Sấm Giảng

Vài nét về Đức Huỳnh Giáo-Chủ

Vài nét về Đức Huỳnh Giáo-Chủ 7

Nhờ Giáo-pháp thích-thời đó nên chỉ trong một

thời-gian ngắn, Ngài thu-phục được hai triệu tín-đồ tại

miền Nam Việt-Nam và ảnh-hưởng mỗi lúc càng lan

rộng thêm ra.

Vì Ngài được thiên-hạ quá hoan-nghinh nên nhà

đương-cuộc bắt đầu để ý đến sự bành-trướng dị-

thường của phong-trào tôn-giáo Phật-Giáo Hòa-Hảo,

nên một biện-pháp chánh-trị đã được đem ra thi-hành

và Ngài phải bị quản-thúc tại làng Nhơn-Nghĩa (Cần-
Thơ).

Ở đây, Ngài lại được người ta tôn-sùng hơn trước

nữa, làm cho nhà cầm quyền phải đem Ngài an-trí tại

nhà thương Chợ-Quán. Sau đó, Ngài lại bị dời về Bạc-
Liêu đến năm 1942.

Khi người Nhựt nhúng tay vào thời-cuộc Đông-
Dương trong hồi thế-giới chiến-tranh kỳ nhì, họ

cưỡng-bách đem Ngài về Sài-Gòn thì Ngài buộc lòng

tá-túc tại Hiến-binh Nhựt để chờ đợi thời-cơ thuận-
tiện ra gánh vác việc nước nhà. Khi đó Ngài có làm

một câu đối để diễn-tả hoàn-cảnh của mình :

“Trương Tiên qui Hớn phi thần Hớn,

Quan đế cư Tào bất đê Tào.”

Sở-dĩ người Nhựt muốn thi ân với Ngài là vì họ

muốn gây cảm-tình với khối tín-đồ khổng-lồ của Ngài

để sau nầy có thể lợi-dụng. Nhưng đã là một người

sáng-suốt thì Ngài đâu có để cho bọn Nhựt lôi cuốn

trong việc chuẩn-bị của họ chống Đồng-minh.

8 Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ

Sau cuộc đảo-chánh mùng 9 tháng 3 dương-lịch

1945, Ngài giữ một thái-độ hết sức dè-dặt vì Ngài biết

chắc-chắn rằng người Nhựt thế nào cũng thất trận.

Lúc đó, Ngài nói một lời tiên-tri rất hài-hước “Nhật-
Bổn ăn không hết con gà”. Mà thiệt vậy ! Vì năm Dậu

(con gà) mà cũng là năm 1945 chưa hết, thì số phận

nước Nhựt đã được định-đoạt.

Năm 1945, “vì lòng từ-ái chứa-chan, thương

bách-tính tới hồi tai-họa”, nên Ngài đứng ra bảo-vệ

quốc-gia và cứu nguy dân-chúng. Ngài từng thành-lập

Phật-Giáo Liên-Hiệp Hội để đoàn-kết đạo Phật, và

Việt-Nam Độc-Lập Vận-Động Hội để vận-động cuộc

độc-lập nước nhà.

Sau khi Nhựt-Hoàng đầu hàng Đồng-minh không

điều-kiện, nước Việt-Nam phải sống một thời-kỳ bất-

định, Đồng-bào Việt-Nam đương lo-sợ cảnh dịch-chủ

tái-nô, Đức Huỳnh Giáo-Chủ liền hiệp với lãnh-tụ các

đảng-phái và tôn-giáo để thành-lập Mặt-trận Quốc-gia

Thống-Nhứt hầu lên tiếng với ngoại-bang. Mặt-trận

nầy lại sáp-nhập vào Mặt-trận Việt-Minh mà chính

Đức Huỳnh Giáo-Chủ là vị đại-diện đầu tiên ở Nam-
Việt.

Sau sự thất-sách của Hồ-Chí-Minh với Hiệp-ước

mùng 6 tháng 3 năm 1946, tạo cơ-hội thuận-tiện cho

thực-dân trở lại, Đức Huỳnh Giáo-Chủ liên-kết với

các lãnh-tụ quốc-gia để thành-lập Mặt-Trận Quốc-Gia

Liên-Hiệp.

Vài nét về Đức Huỳnh Giáo-Chủ 9

Mặt-trận nầy được quần-chúng nhiệt-liệt hoan-
nghinh nên lại bị Việt-Minh giở ngón độc-tài giải-tán.

Họ liền thành-lập Liên-Hiệp Quốc-Dân Việt-Nam Hội

để che đậy màu sắc đỏ của Đệ-Tam Quốc-Tế và để

làm cho quần-chúng quên cái dĩ-vãng đẫm máu của

các tướng Cộng-Sản hồi cuối năm 1945.

Năm 1946, vì muốn gây cuộc đoàn-kết giữa các

tầng lớp đồng-bào, Ngài ưng-thuận tham-gia Ủy-Ban

Hành-Chánh với trách-vụ Ủy-Viên Đặc-Biệt.

Ngài liên-kết các chiến-sĩ quốc-gia với khối tín-đồ

Phật-Giáo Hòa-Hảo để thành-lập Việt-Nam Dân-Chủ

Xã-Hội Đảng (21-9-46), với chủ-trương công-bằng

xã-hội và dân-chủ-hóa nước Việt-Nam. Ngài chẳng

những là một nhà cách-mạng tôn-giáo anh-minh mà

còn là một lãnh-tụ chánh-trị đa tài. Đọc Tuyên-ngôn,

Chương-trình của Đảng Dân-Xã do Ngài đưa ra, dù

cho đối-phương hay những người khó tánh, đều phải

công-nhận Ngài có một bộ óc cải-tiến vượt bực và

nhận-định sáng-suốt phi-thường.

Đồng thời, Ngài cũng gởi người ra hải-ngoại,

đoàn-kết với các nhà cách-mạng quốc-gia lưu-vong để

thành-lập Mặt-Trận Thống-Nhất Toàn-Quốc. Giải-
pháp quốc-gia cũng do công-trình của Ngài và các nhà

cách-mạng xuất-dương mà thực-hiện đến ngày nay.

Bởi đường lối của Ngài trái ngược với chủ-trương

Cộng-Sản và bởi Giáo-thuyết của Ngài có thể gây đổ-

vỡ cho chủ-nghĩa vô-thần, Cộng-Sản đã tìm mọi cách

làm hại Ngài, nhưng họ đều không làm gì Ngài được.

10 Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ

Đầu năm 1947, các tín-đồ Phật-Giáo Hòa-Hảo ở

miền Tây chống lại chủ-trương độc-đoán của các Ủy-
Ban Việt-Minh vì họ áp-dụng chánh-sách độc-tài

trong sự tổ-chức và cai-trị quần-chúng. Muốn tránh

cuộc cốt-nhục tương-tàn, Đức Huỳnh Giáo-Chủ về

miền Tây Nam-Việt với hảo ý trấn-tĩnh lòng phẫn-nộ

của tín-đồ P.G.H.H. và để giảng-hòa hầu đoàn-kết

chống thực-dân cho có hiệu-lực. Nhưng ngày 25

tháng 2 nhuần năm Đinh-Hợi (16-4-47), Ủy-Ban

Hành-Chánh Việt-Minh âm-mưu bắt Ngài tại Đốc-
Vàng Hạ (vùng Đồng-Tháp).

Từ đó không ai rõ tin-tức chi về Đức Huỳnh Giáo-
Chủ, nhưng toàn-thể tín-đồ của Ngài không ai tin rằng

Việt-Cộng có thể làm hại Ngài được. Và muôn người

như một, đang mong đợi một ngày về trong sứ-mạng

vinh-quang nhất của Ngài.

Quyển sách Cách Tu Hiền sau đây là một trong

nhiều tác-phẩm của Ngài, đã được tái-bản trên 300 lần

với ấn-lượng trên 800.000 quyển bằng tiếng Việt-
Nam. Nó ngắn-gọn nhưng đủ rõ những điều cần-thiết

trong nghi-thức tu-hành theo Đạo Phật-Giáo Hòa-
Hảo.

Thánh-địa Hòa-Hảo, ngày 1-1-1966

Ban Phổ-Thông Giáo-Lý Trung-Ương

(nhiệm-kỳ I, 1964 – 1966)

Giáo-Hội P.G.H.H.

Kính đề

*

KHẢI NGÔN

Từ tháng 5 năm Kỷ-Mão (1939), sau khi mở đạo,

Đức Giáo-Chủ đứng ra chữa bịnh độ đời. Tuy Ngài

không có để tâm nghiên-cứu Đông-y cũng như chẳng

hề học Lỗ-ban phù-thủy, nhưng bằng phương-pháp

chữa trị thật giản-đơn như giấy vàng, nước lã, lá xoài,

lá ổi, lá bưởi, lá mít, bông trang mà trị được hằng vạn

chứng hiểm-nghèo như bịnh tà, bịnh suyễn, bịnh

phong, bịnh dịch, bịnh dư ruột… cho nên quần-chúng

ngưỡng-mộ, theo về tấp-nập. Người ta do đó mà bắt

đầu tin-tưởng Phật Trời, nghe Pháp và quy-y.

Đồng thời với công việc chữa bịnh, Đức Giáo-Chủ

đứng ra thuyết-pháp để truyền giáo. Lời giảng của

Ngài thao-thao bất tuyệt suốt cả ngày đêm. Nhiều thi-
sĩ, văn-gia, hoặc luật-sư, bác-sĩ đến chất-vấn, bắt-bẻ,

đều nhận Ngài là bậc đại-giác, đại-ngộ, không thể

suy-bì. Ai đã từng dõi gót theo Ngài trong cuộc

khuyến nông năm 1945, trong vòng 2 tháng với không

biết bao nhiêu lý-luận khác nhau, đều phải công-nhận

Ngài là bậc “mồm sông bút sấm”.

Những cuộc thuyết-pháp nói chung, nếu cộng với

107 lần chu-du khuyến nông vừa kể, chúng ta có thể

nói Ngài đã trải qua một ngàn lần khuyến-thuyết

quan-trọng với hằng ngàn đề-tài khác biệt.

Nhờ những cuộc thuyết-pháp như trên, người mộ-

đạo quy-căn ngày càng đông thêm không xiết nói.

12 Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ

Nhưng công-đức vĩ-đại nhất của Đức Giáo-Chủ

trong việc truyền giáo là việc viết ra Kệ Giảng. Nhờ

những Kệ Giảng đó mới được phổ-truyền một cách

sâu rộng chủ-trương canh-tân Phật-giáo của Ngài, và

nhờ đó mà có hằng triệu người ngộ-đạo đã quay về

với chân-tính, tự-tâm.

Nếu kiểm-điểm lại con số Kệ Giảng đã ấn-loát và

phát-hành từ năm 1939 đến nay, ta sẽ phải ngạc-nhiên

chẳng ít. Kệ Giảng đã được tái-bản trên 300 lần, với

số lượng được in ra tối-thiểu cũng trên 800.000

quyển.

Nội-dung các tác-phẩm đó chứa đựng những gì ?

Cách lập-giáo ra sao ? Và văn-thể, văn-từ như thế nào

mà hấp-dẫn được người xem đến thế ? Đó là điều mà

trong lần tái-bản nầy, chúng tôi xin trình-bày đại-
cương để chư quý độc-giả đạo tâm bốn phương đồng

lãm.

Những tác-phẩm mà Đức Giáo-Chủ viết ra, phần

nhiều thuộc thể văn vần.

Một điều đặc-biệt đáng chú-ý là trong khi cầm bút,

dù tản-văn hay vận-văn, Ngài luôn luôn viết thẳng

một mạch không vấp không ngưng, không dùng giấy

nháp và không hề bôi-xóa, cắt-xén như các văn-sĩ

thường làm. Người ta cho rằng Ngài viết mau lẹ và

dễ-dàng hơn ông Alcyone Krishnamurti khi viết

quyển Aux pieds du Maître.

Có thể kể theo thứ-tự thời-gian những tác-phẩm

trường-thiên sau đây của Đức Giáo-Chủ :

***

Khải Ngôn 13

1.- SẤM GIẢNG KHUYÊN NGƯỜI ĐỜI TU-
NIỆM (tức quyển nhứt, văn lục bát, dài 912 câu, xuất-
bản lần đầu năm 1939).

Ngài viết xong trước Đệ-Nhị Thế-Chiến, tại làng

Hòa-Hảo, Sấm Giảng nầy khởi đầu bằng câu :

Hạ-Nguơn nay đã hết đời,

và chấm dứt bởi câu :

Tới đây cũng lần ngừng lại bút nghiên.

Nội-dung, Đức Giáo-Chủ đánh-thức quần-chúng

bằng cách tiên-tri những cảnh lầm-than khốn-khổ mà

nhân-loại sẽ phải trải qua trong thời-đại nhiễu-
nhương. Chẳng hạn, Ngài nói trước các năm từ lúc

xảy ra cho đến khi chấm-dứt đệ-nhị thế-chiến :

Đến chừng Rồng, Rắn máu đào chỉn ghê.

Khắp trong trần-hạ nhiều bề gian-lao.

Canh khuya Gà gáy máu đào mới ngưng.

Người ta đã thấy đúng trăm phần trăm từ khởi đầu

cuộc chiến-tranh thế-giới lần thứ hai (Mèo kêu, 1939)

cho đến khi hai quả bom nguyên-tử của Đồng-Minh

bỏ xuống nước Nhựt để chấm-dứt chiến-cuộc (Gà

gáy, 1945), không sai một mảy.

Cuộc giết chóc ghê-tởm của chiến-tranh tuy ngưng

từ năm Gà, nhưng theo Đức Giáo-Chủ, nó sẽ còn tái-
diễn tại Việt-Nam, và sẽ lan-diễn khắp nơi :

Mèo kêu bá-tánh lao-xao,

Con Ngựa lại đá con Dê,

Khỉ kia cũng bị xáo-xào,

14 Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ

Khắp trong các nước thây nằm bằng non.

Vợ thì chồng chẳng được còn tại-gia !

Trong tác-phẩm nầy, Đức Giáo-Chủ cũng tường-
thuật việc Ngài hóa-hiện ra đui-cùi, buôn bán, khi già,

lúc trẻ dạo khắp “Lục-Châu” để thử lòng trăm họ, giác

tỉnh mọi người, gọi họ theo về đường ngay, nẻo Đạo.

2.- KỆ DÂN CỦA NGƯỜI KHÙNG (tức quyển

Nhì, văn thất-ngôn trường-thiên, dài 476 câu, xuất-
bản lần đầu năm 1939).

Ngài viết tại làng Hòa-Hảo ngày 12 tháng 9 năm

Kỷ-Mão. Kệ nầy khởi đầu bằng câu :

và chấm dứt bởi câu :

Đời cùng còn chẳng mấy năm,

Cha thì chẳng thấy mặt con,

Ngồi Khùng trí đoái nhìn cuộc thế,

Ta ra sức dắt-dìu bá-tánh.

Cũng như trong quyển nhứt, ở đây Đức Giáo-Chủ

vừa tiên-tri tai-nàn sắp xảy đến cho nhân-dân, vừa

khuyên mọi người làm lành lánh dữ, chẳng hạn như :

Đến chừng đó bốn phương có giặc,

Khắp hoàn-cầu thiết-thiết tha-tha.

Vậy sớm mau kiếm chữ Ma-Ha,

Thì Phật cứu khỏi nơi khói lửa.

Trung với hiếu ta nên trau-trỉa,

Hiền với lương bổn-đạo rèn lòng.

Thường nguyện-cầu siêu-độ Tổ-Tông,

Với bá-tánh vạn dân vô sự.

Khải Ngôn 15

Rồi Ngài không ngần-ngại, đánh đổ những mê-tín

dị-đoan, những âm-thanh sắc-tướng, những sự dối tu,

lòe đời:

Theo Thần-Tú tạo nhiều chuông mõ,

Từ xưa nay có mấy ai thành !…

Làm hiền-lành hơn tụng hơ-hà,

Hãy tưởng Phật hay hơn ó-ré.

Những giấy tiền vàng bạc cũng thôi,

Chớ có đốt tốn tiền vô-lý.

Tu vô-vi chớ cúng chè xôi,

Phật chẳng muốn chúng-sanh lo-lót.

3.- SÁM GIẢNG (tức quyển ba, văn lục bát, dài

612 câu, xuất-bản lần đầu năm 1939).

Ngài cũng viết tại làng Hòa-Hảo năm Kỷ-Mão,

khởi đầu bằng câu :

và chấm dứt bởi câu :

Chúc cho bá-tánh muôn sầu tiêu-tan.

Trong quyển nầy, Đức Giáo-Chủ dạy tu nhân-đạo,

Ngài viết :

Quốc-vương thủy-thổ chiều mơi phản-hồi.

Thì sau mới được đứng ngồi tòa sen.

Ngồi trên đảnh núi liên-đài,

Tu cầu Cha mẹ thảnh-thơi,

Tu đền nợ thế cho rồi,

16 Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ

Đối với hạng thanh-niên nam nữ, thường dễ bị

văn-minh vật-chất hoặc dục-vọng lôi-cuốn đến bờ

trụy-lạc, Ngài kêu gọi :

Loạn-luân cang-kỷ hổ mang tiếng đời.

Hoặc là :

Tam-tùng vẹn giữ lập thân buổi nầy.

Và Ngài cũng cực-lực đả-phá những hủ-tục, bài-
xích những thói xa-hoa, đàng-điếm. Chẳng hạn :

Trống đờn lễ nhạc tế xen ích gì !

Mắc phải chuyện gì phủ-phục bình-hưng ?

Hay là :

Áo quần láng-mướt ngày rày ăn chơi.

Ra đường ăn nói những lời nguyệt-hoa.

Nếu chịu vẹn gìn theo lời chỉ-giáo trong quyển

SÁM GIẢNG nầy, thì nhân-đạo của ta ắt có thể coi là

hoàn-bị lắm.

4.- GIÁC MÊ TÂM KỆ (tức quyển tư, văn thất-
ngôn trường-thiên, dài 846 câu, xuất-bản lần đầu năm

1939).

Đức Giáo-Chủ viết tại Hòa-Hảo ngày 20 tháng 9

năm Kỷ-Mão. Kệ nầy khởi đầu bằng câu :

Nghiêm-đường chịu lịnh cho an,

Nghe lời cha mẹ cân-phân,

Chết rồi cũng bớt cóc-keng,

Đàn nhu thầy lễ cũng kỳ,

Văn-minh sửa mặt sửa mày,

Dọn xem hình-vóc lả-lơi,

Khai ngọn đuốc từ-bi chí-thiện,

Khải Ngôn 17

và chấm dứt bởi câu :

Mong bá-tánh vạn dân giải-thoát.

Nơi đây, Đức Giáo-Chủ có nói trước những tai-
họa hãi-hùng mà chúng-sanh sẽ phải trải qua trong

thời Hạ-nguơn mạt kiếp :

Khổ với thảm ngày nay có mấy,

Sợ mai sau dòm thấy bay hồn.

Trừ tà-gian còn thiện chỉ tồn,

Cảnh sông máu núi xương tha-thiết.

Ngài lại còn giảng rõ thế nào là tứ-đổ-tường, tứ-

khổ, ngũ-uẩn, lục-căn, lục-trần, tứ-diệu-đề, bát-chánh

và bát-nhẫn.

Còn gì đáng coi là nhẫn-nhục, hỷ-xả hơn những

câu sau đây:

Ai chưởi mắng thì ta giả điếc,

Đợi cho người hết giận ta khuyên.

Chữ nhẫn hòa ta để đầu tiên,

Thì đâu có mang câu thù-oán.

5.- KHUYẾN THIỆN (tức cuốn thứ năm, đoạn đầu

và đoạn chót viết bằng lối văn lục-bát, đoạn giữa viết

bằng lối thất-ngôn, gồm 776 câu, xuất-bản lần đầu

năm 1942).

Ngài viết tại nhà thương Chợ-Quán năm 1941.

Tác-phẩm nầy khởi đầu bằng câu :

và chấm dứt bởi câu :

Rán trau đức-hạnh ngày sau sẽ tường.

Băng tâm ngẫu hứng thừa nhàn,

18 Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ

Nội-dung, Đức Giáo-Chủ nhắc tiểu-sử Đức Thích-
Ca và luận-giải về tám sự khổ trong cõi ta-bà, về

pháp-môn tịnh-độ, về cách diệt ngũ-trược, trừ thập-ác

và hành thập-thiện.

6.- CÁCH TU-HIỀN VÀ SỰ ĂN Ở CỦA MỘT

NGƯỜI BỔN-ĐẠO.

Quyển nầy viết bằng văn xuôi, hồi tháng 5 dl 1945

tại Sài-Gòn và xuất-bản lần đầu cũng trong năm ấy.

Tuy văn xuôi, quyển nầy có một đặc-sắc là giản-dị và

lưu-loát, âm-hưởng du-dương, nhịp-nhàng.

Nơi đây, Đức Giáo-Chủ minh-giải về tứ-ân, tam-
nghiệp, thập-ác và bát-chánh. Ngài còn giảng-dạy về

cách thờ-phượng, cúng lạy, nghi-thức cử-hành tang-
lễ, giá-thú, cách đối-xử với các tôn-giáo bạn, với các

tăng-sư, v.v…

Ngoài sáu quyển vừa kể, Đức Giáo-Chủ còn viết ra

rất nhiều bài thi, bài văn mà trước đây 13 năm, một

nhóm tín-đồ tại Thánh-Địa Hòa-Hảo đã gom-góp để

in thành một quyển, nhan-đề SƯU-TẬP THI VĂN

GIÁO-LÝ CỦA ĐỨC HUỲNH GIÁO-CHỦ.

Sách dày trên 300 trang, nội-dung gồm có gần đủ

loại thơ ca: thất-ngôn bát-cú, tứ-tuyệt, ngũ-ngôn, lục-
bát, thất-ngôn trường-thiên, song-thất lục-bát, tứ-

ngôn và một số bài biến-thể. Trong đây, Đức Giáo-
Chủ hoặc viết để dạy riêng một người hay đáp họa với

một người khác, hoặc viết để cảnh-giác, hoặc viết để

khuyến tu… tựu-trung, nhứt nhứt đều có bao-hàm một

giáo-nghĩa thâm-huyền mà cho dẫu không phải người

Khải Ngôn 19

trong cuộc, đọc đến cũng đều có lợi-ích cho sự tu-
hành.

Riêng phần văn-từ, nói chung toàn-bộ, Ngài chủ-

trương :

Quyết dạy trần nên nói lời thường,

Cho sanh-chúng đời nay dễ biết.

Hoặc là :

Dạy bổn-đạo lấy câu trung-đẳng,

Chẳng nói cao vì sắp rốt đời.

Cho nên, với những lời văn vô cùng giản-dị nhưng

ngọt-ngào và óng-chuốt, Đức Giáo-Chủ dụng-tâm làm

cho hạng bình-dân dễ thuộc dễ theo, để sớm đưa họ

tiến tới con đường lành mà Ngài đã vạch ra và đã

nhất-tâm phát-nguyện :

Quyết đưa chúng về nơi non Thứu,

Tạo Lư-bồng ngõ hội Quần-Tiên.

Hoặc :

Nếu chúng-sanh còn chốn mê-tân,

Thì Ta chẳng an vui Cực-Lạc.

Hay là :

Biết làm sao gieo Đạo khắp đại-đồng,

Đưa nhơn-loại đi vào vòng hạnh-phúc.

***

Như đã nói ở đoạn đầu, những Kệ Giảng nêu trên

được in ra từ trước đến nay, ít nhất cũng trên 800.000

quyển.

20 Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ

Tuy nhiên, sách càng được in ra nhiều chừng nào,

thì cái bịnh tam-sao thất-bổn càng trầm-trọng thêm

chừng nấy. Bởi một lẽ rất giản-dị là suốt trong thời

thực-dân thống-trị cho đến hồi độc-tài phong-kiến, vì

thời-cuộc, đoàn-thể Phật-Giáo Hòa-Hảo không mấy

lúc được yên-lành. Cho nên công việc phát-hành Kệ

Giảng phần nhiều do các đồng-đạo có nhiệt-tâm đứng

ra ấn-loát chớ ít được dịp do một cơ-quan nào trong

Giáo-Hội theo dõi việc in. Cái bịnh tam-sao thất-bổn

vốn đã sẵn có, tự thuở còn được truyền-bá bằng cách

chép tay, nay lại càng sai thêm với biết bao nhiêu lần

in, thiếu người có khả-năng chuyên-môn xem sóc…

Chính vì những sự sai lầm đáng tiếc đó mà ngay từ

khi Ban Trị-Sự Trung-Ương Giáo-Hội Phật-Giáo

Hòa-Hảo nhiệm-kỳ đầu tiên (18-11-1964) được tái-lập

sau một thời-gian dài gián-đoạn, Ban Phổ-Thông

Giáo-Lý Trung-Ương chúng tôi đã ghi ngay vào hàng

đầu của Chương-trình hoạt-động công-tác đính-chánh

Kệ Giảng hệ-trọng nầy, và bắt tay vào việc ngay sau

phiên đại-hội toàn-quốc về Phổ-Thông Giáo-Lý ngày

27 tháng 12 năm 1964.

Ngày 8-3-1965, một Chỉ-thị số 233/TƯTV/19-GL

gởi các cấp Phổ-Thông Giáo-Lý Tỉnh, Quận và Xã để

tham-khảo ý-kiến toàn-thể Trị-Sự-viên và tất cả đồng-

đạo nào có để tâm nghiên-cứu về những câu, những

chữ cần bổ-khuyết hay đính-chánh trong Kệ Giảng.

Theo thời-gian-biểu của chúng tôi, thì công việc

tham-khảo các cấp nầy kéo dài một tháng rưỡi kể từ

15-3-1965, đến 30-4-1965, và sau đó, chúng tôi mới

cẩn-thận làm bản đúc-kết lại các đề-nghị để trình ra

Khải Ngôn 21

hội-nghị, hầu tham-khảo một lần tối-hậu để lấy biểu-
quyết những chỗ đáng sửa đổi.

Ngày 17-5-1965, một hội-nghị được khai-mạc tại

Văn-phòng Ban Phổ-Thông Giáo-Lý Trung-Ương

(Thánh-Địa Hòa-Hảo) trong sự chứng-minh của Ông

Út Huỳnh-Văn-Quốc, bào-đệ Cố Đức Ông và dưới

quyền Chủ-tọa của Ông Lương-Trọng-Tường, Hội-
Trưởng Ban Trị-Sự Trung-Ương.

Ông Nguyễn-Văn-Hầu, Trưởng-Ban Phổ-Thông

Giáo-Lý Trung-Ương giữ nhiệm-vụ Thuyết-trình-viên

và Ông Trần-Minh-Quang, Thư-Ký Ban Phổ-Thông

Giáo-Lý Trung-Ương, làm Thư-Ký phiên hội.

Thành phần tham dự hội-nghị gồm có các Ông :

 Dật-Sĩ Trần-Văn-Nhựt, Cố-Vấn Ban Trị-Sự

Trung-Ương kiêm Trưởng-Ban Nghiên-Cứu và

Biên-Tập trong Ban Phổ-Thông Giáo-Lý Trung-

Ương.

 Trí-Viễn Lê-Hòa-Nhựt, Cố-Vấn Ban Trị-Sự

Trung-Ương kiêm Cố-Vấn Ban Phổ-Thông Giáo-
Lý Trung-Ương.

 Huỳnh-Công-Kỷ, Trưởng-Ban Phổ-Thông Giáo-
Lý Tỉnh An-Giang.

 Phạm-Văn-Tốt, Trưởng-Ban Phổ-Thông Giáo-Lý

Tỉnh Kiến-Phong.

 Bùi-Văn-Triệu, Trưởng-Ban Phổ-Thông Giáo-Lý

Tỉnh Châu-Đốc.

 Lê-Thanh-Quang, Trưởng-Ban Phổ-Thông Giáo-
Lý Tỉnh Phong-Dinh.

22 Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ

 Lâm-Văn-Trung, Kiểm-Soát B.T.S. Tỉnh Châu-

Đốc.

 Nguyễn-Chi-Diệp, Cố-Vấn B.T.S. Thánh-Địa

Hòa-Hảo.

 Huỳnh-Hữu-Phỉ, Nhân-sĩ kỳ-cựu P.G.H.H.

 Trần-Văn-Mành, Trưởng-Ban Phổ-Thông Giáo-Lý

Thánh-Địa Hòa-Hảo, xã Hưng-Nhơn.

 Ngô-Minh-Chí, Phó Đặc-Ban Biên-Tập và Xướng-
ngôn Đài Phát-thanh, thuộc Ban Phổ-Thông Giáo-
Lý Trung-Ương.

 Đào-Văn-Đạm, Quản-Lý Nguyệt-san Đuốc Từ-Bi,

thuộc Ban Phổ-Thông Giáo-Lý Trung-Ương.

 Trịnh-Công-Dung, Hội-Trưởng B.T.S. Quận

Châu-Phú.

 Lê-Văn-Phú, Trưởng-Ban Phổ-Thông Giáo-Lý

Quận Châu-Phú.

 Đặng-Thành-Tựu, Trưởng-Ban Phổ-Thông Giáo-
Lý Quận Chợ-Mới.

 Trường-Thi, Hội-Trưởng B.T.S. Quận Thốt-Nốt.

 Nguyễn-Văn-Nam, Trưởng-Ban Phổ-Thông Giáo-
Lý Quận Châu-Thành (An-Giang).

 Phạm-Hữu-Vỹ, Trưởng-Ban Tiếp-Tân tại Tây-An

Cổ-Tự (Long-Kiến).

 Nguyễn-Văn-Bửu, Đặc-Viên Ấn-Loát Phát-Hành,

thuộc Ban Phổ-Thông Giáo-Lý Trung-Ương.

 Nguyễn-Anh-Kiệt, Đặc-Viên Huấn-Luyện Truyền-
Bá thuộc Ban Phổ-Thông Giáo-Lý Trung-Ương.

Khải Ngôn 23

Hội-nghị nầy đã làm việc một cách tận-tụy và say

mê, đã đính-chánh và bổ-khuyết được nhiều điều

quan-trọng mà kết-quả là quyển Sấm Giảng Thi Văn

toàn-bộ được in ra hôm nay.

Sách chia làm hai phần, phần đầu gồm sáu quyển

với các loại Sấm, Kệ, Giảng, Văn… mệnh-danh: Phần

thứ nhất: Sấm Giảng Giáo-Lý và phần sau gồm hằng

trăm bài Thi, Ca, Văn, Chú… mệnh-danh: Phần thứ

hai: Thi Văn Giáo-Lý. Trong các Thi Văn Sấm Kệ kể

trên, chúng tôi cố-gắng sắp theo thứ-tự thời-gian để

Chư quý độc-giả đạo-tâm tiện bề theo dõi.

Với mục-đích “đính-chánh những điều tam-sao

thất-bổn hoặc nghe lầm nhớ lộn đã làm sai-biệt hẳn

nguyên-văn và chân-ý của Đức Thầy trong Kệ

Giảng”, chúng tôi làm việc theo sáu nguyên-tắc dưới

đây :

1) Nỗ-lực sưu-tầm trong các đồng-đạo kỳ-cựu nào

còn giữ được bản chánh do chính tay Đức Giáo-Chủ

viết ra để dò từng chữ mà sửa lại những chỗ in sai.

2) Những tác-phẩm nào kiếm không ra được bản

chánh, thì hội-nghị mới xét tới các đề-nghị của các

cấp mỗi khi gặp những chữ cần đính-chánh.

3) Các đề-nghị đính-chánh của các cấp đồng-đạo

cũng như của hội-nghị là phải trưng ra những bằng-cớ

cụ-thể là “tại sao phải sửa lại như thế” :

– do chính tai họ nghe Đức Thầy đính-chánh trước

đây cùng với sự hiện-diện của ai, hồi nào ?…

24 Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ

– do họ là những người đã ngồi bên cạnh Đức

Thầy, sao chép những bổn Kệ Giảng, để phát ra cho

dân-chúng trong buổi đầu mở Đạo ?…

– do những bản in cũ từ buổi đầu và xét ra hữu lý ?…

4) Hội-nghị chỉ nhắm vào công-tác đính-chánh chứ

không có thẩm-quyền thêm bớt nếu không có bằng-cớ

xác-đáng.

5) Ghi vào biên-bản hẳn-hòi những chữ, những

câu và những lý-do nào cần bổ-khuyết hay sửa đổi để

lưu-trữ tại Văn-Phòng Ban Phổ-Thông Giáo-Lý

Trung-Ương hầu làm tài-liệu tham-khảo cho những ai

còn thắc-mắc.

6) Tất cả những đề-nghị sửa đổi, người đề-nghị

quả-quyết nhận trách-nhiệm trước Đức Thầy, trước

các Đấng Thiêng-Liêng là họ đã nói đúng, nghe đúng

và nghĩ đúng.

Một vài thí-dụ sau đây để được sáng-tỏ thêm việc

làm của hội-nghị :

– Những bài dò theo bản chánh do Đức Thầy viết

ra, hội-nghị đồng ý phải cho ghi ở cuối bài là bản đó

do ai còn giữ được.

– Trong bài Sứ-mạng của Đức Thầy, lâu nay đã in

“tuy có phải chuyển kiếp luân-hồi ở nơi hải-ngoại…”

và “kẻ xa-xuôi từ nan chẳng tới…”; nay Ông Dật-Sĩ

xác-nhận rằng chính Ông đã thấy tận mắt trong một

bản chánh hồi Ông còn ở Bạc-Liêu là “tùy cơ-pháp

chuyển kiếp luân-hồi ở nơi hải-ngoại…” và “kẻ xa-
xuôi từ-văn chẳng tới…” chứ không phải như các bản

đã lưu-hành trước đây.

Khải Ngôn 25

Xét ra, Đức Thầy viết bài nầy tại Bạc-Liêu năm

1942, và Ông Dật-Sĩ trong thời-gian ấy cũng đang làm

việc tại đó, vả lại ý-nghĩa rất hợp nên hội-nghị đồng ý

sửa đổi.

– Ngoài nhiều bản chánh mà Ông Nguyễn-Chi-
Diệp còn giữ được để hội-nghị dùng làm tài-liệu

khảo-sát, Ông Diệp còn cải-chánh sự in sai trong Sám

Giảng quyển ba mà Ông đã nghe biết rõ-ràng từ khi

Đức Thầy còn ở tại Thánh-Địa :

“Tu-hành tầm đạo một mai cứu đời.”

chớ không phải :

“Tu-hành tâm đạo một mai cứu đời.”

– Ông Huỳnh-Hữu-Phỉ trình-bày trước hội-nghị

rằng trong bài Sa-Đéc chính Đức Thầy có sửa một bản

do ông dâng lên. Câu đầu bài đó chép :

Đức Thầy đã sửa lại :

Và cũng theo ông Phỉ câu đầu trong bài “Nang thơ

cẩm tú” có hai chữ thanh-bạch và thanh-lặng đã gây

bất nhất giữa anh em tín-đồ kẻ đọc thanh-lặng, người

cãi là thanh-bạch cho nên lúc Đức Thầy ở tại Sài-
Gòn, đường Lefèvre, ông có trình lên thỉnh ý. Và Đức

Thầy xác-nhận :

– Ông Lâm-Văn-Trung quả-quyết: trong bài

“Viếng làng Mỹ-Hội-Đông”, Đức Thầy không hề viết

bốn câu đầu, từ “Buông mành thả lá…” đến “…máy

“Nhìn cuộc thế bốn bề sóng dậy,”

“Nhìn cuộc thế bộn-bề sóng dậy,”

“Trời thanh-lặng gió đưa hiu-hắt,”

26 Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ

huyền-sâu”, nên đề-nghị bỏ. Hội-nghị xét Ông Trung

là người Mỹ-Hội-Đông, mà ông cũng được gần-gũi

bên Thầy trong buổi viết bài nầy, nên đồng ý cho xóa

mấy câu đó trong bản in trước.

Phải có những chứng-tích dẫn-giải rành-mạch và

trách-nhiệm phân-minh như thế, hội-nghị mới đồng-
thanh chấp-nhận và đính-chánh lại những chỗ sai lầm.

* * *

Tuy đã thận-trọng như trên, nhưng sau khi hội-
nghị bế-mạc, công việc nầy còn phải kéo dài thêm

một thời-gian làm việc nữa. Đó là công việc dò kỹ

từng chữ, từng câu để sửa lại từng dấu, từng nét. Quý

Ông Cố-Vấn Dật-Sĩ, Thơ-Ký Trần-Minh-Quang,

Quản-Lý Đào-Văn-Đạm và Phát-Hành-viên Nguyễn-
Văn-Bửu đều đã thiết-thực góp tay với Ông Trưởng-
Ban Phổ-Thông Giáo-Lý Trung-Ương Nguyễn-Văn-
Hầu trong công việc nầy.

Sau hết, một vấn-đề không kém quan-trọng là việc

sửa ấn-cảo. Nếu ấn-cảo mà không được người có khả-

năng xem sóc thì bao nhiêu công-trình từ trước sẽ

không được bảo-đảm nếu không nói là hỏng đi. Ông

Thành-Nam, Đệ-Nhất Phó Thư-Ký Ban Trị-Sự Trung-

Ương đã phát-tâm hoan-hỉ đảm-nhận công-tác nầy.

Hôm nay, quyển Sấm Giảng Thi Văn Toàn-Bộ của

Đức Huỳnh Giáo-Chủ được đến trong tay Quí-vị độc-
giả đạo-tâm, là kết-quả của bao nhiêu công việc vừa

trình-bày trên đây với suốt một thời-gian dài trên 10

tháng.

Khải Ngôn 27

Đã hiểu rằng “Nhân thân nan đắc, Phật Pháp nan

văn” cho nên làm công việc nầy, chúng tôi không có

cao-vọng gì hơn là muốn chính-xác-hóa những chỗ in

lầm trong Giáo-Pháp của Đức Huỳnh Giáo-Chủ ̶ một

Giáo-Pháp nhiệm-mầu và thực-tế ̶ hầu có quảng-
bá một cách sâu rộng hơn nữa trong quảng-đại quần-
sanh, để những người có cơ-duyên sẽ do đó mà bước

lên con đường cùng tu cùng tiến.

Nếu Kinh Pháp-Hoa chép: “Phật vị nhất đại sự

nhân-duyên xuất-hiện ư thế” (Phật vì một nhân-duyên

lớn mà có mặt trên đời) thì nơi đây, chúng tôi cũng

dám xin nguyện-cầu Chư Phật và Đức Thầy gia-hộ

cho người người được rộng mở nhân-duyên, xem Sấm

Kinh nầy mà phát-tâm thiện-nguyện.

Được như thế, chúng tôi tưởng không có nguồn

vui nào hơn.

Nam Mô A-Di-Đà Phật

Thánh-Địa Hòa-Hảo, ngày rằm tháng bảy Ất-Tỵ (1965)

Ban Phổ-Thông Giáo-Lý Trung-Ương

(nhiệm-kỳ I, 1964 – 1966)

Cẩn khải

*

THAY LỜI TỰA

Sứ-mạng của Đức Thầy

(do chính tay Ngài viết)

Ngày 18 tháng 5 năm Kỷ-Mão, vì thời-cơ đã đến,

lý Thiên-Đình hoạch-định, cuộc nguy-cơ thảm-họa

sắp tràn-lan. Ta đây tuy không thể đem phép huệ-linh

mà cứu an tai-họa chiến-tranh tàn-khốc do loài người

tàn-bạo gây nên, nhưng mà thử nghĩ: Sinh trong vòng

đất Việt-Nam nầy, trải qua bao kiếp trong địa-cầu lăn-
lộn mấy phen, tùy cơ pháp chuyển kiếp luân-hồi ở nơi

hải-ngoại để thu-thập những điều đạo-học kinh-
nghiệm huyền-thâm, lòng mê-si đã diệt, sự vị-kỷ đã

tan mà kể lại nguồn gốc phátsinh, trải bao đời giúp

nước vùa dân cũng đều mãi sinh-cư nơi đất Việt.

Những tiền kiếp dầu sống cũng là dân quan đất Việt,

dầu thác, cũng quỉ thần đất Việt chớ bao lìa. Những

kiếp gần đây, may-mắn gặp minh-sư, cơ truyền Phật-
pháp, gội nhuần ân-đức Phật, lòng đà quảng-đại từ-bi,

hềm vì nỗi cảnh quốc phá, gia vong, máy huyền-
cơ đã định, lòng thương trăm họ vướng cảnh đồ lao,

chi xiết xót thương chúng-sanh vạn khổ.

Nghĩ lúc còn làm người trong biển tục, lăn-lộn

chốn mê đồ, mà chẳng quản thân giúp thế cứu dân,

vong thân vị quốc, huống chi nay cơ-mầu đà thấu tỏ,

sớm chiều hầu chơn Phật nghe kinh, ngao du tứ-hải,

30 Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ

dạo khắp Tiên-bang, cảnh an-nhàn của người liễu-

đạo, muôn ngày vô sự, lóng sạch phàm tâm, sao

chẳng ngồi nơi ngôi vị hưởng quả bồ-đề trường thọ

mà còn len-lỏi xuống chốn hồng-trần, đặng chịu cảnh

chê khen ? Vì lòng từ-ái chứa-chan, thương bách-tính

tới hồi tai-họa. Phật-Vương đà chỉ rõ máy diệu huyền

chuyển lập hội Long-Hoa, chọn những đấng tu-hành

cao công-quả để ban cho xứng vị xứng ngôi, người đủ

các thiện-căn để giáo-truyền Đại Đạo, định ngôi phân

thứ gây cuộc Hòa-Bình cho vạn quốc chư bang.

Thiên-Tào đà xét định, khắp chúng-sanh trong thế-

giới trong cái buổi Hạ-Nguơn nầy, say mê vật-dục,

chìm đắm trong biển lợi danh, gây nên nghiệp-quả,

luật trời đà trị tội, xét kẻ thiện-căn thì ít, người tội-ác

quá nhiều, chư Phật mới nhủ lòng từ-bi cùng các vị

Chơn-Tiên lâm phàm độ thế, trước ra công cứu khổ,

sau chỉ rõ cơ-huyền, khuyên kẻ thế hướng thiện quày

đầu, cải tà qui chánh thì mới mong Thiên-Đình ân xá

bớt tội căn để kíp đến Long-Hoa chầu Phật, trước biết

rõ luật Trời thưởng phạt, cùng hữu duyên nghe Phật-
pháp nhiệm mầu, kiến diện bậc Chơn-Sư, tu-hành

mau đắc quả, sau làm dân Phật-quốc hưởng sự thái-
bình, bởi đời nầy pháp-môn bế mạc, Thánh đạo trăn

vu, người tâm trí tối đen, đời lắm Ma-Vương khuấy

rối. Ta là một trong các vị cứu đời ấy. Ai liễu Đạo nơi

quốc-độ nào thì cũng phải trở về quốc-độ ấy mà trợ tế

nhân-dân; vì thể lòng từ-bi bác-ái cùng thù đáp những

linh-hồn đã trợ duyên trong nhiều kiếp giúp Ta nương

cậy tu-hành, nên ngày 18 tháng 5 năm Kỷ-Mão, Ta

Sứ-Mạng của Đức Thầy (Thay Lời Tựa) 31

hóa hiện ra đời cứu độ chúng-sanh. Tuy là nhơn-dân

mới rõ pháp mà tưởng rằng Ta thượng xác cỡi đồng

chớ có dè đâu chuyển kiếp đã từ lâu chờ đến ngày ra

trợ thế. Nên phương-pháp của Ta tùy trình-độ cơ cảm

của Tín-nữ Thiện-nam, trên thì nói Phật-pháp cho kẻ

có lòng mộ Đạo qui căn, gây gốc thiện- duyên cùng

Thầy Tổ, dưới dùng huyền-diệu của Tiên-gia độ bịnh

để cho kẻ ít căn lành nhờ được mạnh mà cảm lòng từ-

bi của Chư Vị với Trăm Quan, thảm-thiết lê-dân lầm

than thống-thiết, mà lời lành nghe tựa hồ như nhớ như

quên, nên kẻ xa-xuôi từ-văn chẳng tới, người láng-
diềng tiếng kệ nhàm tai. Đến trung tuần tháng Tám,

Ta cùng Đức-Thầy mới tá hiệu Khùng Điên, mượn

bút mực tiết-lộ lấy Thiên-cơ, truyền cho kẻ xa gần đều

rõ biết hầu ăn-năn cải quá làm lành, còn kẻ chẳng tỉnh

tâm sau đền tội cũng chẳng trách Phật Tiên không chỉ

bảo.

Vẫn biết đời Lang-sa thống trị, phép nước nghiêm-
hình, dân-chúng nếu yêu thương sẽ lắm điều hiềm-
khích; nhưng mà Ta nghĩ nhiều tiền kiếp Ta cũng hy-
sinh vì Đạo, nào quản xác thân. Kiếp chót nầy đây há

lại tiếc chi thân phàm-tục, song vì tình cốt-nhục

tương thân, cũng ủng-hộ, chở che cho xác phàm bớt

nỗi cực hình.

Bạc-Liêu, ngày 18-5 Nhâm-Ngũ (1942).

*

PHẦN THỨ NHỨT

SẤM GIẢNG GIÁO-LÝ

QUYỂN NHỨT

SẤM GIẢNG

KHUYÊN NGƯỜI ĐỜI TU-NIỆM

SẤM GIẢNG

KHUYÊN NGƯỜI ĐỜI TU-NIỆM

Đây là quyển thứ nhứt mà Đức

Thầy đã viết trong khoảng năm

Kỷ-Mão (1939) tại Hòa-Hảo

(912 câu).

1. Hạ-nguơn nay đã hết đời,

Phong-ba biến-chuyển đổi-dời gia-cang.

Khắp trong trần-hạ nhộn-nhàng xiết chi.

Bá-gia khổ-não vậy thì từ đây.

Điên mới theo Thầy xuống chốn phàm-gian.

10. Khắp trong các nước nhộn-nhàng đao binh.

Người thời trung-hiếu chẳng gìn vẹn hai.

Xin trong lê-thứ ngày rày tỉnh tâm.

Nào trong sách sử có lầm ở đâu.

Người ngu nghe nói ngửa đầu cười reo.

20. Khắp trong bá-tánh hiểm nghèo đáng thương.

Năm Mèo Kỷ-Mão rõ ràng,

Ngồi buồn Điên tỏ một khi,

Cơ trời thế cuộc đổi xây,

Thấy đời ly-loạn bất an,

Kẻ thời phụ nghĩa bố-kình,

Nên Điên khuyên-nhủ bằng nay,

Cơ thâm thì họa diệc thâm,

Người khôn nghe nói càng rầu,

Rồi sau sẽ thấy hùm beo,

38 Sấm Giảng Giáo-Lý – Quyển Nhứt

21. Điên nầy vưng lịnh Minh-Vương,

Với lịnh Phật đường đi xuống giảng dân.

Kẻ khinh người nhạo Thần Tiên quỉ tà.

Quỉ của Phật Bà sai xuống cứu dân.

Làm cho người gần ganh-ghét khinh-khi.

30. Miệng thì niệm Phật lòng thì tà-gian.

Cùng hết xóm làng đều bỉ người Điên.

Vào các ra đài tột bực giàu sang.

Bèn lên ẩn-dật lâm-san tu-trì.

Thẩn-thơ lại gặp Đức Thầy Bửu-Sơn.

40. Động lòng bác-ái ra ơn dạy truyền.

Nội trong sáu khắc biết liền Thiên-cơ.

Để rộng thì giờ nói chuyện chơn-tu.

Ham võng ham dù danh lợi xuê-xang.

Chẳng lo tu-niệm tham-gian làm gì.

50. Trọng cha, yêu Chúa kính vì Tổ-Tông.

Thấy trong bá-tánh phàm trần,

Mặc ai bàn tán gần xa,

Kẻ xa thì mến đức-ân,

Nam mô, mô Phật từ-bi,

Khắp trong bá-tánh trần-hoàn,

Điên nầy xưa cũng như ai,

Nghĩ suy danh lợi chẳng màng,

Nhờ Trời may-mắn một khi,

Cúi đầu Điên tỏ nguồn-cơn,

Thấy Điên tâm tánh quá thiềng,

Chuyện nầy thôi nói sơ sơ,

Dương-trần kẻ trí người ngu,

Cờ đà đến nước bất an,

Phật, Trời thương kẻ nhu-mì,

40 Sấm Giảng Giáo-Lý – Quyển Nhứt

81. Bây giờ giả dại giả ngu,

Cũng như Nhơn-Quí ở tù ngày xưa.

Bị Điên nói bừa những việc vừa qua.

Nói quỉ nói tà đây cũng cam tâm.

Dạo trong Bảy-Núi cười thầm sư-mang.

90. Sao còn ham của thế-gian làm gì ?

Cũng trong Phật-Giáo sao thì chê khen.

Tiếng quyển tiếng kèn mặc ý bá-gia.

Dân-sự nhà nhà bàn tán cười chơi.

Giả như Hàn-Tín đợi thời lòn trôn.

100. Làm cho Hạng-Võ mất hồn mấy khi.

Khen anh Hàn-Tín vậy thì mưu cao.

Điên Khùng khờ dại mà cao tu-hành.

Niệm-Phật cho rành đặng thấy Thần-Tiên.

Khắp trong lê-thứ thảm phiền từ đây.

110. Rán lo tu-niệm đặng Thầy cứu cho.

Lúc nầy kẻ ghét người ưa,

Dương-trần biếm nhẻ gần xa,

Ngồi buồn nhớ chuyện xa-xăm,

Nói rằng lòng chẳng ham sang,

Việc nầy thôi quá lạ kỳ,

Lúc nầy tâm trí rối beng,

Hết gần rồi lại tới xa,

Chuyện nầy cũng lắm tuyệt-vời,

Đến sau danh nổi như cồn,

Chuyện xưa thanh-sử còn ghi,

Chuyện đời phải có trước sau,

Bá-gia phải rán làm lành,

Thương đời trong dạ chẳng yên,

Ngày nay thế-cuộc đổi xây,

Sấm Giảng Khuyên Người đời tu-niệm 41

111. Mảng theo danh lợi ốm-o,

Sẵn của hét hò đứa ở người ăn.

