuất thế
Thân khẩu ý bất tịnh
Thị danh Phật nhập diệt

Tức tâm tức Phật vô dư pháp
Mê giả đa ư ngoại tầm cầu
Nhất niệm quách nhiên quy bổn tế
Hoàn như tẩy khước thượng thuyền đầu

(Ba nghiệp thanh tịnh, Là Phật ra đời. Ba nghiệp bất tịnh, Là Phật nhập diệt. -Ngay tâm là Phật, chẳng pháp nào ngoài.Kẻ ngu phần nhiều, Tìm cầu vật ngoại. Một niệm rỗng không, Quy về bổn tế. Dễ như rửa cẳng,Rồi bước lên thuyền)

Sở dĩ Lão nương ta phải nói nhiều như vậy để Ma Tung anh và Thích Phước Tiến biết được rằng trong cõi thế nầy lúc nào cũng có Bồ tát, lúc nào cũng có Phật chỉ vì các người không thể nhìn ra do bởi tâm bất tịnh mà thôi.

Long Xuyên, ngày 24/12/2015
Nguyễn Thị Bảo Pháp

Lần sửa cuối bởi Ngoctruc, ngày 01-21-2016 lúc 09:17 PM.

Categories: Nhan dinh | Leave a comment

NHỮNG LỜI TRAO ĐỔI CHÂN TÌNH của Cư sĩ Huỳnh Hình Trong

NHỮNG LỜI TRAO ĐỔI CHÂN TÌNH của Cư sĩ Huỳnh Hình Trong


NHỮNG LỜI TRAO ĐỔI CHÂN TÌNH
của Cư sĩ Huỳnh Hình Trong


Th
ưa ông Thích Phước Tiến.

Lẽ ra tôi không thể xía vào chuyện nầy! Vì ông thuộc hàng xuất gia (mang dòng họ Thích). Nghe đâu ông có bằng tiến sĩ Phật học và hiện đang là một chức sắc khá quan trọng trong giáo hội Phật Giáo Việt Nam. Còn tôi với tục danh cư sĩ, chỉ là một tín đồ bình thường của đạo Phật Giáo Hòa Hảo, tôi không có một chức sắc nào trong Ban Trị Sự giáo hội Phật Giáo Hòa Hảo cả. Nhưng xét thấy giáo lý của Đức Phật Thích Ca luôn hàm chứa tinh thần từ bi và bình đẳng. Thuở Đức Phật còn tại thế, trong thành Tỳ Xá Ly có một người rất tinh thông Phật lý và hằng sùng kính Tam Bảo, đó là cư sĩ Duy Ma Cật. Khi nghe tin ông có bệnh, Đức Phật bảo các vị đệ tử lớn như các ông: Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, A Nan Đà, Ưu Ba Ly…đến thăm bệnh ông. Thế là cuộc gặp gỡ trao đổi, chia sẻ cho nhau về Phật lý rất hài hòa trong tinh thần cởi mở và bình đẳng giữa hai giới Tăng sĩ và Cư sĩ. Thế nên tôi xin được bình phẩm trong đề giải đáp của ông ít lời.
Vừa qua tôi có xem phần vấn đáp Phật pháp kỳ 25/2014 của ông tại Hoa Kỳ, với câu hỏi “ĐẠO HÒA HẢO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐẠO PHẬT KHÔNG ?”
Ông giải đáp với cử chỉ, ngôn ngữ và cặp mắt đảo trừng, khiến tôi vô cùng ngạc nhiên! Mình là hạng xuất gia mà! Là một nhà “Mô phạm” thì cần nên thể hiện đạo hạnh để treo gương từ tốn cho giới bạch y chớ! Ai làm ông bực mình mà biểu hiện thái độ thô kệch như thế?! Thật đúng là:
“Trong tâm vừa muốn mưa phiền
Thì là ngoại mặt cũng liền kéo mây”

Thanh Sĩ

Ông hãy để bầu trời tâm thanh lặng, sẽ thấy rõ nó là loại tâm thức nào. Do hướng nhìn biên kiến, kiến thủ mà ông đã bị rơi vào hang ổ của “Kiết sử phiền não” rồi. Tôi thuộc hạng cư sĩ tại gia, trong cuộc sống thường nhật ắt phải vất vả, tất bật hơn ông nhiều, luôn gặp phải những chướng duyên rắc rối, dễ sanh trái ý nộ lòng. Thế mà vẫn giữ được sự bình tĩnh, ôn hòa nhã nhặn đối với tha nhân là nhờ tôi biết kính vâng theo lời chỉ giáo của Đức Huỳnh Giáo Chủ:
“Ngôn từ đạo hạnh ý Thầy khuyên
Hạnh đức ân cần rán tập chuyên”
“ Lựa lời tiếng dịu dàng trong sạch
Khi thốt ra đoan chánh hiền từ”

Trở lại ý nghĩa trong lời giải đáp, ông nói rằng: “Hòa Hảo là Hòa Hảo, Phật giáo là Phật giáo… đó là chuyện của riêng họ”. Ông nên hạ giọng thấp xuống đi! thấp xuống nữa! ông lấy quyền gì mà thốt lối cao giọng ấy? Phật giáo chẳng của riêng ai. Chính Đức Thế Tôn đã từng bảo: “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh” kia mà. “Không có giai cấp khi giọt mồ hôi đều mặn và dòng máu cùng đỏ”. Thế nên, Đạo Phật không riêng gì của người Ấn Độ, mà được du nhập phổ truyền rộng khắp trên thế giới.
Đạo PGHH ảnh hưởng giáo lý đại thừa của Đạo Phật. Xem nhẹ hình thức, không chạy theo “âm thinh sắc tướng”. Đặc biệt chú trọng tâm linh, Đức Huỳnh Gíao Chủ đã dạy: “Sự đầu tiên của người hành đạo là cốt sửa những tư tưởng, tìm cách đánh đuổi tư tưởng xấu xa, đem thay vào những tư tưởng ôn hòa đạo đức”.

Dù có thờ Phật, lễ Phật (lễ Phật giả, kỉnh Phật chi Đức). Nhưng thờ đơn giản cho lòng tin trở lại tâm hồn, cũng không ỷ lại vào sự hộ trì của Ngài, mà trọng yếu là “Trong việc tu thân xử kỷ”. Đức Huỳnh Gíao Chủ đã bảo: “Sự lễ bái không đủ cho ta tỏ ra là một tín đồ chân thành của đạo Phật được”. Tại sao vậy ?
“Vì Đức Phật chẳng bao giờ ngỏ ý rằng, “các người hãy lạy thờ ta cho nhiều, rồi ta sẽ độ giúp các người” mà trái lại, Ngài dạy rằng: “Các người nên hiểu biết phận sự của con người phải làm gì trong kiếp sống và tìm kiếm chân tánh của mình”. Thiệt hành theo giáo lý của Ngài thì Ngài sẽ hướng dẫn và ủng hộ vậy.

Ta hãy đem đức tin trong sạch mà thờ kỉnh Phật và hãy đem lòng lành mà hành động y theo lời phán dạy của Phật.
Nếu ta cứ đem đức tin thờ phượng tôn giáo bằng cách sai lầm thì rất có hại cho đời mạng của ta. Như vậy chỉ tỏ ra một người mê tín. (Mặc dầu đạo của ta thờ là một đạo rất chánh đáng)”.
Thuở xưa, Đức Thích Ca Mâu Ni Phật ngồi thiền quán và chứng đạo dưới cội cây Bồ Đề, Ngài đã khám phá ra một sự thật vô cùng quan trọng mà trước kia chưa từng ai biết. Qua sự lược tả của Đức Huỳnh Giáo Chủ sau:
“Ngài bèn xét ở trong Phật chủng
Các chúng sanh đều có như ta
Bị vô minh vọng tưởng vạy tà
Nên quay lộn Ta Bà cõi khổ”.

Với tâm huyết của
Đức Huỳnh Giáo Chủ là:
“Ta quyết lòng nhắc lại tánh xưa”
“Nhàn thanh tìm kiếm kiếm nơi tâm,
Phật cũ ngày xưa hãy rán tầm”.