Mà biết niệm Phật sau bằng bạc muôn.

Gặp cơn mưa lớn nó tuôn một giờ.

Để thờ những Đạo ngọn cờ trắng phau.

120. Thấy cảnh bên Tàu sao chẳng nghĩ suy.

Những việc lạ kỳ nay có hay chưa ?

Chớ người tâm đạo biết thừa tới đâu.

Để sau đối đầu chẳng đặng toàn thây.

Nếu muốn làm Thầy phải khổ phải lao.

130. Đến chừng rồng rắn máu đào chỉn ghê.

Khắp trong trần-hạ nhiều bề gian-lao.

Canh khuya gà gáy máu đào mới ngưng.

Điên biểu dân đừng làm dữ làm hung.

Đến sau mới biết đây dùng kế hay.

140. Nên mới làm vầy cho khỏi ngại nghi.

Đừng khi nhà lá một căn,

Giàu sang như nước trên nguồn,

Cửu-Huyền Thất-Tổ chẳng thờ,

Dương-trần bụng dạ nhiều màu,

Lời xưa người cổ còn ghi,

Chưa là với kẻ chẳng ưa,

Bá-gia mau kíp lo âu,

Việc đời nói riết thêm nhây,

Mèo kêu bá-tánh lao-xao,

Con ngựa lại đá con dê,

Khỉ kia cũng bị xáo-xào,

Nói ra nước mắt rưng rưng,

Việc đời nói chẳng có cùng,

Bây giờ mắc việc tà-tây,

42 Sấm Giảng Giáo-Lý – Quyển Nhứt

141. Thiên-cơ số-mạng biết tri,

Mà sao chẳng chịu chạy đi cho rồi ?

Còn chi linh-thính mà ngồi mà nghe.

Nó tưởng đặt vè nói biếm người hung.

Như thể dây dùn đặng cứu bá-gia.

150. Vài ba năm nữa biết mà tà-tinh.

Nói cho bá-tánh mặc tình nghe không.

Lục-Châu chưa giáp mà lòng ủ-ê.

Kẻ lại nhún trề nói: Lão kiếm cơm.

Rồi sau mới biết rác-rơm của Trời.

160. Nên còn ẩn dạng cho người cười chê.

Con lìa cha mẹ, vợ kia xa chồng.

Trách rằng Trời Phật không lòng từ-bi.

Niệm cho tà quỉ vậy thì dang ra.

Ăn cần ở kiệm đặng mà lo tu.

170. Đến sau sẽ khổ gấp mười mù đui.

Những người giả đạo bồi-hồi,

Việc đời như nước trong khe,

Điên nầy nối chí theo Khùng,

Sau nầy kẻ khóc người la,

Điên biết chẳng lẽ làm thinh,

Việc Điên, Điên xử chưa xong,

Người nghe đạo-lý thì mê,

Thấy nghèo coi thể rác-rơm,

Vì Điên chưa đến cái thời,

Từ đây sắp đến thảm-thê,

Tới chừng đến việc ngóng trông,

Di-Đà lục-tự rán ghi,

Khuyên đừng xài phí xa-hoa,

Đừng khinh những kẻ đui mù,

Sấm Giảng Khuyên Người đời tu-niệm 43

171. Đời nay xét tới xem lui,

Chừng gặp tuổi Mùi bá-tánh biết thân.

Nhờ Trời ban bố cho gần Phật Tiên.

Điên gay chèo quế dạo miền Lục-Châu.

Thêm thảm thêm sầu lòng dạ người xưa.

180. Tôi chẳng nói thừa những việc Thiên-cơ.

Giả quê giả dốt khắp trong thị-thiềng.

Lên doi xuống vịnh nào yên thân Già.

Ca cho bá-tánh biết đời loạn-ly.

Ở bên Thiên-Trước chứng tri lòng nầy.

190. Dẹp lòng vị-kỷ đầy lòng yêu dân.

Miễn cho bá-tánh được gần Bồng-Lai.

Khắp trong trần-hạ mấy ai tu-trì.

Tới việc ly-kỳ cũng thả trôi sông.

Mấy ai mà có thiềng lòng theo đây.

200. Bắt ngưu bắt cầy đặng chúng làm ăn.

Tu-hành sau được đức-ân,

Nói ra trong dạ chẳng yên,

Tới đâu thì cũng như đâu,

Bá-gia ai biết thì ưa,

Khi già lúc lại trẻ thơ,

Đi nhiều càng thảm càng phiền,

Tay chèo miệng lại hát ca,

A-Di-Đà Phật từ-bi,

Từ ngày thọ giáo với Thầy,

Ngày nay chẳng kể tấm thân,

Đời nầy vốn một lời hai,

Đời nầy giành-giựt làm chi,

Thuyền đưa Tiên-cảnh Non-Bồng,

Cứ lo làm việc tà-tây,

44 Sấm Giảng Giáo-Lý – Quyển Nhứt

201. Chừng đau niệm Phật lăng-xăng,

Phật đâu chứng kịp lòng người ác-gian.

Ăn bạ nói càn tội-lỗi chỉn ghê.

Mà không nhớ đến đặng kề Tiên-bang.

Cùng hết xóm làng tàn-ác nhiều hơn.

210. Ngoài da coi chắc trong thời mối ăn.

Làm điều dối thế cho hư Đạo-mầu.

Giận trong tăng chúng sao lừa-dối dân.

Tu như lối cũ mau gần Diêm-Vương.

Nên trước Phật đường thọ lãnh dạy dân.

220. Cứ theo biếm-nhẻ xa gần người Điên.

Viết cho trần-hạ bớt phiền lo tu.

Buồn cho bá-tánh hết mù tới đui.

Khắp trong bá-tánh gặp hồi gian-lao.

Rán tu đem được Phật vào trong tâm.

230. Đặng cho bá-tánh tỉnh tâm tu-hành.

Thấy đời mê-muội lầm-than,

Chữ tu không phải lời thề,

Nói nhiều trong dạ xốn-xang,

Thầy chùa như thể cây sơn,

Buồn thay cho lũ ác-tăng,

Di-Đà Phật-Tổ thêm rầu,

Có thân chẳng liệu lấy thân,

Bá-gia lầm lạc đáng thương,

Dương-trần nhiều kẻ ham sân,

Lòng buồn mượn lấy bút nghiên,

Thương đời chớ chẳng kiếm xu,

Có chi mà gọi rằng vui,

Từ đây hay ốm hay đau,

Lời hiền nói rõ họa thâm,

Sấm Giảng Khuyên Người đời tu-niệm 45

231. Ngày nay Điên mở Đạo lành,

Khắp trong lê-thứ được rành đường tu.

Hết ngu tới dại công-phu gần thành.

Mấy ai mà được lòng thành với Điên.

Dắt-dìu bá-tánh gần miền Tiên-bang.

240. Mong cho bá-tánh được nhàn tấm thân.

Cầu xin Phật-Tổ ban lần đức-ơn.

Cho trong trần-hạ thiệt hơn tỏ tường.

Muốn cho lê-thứ thường thường làm nhơn.

Tu-niệm chớ sờn uổng lắm dân ôi !

250. Rán tu nhơn-đạo cho tròn mới hay.

Cay đắng sau nầy đau đớn, sầu-bi.

Sau nầy sẽ thấy việc gì trên mây.

Sẽ có người nầy cứu vớt giùm cho.

Phải dẹp vị-kỷ mà lo tu-hành.

260. Ngày sau thấy Phật đành rành chẳng sai.

Nay đà gần cuối mùa thu,

Xác trần đạo-lý chưa rành,

Điên nầy sẽ mở xích-xiềng,

Không ham danh lợi giàu sang,

Thường về chầu Phật tấu trần,

Nay đà bày tỏ nguồn-cơn,

Phật, Trời thấy khổ thời thương,

Đừng ham tranh-đấu thiệt hơn,

Hồng-trần biển khổ thấy rồi,

Đừng ham nói đắng nói cay,

Tu-hành tâm trí rán trì,

Đừng làm tàn-ác ham gây,

Dương-trần lắm chuyện đôi co,

Kệ kinh tưởng-niệm cho sành,

46 Sấm Giảng Giáo-Lý – Quyển Nhứt

261. Lúc nầy thế-giới bi-ai,

Chẳng nói vắn dài Phật nọ tức tâm.

Từ đây đạo-hạnh được mầm thanh-cao.

Khuyên trong lê-thứ bước vào đường tu.

Ngày nay sáng tỏ đền bù ngày xưa.

270. Điên chẳng nói thừa lại với thứ-dân.

Mà tâm dính chặt hồng-trần bụi nhơ.

Cũng còn tai lấp mắt ngơ mới kỳ.

Trông cho làm bịnh dị-kỳ nó coi.

Giấu đầu rồi lại cũng lòi sau đuôi.

280. Việc tu bá-tánh bắn lùi như tôm.

Đêm khuya muốn giựt nồi cơm của người.

Tu-hành chẳng chịu, lo cười lo khinh.

Đến sau chẳng biết thân mình ra sao ?

Còn người tàn-bạo máu đào tuôn rơi.

290. Ngay cha thảo Chúa, Phật Trời cứu cho.

Mấy lời khuyên nhủ chẳng lầm,

Hồng-trần lao-khổ xiết bao,

Xưa nay đạo-hạnh quá lu,

Mặc tình kẻ ghét người ưa,

Quan-trường miệng nói vang rân,

Buồn đời nên mới làm thơ,

Người đời lòng dạ bất tri,

Dương-gian chậu úp được voi,

Nói nhiều mà dạ chẳng nguôi,

Tưởng Phật được lúc đầu hôm,

Thế-gian nhiều việc nực cười,

Người già ham muốn gái xinh,

Xác thân cọp xé beo quào,

Tu-hành hiền-đức thảnh-thơi,

Sấm Giảng Khuyên Người đời tu-niệm 47

291. Bá-gia hãy rán mà lo,

Kiếm Lão Đưa Đò nói chuyện huyền-cơ.

Nay viết ít tờ trần-hạ tỉnh tâm.

Nhờ công tu-niệm âm-thầm quá hay.

Cá kia biếng lội khổ nầy mới yên.

300. Bể khổ gần miền mà chẳng chịu tu.

Khắp trong lê-thứ ao tù từ đây.

Đời nay trở lại khác nào đời Thương.

Ham mê Đắc-Kỷ là phường bội cha.

Nói cho bá-tánh biết mà người chi.

310. Dương-trần phải rán tu-trì sớm khuya.

Ngày sau như khóa không chìa dân ôi !

Nay lở mai bồi chẳng có thiềng tâm.

Ngày sau sẽ biết thú cầm chỉn ghê.

Lại thêm ác thú mãng-xà, rít to.

320. Gác tai gièm-siểm đôi-co ích gì !

Bấy lâu chẳng biết làm thơ,

Đến sau khổ-hạnh khỏi lâm,

Chừng nào chim nọ biếng bay,

Nhắc ra quá thảm quá phiền,

Ngọn đèn chơn-lý hết lu,

Thấy trong thời-cuộc đổi xây,

Nhắc ra thêm ghét Trụ-Vương,

Hết gần Điên lại nói xa,

Lời lành khuyên hãy gắn-ghi,

Đừng ham làm chức nắc-nia,

Tu-hành như thể thả trôi,

Mưu sâu thì họa cũng thâm,

Hùm beo tây tượng bộn-bề,

Bá-gia ai biết thì lo,

48 Sấm Giảng Giáo-Lý – Quyển Nhứt

321. Hết đây rồi đến dị-kỳ,

Sưu cao thuế nặng vậy thì thiết-tha.

Chẳng ai dạy-dỗ thiệt là thảm-thương.

Nơi chốn Phật đường mặt ngọc ủ-ê.

Bởi chưng tàn-bạo khó kề Phật Tiên.

330. Ngày sau đến việc lụy-phiền suốt canh.

Ấy là châu-ngọc để dành ngày sau.

Đời sau kính trọng người cao tu-hành.

Bá-gia phải rán biết rành đường tu.

Cũng như những kẻ đui mù đi đêm.

340. Mảng lo tranh đoạt thù-hềm với nhau.

Vang mồm niệm Phật, Phật nào chứng cho.

Nói ngỗng nói cò đây cũng làm thinh.

Chẳng lo tu-niệm cứ ghình với Điên.

Bây giờ nói chuyện cỡi thuyền khuyên dân.

350. Nắng mưa chẳng quản tảo-tần ai hay.

Dân nay như thể không cha,

Thứ nầy đến thứ Minh-Vương,

Cám thương trần-hạ nhiều bề,

Chúng ham danh lợi điền-viên,

Kệ kinh tụng niệm đêm thanh,

Bây giờ chưa biết vàng thau,

Nam mô miệng niệm lòng lành,

Thương ai ham võng ham dù,

Khuyên đời như vá múc thêm,

Đến chừng có ốm có đau,

Dương-trần tiếng nhỏ tiếng to,

Tưởng rằng thân nó là vinh,

Nói ra trong dạ chẳng yên,

Đêm ngày chẳng nại tấm thân,

Sấm Giảng Khuyên Người đời tu-niệm 49

351. Chừng sau đến hội Rồng Mây,

Người đời mới biết Điên nầy là ai.

Thuyền đi nước ngược đến rày cù lao.

Thiệt làng Long-Khánh ít người nào tu.

Bèn đi ca hát kiếm xu dương-trần.

360. Trong nửa ngày trần chẳng có đồng chi.

Ở một đêm thì sáng lại qua sông.

Bày trò bán thuốc hát ròng đời nay.

Rồi mới ra bài hát việc Thiên-cơ.

Buồn cho lê-thứ kịp giờ ra đi.

370. Thẳng đường trực chỉ Điên đi Tân-Thành.

Nói chuyện thiệt sành thông-lảu Đạo Nho.

Chê Lão Đưa Đò mà biết việc chi.

Điên chẳng bắt tì còn mách việc xa.

Giáp rạch Cả-Cái rồi ra ngoài vàm.

380. Điên ra sức lực chèo chơi một giờ.

Lui thuyền chèo quế tay gay,

Xa xa chẳng biết làng nào,

Tớ Thầy liền giả đui mù,

Bá-gia tựu lại rần rần,

Nực cười trần-hạ một khi,

Bình-minh vừa buổi chợ đông,

Cho thiên-hạ tựu đông vầy,

Tới đây bá-tánh làm ngơ,

Lìa xa Hồng-Ngự một khi,

Tới đây ra mặt người rành,

Nhiều người xúm lại đôi co,

Thấy đời động tánh từ-bi,

Khoan khoan chơn nọ bước ra,

Đoái nhìn mây nọ trắng lam,

54 Sấm Giảng Giáo-Lý – Quyển Nhứt

501. Ghe người biến mất bằng nay,

Cho chúng biết tài của kẻ Thần Tiên.

Gặp hai thằng lính tra liền thuế thân.

Mới lỡ một lần xin cậu thứ-tha.

Bởi chưng khổ-não mới là nổi trôi.

510. Khoát nạt một hồi rồi lại bắt giam.

Ghe người biến mất coi làm chi đây.

Đi coi đi bói khắp trong phố-phường.

Điên mới chỉ đường Tịnh-Độ vãng-sanh.

Khi ca khi lý nói rành Thiên-cơ.

520. Tưởng như những kẻ nói thơ kiếm tiền.

Khôn-ngoan độc-ác làm phiền người xưa.

Chẳng dám nói bừa cho bá-tánh nghe.

Điên giả Người Què Gia-Định thẳng xông.

Khắp trong thiềng-thị rồi thì nhà-quê.

530. Thêm nói bộn-bề những việc về sau.

Bến-Thành đến đó đậu liền,

Tớ Thầy nói chuyện cân-phân :

Hai người tôi ở phương xa,

Lính nghe vừa dứt tiếng rồi,

Thấy đời trong dạ hết ham,

Tức thời Điên giả làm thầy,

Có người tu-niệm đáng thương,

Dạo cùng khắp cả Sài-Thành,

Bá-gia bá-tánh làm ngơ,

Văn-minh trọng bạc trọng tiền,

Mặc ai ghét ghét ưa ưa,

Phiền-ba ngựa ngựa xe xe,

Què nầy đường xá lảu-thông,

Kêu cơm bá-tánh nghe ghê,

Sấm Giảng Khuyên Người đời tu-niệm 55

531. Dương-trần bàn tán thấp cao,

Chẳng biết người nào rõ việc tiên-tri.

Thuyền loan trực chỉ đến thì Cần-Thơ.

Vợ điên chồng lại đứng hờ một bên.

Cùng người đi chợ xúm nhau reo cười.

540. Phần nhiều xúm lại chê cười người điên.

Chồng chẳng có tiền lại quán xin cơm.

Ai cũng sẵn hờm đặng có ghẹo chơi.

Với việc hiện thời khổ-não Âu-Châu.

Lòng quá thảm-sầu lìa lại Vĩnh-Long.

550. Thuyền loan trực chỉ đến rày Bến-Tre.

Giả Chị Bán Chè dạo khắp các nơi.

Rước rước mời mời anh chị mua ăn.

Nói nói rằng rằng những việc bướm-ong.

Điên cũng nói ròng chuyện khổ về sau.

560. Lìa xa thiềng-thị đến thì thôn-quê.

Giã từ Gia-Định một khi,

Tới đây giả Kẻ Quá Khờ,

Phố-phường xóm dưới đầu trên,

Thị-thiềng hiền-đức được mười,

Vợ thời ca hát huyên-thiên,

Bá-gia coi thể rác-rơm,

Điên mà ca hát việc đời,

Chạy cùng chẳng sót đâu đâu,

Chợ quê giảng dạy đã xong,

Chợ nầy đậu tại nhà bè,

Giọng rao rặt tiếng kim thời,

Trẻ già qua lại lăng-xăng,

Gánh chè bán hết vừa xong,

Nói rồi chơn bước mau mau,

56 Sấm Giảng Giáo-Lý – Quyển Nhứt

561. Đi đâu cũng bị nhún trề,

Kẻ lại chưởi thề nói: lũ bá-vơ.

Lúc ở trên bờ khi lại đi ghe.

Đủ bực thơ vè lìa lại Trà-Vinh.

Đua nhau bán thuốc mặc tình mua không.

570. Trách trong lê-thứ không lòng từ-bi.

Điền-viên sự sản ai thì làm cho.

Khuyên trong trần-hạ rán lo tu-trì.

Dương-trần có Phật vậy thì xuống đây.

Đi trở lộn về Ông-Chưởng giảng dân.

580. Chèo xuôi chèo ngược mấy lần không thôi.

Bồng-Lai Tiên-cảnh rao rồi một khi.

Còn mắc nợ thì ở lại dương-gian.

Tên thiệt Vân-Trường ở dưới dinh Ông.

Ghé vào tệ-xá thẳng xông lên nhà.

590. Nói chi lớn tiếng người mà khinh-khi.

Thấy đời tai lấp mắt ngơ,

Dạo cùng khắp tỉnh Bến-Tre,

Tới đây bày đặt hát kình,

Nói ra những chuyện bông-lông,

Gặp người đói khó khinh-khi,

Dạy rồi thuyền lại Mỹ-Tho,

Xưa nay không có mấy khi,

Chợ quê giáp hết thuyền quay,

Quản chi nắng Sở mưa Tần,

Thảm-thương bá-tánh lắm ôi !

Nếu ai rảnh việc thì đi,

Có người xưng hiệu ông Quan,

Thấy đời cũng bắt động lòng,

Mình người tu-niệm vậy mà,

Sấm Giảng Khuyên Người đời tu-niệm 57

591. Người nhà cảm tạ một khi,

Cúng năm cắc bạc tiền đi Non Bồng.

Ghé nhà chủ Phối xem lòng Đạo Ba.

Mấy bà có biết lúa mà bay không ?

Xin ông bày tỏ cho tôi hiểu rày.

600. Lúa bay về núi dành rày ngày sau.

Không biết câu nào trái ý Đạo Ba.

Tay gay chèo quế dạo thì khắp nơi.

Miệng cũng rao mời Tiên-cảnh Bồng-Lai.

Mách chơi ít tiếng người rày mạng vong.

610. Đòi đã hai lần sao chẳng chịu đi ?

– Đò đi tới chốn ăn thì bao nhiêu ?

Bao nhiêu tự ý cho nhiều chẳng ham.

Ghe đã chở đầy chật nứt trong mui.

Vậy chú hãy ngồi ngay chỗ sau đây.

620. – Thân tôi làm vầy ông chẳng cho vô ?

Xuống thuyền xuôi nước thẳng xông,

Ngồi chơi đạo-lý bàn qua,

Có người đạo-lý hơi thông,

Điên nghe liền mới tỏ bày :

Hỏi qua tu-niệm âm-hao,

Buồn đời Điên mới bước ra,

Đi hoài chẳng có nghỉ ngơi,

Có người xuống bến bằng nay,

Nhà ngươi thiệt chẳng có lòng :

Thương đời Ta luống sầu-bi,

Điên rằng tôi chẳng ham nhiều,

Điên nầy bụng chẳng có tham,

Già đây cũng chở cầu vui,

Thấy người lòng dạ tà-tây :

58 Sấm Giảng Giáo-Lý – Quyển Nhứt

621. Trong mui đã mát lại khô,

Tôi có đủ tiền mà trả cho ông.

Bước nhầu vào đó máu hồng trào ra.

Thuyền Người biến mất vậy mà còn chi.

Chèo lên chèo xuống vậy thì cũng rao.

630. Mà nay chưa có người nào chơn-tu.

Mà trong trần-hạ đui mù không hay.

Trả lời rằng ở Non cày Vua Nghiêu.

Bỏ ghe Điên cũng đánh liều chưa thôi.

Khắp trong hàng xóm đi rồi sạch trơn.

640. Nhà tôi vốn thiệt có đờn năm dây.

Nên mới làm vầy cho giải quả-căn.

Đem theo trong xách bạc hằng tám mươi.

Thân tôi lao-lý anh cười tôi chi ?

Thuyền đi xuôi ngược đến thì Ba-Răng.

650. Ghé am thầy pháp nói rằng lỡ chơn.

Trong mui dòm thấy trống không,

Cho người hung bạo biết Ta,

Trở lên Chợ-Mới một khi,

Năm xưa đây có máu đào,

Nào Điên có muốn kiếm xu,

Hỏi ông người ở đâu rày,

Tới đây trong dạ buồn hiu,

Giả ra một Kẻ Hàn Nồi,

Tới đâu cũng tỏ thiệt hơn,

Tôi còn mắc cái nợ nầy,

Nhà tôi đâu phải khó-khăn,

Nhiều người nghe nói reo cười,

Giã từ Chợ-Mới một khi,

Ít ai biết được Đạo hằng,

Sấm Giảng Khuyên Người đời tu-niệm 59

651. Trước sau bày tỏ nguồn-cơn,

Vì thương lê-thứ chi sờn lòng Đây.

Xin sáu trái bắp liền quày xuống ghe.

Mà lại Điên nhè nước ngược thẳng xông.

Người nhà xuống bến trong lòng ngại nghi.

660. Chèo quế vậy thì mạnh bạo quá tay.

Cứ biếm-nhẻ hoài buồn dạ Người Xưa.

Khuyên trong lê-thứ chẳng thừa một câu.

Miễn cho bá-tánh gặp chầu vinh-huê.

Lao khổ nhiều bề chớ chẳng còn vui.

670. Không đất cặm dùi mà chẳng ai thương.

Bỗng nghe tiếng khóc tư-lương ai-hoài.

Bị mất trộm rày đồ-đạc sạch trơn.

Rằng người nghèo-khó đương hờn phận duyên.

Dùng khoa coi bói giải phiền phàm nhơn.

680. Khuyên cô đừng giận đừng hờn làm chi.

Có người lối xóm muốn gây,

Ghe Điên vốn thiệt ghe be,

Ra oai thuyền chạy như dông,

Ông nầy chẳng biết người chi,

Thần Tiên mà chẳng ai hay,

Đời nay mỏng tợ màn thưa,

Thân Nầy chẳng nệ mau lâu,

Thương trong trần-hạ thảm-thê,

Nhiều người nghèo khổ hẩm hui,

Con thuyền đương lướt gió sương,

Có người ở xóm bằng nay,

Du-Thần bày tỏ nguồn-cơn :

Điên nghe vội-vã quày thuyền,

Coi rồi bày tỏ thiệt hơn,

60 Sấm Giảng Giáo-Lý – Quyển Nhứt

681. Rồi đi dạo xóm một khi,

Đi lên nhà thì giã gạo mà chơi.

Gặp người bán thuốc cũng thời ghé vô :

Uống vô bổ khỏe trị nhiều chứng phong.

Chớ đừng pha rượu nó hòng kỵ thai.

690. Nó nói ngày rày thuốc chẳng có hay.

– Thiệt mấy đứa nầy cãi-cọ làm chi.

Đi lên đi xuống kiếm thì xe lôi.

Chạy trước đi rồi ngừng lại chỗ kia.

Ghé vào nhà nọ nhổ bừa cái răng.

700. Liền bước xuống thuyền Thầy Tớ thả trôi.

Quày thuyền ghé lại bằng nay Chợ-Đình.

Đậu xem dân-chúng Chợ-Đình làm sao.

Giả Bận Áo Màu ai cũng dòm xem.

Đứng xa quanh-quẩn nói gièm với nhau.

710. Đứa kia xạo-xự áo màu quá ngon.

Vào nhà nói chuyện một hơi,

– Mua một ve uống hỡi cô,

Uống thì pha nước nóng trong,

Hai thằng ở xóm bằng nay,

Người cha đi lại thấy rầy :

Bước ra nhà nọ một khi,

Gặp xe chẳng có lên ngồi,

Xóm nầy kẻ ghét người ưa,

Nhổ rồi lui tới lăng-xăng,

Vàm-Nao rày đã đến rồi,

Hát hai câu hát huê-tình,

Sáng ngày chợ nhóm lao-xao,

Mấy thằng trai trẻ thấy thèm,

Đứa nầy nói để cho tao,

Sấm Giảng Khuyên Người đời tu-niệm 61

711. Nhắc ra động tấm lòng son,

Buồn cho lê-thứ sao còn ham vui.

Về trên Bảy-Núi ngùi ngùi thương dân.

Rảo khắp Non Tần bận nữa thử coi.

Nhiều người ẩn-sĩ quá lòi tánh tham.

720. Đến nơi rảo khắp chùa am của người.

Thầy tu nhiều kẻ biếng lười quá tay.

Dạo trong Bảy-Núi chẳng nài công-lao.

Giả ra Nghèo-Khó vào nhiều am-vân.

Làm sao cho đặng mau gần Phật-Tiên.

730. Ấy là đem sợi xích-xiềng trói thân.

Xuống thuyền trực chỉ lên gần Hà-Tiên.

Rảo khắp thị-thiềng xin-xỏ bá-gia.

Trở về non cũ đặng mà dạo chơi.

Nhưng nhớ việc đời lụy ngọc nhỏ sa.

740. Mà trong lê-thứ có mà biết chi.

Ở đây một buổi ghe lui,

Thầy Trò chẳng nại tấm thân,

Chơn-tu thì quá ít-oi,

Đi lần ra đến núi Sam,

Dạy rồi bắt quá tức cười,

Trẻ già biến hóa ai hay,

Rú-rừng lúc thấp lúc cao,

Tu-hành nhiều kẻ tham sân,

Ai ai cũng cứ ham tiền,

Lìa xa Bảy-Núi lần lần,

Đến đây giả Kẻ Không Tiền,

Đi rồi cũng quá thiết-tha,

Non Tiên gió mát thảnh-thơi,

Xuống trần lúc hát lúc ca,

62 Sấm Giảng Giáo-Lý – Quyển Nhứt

741. Nam mô hai chữ từ-bi,

Trần-hạ nói gì đây cũng làm thinh.

Phần Điên khuyên nhủ mặc tình ghét ưa.

Mà trong bá-tánh chẳng ưa Điên Khùng.

Đi dạy đủ chỗ khắp cùng thử coi.

750. Gần nơi ven biển cá mòi nhiều hơn.

Khi say khi tỉnh lúc hờn số căn.

Chê chê nhạo nhạo cười rằng quân điên.

Lính chẳng bắt xiềng nó lại bót đi.

Dạy-dỗ chuyện cùng mà chẳng ai nghe.

760. Long-Xuyên, Sa-Đéc nói ròng vè-thơ.

Ở nơi giữa chợ lại khờ lại quê.

Sóc-Trăng chợ ấy thuyền kề đến nơi.

Nói rõ việc đời sắp khổ sắp lao.

Chẳng có người nào tu-niệm hiền-lương.

770. Đâu có biết đường chơn-chánh mà đi.

Tu thời nhàn hạ thân mình,

Thiên-cơ ai dám nói thừa,

Xuống thuyền chèo quế thung-dung,

Rạch-Giá chợ nọ thoi-loi,

Tới đây giả Kẻ Có Cơn,

Dương-trần đi lại lăng-xăng,

Ở đâu mà tới thị-thiềng,

Lòng thương vì tánh từ-bi,

Dạy rồi Điên lại xuống ghe,

Vợ chồng nghèo khổ bơ-vơ,

Buồn trong lê-thứ ủ-ê,

Đến đâu thì cũng tả-tơi,

Thị-thiềng thiên-hạ lao-xao,

Thấy trong trần-hạ thảm-thương,

64 Sấm Giảng Giáo-Lý – Quyển Nhứt

801. Cả kêu dân-chúng hỡi ôi !

Sao không thức tỉnh việc đời gần bên.

Rán lo tu-niệm tìm nền vinh-hoa.

Của Ông Phật-Tổ ban mà cho dân.

Đừng làm tàn-ác xa lần Tiên-bang.

810. Rán lo làm phước làm doan mới là.

Với lịnh Phật Bà cứu vớt giùm cho.

Gặp Lão Đưa Đò đừng có khinh-khi.

Biên-Hòa đến đó vậy thì xem qua.

Khuyên trong bá-tánh vậy mà tỉnh tâm.

820. Rán mà trì chí đặng tầm huyền-cơ.

Chẳng dám chần chờ đi thẳng Tây-Ninh.

Điên ra sức giảng mặc tình nghe không.

Thiềng-thị giáp vòng thứ chót là đây.

Rảo khắp tối ngày chẳng có nghỉ chơn.

830. Không biết đời khổ lo mừng lo vui.

Khổ đà đi đến như tên,

Vinh nầy của Đức Phật-Bà,

Tu cho nhàn toại tấm thân,

Hát kêu bớ kẻ giàu sang,

Đến lâm cảnh khổ có Ta,

Tu-hành phải rán trì mò,

Dạy rồi Thầy Tớ liền đi,

Đến đây dạy-dỗ gần xa,

Ngày nay gặp Bạn Tri-Âm,

Tân-An dạy-dỗ kịp giờ,

Tới đây vừa lúc bình-minh,

Giảng rồi Dầu-Một thẳng xông,

Thương dân giảng dạy dẫy-đầy,

Nhiều người hung-ác quá chừng,

Sấm Giảng Khuyên Người đời tu-niệm 65

831. Nhắc ra dạ nọ nào nguôi,

Từ đây Lục-Tỉnh đui cùi thiếu chi.

Bá-gia chậm chậm khinh-khi Điên nầy.

Lặng yên coi thử Điên nầy là ai.

Vì yêu dân-chúng chẳng nài nắng mưa.

840. Khuyên trong trần-hạ hãy chừa lòng tham.

Còn Điên chẳng có chùa am dưới nầy.

Ngày nay nhường lại cảnh nầy cho Điên.

Dạy rồi thì lại thảm-phiền nhiều hơn.

Lời Điên khuyên-nhủ như đờn Bá-Nha.

850. Từ đây sắp đến quê nhà Điên đi.

Thầy thì Huệ-Lựu, Tớ thì Huệ-Tâm.

Khắp trong các nước thây nằm bằng non.

Vợ thì chồng chẳng được còn tại gia.

Tu-hành hiền đức Phật mà cứu cho.

860. Đừng ham gây-gổ nhỏ to làm gì.

Nói mà trong dạ sầu-bi,

Đừng ham nói nọ nói nầy,

Cảm thương Ông Lão Bán Khoai,

Câu nầy nhắc chuyện năm xưa,

Khùng thời quê ngụ núi Sam,

Vua Nghiêu xưa mở đất cày,

Xuống trần dạy-dỗ huyên-thiên,

Cầu xin Phật-Tổ ra ơn,

Thị-thiềng khắp hết gần xa,

Đừng thấy ngu dại mà khi,

Đời cùng còn chẳng mấy năm,

Cha thì chẳng thấy mặt con,

Khuyên trong lê-thứ trẻ già,

Ấy là quí-báu thơm-tho,

66 Sấm Giảng Giáo-Lý – Quyển Nhứt

861. Con thì ăn ở nhu-mì,

Học theo luân-lý kính vì mẹ cha.

Xử người tàn-bạo vậy mà tại đây.

Đời nay quả-báo một giây nhãn tiền.

Đừng trọng bạc tiền bỏ nghĩa bỏ nhân.

870. Từ đây có kẻ Du-Thần xét soi.

Hãy treo gương thiện mà soi lấy mình.

Phận mình cứ giữ tâm mình cho ngay.

Hầu hạ bên Thầy đặng cứu bá-gia.

Cứ theo chế nhạo cười mà người Điên.

880. Chẳng có ham tiền cũng bị ghét vơ.

Đi làm ruộng rẫy bỏ hờ theo xem.

Thấy cảnh sung-sướng nó thèm quá tay.

Ngày nay yên-tịnh ngày mai thảm-sầu.

Cho người tàn-bạo cứng đầu khinh-khi.

890. Nên Điên mới nói chuyện ni tỏ tường.

Sau nầy sấu bắt hùm tha,

Đời xưa quả-báo thì chầy,

Dương-trần phải rán làm hiền,

Người hung phải sửa cái thân,

Chuyện người chớ móc chớ moi,

Ai thương ai ghét mặc tình,

Điên đây vưng lịnh Phương Tây,

Thấy đời lòng dạ tây-tà,

Ngồi buồn kể chuyện huyên-thiên,

Viết cho bá-tánh ít tờ,

Thương người nghèo khổ lấm-lem,

Ai mà biết đặng ngày mai,

Từ rày gặp cảnh buồn rầu,

Dương-trần nay đáng sầu-bi,

Sấm Giảng Khuyên Người đời tu-niệm 67

891. Đêm ngày tưởng Phật cho thường,

Phải rán lo-lường kim-chỉ từ đây.

Dạy trong trần-hạ ngày rày rán nghe.

Nhà săng cột lớn bù-xè hay ăn.

Dương-trần biết đặng Đạo-hằng mới thôi.

900. Phật Trời chẳng muốn điều tồi ấy đâu.

Chớ không có muốn chùa lầu cho cao.

Dạy khôn trần-thế chớ nào dạy ngu.

Chừng heo cắn ổ hiềm-thù mới yên.

Người hung hay gọi kẻ hiền rằng ngu.

910. Ấy là đủ việc tài bù cho dân.

912. Tới đây cũng lần ngừng lại bút nghiên.

Thương đời Điên mới tỏ bày,

Đừng khi nhà lá chòi tre,

Lúc nầy Điên mắc lăng-xăng,

Chẳng ham cúng kiếng chè xôi,

Muốn cho dân hiểu Đạo mầu,

Bao nhiêu cũng biết vàng thau,

Sáng ngày con chó sủa tru,

Đừng ham giành-giựt của tiền,

Nay Điên chỉ rõ đường tu,

Thôi thôi nói riết dần lân,

NAM MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT

BỬU châu công luyện chốn non Tần,

SƠN thủy môn giang bảo giác dân.

KỲ quái chờ nơi Thiên nhứt định,

HƯƠNG nồng dành thưởng kẻ tròn ân.

*

Advertisements
Categories: Sấm Giảng | Leave a comment

ĐỂ CHƠN ĐẤT BẮC

ĐỂ CHƠN ĐẤT BẮC

Inbox
x
Vu Nguyen
Jan 3 (9 days ago)

to bcc: me

Kính thưa quý đạo hữu, quý đồng đạo;

 

Em cháu xin gởi tiếp bài “ĐỂ CHƠN ĐẤT BẮC”, kèm theo mp3, để tiện việc tham khảo, tìm hiểu về:

        Thân thế của Đức Ân Sư

        Những sắc lịnh

        Thiên cơ & Những sự kiện trong thời Hạ Ngươn

        Những điều khuyên sanh chúng

        Sự thế

 

***************

 

1.          Thân thế của Đức Ân Sư:

       Cũng xưng rằng hiệu Khùng Điên…,

       Liên-hoa chín phẩm ở ngọc tòa…, Giả dạng Điên-Khùngmượn thi ca.

       Khùng-Điên ẩn-nhẫn tùy thời, Có-cơn giả dạng dắt đời hạ-nguơn.

       Luân phiên Thầy Tớ tách vời, Chẳng nài lao-lý miễn đời bình an.

       Tớ thầy nào nệ cần-lao…, Quyết lòng tìm kiếm người hiền mà thôi.

       Viết ra mới bốn bài thi…, Trưng bày tích cũ…, Thiên-cơ đạo-đức

       Vân-vân bạch-bạch…, nhứt dị nhân…, Tiên-sinh ​​​​phò Lê-chúa…, Hậu truyền độ chúng

       Kiển-sám truyền danh lưu hậu thế, Nam-Việt trung-thần đệ nhứt Tiên.

       Người chi thi-phú công-hầu cổ nhơn…, Về An-Giang tỉnh rõ ràng ai hay.

 

2.          Những sắc lịnh:

       Chuyển miền Nam địa lung-lay, Nam Trung cùng Bắc một tay giáo đời.

       Được lịnh Thiên-Hoàng nấy sai ta. Hạ-giái dạy khuyên truyền đạo-lý

3.          Thiên cơ:

       Hạ-nguơn đã hết loạn-ly cơ đồ.

       Thiên ý bất tư hoạnh trữ tài…, Nghị xuất Thần Tiên yêntruyền đạo,

       Tớ Thầy non núi dựa kề…, Minh-Vương sửa trị mới yên ngôi Trời.

       Nam-thiền báu ngọc châu trân, Phật Tiên phân định tấm thân mới nhàn.

 

4.          Những sự kiện trong thời Hạ Ngươn:

       Còn một cuộc chiếu manh giành xé, Khắp hoàn-cầu ó-ré một nơi.

       Cuộc biến động nay mai nguy ngập…, Chư bang ham báuhùng-cường đua tranh.

 

5.          Những điều khuyên sanh chúng:

–       Đại đồng đạo cả khắp trùm bao…, Quyết lòng cho thế một bài học hay.

–       Có một hội nầy lập lấy thân…, Khuyên ai khuya sớm gắng chuyên cần.

–       Ngũ-luân lễ nghĩa năm hằng, Tam cang trung-trực

–       Từ đây nhẫn nại chống kình làm chi…, Thiện chí tu trì…, tầm Bát-nhã

–       Muốn xem được hội Long-Đình…, hãy rán sửa mình cho trơn.

–       Trung hiếu giữ-gìn phận con tôi…, Ở ăn cho vẹn mười ơn…,hiền-đức…, thảo ngay

 

6.          Sự thế:

–       Ngàn năm Thích đạo đành chôn lấp, Thương tưởng bá-gia nỗi lạc lầm.

–       Ai ai cũng ở trong đời, Chốn nào không đạo là đời vô liêm.

–       Lam-kiều hữu lộ vắng hoe, Ngục môn không cửa mà hè nhau đi.

 

*******************

ĐỂ CHƠN ĐẤT BẮC

(314 câu)

 

Để chơn đất bắc Thầy trò,
Dân còn quê kịch hát hò nghêu-ngao.
Xóm làng 
Đồng-Thạnh
 xôn-xao,
Cùng nhau bàn-tán khác nào trong Nam.

Chúng dân tựu ngũ tùng tam,
Kẻ ma người mị kẻ ham người cười.
Làng nầy đông-đúc nhiều người,
Dân tình cũng được đôi mươi tu hành.

Nhiều người già cả lòng lành,
Có nhiều kỳ lão 
biết rành tích xưa
.
Tới đâu cũng ít người ưa,
Nằm lăn ca hát sớm trưa dỗ-dành.

Trưng bày tích cũ đành-rành,
Thiên-cơ đạo-đức
 tu hành phận tôi.
Dân quê nghe nói hỡi ôi!
Hung-đồ cường nghịch một hồi cười reo.

Đâu đây mà có hùm beo,
Khéo bày bá-láp nghe theo làm gì?
Thấy trong lê-thứ cũng kỳ,
Đi đâu cũng bị dân thì ghét vơ.

Ngày đầu nhiều kẻ còn mơ,
Trị chơi ít bịnh ngẩn-ngơ xóm riềng.
Cũng không thèm trọng bạc tiền,
Quyết lòng 
tìm kiếm người hiền
 mà thôi.

Bắc-kỳ dân ít mép-môi,
Cũng còn cúng kiếng chè xôi ê-hề.
Thương dân nên chịu nặng-nề,
Lời ăn tiếng nói nhiều bề thấp cao.

Tớ thầy nào nệ cần-lao,
Thương dân dạy-dỗ xiết bao nhọc-nhằn.
Ngũ-luân
 lễ nghĩa năm hằng,
Tam cang 
trung-trực người rằng ngu-si.

Viết ra mới bốn bài thi,
Đặng cho trần thế biết thì Thần Tiên.
Cũng xưng rằng hiệu 
Khùng Điên
,
Nhắc ra nhiều khúc Rồng-Tiên Hồng-Bàng.

 

THƠ rằng:

 

Nam-thiền vô ngại đại Hoành-Sơn,
Nhiên khước hành vi kỷ khách huờn.
Tân tạo huyền sanh hồi châu ngọc,
Hữu nhựt Tiên Thần hiệp luyện đơn.

 

Vân-vân bạch-bạch thức sinh thần,
Cổ quán thôn-hương 
nhứt dị nhân
.
Tiên-sinh hiện kiếp phò Lê-chúa
,
Hậu truyền độ chúng cảm hoài ân.

 

Liên hồng cảm-kích vĩ long tuyền,
Đồng-Thạnh
 hàng kỳ tác thiện duyên.
Kiển-sám
 truyền danh lưu hậu thế,
Nam-Việt trung-thần 
đệ nhứt Tiên.

 

Nhơn danh ly biệt ngạn Bắc-hà,
Cổ súy lương thần vị phong ca.
Thọ tử tâm trung trưng hùng khí,
Qui hồi quốc thủy tiện phương hoa.

 

Bốn bài thơ đã làm xong,
Văn-nho bàn-bạc nhiều ông lắc đầu.
Nghĩ ra mới biết cơ cầu,
Người chi thi-phú 
công-hầu cổ nhơn
.

Nghiệm suy lời lẽ thiệt hơn,
Dặn-dò bá tánh thi ơn xóm làng.
Nào ta có nói bướng càn,
Về An-Giang
 tỉnh rõ ràng ai hay.

Từ đây Nam Bắc chuyển quay,
Khi đây khi đó ra tài khuyên dân.
Tuần-huờn tạo hóa cầm cân,
Ở đây cũng dạy hương-lân đủ đều.

Xác nghèo nhà tợ cái lều,
Cơ-hàn rách-rưới nhiều đều nan nguy.
Tuy là gia-trạch hàn-vi,
Nhưng mà hiền-đức khác gì người xưa.

Nhiều người lối xóm đẩy-đưa,
Tấm lòng không mến mà ưa bề ngoài.
Nước tràn ruộng lúa lạc loài,

Bắt đầu lo chuyện miệt-mài bắp khoai.

Giáo-truyền lời lẽ thẳng ngay,
Hương-lân trùm-trưởng đắng cay nhiều bề.
Thầy trò
 ra sức làm hề,
Ca tuồng ly-loạn dựa kề biên-cương.

Có nhiều chệc khách Minh-hương,
Đau lòng nhiều khúc thê-lương bên Tàu.
Chú lùn 
Nhựt-Bổn
 hùng-hào,
Chẳng thương sanh-mạng 
dân Tàu
 dại ngu.

Bởi chưng hung-bạo chẳng tu,
Cho nên gây sự lu-bù chiến-tranh.
Bắc-Kỳ Trung-Quốc
 giáp ranh,
Sao không xem đó tu hành hiền lương.

Cá không ăn muối cá ươn,
Chẳng nghe lời dạy lâm đường chông gai.
Hát tuồng 
Trung-Quốc
 quá dai,
Ta bèn bỏ bản hát bài tà-tinh.

Cả kêu lớn nhỏ đệ-huynh,
Từ đây nhẫn nại 
chống kình làm chi
.
Bút nghiên lôi lại làm thi,
Đặng cho sanh-chúng 
bớt nghi tinh-tà.

 

Cổ qui tài tận hận do Tần,
Thiện chí tu trì
 lập vĩ thân.
Tồn tại hư vô 
tầm Bát-nhã
,
Tiên kiếm thần thông chỉ huy cần.

 

Điền tan gia phế tế nhiên hàn,
Khổ đáo ly kỳ ảo viễn cang.
Nghị xuất Thần Tiên yên 
truyền đạo
,
Bần phú cơ đồ bất tự sang.

 

Nôn nải kìa ai nhọc mưu cầu,
Thê thảm cho đời nẻo huyền sâu.
Kiên cố của tiền thiên đạo lý,
Cấp hồi ái truất trót canh thâu.

 

Thiên ý bất tư hoạnh trữ tài,
Biên hình liên huệ tất ư giai.
Kiệm kỷ tha lam mi hài-chí,
Long trì phi ẩn tạo kiền khai.

 

Ngạo cảnh du vân triện Bắc-hà,
Quá khứ trú đình vịnh ngân ca.
Thanh tích cổ nhân tân cừ khí,
Nghiên tòng bí khuyết bích-lư xa.

 

Thâm canh bất mến công hầu,
Trông cho lê thứ gặp chầu vinh-huê.
Ở đâu dân cũng còn mê,
Tham câu danh lợi khó kề Thần-Tiên.

 

Tư lương một mối sầu riêng,
Long thiền đãi ảnh vị thiên cô phần.
Ngảnh ngao tái chí thi ân,
Biện minh chí hứng đền lân dựa kề.

 

Huy hoàng hương nến tự thiên chi,
Hội kiến truyền linh thuyết vĩnh kỳ.
Lôi chất khai âm vô sắc thí,
Ngại hồi bi hiện án tiền phi.

 

Rừng thông bên cạnh gần kề,
Bôn-phi lê-thứ nhiều bề gian-nan.
Bắc-kỳ còn hỡi hò khoan,
Chúng dân đi cấy reo vang ruộng đồng.

Thấy đời cũng luống động lòng,
Xứ quê nghèo cực muỗi mòng thiếu chi.
Dạo miền thành-thị một khi,
Chán-chê thế sự sầu-bi trong lòng.

Ca xang thảm cảnh não-nồng,
Cả kêu dân-chúng 
Lạc-Hồng
 hỡi ơi!
Giống xưa
 Tiên cảnh tuyệt vời,
Ngày nay đã lạc đạo đời nhuốc-nhơ.

Người hiền nghe thấu ngẩn-ngơ,
Đớn đau sắp đến bơ-vơ một mình.
Muốn xem được 
hội Long-Đình
,
Thì dân hãy rán 
sửa mình cho trơn
.

Ở ăn cho vẹn mười ơn,
Cảnh tình 
hiền-đức
 gặp cơn khải hoàn.
Gắng công khỏi buổi nghèo nàn,
Sum vầy một cuộc Hớn đàng toại thay.

Người nào vẹn được thảo ngay,

Dựa kề cửa Thánh đài mây an nhàn.
Khuyên răn cuối xóm cùng làng,
Giàu sang nắm giữ của ngàn làm chi.

Việc đời nhiều nỗi sầu-bi,
Hạ-nguơn
 đã hết loạn-ly cơ đồ.
Bây giờ còn hỡi mờ-hồ,
Chẳng nghe 
dạy chỉ cơ-đồ
 về sau.

Thử xem cho biết vàng thau,
Tình yêu sanh chúng chẳng nao tấc lòng.
Tu hiền như thể phụng rồng,
Mắt nhìn Tiên cảnh mây hồng toại thay.

Bây giờ rán chịu đắng cay,
Ngày sau mới biết 
mặt mày Khùng Điên
.
Đạo đời nào có tư riêng,
Minh-Vương
 sửa trị mới yên ngôi Trời.

Xa-xăm các chỗ các nơi,
Đâu đâu cũng rán nghe lời tiên tri.
Kẻ hung ngạo-nghễ khinh khi,
Nữa sau đến việc sầu-bi nhiều bề.

Tớ Thầy non núi dựa kề,
Cũng tìm am cốc liệu bề dạy khuyên.
Quyết lòng rửa sạch tiền khiên,
Ra oai ra lực hùng-yên mới là.

Bây giờ còn liệu tây tà,
Cho nên đạo-đức khó mà cạn phân.
Nam-thiền
 báu ngọc châu trân,
Phật Tiên 
phân định tấm thân mới nhàn.

 

Duyên sự đê-mê cảnh Hớn-đàng,
Lần dò cho 
thấu nẻo Tiên-bang
.
Xuê-xang mấy kiểng nhìn sương gió,
Lòn cúi chờ trông lúc khải hoàn.

 

Mê-man danh-lợi cõi hồng trần,
Có một hội nầy
 lập lấy thân.
Nếu để trễ chầy e chẳng kịp,
Khuyên ai khuya sớm 
gắng chuyên cần.

 

Huyền-vi cơ đạo kiến linh kỳ,
Tự thán dương-trần tốc kham bi.
Vô vị phi liên tâm phế kỷ,
Điểm hồng nê địa tự thiên chi.

 

Chừng nào thấy được phụng hoàng,
Rồng
 chầu chớp-nháng Hớn-đàng hiển-vinh.
Sớm chiều rèn đúc kỉnh-tinh,
Ngày sau mới thấy phép linh của Trời.

Ai ai cũng ở trong đời,
Chốn nào không đạo
 là đời vô liêm.
Xét suy cho cạn cổ kim,
Hết tâm bền chí rạch tim xem nhìn.

Ta đây ưa ghét mặc tình,
Dương-gian cứ mãi chống-kình làm chi.
Chừng nào thượng-cổ hồi qui,
Thế-trần mới hết khinh-khi Phật Trời.

Tu hành đạo-đức rao mời,
Như người ngu dại với đời loạn-ly.
Ở sao cho biết tôn-ti,
Dể-ngươi Phật Thánh sầu-bi mãn đời.

Khùng-Điên ẩn-nhẫn tùy thời,
Có-cơn giả dạng 
dắt đời hạ-nguơn
.
Mặc tình ai nói thiệt hơn,
Thấp cao tai tiếng làm ơn cho đời.

Luân phiên Thầy Tớ tách vời,
Chẳng nài lao-lý miễn đời bình an.
Tiếng đờn hò liếu cống xang,
Đêm khuya khuyên nhủ khắp tràng chúng-sanh.

Buổi nay nhằm lúc vắng thanh,
Lời ta khuyên đó như cành ghẹo chim.
Trau dồi đúng bực thanh liêm,
Nữa sau mới biết thành kim đền đài.

Việc đời nhiều lúc khôi-hài,
Quyết lòng cho thế
 một bài học hay.
Chuyển miền 
Nam địa
 lung-lay,
Nam Trung cùng Bắc 
một tay giáo đời
.

Thiếu ai mà bị réo mời,
Đầu trên xóm dưới thỉnh mời liên thinh.
Trớ-trêu phải 
mượn kệ kinh
,
Mặc tình dân-sự biện minh lẽ nào.

 

THI

 

Thâm-trầm đạo-đức quá thanh-thao,
Rừng-rú kệ-kinh
 cắt khoen rào.
Rước đưa sanh-chúng 
rời bể ái
,
Thử-thét cho cùng cạn thấp cao.

 

Liên lụy trần mê bể ái hà,
Bỗng xuất thoàn tình 
mượn thi ca
.
Thể-thống Thần Tiên kiên bế chí,
Tương đồng sanh-chúng gội ma-ha.

 

Si lung á giá tọa phú hào,
Tiên kiến hậu hiền quí kỷ cao.
Thố tử hồ bi ghi chí hứng,
Đại đồng đạo cả khắp trùm bao.

 

Toan ly bể khổ, khổ tới à!
Dân-sự an-nhàn sướng dữ a!
Ta mảng lòng lo gìn sanh-chúng,
Gội nhuần ân-đức vịnh phong ca.

 

Ma-ha thoàn nhỏ đã dọn rồi,
Chèo lái trương bườm chớ thả trôi.
Bến giác bờ mê, 
mê phải tránh
,
Ly-biệt hồng trần hỡi ai ôi!

 

Liên-hoa chín phẩm ở ngọc tòa,
Được lịnh Thiên-Hoàng
 nấy sai ta.
Hạ-giái dạy khuyên 
truyền đạo-lý
,
Giả dạng Điên-Khùng mượn thi ca.

 

Ham vui đào mận chẳng xong rồi,
Trung hiếu giữ-gìn phận con tôi
.
Thế-sự bao la ta chẳng quản,
Tiên-cảnh non Bồng 
sẵn vị-ngôi.

 

Nước non náo-nức giống nòi Hồng,
Gắng chí kiếm tìm
 chủ-nhơn ông.
Tuổi trẻ đầu xanh khoanh tay rế,
Liệu-lượng 
thâm tình tợ biển sông.

 

Thay cảnh đổi lòng nỗi biệt-ly,
Muốn gặp bảng son với linh-kỳ.
Noi sức bình-sanh
 quanh nước lửa,
Có một ngày chờ 
hội ứng thi.

 

Hồn thơ Tiên Thánh sánh đạo mầu,
Chẳng thấy việc đời mảng góp thâu.
Tóm tắt ít lời
 âu diệt chủng,
Thế-sự mê hồn lụy song mâu.

 

Cha nọ bồng con vợ khóc òa,
Tan nát xóm diềng khổ dữ a!
Nhà không kẻ ở, ôi! nói trước,
Nếu chẳng tin lời gặp thiết-tha.

 

Lời xưa di tích rõ việc nầy,
Ai muốn mắt phàm 
gặp Rồng Mây
.
Hãy rán nghe lời
 ta mách trước,
Không 
gìn đạo-đức phải phơi thây.

 

Thương dân xuống bút tay đề,
Dặn-dò
 bá-tánh chớ hề lợt-phai.
Cuộc thế-giới chuyển lay như chóng,
Khuyên dân tình hãy lóng mà nghe.

Lam-kiều hữu lộ vắng hoe,
Ngục môn không cửa
 mà hè nhau đi.
Thảm cho trẻ hài-nhi liệu-điệu,
Vợ xa chồng bận-biệu thê lương.

Phong trần dày-dạn gió sương,
Chư bang ham báu
 hùng-cường đua tranh.
Còn một cuộc 
chiếu manh giành xé
,
Khắp hoàn-cầu 
ó-ré một nơi
.

Dòm xem châu ngọc chiều mơi,
Sao đời không sớm 
tách dời cõi mê
.
Để đến việc thảm-thê thê-thảm,
Mắt phàm-trần tường lãm bi-ai.

Cũng đồng cốt-nhục hoài thai,
Nên ta rán sức miệt-mài dạy khuyên.
Thơ với phú 
Thần Tiên giáng bút
,
Bởi 
cơ trời
 đà thúc bên lưng.

Không tu chừng khổ cũng ưng,
Tu hành gặp cảnh vui mừng toại thay!

 

Hoàng hôn tái sắc chuyển luân tài,
Nhựt dạ yêu đời chỉ quá dai.
Tỏ 
thuyết huyền-vi
 sanh-chúng rõ,
Năng kỳ liên huệ tất biền lai.

 

Tư lương đeo đuổi giấc mộng sầu,
Bớ hỡi dương trần khá liệu âu.
Nước lửa đến chưn, ôi! khó nhảy,
Co giò phóng riết lọt ngoài sâu.

 

Huyền cơ đạo-hạnh hãy rán tầm,
Đời cùng Tiên Phật 
dụng nhơn tâm
.
Ngàn năm 
Thích đạo
 đành chôn lấp,
Thương tưởng bá-gia nỗi lạc lầm.

 

Cảnh thảm khổ chiều mai sẽ đến,
Sao dân còn triếu-mến trần-mê?
Mắt nhìn ngoại quốc thảm-thê,
Nam-bang cảnh khổ cũng kề bên tai.

Cuộc biến động nay mai nguy ngập,
Một hội nầy 
rán lập thân danh
.
Kìa kìa các bực công khanh,
Miễu son tạc để đành rành chẳng sai.

Đất với nước hậu lai vinh-diệu,
Đạo
 lo tròn yểu-điệu tấm thân.
Một câu quân lý 
tứ ân
,
Ta đừng phai-lợt phong-thần bảng ghi.

 

Hòa-Hảo, tháng giêng năm Canh-Thìn

(Chép theo bổn chánh của Đức Thầy do Đức Ông giữ)

 

 ​

 

3 Attachments

9a- ĐỂ CHƠN ĐẤT BẮC – Microsoft Word.doc
9b- DE CHON DAT BAC – pdf.pdf
125 KB
9c- ĐỂ CHƠN ĐẤT BẮC – mp3.mp3
Not virus scanned
Categories: Sấm Giảng | Leave a comment

LỜI KHUYÊN BỔN-ĐẠO

LỜI KHUYÊN BỔN-ĐẠO

Inbox
x
Vu Nguyen
Jan 10 (2 days ago)

to bcc: me

Kính thưa quý đạo hữu, quý đồng đạo;

 

Em cháu xin gởi quý vị bài “LỜI KHUYÊN BỔN-ĐẠO”, để tiện việc tham khảo, tìm hiểu về những lời giáo hóa của Tổ Thầy:

 

–       … các trò tuy lòng mộ Đạo, chớ chưa hiểu rành nẻo bước đường đi.

–       … ấy cũng tại sự mê lầm của lục căn mà say đắm lục trần.

–       … xét trong tam nghiệp, các trò còn mang nặng lắm.

–       … xét lại khẩu nghiệp của các trò nặng-nề hơn hết.

 

ü Hãy:

o   lấy gươm trí-huệ mà dọn sạch ma lòng

o   lấy lòng khoan-dung mà đối-đãi lẫn nhau

o   lấy lòng bác-ái nhân-đạo mà cư-xử với mọi người

ü Cần hiểu cái lý vô ngã của nhà Phật

ü Hãy rán sức thi hành sẽ có Thầy ủng-hộ

 

 

****************

 

LỜI KHUYÊN BỔN-ĐẠO

 

Trong khi các trò còn ở trong biển mê sông khổ, thường bị những chướng-nghiệp nhiều đời mà làm cho linh-hồn chìm đắm trong ba cõi sáu đường, xuống xuống lên lên, luân-hồi chuyển kiếp, ấy cũng tại sự mê lầm của lục căn mà say đắm lục trần; ý-thức lầm-lạc ấy khiến các trò nhận lấy cáithân ô-trược nầy là thật, cái cảnh phú-quí cùng cuộc tình duyên tồn tại vui say.  Nào hay thân vô thường tạm mượn do tứ đại hiệp thành.   Cuộc phú-quí tựa đám phù vân, cái sắc nước hương trời ấy của các trò có khác chi cành hoa sớm nở chiều tàn, không chi bền chắc, còn tội-chướng thì linh-hồnphải chịu luân chuyển báo đền.

 

Ngày nay đã tỉnh ngộ qui y cùng Phật-pháp.  Như vậy cửa trường-sanh bất diệt các trò đã gặp nẽo, nương đèn trí-huệ, ly xuất phàm-trần, chán cảnh phồn hoa tìm nơi tịch tịnh.  Nhưng các trò tuy lòng mộ Đạo, chớ chưa hiểu rành nẻo bước đường đi. Hãy tạm xét chữ qui y cho thấu đáo: Qui là về, mà về đâu?  Về cửa Phật.  Y có nghĩa là vâng lời theo khuôn-mẫu.

 

Vậy qui y đầu Phật là nương nhờ cửa Phật và làm y theo lời Phật dạy, Phật từ-thiện cách nào ta phải từ-thiện theo cách nấy, Phật tu cách nào đắc Đạo rồi dạy ta, ta cũng làm theo cách nấy.  Thầy cảnh tỉnh giác-ngộ điều gì chánh đáng thì khá vâng lời. Cần nhứt ở chỗ giữ giới-luật hằng ngày.  Còn sự lễ bái là điều phụ thuộc, là món trợ đạo để nhắc-nhở các trò nhớ phận sự mà làm.  Thầy xét trong tam nghiệp, các trò còn mang nặng lắm.  Trong đường tu, nương theo tam nghiệp, thì khổ não lắm.  Chúng-sanh tịnh được tam nghiệp mới mong về cõi Phật. Tam nghiệp là: Thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp (đọc lại trong cuốn Khuyến-Thiện).

 

Nhưng Thầy xét lại khẩu nghiệp của các trò nặng-nề hơn hết.  Hãy lấy gươm trí-huệ mà dọn sạch ma lòng, hãy lấy lòng khoan-dung mà đối-đãi lẫn nhau, hãy lấy lòng bác-ái nhân-đạo mà cư-xử với mọi người.  Cần hiểu cái lý vô ngã của nhà Phật.  Hãyrán sức thi hành sẽ có Thầy ủng-hộ,

 

KỆ RẰNG:

 

Đạo-pháp thường hay dung với hòa,
Xét người cho tột xét thân ta.
Nếu người rõ phận vui lòng thứ,
Ta thứ được người, người thứ ta.

 

Bạc-liêu, năm Nhâm-Ngũ

 

2 Attachments

10a- LỜI KHUYÊN BỔN-ĐẠO – Microsoft Word.doc
10b- LOI KHUYEN BON DAO – pdf.pdf
Categories: Sấm Giảng | Leave a comment

Quyển IV Giác Mê Tâm Kệ

Quyển IV

Giác Mê Tâm Kệ

(846 câu)

Khai ngọn đuốc từ-bi chí thiện,

Tìm con lành dắt lại Phật đường.

Thương dân hiền giáo đạo Nam-Phương,

Ðặng chỉ ngõ làm lành lánh dữ.

Sách Thánh đạo ghi trong Tam-Tự,

Người mới sanh tánh thiện Trời dành.

Bởi lớn lên tập nhiễm lợi danh,

Nên tật xấu che mờ thiện-tánh.

Thiếu giáo-dục thiếu thêm đức-hạnh,

Ta quyết lòng nhắc lại tánh xưa.

Mặc tình đời gièm-siểm ghét ưa,

Rừng kinh kệ ít người hay chữ.

Quá mắc mỏ bởi chưng Phạn-ngữ,

Nên người đời khó kiếm cho ra.

Mõ chuông bày đọc tụng ó la,

Chớ hiếm kẻ tường thông nghĩa lý.

Dòm trước mắt thấy điều hồ-mị,

Nên động tình bác-ái dạy răn.

Réo những ai lợi dụng làm xằng,

Cho suy-sụp chơn-nhơn mờ-mịt.

Nào có khác mây đen phủ bít,

Rồi dắt nhau đến chỗ dại ngây.

Lấy tinh-thần hiệp vén ngút mây,

Trong bổn-đạo tự thân phải xử.

Xuống dương-thế dạo trong lê-thứ,

Thấy bá-gia gặp lúc não-nùng.

Cảnh trần-gian nhiều nổi lao-lung,

Việc tu-tỉnh ít người hiểu lý.

Trong bá-tánh muốn nơi cao quí,

Phải truy tầm huyền-bí nơi cơ.

Từ sấm kinh cho đến thi thơ,

Trong chốn ấy nhiều nơi trọng yếu.

Tạo làm chi những trung với hiếu!

Ấy là người bổn phận phải trau.

Khuyên dương-trần đừng nệ cần-lao,

Cũng rán sửa rán trau nền đạo.

Tu đầu tóc không cần phải cạo,

Miễn cho rồi cái đạo làm người.

Kể từ nay lỡ khóc lỡ cười,

Vì buồn bực thấy đời biến chuyển.

Các chư Phật từ đây lựa tuyển,

Coi ai là đức-hạnh hiền-từ.

Lời sách xưa cận thủy tri ngư,

Cận sơn lãnh trần gian tri điểu.

Trong sấm giảng nếu ai không hiểu,

Tầm kệ nầy Ta chỉ nẻo đường.

Quyết dạy trần nên nói lời thường,

Cho sanh-chúng đời nay dễ biết.

Trời dông gió sái mùa sái tiết,

Nắng cùng mưa cũng khác xưa rồi.

Khuyên dương-gian bỏ các việc tồi,

Ðặng lo liệu cho tròn phận-sự.

Thấy trần-thế hãy còn lưỡng-lự,

Muốn tu mà còn hỡi chần-chờ.

Việc thế-gian như thể cuộc cờ,

Thắng với thối một hai nước tướng.

Nào ai có gạt dân nói bướng,

Mà dương-trần liệu lượng chánh tà.

Ta mến yêu những kẻ thiệt-thà,

Nghe cơ-giảng thiết-tha lo-liệu.

Học đạo lý như đờn trúng điệu,

Hòa bản rồi thì cứ làm theo.

Lũ Tam-Bành trong bụng còn đeo,

Ðoàn Lục-Tặc ta mau sớm giết.

Mài gươm trí cho tinh cho khiết,

Dứt tâm trần kiếm chữ sắc không.

Ðức Di-Ðà Phật-Tổ ngóng trông,

Chờ dân chúng tìm nơi diệt khổ.

Theo Phật-Giáo từ kim chí cổ,

Gốc ông cha ta cũng tu-hành.

Mà ngày nay cứ mãi tranh giành,

Danh với lợi, của tiền, quyền tước.

Thấy trần thế ai ai cũng ước,

Ðời sao không tới phứt cho rồi.

Nay khổ lao khó đứng khôn ngồi,

Lúc đói cơm buồn lòng ngơ ngẩn.

Làm ác đức nhiều điều quanh quẩn,

Như gà cồ ăn bẩn cối xay.

Thấy người hiền nói đắng nói cay,

Sau mới biết thân ai lao khổ.

Nhớ thuở trước oai-linh Phật-Tổ,

Phép thần-thông trừ lũ Ma-Vương.

Chốn rừng tòng ngồi chịu nắng sương,

Tìm đạo-lý hiến cho trần-thế.

Hiệu Lão-Sĩ ra đời thật-tế,

Ðem lời vàng dạy dỗ dương-trần.

Khuyên chúng-sanh khuya sớm chuyên-cần,

Tìm nguồn-cội diệt-trừ Tứ-Khổ.

Bịnh với Tử từ kim chí cổ,

Sanh với Già hai chữ hoài hoài.

Ðức Thích-Ca xưa ở lầu đài,

Nghiệm Tứ-Khổ nên Ngài tầm Ðạo.

Lo tu tỉnh mặc ai khinh-ngạo,

Diệt Lục-Căn đừng nhiễm Lục-Trần.

Chữ Sắc-Thinh chớ có hầu gần,

Hương với Vị xác trần nên lánh.

Chữ Xúc-Pháp treo gương Hiền Thánh,

Tránh Sáu Ðường cũng đặng về Thần.

Từ xưa nay dạy chỉ nhiều lần,

Mà lê-thứ không lo chẳng liệu.

Nhãn thấy sắc thường hay bận-bịu,

Tai ưa nghe những điệu âm thinh.

Mắt với tai đều chọn đẹp xinh,

Còn lỗ mũi ưa mùi êm dịu.

Ðồ thơm tho nó ưa nó chịu,

Chốn xạ hương hay lết lại gần.

Lưỡi ưa ngon là chuyện ân-cần,

Ðồ ngọt béo nó ưa nó mến.

Thân tham sướng muốn tiền của đến,

Ðặng ăn xài cho phỉ tấm tình.

Ý thì ưa sửa sắc soi hình,

Với chức phận cho cao cho quí.

Sáu đường ấy ở trong tâm ý,

Ta mau mau dứt nó cho rồi.

Nếu tỉnh tâm nào có mấy hồi,

Mượn trí đạo duổi ra khỏi xác.

Dứt được nó ấy là giải thoát,

Thì xác trần mới khỏi đọa-đày.

Cả tiếng kêu những kẻ trí tài,

Hãy yên lặng bình tâm suy-nghĩ

Tiên xử kỷ hậu lai xử bỉ,

Bắt lỗi người phải xét lỗi mình.

Vậy mới là phải bực công-bình,

Nẻo chánh-trực chí người quân tử.

Người biết đạo phải gìn ngôn ngữ,

Nói với ai chớ có sai lời.

Trọng mẹ cha kính nễ Phật Trời,

Ðừng nhiều tiếng nghinh-ngang mang lỗi.

Tánh ngay thẳng ta không dời đổi,

Dầu tan xương nát thịt chẳng màng.

Ta Khùng Ðiên nói đại nói càn,

Chẳng có sợ ai rầy ai mắng.

Trời còn lúc tối mưa sớm nắng,

Thì trần-gian còn mãi khổ lao.

Ở trên đời kẻ thấp người cao,

Kẻ hiền-hậu người thì gian-ác.

Không quen biết mà cao tuổi tác,

Ta cũng nên kính trọng mới là.

Tâm từ-bi sánh thể ngọc-ngà,

Trong các báu khó bì tánh Thiện.

Phải xử thế chớ nên bày biện,

Miệng xảo ngôn thường kiện tấm thân.

Việc bán buôn phải giữ ngang cân,

Chớ tập tánh lận lường tráo đấu.

Các công cuộc của người tánh xấu,

Ta giữ gìn chớ có nhiễm vào.

Tâm Bần Tăng chẳng mến sắc màu,

Mến những kẻ biết vào đường chánh.

Ta dạy thế mượn lời Phật Thánh,

Nên truyền ban cho chúng-sanh tường.

Tuy ngày nay chúng nó hùng-cường,

Chừng phân định thì ta cao-quí.

Khuyên bổn-đạo lập thân nuôi chí,

Ðặng chờ ngày yết-kiến Phật Trời.

Quá yêu dân cạn tỏ nhiều lời,

Cho trần-hạ tìm trong lánh đục.

Chẳng chịu tu mãi còn lục-thục,

Lo giàu nghèo lo cũng chẳng rành.

Ham công-danh quên chữ sanh-thành,

Mến phú-quí quên câu dưỡng-dục.

Rán kiếm chỗ tầm tiên lánh tục,

Người ở đời phải được lòng trong.

Biển hồng-trần sớm gội cho xong,

Ngày lập hội mới mong trở lại.

Chữ bần-tiện khuyên dân đừng nại,

Miễn cho ta trở lại ngay đàng.

Chữ vinh-hoa giờ chớ có màng,

Bởi giả tạm của đời Nguơn-hạ.

Gắng công tu xem nhiều phép lạ,

Của Thần-Tiên trừ lũ hung-đồ.

Nào lụa là, lãnh nhiễu, tố sô,

Chớ ham mến mà sau lao-lý.

Ngày tiêu-diệt từ năm Bính-Tý,

Ðến năm nay hao hớt đã nhiều.

Các ngoại bang đã nhuộm máu điều,

Sao trần-thế không toan chẳng liệu.

Ðể đến việc dang lưng mà chịu,

Chớ Phật đâu cứu kịp cho người.

Khuyên chúng-sanh bỏ tánh biếng lười,

Phải sốt-sắng làm ăn cần-thiết.

Nghèo với đói từ nay sẽ biết,

Hàng ngoại bang bố thiết ta hoài.

Nên bá-gia hãy rán miệt-mài

Dầu rách rưới cũng mau cần kiệm.

Lời ta dạy hãy nên suy-nghiệm,

Phải phá tan Ngũ-Uẩn trong mình.

Chữ Tham trong ý muốn mặc tình,

Rán định tánh trừ cho nó tuyệt.

Chữ gây-gổ là Sân hãy diệt,

Cho nó đừng thấp-thoáng trong lòng.

Thêm chữ Si thiệt quá lòng-dòng,

Nên tỉnh trí tìm nơi dụt tắt.

Chữ Nhơn Ngã cũng là quá gắt,

Ta chớ nên phân biệt với người.

Dẹp năm tên được mới mừng cười,

Vô pháp-tướng mới là thiệt tướng.

Người tu hành phải trừ nghiệp-chướng,

Với bốn ma mới đặng an nhàn.

Tửu nhiễm vào thân thể bất an,

Sắc mến nó ngày kia lao khổ.

Ta nghiệm xét từ đời Bàn-Cổ,

Có ai dùng mà đặng thành Tiên.

Mà đời nay theo nó liên-miên,

Chữ Tài Của khổ riêng một kiếp.

Bị tội cướp nào ai có tiếp,

Mà đời nay nó cứ mãi làm.

Chữ Khí hùng khuyên chớ có ham,

Mà lao lý tấm thân trần-thế.

Kẻ nhứt dạ thường sanh bá kế,

Ðể gạt người làm thế cho mình.

Ngày sau nầy lắm nỗi tội tình,

Sao sanh-chúng chẳng lo cải sửa.

Bịnh ôn-dịch thường hay ói mửa,

Mà dương-trần chẳng chịu kiêng-dè.

Qua năm Dê đến lúc mùa hè,

Trong bá-tánh biết ai hữu chí.

Ta chịu lịnh Tây-Phương thọ ký,

Gìn Nghiệt-Long đặng cứu dương-trần.

Nên ra đời dạy-dỗ ân-cần,

Khuyên bá-tánh vạn dân liệu lấy.

Khổ với thãm ngày nay có mấy,

Sợ mai sau dòm thấy bay hồn.

Trừ tà-gian còn thiện chỉ tồn,

Cảnh sông máu núi xương tha-thiết.

Trần với thế bây giờ nào biết,

Chừng nhìn xem hư thiệt mới tường.

Ta bây giờ tu niệm tầm thường,

Sau danh thế xạ hương khắp chốn.

Nhà giàu có xài không sợ tốn,

Phải để tiền cho kẻ nghèo nàn.

Lo ăn xài trà rượu xình-xoàng,

Chừng khổ não phàn-nàn căn số.

Lời truyền sấm như bài toán đố,

Ai biết tầm thì đặng hưởng nhờ.

Ta khuyên tu dân cứ mãi ngờ,

Sợ gạt chúng kiếm xu kiếm cắt.

Bị ngoại quốc bán hàng quá gắt,

Nên dân ta chịu chữ cơ-hàn.

Ta Khùng Ðiên của cải chẳng màng,

Miễn lê-thứ được câu hạnh-phúc.

Cờ thế-giới ngày nay gần thúc,

Nên Phật Tiên phải xuống hồng-trần.

Chừng lao-xao ác thú non Tần,

Thì Nam-Quốc lương dân mới biết.

Nay dạy thế cậy cùng ngòi viết,

Với xác trần du-thuyết ít hàng.

Ai nói chi ta cũng chẳng màng,

Sau biết đặng dân đừng có tiếc.

Con phù du hẫng-hờ nào biết,

Thấy bóng đèn thì quyết chun vô.

Thảm thương thay chết héo chết khô,

Nhìn đèn nọ thấy mồ phù-dũ.

Kệ khuyên trần đã mãn mùa thu,

Ðeo danh lợi như con vật ấy.

Giống xe cát biển đông thường thấy,

Tên Dã-Tràng rất uổng công-trình.

Khi nước ròng nhờ lúc bình-minh,

Lúc nước lớn cát kia tan rã.

Trần phú-quí thì trần thong-thả,

Chớ còn ta cứ khổ lao hoài.

Viết kệ-cơ giảng dạy ít bài,

Mặc lê-thứ làm không tự ý.

Coi rồi phải nhận cho hiểu lý,

Câu huyền sâu của kẻ Khùng nầy.

Bởi chữ khùng của Phật của Thầy,

Chớ chẳng phải của người lãng-trí.

Mê với tỉnh nhận ra là lý,

Thấy dương-trần ngủ mãi ngủ hoài.

Thức dậy mà tầm đạo kiếm bài,

Ðể thi cử khỏi mang tiếng rớt.

Sách khuyến-thiện miệng kêu không ngớt,

Mà nào ai có thức dậy tầm.

Ta nghĩ suy cũng bắt hổ thầm,

Nên than thở cùng trần ít tiếng.

Tâm sáng suốt như đài nguyệt-kiến,

Tánh trong như nước bích mùa xuân.

Nếu không tu chừng khổ cũng ưng,

Ðừng có trách sao không chỉ bảo.

Từ nhỏ tuổi đến người trưởng lão,

Mắc trong vòng sanh tử luân hồi.

Xuống Diêm-Ðình thấy tội hỡi ôi!

Ðó mới biết có nơi địa-ngục.

Kỳ xả tội nay còn một lúc.

Sao chẳng tu đặng có hưởng nhờ.

Gặp giảng kinh trần cứ làm ngơ,

Trồng bông kiểng giống chi hưởng nấy.

Ðịa-ngục cũng tại tâm làm quấy,

Về thiên-đàng tâm ấy tạo ra.

Cái chữ Tâm mà Quỉ hay Ma,

Tiên hay Phật cũng là tại nó.

Tu với tỉnh biết làm chẳng khó,

Nếu lặng Tâm tỏ-ngộ Ðạo mầu.

Cảnh dương-gian muôn thảm ngàn sầu,

Ngó vạn vật đài lầu chẳng có.

Sông với núi trước kia mắt ngó,

Khi chết rồi thấy nó đặng nào.

Ai biết đường hãy sớm tẩu-đào,

Kiếm Ðạo-lý mà nhờ mà nhõi.

Chịu cay-đắng tu hành mới giỏi,

Ta thương đời len-lỏi xuống trần.

Ðạo vô-vi của Phật ân-cần,

Nối theo chí Thích-Ca ngày trước.

Câu phú-quí Ngài không màng-ước,

Chữ bồ-đề như cội bá-tòng.

Rán dưỡng nuôi chữ đó trong lòng,

Thì là được định chừng diệu-quả.

Lời thuyết-pháp chẳng vì nhơn-ngã,

Người nào đâu có Phật-tánh là.

Xem kệ nầy như ngọc như ngà,

Phải nảy nở như cơn mưa thuận.

Hạp mùa tiết giống kia bất luận,

Thảy mọc mầm trổ lá mới mầu.

Trông chúng sanh nghĩ tận đuôi đầu,

Về Cực-Lạc mới là hết khổ.

Ðạo với lý từ đây nhiều chỗ,

Phải lọc-lừa cho kỹ mà nhờ.

Chọn nơi nào đạo chánh phượng thờ,

Thì mới được thân sau cao-quí.

Nhìn Phật-Giáo mà tìm cái lý,

Coi tại sao ta phải tu hành.

Vì yêu dân Ta kể ngọn-ngành,

Khuyên lê-thứ làm lành mà tránh.

Cảnh Niết-Bàn là nơi cứu cánh,

Về chốn ni xa lánh hồng-trần.

Dầu không siêu cũng đặng về Thần,

Nhờ hai chữ trung-quân ái-quốc.

Chừng lập Hội biết ai còn mất,

Giờ chưa phân chưa biết chánh tà.

Ta vì vưng sắc lịnh Ngọc-Tòa,

Ðền Linh-Khứu sơn-trung chịu mạng.

Nền Ðạo-đức Ta bày quá cạn,

Mà dương-gian còn gạn danh từ.

Làm cho Ta lỡ khóc lỡ cười,

Khóc là khóc thương người ngu muội

Thấy Ðiên Khùng làm như sắt nguội,

Chẳng tranh đương nó lại khinh-khi.

Ngó về Tây niệm chữ từ-bi,

Cười trần-thế mê-si thái quá.

Tranh với luận đặng dành cơm cá.

Khuyến dụ người đặng kiếm bạc tiền.

Thấy chúng sanh ghét ngỏ ganh hiền,

Theo chế-nhạo những người tu tỉnh.

Tu không tu cũng không mời thỉnh,

Mặc tình ai trọng-kỉnh hay chê.

Thương lê-dân còn mảng say mê,

Chẳng tu tỉnh cho rành sương nắng.

Thấy ta lại nói cay nói đắng,

Ðắng với cay ta cũng chẳng màng.

Chừng trần-gian kiến thấy phụng-hoàng,

Sè cánh múa chào mừng Phật Thánh.

Thấy đạo-lý chớ nào thấy tánh,

Còn ẩn nơi tim óc xác phàm.

Ai biết tri việc phải cứ làm,

Sau mới biết ai phàm ai Thánh.

Ðức Lục-Tổ ít ai dám sánh,

Người dốt mà nói pháp quá rành.

Lựa làm chi cao chữ học hành,

Biết tỏ ngộ ấy là gặp Ðạo.

Việc cổ tích cần chi phải thạo,

Chuyện qua rồi kể lại làm gì.

Nếu ai mà biết chữ tu trì,

Tâm bình tịnh được thì phát huệ.

Ta yêu chúng viết ra Giảng Kệ,

Khuyên tăng-đồ cùng các tín-đồ.

Nghe cạn lời có mờ-hồ,

Tìm hiểu nghĩa làm theo đắc Ðạo.

Trần với thế nó hay kiêu-ngạo,

Các nhà sư hãy rán sửa mình.

Nếu xuất gia ngũ-giái rán gìn,

Tu chơn chánh mới không hổ tiếng.

Cả ngàn năm nhơn tâm xao-xuyến,

Sao tu hoài chẳng thấy ai thành.

Bởi chữ tu liền với chữ hành,

Hành bất chánh người đời mới nói.

Bị tăng chúng quá ham chùa ngói,

Nên tởi khuyên khắp chốn cùng làng.

Phật nào ham tượng cốt phết vàng,

Mà tăng tạo hao tiền bá-tánh.

Việc giả dối từ đây nên lánh,

Bổn-đạo ôi! Hãy rán sửa mình.

Cuộc dạy đời ta lắm công-trình,

Làm chẳng trọn uổng thay một kiếp.

Lời chơn-chánh trần hay bỏ liếp,

Mãi lo làm hung-hiếp người hiền.

Mà làm cho Ngọc-Ðế thảm phiền,

Muốn trừng-trị trần-gian thảm-thiết.

Ðức Phật-Tổ tâm Ngài nhứt quyết,

Tâu Ngọc-Hoàng để Phật dạy trần.

Nên ra Kinh, Cơ-Giảng nhiều lần,

Mà dương-thế chẳng cần xét đến.

Xác trần-tục như cây cạnh khến,

Làm hiền hoài ắt phải tiêu mòn.

Ðẽo với bào riết nó cũng tròn,

Ðến chừng đó trông vào rất tốt.

Lũ giả-dối thường hay thề-thốt,

Nó chẳng kiên Thần Thánh là gì.

Tâm kẻ hung làm chuyện cố-lỳ,

Chẳng có sợ mang điều tội phước.

Ghét những kẻ tu hành bốc-xước,

Miệng kêu gào chuyện phước bề ngoài.

Bước vào chùa thấy Phật lạy dài,

Lui khỏi cửa ra tay cấu-xé.

Thấy quyền quí nó hay dựa mé.

Ðặng bợ bưng những kẻ hung-sùng.

Ta thương đời nói những chuyện cùng,

Chẳng có vị có dung kẻ quấy.

Cuộc sám -hối vô chùa thường thấy,

Làm gian lừa biết mấy nhiêu lần.

Thấy dương-gian lường gạt Thánh Thần,

Mà chua xót cho đời Nguơn-Hạ.

Chữ tự hối nào ai có lạ,

Là ăn-năn cải-sửa tâm lành.

Phật chẳng qua dụng chữ tín-thành,

Chớ nào dụng Hương, Ðăng, Trà, Quả.

Làm chay đám tạo nhiều xá-mã,

Bay về Tây nói những chuyện gì?

Thấy chúng tăng làm chuyện quáy kỳ,

Ta khuyên mãi cũng không chịu bỏ.

Lời chơn-chánh hình như nói xỏ,

Mà không không nào có biếm đời.

Thấy lạc-lầm khuyên nhủ ít lời,

Chớ nào có ngạo chi tăng chúng.

Coi tâm kệ làm theo mới trúng,

Ðể lạc-lầm lắm bớ tăng-đồ.

Ðịnh tâm-thần như mặt nước hồ,

Suy với nghĩ, nghĩ suy đường lối.

Muốn niệm Phật chẳng cần sớm tối,

Ghi vào lòng sáu chữ Di-Ðà.

Thì hiền lương quên mất điều tà,

Ðặng hạnh-phúc nhờ lòng cố gắng.

Việc đạo-đức bất cần thối thắng,

Chữ tu hiền ngay thẳng lần hồi

Thấy Thiên-cơ khó nổi yên ngồi,

Thương lê-thứ tới hồi khổ-não.

Thầy lạc tớ không ai chỉ bảo,

Như vịt con dìu dắt nhờ gà.

Phải nghĩ suy cạn lẽ mới là,

Nay gặp gốc phải mau tìm gốc.

Ðể gặp Phật ngồi mà than khóc,

Gỡ làm sao hết rối mà về.

Mắt nhìn xem yêu quái bộn bề,

Bởi ác-đức nên không ai cứu.

Mang thủy ách hồi năm Ðinh-sửu,

Ðến năm nay tái lại một lần.

Khổ-ách nầy đặng thức-tỉnh trần,

Rằng thiên-định tuồng đời sắp hạ.

Trẻ nhỏ tuổi đời nầy lăng-mạ,

Bị văn-minh cám dỗ loài người.

Kể từ rày cười một khóc mười,

Kẻo chúng nó dể-ngươi Phật Thánh.

Ðạo Quỉ-Vương rất nhiều chi ngánh,

Khuyên dương-trần sớm tránh mới mầu.

Ðể ngày sau đến việc thảm-sầu,

Rán nghe kỹ lời ta mách trước.

Thuyền chúng nó thẳng buồm chạy lướt,

Lọt ngoài khơi mới hết hò khoan.

Tu mà ham cho được giàu sang,

Với quyền tước là tu dối thế.

Nhớ thuở trước vua Lương-Võ-Ðế,

Tạo chùa chiền khắp nước tu hành.

Ðến chừng sau ngã-tử Ðài-thành,

Phật bất cứu vì tâm còn ác.

Tu biết cách như đươn biết đát,

Ðươn đát rành đặng dựa Xe-Loan.

Ai biết nghe thì sớm liệu toan,

Ðể đến việc như người thất nghiệp.

Phải qui căn cùng nhau hội hiệp,

Rán mau chơn mới kịp Ðạo-mầu.

Sớm với chiều gắng chí nguyện-cầu,

Thì sẽ được Tòa-chương dựa kế.

Chúng-sanh thể như gà thất thế,

Phải nằm chờ tới nước bắt ra.

Thời-kỳ nầy nhiều quỉ cùng ma,

Trời mở cửa Quỉ-Vương xuống thế.

Nên Ta mới ra tay cứu-tế,

Kẻo chúng-sanh bịnh khổ quá chừng.

Sau Quỉ-Vương đi đứng nửa lừng,

Thêm tên tuổi chúng-sanh nó biết.

Làm đủ cách xuống lên tha-thiết,

Ở ngoài đường nó biết tên mình.

Tin cùng không thì cũng mặc tình,

Chớ Ta lắm công-trình dạy-dỗ.

Hồi thuở trước Thích-Ca Phật-Tổ,

Ngồi tham-thiền bị nó ghẹo hoài.

Mà cũng không rúng động đặng Ngài,

Nên cố oán phá đời mãi mãi.

Trong bổn-đạo cùng là sư vãi,

Rán bền lòng cho được hiền từ.

Hết khổ lao thì đến vui cười,

Chừng đó mới phỉ tình nguyện ước.

Bọn gái mới ra đường tha-thướt,

Bỏ hết trơn nề-nếp ông cha.

Khác tánh-tình người cổ nước ta,

Nên phải chịu đớn-đau đủ cách.

Trai với gái rán coi sử sách,

Ðứng trung thần với kẻ tiết-trinh.

Dọn bề trong mới gọi đẹp xinh,

Chớ mang lốt bề ngoài chẳng tốt.

Dạy chẳng đặng lòng như lửa đốt,

Khắp dương-gian chưa đặng ba phần.

Kể từ nay Tiên, Phật, Thánh, Thần,

Lo dạy-dỗ dương-trần chẳng xiết.

Ðức Thượng-Ðế dự đền Ngọc-Khuyết,

Nhìn dương-gian cũng luống thở dài.

Thấy chúng-sanh trau-trỉa mặt mày,

Chớ chẳng chịu trau tâm trỉa tánh.

Kẻ đói khó người sang hay lánh,

Bước lại gần chê lũ tanh-hôi.

Cõi Ta-bà Ta thấy hởi ôi!

Sầu bá-tánh quá nên kiêu-cách.

Người tàn-tật đui cùi đói-rách,

Ítt có ai để mắt nhìn vào.

Chuộng những người dù võng sắc màu,

Cậu với mợ, ông-thầy, cô-bác.

Thị kẻ khó như rơm như rác,

Ta quá rầu đài-các văn-minh.

Mấy ai mà giữ dạ sắt đinh,

Theo Tông-Tổ của mình thuở trước?

Ðầu với tóc áo quần láng-mướt,

Chử lanh khôn của quỉ của ma.

Chớ nó không có giống người ta,

Ma với quỉ sanh người hung ác.

Lo tập luyện những câu đờn hát,

Chớ chẳng lo dạy-dỗ ngu khờ.

Ðể cái tâm yên lặng như tờ,

Coi ta nói câu nào bất chánh?

Rán bắt chước làm theo Phật Thánh,

Nếu thiệt người thì biết thương người.

Thấy kẻ khờ quê dốt ngạo cười,

Nào có lấy lời chi chỉ bảo.

Ta thương xót lo tần lo tảo,

Chẳng thấy ai rể thảo dâu hiền.

Làm cho người Thượng-Cổ thêm phiền,

Rất đau xót cho nòi cho giống.

Biết chừng nào được qui nhứt thống,

Khắp hoàn-cầu dân biết thương nhau.

Nhắc ra thì dạ ngọc đớn-đau,

Không nhắc đến biết đâu dân sửa.

Cơm được chín ta nhờ có lửa,

Dân được vui nhờ lúc khải-hoàn.

Phật Như-Lai cho phép Khùng troàn,

Cho bổn-đạo khắp nơi đặng biết.

Ai chưởi mắng thì ta giả điếc,

Ðợi cho người hết giận ta khuyên.

Chữ nhẫn-hòa ta để đầu tiên,

Thì đâu có mang câu thù-oán.

Việc hung-ác hể vừa thấp-thoáng,

Chữ từ-bi ta diệt nó liền.

Sự oán-thù đáp lại chữ hiền,

Thì thù-oán tiêu-tan mất hết.

Chữ bạn tác dù cho đến chết,

Cũng keo sơn gắn chặt mới là.

Bước ra đường ăn nói thiệt-thà,

Dầu khôn-khéo cũng là giả dại.

Nếu tranh-đương ắt ta bị hại,

Thêm sa-cơ lại bị xích-xiềng.

Vì đời nay chúng nó dụng tiền,

Ít ai dụng chữ nhơn chữ nghĩa.

Theo học Ðạo mặc ai mai-mỉa,

Ta cũng đừng gây-gổ với người.

Ðược mấy điều thì đáng vàng mười,

Thiệt hiền-đức có ai mắng chưởi.

Xưa đức Thánh luận bàn cái lưỡi,

Ngài nói rằng các việc tại mầy.

Thuận với hòa hay ghét với rầy,

Cũng cái lưỡi làm thầy các việc.

Phải kiếm cách đặng ta trừ tuyệt,

Lấy tâm-thần làm chủ mới mầu.

Cũng chẳng nên theo tánh võ-hầu,

Thấy chẳng nói mà nhăn mà nhướng.

Hãy liệu sức chớ nên nói bướng,

Dầu việc chi liệu lượng mà làm.

Ðiên Khùng nầy chẳng có nói xàm,

Nói những chuyện từ-bi bác-ái.

Nếu bổn-đạo còn ai làm sái,

Coi kệ nầy mình sửa lấy mình.

Ta không tranh mà cũng không kình,

Cho bá-tánh gièm-pha thỏa chí.

Ai làm phước in ra mà thí,

Thì được nhiều hạnh-phúc sau nầy,

Chốn non xanh dạy-dỗ cáo-cầy,

Xuống trần-thế ra tay dắt chúng.

Tới với Ta chớ đem đồ cúng,

Chỉ đem theo hai chữ thành-lòng.

Chẳng có cần trà, quả, hương nồng,

Mong sanh-chúng từ-lòng hối-ngộ.

Kẻ xa-xuôi có lòng ái mộ,

Xem kệ nầy tu tỉnh tại nhà.

Ở ruộng đồng cũng niệm vậy mà,

Phật chẳng chấp chẳng nài thời khắc.

Chay bốn bữa ấy là quy-tắc,

Của kẻ Khùng chỉ dắt chúng-sanh.

Con Phật thì chẳng có khôn lanh,

Ðời văn-vật khôn ma khôn quỉ.

Lo trang-sức kim-thời huê mỹ,

Rồi phụ-phàng tục cổ nước nhà.

Trong tâm thì chứa chữ gian-tà,

Chớ chẳng chứa tấm lòng bác-ái.

Học chữ nghĩa cho thông cho thái,

Ðặng xuê-xang đài-các xe-tàu.

Tiếng chào mừng cửa miệng làm màu,

Trong tâm-ý mưu-mô đủ thế.

Ta còn mắc phiêu-lưu dương-thế,

Dạo Lục-Châu đặng cứu bá-gia.

Mặc tình ai xem kệ ngâm-nga,

Hay sửa đổi tùy lòng hưu-hỷ.

Thương sanh-chúng tỏ bày quá kỹ,

Hỡi dương-trần nên sớm quày đầu.

Ðặng sau xem Phật-pháp nhiệm-mầu,

Với báu-quí đài-lầu tươi tốt.

Xác ta vốn là người quê dốt,

Nên mở mang chưa được mấy rành.

Khắp dương-gian như sợi chỉ mành,

Mong bổn-đạo tâm thành trở lại.

Dầu cực khổ thân nầy chẳng nại,

Chẳng cần ai bái lạy khẩn-cầu.

Bỏ dị-đoan mới thấy đạo-mầu,

Bớt giả-dối gặp Người Thượng-Cổ.

Gốc thuở trước của Tông của Tổ,

Ðâu có bày dối-mị như vầy.

Những sấm truyền xưa của Phật Thầy,

Dân rán kiếm mà truy thì biết.

Xưa để lại nhiều câu thảm-thiết,

Mà nào ai có biết để lòng.

Chuyện Thiên-Cơ nói rất nảo nồng,

Câu hữu lý bá-tòng khó sánh.

Chốn tựu hội chớ nên léo hánh,

Vì lời xưa có dặn rạch-ròi.

Dân chớ nên phụ bạc giống nòi,

Mà lao-lý tấm thân vô ích.

Phải nhẫn-nhục chờ Người Cổ Tích,

Phật với Trời phân định cho ta.

Người xưa tuy ít chữ nôm-na,

Chớ chơn-chất người ta ngay thẳng.

Dạy bổn-đạo lấy câu trung đẳng,

Chẳng nói cao vì sắp rốt đời.

Ðấng nam-nhi ẩn-nhẫn tùy thời,

Vậy mới gọi khôn-ngoan hữu chí.

Ta ra sức viết câu huyền-bí,

Chúng dân ôi! Rán kiếm rán tầm.

Giống thú kia là loại sanh cầm,

Mà còn biết kiếm tầm đạo-đức.

Thú-vật biết tu hành náo-nức,

Còn người sao chẳng rứt hồng-trần?

Việc tu hành phải vẹn nghĩa ân,

Kinh với sấm chúng dân thường thấy.

Chữ Bát-Chánh rõ ràng trong giấy,

Là chơn truyền của Ðức Thích-Ca.

Người tu hành cần phải tìm ra,

Cho dân biết mục đầu Chánh-Kiến.

Trí linh-mẫn nhìn xem các chuyện,

Phải đừng cho lầm-lạc nẻo tà.

Dầu việc người hay việc của ta,

Nên phán-đoán cho tường cho tận.

Tội với phước xét coi nhiều bận,

Mới khỏi lầm tà-kiến đem vào.

Chánh Tư-Duy mục ấy thanh cao,

Hãy tưởng nhớ những điều đáng nhớ.

Trên cùng dười dầu thầy hay tớ,

Cũng tưởng điều trung-chánh mới mầu.

Việc vui say mèo-mả đâu đâu,

Hãy dẹp gát nhớ câu Lục-Tự.

Câu Chánh-Nghiệp cũng là quá bự,

Dấu nghề chi làm việc ngay đường.

Ta đừng nên theo kẻ bất lương,

Học ngôn xảo để lừa đồng loại.

Chánh Tinh-Tấn dầu thành hay bại,

Cứ một đường tín-ngưỡng của mình.

Dầu cho ai phá rối đức tin,

Ta cũng cứ một đàng đi tới.

Mục Chánh-Mạng chúng-sanh ơi hỡi,

Cho hồn-linh cai-quản châu-thân.

Lấy chơn-nhơn dẹp tánh phàm-trần,

Mới có thể mong về Cực-Lạc.

Câu Chánh-Ngữ lòng son ghi tạc,

Tiếng luận bàn ngay ngắn tỏ tường.

Nói những điều đức-hạnh hiền-lương,

Chớ thêm bớt mà mang tội lỗi.

Việc tráo-chác ấy là nguồn cội,

Lời xảo ngôn do đó mà ra.

Kinh-nghiệm rồi Ta mới diễn ca,

Câu Chánh-Niệm thiết-tha nhiều nỗi.

Khi cầu nguyện đừng cho phạm lỗi,

Phải làm tròn các việc vẹn toàn.

Dân chớ nên làm bướng làm càn,

Trong lúc ấy niệm cho lấy có.

Mục Chánh-Ðịnh thiệt là rất khó,

Giữ tấm lòng bất động như như.

Cho hồn-linh yên-lặng an cư,

Thì mới được huờn-nguyên phản-bổn.

Tà với chánh còn đương trà-trộn,

Người muốn tu phải sớm lọc-lừa.

Tứ-Diệu-Ðề ai có mến ưa,

Thì Lão cũng kể sơ thêm nữa.

Chữ Tập-Ðề nay đà mở cửa,

Ðể đem vào khuôn-khổ người hiền.

Rán cực lòng một bước đầu tiên,

Sau mới được làm nên Phật Thánh.

Về Thượng-Giái cõi Tiên mới bảnh,

Ðến Diệt-Ðề trừ vật-dục xưa.

Cõi hồng-trần các việc mến ưa,

Sự giả tạm ta nên rứt bỏ.

Muốn tâm-tánh ngày kia sáng tỏ,

Thì Khổ-Ðề phải chịu nhọc-nhành.

Lòng dục tu thì phải thiệt-hành,

Chớ đừng có ham điều sung-sướng.

Ðức Phật-Tổ nào đâu hẹp lượng,

Chịu nhọc-nhằn mới rõ Ðạo-Ðề.

Thấy một đàng thẳng-bẳng mà mê,

Ôi chừng đó mới là mầu nhiệm.

Mùi đạo diệu chúng dân rán kiếm,

Trễ thời kỳ khó gặp đặng Ta.

Rồi hành luôn Bát-Nhẫn mới là,

Thì muôn việc đều an bá tuế.

Chữ thứ nhứt Nhẫn-Năng-Xử-Thế,

Là người hiền khó kiếm trong đời.

Lập thân danh tuần trải nơi nơi,

Chờ thời đại mới là khôn khéo.

Chữ Nhẫn-Giái trì tâm trong trẻo,

Khuyên dương-trần giữ phận làm đầu.

Nhẫn-Hương-Lân cùng khắp đâu đâu,

Trên cùng dưới đều hòa ý hỉ.

Nhẫn-Phụ-Mẫu gọi trang hiền sĩ,

Phận xướng tùy chồng vợ nhịn nhau.