(tức Phật tánh).
Trở lại với Phật tâm, phụng vâng theo Phật ngôn, ứng dụng theo Phật trí, sống hòa nhập trong cuộc đời, đó là giáo lý Học Phật, Tu Nhân”
Công cuộc của
Đức Huỳnh Giáo Chủ là:
“Chấn hưng Phật giáo học đường
Dưới trên hòa thuận chọn đường qui nguyên”

Người tín đồ PGHH đã ý thức và tin chắc được pháp tu của mình và thực hành:
“Lấy tâm Phật đạo hành nhân đạo
Nhân đạo hoàn thành Phật đạo siêu”

Thanh sĩ

(Đây chỉ sơ lược về pháp Học Phật (khế lý) Tu Nhân (khế cơ). Còn về sứ mạng của Đức Huỳnh Giáo Chủ vâng sắc lịnh của Phật,Trời thì người tín đồ đạo PGHH ai ai cũng đều tin nhận)
Để đem đạo Phật ứng dụng vào cuộc đời, ĐứcThầy dạy: “Điều cần yếu là phải làm hết các việc từ thiện, tránh tất cả điều độc ác. Quyết rửa tấm lòng cho trong sạch”. Đây là những pháp tu thiết thực, rất vững chãi trên bước đường tự lợi, lợi tha gồm đủ ngũ thừa Phật Giáo:Tứ Ân,ThậpThiện,Tứ Diệu Đế,Thập Nhị Nhân Duyên, Tứ Vộ Lượng Tâm…v.v…
Trong kinh Đức Phật dạy:
“Chư ác mạc tác
Chúng thiện phụng hành
Từ tịnh kỳ ý
Thị chư Phật Giáo”

Lời của Đức Huỳnh Giáo Chủ rất đúng theo ý chỉ bài kệ nêu trên. Có điểm nầy Thích Phước Tiến nên xét rõ ra, nếu không thì ông chẳng thể thấy hết toàn thân của con voi đâu. Ông bảo rằng: “Riêng lấy câu niệm Phật Di Đà”, có ý phân biệt nhỏ nhen quá đáng! Ông phải chỉnh lại: “Chung lấy câu niệm Phật Di Đà” mới thật đúng tính cách đại đồng của Chư Phật. Bởi vì pháp môn Tịnh Độ do chính Kim khẩu của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật thuyết gồm có 3 kinh: Vô Lượng Thọ, nói về hạnh nguyện của Đức Phật A Di Đà. Quán Vô Lượng Thọ, quán niệm cảnh giới Tây Phương Tịnh Độ. A Di Đà Kinh Đức Phật thuyết rõ về Tín, Nguyện, Hạnh là Tông chỉ của môn Tịnh Độ, mà pháp thực hành trì danh niệm Phật lại rất khế cơ.
Thế nên trong kinh Đức Phật dạy: ‘Này Xá Lợi Phất! Nếu có gã thiện nam, người thiện nữ, nghe nói đến Phật A Di Đà, chấp trì Danh hiệu để niệm, hoặc 1 ngày, hoặc 2 ngày, hoặc 3 ngày..v.v…Đó là lời giáo hóa chung, không phân biệt nam nữ, trẻ già, tăng tục, trí ngu. Tóm lại Đạo Phật chẳng dành riêng cho ai cả.
“Học Phật phải rộng tình tế độ
Nói pháp cần phá bỏ chấp tâm
Phật riêng tế độ Phật lầm
Pháp còn có sự chấp tâm pháp tà”

Thanh sĩ
Như đã nêu trên, thì sự niệm phật, làm thiện phải cần nên khích lệ và hoan hỉ để cùng nhau chia sẻ công đức (tùy hỉ công đức). Ông nên biết rằng, họ niệm Phật là không để ý niệm vọng khởi tà quấy tức là “Tự Tịnh Kỳ Ý”. Họ làm từ thiện, là đúng nghĩa “Chúng Thiện Phụng Hành” đấy. Nếu đã làm thiện thì đâu có thân, khẩu, ý nào riêng làm việc ác được, thật đúng với câu “Chư Ác Mạc Tác”. Đó là điều ‘Thị Chư Phật Giáo” vậy.
Thích Phước Tiến, trong lời giải đáp ông nói: “Hòa Hảo chỉ mới đây thôi, khoản giữa đầu thế kỷ 20”. Rồi ông luận lòng vòng, sau cùng kết lại và nhấn mạnh với giọng nói khinh khỉnh: “Hòa Hảo nói mới chớ thật ra không mới gì cả”. Với giọng điệu đó cũng đủ thấy thâm ý của ông rồi ! Thôi thì sao cũng được do biên kiến cá nhân ông. Còn với tôi, nhìn theo trí Bát Nhã thì mới và không mới vốn không hai:
“Mới mà không mới
Không mới mà mới
Mới tức không mới
Không mới tức mới
Mới…
Không…
À! Vì nghe ông luận mới, không mới mà tôi chợt thấy ra việc này có liên quan đến ông. Tiện đây tôi xin hỏi ông tiến sĩ, có lẽ ông sẽ biết được.

Thuở Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật còn tại thế, chỉ có danh hiệu của Ngài là Thích Ca Mâu Ni Phật mà thôi. Các vị đại đệ tử“Thánh Tăng”,chẳng ai mang danh hiệuThích nầy,Thích nọ, chẳng thấy đâu ra được một người dù là Thích Mục Kiền Liên, Thích Ma Ha Ca Diếp, Thích A Nan Đà hay Thích Phú Lâu Na.v.v..

Trở lại PGVN hồi thời nhà Trần cũng thế. Phật Hoàng Trần Nhân Tông là sư tổ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử truyền pháp cho Pháp Loa, Pháp Loa truyền xuống Huyền Quang, lại chẳng thấy có Thích Pháp Loa hay Thích Huyền Quang nào cả. Vậy có phải Thích Phước Tiến là mới hơn các vị Thánh đệ tử hồi thời Đức Phật không? Thích Phước Tiến có phải mới hơn hồi phái thiền Trúc Lâm Yên Tử không?

Ngay cả giới bạch y hồi thời Phật cũng thế, một danh đức đã trải dài thời gian trên 25 thế kỷ mà gương sáng vẫn rạng ngời, đó là ưu bà tắc Tu Đạt Đa. Ông là một trưởng giả đại phú gia, lại có lòng nhân từ, thường xuyên cứu giúp những người cô độc, tật bệnh, nghèo nàn,..v.v…Được thời nhân tôn xưng hiệu danh là Cấp Cô Độc. Ông cũng là người đã trải vàng ra mua mảnh vườn của thái tử Kỳ Đà để cúng dường Đức Phật và chư Tăng, tạo nên ngôi tịnh xá Kỳ Hoàn. Thế mà, trọn đời ông chẳng thấy có một pháp danh nào khác.
Đến như ưu bà di, Mẫu Hoàng của vua A Xà Thế, được Đức Phật trực tiếp thuyết kinh Quán Vô Lượng Thọ, lại chẳng thấy pháp danh nào khác ngoài tên gọi Hoàng hậu Vi Đề Hy.
Này ông Thích Phước Tiến, ở đây tôi không luận mới hay không mới. Tôi thực lòng chỉ muốn tìm hiểu theo mốc thời gian từ Phật Hoàng Trần Nhân Tông, cho đến hiện thời là việc Thích Phước Tiến các tăng, ni được gắn danh họ “Thích” và đặt pháp danh cho Phật tử ở vào thời điểm nào ?

Tôi dẫn chứng dài dòng như thế để cho ông biết PGHH có liên quan gì đến Phật Giáo hay không. Tôi nói Phật Giáo chớ không phải PGVN. Nay Thích Phước Tiến mang họ “Thích” để mà lớn lối khinh miệt, xem thường Tông phái khác. Không nên đâu ông à!
Mời ông đọc bài thơ dưới đây để suy nghiệm.
PHẬT là giác ngộ cái chơn tâm
GIÁO đạo vô vi lý tuyệt trầm
HÒA hợp từ bi năng hỉ xả
HẢO cầu bác ái diệt thù thâm
NGUỒN tâm mãnh lực trừ tham ái
GỐC tánh oai hùng trị dục tâm
TỪ mẫn độ tha trong bá tánh
BI tràn lê thứ biết hồi tâm
Trong đề giải đáp của ông còn nhiều điều để nói lắm, nhưng tôi được nhớ ra một điều rất quan trọng, biết ông có nhớ hay không? Thôi thì để tôi nhắc lại. Trong Kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật bảo: “Mình đang tu một tông phái của Phật Giáo mà đã phá các tông phái khác là đang đi trên đường tà đạo”.
Lại nữa:
“Nói nhiều lắm xe lơi tình nghĩa
Chữ hiền lành trau triả cho xong”

Lời
Đức Huỳnh Giáo Chủ:

Đạo PGHH đã vượt qua bao ngổn ngang của lịch sử trước đây, hôm nay người tín đồ PGHH đang sống trong suối nguồn Từ Bi của chư Phật, sống vì tha nhân với tâm niệm:
“Tu không lợi ích thôn lân
Chữ tu ấy có ai cần làm chi”

Thanh sĩ
Trái lại, sống với học vị, lợi danh bản ngã lẫy lừng chồng chất mới không phải là Phật Giáo đấy, ông Phước Tiến ạ!.
Tôi rất tâm đắc về câu chuyện một vị Thầy khai ngộ cho đệ tử như sau: “Con đã tốt nghiệp ở trường nầy, trường nọ rất tốt. Nhưng có một trường mà không bao giờ con tốt nghiệp, đó là trường học làm người đấy con ạ!”
Này ông Phước Tiến, tôi xin được kề tai nói nhỏ với ông. Trong lời đáp ông nói có: “Một người nào đó”. Nghe qua rất là mơ hồ, điều đó chứng tỏ ông không biết gì về đạo PGHH cả. Tôi đề nghị ông nên về miền Tây Nam Bộ hỏi bất cứ người tín đồ PGHH già trẻ, nam nữ nào cũng đều được giải đáp ân cần cho ông hiểu rõ về vị Giáo Chủ siêu phàm khai sáng mối Đạo nầy. Hầu sau nầy có gặp những câu hỏi tương tự ông sẽ khỏi phải lúng túng, trái lại còn bình tĩnh giải đáp rõ ràng, đúng chánh pháp hơn, khi có đủ thông tin.
Đức Huỳnh Giáo Chủ đã giải thích cái khối tình Đạo Phật bao la vô ngằn mé như sau:
“Vả lại, cái tình ấy, nó không bến không bờ, không phân biệt màu da, không phân biệt chủng tộc, nó cũng không luận sang hèn và xóa bỏ hết các tầng lớp đẳng cấp xã hội, mà chỉ đặt vào một nhân loại chúng sanh”
Và Ông Thanh Sĩ cũng theo đó mà nêu cao và nhắc nhở mọi người:
“Phật Giáo vốn đại đồng nhơn loại
Hòa Hảo cùng thế giới năm châu
Đó là chơn lý đạo mầu
Xin đừng đem dạ chấp câu hẹp hòi”

Có qui ngưỡng và thực hành theo tinh thần quảng đại như thế, chúng ta mới mong đáp đền phần nào ơn Tam Bảo một cách thiết thực vậy. Mong thay!