Nhịn xóm chòm cô bác mới cao,

Nhẫn-Tâm nọ ngày ngày an-lạc.

Nhịn tất cả những người tuổi tác,

Nhẫn-Tánh lành yên-tịnh dài lâu.

Giữ một lòng hiền-hậu mới mầu,

Quanh năm cũng bảo toàn thân-thể.

Chữ Nhẫn-Ðức kể ra luôn thể,

Thì trong đời vạn sự bình an.

Chữ Nhẫn-Thành báu-quí hiển-vang,

Khắp bá-tánh được câu hòa nhã.

Câu đạo-đức bay mùi thơm lạ,

Muốn nếm thì phải rán sưu tầm.

Các đạo tà mưu khéo âm thầm,

Dân rán tránh kẻo lâm mà khổ.

Chúng nó xuống khuyên-răn nhiều chỗ,

Dùng phép mầu lòe mắt chúng-sanh.

Ai ham linh theo nó tập-tành,

Sa cạm-bẩy khó mong sống sót.

Ta chẳng phải dùng lời chuốt-ngót,

Mà làm cho dân-chúng say mê.

Nẽo chánh tà biện luận nhiều bề,

Cho bá-tánh tìm nơi cội-gốc.

Lựa cho phải kèo xưa danh mộc,

Ðừng để lầm thợ khéo sơn da.

Thì sau nầy đến lúc phong-ba,

Dông gió lớn cột kèo khỏi gãy.

Thấy sanh-chúng nhiều người khờ dại,

Chẳng biết gìn phong-hóa lễ-nghi.

Nên ta đem đạo đức duy-trì,

Gìn tục cổ để người chẳng rõ.

Còn chậm chạp Ðạo-mầu chưa tỏ,

Như rừng hoang mới dọn một đường

Tớ với Thầy nào quản thân lươn,

Muốn cứu thế sá chi bùn trịn.

Thương quá sức nên ta bịn-rịn,

Quyết độ đời cho đến chung thân.

Nếu thế-gian còn chốn mê tân,

Thì Ta chẳng an vui Cực-Lạc.

Dạy bổn-đạo lấy lời đích-xác,

Mà chẳng tu là bởi không ưa.

Chớ nước sâu mà bị gàu thưa,

Dân đông-đảo lời truyền chẳng xiết.

Nên phải tạm mượn cây ngòi viết,

Ðem Ðạo-mầu như hạn cho mưa.

Ðặng tố-trần tâm ý Người Xưa,

Chữ thậm thâm trong kinh Phât-Giáo.

Nền chơn-lý chúng chê rằng láo,

Mà nào Ta có lợi-dung ai.

Trong bá-gia nhiều ít lòng chay,

Ðể giữ trọn trong nền Phật-Pháp.

Gìn giới cấm sửa tâm ô-tạp,

Niệm Phật thì phải dẹp lòng tà.

Nhớ từ-bi hai chữ ngâm-nga,

Dầu làm lụng cũng là trì chí.

Chờ Thiên-Ðịa châu-nhi phục-thỉ,

Như đời xưa có gã Tử-Phòng.

Xem thời cơ người đã rõ thông,

Dùng tôi thiểu mà an bá-tánh.

Ðời vật-chất văn-minh tranh-cạnh,

Chữ lợi quyền giựt-giết lẫn nhau.

Ðộng lòng hiền chư Phật đớn đau,

Cho kinh sấm dạy răn trần-thế.

Nhìn thấy chuyện gạo châu củi quế,

Nghèo bạc vàng đạo-đức cũng nghèo.

Ta xuống trần nhằm lúc nạn eo,

Nên phải bị kẻ hung khinh-bỉ.

Vì bác-ái nên thân Cuồng-Sĩ,

Phải chịu điều khổ hạnh sâu-xa,

Mong cho đời gặp lúc khải-ca,

Trong bốn biển thái-bình mới toại.

Phật, Tiên, Thánh, lòng nhơn hà-hải,

Những ước-ao thế-giới hòa-bình.

Nên khuyên đời truyền-bá sử-kinh,

Cho sanh-chúng sửa mình trong sạch.

Giàu đổi bạn khinh-khi kẻ rách,

Là những câu trong sách Minh-Tâm.

Tánh kẻ sang đổi vợ nào lầm,

Thánh-nhơn để nhiều câu hữu-lý.

Có mấy kẻ ăn-năn xét kỹ?

Mãi ỷ tài chê bướng chê càn.

Thì ngày sau đừng có trách than,

Những tội lỗi của mình tạo lấy.

Bị háo-thắng việc người không thấy,

Rồi mảng lo gièm-siểm nhiều lời.

Vì vậy nên tình nghĩa xe lơi,

Ðâu gần-gũi mà tường diệu lý.

Trong Lục-Tỉnh ai là người trí,

Mau thức thời tìm Ðạo nhiệm-sâu.

Khuyên dân đừng chia áo rẽ bâu,

Phải hợp tác gieo trồng giống quí.

Coi rồi phải thân mình tự trị

Chẳng độ xong Phật khó dắt-dìu.

Thả thuyền Từ bến Giác nâng-niu,

Kẻ hiểu Ðạo mau mau bước xuống.

Việc trải qua như mây gió cuốn,

Nhìn cuộc đời ngày tháng thoi đưa.

Trời sáng ra kế lại thấy trưa,

Năm củ đó rồi qua năm mới.

Mười hai tháng mà còn mau tới,

Thì tuồng đời cũng chóng đổi thay.

Chữ phù-vân phú-quí nay mai,

Luân với chuyển dời qua đổi lại.

Cõi Ta-Bà mấy ai tồn tại,

Sống dư trăm như tuổi lão Bành.

Ðời Hạ-Nguơn hay chết tuổi xanh,

Như thuở trước Nhan-Hồi còn trẻ.

Miễn cho được ngày hai cơm tẻ,

Buổi bần hàn đặng có tu thân.

Nhờ ơn Trời ban-bố đức ân,

Xem chung cuộc Phong-Thần tại thế.

Xử những kẻ hung-hăng tồi-tệ,

Thưởng những người trung nghĩa vẹn toàn.

Ra Kệ nầy hai chữ bảo-an,

Cho trần-thế được tâm thanh-tịnh.

Ngọc báu quí ẩn trong Nam-đỉnh,

Muốn tìm kim đáy biển gắng công.

Thấy dân tình luống những ước mong,

Gặp giống tốt hãy mau cày cấy.

Ai có nói Ta là người quấy,

Ta cũng cam bụng chịu tiếng lời.

Tỏ ít câu cầu chúc cho đời,

Mong bá-tánh vạn dân giải-thoát.

Categories: Sấm Giảng | Leave a comment

Quyển VI Cánh Tu Hiền và Sự Ăn Ở của Một Người Bổn-Đạo

Quyển VI

Cánh Tu Hiền và Sự Ăn Ở

của Một Người Bổn-Đạo

_____________________

Lời Nói Đầu

 

———

 

Năm năm trường xa cách, cái chánh-sách áp bức tôn-giáo

gắt-gao của người Pháp làm cho tôi không được gần-gũi các

người hầu giải bài tường tận tôn-chỉ hành đạo của tôi.

Ấy không phải vì tôi cố ý muốn xa-lánh các người, song

chẳng qua vì sự bắt-buộc của kẻ cường-quyền nên tôi và các

người không được trực-tiếp cùng nhau. Tuy nhiên cũng có lắm

thiện-nam tín-nữ rất trung-thành, một lòng gìn đạo. Nhưng gần

đây có vài kẻ hiểu lầm, hành-động một vài điều không phù hợp

với tinh thần đạo-đức, trái chủ-nghĩa từ-bi bác-ái và sự cao-
thượng của giáo-pháp nhà Phật. Thế nên điều ấy làm cho quyển

sách nhỏ nầy ra đời. Vậy từ nay trở đi tôi ước mong rằng với

vài điều sơ-lược kể ra sau đây, toàn thể thiện-nam tín-nữ trong

Đạo sẽ dùng trí-tuệ mình, suy-gẫm gìn-giữ ăn ở theo quy-tắc đã

định, đặng tránh những việc đáng tiếc xãy ra, hầu giữ tròn

danh-giá của Đạo Phật. Như thế chẳng phụ công ơn của Đức

Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni đã khai sáng Đạo Phật và đã dìu-dắt

quần-sanh tầm đường giải thoát.

Nam-Mô Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật

_____________________

Quyển 6 – Bao Gồm Những Phần Sau:

I. Những Điều Sơ Lược Cần Biết Của Kẻ Tu Hiền

II. Luận Về Tam Nghiệp

III. Luận Về Bát Chánh

IV. Cách Thờ Phượng, Hành Lễ Và Sự Ăn Ở Của Một Tín

V. Sự Cúng Lạy Của Người Cư Sĩ Tại Gia

VI. Lời Khuyên Bổn Đạo

Đồ Phật Giáo Hòa Hảo

_____________________

I. Những Điều Sơ Lược Cần Biết Của Kẻ Tu Hiền

Đạo Phật từ xưa đến nay luôn luôn phân làm hai hạng người:

HẠNG XUẤT GIA: Gồm có các nhà sư hay những ni cô đã

hoàn toàn ly khai với gia đình, quê hương, bè bạn, dựa thân vào

cửa Thiền hoặc núi non am cốc, hằng ngày chỉ chuyên lo kinh

kệ, săn sóc cảnh dà lam, trau luyện đức lành, giồi mài trí tuệ hầu

giảng giải cho bá tánh thập phương nghe để quày đầu hướng

thiện quy y Phật Pháp, không còn thiết đến việc đời. Gia đình

nhà cửa của nhà sư là cả thế gian, thân quyến nhà sư là khắp cả

Đó là hạng người dốc tu cho mau thành Phật quả thoát kiếp luân

HẠNG TẠI GIA: Gồm tất cả đại chúng, tất cả thiện nam tín nữ

chưa đủ những điều kiện xuất gia, vì cảm thấy mình còn nặng nợ

với non sông tổ quốc, với gia đình, với đồng bào xã hội, nên

chưa thể làm như các nhà sư hay ni cô đặng. Tuy vậy họ cũng

sẵn sàng hoan nghinh ca tụng lý tưởng từ bi bác ái đại đồng của

nhà Phật và luật Nhân quả do Phật thuyết ra. Thế nên ở tại nhà

họ thờ phượng Đức Phật, phát nguyện quy y, giữ gìn ít điều giới

luật, hằng coi kinh sách sửa tánh, răn lòng, ủng hộ các sư. Như

thế, họ cũng lần lần lên con đường giải thoát.

Đây là hạng người học Phật tu Nhân.

Bàn xét như trên, thấy rằng toàn thể trong Đạo chúng ta thuộc

hạng tại gia cư sĩ, học Phật tu Nhân vậy.

Sách xưa có câu: “Thiên kinh vạn điển, hiếu nghĩa vi tiên”

(muôn vạn quyển kinh của Phật, Thánh, Tiên đều dạy sự hiếu

nghĩa làm đầu). Hôm nay đã quy y đầu Phật, tu niệm tại gia, ta

hãy cố gắng vưng lời Thầy Tổ đã dạy, lo tròn câu hiếu nghĩa.

Đức Thầy Tây An thuở xưa thường khuyến khích các môn nhơn

đệ tử rằng: muốn làm xong hiếu nghĩa, có bốn điều ân ta cần

phải hy sinh gắng gổ mới mong làm trọn.

1. Ân Tổ Tiên cha mẹ,

2. Ân Đất Nước,

4. Ân Đồng Bào và Nhân loại (với kẻ xuất gia thì Ân Đàn

1. ÂN TỔ TIÊN CHA MẸ: Ta sanh ra cõi đời được có hình

hài để hoạt động từ thuở bé cho đến lúc trưởng thành, đủ trí

khôn ngoan, trong khoảng bao nhiêu năm trường ấy, cha

mẹ ta chịu biết bao khổ nhọc; nhưng sanh ra cha mẹ là nhờ

có tổ tiên; nên khi biết ơn cha mẹ, cũng có bổn phận phải

biết ơn tổ tiên nữa.

Muốn đền ơn cha mẹ, lúc cha mẹ còn đang sanh tiền, có

dạy ta những điều hay lẽ phải ta rán chăm chỉ nghe lời, chớ

nên xao lãng làm phiền lòng cha mẹ. Nếu cha mẹ có làm

điều gì lầm lẫn trái với nhân đạo, ta rán hết sức tìm cách

khuyên lơn ngăn cản. Chẳng thế, ta cần phải lo nuôi dưỡng

báo đền, lo cho cha mẹ khỏi đói rách, khỏi bệnh hoạn ốm

đau, gây sự hòa hảo trong đệ huynh, tạo hạnh phúc cho gia

đình, cho cha mẹ vui lòng thỏa mãn. Rán cầu cho cha mẹ

được hưởng điều phước thọ. Lúc cha mẹ quá vãng, hãy tu

cầu cho linh hồn được siêu thăng nơi miền Phật cảnh, thoát

Còn đền ơn tổ tiên, là đừng làm điều gì tồi tệ, điếm nhục

tông môn, nếu tổ tiên có làm điều gì sai lầm, gieo họa đau

thương lại cho con cháu, ta phải quyết chí tu cầu và hy sinh

đời ta làm điều đạo nghĩa, rửa nhục tổ đường.

2. ÂN ĐẤT NƯỚC: Sanh ra, ta phải nhờ tổ tiên cha mẹ, sống

ta cũng nhờ đất nước quê hương. Hưởng những tấc đất, ăn

những ngọn rau, muốn cho sự sống được dễ dàng, giống

nòi được truyền thụ, ta cảm thấy bổn phận phải bảo vệ đất

nước khi bị kẻ xâm lăng giày đạp. Rán nâng đỡ xứ sở quê

hương lúc nghiêng nghèo và làm cho trở nên được cường

thạnh. Rán cứu cấp nước nhà khi bị kẻ ngoài thống trị. Bờ

cõi vững lặng thân ta mới yên, quốc gia mạnh giàu mình ta

Hãy tùy tài tùy sức, nỗ lực hy sinh cho xứ sở. Thảng như

không đủ tài lực đảm đương việc lớn, chưa gặp thời cơ giúp

đỡ quê hương, ta phải rán tránh đừng làm việc gì sơ xuất

đến nỗi làm cho nước nhà đau khổ, và đừng giúp sức cho

kẻ ngoại địch gây sự tổn hại đến đất nước.

Đó là ta đền ơn cho đất nước vậy.

3. ÂN TAM BẢO: Tam Bảo là gì? – Tức: Phật, Pháp, Tăng.

Con người nhờ tổ tiên cha mẹ sanh ra nuôi dưỡng, nhờ đất

nước tạo kiếp sống cho mình, ấy về phương diện vật chất.

Về phương diện tinh thần, con người cần nhờ đến sự giúp

đỡ của Phật, Pháp, Tăng khai mở trí óc cho sáng suốt. Phật

là đấng toàn thiện, toàn mỹ, bác ái vô cùng, quyết cứu vớt

sanh linh ra khỏi vòng trầm luân khổ hải. Thế nên Ngài

mới truyền lại giáo pháp, tức là những lời chỉ dạy cho các

chư tăng, đặng đem nền Đạo cả của Ngài ban bố khắp trần

thế. Các chư tăng chẳng ai lạ hơn là các đại đệ tử của Đức

Phật vậy. Bởi vì đức Phật luôn luôn chỉ dẫn và cứu vớt

quần sanh thoát miền mê khổ, nên ta hãy kính trọng Phật,

hãy tin tưởng và tín nhiệm vào sự nghiệp cứu đời của Ngài,

làm theo những điều chỉ dạy do các chư tăng cho biết. Tổ

tiên ta đã hiểu rõ sự nhiệm mầu, lòng quảng ái của Phật đối

với chúng sanh, đã kính trọng sùng bái Ngài, đã hành động

đúng theo khuôn khổ Ngài đã dạy và đã vun trồng bồi đắp

cho nền Đạo được phát triển thêm ra, xây dựng một tòa lâu

đài Đạo hạnh vô thượng vô song roi truyền mãi mãi với hậu

Nên bổn phận chúng ta phải noi theo chí đức của tiền nhân

hầu làm cho trí tuệ minh mẫn đặng đi đến con đường giải

thoát, dẫn dắt giùm những kẻ sa cơ, và nhứt là phải tiếp tục

khai thông nền Đạo đức đặng cái tinh thần từ bi bác ái được

gieo rải khắp nơi nơi trong bá tánh. Như thế mới chẳng

phụ công trình vĩ đại của Đức Phật và của tiền nhân để lại,

và không đắc tội với kẻ đời sau vậy.

4. ÂN ĐỒNG BÀO VÀ NHÂN LOẠI: Con người vừa mở

mắt chào đời đã thấy mình phải nhờ đến sự giúp đỡ của

những kẻ ở xung quanh và cái niên kỷ càng lớn thêm bao

nhiêu, sự nhờ nhõi càng tuần tự thêm nhiều chừng nấy.

Ta nhờ hột cơm của họ mới sống, nhờ miếng vải của họ

mới ấm thân, nhờ cửa nhà của họ mới tránh cơn phong vũ.

Vui sướng, ta đồng hưởng với họ. Hoạn nạn, họ cùng chịu

Họ và ta cũng một màu da, cũng một thứ tiếng nói. Ta và

họ hợp nhau thì thành lại làm một: ấy Quốc gia đó. Họ là

ai? Tức là những người ta thường gọi bằng đồng bào vậy.

Đồng bào ta và ta cùng chung một chủng tộc, cùng một nòi

giống rọi truyền, cùng có những trang lịch sử vẻ vang oanh

liệt, cùng tương trợ lẫn nhau trong cơn nguy biến, cùng

chung phận sự đào tạo một tương lai rực rỡ trong bước tiền

đồ của giang san đất nước. Đồng bào ta và ta có một liên

quan mật thiết không thể rời nhau, chẳng thể chia nhau và

chẳng khi nào có ta mà không có đồng bào, hay có đồng

bào mà không có ta. Thế nên ta phải rán giúp đỡ họ hầu

đền đáp cái ơn mà ta đã thọ trong muôn một.

Chẳng những thế thôi, ngoài đồng bào ta còn có thế giới,

người đang cặm cụi cần lao cung cấp những điều nhu cầu

cần thiết. Họ là nhân loại, là những người đang sanh sống

với chúng ta trên quả địa cầu. Nếu không có nhân loại, thử

hỏi dân tộc ta ra như thế nào? Ta có đủ vật liệu để dùng

chăng? Ta có thể tự túc một cách đầy đủ chăng? Nói tóm

lại, ta có thể lẻ loi đương đầu với những khi phong vũ nhiệt

hàn với những lúc ốm đau nguy biến, giữ vững cuộc sống

còn này chăng? Hẳn không vậy. Thế nên dân tộc ta phải

nhờ đến Nhân loại, nghĩa là nhờ đến dân tộc khác và phải

biết ơn họ. Hãy nghĩ đến họ cũng như mình nghĩ đến mình

và đồng chủng mình.

Vả lại, cái tình từ bi bác ái của Đức Phật mà ta đã nhận

thức, rất thâm huyền quảng hượt. Cái tình ấy nó không bến

không bờ, không phân biệt màu da, không phân biệt chủng

tộc; nó cũng không luận sang hèn và xóa bỏ hết các từng

lớp đẳng cấp xã hội mà chỉ đặt vào một: Nhân loại Chúng

Thế, ta không có lý do gì chánh đáng để vì mình hay vì

đồng bào mình gây ra tai hại cho các dân tộc khác. Trái lại,

hãy đặt vào họ một tư tưởng nhân hòa, một tinh thần hỉ xả

và hãy tự xem mình có bổn phận giúp đỡ họ trong cơn hoạn

Đối với những kẻ xuất gia quy y đầu Phật, phụ vào những

ân huệ đã thọ như đã nói trên, họ còn phải trực tiếp chịu ân

các đàn na thí chủ, nghĩa là những thiện nam tín nữ có hảo

tâm cung cấp những vật dụng cần thiết cho họ. Họ nhờ đến

hột cơm, đến miếng vải, đến thuốc men đặng sanh sống, rốt

lại họ phải nhờ đến sự nuôi dưỡng hoàn toàn của những kẻ

Với quần sanh, họ mang cái ân rất nặng, cho nên họ phải

dìu dắt sanh linh đi tầm Chân lý đặng đáp tạ tấm lòng chiếu

II. Luận Về Tam Nghiệp

Sanh ra ở đời, con người dầu muốn hay dầu không, cũng phải

chịu dưới sự chi phối của định luật thiên nhiên. Định luật ấy

gồm vào một chữ Đạo, đạo của con người kêu bằng “Đạo Nhân”

và nó là con đường đi trúng thì sống, bước trật tất chết.

Muốn làm tròn Nhân Đạo, phải giữ vẹn Tứ Ân. Nhưng trước

hết hãy tránh Tam Nghiệp và chừa Thập Ác, cũng như muốn

làm giàu phải tránh đừng cho thiếu nợ.

Mỗi người đều có ba nghiệp chướng sau đây:

– Thân nghiệp: (tội lỗi do xác thân gây nên);

– Khẩu nghiệp: (tội lỗi do miệng lưỡi gây nên);

– Ý nghiệp: (tội lỗi do ý tưởng gây nên).

Ba nghiệp chướng ấy khiến con người phạm mười điều ác kể ra

Thân-nghiệp sanh 3 điều ác:

1. Sát-sanh

2. Đạo-tặc

3. Tà-dâm

Khẩu-nghiệp sanh 4 điều ác:

Ý-nghiệp sanh 3 điều ác:

1. Lưỡng-thiệt

2. Ỷ-ngôn

3. Ác-khẩu

4. Vọng-ngữ

1. Tham-lam

1. SÁT SANH: Con người mới sanh ra ở đời đều có tánh hiền

lành cả. Song đến lúc lớn khôn vì phải chung chạ với thế

giới người hung tàn bạo ngược, tánh nết liền ô nhiễm

những sự xấu xa hèn kém, trở nên độc ác dữ dằn.

Loài người giết nhau vì tiền bạc, vì sắc đẹp, vì lợi danh, vì

quyền thế, vì thù hềm, vì háo thắng… nghĩa là họ giết nhau

vì sự ích lợi của một người, của một nhóm người, của một

đẳng cấp xã hội, của một quốc gia; họ muốn tiêu diệt tất cả

nhân loại, không một ai có quyền sanh sống cùng họ cả.

Tại trào nội, sự mà vua coi bầy tôi như cỏ rác, bầy tôi sánh

vua như thể địch thù đã làm nguyên nhân cho biết bao cuộc

tương tàn tương sát. Ngoài lê thứ thì con giết mẹ cha, tớ

hại chủ, trò giết thầy, chồng vợ giết nhau, đệ huynh xâu xé.

Những cuộc tương tàn rất thường xảy ra trong nhân loại

không ngoài các lý do đã kể trên. Đó là người đối với

Người đối với thú cầm, sanh vật còn tàn nhẫn gấp mấy nữa:

họ giết thú vật vì miếng ăn, vì sự dị đoan mê tín, vì sự vui

thích. Đành rằng mình không thể dứt tuyệt giết các sanh

vật (gà, vịt, heo… ) để nuôi thân sống, nhưng chẳng khá

dựa vào lý “vật dưỡng nhơn” (thú vật sanh ra đặng nuôi con

người) mà giết nó một cách quá đáng. Chỉ cần dùng nó vừa

đúng theo sự nhu cầu cần thiết của các món thực phẩm

mình thôi và không nên hoang phí hy sinh nó, nếu sự hy

sinh ấy không ích lợi cho mình lắm. Nhứt là chẳng khá

giết các thú vật trong khi tế lễ. Người ta tưởng rằng khi

mình phạm tội với Thánh, Thần, Trời, Đất có thể sát hại

sanh vật cúng tế cầu cho tội quả tiêu trừ. Sự tin tưởng ấy

rất sai lầm huyễn hoặc, vì đứng vào bực siêu hình cao cả

như chư vị Thánh Thần, có lý nào vì một tình riêng làm sai

chạy lẽ công. Khi gặp tai nạn bất ngờ hay rủi ro đau ốm,

con người không chịu thuốc thang, khấn vái Phật Trời cầu

cho tai qua nạn khỏi, lại giết các thú vật tế Thần cúng

Thánh, kêu cốt, kêu đồng. Họ không chịu tìm nguyên nhân

các sự họa hoạn, không chịu tìm hiểu rằng những tai biến

xảy ra đều do căn tiền báo quả hậu, và không chịu ăn năn

chừa lỗi, tạo tác phước điền. Trong khi giết các thú vật

đặng tế lễ, họ đã phạm thêm một tội ác lúc họ chưa đền bồi

các tội ác trước được.

Chẳng những vậy thôi, họ còn giết các thú vật vì sự vui

thích của mình; kẻ bắn chim đang bay trên trời, người chặt

cá đang lội dưới nước. Họ bắt thú vật làm tấm bia cho họ

nhắm trong những khi cao hứng quên hẳn rằng sanh vật

cũng có linh hồn, cũng có thân xác, cũng biết tìm lẽ sống

còn như nhân loại vậy.

Thế nên, hãy tha thứ cho chúng, hãy dung dưỡng chúng, và

nhứt là đối với các gia súc: trâu, bò, ngựa, chó, mèo…

chẳng khá sát hại, vì chúng đã giúp ích cho ta trong các

việc sanh hoạt hằng ngày. Tóm lại, không có sự sát sanh

vô cớ nào có thể tha thứ được và trong những ngày chay lạt

2. ĐẠO TẶC: Câu: “Bần cùng sanh đạo tặc” cần phải là một

câu chữa mình của bọn bất lương vô đạo. Những kẻ này

ngày vẩn vơ đầu đường xó chợ, tối kiếm chỗ khoét vách

đào tường, không làm muốn có ăn, không lo muốn có mặc.

Lớp người cặn bã của xã hội này, sống ngoài vòng pháp

luật, trốn nhủi trốn chui, phá rối sự an ninh của dân chúng,

chuyên lo giết người cướp của đoạt giựt tài sản của lương

dân, không nghĩ rằng phải tốn bao nhiêu giọt mồ hôi, bao

nhiêu dòng nước mắt mới làm ra được. Họ là giống sâu

làm rầu nồi canh, là tội nhân gây ra những tai biến trong

những gia đình cần lao kiệm tiết, là nguyên nhân của sự

nghèo sự khó, họ phá hoại hạnh phúc của con người.

Cơ hàn đói khó, thay vì phải làm lụng như những kẻ khác

mưu cuộc sống còn, họ gây cái lỗi này rồi đến cái lỗi khác,

phạm tội này rồi tới tội nọ, tạo chẳng biết bao nhiêu chuyện

bất lành cho nhân chủng. Lưới trời tuy thưa nhưng khó lọt,

những kẻ ấy dầu họ không bị luật hình của loài người phân

xử, song cơ Trời cũng sẽ báo ứng đến những hành vi đen

tối, nếu họ không chịu ăn năn chừa lỗi, sửa tánh tu thân, bỏ

thói vô nghì, lánh điều phi nghĩa.

3. TÀ DÂM: “Muôn việc lành hiếu thuận đứng đầu, ngàn

việc dữ tà dâm đứng trước”. Sách sử thường bảo như thế.

Lần giở xem sử sách, thời thấy tội ác ấy lan diễn ra khắp

nơi, từ trào nội cho đến thứ dân, từ trong gia đình đến kẻ xa

người lạ, nó là mầm gây ra biết bao thảm trạng! Gương

của vua Tề với vợ Thôi Tử, An Lộc Sơn với Dương Quý

Phi há chẳng còn lưu liên hậu thế. Giàu ỷ của hiếp dâm kẻ

khó, quan ỷ quyền cường bức đám dân hèn. Gian phu, dâm

phụ từ xưa đến nay luôn luôn đều có.

Muốn tránh sự bại hoại nền luân lý nước nhà, muốn giữ gìn

tiếng tăm của gia thế, phải đừng để dục tình lôi cuốn, bắt

chước gương xưa trau giồi lòng hiếu trung trinh tiết.

4. LƯỠNG THIỆT: Đứng đầu các tội ác do miệng lưỡi gây

ra, ác lưỡng thiệt này đã làm duyên cớ cho những sự hiểu

lầm nhau, những sự cãi vã gây gổ sanh oán sanh thù. Sự

phải của người thì bớt, sự quấy của người thì thêm, cái lưỡi

đã tạo những sự chia rẽ, những cuộc phân tranh, phá tan sự

đoàn kết tình thân yêu giữa nhân loại. Nó cũng là nguồn

cội của bao nhiêu bất hòa, hiềm khích.

Để giải trừ những tai vạ ấy, phải giữ cho lời nói mình được

thành thật, chánh đáng; được vậy trong hương đảng mới

bớt rầy rà, ngoài xã hội không điều xích mích, và mình

cũng không còn chịu ác cảm, tránh sự miệt khinh của kẻ

5. Ỷ NGÔN: Nói đến tội ác nầy tức là nói đến những vụ chủ

ỷ quyền nhiếc xài tôi tớ, quan ỷ thế mắng chưởi dân ngu.

Kẻ giàu có thường ỷ tiền bạc xài xỉ người nghèo, kẻ xảo

quyệt ỷ sự khôn lanh nói những điều thất thiệt, kẻ học thức

ỷ sự khôn ngoan dùng lời nói hạ nhục người dốt nát.

Hãy tránh những sự hiếp người như thế ấy, vì những kẻ

dưới tay mình cũng có đầu óc, cũng biết nghĩ suy, nhưng

họ bạc phước vô phần nên phải chịu lụy mình vậy. Nếu họ

có lỗi lầm hãy dạy dỗ họ, dùng những cam ngôn mỹ từ,

những lời trang nghiêm êm dịu chỉ bảo, không khá bao

biếm mà mang điều tội lỗi.

6. ÁC KHẨU: Những tiếng thề thốt lỗ mãng, chưởi mắng tục

tằn làm ra tội này; con chưởi mẹ mắng cha không kể luân

thường thảo hiếu; mạnh bạo hăm he đánh giết những kẻ

yếu hèn, hiếp đáp xóm chòm cô bác. Mở miệng ra chưởi

gió mắng mây, trù rủa gia đình, không kiêng Thần Thánh.

Tối ngày kêu réo Phật Trời, mời thỉnh Long cung, làm cho

tội lỗi càng thêm chồng chập.

Hãy bỏ những tiếng tục tằn thô lỗ làm cho đời sống được

êm dịu thanh bay hơn. Đối với cha mẹ phải có lễ độ, với

gia đình, với bà con cô bác, với xóm chòm quen thuộc, lời

nói mình phải đoan trang nghiêm chỉnh. Đối với con cháu

trong nhà không nên nói những điều ác đức, phải dùng lời

nói dịu dàng hiền hậu dạy dỗ chúng.

7. VỌNG NGỮ: Thêm thừa huyễn hoặc, có nói không,

không nói có, ác vọng ngữ đã làm nguyên nhân cho những

sự bất công của nhân loại. Thương người nào kiếm cách

bào chữa giấu giếm sự quấy và thêu thùa sự tốt ra; ghét ai

đặt điều nói xấu và che đậy các điều phải của họ. Khoe

khoang tự đắc, xảo trá đa ngôn, những kẻ điêu ngoa làm

cho thiên hạ khinh khi miệt thị.

Muốn tránh những điều khiến cho tư cách nhân quần phải

bị giảm hạ, hãy tập tánh nói năng chân chánh, bỏ lối láo

xược trớ trêu. Chẳng nên tráo chác với người, bỏ tiếng xảo

ngôn và phải dùng lời chơn chất.

8. THAM LAM: Tánh tham lam đã làm cho loài người phải

chịu bao nhiêu thảm khổ: chiến tranh, cướp bóc, giết

người… Tham danh, tham lợi, tham sắc, tham tài, tham

quyền, tham thế… Những sự ấy đã xô đẩy con người vào

chẳng biết bao nhiêu cuộc chiến đấu ác liệt, gây nên những

thảm họa tầy trời. Những tấn tuồng giặc giã cướp của sát

nhơn, những vụ hối lộ, những vụ tranh thế giành quyền đã

làm cho nhân sanh điêu linh trong vòng tai nạn khốc hại.

Cái tham ấy cũng đã làm cho con người đau buồn hận khổ,

phải khóc đứng than ngồi, phải liều mình tự sát chỉ vì sự

ham muốn không được thực hiện; người ta quyên sinh vì

tình yêu, vì lợi quyền, vì thất trận… Những cuộc cấu xé lẫn

nhau, những vụ nồi da xáo thịt, những tương sát tương tàn,

những điều hung hăng bạo ác cũng do sự tham lam mà ra

cả. Ngày giờ nào loài người diệt được tánh ham muốn của

mình, ngày giờ ấy bớt được một phần lớn của sự khổ. Vả

lại, ở đời phải có những lúc thăng trầm chìm nổi, có thì ta

xài, không ta nhịn, can gì phải bày mưu tính kế chiếm đoạt

của kẻ ngoài. Của là của chung trong thiên hạ, đời ta còn,

nó còn; đời ta mất, nó mất. Gương Thạch Sùng, Vương

Khải há không để lại cho ta một bài học đích đáng lắm ru?

Thế nên hãy nghĩ đến người cũng như mình nghĩ đến mình,

hãy dẹp lòng vị kỷ tham lam, lo vun trồng phước đức, bố

thí kẻ nghèo hèn, rán công phu sám hối để có thể yên vui

nơi miền Cực Lạc, lánh sự giả tạm ở cõi trần này.

9. SÂN NỘ: Tánh nóng nảy thường xúi con người làm những

chuyện bất công sái phép, chém giết oán thù nhau. Kẻ

thắng kiêu hãnh, người bại hổ ngươi, nên sự hềm thù càng

lan rộng. “Giận mất khôn”, cơn giận làm cho con người

cuồng trí, mất sự tự chủ, trở nên dữ dằn bạo tợn, chẳng còn

nghĩ đến việc công bình, lẽ phải trái.

Diệt được nó, tâm ta được thảnh thơi, trí ta được thong thả.

Hãy mở lượng khoan hồng dung tha kẻ lầm lỗi. Hãy nhẫn

nhịn và chẳng nên cãi cọ, tranh luận hơn thua làm cho nảy

sanh ra những điều hềm khích.

10. MÊ SI: Tội ác này do sự thiếu óc phán đoán, thiếu sự

nghĩ suy mà ra; vì vậy con người ít hay phân biệt được lẽ

phải trái, bo bo giữ thiển kiến sai lầm, chẳng chịu nhìn

nhận chân lý. Suốt cả đời ngu muội, chỉ biết mê man theo

những vật nhỏ nhen, mau tan, mau rã, chỉ biết tin bướng

làm càn, không tìm hiểu con đường giải thoát.

Hãy xóa bỏ những điều mê tín, qui thuận theo tinh thần đạo

đức, lánh chốn mê lầm, tỉnh cơn mộng huyễn, phá tan màn

vô minh che mờ tâm trí, lần bước trên con đường đạo hạnh,

đi đến chỗ Bất diệt, Bất sanh.

III. Luận Về Bát Chánh

Trừ xong ba nghiệp chướng, hãy làm theo tám điều chánh và sau

khi diệt được thập ác rồi, tự nhiên mười điều lành hiện ra: như

thế ta đã đi thêm được một bước trên con đường Đạo hạnh.

Những sự tấn bộ ấy không có nghĩa là đạt được mục đích. Thế

nên, cần phải hành luôn Đạo Bát Chánh tiếp theo, vì đó là quyển

kinh nhựt tụng của những ai muốn thoát chốn mê đồ, tấn triển

Bát Chánh gồm có:

1. Chánh kiến

2. Chánh tư duy

3. Chánh nghiệp

4. Chánh tin tấn

5. Chánh mạng

6. Chánh ngữ

7. Chánh niệm

8. Chánh định.

1. CHÁNH KIẾN: Chánh: đúng sự thật. Kiến: thấy, xem

Chánh kiến: dòm thấy, xem đúng theo sự thật.

Phàm con người thường hay bị bản ngã lôi cuốn trí mờ ám

làm cho sai chạy ít nhiều sự thật. Khi vì thiếu sự sáng suốt,

khi vì tư thù, khi vì lợi kỷ, khiến cho con người không biết

đường ngay nẻo thẳng nên sự phán đoán không công bình

chánh đáng làm cho kẻ khác chịu oan tình. Vì thế mục

Chánh Kiến dạy ta phải đem hết trí năng truy cứu các sự

rắc rối, cẩn thận xem xét tránh sự lạc lầm trong khi phê

đoán bất cứ việc gì, dầu của mình hay của kẻ khác. Sự

quan sát cực điểm, cách xét đoán tận tường, tránh cho ta

những tà kiến (sự xem xét lầm lạc) sai chạy, khiến ta dẹp

bản ngã đã làm cho trí tuệ mịt mờ u ám, giúp cho ta hiểu

biết rõ ràng, minh bạch, cách phán đoán được ngay thẳng

Chẳng thế, nó còn giúp cho ta hiểu biết các điều tục lụy

trong trần, biết được lẽ nhiệm mầu tôn giáo khiến ta xua

đuổi các điều tà mị, bỏ các sự say mê, trở về với đạo lý,

thoát đọa hồng trần. Nó tránh cho ta tất cả những sự giả

dối và nhờ thế, nên ta khỏi bị lạc lầm trong khi hành Đạo.

2. CHÁNH TƯ DUY: Tu tưởng chân chánh. Sanh ở trong

trần con người thường hay bị các thị dục cám dỗ: lợi danh,

quyền tước, nghĩa vợ tình chồng… cái tư tưởng đã rù quến

tâm trí mãi mãi quay cuồng vào những sự ấy, không thế

nào thoát ly ra được. Ấy về phần tà.

Phần chánh dạy rằng: tâm cần phải bình, tánh cần phải tịnh,

giữ tư tưởng cho thanh cao, trí rán tìm cái Chân lý, Chân lý

ấy là cái Đạo của mình đối với nhân loại, của mình đối với

Trời Phật, của mình đối với mình. Vì thế, hãy đặt tư tưởng

mình vào công cuộc tìm phương cứu giúp sanh linh trong

vòng trầm luân oan nghiệt. Hãy tin tưởng Phật Trời và cầu

nguyện đấng Thiêng liêng ban bố phước lành cho nhân

chúng. Hãy tìm con đường giải thoát cho mình bằng cách

lạc Đạo an bần, xả thân tu tỉnh.

3. CHÁNH NGHIỆP: Việc làm chánh đáng ngay thẳng.

Đối với kẻ xuất gia đầu Phật, ngoài những lúc tham thiền

nhập định, những khi trì tụng kinh hành, những khi đọc

kinh viết sách, những lúc công quả cho nhà Thiền, chẳng

có làm việc chi có thể tạo thành ác nghiệp cả.

Những kẻ tại gia cư sĩ, trái lại, còn cần phải lo kế sinh nhai,

mưu cuộc sống còn; kẻ buôn tảo bán tần, người việc này

việc nọ, tóm lại cũng vì xác thân mà ra cả. Tuy nhiên, dầu

đời sống của họ có bị sự sinh nhai chi phối, song cái chi

phối ấy khác hẳn với kẻ gian tà đạo tặc, chẳng có làm việc

gì xảo trá bất nhân. Trong cuộc mưu cầu cho lẽ sống, họ

cũng nguyện bỏ những nghề nghiệp gây tai hại cho con

người: nuôi điếm, bán á phiện, buôn rượu, đầu cơ, cho vay

Đành rằng những người buôn bán ấy không có ép buộc bạn

hàng, song tại có họ làm các nghề nghiệp ấy, con người

mới bị hư hỏng, trụy lạc, hoang đàng, trà đình tửu điếm…

Họ là đồng lõa mà phạm nhân là những kẻ nghiện ngập say

Thế nên mục Chánh Nghiệp răn cấm chúng ta làm các nghề

Kẻ tại gia cư sĩ cũng chẳng sát hại vô cớ các sanh vật, hoặc

không đánh đập chém đâm ai có thể gây ra nhiều điều tội

4. CHÁNH TIN TẤN: Tín ngưỡng chân chánh và lướt tới.

Phái vô thần luận thường cho rằng thân xác tức con người.

Thân còn tức người còn, thân mất là người mất. Không có

Thánh, Thần, Trời, Phật; không quả báo luân hồi; cũng

chẳng có tội, có phước, có vía, có hồn. Đời là thân xác con

người, sống là tranh đấu, mạnh được yếu thua. Thế nên

biết bao nhiêu mánh khóe gian hùng, bao nhiêu ngón điêu

ngoa xảo trá, bao nhiêu tàn bạo ngược ngang đều được đem

Vì vậy, mục Chánh Tin Tấn này khuyên hãy rán giữ đức tin

cho mạnh mẽ. Dầu các thị dục có lớn lao thế mấy, dầu cho

có sức lực gì cám dỗ hay bức bách bỏ lòng tín ngưỡng Phật

Trời đặng theo việc khác, các sự ấy cũng chẳng thể lôi kéo

được. Và ta luôn luôn phải nhớ đến công cuộc cứu vớt

quần sanh thoát nơi khổ hải của Đức Thế Tôn, phải nhớ

rằng sanh linh đang chìm đắm trong bể hồng trần, rằng

ngày giờ nào còn có kẻ trong chúng sanh chịu khổ thì ta

cũng phải khổ vì họ vậy, rằng ta có cái bổn phận giác ngộ

trần gian, bỏ những oan trái luân hồi cay nghiệt. Muốn thế

trước hết phải tìm phương tự giác, nhắm cảnh Niết Bàn tấn

tới; quyết chí tu thân đắc thành Đạo quả hầu dìu dắt bá tánh

thập phương xa miền tục lụy. Người bỏ hết các sự rầu

buồn, các điều tà vạy, dẹp lục căn lục trần, và rán làm cho

tinh thần được thêm sáng suốt, rèn luyện các đức tánh cho

thiện mỹ: yên tịnh, hỉ lạc, nghiêm tranh, quyết gắng công

phu, một lòng bước tới Niết Bàn đặng quyết có tế độ chúng

sanh thoát khỏi luân hồi quả báo.

5. CHÁNH MẠNG: Sanh mạng chân chánh, trong sạch.

Ở đời, người ta hay lấy xác thân mình làm gốc và hay quí

trọng săn sóc nó. Ấy cũng do lục căn mà ra: nhãn, nhĩ, tỷ,

thiệt, thân, ý. Mắt ưa xem sắc đẹp, tai ưa nghe tiếng hay,

mũi ưa ngửi hương thơm, lưỡi ưa đồ ngon béo, thân ưa sự

sung sướng, ý ưa chức phận cao.

Người ta tìm đủ phương thế bổ dưỡng thân xác mình, làm

cho trí tuệ càng ngày càng thêm mờ ám, ngu đần, không

còn lo lắng đến sự tiêu diệt. Thế nên, hãy xa lánh những

điều làm tinh thần bị đen tối; bỏ hết đài các xa hoa, thân

mình tự chủ để tìm chỗ bất diệt bất sanh; thiền định đặt làm

thể, trí tuệ đặt làm mạng, linh hồn nhập Liên hoa, siêu sanh

vào cõi Niết Bàn.

6. CHÁNH NGỮ: Lời nói chơn thật.

Lục căn làm cho con người nhiễm lục trần.

Vì muốn nuôi dưỡng xác thân nên mới sanh ra các điều

ham hố là nguồn cội các tội lỗi. Trong những tội lỗi ấy,

cũng có nghiệp chướng của miệng lưỡi: lưỡng thiệt (làm

cho thiên hạ bất hòa nhau); ỷ ngôn (lời chưởi mắng kẻ dưới

tay); ác khẩu (tiếng độc ác tục tằn, chưởi rủa Thần Thánh);

vọng ngữ (nói láo, nói huyễn hoặc).

Hãy tập lời nói mình cho chân chánh, đúng với sự thật; hãy

bỏ hết những xảo ngôn tráo chác, những tiếng thô lỗ cộc

cằn, phàm những khi bàn luận việc chi, phải nói lời tỏ

tường ngay thẳng. Đối với kẻ dưới bề trên, lời nói phải cho

hiền lương đức hạnh, và những sự khuyên dạy chỉ bảo kẻ

khác làm theo lẽ phải đều có ích lợi cho chúng sanh và đều

hạp với tinh thần đạo đức.

7. CHÁNH NIỆM: Ghi nhớ sự chân chánh.

Còn cũng tưởng, mất cũng tưởng, có cũng tưởng, không

cũng tưởng, thành cũng tưởng, bại cũng tưởng, thương

cũng tưởng, ghét cũng tưởng. Thất tình lục dục bắt buộc

con người phải phí biết bao nhiêu tâm cơ, bao nhiêu trí não

phụng sự nó. Danh lợi, cảm tình, uy quyền, phú quí… được

hằng ngày ghi nhớ. Vì thế con người mãi mãi lăn lộn trong

sáu đường, không thoát khỏi vòng sanh tử.

Để thoát chỗ luân hồi bỏ cuộc đời lầm than hoạn họa, hãy

rán tưởng niệm phương pháp hành đạo, bỏ các điều phù

phiếm, ghi nhớ công lao Đức Phật đối với quần sanh, bia

tạc vào lòng những điều Phật giáo. Phải nhớ rằng xác thân

do tứ đại (đất, nước, lửa, khí) tạo thành và sớm muộn gì nó

cũng sẽ bị tan rã. Đặng vậy, ta mới bỏ được các sự xúc

động, các mối dục tình, tránh điều khổ lụy do nó gây nên.

8. CHÁNH ĐỊNH: Suy gẫm chân chánh.

Con người thường hay có những ý định làm cho mình được

sáng thêm lên, được giàu thêm lên, được sung sướng thêm

lên… nghĩa là những ý định hoàn toàn nhỏ-nhen thấp thỏi.

Họ không hiểu rằng cuộc đời là giả tạm, nay vầy mai khác,

thân thế lạc luân, của cải gia tài như đám phù vân trước gió,

nước bọt, mây bèo. Những cái Sanh, cái Bịnh, cái Lão, cái

Tử được đặt lên cuộc đời của người này rồi đến người

khác… rồi đến người khác nữa, nghĩa là tất cả nhân loại

không thiếu sót một ai. Thế mà, họ vẫn cuống cuồng tâm

trí theo bã lợi danh, mùi phú quí, đi theo những vặt vụn tiểu

Họ không chịu hiểu rằng, ngoài kiếp phù du của trần thế, có

cái gì không di không dịch, vĩnh viễn trường tồn. Nếu lấy

sự Thiền định phá tan màn u minh che phủ, thì thấy rằng ở

cảnh ấy con người sẽ hết buồn, hết khổ, hết quả báo luân

hồi. Và khi ta dùng sự Chánh Định dẹp bỏ hết các sự phiền

não rầu buồn, phá tan các làn sóng thị dục lôi kéo vào

những nẻo tà, tâm ta chẳng còn xao động, trí ta tỏ rạng như

trăng rằm, một màu sáng suốt không nhiễm ô cảnh ngoại,

dứt tuyệt hết phàm trần, lần bước đi đến cõi Giải thoát.

IV. Cách Thờ Phượng, Hành Lễ Và Sự Ăn Ở Của

Một Tín Đồ Phật Giáo Hòa Hảo

Từ trước đến nay, các chùa chiền đã tạo quá nhiều hình

tượng. Đành rằng vì tôn kính đấng Từ Bi mới làm ra thờ

phượng Ngài, nhưng cũng có kẻ lợi dụng để thủ lợi. Bây

giờ chúng ta không nên tạo thêm nữa. Làm thế, chúng ta

không cố ý hủy báng sự phượng thờ của các chùa chiền.

Cách thờ phượng tùy theo điều kiện của các sư mà chúng ta

cũng có thể sùng ngưỡng đặng. Nhưng riêng về cư sĩ ở nhà

không nên tạo thêm nữa; nên thờ đơn giản cho lòng tin

tưởng trở lại tâm hồn hơn ở vào sự hào nhoáng bề ngoài.

Từ trước chúng ta thờ trần điều là di tích của Đức Phật

Thầy Tây An để lại. Nhưng gần đây có nhiều kẻ thờ trần

điều tự xưng là cùng tông phái với chúng ta, làm sái phép,

sái với tôn chỉ của Đức Phật, nên toàn thể trong Đạo đổi lại

màu dà. Lại nữa, từ trước đến giờ các sư dùng màu dà để

biểu hiệu cho sự thoát tục của mình, và màu ấy là sự kết

hợp của tất cả các màu sắc khác, nên có thể tượng trưng

cho sự hòa hiệp của nhân loại không phân biệt chủng tộc và

cá nhân. Vì vậy chúng ta dùng nó trong chỗ thờ phượng để

tiêu biểu cho tinh thần vô thượng của nhà Phật.

Nếu trong nhà chật, nội bàn Thông Thiên với một lư hương

không cũng được, bởi vì sự tu hành cốt ở chỗ trau tâm trỉa

tánh hơn là do sự lễ bái ở ngoài. Còn người nào có cốt Phật

trong nhà để vậy cũng đặng. Hình tượng bằng giấy không

nên chừa lại và phải đốt đi. Kẻ nào phải ở chung đậu với

người khác không có tu hiền hay không cùng một Đạo với

mình, hoặc nhà cửa nhỏ hẹp quá không có chỗ phượng thờ,

thì đến khi cúng kiếng chỉ vái thầm và niệm Phật trong tâm

Về cách cúng Phật, chỉ nên cúng nước lạnh, bông hoa và

nhang thôi. Nước lạnh tiêu biểu cho sự trong sạch, bông

hoa tiêu biểu cho sự tinh khiết, còn nhang dùng đặng báng

mùi uế trược. Ngoài ra chẳng nên cúng một món gì khác

cả. Bàn thờ ông bà cúng món chi cũng đặng.

Ngoài sự thờ Phật, Tổ tiên, ông bà, cha mẹ và những anh

hùng của đất nước, không nên thờ vị tà thần nào khác mà

mình không rõ căn tích.

Chỉ thờ lạy đức Phật, Tổ tiên, ông bà cha mẹ lúc còn sống

và các vị anh hùng cứu quốc. Với những kẻ khác, nên bỏ

hẳn sự lạy lục người sống, cho đến Thầy mình cũng vậy,

Tất cả các hành động trong Đạo hay ngoài đời, trước khi

làm điều gì phải tính toán một cách cẩn thận, đừng làm

chuyện ngông cuồng vô ý thức. Một đừng ỷ lại vào kẻ

mạnh, hai đừng ỷ lại vào sự cứu vớt của Thần Thánh, ba

đừng ỷ lại sự binh vực của Thầy mình. Luôn luôn, lúc nào

cũng phải nhớ câu Nhơn Quả của Phật dạy, nếu Nhơn toàn

thiện thì Quả cũng sẽ do đó được toàn thiện vậy. Kẻ nào

hành động ngông cuồng không suy xét cẩn thận để đến đỗi

thất bại đem đến sự khó khăn, khổ não, rồi trách cứ kẻ

mạnh sao không cứu mình, Thầy sao không giúp mình,

Trời Phật sao không độ mình, thì sự lầm lạc ấy rất đáng

Mỗi người hãy nên lấy trí thông minh nhận xét đạo lý hay

lời nói của Thầy mình, chớ đừng lấy đức tin thọ lãnh những

lời nói đó trong khi mình chưa hỏi tường tận. Như thế,

mình mới có thể tấn hóa trên con đường đạo đức.

Những điều sơ lược giải thích trên đây mong rằng toàn thể

trong Đạo suy gẫm kỹ càng và thực hiện để bài trừ sự mê

tín ngông cuồng của thiểu số người trong Đạo, làm cho tư

tưởng thiện hòa của Phật Đạo được phát triển mau chóng.

Lúc ông bà cha mẹ từ trần, tục để tang chúng ta vẫn giữ

theo cổ lệ, chỉ cần sửa đổi các sự như sau đây:

Bây giờ chúng ta đã quy y đầu Phật thì phải do sự thành

tâm cầu nguyện, và đem sức khấn vái của anh em trong

Đạo cầu nguyện cho vong linh người chết được siêu sinh

nơi cõi thọ. Chẳng nên rước những ông thầy dưng bông,

đốt giấy tiền vàng bạc xá phướn lầu kho, vì đó là chuyện

tốn tiền vô ích, bởi vì ta nên nhận định rằng xác thịt là hư

hoại, thì trong lúc chết chỉ nên đem chôn cất cho kín đáo,

đừng để hôi thúi có hại cho người sống, như thế là đủ rồi.

Còn hiếu sự do hồi còn sanh tiền và do sự tu hành, sự thành

tâm cầu nguyện chớ không phải có tiền rước người khác

cầu nguyện mà đạt được hiếu thuận nhơn nghĩa. Chỉ vọng

bàn giữa nhà hay giữa trời mà cầu nguyện, rồi im lặng đi

Về việc cúng kiến ông bà cha mẹ, có chi cúng nấy, trong

những ngày kỷ niệm theo như tục lệ. Còn về việc đãi đằng

hương đảng thì tùy ý. Những điều nào xét ra giản tiện, ít

4. CÁCH CẦU NGUYỆN CHO NGƯỜI CHẾT

Mỗi người đứng trước bàn Phật niệm “Nam-Mô Bổn-Sư

Thích-Ca Mâu-Ni Phật” (ba lần), và “Nam -Mô A-Di-Đà

Vái: “Phật-Tổ, Phật-Thầy, nay mình thành tâm cầu nguyện

cho tên…. (tên người chết), nhờ ơn Đức Phật từ-bi cứu-độ

vong-linh được thoát chốn mê-đồ, vãng-sanh miền Cực-

Trong lúc ở nhà hay trong lúc đưa đám tang gì cũng vậy,

nếu có tổ chức sắp hàng chắp tay niệm: “Nam-mô Tây-

phương Cực lạc thế-giới tam thập lục vạn ức, nhứt thập

nhứt vạn, cửu thiên ngũ bá đồng danh đồng hiệu đại-từ

đại-bi tiếp dẫn vong linh A-Di-Đà Phật” (nếu người chết là

nhà sư thì câu chót đọc: “Tiếp dẫn Đạo sư A-Di-Đà Phật”.

NÊN LƯU Ý: Tang-gia đừng nên khóc-lóc làm trở-ngại sự

siêu-thoát anh-linh của người chết.

Bổn phận cha mẹ phải chọn lựa đôi bạn cho con một cách

xứng đáng bằng sự quan sát tường tận về đức tánh đôi trai

gái. Không nên ép uổng con mình quá đáng, vì như thế

làm cho khốn khổ nó về sau, nhưng cũng không nên để

chúng quá tự do mà sự thiếu kinh nghiệm làm cho đời

chúng phải hư hỏng.

Nên bỏ tục lệ thách giá đòi tiền và đòi lễ vật. Thông gia hai

bên không nên làm khó cho nhau. Cũng chẳng nên bày ra

tiệc, lễ linh đình tốn kém nhiều tiền, làm cho trở nên nghèo

6. NHỮNG ĐIỀU ĐƯỢC TRÁNH HẲN HOẶC ĐƯỢC

CHÂM CHẾ HOẶC NÊN LÀM

A. UỐNG RƯỢU: Phải cữ tuyệt. Nhưng khi có tiệc lễ với

người ngoài và không phải nhằm ngày chay lạt, có thể

dùng một đôi chút rượu thật nhẹ để đừng có tỏ sự chia rẽ

với kẻ ngoại Đạo. Nếu say sưa sẽ phải tội lỗi.

B. THUỐC PHIỆN: Phải cữ tuyệt, không được hút một

điếu nào hết. Những kẻ hút, muốn vào Đạo phải bỏ hút

rồi mới được nhìn nhận. Trừ ra những người đau mà

thầy thuốc bảo phải dùng một chút ít hợp với các vị

thuốc khác mới có thể châm chế đặng.

C. CỜ BẠC: Phải cữ tuyệt. Những kẻ cờ bạc muốn vào

Đạo phải thệ nguyện bỏ cờ bạc rồi mới được nhìn nhận.

Về sự này, chẳng có cuộc vui nào có thể châm chế đặng.

D. ĐỐI ĐÃI CÁC TĂNG SƯ: Tất cả bổn đạo nên cung

kính các tăng sư tu hành chân chánh. Nếu các ông ấy có

dạy điều chánh lý, phải nghe lời. Đối với những hạng tu

hành mà mình biết rõ là dối thế (như mấy ông thầy

đám…) hãy tìm cách khuyên can các ông trở lại con

đường chân chánh của Đạo Phật. Nếu các ông vẫn tiếp

tục làm điều tà mị, mình phải bài trừ triệt để và giảng

giải cho quần chúng cùng những tín đồ nhà Phật hiểu

đặng xa lánh họ.

E. ĐỐI VỚI CHÙA CHIỀN: Những ngày vía của các Đức

Phật, ngày rằm hay ba mươi, mình muốn đi chùa cũng

tốt, đặng lễ Phật, dưng hoa, không có cấm. Nếu chùa

nào nghèo, hư, rách, mà mình giúp đỡ được càng tốt (có

điều mình không nên mua sắm hình tượng cho nhiều).

Khi đến chùa cũng phải tôn trọng sự thờ phượng trong

chùa, không nên hủy báng.

F. ĐỐI VỚI CÁC TÔN GIÁO KHÁC VÀ NHÂN

SANH: Đối với những người theo tôn giáo khác, không

nên động chạm đến cách thức tu hành của họ. Nhứt là

không ỷ đông hiếp đáp hoặc nói xấu người ta. Nếu họ có

làm dữ với mình, thì mình cũng chẳng được phép vì sự

dữ của họ mà trả thù, và phải luôn luôn làm lành với họ.

Mình phải hoài hoài làm phải với những kẻ ấy, dầu họ có

làm quấy với mình cũng mặc và phải nhẫn nhịn họ.

Đối với nhân sanh, bao giờ cũng phải hòa hợp với họ, và

làm cho đôi đàng có thiện cảm với nhau. Phải biết

thương xót đến họ và nếu khi nào họ cần dùng, phải rán

sức giúp đỡ họ.

G. ĐỂ TÓC: Tất cả bổn đạo nên biết rằng Thầy không có

buộc để tóc, vì đó thuộc về phong tục chớ chẳng phải về

tôn giáo; nhưng sở dĩ Thầy để tóc là muốn giữ kỷ niệm

cái phong tục cổ của Tổ Tiên và tỏ cho thiên hạ biết

Thầy không chịu ảnh hưởng cái đời văn minh cặn bã của

phương Tây. Thấy vậy, nhiều người trong bổn đạo yêu

mến Thầy liền bắt chước, vì thế số đông người hiểu lầm

rằng để tóc là tu. Thật ra tu là tu, để tóc là để tóc, và tu

không phải là để tóc, để tóc không phải là tu. Nếu để tóc

mà không chịu trau tâm sửa tánh cũng chẳng phải là kẻ

tu hành. Từ rày trở đi đã thoát được ách người Pháp và

tùy theo phong trào tiến hóa của nước nhà, Thầy cho

phép bổn đạo tự do cải cách hầu hòa hợp với lương dân

cùng tôn giáo khác.

H. SỰ HỌC: Sự học hành không làm trở ngại cho đạo đức.

Trái lại nhờ nó mình biết được rõ ràng giáo lý cao siêu

của tôn giáo. Nó tránh cho mình những sự lạc lầm, bỏ

các điều dị đoan mê tín. Nó làm cho mình dẹp bỏ các

điều huyễn hoặc, không bàn bạc những chuyện xa vời

(như tiên đoán thiên cơ chẳng hạn…).

Vậy hãy tự mình học hỏi (học chữ quốc ngữ) và hãy cho

con cháu mình vào trường học tập đặng sự hiểu biết của

chúng thêm rộng rãi. Vả lại, sự hiểu biết về khoa học

không cản trở sự tu hành và nó giúp mình nghiên cứu

Phật Đạo một cách rành rẽ.

I. THỂ DỤC: Người trong bổn đạo nam nữ bất luận, phải

giữ gìn thân thể cho khỏe mạnh. Như thế nên luyện tập

những môn thể dục nào hợp với sức khỏe, nếu mình

muốn, bởi vì xác thịt có khỏe mạnh tinh thần mới sáng

suốt, như vậy mình mới có thể làm sự đạo nghĩa một

J. ĂN Ở: Kẻ tu hành ăn uống phải có điều độ. Tránh

những món ngon sống nấu toàn đồ độc cho cơ thể ăn vào

Phải giữ gìn thân thể sạch sẽ và từ nhà cửa cho đến chỗ

ăn, chỗ nằm, phải biết trọng vệ sinh. Bỏ những thói

quen ăn ở dơ bẩn, vì xác thịt dơ dáy thì tinh thần không

thể nào mở mang được, và vì Thần Thánh chỉ gần những

kẻ trong sạch; nên nếu ai muốn được tiếp-độ phải trong

sạch vừa tinh-thần lẫn vật-chất.

K. CÁCH LÀM ĂN: Cách làm ăn phải y như mục Bát

– Bỏ những sự bất chánh: lường cân, tráo đấu, buôn lậu,

đầu cơ, buôn rượu, bán thuốc phiện…

– Làm những nghề lương thiện, không có lường gạt ai,

bỏ những thói gian xảo.

7. ĐIỀU KIỆN VÀO ĐẠO

Người nào muốn quy y phải có hai người bổn đạo cũ, có

đức hạnh tiến cử và bảo lãnh, đến Ban Trị Sự trong làng

cho người làm đầu biết và người làm đầu phải đọc hết thể

lệ về sự tu hành cho người quy y nghe, hỏi coi có bằng lòng

quy y như lời nguyện dạy và răn cấm trong Đạo chăng.

Nếu họ bằng lòng, biểu họ về nhà cho ông bà, cha mẹ biết,

hoặc nguyện trước bàn thờ ông bà, tổ tiên rằng: Ngày…

tháng… con chịu quy y theo Đạo. Sau đó, người làm đầu

(Hội trưởng) cho cuốn sách nhỏ này. Chỗ nào không có

Ban Trị Sự, hai người bổn đạo cũ phải dìu dắt người mới,

rồi sau sẽ dẫn đến Ban Trị Sự gần đó, không bắt buộc thề

thốt chi hết, vì người muốn tu do nơi sự phát nguyện của

mình thôi. Khi nào mình không muốn giữ Đạo, mình phải

cho người tiến cử hay đặng bôi tên mình ra. Không người

nào được phép xưng mình là người trong Đạo mà lại không

giữ luật. Kẻ nào làm trái với luật lệ trong sự đạo đức dầu

không xin thôi Đạo hay là chưa bị bôi tên cũng bị trách

nhiệm việc làm của họ và bị coi như người ngoại Đạo.

Nên nhớ rằng: Đức Phật sẽ dìu dắt và ủng hộ những kẻ nào

làm ăn chơn thật, hiền lành, đúng theo giáo lý của Ngài;

chớ không bao giờ Ngài lại ủng hộ những kẻ gian tà xảo

quyệt, làm các việc hung ác ngông cuồng trái những lời mà

V. Sự Cúng Lạy Của Người Cư Sĩ Tại Gia

BÀI NGUYỆN TRƯỚC BÀN THỜ ÔNG BÀ

– Cầm hương xá 3 xá, quì xuống, chắp tay đưa lên trán

Cúi kính dưng hương trước Cửu-Huyền,

Cầu trên Thất-Tổ chứng lòng thiềng.

Nay con tỉnh-ngộ quy-y Phật,

Chí dốc tu hiền tạo phước-duyên.

– Cắm hương, rồi đứng ngay thẳng chắp tay vào ngực

Cúi đầu lạy tạ Tổ-Tông,

Báo ơn sanh-dưỡng dày công nhọc-nhằn.

Rày con xin giữ Đạo hằng,

Tu cầu Tông-Tổ siêu thăng Phật-đài.

Nguyện làm cho đẹp mặt mày,

Thoát nơi khổ hải Liên-đài được lên.

Mong nhờ Đức Cả bề trên,

Độ con yên-ổn vững bền cội tu.

BÀI NGUYỆN TRƯỚC BÀN THỜ PHẬT

– Cầm hương xá 3 xá, quì xuống, chắp tay đưa lên trán

đọc bài Quy-Y:

• Nam-Mô Ta-Bà Giáo-Chủ Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-
Ni Phật (tam niệm).

• Nam-Mô Thập Phương Phật.

Nam-Mô Thập Phương Pháp.

Nam-Mô Thập Phương Tăng.

• Nam-Mô Phật-Tổ, Phật-Thầy, Quan Thượng-Đẳng

Đại thần, chư quan cựu thần, chư vị sơn-thần, chư

vị Năm Non Bảy Núi, cảm-ứng chứng-minh, nay

con nguyện cải-hối, ăn-năn, làm lành lánh dữ, quy-
y theo mấy Ngài, tu hiền theo Phật Đạo.

– Cắm hương lạy 4 lạy cũng được, hoặc cắm hương

đứng ngay thẳng, chắp tay vào ngực đọc tiếp:

• Nam-Mô Tây-Phương Cực-Lạc Thế-Giới Đại-Từ

Đại-Bi Phổ-Độ Chúng-Sanh A-Di-Đà Phật.

• Nam-Mô nhứt nguyện cầu: Thiên-Hoàng, Địa-
Hoàng, Nhơn-Hoàng, Liên-Hoa hải-hội, Thượng

Phật từ-bi, Phật-Vương độ chúng, thế-giới bình-

• Nam-Mô nhị nguyện cầu: Cửu-huyền Thất-tổ

Tịnh-độ siêu-sanh.

• Nam-Mô tam nguyện cầu: Phụ-mẫu tại đường

tăng long phước thọ, phụ-mẫu quá khứ trực vãng

Tây-phương.

• Nam-Mô tứ nguyện cầu: Bá-tánh vạn dân từ-tâm

bác-ái, giải-thoát mê-ly.

• Nam-Mô ngũ nguyện cầu: Phật-Tổ, Phật-Thầy từ-

bi xá tội đệ-tử tiêu tai tịnh sự, trí-huệ thong-minh,

giai đắc đạo quả.

– Lạy bốn lạy, rồi xá:

• 1 xá chính giữa niệm: Nam-Mô A-Di-Đà Phật.

• 1 xá bên trái niệm: Nam-Mô Đại-Thế-Chí Bồ-tát.

• 1 xá bên mặt niệm: Nam-Mô Quan-Thế-Âm Bồ-

BÀN THÔNG THIÊN

Cầu nguyện bàn Phật xong, ra bàn Thông Thiên cầu nguyện 4

hướng (lấy bàn Thông Thiên làm hướng chánh) trước mặt, sau

Hướng chánh bàn Thông Thiên có nguyện đọc bài Quy-Y, còn

ba hướng kia chỉ đọc bài Tây-phương ngũ nguyện, (mỗi hướng

(Khi cầu nguyện nếu không thể lạy được thì xá 3 xá).

Lạy đứng hay lạy quì tùy theo lúc yếu mạnh.

NIỆM PHẬT

 

Cúng xong muốn niệm Phật cũng được. Ngồi bán già thẳng

lưng niệm: Nam-Mô A-Di-Đà Phật.

Hay niệm: Nam-Mô Tây-phương Cực-lạc Thế-giới tam thập lục

vạn ức, nhứt thập nhứt vạn, cửu thiên ngũ bá đồng danh đồng

hiệu đại-từ đại-bi phổ-độ chúng-sanh A-Di-Đà Phật.

(Niệm Phật nhiều ít, tùy theo sức mình, lúc cầu nguyện và niệm

Phật chỉ niệm trong tâm).

Nam-Mô A-Di-Đà Phật, sáu chữ đi, đứng, nằm, ngồi, rán niệm

chớ quên, không đợi gì thời khắc.

KHI ĂN CƠM

 

Mỗi khi ăn cơm với mắm muối chi cũng vậy đều nguyện vái

Cửu huyền Thất tổ, ông bà cha mẹ quá vãng về ăn với mình để

ĂN CHAY

 

Đến ngay đơm-quảy có chi cúng nấy.

Ăn chay ngày 14-15, 29-30, tháng thiếu 29 và mồng 1, có nhang

thì đốt, không có thì nguyện không.

Hằng năm đến ba ngày xuân nhựt thì ngày 29-30 và mồng 1

phải ăn chay, trong mấy ngày ăn chay phải cúng chay, qua đến

ngày mồng 2 có chi cúng nấy cũng được, đến ngày mồng 3 ra

mắt không nên sát sanh loài vật mà cúng tế Trời Phật, chỉ dùng

bông hoa mà cúng thôi.

ĐI XA NHÀ

 

Đi làm ruộng đến thời cúng, ngó về hướng Tây nguyện rồi xá 4

hướng. Còn đi xa nhà thì nguyện tưởng trong tâm cũng được.

VI. Lời Khuyên Bổn Đạo

Khi đã coi giảng thì phải tự xét mình và sửa sang những thói hư

tật xấu, mình lầm lỗi thì rứt bỏ và giữ những điều răn cấm sau

1. ĐIỀU THỨ NHỨT: Ta chẳng nên uống rượu, cờ bạc, á

phiện, chơi bời theo đàng điếm, phải giữ cho tròn luân lý

tam cang ngũ thường.

2. ĐIỀU THỨ NHÌ: Ta chẳng nên lười biếng, phải cần kiệm,

sốt sắng, lo làm ăn và lo tu hiền chơn chất, chẳng nên gây

gổ lẫn nhau, hãy tha thứ tội lỗi cho nhau trong khi nóng

3. ĐIỀU THỨ BA: Ta chẳng nên ăn xài chưng dọn cho thái

quá và lợi dụng tiền tài mà đành quên nhơn nghĩa và đạo lý,

đừng ích kỷ và xu phụng kẻ giàu sang, phụ người nghèo

4. ĐIỀU THỨ TƯ: Ta chẳng nên kêu Trời, Phật, Thần, Thánh

mà sai hay hoặc nguyền rủa, vì Thần Thánh không can

5. ĐIỀU THỨ NĂM: Ta chẳng nên ăn thịt trâu, chó, bò, và

không nên sát sanh hại vật mà cúng Thần Thánh nào, vì

Thần Thánh không bao giờ dùng hối lộ mà tha tội cho ta, vì

nếu ta làm tội sẽ hưởng tội, còn những hạng ăn đồ cúng

kiến mà làm hết bịnh là Tà Thần; nếu ta cúng kiếng mãi thì

nó ăn quen sẽ nhiễu hại ta.

6. ĐIỀU THỨ SÁU: Ta không nên đốt giấy tiền vàng bạc,

giấy quần áo mà tốn tiền vô lý, vì cõi Diêm Vương không

bao giờ ăn hối lộ của ta, mà cũng không xài được nữa, phải

để tiền lãng phí ấy mà trợ cứu cho những người lỡ đường

7. ĐIỀU THỨ BẢY: Đứng trước mọi việc chi về sự đời hay

đạo đức, ta phải suy xét cho minh lý rồi sẽ phán đoán việc

8. ĐIỀU THỨ TÁM: Tóm tắt, ta phải thương yêu lẫn nhau

như con một cha, dìu dắt lẫn nhau vào con đường đạo đức,

nếu ai giữ đặng trọn lành trọn sáng về nơi cõi Tây Phương

an dưỡng mà học Đạo cho hoàn toàn đặng trở lại cứu vớt

Tất cả thiện nam tín nữ trong tôn giáo nhà Phật, lúc rãnh việc

nên thường coi kệ giảng mà giữ gìn phong hóa nước nhà, giữ

những tục lệ chân chánh, bỏ tất cả những sự dị đoan mê tín thái

quá mà làm cho đạo đức suy đồi.

Đạo-pháp thường hay dung với hòa,

Xét người cho tột xét thân ta.

Nếu người rõ phận vui lòng thứ,

Ta thứ được người, người thứ ta.

Categories: Sấm Giảng | Leave a comment

Quyển III Sám Giảng

Quyển III

Sám Giảng

 (612 câu)

 

Ngồi trên đảnh núi liên đài,
Tu hành tầm Ðạo một mai cứu đời.
Lan-thiên một cõi xa chơi,
Non cao đảnh thượng thảnh-thơi vô cùng.

Hiu hiu gió thổi lạnh-lùng,
Phất-phơ liễu yếu lạnh-lùng tòng mai.
Mùa xuân hứng cảnh lầu đài,
Lúc còn xác thịt thi tài hùng-anh.

Tứ vi mây phủ nhiễu đoanh,
Bồng-Lai một cõi hữu danh chữ đề.
Kể từ Tiên cảnh Ta về,
Non Bồng Ta ở dựa kề mấy năm.

Dạo chơi tầm bực tri-âm,
Nay vì thương chúng trần-gian phản hồi.
Nghĩ mình trong sạch đã rồi,
Ðào Tiên tạm thực về ngồi cõi xa.

Phong-trần tâm đã rời ra,
Ngọc-Thanh là hiệu ai mà dám tranh.
Ngày ra chơi chốn rừng xanh,
Tối về kinh kệ cửi canh mặc người.

Xuống trần lỡ khóc lỡ cười,
Ham vui đào mận vuông tròn chẳng xong.
Chừng nào Sấu nọ hóa Long,
Trần-gian mới rõ tấm lòng Thần-Tiên.

Thương đời Ta mượn bút nghiên,
Thở-than ít tiếng giải phiền lòng son.
Bắt đầu cha nọ lạc con,
Thân nầy thương chúng hao mòn từ đây.


Minh-Hoàng chưa ngự đài mây,
Gẫm trong thế-sự còn đầy gian-truân.
Ðò đưa cứu kẻ trầm-luân,
Ðặng chờ vận đến mới mừng chúa tôi.

Thảm-thương thế sự lắm ôi,
Dẫy-đầy thê-thảm lắm hồi mê ly.
Dạo chơi Lục-tỉnh một khi,
Rước đưa người tục tu trì xa khơi.

No chiều rồi lại đói mơi,
Dương-trần sắp vướng bịnh Trời từ đây.
Khuyên trần sớm liệu bắp khoai,
Cháo rau đở dạ tháng ngày cho qua.

Nhắn cùng bổn-đạo gần xa,
Tu hành trì chí mới là liễu mai.
Nguyện cầu qua khỏi nạn tai,
Ðặng coi Tiên-Thánh lầu đài quốc-vương.

Niệm Phật nào đợi mùi hương,
Miễn tâm thành-kính tòa-chương cũng gần.
Lao-xao bể Bắc non Tần,
Quân Phiên tham báu xa gần cũng qua.


Tranh phân cho rõ tài ba,
Cùng nhau giành-giựt mới là thây phơi.
Khổ-lao đà sắp đến nơi,
Thế-gian bớt miệng kêu mời cõi âm.

Dầu cho có ở xa-xăm,
Cũng là rán tới viếng thăm dương-trần.
Ngũ-Hành cùng các chư Thần,
Từ đây sắp đến xuống gần chúng-sanh.

Chuông kia treo sợi chỉ mành,
Chẳng lo thân phận lo giành bướm ong.
Hiếu-trung hãy liệu cho xong,
Ðến chừng gặp Chúa mới mong trở về.

Bây giờ kẻ Sở người Tề,
Hiền-lương đến Hội cũng kề với nhau.
Phật Trời chẳng luận nghèo giàu,
Ai nhiều phước đức được vào cõi Tiên.


Hữu phần thì cũng hữu duyên,
Sửa tâm hiền-đức cõi Tiên cũng gần.
Ta mang mình thịt xác trần,
Ra tay dắt chúng được gần Bồng-Lai.

Mai sau nhiều cuộc đất cày,
Ðua nhau mà chạy lầu đài cũng xa.
Lập rồi cái Hội Long-Hoa,
Ðặng coi hiền-đức được là bao nhiêu.

Gian-tà hồn xác cũng tiêu,,
Thảm-thương bá-tánh chín chiều ruột đau.
Mặc ai tranh luận thấp cao,
Thương trong lê-thứ xáo-xào từ đây.

Chinh chinh bóng xế về tây,
Ðoái nhìn trần-thế xác thây ê-hề.
Thương trần Ta cũng rán thề,
Ðặng cho bá-tánh liệu bề tu thân.

Tu hành chẳng được đức ân,
Thì Ta chẳng phải xác thân người đời.
Phật truyền Ta dạy mấy lời,
Ðặng cho trần-thế thức thời tu-thân.

Nào là luân-lý Tứ-Ân,
Phải lo đền-đáp xác thân mới còn.
Ai mà sửa đặng vuông tròn,
Long-Vân đến hội lầu son dựa kề.

Thương đời văn-vật say mê,
Làm điều gian-ác thảm-thê sau nầy.
Kể từ hầu hạ bên Thầy,
Vào ra chầu-chực đài mây cũng gần.

Tuy là nương dựa non Tần,
Ngày sau thế cuộc xoay vần về Nam.
Qua sông nhờ được cầu Lam,
Tu-hành nào đợi chùa am làm gì.

Bây giờ bạc lộn với chì,
Nữa sau lọc lại vít tì cũng chê.
Bớ dân chớ có say mê,
Trung-lương chánh-trực dựa kề đài mây.

Mảng lo gây-gổ tối ngày,
Chẳng lo rèn đúc trí tài hiền-lương.
Thân Nầy ăn tuyết nằm sương,
Chẳng than chẳng thở vì thương thế-trần.

 

Theo Thầy giảng dạy nhiều lần,
Dương-gian nào biết thế-trần nào hay.
Cầu cho dân khỏi nạn tai,
Qua nơi khổ-nảo mặc ai chê cười.


Bạc đâu dám sánh vàng mười,
U-mê mà lại chê cười Thần Tiên.
Giả từ sơn-lãnh lâm-tuyền,
Về đây hội hiệp sạ duyên tớ Thầy.

Ở rừng bạn với cáo-cầy,
Bây giờ xuống thế cáo-cầy lìa xa.
Thiên-cơ biến đổi can qua,
Gẫm trong thế giới còn đôi ba phần.

Mau mau kíp kíp chuyên cần,
Chúng sanh còn có lập thân hội nầy.
Tuần huờn Thiên-Ðịa đổi xây,
Cám thương trần-hạ lòng Ðây chẳng sờn.

Cũng còn kẻ ghét người hờn,
Vì không rõ hiểu sạ dươn của Thầy.
Hổ-lang ác-thú muôn bầy,
Lớp bay lớp chạy sau nầy đa-đoan.


Ai mà ăn ở nghinh-ngang,
Ðón đường nó bắt xé tan xác hồn.
Chữ rằng họa phước vô môn,
Ðáo đầu cũng phải xác hồn tiêu tan.

Khuyên người hữu phước giàu sang,
Mau mau làm phước làm doan cho rồi.
Ðể sau khó đứng khôn ngồi,
Thương nhà tiếc của biết hồi nào nguôi.

Ai mà ăn ở ngược xuôi,
Bị nơi rắn rít chẳng vui đâu là.
Rắn to tên gọi mãng-xà,
Trên rừng nó xuống nó tha dương-trần.

Ai mà tu tỉnh chuyên cần,
Làm đường ngay thẳng có Thần độ cho.
Thương đời hết dạ cần lo,
Chẳng lo niệm Phật nhỏ to làm gì.

Tu là: tâm trí nhu mì,
Tu hiền tu thảo vậy thì cho xong.
Tu cầu cứu vớt Tổ-Tông,
Với cho bá-tánh máu hồng bớt rơi.

Tu cầu cha mẹ thảnh-thơi,
Quốc-vương thủy-thổ chiều mơi phản hồi.
Tu đền nợ thế cho rồi,
Thì sau mới được đứng ngồi tòa sen.


Người tu phải lánh hơi men,
Ðừng ham sắc lịch lắm phen lụy mình.
Tu là sửa trọn ân tình,
Tào-khang chồng vợ bố-kình đừng phai.

Tu cầu Ðức Phật Như-Lai,
Cứu dân qua khỏi nạn tai buổi nầy.
Chữ tu chớ khá trễ chầy,
Phải trau phải sửa nghe Thầy dạy khuyên.

Ra đời xưng hiệu Khùng Ðiên,
Nào ai có rõ Thần Tiên là gì.
Tu không cần lạy cần quì,
Ngồi đâu cũng sửa vậy thì mới mau.


Trí hiền tâm đức chùi lau,
Ra công lọc kỹ thì thau ra vàng.
Vinh-hoa phú-quí chẳng màng,
Ra oai ra lực cỡi thoàn xa chơi.

Con sông dòng nước chiều mơi.
Dốc lòng trả nợ nước đời cho xong.
Chừng nào bổn-đạo hiểu thông,
Thiên-cơ đạo-lý để lòng mới thôi.

Chữ vinh chữ nhục mấy hồi,
Ðến khi thất vận làm mồi yêu tinh.
Tu rèn tâm trí cho minh,
Tánh kia thành kiếng phỉ tình chùi lau.

Hiểu rồi những việc lao-đao,
Ở cùng cô bác làm sao cho tròn.
Kính yêu nào phải hao mòn,
Ở cho phải nghĩa lòng son mới vừa.

Nghinh-ngang hỗn-ẩu phải chừa,
Bà con nội ngoại dạ thưa mới là.
Xóm diềng phải ở thật-thà,
Dầu không quen biết cũng là như quen.

Ở cho cha mẹ ngợi khen,
Gặp người lâm nạn đua chen giúp giùm.
Xác thân là cái gông cùm,
Nếu làm chẳng trọn thú hùm xé thây.

Cho rồi nhơn-nghĩa mới hay,
Lễ-nghi phong-hóa đổi thay làm gì?
Từ đây biến đổi dị-kỳ,
Dương-thế chuyện gì cũng có chuyển lay.

Rèn tâm cho được thẳng ngay,
Khỏi nơi tà quỉ một mai thấy đời.
Cũng là người ở trong trời,
Cớ sao ăn ở nhiều lời ngổn-ngang.

Hung-hăng ỷ của giàu sang,
Chẳng kiên Trời Phật mê-man ỷ tiền.
Dạy rồi cái đạo tu hiền,
Làm trai nhỏ tuổi tình duyên đang nồng.

Cũng đừng ghẹo gái có chồng,
Cũng đừng phá hoại chữ đồng gái trinh.
Ra đường chọc ghẹo gái xinh,
Nữa sau mắc phải yêu-tinh hư mình.

Xử cho vẹn chữ nghĩa tình,
Vâng lời cha mẹ mà gìn gia-cang.
Nghiêm-đường chịu lịnh cho an,
Loạn-luân cang-kỷ hổ mang tiếng đời.

Anh em đừng có đổi dời,
Phụ-phàng dưa muối xe lơi nghĩa-tình.
Tuy là trời đất rộng thinh,
Có Thần xem xét phân minh cho người.

Vô duyên chưa nói mà cười,
Chưa đi mà chạy hỡi người vô duyên.
Lớn lên phận gái cần-chuyên,
Làm ăn thì phải cho siêng mới là.

 

Phải gìn dục vọng lòng tà,
Ðừng chiều theo nó vậy mà hư thân!
Nghe lời cha mẹ cân phân,
Tam-tùng vẹn giữ lập thân buổi nầy.

Tình duyên chẳng kíp thì chầy,
Chớ đừng cải lịnh gió mây ngoại-tình.
Ði thưa về cũng phải trình,
Công, dung, ngôn, hạnh, thân mình phải trau.

Công là phải sửa làm sao,
Làm ăn các việc tầm-phào chẳng nên.
Mình là gái mới lớn lên,
Ðừng cho công việc hớ-hên mới là.

Chữ dung là phận đàn bà,
Vóc hình tươi-tắn đứng đi dịu-dàng.
Dầu cho mắc chữ nghèo nàn,
Cũng là phải sửa phải sang mới mầu.

Ngôn là lời nói mặc dầu,
Cũng cho nghiêm-chỉnh mới hầu khôn ngoan.
Ðừng dùng lời tiếng phang-ngang,
Thì cha với mẹ mới an tấm lòng.

 

Hạnh là đức tánh phải không?

Ở cùng chòm xóm đừng cho mất lòng.
Bốn điều nếu đã làm xong,
Cũng gìn chữ hiếu phục tòng song thân.

Dạy rồi những chuyện đức ân,
Phận làm cha mẹ xử phân lẽ nào.
Lỗi-lầm chớ có hùng-hào,
Ðừng chưởi đừng rủa đừng cào đừng bươi.


Ðem lời hiền đức tốt tươi,
Ðặng mà giáo-hóa vàng mười chẳng hơn.
Cũng đừng gây gổ giận-hờn,
Cho con bắt chước sạ duơn mới là.

Nam-Mô sáu chữ Di-Ðà,
Từ-bi tế-độ vậy mà chúng-sanh.
Xưa nay Sáu Chữ lạnh tanh,
Chẳng ai chịu khó niệm sành thử coi.

Trì tâm thì quá ít-oi,
Bây giờ dùng thử mà coi lẽ nào.
Rạch tim đem để Nó vào,
Thì là mới khỏi máu đào tuôn rơi.

Ðể sau đến việc tả-tơi,
Rồi tu sao kịp chiều mơi cho thành.
Ngày nay chim đã gặp cành,
Chẳng lo đậu lại cho rành gió mưa.

Tu hành nhiều kẻ chẳng ưa,
Mặc ai gièm siểm sớm trưa chẳng màng.
Gẫm trong thế-sự trần-hoàn,
Người hung người ác tà-gian cũng nhiều.

Thương đời ta mới đánh liều,
Mong người tu tỉnh ít nhiều cũng hay.
Muốn tu còn đợi chiều mai,
Khuyên người rèn sớm thì xài lâu hư.

Những người có của tiền dư,
Hãy nên bố-thí dành tư làm gì.
Sau đây nhiều chuyện ly-kỳ,
Kể sao cho xiết vậy thì dân ôi!

Tại sao chẳng cúng chè xôi,
Bởi vì tận thế Phật thôi ăn chè.
Cũng không có muốn hoa-hòe,
Lầu đài sơn phết cũng là chẳng ham.

Ai chê khờ dại cũng cam,
Chớ Tôi cũng chẳng có ham lầu đài.
Chữ tu hãy rán miệt-mài,
Ðừng kể vắn dài đừng nệ mau lâu.

Giáo khuyên khắp hết đâu đâu,
Bớt điều mị-dối mới hầu thấy Ta.
Ðừng theo lũ quỉ lũ ma,
Cúng kiếng nó mà nó phải ăn quen.

Chết rồi cũng bớt cóc ken,
Trống đờn lễ nhạc tế xen ích gì.
Ðàn nhu thầy lễ cũng kỳ,
Mắc phải chuyện gì phủ phục bình hưng?

Lại thêm đờn địch từng tưng,
Ðem con heo sống mà dưng làm gì?
Chủ gia kẻ lạy người quì,
Làm chuyện dị-kỳ giả-dối hay không?

Nếu không thì trả lời không,
Bằng mà có dối thì hòng sửa đi.
Thương đời Ta luống sầu-bi,
Học nho cứ mãi làm thi ngạo đời.

Rung đùi ngâm chuyện trên trời,
Tình-duyên cá nước vậy thời dỗ con.
Thấy đời Ta cũng héo von,
Học nho mà chẳng làm tròn nghĩa nhơn.

Khoe mình chẳng có ai hơn,
Nhờ làm thuốc bắc đở cơn túng nghèo.
Hiền nhơn chẳng chịu làm theo,
Ðợi ai có bịnh túng nghèo chẳng tha.

Hốt thời cắc bảy cắc ba,
Nó đòi năm cắc người ta hoảng hồn.
Lành bay còn ác lại tồn,
Ðến chừng lập Hội xác hồn lìa xa.

Mấy anh thầy thuốc Lang-sa,
Cũng là mổ mật người ta lấy tiền.
Xin trong anh chị đừng phiền,
Ðồng bạc đồng tiền là thứ phi ân.

Muốn sau dựa được Các-Lân,
Hãy nên trao sửa hiền nhân mới là.
Những người quê dốt thật-thà,
Cũng nên tu niệm nhờ mà thân sau.

Lập đời mới biết thấp cao,
Bây giờ chưa biết ai thau ai chì.
Ðời xưa có Ngũ-Viên-Kỳ,
Ðem tài học thuốc hiến thì cho dân.

Người xưa còn chẳng cần thân,
Miễn cho trong nước chúng dân được nhờ.
Ðể tâm yên-lặng như tờ,
Nghĩ suy lời lẽ tỏ mờ thể nao.

Luận xem thế sự thấp cao,
Khuyên dân hãy bớt làm màu hiếu nhi.

Bớt bỏ rình-rang một khi,
Nếu cha mẹ chết làm y lời nầy.

Là lời truyền-giáo của Thầy,
Bông hoa cầu Phật hiệp vầy đi chôn.
Còn mình muốn đãi làng thôn,
Thì là tùy ý đáp ngôn cho người.

Gẫm trong thế sự nực cười,
Chẳng lo cải sửa cho người tâm ngay.
Mình làm chữ hiếu mới hay,
Chớ mướn người ngoài cầu nguyện khó siêu.

Muốn cho tội lỗi mòn tiêu,
Thành tâm cầu nguyện sớm chiều mới hay.
Mục-Liên cứu mẹ bằng nay,
Nhờ người hiếu hạnh tâm rày từ-bi.

Ai ai hãy rán mà suy,
Thương đời Ta tỏ chuyện ni rõ-ràng.
Làm tuần trà rượu xình-xoàng,
Rồi thì chửi-lộn mà an nỗi gì?

Dương-trần làm chuyện dị-kỳ,
Tạo nhiều cảnh giả chơn thì chẳng theo.
Của tiền chớ có bỏ theo,
Chết rồi tế-lễ bò heo làm gì?

Nếu ai biết chữ tu trì,
Cha mẹ còn sống vậy thì cho ăn.
Không làm để ở lung-lăng,
Chưởi cha mắng mẹ lăng-xăng thiếu gì.

Ở cho biết nhượng biết tùy,
Vui lòng cha mẹ vậy thì mới ngoan.
Ðạo là vốn thiệt cái đàng,
Ta ra sức dọn cho toàn chúng sanh.

Thôi thôi bớt miệng hùng-anh,
Ở nơi cửa khẩu thiệt rành tiếng ni.
Chưng bày quân-tử làm chi,
Của đồ hổ-bịch vậy thì xưng hô.

Lũ đàng lũ điếm hồ-đồ,
Anh-hùng quân-tử xưng hô rền trời.
Gặp ai mắc nạn cười chơi,
Chớ không ra sức giúp đời điều chi.


Hổ mình là bực tu mi,
Chưa tròn bổn-phận mà ti tôn mình.
Kể từ thượng lộ đăng trình,
Vào Nam ra Bắc mặc tình bôn-phi.

Khuyên răn trần-thế một khi,
Tuồng đời sắp hạ bằng ni rõ ràng.
Dương-gian làm huyễn nói càn,
Cùng xóm cuối làng đâu cũng như đâu.


Hò reo giục trống nhiều câu,
Sai đồng khiển quỉ nói lâu nực cười.
Ta khuyên hết thảy các người,
Nhiều chuyện trò cười hãy bỏ bớt đi.

Ðừng hò đừng réo làm chi,
Nghinh-ngang kêu múa có khi hại mình.
Nghe không thì cũng mặc tình,
Nói cho rõ-rệt dân tin không là.

Quan-Âm Nam-Hải Phổ-Ðà,
Cùng Thầy ra lịnh nên ta giáo-truyền.
Thánh Thần không phải thiếu tiền,
Mà kêu mà réo xuống trần mà sai.

Nam-Mô Quan-Âm Như-Lai,
Cầu xin chư Phật cứu nay dương-trần.
Khuyên đừng chưởi Thánh mắng Thần,
Xưa nay thứ lỗi thế-trần chẳng kiên.

Lưỡng Thần ghi chép liên miên,
Nào tội nào phước dưới miền trần gian.
Tâu qua Thuợng-Ðế Ngọc-Hoàng,
Dương-trần hung-ác đa đoan quá nhiều.

Chúng-sanh ngang-ngược làm liều,
Ngọc-Hoàng Ngài muốn xử tiêu cho rồi.
Minh-Vương khó đứng khôn ngồi,
Thảm thương lê-thứ mắc hồi gian-truân.

Trước đền mắt ngọc lụy rưng,
Quí yêu bá-tánh biết chừng nào nguôi.
Làm sao cho dạ được vui,
Cúi đầu lạy Phật cầu xin cứu trần.

Lời khuyên xưa cũng một lần,
Nay mượn xác trần xuống bút ra cơ.
Khôn-ngoan nghe nói ngẩn-ngơ,
Ngu-si thì tưởng như thơ biếm đời.

Ở đâu cũng Phật cũng Trời,
Tâm thành chí nguyện xem đời khó chi.
Văn-Thù Bồ-Tát từ-bi,
Chèo tuyền Bát-Nhã cứu thì trần-gian.

Gió đưa lướt sóng buồm loan,
Rước người tu niệm xuê-xang phỉ tình.
Ai mà Ta dạy chẳng gìn,
Thì sau đừng trách mất tình yêu-đương.

Bàn-môn tài phép nào tường,
Kêu Trời giậm Ðất cũng thì dạ rân.
Nói cho trần thế liệu toan,
Chớ theo tả-đạo mà tan xác hồn.

Nó làm nhiều phép nhiều môn,
Bùa mê thuốc lú mê hồn chúng-sanh.
Thành binh sái đậu cũng rành,
Nếu tin thời mắc tan tành về sau.

Bây giờ bất luận người nào,
Không dùng của thế sắc màu cũng không.
Nói cho bổn đạo rõ lòng,
Ấy là chơn-chánh mới hòng vinh-vang.

Ðịa-Tiên tài phép đa đoan,
Phi đao bửu kiếm mê-man mắt trần.
Phật truyền thâu hết phép Thần,
Cứu an bá-tánh một lần nạn nguy.

Phiên-binh bốn phía tứ vi,
Kể sao cho xiết chuyện ni sau nầy.
Lớp thì thú ác dẫy-đầy,
Lớp thì tranh đấu tối ngày chẳng thôi.

Kẻ hung chừng đó làm mồi,
Cho bầy ác-thú đền bồi tội xưa.

Bây giờ còn mãi lọc lừa,
Chẳng lo kiếm chỗ đụt mưa sau nầy.

Hiền lành chừng đó sum vầy,
Quân-thần cộng lạc mấy ngày vui chơi.
Ðến đó Ta mới mừng cười,
Nhìn xem Ngọc-Ðế giữa Trời định phân.

Thiên-Hoàng mở cửa Các-Lân,
Ðịa-Hoàng cũng mở mấy từng ngục môn.
Mười cửa xem thấy ghê hồn,
Cho trần coi thử có mà hay không.

Nhơn-Hoàng cũng lấy lẽ công,
Cũng đồng trừng-trị kẻ lòng tà-gian.
Ấy là đến lúc xuê-xang,
Tam-Hoàng trở lại là đời Thượng-Nguơn.


Khuyên dân lòng chớ có sờn,
Rán tu thì được xem đờn trên mây.
Người hung chết đất chật thây,
Nhìn xem bắt thảm ngày rày cho dân.

Mấy người còn được xác thân,
Thì là Ðài-Ngọc Các-Lân mới kề.
Bây giờ kẻ nhún người trề,
Chê ta rằng dại rằng khờ cũng cam.

Dương-trần bỏ bớt tánh tham,
Ðừng chơi cờ-bạc đừng làm ác-gian.
Ðể sau coi Hội coi hàng,
Coi Tiên coi Phật mới ngoan bớ trần.

Ðiếm-đàng đĩ-thõa chớ gần,
Ðể sau xem thấy non Tần xôn-xao.
Tuy nghèo dùng đỡ cháu rau,
Bền lòng niệm Phật thì sau thanh nhàn.

Ðừng quen thói củ làm càn,
Trộm gà cắp vịt xóm làng ghét vơ.
Khi xưa Ta cũng làm thơ,
Mà đời trần-hạ làm ngơ ít nhìn.

Dạy cho trần-thế phỉ tình,
Ðàng Tiên cõi tục phân minh hai đường.
Bây giờ hát bộ là thường,
Ðể sau Phật hát tỏ tường cho xem.


Cải-lương tuồng ấy cũ mèm,
Tốn tiền buồn ngủ lại thèm đồ ăn.
Nhảy lui nhảy tới lăng-xăng,
Làm tuồng mèo mả thêm nhăng cho đời.

Hạ-nguơn lòng dạ đổi dời,
Bây giờ khổ não đến đời là đây.
Rán nghe lời dạy của Thầy,
Ðể chừng đến việc kiếm Thầy khó ra.

Tây-Phương Thầy lại quá xa,
Nên ta mới nói cạn lời dân nghe.
Ðừng ham lên ngựa xuống xe,
Ăn xài phí của lụa the làm gì.

Xuống trần ta dạy cố lỳ,
Cốt cho trần-thế nghe thì mới thôi.
Ngày nay xe lết xe lôi,
Ðúng lời truyền sấm của hồi đời Lê.


Là năm Rồng, Rắn, Ngựa, Dê,
Chúng-sanh thế-giới ê-hề thây phơi.
Trạng-Trình truyền sấm mấy lời,
Ngày nay dân-chúng vậy thời rán tri.

Hiền nhơn bổn phận tu mi,
Hãy mau thức tỉnh kiếm thì huyền-cơ.
Ngọn đèn khi tỏ khi mờ,
Chúng sanh còn đợi còn chờ chuyện chi.

Trên Trời xuất hiện Tử-Vi,
Quang-minh sáng suốt vậy thì dân ôi!
Thương dân khó đứng khôn ngồi,
Xót xa dạ Ngọc bồi-hồi tâm Trung.

Gió dông thì cội cây rung,
Phương xa có giặc thung-dung đặng nào?
Trời tây chúng nó hùng-hào,
Ðem lòng gây-gổ máu đào mới tuôn.

Cầu Trời cho chúng qua truông,
Thế-gian yên-lặng hát tuồng khải-ca.
Tây-Phương tuy ở cõi xa,
Thành tâm thì có Phật mà đáo lai.

Ước mong dân khỏi nạn tai,
Dắt-dìu Tiên-cảnh Bồng-Lai nhiều người.
Xem trần khó nỗi vui cười,
Lo giàu lo lợi chẳng rồi bớ dân.

Mẹ cha là kẻ trọng ân,
Dưỡng nuôi báo hiếu lúc thân yếu già.
Giường linh đơm quảy mới là,
Có chi cúng nấy vậy mà dân ôi!


Ta là thân phận làm tôi,
Phải đền phải đáp cho rồi mới hay.
Mặc ai tranh luận đấu tài,
Khuyên dân nên hãy miệt mài chữ Tu.

Giảng nầy ra cuối mùa thu,
Dạy ăn dạy ở chữ Tu vuông tròn.
Học theo mối đạo làm con,
Luận xem học mới mấy đon đời nầy.

Văn-minh sửa mặt sửa mày,
Áo quần láng mướt ngày rày ăn chơi.
Dọn xem hình vóc lả lơi,
Ra đường ăn nói những lời nguyệt-hoa.

Trong tâm nhớ những điều tà,
Lời ăn tiếng nói thiệt là quá lanh.
Xưng là đầu trẻ tuổi xanh,
Chẳng trau hiền-đức học hành làm chi?

Khôn ngoan thời những chuyện gì,
Cũng là lừa dối vậy thì dân quê.
Người xưa nó lại khinh chê,
Ông cha hủ-bại u-mê hơn mình.

Tự do trai gái kết tình,
Với lo trau sửa cho mình đẹp tươi.
Gái trai đến tuổi đôi mươi,
Chẳng kiêng cha mẹ nói cười lả-lơi.

So hình sửa sắc chiều mơi,
Ðặng làm những chuyện trái đời vô liêm.

Cớ sao chê cổ trọng kim,
Phụ cha phản chúa lỗi niềm tôi con.


Thấy đời trần-hạ thon-von,
Ai nuôi cho lớn mà còn khinh khi.
Ông cha thuở trước ngu si,
Mà ngay mà thật hơn thì đời nay.