Chào đoàn kết.

TP. Cần Thơ, ngày 01. 01. 2016
Huỳnh Hình Trong

Lần sửa cuối bởi TTT, ngày 01-14-2016 lúc 02:29 AM.

Categories: Nhan dinh | Leave a comment

Sự nhiệm mầu từ biến cố đốc vàng hạ

Sự nhiệm mầu từ biến cố đốc vàng hạ


SỰ NHIỆM MẦU TỪ BIẾN CỐ ĐỐC VÀNG HẠ

hh


Kính thưa: Chư quí Thân H
ữu, Đồng Đạo trong và ngoài nước.

Còn một vài hôm nữa là đến Lễ Kỷ Niệm lần thứ 69 ngày Đức Huỳnh Giáo Chủ Phật Giáo Hòa Hảo tạm thời ẩn ánh (25, th
áng 02 Âl nhuần, Đinh Hợi, 1947 – 25.2. Bính Thân 2016) từ biến cố Đốc Vàng Hạ, ngay trong đêm dự phiên họp bất thường do những người cùng chiến tuyến âm thầm tổ chức, nhằm triệt hạ Ngài Ủy Viên Đặc Biệt. Tạo nên một thảm họa “nồi da” đáng tiếc khắp miền lục tỉnh Hậu Giang, đã khiến cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, giờ lại có thêm cuộc xâu xé nội tình đầy dẫy tang thương, mà nạn nhân chính phải gánh chịu là những người cùng chủng tộc, phải tiếp tục đổ máu vô ích cho cuộc chiến phi nghĩa kéo dài hơn một thế hệ. Đã để lại rất nhiều hệ lụy nghi ngờ và cừu hận lẫn nhau, tồn tại dai dẳng hơn 40 năm sau ngày hòa bình mà vẫn chưa có cơ hội hóa giải cho ổn thỏa đôi đàng!


Đây là bài học lịch sử đắng cay đầy máu và nước mắt, nhằm nhắc nhở cho cả dân tộc về tác hại của sự độc đoán!!! Đấy là một vấn nạn lịch sử, đòi hỏi trách nhiệm của đoàn hậu duệ cả hai bên, đến lúc cần phải tỏ thiện chí ngồi lại để nhìn nhận đúng bản chất sự kiện, hầu tìm kiếm một giải pháp hóa giải ôn hòa, thẳng thắn, cho thật sự công minh nhằm thuyết phục công luận. Riêng đối với Đức Huỳnh Giáo Chủ là đấng siêu phàm đã hoàn toàn thoát ngoài vòng sinh tử một cách vô ngã tự tại… Không có loại kiến thức phàm phu nào có thể lý giải nỗi về sự sống chết của Ngài, cũng như không có bất kỳ một chướng ngại nào có thể ngăn trở được sứ mạng thiêng liêng và lòng đại nguyện của Ngài. Trái lại Ngài rất tự tại tùy thuận vào ra nơi cõi Ta Bà, để thể hiện rộng lớn lòng Từ bi và trí Bát nhã diệu mầu, hầu có phương tiện rộng bủa từ tâm cứu độ mọi tai kiếp cho đồng bào và nhân loại, thuận theo sắc lịnh Phật Trời, trong cơ biến chuyển bách cận của buổi hạ ngươn.

Năm nay nhân kỷ niệm ngày thiêng liêng này, là dịp để chúng ta tôn vinh công lao trời biển của Đức Huỳnh Giáo Chủ, trong cơ cuộc đại bi hoằng hóa suốt chặng đường lịch sử nhiễu nhương của đất nước trong những năm 1939-1947. Đặc biệt là biến cố Đốc Vàng Hạ, cũng cần làm sáng tỏ những tình tiết quan trọng mà bấy lâu vẫn còn tiềm tàng bí ẩn bất khả phân minh. Vốn là một thách thức to lớn đối với các sử gia, nhà nghiên cứu và học giả Đông Tây, không tài nào khám phá cho ra manh mối, bởi sự giới hạn của trí thức phàm phu. Tất cả những sử liệu trước đây, đã được công bố trong quốc nội, cũng như những hồ sơ tình báo được lưu trữ trong các văn khố quốc tế Anh, Pháp… xuất hiện gần đây đã gây dư luận xôn xao cho rằng Đức Huỳnh Giáo Chủ đã chết. Sự đồn đoán thiếu cân nhắc như thế là sự nhận định phiếm diện, ảnh hưởng màu sắc chính trị, tuyên truyền thiếu cơ sở.. họ cố giải thích một cách đơn điệu dựa vào những tư liệu ngụy tạo mà thời chiến nào cũng có không ít. Sự hữu hình mà còn không rõ thực hư, thì làm sao đủ sức khám phá cơ huyền, để hiểu nỗi cách quyền dụng thần kỳ đã vô hiệu hóa một âm mưu độc địa, trở thành một cơ hội để Đức Giáo Chủ tạm thời ẩn ánh an toàn, với đầy đủ lý do chánh đáng do đối phương tạo ra. Điều đáng ngạc nhiên nữa là Ngài dùng kế “Khổng Minh” tài tình ngăn chặn từ xa rất hữu hiệu cho một cuộc đụng độ nồi da mà sự diệt vong đang cận kề về phía bộ đội Hòa Hảo, nếu không khéo sẽ rơi vào hiểm họa. Mệnh lệnh “…Cấm chỉ việc kéo quân đi tiếp cứu… trong bức thư ngắn gọn, được thần tốc gởi đến doanh trại Hòa Hảo kịp thời là một minh chứng “Thần cơ diệu toán”, chỉ có đấng siêu phàm mới đủ diệu năng quán thông xuất thần như thế!

Để kích thích sự tò mò khám phá, chúng ta thử đặt vấn đề, có ai nếu không phải là bậc siêu nhân như Đức Huỳnh Giáo Chủ, mà có bản lĩnh dám thản nhiên chấp nhận lời mời, với phong thái không do dự, quyết thực hiện cuộc phó hội ban đêm, được tổ chức tận vùng đầm lầy trung tâm của chiến khu Đồng Tháp. Dù là trí thức thường nhân vẫn ước đoán được một hậu quả “Lành ít dữ nhiều” huống chi là bậc quán chúng như Ngài. Thế mà Ngài vẫn loại trừ các yếu tố nghi ngờ hoặc phòng thủ đối trọng tương xứng theo lực lượng sẵn có. Thậm chí có đủ lý do khước từ chánh đáng hoặc bàn chọn địa điểm thích hợp khác, tối thiểu là đề nghị một phiên họp vào ban ngày cho minh bạch…
Nhưng bản lĩnh của bậc siêu nhân không hề ngăn ngại. Vẫn một mình với đoàn tùy tùng 4 người phòng vệ và 2 phu chèo, trên một chiếc ghe mui cỡ nhỏ, thẳng tiến tròng trành trên dòng sông Ba Răng lạnh lẽo, khi ánh hoàng hôn ảm đạm mờ dần trong bóng đêm tịch mịch. Hai bên dòng sông um tùm lau sậy, không một bóng người hay nhà ở, ngoại trừ những trạm gác được bố trí đều đặn trên bờ sông rất nghiêm nhặt (Theo lời kể của Ông Mười Tỷ một phòng vệ còn sống sót).

Từ khi Pháp tái chiếm Việt Nam lần hai ngày 23/9/1945, Đốc Vàng Hạ đã trở thành vùng căn cứ địa kháng chiến của UB/KCHC Nam Bộ, là vùng cấm địa bất khả xâm phạm. Nay lại xuất hiện một chuyến thủy hành phó hội ban đêm, là đã báo trước một tiền đề ảm đạm, và điều nguy hiểm đã thật sự xảy ra một cách kinh hoàng, khi mà hai nhân vật chính đàm phán là ĐứcThầy và ông Bửu Vinh vừa ngồi vào bàn họp, thì từ bên ngoài gần đó, nhiều loạt tiểu liên chĩa vào phòng họp tiếp cận mục tiêu khai hỏa liên thanh, loạn xạ trong bối cảnh tối thui. Dự luận cho rằng “chỉ có Thánh mới thoát nỗi”. Nhưng rồi còn hơn ta tưởng “cả Thánh lẫn phàm (Bửu Vinh) vẫn còn sống tự nhiên, qua sự cho biết cấp thời trong đêm, từ lá khẩn thư viết tay (thủ bút của Đức Huỳnh Giáo Chủ) được trích như sau:“…Tôi vừa hội hiệp với ông Bửu Vinh, bỗng có sự sự biến cố, tôi và ông Vinh suýt chết, chưa rõ nguyên nhân còn điều tra…”. Lá thư viết xong lúc 9 giờ 15 phút đêm 16/4/1947 có chữ ký của Đức Huỳnh Giáo Chủ. Lúc bấy giờ 4 phòng vệ của Đức Thầy, thì 3 người đã bị sát thương bằng dao đâm và một người thoát nạn chạy về kể lại là ông Mười Tỷ.

Thưa quí Thân H
ữu,
Đồng Đạo,

Qua lá thư Đức Thầy gửi về cho ông Trần Văn Soái và ông Nguyễn Giác Ngộ, được một người (không phải ông Mười Tỷ) không rõ căn tích, mang về tới doanh trại PGHH khoảng 11 giờ trong đêm ấy. Cộng thêm lời kể của ông Mười Tỷ về cái chết của 3 phòng vệ. Đã đủ chứng lý để khẳng định Đức Huỳnh Giáo Chủ thoát nạn an toàn, sau sự biến cố nã súng trực diện cự ly gần. Nếu cách ám hại chính xác đúng mục tiêu định trước như vậy, mà Đức Thầy vẫn không chết. Vậy thì Đức Huỳnh Giáo Chủ có thể chết được trong trường hợp nguy hiểm nào hơn nữa đây, xin hỏi hết công luận Đông Tây hãy trả lời dùm?

Thế mà đến giờ nầy vẫn có người cho rằng Đức Thầy đã chết. Nhất là hiện nay người ta lôi ra những tài liệu mật vụ tình báo từ văn khố Pháp thì có đủ tin không? Dù Pháp hay Anh, Mỹ hoặc Việt Nam… cũng đâu có sử gia hay nhà chính trị nào là Thánh đâu mà biết được “việc Thánh chết hay còn sống”, chúng ta chớ vội cả tin?
Nếu căn cứ theo nghiên cứu khoa học hay suy luận duy lý thì không tài nào giải thích cụ thể được những câu hỏi có liên quan về biến cố Đốc Vàng Hạ được.


Chẳng hạn:
1.- Nếu Đức Thầy chết thì ai đã viết lá thư ấy? Nếu cho rằng Bửu Vinh mạo lá thư ấy thì với mục đích gì? Phải chăng nội dung lá thư là cấm không cho kéo quân tiếp cứu? Nếu Bửu Vinh sợ lực lượng Hòa Hảo thì đâu dám tổ chức ám hại Giáo Chủ PGHH, chỉ cách địa điểm đóng quân của doanh trại Hòa Hảo chỉ hơn 10 cây số?
Nên nhớ Bửu Vinh lúc bấy giờ (1947) đã có thừa lực lượng hơn Hòa Hảo rất nhiều. Khi họ cố tình hại lãnh tụ Hòa Hảo, tức nhiên là họ đã dự trù sẵn kế hoạch bao vây lực lượng Hòa Hảo kéo quân vào chiến khu tiếp cứu, để diệt gọn không còn manh giáp, chứ ngăn lại làm gì cho mất cơ hội. Một lần nữa khẳng định, chính Đức Huỳnh Giáo Chủ đã viết lá thư ấy nhằm cứu sống sĩ binh Hòa Hảo một cách an toàn. Vậy ý kiến cho rằng Bửu Vinh viết mạo thư ấy là sai… Vả lại thủ bút ấy của Đức Thầy chính luật sư Mai Văn Dậu và hầu hết trí thức thân cận Đức Thầy đã xác định rất chính xác, cho đến bây giờ vẫn không ai có ý kiến tranh cãi.

2.- Người đưa thư trong đêm ấy họ tên gì? Và 3 người phòng vệ tử thương ngoài phòng họp, đến nay có aibiết thành phần, lai lịch và địa chỉ gì chăng? Theo nguyên tắc quân sự thì trước khi được chọn làm phòng vệ cho Đức Thầy, bổn phận các tướng lãnh phải chọn người thích hợp theo đơn vị cụ thể từ tiểu đội, trung đội, đại đội… Vậy mà cho đến 69 năm nay vẫn không ai biết 3 vị phòng vệ quan trọng ấy tên gì, không làm lễ giỗ, không xây miếu đài tôn thờ linh vị, không báo tử đến thân nhân, nói chung họ đã trở thành chiến sĩ vô danh hết sức vô tình, thậm chí người cùng đi với 3 người này là ông Mười Tỷ mà cũng không biết họ là ai. Vậy xin hỏi tiếp các tài liệu tình báo nổi tiếng được lưu trữ trong các văn khố Pháp, Mỹ, Anh và VN có giải thích nỗi điều này chăng? Hay cũng bó tay? Nếu việc nhỏ như vậy mà không thể biết thì chớ khá tham vọng lạm bàn đến việc sống chết của Đức Huỳnh Giáo Chủ vốn là đấng siêu nhân, ẩn chứa đầy cơ mật diệu huyền làm sao trí phàmvới tới?

3.- Đã tin chắc rằng ĐứcThầy viết lá thư ấy sau sự cố xảy ra khoảng từ 8 giờ đến 9 giờ 15 phút đêm như đã chứng minh trên, chúng ta còn cần phải suy luận thêm coi, Ngài viết dưới ánh đèn bằng cách nào và nơi nào cho an toàn sau khi đã thoát nạn, mà không bị phát hiện? Vì sau vụ nổ kinh hoàng ấy thì toàn khu vực xung quanh đương nhiên phải bị truy lùng gắt gao? và người tín đồ đưa thư không phải là người tùy tùng theo đoàn phó hội, xuất hiện cách nào để tiếp nhận thánh thư ấy từ tay Đức Thầy?. Và từ ấy Đức Thầy đã ẩn ánh một cách kỳ bí hoàn toàn, ngoài sự hiểu biết của phàm nhân, không bất kỳ ai kể cả Pháp, Việt Minh và lực lượng hay tín đồ PGHH đều không còn biết thêm gì nữa cả.

Nếu như đã tận dụng tột đỉnh kiến thức phàm phu mà không sao lý giải thấu đáo nỗi những hiện tượng bí ẩn chung quanh câu chuyện lịch sử ĐốcVàng Hạ được, thì chỉ còn cách dựa theo niềm tin “Thiên cơ và Đạo lý” hy vọng có thể khám phá có phần khả quan thuyết phục hơn đôi chút.
Vì Đức Huỳnh Giáo Chủ là đấng siêu phàm, được thể nghiệm trong nhiều lĩnh vực và nhất là trong giáo lý, Ngài đã nhiều lần tiết lộ cơ huyền, nêu rõ về sứ mạng, về sự tiên tri và cách hành xử đối ứng rất chu toàn và hữu hiệu trong mọi tình thế.
Ngài đã tiên liệu được chiến tranh thế giới lần hai, khởi đầu năm nào và kết thúc năm nào một cách chính xác (1939-1945) bằng sự ẩn dụ mười hai con giáp. Biết “Nhựt Bổn ăn không hết nửa con gà”… Vậy đối với diễn biến trong nước Việt Nam đối với Ngài, nào có chi phải khó khăn ngăn ngại. Đọc lại lịch sử dấn thân của Ngài chúng ta sẽ thấy sức linh hoạt thần kỳ ngoài năng lực dự đoán phàm phu, Ngài đã từng biến nghịch hoán chuyển thành thuận lợi, biến họa thành phước, biến nguy ra an… Rồi đây trong tương lai gần còn biến loạn ra trị, khi mà thế giới lâm chiến!

Chẳng hạn:
Ngài mở đạo năm 1939, ngay trong thời điểm chiến tranh thế giới lần hai khởi chiến khốc liệt, thế mà Ngài đã thâu nhận gần hai triệu tín đồ trong thời gian rất ngắn trước sự hà khắc cực đoan của thực dân Pháp; Khi bị Pháp lưu cư nhiều nơi, Ngài biến các nơi bị quản thúc của Pháp, thảy đều trở thành diễn đàn truyền đạo có tấp nập tín đồ.
“Càng đi càng biết nhiều nơi
Càng đem chân lý tuyệt vời phổ thông”