Học hay lợi dụng tiền tài,
Lên quan xuống huyện ăn xài lả-lê.
Gặp ai đói rách cười chê,
Miệng kia hễ mở chưởi thề vang rân.

Chẳng lo rèn trí lập thân,
Ðể làm xảo trá khổ thân sau nầy.
Giáo-viên các sở các thầy,
Khuyên mau tỉnh ngộ tập rày lòng nhơn.

Giúp đời đừng đợi trả ơn,
Miễn tròn bổn phận hay hơn bạc vàng.
Ðánh liều Ta cũng nói càn,
Cứu dân bất luận giàu sang khó nghèo.


Vinh-hoa như thể bọt bèo,
Hiền-lương bất luận khó nghèo cũng xinh.
Nhắc năm Gia-Tĩnh triều Minh,
Nàng Kiều vì hiếu bán mình chuộc cha.

Tuy là lưu-lạc bôn-ba,
Ðến khi mãn hạn bạn xưa cũng nhìn.
Ghét ưa ta cũng mặc tình,
Nghiệm kim suy cổ biện minh thế nào.

Bá-gia kẻ thấp người cao,
Hiền thần hiếu nghĩa rán trau cho rồi.
Giảng nầy chỉ các điều tồi,
Khuyên dân hãy rán mà ngồi mà suy.

Thân ta, Ta chẳng tiếc chi,
Miễn cho bá-tánh nạn gì cũng qua.
Luận xem những việc sâu xa,
Chúng-sanh tưởng Phật thì là hãy coi.

Tháng ngày như thể đưa thoi,
Nguyện cầu thế-giới bớt ngòi chiến tranh.
Ngồi buồn dân gặp chiếu manh,
Ta cho bá-tánh bức tranh vô hình.

Ai ai cũng rán xét mình,
Nếu còn tánh xấu thì rinh ra ngoài.
Cạn lời mà ý còn dài,
Hiến cho trần-hạ một bài ngụ-ngôn.

Tới đây Ta giã làng thôn,
Ngọc-Thanh lui gót phi bôn Nam-Kỳ.
Hiền thần sách sử nêu ghi,
Miễu son tạc để tu-mi trung thần.

Thôi thôi cảnh khổ hầu gần,
Ta khuyên dân-chúng ân-cần nhìn xem.
Ra đời dạy-dỗ anh em,
Xem qua ít bận rán đem vào lòng.

Người tu như thể bá-tòng,
Ai ai cũng quí cũng trông cũng nhìn.
Sửa trau là phận của mình,
Xưa nay lời lẽ sử kinh rõ ràng.


Chừng nào ta gặp Hớn-Hoàng,
Chúng-sanh mới hết phàn-nàn số căn.
Mạnh-Tông xưa cũng khóc măng,
Ðất khô nẩy mụt rõ lòng hiếu-nhi.

Mặc ai nhạo-báng khinh-khi,
Phần ta niệm chữ từ-bi độ đời.
Muốn xem được Phật được Trời,
Thì là phải rán nghe lời dạy răn.

Bá-gia cùng các chư tăng,
Việc tu không đợi hương đăng làm gì.
Ðời cùng tu gấp kịp thì,
Ðặng xem báu ngọc ly-kỳ Năm-Non.

Phật thương bổn-đạo như con,
Muốn cho bổn-đạo lòng son ghi lời.
Nữa sau đến việc biết đời,
Bây giờ chưa thấy nó thời không tin.

Tới đây cũng dứt giảng kinh,
Nếu ai biết sửa tâm linh mới mầu.
Nam-mô lòng sở nguyện-cầu,
Chúc cho bá-tánh muôn sầu tiêu tan.


NAM-MÔ A-DI ÐÀ PHẬT
(tam niệm)

Cầu Phật-Tổ, Phật-Thầy, quan Thượng-Ðẳng Ðại-Thần, chư quan Cựu-Thần, chư vị Sơn-Thần, chư vị Năm Non Bảy Núi phổ-độ bá-tánh vạn dân tiêu tai tịnh sự giải-thoát mê-ly.

Categories: Sấm Giảng | Leave a comment

THIÊN LÝ CA

THIÊN LÝ CA

Inbox
x
Vu Nguyen
Dec 26 (1 day ago)

to bcc: me

Em cháu xin gởi tiếp bài “THIÊN LÝ CA”, kèm theo mp3, để quý vị tiện việc tham khảo, tìm hiểu về:

        Thân thế của Đức Ân Sư

        Những sắc lịnh

        Thiên cơ

        Những sự kiện trong thời Hạ Ngươn

        Những điều khuyên sanh chúng

***************

 

1.          Thân thế của Đức Ân Sư:

        … Tiên-cảnh vị-ngôi sẵn dành

        Mượn phần xác thịt tỏ bày thiệt hơn.

        Ẩn xác phàm phu gìn Thích-đạo,

        Người xưa trở gót cho gần người nay

        Bữa xưa giảng-kệ một nang…, Ngày nay ta cũng nôm-na

        Thiên ý… truyền đạo lý…, dạy tận tường… đường chơn nẽo chánh

        Thuyền Bát Nhã… cứu dẫn khách trần

 

2.          Những sắc lịnh:

        Muôn thu thiên định nhứt kỳ, Hạ-nguơn sắc-lịnh khai kỳ Long-hoa.

        Long-Hoa hội ân-cần lo lập, Lập cho rồi tam-thập-lục nhơn.

        Lão đây vưng lịnh Phật-tôn…, Lãnh cân thưởng phạt

        Qui tam lập hội…, lập Nhơn-Hoàng

        Dựng cột đồng nhà Nam…, một cội thành ba…, hiệp một đàng.

        Trong tam giáo ân-cần mở Đạo, Trường ngoại bang phục đáo như xưa.

 

3.          Thiên cơ:

        Đến ThânDậu Thánh-Thần náo động,

        Cuối niên ThânDậu mất còn sẽ phân.

        Đến ThânDậu cơ trời thấy lộ, Hết đao binh qui cổ diệt kim.

        Cuối ThânDậu y như Thượng-cổ,

        Phật, Thánh, Tiên kềm chế lập thành…, Diệt tà lập chánhđành-rành,

        Đế-Vương xuất thế là ngày, Dậu, Thân bình-trị trong ngoài âu ca.

        Minh-Vương xuất thế mới an dân lành.

        Chừng nào mới đặng thảnh-thơi, Qua năm TuấtHợi Phật Trời định phân.

 

4.          Những sự kiện trong thời Hạ Ngươn:

        Quỉ ma hay phá rối người tu

        Tam thiên lục bá khắp tràng hại dân…, Nạn tai dồn-dập

        Thất-Sơn dấy loạn là cơn hiểm-nghèo.

        Thất-sơn lộ vẽ đài lầu,

        Chư nhu thế-giới khắp tràng tới thi.

        Bị ham của báu ly-kỳ máu rơi.

 

5.          Những điều khuyên sanh chúng:

        Diệt tâm trần…, bớt giận đừng gây

        Dẹp lợi-danh…, Tìm trong lánh đục…,

        Quan trường rời dứt…, Lui chơn ra khỏi cho mau

        Trở chơn cho kịp Long-Hoa

        Gắng chí sớm trưa…, trau-trỉa chữ lành…,  

        Tâm tánh thật-thà…, Hiền thần hiếu nghĩa

        Đền nợ thế…, tưởng giống-dòng

        Cắm sào trì chí…, đắng cay rán chịu

        Chữ nhu rán tầm…, ẩn-nhẫn đợi thời

        Trên hòa dưới thuận…,  đừng rẽ đừng chia

        Chữ tu để dạ…, Sửa tâm lành

        Học câu hỉ-xả đại từ…, Tứ mục-điều…, Câu bát-chánh

 

***************

 

THIÊN LÝ CA

(310 câu)

 

PHAN lòng chữ dạ chớ hoài lo,
NGỌC ẩn non Côn tợ lửa lò.
CHÂU lạc đường 
 nương bước ngựa
,
Núi truông qua đặng rán lần dò.

Vườn hoa ngó khỉ giọng chiu-chít,
Cảnh nguyệt coi 
 tiếng ó-o.
Tường-tận đã nghe xê cống liếu,
Hương thôn bỏ xế xự xang hò.

Đoc ngược lại bốn câu trên (tứ nguyệt nghịch độc)

Hò xang xự xế bỏ thôn hương,
Liếu cống xê nghe đã tận tường.
O-o tiếng gà coi nguyệt cảnh,
Chít-chiu giọng khỉ ngó hoa vườn.

 

Quỉ ma hay phá rối người tu,
Đạo-đức chư nhu 
rán chí hành
.
Chớ bỏ lời thề nơi Phật cảnh,
Chớ quên tiếng nguyện chốn non xanh.

 

Đêm thanh vắng tiếng đờn khoan-nhặt,
Nghe cho tường giọng bắc hòa nam.
Thích-Ca
 còn phế tước-hàm,
Đài cao cửa rộng mà ham tu hành.

Hiền đệ Châu muốn nghe lời ngọc,
Lão tỏ bày hình vóc nhiệm-sâu.

 

(Câu nầy của Đức Thầy thêm. Đoạn sau đây có khúc của ông đò, có khúc của Đức Thầy viết xen kẽ).

 

Thiên ý không riêng mối đạo mầu,
Rằng 
truyền yếu-lý
 nhiệm cao sâu.
Chuyển miền Nam-Địa càng thâm-diệu,
Lọc lẽ tà tâm sự đứng đầu.

 

Nguồn bạch thủy trong veo thấy dạng,
Lẽ nhiệm mầu chưa hản trò ôi!
Đêm ngày buồn-bã vô hồi,
Kìa trên 
Tiên-cảnh
 vị-ngôi sẵn dành.

Đạo rải khắp năm canh tỏa bút,
Dạy tận-tường
 chẳng chút nào sai.
Cổ nhơn tích để phân bày,
Đường chơn nẻo chánh
 âu ai rán tầm.

Thuyền bát-nhã chí tâm trực thẳng,
Thả ra khơi 
cứu dẫn khách trần
.
Phù-sanh lắm cuộc lao thân,
Ngày đêm ta-thán muôn phần đớn-đau.

Trông đợi người tài cao đức trọng,
Hầu rõ thông thiên-võng lẽ nao.
Chí tâm tường lãm thấp cao,
Dạy cho rõ biết Thiên-Tào nơi đâu.

Ngồi nghĩ cạn thêm sầu cho thế,
Bởi ít ai cải chế đường tà.
Sợ e nhiễm trược đọa sa,
Sợ cho lắm kẻ chan hòa lụy tuôn.

Sợ nhiều kẻ dạ buồn đổi chí,
Quên những câu chánh kỷ hóa nhơn.
Mảng lo tìm kiếm tước quờn,
Thất kỳ vọng tưởng lánh chơn đường lành.

Trong buổi khổ mau mau tránh khổ,
Rán tầm vào đến chổ an cư.
Học câu 
hỉ-xả đại từ
,
Nêu gương nghĩa sĩ dạ tư chớ gần.

Câu bát-chánh rán mài chạm dạ,
Tứ mục-điều
 người khá hành y.
Muôn thu thiên định nhứt kỳ,
Hạ-nguơn sắc-lịnh 
khai kỳ Long-hoa
.

Rán vẹt phá sương mù trước mắt,
Chớ để cho quỉ dắt linh hồn.
Lão
 đây vưng lịnh Phật-tôn,
Lãnh cân 
thưởng phạt
 chư môn dữ lành.

Khá chí tâm học hành kinh sám,
Thoát nơi miền hắc-ám phong-ba.
Trở chơn cho kịp 
Long-Hoa
,
Long-Hoa
 có mặt ấy là hiền nhơn.

Đền nợ thế nghĩa-ơn trọn vẹn,
Lấy tinh-thần hiệp vén ngút-mây.
Chớ nên bắt-bẻ Phật-Thầy,
Ngày sau phải chịu đọa đày chớ than.

 

Cuối năm Thìn sẽ lo vẫn chuyển,
Xứ “
Hà tiên
” linh hiển cơ-quan.
Nhơn sanh sẽ 
hiệp một đàng
.
Hết Thìn rồi 
lập Nhơn-Hoàng
 hội ra.

Khuyên sanh-chúng gần xa phân cạn,
Dựng Nhơn-Hoàng
 cho rạng Á-Đông.
Chúng-sanh phải tưởng 
giống-dòng
,
Hiệp tâm hiệp trí 
cột đồng nhà Nam
.

Phật chỉ dạy qui tam lập hội,
Dựng cho rồi 
một cội thành ba
.
Chớ mong yến thử ẩm hà,
Mười ngàn năm lẻ cửa nhà đâu con.

Ta nhắc lại héo von cho trẻ,
Cứ đâu lưng 
đừng rẽ đừng chia
.
Cả 
kêu lớn nhỏ
 quày vìa,
Trên 
hòa dưới thuận
 chớ lìa chớ phân.

Long-Hoa hội ân-cần lo lập,
Lập cho rồi 
tam-thập-lục nhơn
.
Lôi-Âm giục khởi tiếng đờn,
Thất-Sơn dấy loạn
 là cơn hiểm-nghèo.

Nơi phía trước cheo leo tiếng khóc,
Đứng 
sau lưng
 hình-vóc dảy chưn.
Nước kia lửa nọ tưng bừng,
Thảm cho thế sự lẫy-lừng nạn tai.

Thời cũng tại không ai tu niệm,
Cứ lẳng-lơ ngạo biếm khoe-khoang.
Đến nay là buổi tai nàn,
Tam thiên lục bá 
khắp tràng hại dân.

Đến ThânDậu Thánh-Thần náo động,
Thảm cho trần nhà trống ruộng hoang.
Tiếng than lụy ngọc nhỏ tràn,
Nạn tai dồn-dập
 xóm làng còn chi.

Khuyên sanh-chúng rán ghi mối Đạo,
Lòng hằng lo ngay thảo nghe con.
Tương dưa giữ phận cho tròn,
Cuối niên 
ThânDậu
 mất còn sẽ phân.

Trong một giáp ân-cần suy tính,
Muốn làm hiền 
rán nhịn
 đừng than.
Đến nay gần buổi khoa tràng,
Minh-quân
 xuất thế khắp tràng thảnh-thơi.

Đến ThânDậu cơ trời thấy lộ,
Hết đao binh 
qui cổ diệt kim
.
Gia vô bế hộ im-lìm,
Lập thành mối Đạo
 rõ điềm xưa kia.

Thì dân-chúng danh bia hậu thế,
Phật, Thánh, Tiên
 kềm chế lập thành.
Diệt tà 
lập chánh
 đành-rành,
Ba mầu nắm chặt Nam-thành xử phân.

Trong tam giáo ân-cần mở Đạo,
Trường ngoại bang phục đáo như xưa.
Phật Tiên
 vận chuyển lọc-lừa,
Chúng-sanh rán nhớ muối dưa hội nầy.

Trên cùng dưới sum vầy một buổi,
Dựng 
mười hai
 may rủi mới hay.
Làm cho rõ mặt râu mày,
Thương-nguơn hồi phục là ngày an cư.


Cuối 
ThânDậu
 y như Thượng-cổ,
Thời nhơn sanh hết khổ đến may.
Đế-Vương
 xuất thế là ngày,
Dậu, Thân 
bình-trị
 trong ngoài âu ca.

Phân chỉ rành gần xa để dạ,
Chớ đảo-điên
 phải đọa phải sa.
Nghĩ suy cho thấu mới là,
Một bầy Hồng-Lạc nay đà thảnh-thơi.

Khuyên sanh-chúng nhớ lời ta tỏ,
Trước cùng sau 
chỉ rõ mối đàng
.
Nhơn-sanh giữ phận chớ than,
Minh-Vương xuất thế mới an dân lành.

 

           *****

Gội ơn Trời độ khỏi sai lầm,
Xin giúp chí bền, chí dục tâm.
Hộ mạng thần Quan-Âm trợ lực,
Nguyện thân ý nhiệm xứng công thần.

 

Từ-bi Trời Phật độ quần sanh,
Cứu khỏi tai ương vạn sự lành.
Đệ-tử gội nhuần ân đức cả,
Chung thân quyết chí dốc làm lành.

 

*****

Đoạn dưới đây là hoàn toàn của Đức Thầy (chép theo bổn chánh).

 

Buồn vơi mượn bút tay đề,
Đã rời trần-thế
 dựa kề Tiên-bang.
Tay chèo miệng nói lang-mang,
Chúng-sanh cách trở nghèo nàn hỡi ai.

Lục châu ta dạo bằng nay,
Thấy trong lê-thứ quá dài gian-nan.
Động tình 
tá quốc an bang
,
Nước nhà vững đặt Nam-đàng hiển-vinh.

Bây giờ ta mượn kệ kinh,
Khuyên ai 
mau kíp sửa mình
 cho an.
Bữa xưa
 giảng-kệ một nang,
Bởi vì ta mắc dời thoàn cảnh xa.

Ngày nay ta cũng nôm-na,
Gẫm trong lê-thứ hằng-hà lụy rơi.
Chừng nào
 mới đặng thảnh-thơi,
Qua năm 
TuấtHợi
 Phật Trời định phân.

Chim Ô đà dựa cầu Ngân,
Người xưa trở gót
 cho gần người nay.
Người nay rồi vẹn thảo ngay,
Thì là thấy tạn mặt mày người xưa.

Nguyện cầu gắng chí sớm trưa,
Cầu cho bá-tánh
 sớm ưa tu hành.
Đầu đuôi ta 
tỏ ngọn ngành
,
Mau mau 
trau-trỉa chữ lành
 cho xong.

Đến chừng lập hội mới mong,
Trở vể chúa cũ mới hòng xuê-xang.
Người hiền
 như thể cỏ lan,
Người hung
 chết rất chật đàng thảm thay.

Cả kêu kìa hỡi là ai,
Quan trường 
rời dứt
 mặt mày chùi lau.
Lui chơn
 ra khỏi cho mau,
Tìm trong lánh đục tẩu đào mới ngoan.

Theo ta đến chốn Tiên-bang,
Đặng coi các nước hội hàng Năm-Non.

Đạo Phật vốn ngàn xưa rạng tỏ,
Nay lu-lờ bị mõ cùng chuông,
Thấy chúng-sanh đắp Phật bán buôn,
Mà tội lỗi ngàn muôn lao-lý.

Cho đó hiểu nhiều câu huyền-bí,
Rán nghĩ suy 
bền chí
 mới mầu.
Dẹp lợi-danh dẹp
 hết mộng sầu,
Đặng trở lợi với cha cùng chúa.

Nếu chẳng lo cũng như lá úa,
Lá úa vàng nó rụng người ôi!
Ngàn năm 
mới có một đời
,
Tới chừng 
lập hội
 Phật-Trời xử phân.

Ai muốn gần bệ ngọc các lân,
Thì phải rán 
lập thân nuôi chí
.
Ta cho đó ít câu hữu lý,
Diệt tâm trần
 lập chí hiền-nhơn.

Đục trong đà tỏ nguồn cơn,
Lời ta khuyên đó như đờn Bá-Nha.
Mặc ai biếm nhẻ gần xa,
Lòng ta ta biết ai mà mặc ai.

Đây khuyên đó đắng cay rán chịu,
Mặc người trên bận-bịu chẳng phê.
Muốn cho thân vượt khỏi lề,
Cắm sào trì chí
 một bề lo tu.

Kim ngọc nan tri tường đông hải,
Phật tà phàm tục tất nan tri.
Ẩn xác
 phàm phu gìn Thích-đạo,
Mặc tình thế sự chúng khinh-khi.

Mấy kẻ tu mi tròn nhơn đạo,
Hiền nhơn 
thức tỉnh
 kiến huyền-vi.
Ngay thẳng 
hiếu trung
 trang hiền thảo,
Kim thời bá-tánh gọi ngu-si.

Nợ thế đền xong mong giai lão,
Hiền thần hiếu
 nghĩa đáng nên ghi.
Lâm sầu mộng ở trong trần thế,
Việc tu hành như ế chợ đông.

Mãng lo danh lợi não-nồng,
Chữ tu để dạ
 chớ hòng lợt phai.
Mặc tình ai gièm-pha tai tiếng,
Sửa 
tâm lành
 như miếng hoa thơm.

Đến chừng hoa nở nhụy đơm,
Thì là trần-thế mới hờm bẻ hoa.
Câu 
đạo-lý thiệt tường thiệt tận
,
Khuyên dương-trần 
bớt giận đừng gây
.

Kia kia súng nổ trời Tây,
Đến năm 
ThânDậu
 tai đầy sấm vang.
Hung-đồ với lũ dọc ngang,
Đến sau rơi máu khắp tràng mới tu.

Thấy đạo-lý còn lu chưa tỏ,
Dân ganh hiền ghét ngõ làm chi?
Buồn đời
 xuống bút làm thi,
Thương dân
 chịu chữ cố lỳ dạy dân.

Nào nào dân có biết ân,
Mạnh rồi tưởng Phật vái Thần làm chi.
Lời châu ngọc khuyên ai để dạ,
Nay gặp người quái lạ tỏ phân.

Hãy mau khuya sớm chuyên cần,
Đặng xem chư-quốc non Tần giành chia.
Nay nhằm lúc đêm khuya lặng-lẽ,
Nhắn ít lời cho kẻ đàng xa.

Phật-nhi tâm tánh thật-thà,
Ông còn phân biệt chánh tà nữa thôi?
Dương-trần thường bạc như vôi,
Gặp cơn bát loạn mới hồi tâm hung.

Lúc áo-não cội thung lo-liệu,
Gắng bền lòng bận-bịu vì ai.

Thất-sơn lộ vẽ đài lầu,
Chừng ni mới thấy nhiệm mầu của ta.

Khuyên bổn-đạo gần xa nuôi chí,
Lẽ 
nhiệm-mầu huyền-bí
 nơi đây.
Bây giờ 
nương bóng cờ tây
,
Mượn phần xác thịt
 tỏ bày thiệt hơn.

Thương sanh-chúng đòi cơn dạ ngọc,
Ta quyết 
gìn chủng-tộc giang-sơn
.
Ta khùng mà chẳng có cơn,
Cũng không có tánh giận hờn bá gia.

Cười rồi khóc thiết-tha liệu-điệu,
Vợ xa chồng bận-bịu thê lương.
Chẳng cần 
trà, quả, nồng hương
,
Miễn cho bá-tánh 
biết đường chơn tu.

 

Nghe kệ sám như ru giấc mộng,
Lo chê cười hầu họng reo vang.
Ỷ mình nhiều của giàu sang,
Phụ khinh tông-tổ chẳng màng người xưa.

Mặc ý ai ghét ưa ưa ghét,
Lấy tâm thần
 xem xét thể nao?
Sấm vang thì lộ bảng vàng,
Chư nhu thế-giới
 khắp tràng tới thi.

Chữ thi gần chữ sầu-bi,
Bị ham của báu
 ly-kỳ máu rơi.
Chừng đó mới trời ơi đất hỡi,
Mang khổ hình vì bởi chẳng tu.

Ham vui quyền quí dại ngu,
Chữ sang danh vọng như mù đi đêm.
Ta nào có nói thêm cho chúng,
Quá yêu đời viết túng ít câu.

Ít câu mà ý nhiệm sâu,
Nghĩ suy cho cạn
 mới hầu khôn-ngoan.
Đây sắp đến lầm than khắp chốn,
Việc tu hành đâu tốn tiền chi.

Nầy nầy lời lẽ rán ghi,
Sau đây sẽ thấy việc gì trên mây.
Ta mắc lánh tà-tây đa sự,
Làm Điên-Khùng cũng tự lẽ ni.

Ai là đáng bực tu-mi,
Thương đời ta mới làm thi khuyên đời.
Còn 
ẩn-nhẫn đợi thời
 đưa đến,
Nên phải làm kẻ mến người khinh.

Người hiền tâm trí thông-minh,
Người hung cứ mãi chống kình
 với ta.
Theo học cổ nôm-na ít tiếng,
Làm nhiều điều xao-xuyến nhơn tâm.

Chữ nhu ta học âm-thầm,
Ai là người trí 
rán tầm
 cho ra.
Để đến lúc phong-ba biến-chuyển,
Cảnh hồng-trần tợ biển mênh-mông.

Mới là sợ chết ước-mong,
Mà không ai cứu bởi lòng ác-gian.
Tiếng đờn hò liếu cống-xang,
Đêm khuya khuyên-nhủ khắp tràng chúng-sanh.

Chốn Phật-cảnh vắng tanh kẻ tới,
Ta ra đời 
nên mới đổi thay.
Bởi vì 
lời lẽ thẳng ngay
,
Cho nên chúng nó ghét bài phú thi.

Thấy tăng-chúng sầu bi dạ mỗ,
Kệ khuyên trần nước đổ lá môn.
Khắp cùng làng xóm hương thôn,
Vì khôn quá thế
 nên tồn lại ngu.

Dạy đạo-đức người tu rạng lý,
Mong cho 
người hữu chí
 làm theo.
Không làm thì ắt mang eo,
Làm xong 
vượt khổ qua đèo chông-gai.

 

H.H. tháng 7 năm Kỷ-Mão

 

 


3 Attachments

8a- THIÊN LÝ CA – Microsoft Word.doc
8b- THIEN LY CA – pdf.pdf
8c- THIÊN LÝ CA – mp3.mp3
Not virus scanned
Categories: Sấm Giảng | Leave a comment

DIỆU-PHÁP QUANG-MINH

DIỆU-PHÁP QUANG-MINH

(Khùng Điên tự cảm tác)

(244 câu)

Gươm trí-huệ từ-bi chớp nhoáng,

Bóng quang-âm ngày tháng dập-dồn.

Ta thừa vưng sắc lịnh Thế-Tôn,

Khắp hạ-giái truyền khai đạo-pháp.

Tùy phong-hóa dân-sanh phù-hạp,

Chấp bút thần tả ít bổn kinh.

Bởi luật trời mở rộng thinh-thinh,

Tri phong-võ bất kỳ chuyển kiếp.

Giống Hồng-Lạc kim chi ngọc diệp,

Nay đổi dời nhiều sự thấp hèn.

Từ ngàn xưa Phật-pháp gài then,

Nên ít kẻ tu hành đắc Đạo.

Ta cũng tỏ đôi lời khờ khạo,

Ngắm cảnh đời tâm não bắt cuồng.

Hiệu Điên Khùng ban rải dư muôn,

Khùng đạo-đức Khùng câu tuyệt-diệu.

Khùng toán biết âm-dương kết-liễu,

Khùng huyền-cơ Khùng Đạo Thích-Ca.

Hươi bút thần dẹp lũ cáo-xà,

Loài độc-địa toan trừ dứt nọc.

Noi tục cổ xác Khùng để tóc,

Phải đua chen tập tánh ông cha.

Mong dương-trần tỉnh giấc Nam-Kha,

Trừ vật-dục trì chơn bất hoại.

Cặp mắt Thánh dòm xem tứ hải,

Thương hồng-trần mượn xác tái sanh.

Bởi vì đời văn-vật cạnh-tranh,

Nên cấu xé cùng nhau thảm-não.

Sá chi kẻ ngu si khinh-ngạo,

Vì trên đời nhiều hạng khác nhau.

Đấng trung-thần dạ ngọc ước-ao,

Người bội phản ghét-vơ đạo-lý.

Khùng cảm mến truyền câu hồi vị,

Thà làm hiền mà biết non sông.

Điên như ta Điên giống Tiên Rồng,

Điên gở ách xích-xiềng thế tục.

Chuông Linh-khứu ba hồi giục-thúc,

Đờn Lôi-âm khởi điệu êm tai.

Con lành duyên khá trở gót hài,

Điên quyết chí dắt người lánh tục.

Đạo mở cửa bày câu minh mục,

Nước ma-ha tưới tắt lòng phàm.

Cõi Trung-Ương luân chuyển phương Nam,

Mở hội Thánh chọn người trung hiếu.

Tử vì nước còn ghi linh miếu, (1)

Thác vì đời thanh-sử danh bia.

Mũ cánh chuồn, đai giáp, mang hia,

Tuy thô-kịch mà tâm chánh-trực.

Nước văn-minh chê đồ ấy nực,

Mảng trau-tria xác thịt thanh bai.

Cảnh dương-trần khó sánh Bồng-Lai,

Về Tiên cảnh say mùi rượu Thánh.

Chén quỳnh tương gác đều gai ngạnh,

Vui tinh-thần bày biện cuộc cờ.

Khi thừa nhàn trổi giọng ngâm thơ,

Bày thi phú than qua thời thế.

Xuống dương-gian thân Điên nào nệ,

Chốn hồng trần đuốc huệ liền khai.

Cho nam-nhi sửa mặt râu mày,

Hàng phụ-nữ giồi câu trinh-liệt.

Rán bắt chước những trang tuấn-kiệt,

Gái anh hùng xưa có Trưng-Vương.

Đuổi quân Tàu cứu vớt quê-hương,(1)

Rửa xong hận thù chồng dốc trả.

Xưa Châu-Xáng thanh long phải tá,

Ngăn Sư-Đồ đặng cứu Ngũ-Viên.

Nói cho đời rõ biết Khùng Điên,

Điên vận bĩ điên câu ái quốc.

Viết một ngọn lưỡi nầy một tấc,

Đem Đạo lành ban rải nơi nơi.

Mảng chờ trông bá tánh thảnh-thơi,

Khắp bốn biển liên dây hòa-hảo.

Rừng bác-ái điên đời biến ảo,

Điên như ta vì Đạo vì dân.

Điên tu cầu Quân thánh rải ân,

Cho bốn biển dân lành được hưởng.

Điên dẹp gác âm thinh sắc tướng,

Tầm vô vi kiếm cảnh Niết-Bàn.

Thuyền từ-bi thẳng cánh lướt sang,

Qua Đông-độ vớt người hữu đức.

Bể ái hà gươm linh sớm dứt,

Lòng bồ-đề sắt đá dám kình.

Cả tiếng kêu lớn nhỏ đệ-huynh,

Noi chí ấy sửa-sang thời-thế.

Trời quá buổi chinh chinh vừa xế,

Chờ ít lâu cũng lặn về Tây.

Lúc huỳnh-hôn đèn trí soi đầy,

Tìm nẻo thẳng đi về Cực-Lạc.

Điên đàm luận ít câu dốt nát,

Mong chị anh bàn-bạc thể-nào?

Lời văn thô ý-kiến chẳng cao,

Nội quang-cảnh tâm vô kỳ vật.

Đường đạo-đức bước đi từ nấc,

Ngoại quan hình bất chấp kỳ hình.

Phải bền lòng chặt nẻo sắt đinh,

Rán kiếm chữ bất sanh bất diệt.

Chúng-sanh mê nên đem pháp thuyết,

Giải thoát rồi pháp bất khả dùng.

Nương gia-đình kính trọng cội thung,

Lo nưng đỡ trong ngày tuổi hạc.

Thân Điên Khùng thế-gian tạm xác,

Chén rượu nồng chẳng nếm mà say.

Say lê-mê lết-mết tối ngày,

Say đạo pháp say mùi hương khói.

Biết chừng nào chúng-sanh vượt khỏi,

Bể ái hà rứt bỏ vẹn lau.

Say như xưa nhằm lúc Huỳnh-Bào,

Trần-Di ngủ say câu thành tựu.

Quyết đưa chúng về nơi non Thứu,

Tạo Lư-bồng ngõ hội quần Tiên.

Khương Tử-Nha sông Vị còn phiền,

Câu không ngạnh chờ non phụng gáy.

Thuyền bát-nhã ta cầm tay lái,

Quyết đưa người khỏi bến sông mê.

Nên phải đành mang lốt làm hề,

Mặc bá tánh khen chê cũng phải.

Chí quân-tử lòng nhơn vạn đại,

Dốc làm sao rõ mặt tang bồng.

Nghiên hai vai gánh nặng non sông,

Vớt trăm họ lầm than bể khổ.

Ví như loại sanh cầm hồ thố,

Còn thương nhau lại huống chi người.

Đứa hai lòng sao chẳng hổ ngươi,

Đáng thùa-thẹn với cây cùng cỏ.

Dấu bút tích tuông bay theo gió,

Học sách chi phỉ báng ông cha.

Thấy dân tình xem giảng ngâm nga,

Lão xót dạ đôi lời trần tố.

Đức Khổng-Thánh người sanh nước Lỗ,

Ngài còn xưng cuồng quyến giả hồ.

Sá chi lời đạo-chích tục thô,

Kẻ ngu xuẫn khi người nhân đức.

Danh hiền-sĩ non sông náo-nức,

Giả như hồi Chiến-Quốc Xuân-Thu.

Thầy Mạnh ra dùng đạo châu du,

Lúc thập bát chư hầu rối loạn.

Bực Thánh-nhơn công lao chẳng chán,

Huống chi ta nào dám than-van.

Thấy đời mê chưa rõ Phật-đàng,

Nên tỏ ý khắp nơi đặng biết.

Coi ai có chứa bầu nhiệt huyết,

Dùng đạo mầu cứu vớt sanh-linh.

Nếu để chờ sấm nổ vang thinh,

E bá tánh ăn-năn đã muộn.

Giảng với kệ ra đà bốn cuốn,

Ít có người khám rõ cơ huyền.

Ta dừng tay chờ đợi lịnh Thiên,

Đức Ngọc-Đế xử phân cho chúng.

Đêm dài-dặn cạn dầu tim lụn,

Chẳng thấy ai tìm kiếm bóng trăng.

Để làm cho mích bụng chị Hằng,

Nơi cung nguyệt chờ trông mõn dạ.

Thiếu chi kẻ đặng chim bẻ ná,

Hiếm bao người đặng cá quên nôm.

Ưa đồ ngon đút nhét đầy mồm,

Chăng thèm kể cha hiền trông đợi.

Trương-Ban-Xương đành quên nhơn-ngỡi,

Nỡ phụ-phàng vua Tống-Khâm-Tôn.

Xem truyện xưa mà bắt hết hồn,

Gớm cho kẻ thay lòng đổi dạ.

Gã Tần-Cối ít ai còn lạ,

Dụng mưu thần giết thác Nhạc-Phi.

Thương trung thần ghét nịnh mặt lỳ,

Dám thiết kế hại tôi lương-đống.

Thuở Hiến-Đế có nhà họ Đổng,

Cũng chuyên quyền muốn tiếm giang-san.

Nhờ Tư-Đồ thiết lập Liên-hoàn,

Nghiệp nhà Hớn mới an một lúc,

Cảnh gian nan như Lưu-Hoàng-Thúc,

Qua ở nhờ Viên-Thiệu dung thân.

Quan-Công Hầu gìn chặt nghĩa ân,

Vượt năm ải về thăm huynh trưởng.

Kẻ nghỉa khí thiên kim vạn lượng,

Lũ nịnh-thần sách-sử nào khen.

Xem tích xưa thẹn với bóng đèn,

Đời lắm kẻ đầu trâu mặt ngựa.

Coi sự sống như Tiên nưa nửa,

Mê mồi thơm như cá lục-châu.

Sao chẳng lo thức tỉnh quày đầu,

Cho khỏi thẹn với người thiên-cổ.

Cấp-cô-Độc là nhà bá hộ,

Còn đành lòng bố thí xã thân.

Chữ vinh-hoa phú-quí chẳng cần,

Miễn hiểu đạo hơn là châu báu.

Chẳng sớm lo chần-chờ sợ Lão,

E sau nầy tâm não đoạn trường.

Lũ gian-hùng mang lấy họa-ương,

Trời đất xử những người bội phản.

Phải chỗi dậy nương dày hùng-tráng,

Chữ đại hùng đại lực từ-bi.

Vậy mới trang quân-tử nam-nhi,

Thân dốc vẹn hai câu ngay thảo.

Đời cũng lắm bao người giá áo,

Nương bả vinh nhiều hạng túi cơm.

Thấy dân ngu trong dạ sẵn hờm,

Quyết kiếm thế đặng toan lừa dối.

Ngọn bút sắt chỉ đường người tối,

Gậy kim-cang đưa chúng lên đàng.

Kíp nương theo trực chỉ Tây-phang,

Đến cực-lạc tìm nơi an dưỡng.

Dẹp cầy cáo dùng cây thiền-trượng,

Lánh ta bà cõi thế đua chen.

Được vinh-hoa khinh-bỉ kẻ hèn,

Bạn phản bạn như ngươi Bùi-Kiệm.

Trên mặt đất hạng người ấy hiếm,

Thấy Tiên mù xô xuống giữa dòng.

Nhìn Trịnh-Hâm lão bắt mủi lòng,

Than cặn-kẽ kêu dân sớm tỉnh.

Viết ít câu cho đời ngâm vịnh,

Phận tài sơ xin hãy thứ tha.

Yêu nhơn-sanh trổi giọng hùng ca,

Tạm nghiêng bút vẽ tranh thế tạo.

Trong bá tánh nhìn xem châu đáo,

Chớ vội vàng chê Lão ngu-si.

Rạch lang tâm những đứa vô nghì,

Nhắc sơ tích người xưa trong sử.

Khuyên bá-tánh vạn-dân gìn-giữ,

Lão chúc cầu thiên-hạ thái-bình.

Đứng trung cang hành thiện truy kinh,

Mong trên dưới cùng nhau thảo-thuận.

Đã thấy lộ cơ trời báo ứng,

Diệt loài gian tầm kiếm con Tiên.

Nợ hồng-trần túc trái tiền khiên,

Ta quyết dẹp cứu nàn dương thế,

Noi chí đức Hoàng Thang luật chế,

Đời không hay những việc xa vời.

Gặp cơn mưa ta hãy cho tơi,

Lúc hạn nắng từ-bi giúp nón.

Cảnh thế tạo càng ngày thỏn-mỏn,

Giống vi-trùng thường đục phổi tim.

Đến cơn đau phương thuốc phải tìm,

Gặp Biến-Thuốc, Hoa-Đà lai thế.

Kim với cổ nhìn xem thế-hệ,

Sợ có ngày hoạch tội ư thiên.

Nẻo đục trong cạn tỏ cơ-huyền,

Mực đã cạn lòng yêu chẳng mãn.

Ai coi qua xin đừng bỏ lảng,

Gắng công-trình vạch lá tìm sâu.

Nay dương-trần gặp buổi mưa ngâu,

Phải sớm hứng giọt sương Đông-hạ.

Điên nhơn-nghĩa điên vì đạo cả,

Thôi chào đời khép cửa buồn duyên.

Có thiện-căn sớm lại cửa thiền,

Câu niệm Phật chờ ngày chung cuộc.

Nam-mô Định-Tâm Vương Bồ-Tát Ma-Ha Tát.

Hòa-Hảo, ngày 10-4 năm Canh-Thìn

Categories: Sấm Giảng | Leave a comment

Quyển V-Lời Khuyến Thiện

Quyển V-Lời Khuyến Thiện

Inbox
x
Vu Nguyen
Dec 6

to bcc: me
Em cháu xin gởi tiếp quyển 5, mong quý vị hoan hỉ đón nhận.
Vũ Nguyễn
*****************************************************

Quyển V

Lời Khuyến Thiện

Của Ông Vô Danh Cư Sĩ

(776 câu)

Băng tâm ngẫu hứng thừa nhàn,
Theo đòi nghiên-bút luận bàn Tục, Tiên.
Ta là cư-sĩ canh điền,
Lo nghề cày cuốc cũng chuyên tu hành.


Xa nơi tranh-đấu lợi danh,
Giữ lòng thanh-tịnh tánh lành trau-tria.
Gắng công trì niệm sớm khuya,
Thân tuy còn tục tâm lìa cõi mê.

Chí toan gieo giống Bồ-Ðề,
Kiếm người lương thiện dắt về Tây-Phang.
Dạy khuyên những kẻ ngỗ-ngang,
Biết câu Lục-tự gìn đàng Tứ-ân.

Ở trần xử trọn nghĩa-nhân,
Quyết làm tôi Phật gởi thân Liên-Ðài.
Cầu cho mối Ðạo hoằng-khai,
Cầu cho trăm họ Bồng-Lai được gần.

Sớm về cõi Phật an-thân,
Kẻo kiếp phong-trần dày gió dạn sương.
Phật-đài phưởng-phất mùi hương,
Cúi đầu đảnh lễ cậy nương đức mầu.

Từ-bi oai lực nhiệm sâu,
Ðộ con thoát chốn ưu-sầu trần-ai.
Nam-Mô Thích-Ca Như-Lai,
Ta-Bà Giáo-Chủ xin Ngài chứng-minh.


Dưới đây lược tả sách kinh,
Cho trong nam nữ hữu tình thì coi.
Lời lành của Phật truyền roi,
Ðọc qua suy nghiệm xét soi chánh tà.


 

THI

Tiếng kệ từ-bi quá diệu-trầm,
Diệt lòng tham vọng diệt thinh-âm.
Trần-gian say-đắm theo màu-sắc,
Tịnh-độ giác-thuyền trị dục-tâm.

Phải rõ nghiệp-duyên trần cấu tạo,
Nghe rành chánh-pháp thoát tà-dâm.
Phù-sanh nhược mộng đời lao khổ,
Tỉnh trí tu thân khỏi lạc lầm.

Hào-quang chư Phật rọi mười phương,
Ðạo pháp xem qua chớ gọi thường.
Chuyên-chú nghỉ suy từ nét dấu,
Cố công gìn giữ tánh thuần-lương.

Lòng quảng ái xót thương nhân chủng,
Buổi lố-lăng Phật-Giáo suy đồi.
Kẻ tu hành ai nở yên ngồi,
Mà sớm kệ chiều kinh thong thả.

Mình đã gặp con thuyền Bát-Nhã,
Có lý nào ích-kỷ tu thân?
Phật-Tổ xưa còn ở nơi trần,
Ngài gắng sức ra công hoằng-hóa.

Nền Ðại-Ðạo lưu thông khắp cả,
Bực tiên hiền đều trọng Phật-gia.
Rèn dân bằng giáo-thuyết bình-hòa,
Giống bác-ái gieo sâu vô tận.

Sau nhằm buổi phong-trào tân-tấn,
Ðua chen theo vật-chất văn-minh.
Nên ít người khảo xét kệ-kinh,
Ðược dắt chúng hữu-tình thoát khổ.


Thêm còn bị lắm phen giông-tố,
Lời tà-sư ngoại-đạo gieo vào.
Cho nhơn-sanh trong dạ núng-nao,
Chẳng gìn chặt gương xưa mạnh mẽ.

Dùng thế-lực dùng nhiều mánh-khóe,
Cám dỗ người đặng có khiến sai.
Chúng nằm không hưởng của hoạnh tài,
Ðể khốn-khổ mặc ai trối kệ.

Mắt thấy rõ những điều tồi-tệ,
Tai thường nghe lắm giọng ru người.
Thêm thời nầy thế-kỷ hai mươi,
Cố xô sệp thần quyền cho hết.

Người nhẹ dạ nghe qua mê-mết,
Rằng: Nên dùng sức mạnh cạnh-tranh.
Ðược lợi-quyền lại được vang danh,
Bài-xích kẻ tu hành tác phước.

Làn sóng ấy nhiều người đón rước,
Giục dân tâm sôi-nổi tràn-trề.
Cổ tục nhà phỉ-báng khinh-chê,
Cho tôn-giáo là mùi thuốc phiện.

Ai nếm vào ắt là phải nghiện,
Chẳng còn lo trang võ đấu chinh.
Lấy sắc-thân dẹp nổi bất-bình,
Bỏ đức-tính của câu nhơn-quả.


Dầu ai có bền gan sắt đá,
Cũng động lòng trước cảnh ngửa-nghiêng.
Ðạo diệu-mầu gặp lúc truân chuyên,
Phận môn-đệ phải lo vun quén.

Tằm sức nhỏ còn làm nên kén,
Người không lo có thẹn hay chăng?
Cả tiếng kêu cùng khắp chư tăng.
Với tín-nữ thiện-nam Phật-Giáo.

Nên cố gắng trau thân gìn Ðạo,
Hiệp cùng nhau truyền-bá kinh lành.
Làm cho đời hiểu rõ thinh-danh,
Công đức Phật từ-bi vô lượng.

 

Ðồng dẹp bớt âm-thinh sắc-tướng,
Lo chấn-hưng Phật-Pháp mới là.
Nói cho đời hiểu Phật Thích-Ca,
Lòng tự giác xả thân tầm Ðạo.

Ta cũng chẳng hoàn-toàn thông-thạo,
Nhưng phân cùng bổn-đạo xa gần.
Có một điều già trẻ ân-cần,
Là phải biết nguyên nhân Phật-Giáo.


Hồi thế-kỷ khoảng trong thứ sáu,
Trước kỷ-nguyên tây-lịch thời xưa.
Pháp giáo chưa biệt-lập tam thừa,
Thuở Trung-Quốc nhà Châu Chiêu-Ðế.

Bên Ấn-Ðộ thành Ca-Tỳ-La-Vệ,
Có đức vua Tịnh-Phạn nhơn từ.
Khắp thần dân lạc nghiệp an cư,
Trên chúa thẳng tôi ngay phò tá.


Ðức Hoàng-hậu Ma-Da phong-nhã,
Sắc đẹp dường ngọc thốt hoa cười.
Một hôm kia vẻ mặt vui tươi,
Ðến trước bệ tâu cùng thánh thượng.

Rằng: Thần thiếp nhờ ơn chung hưởng,
Của hoàng-gia cũng được vinh-quang.
Kể từ nay thiếp muốn an nhàn,
Dưỡng tâm-trí lần xa thế trược.

Chẳng phiền kẻ hầu sau đón trước,
Chỉ trừ người ý hiệp tâm đầu.
Xin một điều ở chốn long lâu,
Tập đức tánh khoan-dung đại độ.

Tránh tất cả những điều thô-lỗ,
Chẳng ưa gần kẻ bạo ngang-tàng.
Thiếp cúi đầu ngưỡng vọng Thiên-nhan,
Phê cho thiếp những điều xin ấy.

Vua nghe xong vội-vàng đứng dậy,
Bèn chuẩn y tỏ ý vừa lòng.
Bà tâu thêm ở trước đền rồng,
Xin Thánh-thượng bao-dung kẻ khó.

Lòng yêu dân ví như con đỏ,
Tội giảm tha, đói giúp cơm tiền.
Cứu dân nghèo trong lúc đảo điên,
Lấy đức rộng bủa trong bá tánh.

Vua hứa chịu giúp người đói lạnh,
Bà lui về cung điện nghỉ-ngơi.
Ðêm trăng thanh gió mát thảnh-thơi,
Tiết hòa-thuận khắp nơi hoa nở.

Ðức Hoàng-hậu trong lòng hớn-hở,
Giấc chiêm-bao Bà thấy lạ-lùng.
Bạch tượng từ ở chốn không trung,
Bỗng sa xuống mình bà hối-hả.

Vừa tỉnh giấc mơ tiên mới lạ,
Khắp phòng huê thơm nức mùi hương.
Bà rảo chân bèn bước ra vườn,
Truyền thị-vệ thỉnh vua lai đáo.

Vua y lời đến nơi hoa thảo,
Lại gần bà sao rất quái-kỳ.
Tay chơn bèn run-rẩy một khi,
Muốn quì xuống mắt dường tăm-tối.


Tiếng Thần Tiên trên không ca trổi,
Rằng ta mừng vua hữu thiện căn.
Sắp có con thế-giới chẳng bằng,
Sau người ấy lập nên Ðạo cả.

Vua nghe xong cúi đầu bái tạ,
Liền phán cùng Hoàng-hậu Ma-Da.
Có việc chi vội-vả dời ta,
Khá nói lại đầu đuôi tường tất.


Bà thuật rõ chiêm bao trong giấc,
Xin vua vời ít kẻ bàn giùm.
Các thầy bàn được lịnh vào cung,
Nghe xong-xả tâu rằng điềm quí.

Ngày thắm-thoát đông qua hạ chí,
Bà trổ sanh Thái-tử đẹp tươi.
Mặt trang-nghiêm khí-phách hơn người,
Vua cùng khắp thần dân mừng rỡ.


Họ Thích-Ca từ đây cũng ngỡ,
Sẽ có người nối nghiệp hoàng-gia.
Liền đặt tên là Sĩ-Ðạt-Ta,
Cả triều chính treo hoa yến ẩm.

Có nhà sư cách thành mấy dậm,
Thường ở ăn trong sạch hiền-từ.
Lòng thẳng-ngay chẳng có vị tư,
Ðời thanh-tịnh gìn theo Ðạo-lý.

Ông lại được Thần Tiên dẫn chỉ,
Hiểu Thiên-cơ thấu mối diệu-huyền.
Ông là người Bà-la-môn tiên,
A-tư-Ðà tiên hiền tên lão.


Thời buổi ấy vua ưa người Ðạo,
Bèn vào chầu tâu trước bệ rồng.
Xin vua cho ông bước vào trong,
Ðược yết-kiến tử-hoàng luôn thể.

Ông xem xong bỗng liền sa lệ,
Vẽ mặt buồn chẳng thốt ra lời.
Thấy lạ-lùng vua bước đến nơi,
Liền phán hỏi bảo ông phân rõ.

Trước cung-điện ông liền bày tỏ,
Rằng tử-hoàng chừng được thành nhơn.
Lìa đền-đài khổ-cực chẳng sờn,
Tìm Ðạo-lý dắt-dìu sanh-chúng.

Ngài sẽ được thế-gian ca tụng,
Chắc phần Ngài quả Phật vẹn tròn.
Buồn vì tôi tuổi lớn sức mòn,
Chẳng sống đặng nghe lời Phật thuyết.

Cả hồng-trần đau-thương thống-thiết,
Nhờ Ngài mà diệt nẻo luân-hồi.
Vô phước nên tủi bấy phận tôi,
Chớ chẳng có điều chi lo ngại.

Ðức Hoàng-hậu đến ngày thứ bảy,
Dứt nợ trần nên vội qui tiên.
Có bà dì thay thế mẹ hiền,
Giùm săn-sóc trông-nom Thái-tử.

 

Khi lớn lên cho người dạy chữ,
Lúc vào trường chẳng học mà thông.
Buổi trưởng thành vua vẫn hằng mong,
Cho Thái-tử đừng lìa cung điện.