Khi lánh nạn miền Đông thì: – Ngài giáo dục tinh thần kháng chiến cho Bình Xuyên. – Khi xảy ra nạn đói Bắc Kỳ thì Ngài đi khuyến nông. – Khi Nhật đảo chánh Pháp, – Ngài thành lập Ban trị sự các cấp, và lực lượng gìn giữ hương thôn. – Và tổ chức phong trào Độc Lập Vận Động Hội, đòi Nhật trao trả độc lập. Khi Pháp tái chiếm Việt Nam lần hai (23/9/1945) – Ngài thành lập quân đội Bảo An để đương đầu với Pháp. Tháng 9/1946 khi Pháp đàn áp mạnh ở các đô thị, các lực lượng kháng chiến rút vào bưng biền thì – Ngài thành lập Đảng Dân Chủ Xã Hội, để huy động hầu hết các tổ chức trí thức yêu nước tại Sài Gòn, nhằm củng cố lực lượng kháng Pháp. Tháng 10/1946 do nhu cầu tăng cường thống nhất lực lượng dân tộc, khi được lời mời Ngài liền tham gia UB/KCHC/NB, với chức vụ rất khiêm tốn là Ủy Viên Đặc Biệt, với chức năng vừa hòa giải mọi xung đột hai bên, vừa hợp tác thành lập các khu kháng chiến, nhằm lập kế lâu dài cho vận hội dân tộc.
Đầu năm 1947. Do tiên liệu đến giai đoạn
“Ta dừng tay chờ đợi lịnh Thiên”. Ngài chấp nhận vào cuộc, nhân biến cố Đốc Vàng Hạ rất thuận duyên để Ngài thể hiện sự chấp hành kỷ luật tổ chức hành chánh và tận tình thực thi nghĩa vụ với non sông, vừa cứu nguy cho đoàn thể sinh tồn bằng một lá thơ “Thần kỳ” đồng thời vận dụng cơ huyền tạm thời qui ẩn chờ lịnh Hoàng Thiên. Sự khế hợp nhuần nhuyễn viên dung lý sự, về sự thoát nạn nhiệm mầu như vậy là một thông điệp Thiên cơ khắc sâu niềm tin cho tín đồ yên tâm “Kiên trinh gìn mối đạo” và hứa hẹn Ngài sẽ trở lại khi cơ Trời thuận lợi. Đúng như lời dặn dò trước đó:
“Ít lâu ta cũng trở về,
Khuyên trong bổn đạo chớ hề lãng xao”


Có nhiều người không hiểu cho rằng, vì sao Đức Huỳnh Giáo Chủ nổi tiếng là một nhà Thánh triết tiên tri lại phải “thọ nạn Đốc Vàng” để phải kết thúc sớm sự nghiệp hoằng hóa, khiến đoàn thể PGHH rơi vào cơn Pháp nạn dai dẳng gần 70 năm.


Xin thưa, nếu nhìn ở góc độ phàm phu, thì không thấy hết sự thành công vĩ đại của Đức Huỳnh Giáo Chủ trên 3 lãnh vực Tôn giáoChính trịQuân sự. Nhưng xét theo Thiên lý sẽ thấu đáo được rằng: Đức Thầy lâm phàm trong thời kỳ Mạt hạ tức thời tận diệt, mọi cộng quả, cộng nghiệp của nhân loại đều nằm trong bộ máy lọc lựa để tuyển chọn người hiền đức, đưa sang thế giới Tân Ngươn Thánh Đức.
Nên việc đào tạo phải thích nghi sự dịch chuyển tuần hoàn từ hạ sang thượng, điều ấy phải thuận theo sự thăng tiến nghịch chiều. Vì lẽ đó, Đức Huỳnh Giáo Chủ xây dựng nền tảng Giáo lý, chú trọng việc đào luyện tín đồ các đức tính: Trung, hiếu, hiền, lương trên cơ sở đền trả tứ ân. Tục ngữ có câu: “Nhà nghèo mới hay con thảo, nước loạn mới biết tôi trung”. Thế nên trong môi trường gian khổ đầy thử thách. Người tín đồ mới có nhiều cơ hội vừa nhẫn nhục đền trả oan khiên, vừa đáp đền tứ đại trọng ân và tự rèn đúc ý chí kiên trinh theo lẽ đạo, để đi đến trọn sáng trọn lành. Ngài đã từng cảnh báo thói thường của hạng giả tu.
“Tu mà ham cho được giàu sang
Với quyền tước là tu dối thế”


Thực tế 77 năm qua, tín đồ PGHH do hấp thụ nền chánh đạo vô vi của Đức Huỳnh Giáo Chủ, hằng triệu triệu tín đồ chân chính, đều có cơ hội rèn luyện và thực hành, đạt rất nhiều thành tựu từ nhiều góc độ và nhiều lãnh vực siêu tuyệt khác nhau, nếu so với các tôn giáo khác, cùng đồng hành trên thế giới, thì PGHH có nhiều nét nổi trội hơn hẳn về những đức tính căn bản chủ yếu nêu trên.

1./- Về Tôn Giáo: Sau hơn một ngàn năm Phật Giáo thất truyền Phật Giáo đang bị “Thế tục hóa” toàn diện. Ngài xuất hiện kịp thời đưa ra nền giáo thuyết “Học Phật Tu Nhân” nhằm vãn hồi đạo Nhân và chấn hưng Phật Giáo, rất phù hợp mọi căn khí chúng sanh. Trên thì có giáo pháp thắng diệu cao siêu, hạp với hạng thượng căn thắng sĩ, dưới thì dùng cách phổ cập trung đẳng, giúp đại chúng dễ dàng nương tựa thực hành để trở nên Hiền Đức Hiếu Trung.

2./- Về Chính Trị: Đương nhiên tín đồ cư sĩ tại gia phải có nhiệm vụ đáp đền ơn Đất nước trong lúc Quốc gia nghiêng nghèo. Nhất thiết phải cần có một đường lối chính trị thích hợp nhân tâm đạo đức nhà tu, vừa có qui củ đánh đuổi ngoại xâm vừa có kế sách an dân và lộ trình kiến thiết Quốc gia công bằng nhân đạo và văn minh giàu mạnh. Nền chánh đảng “Việt Nam Dân Chủ Xã Hội” là đường lối trung hòa hoàn toàn phù hợp xu thế dân chủ lúc bấy giờ và mãi mãi không lạc hậu với thì tương lai. Giúp cho người tín đồ có năng lực và ý chí giúp đỡ quê hương tương xứng với tiềm năng có thể của mình, mà vẫn giữ được phong cách nhà tu chân chánh.

3./- Về Quân Sự: Tính chất quân sự của PGHH hoàn toàn khác hẳn mục tiêu Quân sự quốc gia. Ngoài việc tham gia kháng chiến chống ngoại xâm, gìn giữ an ninh làng xóm và bảo vệ đạo pháp, lúc nước nhà đang bị nô lệ, nền đạo còn sơ khai. Quân đội của PGHH không có mục đích cát cứ vùng miền, hoặc bạo lực cướp chính quyền hay thành lập quốc gia như các lực lượng chính qui quân với hình thức tổ chức quân đội quốc gia. Khi đất nước thanh bình, đương nhiên quân đội PGHH tự giải thể để trở về đời sống tu hành.

Đó chính là mục tiêu cố định của quân đội Hòa Hảo. Đúng như lời Đức Huỳnh Giáo Chủ đã bày tỏ ý chí và trách nhiệm với Non sông:
“Tăng sĩ quyết chùa am bế cửa,
Tuốt gươm vàng lên ngựa xông pha.
Đền xong nợ nước thù nhà,
Thuyền môn trở gót Phật Đà Nam Mô”


Điển hình là tháng 10/1946 khi Đức Thầy tham gia vào UB/KCHC/NB với chức vụ Ủy Viên Đặc Biệt, Ngài liền đem lực lượng quân sự PGHH sáp nhập vào chính qui quân của chính phủ Việt Minh, không bảo lưu thẩm quyền biệt lập.
Tóm lại Đức Huỳnh Giáo Chủ có chủ trương rõ ràng minh chánh và rất thành công trên 3 lãnh vực Tôn giáo – Chính trị – Quân sự, từ nền tảng triết lý, cũng như trực tiếp treo gương và hướng dẫn thực hành, rất chu đáo và hợp pháp rất thí chứng nhân tâm và Đạo lý, là nền tảng kim chỉ Nam cho hầu hết tín đồ nương theo mà lập công bồi đức để trở thành tín đồ chơn thành và công dân ưu tú, từng bước tiến đến trọn sáng trọn lành đạt đến cứu cánh giải thoát.
Tuy nhiên trong tình hình đất nước nhiễu nhương thời binh lửa, không sao tránh khỏi một số ít ngoại đạo gia nhập lợi dụng đi ngược chủ trương, nhưng cũng chỉ là nhỏ lẻ mà thôi.

Kết luận: Chúng ta khẳng định biến cố Đốc Vàng Hạ là một chứng tích lịch sử hiển nhiên không thể đảo ngược, được diễn ra trong bối cảnh phức tạp, ẩn chứa nhiều tình tiết bí ẩn cơ huyền, ngoài sức lý giải của phàm nhân. Nếu không dựa vào chánh tín để cảm thụ “Thiên cơ đạo lý” thì không sao thấu đáo ý nghĩa cơ mật tiềm tàng. Là tín đồ PGHH chúng ta tuyệt đối tin Đức Huỳnh Giáo Chủ là Phật lâm phàm với nhiều sắc chỉ thiêng liêng, có sứ mạng trọng đại trong cõi Ta Bà thời mạt pháp, chứ không riêng VN. Vậy hiện nay địa cầu đang biến chuyển nghiêm trọng, mà công cuộc tận độ của Ngài vẫn còn dang dở nửa vời, tất nhiên Ngài không thể không xuất hiện trở lại để hoàn tất theo Thiên mệnh. Nên Ngài cũng không thể chết (Tịch diệt) trong mọi trường hợp để tái kiếp. Tin chắc điều ấy, vì trong câu cuối bài “Sứ Mạng” Đức Thầy đã thổ lộ là kiếp cuối cùng “Kiếp chót nầy đây há lại tiếc chi thân phàm tục, song vì tình cốt nhục tương thân, cũng ủng hộ chở che cho xác phàm bớt nỗi cực hình” .

Vậy sự cố Đốc Vàng Hạ đối với Ngài là một việc rất nhỏ so với đại cuộc nhân loại. Chỉ cần Ngài cử động nhẹ cây “Trần Phất” cũng đủ tự tại“Một Thầy ba Tớ hết buồn lại vui”. Nếu như trong quyển một Sấm Giảng, Đức Huỳnh Giáo Chủ đã mô tả cảnh “Một Thầy ba Tớ đi dạo lục châu” biến hóa thần kỳ thoạt đó thoạt đây, đủ hình đủ dạng tục, tiên. Thì tại sao chúng ta lại không tin “Một Thầy ba Tớ dùng hóa thân” để đi giải nạn Đốc Vàng Hạ, cho thuận cơ ẩn ánh tạm thời, và cứu tín đồ khỏi họa diệt vong. Đến như vấn đề bức thư khẩn cũng đầy thần bí. Người đưa thơ đã được gặp Đức Thầy lúc nào, sao không báo sự an nguy của Đức Thầy lúc ấy ra sao, lại cũng không lưu lại doanh trại cho an toàn.Vị nầy còn có vẻ bí ẩn thần diệu hơn nhiều, nửa đêm lại dám hối hả xông vào bản doanh soái tướng… rồi lại ra đi đột ngột.

Chúng ta thử đặt ra tình huống ngược lại, nếu Bửu Vinh đã quá nghi ngờ và cố tâm triệt hạ, mà Ngài không ẩn ánh, chẳng lẽ Ngài phải đương đầu cho rơi vào thảm họa “nồi da”. Thánh nhân xưa nay không bao giờ tham dự trong cảnh ngộ đồng chủng tương tàn. Nhiều lần Ngài lánh nạn ở miền Đông chẳng qua cũng vì lẽ ấy!
Đức Thầy là đấng Đại Bi vô ngã, không vướng hiềm riêng mà lúc nào cũng bao dung với từ tâm rộng độ. Vậy bổn phận tín đồ PGHH chúng ta. Còn trong địa vị phàm phu cứ tùy theo thời kỳ, có thể ứng xử hay nhận định lý giải cách nào về vụ ĐốcVàng Hạ cũng đều chánh đáng cả, tùy theo căn tánh và môi trường sao sao cũng tốt, miễn cho thích hợp theo từng giai đoạn lịch sử lúc thắt lúc mở, đều có thể dễ đồng cảm được nhau về mặt tương đối. Tuy nhiên trong giai đoạn này, thế giới đầy biến động, VN cũng không ngoại lệ, chúng ta cần có cách nhận định theo lẽ cơ huyền, thuận lý Thiên cơ, nhằm làm dịu dần đi bao nỗi bất bình, cho thần trí nhẹ nhàng thanh thản, hầu rảnh rang trau dồi thân tâm an lạc, củng cố niềm tin Đức Thầy trở lại, mà nỗ lực xây dựng tình đoàn kết đệ huynh, tương trợ lẫn nhau trong quan, hôn, tang, tế và dìu dắt nhau tiếp bước tu hành, cho đủ Đức, đủ Công, đủ điều kiện gặp lại Chơn sư như đã hằng mong đợi. Đồng thời tạo thêm hòa khí,vốn đã tốt ngày càng tốt hơn, đối với nhân sinh và các giới ngoại đạo. Nhất là, làm sao linh động phương cách tổ chức các ngày Đại lễ kỷ niệm, cho được an toàn êm thắm và nhân rộng lan tỏa khắp nhà nhà, mà vẫn thể hiện đầy đủ ý nghĩa tôn kính từ hình thức lẫn nội dung hành lễ, không kém gì các hình thức tổ chức nghi lễ tập trung, mà phải thường xuyên vất vả với nhiều chướng ngại khách quan, rất khó suôn sẻ như ý vậy.

Chân thành kính chúc quý đồng Đạo quốc nội cũng như hải ngoại được hưởng nhiều phúc lạc trong các mùa đại lễ an lành, dưới sự hộ trì của Đức Phật, Đức Thầy tôn kính!

Trân Trọng,

Châu Lang
TP Sa Đéc 22/02 năm Bính Thân (2016)

Last edited by Buile; Hôm nay at 07:15 AM.
Categories: Nhan dinh | Leave a comment

Đức Phật dạy những chân lý giúp bạn đi qua mọi giông bão cuộc đời

Đức Phật dạy những chân lý giúp bạn đi qua mọi giông bão cuộc đời

Cập nhật lúc: 10:50 18/07/2016

Cuộc đời này vốn nhiều biến động, ai cũng phải đối mặt với những khó khăn, thất bại. Những điều Phật dạy dưới đây sẽ giúp bạn đi qua giông bão cuộc đời.
Cuộc sống này người trẻ có những cái khổ của người trẻ, người già có những cái khổ của người già, người giàu có những cái khổ của người giàu và người nghèo có những cái khổ của người nghèo. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng đều có những cái không được hài lòng như ý.
Có ai sống mà không lo lắng, không hối tiếc, không trông mong, không nhớ nhung, không sầu khổ, không nuối tiếc hay hy vọng một điều gì đó? Có ai sống mà không biết phiền muộn khổ đau, thất chí nản lòng, bi quan yếm thế, chán chường trong cô đơn tuyệt vọng? Có ai dám bảo đảm rằng ta hoàn toàn khỏe mạnh, thoải mái cả hai về mặt thể xác lẫn tinh thần? Chắc chắn là không có ai, ngoại trừ các vị đại Bồ tát và chư Phật thị hiện vào đời để giáo hóa chúng sinh.
Những nỗi khổ, niềm đau trong kiếp người không bao giờ kể xiết. Nó đeo đẳng, chi phối đời sống của ta như bóng theo hình. Người nghèo phải khổ vì dãi nắng dầm mưa, đầu bán cho trời, lưng bán cho đất, nợ nần chồng chất, con cái thất học, bệnh tật đau yếu, vợ chồng ly tán.
Người giàu phải khổ vì quyền cao chức trọng, sợ người tài giỏi hơn mình, luôn sống trong lo âu vì sợ tiền tài bị mất mát và nỗi khổ đau nhất là con cái bất hiếu, phá sản vì bê tha, nghiện ngập. Xét cho cùng, đã có thân này là có khổ, cho nên ta cần phải cố gắng tu tâm dưỡng tánh để biết cách làm chủ bản thân mà vươn lên vượt qua cạm bẫy cuộc đời.
Duc Phat day nhung chan ly giup ban di qua moi giong bao cuoc doi
Ảnh minh họa.
Đức Phật vì lòng từ bi mà thương xót chúng sinh nên đã chỉ ra nỗi khổ niềm đau, chỉ dạy phương pháp dứt khổ để chúng ta cùng được sống trong bình yên, hạnh phúc.
Dưới đây là 7 lời dạy của Phật giúp bạn thản nhiên đi qua giông bão:
Bảo trì tinh thần, tâm thái tích cực
Hết thảy mọi sự trong cuộc đời của một người đều bắt nguồn từ trạng thái nội tâm của người ấy. Nội tâm của một người lại là thứ mà con người có thể hoàn toàn khống chế, kiểm soát được.
Có câu nói như thế này, “Tôi không thể thay đổi hướng gió, nhưng tôi có thể điều chỉnh những cánh buồm để đến nơi tôi đã định”. Tâm thái của một người thực sự có thể làm thay đổi vận mệnh của một người. Cho nên, tinh thần, tâm thái tích cực là tài phú đứng đầu của con người.
Bảo trì thể trạng khỏe mạnh
Thể trạng khỏe mạnh được bắt nguồn từ tinh thần, ý thức khỏe mạnh. Con người ta chỉ có thể thực sự có một cơ thể khỏe mạnh khi tư tưởng, nội tâm của người ta không bị ràng buộc, không bị quá nhiều thứ xấu đè nặng.
Thoát ly khỏi sự sợ hãi
Đời người có bảy loại sợ hãi căn bản chính là nghèo khổ, sợ bị phê bình, sợ bệnh tật, sợ mất đi tình yêu, sợ mất đi chính mình, sợ già và sợ chết.
Người làm “nô dịch” cho những nỗi sợ hãi này sẽ không thực sự giàu có, thực sự tự do. Đời người nên thuận theo duyên, đừng cưỡng cầu, sợ hãi mất đi thứ này, mất đi thứ kia, thuận theo duyên là một loại cảnh giới cao!
Giữ vững hy vọng tương lai thành công
Hy vọng chính là người dẫn đường tốt nhất cho trạng thái nội tâm của con người. Hy vọng cũng chính là nền móng sâu lắng nhất của sự vui vẻ, khoái hoạt.
Nếu trong cuộc đời, gặp phải những bất trắc, những khó khăn, hãy đừng quên hy vọng vào ngày mai! Bởi vì, chỉ cần lựa chọn được con đường đúng đắn, cố gắng kiên trì thì tương lai nhất định sẽ có biến chuyển.
Xác định và kiên trì tín niệm
Niềm tin, tín niệm là một loại sức mạnh. Nó có thể đem năng lượng bình thường của suy nghĩ chuyển đổi thành sức mạnh tinh thần và tạo thành sự thực.
Tín niệm còn giúp con người kiên trì đến cuối cùng với con đường đã lựa chọn của mình.
Mở lòng chia sẻ với người khác
Mọi người vẫn thường nói, niềm vui, niềm hạnh phúc khi có người khác chung vui thì sẽ được nhân đôi, nỗi buồn được chia sẻ cũng sẽ vơi đi một nửa. Chia sẻ chính là con đường khiến mọi người xích lại gần nhau hơn, là một loại hạnh phúc thực sự. Cho người khác, đến cuối cùng cũng chính là nhận lại!
Tự khắc chế, nghiêm khắc với bản thân
Khổng Tử dạy, người quân tử chân chính đối với bản thân vô cùng nghiêm khắc, đối với người khác lại vô cùng bao dung.
Người có thể tự khắc chế bản thân, soi xét mọi hành vi, lời nói của bản thân mình thì sẽ không dễ phạm sai lầm. Khi gặp hoàn cảnh khó khăn, gặp thử thách, họ sẽ không dễ dàng đánh mất bản thân mình.
Người có thể tự khắc chế bản thân trong mọi hành vi, lời nói thì chính là đang trong quá trình tu dưỡng bản thân mình, đạt cảnh giới cao hơn!
Categories: Nhan dinh | Leave a comment