Hội triều-đình các quan lựa tuyển,
Nàng Du-Gia được chọn kết hôn.
Vua nghĩ rằng muốn tâm yên-ổn,
Chọn cung-phi mỹ nữ làm trò.

Cất đền-đài lộng-lẫy đẹp to,
Ngày ca múa đêm bày lơi-lả.
Lòng Thái-tử cũng không xiêu-ngả,
Ra khỏi đền du ngoạn một khi.

Buổi đầu tiên gặp những chuyện gì,
Gặp cụ lão tay nương gậy chống.
Ngài xem qua lòng bèn cảm-động,
Lần thứ hai thấy kẻ ốm đau.

Xét cõi trần trong dạ héo xào,
Chi xiết nổi núng-nao cõi tạm.
Lần thứ ba xe lìa khỏi trạm,
Ðược trông nhìn kẻ chết đang khiêng.

Về đền-đài cảm xúc buồn riêng,
Hằng để trí tầm phương giải-thoát.
Lần thứ tư vừa đi dạo mát,
Bỗng gặp người tốt đẹp trang-nghiêm.

Nào dè đâu Trời đã ứng điềm,
Giã tăng-sĩ gợi lòng Thái-tử.
Ngài hiểu rõ ấy là phận-sự,
Phải xuất gia tầm Ðạo mau mau.


Liền quày xe trở lại lai trào,
Xin Vương-phụ lánh xa mùi thế.
Vua buồn thảm dùng lời khóc kể,
Rằng: Cha già biết cậy nhờ ai.

Khuyên con nên ở chốn điện-đài,
Lo nối nghiệp sau tu chẳng muộn.
Lòng Thái-tử quyết theo ý muốn,
Thừa đêm khuya lén trốn vào rừng.

Lìa cha già, vợ đẹp, con cưng,
Thân chẳng sá xông-pha bờ bụi.
Ngày thuở ấy nên mười chín tuổi,
Tâm đại-hùng cương-quyết tu trì.

Trải bao phen lao-khổ xiết chi,
Sau Ngài đến Rạch-Ni Liên-Thuyền.
Thấy cỏ hoa cảnh bắt tham-thiền,
Ngồi khổ-hạnh sáu năm bên ấy.

Ðạo gần đắc Ma-Vương theo khuấy,
Dùng thần-thông nghị-lực dẹp tan.
Ấy mới vừa đắc Ðạo hoàn-toàn,
Và lần bước phô-trương độ chúng.

Ngài bèn xét ở trong Phật chủng,
Các chúng-sanh đều có như Ta.
Bị vô-minh vọng-tưởng vạy-tà,
Nên quay lộn Ta-bà cõi khổ.

Lòng thương chúng thuyết-phương Tịnh-độ,
Ðặng dắt-dìu tất cả chúng-sanh.
Nếu như ai cố chí làm lành,
Chuyên niệm Phật cầu sanh Phật-Quốc.

Cả vũ-trụ khắp cùng vạn-vật,
Dầu Tiên, Phàm, Ma, Quỉ, Súc-sanh.
Cứ nhứt tâm tín, nguyện, phụng-hành,
Ðược cứu-cánh về nơi an-dưỡng.

Chỉ một kiếp Tây-phương hồi hướng,
Thoát mê-đồ dứt cuộc luân-hồi.
Xét cõi trần sóng khổ giạt-trôi,
Vô lượng thứ ở trong thế-giới.

Lời Phật thuyết Ta xin nhắc lại,
Ta-bà khổ, Ta-bà lắm khổ.
Có bao người xét cho tột chỗ,
Tịnh-độ vui, Tịnh-độ nhàn vui.

Cảnh thanh-minh sen báu nặc mùi,
Nào ai rõ cái vui triệt đáo.

*************************

Vì phần Ta rất yêu-mến Ðạo,
Chẳng nệ chi trí siển tài sơ.
Lấy lời xưa kết lại ít tờ,
Cho thiện-tín rỗi nhàn xem-xét.

Dứt mê tâm dứt điều hờn ghét,
Rán cần chuyên niệm Phật làm lành.
Thường trau-giồi chí-hướng cao thanh,
Cho khỏi thẹn con lành Phật-Giáo.

Ðức Thích-Ca từ xưa dạy bảo:
Khổ Ta-bà nhiếp lại tám phần.
Bởi chúng-sanh mang lấy xác thân,
Khổ thứ nhứt sự Sanh là gốc.

Vào bụng mẹ chung quanh bao-bọc,
Có khác nào ở chốn ngục tù.
Buổi mẹ đau huyết kiệt hình thu,
Lúc mẹ đói dường treo lỏng-bỏng.

Ta kể sơ những điều bi-thống,
Mẹ no cơm chật-chội khó-khăn.
Khi ra đời đau-đớn vô ngần,
Cất tiếng khóc nếm mùi dương-thế.

Ðoạn Lão khổ thứ nhì xin kể,
Từ trẻ thơ đến tuổi thành nhân.
Hết tráng- cường đến lúc mòn thân,
Răng lần rụng lưng cong gối mỏi.

Nằm đi đứng đỡ nưng chống chỏi,
Thử nghĩ coi lao nhọc cùng chăng?
Ðoạn thứ ba ma Bịnh làm nhăng,
Đeo hành phạt xác thân ô-uế.

Bởi thời-thế chuyển xây biến-thể,
Thêm uống ăn chẳng được điều-hòa.
Là nguyên-nhân căn bịnh phát ra,
Thân trằn-trọc hôn-mê nhức-nhối.

Cơn bịnh hoạn càng không tránh nổi,
Còn mang thêm tật nọ tật kia.
Rồi từ đây đến lúc chia lìa,
Ðoạn Tử khổ thứ tư phân giải.

Trên dương thế hữu hình tắc hoại,
Có sanh ra khổ-hải đâu chừa.

Trải bao phen dãi gió dầm mưa,
Ngày kiệt sức huyễn thân tan-nát.

Gần hấp-hối tâm-thần xao-xác,
Trí vẩn-vơ kinh-sợ vô cùng.
Rồi mòn lần đến lúc lâm chung,
Giã cõi tạm theo đường tội phước.


Nhiều phương thuốc ngừa sau ngăn trước,
Mà cũng không thoát luật tuần-huờn.
Dầu ẩn nơi cùng cốc thâm sơn,
Chẳng trốn lánh tử thần cho khỏi.

Ðoạn thứ năm nghĩ-suy tìm-tỏi,
Cầu Chẳng Thành những việc thích-ham.
Người trên đời ai cũng lòng tham,
Muốn phước, thọ, phẩm, hàm, tiền của.

Nào vợ đẹp, hầu xinh, là-lụa,
Không được thì bực-tức ưu-phiền.
Cả tâm thần điêu-đứng đảo-điên,
Vậy có phải khổ hay là chẳng?

Ðoạn thứ sáu Biệt-Ly cay đắng,
Người mình thương bỗng lại chia-lìa.
Khi khóc than nước mắt đầm-đìa,
Lúc trông nhớ ruột tầm chua xót.

Ở thế-gian mấy ai thoát lọt,
Nợ gia-đình đeo đắm căn-duyên.
Cơn nguy nghèo thân thể truân-chuyên,
Kẻ lưu-lạc người chờ trông mãi.


Cuộc tan hiệp, hiệp tan ân-ái,
Ðến xong đời để lại sầu ưu.
Cái khổ nầy dầu lắm trí mưu,
Cũng chung chịu như người tăm-tối.

Ðoạn thứ bảy khổ Oan-Tắng-Hội,
Hể thương nhau tất có ghét nhau.
Thường tranh-đua tiếng thấp lời cao,
Chẳng nhẫn-nhịn thành ra cừu oán.

Muốn tránh xa đừng trông tâm dạng,
Cứ gặp nhau mắt tựa kim châm.
Làm cho người đau đớn âm-thầm,
Khổ như thế diễn ra mãi mãi.

Ðoạn thứ tám Ưu-Sầu lo ngại,
Cuộc tang-thương dâu bể cảnh trần.
Nghèo thì lo một nổi nợ-nần,
Lo đau-đói liệu cơn nhà rách.

Buồn duyên-số phận mình nhơ sạch,
Rầu gia-đình chúng bạn khinh cười.
Giàu thì lo chen lấn với người,
Miễn cho được đầy rương đầy tủ.

Của dương-thế góp tom bảo-thủ,
Sợ gian-phi trộm cướp rình-mò.
Lo tước-quyền cho được thơm-tho,
Sợ kẻ khó thiếu tiền chẳng trả.

Ôi! cả sang hèn chẳng ai thong-thả,
Sao nhơn sanh cứ mãi đắm say.
Chẳng tu thân đặng dựa Phật-Ðài,
Cho thong-thả hưởng mùi sen báu.

Thần-thức nhập Thai-Sen tinh-hảo,
Nên khỏi màng lo nổi khổ sanh.
Thân thì Thân Công-Ðức hiền lành,
Bất di dịch khỏi vì khổ lão.

Thể Thanh-tịnh thường không huyên-náo,
Hết lo toan nắng lạnh gió mưa.
Khổ bịnh kia bởi đó mà chừa,
Ta thoát cuộc lao-đao vì nó.

Ðường sanh-mạng Phật, ta đồng thọ,
Tánh an nhiên bất diệt trường tồn.
Tử thần kia đâu dám dắt hồn,
Thoát luân-chuyển khỏi đeo khổ tử.

Cuộc y thực muốn chi đủ thứ,
Không nhọc-nhằn lo việc sanh-nhai.
Trí yên nhàn nhìn cảnh Phật-Ðài,
Khỏi quả khổ mưu cầu bất đắc.


Cả Hải-chúng thảy đều vững-chắc,
Toàn dân lành đâu có đắn-đo.
Dứt ái-ân quyến-thuộc chuyện-trò,
Thoát sống khổ thương-yêu, ly-biệt.


Chữ Hòa-Thuận kể sao cho xiết,
Tâm đồng nhau thượng-thiện vui-vầy.
Cảnh như như chẳng có đổi thay,
Không màng biết phân chia nhơn-ngã.

Sẵn vị ngôi rành phân thượng hạ,
Khỏi khổ câu oán ghét gặp nhau.
Thân tâm thường-trụ hết rạt-rào,
Chất thô-trược tiêu tan mất cả.

Cõi Tịnh-độ lắm điều thanh-nhã,
Khổ, buồn, rầu, lo, sợ chẳng còn.
Chốn Ta-bà tim lụn dầu mòn,
Thân tứ-đại của người cũng thế.

Mau thức-tỉnh tu-thân kẻo trể,
Ðến tội rồi mới hối muộn-màng.
Chi cho bằng ta sớm lo toan,
Gìn giới-luật nghe kinh trọng Phật.

Ðến lâm-chung quả lành đâu mất,
Cõi Tây-Phương chư Phật đợi chờ.
Việc tu thân thiện-tín hẩng-hờ,
Chừng họa đến e cho khó tránh.


Môn Tịnh-độ là phương cứu-cánh,
Rán phụng-hành kẻo phụ Phật xưa.
Lòng từ-bi chẳng quản nắng mưa,
Xông thuyền giác rước đưa sanh-chúng.

Trong một nước nhân tài hữu dụng,
Kẻ tu hành đa phước thì nên.
Quyết trau thân tánh hạnh cho bền,
Niềm ơn nghĩa toan đền dứt nợ.

Ao sen báu Tây-Phương đua nở,
Chờ chúng-sanh niệm Phật chí tâm.
Rán tu cho quỉ khiếp thần khâm,
Ðược tâm phát Bồ-Ðề vững chắc.

Giữ đừng cho Ma-Vương dẫn-dắt,
Thường nhớ câu Ðại-Lực, Ðại-Hùng.

Thắng Thất-Tình giữ vẹn Ðạo-Trung,
Trừ Lục-Dục chớ cho ô-nhiễm.

Thập-tam Ma diệt bằng trí-kiếm,
Rứt xong rồi vô sự thảnh-thơi.
Biển hồng-trần lao-lý diệu-vơi,
Xô đẩy mãi trong vòng Ngũ-Trược.

Thân hôi tanh muỗi, ruồi đón rước,
Thêm nhọt u, ghẻ lác, phong cùi.
Ðâu lúc nào toàn vẹn yên vui,
Là Kiếp-Trược, ta xin kể trước.

Dòm việc quấy ngắm điều bạo-ngược,
Mắt trông vào những chỗ đê-hèn.
Nào được xem cảnh báu đài sen,
Nghĩa Kiến-Trược giải ra như vậy.

Trí vẩn-vơ tưởng đó nhớ đây,
Thiết mưu-kế toan bề thắng-thối.
Ghi thù-oán chưởng điều đáp đối,
Nên ma phiền Nảo-Trược đắm say.


Chuyển luân trong nhân-vật các loài,
Căn mờ ám làm điều dại-dột.
Chúng-Sanh Trược, Ta đà kể nốt,
Còn thứ năm là Mạng-Trược trung.

Số giàu-sang, họa phước, bần-cùng,
Giàu hoa-nguyệt thung-dung cẩu-thả.

 

Ưa đẹp mắt mến điều mới lạ,
Sang oai-quyền, hối-lộ gần xa.
Nghèo a-dua, bợ-đở nịnh tà,
Khó trộm-cướp cũng là nhơ xấu.

Nguyện cùng Phật dứt duyên trần-cấu,
Phải trừ thêm thập-ác huyễn thân.
Khuyên nữ nam suy-nghiệm ân-cần,
Ác nơi khẩu nhứt là Lưỡng-Thiệt.

Với người nầy dùng lời tha-thiết,
Ðến kẻ kia đâm-thọc cho gây.
Khá chừa đi hương-đảng bớt rầy,
Dùng sự thiệt giải-bày tâm trí.

Người choảng nhau tại mình gia vị,
Mà cũng không hưởng được lợi-danh.
Sau rõ ra chúng lại ghét-ganh,
Chiêu cảm quả bất lành thêm nữa.

Ác thứ nhì Ỷ-Ngôn chất-chứa,
Ðợi cho người lầm-lỗi xéo vày.
Của tiền nhiều tự phụ rằng hay,
Chủ ỷ thế nhiếc xài kẻ dưới.

Lắt-léo chi có ba tấc lưỡi,
Quan ỷ khôn mạt-sát dân ngu.
Nghèo ỷ lanh láo-xược lu-bù,
Ôi! Thấy thế lòng đau tợ cắt.

Khuyên bá-tánh giữ-gìn cho chặt,
Ðừng để cho quỉ dắt đường cong.
Dùng từ-ngôn nói tận đáy lòng,
Dầu trên dưới cũng không mấy khác.

Chúng vô phước đời nầy dốt-nát,
Người khôn-ngoan chỉ-dẫn mới là.
Lời trang-nghiêm êm-ái thốt ra,
Ðừng bao-biếm mới là nhơn-thiện.

Tới Ác-Khẩu thứ ba bày-biện,
Tiếng tục-tằn thô-lổ hung-hăng.
Nào chưởi cha, mắng mẹ lăng-xăng,
Chẳng kể đến luân-thường thảo hiếu.

Hăm đánh giết những người hèn yếu,
Hiếp xóm-chòm cô bác chẳng kiên.
Trong gia-đình chưởi rủa liên-miên,
Hết Dương-thế kêu sang Thần-Thánh.

Chẳng kiêng nể Phật Trời thượng cảnh,
Cõi Long-cung mời thỉnh tối ngày.
Ðời ám-u tội trạng thảm thay,
Khuyên bá-tánh bá-gia rán bỏ.

Gương tổ-phụ còn roi lại đó,
Sau không theo nề-nếp gia-phong.
Chư Thánh-Thần đâu có mất lòng,
Mà kêu réo Ðông, Tây, Nam, Bắc?

Mấy câu trên toàn là ròng-rặt,
Những đàn-bà khe-khắt cháu con.
Kể từ nay phải giữ cho tròn,
Không chừa dứt ắt mang tai-ách.

Lựa lời tiếng dịu-dàng trong sạch,
Khi thốt ra đoan chánh hiền từ.
Tích thiện thì thường có phước dư,
Bằng tích ác họa-ương đeo đắm.

Ác Vọng-Ngữ thứ tư cũng cấm,
Nói thêm thừa huyễn-hoặc đủ điều.
Ghét người thời kiếm chuyện dệt-thêu,
Thương viện lẽ thấp cao bào chữa.

Ðời bất công mấy ai xem sửa,
Trên điêu-ngoa dưới chẳng phục-tòng.
Khuyên nhơn sanh lấy lẽ chí công,
Mà ăn ở nói năng chơn chất.

Phật từ-bi độ trong nhơn vật,
Là luật kinh dạy rất tinh-tường.
Nếu chẳng nghe hồn vướng tai-ương,
Chừng ấy mới kêu mời khó rước.

Người dương-thế chẳng ưa bốc-xước,
Phật Thần nào gần kẻ xảo-ngôn.
Ðã tu hành đừng có bôn-chôn,
Tưởng hay giỏi khoe-khoang tài cán.

Người hiểu rành mới càng thêm chán,
Chi bằng ta bỏ lối trớ-trêu.
Nói với ai cũng phải lựa điều,
Ðừng tráo-chác cho người khinh dể.

Ác Tà-Dâm thứ năm càng tệ.
Chúa hôn-mê chiếm đoạt thê thần.
Làm đảo-huyền tất cả quốc-dân,
Tôi bất chánh hoàng-cung dâm loạn.

Tội lỗi ấy diễn nhiều thảm trạng,
Từ xưa nay Trời đất đâu dung.
Giàu của nhiều dâm hiếp bần cùng,
Quan lấn thế dâm-ô dân khó.

 

Trai liều-lĩnh điều này nên bỏ,
Ðừng phá trinh hại tiết nữ nhơn.
Gái lẳng-lơ tiếng huyễn lời đờn,
Hoa có chủ đèo-bòng tình mới.

Cất tiếng gọi nữ nam ơi hỡi,
Bỏ những điều điếm nhục tông môn.
Ðấng nam-nhi học lấy điều khôn,
Lòng trung-hiếu gìn theo đạo-lý.

Hàng phụ nữ gương xưa nối chí,
Những mẹ hiền dâu thảo roi truyền.
Niệm Phật mà gây lấy thiện duyên,
Cho đẹp mặt Tổ-tiên nòi giống.

Thờ Phật-Ðạo tỉnh cơn ác mộng,
Thoát mê-đồ thường phóng quang-minh.
Rán hiểu rành tiếng kệ lời kinh,
Ác thứ sáu ấy là Ðạo-Tặc.


Lấy của người sắm ăn sắm mặc,
Chẳng kể công nước mắt mồ-hôi.
Phá lương dân dạ luống bồi-hồi,
Ngày làm-lụng đêm lo gìn-giữ.

Trốn pháp-luật tập-tành đủ thứ,
Nào đào tường, khoét vách khuân đồ.
Tội chập-chồng đâu biết ở mô,
Trốn người khỏi trốn Trời sao khỏi.

Nay đuốc huệ Từ-Bi đã rọi,
Vào thâm-tâm những kẻ gian-phi.
Hãy tu thân chừa thói vô nghì,
Của phi nghĩa làm chi xong chuyện.

Luật nhơn-quả thật là cao viễn,
Suốt cổ kim chẳng lọt một ai.
Vậy ta nên làm việc thẳng ngay,
Cứ bền chí có ngày thong-thả.

Ác thứ bảy Sát-Nhơn gây vạ,
Tánh hung-hăng đâm chém chặt bầm.
Chất-chứa điều hung dữ trong tâm,
Chờ đắc thế ra tay hạ sát.

Viết đến đây động lòng rào rạt,
Gẫm nhiều người bội-bạc thâm ân.
Nào kể chi là đạo Quân-thần,
Tôi giết chúa, con đành sát phụ.

Lúc nguy-cơ tớ mong hại chủ,
Trò giết thầy tội ấy đáng không.
Thêm chồng giết vợ, vợ giết chồng,
Niềm huynh-đệ cùng nhau xâu-xé.

Cũng hiếm lúc con còn giết mẹ,
Giành của tiền cốt-nhục giết nhau.
Tranh lợi danh giết lẫn đồng-bào,
Tình nhơn-loại phân chia yểm-bách.

Giết sanh vật đầy lòng kiêu-cách,
Tưởng rằng mình như thế là ngoan.
Khuyên bá-gia bá-tánh việt-đàn,
Chớ sát hại mạng người như thế.

Bớt giết vật đặng mà cúng tế,
Gẫm Thánh-Thần đâu có tư riêng.
Rủi ốm đau bởi tại căn tiền,
Hoặc hiện kiếp làm điều bạo-ác.

Phải ăn-năn phước điền tạo-tác,
Lo thuốc thang khẩn-vái Phật Trời.
Nguyện sửa lòng ắt Phật giúp đời,
Xuống phước rộng từ-bi hỉ-xả.

Ðấng Thần-Minh công bình trực dạ,
Ðâu ăn lo đổi họa làm may.
Mở tâm linh nghĩ đến đoạn nầy,
Ðiều họa phước ấy cơ báo ứng.

Chẳng biết thân còn toan chứa đựng,
Quả bất lành chưa trả vay thêm.
Cầu cho đời sóng lặng gió êm,
Ðặng bá-tánh an nhàn tu niệm,

Ác thứ tám là lòng Tham Hiểm,
Muốn bao gồm của thế một mình.
Tham nhà cao, cửa rộng, thân vinh,
Tham vườn ruộng cò bay thẳng kiếng.

Thấy của người thèm khô nước miếng,
Tính làm sao lường gạt lấy đi.
Sẵn túi tham bất cứ chuyện gì,
Dầu xấu tốt cũng là dồn chứa.

Nhớ lời Phật khi xưa dạy sửa,
Của thế trần như mật dính dao.
Trẻ tham ăn kê miệng liếm vào,
Chừng đứt lưỡi mới là hối-hận.

Tham của tạm làm điều tàn-nhẫn,
Nhắm mắt rồi đâu có mang theo.
Tham tiền tài thường vướng nạn eo,
Tham sắc đẹp nhà tan cửa nát.

Lúc tận số nằm trơ một xác,
Gẫm kim-tiền bội-bạc bất tài.
Không làm cho ta được sống dai,
Lại chẳng bước tiển đưa một bước.

Thà nghèo thanh hơn giàu mà trược,
Lo vun trồng cội phước về sau.
Muốn trừ tham phải liệu cách nào,
Phải bố-thí diệt lòng ích-kỷ.

Tâm chánh niệm thường thường suy nghĩ,
Vật ở trần như bọt nước làn mây.
Thân Ta còn rày đó mai đây,
Của ấy cũng khi tan khi hiệp.

Ác thứ chín Hận-Sân luận tiếp,
Lửa trong tâm chẳng đốt mà lừng.
Nổi lôi đình đâu có định chừng,
Cho ta biết mà toan giữ trước.

Tánh sân-nộ thường làm bạo-ngược,
Nên loài người ở cõi thế-gian.
Giận hờn nhau thù-oán dẫy tràn,
Mới có cuộc tranh tài đấu lực.

Hơn tự-đắc, khoe-khoang dõng sức,
Phải bị người hềm-khích ghét-ganh.
Thua hổ-ngươi làm chuyện bất lành,
Gây nghiệp dữ oan oan tương báo.

Trong cơn giận kể gì nhơn đạo,
Tỷ như con cọp dữ trên rừng.
Gặp thịt toan cấu xé tưng bừng,
Phân từng mảnh mới là thỏa dạ.

Diệt được nó tâm trần thong-thả,
Ta thường nên tập tánh khoan-dung.
Thiệt- hành đi đừng có ngại-ngùng,
Tha-thứ kẻ lỗi-lầm ngu-xuẩn.

Và nhẫn-nhịn đừng ham tranh-luận,
Khỏi mất lòng tất cả mọi người.
Tánh thuần-lương vẻ mặt vui tươi,
Vậy mới đáng tín đồ Phật-Giáo.


Nay ta đã quy-y cầu Ðạo,
Gây-gổ là trái thuyết từ-bi.
Ác thứ mười đoạn chót Mê-Si,
Nguyên tăm-tối từ hồi vô thỉ.

Màn vô-minh che mờ căn trí,
Nên thường khi nhận ngụy làm chơn.
Lo huyễn thân vật-chất kém hơn,
Chẳng tìm biết tinh-thần đạo-đức.

Dệt lưới nghi đeo điều phiền-phức,
Bịn-rịn đời cực-khổ tang-thương.
Khi nói làm ít chịu suy lường,
Mãi phạm tội nên rằng nghiệp ác.

Diệt mê-si phải nương thuyền giác,
Muôn việc làm chính-trực khôn-ngoan.
Ðừng bạ đâu tin bướng nghe càn,

Làm ngu muội đọa thân uổng kiếp

 

Ác trừ xong hiện ra thiện nghiệp,
Lóng nguồn chơn Phật tiếp-dẫn cho.
Trồng cây lành vị-quả thơm-tho,
Tuy không thấy mà sau chẳng mất.

Dầu ai có cười ta khờ-khật,
Cũng đừng phiền xao-lãng chơn tâm.
Mong tiếng kêu thấu đến Tòng-lâm,
Cùng thiện-tín bá-gia hưởng ứng.

Muốn Phật-Giáo từ đây bền vững,
Ðừng riêng lo lợi-dưỡng một mình.
Nếu xuất gia thì phải hy-sinh,
Cả vật-chất tinh thần lo đạo.

Chớ giả-dối mà mang sắc áo,
Mượn bồ-đề chuỗi hột lòe người.
Làm cho dân khinh-dể ngạo cười,
Tội-lỗi ấy luật nào dung-thứ.

Tu còn ham chay to đám bự,
Ðặng thế-gian dưng cúng bạc tiền.
Dối rằng: lo tu-bổ chùa chiền,
Mà làm của xài riêng cho thỏa.

Bảo làm sao dân không sa-ngã,
Nghe lời rù Tông nọ phái kia.
Cả tăng-đồ trong nước chia lìa,
Riêng pháp-bảo, riêng chùa, riêng Phật.

Trong bá-tánh sầu-thành chất-ngất,
Mãi nghi nan chẳng biết đàng nào.
Lòng mến yêu chẳng nệ công-lao,
Mượn bút mực đôi lời trần thuyết.

Tùy thiện-tín hiểu Ta giả thiệt,
Làm hay không chẳng dám ép nài.
Nguyện mười phương chư Phật đáo lai,
Ðồng tiếp-dẫn chúng-sanh giải-thoát.

 

KỆ:
Ðêm thanh hiên nguyệt dựa kề,
Nhìn xem thế-sự não-nề tâm-can.
Từ Ta nương chốn Phật-đàng,
Dứt tâm trần-cấu chẳng màng vinh-huê.

Trần-hoàn thiện-tín còn mê,
Thêm lời giục-thúc gọi về đàng tu.
Dốc lòng vạch ngút mây mù,
Ðặng dìu bá-tánh đường tu chen vào.

Lời Thầy cạn tỏ âm-hao,
Ðể truyền hậu-thế vàng thau lọc-lừa.
Tu cầu thuận gió hòa mưa,
An-hòa nhơn-vật phước thừa trời ban.

Tu cầu thoát chốn gian-nan,
Cầu trong chư quốc chư bang giao-hòa.
Tu cầu yên nước lợi nhà,
Cửu-huyền Thất-tổ Diêm-la thoát hình.

Tu cầu Phật hóa tánh tình,
Lưới mê chẳng buộc nhẹ mình tiêu-dao.
Tu cầu cửa Phật đặng vào,
Gót sen thong-thả xiết bao thanh-nhàn.

Tu cầu bịnh tật tiêu-tan,
Từ-bi hỉ-xả Phật ban phép lành.
Tu cầu thoát khỏi tử sanh,
Nương theo Phật-Quốc lời lành hằng nghe.

Cỏi trần đừng đắm ngựa xe,
Ðeo tuồng mộng-huyễn lập-lòe sắc hương.
Tu cầu trăm họ hiền lương,
Ðồng thinh niệm Phật tai-ương chẳng còn.

Tu cầu gia-đạo vuông tròn,
Chồng hòa vợ thuận cháu con thảo hiền.
Tu cầu thoát khỏi xích-xiềng,
Dựa kề chơn Phật xa miền trần-lao.

Tu cầu chóng hết binh đao,
Gặp đời bình trị xiết bao vui-vầy.
Mắt nhìn chư Phật đông dầy,
Thành vàng điện ngọc trò Thầy đăng tiên.

Ai mà muốn đặng phước-duyên,
Nghe lời khuyến-thiện lòng liền phát tâm.
Tu cho rõ mối huyền-thâm,
Qui đầu Phật-Pháp khỏi lâm tai nàn.

Phước đức quí hơn bạc vàng,
Những người bạc-ác giàu sang ích gì.
Chi bằng ăn ở nhu-mì,
Nghe lời Phật Thánh kính vì người trên.

Hiếu trung lòng chớ vội quên,
Sống lo trọn Ðạo, thác lên Tiên-Ðài.
Nam-mô miệng niệm hằng ngày,
Lánh lời dua-mị học rày kệ kinh.

Trau tâm luyện tánh cho minh,
Chuyên lo niệm Phật sửa mình cho trơn.
Lóng tai nghe rõ tiếng đờn,
Không giây không phiếm oán hờn cũng không.

Ðờn tây rồi lại đờn đông,
Trách trong bá-tánh gặp sông quên nguồn.
Phàm-trần như chỉ rối cuồn,
Mà còn say đắm theo tuồng lẳng-lơ.

Lời lành mắt lấp tai ngơ,
Ðua theo vật-chất hẫng-hờ đàng tiên.
Hố sâu tình dục lại ghiền,
Ghiền cho đến lúc chúng khiêng quan-tài.

Nhắm mắt cũng nắm hai tay,
Ðâu đem tiền của đem rày hầu non.
Chỉ có tội phước hỡi còn,
Ðến nơi thẩm-phán cửa son Diêm-Ðài.

Phước nhiều tiên cảnh lên rày,
Tội nhiều sa-đọa nhiều ngày thảm-thê.
Chừng ấy mới biết chỉn ghê,
Ăn-năn chẳng kịp khó bề tính-toan.

Ngày nay sớm đến Phật-đàng,
Tu cầu chư Phật cứu an linh-hồn.
Tội tiêu phước hưởng trường-tồn,
Không còn mắc nẻo dại-khôn luân-hồi.

Thấy đời khó nổi yên ngồi,
Thêm lời Thầy nhắc một hồi thấp cao.
Nữ nam muốn rõ âm-hao,
Rán trau đức-hạnh ngày sau sẽ tường.


*****************************
Ngôn-từ đạo hạnh ý Thầy khuyên,
Hạnh đức ân-cần rán tập chuyên.
Thất-tổ cửu-huyền nơi chín suối,
Mỉa-mai xa lánh sáu đường duyên.

Vô thượng thậm thâm dĩ ý truyền,
Danh ngôn chép để rạch đàng Tiên.
Cư-gia Tịnh-Ðộ tâm viên-mãn,
Sĩ xuất văn-từ dốc dạy khuyên.
NAM MÔ BỒN-SƯ THÍCH-CA MÂU-NI PHẬT (tam niệm)

NAM MÔ A-DI-ÐÀ PHẬT

2 Attachments

5a- Quyển V-Lời Khuyến Thiện.doc
5b- Quyển V-Lời Khuyến Thiện.pdf
Sang Lephuoc
Dec 21 (6 days ago)

to me
TS. LêPhước Sang

Hội truởng HĐTSTƯ GH-PGHH
————————————————
12432 Euclid Street, Garden Grove, CA 92840
832-397-9813 & (714) 584-7778 (xin để lại message)
2 Attachments

5a- Quyển V-Lời Khuyến Thiện.doc
5b- Quyển V-Lời Khuyến Thiện.pdf
Click here to Reply or Forward
Categories: Sấm Giảng | Leave a comment

Cánh Tu Hiền và Sự Ăn Ở của Một Người Bổn-Đạo

Quyển VI – Cánh Tu Hiền và Sự Ăn Ở của Một Người Bổn-Đạo

Sang Lephuoc <lephuocsang.pghh@gmail.com> Fri, Dec 20, 2013 at 11:54 AM
To: Tam huyen <huyentamhh@gmail.com>
Cc: minhquang4429@yahoo.com, Ton Thanh Duong <tonthanhduong@gmail.com>, vantran200991@yahoo.com, giaccodo@yahoo.com, Tan Nguyen <pghhcanada@gmail.com>, Lactan Nuygen <lactann@yahoo.com>

TS. LêPhước Sang

Hội truởng HĐTSTƯ GH-PGHH
————————————————
12432 Euclid Street, Garden Grove, CA 92840
832-397-9813 & (714) 584-7778 (xin để lại message)
———- Forwarded message ———-
From: Vu Nguyen <vuhomemax@gmail.com>
Date: 2013/12/13
Subject: Quyển VI – Cánh Tu Hiền và Sự Ăn Ở của Một Người Bổn-Đạo
To: Vu Nguyen <vuhomemax@gmail.com>

Kính gởi quý đồng đạo, quý đạo hữu

 

Em cháu xin gởi tiếp quyển 6 “Cánh Tu Hiền và Sự Ăn Ở của Một Người Bổn-Đạo”, mong quý vị hoan hỉ đón nhận.

 

Trân trọng,

Vũ Nguyễn

 

****************

 

c

_____________________

 

Lời Nói Đầu

———

 

Năm năm trường xa cách, cái chánh-sách áp bức tôn-giáo gắt-gao của người Pháp làm cho tôi không được gần-gũi các người hầu giải bài tường tận tôn-chỉ hành đạo của tôi.

 

        Ấy không phải vì tôi cố ý muốn xa-lánh các người, song chẳng qua vì sự bắt-buộc của kẻ cường-quyền nên tôi và các người không được trực-tiếp cùng nhau.  Tuy nhiên cũng có lắm thiện-nam tín-nữ rất trung-thành, một lòng gìn đạo.  Nhưng gần đây có vài kẻ hiểu lầm, hành-động một vài điều không phù hợp với tinh thần đạo-đức, trái chủ-nghĩa từ-bi bác-ái và sự cao-thượng của giáo-pháp nhà Phật.  Thế nên điều ấy làm cho quyển sách nhỏ nầy ra đời.  Vậy từ nay trở đi tôi ước mong rằng với vài điều sơ-lược kể ra sau đây, toàn thể thiện-nam tín-nữ trong Đạo sẽ dùng trí-tuệ mình, suy-gẫm gìn-giữ ăn ở theo quy-tắc đã định, đặng tránh những việc đáng tiếc xãy ra, hầu giữ tròn danh-giá của Đạo Phật.  Như thế chẳng phụ công ơn của Đức Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni đã khai sáng Đạo Phật và đã dìu-dắt quần-sanh tầm đường giải thoát.

 

Nam-Mô Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật

HÒA HẢO

_____________________

 

Quyển 6 – Bao Gồm Những Phần Sau:

 

               I.          Những Điều Sơ Lược Cần Biết Của Kẻ Tu Hiền

            II.          Luận Về Tam Nghiệp

         III.          Luận Về Bát Chánh

       IV.          Cách Thờ Phượng, Hành Lễ Và Sự Ăn Ở Của Một Tín Đồ Phật Giáo Hòa Hảo

V.          Sự Cúng Lạy Của Người Cư Sĩ Tại Gia

       VI.          Lời Khuyên Bổn Đạo

 

_____________________

 

I.          Những Điều Sơ Lược Cần Biết Của Kẻ Tu Hiền

 

Đạo Phật từ xưa đến nay luôn luôn phân làm hai hạng người:

             1.          Hạng xuất gia,

             2.          Hạng tại gia.

 

HẠNG XUẤT GIA: Gồm có các nhà sư hay những ni cô đã hoàn toàn ly khai với gia đình, quê hương, bè bạn, dựa thân vào cửa Thiền hoặc núi non am cốc, hằng ngày chỉ chuyên lo kinh kệ, săn sóc cảnh dà lam, trau luyện đức lành, giồi mài trí tuệ hầu giảng giải cho bá tánh thập phương nghe để quày đầu hướng thiện quy y Phật Pháp, không còn thiết đến việc đời.  Gia đình nhà cửa của nhà sư là cả thế gian, thân quyến nhà sư là khắp cả nhân loại đại đồng. 

 

Đó là hạng người dốc tu cho mau thành Phật quả thoát kiếp luân hồi.
HẠNG TẠI GIA: Gồm tất cả đại chúng, tất cả thiện nam tín nữ chưa đủ những điều kiện xuất gia, vì cảm thấy mình còn nặng nợ với non sông tổ quốc, với gia đình, với đồng bào xã hội, nên chưa thể làm như các nhà sư hay ni cô đặng.  Tuy vậy họ cũng sẵn sàng hoan nghinh ca tụng lý tưởng từ bi bác ái đại đồng của nhà Phật và luật Nhân quả do Phật thuyết ra.  Thế nên ở tại nhà họ thờ phượng Đức Phật, phát nguyện quy y, giữ gìn ít điều giới luật, hằng coi kinh sách sửa tánh, răn lòng, ủng hộ các sư.   Như thế, họ cũng lần lần lên con đường giải thoát.   

 

Đây là hạng người học Phật tu Nhân.   

 

Bàn xét như trên, thấy rằng toàn thể trong Đạo chúng ta thuộc hạng tại gia cư sĩ, học Phật tu Nhân vậy. 

 

Sách xưa có câu: “Thiên kinh vạn điển, hiếu nghĩa vi tiên” (muôn vạn quyển kinh của Phật, Thánh, Tiên đều dạy sự hiếu nghĩa làm đầu).  Hôm nay đã quy y đầu Phật, tu niệm tại gia, ta hãy cố gắng vưng lời Thầy Tổ đã dạy, lo tròn câu hiếu nghĩa. 

 

Đức Thầy Tây An thuở xưa thường khuyến khích các môn nhơn đệ tử rằng: muốn làm xong hiếu nghĩa, có bốn điều ân ta cần phải hy sinh gắng gổ mới mong làm trọn.

 

                  1.          Ân Tổ Tiên cha mẹ,

                  2.          Ân Đất Nước,

                  3.          Ân Tam Bảo,

                  4.          Ân Đồng Bào và Nhân loại (với kẻ xuất gia thì Ân Đàn na Thí chủ).

 

1.   ÂN TỔ TIÊN CHA MẸ: Ta sanh ra cõi đời được có hình hài để hoạt động từ thuở bé cho đến lúc trưởng thành, đủ trí khôn ngoan, trong khoảng bao nhiêu năm trường ấy, cha mẹ ta chịu biết bao khổ nhọc; nhưng sanh ra cha mẹ là nhờ có tổ tiên; nên khi biết ơn cha mẹ, cũng có bổn phận phải biết ơn tổ tiên nữa. 

 

Muốn đền ơn cha mẹ, lúc cha mẹ còn đang sanh tiền, có dạy ta những điều hay lẽ phải ta rán chăm chỉ nghe lời, chớ nên xao lãng làm phiền lòng cha mẹ.  Nếu cha mẹ có làm điều gì lầm lẫn trái với nhân đạo, ta rán hết sức tìm cách khuyên lơn ngăn cản.  Chẳng thế, ta cần phải lo nuôi dưỡng báo đền, lo cho cha mẹ khỏi đói rách, khỏi bệnh hoạn ốm đau, gây sự hòa hảo trong đệ huynh, tạo hạnh phúc cho gia đình, cho cha mẹ vui lòng thỏa mãn.  Rán cầu cho cha mẹ được hưởng điều phước thọ.  Lúc cha mẹ quá vãng, hãy tu cầu cho linh hồn được siêu thăng nơi miền Phật cảnh, thoát đọa trầm luân. 

 

Còn đền ơn tổ tiên, là đừng làm điều gì tồi tệ, điếm nhục tông môn, nếu tổ tiên có làm điều gì sai lầm, gieo họa đau thương lại cho con cháu, ta phải quyết chí tu cầu và hy sinh đời ta làm điều đạo nghĩa, rửa nhục tổ đường.

 

2.   ÂN ĐẤT NƯỚC: Sanh ra, ta phải nhờ tổ tiên cha mẹ, sống ta cũng nhờ đất nước quê hương.  Hưởng những tấc đất, ăn những ngọn rau, muốn cho sự sống được dễ dàng, giống nòi được truyền thụ, ta cảm thấy bổn phận phải bảo vệ đất nước khi bị kẻ xâm lăng giày đạp.  Rán nâng đỡ xứ sở quê hương lúc nghiêng nghèo và làm cho trở nên được cường thạnh.  Rán cứu cấp nước nhà khi bị kẻ ngoài thống trị.  Bờ cõi vững lặng thân ta mới yên, quốc gia mạnh giàu mình ta mới ấm. 

 

Hãy tùy tài tùy sức, nỗ lực hy sinh cho xứ sở.  Thảng như không đủ tài lực đảm đương việc lớn, chưa gặp thời cơ giúp đỡ quê hương, ta phải rán tránh đừng làm việc gì sơ xuất đến nỗi làm cho nước nhà đau khổ, và đừng giúp sức cho kẻ ngoại địch gây sự tổn hại đến đất nước. 

 

Đó là ta đền ơn cho đất nước vậy.

 

3.   ÂN TAM BẢO: Tam Bảo là gì? – Tức: Phật, Pháp, Tăng. 

 

Con người nhờ tổ tiên cha mẹ sanh ra nuôi dưỡng, nhờ đất nước tạo kiếp sống cho mình, ấy về phương diện vật chất. 

 

Về phương diện tinh thần, con người cần nhờ đến sự giúp đỡ của Phật, Pháp, Tăng khai mở trí óc cho sáng suốt.  Phật là đấng toàn thiện, toàn mỹ, bác ái vô cùng, quyết cứu vớt sanh linh ra khỏi vòng trầm luân khổ hải.  Thế nên Ngài mới truyền lại giáo pháp, tức là những lời chỉ dạy cho các chư tăng, đặng đem nền Đạo cả của Ngài ban bố khắp trần thế.  Các chư tăng chẳng ai lạ hơn là các đại đệ tử của Đức Phật vậy.  Bởi vì đức Phật luôn luôn chỉ dẫn và cứu vớt quần sanh thoát miền mê khổ, nên ta hãy kính trọng Phật, hãy tin tưởng và tín nhiệm vào sự nghiệp cứu đời của Ngài, làm theo những điều chỉ dạy do các chư tăng cho biết.  Tổ tiên ta đã hiểu rõ sự nhiệm mầu, lòng quảng ái của Phật đối với chúng sanh, đã kính trọng sùng bái Ngài, đã hành động đúng theo khuôn khổ Ngài đã dạy và đã vun trồng bồi đắp cho nền Đạo được phát triển thêm ra, xây dựng một tòa lâu đài Đạo hạnh vô thượng vô song roi truyền mãi mãi với hậu thế. 

 

Nên bổn phận chúng ta phải noi theo chí đức của tiền nhân hầu làm cho trí tuệ minh mẫn đặng đi đến con đường giải thoát, dẫn dắt giùm những kẻ sa cơ, và nhứt là phải tiếp tục khai thông nền Đạo đức đặng cái tinh thần từ bi bác ái được gieo rải khắp nơi nơi trong bá tánh.  Như thế mới chẳng phụ công trình vĩ đại của Đức Phật và của tiền nhân để lại, và không đắc tội với kẻ đời sau vậy.

 

4.   ÂN ĐỒNG BÀO VÀ NHÂN LOẠI: Con người vừa mở mắt chào đời đã thấy mình phải nhờ đến sự giúp đỡ của những kẻ ở xung quanh và cái niên kỷ càng lớn thêm bao nhiêu, sự nhờ nhõi càng tuần tự thêm nhiều chừng nấy. 

 

Ta nhờ hột cơm của họ mới sống, nhờ miếng vải của họ mới ấm thân, nhờ cửa nhà của họ mới tránh cơn phong vũ.  Vui sướng, ta đồng hưởng với họ.  Hoạn nạn, họ cùng chịu với ta. 

 

Họ và ta cũng một màu da, cũng một thứ tiếng nói.  Ta và họ hợp nhau thì thành lại làm một: ấy Quốc gia đó.  Họ là ai?  Tức là những người ta thường gọi bằng đồng bào vậy. 

 

Đồng bào ta và ta cùng chung một chủng tộc, cùng một nòi giống rọi truyền, cùng có những trang lịch sử vẻ vang oanh liệt, cùng tương trợ lẫn nhau trong cơn nguy biến, cùng chung phận sự đào tạo một tương lai rực rỡ trong bước tiền đồ của giang san đất nước.  Đồng bào ta và ta có một liên quan mật thiết không thể rời nhau, chẳng thể chia nhau và chẳng khi nào có ta mà không có đồng bào, hay có đồng bào mà không có ta.  Thế nên ta phải rán giúp đỡ họ hầu đền đáp cái ơn mà ta đã thọ trong muôn một. 

 

Chẳng những thế thôi, ngoài đồng bào ta còn có thế giới, người đang cặm cụi cần lao cung cấp những điều nhu cầu cần thiết.  Họ là nhân loại, là những người đang sanh sống với chúng ta trên quả địa cầu.  Nếu không có nhân loại, thử hỏi dân tộc ta ra như thế nào?  Ta có đủ vật liệu để dùng chăng?  Ta có thể tự túc một cách đầy đủ chăng?  Nói tóm lại, ta có thể lẻ loi đương đầu với những khi phong vũ nhiệt hàn với những lúc ốm đau nguy biến, giữ vững cuộc sống còn này chăng?  Hẳn không vậy.  Thế nên dân tộc ta phải nhờ đến Nhân loại, nghĩa là nhờ đến dân tộc khác và phải biết ơn họ.  Hãy nghĩ đến họ cũng như mình nghĩ đến mình và đồng chủng mình. 

 

Vả lại, cái tình từ bi bác ái của Đức Phật mà ta đã nhận thức, rất thâm huyền quảng hượt.  Cái tình ấy nó không bến không bờ, không phân biệt màu da, không phân biệt chủng tộc; nó cũng không luận sang hèn và xóa bỏ hết các từng lớp đẳng cấp xã hội mà chỉ đặt vào một: Nhân loại Chúng sanh. 

 

Thế, ta không có lý do gì chánh đáng để vì mình hay vì đồng bào mình gây ra tai hại cho các dân tộc khác.  Trái lại, hãy đặt vào họ một tư tưởng nhân hòa, một tinh thần hỉ xả và hãy tự xem mình có bổn phận giúp đỡ họ trong cơn hoạn nạn. 

 

Đối với những kẻ xuất gia quy y đầu Phật, phụ vào những ân huệ đã thọ như đã nói trên, họ còn phải trực tiếp chịu ân các đàn na thí chủ, nghĩa là những thiện nam tín nữ có hảo tâm cung cấp những vật dụng cần thiết cho họ.  Họ nhờ đến hột cơm, đến miếng vải, đến thuốc men đặng sanh sống, rốt lại họ phải nhờ đến sự nuôi dưỡng hoàn toàn của những kẻ tốt lòng.  

 

Với quần sanh, họ mang cái ân rất nặng, cho nên họ phải dìu dắt sanh linh đi tầm Chân lý đặng đáp tạ tấm lòng chiếu cố của thiện tín.

 

 

II.          Luận Về Tam Nghiệp

 

Sanh ra ở đời, con người dầu muốn hay dầu không, cũng phải chịu dưới sự chi phối của định luật thiên nhiên. Định luật ấy gồm vào một chữ Đạo, đạo của con người kêu bằng “Đạo Nhân” và nó là con đường đi trúng thì sống, bước trật tất chết. 

 

Muốn làm tròn Nhân Đạo, phải giữ vẹn Tứ Ân.  Nhưng trước hết hãy tránh Tam Nghiệp và chừa Thập Ác, cũng như muốn làm giàu phải tránh đừng cho thiếu nợ. 

 

Mỗi người đều có ba nghiệp chướng sau đây:

–       Thân nghiệp: (tội lỗi do xác thân gây nên);

–       Khẩu nghiệp: (tội lỗi do miệng lưỡi gây nên);

–       Ý nghiệp: (tội lỗi do ý tưởng gây nên).
Ba nghiệp chướng ấy khiến con người phạm mười điều ác kể ra dưới đây:

Thân-nghiệp sanh 3 điều ác:

                                           1.          Sát-sanh

                                           2.          Đạo-tặc

                                           3.          Tà-dâm

Khẩu-nghiệp sanh 4 điều ác:

                                           1.          Lưỡng-thiệt

                                           2.          Ỷ-ngôn

                                           3.          Ác-khẩu

                                           4.          Vọng-ngữ

Ý-nghiệp sanh 3 điều ác:

                                           1.          Tham-lam

                                           2.          Sân-nộ

                                           3.          Mê-si

 

1.   SÁT SANH: Con người mới sanh ra ở đời đều có tánh hiền lành cả.  Song đến lúc lớn khôn vì phải chung chạ với thế giới người hung tàn bạo ngược, tánh nết liền ô nhiễm những sự xấu xa hèn kém, trở nên độc ác dữ dằn.  

 

Loài người giết nhau vì tiền bạc, vì sắc đẹp, vì lợi danh, vì quyền thế, vì thù hềm, vì háo thắng… nghĩa là họ giết nhau vì sự ích lợi của một người, của một nhóm người, của một đẳng cấp xã hội, của một quốc gia; họ muốn tiêu diệt tất cả nhân loại, không một ai có quyền sanh sống cùng họ cả.  

 

Tại trào nội, sự mà vua coi bầy tôi như cỏ rác, bầy tôi sánh vua như thể địch thù đã làm nguyên nhân cho biết bao cuộc tương tàn tương sát.  Ngoài lê thứ thì con giết mẹ cha, tớ hại chủ, trò giết thầy, chồng vợ giết nhau, đệ huynh xâu xé.  Những cuộc tương tàn rất thường xảy ra trong nhân loại không ngoài các lý do đã kể trên.  Đó là người đối với người.  