Luận bàn giữa Trần Đình Sử và Hà Sĩ Phu

Luận bàn giữa Trần Đình Sử và Hà Sĩ Phu

 1. Nếu Việt Nam trở thành một khu tự trị của Trung Cộng thì sẽ ra sao?

Trần Đình Sử

(Giáo sư – Nhà giáo Nhân dân)

clip_image001
Trước hết tên nước bị xóa mất.
Dân Tàu tràn sang ta.
Chữ Hán là ngôn ngữ chính, tiếng Việt như tiếng Chuang bây giờ.
Người Việt sẽ bị di dời đi qua nhiều nơi hẻo lánh của Trung Quốc, bị phân tán triệt để để không còn tập trung, không có sức để khôi phục lại nước cũ.

clip_image002
Quân đội Việt Nam sẽ sang trấn thủ phía biên giới Ấn Độ, Pakistan, Duy Ngô Nhĩ, đánh nhau, chết ở đó, còn quân Tứ Xuyên, Quý Châu, Quảng Đông sang bảo vệ các thành phố lớn Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng,…
Các nhân sĩ yêu nước bị đàn áp.

Các sách vở quý hiếm trong Viện Hán Nôm sẽ bị thủ tiêu dần cho đến khi không còn dấu tích.
Lịch sử sẽ bị viết lại hoàn toàn. Các cuộc chiến tranh anh hùng của ông cha ta với các thống lĩnh như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi Quang Trung,… bị viết thành các cuộc nổi loạn chống lại trung ương. Bọn Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, Hoàng Văn Hoan là những nhà yêu nước vĩ đại, đâu đâu cũng có tượng đài của chúng.

clip_image003
Có một bọn văn nô viết bài ca ngợi: Lạc Việt lại trở về trong lòng Bách Việt. Bọn khác thì khảo chứng mối quan hệ thân thiết giữa vua Hùng với các hoàng đế Trung Hoa, rồi các mục trên báo “Chuyện bây giờ mới kể” nở rộ.

clip_image005
Dải đất hình chữ S vẫn còn mà giống người Việt, văn hóa Việt không còn nữa…
Thật đau lòng!
T.Đ.S.

Nguồn: https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=421463271372177&id=100005255232519

2. Dựng nước 4000 năm, xóa đi chỉ 4 tháng

TS. Hà Sĩ Phu

Tôi rất đồng ý với bác Trần Đình Sử (bạn đồng môn của tôi, ở Đại học Ngoại ngữ, học tiếng Nga để chuẩn bị đi Nga làm NCS, nhưng tôi lại chuyển sang đi Tiệp).

Một số bạn bè vẫn lên tiếng mạnh mẽ đã tâm sự với tôi: Biết rằng bây giờ dù có nói mấy cũng không ích gì nữa, ván đã đóng thuyền, “chơi cờ” với thằng Tàu, đi lầm một nước đã đủ chết huống chi “cố tình” đi nhầm từ đầu đến cuối hàng trăm nước cờ, không ai ngăn được, thì cứu cái nỗi gì? Ta lên tiếng bây giờ là để con cháu sau này biết rằng “thời ấy” không phải mọi người dân Việt đều ngu si hay đểu giả cả đâu. Tôi chỉ cười và bảo: Chút hy vọng được hậu thế đánh giá như thế cũng mong manh lắm, chắc gì?

Vì  NẾU:  VN thuộc Tàu thì ngay cả những Bà Trưng bà Triệu, Hưng Đạo -Nguyễn Trãi – Quang Trung… (tất nhiên không có HCM trong danh sách sẽ bị bôi xấu này) cũng bị liệt vào những tên GIẶC CỎ thiểu số một thời nổi lên chống lại Triều đình Trung ương Bắc Kinh…! Mất nước là mất hết gia phả. Chỉ còn một số tên đã có công giúp Bắc Kinh thu hồi giang sơn về một mối là được giữ lại cho hưởng chút cơm thừa canh cặn của Tàu thôi!

Xây dựng Tổ quốc thì 4000 năm chứ xóa thì chi chỉ 4 tháng là xong. Vậy làm thế nào để đập tan được chữNẾU ấy để nó không thành hiện thực?

Kính thư

H.S.P.

Tác giả gửi BVN

Categories: Nhan dinh | Leave a comment

“Trung Quốc chiếm trọn Việt Nam chỉ là vấn đề thời gian?”

“Trung Quốc chiếm trọn Việt Nam chỉ là vấn đề thời gian?”

André Menras

Rất tiếc, dù quan điểm ấy có vẻ bi quan và hơi quá đáng, tôi đồng ý với nó: chiến lược thôn tính hóa VN (biển đảo, lục địa, con người, văn hóa) của bọn Đại Hán rất rõ và đang đi tới hàng ngày trước mắt các lãnh đạo VN, trước mắt nhân dân Việt Nam. Lãnh đạo vô cảm, hay bị mua chuộc, hay hèn. Không làm gì cụ thể để chống lại. Thậm chí họ đàn áp phong trào đang nảy sinh để chống lại [Tàu cộng]. Nếu nhân dân VN không quyệt định dấn thân vào một cuộc cách mạng kháng cự cứu quốc mới thì Việt Nam , sớm hay muộn sẽ thành một khu tự trị của TQ như Tây tạng, Tân Cương …

nguồn: vrvradio

Với con mắt người Nhật: “Trung Quốc chiếm trọn Việt Nam chỉ là vấn đề thời gian?”

clip_image001

Bài viết dưới đây mượn lời của một người Nhật vốn sinh sống và làm việc tại Việt Nam khá lâu. Anh bạn này có góc nhìn rất khác đối với kế hoạch xâm lược Việt Nam của Trung Quốc, đồng thời châm biếm, đả kích sự thờ ơ của một số vị lãnh đạo tỉnh thành trước mối đe dọa đặt ra cho đất nước. Tâm sự của anh như sau:

Tôi đã sinh sống và làm việc khá lâu tại đất nước các bạn, dĩ nhiên trước khi sang đây, chúng tôi đã nghiên cứu rất nhiều về văn hóa và lịch sử Việt Nam để có thể hòa nhập tốt. Cũng như các bạn, nước Nhật chúng tôi đang trải qua thời kỳ vô cùng khó khăn khi liên tục phải cảnh giác và đối phó với những âm mưu thôn tính Quần đảo Senkaku trên biển Hoa Đông của Trung Quốc. Đối với tình hình đất nước bạn hiện nay, tôi có một số đánh giá như sau:

Thói quen bành trướng của người Trung Quốc đã có từ xa xưa, quốc gia này luôn lăm le xâm chiếm nước Việt, điển hình là sự kiện An Dương Vương mất nước đã bắt đầu thời kỳ Bắc thuộc kéo dài 1000 năm trong lịch sử Việt Nam, đến khi Ngô Quyền đánh thắng giặc trên sông Bạch Đằng. Rồi thì hàng loạt cuộc chiến tranh biên giới khác kéo dài từ xưa cho đến nay, tham vọng bành trướng của người Trung Quốc vẫn cháy rực không ngừng. Quốc gia phía Nam luôn là mục tiêu mà người Trung Quốc nhắm đến, tuy nhiên các bạn không dễ dàng bị ức hiếp và xâm lược.

clip_image002

Âm mưu của người Trung Quốc sử dụng trên Biển Đông được gọi là chiến thuật “cắt lát salami”, nghĩa là họ sẽ không cùng lúc chiếm toàn bộ mà là “ăn mòn” từng bộ phận, sau đó độc chiếm trọn vẹn.

Từ thời xưa, người Trung Quốc đã không ngừng nỗ lực xâm phạm bờ cõi Việt Nam, điều này vẫn kéo dài cho đến ngày nay và họ sẽ tiếp bước thế hệ cha ông tiếp tục sự nghiệp bành trướng. Âm mưu của người Trung Quốc được gọi là chiến thuật “cắt lát salami”. Nghĩa là họ sẽ không cùng lúc chiếm toàn bộ lãnh thổ của Việt Nam mà là “ăn mòn” từng bộ phận, sau đó độc chiếm trọn vẹn, toàn bộ. Chiến thuật này không chỉ áp dụng tại Biển Đông – từng bước độc chiếm các bãi cạn và đảo nhỏ, củng cố yêu sách chủ quyền Trung Quốc trên Biển Đông –mà còn được áp dụng trong âm mưu xâm lược trên đất liền Việt Nam.

Kế hoạch “tích tiểu thành đại” của Trung Quốc gồm nhiều hành động nhỏ: từ việc thâu tóm và biến các công ty Việt Nam thành công ty Trung Quốc, tăng cường sự hiện diện của người Trung Quốc tại Việt Nam; cho tới việc đẩy mạnh đầu tư lớn trên khắp đất nước, đặc biệt là khu vực Quảng Trị đến Thừa Thiên Huế – nơi hẹp nhất theo chiều Đông-Tây của dải đất hình chữ S (bề rộng chỉ khoảng 40km).

clip_image003

Con đường bê tông dẫn vào khu dự án nghỉ dưỡng 5 sao trên đèo Hải Vân – nơi có vị trí chiến lược quan trọng về quân sự của Việt Nam.

Việc di dân âm thầm xâm nhập vào lãnh thổ Việt Nam là bước nhỏ tạo bàn đạp để người Trung Quốc đồng hóa cũng như gây nhiễu trật tự xã hội tại đất nước các bạn. Trên dải đất hẹp nhất của Việt Nam, họ muốn dần thay thế người Việt bằng người Trung Quốc nhằm phục vụ cho âm mưu chia cắt Việt Nam và mưu chiếm Biển Đông. Bởi vì từ căn cứ quân sự Du Lâm của Trung Quốc trên đảo Hải Nam đến Cửa Việt (Gio Linh, Quảng Trị) của đất nước các bạn chỉ khoảng 320 – 350km theo đường chim bay. Do đó, họ dễ dàng thực hiện âm mưu chia cắt hai miền Nam Bắc trên cả đường bộ lẫn đường biển.

“Mất đất là mất nước”, người Trung Quốc đã lợi dụng điểm này để thực hiện âm mưu xâm lược của họ. Cách đây không lâu, họ không tiếc tay chi mạnh tiền thuê đất đầu nguồn trồng rừng của Việt Nam nằm ở cả ba miền Bắc – Trung – Nam với thời gian thuê dài hạn là 50 năm. Những vùng đất đầu nguồn đều có ý nghĩa chiến lược rất quan trọng đối với Việt Nam, việc dễ dàng cho Trung Quốc thuê đất sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho họ thực hiện mưu đồ “xâm chiếm”.

clip_image004

Tập đoàn Innov Green (Hồng Kông, Trung Quốc) được cấp phép thuê đất 50 năm trồng rừng nguyên liệu tại Quảng Ninh, Nghệ An, Quảng Nam, Lạng Sơn, Kon Tum.

Mới đây nhất là việc lên kế hoạch xây dựng khu du lịch nghỉ dưỡng quốc tế World Shine (Huế) nằm ở khu vực đèo Hải Vân – nơi có vị trí chiến lược quan trọng về quân sự của Việt Nam. Năm 2013, tỉnh Thừa Thiên – Huế đồng ý cấp phép gần 200ha đất ở khu vực đèo Hải Vân cho một công ty Trung Quốc để thực hiện Dự án xây dựng Khu du lịch nghỉ dưỡng quốc tế World Shine với tổng mức đầu tư lên đến 250 triệu USD.

Theo thông tin mà tôi biết, nơi này có liên quan đến quân khu V và quân khu IV của Việt Nam, nếu chiếm được đèo Hải Vân tức là chiếm được Đà Nẵng. Từ Đèo Hải Vân nếu “lấn chiếm” sang Đèo Ngang thì Vịnh Bắc Bộ chắc chắn sẽ bị chia cắt, Trung Quốc khi đó hoàn toàn đủ sức đe dọa an ninh quốc gia của Vịệt Nam. Đây là binh pháp có từ thời xa xưa, từ lợi dụng kinh tế nhắm đến mục tiêu quốc phòng, tung hỏa mù khiến cho địch mất phương hướng, đây là điều người Trung Quốc đang hướng tới.

Nhưng lạ thay, các vị chủ tịch huyện tỉnh của Việt Nam có lẽ chưa được học binh pháp này. Trung Quốc chỉ cần vung tiền mua đất để đầu tư thì các bạn đã nhanh chóng cắt đất cho thuê mà không mảy may nghi ngờ [vì những tờ bạc đã lèn chặt cổ họng các quan cũng như bưng tai bịt mắt các quan hết rồi. Người Việt cũng nhiều người tham, nhưng tham như cộng sản thì đã vượt lên khỏi tính cách dân tộc Việt – BVN]. Dĩ nhiên mưu đồ này không thể qua mắt được các vị tướng lĩnh quân đội. Âm mưu bị vạch trần và kế hoạch của người Trung Quốc thất bại ngoài ý muốn.

clip_image005

Việt Nam không đồng ý với đề xuất đưa 1000 xe cùng 1500 người Trung Quốc vào Việt Nam “nhân dịp hội chợ thương mại Việt Nam – Trung Quốc” trong tháng 12/2014. Có lẽ, các bạn đã bắt đầu đề cao cảnh giác hơn trước âm mưu của Trung Quốc.

Nhưng các bạn nên nhớ, Trung Quốc sẽ không từ bỏ kế hoạch thâm độc của mình và tôi lo ngại rằng vẫn còn nhiều vị Chủ tịch tỉnh sẵn sàng cấp phép cho các dự án nhanh chóng để đạt được cái mà họ gọi là “lợi ích chung của cộng đồng, cũng như vì sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và quốc gia” (nhưng thực ra là lợi ích của riêng họ) [bạn nói đúng lắm, bọn quan lại chết dẫm như tên Võ Kim Cự nguyên Chủ tịch Hà Tĩnh thì nhiều vô kể, và hiện đang mỏi cổ ngóng đợi các dự án của Tàu đấy – BVN]. Không mấy khó khăn khi thuyết phục những vị lãnh đạo này, họ có vẻ khá dễ dãi và nhìn nhận sự việc quá đơn giản, trong khi người Trung Quốc thì quá thâm độc!

Mới đây, chính quyền thành phố Bằng Tường (Trung Quốc) đã đề nghị phía Việt Nam cấp phép cho 1.000 xe với khoảng 1.500 người Trung Quốc du lịch tại Việt Nam và quá cảnh sang các nước ASEAN, viện cớ là “nhân dịp hội chợ thương mại Việt Nam – Trung Quốc” trong tháng 12/2014.

Yêu cầu của Trung Quốc đã vấp phải sự phản đối của Bộ Giao thông Vận tải và Bộ Quốc phòng Việt Nam. Có lẽ, các bạn đã bắt đầu đề cao cảnh giác hơn trước âm mưu của Trung Quốc khi họ cố tình đề nghị được phép đi lại tự do từ 5 cửa ngõ của Việt Nam. Thông qua việc đưa một số lượng lớn người Trung Quốc đi khắp đất nước này, họ dễ dàng do thám tình hình, cài người Trung Quốc vào người Việt Nam, gây nguy hiểm cho chính người Trung Quốc để có cớ bắt bớ Việt Nam,… Những điều như vậy chẳng phải rất dễ dàng xảy ra nếu đề nghị trên được chấp thuận hay sao?

clip_image006

Một điểm khiến tôi cảm thấy lạ nhất đó là khi âm mưu của Trung Quốc bị vạch trần, lãnh đạo của các tỉnh thành Việt Nam lại dễ dàng phủi bỏ trách nhiệm quanh co biện minh cho quyết định sai lầm. Dường như các vị ấy chưa từng được học về “nhận sai và sửa sai”. Nếu như ở đất nước chúng tôi, thì ngay lập tức các lãnh đạo của chúng tôi sẽ tạ lỗi trước người dân và xin từ chức.

Thiết nghĩ nếu Việt Nam vẫn còn nhiều vị quan chức dùng lý do “lo lắng cho lợi ích chung của cộng đồng” (thực chất là của riêng họ) và cố tình lờ đi “sự gian nguy của đất nước” thì âm mưu xâm lược Việt Nam của người Trung Quốc chỉ là vấn đề thời gian mà thôi.

Thảm họa diệt chủng đã hiện ra trước mắt, không ai có thể cứu được dân tộc Việt Nam khỏi thảm họa này, ngoài 90 triệu người Việt. Mỗi người cần nhìn thấy cái chết đang đến với chính mình và con cháu mình, hãy chuyển tải thông tin này tới tất cả mọi người, tới mọi tờ báo, mọi phương tiện thông tin để mọi người cùng biết [khốn nỗi Ban tuyên giáo của Đảng CS Việt Nam luôn luôn như một lá chắn khổng lồ chắn hết mọi luồng tin tức đến tận lỗ tai dân chúng rồi, biết làm sao được nữa hở bạn – BVN], cùng nhau đứng lên chống thảm họa diệt chủng đã đến trước mắt, để cả thế giới cùng biết và lên tiếng bảo vệ chúng ta.

HÃY XIẾT CHẶT VÒNG TAY LỚN – DÂN TỘC VIỆT NAM NHẤT ĐỊNH THẮNG!

A.M.

Nguồn: https://www.facebook.com/andre.menras.1/posts/1753677208203391

Categories: Nhan dinh | Leave a comment

Blog at WordPress.com.