 

Người đối với thú cầm, sanh vật còn tàn nhẫn gấp mấy nữa: họ giết thú vật vì miếng ăn, vì sự dị đoan mê tín, vì sự vui thích.  Đành rằng mình không thể dứt tuyệt giết các sanh vật (gà, vịt, heo… ) để nuôi thân sống, nhưng chẳng khá dựa vào lý “vật dưỡng nhơn” (thú vật sanh ra đặng nuôi con người) mà giết nó một cách quá đáng.  Chỉ cần dùng nó vừa đúng theo sự nhu cầu cần thiết của các món thực phẩm mình thôi và không nên hoang phí hy sinh nó, nếu sự hy sinh ấy không ích lợi cho mình lắm.  Nhứt là chẳng khá giết các thú vật trong khi tế lễ.  Người ta tưởng rằng khi mình phạm tội với Thánh, Thần, Trời, Đất có thể sát hại sanh vật cúng tế cầu cho tội quả tiêu trừ.  Sự tin tưởng ấy rất sai lầm huyễn hoặc, vì đứng vào bực siêu hình cao cả như chư vị Thánh Thần, có lý nào vì một tình riêng làm sai chạy lẽ công.  Khi gặp tai nạn bất ngờ hay rủi ro đau ốm, con người không chịu thuốc thang, khấn vái Phật Trời cầu cho tai qua nạn khỏi, lại giết các thú vật tế Thần cúng Thánh, kêu cốt, kêu đồng.  Họ không chịu tìm nguyên nhân các sự họa hoạn, không chịu tìm hiểu rằng những tai biến xảy ra đều do căn tiền báo quả hậu, và không chịu ăn năn chừa lỗi, tạo tác phước điền.  Trong khi giết các thú vật đặng tế lễ, họ đã phạm thêm một tội ác lúc họ chưa đền bồi các tội ác trước được.  

 

Chẳng những vậy thôi, họ còn giết các thú vật vì sự vui thích của mình; kẻ bắn chim đang bay trên trời, người chặt cá đang lội dưới nước.  Họ bắt thú vật làm tấm bia cho họ nhắm trong những khi cao hứng quên hẳn rằng sanh vật cũng có linh hồn, cũng có thân xác, cũng biết tìm lẽ sống còn như nhân loại vậy.  

 

Thế nên, hãy tha thứ cho chúng, hãy dung dưỡng chúng, và nhứt là đối với các gia súc: trâu, bò, ngựa, chó, mèo… chẳng khá sát hại, vì chúng đã giúp ích cho ta trong các việc sanh hoạt hằng ngày.  Tóm lại, không có sự sát sanh vô cớ nào có thể tha thứ được và trong những ngày chay lạt hãy cữ hẳn.

 

2.   ĐẠO TẶC: Câu: “Bần cùng sanh đạo tặc” cần phải là một câu chữa mình của bọn bất lương vô đạo. Những kẻ này ngày vẩn vơ đầu đường xó chợ, tối kiếm chỗ khoét vách đào tường, không làm muốn có ăn, không lo muốn có mặc.  Lớp người cặn bã của xã hội này, sống ngoài vòng pháp luật, trốn nhủi trốn chui, phá rối sự an ninh của dân chúng, chuyên lo giết người cướp của đoạt giựt tài sản của lương dân, không nghĩ rằng phải tốn bao nhiêu giọt mồ hôi, bao nhiêu dòng nước mắt mới làm ra được.  Họ là giống sâu làm rầu nồi canh, là tội nhân gây ra những tai biến trong những gia đình cần lao kiệm tiết, là nguyên nhân của sự nghèo sự khó, họ phá hoại hạnh phúc của con người. 

 

Cơ hàn đói khó, thay vì phải làm lụng như những kẻ khác mưu cuộc sống còn, họ gây cái lỗi này rồi đến cái lỗi khác, phạm tội này rồi tới tội nọ, tạo chẳng biết bao nhiêu chuyện bất lành cho nhân chủng.  Lưới trời tuy thưa nhưng khó lọt, những kẻ ấy dầu họ không bị luật hình của loài người phân xử, song cơ Trời cũng sẽ báo ứng đến những hành vi đen tối, nếu họ không chịu ăn năn chừa lỗi, sửa tánh tu thân, bỏ thói vô nghì, lánh điều phi nghĩa.

 

3.   TÀ DÂM: “Muôn việc lành hiếu thuận đứng đầu, ngàn việc dữ tà dâm đứng trước”.   Sách sử thường bảo như thế.  

 

Lần giở xem sử sách, thời thấy tội ác ấy lan diễn ra khắp nơi, từ trào nội cho đến thứ dân, từ trong gia đình đến kẻ xa người lạ, nó là mầm gây ra biết bao thảm trạng!  Gương của vua Tề với vợ Thôi Tử, An Lộc Sơn với Dương Quý Phi há chẳng còn lưu liên hậu thế.  Giàu ỷ của hiếp dâm kẻ khó, quan ỷ quyền cường bức đám dân hèn.  Gian phu, dâm phụ từ xưa đến nay luôn luôn đều có.  

 

Muốn tránh sự bại hoại nền luân lý nước nhà, muốn giữ gìn tiếng tăm của gia thế, phải đừng để dục tình lôi cuốn, bắt chước gương xưa trau giồi lòng hiếu trung trinh tiết.

 

4.   LƯỠNG THIỆT: Đứng đầu các tội ác do miệng lưỡi gây ra, ác lưỡng thiệt này đã làm duyên cớ cho những sự hiểu lầm nhau, những sự cãi vã gây gổ sanh oán sanh thù.  Sự phải của người thì bớt, sự quấy của người thì thêm, cái lưỡi đã tạo những sự chia rẽ, những cuộc phân tranh, phá tan sự đoàn kết tình thân yêu giữa nhân loại.  Nó cũng là nguồn cội của bao nhiêu bất hòa, hiềm khích.  

 

Để giải trừ những tai vạ ấy, phải giữ cho lời nói mình được thành thật, chánh đáng; được vậy trong hương đảng mới bớt rầy rà, ngoài xã hội không điều xích mích, và mình cũng không còn chịu ác cảm, tránh sự miệt khinh của kẻ khác.

 

5.   Ỷ NGÔN: Nói đến tội ác nầy tức là nói đến những vụ chủ ỷ quyền nhiếc xài tôi tớ, quan ỷ thế mắng chưởi dân ngu.  Kẻ giàu có thường ỷ tiền bạc xài xỉ người nghèo, kẻ xảo quyệt ỷ sự khôn lanh nói những điều thất thiệt, kẻ học thức ỷ sự khôn ngoan dùng lời nói hạ nhục người dốt nát.  

 

Hãy tránh những sự hiếp người như thế ấy, vì những kẻ dưới tay mình cũng có đầu óc, cũng biết nghĩ suy, nhưng họ bạc phước vô phần nên phải chịu lụy mình vậy.  Nếu họ có lỗi lầm hãy dạy dỗ họ, dùng những cam ngôn mỹ từ, những lời trang nghiêm êm dịu chỉ bảo, không khá bao biếm mà mang điều tội lỗi.

 

6.   ÁC KHẨU: Những tiếng thề thốt lỗ mãng, chưởi mắng tục tằn làm ra tội này; con chưởi mẹ mắng cha không kể luân thường thảo hiếu; mạnh bạo hăm he đánh giết những kẻ yếu hèn, hiếp đáp xóm chòm cô bác.  Mở miệng ra chưởi gió mắng mây, trù rủa gia đình, không kiêng Thần Thánh.  Tối ngày kêu réo Phật Trời, mời thỉnh Long cung, làm cho tội lỗi càng thêm chồng chập.  

 

Hãy bỏ những tiếng tục tằn thô lỗ làm cho đời sống được êm dịu thanh bay hơn.  Đối với cha mẹ phải có lễ độ, với gia đình, với bà con cô bác, với xóm chòm quen thuộc, lời nói mình phải đoan trang nghiêm chỉnh.  Đối với con cháu trong nhà không nên nói những điều ác đức, phải dùng lời nói dịu dàng hiền hậu dạy dỗ chúng.

 

7.   VỌNG NGỮ: Thêm thừa huyễn hoặc, có nói không, không nói có, ác vọng ngữ đã làm nguyên nhân cho những sự bất công của nhân loại.  Thương người nào kiếm cách bào chữa giấu giếm sự quấy và thêu thùa sự tốt ra; ghét ai đặt điều nói xấu và che đậy các điều phải của họ.  Khoe khoang tự đắc, xảo trá đa ngôn, những kẻ điêu ngoa làm cho thiên hạ khinh khi miệt thị. 

 

Muốn tránh những điều khiến cho tư cách nhân quần phải bị giảm hạ, hãy tập tánh nói năng chân chánh, bỏ lối láo xược trớ trêu.  Chẳng nên tráo chác với người, bỏ tiếng xảo ngôn và phải dùng lời chơn chất.

 

8.   THAM LAM: Tánh tham lam đã làm cho loài người phải chịu bao nhiêu thảm khổ: chiến tranh, cướp bóc, giết người…  Tham danh, tham lợi, tham sắc, tham tài, tham quyền, tham thế…  Những sự ấy đã xô đẩy con người vào chẳng biết bao nhiêu cuộc chiến đấu ác liệt, gây nên những thảm họa tầy trời.  Những tấn tuồng giặc giã cướp của sát nhơn, những vụ hối lộ, những vụ tranh thế giành quyền đã làm cho nhân sanh điêu linh trong vòng tai nạn khốc hại.  Cái tham ấy cũng đã làm cho con người đau buồn hận khổ, phải khóc đứng than ngồi, phải liều mình tự sát chỉ vì sự ham muốn không được thực hiện; người ta quyên sinh vì tình yêu, vì lợi quyền, vì thất trận…  Những cuộc cấu xé lẫn nhau, những vụ nồi da xáo thịt, những tương sát tương tàn, những điều hung hăng bạo ác cũng do sự tham lam mà ra cả.  Ngày giờ nào loài người diệt được tánh ham muốn của mình, ngày giờ ấy bớt được một phần lớn của sự khổ.  Vả lại, ở đời phải có những lúc thăng trầm chìm nổi, có thì ta xài, không ta nhịn, can gì phải bày mưu tính kế chiếm đoạt của kẻ ngoài.  Của là của chung trong thiên hạ, đời ta còn, nó còn; đời ta mất, nó mất.  Gương Thạch Sùng, Vương Khải há không để lại cho ta một bài học đích đáng lắm ru?  Thế nên hãy nghĩ đến người cũng như mình nghĩ đến mình, hãy dẹp lòng vị kỷ tham lam, lo vun trồng phước đức, bố thí kẻ nghèo hèn, rán công phu sám hối để có thể yên vui nơi miền Cực Lạc, lánh sự giả tạm ở cõi trần này.

 

9.   SÂN NỘ: Tánh nóng nảy thường xúi con người làm những chuyện bất công sái phép, chém giết oán thù nhau.  Kẻ thắng kiêu hãnh, người bại hổ ngươi, nên sự hềm thù càng lan rộng.  “Giận mất khôn”, cơn giận làm cho con người cuồng trí, mất sự tự chủ, trở nên dữ dằn bạo tợn, chẳng còn nghĩ đến việc công bình, lẽ phải trái.  

 

Diệt được nó, tâm ta được thảnh thơi, trí ta được thong thả.  Hãy mở lượng khoan hồng dung tha kẻ lầm lỗi.  Hãy nhẫn nhịn và chẳng nên cãi cọ, tranh luận hơn thua làm cho nảy sanh ra những điều hềm khích.

 

10.                  MÊ SI: Tội ác này do sự thiếu óc phán đoán, thiếu sự nghĩ suy mà ra; vì vậy con người ít hay phân biệt được lẽ phải trái, bo bo giữ thiển kiến sai lầm, chẳng chịu nhìn nhận chân lý.  Suốt cả đời ngu muội, chỉ biết mê man theo những vật nhỏ nhen, mau tan, mau rã, chỉ biết tin bướng làm càn, không tìm hiểu con đường giải thoát.  

 

Hãy xóa bỏ những điều mê tín, qui thuận theo tinh thần đạo đức, lánh chốn mê lầm, tỉnh cơn mộng huyễn, phá tan màn vô minh che mờ tâm trí, lần bước trên con đường đạo hạnh, đi đến chỗ Bất diệt, Bất sanh.

 

 

 

III.          Luận Về Bát Chánh

 

Trừ xong ba nghiệp chướng, hãy làm theo tám điều chánh và sau khi diệt được thập ác rồi, tự nhiên mười điều lành hiện ra: như thế ta đã đi thêm được một bước trên con đường Đạo hạnh.  Những sự tấn bộ ấy không có nghĩa là đạt được mục đích.  Thế nên, cần phải hành luôn Đạo Bát Chánh tiếp theo, vì đó là quyển kinh nhựt tụng của những ai muốn thoát chốn mê đồ, tấn triển trên đường giải thoát.

 

Bát Chánh gồm có:

1. Chánh kiến
2. Chánh tư duy
3. Chánh nghiệp
4. Chánh tin tấn
5. Chánh mạng
6. Chánh ngữ
7. Chánh niệm
8. Chánh định.

 

1.   CHÁNH KIẾN: Chánh: đúng sự thật.  Kiến: thấy, xem xét.  

Chánh kiến: dòm thấy, xem đúng theo sự thật.  

 

Phàm con người thường hay bị bản ngã lôi cuốn trí mờ ám làm cho sai chạy ít nhiều sự thật.  Khi vì thiếu sự sáng suốt, khi vì tư thù, khi vì lợi kỷ, khiến cho con người không biết đường ngay nẻo thẳng nên sự phán đoán không công bình chánh đáng làm cho kẻ khác chịu oan tình.  Vì thế mục Chánh Kiến dạy ta phải đem hết trí năng truy cứu các sự rắc rối, cẩn thận xem xét tránh sự lạc lầm trong khi phê đoán bất cứ việc gì, dầu của mình hay của kẻ khác.  Sự quan sát cực điểm, cách xét đoán tận tường, tránh cho ta những tà kiến (sự xem xét lầm lạc) sai chạy, khiến ta dẹp bản ngã đã làm cho trí tuệ mịt mờ u ám, giúp cho ta hiểu biết rõ ràng, minh bạch, cách phán đoán được ngay thẳng công bình.  

 

Chẳng thế, nó còn giúp cho ta hiểu biết các điều tục lụy trong trần, biết được lẽ nhiệm mầu tôn giáo khiến ta xua đuổi các điều tà mị, bỏ các sự say mê, trở về với đạo lý, thoát đọa hồng trần.  Nó tránh cho ta tất cả những sự giả dối và nhờ thế, nên ta khỏi bị lạc lầm trong khi hành Đạo.

 

2.   CHÁNH TƯ DUY: Tu tưởng chân chánh.  Sanh ở trong trần con người thường hay bị các thị dục cám dỗ: lợi danh, quyền tước, nghĩa vợ tình chồng… cái tư tưởng đã rù quến tâm trí mãi mãi quay cuồng vào những sự ấy, không thế nào thoát ly ra được.  Ấy về phần tà. 

 

Phần chánh dạy rằng: tâm cần phải bình, tánh cần phải tịnh, giữ tư tưởng cho thanh cao, trí rán tìm cái Chân lý, Chân lý ấy là cái Đạo của mình đối với nhân loại, của mình đối với Trời Phật, của mình đối với mình.  Vì thế, hãy đặt tư tưởng mình vào công cuộc tìm phương cứu giúp sanh linh trong vòng trầm luân oan nghiệt.  Hãy tin tưởng Phật Trời và cầu nguyện đấng Thiêng liêng ban bố phước lành cho nhân chúng. Hãy tìm con đường giải thoát cho mình bằng cách lạc Đạo an bần, xả thân tu tỉnh.

 

3.   CHÁNH NGHIỆP: Việc làm chánh đáng ngay thẳng.  

 

Đối với kẻ xuất gia đầu Phật, ngoài những lúc tham thiền nhập định, những khi trì tụng kinh hành, những khi đọc kinh viết sách, những lúc công quả cho nhà Thiền, chẳng có làm việc chi có thể tạo thành ác nghiệp cả.  

 

Những kẻ tại gia cư sĩ, trái lại, còn cần phải lo kế sinh nhai, mưu cuộc sống còn; kẻ buôn tảo bán tần, người việc này việc nọ, tóm lại cũng vì xác thân mà ra cả.  Tuy nhiên, dầu đời sống của họ có bị sự sinh nhai chi phối, song cái chi phối ấy khác hẳn với kẻ gian tà đạo tặc, chẳng có làm việc gì xảo trá bất nhân. Trong cuộc mưu cầu cho lẽ sống, họ cũng nguyện bỏ những nghề nghiệp gây tai hại cho con người: nuôi điếm, bán á phiện, buôn rượu, đầu cơ, cho vay cắt cổ v.v…  

 

Đành rằng những người buôn bán ấy không có ép buộc bạn hàng, song tại có họ làm các nghề nghiệp ấy, con người mới bị hư hỏng, trụy lạc, hoang đàng, trà đình tửu điếm…  Họ là đồng lõa mà phạm nhân là những kẻ nghiện ngập say sưa.  

 

Thế nên mục Chánh Nghiệp răn cấm chúng ta làm các nghề ấy.  

 

Kẻ tại gia cư sĩ cũng chẳng sát hại vô cớ các sanh vật, hoặc không đánh đập chém đâm ai có thể gây ra nhiều điều tội lỗi.

 

4.   CHÁNH TIN TẤN: Tín ngưỡng chân chánh và lướt tới.  

 

Phái vô thần luận thường cho rằng thân xác tức con người.  Thân còn tức người còn, thân mất là người mất.  Không có Thánh, Thần, Trời, Phật; không quả báo luân hồi; cũng chẳng có tội, có phước, có vía, có hồn.  Đời là thân xác con người, sống là tranh đấu, mạnh được yếu thua.  Thế nên biết bao nhiêu mánh khóe gian hùng, bao nhiêu ngón điêu ngoa xảo trá, bao nhiêu tàn bạo ngược ngang đều được đem ra dùng cả thảy.  

 

Vì vậy, mục Chánh Tin Tấn này khuyên hãy rán giữ đức tin cho mạnh mẽ.  Dầu các thị dục có lớn lao thế mấy, dầu cho có sức lực gì cám dỗ hay bức bách bỏ lòng tín ngưỡng Phật Trời đặng theo việc khác, các sự ấy cũng chẳng thể lôi kéo được.  Và ta luôn luôn phải nhớ đến công cuộc cứu vớt quần sanh thoát nơi khổ hải của Đức Thế Tôn, phải nhớ rằng sanh linh đang chìm đắm trong bể hồng trần, rằng ngày giờ nào còn có kẻ trong chúng sanh chịu khổ thì ta cũng phải khổ vì họ vậy, rằng ta có cái bổn phận giác ngộ trần gian, bỏ những oan trái luân hồi cay nghiệt.  Muốn thế trước hết phải tìm phương tự giác, nhắm cảnh Niết Bàn tấn tới; quyết chí tu thân đắc thành Đạo quả hầu dìu dắt bá tánh thập phương xa miền tục lụy.  Người bỏ hết các sự rầu buồn, các điều tà vạy, dẹp lục căn lục trần, và rán làm cho tinh thần được thêm sáng suốt, rèn luyện các đức tánh cho thiện mỹ: yên tịnh, hỉ lạc, nghiêm tranh, quyết gắng công phu, một lòng bước tới Niết Bàn đặng quyết có tế độ chúng sanh thoát khỏi luân hồi quả báo.

 

5.   CHÁNH MẠNG: Sanh mạng chân chánh, trong sạch.

 

Ở đời, người ta hay lấy xác thân mình làm gốc và hay quí trọng săn sóc nó.  Ấy cũng do lục căn mà ra: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý.  Mắt ưa xem sắc đẹp, tai ưa nghe tiếng hay, mũi ưa ngửi hương thơm, lưỡi ưa đồ ngon béo, thân ưa sự sung sướng, ý ưa chức phận cao.  

 

Người ta tìm đủ phương thế bổ dưỡng thân xác mình, làm cho trí tuệ càng ngày càng thêm mờ ám, ngu đần, không còn lo lắng đến sự tiêu diệt.  Thế nên, hãy xa lánh những điều làm tinh thần bị đen tối; bỏ hết đài các xa hoa, thân mình tự chủ để tìm chỗ bất diệt bất sanh; thiền định đặt làm thể, trí tuệ đặt làm mạng, linh hồn nhập Liên hoa, siêu sanh vào cõi Niết Bàn.

 

6.   CHÁNH NGỮ: Lời nói chơn thật.

 

Lục căn làm cho con người nhiễm lục trần.  

 

Vì muốn nuôi dưỡng xác thân nên mới sanh ra các điều ham hố là nguồn cội các tội lỗi.  Trong những tội lỗi ấy, cũng có nghiệp chướng của miệng lưỡi: lưỡng thiệt (làm cho thiên hạ bất hòa nhau); ỷ ngôn (lời chưởi mắng kẻ dưới tay); ác khẩu (tiếng độc ác tục tằn, chưởi rủa Thần Thánh); vọng ngữ (nói láo, nói huyễn hoặc).  

 

Hãy tập lời nói mình cho chân chánh, đúng với sự thật; hãy bỏ hết những xảo ngôn tráo chác, những tiếng thô lỗ cộc cằn, phàm những khi bàn luận việc chi, phải nói lời tỏ tường ngay thẳng.  Đối với kẻ dưới bề trên, lời nói phải cho hiền lương đức hạnh, và những sự khuyên dạy chỉ bảo kẻ khác làm theo lẽ phải đều có ích lợi cho chúng sanh và đều hạp với tinh thần đạo đức.

 

7.   CHÁNH NIỆM: Ghi nhớ sự chân chánh.

 

Còn cũng tưởng, mất cũng tưởng, có cũng tưởng, không cũng tưởng, thành cũng tưởng, bại cũng tưởng, thương cũng tưởng, ghét cũng tưởng.  Thất tình lục dục bắt buộc con người phải phí biết bao nhiêu tâm cơ, bao nhiêu trí não phụng sự nó.  Danh lợi, cảm tình, uy quyền, phú quí… được hằng ngày ghi nhớ.  Vì thế con người mãi mãi lăn lộn trong sáu đường, không thoát khỏi vòng sanh tử.  

 

Để thoát chỗ luân hồi bỏ cuộc đời lầm than hoạn họa, hãy rán tưởng niệm phương pháp hành đạo, bỏ các điều phù phiếm, ghi nhớ công lao Đức Phật đối với quần sanh, bia tạc vào lòng những điều Phật giáo. Phải nhớ rằng xác thân do tứ đại (đất, nước, lửa, khí) tạo thành và sớm muộn gì nó cũng sẽ bị tan rã. Đặng vậy, ta mới bỏ được các sự xúc động, các mối dục tình, tránh điều khổ lụy do nó gây nên.

 

8.   CHÁNH ĐỊNH: Suy gẫm chân chánh.

 

Con người thường hay có những ý định làm cho mình được sáng thêm lên, được giàu thêm lên, được sung sướng thêm lên… nghĩa là những ý định hoàn toàn nhỏ-nhen thấp thỏi.  Họ không hiểu rằng cuộc đời là giả tạm, nay vầy mai khác, thân thế lạc luân, của cải gia tài như đám phù vân trước gió, nước bọt, mây bèo. Những cái Sanh, cái Bịnh, cái Lão, cái Tử được đặt lên cuộc đời của người này rồi đến người khác… rồi đến người khác nữa, nghĩa là tất cả nhân loại không thiếu sót một ai.  Thế mà, họ vẫn cuống cuồng tâm trí theo bã lợi danh, mùi phú quí, đi theo những vặt vụn tiểu ti eo hẹp. 

 

Họ không chịu hiểu rằng, ngoài kiếp phù du của trần thế, có cái gì không di không dịch, vĩnh viễn trường tồn.  Nếu lấy sự Thiền định phá tan màn u minh che phủ, thì thấy rằng ở cảnh ấy con người sẽ hết buồn, hết khổ, hết quả báo luân hồi.  Và khi ta dùng sự Chánh Định dẹp bỏ hết các sự phiền não rầu buồn, phá tan các làn sóng thị dục lôi kéo vào những nẻo tà, tâm ta chẳng còn xao động, trí ta tỏ rạng như trăng rằm, một màu sáng suốt không nhiễm ô cảnh ngoại, dứt tuyệt hết phàm trần, lần bước đi đến cõi Giải thoát.

 

 

IV.          Cách Thờ Phượng, Hành Lễ Và Sự Ăn Ở Của Một Tín Đồ Phật Giáo Hòa Hảo

 

1.   THỜ PHƯỢNG

Từ trước đến nay, các chùa chiền đã tạo quá nhiều hình tượng.  Đành rằng vì tôn kính đấng Từ Bi mới làm ra thờ phượng Ngài, nhưng cũng có kẻ lợi dụng để thủ lợi.  Bây giờ chúng ta không nên tạo thêm nữa. Làm thế, chúng ta không cố ý hủy báng sự phượng thờ của các chùa chiền.  Cách thờ phượng tùy theo điều kiện của các sư mà chúng ta cũng có thể sùng ngưỡng đặng.  Nhưng riêng về cư sĩ ở nhà không nên tạo thêm nữa; nên thờ đơn giản cho lòng tin tưởng trở lại tâm hồn hơn ở vào sự hào nhoáng bề ngoài.  Từ trước chúng ta thờ trần điều là di tích của Đức Phật Thầy Tây An để lại.  Nhưng gần đây có nhiều kẻ thờ trần điều tự xưng là cùng tông phái với chúng ta, làm sái phép, sái với tôn chỉ của Đức Phật, nên toàn thể trong Đạo đổi lại màu dà.  Lại nữa, từ trước đến giờ các sư dùng màu dà để biểu hiệu cho sự thoát tục của mình, và màu ấy là sự kết hợp của tất cả các màu sắc khác, nên có thể tượng trưng cho sự hòa hiệp của nhân loại không phân biệt chủng tộc và cá nhân.  Vì vậy chúng ta dùng nó trong chỗ thờ phượng để tiêu biểu cho tinh thần vô thượng của nhà Phật.  

 

Nếu trong nhà chật, nội bàn Thông Thiên với một lư hương không cũng được, bởi vì sự tu hành cốt ở chỗ trau tâm trỉa tánh hơn là do sự lễ bái ở ngoài.  Còn người nào có cốt Phật trong nhà để vậy cũng đặng. Hình tượng bằng giấy không nên chừa lại và phải đốt đi.  Kẻ nào phải ở chung đậu với người khác không có tu hiền hay không cùng một Đạo với mình, hoặc nhà cửa nhỏ hẹp quá không có chỗ phượng thờ, thì đến khi cúng kiếng chỉ vái thầm và niệm Phật trong tâm cũng đặng.

 

Về cách cúng Phật, chỉ nên cúng nước lạnh, bông hoa và nhang thôi.  Nước lạnh tiêu biểu cho sự trong sạch, bông hoa tiêu biểu cho sự tinh khiết, còn nhang dùng đặng báng mùi uế trược.  Ngoài ra chẳng nên cúng một món gì khác cả.  Bàn thờ ông bà cúng món chi cũng đặng. 

 

Ngoài sự thờ Phật, Tổ tiên, ông bà, cha mẹ và những anh hùng của đất nước, không nên thờ vị tà thần nào khác mà mình không rõ căn tích.

 

2.   HÀNH LỄ

Chỉ thờ lạy đức Phật, Tổ tiên, ông bà cha mẹ lúc còn sống và các vị anh hùng cứu quốc.  Với những kẻ khác, nên bỏ hẳn sự lạy lục người sống, cho đến Thầy mình cũng vậy, chỉ xá thôi. 

 

Tất cả các hành động trong Đạo hay ngoài đời, trước khi làm điều gì phải tính toán một cách cẩn thận, đừng làm chuyện ngông cuồng vô ý thức.  Một đừng ỷ lại vào kẻ mạnh, hai đừng ỷ lại vào sự cứu vớt của Thần Thánh, ba đừng ỷ lại sự binh vực của Thầy mình.  Luôn luôn, lúc nào cũng phải nhớ câu Nhơn Quả của Phật dạy, nếu Nhơn toàn thiện thì Quả cũng sẽ do đó được toàn thiện vậy.  Kẻ nào hành động ngông cuồng không suy xét cẩn thận để đến đỗi thất bại đem đến sự khó khăn, khổ não, rồi trách cứ kẻ mạnh sao không cứu mình, Thầy sao không giúp mình, Trời Phật sao không độ mình, thì sự lầm lạc ấy rất đáng thương hại.  

 

Mỗi người hãy nên lấy trí thông minh nhận xét đạo lý hay lời nói của Thầy mình, chớ đừng lấy đức tin thọ lãnh những lời nói đó trong khi mình chưa hỏi tường tận.  Như thế, mình mới có thể tấn hóa trên con đường đạo đức.  

 

Những điều sơ lược giải thích trên đây mong rằng toàn thể trong Đạo suy gẫm kỹ càng và thực hiện để bài trừ sự mê tín ngông cuồng của thiểu số người trong Đạo, làm cho tư tưởng thiện hòa của Phật Đạo được phát triển mau chóng.

 

3.   TANG LỄ

Lúc ông bà cha mẹ từ trần, tục để tang chúng ta vẫn giữ theo cổ lệ, chỉ cần sửa đổi các sự như sau đây:

 

Bây giờ chúng ta đã quy y đầu Phật thì phải do sự thành tâm cầu nguyện, và đem sức khấn vái của anh em trong Đạo cầu nguyện cho vong linh người chết được siêu sinh nơi cõi thọ.  Chẳng nên rước những ông thầy dưng bông, đốt giấy tiền vàng bạc xá phướn lầu kho, vì đó là chuyện tốn tiền vô ích, bởi vì ta nên nhận định rằng xác thịt là hư hoại, thì trong lúc chết chỉ nên đem chôn cất cho kín đáo, đừng để hôi thúi có hại cho người sống, như thế là đủ rồi.  Còn hiếu sự do hồi còn sanh tiền và do sự tu hành, sự thành tâm cầu nguyện chớ không phải có tiền rước người khác cầu nguyện mà đạt được hiếu thuận nhơn nghĩa. Chỉ vọng bàn giữa nhà hay giữa trời mà cầu nguyện, rồi im lặng đi chôn.  

 

Về việc cúng kiến ông bà cha mẹ, có chi cúng nấy, trong những ngày kỷ niệm theo như tục lệ.  Còn về việc đãi đằng hương đảng thì tùy ý.  Những điều nào xét ra giản tiện, ít lãng phí cứ làm.

 

4.   CÁCH CẦU NGUYỆN CHO NGƯỜI CHẾT
Mỗi người đứng trước bàn Phật niệm “Nam-Mô Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật” (ba lần), và “Nam -Mô A-Di-Đà Phật” (ba lần).  

 

Vái: “Phật-Tổ, Phật-Thầy, nay mình thành tâm cầu nguyện cho tên…. (tên người chết), nhờ ơn Đức Phật từ-bi cứu-độ vong-linh được thoát chốn mê-đồ, vãng-sanh miền Cực-Lạc!”

 

Trong lúc ở nhà hay trong lúc đưa đám tang gì cũng vậy, nếu có tổ chức sắp hàng chắp tay niệm: “Nam-mô Tây-phương Cực lạc thế-giới tam thập lục vạn ức, nhứt thập nhứt vạn, cửu thiên ngũ bá đồng danh đồng hiệu đại-từ đại-bi tiếp dẫn vong linh A-Di-Đà Phật” (nếu người chết là nhà sư thì câu chót đọc: “Tiếp dẫn Đạo sư A-Di-Đà Phật“.

NÊN LƯU Ý: Tang-gia đừng nên khóc-lóc làm trở-ngại sự siêu-thoát anh-linh của người chết.

 

5.   HÔN NHƠN

Bổn phận cha mẹ phải chọn lựa đôi bạn cho con một cách xứng đáng bằng sự quan sát tường tận về đức tánh đôi trai gái.  Không nên ép uổng con mình quá đáng, vì như thế làm cho khốn khổ nó về sau, nhưng cũng không nên để chúng quá tự do mà sự thiếu kinh nghiệm làm cho đời chúng phải hư hỏng.  

 

Nên bỏ tục lệ thách giá đòi tiền và đòi lễ vật.  Thông gia hai bên không nên làm khó cho nhau.  Cũng chẳng nên bày ra tiệc, lễ linh đình tốn kém nhiều tiền, làm cho trở nên nghèo khổ.

 

6.   NHỮNG ĐIỀU ĐƯỢC TRÁNH HẲN HOẶC ĐƯỢC CHÂM CHẾ HOẶC NÊN LÀM

 

A. UỐNG RƯỢU: Phải cữ tuyệt.  Nhưng khi có tiệc lễ với người ngoài và không phải nhằm ngày chay lạt, có thể dùng một đôi chút rượu thật nhẹ để đừng có tỏ sự chia rẽ với kẻ ngoại Đạo.  Nếu say sưa sẽ phải tội lỗi.

 

B. THUỐC PHIỆN: Phải cữ tuyệt, không được hút một điếu nào hết.  Những kẻ hút, muốn vào Đạo phải bỏ hút rồi mới được nhìn nhận.  Trừ ra những người đau mà thầy thuốc bảo phải dùng một chút ít hợp với các vị thuốc khác mới có thể châm chế đặng.

C.CỜ BẠC: Phải cữ tuyệt.  Những kẻ cờ bạc muốn vào Đạo phải thệ nguyện bỏ cờ bạc rồi mới được nhìn nhận.  Về sự này, chẳng có cuộc vui nào có thể châm chế đặng.

 

D.ĐỐI ĐÃI CÁC TĂNG SƯ: Tất cả bổn đạo nên cung kính các tăng sư tu hành chân chánh.  Nếu các ông ấy có dạy điều chánh lý, phải nghe lời.  Đối với những hạng tu hành mà mình biết rõ là dối thế (như mấy ông thầy đám…) hãy tìm cách khuyên can các ông trở lại con đường chân chánh của Đạo Phật.  Nếu các ông vẫn tiếp tục làm điều tà mị, mình phải bài trừ triệt để và giảng giải cho quần chúng cùng những tín đồ nhà Phật hiểu đặng xa lánh họ.

 

E.  ĐỐI VỚI CHÙA CHIỀN: Những ngày vía của các Đức Phật, ngày rằm hay ba mươi, mình muốn đi chùa cũng tốt, đặng lễ Phật, dưng hoa, không có cấm.  Nếu chùa nào nghèo, hư, rách, mà mình giúp đỡ được càng tốt (có điều mình không nên mua sắm hình tượng cho nhiều). 

 

Khi đến chùa cũng phải tôn trọng sự thờ phượng trong chùa, không nên hủy báng.

 

F.  ĐỐI VỚI CÁC TÔN GIÁO KHÁC VÀ NHÂN SANH: Đối với những người theo tôn giáo khác, không nên động chạm đến cách thức tu hành của họ.  Nhứt là không ỷ đông hiếp đáp hoặc nói xấu người ta.  Nếu họ có làm dữ với mình, thì mình cũng chẳng được phép vì sự dữ của họ mà trả thù, và phải luôn luôn làm lành với họ.  Mình phải hoài hoài làm phải với những kẻ ấy, dầu họ có làm quấy với mình cũng mặc và phải nhẫn nhịn họ. 

 

Đối với nhân sanh, bao giờ cũng phải hòa hợp với họ, và làm cho đôi đàng có thiện cảm với nhau.  Phải biết thương xót đến họ và nếu khi nào họ cần dùng, phải rán sức giúp đỡ họ.

 

G.ĐỂ TÓC: Tất cả bổn đạo nên biết rằng Thầy không có buộc để tóc, vì đó thuộc về phong tục chớ chẳng phải về tôn giáo; nhưng sở dĩ Thầy để tóc là muốn giữ kỷ niệm cái phong tục cổ của Tổ Tiên và tỏ cho thiên hạ biết Thầy không chịu ảnh hưởng cái đời văn minh cặn bã của phương Tây.  Thấy vậy, nhiều người trong bổn đạo yêu mến Thầy liền bắt chước, vì thế số đông người hiểu lầm rằng để tóc là tu.  Thật ra tu là tu, để tóc là để tóc, và tu không phải là để tóc, để tóc không phải là tu.  Nếu để tóc mà không chịu trau tâm sửa tánh cũng chẳng phải là kẻ tu hành.  Từ rày trở đi đã thoát được ách người Pháp và tùy theo phong trào tiến hóa của nước nhà, Thầy cho phép bổn đạo tự do cải cách hầu hòa hợp với lương dân cùng tôn giáo khác.

 

H.SỰ HỌC: Sự học hành không làm trở ngại cho đạo đức.  Trái lại nhờ nó mình biết được rõ ràng giáo lý cao siêu của tôn giáo.  Nó tránh cho mình những sự lạc lầm, bỏ các điều dị đoan mê tín.  Nó làm cho mình dẹp bỏ các điều huyễn hoặc, không bàn bạc những chuyện xa vời (như tiên đoán thiên cơ chẳng hạn…). 

 

Vậy hãy tự mình học hỏi (học chữ quốc ngữ) và hãy cho con cháu mình vào trường học tập đặng sự hiểu biết của chúng thêm rộng rãi.  Vả lại, sự hiểu biết về khoa học không cản trở sự tu hành và nó giúp mình nghiên cứu Phật Đạo một cách rành rẽ.

 

I.     THỂ DỤC: Người trong bổn đạo nam nữ bất luận, phải giữ gìn thân thể cho khỏe mạnh.  Như thế nên luyện tập những môn thể dục nào hợp với sức khỏe, nếu mình muốn, bởi vì xác thịt có khỏe mạnh tinh thần mới sáng suốt, như vậy mình mới có thể làm sự đạo nghĩa một cách đắc lực.

 

J.    ĂN Ở: Kẻ tu hành ăn uống phải có điều độ.  Tránh những món ngon sống nấu toàn đồ độc cho cơ thể ăn vào sanh bịnh. 

 

Phải giữ gìn thân thể sạch sẽ và từ nhà cửa cho đến chỗ ăn, chỗ nằm, phải biết trọng vệ sinh.  Bỏ những thói quen ăn ở dơ bẩn, vì xác thịt dơ dáy thì tinh thần không thể nào mở mang được, và vì Thần Thánh chỉ gần những kẻ trong sạch; nên nếu ai muốn được tiếp-độ phải trong sạch vừa tinh-thần lẫn vật-chất.

 

K.CÁCH LÀM ĂN: Cách làm ăn phải y như mục Bát Chánh đã dạy:

–       Bỏ những sự bất chánh: lường cân, tráo đấu, buôn lậu, đầu cơ, buôn rượu, bán thuốc phiện… 

–       Làm những nghề lương thiện, không có lường gạt ai, bỏ những thói gian xảo.

 

7.   ĐIỀU KIỆN VÀO ĐẠO

Người nào muốn quy y phải có hai người bổn đạo cũ, có đức hạnh tiến cử và bảo lãnh, đến Ban Trị Sự trong làng cho người làm đầu biết và người làm đầu phải đọc hết thể lệ về sự tu hành cho người quy y nghe, hỏi coi có bằng lòng quy y như lời nguyện dạy và răn cấm trong Đạo chăng.  Nếu họ bằng lòng, biểu họ về nhà cho ông bà, cha mẹ biết, hoặc nguyện trước bàn thờ ông bà, tổ tiên rằng: Ngày… tháng… con chịu quy y theo Đạo.  Sau đó, người làm đầu (Hội trưởng) cho cuốn sách nhỏ này.  Chỗ nào không có Ban Trị Sự, hai người bổn đạo cũ phải dìu dắt người mới, rồi sau sẽ dẫn đến Ban Trị Sự gần đó, không bắt buộc thề thốt chi hết, vì người muốn tu do nơi sự phát nguyện của mình thôi.  Khi nào mình không muốn giữ Đạo, mình phải cho người tiến cử hay đặng bôi tên mình ra.  Không người nào được phép xưng mình là người trong Đạo mà lại không giữ luật.  Kẻ nào làm trái với luật lệ trong sự đạo đức dầu không xin thôi Đạo hay là chưa bị bôi tên cũng bị trách nhiệm việc làm của họ và bị coi như người ngoại Đạo.

 

Nên nhớ rằng: Đức Phật sẽ dìu dắt và ủng hộ những kẻ nào làm ăn chơn thật, hiền lành, đúng theo giáo lý của Ngài; chớ không bao giờ Ngài lại ủng hộ những kẻ gian tà xảo quyệt, làm các việc hung ác ngông cuồng trái những lời mà Ngài đã chỉ dạy.

 

 

V.          Sự Cúng Lạy Của Người Cư Sĩ Tại Gia

 

BÀI NGUYỆN TRƯỚC BÀN THỜ ÔNG BÀ

 

–       Cầm hương xá 3 xá, quì xuống, chắp tay đưa lên trán nguyện:

Cúi kính dưng hương trước Cửu-Huyền,
Cầu trên Thất-Tổ chứng lòng thiềng.
Nay con tỉnh-ngộ quy-y Phật,
Chí dốc tu hiền tạo phước-duyên.

–       Cắm hương, rồi đứng ngay thẳng chắp tay vào ngực đọc tiếp:

Cúi đầu lạy tạ Tổ-Tông,
Báo ơn sanh-dưỡng dày công nhọc-nhằn.
Rày con xin giữ Đạo hằng,
Tu cầu Tông-Tổ siêu thăng Phật-đài.
Nguyện làm cho đẹp mặt mày,
Thoát nơi khổ hải Liên-đài được lên.
Mong nhờ Đức Cả bề trên,
Độ con yên-ổn vững bền cội tu
.

–       Lạy 4 lạy.

 

BÀI NGUYỆN TRƯỚC BÀN THỜ PHẬT

 

–       Cầm hương xá 3 xá, quì xuống, chắp tay đưa lên trán đọc bài Quy-Y:

  • ·      Nam-Mô Ta-Bà Giáo-Chủ Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật (tam niệm).
  • ·      Nam-Mô Thập Phương Phật.
    Nam-Mô Thập Phương Pháp.
    Nam-Mô Thập Phương Tăng.
  • ·      Nam-Mô Phật-Tổ, Phật-Thầy, Quan Thượng-Đẳng Đại thần, chư quan cựu thần, chư vị sơn-thần, chư vị Năm Non Bảy Núi, cảm-ứng chứng-minh, nay con nguyện cải-hối, ăn-năn, làm lành lánh dữ, quy-y theo mấy Ngài, tu hiền theo Phật Đạo.

–       Cắm hương lạy 4 lạy cũng được, hoặc cắm hương đứng ngay thẳng, chắp tay vào ngực đọc tiếp:

  • ·      Nam-Mô Tây-Phương Cực-Lạc Thế-Giới Đại-Từ Đại-Bi Phổ-Độ Chúng-Sanh A-Di-Đà Phật.
  • ·      Nam-Mô nhứt nguyện cầu: Thiên-Hoàng, Địa-Hoàng, Nhơn-Hoàng, Liên-Hoa hải-hội, Thượng Phật từ-bi, Phật-Vương độ chúng, thế-giới bình-an.
  • ·      Nam-Mô nhị nguyện cầu: Cửu-huyền Thất-tổ Tịnh-độ siêu-sanh.
  • ·      Nam-Mô tam nguyện cầu: Phụ-mẫu tại đường tăng long phước thọ, phụ-mẫu quá khứ trực vãng Tây-phương.
  • ·      Nam-Mô tứ nguyện cầu: Bá-tánh vạn dân từ-tâm bác-ái, giải-thoát mê-ly.
  • ·      Nam-Mô ngũ nguyện cầu: Phật-Tổ, Phật-Thầy từ-bi xá tội đệ-tử tiêu tai tịnh sự, trí-huệ thong-minh, giai đắc đạo quả.

–       Lạy bốn lạy, rồi xá:

  • ·      1 xá chính giữa niệm: Nam-Mô A-Di-Đà Phật.
  • ·      1 xá bên trái niệm: Nam-Mô Đại-Thế-Chí Bồ-tát.
  • ·      1 xá bên mặt niệm: Nam-Mô Quan-Thế-Âm Bồ-tát.

 

BÀN THÔNG THIÊN

 

Cầu nguyện bàn Phật xong, ra bàn Thông Thiên cầu nguyện 4 hướng (lấy bàn Thông Thiên làm hướng chánh) trước mặt, sau lưng, hai bên vai. 

 

Hướng chánh bàn Thông Thiên có nguyện đọc bài Quy-Y, còn ba hướng kia chỉ đọc bài Tây-phương ngũ nguyện, (mỗi hướng đọc rồi lạy 4 lạy).

 

(Khi cầu nguyện nếu không thể lạy được thì xá 3 xá).

 

Lạy đứng hay lạy quì tùy theo lúc yếu mạnh.

 

NIỆM PHẬT

 

Cúng xong muốn niệm Phật cũng được.  Ngồi bán già thẳng lưng niệm: Nam-Mô A-Di-Đà Phật. 

 

Hay niệm: Nam-Mô Tây-phương Cực-lạc Thế-giới tam thập lục vạn ức, nhứt thập nhứt vạn, cửu thiên ngũ bá đồng danh đồng hiệu đại-từ đại-bi phổ-độ chúng-sanh A-Di-Đà Phật. 

 

(Niệm Phật nhiều ít, tùy theo sức mình, lúc cầu nguyện và niệm Phật chỉ niệm trong tâm). 

 

Nam-Mô A-Di-Đà Phật, sáu chữ đi, đứng, nằm, ngồi, rán niệm chớ quên, không đợi gì thời khắc.

 

KHI ĂN CƠM

 

Mỗi khi ăn cơm với mắm muối chi cũng vậy đều nguyện vái Cửu huyền Thất tổ, ông bà cha mẹ quá vãng về ăn với mình để tỏ lòng hiếu thảo.

 

ĂN CHAY

 

Đến ngay đơm-quảy có chi cúng nấy. 

 

Ăn chay ngày 14-15, 29-30, tháng thiếu 29 và mồng 1, có nhang thì đốt, không có thì nguyện không. 

 

Hằng năm đến ba ngày xuân nhựt thì ngày 29-30 và mồng 1 phải ăn chay, trong mấy ngày ăn chay phải cúng chay, qua đến ngày mồng 2 có chi cúng nấy cũng được, đến ngày mồng 3 ra mắt không nên sát sanh loài vật mà cúng tế Trời Phật, chỉ dùng bông hoa mà cúng thôi.

 

ĐI XA NHÀ

 

Đi làm ruộng đến thời cúng, ngó về hướng Tây nguyện rồi xá 4 hướng.  Còn đi xa nhà thì nguyện tưởng trong tâm cũng được.

 

 

VI.          Lời Khuyên Bổn Đạo

 

Khi đã coi giảng thì phải tự xét mình và sửa sang những thói hư tật xấu, mình lầm lỗi thì rứt bỏ và giữ những điều răn cấm sau đây:

 

   1.          ĐIỀU THỨ NHỨT: Ta chẳng nên uống rượu, cờ bạc, á phiện, chơi bời theo đàng điếm, phải giữ cho tròn luân lý tam cang ngũ thường.

 

   2.          ĐIỀU THỨ NHÌ: Ta chẳng nên lười biếng, phải cần kiệm, sốt sắng, lo làm ăn và lo tu hiền chơn chất, chẳng nên gây gổ lẫn nhau, hãy tha thứ tội lỗi cho nhau trong khi nóng giận.

 

   3.          ĐIỀU THỨ BA: Ta chẳng nên ăn xài chưng dọn cho thái quá và lợi dụng tiền tài mà đành quên nhơn nghĩa và đạo lý, đừng ích kỷ và xu phụng kẻ giàu sang, phụ người nghèo khó.

 

   4.          ĐIỀU THỨ TƯ: Ta chẳng nên kêu Trời, Phật, Thần, Thánh mà sai hay hoặc nguyền rủa, vì Thần Thánh không can phạm đến ta.

 

   5.          ĐIỀU THỨ NĂM: Ta chẳng nên ăn thịt trâu, chó, bò, và không nên sát sanh hại vật mà cúng Thần Thánh nào, vì Thần Thánh không bao giờ dùng hối lộ mà tha tội cho ta, vì nếu ta làm tội sẽ hưởng tội, còn những hạng ăn đồ cúng kiến mà làm hết bịnh là Tà Thần; nếu ta cúng kiếng mãi thì nó ăn quen sẽ nhiễu hại ta.

 

   6.          ĐIỀU THỨ SÁU: Ta không nên đốt giấy tiền vàng bạc, giấy quần áo mà tốn tiền vô lý, vì cõi Diêm Vương không bao giờ ăn hối lộ của ta, mà cũng không xài được nữa, phải để tiền lãng phí ấy mà trợ cứu cho những người lỡ đường đói rách, tàn tật.

 

   7.          ĐIỀU THỨ BẢY: Đứng trước mọi việc chi về sự đời hay đạo đức, ta phải suy xét cho minh lý rồi sẽ phán đoán việc ấy.

 

   8.          ĐIỀU THỨ TÁM: Tóm tắt, ta phải thương yêu lẫn nhau như con một cha, dìu dắt lẫn nhau vào con đường đạo đức, nếu ai giữ đặng trọn lành trọn sáng về nơi cõi Tây Phương an dưỡng mà học Đạo cho hoàn toàn đặng trở lại cứu vớt chúng sanh.

 

Tất cả thiện nam tín nữ trong tôn giáo nhà Phật, lúc rãnh việc nên thường coi kệ giảng mà giữ gìn phong hóa nước nhà, giữ những tục lệ chân chánh, bỏ tất cả những sự dị đoan mê tín thái quá mà làm cho đạo đức suy đồi.

 

Đạo-pháp thường hay dung với hòa,

Xét người cho tột xét thân ta.

Nếu người rõ phận vui lòng thứ,

Ta thứ được người, người thứ ta.

 

2 attachments — Download all attachments
6a- Quyển VI – Cách Tu Hiền và Sự Ăn Ở của Một Người Bổn Đạo.doc
183K View as HTML Download
6b- Quyển VI – Cách Tu Hiền và Sự Ăn Ở của Một Người Bổn Đạo.pdf
225K View as HTML Download
Categories: Sấm Giảng | Leave a comment

Create a free website or blog at WordPress.com.